Chuyển tới nội dung

Hình ảnh

Tết Trùng Dương


  • Xin vui lòng đăng nhập để trả lời
4 replies to this topic

#1 Lãn Miên

Lãn Miên

    Hội viên mới

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPip
  • 478 Bài viết:

Thứ hai, 13/12/2010 | 17:20

Tết trùng dương
LÃN MIÊN

Tiết trùng dương ngày 9 tháng 9 âm lịch ở Trung Quốc đến thời Đường đã trở thành tập tục phổ biến ở vùng Trung Nguyên, mà nguồn gốc tập tục được coi là từ chuyện thần thoại, kể rằng: Thời Đông Hán ở huyện Nhữ Nam có anh nông dân tên là Hoàn Cảnh, gia đình gồm bố, mẹ, vợ và con cái đông đúc, cuộc sống tuy không giàu có nhưng cũng đủ ăn. Nào ngờ hai bờ sông Nhữ xảy ra ôn dịch, dân làng nhiều nhà bị bệnh chết, chôn không kịp, bố mẹ của Hoàn Cảnh cũng bị mắc bệnh chết. Từ nhỏ Hoàn Cảnh đã được nghe kể chuyện dưới sông Nhữ có một con quỉ, mỗi năm đều lên bờ một lần đi gây hại, đến đâu gieo bệnh ôn dịch tới đó.( Ở ta cũng có câu dọa trẻ con chớ vọc bẩn mà “quan ôn đến bắt”). Hoàn Cảnh quyết tâm đi tìm thầy học cách trừ quỉ, cứu nguy cho dân làng. Nghe nói ở núi Nam có một Đạo tiên tên là Phí Trường Thành tinh thông thuật pháp, anh ta bèn khăn gói ra đi tìm học. Phí Trường Thành trao cho Hoàn Cảnh một thanh long kiếm (tức gươm rồng đúc bằng đồng thau) gọi là kiếm trừ yêu quái, dạy anh ta ngày đêm luyện tập.Thấm thoắt đã được một năm, một hôm đang luyện tập thì Phí Trường Thành đến nói với anh ta: “ Năm nay ngày 9 tháng 9 ôn quỉ sông Nhữ sẽ xuất hiện, con phải về ngay trừ hại, ta cho con một bọc lá châu du 茱 萸 , một bình rượu hoa cúc để chống nhiễm bệnh, con hãy về làng đưa dân làng lánh hết lên núi cao tị nạn”. Đạo tiên nói xong đưa tay vừa chỉ, một con chim nhạn xòe cánh bay đến hạ xuống trước mặt, Hoàn Cảnh cưỡi chim bay về Nhữ Nam. Đến ngày 9 tháng 9 anh đưa vợ con và dân làng lánh hết lên ngọn núi sau làng, đưa cho mỗi người dắt vào mình một nhúm lá châu du 茱 萸 và uống một ngụm rượu hoa cúc, nói là để trừ tà và chống nhiễm bệnh, còn mình anh ta về nấp ở nhà cầm gươm chờ quỉ đến. Một hồi sau nghe sóng sông Nhữ réo, ôn quỉ lên bờ đi vào làng thấy cảnh vắng tanh, ngẩng mặt thấy dân làng đều đang trên sườn núi. Nó ào đến chân núi, ngửi phải hơi rượu và mùi lá sặc sụa, không dám trèo lên nữa, quay về làng. Thấy bóng quỉ, Hoàn Cảnh cầm gươm lao ra, đánh nhau một chặp, quỉ địch không lại bỏ chạy, Hoàn Cảnh rượt theo đâm trúng phổi ôn quỉ, giết chết nó. Từ đó về sau dân hai bờ sông Nhữ được sống yên bình. Mọi người gọi ngày 9 tháng 9 là “ngày lên núi cao tránh họa” về sau trở thành tập tục nhắc nhớ chuyện xưa. (Giải thích nguồn gốc tập tục bằng chuyện do người đời sau đặt ra kể lại, tuy chưa thỏa đáng, nhưng trong nội dung chuyện cũng cho thấy bóng dáng nguồn gốc Bách Việt của tập tục: miền Nam, đồ đồng, Đạo giáo, chữa bệnh bằng cây thuốc, thời cổ đại có lần phải lên núi cao tránh lũ lụt như chuyện cổ tích “ Sơn tinh thủy tinh”. Trong văn chương truyền miệng như “ Ấu học quỳnh lâm” thì nói: Phí Trường Phòng là người thời Tây Chu giỏi toán thuật đo đạc ruộng đất: Thời Nghiêu trăm họ dân quê; Trong lòng tự đắc hát ca làm đồng. Tây Chu phác thực, nghĩa nhân; Ruộng đồng nhường nhịn ân cần làm chung. Thu gọn đất Phí Trường Phòng ; Biết cách trắc đạc lấy gần từ xa.Thời Tần kỹ thuật làm nhà. Biết cách lăn đá đưa ra xây cầu - “ 擊 壤 而 嬉,上 世 之 黎 民 自 得. 讓 畔 而 耕,西 周 之 百 姓 相 推.長 房有 縮 地 之 方.秦 始 皇 有 鞭 石 之 法 ”).
Một “cổ tích” khác lại giải thích: Thời nhà Hán trong hoàng cung mỗi năm ngày 9 tháng 9 đều bày lá châu du 茱 萸,ăn bánh ngọt, uống rượu hoa cúc để trường thọ. Sau vụ ái cơ của Hán Cao Tổ Lưu Bang là Thích phu nhân bị giết hại, cung nữ là Giá Môi 贾 某 bị trục xuất khỏi cung về quê , đem tục này về truyền lại cho dân chúng rồi dần trở thành phong tục dân gian.( Giải thích kiểu này thật vô lý. Đến như nhạc và múa của cung đình cũng là từ dân gian mà ra, được nâng cấp lên mà thành nhạc cung đình và múa cung đình, ẩm thực cung đình cũng vậy, món ăn dân gian được các đầu bếp sành sỏi nghệ thuật nâng cấp lên mà thành đặc sản cung đình như trà cung đình, rượu Minh Mệnh. Đến như bà Từ Hi Thái Hậu của nhà Thanh ở trong cung còn thèm món đầu dê hầm nguyên cả đầu của quê hương bà ta, vốn xuất thân thôn dã vùng quê nghèo, đầu dê để nguyên cả đầu rửa chải sạch lưỡi họng, hầm nguyên cả thủ cho chín rục, dọn nguyên đầu lên vừa ăn vừa gỡ thịt. Do sở thích này của bà ta mà cậu thanh niên khỏe mạnh đẹp trai em chủ quán thịt dê, vốn là đồng hương bà ta lên kinh đô mở quán, cứ bị gọi vào vườn của hoàng cung dâng đầu dê hầm cho bà ta hoài vào buổi tối, bị bà ta ép làm tình cho đến khi gầy xơ xác rồi bị đuổi về quê, giữa đường bị lính do bà ta lệnh đi theo siết cổ chết khi vừa ra khỏi kinh thành. Tuy vậy “cổ tích” này cũng để lộ một sự thật là quan lại người Hán khi được cử đi làm thứ sử ở đất Bách Việt biết học theo cái hay của người Bách Việt rồi truyền lại cho dân Hán chưa biết văn hóa đó để rồi cùng theo. Chuyện cổ tích Việt “Lang Liêu và bánh chưng bánh dầy” mới là phản ánh đúng sự thực là tri thức của dân gian truyền vào cung đình, rồi được “luật hóa” để phổ biến thành truyền thống cho dân cả nước, vậy mà chuyện ấy lại có cách nay hàng bốn ngàn năm! truyền miệng hết đời này sang đời khác).
Một thuyết khác về nguồn gốc tục trùng dương nói là: Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa con số 9 là con số Dương cũng là con số Cực, là con số thần bí được sùng bái trong tín ngưỡng, chỉ trời cao gọi “cửu trùng” chỉ đất cực gọi “cửu tuyền”. Kinh Dịch coi số 9 là số dương, số 6 là số âm. Ngày 9 tháng 9 cả ngày và tháng đều là số dương, hai dương trùng nhau , bởi vậy gọi là trùng dương, cũng gọi là trùng cửu, nó chiếm vị trí quan trọng trong thời gian của năm. Ngày trùng dương còn gọi là ngày Đạp Thu, giống như ngày 3 tháng 3 âm lịch gọi là ngày Đạp Xuân. Từ thời Ngụy, Tấn ngày này trở thành ngày mà văn nhân mặc khách ngâm vịnh thơ. Tiết trùng dương 9 tháng 9 có tập tục như một lễ tiết dân gian là từ thời Chiến Quốc. (Có thể hiểu là đến thời Chiến Quốc người Hán mới biết đến phong tục này từ người Bách Việt, còn ở người Bách Việt thì tục này đã có hàng ngàn năm trước rồi - NV). Đến thời Tây Hán phong tục đi lên chỗ cao ngắm cảnh đã có ở kinh đô Trường An. Đến thời Đường tiết trùng dương chính thức được coi là một lễ tiết dân gian và giữ mãi tục này cho đến ngày nay. Tập tục là ngày đó mọi người lên núi cao ngắm cảnh để hưởng không khí trong lành thư dãn. Ở đồng bằng không có núi cao thì người ta làm bánh bằng bột do ngâm kỹ gạo rồi xay thành bột nước, ngào đường miếng, chưng lên gọi là bánh “cao 糕” để tượng trưng là đã lên “cao 高” ( Bánh “cao” thực ra là từ phiên âm của bánh “gạo” tiếng Việt, hay “khao” tiếng Thái mà thôi - NV), ý là lên cao thì tránh được họa, cầu mong được tốt lành. Ngoài ra tiết trùng dương còn thưởng ngoạn hoa cúc nở vì đang mùa rộ vào tiết thu vàng nắng nhẹ trời trong, uống rượu hoa cúc là loại rượu nấu bằng nếp vị ngòn ngọt. Tương truyền rượu nếp nấu bằng gạo nếp ủ men lâu trong vò kín, là loại rượu xuất xứ từ các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc TQ (Không hiểu thời cổ đại vùng Tây Bắc TQ có nhập khẩu nếp hay chưa ? hay là nó là vùng Tây Nam thì đúng hơn. Nếp thì chỉ ở người Việt mới có nếp mà thôi - NV), còn hoa cúc chỉ là một trong các nguyên liệu thêm vào cho rượu đó mà thôi. Có hoa ,có rượu tất có phú thơ, thịnh nhất vào thời Đường; và đề từ, thịnh nhất vào thời Tống. (Đó là do các văn nhân mặc khách đã nâng cao tính văn hóa thành một tập tục rất tao nhã cho một lễ hội thời tiết của dân gian vốn rất mộc mạc của người Bách Việt cổ - NV). Như thời Chiến Quốc nhà thơ Khuất Nguyên từng viết trong “Viễn du” câu “tập trùng dương nhân đế cung hề 集 重 阳 人 帝 宫 兮”. Thời Đường tiết trùng dương rất được coi trọng. Người ta có phong tục đi lên núi cao, cài lá châu du 茱 萸. Nhà thơ Vương Duy có câu thơ: “Độc tại dị hương vi dị khách, mỗi phùng giai tiết bội tư thân. Diệu tri huynh đệ đăng cao sở, thiên tháp tống du thiểu nhất nhân 独 在 异 乡为 异 客,每 逢 佳 节 倍 思 亲。遥 知 兄 弟 登 高 处,遍 插 荣 萸 少 一 人 = Mình ta khách lạ xứ người, Mỗi lần tiết đến ngậm ngùi nhớ ghê . Anh em trèo núi ngắm quê, Cài đầu lá ngải thiếu đi một người”.(Chắc nhà thơ là người miền Nam đang ở xứ Bắc làm quan – NV). Nhà thơ Thiệu Đại Chấn có bài thơ: “Cửu nguyệt cửu nhật vọng diệu không; Thu thủy thu thiên sinh tịch phong. Hàn nhạn nhất hướng nam phi viễn; Du nhân kỷ độ cúc hoa tùng 九 月 九 日 望 遥 空,秋 水 秋 天 生 夕 风。 寒 雁 一 向 南 飞 远,游 人 几 度 菊 花 丛 = Trùng cửu lên ngắm trời xa. Mùa thu nước mát đẩy đà gió đêm. Nhạn kia bay mải về nam. Người chơi mấy bận bên lùm cúc hoa”. Riêng ở vùng Nhữ Nam thì còn cả tục cài lá châu du 茱 萸, nhưng ngày nay sau hàng bao nhiêu năm, người ta chẳng còn hiểu biết và hình dung ra lá châu du 茱 萸 là cái thứ lá gì nữa. (Có thể “châu du” hay “châu dâu” , Hán ngữ hiện đại phát âm là “tru dấu”, chỉ là từ phiên âm lá cây “thầu dầu” ?, lá có màu tím đỏ xòe ra như những cái lông cánh gà, cây thầu dầu tía cũng là một cây thuốc, người Việt đi bộ đường xa thường hay giắt vành khăn nhúm lá thầu dầu tía để trừ tà, hoặc có khi là nhúm lá ngải cứu để phòng bịnh - NV).Trong quan niệm phong tục dân gian vì chữ “cửu cửu 九 九” là 9 9 đồng âm với “cửu cửu 久 久” là lâu dài, ngụ ý cầu mong mạnh khỏe trường thọ.(Trong tiếng Việt thì “chín”= “lâu”, như câu “thương nhau chín đợi mười chờ”= “thương nhau chờ đợi lâu”, “lâu ”= “lão” theo qui luật tạo từ cùng nôi khái niệm là bất biến phụ âm đầu mà biến âm vận cuối; Một qui luật khác là bất biến âm vận cuối mà biến phụ âm đầu; “chín lâu” là hai từ đồng nghĩa ghép nhau có ý là càng lâu, theo qui luật lướt để tạo từ đơn âm thì đã lướt thành “cửu”, tiếng Quảng Đông đọc là “cẩu”- NV). Tiết trùng dương đã từ tiết thời gian trong năm diễn biến thành tập tục dân gian, tuy mỗi địa phương có thêm nghi thức tục lệ khác nhau, chung qui vẫn là cầu bình yên hài hòa, nội dung ấy từ hai ngàn năm nay vẫn không thay đổi. Các tập tục ngày trùng dương là:
1. Lên cao. Người ta rủ nhau lên núi cao hay tháp cao, chỗ cao, tùy điều kiện sẵn có từng nơi để thưởng ngoạn phong cảnh , nhớ lại thời cổ đại đã từng phải “lên cao lánh nạn”. Ăn bánh “cao 糕” cũng để nhắc nhớ thời phải lánh lên cao, do lấy chữ đồng âm là “cao”. Bánh cao làm bằng bột gạo xay nước ngào đường đỏ hấp chín đổ thành 9 tầng như bảo tháp, tượng trưng cho đỉnh cao và số 9, bên trên còn nặn hình hai con dê nhỏ tượng trưng trùng dương, lại cắm trên đó một ngọn đèn nến tượng trưng đăng cao là trèo lên cao, và cắm một ngọn cờ giấy nhỏ màu đỏ tượng trưng cho cài lá châu du 茱 萸. Đó là cách làm thời cận đại ở vùng Phúc Kiến.
2. Ngắm hoa cúc và uống rượu hoa cúc. Tương truyền thời Tấn có ẩn sĩ Đào Uyên Minh 陶 渊 明 rượu vào là thơ ra, lại rất yêu hoa cúc, văn nhân mặc khách bắt chước ông ta lấy ngày trùng dương làm ngày ngâm vịnh. Đào Uyên Minh sống vào buổi giao thời Tấn – Tống, chính sự hủ bại, nên ông ta từ quan về quê Giang Tây ở ẩn trồng cúc, làm thơ, nhưng có tật là rượu vào hơi xỉn thì thơ mới ra. Lần đó nhằm ngày trùng dương, ông dạo ngắm hoa mà vì nhà nghèo không có rượu nên không tài nào xỉn được, ông vặt tạm hoa cúc nhai làm mồi mà vẫn không xỉn vì không có rượu vào. Đang lúc buồn thì bỗng có người đến gặp đem cho một bình rượu, đó là sai nhân do thứ sử Giang Châu là Vương Hoằng cử đến đem rượu nói là tặng Đào Uyên Minh. Đào Uyên Minh mừng rỡ mở bình uống cho đến say xỉn. Về sau người ta cho thêm hoa cúc, là loại thảo mộc vẫn làm đồ uống trị liệu, vào trong rượu nếp trùng dương.
3.Cài lá châu du 茱 萸 . Phong tục này rất phổ biến thời Đường, hoặc giắt vào người hoặc bỏ vào túi vải đeo theo người để trừ tà, nhất là phụ nữ và trẻ em. Trái cây châu du là một vị thuốc, chất lượng tốt nhất là vùng đất Ngô tức vùng Giang, Triết ngày nay nên còn gọi là Ngô châu du, lại cũng còn gọi là cây dầu Việt , là loại cây nhỏ, cao hơn một trượng, lá như cái lông vũ, mùa hè nở hoa trắng, quả đặc có cơm béo ngậy màu vàng, quả sau thu thì chín màu tím đỏ, sách “ Bản thảo cương mục” nói cơm quả vị đắng cay mà thơm, tính ôn nhiệt, có thể trị hàn khu độc, người xưa quan niệm giắt lá nó vào người để trừ tà. Phong tục này học giả Chu Sở đầu thời Tấn viết trong “Phong thổ ký” là một phong tục của người Giang Nam.


  



Giải thích chính xác nhất có lẽ là: Trùng cửu là lúc nông nhàn sau thu hoạch vụ thu, lại là lúc các loại cây cỏ dại, mà đa phần đều là các dược thảo quí, sau một mùa hè chói chang quả đã chín, củ đã đầy, đã đến vụ thu hái, chỉ còn hoa cúc thì lại trái khoáy “ trăm hoa đua nở mùa xuân, cớ sao cúa lại muộn mằn về thu” thì nở rộ vàng rực cả mùa thu, làm cho phong cảnh càng thêm đẹp. Người dân tranh thủ lên đồi, lên núi hái lượm cây thuốc về phơi khô dự trữ phòng khi cần chữa bệnh. Có lẽ tập quán nông nghiệp này có từ thời Thần Nông. Từ tập quán làm ăn đó mới nảy sinh ra chọn một ngày nhất định , có ý nghĩa trong mùa đó làm thành ngày lễ, rồi hóa ra tập tục. Cũng như mùa xuân thì có tục trồng cây. Các nhà văn, nhà thơ đã lợi dụng tập quán đó nâng giá trị văn hóa của nó lên với các nội dung tao nhã làm đẹp thêm nội dung của lễ tiết.
Năm 1989 chính phủ TQ chính thức lấy ngày 9 tháng 9 âm lịch làm ngày Tết Người Già của toàn xã hội Trung Quốc, thêm nội dung tinh thần quan tâm người già, kính lão, kính thầy, nâng cao thêm tính nhân văn cho một lễ tiết dân gian truyền thống. ( Điểm lại các ngày lễ của ta. Sao không lấy ngày giỗ kỷ niệm Hai Bà Trưng làm ngày lễ hội văn hóa Phụ Nữ VN, tư tưởng bình đẳng vốn có của dân tộc Việt từ thời cổ đại, nhìn mặt trống đồng là thấy rõ ngay, chẳng có ai là “thiên tử” cả, mọi người mọi vật đều bình đẳng hưởng một mặt trời chung trong sáng, hai vợ chồng cùng cầm chày dã gạo đúng là “thuận vợ thuận chồng biển đông tát cạn”, mà vợ lại trước chồng trong kết cấu từ vựng “vợ chồng” đúng đạo thờ mẫu của người Việt, có lẽ nhờ vậy mới có hiện tượng Hai Bà Trưng trong lịch sử. Sao không lấy ngày họp hội nghị Diên Hồng làm lễ hội văn hóa Ngày Hội Đoàn Kết Toàn Dân Tộc – NV).
  • Thiên Sứ, meiji and hoangnt like this

#2 hoangnt

hoangnt

    Hội viên tích cực

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPipPip
  • 1.378 Bài viết:

Thứ hai, 13/12/2010 | 18:21

Cảm ơn Bác Lãn Miên.

Qua các nội dung của các truyền thuyết về ý nghĩa của ngày Tết trùng dương, ta thấy hình như văn hóa Việt có các ngày đặc biệt trong năm như:

Ngáy 1 tháng Một âm lịch.
Ngày 2 tháng Hai âm lịch.
Ngày 3 tháng Ba âm lịch.
Ngày 4 tháng Bốn âm lịch.
Ngày 5 tháng Năm âm lịch.
Ngày 6 tháng Sáu âm lịch:?.
Ngày 7 tháng Bảy âm lịch.
Ngày 8 tháng Tám âm lịch.
Ngày 9 tháng Chín âm lịch.
Ngày 10 tháng Mười âm lịch.
Ngày 11 tháng Mười một âm lịch.
và Ngày 12 tháng Mười hai âm lịch:?.

... là những ngày liên quan đến quy luật vận động tự nhiên trong năm Xuân, Hạ, Thu, Đông và văn hóa Việt xây dựng trên nền tảng học thuyết âm dương ngũ hành xoay quanh trung tâm thuyết Tam tài có nghĩa là các ngày nói trên sẽ được chọn lựa cho các sự kiện quan trọng nào đó của dân tộc Việt.

Nếu Bác có các thông tin hay xin vui lòng cho mọi người cùng tham khảo.

Kính Bác.

#3 Minh Xuân

Minh Xuân

    Hội viên mới

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPip
  • 113 Bài viết:

Thứ ba, 14/12/2010 | 14:00

Một thuyết khác về nguồn gốc tục trùng dương nói là: Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa con số 9 là con số Dương cũng là con số Cực, là con số thần bí được sùng bái trong tín ngưỡng, chỉ trời cao gọi “cửu trùng” chỉ đất cực gọi “cửu tuyền”. Kinh Dịch coi số 9 là số dương, số 6 là số âm.


Có chỗ này chưa thật sự hiểu: vì sao số 9 lại là dương? Nếu 9 là dương, 6 là âm thì 9 phải là Trời, còn 6 là Đất (trời dương, đất âm). Như vậy phải gọi là Trời cao là "Cửu trùng" và Đất dầy là "Lục tuyền" mới đúng. Còn "Cửu trùng" và "Cửu tuyền" thì thành ra 9 vừa là dương, vừa là âm, không hiểu nổi.

Có lẽ phải hiểu Dương đây là giương ra (Cực), chứ không phải âm dương.

Tôi nghĩ Tết trùng cửu là tiết kết thúc một chu kỳ trong năm, đón một chu kỳ mới với mong muốn trường tồn (cửu cửu). Và việc uống rượu, ngắm hoa, ngâm thơ trong ngày này chỉ những hoạt động mang tính văn hóa cao, như một gợi ý cho con đường "thoát kiếp" của con người.
  • meiji likes this

#4 hoangnt

hoangnt

    Hội viên tích cực

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPipPip
  • 1.378 Bài viết:

Thứ bảy, 18/12/2010 | 07:52

Tôi nghĩ Tết trùng cửu là tiết kết thúc một chu kỳ trong năm, đón một chu kỳ mới với mong muốn trường tồn (cửu cửu). Và việc uống rượu, ngắm hoa, ngâm thơ trong ngày này chỉ những hoạt động mang tính văn hóa cao, như một gợi ý cho con đường "thoát kiếp" của con người.

Hình như trong các truyền thuyết về Tết trùng dương còn thiếu một thưởng ngoạn cực kỳ quan trọng nữa đó là chơi cờ tướng. Khả năng trong lịch sử dân tộc Bách Việt cờ tướng còn có một cái tên gốc khác, theo dự đoán của truyện cổ trang "Bắn rụng mặt trời" tác giả Nguyễn Ngọc Dĩnh nói về cuộc vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt trong chiến tranh 3 lần chống quân Nguyên Mông xâm lược đó là: CỜ VƯƠNG.

Giai thoại về sứ giả Việt:

Đoàn sứ giả nước Nam do hoàng giáp Ngô Kính Thần dẫn đầu, sang sứ nhà Nguyên, vua nhà Nguyên ra câu đối:

Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ.

(Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng).


Câu này có ý là có một thế lực hùng hậu đã dẹp tan đi thế lực yếu kém hơn. Mặt trời hiện ra thì mặt trăng mất đi. ý bóng gió là thiên triều bắt nước nhỏ phải quy phục.

Ngô Kính Thần ung dung đối lại:

Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.

(Trăng là cung, sao là đạn, hoàng hôn bắn rụng mặt trời).


Câu đối lại tuyệt hay, hình tượng sắc sảo hơn, chất quật cường cũng rõ. Nghe nói, vua Nguyên rất bất bình vì câu đối này, đã bắt giam sứ giả.

Câu đối này từ trước vẫn được xem là của Mạc Đĩnh Chi. Nhưng hiện nay đã tra cứu lai lịch. Lời văn được khắc trên bia đá, khắc năm 1656, tác giả văn bia là tiến sĩ Vũ Đăng Long. Theo lời bia, thì câu đối trên đây là của Ngô Kính Thần, người xã Xuân Hy, huyện Kim Hoa (nay thuộc Hà Nội).

TUYỆT CÚ MÈO.

Kính.

#5 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 26.835 Bài viết:

Thứ bảy, 18/12/2010 | 11:28

Cảm ơn Bác Lãn Miên.

Qua các nội dung của các truyền thuyết về ý nghĩa của ngày Tết trùng dương, ta thấy hình như văn hóa Việt có các ngày đặc biệt trong năm như:

Ngáy 1 tháng Một âm lịch.
Ngày 2 tháng Hai âm lịch.
Ngày 3 tháng Ba âm lịch.
Ngày 4 tháng Bốn âm lịch.
Ngày 5 tháng Năm âm lịch.
Ngày 6 tháng Sáu âm lịch:?.
Ngày 7 tháng Bảy âm lịch.
Ngày 8 tháng Tám âm lịch.
Ngày 9 tháng Chín âm lịch.
Ngày 10 tháng Mười âm lịch.
Ngày 11 tháng Mười một âm lịch.
và Ngày 12 tháng Mười hai âm lịch:?.

... là những ngày liên quan đến quy luật vận động tự nhiên trong năm Xuân, Hạ, Thu, Đông và văn hóa Việt xây dựng trên nền tảng học thuyết âm dương ngũ hành xoay quanh trung tâm thuyết Tam tài có nghĩa là các ngày nói trên sẽ được chọn lựa cho các sự kiện quan trọng nào đó của dân tộc Việt.
Nếu Bác có các thông tin hay xin vui lòng cho mọi người cùng tham khảo.
Kính Bác.


Anh Lãn Miên Kính mến.
Theo tôi hiểu thì trùng cửu là tháng và ngày cực Dương - tương ứng với mùng 5 - 5 là tháng và ngày cực Âm. Trong phương pháp luận của Lý học Đông phương, mối quan hệ Âm Dương rất phức tạp. Trong đó có mối quan hệ giữa các ký hiệu, khái niệm qui ước với thực tế. Trùng cửu là mối quan hệ có tính quy ước thuần túy lý thuyết về tính cực Dương, dựa trên cơ sở thực tại là chu kỳ ngày tháng trong vòng tuần hoàn năm.
Đây là một biểu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Lạc Việt.
Rất cảm ơn anh vì bài viết nói trên.

Hoangnt và anh chị em nghiên cứu Phong Thủy Lạc Việt thân mến.
Anh chị em nên rất, rất lưu ý rằng:
Truyền thống của tổ tiên ta không bao giờ gọi tháng đầu năm là Tháng một, mà gọi là tháng Giêng; Không gọi tháng cuối năm là tháng Mười Hai mà gọi là tháng Chạp; không gọi tháng giáp cuối năm là tháng Mười một , mà gọi là tháng "Một". "Một, Chạp, Giêng... hai" từ lâu là câu nói cửa miệng của ông cha ta. Chúng ta đừng nghi đến một nền văn minh Lạc hậu với người nông dân chân đất , áo nâu thật thà chất phác hay nói câu này thí không có gì quan tâm. Đó chính là những di sản cực kỳ huyền vĩ của tổ tiên chúng ta. Âm lịch không bao giờ lấy ba tháng Một - Chạp - Giêng có tháng nhuận. Cho nên ông cha chúng ta mới đặt những cái tên rất riêng như vậy để lưu ý con cháu đời sau. Điều này liên quan đến một kiến thức thiên văn vô cùng đồ sộ của tổ tiên chúng ta. Tháng Một cũng là tháng Tý tháng đầu tiên của 12 con giáp.
Anh chị em nên nhớ rằng: Trong di sản văn hóa Việt ghi lại những dấu ấn vô cùng đồ sộ về một lý thuyết cổ xưa rất cao cấp. Để mất đi, thế hệ sau sẽ khó lòng khôi phục được. Do đó, ông cha nói thế nào thì - nếu chúng ta chưa hiểu - cứ biết như thế và ghi nhận, không chế biến cho khác đi.
  • thanhdc, tom_xp, Thiên Luân and 3 others like this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ