Chuyển tới nội dung

Hình ảnh

Cách tính sao hạn, năm tam tai.


  • Xin vui lòng đăng nhập để trả lời
Chưa có trả lời cho chủ đề này

#1 Lê Bá Trung

Lê Bá Trung

    Hội viên chính thức

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPip
  • 541 Bài viết:

Thứ sáu, 06/02/2009 | 10:05

Từ trước đến nay, việc cúng sao giải hạn đã trở nên rất phổ biến trong dân gian, đến nỗi hàng năm, các lịch sách Tử vi đều đề cập đến vấn đề này. Đối với những môn Thiên văn hay Tử vi, những sao thường được nhắc đến nhiều nhất là Cửu Diệu (hay 9 chùm sao), gồm có: La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức. Người ta thường cho rằng đây là những chùm sao "chiếu mệnh", nên sẽ có ảnh hưởng lớn đến vận số của mọi người trong suốt 1 năm. Đi đôi với 9 chùm sao đó là 8 hạn Huỳnh Tuyền, Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên Tinh, Toán Tận, Thiên La, Địa Võng, Diêm Vương, cũng luân phiên nhau ảnh hưởng đến vận số của tất cả mọi người trong năm. Ngoài ra, còn có sao Thái Tuế và hạn Tam Tai cũng đều là những sao hay hạn cần phải cúng tế mới có thể hóa giải được những điều xấu hay tai nạn.

NHỮNG SAO CHIẾU MỆNH (CỬU DIỆU): cách tính sao chiếu mệnh là dựa vào bảng dưới đây:

Posted Image

- Thí dụ: 1 người nam, sinh năm 1981 (TÂN DẬU). Vào năm 2008, người này được 28 tuổi (27 tuổi D.L.). Nếu tra bảng trên thì bị sao La Hầu "chiếu mệnh" trong năm đó.

Trong 9 sao ở trên, các sao Thái Dương, Thái Aâm, Mộc Đức được xem là tốt, còn các sao Vân Hớn, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, La Hầu, Kế Đô đều là những sao xấu.

Về cách cúng sao thì tùy vào số lượng sao của mỗi chùm mà thắp đèn, nến khẩn vái vào những ngày chúng xuất hiện hàng tháng.

- Thí dụ: Kế Đô là 1 chùm gồm có 21 ngôi sao, thường xuất hiện về phía Tây vào giờ Dậu (17g - 19g tối) trong các ngày 18 mỗi tháng (Âm lịch). Vì vậy, những ai bị sao này chiếu mệnh thì vào những ngày, giờ đó phải đốt 21 ngọn đèn, cùng với lễ vật, xoay mặt về hướng Tây mà khấn vái…

PHẠM THÁI TUẾ: là những người có Địa Chi của năm sinh trùng với năm hạn.

- Thí dụ: năm 2008 là năm MẬU TÝ, nên tất cả những người sinh năm Tý (1996, 1984, 1972, 1960, 1948, 1936, 1924, 1912…) đều bị "phạm Thái Tuế" (vì tuổi và năm đó trùng nhau). Những trường hợp này cũng hay bị tai họa, bệnh tật, công việc trắc trở…

Về cách cúng Thái Tuế thì phải có bài vị, cùng với lễ vật như hoa quả…mà cúng vào đầu tháng 1 Aâm lịch để giải trừ tai họa. Rồi đến cuối tháng 12 Aâm lịch cũng phải dùng lễ vật cúng để tiễn Thái tuế vì đã hết năm.

PHẠM TAM TAI: là phạm 3 năm hạn xấu liên tiếp. Cách tính như sau:

- Người tuổi Dần, Ngọ, Tuất: bị hạn liên tiếp trong 3 năm Thân - Dậu - Tuất.

- Người tuổi Thân, Tý, Thìn: gặp các năm Dần - Mão - Thìn.

- Người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: gặp các năm Hợi - Tý - Sửu.

- Người tuổi Hợi, Mão, Mùi: gặp các năm Tỵ - Ngọ - Mùi.

Về cách cúng hạn Tam Tai thì phải dùng 1 vài thứ thuộc về cơ thể của người bị hạn như tóc, móng tay, móng chân… gói chung với 3 đồng tiền. Sau đó đốt 3 ngọn đèn cùng với lễ vật mà cúng vái. Khi đã khấn vái xong thì đem bỏ bọc đựng tiền và móng tay, móng chân nơi ngã ba (tức cái gì cũng dùng con số 3).

Đó là những phương pháp "thần bí" nhằm giúp hóa giải mọi tai họa do bị sao chiếu mệnh, hoặc do Thái Tuế và Tam Tai gây ra. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp người cúng sao "giải hạn" không những đã không hết tai họa, mà càng lúc càng bị khốn đốn. Ngược lại, có những người gặp "hạn" mà lại không cúng kiến gì, nhưng chẳng những đã không bị tai họa, mà vẫn thăng quan tiến chức hay vượng phát tài lộc, gặp nhiều may mắn…

- Thí dụ 1: vào năm 2006, 1 người nữ sinh năm 1961 (TÂN SỬU - tức 46 tuổi Â.L.) bị sao Kế Đô chiếu mạng. Biết được điều đó, chị đã cúng sao hàng tháng để "giải hạn". Thế nhưng công việc làm của chị ngày 1 khó khăn, cấp trên chèn ép dữ dội rồi cuối cùng bị đuổi việc. Sau đó lại khốn khổ vì việc kiện tụng. Chỉ sau khi đã phát hiện được những hung sát trong Tứ trụ, cũng như vận khí của căn nhà để dùng những biện pháp hóa giải, mọi sự mới dần dần đỡ hơn và cuối cùng thắng kiện (đã được nói trong bài "Nhà bị kiện tụng").

- Thí dụ 2: 1 người Mỹ sinh ngày 01 tháng 4 năm 1948 (tức năm Mậu Tý). Vào năm 2008 (cũng năm Mậu Tý), người này vừa phạm Thái Tuế, vừa bị sao Kế Đô "chiếu mệnh", vừa gặp hạn Địa Võng. Mà vì là người Tây Phương, nên dĩ nhiên là ông ta chẳng cúng kiến gì. Thế nhưng vào đúng ngày sinh của mình, ông ta trúng số độc đắc 150 triệu dollars.

- Thí dụ 3: Hai TT Mỹ Bill Clinton và George W. Bush đều sinh năm Bính Tuất (1946). Ông Clinton đắc cử TT lần đầu vào năm 1992 (NHÂM THÂN), tức đang trong hạn Tam Tai. Ông Bush tái đắc cử nhiện kỳ 2 vào năm 2004 (GIÁP THÂN) cũng trong hạn Tam Tai.

- Thí dụ 4: 1 người đàn bà sinh năm 1922 (Nhâm Tuất). Vào khoảng tháng 4 năm 1968 (Mậu Thân), nhà bà bị đạn pháo kích bắn sập. Nhờ nằm trong công sự làm trong nhà nên cả gia đình hầu như không bị gì cả. Sau đó, bà cho xây lại nhà cửa khang trang hơn, khuếch trương công việc buôn bán và ngày càng giàu có. Mặc dù là trong năm đó, bà đang bị hạn Tam Tai (chưa kể hạn Thọ Tử… nhưng vì không liên quan tới bài này nên tạm không nói tới) mà cũng chẳng cúng sao giải hạn gì cả. Đến sau này vào năm 1975, cả gia đình bà đều lần lượt sang Mỹ được an toàn.

Cho nên, vấn đề cúng sao giải hạn là 1 việc hết sức mơ hồ, vì nhiều khi không cần thiết, hoặc cũng không giúp được gì cho người bị tai nạn. Ngoài ra, không phải tất cả những người cùng 1 tuổi là sự hên, xui đều giống nhau như 3 lá số cùng sinh năm BÍNH TUẤT (1946) dưới đây:

1/ Lá số Bill Clinton: sinh ngày 19 tháng 8 năm 1946, lúc 8g 51 sáng. Nếu lấy Tứ trụ thì năm, tháng, ngày, giờ sinh sẽ là:

BÍNH TUẤT BÍNH THÂN ẤT SỬU KỶ MÃO

Vì ông sinh ngày ẤT SỬU là ngày Kim Thần, trụ năm, trụ tháng đều có BÍNH - Hỏa là cách "Kim thần gặp Hỏa, phú quý vang dội", nên đây là số lãnh tụ, có uy quyền và danh tiếng lớn. Vào năm BÍNH TUẤT (2006), tuy ông "phạm Thái Tuế", nhưng nhờ được gặp thêm BÍNH - Hỏa, nên mọi sự vẫn thuận lợi. Vì vậy trong năm đó, ông đi công du, diễn thuyết khắp nơi và thu về hàng chục triệu dollars.

2/ Lá số George W. Bush: sinh ngày 06 tháng 7 năm 1946, lúc 7g26 sáng. Nếu lấy Tứ trụ thì năm, tháng, ngày, giờ sinh sẽ là:

BÍNH TUẤT ẤT MÙI TÂN TỴ TÂN MÃO

Vì ông sinh ngày TÂN TỴ là TÂN - Kim bị TỴ - Hỏa khắc, nên dù được Thiên Can TÂN ở trụ giờ trợ giúp cũng vẫn là thân nhược. Cho nên mệnh này cần có Thổ - Kim sinh trợ và rất sợ Hỏa. Vì vậy, vào năm BÍNH TUẤT (2006), Kim mệnh bị 2 Hỏa (BÍNH của năm sinh lẫn năm hạn) khắc, nên là 1 năm vất vả, gặp nhiều khó khăn (chiến trường Iraq sôi động, cũng như mất đa số trong quốc hội về tay đảng Dân Chủ…). Tuy nhiên, nhờ có Thổ của TUẤT, MÙI hóa bớt Hỏa để sinh Kim, nên vẫn giữ được chiếc ghế TT với đầy đủ quyền hành.

3/ Lá số 1 người phụ nữ: sinh ngày 01 tháng 12 năm 1946, lúc 5g 30 sáng (đúng ra là 3g 30 vì lúc đó, VN đang theo giờ Tokyo). Nếu lập Tứ trụ thì năm, tháng, ngày, giờ sinh sẽ là:

BÍNH TUẤT KỶ HỢI KỶ DẬU BÍNH DẦN

Vì sinh ngày KỶ DẬU, nên KỶ - Thổ là mệnh. Trụ năm, trụ giờ đều có BÍNH - Hỏa sinh mệnh, lại thêm Kỷ của trụ tháng và Tuất của trụ năm đều là Thổ trợ giúp mệnh, nên đây là trường hợp Hỏa nóng, Thổ khô. Vào năm BÍNH TUẤT (2006), người này còn gặp thêm BÍNH - Hỏa, nên Hỏa càng dữ dội. Vì vậy, năm đó chẳng những tài lộc vô cùng khó khăn, mà còn bị bệnh tật, tai họa, thần kinh vô cùng căng thẳng, cũng như mắc chứng thổ huyết (ói ra máu). Sau này phải dùng cách dời đổi chỗ ở theo Phong thủy mới hết tai họa, bệnh tật.

Cho nên, cả 3 trường hợp đều cùng 1 tuổi, cùng "phạm Thái Tuế", cùng gặp hạn Địa Võng , 2 ông Bush và Clinton đều bị sao Kế Đô "chiếu mệnh", còn người đàn bà gặp sao Thái Dương, nhưng hoàn cảnh của mỗi người đều khác nhau rất xa trong cùng 1 năm. Điều này cho thấy vận số mới là yếu tố quyết định, chứ không phải là những sao chiếu mệnh hay những hạn. Chính vì vậy nên có rất nhiều trường hợp mặc dù "cúng tế" nhưng tai họa vẫn tới, hoặc không "cúng tế" nhưng vẫn gặp nhiều may mắn, thuận lợi. Vì vậy, cách tốt nhất là tìm hiểu số mạng hoặc Phong thủy mà tìm cách hóa giải những điều xấu.



Chicago, ngày 29 tháng 5 năm 2008



Bình nguyên Quân



Copyright © 2008 phongthuyhuyenkhonghoc.com
  • Tiểu Kim Thử likes this
Tâm Còn Chưa Thiện, Phong Thủy vô ích.
Bất Hiếu Cha Mẹ, Thờ Cúng Vô ích.
Anh Em Chẳng Hòa, Bạn Bè vô ích.
Làm trái Lòng người, Thông Minh Vô Ích.
Chẳng Giữ Nguyên Khí, Thuốc Thang Vô ích.
Thời Vận Không Thông, Mưu Cầu Vô ích.

Khổng Tử.