Diễn đàn Lý học Đông phương: Răng Cấm = Răng Hàm - Diễn đàn Lý học Đông phương

Chuyển tới nội dung

Trang 1 trên 1
  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này

Răng Cấm = Răng Hàm

#1 User is offline   Thiên Luân 

  • Hội viên ưu tú
  • PipPipPipPip
    • Nhóm: @Điều hành@
    • Bài viết: 6.506
    • Gia nhập: 16-Tháng hai 09

    Cập nhật lúc 21 Tháng năm 2012 - 05:17 PM

    Răng Cấm = Răng Hàm
    Nguyễn Cung Thông

    含,[胡男切 ],嗛也。从口今聲
    Hàm, {hồ nam thiết], hàm dã . Tùng khẩu kim thanh Hàm 含 là ngậm, chứa ... Hàm khiêm khiểm 嗛 cùng nghĩa, mở rộng ra để chỉ bọng đựng thức ăn (ở má) của loài vật (chim, khỉ, chuột...) ...Nhận xét sơ lược về chữ hàm 含:

    1. Các từ Hán Việt như hàm 含 (hài thanh kim *kơm/gơm 今 so với ngâm 吟, chữ này có lúc viết là 唫), hay 嗛 (hàm, thành phần hài thanh kiêm/gồm 兼 - Thuyết Văn ghi hàm 含: 嗛也 hàm dã) hay 銜也 hàm dã (Quảng Vận, hàm 銜 cũng có thành phần hài thanh kim 金 hay *kơm/gơm) ...v.v... Các từ Hán cùng nghĩa trên đều gợi ý cho ta thấy một dạng âm cổ hơn của hàm 含 là *kơm/gơm. Ngay cả âm hàm 音涵 (theo các vận biểu) của chữ 含 thì hàm 函 cũng dựa vào âm (bộ) khảm 凵 ...v.v...

    2. Một cách nhìn khác là xem qua các thuật ngữ Phật Giáo (tiếng Phạn) khi du nhập vào tiếng Hán thì biến âm ra sao: như (kinh) Agama आगम trở thành A Hàm 阿含 hay 阿鋡, 阿鋡 ... Sông Ganga गङ्गा thành 恆河 Hằng Hà ...v.v...

    3. Một khuynh hướng tự nhiên trong quá trình biến âm (sound change) là từ âm mạnh (strong) trở thành các âm yếu hơn (weaker) như b > f (ph - Bụt Phật buồng phòng buông phóng ...), k/g > kh > h ... như định luật Grimm trong ngữ hệ Ấn Âu ... Như không > hổng ... (A)

    4. Trong tiếng Việt có cả một gia đình từ liên hệ như ngậm ngoạm gậm (gặm) hàm (hòm) ... gậm ngạc hoá cho ra dắm nhắm (Việt Bồ La) ... cắm (tiếng miền Trung là cắn hay kéng giọng Quảng ...) càm cằm (cái hàm) ...v.v... So với -kam và khăm (tiếng Khme, cắn), khăn (tiếng Môn, cắn) ... Không ghi nhận một số từ ẩn dụ (metaphor) như cầm (cầm lòng, cầm nước mắt), căm (hờn) ... cấm (Hán Việ) là ngậm ...

    5. Phương Ngôn do Dương Hùng (53 TCN - 18) soạn có ghi hạm 頷 là phương ngôn của Nam Sở - điều này cho thấy là Dương Hùng nhận ra âm hạm hay *kơm/gơm đến từ phương Nam (tiếng ngoại quốc). Để ý trong vốn từ Hán, phạm trù của má thường lẫn lộn với cằm như di 頤, giáp 頰, phụ 䩉 ...
    【揚子·方言】頷,頤頷也。南楚謂之頷
    [Dương Tử . Phương Ngôn] hạm, di hạm dã . Nam Sở vị chi hạm

    【通俗文】口上曰臄,口下曰函。【詩·大雅·嘉殽脾臄傳】臄,函也
    【Thông Tục Văn】 khẩu thượng viết cược,khẩu hạ viết hàm。 【Thi·Đại Nhã·Gia Hào Tì Cược truyện】 cược,hàm dã

    Về ngôn ngữ của nước Sở, có thể xem qua bài Việt Nhân Ca (Khuất Nguyên)

    6. Các chữ Hán hiếm chỉ cằm hàm *kơm/gơm như hạm 顄 𦜆 ... với thành phần hài thanh hàm 函 mà âm cổ là *kơm/gơm (bộ kham 凵) cũng gợi ý là các từ Hán đồng nghĩa này có khả năng cùng một gốc *gơm/kơm. Để ý Thuyết Văn Giải Tự còn ghi hàm 函 là lưỡi

    《說文》函: 舌也 hàm: thiệt dã

    Dựa vào các dữ kiện trên, hàm 含 có khả năng rất lớn là đến từ phương Nam (không phải gốc Hán như nhiều người lầm tưởng) - thời gian giao lưu ngôn ngữ này xẩy ra trước thời Tần Hán (cũng như thời mà *krong sông trở thành giang trong vốn từ Hán vậy)....'


    Như vậy có nhiều dữ kiện ngôn ngữ cho thấy khả năng răng cấm )*kơm/gơm là một dạng âm cổ) là răng hàm. Tiếng Trung (Quốc) gọi răng hàm là ma xỉ 磨齒 (răng để nhai) hay cửu xỉ 臼齒 (răng cối, cữu là cối giã), tào nha 槽牙 (tào là cái máng) ...

    Nguyễn Cung Thông

    (A) So với tiếng Hán và Việt, quá trình biến âm trên phản ánh rõ nét qua cách đọc chữ HV không 空 với thành phần HT công 工 thành ra không 空 (>khôn) và hông, hổng qua khẩu ngữ; không phải ngẫu nhiên mà ta có các liên hệ giữa can 乾 cạn, khan/khản/khàn và hạn 旱 (nắng gắt khô cạn) hay cang 亢 kháng so với họng ...

    Do đó, ta có cơ sở giải thích chiều biến âm từ *kui cúi qua Hợi và Hãi như đã ghi nhận trong loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp - Cúi Hợi (heo/lợn)" (phần 5, phần 5A) ...v.v...
    (B ) như căm (căm giận, căm hờn ... một nghĩa khác của khiêm 嗛), một dạng chữ Nôm ghi là kim 今 : "Áo đơn khôn ngăn căm căm rét" (Truyền Kỳ Mạn Lục)

    Posted Image

    Những người mù chữ của thế kỷ XXI không phải là những người không biết đọc hay biết viết,mà là những kẻ không biết gạt bỏ những kiến thức cũ và học lại.Alvin Toffler(Nhà tương lai học Mỹ - 1928)
    0

    #2 User is offline   Lãn Miên 

    • Hội viên mới
    • PipPip
      • Nhóm: Hội viên ưu tú
      • Bài viết: 313
      • Gia nhập: 04-Tháng sáu 10

      Cập nhật lúc 22 Tháng năm 2012 - 10:34 AM

      Xem bài viếtThiên Luân, on 21 Tháng năm 2012 - 05:17 PM, said:

      Răng Cấm = Răng Hàm
      Nguyễn Cung Thông

      含,[胡男切 ],嗛也。从口今聲
      Hàm, {hồ nam thiết], hàm dã . Tùng khẩu kim thanh Hàm 含 là ngậm, chứa ... Hàm khiêm khiểm 嗛 cùng nghĩa, mở rộng ra để chỉ bọng đựng thức ăn (ở má) của loài vật (chim, khỉ, chuột...) ...Nhận xét sơ lược về chữ hàm 含:

      1. Các từ Hán Việt như hàm 含 (hài thanh kim *kơm/gơm 今 so với ngâm 吟, chữ này có lúc viết là 唫), hay 嗛 (hàm, thành phần hài thanh kiêm/gồm 兼 - Thuyết Văn ghi hàm 含: 嗛也 hàm dã) hay 銜也 hàm dã (Quảng Vận, hàm 銜 cũng có thành phần hài thanh kim 金 hay *kơm/gơm) ...v.v... Các từ Hán cùng nghĩa trên đều gợi ý cho ta thấy một dạng âm cổ hơn của hàm 含 là *kơm/gơm. Ngay cả âm hàm 音涵 (theo các vận biểu) của chữ 含 thì hàm 函 cũng dựa vào âm (bộ) khảm 凵 ...v.v...

      2. Một cách nhìn khác là xem qua các thuật ngữ Phật Giáo (tiếng Phạn) khi du nhập vào tiếng Hán thì biến âm ra sao: như (kinh) Agama आगम trở thành A Hàm 阿含 hay 阿鋡, 阿鋡 ... Sông Ganga गङ्गा thành 恆河 Hằng Hà ...v.v...

      3. Một khuynh hướng tự nhiên trong quá trình biến âm (sound change) là từ âm mạnh (strong) trở thành các âm yếu hơn (weaker) như b > f (ph - Bụt Phật buồng phòng buông phóng ...), k/g > kh > h ... như định luật Grimm trong ngữ hệ Ấn Âu ... Như không > hổng ... (A)

      4. Trong tiếng Việt có cả một gia đình từ liên hệ như ngậm ngoạm gậm (gặm) hàm (hòm) ... gậm ngạc hoá cho ra dắm nhắm (Việt Bồ La) ... cắm (tiếng miền Trung là cắn hay kéng giọng Quảng ...) càm cằm (cái hàm) ...v.v... So với -kam và khăm (tiếng Khme, cắn), khăn (tiếng Môn, cắn) ... Không ghi nhận một số từ ẩn dụ (metaphor) như cầm (cầm lòng, cầm nước mắt), căm (hờn) ... cấm (Hán Việ) là ngậm ...

      5. Phương Ngôn do Dương Hùng (53 TCN - 18) soạn có ghi hạm 頷 là phương ngôn của Nam Sở - điều này cho thấy là Dương Hùng nhận ra âm hạm hay *kơm/gơm đến từ phương Nam (tiếng ngoại quốc). Để ý trong vốn từ Hán, phạm trù của má thường lẫn lộn với cằm như di 頤, giáp 頰, phụ 䩉 ...
      【揚子·方言】頷,頤頷也。南楚謂之頷
      [Dương Tử . Phương Ngôn] hạm, di hạm dã . Nam Sở vị chi hạm

      【通俗文】口上曰臄,口下曰函。【詩·大雅·嘉殽脾臄傳】臄,函也
      【Thông Tục Văn】 khẩu thượng viết cược,khẩu hạ viết hàm。 【Thi·Đại Nhã·Gia Hào Tì Cược truyện】 cược,hàm dã

      Về ngôn ngữ của nước Sở, có thể xem qua bài Việt Nhân Ca (Khuất Nguyên)

      6. Các chữ Hán hiếm chỉ cằm hàm *kơm/gơm như hạm 顄 𦜆 ... với thành phần hài thanh hàm 函 mà âm cổ là *kơm/gơm (bộ kham 凵) cũng gợi ý là các từ Hán đồng nghĩa này có khả năng cùng một gốc *gơm/kơm. Để ý Thuyết Văn Giải Tự còn ghi hàm 函 là lưỡi

      《說文》函: 舌也 hàm: thiệt dã

      Dựa vào các dữ kiện trên, hàm 含 có khả năng rất lớn là đến từ phương Nam (không phải gốc Hán như nhiều người lầm tưởng) - thời gian giao lưu ngôn ngữ này xẩy ra trước thời Tần Hán (cũng như thời mà *krong sông trở thành giang trong vốn từ Hán vậy)....'


      Như vậy có nhiều dữ kiện ngôn ngữ cho thấy khả năng răng cấm )*kơm/gơm là một dạng âm cổ) là răng hàm. Tiếng Trung (Quốc) gọi răng hàm là ma xỉ 磨齒 (răng để nhai) hay cửu xỉ 臼齒 (răng cối, cữu là cối giã), tào nha 槽牙 (tào là cái máng) ...

      Nguyễn Cung Thông

      (A) So với tiếng Hán và Việt, quá trình biến âm trên phản ánh rõ nét qua cách đọc chữ HV không 空 với thành phần HT công 工 thành ra không 空 (>khôn) và hông, hổng qua khẩu ngữ; không phải ngẫu nhiên mà ta có các liên hệ giữa can 乾 cạn, khan/khản/khàn và hạn 旱 (nắng gắt khô cạn) hay cang 亢 kháng so với họng ...

      Do đó, ta có cơ sở giải thích chiều biến âm từ *kui cúi qua Hợi và Hãi như đã ghi nhận trong loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp - Cúi Hợi (heo/lợn)" (phần 5, phần 5A) ...v.v...
      (B ) như căm (căm giận, căm hờn ... một nghĩa khác của khiêm 嗛), một dạng chữ Nôm ghi là kim 今 : "Áo đơn khôn ngăn căm căm rét" (Truyền Kỳ Mạn Lục)



      Khái niệm Âm/Dương là của người Việt, từ kết cấu theo lối mẫu hệ kiểu Vợ/Chồng, Mẹ/Cha, Âu Cơ/Lạc Long Quân, nòi giống Tiên /Rồng; cho đến phát âm của cái miệng Việt cũng thể hiện chính xác là theo logic Âm/Dương: Âm – Ngậm – Đóng thì cặp môi khép lại, Dương – Toang – Mở thì cặp môi mở ra, các cặp từ đối là Âm/Dương, Ngậm/Toang, Đóng/Mở. (Người Hán mượn khái niệm Âm/Dương của người Việt, họ phát âm là “Yin/Yáng”, là theo kết cấu mẫu hệ của Việt đã được họ giữ nguyên vẹn khi mượn, nhưng về phát âm thì cả hai âm tiết này cặp môi họ đều mở toang, không như người Việt phát âm Âm/Dương, vị trí cặp môi khi phát âm rõ ràng như logic Đóng/Mở; cặp đối Đóng/Mở này tiếng Hán là “Khai/Quan”, lại là theo kết cấu phụ hệ của Hán, tức Dương/Âm, nhưng phát âm Khai/Quan thì cặp môi đều mở toang cả, giống như Yin/Yáng).

      Răng Hàm còn gọi là răng Cấm, còn răng trong cùng của hàm thì mọc rất muộn, khi người đã 20-30 tuổi rồi nó mới mọc, gọi là răng Khôn. Các từ Cấm – Hàm – Khôn đều là do cùng một Nôi khái niệm thuộc Âm mà ra cả thôi. Cái thuộc Âm ấy là Kín, ngược với thuộc Dương là Hở, nên có từ đối Kín/Hở tương đương Úp/Mở. Tương tự, cái thuộc Âm ấy là Ruột tức bên trong, ngược với cái thuộc Dương là Ra tức bên ngoài, cặp đối Ruột/Ra (như Trong/Ngoài) diễn biến thành cặp đối Ruột/Rà nói về quan hệ ruột thịt cả bên Nội cả bên Ngoại.

      Cái NÔI khái niệm thuộc Âm trong đó có từ Hàm là : Kín=Kin=Cơm=Cớm=Câm=Âm=Im=Tim=Tâm=Cấm=Cầm=Cạp=Ngạp=Ngoạm=Ngốn=Ngậm=Ẩm=Phẩm=Nhấm=Nhắm=Dặm=Gặm=Cắm=Cắn=Ăn=Khắn=Khăm =Khôn=Khảm=Ngàm=Hàm=Hầm=Hòm=Hồn=Hổng=Hông=Không=Trống=Rỗng=Ruột.

      Trong NÔI khái niệm thì con số zerO là nằm trong chữ Ô của cái NÔI khái niệm: 0=Không=Hông=Hồn=Hổng=Trống=Rỗng. Cái bên Trong này mà lại là Rộng vô giới hạn tức Trống Rỗng (Lão Tử gọi nó là cái Thiên Phủ tức nó rộng vô cùng), nó là Không nhưng mà lại là Có, nó là cái Tâm. Tâm=0, Hồn=0. Hán ngữ không dùng từ Không chỉ con số zero, mà chỉ con số zero bằng dùng từ Linh=0. Theo số học nhị phân thì 0+0=1; vậy thì Trống=0, Rỗng=0 nên Trống Rỗng=0+0=1=Có; Tâm=0, Hồn=0 nên Tâm Hồn=0+0=1=Có; Linh=0, Hồn=0 nên Linh Hồn=0+0=1=Có; Tâm=0, Linh=0 nên Tâm Linh=0+0=1=Có. Như vậy Hồn và Tâm Linh đều là “Có” chứ không phải là mê tín. Đó là cái lý Sắc Không của Phật. Khi Tâm đạt đến trạng thái hoàn toàn Trống Rỗng, lúc đó nó thật sự là Tâm Người, diễn biến âm thành Tam Muội, tức chỉ còn duy nhất một cái Có là Lửa, đốt cháy Sạch thân xác (Sạch=Sắc=0).
      2

      Chia sẻ chủ đề này:


      Trang 1 trên 1
      • Bạn không thể tạo chủ đề mới
      • Bạn không thể trả lời chủ đề này

      1 thành viên đang xem chủ đề này
      0 thành viên, 1 khách, 0 thành viên ẩn danh