Diễn đàn Lý học Đông phương: XuÂn VỀ GiẢi MÃ PhƯƠng VỊ HÀ ĐỒ PhỤc Hy - Diễn đàn Lý học Đông phương

Chuyển tới nội dung

Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3
  • (3 Trang)
  • +
  • 1
  • 2
  • 3
  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này

XuÂn VỀ GiẢi MÃ PhƯƠng VỊ HÀ ĐỒ PhỤc Hy Tản mạn vui - Hậu Duệ Thiên Lương

#41 User is offline   hoangnt 

  • Hội viên chính thức
  • PipPipPip
    • Nhóm: Hội viên chính thức
    • Bài viết: 867
    • Gia nhập: 30-Tháng mười một 09
    • Giới tính:Nam

    Cập nhật lúc 30 Tháng chín 2011 - 07:57 AM

    Theo sách Chu Lễ thì Dịch gồm có 3 bộ là :
    1- Liên Sơn
    2- Quy tàng
    3- Chu Dịch

    Hai bộ Liên Sơn và Quy tàng đã bị lạc mất, chỉ còn lưu lại Bộ Chu Dịch mà thôi. Nay chúng ta thường gọi là Kinh Dịch.
    Theo Hồ văn Phong, thì Liên Sơn là của nhà Hạ, bắt đầu bằng quẻ CẤN, Quy tàng là của nhà Thương bắt đầu bằng quẻ KHÔN, và Chu Dịch là của nhà Chu bắt đầu bằng quẻ KIỀN.

    Đỗ Tử Xuân thì cho rằng: Liên Sơn là của Phục Hy; Quy tàng là của Hoàng đế.

    Theo Trịnh Huyền trong Dịch luận cũng viết: Đời Hạ thì có Liên Sơn; Đời Ân thì có Quy tàng; Đời Chu thì có Chu Dịch.

    Theo sách Chu Lễ thì: Liên Sơn Dịch lấy quẻ Thuần Cấn làm đầu mối. Cấn là núi, núi trên, núi dưới nên gọi là Liên Sơn. Quy tàng Dịch lấy quẻ Thuần Khôn làm đầu mối; Khôn là đất, vạn vật không vật nào không trở về tàng ẩn nơi trong đất, bởi vậy nên gọi là Quy tàng. Chu Dịch lấy quẻ Thuần Kiền làm đầu mối. Kiền là Trời thì hay chu hành bốn phương nên gọi là Chu.

    Không thể giải nổi nếu có 3 bộ Dịch như thế này.

    Liên Sơn dịch: sách nói về Nhân.
    Quy tàng dịch: sách nói về Địa.
    Chu Dịch: Nói về vận động của Thiên và tổng hợp.

    Quá khó khi tổ hợp thành Chu dịch.

    * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
    0

    #42 User is offline   hoangnt 

    • Hội viên chính thức
    • PipPipPip
      • Nhóm: Hội viên chính thức
      • Bài viết: 867
      • Gia nhập: 30-Tháng mười một 09
      • Giới tính:Nam

      Cập nhật lúc 13 Tháng mười 2011 - 09:35 AM

      DỊCH KINH GIẢN LƯỢC


      Nhược Thủy

      Trước khi vào các quẻ, để cho dễ hiểu tôi xin nói về:

      1) Ít nhiều nhận định về Quẻ, Thoán, Hào.

      2) Áp dụng những nguyên tắc của Dịch Kinh vào cuộc đời.

      I. ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ QUẺ, THOÁN, HÀO


      1) Nhận định về quẻ

      Quẻ có quẻ đơn và quẻ kép.

      Quẻ Đơn. Quẻ Đơn gồm 8 quẻ; mỗi quẻ có 3 vạch (Hào):

      Kiền (Càn) , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài

      Quẻ Đơn tượng trưng cho Vạn Vật, Vạn Hữu

      Quẻ Kép. Quẻ Kép gồm 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 Hào.

      Quẻ Kép tượng trưng cho hết mọi biến hóa, mọi tình trạng, mọi hoàn cảnh mà Vạn hữu và Nhân quần gây nên trong khi giao tiếp với nhau. Thượng Kinh và Hạ Kinh viết lại 64 quẻ , tức là đưa ra 64 hoàn cảnh tượng trưng, để dạy con người phương pháp xử sự cho khéo léo, tùy theo mỗi hoàn cảnh mình gặp.

      Quẻ Kép gồm 2 quẻ đơn, ta gọi:

      -Quẻ phía dưới là Nội Quái

      -Quẻ phía trên là Ngoại Quái

      Vì mỗi hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều giai đoạn, nhiều nhân vật bị dính dấp ảnh hưởng, nên mỗi quẻ lại có 6 Hào. Sáu Hào cốt là để nói lên cho rõ ràng:

      *Mọi khía cạnh, mọi trạng thái biến thiên của hoàn cảnh.

      *Mọi giai đọan của một công trình.

      *Mọi tầng lớp trong xã hội, đang cùng chia xẻ một hoàn cảnh

      *Những trường hợp khác nhau, có thể xảy ra cho từng hạng người sống cùng chung một hoàn cảnh..

      Bàn về mỗi quẻ Kép có:

      A) Tự Quái. B) Thoán Từ. C) Thoán Truyện. D) Tượng Truyện. E) Hào Từ và Tiểu Tượng Truyện.


      Muốn hiểu rõ mỗi quẻ, phải nghiên cứu tận tường:

      A) Tự Quái có mục đích dạy ta khi gặp mỗi quẻ, tức là mỗi hoàn cảnh, phải xét xem nó duyên do tự đâu

      B) Thoán bàn luận tổng quát về sự hay dở của mỗi quẻ, tức là của mỗi hoàn cảnh.

      Dịch Kinh dùng 11 chữ để xét đoán hay dở:

      1) Nguyên = chí thiện,

      = nguyên thủy (gốc gác vạn hữu)

      = lớn, mạnh, hào hùng, cao đại.

      2) Hanh = Thông suốt (hanh thông)

      = Chí mỹ (Gia chi hội - Văn ngôn)

      3) Lợi = Lợi, thuận nhân tâm, thích nghi, thích đáng.

      4) Trinh = Chính, bền, thành đạt, bền vững, hằng cửu, chủ chốt, chủ đích của mọi việc.

      5) Cát = Tốt, được, thành công.

      6) Hung = Xấu, mất, thất bại.

      7) Hối = Hối lận, ưu lự, băn khoăn.

      8) Lận = Xấu hổ.

      9) Lệ = Nguy hiểm.

      10 & 11) Vô cữu là không có lỗi.

      Tóm lại, một hoàn cảnh, một công tác hay, hay dở tùy ở chỗ thành hay bại, đắc hay thất, có làm cho mình phải hối hận, phàn nàn, xấu hổ hay không? Việc xấu mà không, hay chưa hối hận thời nguy hại, đã phàn nàn, cải quá thì không lỗi gì. Nhiều khi Dịch cũng dùng 2 chữ Trinh hung đi đôi với nhau. Chữ Vô Cữu nhiều khi phải giải là Không trách cứ ai được.

      Thoán có Thoán Từ, Thoán Truyện

      *Thoán Từ là của Văn Vương. Thoán Từ rất vắn tắt, cô đọng, nói đại ý toàn quẻ & sự hay dở tổng quát của toàn quẻ

      *Thoán Truyện là lời của Khổng Tử, dùng để giải thích Thoán Từ. Thoán Truyện nhiều khi viết có âm vận, và thường theo phương pháp sau đây :-

      1) Giải thích tên quẻ mỗi khi cần.

      2) Phân tích quẻ thành 2 quẻ Đơn (Quái Thể), rồi lấy 2 quẻ đơn ấy mà phân tích Thoán Từ (Dĩ Quái Thể thích Quái Danh, Quái Nghĩa)

      3) Lấy đức tính của 2 quẻ đơn ấy để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Đức thích Quái Từ)

      4) Dùng những hình ảnh do 2 quẻ đơn ấy gợi nên để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Tượng thích Thoán Từ)

      5) Xem quẻ đương cuộc đã do quẻ nào sinh ra, là biến thể của quẻ nào, rồi lấy đó mà giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Biến thích Quái Từ)

      6) Xem 2 quẻ đơn là Âm hay Dương, Cương hay Nhu, giao nhau hay không giao nhau để giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Tài thích Quái Từ)

      7) Tìm hào chủ chốt của quẻ ( Chủ Hào), rồi nhân đó cắt nghĩa Quái Từ, Quái Nghĩa. Hào chủ chốt thường là hào 2 và 5, nhưng cũng có khi là hào 1 như ở quẻ Truân, là hào 3 như ở quẻ Khiêm, hào 4 như ở quẻ Dự.

      Có nhiều khi lời Thoán giống lời Hào chủ chốt.

      Ví dụ: Thoán quẻ Truân có chữ Lợi kiến hầu, thì hào Sơ Cửu cũng có chữ Lợi kiến hầu.

      8) Thoán Truyện thường nhắc lại để giải thích từng câu trong Thoán Từ.

      9) Ngoài công việc chú giải Thoán Từ, Thoán Truyện còn đưa ra những nhận định tổng quát, những định luật của Trời Đất. Ví dụ:

      *Nơi quẻ Hàm, thì đề cập đến định luật cảm thông trong Trời đất

      *Nơi quẻ Khuê, thời nói về Âm Dương lưỡng dụng để đi tới đại thành.

      * Nơi quẻ Phong, thì bàn về lẽ Doanh, Hư, Tiêu tức của Trời đất.

      * Nơi quẻ Hằng thì bàn về sự bền vững là điều kiện để tiến tới vĩnh cửu, bất biến...

      Vì vậy, hiểu được Thoán Từ là hiểu được quá 1/2 quẻ Dịch rồi (Trí giả quan kỳ Thoán Từ tắc tư quá bán hỹ - Hệ Từ hạ, Chương 9)

      C) Hào

      Trong 1 hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều nhân vật liên hệ, quẻ là một hoàn cảnh, nên cũng lấy các Hào mà tượng trưng cho sự diễn biến của hoàn cảnh, những khía cạnh khác nhau của hoàn cảnh, những nhân vật liên hệ đến hoàn cảnh. Hào có Hào Tài & Hào Vị.

      *Hào Tài là bản chất của từng Hào, tài đức của từng Hào. Hào Tài được diễn tả bằng Âm và Dương.

      Âm Hào

      Posted Image
      tượng trưng cho những kẻ tiểu nhân, hoặc những người bất tài, nhu nhược.

      Dương Hào

      Posted Image
      tượng trưng cho quân tử, người tài cán, cương nghị.

      *Hào Vị . Mỗi quẻ Kép có 6 vị ngôi, tức là 6 Hào

      Mỗi một hào mang một số thứ tự tính từ dưới lên trên : 1, 2, 3, 4, 5, 6 có tên là Hào Sơ, Hào Nhị, Hào Tam, Hào Tứ, Hào Ngũ và Hào Thượng. Số lẻ 1, 3, 5 là vị Dương. Số chẵn 2, 4, 6 là vị Âm. Tùy Hào tài là Dương hay Âm, ta dùng thêm chữ Cửu hay Lục. Từ dưới lên trên ta xưng danh như sau:

      Nếu là Dương Hào ta có: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu.

      Nếu là Âm Hào ta có: Sơ Lục, Lục Nhị, Lục Tam, Lục Tứ, Lục Ngũ, Thượng Lục.

      Hào Vị có nhiều công dụng:

      a) Nó biểu dương không gian TRÊN, DƯỚI, GIỮA.

      B) Thời gian: ĐẦU, GIỮA, CUỐI.

      c) Các tầng lớp xã hội từ lê thứ, đến quan, vua, đến miếu mạo, triều ca.

      d) Nó xác định ngôi vị của từng nhân vật.

      e) Các giá trị tinh thần từ thấp đến cao.

      f) Chiều hướng biến hóa từ trong ra ngoài, hoặc từ ngoài vào trong. Từ dưới lên trên là biến chuyển từ trong ra ngoài. Gặp trường hợp ấy nơi Thoán Truyện, dùng chữ Vãng. Biến chuyển từ trên xuống dưới là biến từ ngoài vào trong. Trường hợp này Thoán Truyện dùng chữ Lai.

      Như trên đã nói, lối tính các Hào bao giờ cũng tính từ dưới lên trên, cho nên:

      -Hào dưới là thấp, Hào trên là cao.

      -Hào dưới thì là hạ tiện, là lê dân, Hào trên thời là tôn quí, là quan, là vua.

      Đối với thân thể con người, thì dưới là chân, trên là mặt, là miệng, là đầu.

      Đối với con vật, thì hào Sơ là đuôi, hào trên cùng là đầu, là sừng vv...

      Đối với quá trình một công việc, thì dưới là khởi điểm công việc, khó biết, khó làm. Giữa là giai đoạn gian một vài qui ước đã được chấp thuận cho mỗi một Hào.

      *Hào Thượng: Thái miếu, Thái thượng hoàng, Thượng phu, ẩn sĩ thoát trần. Đó là hào hưu tức, ngoại vị, vô vị.

      *Hào Ngũ: Thiên tử, Quân vương.

      *Hào Tứ: Đại thần, cận thần, chư hầu.

      *Hào Tam: Công khanh, Tam công, là những người có thế lực trong nước.

      *Hào Nhị: Công thần, Đại phu.

      *Hào Sơ: Nguyên sĩ, là vạn dân, thứ dân. (Xem thêm nơi Hệ Từ hạ , Chương 9 )

      TRUNG CHÍNH & BẤT TRUNG BẤT CHÍNH


      - Hào 2 và 5 là Trung Hào, nên gọi là Trung.

      - Hào 3, 4 chẳng hạn, không phải Hào giữa nên gọi là Bất trung.

      - Hào Dương cư Dương vị, hào Âm cư Âm vị gọi là Chính.

      - Hào Dương cư Âm vị, hào Âm cư Dương vị gọi là Bất chính.


      Trung chính & Bất trung chính cốt để chỉ 2 sự kiện:

      1) Trung là những người thành khẩn, trung thực, có lương tâm chức nghiệp, tận tụy vì công vụ.

      2) Chính là những người được dùng vào những ngôi vị, những công việc xứng với tài đức của mình.


      Bất trung chỉ những người gian ngoan, không thành khẩn.

      Bất chính chỉ những người sống trong những địa vị bất xứng, không thích hợp với tài đức của mình, ví như dốt nát, bất tài mà lại ở địa vị cao (Âm cư Dương vị); hoặc có tài, có đức mà không được trọng dụng, không được đặt vào những chức vị xứng đáng (Dương cư Âm vị) Nhân đó ta suy ra được tình trạng hay dở rất nhiều.

      ỨNG & TỈ


      Mỗi người trong xã hội lại có một số người hỗ trợ, hay không hỗ trợ, Dịch kinh diễn tả sự kiện này bằng ỨNG HÀO . ỨNG HÀO thì

      1 ứng với 4

      2 ứng với 5

      3 ứng với 6

      *Âm ở dưới ứng Dương ở trên thì phải hiểu là tiểu nhân dựa thế quân tử, tiểu nhân dựa thế lực người có quyền thế ở trên, như vậy đâu có hay.

      *Dương ở trên ứng với Âm ở dưới thì phải hiểu là người trên hay, mà người dưới dở, không giúp ích được bao lâu.

      *Âm lại gặp Âm, Dương lại gặp Dương thì thường phải hiểu là một người hoạt động đơn độc, không người hỗ trợ.

      *Nhưng ở Hào ngũ, Hào nhị, nếu Cửu Ngũ mà lại gặp Cửu Nhị thì có thể hiểu là Minh quân lại gặp Hiền thần. (Xem Kiền)

      TỈ : là thân cận, là sống kế cận nhau.

      ỨNG là nói 2 Hào cách xa nhau, TỈ là nói 2 Hào kề cận nhau. Phàm gần nhau phải giống tính, giống nết nhau mới tốt. Vì thế Âm cận Hào Âm mới tốt, Dương cận Hào Dương mới hay. Còn như Âm bên Dương, Dương bên Âm, vì một đằng Cương, một đằng Nhu, một đằng quân tử, một đằng tiểu nhân, một đằng hữu tài, một đằng vô tài, nên thường khủng khiểng, kèn cựa.

      Nếu Âm ở dưới Dương, tức là kẻ bất tài nhường nhịn người có tài.

      Nếu Âm ở trên Dương, tức kẻ vô tài mà lại trèo đầu, cưỡi cổ người có tài thì sẽ sinh lắm chuyện.

      - Trường hợp quị lụy, nhường nhịn, Dịch gọi là THỪA

      -Trường hợp đè đầu, cưỡi cổ, Dịch cũng gọi là THỪA.

      Như vậy, để đoán định CÁT, HUNG, Dịch theo những tiêu chuẩn sau đây:

      1) Địa vị phải xứng kỳ đức mới hay.

      2) Làm việc gì phải có người hỗ trợ, hưởng ứng, phụ bật mới hay.

      3) Không hợp nhau, mà xa nhau thì còn khả trợ, vì không giao tiếp với nhau. Nhưng đã không hợp nhau mà phải sống bên nhau, thật là căn cớ mọi hung họa.

      4) Thành khẩn mà đối đãi nhau mới hay. Giả dối mà đối đãi với nhau thật là điều tai hại.

      5) Và như vậy, cả bộ Dịch khuyên ta phải ở những nơi, giữ những công việc thích hợp với tài đức mình, giao thiệp với những người đồng tâm, đồng chí với mình.vv...

      ÍT NHIỀU VÍ DỤ ĐỂ HIỂU VỀ 6 HÀO

      (Ta đi từ Hào Sơ cho tới Hào Thượng)

      1) Ví dụ Quẻ Tỉnh:


      Posted Image
      Sáu Hào ở đây mô tả các loại giếng, và các công dụng khác nhau của những giếng.

      Hào 1) Đáy giếng bùn = Tiểu nhân không nên dùng.

      Hào 2) Giếng có ngách ngang hông, để mất hết nước.= Người không lý tưởng, không ích lợi gì.

      Hào 3) Giếng tốt bỏ hoang không ai dùng = Người tài đức không được trọng dụng.

      Hào 4) Giếng được xây sửa lại, tạm thời không dùng được = Công bộc Quốc Gia nhiều khi phải ngưng phục vụ để tu nghiệp lại.

      Hào 5) Giếng trong có người ăn = Vị quốc quân có tài đức, thực ích lợi cho quốc dân.

      Hào 6) Giếng nước ngon, có nắp đậy, lại đầy nước = Ở trên càng làm ích cho đời, càng nhiều cái hay.

      2. Quẻ Đỉnh.

      Posted Image

      (Mô tả các phần và công dụng của cái đỉnh, cái vạc dùng để nấu thức ăn)

      Hào 1) Đỉnh chổng chân (để rửa bụi bậm bên trong: bất kỳ hoàn cảnh nào, nhân vật nào mà ta biết lợi dụng vẫn hay)

      Hào 2) Vạc đầy thức ăn (Không nên thân cận tiểu nhân)

      Hào 3) Tai đỉnh (Vạc thay tai: Quân tử lúc đầu không được trọng dụng, sau sẽ được hòa hợp với vua)

      Hào 4) Đỉnh gãy chân: (Dùng tiểu nhân vào chức trọng, sẽ hỏng việc.

      Hào 6) Khoen đỉnh (Ở đời mà cương nhu hòa hợp, trên đưới một lòng, thì hay biết mấy)

      3. Quẻ Hàm.

      Posted Image
      (Dùng các phần mình trong người để diễn tả sự cảm xúc, cảm thông)

      Hào 1) Cảm bằng ngón cái chân (Sức cảm hóa còn yếu ớt)

      Hào 2) Cảm bằng bắp chân (Muốn cảm hóa người trên rất khó)

      Hào 3) Cảm bằng vế đùi (Cảm hóa không phải là xu phụ quần chúng)

      Hào 4) Cảm bằng tâm (Cảm hóa bằng cả tâm hồn mới tốt, không nên dùng thủ đoạn)

      Hào 5) Cảm hóa bằng gáy vai (Cảm hóa mà hờn hợt sẽ không bền )

      Hào 6) Cảm hóa bằng mép môi (Cảm hóa người bằng cửa miệng không hay)

      II. ÁP DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA DỊCH KINH VÀO CUỘC ĐỜI


      Áp dụng nguyên tắc Dịch kinh để đoán định công việc ta làm hay, hay dở

      Phàm một công việc ta làm, muốn biết là dở, hay hay, ta sẽ phân tách nó theo những tiêu chuẩn sau đây:

      -: Minh chính hay tà khuất.

      -Tình: Thành khẩn hay giả dối, đắc ý hay không đắc ý. Ta thích làm hay làm miễn cưỡng.

      -Tài: Ta là người có chân tài hay không?

      -Đức: Ta là người có đức hay không?

      -Thời: Công việc ta làm có hợp thời hay không?. Có hợp với tuổi ta không?.

      -Vị: Địa vị và hoàn cảnh của ta chính đáng, hay không?, thích hợp với ta hay không?

      -Sự hiểu biết của ta về công việc: Ta có am tường công việc này hay không?

      -Sự chuẩn bị của ta: Làm công việc này ta có chuẩn bị chu đáo hay không?

      -Ứng: Ta làm công việc này có người giúp hay không, có người hưởng ứng hay không? Có bị ai phá phách, gàng quải hay không?

      -Cát Hung: Ta làm công việc này để thành công, hay là để thất bại?

      -Hối lận: Ta làm công việc này có bị lương tâm phiền trách hay không? Có bị người đời đàm tiếu hay không. Ta sung sướng, hãnh diện mỗi khi nghĩ đến công việc ta làm, hay trái lại nó làm ta xấu hổ.

      -Lệ, Vô Cữu: Khi làm công việc này, mỗi khi ta thấy ta sai đường, lạc lối, mỗi khi ta thấy ta lầm lẫn, ta sẽ có thực tình sửa đổi đường lối hay không?

      Nếu xét từng tiêu chuẩn, mà ta thấy phải trả lời là không, thì việc của ta là không hay, đừng có làm. Như vậy, là ta theo đúng đường lối của Trời Đất, theo đúng Mệnh Trời.

      MỖI KHI TA TÍNH TOÁN MỘT CÔNG VIỆC GÌ, MỖI KHI TA LÂM VÀO MỘT HOÀN CẢNH NÀO, ta phải:


      1) Nghiên cứu, tìm hiểu công việc hay hoàn cảnh ta cho tận tường.

      -Tìm xem những yếu tố nào đã gây nên hoàn cảnh này.

      -Xem ai làm chủ chốt, ai làm chốt, làm nọc trong hoàn cảnh này.

      - Ta có can dự nào đối với hoàn cảnh. Trực tiếp bị ảnh hưởng, gián tiếp bị ảnh hưởng, hay không bị ảnh hưởng?

      2) Nghiên cứu các lực lượng bạn và thù.

      3) Nghiên cứu các vấn đề cần phải giải quyết.

      4) Nghiên cứu xem các khó khăn vấp phải.

      -Vượt tầm giải quyết của ta.

      -Vừa tầm giải quyết của ta.

      -Ta có thể giải quyết dễ dàng với tài sức ta.

      5) Hoàn cảnh ta gặp, công việc ta tìm đang ở vào thời kỳ nào: đầu hay đuôi.

      6) Hoàn cảnh ta đang gặp, thuận lợi hay không thuận lợi đối với ta.

      Tóm lại, Dịch Kinh muốn dạy ta những điều chính yếu sau đây trong cuộc sống hàng ngày:


      - Muốn làm việc gì phải thông suốt vấn đề, nghiên cứu tỉ mỉ, phân tách công việc ra thành từng giai đoạn, phải biết tiên liệu những đường đi, nước bước của mình, tiên đoán những trường hợp mình sẽ gặp phải, chương trình hoạt động của mình phải có mục phiêu sáng suốt rõ ràng, những phương thế để đạt mục phiêu ấy phải được hoạch định, nghiên cứu tỉ mỉ. Phải chọn người cộng tác có tài đức, khả dĩ thi hành được công việc cho đến thành công.

      -Muốn đối phó hoàn cảnh cho xuôi xắn, phải biết tùy thời xử thế. Lúc cương, lúc nhu, khi mạnh thì cương, khi yếu thời nhu, phải luôn luôn theo đường lối tự nhiên, công chính và phổ quát.

      -Trong khi hành sự, phải bình tĩnh, sáng suốt, bình dị, đừng có rối rắm, đừng có phức tạp cầu kỳ.

      -Đừng làm gì để cho lương tâm, người đời chê trách. Đừng làm gì để di hại đến tinh thần, thể xác, hoàn cảnh, sự nghiệp, danh giá của mình.

      -Gặp nguy biến, phải ẩn lánh để bảo toàn tấm thân.

      -Gặp lúc thuận tiện, phải đem tài năng, đức độ ra giúp nước, giúp dân.


      -Không cộng tác với bạo chúa, cường quyền.

      -Chỉ cộng tác với người tài đức, vì dân, vì nước.

      -Không thân cận với kẻ tiểu nhân, với người ác đức. Khi cần giao thiệp với họ, phải giữ gìn cho lắm.

      -Phải tránh những sự giao thiệp giả dối.

      -Đối với mọi người, cần sự thành khẩn.

      -Không có tài, đừng ham địa vị cao.

      -Không phải việc mình, đừng rây vào. Những nguy hiểm có thể tránh được thì nên tránh, đừng có dấn thân vào. Nếu chúng ta giữ được như vậy, thì công việc chúng ta thi hành thường được trôi chẩy, cuộc đời chúng ta luôn được vui tươi như ý.

      Dịch Kinh đã dạy chúng ta những tôn chỉ chính xác, để hướng dẫn hành động chúng ta cho chúng ta trở nên hoàn bị. Có những tư tưởng sáng suốt, những tôn chỉ chính xác, mục phiêu cao cả, những hành vi, cử chỉ, tác phong hợp lý hợp nghĩa, tức là có những phương tiện để tiến tới hoàn thiện, trở thành Thánh Hiền.

      * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
      0

      #43 User is offline   hoangnt 

      • Hội viên chính thức
      • PipPipPip
        • Nhóm: Hội viên chính thức
        • Bài viết: 867
        • Gia nhập: 30-Tháng mười một 09
        • Giới tính:Nam

        Cập nhật lúc 30 Tháng mười hai 2011 - 05:29 PM

        2) Thái Ât Thần Kinh .



        Theo cách hiểu thông thường thì TATK có nghĩa là : Cuốn kinh thần diệu về Thái Ât, còn Thái Ât là một thiên thể quan trọng (!) nằm gần sao Bắc Cực nên nội dung sách này là tính toán tác động năng lượng của Thái Ât cùng một số thiên thể phụ thuộc khác xuống quả đất chúng ta. Các sách còn lại hiện nay luôn viết : Thái Ât là tôn thần của Thiên đế ở trước sao Bắc cực, chủ sai khiến 16 Thần, (xem đó) mà biết gió mưa, hạn-lụt, binh cách, bệnh tật. Trong nước thì chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn..v.v…Với cách hiểu nhân hoá vì chính trị trên thì Sao bắc cực là nơi ở của Thiên đế (tức Ngọc hoàng thượng đế), còn Sao Thái ất là nơi ở của một bề tôi Thiên đế đang lo công việc điều hành Thời khí cho nhân gian, nhưng thực tế thì năng lượng từ Hệ bặc cực cùng các thiên thể khác ở xa gần chung quanh tác động tới quả đất là không đáng kể nên cũng có ý kiến cho rằng lúc ban đầu các nhà sưu tập đã hiểu đúng theo nguyên bản gốc rồi do tam sao thất bản mà sai đi : Thái Ât là Ât cả, Ât lớn tức là từ chỉ HỆ MẶT TRỜI lúc bấy giờ còn 2 từ Thần Kinh thì nghĩa là “ Thời điểm thẳng hàng” theo như lý thuyết ngũ hành của họ : “ Thời gian vũ trụ được tính từ mốc 7 hành tinh xếp thẳng hàng với nhau.” Như vậy 4 chữ TATK có nghĩa: “Thời điểm 7 hành tinh của HMT xếp thẳng hàng” vì hiểu như vậy thì mới ăn khớp với thời gian tính toán bên trong nó là từ năm Giáp Tý 00.000.001 cho đến nay. Nhưng tại sao họ không dùng ngữ pháp Hán là “ Kinh Thần” mà lại là Thần Kinh ? Điều này thì được giải thích : Thuở mới tiếp thu ban đầu các nhà sưu tập cũng như dân chúng của họ do bị đồng hoá từ dân bản địa nên cách dùng từ ngữ phần nhiều đã theo lối của dân bản địa như : Bào Hy, Phục Hy, Thần Nông, Trung Cung,Thần Kinh ..…mà không là : Hy Bào, Hy Phục, Nông Thần, Cung Trung, Kinh Thần..v.v…

        Nghĩa ngữ TATK thì có 2 cách hiểu như thế nhưng với dân (Việt) bản địa thì không phải Thời Gian Vũ Trụ khởi đầu lúc 7 hành tinh xếp thẳng hàng ( thất diệu tề nguyên ) mà là lúc Qủa đất quay quanh mặt trời với quỹ đạo tròn nhất nên điều này chứng tỏ rằng nội dung sưu tầm được chắc chắn là chẳng có bao nhiêu. Đa phần là họ phải chế tác thêm theo học thuyết ngũ hành thì mới hoàn chỉnh nên đấy chỉ là cách làm lấy có của kẻ làm chính trị chứ không phải là của người trí tuệ muốn tìm chân lý ! Chúng ta sẽ thấy rõ qua phần tìm hiểu nội dung dưới đây :

        Vì với Kỳ Môn Độn Giáp thì không thể tính toán được năng lượng trực tiếp của Hệ mặt trời (3 trường Ât, Bính, Đinh ) xuống quả đất mà năng lượng này là chủ lực của sự sống và cho cuộc sống nên người xưa cũng với Bảng Lạc Thư đã phải tìm cách giải quyết nan đề này :

        (Theo ý kiến riêng thì đây là lý do ra đời của sách TATK !)



        Bảng Lạc Thư thì căn cứ vào Hệ mặt trời quay quanh Tâm thiên hà chúng ta tức là Phần Dương quay quanh Phần Âm, còn với Hệ mặt trời thì tất cả các hành tinh (thuộc trường Đinh ) là Phần Âm lại quay quanh Mặt trời ( thuộc trường Ât ) là Phần Dương nên khi dùng bảng Lạc thư để tính năng lượng từ Hệ mặt trời thì người xưa đã phải đổi ngược 2 quỹ đạo Thời gian cửu cung và Không gian bát quái hậu thiên với nhau, tức là năng lượng của trường Ât (được chia làm 9 sao khí) và năng lượng của trường Đinh (cũng được chia làm 9 sao khí) tác động vào Địa Bàn Lạc Thư theo Thời gian cửu cung là theo vòng tròn Bát quái hậu thiên chứ không theo 2 bảng cửu cung thuận nghịch đã có xưa nay. Mỗi loại năng lượng trên đều có tính chất riêng của nó, nhưng mạnh hay yếu ở mức độ nào thì tuỳ thuộc vào chủ thể phát ra nó là trường Ât hoặc trường Đinh đang ở quẻ nào trong bảng Lạc thư. Hai chủ thể này thì theo quy luật “ Dẫn 1 cực 3” nên Ât thì cứ 3 năm (…) chuyển 1 quẻ, Đinh thì cứ 36 năm (…) chuyển 1 quẻ . Như thế tại địa bàn ta sẽ biết vùng nào tại thời gian nào chịu tác động của loại năng lượng nào.

        Sau đó họ tìm cách tính toán năng lượng của trường Bính ( chứa mặt trăng ), sao Mộc, và 4 sao phụ là Thuỷ, Hoả, Kim, Thổ.

        Cuối cùng họ tính toán năng lượng tổng hợp của 6 trường bên ngoài Hệ mặt trời Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý theo như cách của Kỳ Môn Độn Giáp đã có từ trước.( Điều này chứng tỏ sách này ra đời sau KMDG )

        Như vậy là sách TATK cũng tính toán năng lượng từ 9 trường bên ngoài tác động vào quả đất, nhưng chú trọng vào năng lượng từ Hệ mặt trời hơn vì thực tế là chủ lực hơn bởi gần gũi hơn.

        (Trình bày sơ lược là như thế, các bạn cần tham khảo chi tiết thì có thể xem thêm biện giải ở chủ đề : Tìm Hiểu Thuật Số Thái Ât Thần Kinh đã đăng trong diễn đàn trang web tuvilyso.net của cùng tác giả)

        Các sách TATK còn lại hiện nay của người Trung hoa hay của ta sưu tập lại hầu hết đều theo quan điểm 1 : Thái Ât là 1 thiên thế nằm trước sao Bắc cực rồi họ cố gắng lý giải theo đấy, nhưng càng giải thích thì càng đi vào bế tắc không lối thoát nên đầy dẫy các yếu tố thần linh mê tín đã được đưa vào hổ trợ làm cho không một ai đọc hiểu được tí nào cả, ta bỏ đi không bàn tới ở đây !

        Với cách hiểu thứ 2 về đại thể thì tuy đúng, nhưng không có bản sưu tập nào mới khác ngoài các bản hiện còn nên cũng chẳng ai lý giải gì. Ở đây ta chỉ phân tích về yếu tố ngũ hành được lồng ghép bên trong là nguyên nhân chính làm cho thuật số này mất gốc và sai lạc cho tới mãi hôm nay. Mất gốc và sai trật đối với các nhà ngũ hành sưu tập ban đầu thì chắc chẳng thành vấn đề miễn sao là đạt được hiệu quả chính trị : “Tất cả là của tổ tiên ta” mà thôi ! Sơ lược như sau :

        Theo sách vở thì trường Ât (họ cho là sao Thái Ât ở trước sao Bắc cực) thuộc hành Mộc là đúng theo cách quy thuộc 10 trường vào 5 hành của họ trong bảng Lạc thư, nhưng trường Đinh (họ gọi là Đại du, là Kim Thần) thì lại quy vào hành Kim là chính họ mâu thuẫn với họ vì ai cũng biết theo lý thuyết ngũ hành thì Bính Đinh thuộc Hoả. Rồi Mặt trời thuộc trường Ât phát ra 9 sao khí thì 9 sao khí này cũng bị quy thuộc vào 5 hành, vậy tại sao riêng hành Mộc mà lại sanh ra cả 5 hành được ? Phần Âm của hệ Mặt trời thuộc trường Đinh phát ra 9 sao khí thì cũng như thế, tại sao riêng hành Kim lại sanh ra cả 5 hành được ? Điều này chứng tỏ khi quy thuộc 10 trường ( tức 10 can ) vào 5 hành thì họ chẳng hiểu chúng là gì cả :

        Giáp là trường không gian chứa quả đất thì họ cho là Giai đoạn manh nha bắt đầu của mọi vật (vạn vật phẩu phù).

        Ât là trường không gian chứa mặt trời thì họ cho là Giai đoạn tượng xuân của mọi vật ( vạn vật sinh ác ác)

        Hai trường này bị quy thuộc hành Mộc !

        Bính là trường không gian chứa mặt trăng thì họ cho là Giai đoạn mọi vật bắt đầu hiển lộ rõ ràng ( dương đạo thử minh )

        Đinh là trường không gian chứa tất cả các hành tinh thuộc Hệ mặt trời (tức là phần Âm của Hệ mặt trời) thì họ cho là Giai đoạn mọi vật trưởng thành (vạn vật đinh tráng )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Hoả vì Mộc sanh Hoả !

        Mậu và Kỷ là 2 trường không gian hợp thành 1 trục ( mà trung điểm của chúng là Hệ Bắc Cực ) phân chia bên này là hệ Mặt trời và bên kia là không gian bên thiên hà, thì họ cho là Giai đoạn mọi vật đứng vững tồn tại ( theo Sử ký và Luật thư thì không thấy ghi gì nhưng theo Hán thư thì ghi là: phong mậu vu mậu, lý kỷ vu kỷ )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Thổ vì Hoả sanh Thổ ! Canh là trường không gian đối ứng lại với trường Đinh qua Tâm là Hệ Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn vạn vật thay đổi ( dương khí canh vạn vật )

        Tân là trường không gian đối ứng lại với trường Bính cũng qua Tâm Bắc cực thì họ cho là Giai đoạn mọi vật bắt đầu sinh cái mới ( vạn vật chi tân sinh )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Kim vì Thổ sanh Kim !

        Nhâm là trường không gian đối ứng lại trường Ât cũng qua Tâm Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn cái mới sinh từ mọi vật đang được nuôi dưỡng (dương khí hoá dưỡng ). Trường này đối lại với trường Ât chứa mặt trời nên nó chính là Tâm thiên hà chúng ta.

        Quý là trường không gian đối ứng lại với trường Giáp cũng qua Tâm Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn cái mới sinh từ mọi vật chờ cơ phát triển, còn vật mẹ chuẩn bị hư mất. ( vạn vật khả quy độ )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Thuỷ vì Kim sinh Thuỷ !



        TỐN LY KHÔN

        Ât Bính- Đinh Kỷ

        (Âm Mộc) (Âm Dương Hoả) (Âm Thổ)

        CHẤN TC ĐOÀI

        Giáp Canh

        (Dương Mộc) (Dương Kim)

        CẤN KHẢM CÀN

        Mậu Quý-Nhâm Tân

        (Dương Thổ)( Âm Dương Thuỷ) (Âm Kim)



        ( Qua cách quy thuộc 10 trường này thì ta lại thấy thêm một mâu thuãn nữa là : Về quẻ thì Càn thuộc Dương Kim, Đoài thuộc Âm Kim.Nhưng với 10 Trường họ chia mỗi cặp làm dương trước âm sau thì Canh thuộc dương lại nằm ở Đoài, còn Tân thuộc âm lại nằm ở Càn, chẳng nhất quán chút nào cả)

        10 Can là những trường không gian thì họ “bịa” ra là những giai đoạn thời gian của sự phát triển mọi vật rồi đem quy chúng vào 5 hành hoàn toàn sai lạc như thế mà đem giải thích cho những sách tính toán năng lượng của chúng thì làm sao mà đúng được ! Như vậy là đã rõ : Sách TATK là của Việt tộc, được viết bằng chữ Việt cũng đã bị thất truyền cho mãi đến khi có sự sưu tập lại, chế tác thêm của các nhà ngũ hành sau này nên mới có chuyện : Dốt chân lý thì nguỵ biện lấy được để phục vụ chính trị như trên.



        Thêm : Trong nước ta còn lưu lại 2 cuốn TATK : Một của Phạm đình Hổ sưu tầm, lượm lặc từ các sách của người Trung hoa đời sau theo quan điểm : Thái Ât là Tôn thần của Thiên Dế, còn từ ngữ được dùng bên trong thì vẫn theo lối gọi quan chức Trung hoa không sai một mảy may. Nhưng lại ghi là ; Soạn lại từ cuốn Huyền Phạm Tiết Yếu của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nếu cụ Trạng có soạn sách này thì sao các học trò của ông như Trạng Phùng, Trạng Bùng …cũng như các dòng tộc học giả lớn của nước ta không một ai biết cả, chỉ duy nhất một PDH có mà thôi ? Hơn nữa một bậc Trạng sáng suốt thì không thể viết một cuốn sách mang đầy tính cách mê tín như thế ! Chúng ta không thể vội tin được !

        Một của học giả Lê Quý Đôn cũng sưu tầm theo các sách Trung hoa : Thái Ât là tôn thần Thiên đế, nhưng khách quan hơn, không lý giải theo ý riêng gì cả chỉ ghi lại như thế như thế để làm tài liệu cho đời sau tham khảo. Các bạn cần thì có thể đọc thêm.



        nguyennhon.nhon@gmail.com





        Theo cách hiểu thông thường thì TATK có nghĩa là : Cuốn kinh thần diệu về Thái Ât, còn Thái Ât là một thiên thể quan trọng (!) nằm gần sao Bắc Cực nên nội dung sách này là tính toán tác động năng lượng của Thái Ât cùng một số thiên thể phụ thuộc khác xuống quả đất chúng ta. Các sách còn lại hiện nay luôn viết : Thái Ât là tôn thần của Thiên đế ở trước sao Bắc cực, chủ sai khiến 16 Thần, (xem đó) mà biết gió mưa, hạn-lụt, binh cách, bệnh tật. Trong nước thì chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn..v.v…Với cách hiểu nhân hoá vì chính trị trên thì Sao bắc cực là nơi ở của Thiên đế (tức Ngọc hoàng thượng đế), còn Sao Thái ất là nơi ở của một bề tôi Thiên đế đang lo công việc điều hành Thời khí cho nhân gian, nhưng thực tế thì năng lượng từ Hệ bặc cực cùng các thiên thể khác ở xa gần chung quanh tác động tới quả đất là không đáng kể nên cũng có ý kiến cho rằng lúc ban đầu các nhà sưu tập đã hiểu đúng theo nguyên bản gốc rồi do tam sao thất bản mà sai đi : Thái Ât là Ât cả, Ât lớn tức là từ chỉ HỆ MẶT TRỜI lúc bấy giờ còn 2 từ Thần Kinh thì nghĩa là “ Thời điểm thẳng hàng” theo như lý thuyết ngũ hành của họ : “ Thời gian vũ trụ được tính từ mốc 7 hành tinh xếp thẳng hàng với nhau.” Như vậy 4 chữ TATK có nghĩa: “Thời điểm 7 hành tinh của HMT xếp thẳng hàng” vì hiểu như vậy thì mới ăn khớp với thời gian tính toán bên trong nó là từ năm Giáp Tý 00.000.001 cho đến nay. Nhưng tại sao họ không dùng ngữ pháp Hán là “ Kinh Thần” mà lại là Thần Kinh ? Điều này thì được giải thích : Thuở mới tiếp thu ban đầu các nhà sưu tập cũng như dân chúng của họ do bị đồng hoá từ dân bản địa nên cách dùng từ ngữ phần nhiều đã theo lối của dân bản địa như : Bào Hy, Phục Hy, Thần Nông, Trung Cung,Thần Kinh ..…mà không là : Hy Bào, Hy Phục, Nông Thần, Cung Trung, Kinh Thần..v.v…

        Nghĩa ngữ TATK thì có 2 cách hiểu như thế nhưng với dân (Việt) bản địa thì không phải Thời Gian Vũ Trụ khởi đầu lúc 7 hành tinh xếp thẳng hàng ( thất diệu tề nguyên ) mà là lúc Qủa đất quay quanh mặt trời với quỹ đạo tròn nhất nên điều này chứng tỏ rằng nội dung sưu tầm được chắc chắn là chẳng có bao nhiêu. Đa phần là họ phải chế tác thêm theo học thuyết ngũ hành thì mới hoàn chỉnh nên đấy chỉ là cách làm lấy có của kẻ làm chính trị chứ không phải là của người trí tuệ muốn tìm chân lý ! Chúng ta sẽ thấy rõ qua phần tìm hiểu nội dung dưới đây :

        Vì với Kỳ Môn Độn Giáp thì không thể tính toán được năng lượng trực tiếp của Hệ mặt trời (3 trường Ât, Bính, Đinh ) xuống quả đất mà năng lượng này là chủ lực của sự sống và cho cuộc sống nên người xưa cũng với Bảng Lạc Thư đã phải tìm cách giải quyết nan đề này :

        (Theo ý kiến riêng thì đây là lý do ra đời của sách TATK !)



        Bảng Lạc Thư thì căn cứ vào Hệ mặt trời quay quanh Tâm thiên hà chúng ta tức là Phần Dương quay quanh Phần Âm, còn với Hệ mặt trời thì tất cả các hành tinh (thuộc trường Đinh ) là Phần Âm lại quay quanh Mặt trời ( thuộc trường Ât ) là Phần Dương nên khi dùng bảng Lạc thư để tính năng lượng từ Hệ mặt trời thì người xưa đã phải đổi ngược 2 quỹ đạo Thời gian cửu cung và Không gian bát quái hậu thiên với nhau, tức là năng lượng của trường Ât (được chia làm 9 sao khí) và năng lượng của trường Đinh (cũng được chia làm 9 sao khí) tác động vào Địa Bàn Lạc Thư theo Thời gian cửu cung là theo vòng tròn Bát quái hậu thiên chứ không theo 2 bảng cửu cung thuận nghịch đã có xưa nay. Mỗi loại năng lượng trên đều có tính chất riêng của nó, nhưng mạnh hay yếu ở mức độ nào thì tuỳ thuộc vào chủ thể phát ra nó là trường Ât hoặc trường Đinh đang ở quẻ nào trong bảng Lạc thư. Hai chủ thể này thì theo quy luật “ Dẫn 1 cực 3” nên Ât thì cứ 3 năm (…) chuyển 1 quẻ, Đinh thì cứ 36 năm (…) chuyển 1 quẻ . Như thế tại địa bàn ta sẽ biết vùng nào tại thời gian nào chịu tác động của loại năng lượng nào.

        Sau đó họ tìm cách tính toán năng lượng của trường Bính ( chứa mặt trăng ), sao Mộc, và 4 sao phụ là Thuỷ, Hoả, Kim, Thổ.

        Cuối cùng họ tính toán năng lượng tổng hợp của 6 trường bên ngoài Hệ mặt trời Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý theo như cách của Kỳ Môn Độn Giáp đã có từ trước.( Điều này chứng tỏ sách này ra đời sau KMDG )

        Như vậy là sách TATK cũng tính toán năng lượng từ 9 trường bên ngoài tác động vào quả đất, nhưng chú trọng vào năng lượng từ Hệ mặt trời hơn vì thực tế là chủ lực hơn bởi gần gũi hơn.

        (Trình bày sơ lược là như thế, các bạn cần tham khảo chi tiết thì có thể xem thêm biện giải ở chủ đề : Tìm Hiểu Thuật Số Thái Ât Thần Kinh đã đăng trong diễn đàn trang web tuvilyso.net của cùng tác giả)

        Các sách TATK còn lại hiện nay của người Trung hoa hay của ta sưu tập lại hầu hết đều theo quan điểm 1 : Thái Ât là 1 thiên thế nằm trước sao Bắc cực rồi họ cố gắng lý giải theo đấy, nhưng càng giải thích thì càng đi vào bế tắc không lối thoát nên đầy dẫy các yếu tố thần linh mê tín đã được đưa vào hổ trợ làm cho không một ai đọc hiểu được tí nào cả, ta bỏ đi không bàn tới ở đây !

        Với cách hiểu thứ 2 về đại thể thì tuy đúng, nhưng không có bản sưu tập nào mới khác ngoài các bản hiện còn nên cũng chẳng ai lý giải gì. Ở đây ta chỉ phân tích về yếu tố ngũ hành được lồng ghép bên trong là nguyên nhân chính làm cho thuật số này mất gốc và sai lạc cho tới mãi hôm nay. Mất gốc và sai trật đối với các nhà ngũ hành sưu tập ban đầu thì chắc chẳng thành vấn đề miễn sao là đạt được hiệu quả chính trị : “Tất cả là của tổ tiên ta” mà thôi ! Sơ lược như sau :

        Theo sách vở thì trường Ât (họ cho là sao Thái Ât ở trước sao Bắc cực) thuộc hành Mộc là đúng theo cách quy thuộc 10 trường vào 5 hành của họ trong bảng Lạc thư, nhưng trường Đinh (họ gọi là Đại du, là Kim Thần) thì lại quy vào hành Kim là chính họ mâu thuẫn với họ vì ai cũng biết theo lý thuyết ngũ hành thì Bính Đinh thuộc Hoả. Rồi Mặt trời thuộc trường Ât phát ra 9 sao khí thì 9 sao khí này cũng bị quy thuộc vào 5 hành, vậy tại sao riêng hành Mộc mà lại sanh ra cả 5 hành được ? Phần Âm của hệ Mặt trời thuộc trường Đinh phát ra 9 sao khí thì cũng như thế, tại sao riêng hành Kim lại sanh ra cả 5 hành được ? Điều này chứng tỏ khi quy thuộc 10 trường ( tức 10 can ) vào 5 hành thì họ chẳng hiểu chúng là gì cả :

        Giáp là trường không gian chứa quả đất thì họ cho là Giai đoạn manh nha bắt đầu của mọi vật (vạn vật phẩu phù).

        Ât là trường không gian chứa mặt trời thì họ cho là Giai đoạn tượng xuân của mọi vật ( vạn vật sinh ác ác)

        Hai trường này bị quy thuộc hành Mộc !

        Bính là trường không gian chứa mặt trăng thì họ cho là Giai đoạn mọi vật bắt đầu hiển lộ rõ ràng ( dương đạo thử minh )

        Đinh là trường không gian chứa tất cả các hành tinh thuộc Hệ mặt trời (tức là phần Âm của Hệ mặt trời) thì họ cho là Giai đoạn mọi vật trưởng thành (vạn vật đinh tráng )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Hoả vì Mộc sanh Hoả !

        Mậu và Kỷ là 2 trường không gian hợp thành 1 trục ( mà trung điểm của chúng là Hệ Bắc Cực ) phân chia bên này là hệ Mặt trời và bên kia là không gian bên thiên hà, thì họ cho là Giai đoạn mọi vật đứng vững tồn tại ( theo Sử ký và Luật thư thì không thấy ghi gì nhưng theo Hán thư thì ghi là: phong mậu vu mậu, lý kỷ vu kỷ )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Thổ vì Hoả sanh Thổ ! Canh là trường không gian đối ứng lại với trường Đinh qua Tâm là Hệ Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn vạn vật thay đổi ( dương khí canh vạn vật )

        Tân là trường không gian đối ứng lại với trường Bính cũng qua Tâm Bắc cực thì họ cho là Giai đoạn mọi vật bắt đầu sinh cái mới ( vạn vật chi tân sinh )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Kim vì Thổ sanh Kim !

        Nhâm là trường không gian đối ứng lại trường Ât cũng qua Tâm Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn cái mới sinh từ mọi vật đang được nuôi dưỡng (dương khí hoá dưỡng ). Trường này đối lại với trường Ât chứa mặt trời nên nó chính là Tâm thiên hà chúng ta.

        Quý là trường không gian đối ứng lại với trường Giáp cũng qua Tâm Bắc Cực thì họ cho là Giai đoạn cái mới sinh từ mọi vật chờ cơ phát triển, còn vật mẹ chuẩn bị hư mất. ( vạn vật khả quy độ )

        Hai trường này bị quy thuộc hành Thuỷ vì Kim sinh Thuỷ !



        TỐN LY KHÔN

        Ât Bính- Đinh Kỷ

        (Âm Mộc) (Âm Dương Hoả) (Âm Thổ)

        CHẤN TC ĐOÀI

        Giáp Canh

        (Dương Mộc) (Dương Kim)

        CẤN KHẢM CÀN

        Mậu Quý-Nhâm Tân

        (Dương Thổ)( Âm Dương Thuỷ) (Âm Kim)



        ( Qua cách quy thuộc 10 trường này thì ta lại thấy thêm một mâu thuãn nữa là : Về quẻ thì Càn thuộc Dương Kim, Đoài thuộc Âm Kim.Nhưng với 10 Trường họ chia mỗi cặp làm dương trước âm sau thì Canh thuộc dương lại nằm ở Đoài, còn Tân thuộc âm lại nằm ở Càn, chẳng nhất quán chút nào cả)

        10 Can là những trường không gian thì họ “bịa” ra là những giai đoạn thời gian của sự phát triển mọi vật rồi đem quy chúng vào 5 hành hoàn toàn sai lạc như thế mà đem giải thích cho những sách tính toán năng lượng của chúng thì làm sao mà đúng được ! Như vậy là đã rõ : Sách TATK là của Việt tộc, được viết bằng chữ Việt cũng đã bị thất truyền cho mãi đến khi có sự sưu tập lại, chế tác thêm của các nhà ngũ hành sau này nên mới có chuyện : Dốt chân lý thì nguỵ biện lấy được để phục vụ chính trị như trên.



        Thêm : Trong nước ta còn lưu lại 2 cuốn TATK : Một của Phạm đình Hổ sưu tầm, lượm lặc từ các sách của người Trung hoa đời sau theo quan điểm : Thái Ât là Tôn thần của Thiên Dế, còn từ ngữ được dùng bên trong thì vẫn theo lối gọi quan chức Trung hoa không sai một mảy may. Nhưng lại ghi là ; Soạn lại từ cuốn Huyền Phạm Tiết Yếu của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nếu cụ Trạng có soạn sách này thì sao các học trò của ông như Trạng Phùng, Trạng Bùng …cũng như các dòng tộc học giả lớn của nước ta không một ai biết cả, chỉ duy nhất một PDH có mà thôi ? Hơn nữa một bậc Trạng sáng suốt thì không thể viết một cuốn sách mang đầy tính cách mê tín như thế ! Chúng ta không thể vội tin được !

        Một của học giả Lê Quý Đôn cũng sưu tầm theo các sách Trung hoa : Thái Ât là tôn thần Thiên đế, nhưng khách quan hơn, không lý giải theo ý riêng gì cả chỉ ghi lại như thế như thế để làm tài liệu cho đời sau tham khảo. Các bạn cần thì có thể đọc thêm.

        * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
        0

        Chia sẻ chủ đề này:


        • (3 Trang)
        • +
        • 1
        • 2
        • 3
        • Bạn không thể tạo chủ đề mới
        • Bạn không thể trả lời chủ đề này

        1 thành viên đang xem chủ đề này
        0 thành viên, 1 khách, 0 thành viên ẩn danh