Chương 15
Điểm hạn và tổng điểm hạn được giảm
1 - Tam hợp .
263/5 – Nếu giữa tứ trụ và tuế vận có tam hợp không hóa có ít nhất 4 chi, trong chúng có ít nhất 3 chi trong tứ trụ thì điểm hạn được giảm 1đh và từ chi thứ 4 trở nên mỗi chi được giảm thêm 0,25đh (riêng chi tiểu vận chỉ được giảm thêm 0,13đh), nếu 3 chi trong tứ trụ tạo thành tam hợp có chi tháng thì được giảm thêm 0,5đh.
264/(7;14;32) - Nếu giữa tứ trụ với tuế vận có tam hợp cục có từ 4 chi trở nên, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ và tam hợp có ít nhất 4 chi có điểm hạn thì điểm hạn mới được giảm 1đh và từ chi thứ 4 có điểm hạn trở nên, mỗi chi được giảm thêm 0,25đh (riêng chi tiểu vận chỉ được giảm thêm 0,13đh) và khi đó nếu trong tứ trụ có 3 chi tạo thành tam hợp có chi tháng thì điểm hạn mới được giảm thêm 0,5đh.
(Chú ý : Các chi trong tứ trụ của tam hợp cục này đã hóa cục có cùng hành từ khi mới sinh thì các chi này mới không có điểm hạn).
265/35 - Giữa tứ trụ với tuế vận có tam hợp cục có từ 4 chi trở nên, trong đó có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, nếu 2 trong 3 chi này giống nhau mà tam hợp cục có hành giống với hành của 2 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm ½ , còn nếu 2 trong 3 chi này đã hóa cục từ khi mới sinh có cùng hành với hành của tam hợp cục thì tổng điểm hạn chỉ được giảm 1/3.
2 – Tam hội trong và ngoài tứ trụ
266a/ - Tam hội ngoài tứ trụ, nó nghĩa là chỉ khi có thêm chi của tuế vận mới có tam hội.
266b/ - Tam hội trong tứ trụ là trong tứ trụ đã có đủ 3 chi để tạo thành tam hội.
266c/50 - Một trụ được coi là động khi can, chi hay nạp âm của nó xung hay khắc với các can, chi hay nạp âm khác cũng như can hay chi của nó hợp với tuế vận (nếu nạp âm bị khắc hay khắc với các nạp âm khác không có điểm hạn thì nó được coi là tĩnh).
266d/52 - Nếu tam hội trong tứ trụ hợp với tuế vận thì cả 3 trụ của nó được coi là động.
267/(26;18;210) - Nếu tam hội ngoài tứ trụ có ít nhất 2 chi khác nhau trong tứ trụ thì điểm hạn được giảm 1đh và từ chi thứ 4 trở đi mỗi chi được giảm thêm 0,25đh (chi tiểu vận chỉ được giảm thêm 0,13đh), nhưng nếu các chi của tam hội tự hình và hại được với nhau thì tổng điểm hạn không được giảm.
268/34 - Tam hội cục ngoài tứ trụ có ít nhất 3 chi trong tứ trụ, nếu 2 trong 3 chi này giống nhau mà tam hội cục có hành giống với hành của 2 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm ½ , còn nếu 2 trong 3 chi này đã hóa cục từ khi mới sinh có cùng hành với hành của tam hội cục thì tổng điểm hạn chỉ được giảm 1/3.
269/48 - Nếu trong tứ trụ có tam hội mà 3 chi của nó không liền nhau thì tổng điểm hạn được giảm 1/3 khi có ít nhất 2 trụ của nó động.
270/49 - Nếu 3 chi của tam hội trong tứ trụ liền nhau thì tổng điểm hạn được giảm ½ khi có ít nhất 2 trụ của nó động.
272/51 - Tam hội trong tứ trụ không được giảm thêm điểm hạn của tam hội ngoài tứ trụ.
3 – Hình và Hại
272b/ 206 - Tổng điểm hạn được giảm 5/12 nếu tất cả 7 chi của tứ trụ, tuế vận và tiểu vận hình và hại nhau, và giữa hai mức 1/3 và 5/12 nếu chỉ có 6 chi hình và hại nhau chỉ khi các chi này không bị hợp.
4 – Hóa cục có các chi giống nhau trong tứ trụ
273/33 - Nếu trong tứ trụ có 2 chi giống nhau mà 1 trong 2 chi này cùng 1 chi khác trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có hành giống với hành của 2 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm 1/3.
274/36 - Nếu trong tứ trụ có ít nhất 2 chi giống nhau mà tất cả 4 chi trong tứ trụ đã hóa thành bán hợp cục hay lục hợp cục từ khi mới sinh có hành giống với hành của các chi giống nhau này thì mặc dù chúng có hợp với tuế vận hóa cục có hành giống với hành của các chi giống nhau này thì tổng điểm hạn không được giảm.
275/82 - 4 chi trong tứ trụ hợp với nhau tạo nên 1 bán hợp hay lục hợp không hóa và trong chúng có 2 chi giống nhau, nếu nó không hợp với tuế vận hóa cục có hành giống với hành của các chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm giữa 2 mức ½ và 7/12, còn nếu nó hợp với tuế vận hóa cục vẫn là bán hợp hay lục hợp thì tổng điểm hạn được giảm 7/12 (?).
276/42 - Nếu trong tứ trụ có 2 chi giống nhau và trong chúng chỉ có 1 trong 2 chi này hợp với 1 chi khác trong tứ trụ hóa cục từ khi mới sinh có cùng hành với hành của 2 chi giống nhau này còn chi thứ hai không bị hợp thì tổng điểm hạn được giảm ¼.
277/37 - Nếu trong tứ trụ có 3 chi giống nhau, khi 1 trong 3 chi này hợp với chi thứ 4 trong tứ trụ hóa cục có hành giống hành của 3 chi này thì tổng điểm hạn được giảm 1/3.
278/38 - Nếu trong tứ trụ có 3 chi giống nhau, khi tất cả 4 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có hành khác với hành của 3 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm 2/3, còn nếu chỉ có 3 chi giống nhau trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có hành khác với hành của 3 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm giữa 2 mức 1/3 và 5/12.
279/ - Nếu 3 chi trong tứ trụ giống nhau, khi có 3 chi hay cả 4 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có hành giống với hành của 3 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm...?
280/ - Nếu 4 chi trong tứ trụ giống nhau, khi cả 4 chi trong tứ trụ hợp với tuế vận hóa cục có hành giống hay khác với hành của 4 chi giống nhau này thì tổng điểm hạn được giảm .... ?.
(Chú ý : Tổng điểm hạn được giảm theo các chi giống nhau trong tứ trụ và giảm theo tam hợp hay tam hội trong tứ trụ hay ngoài tứ trụ là khác nhau).
Chương 17
Dự đoán về thời gian và các lĩnh vực dễ xẩy ra hạn
I – Dự đoán về thời gian xẩy ra tai họa
1 - Các tháng trong một năm
305/ - Nếu một trong các nguyên nhân chính gây ra tai họa là hóa cục thì hạn thường xẩy ra vào mùa có hành giống với hành của hóa cục này, nhất là vào các tháng có chi giống với các chi trong tứ trụ của hóa cục này.
306/ - Nếu một trong các nguyên nhân chính gây ra tai họa bởi các chi trong tứ trụ xung hay khắc thái tuế thì tai họa thường xẩy ra vào các tháng của lưu niên có các chi giống như vậy.
307/ - Nếu một trong các nguyên nhân chính gây ra tai họa là các trụ trong tứ trụ và tuế vận TKĐX với nhau thì tai họa dễ xẩy ra vào các tháng của năm đó TKĐX với lưu niên hay các trụ trong tứ trụ....
2 - Tiểu vận và các tháng của năm sinh
308/ - Tại một năm (lưu niên) nếu hạn đã xẩy ra ở tiểu vận đầu thì sang tiểu vận sau thường không có hạn, mặc dù tổng điểm hạn ở tiểu vận sau vẫn cao (bởi vì đa số các điểm hạn đã gây ra tai họa ở tiểu vận đầu).
309/ - Tại năm sinh nếu hạn đã phát ra ở một tháng nào đó thì các tháng sau nó không còn khả năng gây ra hạn, cho dù ở các tháng đó vẫn có các điểm hạn cao (bởi vì....tương tự như câu trên).
..................................................
Giả thiết số 309/ đã kết thúc phần lý thuyết chính của cuốn “Giải Mã Tứ Trụ“ (đến nay đã có thêm hàng chục giả thiết mới). Sau phần lý thuyết này là 136 ví dụ minh họa cho lý thuyết. Thực chất của 136 ví dụ này là những ví dụ mẫu để từ đó đưa ra 309 giả thiết trên. Trong các ví dụ mẫu này tôi đã diễn giải chi tiết cách xác định dụng thần và cách tính các điểm hạn theo 309 giả thiết này cũng như đưa ra cách giải cứu....
Tới bây giờ từ các ví dụ mới tôi vẫn tiếp tục đưa ra những giả thiết mới. Số lượng các giả thiết là khá nhiều, đến nỗi tôi cũng không thể nhớ nổi chúng mà thường là phải xem lại như tra Từ Điển khi nghiên cứu 1 ví dụ nào đó. Tôi hy vọng sau này có ai đó sẽ rút gọn hay tóm tắt được các giả thiết này bằng một lý thuyết hay những cách nào đó (tất nhiên chỉ với các giả thiết đã được kiểm tra là đúng).
Phần lý thuyết sau thuộc về phần “Mở Rộng“ của cuốn sách này. Tôi sẽ trình bầy nội dung chúng qua các bài :
Bài 28 : Khắc phối hôn (có các giả thiết từ 310 đến 332. Phần này có 28 ví dụ mẫu).
Bài 29 : Con cái khắc cha mẹ và cha mẹ khắc con cái (có các giả thiết từ 333 đến 348 . Phần này có 16 ví dụ mẫu).
Bài 30 : Dự đoán về phát Tài
Bài 31 : Dự đoán về phát Quan.
Hai bài cuối cùng này tôi mới đang nghiên cứu nên chưa có khả năng đưa được số điểm vào để Cân Đo Đong Đếm xem chúng phát mạnh hay nhẹ như phần dự đoán tai họa.
Ví dụ minh họa :
Ví dụ 48 (Giải Mã Tứ Trụ):

9/2/2001 là năm Tân Tị thuộc đại vận Giáp Thìn và tiểu vận Giáp Dần .
1 - Mệnh này Thân vượng mà kiêu ấn đủ nên dụng thần đầu tiên phải là thực thương/ Nhâm tàng trong Thân trụ tháng.
2 – Trong trụ có tam hội Thân Dậu Tuất hóa Kim cục.
3 - Dụng thần Nhâm tử tuyệt ở lưu nên có 1đh và nhập mộ ở đại vận nên có 1đh.
4 - Nhật can Tân tử tuyệt ở lưu niên có 1đh.
5 – Đinh trụ năm vượng ở lưu niên khắc 2 Tân nên lực khắc Tân lưu niên có 1,4.1/2 đh = 0,7đh còn khắc Tân trụ ngày có 0,7.1/2 đh = 0,35đh (vì cách 1 ngôi).
Giáp đại vận nhược ở tuế vận khắc 2 Mậu trong tứ trụ, mỗi lực có 0đh và Giáp có 1 cát thần có -0,25đh.
2 Mậu trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận nên mỗi Mậu có 1đh.
Giáp tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh. Dần tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh và 3 hung thần có 3 .0,13đh.
Tân lưu niên có 1 cát thần có 0đh (vì Tân tử tuyệt ở tuế vận).
6 - Dần tiểu vận hình và hại thái tuế, vì vậy mỗi lực có 0,5đh.
7 - Lửa dưới núi trụ năm có Đinh được lệnh nên khắc đất dịch chuyển trụ tháng có 1đh (phải thừa nhận), vì vậy đất dịch chuyển không khắc được Lửa đèn ở đại vận.
Kim giá đèn không bị gỗ đồng bằng khắc bởi vì có lửa yếu là lửa đèn (vì theo các sách cổ đã viết như vậy, hy vọng sẽ có bạn đọc giúp tôi giải thích điều này).
Tổng số là 7,42đh. Số điểm này quá cao là khôn g thể chấp nhận được.
Do vậy để phù hợp với thực tế của ví dụ này ta phải đưa ra và sử dụng giả thiết 269/48 thì tổng số điểm hạn được giảm 1/3 còn 7,42.2/3 đh = 4,95đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được (vì cả 3 trụ của tam hội cục đều động).
Các nguyên nhân chính gây ra hạn này là các điểm hạn của nạp âm, hình, hại và năm Tị có Hỏa quá vượng khắc Kim (tức Kim bị thương tổn chứ không phải do Kim quá vượng như VIETHA đã dự đoán, mặc dù đoán đúng năm Canh Tân). Do vậy ta phải dùng Thủy để giải cứu và kết hợp với giải cứu về hình và hại.
Người này đã may mắn thoát chết bởi vì anh ta sống ở phương tây bắc nên Thủy nhiều phù trợ cho dụng thần Nhâm (thủy) và nó làm cho Hỏa bị suy yếu đi một phần (tam hội ở đây đã chứng minh đúng như thực tế là đã có các Quý Nhân và Thần Linh phù hộ). Nếu anh ta biết trước để giải cứu thêm về hình và hại thì có thể làm cho hạn nhẹ thêm hoặc không có (thực tế đây là một vụ ám sát chính trị bằng khí độc).
Có Dần tiểu vận hình và hại Tị thái tuế nên vào tháng Dần và ngày Quý Mão (ngày 9/2/2001) đã TKĐX với trụ năm Đinh Dậu, đó chính là 2 nguyên nhân đã tác động làm tai họa xẩy ra.
Có Hỏa (Đinh) khắc Kim (Tân), vì vậy người này đã bị phẫu thuật phổi bởi vì Hỏa đại diện cho tim, máu,... còn Kim đại diện cho phổi, máu,... và dao, kéo,...
Tứ Trụ của ví dụ này chính là Tứ Trụ trên bìa của cuốn “Giải Mã Tứ Trụ” và nó cũng chính là Tứ Trụ trong chủ đề “Tứ Trụ của Thánh Nhân” trong mục Tử Vi hay chủ đề “Thánh Nhân trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm” trong mục Tử Bình-Bát Tự tại trang web này (trong đó tôi có nói qua về tiểu sử của người này).
Người có Tứ Trụ này là bạn thân của tôi học bên khoa toán. Mặc dù khác khoa nhưng chúng tôi chơi rất thân với nhau.... và cùng vượt biên giới sang tị nạn tại Đức. Và mọi cái được bắt đầu từ các câu hỏi của bạn tôi: “Tại sao tai họa lại xẩy ra đúng ngày Quý Mão (9/2/2001) nó thiên khắc địa xung với trụ năm Đinh Dậu ?”... “Tại sao nó không lệnh đi trước hay sau một ngày?” Là một nhà “Vật Lý” thất nghiệp tôi đã cố gắng suy nghĩ nhưng vẫn không thể giải thích được. Từ hồ nghi rồi đi đến khẳng định rằng: Không, không.... không thể là duy tâm, mê tín dị đoan như cả một hệ thống tuyên truyền trong cái xã hội “Văn Minh-Khoa Học” đã nhồi nhét vào đầu những người như chúng tôi từ khi mới lọt lòng mẹ. Chắc chắn nó phải được xây dựng trên một lý thuyết chính thống của Khoa Học thì mới tồn tại và còn chính xác đến ngày nay như vậy.
Vâng chính từ điều khẳng định này mà những kiến thức Vật Lý của tôi sau 4 năm học ở trường đã không uổng phí, nhất là khi đang thất nghiệp (tị nạn) này. Đó là lý do sự ra đời của cuốn “Giải Mã Tứ Trụ”.
Tất cả những gì tôi muốn nói thêm ở đây đã được viết trong “Lời Nói Đầu” của cuốn “Giải Mã Tứ Trụ”.
Trợ giúp




Trích dẫn





























