Chuyển tới nội dung

Hình ảnh

Quê Hương Xứ Thanh


  • Xin vui lòng đăng nhập để trả lời
Có 4 trả lời cho chủ đề này

#1 PhươngHồng

PhươngHồng

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 285 Bài viết:

Thứ hai, 05/07/2010 | 16:31

Một chút về quê hương xứ Thanh ...

Am Tiên chuyện và giai thoại

Am Tiên là nằm trên đỉnh núi Nưa nơi bà Triệu đóng quân :D đỉnh núi Am Tiên là nơi có 1 trong 3 huyệt đạo của đất nước . Ai từng lên Am Tiên sẽ cảm nhận vẻ đẹp của nó :D trập trùng mây nui ....
Và cũng chính là quê ngoại của Phương Hồng ... Nhân tiện bác cả của Phương Hồng có viết đôi lời về đỉnh núi Nưa hùng vĩ . Phương Hồng xin được giới thiệu về quê ngoại của mình :D

Nói đến Am Tiên - Ngàn Nưa quê tôi có rất nhiều chuyện kể và giai thoại. Ngày tôi lớn lên ông nội tôi thường kể rằng đỉnh Am Tiên nơi ấy thiêng lắm.Chuyện kể rằng ngày xưa tiều phu ở Cổ Định vẫn ngày ngày đi đốn gỗ về bán làm cột nhà. Có cây cả chục người khênh ( khiêng), to nữa thì trâu kéo, nhỏ thì vác...Ngàn Nưa trở thành nơi cung cấp gỗ làm nhà cho cả một vùng đồng bằng...

Đường lên Am Tiên hôm nay

Một hôm, người trưởng tràng đầu nhóm nói ông phải đi tìm chọn một cây gỗ Lim về làm cột đình làng. Ông leo lên đỉnh núi cao nhất của Ngàn Nưa...nhưng đến chiều tối dân làng vẫn không thấy ông trở về. Dân làng đốt đuốc, khua chiêng gõ mõ đi tìm, nhưng vẫn không thấy chút dấu vết nào. Một ngày, rồi hai ngày ...cả tháng không thấy ông về.


Posted Image

Người ta đồ rằng đây là nơi Tiên ông giáng thế


Posted Image
Đền Bà Triệu

Dân làng nghĩ rằng ông đã bị thú dữ ăn thịt mất rồi. ( ngày ấy nhiều hổ, báo, voi, đười ươi...), Gia đình đành lấy ngày ông đi lên núi làm ngày giỗ... Rồi một ngày kia, khi mà cả làng không còn nhắc đến chuyện của ông nữa, thì đột nhiên ông trở về làng. Dân làng thấy một tiều phu vạm vỡ, nhưng chẳng ai biết tên ông. Ông về chính ngôi nhà của mình, làng mình nhưng sao bây giờ khác thế. Không thấy vợ con đâu. Chỉ thấy toàn người lạ. Ông hỏi mọi người về người thân, xưng tên, thì mọi người tròn mắt: người có cái tên ấy là ông cụ dòng họ đã chết từ lâu rồi. Bát nhang và bài vị thờ ông đặt trang trọng trên bàn thờ kia. Phải chăng là hồn ông hiện về. Không. Đây đúng là người, bằng da bằng thịt - ai dám mạo danh chăng. Nhưng sao ông nói tường tận thế, đúng là ông. Nhưng ngần ấy thời gian ông ở đâu? Những người cháu gọi ông là ông nội nay cũng đã râu tóc bạc phơ. Còn ông, vẫn ở cái tuổi trung niên. Chuyện ông đi tìm gỗ đối với ông chỉ là chuyện hôm qua, ông ở trên núi có mấy ngày xem hai ông lão đánh cờ thôi mà.Hết ván cờ phân thắng bại là ông về ngay...

Posted Image

Ông kể, ông lên núi đi tìm gỗ Lim về làm cột Cái đình làng, tìm mãi chưa thấy, vừa mệt, vừa thất vọng thì ông nhìn thấy ở trên mỏm đá bằng kia có hai ông già đang ngồi đánh cờ. Cờ ông cũng biết và ham mê, nên ông đứng chống rìu xem hai ông lão toạ đấu. Cả chủ và khách mãi mê trong trận cờ mặt trời xuống núi lúc nào không hay, mà ván cờ vẫn chưa phân thắng bại. Ông định ra về, nhưng hỡi ôi cái cán rừu của ông mối đã xông hết, chỉ trơ lại lưỡi rìu. Ông thất kinh. Nhưng hai ông lão lại cười ngất, bảo ông cứ ở lại xem cho hết ván cờ. Trời tối mau, thú dữ nhiều họ khuyên ông ở lại. Hai ông lão không ăn cơm, mà chia cho ông ăn hoa quả và uống nước trong hồ lô. Ông nhớ, hai ông đấu với nhau đúng 3 ngày 3 đêm mới phân thắng bại. Xong trận cờ là ông xuống núi về ngay. Chỉ có điều ông thắc mắc là sao lúc ông xuống núi nhanh thế. Loáng cái đã không thấy hai ông lão đâu. Chỉ thấy hai con Hạc bay lên...Ông cũng chưa kịp hỏi tên, quê ở làng nào...

Chuyện của ông được lưu truyền, mỗi người giải thích mỗi cách. Người ta bảo ông đã gặp các tiên ông, ông được ăn đào tiên, uống nước giếng tiên, nên ông trẻ mãi. Rằng, 3 ngày trên "cõi tiên" thì đã là một trăm năm ở hạ giới...

Các hương lão trong làng Cổ Định, sau khi nghe chuyện của ông tin rằng ông đã gặp Tiên...Nên đã chung sức xây chùa, lập miếu thờ cúng phật, thánh thần, và tiên tổ. Từ đó nơi đây có tên gọi là Am Tiên.

Ngày nay, trên đỉnh Am Tiên có Chùa thờ Phật; có đền thờ Bà Triệu; Có miếu thờ thần . Hàng năm có lễ hội Đền Nưa từ rằm Nguyên tiêu đến 19 tháng Giêng. Đặc biệt có Đền thờ Thánh Mẫu, để con nhang lảo đảo bóng cô đồng...


Posted Image


Cô đồng và hình nhân...

:D Am Tiên Tự :D

QUỐC NINH


Tân Ninh - Cổ Định - nhiều nguời quê tôi vẫn thích được gọi cái tên kép như vậy. Tại sao ư? Giản đơn bởi nó hàm chứa truyền thống của một mảnh đất Anh hùng: Na Sơn nơi xưa đấy nghĩa, nay là xã được Phong Anh hùng LLVT thời chống Mỹ...

Theo sử sách và những giai thoại lưu tryền, thì đất Cổ Định - Tân Ninh quê tôi đã có lịch sử lâu đời, từng có nguời Việt cổ sinh sống và kiến tạo nên một vùng văn hoá, có dấu ấn riêng. Những đồ đá, đồ gốm ,đồ đồng tìm thấy ở Tân Ninh có niên đại hàng ngàn năm.

Dãy Na sơn hùng vĩ và giàu có về khoáng sản và lâm sản, với bao huyền thoại mà sử sách và dân gian đã lưu truyền. Con người ở đất này tạo nên những khúc tráng ca. Na Sơn - Núi Nưa nơi Bà Triệu dấy binh khởi nghĩa; nơi căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn và triều đại Nhà Lê... là hậu phương vững chắc của ...thời chống Pháp.

Có truyền thống hiếu học, nhiều nhà khoa bảng thành danh, mà ở Vương triều nào cũng có. Có các Tiến sĩ mà bia đá Văn miếu còn ghi; có những sĩ phu xả thân mình dấy binh chống Pháp...được sử sách lưu danh.

Na Sơn còn với bao trầm tích văn hoá: Đỉnh Am Tiên huyền thoại, có Huyệt khí Quốc gia (?); nơi có bàn cờ Tiên, Giếng Tiên...nơi Hạc tiên bay về. Con người, có dấu ấn văn hoá đặc trưng của người xứ Thanh, thông minh cần cù sáng tạo và nhân ái . Quê tôi ấy, có nhiều chùa, mỗi làng có ít nhất một ngôi chùa; có đền thờ Thánh; có Nghè thờ Tướng, có Đình thờ Thần hoàng...Bởi thế, trong mục này tôi muốn giới thiệu đôi nét về Cổ Định - Tân Ninh quê tôi.

Am Tiên tự

Theo các cụ cao niên và sử sách ghi lại. Trong dãy núi Nưa hùng vĩ bao gồm 7 phiến nằm ở tây nam Thanh Hóa, thì núi Am Tiên nhánh tận cùng nhô ra ở phía đông nam của cả dãy là cao nhất, đẹp nhất, người ta ví nó như Ba Vì của tỉnh Thanh vậy.

" Na Sơn nhất phiến quang nhật nguyệt

Tam khê động khoát khứ quy vân "

Tạm dịch :

" Am Tiên đẹp nhất sáng ngày đêm

Ba khe động rộng mây đi về"


Posted Image

Am Tiên là đỉnh nhô cao nhất, nhưng đặc biệt trên đỉnh lại có nước : giếng Trình ở đầu phía Đông Bắc, giếng Tiên ở giữa ( bao gồm giếng thờ, giếng nước ăn, giếng nước rửa ), Động Đào ( tương truyền là nơi tắm rửa của các tiên nữ ), xung quanh có cây hóp bao quanh, kín đáo nên nhân dân địa phương còn gọi là ao Hóp.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, quanh năm có nước trong xanh, nhìn thấy đáy và cá bơi lượn, có bàn cờ tiên bằng đá. Giai thoại có hai ông tiên ngồi đánh cờ đỉnh núi này nên có tên là Am Tiên (?)

Cũng có tích nói rằng, tiều phu có nguời đã gặp những cô tiên tắm ở ao Hóp - Động Đào...do vậy, phiến núi đẹp nhất của ngàn Nưa này từ xửa, từ xưa đã gọi là đỉnh Am Tiên.



Posted Image
Đỉnh cao nhất Am Tiên - nơi Huyệt khí quốc gia

Posted Image
Sơ đồ Huyệt khí tại đỉnh Am Tiên

Vào nửa đầu thế kỷ thứ III sau công nguyên (248), Bà Triệu đã lấy ngàn Nưa làm căn cứ tụ nghĩa, luyện quân. Xét về mặt quân sự, Na Sơn thực sự là một căn cứ đạt được hai mặt: công - thủ toàn diện, mặt phía đông dưới chân núi là cánh đồng sâu chiêm trũng, xen lẫn mau, vưc, một vài con đường độc đạo đi vào núi, còn tấn công chỉ với thời gian ngắn là nghĩa quân đã có mặt ở gần khắp đồng bằng Thanh Hóa...

Posted Image

Am Thờ

Posted Image

Một giá của Cô đồng tại Đền Mẫu ở Am Tiên

Đỉnh núi Am Tiên là một cao điểm ( cao gần 500m so với mặt nước biển ), một tiền đồn có tầm quan sát và khống chế cả một khu vực rộng lớn (của huyện Như Xuân - Nông Cống - Triệu Sơn ngày nay.) Do vậy. ở cứ điểm trọng yếu này có thể xây dưng được doanh trại, bãi luyện quân. Mà còn là nơi linh thiêng qua nhiêu thế hệ đã lập bệ thờ, thờ cúng trời đất, thần phật, tổ tiên... theo truyền thống người Việt.

Khi đàn áp được khởi nghĩa của Bà Triệu, bọn xâm lược đã tàn sát dân Cổ Na và tất nhiên cả những gì có liên quan đến Bà Triệu đều bị phá hết...

Không ai khẳng định được sau đó bao nhiêu thế kỷ chùa Am Tiên được xây xây lại. Chỉ có chuyện lưu truyền rằng, cuối đời Trần có một ông tên là Tu Nưa, sống ẩn dật và tu hành ở đó. Khi Hồ Quý Ly lên làm vua, có sai người lên núi mời ông ra làm quan cho nhà Hồ, nhưng ông không được, họ Hồ cả giận, cho lính đốt núi Nưa và cho phá chùa Am Tiên...( còn có giai thoại nói Nhà Hồ cho người lên núi nhờ các Tiên ông cúu giúp lúc lâm nguy nhưng không được, khi xuống núi đi đến đâu thì cây leo chằng chịt lấp đường đến đó. Con cháu Hồ Quí Ly đã nổi giận đốt núi, cháy cả tháng ròng. Sau đó ngưòi ta thấy có hai con Hạc đen rời núi bay bay đi !)

Sau sự kiện này, khoảng năm 1414- 1415, hương Cổ Na lại bị quân Minh tàn sát cả Cổ Định chỉ còn khoảng 13 người. Tuy vậy, Cổ Na hồi phục lại, dân cư đông đúc lên, chùa Am Tiên lại được xây dựng lại và sửa sang thêm.

Vào cuối thời nhà Nguyễn, chùa Am Tiên vẫn còn đó. Một ngôi chùa 3 gian khiêm tốn, xây bằng đá, lợp tranh cỏ, nằm giữa một khung cảnh: thực thực, hư hư, nép mình dưới những cây đa cổ thụ, cành lá la đà, đó đây những tảng đá lớn, khánh đá cũ, những cột rêu phong ... Ông từ coi chùa cuối cùng trước Cách mạng tháng Tám - 1945 là cụ Hương Nhã, người họ Trần, (thân sinh ra ông Trần Huy Nhượng , người bí thư chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của xã Tân Ninh.)

Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, cụ Hương Nhã qua đời, chùa lại bỏ hoang, dột nát. Khoảng năm 1950, có ông Hoàng Văn Chí ( Tú Chí )đã đem gia đình về ở trên Am Tiên. Ông nuôi bò sữa, mở xưởng nhỏ nấu cồn, trồng cây.Đến năm 1955, ông về quê ở Thiệu Hóa, từ đó Am Tiên lại bị bỏ hoang.

Đầu những năm 90 của thế kỷ 20 bà con phật tử trong xã đã khôi phục, xây lại chùa mới, trồng cây xung quanh chùa. Năm 1993 Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thanh Hóa công nhận danh thắng Am Tiên cùng với đền Nưa, nghè Giáp , miếu Tào Sơn Hầu là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nay, có nhiều con em của Cổ Định đi xa tham gia cùng cung tiến tiền, công sức cùng chính quyền các cấp và nhân dân trong xã đã và đang trùng tu xây mới đẹp hơn rất nhiều.


Posted Image

Cây đa do ông Lê Khả Phiêu nguyên TBT tiến trồng tại đỉnh Am Tiên

Posted Image
Cây đa do bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước tiến trồng tại Am Tiên

Posted Image
Vãn cảnh Am Tiên
  • Rin86 and Thiên Anh đã thích điều này
Như đại dương chỉ có một vị là vị mặn của muối, Giáo Pháp của Như Lai chỉ có một vị, đó là vị của Giải Thoát

#2 Thiên Anh

Thiên Anh

    Hội viên chính thức

  • Trung Tâm Nghiên Cứu
  • PipPipPip
  • 622 Bài viết:

Thứ hai, 31/01/2011 | 22:33

Quê hương mình đẹp thế. Đi nhiều nơi tìm hiểu nhiều thế mà quê mình chưa hiểu hết rùi. ^^
Nói những điều mình Biết (Tri Thức) để học hỏi
Nói những điều mình Hiểu (Trí Huệ) để chia sẻ !

http://www.phongthuylacviet.org.vn/

#3 treo650

treo650

    Mới gia nhập

  • Thành viên diễn đàn
  • 19 Bài viết:

Thứ sáu, 04/02/2011 | 10:58

hi đồng hương .

#4 Sơn Phong

Sơn Phong

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 118 Bài viết:

Thứ năm, 09/06/2011 | 20:56

Gia Miêu - nơi phát tích Vương triều Nguyễn

Các nhà văn Huế đã tổ chức chuyến "hành hương" về thăm Gia Miêu ngoại trang, nơi phát tích của Vương triều Nguyễn ở thôn Gia Miêu, xã Hà Long, tỉnh Hà Trung, Thanh Hoá.

Có lẽ người miền Nam, ngay cả dòng họ Nguyễn Phúc cũng không nhiều người đã đến thăm Gia Miêu ngoại trang, quê hương của chúa Nguyễn Hoàng, thắp nén nhang lên mộ tổ Nguyễn Kim, bày tỏ niềm tri ân đối với những người mở cõi để mình được là con dân của một nước Việt Nam hình chữ S như bây giờ… Cho nên chuyến đi Gia Miêu lần này có ý nghĩa như tìm về cội nguồn.


Đi tìm đất quý hương
Vua Gia Long, từ hơn 200 năm trước đã phong cho Gia Miêu là đất quý hương. Theo đường quốc lộ 1A từ Bắc vào, đi qua Bỉm Sơn tìm mãi mới thấy biển đề lấp kín sau bụi cây: Gia Miêu ngoại trang. Cái ngành du lịch Thanh Hoá đến lạ. Gia Miêu ngoại trang đã được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia, thế mà chẳng có cái biển chỉ dẫn đường sá cho đàng hoàng. Ngay cả Thành nhà Hồ từ phía Gia Miêu, Hà Trung đi lên Vĩnh Lộc để vào cửa Đông, không hề có một biển chỉ dẫn nào. Xe chúng tôi cứ vài chục mét lại dừng để hỏi. Nước ta đã làm du lịch trên 25 năm rồi, sao mà nhiều nơi vẫn lạnh nhạt với di tích đến vậy!

Đường lên Gia Miêu, mấy phút chúng tôi lại dừng xe hỏi. Đến Gia Miêu rồi cũng không thấy biển chỉ dẫn nào. Chúng tôi chợt thấy cái biển gỗ nhỏ xíu đề chữ đỏ viết vội bên phải "Nhà thờ họ Nguyễn Hữu". Sao lại là Nguyễn Hữu? Chúng tôi dừng lại hỏi, thì gặp ông Nguyễn Hữu Toại, là một trong những hậu duệ dòng Nguyễn Hữu. Ông Toại giải thích Nguyễn Hữu là một nhánh trong dòng họ 20 đời của Định Quốc Công Nguyễn Bặc (924 - 979) người Hoằng Hóa - Thanh Hóa, có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân để lập ra triều Đinh đóng đô ở Hoa Lư mà đoàn nhà văn chúng tôi vừa ghé thăm hôm qua.

Nói rồi ông Nguyễn Hữu Toại cầm bản đồ gia hệ, sách lịch sử họ Nguyễn lên xe dẫn chúng tôi đến thôn Gia Miêu 2, nơi có nhà thờ của dòng họ Nguyễn Hữu có đề 6 chữ quốc ngữ: Bình ngô khai quốc công thần. Cả một chi họ lớn thế mà cái nhà thờ tổ bé bằng ngôi nhà rường nhỏ ở Huế. Ngôi nhà nhỏ nhưng ở trong có bàn thờ ba cấp uy nghiêm lắm. Tượng, bài vị đều sơn son thiếp vàng.

Theo ông Toại thì ở đây là nơi thờ tự ông tổ là Nguyễn Công Duẩn, hậu duệ đời thứ 10 của Nguyễn Bặc, bên dưới thờ Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Kim (Cam). Theo sử sách thì Nguyễn Công Duẩn, lập nhiều chiến tích trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn , được Lê Lợi giao trách nhiệm lo hậu cần vận lương cho cuộc kháng chiến, ông Duẫn đều lo chu tất. Ông được phong tước Thái Bảo Hoành công, con cháu được đời đời làm công thần nhà Lê. Hậu duệ của Nguyễn Công Duẩn cuối đời Hậu Lê là Nguyễn Kim.

Posted ImageĐền thờ chi Nguyễn Hữu ở thôn Gia Miêu 2

Nguyễn Kim là một tướng giỏi, có nhiều công lao được phong tước An Thành Hầu. Khi nhà Hậu Lê bị nhà Mạc cướp ngôi, năm 1527, con cháu nhà Lê chạy trốn sang Lào. Lúc bấy giờ, hầu hết các cựu thần nhà Lê ngả về họ Mạc hoặc bỏ đi nơi khác, chỉ có Nguyễn Kim là lo chiêu tập hào kiệt bốn phương lánh lên Sầm Châu vùng Thanh Hoá giáp Lào lập bản doanh phò Lê diệt Mạc. Sau đó ông đã tìm được con vua Lê là Lê Duy Ninh ở Lào và đưa về tôn lên ngôi vua là Lê Trang Tông (1533-1548). Nguyễn Kim về sau được vua Lê phong làm Thái Sư Hưng Quốc Công, nắm giữ tất cả binh quyền.

Năm 1545, hàng tướng nhà Mạc Dương Chấp Nhất đầu độc bằng cách tẩm thuốc độc vào trong quả dưa hấu và dâng lên Nguyễn Kim. Thế là ông trúng độc mất khi 78 tuổi. Vua Lê đã truy tặng cho Nguyễn Kim tước Chiêu Huân Tĩnh Vương. Ông có hai con trai đều là tướng giỏi được phong chức Quận công. Trong đó có Nguyễn Hoàng trở thành người mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn ở phía Nam. Nguyễn Hoàng được vua Lê phong tước Thái úy Đoan Quốc Công. Năm 1558, người ta bảo nghe Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi ý Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân, ông xin vào trấn thủ Thuận Hoá, đóng đô ở Ái Tử, Quảng Trị thành Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) .

Có nguồn sử liệu ghi: Nguyễn Công Duẩn có 7 người con trai, sau phân thành 7 chi. Chi 4 là Nguyễn Như Trác sinh Nguyễn Văn Lưu. Văn Lưu sinh ra Nguyễn Kim. Hiện nay có tới 7 bộ gia phả họ Nguyễn. Có gia phả chép là Nguyễn Trãi (1380-1442) là hậu duệ thứ 11 của Nguyễn Bặc, Khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc sau vụ án oan khiên Lệ Chi Viên, có 2 người con của Nguyễn Trãi còn sống và được bổ dụng sau này.

Một người con cả là Nguyễn Công Duẩn từng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, không có mặt ở nhà khi cả họ bị hình nên thoát nạn. Người con nhỏ là con của một người vợ thứ của Nguyễn Trãi đã có mang cũng trốn thoát khi cả nhà bị hình, sau sinh được Nguyễn Anh Vũ. Gia phả họ Nguyễn còn ghi: sau này 2 chi của Nguyễn Công Duẩn và Anh Vũ trở thành hai ngành nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, một ngành là các Chúa Nguyễn và một ngành là họ Nguyễn Hữu có Nguyễn Hữu Dật (Gia Miêu ) cũng là khai quốc công thần của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong mà hậu duệ có Nguyễn Hữu Cảnh, ông tổ khai canh của đất Sài Gòn Gia Định. Tướng tài Nguyễn Hữu Cảnh lớn lên ở Quảng Bình có công lớn giúp các chúa Nguyễn mở cõi về phía Nam 300 năm trước (Sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1997 của Nguyễn Ngọc Hiên và sách Tông phả kỉ yếu tân biên (2006) của Phạm Côn Sơn).

Tuy nhiên, cũng có nhiều sử gia đã khảo cứu nhiều nguồn tài liệu, gia phả họ Nguyễn khác cũng như các sử sách để lại, thì cho rằng: Nguyễn Trãi không phải ông tổ của các Chúa Nguyễn. Theo một số nhà nghiên cứu, gia phả này chép lẫn gia phả họ Nguyễn Gia Miêu vào họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi - ở Hà Tây ) do phải trốn tránh họa tru di. Có lẽ giả thuyết này có lý hơn.


Lăng Trường Nguyên
Sau khi thắp nhang bái lạy tổ Nguyễn Công Duẩn ở Nhà thờ họ Nguyễn Hữu, ông Toại dẫn chúng tôi đi thăm lăng mộ Nguyễn Kim. Rẽ trái khoảng cây số là đến vùng núi Triệu Tường, Thiên Tôn. Đây là Lăng Trường Nguyên, còn gọi là Lăng Triệu Tường, là nơi hợp táng ông bà Nguyễn Kim và Hoàng hậu triều Nguyễn - thân sinh và thân mẫu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Rừng Thiên Tôn bây giờ đã thưa thớt, nhưng từ lăng Triệu Tổ Nguyễn Kinh nhìn lên núi non cũng uy nghiêm lắm.

Posted ImageĐền thờ Nguyễn Kim ở thôn Gia Miêu 3

Theo ông Toại, còn có Miếu Triệu Tường cách đây hơn cây số. Theo nhà văn Nguyễn Đắc Xuân, Miếu Triệu Tường xây dựng ở cánh đồng tại thung lũng chân núi, cách khu vực lăng trên dưới 1km. Miếu Triệu Tường thờ gốc tổ triều Nguyễn, gồm nhiều kiến trúc bố trí trong một khu vực chu vi đo được 182 trượng, bao quanh có hồ nước và cầu gạch bắc qua, lại có hai lớp lũy bao bọc được xây dựng năm 1834 - 1835. Vì thế Miếu Tường còn có tên Thành Thiên Tôn hay Thành Triệu Tường.

Không gian bên trong Thành Triệu Tường chia làm 3 khu vực: Khu vực chính ở giữa xây Miếu thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng. Khu vực phía đông dựng miếu thờ Trừng Quốc Công (Nguyễn Văn Lưu- thân phụ của Nguyễn Kim), khu vực phía tây dành làm nơi trú ngụ của các quan và gia đình hộ lăng và trại lính canh lăng. Tất cả đều do các vua Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng xây dựng. Từ ngày nhà Nguyễn sụp đổ (9-1945), Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn một thời bị cho là "phản động"… nên các lăng miếu ấy trở nên đổ nát, hoang tàn.

Năm 2007, lăng Triệu Tường được trùng tu khôi phục lại nơi thờ vọng, bia và nhà bia ở chân núi và lăng thờ Nguyễn Kim kinh phí hết 300 triệu do bà con tộc Nguyễn Phúc, Nguyễn Hữu quyên góp. Đường vào lăng Nguyễn Kim đúc bê tông rộng rãi. Làng Gia Miêu xưa bây giờ chia thành 3 làng : Gia Miêu 1, Gia Miêu 2, Gia Miêu 3. Lăng Triệu Tổ Nguyễn Kim thuộc địa phận làng Gia Miêu 3.

Ở lăng bia Nguyễn Kim có tấm bia đá khắc công tích của Đức Triệu Tổ Nguyễn Kim. Có bức tường khắc bản dịch của vua Thiệu Trị dịch bài minh bằng chữ Hán của vua Minh Mạng vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), Nội dung như sau: "Đất lớn chúa Thiêng sinh ra Triệu Tổ/ Vun đắp cương thường nên rạng thánh võ/ Nghĩa động quỉ thần công truyền vũ trụ/ Cõi trần rời bỏ lăng ở bái trang/ Non nước bao bọc sấm mắt tùng xanh/ Khí thiêng nhóm họp đời đời xưng vinh/ Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh/ Võ công dựng nước bèn tìm gốc nguồn/ Tuy tôn dựng miếu lăng gọi Trường Nguyên/ Tân tuy Bắc tuần đến đây dựng lại/ Trông ngắm non sông nhớ đến gốc cõi/ Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài".

Theo ông Nguyễn Hữu Toại, sau khi Di tích Gia Miêu được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, Miếu Triệu Tường, Đình Gia Miêu, những di tích quan trọng của đất thiêng Gia Miêu ngoại trang,chính quyền tỉnh Thanh Hoá đã có kế hoạch đầu tư lớn để phục dựng và bảo tồn. Nghe mà phấn chấn trong lòng.

Về cái chết của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế Nguyễn Kim, ở lăng Trường Nguyên có bài ghi công đức có đoạn: "Năm Ất Tỵ (1545), ngài tiến quân ra Đông Đô, nhưng bị lụt phải trở về đóng quân ở Yên Mô (Ninh Bình). Ngài bị hàng tướng (tướng đã về hàng địch) nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc bằng cách tẩm thuốc độc vào quả dưa dâng lên". Ông mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ (26/6/1545). Linh cữu ngài được đưa về Bái Trang, huyện Tống Sơn (bây giờ là Hà Trung), Thanh Hoá, táng tại núi Thiên Tôn. Để tránh bị các thế lực thù địch quật phá trừ diệt, họ Nguyễn đã giữ bí mật nơi táng ông và sau đó là bà chánh hậu Nguyễn Thị Mai (Triệu Tổ Tĩnh Hoàng hậu).

Ông Toại kể giai thoại về việc thiên táng ông bà Triệu Tổ Nguyễn Kim như sau: để giữ bí mật huyệt mộ của ông bà Nguyễn Kim, người ta đã dựng lên một huyền thoại: Ở vùng núi Triệu Tường vốn đã có một long khẩu (miệng rồng). Đến khi vừa đưa quan tài vua Triệu Tổ Nguyễn Kim vào thì bỗng nhiên trời đổ xuống một trận mưa gió sấm sét dữ dội. Người đi đưa tang hoảng sợ chạy tán loạn. Đến khi gió bão đi qua, cơn mưa cũng tạnh mọi người trở lại thì chỉ còn thấy núi đá chi chít, cây cỏ um tùm, không thể nào nhận ra được nơi có long khẩu chứa quan tài của Triệu Tổ ở đâu nữa cả. Về sau có ai hỏi lăng mộ Triệu Tổ Nguyễn Kim an táng nơi đâu, những người có trách nhiệm trả lời: "Ngài được hổ táng, thiên táng nên không thể biết". Khi có tế lễ, họ tộc và các chức sắc nhà Nguyễn cũng chỉ hướng vào vùng núi Triệu Tường mà vọng bái thôi. Ôi, người tài giỏi thời nào cũng thế, chết không yên thân, không mồ yên mả đẹp!


Phần kết
Rời Gia Miêu ngoại trang, tôi cứ miên man nghĩ về miền địa linh nhân kiệt Thanh Hoá. Quả thực không nơi nào sinh ra lắm người tài làm vua, chúa như mảnh đất "khu Bốn đẩy ra, khu Ba đẩy vào" này. Thanh Hoá là quê hương của vua chúa thời Tiền Lê, Sơ Lê, Lê Trung Hưng, Lê Hoàn, Lê Thái Tổ, Hồ Quý Ly… Xứ Vĩnh Lộc, Thanh Hoá là quê hương của Trịnh Kiểm, người mở đầu cho 12 đời chúa Trịnh 249 năm ròng. Rồi Gia Miêu ngoại trang là quê hương của 9 chúa, 13 vua Vương triều Nguyễn: bắt đầu từ 1558, kết thúc năm 1945, kéo dài 387 năm. Một chặng đường lịch sử dằng dặc .. .

Các chúa, vua Nguyễn có nhiều khiếm khuyết trong lịch sử, nhưng họ chính là triều đại đã mở cõi tạo nên dáng hình Tổ Quốc hôm nay. Công lao đó là vô cùng lớn. Đó là điều không thể phủ nhận. Ngay một ông vua nhiều tai tiếng nhất Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia Long, năm 1802, lên ngôi Hoàng đế cũng đặt niên hiệu là Gia Long (Gia là Gia định, Long là Thăng Long), thể hiện ý thức quyết liệt của mình. Đó là việc thống nhất toàn vẹn đất nước. Lịch sử Vương triều Nguyễn đã tạo nên nhiều biến cố ở Đại Việt. Tất cả đều phát tích từ một vùng thôn quê rất hẻo lánh: Gia Miêu ngoại trang. Đó là sự lạ lùng của lịch sử

Ghi chép của nhà văn Ngô Minh (CAND)

Xin đính chính ghi chép của nhà văn Ngô Minh
Hiện tại có 3 làng Gia miêu nhưng không có làng Gia Miêu 3, mà chỉ có Gia miêu 1, Gia Miêu 2 và mới được chia thêm làng Gia miêu. Đền thờ Nguyễn Kim ở thôn Khắc Dũng chứ không phải ở thôn Gia Miêu 3.

Theo hiểu bết của tôi về làng Gia Miêu thì trước đây một người họ nguyễn có sinh ra 3 người con và chia ra 3 họ khác nhau đó là: họ Nguyễn Đình, họ Nguyễn Hữu và họ Nguyễn Văn.
Một vài hình ảnh về quê hương
Posted Image
Đình Gia Miêu Ngoại Trang, xã Hà Long,
huyện Hà Tung, tỉnh Thanh Hóa,
nơi phát tích nhà Nguyễn.
Ảnh: Nguyễn Duy (Chụp năm 1997).
Posted Image
Đình Gia Miêu được tôn tạo lại
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Đình Gia Miêu hiện nay ở bên ngoài và bên trong đình
Posted Image
Posted Image
Không cảnh khu Lăng miếu Triệu Tường, trước 1945








  • Thiên Anh likes this

#5 thanhphuc

thanhphuc

    Hội viên mới

  • Trung Tâm Nghiên Cứu
  • PipPip
  • 422 Bài viết:

Thứ sáu, 10/06/2011 | 08:12

Hàm Rồng mất tích (theo thegioivohinh)
Sự biến mất của kỳ quan này – theo cách lý giải của Hoàng Tuấn Phổ - là do sự chuyển dòng của sông Mã.

Núi Hàm Rồng tức núi Long Hạm, tên cũ là Đông Sơn, quanh co chạy dọc theo triền phía Nam sông Mã. Dãy núi uyển chuyển liên tiếp như dạng hình 9 khúc rồng nhấp nhô uốn lượn dài, bao quanh những đồi thông ngút ngàn và những thung lũng thơ mộng, cuối cùng nổi vọt lên một ngọn núi cao, lớp đá chồng chất, trên núi có động Long Quang. Núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long tị. Gần mặt nước có hai lớp đá trồng nhau như hàm rồng, đó là Long hàm. Toàn hình, trông từ phương bắc, giống như đầu rồng đương uống nước.
Động Long Quang trên núi Rồng là nơi danh thắng, đã lưu luyến nhiều tao nhân mặc khách. Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và nhiều văn sĩ khác đã có thơ lưu lại trên động Long Quang. Trên động có hai cửa hai bên, hình như hai mắt rồng, mà thường gọi là Long nhãn.
Vòng theo chân núi Hàm Rồng, ngược lên theo bậc đá dốc chừng 30m thì tới cửa Động Tiên Sơn. Động có 3 - 4 tầng thường được gọi là động 1, động 2, động 3. Trong mỗi động có nét đẹp độc đáo riêng. ở đây nhũ đá tạo hình tuyệt đẹp gắn với những truyền thuyết như tích Phật, tích Tiên, “Hoa quả sơn”, “Hội bàn đào tiên” ... Từng vách đá, từng ngách hang đâu đâu cũng thấy như trăm ngàn vạn vật đang được sinh ra.
Đối diện với núi Hàm Rồng, bên bờ bắc sông Mã là núi Ngọc hay còn gọi là núi Châu Phong. Nhìn xa, núi giống như con rồng đang vờn hạt ngọc.
Theo nhận định của Đào Duy Anh trong cuốn Nước Việt Nam Qua Các Triều Đại (Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin - 2005) dòng chính của sông Mã trước đây vốn chảy thẳng ra lửa Lạch Trường, theo lối sông Lèn ngày nay.
Khi ấy ngã ba sông Mã, sông Ngu (sông Lèn) có tên là Tuần Ngu – nay là ngã ba Bông – nơi thu thuế đường thủy của nhà Lê.
Một cơn lũ lớn vào đầu triều Nguyễn đánh chìm một bè gỗ lim lớn, dần dần phù sa bồi đắp làm hẹp cửa vào dòng sông Ngu Lại, khiến sông Mã phải trổ một nhánh phụ ra lối qua cầu Hàm Rồng và đổ ra cửa biển Hội Trào như hiện nay.
Sự chuyển dòng một cách bất đắc dĩ của sông Mã khiến lạch sông nhỏ ngay qua Hàm Rồng trở thành một con sông lớn, nhấn Hàm Rồng vào sâu trong dòng nước.
Theo nhận định của Đào Duy Anh trong cuốn Nước Việt Nam Qua Các Triều Đại (Nhà Xuất bản Văn hóa Thông tin - 2005) dòng chính của sông Mã trước đây vốn chảy thẳng ra lửa Lạch Trường, theo lối sông Lèn ngày nay
Khi ấy ngã ba sông Mã, sông Ngu (sông Lèn) có tên là Tuần Ngu – nay là ngã ba Bông – nơi thu thuế đường thủy của nhà Lê.
Một cơn lũ lớn vào đầu triều Nguyễn đánh chìm một bè gỗ lim lớn, dần dần phù sa bồi đắp làm hẹp cửa vào dòng sông Ngu Lại, khiến sông Mã phải trổ một nhánh phụ ra lối qua cầu Hàm Rồng và đổ ra cửa biển Hội Trào như hiện nay.
Sự chuyển dòng một cách bất đắc dĩ của sông Mã khiến lạch sông nhỏ ngay qua Hàm Rồng trở thành một con sông lớn, nhấn Hàm Rồng vào sâu trong dòng nước.
Một Hàm Rồng phong thủy
Tôi trở lại Hàm Rồng, ngắm nhìn phong cảnh. Vẫn núi Rồng, núi Ngọc, sông Mã, động Tiên Sơn, động Long Quang. Vẫn người Bắc kẻ Nam tập nập lại qua trên hai chiếc cầu bắc ngang dòng sông Mã. Vẫn non xanh nước biếc hùng vĩ. Vẫn mây trắng ngàn năm bay.
Những ai từng đi ngang qua xứ Thanh, tỉnh Thanh Hóa ngày nay, nơi dòng sông Mã cắt ngang đường Quốc lộ 1A, hẳn đều biết đến địa danh Hàm Rồng (phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa).
Từ ngàn năm trước, nơi đây vẫn được ngợi ca là một danh sơn thắng địa, nguồn thi hứng bất tận cho các tao nhân mặc khách danh tiếng như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Thì Sĩ Phan Huy Ích, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Tản Đà, v.v… Núi non vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Gọi điện trách, anh bạn tôi không có vẻ giận, chỉ hỏi: “Đang đứng ở đâu?”. “Trên núi Đầu Rồng, trong động Long Quang”.
“Đó là hai mắt của Rồng. Anh đi theo cửa hang nào cũng được, bám vách đá hướng về phía núi Ngọc, thấy phiến đá cao, là đến mỏm đá mũi rồng.
Phía dưới mũi Rồng có một hang động hình cáo hàm còn rồng gọi là Hàm Rồng. Nhưng tôi cũng khuyên anh đừng cố tìm. Hàm Rồng đã mất tích lâu rồi” – Dứt câu anh cúp máy.
Ngọn núi đá vôi mà tôi đang đứng khá nổi danh trong sử sách. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, núi Hàm Rồng ngày nay vốn là núi Long Hạm, tên cũ là Đông Sơn, mạch núi từ Ngũ Hoa (xã Dương Xá, huyện Thiệu Hóa ngày nay) theo bên sông dẫn đến, uyển chuyển liên tiếp như hình con rồng chín khúc, cuối dãy nổi lên ngọn núi cao, đá chất chồng.
Trên núi có động Long Quang. Dưới núi có tảng đá lởm chởm trông như hàm rồng đang hút nước sông Mã.
Trong cuốn Lý Thường Kiệt (Nhà Xuất bản Sông Nhị, Hà Nội - 1949), học giả Hoàng Xuân Hãn cũng có cùng nhận định: “Núi Long Hàm hay Hàm Rồng là nhỏn cuối của một dãy núi, chạy dài trên hữu ngạn sông Mã từ làng Dương Xá đến cầu Hàm Rồng, dài trên khoảng năm cây số. Núi là núi đất lẫn đá nhưng nhỏn Hàm Rồng thì toàn đá.
Trên cao có động tên là Long Quang. Động có hai cửa hai bên, hình như hai mắt rồng, thường gọi là Long Nhãn. Núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long Tị. Gần mặt nước có hai lớp đá chồng nhau như hàm rồng. Đó là Long Hàm.
Toàn hình – trông từ phương phương Bắc – giống như đầu rồng đang uống nước. Bên kia sông có nhỏn đá tròn, người ta gọi là núi Hỏa Châu. Cảnh chung gọi là Long Hí Châu (Rồng vờn hạt ngọc)”.
Một nhà nghiên cứu người xứ Thanh là Hoàng Tuấn Phổ gần đây có đưa ra một cứ liệu khi viết về cuốn Núi Rồng –Sông Mã (Nhà Xuất bản Văn hóa - 1993).
Tác giả dựa vào lời dẫn bài Long Hạm Nham Tức Hứng của Phan Huy Ích viết năm 1782: “Sau khi đến nơi nhậm trị, tôi qua thăm lại cảnh cũ núi Da Sơn (tên cũ là núi Rồng) ở bên cạnh bến sông.
Chỗ vách đá trống có một phiến đá cao hơn năm thước ta (hơn hai mét), bề rộng có thể trải được chiếu. Hình thù đá như cổ cái môi, trơn tru giống như đầu rồng mở miệng vậy. Vì thế mới gọi là động Hàm Rồng.
Trước động có một hòn đá rất lớn nhòm xuống dòng sông đột khởi lên như hình hàm rồng ngậm ngọc, cho nên đặt tên là hòn Đá Ngọc. Trong khoảng giữa chân núi và hòn Đá Ngọc của Hàm Rồng đã được san lấp thành nền đất bằng phẳng, rộng hai trải chiếu, trên đó dựng một am nhỏ, đặt tên Song Lạc Quán.
Khoảng trống vách bên phải tạm chứa được bốn, năm người ngồi, tôi thường bao con hát vào đó đàn hát gọi là Nhạc Phòng.
Vách đá trái - tùy theo hình thể của đá – sắp đặt bàn trà, chỗ bếp rượu, tôi lại khắc chữ vào ria núi đá và xây dựng công đường, nhà cao cửa rộng, có hành lang, trồng cây, trồng hoa thành hàng lối, phong cảnh rất đẹp…”.
Nếu những cứ liệu trên đủ sức thuyết phục, có thể khẳng định, sở dĩ ngọn núi này nổi tiếng vì nó có một điểm sất đặc biệt. Núi có dáng hình một con rồng đang há miệng.
Nhưng tôi xuống sát mép nước, đi ra xa theo phía bờ bắc, rồi đứng cao trên đỉnh núi Ngọc đối diện, thấy rất rõ dáng núi như đầu rồng nhưng hàm rồng thì thú thực không thấy đâu.
Có lẽ nào hình tượng Hàm Rồng đẹp như cảnh tiên ấy – như cách anh bạn mọt sách của tôi nói – từng hiện diện nhưng nay mất tích.
Khi tôi đem sự băn khoăn đến hỏi một người từng nghiên cứu khá kỹ về Hàm Rồng, lại nhận thêm một ý kiến khác.
Phải chăng hàm rồng chỉ là một thuật ngữ của khoa học phong thủy. Đó là ý kiến của ông T – một trong số ít người của xứ Thanh còn xác định được 28 huyệt mà Thánh địa lý Tả Ao phát hiện ở Thanh Hóa.
Ông T cho rằng, các nhà phong thủy có câu: “Tiên tích đức, hậu tầm long” (tức là chứa tức trước, tìm đất sau).
Trong phép tầm long của các nhà phong thủy, trước hết phải tìm tổ núi, rồi dò theo long mạch mà tìm đến huyệt.
Huyệt là thế đất có án che phía trước, chẩm làm chỗ dựa phía sau, bên trái là tay long, bên phải là tay hổ.
Long mạch có thể lớn hoặc nhỏ, có nhiều điểm kết mà điểm kết tốt nhất gọi là hàm rồng. Người ta thường nói những gia tộc được đại phú đại quý là nhờ có “mả táng hàm rồng” là vì vậy.
Hàm Rồng nay ở đâu
Trước anh bạn tôi có nhiều người quan tâm đến một vách đá hình miệng rộng đang há ngay mép nước, bên trong có chứa long mạch hàm rồng. Người coi lời dẫn tựa của bài Long Hạm Nham Tức Hứng như lời chú của vị quan châu đi tìm bí mật hang Thần trong truyện Vàng Và Máu của Thế Lữ.
Người đi tìm long mạch, người đến chỉ vì tò mò nhưng nhìn chung, ai cũng cố vén bức màn huyền bí để mục sở thị cái hình tượng khởi khát cho cái tên Hàm Rồng hiện nay.
Trong cuốn sách đã dẫn, tác giả Hoàng Tuấn Phổ còn dựa vào bài thơ Long Đại Nham của Nguyễn Trãi để khẳng định có một hang đá tự nhiên mang hình tượng con rồng há miệng.
Có vẻ hơi khiên cưỡng khi cho rằng Long Đại Nham là động lớn núi Rồng (Đại nham: động lớn) và câu: “Lê Phạm phong lưu ta tiệm viễn/Thanh đài bán thực bích gian thi” .
(Lê, Phạm văn phong dần vắng thấy/Rêu tường xóa lấp nửa vần thi – Lê Cao Phan dịch) chứng tỏ bản khắc thơ trong động của hai danh sĩ đời Trần là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh bị rêu phong vì hang động thấp, gần nước sông.
Năm 1949, nhà sử học Hoàng Nguyên Hãn chứng minh cuốn An Nam Chí Lược (Lê Tắc soạn - 1335), bộ sách được coi là Hàm Rồng ngày nay còn họi là Long Đại Nham, Bảo Đài Sơn hay Hang Dơi là sai.
Một số sách đời sau như An Nam Chí (Cao Hùng Trưng) hay Việt Kiều Thư, Minh Chí đều chịu ảnh hưởng của sách này, nên có chung lỗi đó.
Theo ông, đó là ngọn núi Linh Trường, Lê Thánh Tông viết: “Núi xanh cao vót, dáng dị kỳ, đứng sững ở cửa biển. Chân núi có động, sâu thẳm khôn cùng, tương truyền đấy là miệng rồng. Ngoài cửa động có viên đá hình cái mũi, tương truyền đấy là mũi rồng.
Dưới mũi lại mọc ra một viên đá tròn nhẵn nhụi đáng yêu, tương truyền đấy là hạt ngọc. Đá lớn đá nhỏ lô nhô rất nhiều hình thái, chỗ thưa chỗ dày, không thể đếm được, tương truyền là râu rồng…”.
Núi đó từng có thơ của Lê, Phạm đề, nên nếu tìm theo hướng đó, chúng ta sẽ phải xa nơi cần tìm hàng chục km.
Vị trí Hàm Rồng lâu nay vẫn được phỏng đoán là nơi cuối cùng của núi Đầu Rồng, dưới đôi mắt và mũi rồng, hướng về phía núi Ngọc (Hỏa Châu Phong).
Nhưng nó là những phần đất còn lại, hay chìm sâu giữa dòng sông Mã như bây giờ thì chưa ai khẳng định được. Nếu là phần trên bờ, chỉ cần khai quật đi lớp cát bồi chừng dăm ba mét, hy vọng sẽ thấy.
Nhưng nếu chân núi Rồng vốn vươn xa ra giữa sông , hy vọng tìm thấy là rất mong manh, vì nước nơi này cực xiết. Trước đây người ta không dễ hạ được một móng cầu thì ai có thể xuống đó mà thám hiểm.
Hơn nữa, trải qua mấy trăm năm dưới dòng sông Mã với lượng nước trung bình năm 52,6 m3/s, modul dòng chảy năm 221/s.km2, tổng lượng cát bùn khoảng 3,027.106 tấn, liệu Hàm Rồng có còn dấu tích.
Chúng tôi đem những băn khoăn ấy định trao đổi với ông Ngô Hoàng Chung, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa. Ông Chùng từ chối vì Hàm Rồng không thuộc quản lý của Sở và chỉ sang Phòng Văn hóa Thành phố.
Theo ông Hà Huy Tâm, Trưởng phòng Văn hóa Thành phố, thắng cảnh Hàm Rồng là quần thể di tích với 16 hạng mục cấp tỉnh. Về hang động thì có hai hạng mục chính là động Tiên Sơn và động Long Quang.
Từ trước tới nay, địa phương chưa từng tổ chức một đợt khảo sát nào để tìm lại thắng tích. Xét thấy việc tìm lại thắng tích Hàm Rồng, ngoài yếu tố tâm linh còn là sự giáo dục truyền thống.
Ông Tâm khẳng định, nếu hội tụ đủ một số điều kiện cần, sẽ có tờ trình UBND TP Thanh Hóa để làm.
Liên quan đến núi Hàm Rồng và huyệt hàm rồng trong phong thủy, có một truyền thuyết kể rằng vào khoảng năm 866 – 875, tiết độ sứ đất Giao Châu (tên nước ta thời thuộc Đường) là Cao Biền, rất giỏi về phong thủy, am hiểu việc làm bùa chú, lại biết nuôi âm binh, có thể ném hạt đậu hóa thành binh lính.
Biền thấy đấy Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, sợ dân nơi đây bất khuất, khó lòng cai trị, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét và tìm cách trấn yểm các long mạch để phá vượng khí của người Nam.
Bay qua vùng núi Hàm Rồng, nhìn thấy huyệt Hàm Rồng, Biền nói rằng địa thế này tuy không phải là hung địa “xương long vô túc” (rồng không chân) nhưng cũng là hình con rồng què chân, không phải đất cực quý, nên bỏ đi.
Miệng nói vậy nhưng chính y lại âm thầm trở lại, mang theo hài cốt cha để táng vào mong sau này có thể phát đế vương. Sau nhiều lần táng mả cha vào, xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không kết phát.
Cao Biền biết rằng đây là long mạch cực mạnh, cực quý. Thì lại càng ham thích. Rắp tâm làm đến cùng, Biền bèn tán nhỏ xương vừa tung lên thì có muôn con chim nhỏ cùng bay đến, vô cánh quạt vù vù làm xương cốt bám trên vách đá bay tứ tan.
Biền than rằng linh khí nước Nam quá mạnh, không thể cưỡng cầu. Quả nhiên không lâu sau, Biền bị triệu về nước rồi bị giết. Và sau này, đất Thanh là nơi phát khởi của nhiều vua chúa.
Nhiều người cho rằng, những chim nhỏ phá phép trấn yểm của Cao Biền là thần linh của sông núi nước Nam. Có người lại cho rằng đó là do Thánh Tả Ao hóa phép.
Theo truyền thuyết, cụ Tả Ao là vua phong thủy của nước ta, chuyên phá những long mạch bị Cao Biền trấn yểm.
Không ai rõ tên và năm sinh, năm mất của Tả Ao nên chỉ gọi theo tên làng. Nhiều tài liệu phỏng đoán cụ tên thật là Vũ Đức Huyền hay Hoàng Chiêm hoặc Hoàng Chỉ, Nguyễn Đức Huyên, v.v…, sống ở làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh vào thời Lê.
Cũng có người nói ông sống trước thời Tùy Đường. Nhờ chữa cho một thầy phong thủy người Tàu khỏi mù mắt, cụ được thầy này truyền nghề lại. Tả Ao học một biết mười, chẳng bao lâu biết hết các tuyệt kỹ của thuật phong thủy, bèn xin về nước.
Thầy Tàu sau khi thử tài cụ, than rằng: “Tất cả tinh hoa môn phong thủy đã truyền về phương Nam rồi!”. Sợ Tả Ao biết hết các huyệt đế vương ở nước Nam mà khởi phát, thầy dặn khi đi trên đường về quê, qua nơi nào có sông núi phải nhắm mắt lại kẻo bị mù mắt.
Nhưng khi đi qua Hàm Rồng, do tính tò mò, Tả Ao hé một mắt nhìn, một mắt nhắm và phát hiện đây có một huyệt là hàm rồng sắp mở miệng. Cụ bèn đem hài cốt cha đến đợi.
Nhưng người nhà thấy Ao đào hài cốt cha đem đi thì hoảng hốt, chạy theo khóc lóc không cho làm thế.
Giằng co mãi đến lúc hàm rồng khép miệng lại mà không táng được. Lại có khảo dị rằng, Tả Ao muốn cho con cháu phát khởi nên, trước khi chết, dặn con cháu đem chôn mình vào đấy lúc rồng há miệng.
Các con người nghe, người cản nên đành hỏng việc. Vì vậy có người nói, tài giỏi như Tả Ao nhưng không đủ phúc phận cũng đành chịu.


(Sưu tầm)
  • Thiên Anh likes this
Nam mô đại nguyện đại bi Địa Tạng Vương Bồ Tát !
OM BO LA MO, LING TO NING SOHA!!!