Chuyển tới nội dung

Hình ảnh

ĐIỂM HUYỆT LIỆU PHÁP


  • Xin vui lòng đăng nhập để trả lời
Có 2 trả lời cho chủ đề này

#1 Hà Uyên

Hà Uyên

    Hội viên tích cực

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPipPip
  • 1.084 Bài viết:

Thứ tư, 12/08/2009 | 19:50

LỜI ĐỀ NGHỊ CỦA NGƯỜI DỊCH.

Theo những tài liệu mà dịch giả hiện đã có trong tay thì phép điểm huyệt nói chung, tuy được gọi bằng những tên khác nhau như bấm huyệt, điểm huyệt, xoa bóp…, nhưng chúng có cùng một nguyên tắc là dùng áp lực của chi thể người thầy thuốc tác động lên cơ thể người bệnh, nhằm giúp cho cơ thể tự phòng bệnh, chống bệnh. Khi đi sâu thêm một bước, chúng ta sẽ thấy trong mỗi trường phái đều có phạm vi riêng và hiệu quả riêng. Có thể quy tập các trường phái làm ba loại như sau: Phải bấm vuốt nhẹ, phải ấn day nặng và phải ấn day vừa phải.

1. Phải ấn day nhẹ, phép này dựa theo nguyên lý khai thông lạc mạch, lạc mạch ở mông (tĩnh mạch nổi, chữa những bệnh do tắc nghẹn tĩnh mạch mà gây ra đau đớn. Muốn khai thông tắc nghẽn ở tĩnh mạch, trước hết phải chận ở động mạch là nguồn ra của huyết dịch, làm giảm nhẹ áp lực chi tĩnh mạch, sau đó dùng cách vuốt xoanhẹ ở những chỗ tĩnh mạch bị tắc nghẽn, khi chỗ tắc nghẽn được những rung động làm lỏng hoá ra, bấy giờ ta thả động mạch, lượng máu ra mạnh, lượng máu thu về tĩnh mạch sẽ nhiều lên đột ngột, có tác dụng như thêm nước để thông cống, những chỗ tắc nghẽn vừa được làn lỏng sẽ có cơ hội lưu thông nhanh, bế tắc được giải toả, bệnh biến lùi nhanh. Có thể nói, phương pháp Thập thủ đạo của lương y Huỳnh thị Lịch tuy có những độc đáo về thủ pháp khác biệt về tên gọi huyệt vị, nhưng không ngoại nguyên tắc này. ( Xem sách Bấm huyệt chữa bệnh của lương y Huỳnh thị Lịch do tỉnh hội y học dân tộc tỉnh Tiền giang và bệnh viện y học dân tộc tỉnh Tiền giang phát hành 6 – 1983 ).

2. Phải ấn day, phải nhấn day nặng, dựa trên nguyên lý chèn ép gây ra những phản ứng mới cho động mạch và thần kinh ở sâu, nhằm qua đó làm cải tiến tình trạng cơ thể những động tác của phái này thường được theo hai hướng. Một là khi bệnh thuộc hệ thống thần kinh, hoặc khi cần gây tê cục bộ để chuyển bị cho các động tác chỉnh sai khớp sương, nắn bó gẫy sương … , người ta thường ấn chẹn vào những chi thần kinh hữu quan theo những thủ pháp khác nhau do yêu câù chữa bệnh khác nhau. Hai là : chẹn vào động mạch ở đoạn dưới nới có bệnh, nhằm cản trở lại một lượng lớn máu, số máu ở ứ lại này sẽ gây thành áp lực đột xuất mạnh trong các chi mạch nhỏ phía trên, có tác dụng làm giãn nở những nhánh động mạch nhỏ. ấn vùng có bệnh, lượng máu cung cấp vào nơi này nhiều hơn sẽ tăng chất bổ và chất chống bệnh. Như vậy, phép này có tác dụng chữa những bệnh do động mạch nhỏ bị co hẹp làm cho lượng máu cung cấp ít, các tổ chức cục bộ do đó mà bị suy giảm công năng, nhất là chứng tê bại do suy dinh dưỡng cục bộ, ( xem sách án ma của Thiên tân thị, Thiên tân y viện, Thạch gia trang thịnh, giao thông vận luân cục y viện hợp tác biên soạn, Tân hoa thưđiểm Bắc kinh phát hành tháng 11 năm 1954 làm ví dụ ).

3. Phải ấn day vừa – phải ấn day vừa dựa trên nguyên lý điều hoà khí huyết, cân bằng âm dương, cho nên các thủ pháp của phái này thường ở độ sâu vừa phải, dùng sức mạnh vừa phải. Những thủ pháp của phái này luôn nhằm vào làm cho cục bộ có rung động theo nhịp khac nhau, chiều khác nhau. Khi có nhịp tác động của áp lực vào thân thể sẽ cùng một lúc có hai tác dụng: Một là làm giãn nở thành mạch, các thành phần chất lỏng trong và ngoài mạch trao đổi được rễ ràng, thì cũng là thành phần huyết và dịch được trao đổi chuyển hoá cho nhau, sự cung cấp dinh dưỡng cũng sẽ tốt đẹp hơn. Hai là: khi rung động khác nhau về nhịp, khác nhau về chiều hướng, sẽ làm cho việc vận chuyển máu trong mạch và chất lỏng ngoài mạch được tăng nhanh hay chậm lại, có tác dụng làm cải biến tình hình thực ( nhiều, đầy ) hay hư ( thiếu, ít ) của khí huyết tại chỗ và tạng phủ hữu quan ( xem Bảo anh thần thuật trong sách châm cứu đại thành làm ví dụ và sách điểm huyệt liệu pháp này cũng cùng loại phải ấn day vừa ).

Khi phân tích ra như tôi vừa nêu, chúng ta sẽ tình được những giá trị và những giới hạn của từng trường phái giúp cho việc học tập và vận dụng kinh nghiệm người xưa được hiệu quả vì đúng phạm vi và đúng mục đích.

Hà nội, xuân Nhâm thân 1992
Kinh bút
Lê Văn Sửu

#2 Hà Uyên

Hà Uyên

    Hội viên tích cực

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPipPip
  • 1.084 Bài viết:

Thứ tư, 12/08/2009 | 20:27

Nguồn

http://ebook.vietnam...et/read.php?421

#3 Hà Uyên

Hà Uyên

    Hội viên tích cực

  • Hội Viên Ưu Tú
  • PipPipPipPip
  • 1.084 Bài viết:

Thứ sáu, 14/08/2009 | 13:08

TRỊ LIỆU LÂM SÀNG


Chương thứ nhất : BỆNH NỘI KHOA

1. Bán thân bất toại ( liệt nửa người )

Nguyên nhân bệnh : Bệnh này là di chứng sau trúng gió ( chảy máu não ), cũng có khi kẹt tắc động mạch não mà gây ra.

Chứng trạng : Đầu mệt đau đầu, mắt hoa và choáng, tai ù, miệng mắt méo lệch, một bên tay chân liệt. Chứng nặng thì tiếng nói ngọng, bên tay chân bị bệnh không hoạt động được, nằm ở giường không thể xoay lật được, đại tiểu tiện không cầm, cũng có khi bí kết. Chứng nhẹ tuy có thể hoạt động được, nhưng tay chân không theo ý nghĩ, ăn uống nhất loạt rất tốt, đại tiểu tiện bình thường, nhưng cũng có khi hai ngày mới đi một lần. Cách chữa: Bệnh này chủ yếu lấy điều lý khôi phục cơ năng trường vị làm chủ

Cách chữa: Bệnh này chủ yếu lấy điều lý khôi phục cơ năng trường vị làm chủ

Lấy huyệt:
+ Tả Hợp cốc là có thể thanh nhiệt ở vùng đầu, cũng có thể thanh nhiệt ở đại trường, thông lợi đại tiện.
+ Bổ Túc tam lý để dứt nôn mửa, hoà khí nghịch, dẫn vị khí đi xuống mà tăng tiến ăn uống.
Hai huyệt đó là chủ huyệt của cách chữa bênh này. Mỗi huyệt làm phép nắn day ngang bằng ( Bình nhụ ) và nhấn nhả ( áp phóng ) mỗi chỗ từ 100 đến 200 lần. Phối huyệt ở tứ chi – tả Khúc chì, bổ dương lăng tuyền, có tác dụng giúp đỡ cơ thể khôi phục và thúc đẩy cơ năng trường vị. Vùng bụng – tả Trung quản để hoà thuận vị khí, bổ Khí hải để tăng tiến cơ năng. Cách phối hợp huyệt tương hỗ đó không những điều lý được trường vị, đồng thời cũng thúc đẩy khôi phục cơ năng vận hoá của chi thể. Đầu mệt, thêm phép đẩy xoay vùng đầu, để làm tan phong nhiệt ở vùng đầu. Tai ù, thêm phép điểm ở Phong Trì, dùng bổ pháp, để dẫn hoả của thiếu dương đi xuống ( để bằng với ở dưới ). Các huyệt phối hợp, mỗi huyệt làm ấn day ngang bằng, nhấn nhả, mỗi phép 100 lần. Miệng mắt méo lệch, thêm điểm các huyệt Giáp xa, Đại thương, Hạ quan, Thừa tương. Chứng nhẹ thì cắt huyệt ( thiết huyệt pháp ), chứng nặng thì nhấn nhả ( áp phóng ) 50 lần, thêm mạnh khôi phục công năng cục bộ. Nói ngọng, thì thêm điểm ở các huyệt Phong phủ, án môn, mỗi huyệt nắn day ngang bằng và nhấn nhả mỗi huyệt từ 50 đến 100 lần, để trừ phong. Phối hợp với các huyệt ở Quan xung, Thông lý, ế phong để giúp đỡ cái bất túc của các huyệt trước. Đại tiểu tiện không bình thường, bổ Liệt khuyết, Chiếu hải để tư dưỡng âm huyết, tả Thừa sơn để thanh toán nhiệt. Mỗi huyệt làm nắn day ngang bằng và nhấn nhả mỗi phép đều 100 lần, ở tứ chi phải làm kèm phối hợp với phép dựa theo đường kinh ( tuần án Pháp ) như mai xoay ( thác niệm ), áp ấn ( áp bách ), xoa xát ( ma xát ). Thứ tự điểm huyệt – từ trên xuống dưới , trước điêm bên khoẻ, sau điểm bên bệnh.

Kết quả chữa
Chứng nhẹ lại chữa ngay thời kỳ đầu, người bệnh có sự điều dưỡng tốt, thu hiệu quả nhanh, thời gian chữa ngắn. Bệnh đã kéo dài, thế bệnh nặng, mà sinh khí người bệnh lại bình thường, thu hiệu quả chậm, chữa khó khỏi.