Diễn đàn Lý học Đông phương: XOA BÓP - Diễn đàn Lý học Đông phương

Chuyển tới nội dung

Trang 1 trên 1
  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể trả lời chủ đề này

XOA BÓP Kiến thức cơ bản

#1 User is offline   Hà Uyên 

  • Hội viên tích cực
  • PipPipPipPip
    • Nhóm: Hội viên ưu tú
    • Bài viết: 1.084
    • Gia nhập: 03-Tháng năm 09

    Cập nhật lúc 18 Tháng tám 2009 - 02:39 PM

    NGUỒN GỐC VÀ TÁC DỤNG CỦA XOA BÓP



    I – NGUỒN GỐC

    Y học hiện đại và y học dân tộc đều có xoa bóp. Xoa bóp của y học hiện đại được lý luận của y học hiện đại chỉ đạo, xoa bóp của y học dân tộc được lý luận của y học dân tộc chỉ đạo. Nhìn chung xoa bóp bằng tay của hai nền y học đều giống nhau chỉ khác nhau một số thủ thuật. Ngày nay do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên xoa bóp của y học hiện đại có các phương tiện máy móc hỗ trợ.

    Xoa bóp có từ lâu đời và ngày càng được phát triển. Từ thời xa xưa con người đã biết dùng đôi bàn tay khéo léo để xoa bóp, vuốt ve nhằm làm dịu những đau đớn trên cơ thể. Trên các di chỉ khảo cổ, trên những chữ viết vào lau sậy, trên các hình vẽ của kim tự tháp, đền chùa, trong các sách vở viết cách đây mấy ngàn năm đều nhận thấy cách xoa bóp trong nền y học dân gian ở nước nào cũng có. Có thể nói xoa bóp là một cách chữa bệnh được ra đời sớm nhất. Nó được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình đấu tranh với bệnh tật và bảo vệ sức khỏe của con người.

    Ở nước ta từ thời Hồng Bàng dựng nước (cách đây 2900 năm trước CN) nhân dân ta đã biết dùng lá ngải cứu, lá cúc tần xoa bóp chờm nóng, lá trầu không hơ nóng sát vào vùng cạnh thắt lưng, dùng hoa chổi xể ngâm rượu để xoa bóp . . . Từ đó tới nay xoa bóp ngày càng phát triển, trong chế độ phong kiến đã hình thành ba nhóm người làm xoa bóp. Một số người mù làm tầm quất ngoài đường với các thư pháp nhẹ nhàng như: bóp, chặt, đấm, bẻ các khớp đổ gây cảm giác khoan khoái dễ chịu, giảm mệt nhọc, đau lưng, mỏi gối, giảm đau mỏi các bắp thịt sau nhưng giờ lao động mệt nhọc. Một số người được trưng dụng xoa bóp cho bọn vua quan phong kiến qua các triều đại vua chúa. Một số lương y chữa bệnh bằng xoa bóp tại nhà với những môn phái khác nhau.

    Trong sách vở của các nhà danh y nổi tiếng đã nghi lại dùng xoa bóp để phòng bệnh và chữa bệnh. Tuệ Tĩnh ở thế kỷ XIV đã đề cập đến xoa bóp trong cuốn "Hồng nghĩa giác tư y thư". Hoang Đơn Hòa ở thế kỷ XVI đã đề cập đến huyệt xoa bóp trong cuốn "Hoạt nhân toát yếu”, Hải thượng lãn ông đã đề cập tới xoa bóp trong cuốn "Vệ sinh yếu quyết".

    Cách mạng tháng tám thành công nền y học dân tộc được giải phóng đến năm 1957 Viện y học dân tộc được thành lập, hiện nay đã có phòng xoa bóp có các bác sĩ và lương y chuyên xoa bóp để điều trị một số bệnh như đau thần kinh tọa, viêm quang khớp vai, đái dầm, vẹo cổ cấp tính, đau lưng cấp, đau lưng mãn, dị chứng bại liệt, dị chứng tai biến mạch máu não, suy nhược thần kinh, viêm gân, thấp khớp mãn v. v... đã đưa lại kết quả tốt. Đồng thời đã biên soạn tài liệu giảng dạy cho sinh viên chuyên khoa y học dân tộc, các bác sỹ y học dân tộc, phổ biến trong trong lĩnh vực thể dục thể thao, trong các trại điều dưỡng, các chuyên gia y tế nước ngoài.

    Hiện nay phong trào xoa bóp bảo vệ sức khỏe đang phát triển rộng khắp, câu lạc bộ ngoài trời của các cụ về hưu, sau một thời gian luyện tập thấy sức khỏe tăng lên, bệnh mãn tính giảm đi nhiều.




    Tóm lại xoa bóp ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong phòng bệnh và chữa bệnh. Nó đơn giản dễ làm, ít xảy ra tai biến, không phụ thuộc vào phương tiện máy móc thuốc men, đã giải quyết được một số bệnh cấp tính và mãn tính.

    II- TÁC DỤNG CỦA XOA BÓP

    1. Tác dụng đối với da

    Da có tầm quan trọng rất lớn đối với cơ thể. Nó bao bọc cơ thể con người và nó có diện tích vào khoảng 15.000 cm2. Trong cơ thể, da thải hơi nước gấp đôi phổi, nó cũng là cơ quan thẩm thấu và hô hấp, da còn tham gia vào quá trình chuyển hóa nước, muối, aubumin và vitamin. Da là cơ quan nhận cảm tức là nhận những kích thích nóng lạnh (trong đó có xoa bóp), truyền kích thích vào hệ thống thần kinh trung ương và tiếp nhận những phản ứng trả lời của cơ thể đối với kích thích đó. Vì vậy khi xoa bóp có tác dụng trực tiếp đến da và thông qua da ảnh hưởng đến toàn thân.

    a) Ảnh hưởng cục bộ: khi xoa bóp lớp sừng của biểu bì được bong ra làm cho hô hấp của da được tốt hơn mặt khác tăng cường chức năng của tuyến mỡ, tuyến mồ hôi nên sự đào thải các chất cặn bã qua các tuyến mồ hôi được tốt hơn. Xoa bóp làm cho mạch máu giãn tăng cường tuần hoàn động mạch và tĩnh mạch có lợi cho việc dinh dưỡng ở da, làm cho da co giãn tốt, da bóng đẹp và mịn, có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể của da, mặt khác xoa bóp có thể làm cho nhiệt độ của da tăng lên do mạch tại chỗ và toàn thân giãn.

    b. Ảnh hưởng đến toàn thân: khi xoa bóp các chất nội tiết của tế bào được tiết ra thấm vào máu và có thể tăng cường hoạt động của mạch máu và thần kinh ở da. Mặt khác thông qua phản xạ thần kinh, xoa bóp có tác động đến toàn cơ thể.

    Như vậy xoa bóp đã có tác đụng đối với toàn thân: tăng cường hoạt động của thần kinh; nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực hoạt động của cơ thể.

    2. Tác dụng đối với hệ thần kinh

    Xuất phát từ học thuyết về thần kinh của set-sẽ-Nốp và Páp-lốp trong cơ thể, tác dụng của xoa bóp đối với cơ thể thì vai trò của hệ thần kinh là chủ đạo. Tất cả các chức năng của cơ thể người ta đều do hệ thần kinh điều khiển. Cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản ứng đáp lại tích cực đối với những kích thích của xoa bóp.

    a) Rất nhiều tác giả cho rằng: xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số nội tạng và mạch máu.

    Ví dụ:

    Xoa bóp gáy, lưng, vai, ngực có thể gây lên những thay đổi ở các cơ quan do thần kinh thực vật ở cổ chi phối và các cơ quan do trung khu thực vật cao cấp ở chất xám não thất III chi phối. Do đó xoa bóp vùng đó điều trị các bệnh về mũi họng, cao huyết áp, trạng thái thần kinh như mất ngủ, rối loạn dinh dưỡng ở tay, đau nửa đầu do vận mạch.

    Xoa bóp vùng thắt lưng cùng, gồm da ở vùng trên thắt lưng, mông đến nếp mông nửa dưới bụng và 1/3 trên của đùi. Xoa bóp tác động đến vùng gây phản xạ thần kinh thực vật thắt lưng - cùng điều khiển một cơ quan chậu lớn nhỏ, chi dưới, sinh dục, nó có tác dụng dinh dưỡng khi có bệnh về hệ mạch chấn thương ở chân, giảm co thắt mạch, hàn gắn vết thương, dinh dưỡng các vết loét.

    Phát C7 có thể gây phản xạ cơ tim (co lại)

    Xoa bóp vùng thượng vị cũng ảnh hưởng đến chức năng của dạ dày - Tá tràng, bàng quang và nhanh dương.

    :D Xoa bóp có thể gây lên thay đổi điện não:kích thích nhẹ nhàng gây hưng phấn, kích thích mạnh thường gây ức chế.

    3. Tác dụng đối với cơ, gân, khớp:

    a) Đối với cơ: xoa bóp có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của cơ, tăng năng lực làm việc, sức bền của cơ và phục hồi sức khỏe cho cơ nhanh hơn khi không xoa bóp, khi cơ làm việc quá căng gây lên phù nề co cứng và đau, xoa bóp có thể giải quyết các chứng này. Ngoài ra nó có tác dụng tăng dinh dưỡng cho cơ vì vậy xoa bóp chữa teo cơ rất tốt.

    :angry: Đối với gân khớp:xoa bóp có khả năng tính co giãn, tính hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong cơ khớp và tuần hoàn quanh khớp. Nó có thể dùng để chữa bệnh khớp.

    4. Tác dụng đối với hệ tuần hoàn

    Đối với huyết động: Một mặt xoa bóp làm giãn mạch, trở lực trong lòng mạch giảm đi, mặt khác xoa bóp trực tiếp đẩy máu về tim, do đó xoa bóp vừa giảm gánh nặng cho tim vừa giúp máu trở về tim tốt hơn.

    Đối với người huyết áp cao ít luyện tập xoa bóp có thể làm hạ áp.

    Xoa bóp trực tiếp ép vào lâm ba cầu, nên giúp cho tuần hoàn lâm ba nhanh và tốt hơn, đo đó có thể có tác dụng tiêu sưng.

    d) Trong khi xoa bóp số lượng hồng cầu, tiểu cầu hơi tăng, xoa bóp trở về như cũ, số lượng bạch cầu, huyết sắc tố cũng có thể tăng.

    Sự thay đổi nhất thời này có tác dụng tăng cường sự phòng vệ của cơ thể.

    5. Tác dụng đến hệ bạch huyết:

    Trong cơ thể con người, ngoài hệ thống mạch máu ra còn có một hệ thống nữa là hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết gồm có một hệ thống mao mạch bạch huyết, mạch và bạch huyết trong đó bạch huyết chuyển động. Mạch bạch huyết tựa như một hệ thống lọc loại bỏ chất thừa của chất dịch mô hoặc dịch vệ trong các cơ quan.

    Xoa bóp giúp cho việc vận chuyển bạch huyết được tăng cường. Dòng máu va dòng bạch huyết tăng trước tiên tạo điều kiện giảm hiện tượng ngừng trệ và sự tiết dịch ở vùng khớp, ổ bụng và có tác dụng tiêu nề.

    6) Tác dụng đối với các chức năng

    a) Đối với hô hấp: khi xoa bóp thở sâu: có thể do trực tiếp kích thích vào thành ngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa các bệnh phế khí thũng, hen phế quản, xơ cứng phổi... để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sự suy sụp của chức năng thở.

    :rolleyes: Đối với tiêu hóa: có tác dụng tăng cường nhu động của dạ dày, của ruột và cải thiện chức năng tiêu hóa khi chức năng tiết dịch tiêu hóa kém, dùng kích thích mạnh để tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch tiêu hóa quá mạnh, dùng kích thích vừa và nhẹ để giảm tiết dịch.

    c) Đối với quá trình trao đổi chất: xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra nhưng không thay đổi độ acid trong máu. Có tác giả nêu lên, xoa bóp 2, 3 ngày sau, chất nitơ trong nước tiểu tăng lên và kéo dài vài này do tác dụng phân giải Prôtít của xoa bóp gây nên. Xoa bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 10 – 18%, đồng thời cũng tăng lượng bài tiết thán khí.
    0


    Trang 1 trên 1
    • Bạn không thể tạo chủ đề mới
    • Bạn không thể trả lời chủ đề này

    Trả lời khác cho chủ đề này

    #2 User is offline   Hà Uyên 

    • Hội viên tích cực
    • PipPipPipPip
      • Nhóm: Hội viên ưu tú
      • Bài viết: 1.084
      • Gia nhập: 03-Tháng năm 09

      Cập nhật lúc 18 Tháng tám 2009 - 02:44 PM

      PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP

      I – THỦ THUẬT XOA BÓP

      Thủ thuật xoa bóp tương đối nhiều, xin giới thiệu một số thủ thuật thường dùng: xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm, đấm, điểm, lặn, phát. vờn, rung, ve, vận động.

      Yêu cầu thủ thuật: thủ thuật phải dịu đàng, song có tác dụng thấm sâu vào da thịt, làm được lâu và có sức.

      Tác dụng bổ tả của thủ thuật: thường làm nhẹ, chậm rãi, thuận đường kinh có tác dụng bổ, làm nặng, nhanh, ngược đường kinh có tác dụng tả.

      1. Xát:

      Dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út hoặc mô ngón tay cái xát lên da, theo hướng thẳng (đi lên, đi xuống hoặc sang phải, sang trái).

      Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh.

      Cũng có khi phải dùng dầu, bột tan (tale) để làm trơn da.

      Toàn thân chỗ nào cũng xát được.

      Tác dụng: thông kinh lạc, dẻo gân cốt, lý khí làm hết đau, làm hết sưng, giảm đau.




      2. Xoa:

      Dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út ngón tay cái xoa tròn trên da chỗ đau. Tay của thầy thuốc di chuyển trên da người bệnh. Là thủ thuật mềm mại, thường dùng ở bụng hoặc nơi có sưng đỏ.

      Tác dụng: lý khí hòa trung (tăng cường tiêu hóa) thông khí huyết, làm hết sưng, giảm đau.

      3. Day:

      Dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái hơi dùng sức ấn xuống da người bệnh và di chuyểnn theo đường tròn. Tay của thầy thuốc và da của người bệnh dính với nhau, da người bệnh di động theo tay thầy thuốc. Thường làm chậm còn mức độ mạnh hay nhẹ, rộng hay hẹp tuy tình bệnh lý, là thủ thuật mềm mại hay làm ở nơi đau, nơi nhiều cơ.


      Tác dụng: làm giảm sưng, hết đau, khu phong, thanh nhiệt, giúp tiêu hóa.

      Hai thủ thuật day và xoa là hai thủ thuật chính trong việc chữa sưng tấy.

      4. Ấn:

      Dùng ngón, gốc gan bàn tay, mô ngón tay cái hoặc mô ngón tay út ấn vào một nơi nào hoặc vào huyệt nào.

      Tác dụng: sức qua da vào thịt, xương hoặc vào huyệt.


      5. Miết:

      Dùng vân ngón tay cái miết chặt vào da người bệnh rồi miết theo hướng lên hoặc xuống hoặc sang phải sang trái. Tay của thầy thuốc di động và kéo căng da của người bệnh. Hay dùng ở đầu, bụng.

      Tác dụng: khai khiếu, trấn tĩnh, bình can giáng hỏa, làm sáng mắt, trẻ em ăn không tiêu (miết từ trung quản xuống đến rốn).

      6. Phân:

      Dùng vân các ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai ttay, từ cùng một chỗ tẽ ra hai bên theo hướng ngược nhau.

      a) Có thể chạy trên da người bệnh khi hai tay phân ra và đi cách nhau xa.

      :D Có thể dính vào da người bệnh, da người bệnh bị keo năng ra hơi hướng ngược nhau khi hai tay phân ra và cách nhau không xa lắm.

      Dùng ở đầu mặt, ngực, lưng

      Tác dụng: hành khí, tán huyết, bình can, giáng hỏa.




      7. Hợp:

      Dùng vân cán ngón tay hoặc mô ngón tay út của hai tay từ hai chỗ khác nhau đi ngược chiều và cùng đến một chỗ. Tay của thầy thuốc như ở thủ thuật phân.

      Dùng ở đầu, bụng, lưng.

      Tác dụng: bình can giáng hỏa, trợ chính khi, giúp tiêu hoa.

      8. Véo:

      Dùng ngón tay cái, ngón tay trỏ hoặc những đốt thứ 2 của ngón cái với đốt thứ 3 của ngón tay trỏ kẹp và kéo da lên, hai tay làm liên tiếp sao cho da của người bệnh luôn luôn như bị cuộn ở giữa các ngón tay của thầy thuốc. Hay dùng ở lưng, trán.

      Tác dụng: bình can giáng hỏa, thanh nhiệt, khu phong tán hàn, nâng cao chính khí.

      9. Âm:

      Trước đây người ta dùng móng tay cái bấm vào huyệt nhân trung, thập tuyên, thừa tương để điều trị trong các trường hợp ngất choáng. Có tác dụng làm tỉnh người.

      Hiện nay người ta cắt ngắn móng ngón tay cái và ngón trỏ để bấm vào các huyệt, a thị huyệt và những nơi cơ co cứng để điều trị một số bệnh cấp tính và mãn tính.

      Chú ý: khi bấm nốt 1 và 2 vuông góc với nhau bấm từ từ, tăng dần đến khi bệnh nhân cảm thấy tức nặng thì hãm lại khoảng 1 phút dùng.

      Nếu tay ấn yếu thì dùng góc gan bàn tay kia ấn thêm vào và không làm quá sức chịu đựng của người bệnh.

      Khi bấm nút không được day vì nghiền nát tổ chức bầm tím và đau.

      10. Điềm

      Dùng đầu ngón tay cái, đốt thứ 2 ngón trỏ, giữa hoặc khuỷu tay, dùng sức ấn thẳng góc vào huyệt hoặc vị trí nhất định. Đó là thủ thuật tả mạnh nhất của xoa bóp, cần căn cứ vào bệnh tình hư thực của người bệnh để dùng cho thỏa đáng.

      Thường dùng ở mông, lưng, thắt lưng, tứ chi.

      Tác dụng: khai thông những chở bê tắc, tán hàn giảm đau.

      11. Bóp

      Có thể dùng hai bàn tay hoặc ngón tay cái và ngón trỏ, ngón nhẫn hoặc ngón cái và bốn ngón tay kia hoặc hai đầu ngón tay cái và trỏ (khi bóp vào huyệt). Lúc đó vừa bóp vừa hơi kép thịt lên. Nói chung không lên để thịt và gân trượt dưới tay, vì làm như vậy gây đau. Nên dùng đốt thứ 3 các ngón tay để bóp, không lên dùng đầu ngón tay để bóp vào cơ vì làm như vậy gây đau. Thường dùng ở cổ, gáy, vai, nách, lưng trên, mông và tứ chi. Sức bóp mạnh hay nhẹ tùy đối tượng.


      12. Đấm

      Nắm tay lại dùng ô mô út đấm vào chỗ bị bệnh, thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.

      Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.

      13. Chặt

      Duỗi thẳng bàn tay, dùng ô mô út chặt liên tiếp vào chỗ bị bệnh. Thường dùng ở nơi nhiều cơ như lưng, mông, đùi.

      Nếu xoa bóp ở đâu thì xòe các ngón tay, dùng ngón út chặt vào đầu bệnh nhân. Khi chặt ngón út sẽ đập vào ngón đeo nhẫn, ngón đeo nhẫn sẽ đạp vào ngón giữa, ngón giữa sẽ đập vào ngón trỏ phát ra tiếng kêu.

      Tác dụng: thông khí huyết, tán hàn, khu phong.

      14. Lăn:

      Dùng mu bàn tay và ô mô út hoặc dùng các khớp giữa bàn tay và ngón hoặc dùng các khớp ngón tay vận động nhẹ nhàng khớp cổ tay với một sức ép nhất định lần lượt lăn trên da thịt bệnh nhân, thường lăn ở nhiều nơi và nơi đau.

      Tác dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh lạc làm lưu thông khí huyết do đó giảm đau, làm khớp vận động được dễ dàng.


      Thủ thuật này có tác dụng thấm sâu vào da thịt, diện kích thích lớn, nên hay được dùng trong tất cả các trường hợp xoa bóp.

      15. Phát

      Bàn tay hơi khum khum, giữa lòng bàn tay lõm, các ngón tay khít lại với nhau phát từ nhẹ đến nặng vào chỗ bị bệnh. Khi phát da đỏ lên do áp lực trong lòng bàn tay thay đổi gây nên, chứ không có các vết lằn ngón tay như khi để thẳng ngón tay như để thắng ngón tay phát. Dùng ở vai, thắt lưng, tứ chi, bụng.

      Tác dụng: thông kinh lạc, mềm cơ, giảm sức căng.

      16. Rung

      Người bệnh ngồi thẳng, hai tay buông thõng hơi nghiêng người về phía bên kia, thầy thuốc đứng hai cổ tay nắm cổ tay người bệnh kéo hơi căng, hơi dùng sức rung từ nhẹ đến nặng, chuyển động như làn sóng từ tay lên vai. Vừa rung vừa đưa tay bệnh nhân lên xuống từ từ và cuối cùng giật nhẹ một cái.

      Dùng ở tay là chính

      17. Vê

      Dùng ngón tay trỏ và ngón cái vê theo hướng thẳng thường dùng ở ngón tay, ngón chân và các khớp nhỏ.

      Tác dụng: làm trơn khớp, thông khí huyết:


      18. Vờn

      Hai bàn tay hơi cong bao lấy một vị trí, rồi chuyển động ngược chiều kéo theo cả da thịt người bệnh chỗ đó chuyển động theo. Dùng sức phải nhẹ nhàng vờn từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.

      Dùng ở tay chân, vai, lưng, sườn.

      Tác dụng: bình can, giải uất, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết.

      19. Vận động:

      Tùy theo từng khớp mà có cách vận động khớp khác nhau.

      Ví dụ: khớp vai: cột 2 tay cố định phía trên khớp một tay cầm cánh tay vận động khớp theo phạm vi hoạt động bình thường của khớp. Nếu khớp vận động bị hạn chế cần kéo giãn khớp trong khi vận động và phải hết sức chú ý phạm vi hoạt động của khớp lúc đó, làm từ từ tăng dần tránh làm quá mạnh gây quá đau cho người bệnh.

      Các khớp đốt sống cổ: một tay để ở cằm một tay, một tay để ở chẩm, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng sau đó đột nhiên làm mạnh một cái nghe tiếng kêu khục.

      Các khớp cột sống lưng: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân dưới duỗi thẳng, chân trên co, tay phía dưới để trước mặt, tay phía trên để quặt sau lưng. Một cánh tay của thầy thuốc để ở mông, một cẳng tay đặt ở rãnh đen trước ngực, hai tay vận động ngược chiều nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái sẽ phát ra một tiếng kêu khục.

      Tác dụng: thông lý mở khớp, tán nhiệt, làm tăng sức hoạt động của các chi.

      Mỗi lần xoa bóp ta chỉ cần dùng một số thủ thuật mà thôi. Hay dùng nhất có xoa, rung, đấm, bóp, ấn, vờn, lăn, vận động.


      II XOA BÓP TƯNG BỘ PHẬN

      1. Xoa bóp đầu.

      a) Huyệt: ấn đường, thái dương, đầu duy, bách hội, phong phủ, phong trị.

      :angry: Thủ thuật: véo hoặc phân hợp, day, ấn, miết, bóp, vờn, chặt.

      c) Chỉ định: váng đầu, nặng đầu, đâu đầu do nội thương hoặc ngoài cảm mất ngủ v. v.

      d) Trình tự xoa bóp:

      Tư thế người bệnh: tùy tình hình cụ thể có thể năm hoặc ngồi. Ngồi thì dễ làm hơn. Thao tác:

      • Véo hoặc miết hoặc phân hợp vùng trán
      Nếu dùng thủ thuật véo; véo dọc trán từ ấn dương lên chân tóc rồi lần lượt véo hai bên từ ấn dương tỏa ra như quạt nan giấy cho hết trán.

      Nếu dùng thủ thuật miết: hai ngón tay cái miết từ ấn dương tỏa ra hai bên thái dương, làm sát lông mày trước rồi làm dần lên trán.

      Nếu dùng thủ thân phân hợp: Dùng hai ngón tay cái phân hợp vùng trán cùng một lúc.

      • Véo lông mày từ ấn dương ra hai bên ba lần
      Nếu thấy chỗ da cứng, đau hơn chỗ khác tác động thêm để da mềm trở lại. Lúc này người bệnh đau nhiều có thể chảy nước mắt, vẫn làm chỉ cần động tác dịu dàng là được, rồi véo nhẹ huyệt ấn đường 3 lần.

      • Day: huyệt thái dương 3 lần, miết từ thái dương lên huyệt đầu duy, rồi miết vòng qua tai ra sau gáy 3 - 5 lần.
      • Vỗ đầu:hai tay để đối diện nhau vỗ quanh đầu hai hướng ngược nhau vỗ hai vòng.
      • Gõ đầu: dùng thủ thuật chặt bằng ngón tay, gõ đầu người bệnh.
      • Bóp đầu: hai bàn tay bóp đầu theo hướng ra trước, lên trên, ra sau.
      • Ấn: huyệt bánh hội, phong phú
      • Bóp: phong trì, bóp gáy
      • Bóp: vai và vờn vai
      2. Xoa bóp cổ gáy:

      a) Huyệt: phong phủ, phong trì, đại chùy, kiên tỉnh, phế du, đốc du, cự cốt.

      bị Thủ thuật: lăn. day, bóp, ấn, vận động vờn

      c) Chỉ định: vẹo cổ, hoạt động cổ bị hạn chế, bong gân.

      d) Trình tự xoa bóp

      Tư thế người bệnh: ngồi. Thao tác:

      • Day: vùng cổ gáy, nếu đau một bên dùng một tay (gốc gan bàn tay, day bên đau). Nếu cả hai bên, dùng hai tay cùng day. Động tác nhẹ, dịu dàng.
      • Lăn vùng phong trì. đại chùy, kiên tỉnh, vừa làm vừa vận động nhẹ cổ người bệnh.
      • Tìm điểm đau nhất dọc cơ ức đòn chũm (chỗ đó thường cứng hơn chỗ khác) day từ nhẹ đến nặng.
      • Ấn: các huyệt phong phủ, phế du, đốc du, cự cốt, khi ấn huyết phong phủ phải một tay để ở giữa trán người bệnh, tay kia ấn.
      • Bóp: huyệt phong trì và gáy, vai, vờn vai
      • Vận động cổ có nhiều cách như:
      Quay cổ: một tay thầy thuốc để ở cằm, một tay để ở xương chẩm người bệnh, hai tay di chuyển ngược chiều nhẹ nhàng từ từ rồi đột nhiên làm mạnh một cái, lúc đó có thể gây tiếng kêu ở khớp cổ.

      Ngửa cổ: cẳng tay thầy thuốc để sau gáy người bệnh tay khi để ở trán, ngửa cổ, cúi cổ người bệnh vài lần rồi đột nhiên ngửa mạnh ra sau. Có thể gây tiếng kêu ở cổ.

      Tổng hợp các động các cổ: đứng cạnh người bệnh, một tay thầy thuốc ở xương chẩm, một tay để ở xương hàm dưới dùng sức nhấc đầu bệnh nhân lên và vân danh cổ (quay nghiêng, ngửa cúi) vài lần.

      Chú ý: Khi vận động cổ người bệnh cần:

      Người bệnh phối hợp chặt chẽ để tự nhiên không lên gân, không kháng cự lại, chỉ trong điều kiện này thủ thuật vận động mới đạt kết qủa.

      Dùng sức vừa phải, không quá mạnh dễ tổn thương ở khớp.

      3. Xoa bóp lưng

      a) Huyệt: đại trữ, phế du, cách du, thận du, mệnh môn.

      :rolleyes: Thủ thuật : day, đấm, lăn, ấn, phân hợp, véo phát.

      c) chỉ định: đau lưng (do các nguyên nhân khác nhau và cổ xương, dây chẳng, khớp và phủ tạng gây nên) suy nhược thần kinh, bệnh dạ dày và ruột.

      d) Trình tự xoa bóp :

      Tư thế người bệnh nằm sấp, hai tay để ở tư thế như nhau hoặc xuôi theo thân hoặc để lên đầu, đầu để trên gối. Nếu là đau do dính khớp cột sống thì ngực cần cách giường 5-10 cm, lúc đó cần gối cao. Trong các trương hợp khác ngực để sát giương. Thao tác:

      • Day rồi đấm hai bên thắt lưng
      • Lăn hai bên thắt lưng và cột sống
      • Tim điểm ấn đau ở lưng, day từ nhẹ đến mạnh, ấn các huyệt đại trùy, phế du, cách du, thận du.
      • Phân hợp hai bên thắt lưng (hoặc véo cũng được)
      • Véo cột sống 1 - 2 lần
      • Phất huyệt mệnh môn 3 cái.
      Chú ý: Đau lưng do vận động không thích hợp gây nên, thường có ấn đau ở các huyệt thận du, cách du, hoặc vùng quanh mệnh môn.

      Đau lưng do nội tạng gây nên (thường do viêm ruột, bệnh dạ dày hoặc bộ phận sinh dục, bài tiết) ở các huyệt du tương ứng với các tạng phủ thường có ấn đau.

      4. Xoa bóp chi trên

      a) Huyệt: đại chùy, kiên tỉnh, kiên ngung, khúc trì, thiên tông, thủ tam lý, hợp cốc, dương trì.

      b)Thủ thuật: day, bóp, lăn, ấn, vờn, vận động, rung, vê.

      c) Chỉ định: Viêm quanh khớp vai, bong gân khớp vai, khớp khuỷu, khớp cổ tay, công năng chi trên kém.

      d) Trình tự xoa bóp

      Tư thế người bệnh: ngồi, thầy thuốc đứng sau người bệnh. Thao tác:

      • Day vùng tai
      • Lăn vùng vai
      • Bóp hoặc lăn cánh tay, cẳng tay
      • Tìm điểm đau và day điểm đau
      • Ấn các huyệt kiên tỉnh, kiên ngung, thiển tổng, khúc trì, thủ tam lý, hợp cốc, dương trì.
      • Vận động các khớp vai, khuỷu tay, cổ tay.
      • Vận động khớp vai:
      Một tay giữ vai, một tay cầm cổ tay người bệnh quay tròn 2, 3 lần (một mặt chuẩn bị vận động, một mặt xem phạm vi hoạt động của khớp đến đâu).

      Kéo đầu cánh tay ra ngang, rồi đưa lên cao ra trước, quan sát ngực rồi vòng xuống dưới 3 ~ 4 lần. Khi đưa lên cao, chú ý phạm vi hoạt động hiện tại của vai, đưa lên đến mức người bệnh vừa thấy đau là đủ, không nên đưa lên quá.

      Hai bàn tay cài vào nhau để lên vai người bệnh, tay người bệnh để trên khuỷu tay mình, từ từ đưa lên hạ xuống để đưa tay người bệnh lên cao đầu 3 - 4 lần.

      Nắm ngón tay cái người bệnh, vòng cẳng tay lên trên từ ngoài vào trong, từ sau ra trước rồi kéo xuôi tay người bệnh ra phía sau lưng 2 – 3 lần.

      • Vận động khớp khuỷu
      Một tay giữ phía trên khớp khuỷu, một tay nắm cổ tay người bênh rồi gấp duỗi 2 - 3 lần.

      • Vận động khớp cổ tay.
      Hai tay nắm bàn tay người bệnh, hai ngón cái để ở ngón út và ngón cái. Ngón cái đẩy bàn tay ngửa ra sau, trong khi đó các ngón khác kéo góc bàn tay lại, ấn chặt cổ tay và kéo đầu cổ

      Vê các ngón tay, rồi kéo dãn (lúc đó có thể kêu)

      Vờn tay

      Rung tay

      Phát đại chùy

      Chú ý: khớp nào đau; vận động khớp đó là chính

      5. Xoa bóp chi dưới

      a) Huyệt: cự liêu, hoàn khiêu, thừa phủ, ủy trung thừa sơn, côn lôn, thái khê, phục thỏ, tất nhãn, hạc đỉnh, túc tam lý, đương lăng tuyền, phong long, giải khê.

      B) Thủ thuật. day, lăn, bóp, ấn, vờn, phát, điểm, vận động.

      c) Chỉ định: đau chân, đau khớp chân (do nội thương, ngoại thương), khớp hoạt động bị hạn chế, đau dây thần kinh hông.

      d) Trình tự xoa bóp

      Tư thế người bệnh: nằm ngửa. Thao tác:

      • Day đùi và cẳng chân (mặt trước)
      • Lăn đùi và cẳng chân
      • Ấn các huyệt: phục thỏ, tất nhãn, túc tam lý, dương lăng tuyên, giải khê.
      • Vận động khớp
      Gập chân lại đưa lên bụng 3 - 5 lần.

      Làm dãn dần đầu gối, bắp chân người bệnh gác lên cẳng tay thầy thuốc, tay bên để ở gối người bệnh, co duỗi vài lần rồi đột nhiên ấn mạnh vào đâu gối, làm khớp dãn ra (làm 1 - 2 lần)

      • Vận động cổ chân.
      Tay phải giữ gót chân người bệnh, tay kia nắm ngón chân và quay cổ chân người bệnh 2 - 3 lần, rồi lấy tay đẩy bàn chân vào ống chân, duỗi bàn chân đến cực độ 2 - 3 lần.

      Hai tay ôm chân người bệnh, ngón cái để ở sát mắt cá trong mắt cá ngoài, ấn xuống và đưa chân người bệnh vào trong, ra ngoài 2 - 3 lần.

      Tay phải giữ gót chân, tay trái nắm bàn chân cùng kẻo dãn cổ chân.

      Vê ngón chân và kẻo dãn ngón chân

      Người bệnh: nằm sấp

      • Xoa bóp vùng thắt lưng
      • Day mông và chân
      • Tìm điểm đau và day điểm đau
      • Điểm huyệt hoàn khiêu, ấn các huyệt; cự liêu thừa phù, ủy trưng, thừa sơn, phong long, bóp cồn tôn, thái khê.
      • Vận động khớp
      • Co duỗi khớp gối
      • Mở khép khớp háng
      • Bóp và vờn chi dưới
      Chú ý: Khớp nào đau, vận động khớp đó là chính

      Trong bệnh đau dây thần kinh hông hai nhóm cơ khép đùi có hiện tượng co và đau xoa bóp có thể làm dãn và giảm đau cho nhóm cơ đó được.

      6. Xoa bóp ngực

      a) Huyệt. vân môn, đản trung, nhật nguyệt, chương môn khuyết bồn.

      B) Thủ thuật: miết, phân, ấn

      c) Chỉ định: Đau ngực, tức ngực, vẹo sườn khó thở

      d) Trình tự xoa bóp

      Tư thế người bệnh: nằm ngửa. Thao tác:

      • Hai tay miết từ giữa ngực ra hai bên, các ngón tay để ở các kẽ liên sườn 1, 2, 3 và miết theo kẽ sườn ra hai bên 3 - 4 lần.
      Phần ngực: Mô ngón út hai tay sát dọc theo xương ức đến mũi kiếm xương ức rồi phân ra hai bên cạnh sườn 5 - 10 lần.

      Chú ý: Tránh chạm vào vú người bệnh nữ

      • Ấn các huyệt: vân môn, đàn trung, nhật nguyệt, chương môn, khuyết bồn.
      Phân ngực: như phần trên

      Chú ý: Nếu là bệnh nhân đau dây thần kinh liên sườn nên tìm điểm đau ở phía lưng sát gai sống lưng, tương đương với dây thần kinh liên sườn, tác động nên điểm đau đó, có tác dụng giảm đau rõ rệt.

      7. Xoa bóp bụng

      a) Huyệt. trung quản, quan nguyên, khí hải, thiên khu, kiến lý.

      B) Thủ thuật: miết, ấn, phân, xoa.

      c) Chỉ định: đau bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, sôi bụng.

      d) Trình tự xoa bóp

      Tư thế người bệnh: nằm ngửa. Thao tác:

      • Miết từ trung quản xuống thần khuyết
      • Xoa bụng
      • Ấn các huyệt, trung quản, thiên khu, quan nguyên
      • Phân xoa bụng, có thể phối hợp ấn, ví dụ: túc tam lý
      8. Phương pháp véo cột sống lưng

      • Là phương pháp dùng các thủ thuật véo cơ di động, keo và ấn để trị một số bệnh và phòng bệnh.
      • Có thế dùng một số bệnh: suy nhược thần kinh, huyết áp cao, suy dinh dưỡng, hen.
      Thao tác:

      • Dùng mu bàn tay sát sống lưng người bệnh 2-3 lần.
      • Véo da từ trường cường lên đại chùy. Da bệnh nhân phải luôn luôn cuộn ở dưới bàn tay thấy thuốc.
      • Véo da, lần thứ hai kết hợp kéo da ở các vị trí sau
      Suy nhược thần kinh: kéo da ở TL2 - L5

      Huyết áp cao: kéo da ở TL2 – TL9

      Suy dinh dưỡng: kéo da ở L11 – L22

      Hen: kéo da ở TL2 – L11 - L12

      Véo da lần thứ 3: như lần thứ nhất

      Ấn các huyệt sau

      Suy nhược thân kinh: thận du, tâm du

      Huyết áp cao: thận du, cân du

      Suy dinh dưỡng: tỳ du, vị du

      Hen: thận du, ty du, phế du

      Sát sống lưng theo đường kinh bàng quang từ trên xuống dưới đến thận du, phân ra hai bên thắt lưng.

      Một ngày làm một lần, 12 lần là một đợt:

      Chú ý: TL : đốt thắt lưng; L : đốt lưng.
      0

      #3 User is offline   Hà Uyên 

      • Hội viên tích cực
      • PipPipPipPip
        • Nhóm: Hội viên ưu tú
        • Bài viết: 1.084
        • Gia nhập: 03-Tháng năm 09

        Cập nhật lúc 18 Tháng tám 2009 - 02:51 PM

        1- XÁT

        http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-3.jpg


        2- DAY
        http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-4.jpg


        3- ẤN


        http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-5.jpg

        4- PHÂN
        http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-6.jpg


        5- BÓP


        http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-7.jpg
        0

        #4 User is offline   Hà Uyên 

        • Hội viên tích cực
        • PipPipPipPip
          • Nhóm: Hội viên ưu tú
          • Bài viết: 1.084
          • Gia nhập: 03-Tháng năm 09

          Cập nhật lúc 18 Tháng tám 2009 - 02:54 PM

          5- LĂN

          http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-8.jpg

          6- VÊ

          http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-9.jpg

          7- VẬN ĐỘNG

          http://cimsi.org.vn/images/fckUpload/image/Lien/2009-05-27-10.jpg
          0

          Chia sẻ chủ đề này:


          Trang 1 trên 1
          • Bạn không thể tạo chủ đề mới
          • Bạn không thể trả lời chủ đề này

          1 thành viên đang xem chủ đề này
          0 thành viên, 1 khách, 0 thành viên ẩn danh