Chuyển tới nội dung

Hình ảnh

Quán vắng!


  • Xin vui lòng đăng nhập để trả lời
Có 3875 trả lời cho chủ đề này

#1141 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ ba, 13/03/2012 | 19:20


=================================
Nước Mỹ làm sao thất bại trong việc chế tạo và sản xuất hàng loạt máy bau F35 được nhỉ? Bài phân tích của tay chuyên gia này chẳng có cơ sở nào cả. Toàn là cảm tính và kinh nghiệm.
Hoa Kỳ sẽ thành công trong việc chế tạo và sản xuất hàng loạt máy bay F35, thâm chí còn cải tiến với nhiều tính năng vượt trội hơn - nếu họ muốn thế - Đấy là lời tiên tri của Thiên Sứ tôi.


Người TQ luôn muốn mọi cái đều hơn Mỹ mà, khổ thật chỉ là vỏ mồm thôi ! J-20 tàng hình gì đó của tụi tàu cũng chỉ là khoe khoang, công nghệ thì đi ăn trộm của Nga thôi. Nếu đem con F35 hay Sukhoi T-50 ra thì 10 chiếc J-20 chưa chắc đã đánh trả nổi.
"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1142 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ ba, 13/03/2012 | 19:30

Tiết lộ vụ tình báo Trung Quốc 'chôm' công nghệ máy bay tàng hình

Ðất Việt Online - Cập nhật lúc :2:43 PM, 10/02/2011


Xác chiếc máy bay F-117A Nighthawk của Mỹ sau khi bị bắn rơi ngày 27/3/1999 trở thành "mồi ngon" đối với tùy viên quân sự Trung Quốc.

Đại tá Sergei I. khi còn công tác ở Tổng cục Tình báo (GRU) Bộ Tổng tham mưu quân đội Nga chuyên làm về Trung Quốc. Ông từng trải qua 7 cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang ở những địa điểm rất khác nhau trên thế giới, cũng như ở Chechnya.

Cuộc săn đuổi Chim đêm F-117A

Nhớ lại mùa xuân năm 1999, ở Belgrade thời chiến tranh, ông Sergei với tư cách chuyên gia về tiếng Hán, đang làm việc sát sạt với các đồng nghiệp Trung Quốc. Thời Tổng thống Slobodan Milosevic, lãnh đạo Nam Tư thường xuyên chia sẻ với các đồng minh Trung Quốc và Nga các vũ khí trang bị chiến lợi phẩm của các nước phương Tây. Nhiều khi việc chia chác chiến lợi phẩm dẫn đến các vụ scandal.
Đáng nhớ nhất là chuyện xảy ra vào cuối tháng 3. Lúc đó, khi Sergei vừa lên xe để tới hiện trường máy bay tiêm kích tàng hình Mỹ bị rơi thì tay tổ trưởng tình báo Trung Quốc cũng hộc tốc đuổi theo.
Ngày 27/3/1999, F-117A Nighthawk với số hiệu 82-806 bị một hệ thống tên lửa phòng không S-125 Pechora bắn rơi. Đây là thành công hiếm có của người Serbia. Quả tên lửa không bắn trúng trực tiếp vào máy bay. Bởi vậy, phi công bị bắn rơi kịp nhảy dù và sống sót. Các mảnh xác máy bay khá to. Một số mảnh phải đưa lên máy kéo bằng cần cẩu mượn tạm của công nhân xây dựng địa phương chỉ bằng hai chai Vodka Nga.
Chiếc F-117 bị bắn hạ là miếng mồi cực kỳ hấp dẫn đối với cả Nga và Trung Quốc. Tùy viên quân sự Trung Quốc cùng các trợ lý lùng sục toàn bộ khu vực máy bay rơi và mua lại các mảnh vỡ từ các nông dân sống xung quanh.
Và họ quan tâm nhất đến các chi tiết của động cơ, đặc biệt là “những cái cánh loa phụt” gì đó. Nhưng họ cuối cùng cũng không tìm thấy chúng.


Đại tá tình báo GRU của Nga Sergei I. tiết lộ một số thông tin về việc tình báo Trung Quốc thu thập bí mật của máy bay tàng hình F-117A Nighthawk ở Nam Tư năm 1999


Tình báo Trung Quốc hoạt động điên cuồng. Họ không tiếc tiền để mua lại các “vật lưu niệm” của Mỹ đó. Trong nháy mắt, khoang chứa hàng trên chiếc xe địa hình của tùy viên quân sự Trung Quốc đã chất đầy các mảnh vỡ của chiếc máy bay tàng hình xấu số.

Mỹ tấn công đại sứ quán để trả đũa
Người Mỹ phát khùng vì mất chiếc máy bay tàng hình siêu mật. Được các điệp viên Croatia ở Serbia báo rằng, tình báo Trung Quốc đã chiếm hữu được món chiến lợi phẩm quý giá, Washington liền làm một việc chưa từng có để trả đũa. Họ đã cho máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 tấn công đại sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, nơi được cho là chứa các mảnh vỡ, chi tiết của chiếc máy bay tàng hình bị bắn rơi. Sau đó, Mỹ thanh minh hành động kẻ cướp đó là do sai lầm về bản đồ.
Khi phóng viên chợt vô ý buột ra câu hỏi: “Nhưng trong lúc đó, tại đại sứ quán Nga ở Belgrade, đang chuẩn bị gửi đi những thùng hàng nào đó. Đúng không?”, ông Sergei cười mát đáp: “Lịch sử im lặng về vấn đề đó”.

Đã hơn 10 năm trôi qua. Máy bay tàng hình T-50 của Nga cất cánh, một năm sau đó đến lượt J-20 Hắc Long của Trung Quốc. Cả hai đều muốn được gọi là máy bay thế hệ 5. Trong các máy bay đó có cái gì từ máy bay tàng hình của Mỹ không? Nếu như thực sự là có thì ai lại đi thừa nhận điều đó … Người Nga im lặng, còn người Trung Quốc theo tập quán phương Đông thì chối bay chối biến.
Còn viên phi công thử nghiệm Trung Quốc Xu Yongling sau chuyến bay thì nói như đinh đóng cột: “J-20 là kiệt tác công nghệ mới của Trung Quốc” và cho biết, lợi ích từ các mảnh vỡ máy bay tàng hình Mỹ cũng chẳng có gì nhiều. Bởi F-117 đã lạc hậu ngay từ những năm 1990, còn công nghệ lớp phủ che giấu máy bay trước radar thì khó tái tạo từ các mảnh vỡ do “tính phức tạp của các hợp kim”.
Vị đại tá GRU nhún vai: “Khó, nhưng có thể. Các tình báo viên Nga cũng từng thu thập từng mẩu một các bí mật của bom nguyên tử Mỹ. Và nhà bác học vĩ đại Kurchatov rất biết ơn họ vì điều đó”.

Người Trung Quốc nói gì

Sau khi báo chí phương Tây ồn ào quy kết Trung Quốc sao chép công nghệ tàng hình của máy bay tiêm kích-bom tàng hình F-117A Nighthawk để chế tạo máy bay J-20 của họ, ngày 25/1/2011, các đại diện Bộ quốc phòng và các nhà phân tích quân sự Trung Quốc đã bác bỏ giả thiết này.
Một đại diện giấu tên của Bộ quốc phòng Trung Quốc nói rằng, “báo chí nước ngoài không phải lần đầu tiên vu nói oan cho các công nghệ của Trung Quốc, chẳng việc gì phải trả lời những dư luận như thế”.


J-20 bị nghi là "con rơi" của F-117A Nighthawk

Còn theo phi công thử nghiệm Trung Quốc Xu Yongling, J-20 có những tính năng kỹ thuật như khả năng bay hành trình siêu âm và khả năng cơ động cao là nhờ một loạt những đột phá công nghệ. “Khác với các tiêm kích trước đó như J-7 (sao chép MiG-21F-13) và J-8 (chế tạo dựa trên Su-15) quả thực là chế tạo dựa trên các máy bay nước ngoài, J-20 là kiệt tác công nghệ mới của Trung Quốc”, Xu Yongling nói.
Viên phi công cũng nói rằng, sẽ là vô nghĩa đối với Trung Quốc nếu sử dụng các công nghệ của F-117 vốn lạc hậu ngay cả đối với các tiêm kích thế hệ 4 và lỗi thời ngay khi máy bay này bị bắn rơi ở Nam Tư trong chiến dịch của NATO năm 1999. Ngoài ra, Trung Quốc cũng rất khó tái tạo công nghệ sản xuất vật liệu sử dụng cho F-117 từ các mảnh vỡ của máy bay.
Tổng biên tập tạp chí Trung Quốc Aerospace Knowledge Wang Yanan thì khẳng định, F-117 khó có thể là nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế J-20 do những khác biệt lớn về kết cấu của các máy bay thuộc hai thế hệ khác nhau. “Mặc dù F-117 có danh xưng là máy bay tiêm kích, nó được sử dụng như một máy bay ném bom do có tốc độ bay thấp và khả năng tác chiến hạn chế. J-20 thì giống F-22 hơn, được chế tạo để không chiến ở tốc độ bay cao”, Wang Yanan giải thích.
Nhưng ông Wang thừa nhận, với tư cách nước đi đầu về các dự án phát triển công nghệ, Mỹ là quốc gia định hướng cho việc phát triển máy bay mới của các nước khác, nhưng không bao giờ cung cấp chi tiết gì về các công nghệ của mình, khiến các nước khác phải tự phát triển các máy bay đó hoặc mua ở các nước khác.
Còn nhà phân tích quân sự Trung Quốc Li Daguang thì nói rằng, những cáo buộc đó là vô căn cứ và xuất phát từ sự ganh ghét và đề phòng với những thành tựu công nghệ nhanh chóng của Trung Quốc. Trung Quốc có khả năng tự lực phát triển các công nghệ cao.
Giữa tháng 1/2011, đô đốc Croatia Domazet-Lošo, người từng tham gia chiến đấu trong cuộc nội chiến ở Nam Tư trước đây, nguyên chỉ huy tình báo quân sự và phó tổng tham mưu trưởng quân đội Croatia đã phỏng đoán rằng, Trung Quốc có thể đã sử dụng công nghệ của F-117A để chế tạo J-20. Chiếc F-117A bị bắn rơi ở Nam Tư ngày 27/3/1999. Theo đô đốc Domazet-Lošo, các điệp viên Trung Quốc đã ráo riết mua lại từ các nông dân Serbia những mảnh xác F-117, sau đó có thể tái tạo từ đó các công nghệ sử dụng ở máy bay này.


Văn Phong
  • Thích Đủ Thứ likes this
"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1143 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ ba, 13/03/2012 | 19:45

Các thiết kế sai lầm của J-20


Trước khoảng thòi gian cuối năm 2010, đầu năm 2011, giới quân sự và phân tích từng nhiều lần bàn tán xung quanh việc phát triển tiêm kích thế hệ 5 của Trung Quốc. Đến đầu năm nay, câu chuyện lại tiếp diễn.

Ngày 11/1/2011, video chuyến bay đầu của máy bay mà Trung Quốc gọi là J-20, “Đại bàng đen” lan truyền trên mạng. Khi mà Trung Quốc đưa máy bay ra phô diễn, giới chuyên môn có thêm những bình phẩm cụ thể.
Không hề có sự kỳ diệu nào cả, không hề ra đời đối thủ cạnh tranh nào của Т-50 hay F-22A nào cả. Và sự tụt hậu của Trung Quốc trong lĩnh vực chế tạo tiêm kích thế hệ 5 không phải là 1 năm mà là 12-15 năm. Và máy bay do Trung Quốc làm ra một lần nữa là nhờ đồ cóp nhặt của người khác.

Cắt dán lung tung
J-20 là một máy bay tiêm kích lớn (dài 21-23 m) và nặng (trọng lượng cất cánh 35-40 tấn), có sơ đồ kiểu “vịt”. Cánh nâng hình tam giác với các gờ nổi ở gốc cánh và có cánh ngang phía trước quay toàn phần.
Cánh đứng đuôi kép, quay toàn phần nghiêng ra ngoài và có các tấm đứng dưới thân. Sơ đồ J-20 giống hệt MiG-1.44 và kích thước cũng gần như thế. Nhưng cũng có những khác biệt chi tiết.
Máy bay MiG có cánh diện tích lớn, bảo đảm tải trọng riêng nhỏ hơn lên cánh và khả năng cơ động tốt hơn. Các cánh đứng đuôi của máy bay Trung Quốc ngả ra ngoài, không giống với máy bay Nga. Nhưng những nét đó cũng đã có ở các thiết kế mà hãng MiG đã kiểm nghiệm sau thất bại với dự án MiG-1.44, cụ thể là ở thiết kế 1.46.
Kết cấu các gờ nổi của gốc cánh, cũng như hình dáng các cánh đứng đuôi và cánh ngang phía trước có vẻ là do Trung Quốc thiết kế. Phần mũi xem ra chép lại từ F-22A của Mỹ. Còn các bộ hút khí rõ ràng là nhái của F-35 lận đận.
Vòm kính buồng lái làm theo thiết kế hàng không tiên tiến và sao chép của Mỹ. Kết quả là có được một máy bay rất xấu được cắt dán, chắp nối từ các giải pháp của các thế hệ, các quốc gia và các trường phái thiết kế khác nhau.
Tóm lại, “đại bàng bay” (trước đó là cái tên rất kêu - Mãnh Long) là “cơ thể” Nga được khâu thêm “cái mõm” Mỹ, ở đây, khâu bằng "kim" và "chỉ" của Trung Quốc.

Hậu quả của sự cắt dán
Cùng với sơ đồ khí động của loại máy bay không may mắn 1.44, J-20 cũng ôm lấy những vấn đề của nó mà người Trung Quốc sẽ buộc phải tự mình giải quyết. Sơ đồ khí động với cánh ngang phía trước đối với một máy bay muốn có khả năng tàng hình là sai lầm ngay từ đầu.
Cánh ngang phía trước bản thân nó đã gây khó khăn cho vấn đề tàng hình, hơn nữa lại tăng thêm lực cản không khí và làm giảm tầm bay. Việc sử dụng các cánh đứng dưới thân chỉ có thể làm các đài radar đối phương vui mừng vì chúng cũng làm tăng độ bộc lộ radar của máy bay.
Đặc biệt, là một máy bay hạng nặng, có vai trò lực lượng đột kích chủ yếu của không quân, J-20 lại sử dụng các bộ hút khí sao chép từ F-35 tốc độ chậm, loại máy bay không hề được thiết kế cho tốc độ bay siêu âm cao.
Tuy kích thước của các bộ hút khí cho phép lắp các động cơ mạnh hơn, nhưng hình dáng của nó đơn giản là không cho phép J-20 đạt tốc độ cao quá Mach 1.6. Có lẽ, tốc độ tối đa của nó sẽ chỉ ở khoảng Mach 1.5 ở độ cao lớn, khoảng 1,600 km/h.
Bên cạnh đó, họ cũng phải quên đi tốc độ hành trình siêu âm vì máy bay này dù là với các động cơ mạnh hơn cũng sẽ không thể tăng tốc quá tốc độ âm thanh ở chế độ không tăng lực. Có cảm tưởng là Trung Quốc cứ nhắm mắt sao chép tứ lung tung vì nghĩ rằng, cái gì có ở các đối thủ thì cái đó là tốt và cần làm y xì như thế.
Căn cứ vào các bức ảnh, hệ thống thủy lực của máy bay không được thiết kế cho các áp lực cao, như được làm ở các tiêm kích thế hệ 5 thực sự là Т-50 và F-22A. Vì thế, các bộ dẫn động thủy lực có được lại to và nặng, làm kết cấu trở nên quá nặng.
Các giải pháp về cánh đứng đuôi quay toàn phần và các khoang thu càng hoàn toàn khiến người ta nghi ngờ trình độ chuyên môn của những người thiết kế. Các chuyên gia Nga công khai cười cợt các giải pháp này.
Hiện tại, chưa nghe và chưa thấy bất kỳ thành tựu thật sự nào của Trung Quốc trong lĩnh vực chế tạo các radar anten mạng pha có trình độ xứng đáng.
Mấy năm trước, Trung Quốc có hợp tác đôi chút với Nga trong lĩnh vực này, nhưng sau đó, việc này dường như đã đình chỉ. Bởi lẽ, Nga chẳng có lợi lộc gì khi giúp chế tạo radar cho một máy bay đối thủ cạnh tranh của tiêm kích thế hệ 4++ Su-35 của mình mà bản thân muốn bán sang Trung Quốc.
Nhưng đó chưa phải là điều khủng khiếp nhất, đối với Trung Quốc đó là chuyện họ không có động cơ nội địa cho J-20. Động cơ tiên tiến thế hệ 5 WS-15 mới chỉ tồn tại trong giấc mơ và những kế hoạch xa xăm.
Động cơ nội địa thế hệ 4 hiện có WS-10A không có khả năng hoạt động. Nó có đặc tính động học cực kỳ tồi tệ và độ ổn định thấp ở các chế độ làm việc khác nhau mà một máy bay tiêm kích cần có. Và nó có dự trữ làm việc gần như bằng 0 (25-40 giờ, thay vì 400-800 giờ cần thiết). Việc giải quyết các vấn đề của động cơ hiện nằm ngoài khả năng của công nghiệp Trung Quốc.
Trung Quốc hiện không có các lá cánh bình thường cho động cơ máy bay cũng như nhiều thứ khác. Cả hệ thống điều khiển số động cơ cũng không có khả năng tăng dự trữ làm việc. Lắp một động cơ như vậy lên máy bay đơn giản chỉ là là thảm họa. Kết hợp với những vấn đề khác sẽ là dấu gạch chéo cho tương lai của máy bay này.

Hai chiếc J-20 cùng số hiệu
Trung Quốc hiện có 2 mẫu chế thử J-20, nhưng lại đánh số hiệu giống nhau - đây là mưu lược sáng tạo của Trung Quốc để đánh lạc hướng. Một mẫu được lắp các động cơ Trung Quốc và dường như nó đã cất cánh.
Nhưng tải làm việc chính sẽ do máy bay thứ hai lắp các động cơ AL-31FN mà Nga bán cho Trung Quốc để lắp cho tiêm kích J-10, gánh vác. Còn máy bay lắp các động cơ nội địa thì được cất kỹ trong hangar vì nó đã hoàn thành sứ mệnh của mình.
Việc các khoang máy của động cơ AL-31FN được bố trí thấp không cho phép Trung Quốc bố trí các khoang vũ khí có kích thước bình thường ở trong bụng máy bay dưới các động cơ. Nhưng có thể họ sẽ sắp xếp được một khoang vũ khí ở giữa 2 động cơ. Tuy nhiên, trên các mẫu máy bay đầu tiên, ta chẳng thấy khoang vũ khí nào cả.
Mức trang bị sức kéo của J-20 là thấp và nó rõ ràng thua kém cả Т-50, cả F-22A, thậm chí thua cả Su-35S và Su-30.
Cơ hội để Nga bán cho Trung Quốc để lắp trên J-20 các động cơ mạnh hơn, dù là loại động cơ quá độ Nga sang thế hệ mới như 117S là gần như bằng 0.
Có chăng thì là bán cả gói trong một lô Su-35 kha khá. Dĩ nhiên là cũng có những khả năng như Nga có thể bán nhiều động cơ hơn số máy bay nếu như hợp đồng được ký kết và nhắm mắt làm ngơ chuyện một số trong các động cơ đó được dùng không đúng quy định. Nhưng việc đó cũng sẽ không giải quyết được những khó khăn của Trung Quốc. Chừng nào chưa có loại động cơ nội địa mạnh và tin cậy thì mọi dự án máy bay thế hệ 5 chỉ là trò trẻ con.
Kết luận là Trung Quốc làm ra được một máy bay nặng nề, to xác, không tàng hình với khả năng cơ động và mức trang bị sức kéo thấp, thêm nữa là không có khả năng đạt tốc độ cao tới 2 lần tốc độ âm thanh trở lên.
Vì thế tốt nhất nên so sánh J-20 không phải với đại bàng, và thậm chí không phải là với cá voi răng kiếm mà là với con thú to xác Megateri. Thòi cổ xưa, quãng 10.000 năm trước, trên lục địa châu Mỹ từng sống một loại thú dài 6 m và cao hơn con voi, được gọi là Megateri, là họ hàng với con cu li hiện đại và ăn thức ăn cây cỏ.
Vậy thì một máy bay như vậy thì làm được gì? Làm máy bay đánh chặn thì không đủ tốc độ, làm máy bay tiêm kích giành ưu thế trên không thì quá to, nặng và ì ạch, không cơ động. Kích thước phần mũi khá to, nhưng chẳng có radar để lắp vào đó. Có thể làm máy bay tiêm kích, nhưng chỉ có điều chưa rõ là vũ khí tiêu diệt mục tiêu mặt đất có bỏ vừa được vào các khoang vũ khí bên trong hay không?

Show diễn còn tiếp tục
Đặc biệt kinh ngạc là cách tiếp cận của Trung Quốc đối với vấn đề bảo mật J-20.
Ở Nga, khi đang chuẩn bị cho Т-50 cất cánh, không có một bức ảnh nào lọt lên mặt báo và internet, còn đủ thứ rò rỉ thông tin từ những người trong cuộc, như sau đó người ta nhanh chóng tìm hiểu ra, phần lớn lại là thông tin giả về hình dáng bên ngoài của máy bay. Và đó là khi mà sân bay của nhà máy nằm ngay trong thành phố! Loại xe tăng bí mật Objekt 195 (T-95) của Nga tồn tại hơn chục năm cũng chỉ mới đây mới bộc lộ, còn lại là toàn xuất hiện trong các áo bọc và ở biến thể cũ!
Còn ở Trung Quốc, xung quanh sân bay mà J-20 chuẩn bị cất cánh, người ta cắm cả các khu lều trại, dân chúng đi xe đến, mang theo trẻ con, camera và máy ảnh. Tất cả cứ như một sự phô trương cố ý. Để khoe với thiên hạ là: Thấy chưa, chúng tôi cũng làm được như Nga và Mỹ.
Hơn nữa, họ lại phô diễn cho công chúng bình dân vốn luôn sẵn lòng phấn khởi với những thành tựu của đất nước mà chẳng hiểu tí gì những điều tế nhị đằng sau.
Công chúng và cả phần lớn báo chí Trung Quốc tất nhiên là sẽ không thể hiểu được rằng thay vì máy bay thế hệ 5 thật, họ đã bị giúi cho một đồ giả. Nhưng liệu ban lãnh đạo Trung Quốc có thể hiểu ra điều đó hay không?
(theo Đất Việt)


*****


"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1144 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ năm, 15/03/2012 | 18:56

Cách mạng Văn hóa tái diễn ở Trung Quốc?
Cập nhật lúc :9:43 AM, 15/03/2012

Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định Trung Quốc phải có những cải cách chính trị "khẩn cấp" ở thượng tầng Nhà nước và Đảng Cộng sản để có thể tiếp tục phát triển.

Theo ông Ôn Gia Bảo, cải cách chính trị sẽ tránh được nguy cơ tái diễn một "thảm họa" kiểu cách mạng văn hóa.

Posted Image
Thủ tướng Ôn Gia Bảo kêu gọi Trung Quốc phải có những cải cách chính trị để đưa đất nước tiếp tục phát triển. Ảnh minh họa: Chron.

"Giờ đây cải cách ở Trung Quốc bước vào giai đoạn vô cùng quan trọng. Nếu cải cách chính trị không thành công thì Trung Quốc không thể thực hiện cải cách kinh tế và những thành quả đạt được trong hai lĩnh vực này có thể bị mất. Thêm vào đó, những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội Trung Quốc sẽ không được giải quyết về cơ bản và những thảm họa lịch sử như Cách mạng Văn hóa có thể xảy ra ở Trung Quốc một lần nữa", ông Ôn Gia Bảo cho biết sau lễ bế mạc kỳ họp thứ 5 Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc khóa XI.
Thêm vào đó, ông Ôn Gia Bảo nhấn mạnh rằng mọi Đảng viên và viên chức Chính phủ phải nhận thức đầy đủ rằng tiếp tục cải cách là "nhiệm vụ khẩn cấp" đối với Trung Quốc.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo đưa ra nhận định về các cuộc cách mạng Mùa Xuân Arab cho rằng đó là khát vọng dân chủ của người dân. Khát vọng đó phải được tôn trọng và làn sóng Mùa Xuân Arab không hề bị thao túng bởi một thế lực nào và.
Thủ tướng Ôn Gia Bảo được giới chuyên gia đánh giá là người có tư tưởng tiến bộ và có phong cách lãnh đạo “thân dân” nhất số những nhà lãnh đạo của Trung Quốc. Ông Ôn Gia Bảo sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm nay.

>> Trung Quốc 'chiến tranh' với Mỹ vì đất hiếm

Theo VNP
===============================
Cải cách thì đúng rùi! Nhất trí!Posted ImagePosted ImagePosted Image
Nhưng vấn đề cần bàn là cải như thế nào mới là wan trọngPosted Image.


Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1145 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ năm, 15/03/2012 | 19:51

Yêu cầu TQ chấm dứt xâm phạm chủ quyền ở Hoàng Sa
15/03/2012 17:35:07

Posted Image - Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt các hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa - người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh.

Thời gian gần đây, Trung Quốc tiếp tục có các hoạt động tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, cụ thể là: Công ty Dầu khí Ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tiến hành mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía Bắc Biển Đông trong đó có lô 65/24, cách đảo Cây (Tree Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 01 hải lý. Ngày 2/3, biên đội tàu hộ vệ 11 của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ngày 7/3, tại kỳ họp thứ 5 Chính hiệp khóa XI, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Trung Quốc đã phát biểu về việc Tổng cục Du lịch Trung Quốc và chính quyền tỉnh Hải Nam đang hợp tác để mở rộng hoạt động du lịch tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 12/3, trên “Diễn đàn cường quốc” của mạng Nhân dân, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Cục trưởng Cục văn vật quốc gia Trung Quốc cho biết trong giai đoạn Quy hoạch 5 năm lần thứ 12, Trung Quốc sẽ xây dựng trung tâm khảo cố dưới đáy “Nam Hải” (Biển Đông) và trạm công tác “Tây Sa” (Hoàng Sa) Chính quyền tỉnh Hải Nam tổ chức cuộc đua thuyền buồm Cúp Ty Nam từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa vào ngày 28/3 v.v…
Trước những hoạt động trên của phía Trung Quốc, ngày 15/3, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị nêu rõ:
“Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Những hoạt động nêu trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; vi phạm luật pháp quốc tế; trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc".
"Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt các hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông", ông Lương Thanh Nghị nhấn mạnh.
PV

=======================
Phiền nhỉ? Hòa bình ở biển Đông luôn gắn với hòa bình ở Đông Bắc Á! Ấy là Thiên Sứ tui xem bói vậy! Cũng có thể bói sai. Nhưng nếu chẳng may nó đúng thì có thể thế này:
Trong hàng trăm máy bay của Hàn Quốc và Hoa Kỳ đang tập trận kỷ niệm hai năm tàu của họ bị đắm lại có một chiếc bay nhầm sang Bắc Triều Tiên. Ấy là lấy cái thí dụ thế!
  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1146 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ sáu, 16/03/2012 | 13:20

Lặng lẽ hành động: Trung Quốc hoàn thành bố trí quân sự tại Biển Đông

Thứ tư, 14 Tháng 3 2012

Bài trên trang China.com cho rằng trong vấn đề Biển Đông, tuy bề ngoài Trung Quốc chưa có hành động, nhưng thực chất nước này đang âm thầm lặng lẽ bố trí lực lượng quân sự để tăng cường răn đe và kiểm soát tình hình khi có xung đột.

Gần đây, tại Biển Đông tuy bề mặt biểu hiện yên tĩnh, nhưng thực chất ngấm ngầm dậy sóng. Mỹ tiếp tục viện trợ không hoàn lại tầu tuần tra cho PLP, Nga cũng đang giúp đỡ VN trang bị tầu ngầm tấn công và tầu chiến mang tên lửa. Theo đó, Malaysia cũng bắt đầu khởi động mua máy bay chiến đấu của Pháp. Cùng với động thái trên, theo tiết lộ của chuyên gia quân sự Mỹ, hiện nay hải quân TQ đã cơ bản hoàn thành bố trí lực lượng tại Biển Đông.
Theo mạng “Chiến lược Hoàn cầu” của Mỹ, từ đầu năm 2012 đến nay, 2 chiếc tầu đổ bộ “Tỉnh phượng sơn” kiểu 071 của QGPND TQ đã xuất hiện tại Biển Đông nhiều lần. Trước đó, TQ cũng đã bố trí nhiều tầu loại này ở Biển Đông từ năm 2011. Hành động này thể hiện TQ có ý thu hồi một số đảo không người cư trú tại Biển Đông mà VN và PLP đã tuyên bố chủ quyền.

Theo ĐTH vệ tinh “Phượng Hoàng” Hông Kông ngày 18/1, đối mặt với vấn đề Biển Đông, tuy TQ tỏ ra hạ giọng, nhưng bố trí lực lượng quân sự thì ngược lại. Lực lượng Pháo binh II (Bộ đội Tên lửa), tầu ngầm hạt nhân, lực lượng hải quân, máy bay ném bom của QGPND TQ đểu trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu, đồng thời tổ chức tiến hành diễn tập binh chủng khoa học kỹ thuật cao tại Biển Đông.

Cựu Phó Tổng tham mưu QGPND/TQ, Tướng Trương Lê bày tỏ, để bảo vệ lợi ích quốc gia, TQ cần phải thúc đẩy đồng thời 3 mặt sau: (1) Gia tăng số lượng lực lượng hải quân và các cơ cấu hỗ trợ khác, như tầu chiến cỡ lớn, máy bay tuần tra biển. (2) TQ cần phải bố trí hệ thống quan trắc quan sát tại Biển Đông. (3) TQ cần phải gia tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, như cầu cảng, sân bay …, đặc biệt là đảo Mỹ Tế Tiêu (Vành Khăn). Theo Tướng Trương Lê, đảo Mỹ Tế đặc biệt thích hợp với việc xây dựng cầu cảng và sân bay, có thể bố trí máy bay chiến đấu J10 và J11. Sau khi xây dựng hoàn thành cầu cảng và sân bay, TQ có thể lợi dụng đảo Mỹ Tế Tiêu (Vành Khăn) khống chế toàn bộ các quần đảo vùng biển phía Nam TQ. Việc xây dựng căn cứ quân sự quy mô lớn tại đảo Mỹ Tế Tiêu (Vành Khăn), còn trợ giúp hải quân và không quân TQ giám sát chặt chẽ tuyến hàng hải từ Biển Đông xuyên eo biển Malacca. Ngoài ra, căn cứ quân sự tại đảo Mỹ Tế Tiêu (Vành Khăn) cũng có thể trợ giúp quân đội TQ nhanh chóng triển khai tấn công lực lượng hải quân PLT nếu Mỹ ra tay cứu viện, hoặc dễ dàng cắt đứt tuyến vận tải thương mại trên biển của PLT.

Theo tạp chí “Phòng vệ Toàn cầu” của ĐL kỳ 2/2012, QGPND/TQ tiến hành xây dựng căn cứ quân sự ngầm dưới lòng đất tại vịnh Tam Á từ hơn 10 năm nay, bao gồm kho cất giấu tầu ngầm hạt nhân. Vì vấn đề bảo mật, thi công công trình này do một đơn vị của Lực lượng Pháo binh II đảm nhiệm và công trình này đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ năm 2010. Độ sâu vùng biển vịnh Tam Á từ 50 60 m, tầu ngầm ra vào rất thuận lợi. Ngoài kho ngầm vịnh Tam Á, vệ tinh tình báo Mỹ còn phát hiện 2 kho ngầm dưới biển sử dụng cất dấu 2 tầu ngầm hạt nhân chiến lược “093”. Về vật liệu xây dựng căn cứ ngầm này, TQ sử dụng loại xi măng đặc biệt chống công phá rất mạnh, kể cả công phá của tên lửa hạt nhân.

Về tầm quan trọng của vịnh Tam Á đối với chiến lược Biển Đông của TQ, ngoài tầu ngầm hạt nhân, số lượng lớn tầu ngầm thông thường, nhất là tầu ngầm tĩnh thanh cũng được bố trí tại đây. Lực lượng hải quân, không quân, lính thủy đánh bộ cũng đồn trú tại Tam Á với số lượng rất lớn, máy bay chiến đấu bố trí tại căn cứ cứ quân sự Tam Á cũng ngày càng tăng, bao gồm J7 và J10.

Theo được biết, bố trí lực lượng quân sự tại Biển Đông, ngoài tầu ngầm hạt nhân ra, QGPND/TQ còn bố trí tầu khu trục và Chi đội 9 tầu hộ vệ. Đây đều là trang bị tiên tiến nhất của quân đội TQ, đến nay bố trí trang bị tại Hạm đội Nam Hải vượt xa so với Hạm đội Bắc Hải và Hạm đội Đông Hải cả về quy mô và chất lượng. Chi đội tầu ngầm Hạm đội Bắc Hải và Hạm đội Nam Hải hình thành thế hỗ trợ lẫn nhau Nam Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho tầu ngầm hạt nhân của TQ tiến ra đại dương.

Ngoài ra, theo tiết lộ của tình báo Mỹ, Lực lượng Pháo binh II của TQ còn xây dựng căn cứ quân sự dưới lòng đất ở khu vực đồi núi và trung du, như hầm cất giữ tên lửa và căn cứ phóng tên lửa ngầm tại núi Phục Ngưu. Cùng với căn cứ quân sự ngầm tại vịnh Tam Á, hình thành thể thống nhất có thể phòng ngự, tấn công đạt hiệu quả cao.

Hoàng Trung, cộng tác viên tại Hồng Kông

Nguồn tiếng Trung “打破美国幻想,中国海军在南沙基本完成布局!


  • Thích Đủ Thứ likes this
"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1147 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Chủ nhật, 18/03/2012 | 01:22

Xung đột là định mệnh trong quan hệ Mỹ - Trung?
Cập nhật lúc :1:43 PM, 05/03/2012

40 năm sau chuyến thăm Trung Quốc của TT Mỹ Nixon, giữa 2 cường quốc vẫn tồn tại xung đột về hệ thống chính trị dù đã cùng đeo mặt nạ "chia sẻ lợi ích kinh tế".


Posted Image

Giáo sư Minxin Pei

(ĐVO) Giáo sư Minxin Pei, ĐH Claremont Mc Kenna (bang California, Mỹ) người chuyên theo dõi hoạt động đối ngoại Mỹ - Trung Quốc, đã có bài viết về mối quan hệ quốc tế này, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon tới Bắc Kinh (1972).

Dưới đây là nội dung bài viết:

Hiếm có sự kiện địa chính trị nào trong thế kỷ 20 có thể so sánh với chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Richard Nixon đến Trung Quốc cách đây 40 năm.
Ngày nay, "tuần lễ thay đổi thế giới" ấy, chủ yếu được nhớ đến như là canh bạc mang của tổng thống Mỹ Nixon nói riêng và nước Mỹ nói chung.

Xích lại gần nhau chỉ nhất thời
Nhiều học giả nhận định, chuyến thăm của Nixon mở đường cho sự tái xuất của "Vương quốc Trung Hoa" với vai trò và quyền lực mới.
Về an ninh, quan hệ gần gũi với Mỹ giúp Bắc Kinh chống lại Liên Xô mạnh mẽ. Bản thân Liên Xô, trước thời điểm diễn ra chuyến thăm, đã điều động 30-40 sư đoàn áp sát Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ đã đánh bại Liên Xô trong cuộc Chiế tranh Lạnh mà không có mấy sự đóng góp của Trung Quốc.
Còn trong nước, với những biến động, khủng hoảng chính trị từ Cách mạng Văn hóa (1966-1976), sự chia sẻ lợi ích kinh tế giữa Mỹ - Trung phải chờ thêm vài năm nữa, mãi đến khi Đặng Tiểu Bình trở lại nắm quyền và tiến hành cuộc cải cách kinh tế.
Điều này cũng lý giải tại sao, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên Đặng Tiểu Bình lại là tới Mỹ (tháng 12/1978, lúc này, Bắc Kinh và Washington đã chính thức bình thường hóa quan hệ).

Posted Image
Cuộc gặp gỡ giữa Mao Trạch Đông và Nixon đánh dấu sự gần lại của hai nước do cùng phải đối mặt với "đe dọa từ Liên Xô".

Ông biết rằng, cải cách kinh tế và mở cửa Trung Quốc không thể thành công mà không có đầu tư và công nghệ từ Mỹ. Trước chuyến thăm của Nixon, thị trường Mỹ đóng cửa với hàng hóa với Trung Quốc, các công ty Mỹ cũng bị cấm đầu tư vào Trung Quốc.
Nhìn vào đây thực trạng hiện nay sẽ thấy, rõ ràng Trung Quốc đã là người giành nhiều lợi ích hơn trong quan hệ này. Điều may mắn là, Mỹ không mất mát gì. Đây là trò chơi cùng thắng (win - win) về địa chính trị.

Số mệnh vẫn là xung đột

Đo đếm những lợi ích tương đối như vậy, người ta tự hỏi, tại sao giới thượng lưu chính trị và tinh hoa Trung Quốc vẫn luôn nuôi dưỡng tâm lý oán giận chống Mỹ cho đến ngày nay.
Cần xem xét, lý do cơ bản cho mối quan hệ lợi ích hai bên Mỹ - Trung Quốc. Nixon và Henry Kissinger, hai đại diện của chính sách thực dụng, bỏ qua bản chất của chế độ Trung Quốc tại thời điểm đó (1972), thay vì sự tin tưởng chiến lược lâu dài, đã tìm kiếm sự hợp tác do bản năng sống còn.
Nhưng ngày nay, cấu của mối quan hệ Mỹ - Trung đã thay đổi chóng mặt. Về an ninh, họ gần như đã trở thành đối thủ cạnh tranh, thay vì "bán đồng minh", nước này coi nước kia là một mối đe dọa tiềm năng và phải lập kế hoạch chiến lược quốc phòng quốc gia phù hợp.

Posted Image
Buổi gặp gỡ của Nixon và Chu Ân Lai không đủ để xóa đi xu hướng cạnh tranh về an ninh, chính trị do sự khác biệt về thể chế.

Đến nay, dù quan hệ kinh tế của hai nước đã phát triển, phụ thuộc lẫn nhau và hình thành cơ sở vững chắc nhất để tiếp tục hợp tác, nhưng ngay cả trong điều kiện này, những hạn chế cũng phát sinh. Đặc biệt trong các hình thức thâm hụt thương mại khổng lồ song phương, bắt nguồn từ chính sách tiền tệ Trung Quốc được định giá thấp và hạn chế về tiếp cận thị trường của các công ty Mỹ.
Cuộc xung đột ý thức hệ giữa dân chủ tự do kiểu Mỹ và thể chế tập quyền của Trung Quốc đã phát triển hơn trong những năm gần đây.
Những người ủng hộ quan điểm "Mỹ - Trung là đối tác" lập luận, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế sẽ thúc đẩy sự thay đổi chính trị và làm cho Nhà nước Trung Quốc "dân chủ" hơn. Tuy nhiê, lý thuyết "tiến hóa về tự do” lại không diễn ra như mong muốn. Kết quả, trong ba trụ cột của quan hệ Mỹ - Trung: an ninh, kinh tế và hệ tư tưởng, chỉ có trụ cột chia sẻ lợi ích kinh tế còn đứng vững. Trong lĩnh vực an ninh và hệ tư tưởng, quan hệ Mỹ - Trung đang thể hiện xu hướng cạnh tranh và đối kháng.
Chiến lược cạnh tranh có thể sẽ trở thành đặc tính chính của quan hệ Mỹ - Trung trong tương lai gần chừng nào Nhà nước Trung Quốc vẫn duy trì thể chế hiện tại. Quan điểm phương Tây cho rằng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nên than vãn sự "xói mòn lòng tin" vì chính họ biết rõ lý do. Ngoài ra, nền kinh tế tự do (ưu tiên cạnh tranh tự do) và chế độ ưu tiên sự kiểm soát của nhà nước về cơ bản mâu thuẫn với nhau, sẽ sớm đẩy tới sự va chạm tất yếu.
Vì vậy, dù vẫn chia sẻ lợi ích kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc, vẫn tồn tại rủi ro làm xói mòn quan hệ 2 nước, là hệ quả của việc đụng độ giữa hai hệ thống chính trị.

Mạnh Thắng (theo Diplomat)
===============================

Vì vậy, dù vẫn chia sẻ lợi ích kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc, vẫn tồn tại rủi ro làm xói mòn quan hệ 2 nước, là hệ quả của việc đụng độ giữa hai hệ thống chính trị.

Định mệnh thì đúng rồi! Nhưng phân tích nguyên nhân như trên thì chưa đúng hẳn. Đây là canh bạc cuối cùng để xác định ngôi bá chủ thế giới. Quy luật tất yếu - định mệnh - của sự hội nhập toàn cầu, khi nó thiếu một lý thuyết thống nhất.
  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1148 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ hai, 19/03/2012 | 08:26

Giả dối là con đường tắt, lên nhanh xuống nhanh...

Posted ImageGiả dối là con đường tắt, đi nhanh về cũng nhanh, nhưng cái kết không hậu, mà buồn tê tái ở chặng cuối cùng.

Tôi có hai người bạn chí cốt. Cả ba chúng tôi đều học cùng lớp từ hồi phổ thông, đến bây giờ tuổi ngoài 60 vẫn chơi với nhau mặc dù hơn 40 năm, cuộc đời ba chúng tôi mỗi người mỗi con đường mưu sinh khác biệt.
Hồi còn đi học cả ba đều thuộc lòng hai câu châm ngôn, và thường cùng nhau bàn luận. Một của Khổng tử, một của người Việt. Khổng tử nói, đại ý: "Thật thà quá dễ thành thô lỗ, khôn khéo quá dễ thành giả dối", dân gian Việt nói: "Thật thà là cha quỷ quái".
Nhưng con đường đời đã dẫn chúng tôi theo ba ngả. Về tôi, không nói, để bạn đọc tìm hiểu. Còn hai người kia. Cũng xin không nói tên, chỉ gọi là M và X.

Lên rất nhanh nhờ nói dối...
X nổi tiếng là khôn khéo, đến mức trong trường ai cũng phải ngạc nhiên về điểm số học tập của bạn ấy mặc dù sức học vừa phải, thậm chí dưới trung bình. Song, bạn ấy rất được lòng các thầy cô và ban giám hiệu nhà trường. Bạn ấy còn là lớp trưởng, phó bí thư Đoàn.
Còn M thì trái ngược, sức học rất khá, trong lớp đôi khi tranh luận bài vở với thầy. Có lần, tranh cãi về "bất bạo động" của Gandhi, M khiến cả lớp chúng tôi "mắt tròn mắt dẹt" còn thầy thì nổi cáu. Khi chiến tranh leo thang, chúng tôi học hết phổ thông vào trung cấp cơ khí, với phong trào vì miền Nam ruột thịt. Tôi và M tham gia đoàn bảo vệ các cung đường giao thông ở Vinh, Bến Thủy, Quảng Bình còn X được ra nước ngoài.
Chiến tranh chưa kết thúc. Tôi và M được quay trở về, tiếp tục học. M thi vào ĐH Mỹ thuật.
Kể từ năm 1985, là năm X về nước, tôi và M tốt nghiệp ĐH. Ba chúng tôi gặp lại nhau. Chúng tôi vẫn thân với nhau nhưng mỗi đứa một hoàn cảnh.
M không có việc làm. X lên tới vụ phó một vụ chức năng ở một bộ. X bảo tôi, chung tiền "lo lót" trưởng phòng nhân sự để chạy chỗ làm cho M: Thời thế thế thời. Các cậu biết đấy, không "chạy" tớ không thể có ngày nay. "Chạy" cũng là bỏ vốn đầu tư, rồi sẽ thu lại! X bảo.
Nhưng M không chịu. Anh bảo đó là sự giả dối đáng lên án nhất. Chọn con đường ấy là rất nhục. Thật tiếc cho anh, tiếc cho cả tờ báo mà X muốn gửi anh vào, vì anh là một họa sĩ có tài. Không chỉ vẽ tranh lớn mà các bức ký họa, minh họa, khả năng trình bày (desgined) của M là rất tuyệt...

Posted Image
Giả dối là con đường tắt, đi nhanh về cũng nhanh, nhưng cái kết không hậu. Ảnh minh họa

Cuộc sống tiếp tục thay đổi. X làm đến hiệu trưởng một trường lớn. Đi làm có xe hơi và lái xe công. Hai đứa con lớn lên trong sự bận bịu thăng tiến. Đứa nào đứa nấy rất sành điệu: Từ ăn mặc thời trang đến xe máy đời mới.
Còn M vẫn là họa sĩ tự do. Không là người bán nhiều như dòng tranh thị trường nhưng tranh của anh "bức nào ra bức ấy", người ta đã mua là mua ở mức cao. Nhờ đó anh mua được mảnh đất ở ngoại thành và tự thiết kế một nhà vườn rất đẹp. Đó là nơi các văn nghệ sĩ trong và ngoài nước thường chọn làm địa điểm viếng thăm.
Anh lấy vợ muộn, nhưng hai đứa con được học hành cẩn thận. Đi học chúng đi xe đạp. Nhưng sau đó đều tự kiếm được học bổng nước ngoài. Ấy là lúc chúng tôi chuẩn bị về hưu.

Xuống rất nhanh vì... sự thật được phơi bầy
X "chạy đủ các cửa" mong chuyển sang làm công tác Hội đoàn, nhưng trước đó bị đồng nghiệp tố cáo là dùng bằng giả. Thực tế X chưa tốt nghiệp ở nước ngoài, nên hạ cánh an toàn đã là một may mắn.
Về chuyên môn X không biết làm gì, nên bây giờ chỉ ở nhà với lương hưu, cuộc sống khá chật vật vì tất cả những gì kiếm được, dù rất nhiều thời đương chức đều dành lo "chạy" và thăm nuôi đứa con trong trại giam và bù đắp cho đứa con gái bị chồng bỏ.
M mỗi lần bán tranh lại rủ tôi đem tiền đến giúp X. Đấy là những lần tinh tế đầu tiên và duy nhất ở M, anh nói khéo để X không chạnh lòng khi nhận.
Cả ba chúng tôi không còn bàn đến ý nghĩa sâu sắc của những câu châm ngôn trên nhưng trong lòng thì ai cũng hiểu. Giả dối là con đường tắt, đi nhanh về cũng nhanh, nhưng cái kết không hậu, mà buồn tê tái ở chặng cuối cùng.

Ngày nay sự giả dối đạt đến độ tinh vi
Ai cũng nói ghét giả dối thích chân thật. Ai cũng biết chân thật là uy lực, là sức mạnh, là tín nhiệm nhưng để giữ cho mình cuộc sống tuân theo các chuẩn mực của chân thật là điều chẳng... dễ dàng gì.
Ai cũng thuộc truyện ngụ ngôn về thằng bé hai lần nói dối, hai lần giả vờ kêu bị sói cắn để mọi người chạy đến cứu. Lần bị sói cắn thật lại không ai đến cả vì không ai thích bị lừa như hai lần trước.
Song, người đời vẫn chọn giả dối, vì giả không thể", "Tôi không biết", "Tôi không hiểu", "nếu", "có thể", "đôi khi", "không dối lọt tai hơn, có lợi hơn, dễ dàng hơn...
Ngày nay sự giả dối đạt đến độ tinh vi.
Vào bệnh viện người ta đọc thấy các khẩu hiệu dán từ cổng, hành lang đến cửa phòng khám: "Ở đây không nhận phong bì, ai đưa người đó phải tự chịu trách nhiệm".
Nhưng thực tế, thì người bệnh không thể không đưa. Bệnh viện (bác sĩ y tá) đã tạo ra sự sợ hãi vô hình cho bệnh nhân: Không đưa sợ bị rủi ro, thờ ơ và lạnh nhạt...
Cũng như thế với một số người vi phạm giao thông và người xử lý vi phạm: Đôi bên cùng chấp nhận dối trá để cùng có lợi. Cũng như thế với một số tội phạm, người chạy án và quan tòa. Cũng như thế với các khẩu hiệu ở học đường, ở trên các phố xá, trong các hội nghị, trong các bản báo cáo...
Người ta "hô"nhiều, nói nhiều những điều đạo đức, những kế hoạch nhưng người ta không làm theo lời người ta "hô", người ta nói. Đó là sự giả dối không chỉ ở mức cá nhân nữa mà ở phạm vi cộng đồng. Cuối cùng là sự mất niềm tin xảy ra ở diện rộng.

Trần Thị Trường (nhà văn)
=============================
Nếu không vì chữ ký tác giả dưới bài viết thì tôi không đưa bài này lên đây để bình luận: Trần Thị Trường.
Nhưng Trường ạ! Khi chê người ta thiếu đạo đức, giả dối - tôi không nói Trường - thì xã hội cần có một chuẩn mực đạo đức để so sánh. Thí dụ: Một người bị coi là giả dối thì phải có chuẩn mực thế nào là thật thà. Một sự sa đọa thì phải có chuẩn mực về tính nghiêm túc. Trường hợp của Trường đưa ra - nhân vật X - là trường hợp điển hình có tính hư cấu, mà ngày xưa chúng ta hay gọi là "Trường phái hiện thực tự nhiên" , hay "hiện thực xã hội chủ nghĩa" trong phương pháp tạo hình nhân vật. Nhưng xã hội chứ không phải văn chương. Giả thiết con ông X không ăn chơi để đi tù và con gái ông ta không bị chồng bỏ mà là những doanh nghiệp thành đạt thì câu chuyện sẽ như thế nào?
Những vấn nạn hiện nay mà Trường đề cập lấy chuẩn mực gì để so sánh? Đạo đức truyền thống Đông phương cổ điển chăng? Hay lối sống phóng khoáng cá nhân của Tây phương? Trong xu thế hội nhập thì xã hội Phương Tây, những chuẩn mực của nó là kết quả của sự phát triển tự nhiên chịu tác động của luật pháp. Còn trong xã hội phương Đông thì do sức phát triển lấn át của kinh tế và khoa học kỹ thuật, thì nó có sự tranh chấp giữa hai chuẩn mực Đông Tây, trong đó chuẩn mực Tây phương theo cách hiểu của giới trẻ đang thắng thế. Những cậu ấm, cô chiêu hở hang, sộ hàng, sống thử..Thậm chí quay luôn cánh ân ái tung lên mạng, nhưng báo chí và truyền hình vẫn ca ngợi là "vượt qua chính mình" và tôn tạo như sao. Vậy so với thực tế này cái cô con gái bị chồng bỏ của ông X trong tác phẩm của Trường vẫn còn đáng trân trọng theo chuẩn mực Đông phương.
Bởi vậy khi giải quyết một vấn nạn xã hội, không đơn giản chỉ là trung thực hay giả dối. Mà nó gồm nhiều yếu tố tương tác phức tạp Trường ạ!
Thời trẻ con của chúng ta qua rồi!
==================
PS: Có lẽ phải nói thêm thế này: Ông X hạ cánh an toàn . Vậy căn cứ vào đâu để bảo ông ta giả dối? Phải chăng ông ta bị coi là giả dối vì đã "nói thật" với những người bạn của mình về những suy nghĩ của ông ta? Còn người đời - như tôi chẳng hạn - chẳng có cơ sở nào để biết ông ta giả dối cả.

  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1149 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ hai, 19/03/2012 | 11:04

Chiến lược biển Đông mới của Hoa Kỳ - Trung Quốc


Kỳ 1: Hợp tác trên cơ sở sức mạnh tại biển Đông

Các lợi ích của Mỹ trên biển Đông đang ngày càng gặp nguy hiểm, tuy nhiên việc bảo vệ các lợi ích này không cần phải – và không nên – dẫn tới xung đột với Trung Quốc. Chính vì vậy, quản lý các căng thẳng và thúc đẩy hợp tác tại biển Đông sẽ đòi hỏi sự chú ý lâu dài và thận trọng của Washington.
Tuần Việt Nam giới thiệu độc giả báo cáo mới nhất của giới chuyên gia cố vấn (think tanks) Mỹ về biển Đông, trong đó bàn về các nguy cơ đối với Mỹ, cũng như sự cần thiết của việc Mỹ phải theo đuổi chính sách vừa hợp tác vừa chế ngự. Tác giả cũng sẽ phân tích sự đổi hướng chiến lược của Trung Quốc tại biển Đông, trước khi nghiên cứu sâu hơn vào một số khía cạnh an ninh hàng hải, từ thực tế đến nguyên tắc. Cuối cùng, sẽ là phần kết luận với 5 khuyến nghị dành cho các nhà hoạch định chính sách của Mỹ.

Lợi ích của Mỹ ở biển Đông
Ý nghĩa của biển Đông vẫn đang bị đánh giá chưa đúng mức, và đang gây tranh cãi trước hết là giữa các chuyên gia trong khu vực, và rộng hơn là trong cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng biển Đông xứng đáng được ưu tiên chú ý hơn vì hệ thống dựa trên sức mạnh mà Mỹ nuôi dưỡng từ nhiều thập kỷ qua đang bị xét lại bởi một Trung Quốc đang nổi lên, và biển Đông sẽ là yếu tố chiến lược quyết định vai trò lãnh đạo của Mỹ trong tương lai ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Câu hỏi liệu Tây Thái Bình Dương có còn là một vùng biển chung ổn định, mở cửa và thịnh vượng, hay sẽ ngày càng trở thành một cái ổ tranh cãi phân cực với các đặc điểm giống như Chiến tranh Lạnh, sẽ được trả lời ngay tại vùng biển quan trọng này.
Biển Đông là nơi các quốc gia như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với chính sách "Phần Lan hóa" của Trung Quốc nếu hải quân và không quân Mỹ giảm bớt sự hiện diện. Nói tóm lại, biển Đông là nơi toàn cầu hóa và địa chính trị va chạm với nhau.
Nền kinh tế toàn cầu có một trung tâm địa lý, đó là ở biển Đông. Khoảng 90% hàng hóa thương mại được chuyển từ châu lục này sang châu lục khác bằng đường biển, trong đó 1/2 nếu xét về trọng tải (và 1/3 nếu xét về giá trị tiền tệ) đi qua biển Đông. Vùng biển này giống như cổ họng nối giữa Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nơi các hải trình hội tụ, chiếm 1,200 tỷ USD thương mại của Mỹ mỗi năm.
Địa chính trị là lực lượng đối chọi với toàn cầu hóa, chia rẽ thế giới thay vì thống nhất nó. Biển Đông là nơi một Trung Quốc đang nổi lên về quân sự ngày càng thách thức vai trò chế ngự của hải quân Mỹ - một xu hướng mà, nếu cứ để diễn ra như hiện nay, có thể làm thay đổi cán cân quyền lực tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới II và đe dọa các tuyến thông thương trên biển (SLOCs).
Trong vai trò là người bảo vệ chính cho tự do hàng hải toàn cầu, Mỹ có một lợi ích sâu sắc và vĩnh viễn trong việc đảm bảo các tuyến SLOCs được thông lưu đối với tất cả mọi người, không chỉ cho các hoạt động thương mại mà cả các hoạt động quân sự vì mục đích hòa bình, như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.
Mỹ có thể bảo vệ tốt nhất một trật tự hòa bình và thịnh vượng trong khu vực bằng cách đảm bảo khả năng tiếp cận với các SLOCs quan trọng. Nếu Mỹ không thể hiện sức mạnh đầy đủ tại biển Đông thì sẽ làm thay đổi các tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu các lực lượng của Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà lại trở nên ngày càng dễ bị tổn thương trước lực lượng quân đội đang được hiện đại hóa một cách vững chắc của Trung Quốc, thì các nước khác trong khu vực sẽ có ít lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo một Trung Quốc hùng mạnh.
Khi Trung Quốc tiếp tục nổi lên, Mỹ bị xem là suy yếu một cách tương đối, nếu không muốn nói là hoàn toàn. Rõ ràng, không có sự suy yếu tương đối nào đáng lo ngại hơn nguy cơ suy yếu sức mạnh hải quân của Mỹ trong tương lai. Lực lượng Hải quân Mỹ thời Reagan từng tự hào sở hữu gần 600 tàu chiến, con số này ngày nay chỉ còn 284. Dù mục đích của Hải Quân là mở rộng tới 313 tàu chiến, nhưng ngân sách quốc phòng hiện nay, cộng thêm việc giảm sản xuất và tăng chi phí, không giúp đạt mục đích đó. Hơn nữa, với việc cắt giảm ngân sách sắp tới, cũng như số tàu chiến sắp phải "về hưu" trong thập kỷ tới, Mỹ đang phải đối mặt với thực tế là lực lượng Hải Quân chỉ có trong tay 250 tàu chiến hoặc ít hơn.
Tất nhiên, số tàu chiến chỉ là một khía cạnh của sức mạnh hải quân. Các chiều kích khác bao gồm trọng tải, vũ khí và các năng lực trên boong, mức độ huấn luyện của thủy thủ và sự kết hợp các dịch vụ quân sự khác nhau. Và Mỹ đang đứng trước nguy cơ phải nhường vị thế bá chủ các khu vực này trong tương lai không xa. Tại Washington đang có cuộc thảo luận về việc xây dựng một đại liên minh giữa các lực lượng Hải Quân bao gồm tất cả các quốc gia để chia sẻ với Mỹ gánh nặng biển trong "buổi xế" của sức mạnh.
Vấn đề đặt ra là một con tàu không thể có mặt một lúc ở hai nơi, trong khi sự hiện diện của nó lại chính là thước đo sức mạnh hải quân. Tầm với của sức mạnh Mỹ cần phải bao phủ tất cả các lợi ích của họ trải dài trên toàn cầu. Và ít nơi nào cần nhiều sự chú ý của Lầu Năm Góc hơn biển Đông - nơi kết nối vựa tài nguyên năng lượng của Trung Đông với số dân cư ngày càng đông đúc của Đông Á.
Chúng tôi cho rằng vai trò chế ngự về quân sự của Mỹ tại biển Đông sẽ giảm bớt một cách tương đối khi các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc cải thiện sức mạnh hải quân và không quân của mình, tăng cường kết hợp các loại tên lửa đạn đạo chống hạm, máy bay chiến đấu thế hệ năm, tàu ngầm và tàu chiến nổi (bao gồm cả tàu sân bay) và các hệ thống mạng và ngoài không gian.
Đây là một hiện tượng tự nhiên mang tính lịch sử. Tuy nhiên, điều quan trọng là sự cân bằng mới được điều chỉnh về lực lượng nổi lên từ tình hình rất năng động đó liệu có thể bảo vệ giao thương trên biển thông qua các SLOCs an toàn và tự do hay không. Mục đích là hợp tác, nhưng hợp tác chỉ có thể phát triển tốt nhất thông qua sức mạnh. Các cam kết ngoại giao và kinh tế sẽ được thực hiện tốt hơn khi được hỗ trợ bởi một sức mạnh quân sự đáng tin cậy. Điều này sẽ đòi hỏi phải duy trì vai trò đứng đầu thông qua sức mạnh của Mỹ và sự hợp tác khu vực rộng lớn hơn, một khái niệm có thể được gọi là "hợp tác trên cơ sở sức mạnh".
Ý nghĩa địa chiến lược của biển Đông đối với Mỹ là quá rõ. Biển Đông là trung tâm nhân khẩu học của nền kinh tế thế kỷ 21, nơi 1.5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1.3 tỷ người Ấn Độ trao đổi các nguồn tài nguyên sống còn và các loại hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu.
Gần chục quốc gia nằm ven bờ vùng biển này - theo ngược chiều kim đồng hồ gồm Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippines - đang đòi chủ quyền đối với một phần đáy biển với trữ lượng dầu 7 tỷ thùng, cũng như khoảng 900,000 tỷ mét khối khí tự nhiên. Nếu các tính toán của Trung Quốc là chính xác, biển Đông đang chứa trong lòng nó khoảng 130 tỷ thùng dầu hoặc hơn thế. Điều đó có nghĩa là biển Đông chứa nhiều dầu mỏ hơn bất kỳ khu vực nào trên toàn cầu, trừ Arập Xêút - điều khiến một số quan sát viên Trung Quốc gọi biển Đông là "Vịnh Persic thứ hai".
Nếu thực sự có nhiều dầu như vậy ở biển Đông - và nếu Trung Quốc có thể kiểm soát chúng - thì nước này có thể sẽ giảm bớt được sự phụ thuộc của mình vào eo biển hẹp và dễ bị tấn công Malacca (cũng như eo biển Sunda hay eo biển Lombok), nơi vận chuyển rất nhiều năng lượng mà nước này phải nhập khẩu từ tận Trung Đông. Tập đoàn Dầu mỏ Hải ngoại quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã đầu tư 20 tỷ USD với niềm tin rằng một trữ lượng dầu mỏ lớn như vậy đang nằm dưới đáy biển Đông.
Nhìn bề ngoài, trong bối cảnh những thăng trầm của các yêu sách lãnh thổ chồng lấn, các tranh chấp pháp lý và căng thẳng quân sự, sự gia tăng đột ngột các hoạt động ngoại giao về việc ai sở hữu cái gì trên biển Đông dường như không đủ mạnh để làm tăng nguy cơ xung đột giữa các nước lớn trong trước mắt.
Thực vậy, nguồn năng lượng dồi dào nằm dưới đáy biển và việc các nước đều cần có tự do hàng hải đang thúc giục các cơ chế hợp tác đa phương mới để tăng cường ổn định và thúc đẩy thương mại. Tuy nhiên, biển Đông cũng đã trở thành "tâm chấn" của cái dường như là một cuộc chiến địa chính trị lâu dài, trong đó các sức mạnh chính trị cổ điển và chủ nghĩa dân tộc đang được tăng cường bên cạnh sự nổi lên của Trung Quốc.
Có một cuộc tranh luận địa chiến lược không thể tránh khỏi đang diễn ra tại biển Đông, và cuộc tranh luận này có thể được gói gọn lại trong một câu hỏi là: Liệu Mỹ sẽ duy trì một khả năng kiểm soát đáng tin cậy đối với các tuyến SLOCs qua biển Đông, hay các năng lực chống tiếp cận và ngăn chặn khu vực (anti-access, area-denial) của Trung Quốc sẽ trung lập hóa căn bản mối đe dọa này, từ đó thay đổi các giả định chiến lược trên toàn khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Trong khi các nước khác trong khu vực duy trì các yêu sách lãnh thổ đặc biệt của mình dựa trên các ranh giới biển, Trung Quốc lại đòi sở hữu phần giữa lòng rộng lớn của biển Đông. Trong tương lai không quá xa, sự nổi lên trở lại của Trung Quốc và kèm theo đó là khả năng không chỉ nhấn mạnh các đòi hỏi này mà còn hỗ trợ chúng bằng các năng lực quân sự, có thể đặt vấn đề về độ tin cậy của sức mạnh quân sự của Mỹ và các thập kỷ bá chủ khu vực của Mỹ: sự chế ngự từng giúp ngăn chặn tranh chấp leo thang thành chiến tranh.
Như vậy, biển Đông đại diện cho những cái chung toàn cầu thu nhỏ - không chỉ về lĩnh vực hải quân và không quân mà cả trong những lĩnh vực có tầm quan trọng như không gian mạng và ngoài không gian vũ trụ. Tại biển Đông, tất cả các lĩnh vực này đề đang có nguy cơ bị đe dọa bởi âm mưu của Trung Quốc, thông qua việc mua và huy động quân sự, nhằm ngăn chặn sự can thiệp của hải quân Mỹ.
Đây là một lý do giải thích tại sao 16 trong tổng số 18 quốc gia tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tháng 11/2011 đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của an ninh biển, với việc hầu hết các nước ủng hộ sự cần thiết phải thiết lập các cơ chế đa phương để giải quyết các yêu sách chồng lấn tại biển Đông.
Trong các thập kỷ sắp tới, thách thức đối với Mỹ sẽ là làm thế nào để bảo vệ các chuẩn mực lịch sử - trong đó tự do hàng hải là trên hết - trong khi vẫn thích nghi với sức mạnh và các hoạt động ngày càng gia tăng của các tác nhân trong khu vực. Duy trì các tài sản chung toàn cầu có liên quan đến tự do hàng hải sẽ đòi hỏi vai trò chủ đạo của Mỹ, đặc biệt là sự chế ngự của hải quân. Đồng thời, thích nghi và tăng cường hợp tác cũng sẽ cần thiết. Như vậy, Mỹ cần phải hợp tác, nhưng là sự hợp tác trên cơ sở một vị trí ưu việt. Đây sẽ là một cách để tăng cường hội nhập khu vực về ngoại giao và kinh tế trong khi cùng nhau bảo vệ tương quan quyền lực khi Trung Quốc nổi lên.
Cách tiếp cận này không hề tương phản với các lợi ích của Trung Quốc: Trên thực tế, không quốc gia châu Á nào được hưởng lợi từ hệ thống do Mỹ đứng đầu này nhiều như Trung Quốc. Tuy nhiên, vì sự nguyên trạng không thể tồn tại vĩnh viễn, mục đích của hợp tác dựa trên sức mạnh là xây dựng một nền tảng đa phương rộng hơn cho sự thay đổi không gây xáo chộn mà vẫn bảo vệ các nguyên tắc của trật tự các tuyến đường lưu thông trên biển.
Sự nổi lên của Trung Quốc về kinh tế và quân sự đang có nguy cơ gieo gió cho một cơn bão thay đổi tại khu vực biển Đông. Vì vậy, việc duy trì các yếu tố chìa khóa của nguyên trạng là rất quan trọng: bao gồm tự do giao thương, các tuyến SLOCs an toàn và an ninh, và sự độc lập - không bị hăm dọa - của tất cả các quốc gia duyên hải trong một trật tự quốc tế dựa trên các nguyên tắc.
Như đã nói ở trên, tính ưu việt không có nghĩa là chế ngự: nó có nghĩa là Mỹ giữ vai trò của mình là một cường quốc khu vực nhằm hướng dẫn các đồng minh và đối tác làm nhiều hơn trong khả năng của mình. Theo cách này, tương quan lực lượng có thể được duy trì, và như vậy gánh nặng trên vai Mỹ cũng được giảm bớt. Điều quan trọng, như Tổng thống Obama đã nhấn mạnh trong một chuyến thăm tới khu vực này hồi tháng 11/2011, là tất cả các nước đều hành xử theo cùng một luật chơi.
Các thỏa thuận an ninh đa phương sẽ một phần giúp kiểm soát các tham vọng của từng nước, từ đó cho phép các hoạt động ngoại giao và thương mại chiến thắng sự đối đầu quân sự công khai. Tranh luận về các vấn đề này là tranh luận về sự kiểm soát không gian địa lý.
Các tranh chấp lãnh thổ kéo dài liên quan đến từng vạt đất trên biển Đông mà người ta nghĩ là có thể bao quanh đó là những mỏ năng lượng khổng lồ. Vì các đòi hỏi này phức tạp đến mức không thể giải quyết, Mỹ đã tìm cách hội tụ khu vực xung quanh một nền tảng đa phương chung, xây dựng trên cơ sở các thỏa thuận song phương hiện đang định hình các quan hệ của Washington với khu vực này. Việc Mỹ phối hợp với các nước khác nếu tốt nhất có thể giữ Trung Quốc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, hoặc ít nhất cũng thay đổi căn bản cách hành xử của họ trên thực tế. Nhưng điều đó sẽ cần những nỗ lực lâu dài và kiên trì.
Dù sự chú ý ở cấp thượng đỉnh ngày càng tập trung vào châu Á và biển Đông, nhưng nhiều trọng tâm chiến lược của Washington vẫn là ở Trung Đông, nơi vẫn còn rất bất ổn sau một thập kỷ chiến tranh và xây dựng đất nước. Mùa hè năm 2010, sau loạt "khẩu đạn" gay gắt giữa Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, một chính khách Mỹ đã chất vấn các đồng nghiệp tại Bộ Ngoại giao rằng tại sao Mỹ phải đối đầu với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh một cơ chế đa phương nhằm tránh xung đột tại biển Đông. Ít nhất đối với vị chính khách này, Mỹ phải rút bớt khỏi khu vực Trung Đông đầy xung đột và hướng về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trung tâm của nền kinh tế thế giới.
Các tuyến SLOCs qua biển Đông nằm trong mối quan hệ toàn cầu hóa và địa chính trị. Hơn nữa, biển Đông có thể là một sân khấu cho sự chuyển giao quyền lực toàn cầu. Đây là nơi sự tìm kiếm tầm ảnh hưởng của một Trung Quốc đang nổi lên sẽ đặt vấn đề về quy chế siêu cường của Mỹ ở Đông Á. Lợi ích và thiện chí của Mỹ đang bị nghi vấn. Việc Trung Quốc hay Ấn Độ có thể cùng nổi lên một cách hòa bình hay không sẽ được quyết định bởi cách thức họ sử dụng sức mạnh hải quân ở hai bờ eo biển Malacca - tại biển Đông và vịnh Bengal.
Tương quan lực lượng mới giữa một Trung Quốc đang nổi và một nước Mỹ đang suy yếu tương đối sẽ được thử nghiệm tại biển Đông, vùng biển trải dài từ Trung Quốc ở phía Bắc, tới các đảo quốc Đông Nam Á ở phía Nam và tới quốc gia Đông Nam Á đất liền (Việt Nam) ở phía Tây. Giao thương được xác định về địa lý bởi vị trí của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các cụm dân cư - đây cũng là hai yếu tố cho thấy vai trò trung tâm về địa chính trị và địa kinh tế của biển Đông.
Giới chức Mỹ đã thảo luận sự cần thiết phải thay đổi chiến lược hướng tới châu Á từ một thập kỷ qua, kể từ Báo cáo Quốc phòng 4 năm/lần vào năm 2001. Chính quyền của ông Obama gần đây đã tuyên bố một đại chiến lược theo đó sẽ hướng vào trụ cột này - một sự tiến bộ logic của chính sách an ninh quốc gia lưỡng đảng ở Mỹ. Tuy nhiên, Washington không nên cho rằng Trung Quốc sẽ tìm cách tạo điều kiện cho một trụ cột Mỹ.
Mọi việc sẽ phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc coi việc Mỹ quan tâm hơn tới châu Á là một sự thay đổi hầu như chỉ nói suông thôi hay là một thay đổi chiến lược tiềm ẩn. Trong cả hai trường hợp, Mỹ đều phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Dù các quan hệ đồng minh của Mỹ với Hàn Quốc và Nhật Bản là rất mạnh mẽ và sẽ tiếp tục như vậy - kế thừa từ các cuộc chiến tranh giữa thế kỷ 20 - nhưng vị thế của Mỹ ở khu vực biển Đông sẽ ít được xác định bởi lịch sử.
(theo Tuanvietnam)


"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1150 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ hai, 19/03/2012 | 14:25

Chiến lược biển Đông mới của Hoa Kỳ - Trung Quốc


Kỳ 1: Hợp tác trên cơ sở sức mạnh tại biển Đông

Các lợi ích của Mỹ trên biển Đông đang ngày càng gặp nguy hiểm, tuy nhiên việc bảo vệ các lợi ích này không cần phải – và không nên – dẫn tới xung đột với Trung Quốc. Chính vì vậy, quản lý các căng thẳng và thúc đẩy hợp tác tại biển Đông sẽ đòi hỏi sự chú ý lâu dài và thận trọng của Washington.
Tuần Việt Nam giới thiệu độc giả báo cáo mới nhất của giới chuyên gia cố vấn (think tanks) Mỹ về biển Đông, trong đó bàn về các nguy cơ đối với Mỹ, cũng như sự cần thiết của việc Mỹ phải theo đuổi chính sách vừa hợp tác vừa chế ngự. Tác giả cũng sẽ phân tích sự đổi hướng chiến lược của Trung Quốc tại biển Đông, trước khi nghiên cứu sâu hơn vào một số khía cạnh an ninh hàng hải, từ thực tế đến nguyên tắc. Cuối cùng, sẽ là phần kết luận với 5 khuyến nghị dành cho các nhà hoạch định chính sách của Mỹ.

Lợi ích của Mỹ ở biển Đông
Ý nghĩa của biển Đông vẫn đang bị đánh giá chưa đúng mức, và đang gây tranh cãi trước hết là giữa các chuyên gia trong khu vực, và rộng hơn là trong cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng biển Đông xứng đáng được ưu tiên chú ý hơn vì hệ thống dựa trên sức mạnh mà Mỹ nuôi dưỡng từ nhiều thập kỷ qua đang bị xét lại bởi một Trung Quốc đang nổi lên, và biển Đông sẽ là yếu tố chiến lược quyết định vai trò lãnh đạo của Mỹ trong tương lai ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Câu hỏi liệu Tây Thái Bình Dương có còn là một vùng biển chung ổn định, mở cửa và thịnh vượng, hay sẽ ngày càng trở thành một cái ổ tranh cãi phân cực với các đặc điểm giống như Chiến tranh Lạnh, sẽ được trả lời ngay tại vùng biển quan trọng này.
Biển Đông là nơi các quốc gia như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với chính sách "Phần Lan hóa" của Trung Quốc nếu hải quân và không quân Mỹ giảm bớt sự hiện diện. Nói tóm lại, biển Đông là nơi toàn cầu hóa và địa chính trị va chạm với nhau.
Nền kinh tế toàn cầu có một trung tâm địa lý, đó là ở biển Đông. Khoảng 90% hàng hóa thương mại được chuyển từ châu lục này sang châu lục khác bằng đường biển, trong đó 1/2 nếu xét về trọng tải (và 1/3 nếu xét về giá trị tiền tệ) đi qua biển Đông. Vùng biển này giống như cổ họng nối giữa Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, nơi các hải trình hội tụ, chiếm 1,200 tỷ USD thương mại của Mỹ mỗi năm.
Địa chính trị là lực lượng đối chọi với toàn cầu hóa, chia rẽ thế giới thay vì thống nhất nó. Biển Đông là nơi một Trung Quốc đang nổi lên về quân sự ngày càng thách thức vai trò chế ngự của hải quân Mỹ - một xu hướng mà, nếu cứ để diễn ra như hiện nay, có thể làm thay đổi cán cân quyền lực tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới II và đe dọa các tuyến thông thương trên biển (SLOCs).
Trong vai trò là người bảo vệ chính cho tự do hàng hải toàn cầu, Mỹ có một lợi ích sâu sắc và vĩnh viễn trong việc đảm bảo các tuyến SLOCs được thông lưu đối với tất cả mọi người, không chỉ cho các hoạt động thương mại mà cả các hoạt động quân sự vì mục đích hòa bình, như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.
Mỹ có thể bảo vệ tốt nhất một trật tự hòa bình và thịnh vượng trong khu vực bằng cách đảm bảo khả năng tiếp cận với các SLOCs quan trọng. Nếu Mỹ không thể hiện sức mạnh đầy đủ tại biển Đông thì sẽ làm thay đổi các tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu các lực lượng của Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà lại trở nên ngày càng dễ bị tổn thương trước lực lượng quân đội đang được hiện đại hóa một cách vững chắc của Trung Quốc, thì các nước khác trong khu vực sẽ có ít lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo một Trung Quốc hùng mạnh.
Khi Trung Quốc tiếp tục nổi lên, Mỹ bị xem là suy yếu một cách tương đối, nếu không muốn nói là hoàn toàn. Rõ ràng, không có sự suy yếu tương đối nào đáng lo ngại hơn nguy cơ suy yếu sức mạnh hải quân của Mỹ trong tương lai. Lực lượng Hải quân Mỹ thời Reagan từng tự hào sở hữu gần 600 tàu chiến, con số này ngày nay chỉ còn 284. Dù mục đích của Hải Quân là mở rộng tới 313 tàu chiến, nhưng ngân sách quốc phòng hiện nay, cộng thêm việc giảm sản xuất và tăng chi phí, không giúp đạt mục đích đó. Hơn nữa, với việc cắt giảm ngân sách sắp tới, cũng như số tàu chiến sắp phải "về hưu" trong thập kỷ tới, Mỹ đang phải đối mặt với thực tế là lực lượng Hải Quân chỉ có trong tay 250 tàu chiến hoặc ít hơn.
Tất nhiên, số tàu chiến chỉ là một khía cạnh của sức mạnh hải quân. Các chiều kích khác bao gồm trọng tải, vũ khí và các năng lực trên boong, mức độ huấn luyện của thủy thủ và sự kết hợp các dịch vụ quân sự khác nhau. Và Mỹ đang đứng trước nguy cơ phải nhường vị thế bá chủ các khu vực này trong tương lai không xa. Tại Washington đang có cuộc thảo luận về việc xây dựng một đại liên minh giữa các lực lượng Hải Quân bao gồm tất cả các quốc gia để chia sẻ với Mỹ gánh nặng biển trong "buổi xế" của sức mạnh.
Vấn đề đặt ra là một con tàu không thể có mặt một lúc ở hai nơi, trong khi sự hiện diện của nó lại chính là thước đo sức mạnh hải quân. Tầm với của sức mạnh Mỹ cần phải bao phủ tất cả các lợi ích của họ trải dài trên toàn cầu. Và ít nơi nào cần nhiều sự chú ý của Lầu Năm Góc hơn biển Đông - nơi kết nối vựa tài nguyên năng lượng của Trung Đông với số dân cư ngày càng đông đúc của Đông Á.
Chúng tôi cho rằng vai trò chế ngự về quân sự của Mỹ tại biển Đông sẽ giảm bớt một cách tương đối khi các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc cải thiện sức mạnh hải quân và không quân của mình, tăng cường kết hợp các loại tên lửa đạn đạo chống hạm, máy bay chiến đấu thế hệ năm, tàu ngầm và tàu chiến nổi (bao gồm cả tàu sân bay) và các hệ thống mạng và ngoài không gian.
Đây là một hiện tượng tự nhiên mang tính lịch sử. Tuy nhiên, điều quan trọng là sự cân bằng mới được điều chỉnh về lực lượng nổi lên từ tình hình rất năng động đó liệu có thể bảo vệ giao thương trên biển thông qua các SLOCs an toàn và tự do hay không. Mục đích là hợp tác, nhưng hợp tác chỉ có thể phát triển tốt nhất thông qua sức mạnh. Các cam kết ngoại giao và kinh tế sẽ được thực hiện tốt hơn khi được hỗ trợ bởi một sức mạnh quân sự đáng tin cậy. Điều này sẽ đòi hỏi phải duy trì vai trò đứng đầu thông qua sức mạnh của Mỹ và sự hợp tác khu vực rộng lớn hơn, một khái niệm có thể được gọi là "hợp tác trên cơ sở sức mạnh".
Ý nghĩa địa chiến lược của biển Đông đối với Mỹ là quá rõ. Biển Đông là trung tâm nhân khẩu học của nền kinh tế thế kỷ 21, nơi 1.5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1.3 tỷ người Ấn Độ trao đổi các nguồn tài nguyên sống còn và các loại hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu.
Gần chục quốc gia nằm ven bờ vùng biển này - theo ngược chiều kim đồng hồ gồm Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippines - đang đòi chủ quyền đối với một phần đáy biển với trữ lượng dầu 7 tỷ thùng, cũng như khoảng 900,000 tỷ mét khối khí tự nhiên. Nếu các tính toán của Trung Quốc là chính xác, biển Đông đang chứa trong lòng nó khoảng 130 tỷ thùng dầu hoặc hơn thế. Điều đó có nghĩa là biển Đông chứa nhiều dầu mỏ hơn bất kỳ khu vực nào trên toàn cầu, trừ Arập Xêút - điều khiến một số quan sát viên Trung Quốc gọi biển Đông là "Vịnh Persic thứ hai".
Nếu thực sự có nhiều dầu như vậy ở biển Đông - và nếu Trung Quốc có thể kiểm soát chúng - thì nước này có thể sẽ giảm bớt được sự phụ thuộc của mình vào eo biển hẹp và dễ bị tấn công Malacca (cũng như eo biển Sunda hay eo biển Lombok), nơi vận chuyển rất nhiều năng lượng mà nước này phải nhập khẩu từ tận Trung Đông. Tập đoàn Dầu mỏ Hải ngoại quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã đầu tư 20 tỷ USD với niềm tin rằng một trữ lượng dầu mỏ lớn như vậy đang nằm dưới đáy biển Đông.
Nhìn bề ngoài, trong bối cảnh những thăng trầm của các yêu sách lãnh thổ chồng lấn, các tranh chấp pháp lý và căng thẳng quân sự, sự gia tăng đột ngột các hoạt động ngoại giao về việc ai sở hữu cái gì trên biển Đông dường như không đủ mạnh để làm tăng nguy cơ xung đột giữa các nước lớn trong trước mắt.
Thực vậy, nguồn năng lượng dồi dào nằm dưới đáy biển và việc các nước đều cần có tự do hàng hải đang thúc giục các cơ chế hợp tác đa phương mới để tăng cường ổn định và thúc đẩy thương mại. Tuy nhiên, biển Đông cũng đã trở thành "tâm chấn" của cái dường như là một cuộc chiến địa chính trị lâu dài, trong đó các sức mạnh chính trị cổ điển và chủ nghĩa dân tộc đang được tăng cường bên cạnh sự nổi lên của Trung Quốc.
Có một cuộc tranh luận địa chiến lược không thể tránh khỏi đang diễn ra tại biển Đông, và cuộc tranh luận này có thể được gói gọn lại trong một câu hỏi là: Liệu Mỹ sẽ duy trì một khả năng kiểm soát đáng tin cậy đối với các tuyến SLOCs qua biển Đông, hay các năng lực chống tiếp cận và ngăn chặn khu vực (anti-access, area-denial) của Trung Quốc sẽ trung lập hóa căn bản mối đe dọa này, từ đó thay đổi các giả định chiến lược trên toàn khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Trong khi các nước khác trong khu vực duy trì các yêu sách lãnh thổ đặc biệt của mình dựa trên các ranh giới biển, Trung Quốc lại đòi sở hữu phần giữa lòng rộng lớn của biển Đông. Trong tương lai không quá xa, sự nổi lên trở lại của Trung Quốc và kèm theo đó là khả năng không chỉ nhấn mạnh các đòi hỏi này mà còn hỗ trợ chúng bằng các năng lực quân sự, có thể đặt vấn đề về độ tin cậy của sức mạnh quân sự của Mỹ và các thập kỷ bá chủ khu vực của Mỹ: sự chế ngự từng giúp ngăn chặn tranh chấp leo thang thành chiến tranh.
Như vậy, biển Đông đại diện cho những cái chung toàn cầu thu nhỏ - không chỉ về lĩnh vực hải quân và không quân mà cả trong những lĩnh vực có tầm quan trọng như không gian mạng và ngoài không gian vũ trụ. Tại biển Đông, tất cả các lĩnh vực này đề đang có nguy cơ bị đe dọa bởi âm mưu của Trung Quốc, thông qua việc mua và huy động quân sự, nhằm ngăn chặn sự can thiệp của hải quân Mỹ.
Đây là một lý do giải thích tại sao 16 trong tổng số 18 quốc gia tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tháng 11/2011 đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của an ninh biển, với việc hầu hết các nước ủng hộ sự cần thiết phải thiết lập các cơ chế đa phương để giải quyết các yêu sách chồng lấn tại biển Đông.
Trong các thập kỷ sắp tới, thách thức đối với Mỹ sẽ là làm thế nào để bảo vệ các chuẩn mực lịch sử - trong đó tự do hàng hải là trên hết - trong khi vẫn thích nghi với sức mạnh và các hoạt động ngày càng gia tăng của các tác nhân trong khu vực. Duy trì các tài sản chung toàn cầu có liên quan đến tự do hàng hải sẽ đòi hỏi vai trò chủ đạo của Mỹ, đặc biệt là sự chế ngự của hải quân. Đồng thời, thích nghi và tăng cường hợp tác cũng sẽ cần thiết. Như vậy, Mỹ cần phải hợp tác, nhưng là sự hợp tác trên cơ sở một vị trí ưu việt. Đây sẽ là một cách để tăng cường hội nhập khu vực về ngoại giao và kinh tế trong khi cùng nhau bảo vệ tương quan quyền lực khi Trung Quốc nổi lên.
Cách tiếp cận này không hề tương phản với các lợi ích của Trung Quốc: Trên thực tế, không quốc gia châu Á nào được hưởng lợi từ hệ thống do Mỹ đứng đầu này nhiều như Trung Quốc. Tuy nhiên, vì sự nguyên trạng không thể tồn tại vĩnh viễn, mục đích của hợp tác dựa trên sức mạnh là xây dựng một nền tảng đa phương rộng hơn cho sự thay đổi không gây xáo chộn mà vẫn bảo vệ các nguyên tắc của trật tự các tuyến đường lưu thông trên biển.
Sự nổi lên của Trung Quốc về kinh tế và quân sự đang có nguy cơ gieo gió cho một cơn bão thay đổi tại khu vực biển Đông. Vì vậy, việc duy trì các yếu tố chìa khóa của nguyên trạng là rất quan trọng: bao gồm tự do giao thương, các tuyến SLOCs an toàn và an ninh, và sự độc lập - không bị hăm dọa - của tất cả các quốc gia duyên hải trong một trật tự quốc tế dựa trên các nguyên tắc.
Như đã nói ở trên, tính ưu việt không có nghĩa là chế ngự: nó có nghĩa là Mỹ giữ vai trò của mình là một cường quốc khu vực nhằm hướng dẫn các đồng minh và đối tác làm nhiều hơn trong khả năng của mình. Theo cách này, tương quan lực lượng có thể được duy trì, và như vậy gánh nặng trên vai Mỹ cũng được giảm bớt. Điều quan trọng, như Tổng thống Obama đã nhấn mạnh trong một chuyến thăm tới khu vực này hồi tháng 11/2011, là tất cả các nước đều hành xử theo cùng một luật chơi.
Các thỏa thuận an ninh đa phương sẽ một phần giúp kiểm soát các tham vọng của từng nước, từ đó cho phép các hoạt động ngoại giao và thương mại chiến thắng sự đối đầu quân sự công khai. Tranh luận về các vấn đề này là tranh luận về sự kiểm soát không gian địa lý.
Các tranh chấp lãnh thổ kéo dài liên quan đến từng vạt đất trên biển Đông mà người ta nghĩ là có thể bao quanh đó là những mỏ năng lượng khổng lồ. Vì các đòi hỏi này phức tạp đến mức không thể giải quyết, Mỹ đã tìm cách hội tụ khu vực xung quanh một nền tảng đa phương chung, xây dựng trên cơ sở các thỏa thuận song phương hiện đang định hình các quan hệ của Washington với khu vực này. Việc Mỹ phối hợp với các nước khác nếu tốt nhất có thể giữ Trung Quốc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, hoặc ít nhất cũng thay đổi căn bản cách hành xử của họ trên thực tế. Nhưng điều đó sẽ cần những nỗ lực lâu dài và kiên trì.
Dù sự chú ý ở cấp thượng đỉnh ngày càng tập trung vào châu Á và biển Đông, nhưng nhiều trọng tâm chiến lược của Washington vẫn là ở Trung Đông, nơi vẫn còn rất bất ổn sau một thập kỷ chiến tranh và xây dựng đất nước. Mùa hè năm 2010, sau loạt "khẩu đạn" gay gắt giữa Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton với Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tại Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, một chính khách Mỹ đã chất vấn các đồng nghiệp tại Bộ Ngoại giao rằng tại sao Mỹ phải đối đầu với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh một cơ chế đa phương nhằm tránh xung đột tại biển Đông. Ít nhất đối với vị chính khách này, Mỹ phải rút bớt khỏi khu vực Trung Đông đầy xung đột và hướng về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trung tâm của nền kinh tế thế giới.
Các tuyến SLOCs qua biển Đông nằm trong mối quan hệ toàn cầu hóa và địa chính trị. Hơn nữa, biển Đông có thể là một sân khấu cho sự chuyển giao quyền lực toàn cầu. Đây là nơi sự tìm kiếm tầm ảnh hưởng của một Trung Quốc đang nổi lên sẽ đặt vấn đề về quy chế siêu cường của Mỹ ở Đông Á. Lợi ích và thiện chí của Mỹ đang bị nghi vấn. Việc Trung Quốc hay Ấn Độ có thể cùng nổi lên một cách hòa bình hay không sẽ được quyết định bởi cách thức họ sử dụng sức mạnh hải quân ở hai bờ eo biển Malacca - tại biển Đông và vịnh Bengal.
Tương quan lực lượng mới giữa một Trung Quốc đang nổi và một nước Mỹ đang suy yếu tương đối sẽ được thử nghiệm tại biển Đông, vùng biển trải dài từ Trung Quốc ở phía Bắc, tới các đảo quốc Đông Nam Á ở phía Nam và tới quốc gia Đông Nam Á đất liền (Việt Nam) ở phía Tây. Giao thương được xác định về địa lý bởi vị trí của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các cụm dân cư - đây cũng là hai yếu tố cho thấy vai trò trung tâm về địa chính trị và địa kinh tế của biển Đông.
Giới chức Mỹ đã thảo luận sự cần thiết phải thay đổi chiến lược hướng tới châu Á từ một thập kỷ qua, kể từ Báo cáo Quốc phòng 4 năm/lần vào năm 2001. Chính quyền của ông Obama gần đây đã tuyên bố một đại chiến lược theo đó sẽ hướng vào trụ cột này - một sự tiến bộ logic của chính sách an ninh quốc gia lưỡng đảng ở Mỹ. Tuy nhiên, Washington không nên cho rằng Trung Quốc sẽ tìm cách tạo điều kiện cho một trụ cột Mỹ.
Mọi việc sẽ phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc coi việc Mỹ quan tâm hơn tới châu Á là một sự thay đổi hầu như chỉ nói suông thôi hay là một thay đổi chiến lược tiềm ẩn. Trong cả hai trường hợp, Mỹ đều phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Dù các quan hệ đồng minh của Mỹ với Hàn Quốc và Nhật Bản là rất mạnh mẽ và sẽ tiếp tục như vậy - kế thừa từ các cuộc chiến tranh giữa thế kỷ 20 - nhưng vị thế của Mỹ ở khu vực biển Đông sẽ ít được xác định bởi lịch sử.
(theo Tuanvietnam)



======================

Các quí vị chính khứa của những cường quốc có quyền lợi cốt lõi và quyền lợi căn bản trên biển Đông , hãy lắng nghe thảo dân Thiên Sứ bàn đây:
Các quí vị hãy long trong công nhận Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, mọi chuyện sẽ ổn cả. Quí vị hãy nghĩ kỹ xem tôi nói có phải không? Phải thì làm liền cho đỡ phải họp hành lôi thôi, tốn tiền thuế của nhân dân. Tiền họp đó để đi nhậu. Nghe nói bia tươi nấu kiểu Đức cũng ngon lắm!
Còn các quý vị nào muốn khai thác nguồn tài nguyên ở biển Đông thì cứ bỏ tiền ra đấu thầu. Rẻ mà! Còn hơn là bỏ tiền ra mua vũ khí dộng vào đầu nhau để bảo vệ cái cốt lõi và cái căn bản.
Posted Image
  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1151 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ hai, 19/03/2012 | 18:27

Ngẫm ngợi cuối tuần: "Thối án" cháy xe?
Chủ Nhật, 18/03/2012 12:25
Sau những vụ cháy xe: Chủ xe lãnh đủ
Cháy xe khách chất lượng cao, 28 người thoát chết
Thủ tướng yêu cầu 4 bộ truy tìm nguyên nhân cháy xe

(TT&VH) - Mấy chục chiếc xe, cả xe máy lẫn ô tô, bỗng dưng bốc cháy, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng và gây hoang mang lo lắng cho toàn xã hội suốt từ cuối năm 2011 đến nay, có thể gọi đó là một "vụ án lớn", dù không rõ là do con người gây ra hay do hiện tượng ngẫu nhiên. Nhưng tiếc thay "vụ án" này lại đang có dấu hiệu bế tắc khi truy tìm nguyên nhân, hiện tượng mà dân tình thường gọi là "thối án".

Với kết quả kiểm nghiệm 26 mẫu xăng, dầu diezen có liên quan đến các vụ cháy xe trên cả nước trong thời gian từ ngày 27/12/2011 - 9/3/2012, Cục Quản lý Chất lượng Sản phẩm - Hàng hóa, Bộ KH&CN đã trả lại sự trong sạch cho xăng, dầu, khi đa số các ý kiến trong thời gian qua đều đổ riệt cho "xăng bẩn". Nhưng giờ đây, những kiểm nghiệm khoa học cho thấy, các mẫu xăng lấy từ xe cháy, cây xăng bán cho xe bị cháy và khu vực lân cận đều đạt tiêu chuẩn. Điều này cho thấy các nghi ngờ trước đây về xăng chứa phụ gia, chất lượng kém gây cháy xe hoàn toàn có thể bị bác bỏ. Thậm chí cứ theo kết quả kiểm nghiệm thì các mẫu xăng bị nghi ngờ này còn… ít có khả năng gây cháy nhất. Chứng cớ là khi xét nghiệm mới lòi ra 100% mẫu có chứa hàm lượng nước. Mặc dù hiện tượng có nước trong xăng được cho là bình thường bởi những nguyên nhân vật lý tự nhiên, nhưng dù có bất thường chăng nữa thì có thêm nước chỉ rõ ràng còn có tác dụng… dập lửa!
Vậy cháy xe không phải tại xăng, dầu "bẩn" thì tại cái gì? Câu hỏi đó lại rơi vào bế tắc khiến công chúng vô cùng thất vọng.
Lật lại các vụ cháy xe suốt từ cuối năm 2011 đến nay, công chúng đi hết từ sự chưng hửng này đến sự chưng hửng khác. Ban đầu một vài hãng xe lao đao vì bị đổ riệt rằng xe cháy do chất lượng xe không tốt. Nhưng đến khi xe của hãng nào cũng có thể cháy, thì người ta lại đổ riệt cho xăng. Chưa hết, rất ngẫu nhiên, các vụ cháy xe xuất hiện ngay sau vụ án nổ xe máy bí ẩn ở Bắc Ninh, và bỗng nhiên lắng xuống sau khi hung thủ của vụ án trên bị bắt. Sự ngẫu nhiên đó khiến người nghi ngờ cháy xe là do… người đốt. Nhưng sự liên hệ này lập tức đi vào ngõ cụt vì sau một thời gian tạm lắng, dù hung thủ đã ở trong trại tạm giam nhưng nạn cháy xe vẫn tái diễn. Đây đó lại xảy ra những cháy xe có những dấu hiệu chứng tỏ có người cố ý đốt nhau nhằm triệt hạ nhau… Tất cả những nghi ngờ đó rồi cũng "chìm xuồng".
Biết bao nhiêu bài phân tích đổ tội cho rằng, nhưng giờ đây mặc dù xăng đã được thanh minh bằng 26 kết quả kiểm nghiệm, nhưng comment dưới bài viết "Loại bỏ nguyên nhân gây cháy xe do xăng" trên bee.net.vn, một độc giả của trang này vẫn cho rằng: "Xăng pha axeton gây cháy xe đã được phát hiện hiện từ năm 2006 nhập từ nước ngoài về làm chảy doăng cao su gây thoát khí axeton có khả năng cháy cao, bay hơi như khí gas. Với nồng độ 0,1% đã làm hỏng doăng cao su rồi còn hiện nay xăng pha tỷ lệ 7% axeton nên hỏng doăng rất nhanh". Độc giả này còn bày tỏ nghi ngờ rằng do axeton bay hơi nên chỉ cần mở ra một tý là kết quả xét nghiệm sẽ không phản ánh chính xác...".
Ôi chao! Không biết đổ cho cái gì thì đâm ra nghi ngờ tất cả! Chớ trách công chúng nghi ngờ không có căn cứ, vì chiếc xe là tài sản nhưng cũng gắn với sinh mệnh của hàng triệu người. Làm sao có thể yên tâm được khi xe có thể bỗng dưng bốc cháy mà chẳng phát hiện ra lý do gì cả. Chẳng lẽ lại như trong câu chuyện dân gian "Trời sinh ra thế": cứ cái gì không biết thì đổ tại... trời!
Danh sách các vụ cháy xe vẫn cứ dài ra. Dần dà, người ta cũng quen với chuyện một chiếc xe bỗng dưng bốc cháy và coi đó như là một chuyện bình thường, trừ phi nó liên quan đến chiếc xe của mình. Và "vụ án" cứ "thối" dần.
Trần Vũ

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1152 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ hai, 19/03/2012 | 21:37

'Khắc phục ngay vết nứt thủy điện để tránh gây thảm họa'
Thứ hai, 19/3/2012, 17:38 GMT+7

Giáo sư Cao Đình Triều, chuyên gia Viện Vật lý Địa Cầu cho rằng thủy điện sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh; cần khẩn cấp khắc phục ngay vết nứt ở thân đập chính để tránh gây thảm họa cho hạ lưu.
Thủy điện sông Tranh 2 xuất hiện nhiều vết nứt

Trao đổi với VnExpress.net, Giáo sư Cao Đình Triều cho rằng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) xuất hiện đến 4 điểm nứt, rò rỉ nước từ lòng hồ xuyên qua đập là đáng lo ngại. Các cơ quan chuyên môn cùng đơn vị chủ đầu tư cần khẩn cấp vào cuộc kiểm tra các vết nứt, rò rỉ này để tránh gây thảm họa cho vùng hạ lưu.
Giáo sư Triều nhận định, thân đập thủy điện Sông Tranh 2 nằm trên đới đứt gãy đang hoạt động mạnh nên gây ra những vết nứt, rò rỉ. Do vậy, trước mắt, các cơ quan chuyên môn cần sớm thăm dò, đo đạc mức độ nguy hiểm của vết nứt để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.
"Nếu để lâu ngày, vết nứt lan rộng, thân đập bị đứt gãy thì hàng trăm triệu mét khối treo ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu ào xuống thì hiểm họa thật khó lường", giáo sư Triều lo ngại.

Posted Image
Khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 chứa khoảng 730 triệu m3 nước nằm ở độ cao 100 mét so với vùng hạ lưu. Ảnh: Trí Tín.

Hiện 4 điểm nứt ở phần thân trái đập rò nước khá mạnh từ khu vực lòng hồ chảy thấm qua thân đập tuôn xuống hệt như khe suối. Theo ông Trần Văn Hải, Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện Sông Tranh 2, những vết nứt trên đều ở vị trí các khe nhiệt của khối bêtông bờ đập. Ông Hải cho rằng, hiện tượng thấm nước qua khe nhiệt bị nứt nằm trong tầm kiểm soát, rò thấm nước với cường độ 30 lít một giây xuất hiện từ tháng 11/2011 trong phạm vi yêu cầu thiết kế, không thể gây nguy hiểm gì.
Tuy nhiên, chiều 19/3 ông Nguyễn Kim Sơn, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Bắc Trà My phản đối: "Lãnh đạo Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 bảo rằng vết nứt trong mức cho phép thiết kế, không gây nguy hiểm gì là vô lý. Nước từ khu vực lòng hồ rò rỉ qua thân đập bê tông cốt thép tuôn chảy mạnh như dòng suối mà nói bình thường thì thật đáng ngờ. Tôi đã điện thoại yêu cầu Ban quản lý báo cáo bằng văn bản, thế nhưng đến chiều nay vẫn chưa thấy trả lời".

Posted Image
Thân đập chính công trình thủy điện Sông Tranh 2, nơi xuất hiện 4 vết nứt, rò rỉ nước. Ảnh: Trí Tín.

Theo ông Sơn, nếu phía Ban quản lý thủy điện Sông Tranh 2 cho rằng đã phát hiện vết nứt, rò rỉ trên thân đập vào cuối năm ngoái nhưng đến nay vẫn chưa khắc phục là thiếu tinh thần trách nhiệm. Ban quản lý khẳng định vết nứt trên không gây nguy hiểm thì tại sao không gửi văn bản đến chính quyền địa phương thông báo rộng rãi cho người dân biết để yên tâm.
"Nếu trong vòng hai ngày tới, Ban quản lý công trình thủy điện Sông Tranh 2 không báo cáo về việc đập bị rò rỉ và giải pháp khắc phục, chính quyền huyện sẽ báo cáo tỉnh can thiệp", ông Phó Bí thư thường trực huyện ủy Bắc Trà My nhấn mạnh.
Giữa năm ngoái, lòng đất Bắc Trà My phát ra nhiều tiếng nổ bất thường làm rung chuyển nhà cửa đồ đạc khiến người dân lo lắng. Tháng 12/2011, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam kết luận nguyên nhân tiếng nổ trong lòng đất là động đất kích thích do hoạt động hồ chứa tích nước công trình thủy điện Sông Tranh 2. Các chuyên gia cũng đã đề xuất Bộ Khoa học công nghệ giúp địa phương này lắp đặt trạm quan trắc động đất phòng ngừa nguy hiểm cho người dân, thế nhưng đến nay vẫn chưa có sự hỗ trợ nào.
Từ sau tết Nhâm Thìn đến nay, lòng đất ở vùng hạ lưu công trình thủy điện sông Tranh 2 vẫn còn xuất hiện những đợt dư chấn gây rung chuyển mặt đất nhưng nhẹ hơn so với trước.

Sáng 19/3, UBND huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) cũng đã lập đoàn kiểm tra vết nứt, rò rỉ ở thân đập chính thủy điện Sông Tranh 2. Sau khi kiểm tra thực tế, ông Đặng Phong, Chủ tịch UBND huyện xác nhận tình trạng thân đập chính của công trình thủy điện Sông Tranh 2 xuất hiện 4 điểm nứt, rò rỉ. Nước từ khu vực lòng hồ chứa thẩm thấu qua thân đập chảy tràn từ cao trình 100 mét xuống thấp theo dòng với cường độ mạnh
Chiều 19/3, huyện Bắc Trà My đã gửi văn bản báo cáo vụ việc lên UBND tỉnh Quảng Nam; đồng thời đề xuất tỉnh kiến nghị Bộ, ngành chức năng sớm kiểm tra, khắc phục các vết nứt, rò rỉ trên thân đập chính thủy điện Sông Tranh 2 tránh nguy hiểm cho người dân.


Trí Tín

=====================
Lần này thì ông Cao Đình Triều nói đúng. Tôi còn nhớ năm ngoái các nhà địa chất Việt Nam còn cho rằng: Việt Nam có thể xảy ra động đất đến 8 độ richter - nhưng không cho biết thời điểm xảy ra động đất. Nhưng với cái đập đã nứt kiểu này chỉ cần từ 5, 5 độ richter trở lên là hỏng rồi.
Thật phiền! Nếu chẳng may cái đập này bị rung lắc với 5,5 độ richter , mà năm ngoái điều này đã xảy ra ở đây.

  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1153 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ ba, 20/03/2012 | 16:11

Kỳ 2: Chiến lược biển Đông mới của Trung Quốc

Trung Quốc bị thúc ép tiến xa hơn về phía biển Đông vì lý do địa lý, lịch sử, tài nguyên và một ham muốn rõ ràng là được kiểm soát các tuyến SLOCs quan trọng đối với chính họ - các hải trình tại eo biển hẹp Malacca hay Lombok, Makassar và Sunda đều đang ngày càng dễ bị tổn thương.


Trên thực tế, nếu eo biển Malacca bị đóng dù chỉ một ngày, sự gián đoạn nguồn cung năng lượng sẽ có thể gây rối loạn xã hội tại Trung Quốc, theo một quan chức có tiếng nói trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA). Tính dễ bị tổn thương của eo biển này khiến Trung Quốc quan tâm tới các hải trình thay thế để vận chuyển năng lượng và các hàng hóa khác.

Sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc, đến mức một lực lượng hải quân phòng thủ biển xa sắp ra đời, đang đặt ra nguy cơ bất chắc về trật tự tương lai ở Đông Á. Chiến lược của Mỹ có từ chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là trong chiến tranh Lạnh, tập trung vào đề phòng bất cứ cường quốc đơn lẻ nào đứng lên chế ngự đại lục Á - Âu. Tuy nhiên, khi sức mạnh kinh tế và quân sự chuyển từ phía Tây sang cực Đông của Á - Âu - bằng chứng là cuộc khủng hoảng đồng euro và sự thu hẹp ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu - một Trung Quốc mạnh hơn sẽ chắc chắn tìm cách thể hiện chủ nghĩa dân tộc, quyền lịch sử và nhu cầu kinh tế và tài nguyên thông qua gia tăng sức mạnh hải quân. Ngược lại, sức mạnh hải quân của Trung Quốc có thể dễ dàng tập trung vào biển Đông, nơi hợp dòng của hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng muốn xây dựng một lực lượng hải quân biển xa nhằm giúp đảm bảo các tuyến SLOCs của mình ở mọi hướng xung quanh vùng ven biển Á - Âu tới vùng sừng châu Phi. Khó mà tin rằng ham muốn giành quyền kiểm soát các tuyến SLOCs trên biển của Trung Quốc không liên quan gì đến mối đe dọa đối với quyền tự do hàng hải.

Trung Quốc có những động lực mạnh, bao gồm các lý do lịch sử hợp pháp, để bảo vệ các tỉnh duyên hải giàu có ven biển Đông, nơi chiếm một nửa diện tích duyên hải của nước này. Sự giàu có thịnh vượng của các tỉnh này phụ thuộc vào sự an toàn của các hải trình trên biển Đông mà Trung Quốc chắc chắn có quyền bảo vệ. Hơn nữa, đại đa số năng lượng và hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc đi qua biển Đông, và biển cũng chứa trong lòng nó những kho cá dồi dào, các mỏ khí hydrocarbons và khoáng sản. Chính sự giàu có tiềm ẩn này đã trở thành động lực cho các yêu sách của Trung Quốc.

Trung Quốc dẫn đầu khu vực về hiện đại hóa vũ khí, dù họ tìm cách giữ vẻ ngoài bình lặng. Tàu ngầm của Trung Quốc chạy bằng điện diesel, trong khi tàu ngầm Mỹ chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu chạy bằng điện diesel thường không gây ồn và thích ứng tốt hơn với các vùng biển đông đúc và âm u như vùng duyên hải Đông Á. Trung Quốc có hơn 60 tàu ngầm và sẽ có khoảng 75 chiếc trong vài năm tới, nhiều hơn của Mỹ một chút (và chỉ 55% tàu ngầm của Mỹ được đóng tại Thái Bình Dương). Theo hai chuyên gia về hải quân, Trung Quốc đã "vượt Mỹ về số tàu ngầm mới, ở mức 4-1 từ năm 2000 và 8-1 từ năm 2005, trong khi các lực lượng chiến tranh chống tàu ngầm của hải quân Mỹ đã suy giảm.

Các chuyên gia bình luận và giới chức Trung Quốc phủ nhận mọi ác ý liên quan đến Mỹ tại biển Đông và hát lại điệp khúc thường nghe thấy rằng suy nghĩ được ăn cả ngã về không đó đã lỗi thời. Nhưng dù chiến tranh Lạnh đã đi vào dĩ vãng, nền chính trị sức mạnh lại không phải như vậy. Sự phủ nhận trên che giấu các lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Dù Trung Quốc trong lịch sử từng là một cường quốc lục địa hướng vào trong lục địa Á - Âu, nhưng nước này đang ngày càng trở thành một cường quốc hải quân, một xu hướng được tạo điều kiện bởi thành công của Trung Quốc trong việc hóa giải căng thẳng tại nhiều đường biên giới trên bộ của mình.

Trong ba thập kỷ trước, lực lượng Hải quân của PLA đã lớn mạnh từ một lực lượng phụ trợ, chuyên hỗ trợ các chiến dịch lưỡng cư chống Đài Loan, tới một lực lượng phòng thủ bờ biển và thành một lực lượng hải quân biển xa nhằm đuổi các lực lượng hải quân nước ngoài ra khỏi các "vùng biển gần" của mình.

Các nguồn tài nguyên và hàng hóa của Trung Quốc được vận chuyển chủ yếu qua các đại dương, và ít nhất về điểm này, địa lý dường như là số phận. Vì hầu hết các nước trong khu vực phụ thuộc vào Trung Quốc để phát triển kinh tế và thương mại, nên hầu hết đều muốn thận trọng hơn trong cách đối xử với Bắc Kinh, và sẽ cố gắng tin vào các ý định tốt lành của Trung Quốc.

Sức mạnh của Trung Quốc không thuần túy là một vấn đề nhiều tàu ngầm hơn hay các phương tiện quân sự mới, mà còn dựa vào sức nặng dân số, sự chế ngự về kinh tế và vị trí trung tâm về địa lý của nước trong khu vực. Trung Quốc sẽ hăm hở thúc đẩy các quan hệ của mình tại biển Đông để tạo dựng tầm vóc một cường quốc bá chủ và khai thác sự nhượng bộ hoặc các điều kiện thuận lợi.

Mặt khác, các quốc gia càng hướng tới Trung Quốc thì họ sẽ càng muốn chống lại sức mạnh của nước này. Dù Trung Quốc cố gắng dùng sức mạnh cứng một cách mềm dẻo (ví dụ bằng cách dùng lực lượng thực thi luật pháp dân sự thay vì sức mạnh hải quân để hỗ trợ cho các yêu sách biển ở biển Đông), nhưng các nước láng giềng đôi khi chùn bước trước ngay cả sức mạnh mềm của Trung Quốc dưới dạng thương mại, hỗ trợ và hợp tác.

Những năm gần đây cho thấy hầu hết các nước trong khu vực đều muốn duy trì sự hiện diện của các tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ như một mạng lưới đảm bảo an toàn. Nhưng đồng thời họ không muốn chứng kiến Mỹ căng thẳng với Trung Quốc, vì vậy ngay sau khi Mỹ mới chỉ "giương cơ" một chút, khu vực đã dấy lên những bàn tán quanh câu hỏi phải chăng Mỹ đang xúi giục một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Giới chức Trung Quốc đang tìm cách khai thác tâm trạng giằng xé này bằng những biện pháp trấn an ngoại giao thường xuyên hơn, bên cạnh các nỗ lực khẳng định đòi hỏi của mình. Trung Quốc sẽ muốn tránh mọi hành động ngăn chặn sự nổi lên của nước này.

Ngoài yếu tố địa lý, có một nguyên nhân khác sâu xa hơn đẩy Trung Quốc hướng ra biển Đông và tới các bờ biển của Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và Indonesia. Nếu không hiểu những gì đã xảy ra tại Trung Quốc trong 150 năm trở lại đây, người ta sẽ không thể hiểu điều gì thúc đẩy Trung Quốc ngày ngay phải hướng ra biển Đông.

Vào thế kỷ 19, khi nhà Tần suy yếu ở Đông Á, Trung Quốc đã mất rất nhiều đất đai - mất các chư hầu phía Nam cho Nepal và Myanmar cho Anh; mất Đông Dương cho Pháp; mất Đài Loan và các chư hầu Hàn Quốc, và Sakhalin cho Nhật Bản; mất Mông Cổ, Amuria và Ussuria cho Nga. Vào thế kỷ 20, xảy ra vụ đánh chiếm đẫm máu của Nhật Bản giành bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu ở ngày trái tim của Trung Quốc. Tất cả những điều này lại cộng thêm cảm giác nhục nhã của người Trung Quốc khi phải ký các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, mà qua đó các nước phương Tây giành quyền kiểm soát nhiều thành phố của Trung Quốc - gọi là hiệp ước Hải cảng Mở (Treaty Ports). Trung Quốc, sống sót qua cơn ác mộng đó và đã đạt đến vị trí cao nhất của một cường quốc đại lục và ổn định lãnh thổ chưa từng thấy kể từ triều đại nhà Minh thế kỷ thứ 16 và triệu đại Tần thế kỷ 18, giờ muốn hướng ra biển để bảo vệ các tuyến SLOCs của mình tới Trung Đông và từ đó bảo vệ sự thịnh vượng kinh tế cho lương dân cư đông đảo nhất thế giới của mình. Việc Trung Quốc kêu gọi một không gian chiến lược mở chính là cách để tuyên bố rằng họ sẽ không bao giờ có ý định để cho nước ngoài "đè đầu cưỡi cổ" mình như trong hai thế kỷ trước.

Một khi Trung Quốc có đủ ảnh hưởng, biển Đông đối với nước này sẽ giống như Đại Caribbea (bao gồm Vịnh Mexico) đối với Mỹ trước đây - một sự thể hiện về vật chất và mang tính biểu tượng của vai trò bá chủ khu vực. Hãy nhớ rằng, chính việc bá chủ lòng chảo Đại Caribbea đã tạo cho Mỹ vai trò chế ngự đối với Tây Bán cầu trong thế kỷ 20, giúp Mỹ rảnh tay để tác động tới cán cân quyền lực ở Đông Bán cầu. Một sức mạnh tương tự có thể xảy ra khi Trung Quốc trở thành người bá chủ biển Đông.

Yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông, bên cạnh nguyên nhân về địa lý cũng có nguyên nhân lịch sử. Các chuyên gia phân tích của Trung Quốc cho rằng tổ tiên của họ đã phát hiện ra các quần đảo trên biển Đông từ triều nhà Hán thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Họ cũng cho rằng vào thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, một phái bộ của Trung Quốc tới Campuchia đã đề cập tới các nhóm đảo tại Trường Sa và Hoàng Sa; rằng từ thế kỷ thứ 10 đến 14 (dưới triều đại nhà Tống và nhà Nguyễn), nhiều sổ sách chính thức và không chính thức của Trung Quốc đã cho thấy biển Đông nằm trong biên giới lãnh thổ quốc gia Trung Quốc; rằng từ thế kỷ 15 - 19 (dưới triều nhà Minh và Tần), nhiều bản đồ đã đưa quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc; và rằng đầu thế kỷ 20 (cuối triều nhà Tần), Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách thể hiện quyền tài phán đối với quần đảo Hoàng Sa. Các lập luận trên không nói gì về các quyền trên thực tế rằng các ngư dân Trung Quốc đánh bắt tại biển Đông từ nhiều thế kỷ và các sổ sách mà họ giữ lại về các hòn đảo lớn nhỏ cũng như các vỉa đá, bãi cát ngàm ở đây. Bên cạnh đó, nhiều bản đồ chính thức khác nhau được làm dưới thời Chính phủ Quốc dân Đảng trước và sau chiến tranh thế giới II đã sáp nhập các hình thái đất tại biển Đông vào lãnh thổ Trung Quốc. Các bản đồ này cũng vẽ đường 9 đoạn lịch sử, mà các chuyên gia phân tích của Trung Quốc đưa ra như một cách hiểu luật pháp quốc tế đương đại. Đường 9 đoạn này bao gồm 90% diện tích biển Đông.

Vậy đâu là lợi ích lớn của Trung Quốc tại biển Đông và Đông Á về địa chính trị và thực tế? Rốt cuộc, cũng như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc quan tâm đến thương mại quốc tế. Sự ổn định xã hội tùy thuộc vào một dòng chảy đều đặn về tài nguyên và hàng hóa ra và vào Trung Quốc thông qua biển Đông. Vì vậy, sự ổn định của Trung Quốc tùy thuộc vào một nền kinh tế thịnh vượng, mà sự thịnh vượng này lại phụ thuộc vào thương mại. Trung Quốc không có động cơ đế quốc lấn chiếm lãnh thổ như trong các quan hệ quốc tế thế kỷ 19 và đầu 20. (Trung Quốc chắc chắn không phải là đế quốc Nhật sau thời Minh Trị Phục hưng).

Tuy nhiên, vị trí trung tâm về địa lý của Trung Quốc trong khu vực khiến họ muốn đóng một vai trò tích cực hơn trong việc định hướng các vấn đề khu vực. Cách tiếp cận đôi khi mạnh tay của Trung Quốc trong việc quản lý nước ở châu thổ sông Mekong có thể báo trước cách đối xử của Bắc Kinh với các nước khác ở ven bờ biển Đông.

Trật tự của Trung Quốc hiện được duy trì bởi tính hợp pháp, thể hiện là tăng trưởng kinh tế. Nếu kinh tế Trung Quốc duy trì được tăng trưởng mạnh - và đây là một chữ NẾU to đùng - thì Trung Quốc sẽ rất mong muốn các nước khác phải từ bỏ một số quyền tự do hành động của mình để đổi lại sự lãnh đạo rộng lượng của Trung Quốc, được hợp pháp hóa bởi cách quản lý kỹ trị của họ.

Một quan chức quân sự Trung Quốc từng nói rằng nước này chỉ sử dụng tấn công quân sự khi còn yếu, trong những năm đầu lập nước, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và chống lại Ấn Độ. Tuy nhiên, phiên bản lịch sử này chưa nói tới một Trung Quốc mạnh hơn sử dụng vũ lực khi Việt Nam đang phải vật lộn trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh Việt Nam. Đó chính xác là thời điểm Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa, ở phần phía Tây Bắc biển Đông mà hiện giờ vẫn đang tranh chấp.

Trung Quốc rốt cuộc sẽ dân chủ hơn, nhưng một Trung Quốc dân chủ không hẳn sẽ đảm bảo là một Trung Quốc bớt xác quyết hơn. Một Trung Quốc dân chủ có thể năng động hơn về kinh tế và văn hóa, với một chủ nghĩa dân tộc bén rễ hơn, và từ đó có nhiều tiền hơn dành để mua sắm trang thiết bị quân sự. Ngược lại, đó là một Trung Quốc tiếp tục độc đoán, hay dù chỉ là bán độc đoán, với một mức độ xác quyết có thể buộc các nước trong khu vực phải hợp tác với nó. Việc tương lai của chính quyền Trung Quốc sẽ đi theo hướng dân chủ hay độc đoán sẽ không đặt ra những vấn đề như chúng ta nghĩ, bởi địa chiến lược của Trung Quốc sẽ vẫn như vậy.

Ít người cho rằng Trung Quốc đang tìm cách gây xung đột. Nhưng trên thực tế, điều ngược lại đang xảy ra. Trung Quốc có thể thích một cách tiếp cận gián tiếp hơn và mong muốn tạo ảnh hưởng mà không phải dùng đến vũ lực bạo tàn. Nếu Trung Quốc có thể thay đổi cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho mình, họ có thể ngày càng chế ngự các nước láng giềng nhỏ hơn trong khi tăng cường khiêu khích hải quân Mỹ và đi xa hơn chuỗi đảo đầu tiên ở Tây Thái Bình Dương.

Các chuyên gia trong khu vực mô tả điều đó là chính sách Phần Lan hóa. Khái niệm này được xác định bởi sự đa nghĩa của nó: sự chế ngự của Liên Xô đối với chính sách đối ngoại của Phần Lan trong Chiến tranh Lạnh nói chung là không công khai. Nhưng Phần Lan biết là có những giới hạn mà họ không thể vượt qua, và vì vậy chủ quyền của họ rõ ràng đã bị tổn thương. Đây chính là điều mà Việt Nam, Malaysia, Singapore, Brunei và Philippines đang lo ngại. Đài Loan, ở cực Bắc của biển Đông, có thể đang rơi vào tình trạng Phần Lan hóa rồi, khi 1,500 tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ Đại lục đang chĩa thẳng về phía họ, dù hàng trăm chuyến bay thương mại vẫn hàng ngày qua lại với Trung Quốc.

Trung Quốc có thể tìm cách chế ngự các nước láng giềng thông qua sự kết hợp giữa hợp tác và ép buộc. Chính sách của Trung Quốc là có thể đoán trước và rất nhất quán, nó là sự đan xen giữa trấn an và mở rộng ảnh hưởng; một số nước Đông Nam Á đã chế giễu về chính sách của Trung Quốc là "miệng nói tay làm".

Khái niệm Phần Lan hóa có thể giải thích tại sao Trung Quốc sẽ ép buộc các nước láng giềng. Rốt cuộc, nếu Trung Quốc có thể giảm mong muốn và khả năng các nước láng giềng phối hợp với Mỹ như một đối trọng với sức mạnh của Trung Quốc, thì họ có thể thể hiện quyền lực khu vực, bao gồm cả việc buộc một Đài Loan bị cô lập trở thành một liên minh chặt chẽ hơn.

Ngay cả các đồng minh lâu năm của Mỹ cũng không thể làm ngơ trước ảnh hưởng của sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Trung Quốc đã phủ một cái bóng dài lên Thái Lan, một đồng minh hợp đồng của Mỹ, trong khi Philippines với bộ máy chính quyền yếu kém có thể một ngày sẽ ngừng kháng cự tầm ảnh hưởng của Trung Quốc dù họ có những yêu sách chồng lấn với nước này tại quần đảo Trường Sa.Nếu nền kinh tế Trung Quốc giữ được đà tăng trưởng, các diễn biến này có thể xảy ra.

Trung Quốc dứt khoát từ chối quốc tế hóa các tranh chấp tại biển Đông thông qua các đàm phán đa phương. Bằng cách giải quyết song phương, Trung Quốc có thể chia rẽ và thuyết phục; các cơ chế đa phương có thể đặt Trung Quốc trong một vị thế yếu hơn. Khi Trung Quốc thấy các nước trong khu vực bắt đầu đoàn kết lại trong một chính sách chung nhằm duy trì nguyên trạng hồi mùa hè năm 2011 (với sự tạo điều kiện của Mỹ), Bắc Kinh đã đổi giọng và chấp nhận một bộ nguyên tắc mập mờ để hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Trung Quốc xử trí bằng cách cải thiện quan hệ song phương với hai nước lớn tiếng nhất trong số các nước cũng đòi chủ quyền tại biển Đông, là Việt Nam và Philippines. Rõ ràng mối đe dọa quốc tế hóa các tranh chấp trên biển Đông và rọi đèn vào các hành động của Trung Quốc đã khuyến khích nước này đi theo hành động ngoại giao.

(theo Tuanvietnam)

(còn nữa)

Bài viết chỉnh sửa bởi xuquang: Thứ ba, 20/03/2012 | 16:13

"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1154 Lan Anh

Lan Anh

    Hội viên mới

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPip
  • 321 Bài viết:

Thứ ba, 20/03/2012 | 16:47


======================

Các quí vị chính khứa của những cường quốc có quyền lợi cốt lõi và quyền lợi căn bản trên biển Đông , hãy lắng nghe thảo dân Thiên Sứ bàn đây:
Các quí vị hãy long trong công nhận Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, mọi chuyện sẽ ổn cả. Quí vị hãy nghĩ kỹ xem tôi nói có phải không? Phải thì làm liền cho đỡ phải họp hành lôi thôi, tốn tiền thuế của nhân dân. Tiền họp đó để đi nhậu. Nghe nói bia tươi nấu kiểu Đức cũng ngon lắm!
Còn các quý vị nào muốn khai thác nguồn tài nguyên ở biển Đông thì cứ bỏ tiền ra đấu thầu. Rẻ mà! Còn hơn là bỏ tiền ra mua vũ khí dộng vào đầu nhau để bảo vệ cái cốt lõi và cái căn bản.
Posted Image


Mấy ông chính khứa đó thì làm gì có thời gian lướt web, với lại lyhocdongphuong cũng không phải là 1 trang ngôn luận chính thống, nên nói gì ở đây cũng là nói cho vui thôi sư phụ.:(
  • Thích Đủ Thứ likes this

"Mà sao giấc ngủ không dài

Mà đêm ngắn xuống mà trời cứ mưa..."

 

- Nguyễn Bính -


#1155 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ ba, 20/03/2012 | 18:53

Mấy ông chính khứa đó thì làm gì có thời gian lướt web, với lại lyhocdongphuong cũng không phải là 1 trang ngôn luận chính thống, nên nói gì ở đây cũng là nói cho vui thôi sư phụ.:(


"Biết mà không nói là bất nhân. Nói mà không nói hết là bất nghĩa". Cổ thư đã nói như vậy. Không phải cổ thư nói là tôi cắm đầu nghe theo. Tôi đã suy ngẫm và thấy đúng. Tôi biết mà không nói thì không nỡ. Nên nói ra như vậy - ít ra nó là cái biết của tôi mà tôi cho là đúng - Còn họ có duyên nghe được hay không và có nghe hay không là chuyện của họ. Tôi đã nói ra thì không còn áy náy với lương tâm của mình. Vậy thôi.
Nhưng thật tính tôi rất buồn, nếu họ không biết đến trang web lyhocdongphuong.org.vn này, hoặc biết mà không quan tâm.
Âu nó cũng là cái số.

- Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại!
- Bao giờ điều đó xảy ra?
- Còn lâu lắm. Chỉ đến khi dân tộc Arxyri bị tiêu diệt.
Vanga - nhà tiên tri vĩ đại

Vì lý do nhân đạo, tôi rất muốn một lý thuyết cổ xưa quay lại với nhân loại. Nhưng ko muốn dân tộc nào bị tiêu diệt cả. Nhưng khả năng của tôi chỉ đến đấy: Alo trên web này. Hết!
Không biết và không nghe thì chịu!
Tôi xỉn wá. Thông cảm nha. Quán zdắng mừ!
  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1156 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ tư, 21/03/2012 | 04:25

Nước chảy như suối qua vết nứt đập thủy điện
Thứ ba, 20/3/2012, 18:53 GMT+7

Từ 4 điểm nứt lớn, nước chảy ồ ạt từ hồ chứa xuyên qua thân đập chính thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam). Ngoài ra, trên thân đập còn có hàng chục vết nứt nhỏ khác.
> Thủy điện sông Tranh 2 xuất hiện nhiều vết nứt
> 'Khắc phục ngay vết nứt thủy điện để tránh gây thảm họa'

* Clip: Nước chảy từ khe nứt đập thủy điện

Posted Image

Thủy điện sông Tranh 2 ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.

Posted Image
Hai bên cửa xả thân đập chính xuất hiện 2 vết nứt lớn, nước tạo dòng chảy xối xả từ trên cao xuống.


Posted Image

Nước tuôn như dòng thác qua khe nứt phía Nam cửa xả.

Posted Image
Dòng nước qua khe nứt chảy mạnh đủ tung bọt trắng xóa.


Posted Image

Ngoài 4 điểm nứt lớn, rò rỉ được Ban quản lý công trình thủy điện sông Tranh 2 xác nhận, còn có những vết nứt nhỏ kéo dài hơn một mét ở thân đập chính thủy điện Sông Tranh 2.

Posted Image

Nước rò rỉ, thẩm thấu qua thân đập có bề ngang hàng chục mét, làm ẩm tường đập.

Posted Image

Lượng nước chảy từ những vết nứt còn tràn ra bên dưới khu vực sàn cửa xả của đập thủy điện. Cửa xả này có chức năng điều tiết lũ vào mùa mưa, chỉ mở khi nước lớn. Hiện là mùa khô nên cửa đập thường khô cạn, chỉ có nước do rò rỉ đọng lại.

Posted Image

Một phần khác nước qua khe nứt chảy tràn qua hai bên thân đập, làm sạt lở cả đất đá.

Posted Image

Lượng nước rò chảy dồn về khu vực hạ lưu. Theo chính quyền địa phương cùng người dân huyện Bắc Trà My, lượng nước chảy qua khe nứt thân đập mạnh gấp nhiều lần so với lưu lượng 30 lít một giây mà Ban quản lý thủy điện sông Tranh 2 cho biết.

Posted Image

Hai ngày nay, Ban quản lý thủy điện sông Tranh 2 cho công nhân hàn gắn xử lý các điểm nứt, rò rỉ. Cán bộ Ban quản lý thủy điện 3 ở Đà Nẵng (chủ đầu tư thủy điện sông Tranh 2) chiều 20/3 đang thị sát tình hình.

Trí Tín

================

Ngưng tích nước phát điện và sửa đập thì chẳng sao cả. Vì đã có dư luận lên tiếng và thể hiện tính trách nhiệm Còn cứ khư khư ôm lấy cái đập nứt và không sửa ngay, nứt ngày càng lớn và càng nghiêm trọng thì nó có thể bục bất cứ lúc nào..... Nếu có chuyện xảy ra thì mất cả chì lẫn chài đấy! "Dở hơi biết bơi" thật.

  • xuquang and Thích Đủ Thứ đã thích điều này

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1157 xuquang

xuquang

    Hội viên mới

  • Hội viên
  • PipPip
  • 256 Bài viết:

Thứ sáu, 23/03/2012 | 08:07

Kỳ 3: Gìn giữ an ninh biển và luật pháp quốc tế tại biển Đông


An ninh biển đã chế ngự nhiều chương trình nghị sự ngoại giao gần đây ở Đông Nam Á, bao gồm Diễn đàn Khu vực năm 2010 và 2011 và các hội nghị liên quan tại Việt Nam và Indonesia.

An ninh biển ở cả góc độ quân sự và thương mại dân sự bao gồm ba mặt: các đòi hỏi chủ quyền và lãnh thổ chồng lấn, đặc biệt liên quan đến hai quần đảo lớn là Trường Sa và Hoàng Sa; các quyền cơ bản trên biển, vì các nước đưa ra các căn cứ khác nhau cho các yêu sách của mình và cũng tìm cách áp dụng luật quốc tế như cách hiểu của Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS); và tự do hàng hải, bao gồm kiểm soát các tuyến SLOCs và các hoạt động được phép tiến hành bên trong các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Dù các căng thẳng về an ninh biển đã leo thang tại biển Đông trong hai hoặc ba năm gần đây, song các căng thẳng này chưa trực tiếp bị quân sự hóa như các tranh chấp bùng phát từ năm 1988 -1995, trong đó có cuộc giao tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến đảo Gạc Ma và giữa Trung Quốc với Philippines liên quan đến đảo Vành Khăn. Ở đây không đề cập đến câu hỏi tại sao các quốc gia lại nhanh chóng chuyển sang đối đầu quân sự trong thời kỳ trước như vậy. Có thể khi đó, đúng giai đoạn cuối và ngay sau Chiến tranh Lạnh, các nước cảm thấy được thoải mái sử dụng vũ lực mà không sợ rằng các cuộc xung đột có thể dẫn tới kịch bản hạt nhân.

Tuy nhiên, đó là trước kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay. Ngày nay, các quốc gia sử dụng sức mạnh cứng một cách mềm dẻo và gián tiếp hơn, che giấu thông tin về các sự cố lãnh thổ ở vùng xa xôi hải đảo, tiến hành các chiến dịch quân sự ngoài con mắt dư luận (nhất là ở dưới lòng đại dương và ngoài không gian) hoặc kiên trì theo đuổi hiện đại hóa quân sự một cách đều đặn.

Các nước trong khu vực, nhất là các nước thành viên ASEAN, muốn Mỹ duy trì cam kết và sự hiện diện quân sự nhằm gìn giữ một tương quan lực lượng trên biển. Nhưng các nước này dường như cũng đang bảo vệ những cái tốt nhất của mình bằng cách làm sâu sắc hơn các chương trình hiện đại hóa quốc phòng và các thỏa thuận quốc phòng với nhau. Điều này giúp giải thích tại sao các nước châu Á nhìn chung dẫn đầu thế giới về hiện đại hóa quân sự, đặc biệt là không quân, hải quân và không gian vũ trụ. Sự hiện đại hóa này dễ thấy nhất trong việc mua - hoặc quan tâm đến việc mua - tàu ngầm. Tàu ngầm, bất kể năng lực công nghệ thế nào, luôn giúp gây ra cảm giác bất chắc trong đầu của một đối thủ tiềm ẩn về thời điểm nó có thể nổi lên. Khi Việt Nam lần đầu tiên mua tàu ngầm lớp Kilo của Nga (với sự hỗ trợ của Nga trong việc tân trang cảng Cam Ranh, nơi các tàu ngầm đó có thể nhả neo từ năm 2013), vị tướng khẳng định điều này đã nói rõ rằng Việt Nam mua chúng để ngăn cản các nước láng giềng - đặc biệt là Trung Quốc - gây bất lợi với Việt Nam.

Tất nhiên, Trung Quốc dẫn đầu quá trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực, và có vẻ thích huy động một lực lượng hải quân và không quân với các tên lửa và năng lực không đối xứng như vũ khí chống vệ tính và các năng lực chiến tranh trong không gian có thể gây nguy hiểm cho mạng lưới chiến tranh công nghệ cao của Mỹ. Dù những người chỉ trích ghi nhận các giới hạn của một số hệ thống hiện nay của Trung Quốc (kể cả tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D mà họ khoe khoang rất nhiều), nhưng dường như một Trung Quốc quyết đoán và thịnh vượng hơn sẽ nhiều khả năng khai thác các năng lực cần thiết để theo đuổi một chiến lược chống can thiệp, đe dọa đến khả năng tiếp cận tự do tới khu vực biển này.

Dù tăng cường quân sự, Trung Quốc cũng tìm cách làm giảm những lo ngại về an ninh biển và tăng thiện chí, cũng như uy tín. Bằng chứng là thành công của họ trong Diễn đàn Khu vực ASEAN năm 2011 và các biện pháp xây dựng lòng tin sau đó của họ với Việt Nam và các đầu tư mới vào Philippines, Trung Quốc dường như nhanh chóng có khả năng pha trộn thái độ xác quyết với các hoạt động ngoại giao và kinh tế mang tính trấn an hơn.

Tuy nhiên, trong khi gần như tất cả các nước đều có chung mối lo trước sức mạnh ngày càng gia tăng của Trung Quốc, họ cũng đều được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế và thương mại của Trung Quốc - điều mà Mỹ đã không quan tâm nhiều trước khi ký kết một loạt thỏa thuận thương mại gần đây và đăng cai Hội nghị kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ở Hawaii hồi tháng 11/2011. Năm 2011, thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN đã đạt tới 400 tỷ USD và đang tiếp tục tăng.

Sự cân bằng về sức mạnh quân sự sẽ tạo ra sự đảm bảo tối cao cho tự do đối với Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia và Brunei - cũng như đối với các nước ngoài khu vực này, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Duy trì một sự tương quan lực lượng thuận lợi đòi hỏi phải có đủ tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ để đảm bảo rằng Mỹ vẫn giữ một vị trí đỉnh cao về chất lượng, ít nhất trong nhận thức của giới tinh hoa quân sự ở Trung Quốc và trong các nước mày Mỹ tìm cách bảo vệ.


Dù các quan chức quốc phòng Mỹ vẫn tự tin vào các năng lực của Mỹ, nhiều nước trong khu vực đang lo ngại về các xu hướng hiện nay. Các nước ngoài biển Đông, đặc biệt là Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, đang đo độ bền bỉ của Mỹ không chỉ bằng phép đo kinh tế mà còn bởi khả năng của Mỹ trong việc đối phó với các thách thức tại biển Đông. Một nhà ngoại giao cấp cao của Đông Nam Á cảnh báo nếu Mỹ rút một nhóm tàu sân bay chiến đấu khỏi Tây Thái Bình Dương, đó sẽ là một "yếu tố lật ngược ván cờ", đẩy các nước ven bờ biển Đông vào tình thế Phần Lan hóa. Đây là một điểm không nhỏ. Một nhóm chiến đấu bao gồm một tàu sân bay, nhiều tàu khu trục, tàu tuần dương, các tàu khu trục nhỏ và tàu ngầm. Với việc chỉ có 11 nhóm tấn công như vậy đang trải ra toàn cầu, thì dù chỉ thiếu một nhóm tại châu Á sẽ tạo ra các tác động lớn. Bởi đơn giản, các nhóm tàu sân bay tấn công chính là nguyên tắc tổ chức sức mạnh hải quân của Mỹ.

Triển vọng của việc tăng cường khả năng của các tác nhân khác trong khu vực nhằm có trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo an ninh biển của khu vực sẽ như thế nào? Theo James Holmes, các đồng minh sẽ mạnh nhất khi hai hoặc nhiều nước cùng chịu chung một mối đe dọa và có chung mục đích. Các liên minh lỏng lẻo hơn, bao gồm các liên minh ngầm hay không chính thức, khó thành lập và ít khả năng hành động nếu không có một biến cố rõ ràng khơi mào cho chiến tranh. Tại các khu vực duyên hải quanh biển Đông, Mỹ tìm cách củng cố các liên minh cũ với những nước như Philippines và xây dựng các liên minh mới với những nước như Việt Nam và Indonesia đúng vào lúc sức mạnh hải quân của Mỹ đang suy yếu. Vì vậy, việc xây dựng liên minh của Mỹ phải đối mặt với chướng ngại kép. Ở đây có yếu tố địa chính trị. Các trường hợp Việt Nam và Philippines cho thấy, nếu Mỹ hy vọng bênh vực các nước có cùng lợi ích trong việc tự do hàng hải trên biển Đông và sự ổn định tại khu vực này, thì họ phải hiểu rằng họ sẽ vấp phải sự chống cự nếu thúc ép quá nhiều. Ví dụ, giống như bất cứ quốc gia nào khác, Ấn Độ cũng nghi ngại Trung Quốc, nhưng mặc dù vậy họ sẽ không muốn trở thành một kẻ thù công khai của Trung Quốc. Đơn giản là có những giới hạn mà các nước khác không thể vượt qua vì ít nước muốn gây thù chuốc oán với Trung Quốc. Dù các quốc gia duyên hải không bị ràng buộc bởi việc giảm ngân sách quốc phòng như các nước châu Âu, những họ bị ràng buộc bởi việc coi Trung Quốc là một láng giềng và đối tác thương mại gần như lớn nhất của mình.

Không nước nào lo ngại về an ninh biển của mình khi sức mạnh hải quân của Mỹ có thể yếu đi nhiều như Việt Nam, nước đã phải trải qua một cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979 ở phía Bắc. Năm đó, Việt Nam đã chứng kiến đồng minh của mình là Liên Xô bỏ rơi họ vào đúng lúc họ cần nhất; vì vậy Việt Nam sẽ khó tin vào một quan hệ đồng minh với một quốc gia cách họ nửa vòng trái đất như Mỹ. Tuy nhiên, Việt Nam đang muốn một quan hệ đối tác gần hơn với Mỹ, có thể là mối quan hệ bắt đầu bằng một cuộc đối thoại chiến lược về việc làm thế nào để ràng buộc Trung Quốc, nhưng không bao gồm các hợp tác quân sự hữu hình. Các cuộc tập trận hải quân song phương với Việt Nam chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc chú ý, và một bước đi như vậy sẽ không nên tiến hành một cách khinh suất, bởi Trung Quốc từng rất nghi ngờ nước láng giềng phương Nam trong suốt lịch sử của mình đến mức nào. Trên thực tế, một cuộc tập trận hải quân Việt - Mỹ trong bối cảnh này sẽ mang tính khiêu khích.

Nói như vậy có nghĩa là Mỹ và Việt Nam đang nhanh chóng xích lại gần nhau hơn trong các mục tiêu chiến lược. Diễn biến này cũng là sự kế thừa từ một cuộc chiến giữa thế kỷ 20. Chính xác là vì Việt Nam đã chiến thắng Mỹ về quân sự trong những năm 1960 -1970, họ không có một mảnh vỡ nào thời thuộc địa trên vai và giờ có thể đường hoàng gặp Mỹ như một đồng đẳng về ngoại giao.

Tương tự, cũng có những giới hạn nghiêm khắc mà Philippines, một đồng minh hợp đồng của Mỹ, phải tuân thủ nhằm tăng cường các năng lực cảnh sát của mình. Như Holmes đã ghi nhận, thực tế là một tàu chiến của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ thời những năm 1960 đã được bán cho Philippines và lập tức trở thành tàu đô đốc của lực lượng hải quân quốc đảo này cho thấy rõ các giới hạn của họ. Thông báo về việc một xuồng canô thứ hai sắp được chuyển giao cho Philippines sẽ vẫn chỉ khiến Hải quân Philippines có khả năng khiêm tốn ở ven bờ. Hơn nữa, dù Nhật Bản và Philippines đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược, hầu hết sự hỗ trợ của Nhật Bản sẽ chỉ liên quan đến các khả năng ven bờ.

Các chuẩn mực luật pháp quốc tế

Luật pháp và các chuẩn mực quốc tế tạo ra một cơ sở cho hợp tác, hành động hợp pháp cũng như các kỳ vọng của quốc gia. Hòa bình và thịnh vượng tùy thuộc vào các mong đợi dựa trên chuẩn mực như vậy và các cơ chế pháp lý để giải quyết bất đồng một cách hòa bình.

Sự nổi lên của Trung Quốc làm dấy lên lo ngại về tưong lai của toàn cầu hóa dựa trên khả năng tiếp cận thị trường mở và các thể chế quốc tế. Trung Quốc không chỉ tìm cách "xé bó đũa", giải quyết với từng nước láng giềng nhỏ bé, mà còn thiết lập và áp dụng luật pháp của riêng mình, trong đó có luật 1992 điều chỉnh các quyền ở trong và xung quanh biển Đông, để xác định cái gì đúng cái gì sai. Trung Quốc muốn cho phép tàu nước ngoài nào được vào EEZ của họ và tàu nào, như tàu thăm dò của Mỹ chẳng hạn, không được phép vào vùng dài 200 hải lý này.

Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia ủng hộ cách hiểu luật pháp quốc tế của Mỹ, theo đó đây phải là nơi được phép qua lại một cách hòa bình theo UNCLOS. Mỹ và hầu hết các nước ASEAN sẽ muốn giải quyết bất đồng thông qua một cơ chế đa phương dựa trên đồng thuận và một nền tảng luật pháp quốc tế.

Các đòi hỏi đặc quyền của Trung Quốc ban đầu dựa trên đường 9 đoạn, bao chùm phía Nam từ bờ biển Trung Quốc gần biên giới với Việt Nam và Malaysia đến tận Singapore, và phía Bắc dọc đảo Sarawak và Sabah của Malaysia, tới Brunel và Philippines, chiếm toàn bộ phần trung tâm biển Đông. Nhưng như một chuyên gia phân tích đã chỉ ra, nhiều chuyên gia của Trung Quốc cũng phải thừa nhận rằng đường 9 đoạn này "không được hiểu là chủ quyền đầy đủ đối với toàn bộ biển Đông".

Trên thực tế, chính sự rất mập mờ của đường đứt khúc này khiến các nước ven biển tức giận. Giới chức Trung Quốc nói rằng họ kế thừa đường lịch sử này từ các chính phủ đầu thế kỷ 20, và vẫn chưa rõ Bắc Kinh giờ đây quan tâm đến tính hợp pháp của đường này như thế nào.

Tuy nhiên, bất kỳ lãnh đạo nào của Trung Quốc thừa nhận đường đứt đoạn này không có quy chế pháp lý sẽ bị tấn công bởi những người theo chủ nghĩa dân tộc trong nước. Vấn đề là một số yêu sách của Trung Quốc theo luật pháp quốc tế lại chệch với các yêu sách khác của Trung Quốc và đây có lẽ là sản phẩm của một chính phủ đang bị chia rẽ. Nói tóm lại, chưa rõ liệu Trung Quốc có đang theo đuổi một chiến lược nhất quán tại biển Đông hay không. Nhiều tác nhân khác nhau đang thực thi luật pháp Trung Quốc, bao gồm các cơ quan dân sự, các chính sách và tuyên bố của họ không phải lúc nào cũng thống nhất. Chính phủ Trung Quốc dường như đang cố giải quyết vấn đề này bằng cách thiết lập một tiến trình liên ngành mới nhằm kết nối vô số các cơ quan quân sự và dân sự của chính phủ với các trách nhiệm trên biển Đông.

Nếu sự kết nối đại chính sách này giúp làm rõ các yêu sách mập mờ của Trung Quốc - nhiều yêu sách dựa trên các hình thái lãnh thổ chìm dưới mặt nước biển vốn không được luật pháp quốc tế gọi là đảo - thì các nước trong khu vực có thể yên tâm hơn. Ví dụ, Trung Quốc có thể thu hẹp yêu sách của mình từ chỗ dựa trên các quyền lịch sử rộng lớn thành các yêu sách dựa trên luật pháp theo UNCLOS về các quyền trên biển xung quanh các hình thái lãnh thổ tại biển Đông.

Xây dựng các quy tắc đồng thuận cho khu vực này là việc không hề đơn giản. Luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, có thể có ích dù Thượng viện Mỹ chưa phê chuẩn công ước này. Mỹ có thể vẫn khẳng định rằng họ thừa nhận hầu hết các điều khoản của công ước này như luật pháp quốc tế thông thường, và đây sẽ là nền tảng cho chiến lược biển của Mỹ tại biển Đông. Họ có thể tiếp tục thúc đẩy các lập luận của đa số các bên tham gia UNCLOS là ủng hộ hoạt động quân sự hòa bình tại EEZ bên ngoài lãnh hải.
(theo Tuanvietnam)
(còn nữa)
"Buông đao là phật, quay đầu là bờ"
- Xuquang -

#1158 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ sáu, 23/03/2012 | 14:55

Đầu tư thông minh
Đại gia Việt vung tiền mua khách sạn, resort ngoại
Tác giả: Thành Dũng
Bài đã được xuất bản.: 22/03/2012 05:00 GMT+7

(VEF.VN) - Hàng loạt dự án khách sạn sang, các khu du lịch, resort nổi tiếng của các nhà đầu tư nước ngoài phát triển tại Việt Nam đang được các nhà đầu tư trong nước mua lại. Xem ra, các đại gia Việt Nam không tiếc tiền để sở hữu những khối BĐS vàng có lợi ích lâu dài này.


Âm thầm thương vụ triệu USD
Trong khi nhiều DN trong nước đang tìm cách rút lui khỏi thị trường trong lúc bĩ cực khó khăn, chuyển nhượng, bán bớt các dự án BĐS cho các đối tác nước ngoài, thì vẫn xuất hiện các thương vụ doanh nghiệp nội nhảy vào mua lại các dự án BĐS đình đám của ngoại. Đứng đằng sau các vụ mua bán đó là các DN lớn, các nhà đầu tư có tên tuổi trên thị trường Việt Nam. Đó thực sự là một hiện tượng đáng chú ý.
Mới đây, Công ty Hanel Hà Nội đã mua lại 100% cổ phần của khách sạn 5 sao Deawoo Hà Nội từ doanh nghiệp Hàn Quốc. Đây là một trong số ít khách sạn lớn, sang trọng bậc nhất của Hà Nội, có vị trí đắc địa nằm ngay góc ngã tư Kim Mã, Liễu Giai, cạnh công viên Thủ Lệ. Tuy giá trị mua bán chưa được tiết lộ nhưng giới chuyên môn đánh giá, thương vụ này là sự kiện đáng chú ý.
Tuy nhiên, đó không phải là thương vụ đầu tiên mà các đại gia Việt Nam mua lại các khách sạn 5 sao ở Hà Nội. Một thương vụ dù im tiếng nhưng lại khiến giới đầu tư thán phục là việc nhà đầu tư Việt Nam mua lại khách sạn Hilton Opera - một khách sạn có vị trí hiếm có ở Hà Nội. Vụ mua lại khách sạn 5 sao Hilton Opera Hà Nội từ tay các ông chủ Đức và Áo của Tập đoàn Tập đoàn BRG mà người đứng đầu là doanh nhân Nguyễn Thị Nga diễn ra êm thấm và đa số mọi người chỉ biết khi đã xong việc. Thậm chí những nhà đầu tư lớn thường lui tới Hà Nội cũng chỉ bất ngờ biết được tin này khi đến nghỉ ở khách sạn và đọc được những tờ giới thiệu về chủ đầu tư mới để trên góc bàn rất ý tứ.

Posted Image

Được biết, chủ nhân của Tập đoàn BRG là doanh nhân Nguyễn Thị Nga rất nổi tiếng với 2 sân golf ở Đồ Sơn Hải Phòng và Sóc Sơn, người nắm giữ mảnh đất vàng ven Hồ Thành công Hà Nội, Chủ tịch Ngân hàng Seabank có trụ sở đối diện Bộ Tài chính. Đặc biệt, bà Nga đã ghi dấu ấn đậm nét với giới đầu tư trong quá trình cổ phần hóa công ty Intimex - một DN lớn của Bộ Công thương có rất nhiều vấn đề khi CPH. Khi đó, bà Nga ngoài tư cách là người nắm giữ khối cổ phiếu lớn còn được ủy quyền của nhiều cổ đông khác đã "chiến đấu" thành công để nắm giữ chức vụ Chủ tịch một công ty có bề dày với nhiều BĐS mà đáng chú ý nhất là mảnh đấy trên đường Lê Thái Tổ nhìn ra Hồ Gươm.
Một thương vụ khác cũng gây được chú ý là việc một trong những khu resort 5 sao đầu tiên của Việt Nam, có tiếng tăm trên toàn thế giới là Furama Resort Đà Nẵng đã được DN Việt Nam mua lại. Giữa năm 2005, Tập đoàn nội địa Sovico đã mua lại toàn bộ cổ phần của liên doanh Khu du lịch Bắc Mỹ An (gồm Công ty Du lịch Đà Nẵng và tập đoàn Lai Sun Hong Kong).
Được biết, Sovico Holdings là một tập đoàn nội địa là một trong những cổ đông sáng lập của Techcombank và VIB Bank và mới đây còn tham gia với tư cách cổ đông lớn nhất của. Hiện nay Tập đoàn đang mở rộng đầu tư vào lĩnh vực khách sạn qua việc nắm giữ cổ phần chi phối trong Khách sạn Hồ Gươm tại Hà Nội, đầu tư khu du lịch Phú Quốc cùng Saigontourist, và đang xây dựng thêm một Resort 5 sao tiêu chuẩn quốc tế thuộc Dự án Ariyana ở Đà Nẵng. Đặc biệt, SOVICO Holdings là cổ đông sáng lập lớn nhất của VietJet Air.
Thương vụ nổi tiếng khác Công ty Cổ phần Du lịch Thiên Minh vừa công bố đã mua lại hệ thống khách sạn và khu nghỉ dưỡng Victoria tại nhiều địa phương ở Việt Nam và Campuchia. Theo đó, chuỗi 5 khu nghỉ dưỡng - khách sạn mang thương hiệu Victoria do Công ty TNHH EEM Victoria của Hong Kong phát triển tại Việt Nam và Campuchia sẽ được chuyển nhượng từ chủ đầu tư là liên doanh khách sạn Victoria Việt Nam sang công ty Thiên Minh. Bao gồm: Victoria Phan Thiết Beach Resort & Spa, Victoria Sapa Resort & Spa, Victoria Cần Thơ Resort, Victoria Châu Đốc Hotel, Victoria Hội An Beach Resort & Spa và Victoria Angkor Resort & Spa (Campuchia).
Giám đốc Thiên Minh là một doanh nhân trẻ nổi tiếng trong du lịch: ông Trần Trọng Kiên với DN đã sở nhiều địa chỉ du lịch nổi tiếng như: Buffalo Tours, Intrepid Indochina, Mai Châu Lodge, Jetwing Indochina và khách sạn Festival Huế.
Bên cạnh đó, các vụ đại gia trong nước mua lại khách sạn, resort của nhà đầu tư ngoại phải kể đến Công ty CP Sao Sáng Sài Gòn, thành viên của Ngân hàng Nam Á, đã trả 11 triệu USD để sở hữu dự án Peninsula (P. Thảo Điền, Q.2) từ tay đối tác JSM Indochina Ltd. Ngoài ra, dự án sân golf 36 lỗ ở Củ Chi (với quy mô 200ha) vốn thuộc sở hữu của Công ty TNHH Một thành viên Phát triển GS Sài Gòn, Hàn Quốc (GS Engineering & Construction Corp., viết tắt là GS E&C) thì nay bỗng nghiễm nhiên trở thành "tài sản" của C.T Group và xuất hiện trên website của công ty này với tên gọi mới là C.T Sphinx Golf Club & Residences...
Trước đó, năm 2008, khách sạn 4 sao Amara Saigon (đường Lê Văn Sỹ, Q.3, TP.HCM) chính thức được đổi tên thành Ramana Hotel Saigon sau khi được một công ty trong nước - Công ty TNHH phát triển BĐS Vina (Vina Properties) - mua lại từ công ty nước ngoài. Amara Saigon trước đây thuộc sở hữu của Công ty TNHH khách sạn Amara Saigon, 100% vốn nước ngoài.

Tận dụng cơ hội
Ý kiến của một số luật sư tư vấn trong lĩnh vực mua bán sáp nhập (M&A) cho rằng, do khó khăn, suy thoái tại nhiều nền kinh tế phát triển và những vấn đề nội tại phát sinh khi dự án hoạt động, dẫn đến không chỉ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua giảm sút mà tác động đến cả số lượng các nhà đầu tư nước ngoài cũng "rời bỏ" Việt Nam nhiều hơn.
Riêng trong lĩnh vực BĐS, nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy sự "hụt hơi" và bế tắc của thị trường Việt Nam, nên tỏ ra mất kiên nhẫn. Nhìn ở góc độ tích cực thì đây là cơ hội để các doanh nghiệp có tiềm lực trong nước sở hữu, "mua rẻ" các dự án ngoại. Thực tế các nhà đầu tư trong nước đã tỏ ra năng động và linh hoạt hơn hẳn trong việc chớp cơ hội vàng "bắt đáy".
Tuy nhiên, các đại gia Việt lại có cái lý của họ. Các khách sạn và khu du lịch họ mua ngoài giá trị về tài sản, vị trí đắc địa thì còn có thương hiệu lớn tầm cỡ thé giới. Đó là điều mà DN Việt Nam không thể sớm có được nếu không đi theo đường tắt là mua lại. Ngoài ra, đề đầu tư một dự án lớn như thế hiện hiện không dễ tìm đất đẹp mà ai cũng biết việc tìm mặt bằng, đền bù giải tỏa, làm thủ tục xây dựng, thi công khó khăn như thế nào. Điển hình là vụ đền bù 40 tỷ đồng/m2 kéo dài mất năm trời ở Hà Nội của Tân Hoàng Minh là một ví dụ. Trong khi đó, dù trả một cục tiền và bị cho là đắt nhưng lại có được tài sản tốt, không tốn thời gian đầu tư xây dựng ban đầu (có thể mất 3 - 4 năm), đang có doanh thu sẵn, vị trí kinh doanh thuận lợi...

Posted Image

Từ phía các chuyên gia M&A lại giữ một thái độ khá bình thản khi cho rằng, các thương vụ chuyển nhượng dự án từ nhà phát triển dự án nước ngoài sang doanh nghiệp nội địa vừa qua chỉ là những hiện tượng cụ thể, chứ chưa thể khẳng định đó là một trào lưu thoái lui khỏi thị trường Việt Nam.
Ông Nguyễn Ngọc Bách - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Asian Invest, Giám đốc Câu lạc Bộ Giám đốc Tài Chính Việt Nam cho rằng, đúng là có chuyện doanh nghiệp trong nước bắt đầu đẩy mạnh hoạt động M&A trong vai trò là người mua. Tuy nhiên, việc thâu tóm dự án, doanh nghiệp của nội hay của ngoại vốn là câu chuyện rất bình thường và phổ biến trên thị trường xưa nay.
Ông Phan Xuân Cần - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tư vấn BĐS Soho Việt Nam, người đã thực hiện môi giới thành công nhiều vụ chuyển nhượng dự án BĐS thời gian gần đây cũng cho hay, hàng trăm dự án được các công ty chào bán thông qua Soho hiện nay thì chỉ có khoảng 10% dự án trong số này đáng lưu tâm. Nghĩa là các dự án có vị trí đẹp, đã giải phóng xong mặt bằng, hồ sơ pháp lý của dự án cũng như chủ dự án "sạch sẽ", đặc biệt là chủ dự án có ý định bán rõ ràng.
Ông Cần phân tích, những dự án muốn bán ra của các nhà đầu tư ngoại thứ nhất có thể do họ có khó khăn, cần cơ cấu lại danh mục đầu tư nên tìm cách bán bớt tài sản hiện hữu.Nhưng bên cạnh đó, vẫn ghi nhận chiều hướng các nhà đầu tư nước ngoài đã ở Việt Nam từ 5-10 năm, có tầm nhìn trung và dài hạn cho đây là thời điểm tốt - nhu cầu bán ra rất cao, giá cả có thể thương lượng được, để quyết tâm mua lại dự án ở Việt Nam.
Với các nhà đầu tư trong nước tìm mua lại dự án thì động lực chính là thứ nhất, nhiều khả năng họ đã có phần vốn góp từ trước vào dự án, đánh giá lúc này chỉ khó khăn, đối tác nước ngoài mới bán đi vị trí đẹp mà bình thường không thể sở hữu được, thì cố gắng mua vào.
Thứ hai, chính các doanh nghiệp có tiềm lực trong nước cũng thay đổi danh mục đầu tư. Thông qua việc mua lại các dự án đã hoạt động, doanh nghiệp nhanh chóng thâm nhập ngành kinh doanh mới. Mặt khác có thể hình dung, một sản phẩm BĐS chất lượng tốt và vị trí đẹp, đang tạo ra dòng tiền mặt đều đặn, nếu mua vào thì vẫn đem lại dòng tiền về cho doanh nghiệp.

Xem 9 ý kiến
Nhuhieucom
Không quá bất ngờ vì Việt Nam được xem là trung tâm rửa tiền thế giới.

ductrangday

Mua lại được các khách sạn 5 sao và resort cao cấp thì kể ra các đại gia cũng lắm tiền thật. Tầm cỡ những đại gia trên để có tài sản như ngày hôm nay chắc chắn phải là những người am hiểu chính trường cùng với đủ các mối quan hệ sâu rộng, phức tạp, chồng chéo, nhậy cảm tất nhiên ở tầm cao. Xã hội tồn tại những đại gia không hẳn là những điều hoàn toàn tiêu cực, nhưng giá như mà họ có khả năng trong đầu tư vào sản xuất, môi trường, giao thông...để tạo ra các sản phẩm cạnh tranh phục vụ đại chúng như phần lớn các đại gia nước ngoài thì quả là có ích lớn cho đất nước. Xét cho cùng thì đại gia Việt Nam và những người bình thường có điểm chung là thích nhắm vào đối tượng có nhiều tiền (là số lượng ít trong XH) khi đầu tư kinh doanh một cái gì đó, chứ không thích khai thác khách hàng là đại chúng nhân dân. Không biết phải chờ đến bao giờ Việt Nam mới có những đại gia kiểu như những người đã sở hữu Samsung, LG, Sony trước kia hay giờ đây như Bill Gate, Steve Job (mới qua đời), sách viết về cuộc đời những người ấy bán chạy ầm ầm ai xem cũng hiểu.

Baduyst412
Hiện tại các nhà đầu tư nội mua,nhưng liệu về lâu dài họ có thể kinh doanh thành công được không mới là vấn đề cần tìm hiểu.Đến lúc họ không đủ khả năng làm được,liệu họ có bán rẻ những tài sản mà họ đã mua với giá đắt không nhỉ

Prediletto
mua được của bở thì rất tốt, nhưng bảo trì, quản lý lâu dài cũng như dịch vụ 5 sao như thế nào để có lời và không ế mới là quan trọng.

khánh
Người trong khách sạn HiltonHaNoiOpera sẽ thấy được khách sạn 5 sao đang dần trở thành nhà nghỉ bình dân thu với giá khách sạn 5 sao

Tieuzidane

bây giời chỉ chúc họ thành công

Galiliovietnam
Việt Nam chẳng bao giờ tìm hiểu xem Tiền các Đại Gia lấy tử đâu ra.toàn là núp bóng,rửa tiền thôi.! có bao giờ minh bạch đâu???

Thethuong_trinh
đồng tình với đánh giá của tác giả, tuy nhiên muốn bổ sung ở khía cạnh để cùng tranh luận. Đó là phải chăng các nhà đầu tư đã nhìn thấy lợi nhuận sụt giảm trong những năm tiếp theo, với quan ngại rằng tình hình kinh tế tại VN bắt đầu tăng trưởng chậm, cũng như những bất ổn kinh tế vĩ mô đã đang bộc lộ và tiểm ẩn của nền kinh tế VN. Ở một góc độ khác, phải chăng các dự án lớn về dịch vụ trong lĩnh vực giải trí sắp được triển khai có sức thu hút hơn các kinh doanh hiện có, như các dự án caisino với khu vui chơi giải trí đặc biệt hấp dẫn mà các tập đoàn lớn với thế mạnh trong lĩnh vực này đang chuẩn bị đầu tư vào VN chỉ còn đợi sự chấp thuận của nhà nước ( theo tôi quốc hội sẽ nhanh chóng thông qua, vì đã đến lúc không thể để vuột mất cơ hội này được)
========================
Vấn đề là tại sao các nhà đầu tư nước ngoài lại ồ ạt bán những tài sản của họ như vậy?
  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1159 Thiên Sứ

Thiên Sứ

    Hội viên ưu tú

  • Quản trị Diễn Đàn
  • PipPipPipPip
  • 27.631 Bài viết:

Thứ bảy, 24/03/2012 | 14:01

Bộ trưởng Thăng “dọa”… cách chức Thứ trưởng

(Dân trí) - Liên tiếp trong các cuộc họp quan trọng về chất lượng công trình và tai nạn giao thông đường sắt diễn ra mới đây, từ “cách chức” đã được Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng nhấn mạnh và nói sẽ thực hiện nếu Thứ trưởng phụ trách không làm tốt nhiệm vụ.
>> Khánh thành nhà ga sân bay nơi Bộ trưởng Thăng "trảm tướng"
>> Bộ trưởng Thăng “trảm” tiếp 5 nhà thầu một lúc Từ an toàn giao thông…

Câu chuyện về thực trạng tai nạn giao thông đường sắt và nỗi lo sập cầu chính là khởi nguồn cho câu nói đùa mà như thật của Bộ trưởng Đinh La Thăng rằng sẽ cách chức Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông nếu để cầu sập là thảm họa khiến nhiều người chết. Tại cuộc họp về an toàn giao thông đường sắt này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đánh giá, tình hình tai nạn đường sắt từ đầu năm tới nay có giảm so với cùng kỳ năm 2011, nhưng số vụ, số người chết và bị thương vẫn còn nhiều. Dù tai nạn có lý do khách quan hay chủ quan thì vẫn có trách nhiệm ngành đường sắt và đó là trách nhiệm của ngành giao thông vận tải.
“Hôm trước tôi đi làm việc với các địa phương, việc rào hộ lan đường sắt rất bất hợp lí, đáng lẽ phải rào đường ngang trái phép thì lại để lại, nhất là đoạn từ Phủ Lý về Nam Định rất nguy hiểm khi cứ 100m lại có 1 đường ngang. Tốn hàng trăm tỷ để làm hộ lan, mà như thế thì không ý nghĩa”- Bộ trưởng Đinh La Thăng nhìn nhận.

Posted Image
Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng


Để khắc phục hạn chế, giảm thiểu tai nạn, theo Bộ trưởng Thăng hiện vẫn may rủi là nhiều. Trước mắt trong khi hạ tầng vẫn chưa thay đổi được ngay, ý thức của người dân cũng phải cần thời gian, cần tập trung cái gì dễ, tốn ít kinh phí thì ưu tiên làm trước.
Người đứng đầu ngành giao thông cũng liên tục ngắt lời các vụ chức năng vì dùng từ “ủng hộ” thay vì dùng từ “phải làm”. Bộ trưởng Thăng chỉ đạo các Vụ, Cục, Tổng Công ty Đường sắt trực thuộc Bộ GTVT trong thời gian tới phải tập trung bổ sung văn bản quy phạp pháp luật liên quan đến an toàn giao thông đường sát; Lập dự an đảm bảo an toàn giao thông đường sắt giai đoạn 2012 - 2020, định hướng tới năm 2030, hoàn thành trong quý II/2012 để trình Chính phủ.
Đối với các dự án hộ lan đường sắt, Bộ trưởng Thăng yêu cầu phải có báo cáo đánh giá toàn bộ dự án, hoàn thiện hệ thống cảnh báo từ xa, tự động; Rà soát lại các đường ngang, cử người canh gác, làm việc với địa phương để giải quyết các đường ngang bất hợp pháp.
Đặc biệt, với vấn đề cầu chung giữa đường sắt với đường bộ, Bộ trưởng Thăng giao trực tiếp cho Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông phụ trách và tiến hành rà soát lại toàn bộ cầu yếu trên cả nước để báo cáo Chính phủ có ưu tiên vốn đầu tư, tránh nguy cơ xảy ra tai nạn. Nhận nhiệm vụ này, Thứ trưởng GTVT Nguyễn Ngọc Đông gợi ý ngành đường sắt nên bám theo các Sở GTVT địa phương để thuận lợi cho công việc. Tuy nhiên, khi Thứ trưởng Đông chưa dứt lời, Bộ trưởng GTVT nói: “Làm gì có chuyện bám theo, anh là Thứ trưởng thì chỉ cần ký lệnh triệu tập các Sở GTVT đến mà làm”.
“Cái này phải làm khẩn trương, nếu để xảy ra thảm họa sập cầu thì trước khi Bộ trưởng bị Quốc hội phế truất, Thứ trưởng Đông sẽ bị cách chức”- Bộ trưởng Thăng đùa mà như thật tại cuộc họp.
Ngoài ra, Bộ trưởng Đinh La Thăng cũng đồng ý với đề xuất cho hợp nhất Thanh tra đường bộ và Thanh tra đường sắt làm 1 để thống nhất chỉ đạo và nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm. … Đến chất lượng công trình
Tại Hội nghị Quản lý tiến độ và đảm bảo chất lượng công trình giao thông, vừa diễn ra hôm 23/3, Bộ trưởng Đinh La Thăng giao Thứ trưởng Ngô Thịnh Đức làm Tổng chỉ huy về chất lượng và tiến độ công trình, Thứ trưởng Đức phải chịu trách nhiệm số 1 về vấn đề này.

Posted Image

Bộ trưởng Thăng "dọa" cách chức Thứ trưởng phụ trách nếu chất lượng công trình có vấn đề

Nói về chất lượng công trình giao thông trong năm qua, Bộ trưởng Thăng thẳng thắn: “Chất lượng và tiến độ công trình giao thông đã nói rất nhiều, nhưng chưa chuyển biến được bao nhiêu. Có nhiều người nghĩ rằng đã là công trình giao thông phải chậm tiên độ, chất lượng kém… Năm ngoái kiểm tra 9 dự án, thì cả 9 đều có vấn đề”.

Để đảm bảo tến độ và nâng cao chất lượng công trình giao thông trong thời gian tới, Bộ trưởng Đinh La Thăng yêu cầu phải có quy chế quy định trách nhiệm người đứng đầu, người đứng đầu phải có trách nhiệm với dân, vì đường được làm từ thuế của dân, vốn ODA thì sau này người dân cũng phải nộp thuế để trả nợ, không thể để người dân bức xúc như hiện nay được. Từng đơn vị, từng chủ thể phải nâng cao năng lực và trách nhiệm, trước hết là từ lãnh đạo Bộ, có dám xử lý sai phạm không.

“Thứ trưởng có quyền chỉ đạo xử lý theo thẩm quyền, cái gì khó khăn quá không xử lý được thì báo cáo lên Bộ trưởng, tập thể Đảng để giải quyết. Nếu không báo cáo mà vẫn xảy ra tình trạng chất lượng công trình kém thì Thứ trưởng phụ trách phải chịu trách nhiệm” - Bộ trưởng Thăng nhấn mạnh.
Bộ trưởng Thăng khằng định: “Trước khi tôi bị mất chức về chất lượng công trình, thì anh Đức phải mất chức trước, vì tôi đã giao anh Đức làm tổng chỉ huy về chất lượng và tiến độ công trình”.
Tại hội nghị, vị Bộ trưởng này cũng không quên nhắc tới Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng công trình rằng: “Anh giúp tôi quản lý chuyên ngành về chất lượng, nếu năm nay mà không có chuyển biến về chất lượng công trình, thì Cục quản lý chất lượng công trình giao thông đi làm việc khác”.

Quỳnh Anh

================================

Việc Bộ Trưởng Đinh La Thăng quan tâm đến an toàn cầu là điều rất tốt. Hai bức hình dưới đây hy vọng sẽ được Bộ trưởng chú ý - Tôi mới chụp trưa nay dưới chân cầu Long Biên. Hình ảnh mô tả vấn đề an toàn cho cầu Long Biên khỏi sập, người ta đã chống lên ở đây một cây cột sắt như thế này!Posted Image

Posted Image


Posted Image


  • Thích Đủ Thứ likes this

Ta về giữa cõi vô thường
Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa

Thiên Sứ


#1160 WarrenBocPhet

WarrenBocPhet

    Hội viên mới

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPip
  • 314 Bài viết:

Thứ bảy, 24/03/2012 | 15:55

Long An: CPI tháng 3 giảm 1,70% so với tháng trước

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 4,61%; trong đó nhóm lương thực giảm 8,11%, nhóm thực phẩm giảm 4,06% và nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,34%.

Posted Image

Theo kết quả công bố của Cục Thống kê tỉnh Long An cho biết, chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 3 năm 2012 trên địa bàn tỉnh Long An giảm 1,70% so với tháng trước; trong đó hàng hóa giảm 2,29% nhưng dịch vụ lại tăng 0,29%.

Nguyên nhân làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng này giảm chủ yếu là do sau Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng không còn tăng cao nên giá cả của nhiều loại hàng hóa trở lại mức bình thường, giá lương thực – thực phẩm giám đáng kể do vào vụ thu hoạch lúa Đông Xuân sớm trong khi nhu cầu xuất khẩu gạo có bị chững lại… nên chỉ số giá nhóm hàng lương thực – thực phẩm giảm đến 4,73%.

Nhóm hàng lương thực giảm 8,11%; trong đó nhóm mặt hàng gạo giảm mạnh 9,12%, nhóm bột mì - ngũ cốc - khoai - sắn giảm 3,94%, nhóm lương thực chế biến giảm nhẹ 0,41%...

Nhóm hàng thực phẩm có chỉ số giá tăng 4,06%; giá giảm chủ yếu tập trung ở các nhóm mặt hàng tươi sống như thịt tươi sống giảm 6,16%, thịt chế biến giảm 8,24%, thịt gia cầm giảm 4,12%, trứng các loại giảm 8,17%, thủy sản tươi sống giảm 2,40%, rau tươi giảm 9,23%, quả tươi giảm 3,66%... Nguyên nhân giá nhóm hàng thực phẩm tươi sống giảm mạnh chủ yếu là do nhu cầu sau Tết giảm; ảnh hưởng tâm lý của tình trạng dư luận về việc một số hộ chăn nuôi có sử dụng hóa chất tăng thịt nạc vào thức ăn chăn nuôi và do dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm xảy ra ở một số địa phương; do việc Trung Quốc tạm nhưng nhập khẩu một số mặt hàng thực phẩm từ Việt Nam (trong đó có thịt heo)…..

Giá của nhóm hàng phi lương thực – thực phẩm có biến động tăng do việc điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng như xăng, dầu, gas, nước, vật liệu xây dựng, dược phẩm và dịch vụ y tế, giao thông, bảo hiểm…. nên chỉ số giá nhóm hàng phi lương thực – thực phẩm tăng 0,53%. Kể từ ngày 07/3/2012 đã có điều chỉnh tăng giá xăng dầu nên chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,35% so với tháng trước và theo xu hướng tác động dây chuyền sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới, nhất là đối với giá các loại phương tiện đi lại và dịch vụ giao thông công cộng.

Diễn biến giá trong tháng 3/2012 so với tháng 02/2012 cụ thể của từng nhóm hàng như sau:

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 4,61%; trong đó nhóm lương thực giảm 8,11%, nhóm thực phẩm giảm 4,06% và nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,34%.
2. Nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,84%.
3. Nhóm hàng đồ uống và thuốc lá giảm 0,23%.
4. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,13%.
5. Nhóm giao thông tăng 1,35%.
6. Nhóm hàng thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1%.
7. Nhóm hàng thuốc và dịch vụ y tế tăng 1%.
8. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,99%.
9. Nhóm giáo dục tăng 0,05%.
10. Bưu chính viễn thông tăng nhẹ 0,03%.
11. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,40%.
12. Chỉ số giá vàng ổn định và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,63%.

Như vậy so với tháng 12/2011, chỉ số giá tiêu dùng tỉnh Long An tháng 3/2012 đã tăng 1,35%; trong đó hàng hóa tăng 0,85% (lương thực – thực phẩm giảm 1,88%; phi lương thực – thực phẩm tăng 3,94%) và dịch vụ tăng 3,04%.

Theo Thái Chuyên

Sở Công thương Long An


Tăng 0,16%, CPI tháng 3 tăng thấp nhất 20 tháng qua

(NDHMoney) Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2012 chỉ tăng nhẹ 0,16% so với tháng trước.


Posted Image

Diễn biến giá các nhóm hàng và chỉ số giá vàng, đô la Mỹ. Nguồn: GSO, NDHMoney

Như vậy, mặt bằng giá đã phá vỡ xu hướng tăng tốc đạt được trong 4 tháng liên tiếp trước đó. Đây cũng là mức tăng theo tháng thấp nhất của CPI trong vòng 20 tháng qua, dù vậy vẫn trong vùng dự báo trước đó của NDHMoney. Nếu so với các tháng cùng kỳ, CPI tháng này tăng thấp nhất trong 3 năm trở lại đây.

Như vậy, CPI trong quý 1 năm nay đã tăng 2,55%, mức khá thấp so với các năm trước. Nếu sử dụng quy luật giá tiêu dùng quý 1 thường chiếm một nửa đến 1/3 trong các năm ổn định trước đây, kết quả trên là tích cực, nhất là đặt trong mục tiêu khống chế lạm phát 1 con số của năm nay.

Điểm đáng chú ý khác là do hiệu ứng từ chỉ số giá tăng cao trong tháng ba năm ngoái, tương quan CPI so với cùng kỳ năm trước đã hạ nhanh từ mức 16,44% trong tháng trước xuống 14,15% tại tháng này. Mức tăng mới cũng là thấp nhất trong vòng 1 năm nay.

Phân tích từ góc độ các chỉ tiêu vừa liệt kê đều ở mức chấp nhận được, khả năng là những tác động từ việc tăng giá xăng dầu, giá gas trong tháng qua đã bị triệt tiêu đáng kể.

Giá xăng dầu đã tăng từ 600-2.100 đồng/lít (kg) từ ngày 7/3, theo tính toán của NDHMoney có tác động vào mức tăng chung tháng này khoảng 0,08%. Ngoài ra, giá gas cũng đã tăng thêm khoảng 50 nghìn đồng/bình 12kg trong tháng qua.

Lưu ý là những diễn biến trên có nguyên nhân từ tác động tăng giá quốc tế chứ không liên quan đến cung cầu trong nước. Cho nên, việc tỷ giá khá ổn định đã hạn chế nhất định các tác động tiêu cực từ tăng giá nhóm mặt hàng nguyên, nhiên liệu nói trên.

Trong khi đó, phân tích các nguyên nhân vĩ mô, thực tế tác động chi phí đẩy đã không thể ảnh hưởng “quá đà” lên lạm phát, khi mà tổng cầu giảm rất mạnh, kéo dài và “tăng tốc” trong giai đoạn cuối của chu kỳ tính giá tháng này.

Dữ liệu của NDHMoney ghi nhận kể từ Tết Nguyên đán đến nay, Ngân hàng Nhà nước liên tục hút tiền về. Tổng phương tiện thanh toán đến 20/2/2012 ước giảm 0,64% so với tháng trước, trong đó tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng giảm 12,62% so với tháng trước.

Diễn biến liên quan là Ngân hàng Nhà nước đã phát hành tín phiếu các kỳ hạn từ 15/3 đến 22/3 để hút về thêm trên 12.000 tỷ đồng.

Tác động lên mặt bằng giá, diễn biến tại các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu trong tháng này có một số điểm rất đáng chú ý. Sự tẩy chay với thịt lợn “bẩn” bất ngờ dẫn hướng CPI nhóm thực phẩm giảm nhanh. Lương thực cũng cùng xu hướng này.

Trong khi đó, ăn uống ngoài gia đình lại tăng khá cao và đi ngược với xu hướng giá của nhóm nguyên liệu đầu vào nói trên. Như NDHMoney đã đề cập trong bài trước, nguyên nhân là người bán hàng điều chỉnh giá bán nhanh hơn thực tế tác động tăng giá xăng dầu vào giá thành.

Cũng trong tháng này, các nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục có chỉ số giá tăng rất cao.

Posted Image

Bình Minh - NDHMoney



P/S: CPI tháng 3 thấp thế này, riêng CPI của Long An Tỉnh lại ... âm ... mới kinh ... Kiểu này các bác hành nghề đạp xe thồ, xích lô chả mấy chốc mà có ... biệt thự hạng sang để ở.