Quản trị viên 1

Tử Vi Lạc Việt

1 bài viết trong chủ đề này

Thiên Sứ

Posted: 05-07-2006

Nhờ sự giúp đỡ của anh Vô Tri , Thiên Sứ tôi mở topic này để cùng anh Vo Tri trao đổi về một trình Tử Vi Việt giữa trên nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ Văn minh Việt là Hậu Thiên bát quái Lạc Việt & Hà Đồ.

Hân hạnh được sự giúp đỡ của anh Vo Tri.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 06-07-2006

Các bạn thân mến,

Như chúng ta đã đồng ý là làm :

1. Tu Vi Lac Viet software

2. Một cuốn Âm Dương Lịch (xin Ban Chấp Hành mở thêm một topic)

Vô Tri đề nghị bắt đầu với Tử Vi Lac Viet software như sau:

1. Trước tiên là làm lấy " TuVi.zip " làm mẫu

2. Cho dễ dàng, Vô Tri sẽ lấy ra phần Anh Văn và phần ý nghĩa trong software, sau khi hoàn tất rồi mọi người có thể dịch qua Anh Văn, nếu muốn.

3. Đặt tên cho software. Đây là ý kiến của anh Thiên Sứ , cho nên em xin đề nghị là để anh Thiên Sứ đặt một tên cho software nầy.

4. Trong thời gian viết software, em xin sẽ upload software lên Việt Lý Số từng version. Bắt đầu là version 1.0 (Sau khi anh Thiên Sứ đặt tên thì em sẽ upload version 1.0 lên ). Trong thời gian ban đầu, em yêu cầu mọi người bắt đầu download " TuVi.zip " software

5. Software sẽ chia ra từng giai đoạn như sau:

5a : Công thức và hình trong software : Chúng mình sẽ dùng chủ đề nầy để bàn luận công thức. Sau khi được sự đồng ý, công thức sẽ trở thành luật của software

5b: Áp dụng công thức trên software: Sau khi bỏ công thức mới vào software thì sẽ có version mới.

5c: Thí nghiệm: Upload version mới lên trên đây. Còn về vấn đề bao nhiêu người có thể download trong thời gian ban đầu thì em sẽ để cho Ban Chấp Hành quyết định.

5d. Ý kiến sau khi thử version mới : sẽ được bàn luận trên đây. Nếu cần thay đổi , thì em sẽ thay đổi và ra version mới

5e : Vòng lại 5a

Em sẽ bắt đầu với #1 and #2. Anh Thiên Sứ có thể bắt đầu với #3 . Trong thời gian 1, 2 và 3 hoàn tất , xin mọi người lưu ý và chuẩn bị giúp phần 5a. Nếu ai có hình hay màu mè nào thích hợp , xin cho ý kiến

Em,

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 06-07-2006

Chân thành cảm ơn Vô Tri.

Tôi không rành về vi tính nói chung và cũng không hiểu gì về lập trình.

Bởi vậy, xin được sự thông cảm và hợp tác chặt chẽ của anh Vô Tri.

Về nguyên lý lý thuyết căn để của Tử Vi Lạc Việt khác với các bản Tử Vi lưu truyền trong sách Hán là:

* Từ vi Lạc Việt khẳng định một thực tại là cơ sở lý thuyết của nó chính là những hiệu ứng tương tác của vũ trụ ảnh hưởng tới Địa cầu và con người.

* Có nguyên lý căn để là Hậu Thiên Lạc Việt liên hệ với Hà Đồ. Tính quy luật làm nên khả năng tiên tri từ đồ hình biểu lý căn để này.

* Tử Vi Lạc Việt giữa trên nạp âm của Lạc Thư Hoa giáp

Trên cơ sở nguyên lý này, sẽ dẫn tới sự hiệu chỉnh một số dữ kiện của lá số Tử Vi, chứng tỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh của một lý thuyết liên hệ tới một phương pháp ứng dụng.

* Không có sự thay đổi về tính chất các sao trong sự tương tác cụ thể trong luận đoán.

* Không thay đổi về nguyên tắc an sao mà chỉ là hiệu chỉnh một số sao theo nguyên lý của nó.

Thí dụ:

Hoả cục Trường Sinh ở Dần thì nguyên tắc không đổi. Nhưng người Hoả Lục cục theo sách Hán, do đổi thành Thuỷ Lục cục theo Lạc Thư Hoa Giáp, nên Trường Sinh an từ Thân.

* Có một số tiểu tinh được an lại cho phù hợp với tính qui luật đã chứng minh trên nguyên lý:

Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ

Anh Vô Tri thân mến.

Hôm nay tôi bệnh quá. Do viêm họng cấp tính, mới bớt. Hy vọng ngày mai, chúng ta bắt đầu làm việc.

Chúc anh và gia đình vạn sự an lạnh

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 06-07-2006

Được sự đồng ý của anh Vô Tri. Tôi xin được đặt tên phần mềm này là:

Tử Vi Lạc Việt.

Xin anh chị em và các cao nhân dịch từ này ra tiếng Anh.

Trân trọng cảm ơn sự đồng thuận và ủng hộ của anh chị em.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 06-07-2006

Các bạn thân mến,

4 bước đầu tiên đã được thành công. Tử Vi Lạc Việc version 1.0 đã được đưa lên và có thể download tại

http://www.vietlyso.....1152214355.zip

Vô Tri phải đi công tác trong 4 ngày kế tiếp. Các bạn cứ tiếp tục thảo luận và góp ý kiến trên đây. Vô Tri sẽ trở lại và cùng các bạn tiếp tục phần 5 của Tử Vi Lạc Việt software. Chúc mọi người một cuối tuần vui vẽ

Em,

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 06-07-2006

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP

Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm

Cũng căn cứ trên Hà Đồ - PHÁP ĐẠI UY NỖ của người Lạc Việt và nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, Vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử; và chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ như cũ, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp.

Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở hai hành Thuỷ và Hoả. Điều này được trình bày như sau:

Bắt đầu từ hành Kim:

1) Hành Kim

Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim Mộ (Quý).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng cộng 24 năm, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thuỷ

Quí vị lưu ý:

Thuỷ là con do Kim sinh.

Theo bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thì sau hành Kim là Hoả. Điều này không mang tính qui luật "Cách bát sinh tử". Bởi vì Hoả khắc Kim và không phải con (Tử) của Kim.

2) Hành Thuỷ:

Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thuỷ (Sinh), cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng), cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thuỷ (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thuỷ - Tổng cộng 24 năm, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thuỷ sinh) là:

3) Hành Mộc:

Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh), cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - Tổng cộng 24 năm, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hoả (Hoả là con do Mộc sinh) là:

4) Hành Hoả

Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hoả (Sinh), cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hoả (Vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Tích lịch Hoả (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hoả - Tổng công 24 năm, thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hoả sinh)là:

5) Hành Thổ

Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.

Đến đây là kết thúc một kỷ 30 năm của Lạc thư hoa giáp.

Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc thuận chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh hoạ bằng hình dưới đây:

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP

Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ

Kính thưa quí vị quan tâm!

Bảng

LẠC THƯ HOA GIÁP là kết quả của sự sắp xếp theo lý tương sinh của Hà Đồ và qui luật Cách bát sinh tử. Theo nguyên lý này thì hành Thuỷ và Hoả sẽ thay thế chỗ cho nhau.

Qua những chứng minh ở trên; người viết đã chứng tỏ rằng:

Chính Hà Đồ là nguyên lý của chu kỳ hoa giáp 60 năm trong Lý Học Đông phương; dù theo cách nào: Hán cổ hay Lạc thư hoa giáp.

Hà Đồ là một đồ hình căn bản trong lý học Đông phương và được chứng minh trong luận đề "Hà đồ và văn minh Lạc Việt", đồng thời cũng được chứng tỏ trong di sản văn hoá dân gian Lạc Việt là bức tranh thờ Ngũ Hổ của phướng Hàng Trống với danh xưng:Pháp Đại uy nỗ. Đây là điều không hề có trong các bản văn Hán cổ.

Kính thưa quí vị quan tâm.

Như vậy; người viết đã chứng minh nguyên tắc của bảng nạp âm trong lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán và sai lầm của nó. Đồng thời cũng chứng minh tính hợp lý cho sự liên hệ nội tại của những vấn đề liên quan đến sự lập thành bảng Lạc thư hoa giáp từ văn minh Lạc Việt. Xin xem chi tiết trong bài "Bí ẩn Lục thập hoa giáp". Văn hiến Lạc Việt. Vietlyso.com

Đây là bằng chứng nữa về cội nguồn văn hoá phương Đông thuộc về văn minh Lạc Việt; cơ sở của niềm tự hào về truyền thống lịch sử gần 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.

Đây cũng là nguyên lý căn để trong Tử Vi Lạc Việt

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

phuongly

Posted: 08-07-2006

Kính chào Sư Phụ

Sư phụ cho PL hỏi nếu đổi chỗ Thủy Hỏa theo LVHG thì cách tìm cục có thay đổi không ạ? PL đọc trong sách thấy viết vòng Trường Sinh được xác định theo cục ạ.

Mong được sư phụ chỉ bảo ạ.

Kính mến

phuongly

Thiên Sứ

Posted: 08-07-2006

Phương Ly quí mến.

Đại để là thế này :

Khi Phương Ly in một lá số Tử Vi được lập trình theo sách Hán. Nó ghi:

Hoả Lục Cục. Phương Ly lấy bút xoá sửa lại là Thuỷ Lục cục.

Thuỷ Cục thì Vòng Trường Sinh ở Thân.

Phương Ly lấy bút xoá , xóa tiếp Vòng Trường Sinh an theo Hoả cục từ sách Hán. Viết lại Vòng Trường Sinh an theo Thuỷ Cục từ Tử Vi Lạc Việt từ cung Thân.

Làm ngược lại với Thuỷ nhị cục từ sách Hán.

Sau đó xem như thường.

Phương Ly lưu ý:

Chính s/p đã đổi mệnh Thuỷ thành Hoả của ông SD Hussen, mà đoán rằng: Ông SD Hussen không chết đấy. Nếu để mạng Thuỷ như sách Hán thì ông này chết chắc vì mạng Thuỷ sinh Mộc cục (Tất nhiên đây chỉ là một yếu tố cần, còn cac sao hạn khác nữa).

Điều này s/p đoán từ khi cuộc chiến vùng Vinh chưa xảy ra ở bên Tử Vi Lý số. Và là người duy nhất công khai đoán điều này.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 08-07-2006

Phương Ly quý mến.

Một ý nữa Phương Ly hỏi mà s/p quên không trả lời.

Đó là:

Phương pháp tìm cục có thay đổi không?

Về phương pháp thì không đổi.

Thí dụ:

Tuổi Kỷ Sửu, mệnh an tại Mão. Tháng Mão năm Kỷ Sửu là tháng Đinh Mão. Hành của tháng chính là hành của cục. Đó là phương pháp lập cục không đổi.

Nhưng vì hành của tháng lại là hành của năm cùng Can Chi.

Theo sách Hán thì Đinh Mão thuộc Hoả, nên lập Hoả Lục cục cho lá số.

Còn theo Lạc Thư Hoa giáp thì Đinh Mão thuộc Thủy . Nên lập Thuỷ Lục cục cho lá số.

Như vậy, phương pháp không đổi, độ số không đổi. Bởi vậy không ảnh hưởng tới việc an sao Tử Vi và Thiên Phủ - vốn an theo số cục. Chỉ đổi tên hành vì theo Lạc Thư hoa giáp thì chỉ có hai hành Thuỷ hoả đổi chỗ cho nhau, so với sách Hán.Đương nhiên khi hành của cục đã đổi thì theo phương pháp an sao Trường Sinh liên quan đến hành theo cách mà s/p đã chỉ dẫn ở trên.

S/ p diễn đạt vậy. Phương Ly biết được không?

Thiên Sứ

PS: S/p nói thêm một điều đặc biệt này Phương Ly và các đệ tử của s/p nghiên cứu Tử Vi lưu ý:

Thổ Cục Trường sinh từ Tỵ.

Hiện tượng này nằm trong một phạm trù lý luận khác , nhưng về nguyên lý an Trường Sinh không đổi. Nếu Phương Ly thắc mắc điều này thì S/p sẽ chỉ dẫn qua YM.

phuongly

Posted: 08-07-2006

Thưa Sư phụ PL hiểu nôm na thế này không biết có đúng không ạ?

Ví dụ :Mệnh Thủy theo sách Hán sẽ đổi thành mệnh Hỏa theo LVHG.Nếu mệnh Thủy SH đó có cùng cục Thủy thì sẽ đổi thành Hỏa cục và mệnh Hỏa theo LVHG.

Nhưng ví dụ mệnh Thủy theo sách Hán có Kim cục ,sẽ đổi thành mệnh Hỏa còn Kim cục vẫn giữ nguyên không biết có đúng không ạ?

Sư phụ có thể PM cho PL biết tại sao Thổ cục lại an Trường sinh ở Tỵ không ạ?PL mệnh Thổ nên rất muốn biết tại sao lại an ở đó ạ.

Kính mến

phuongly

Thiên Sứ

Posted: 09-07-2006

Phương Ly quí mến.

@ Hiểu như Phương Ly về việc đổi Cục và Mệnh như thế hoàn toàn đúng.

Thí dụ:

Một người Kim Cục - Hoả Mệnh theo sách Hán. Bây giờ là Kim Cục Thuỷ Mệnh theo sách Việt.

Khi luận Tử Vi thì trước theo Hán luận rằng:

Người này Hoả Mệnh khắc Kim Cục, vượt nghịch cảnh thành công.

Bây giờ theo Việt luận rằng:

Người này hoàn cảnh thuận lợi cho số phận.

@ - Mối tương quan về nguyên lý giữa Mệnh và các sao không đổi .

Thí dụ:

Phú đoán "Mệnh Hoả /Tử Vi cư Dần là đắc địa". Thì nguyên lý này không đổi. Nhưng ăn vào người có mệnh Hoả theo Lạc Thư Hoa giáp chứ không ăn vào mệnh Hoả theo sách Hán. Lá số sư phụ là một thí dụ.

@ - Thổ Cục theo sách Hán Trường Sinh khởi từ Thân?

Tử Vi Việt - Thổ cục Trường Sinh khởi từ Tỵ.

Đây là nguyên lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.

Phương Ly hãy chiêm nghiệm kỹ đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ , rồi so sánh với đồ hình Thiên bàn Tử Vi , liên hệ tới việc nguyên lý an sao Trường Sinh (Hình trong bài: "Lý học Đông phương và bí ẩn của vũ trụ"). Sẽ hiểu.

Nếu quá một tuần không hiểu s/p sẽ giảng.

Thiên Sứ

phuongly

Posted: 09-07-2006

Sư phụ Kính mến

Cám ơn Sư phụ đã giải thích cho PL ở phần trên ,PL đã hiểu rồi ạ.Sư phụ cho PL hỏi thêm một câu nữa ạ:

Ví dụ người mệnh Thổ có Thủy cục theo sách Hán .Vậy theo LVHG có đổi thành người mệnh Thổ có Hỏa cục không ạ?

Còn phần mệnh Thổ an vòng Trường sinh khởi đầu tại Tỵ PL sẽ từ từ đọc ,phần nào PL không hiểu sẽ hỏi Sư phụ ạ.

Kính mến

phuongly

Thiên Sứ

Posted: 09-07-2006

Phương Ly quí mến.

Phương Ly hỏi:

Ví dụ người mệnh Thổ có Thủy cục theo sách Hán. Vậy theo LVHG có đổi thành người mệnh Thổ có Hỏa cục không ạ?

Uh! Đúng rùi. Theo Lạc Thư hoa giáp thì phải đổi ra Hoả Cục. Tức là được cục dưỡng mệnh.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 10-07-2006

Các bạn thân mến,

Sau mấy ngày đi công tác xa và hôm qua ngồi uống bia với vài bạn trong khi coi đá banh , cho nên Vô Tri cũng hơi mệt, nhưng lòng vẫn vui vì thắng độ (hihi)

Hôm nay trở lại vấn đề Tử Vi Lạc Việt software. Thứ nhất, chúng ta sẽ bắt đầu với 5a : Công thức và hình trong software

Vô Tri có vài câu hỏi và thắc mắc :

1. Hình: Các bạn nào muốn thêm hình cho đẹp thì cho Vô Tri biết

2. Cục : Hiện nay các sách theo Hán thì an Trường Sinh như sau:

Thủy => cung Thân

Mộc cục => cung hợi

Kim cục => cung Tị

Thô => cung Thân

Hoả cục => cung dần

Hay là :" truong_sinh[] = { than, hoi, ti, than, dan }; "

Vậy theo cách TuViLacViet thì nên sửa lại như thế nào

3. Lục Thập Hoa Giáp và Hà Đồ: Hiện nay software version 1.0 an 60 Hoa Giáp như sau:

Giáp Tý Giáp Ngọ Ất Sửu Ất Mùi => hành Kim

Bính Tý Bính Ngọ Đinh Sửu Đinh Mùi => hành Thủy

Mậu Tý Mâụ Ngọ Kỷ Sửu Kỷ Mùi => hành Hỏa

Canh Tý Canh Ngọ Tân Sửu Tân Mùi => hành Thổ

Nhâm Tý Nhâm Ngọ Quý Sửu Quý Mùi => hành Mộc

_____________________________________________

Giáp Dần Giáp Thân Ất Mão Ất Dậu => hành Thủy

Bính Dần Bính Thân Đinh Mão Đinh Dậu => hành Hỏa

Mậu Dần Mâụ Thân Kỷ Mão Kỷ Dậu => hành Thổ

Canh Dần Canh Thân Tân Mão Tân Dậu => hành Mộc

Nhâm Dần Nhâm Thân Quý Mão Quý Dậu => hành Kim

_____________________________________________

Giáp Thìn Giáp Tuất Ất Tị Ất Hợi => hành Hỏa

Bính Thìn Bính Tuất Đinh Tị Đinh Hơi => hành Thổ

Mậu Thìn Mậu Tuất Kỷ Tị Kỷ Hợi => hành Mộc

Canh Thìn Canh Tuất Tân Tị Tân Hợi => hành Kim

Nhâm Thìn Nhâm Tuất Quý Tị Qúy Hợi => hành Thủy

_____________________________________________

Cho nên software version 1.0 an các tên của Hoa Giáp như sau:

strmenh[] ={ "Hai trung kim","Gian ha thuy","Tích lich hoa","Bích thuong thô","Tang dô môc",

"Dai khe thuy","Lô trung hoa","Thanh dâu thô" ,"Tung bách môc","Kiêm bach kim",

"Phú dang hoa","Sa trung thô","Dai lâm môc","Bach lap kim", "Truong luu thuy",

"Sa trung kim","Thiên ha thuy","Thiên thuong hoa","Lô bàng thô","Duong liêu môc",

"Tuyên trung thuy","Son ha hoa","Dai dich thô","Thach luu môc","Kiêm phong kim",

"Son dau hoa","Ôc thuong thô","Bình dô môc","Thoa xuyên kim","Dai hai thuy"};

_____________________________________________

Nếu mà hành Thủy và hành Hỏa sẽ bị thay thế chổ cho nhau. Không biết strmenh[] có cần thay đổi hay không ? Nếu cần thì xin lập một bản đồ cho 60 Hoa Giáp.

Mến,

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 10-07-2006

Vô Tri thân mến.

Tôi không rành về lập trình. Tôi chỉ xin đề nghị một kết quả hiện thị như sau:

1) Tử Vi Hán hiển thị Thuỷ Nhị cục- thì Tử Vi Việt hiển thị là Hoả Nhị cục.

Trường hợp này phải an lại vòng Tràng Sinh là:

# Tử Vi Hán hiển thị Thuỷ Nhị cục. Tràng Sinh khởi từ cung Thân.

Tử Vi Việt hiển thị Hoả Nhị cục. Trường Sinh khởi từ cung Dần.

2) Tử Vi Hán hiển thị Hoả Lục cục. - thì Tử Vi Việt hiển thị Thuỷ Lục cục.

# Tử Vi Hán hiển thị Hoả Lục cục. Trường Sinh khởi từ Dần.

# Tử Vi Việt hiền thị Thuỷ Lục cục. Trường Sinh khởi từ Thân.

Vô Tri thân mến.

Anh lưu ý: Số của cục không đổi , chỉ đổi hành.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 10-07-2006

Anh Thiên Sứ,

Vô Tri hiểu ... Sửa đổi software không thành vấn đề.

1. Tử Vi Việt hiển thị Hoả Nhị cục. Trường Sinh khởi từ cung Dần và

2. Tử Vi Việt hiền thị Thuỷ Lục cục. Trường Sinh khởi từ Thân.

Thì các sao trong vòng trường sinh như : Mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng thì cũng an theo luật mới của sao Trường Sinh.

Thí dụ 1: ngày 15 tháng 6 năm Bính Tuất giờ Dần cho Dương Nam

Cục là Hỏa Nhị Cục , trường sinh an tại cung dần, mộc dục an tại cung mão, ... ,dưỡng an tại cung sữu

Thí dụ 2: ngày 15 tháng 6 năm Ất Dậu giờ Ngọ cho Âm Nam

Cục là Thủy Lục Cục , trường sinh an tại cung thân, sao mộc dục an tại cung mùi, ... , sao dưỡng an tại cung dậu

Không biết có đúng hay không ...

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 10-07-2006

Chính xác.

Cảm ơn anh Vô Tri.

Tôi sẽ đưa bản Lạc thư hoa giáp hoàn chỉnh vào ngày mai.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 11-07-2006

Kính gửi anh Vô Tri

Dưới đây là bảng Lạc Thư hoa giáp để anh tham khảo dùng trong Tử Vi Lạc Việt.

LẠC THƯ HOA GIÁP

Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ

KỶ THỨ NHẤT

Lục khí - Vận 1

Tam Âm Tam Dương

Giáp Tí. Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim

Bính Dần. Đinh Mão -------------Tuyền Trung Thuỷ

Mậu Thìn.Kỷ Tỵ--------------- Đại Lâm Mộc

Lục khí - Vận 2

Tam Âm Tam Dương

Canh Ngọ. Tân Mùi -------------Lộ Bàng Thổ

Nhâm Thân. Quí Dậu----------- Kiếm Phong Kim

Giáp Tuất. Ất Hợi--------------Trường Lưu Thuỷ

Lục khí - Vân 3

Tam Âm Tam Dương

Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Tích Lịch Hoả

Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ

Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim

Lục khí - Vận 4

Tam Âm Tam Dương

Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc

Giáp Thân, Ất Dậu--------------Lư Trung Hoả

Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ

Lục khí - Vận 5

Tam Âm Tam Dương

Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Giáng Hạthuỷ

Canh Dần, Tân Mão------------ Tùng Bách Mộc

Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------- Sơn Đầu Hoả

KỶ THỨ II

Lục khí - vận 1

Tam Âm Tam Dương

Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim

Bính Thân, Đinh Dậu------------ Đại Khê Thuỷ .

Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc

Lục Khí - Vận 2

Tam Âm Tam Dương

Canh Tí, Tân Sữu---------------Bích Thượng Thổ

Nhâm Dần, Quí Mão-------------Kim Bạch Kim

Giáp Thìn, Ất Tỵ----------------Đại Hải Thuỷ

Lục Khí - Vận 3

Tam Âm Tam Dương

Bính Ngọ, Đinh Mùi--------------Thiên Thượng Hoả

Mậu Thân, Kỷ Dậu-------------- Đại Dịch Thổ

Canh Tuất, Tân Hợi------------ Thoa Xuyến Kim

Lục khí - Vận 4

Tam Âm Tam Dương

Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc

Giáp Dần, Ất Mão-------------- Sơn Hạ Hoả

Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ

Lục khí - Vận 5

Tam Âm Tam Dương

Mậu Ngọ, Kỷ Mùi --------------Thiên Hà Thuỷ

Canh Thân, Tân Dậu-----------Thạch Lựu Mộc

Nhâm Tuất, Quí Hợi------------Phúc Đăng Hoả.

Kính thưa quí vị.

Anh Vô Tri thân mến .

Trước đây, khi tôi công bố bản Lạc Thư hoa giáp không chú ý lắm đến tính chất Sinh Vượng Mộ của từng hành. Mà chỉ chú trong việc thay đổi Thuỷ Hoả để trình bày một luận điểm mà thôi. Bởi vậy, tính chất chi tiết của từng hành trong chu kỳ Sinh Vương Mộ ở tất cả các bảng đã công bố trước đây - trong sách và các tiểu luận trên diễn đàn không thật chính xá.

Đây là bản hiệu chỉnh lấn cuối cùng trên cơ sở qui luật đã chứng minh từ nguyên lý của Hà Đồ.

Cảm ơn sự giúp đỡ của anh Vô Tri. và sự quan tâm của quí vị

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 11-07-2006

Anh Thiên Sứ,

Em đang tu bổ software theo bản Lạc Thư Hoa Giáp và an bộ sao Trường Sinh mới. Khoảng 4 tiếng đồng hồ là em viết xong. Em sẽ thông báo version mới cho mọi người biết.

Hiện nay account của em trên đây không thể xóa bỏ version củ được. Theo anh, có nên để version củ hay không. Nếu giữ version củ thì em phải đặt tên software theo thứ tự TuViLacViet_2 .

Tùy anh quyết định.

Em,

Vô Tri

VoTri

Posted: 11-07-2006

Anh chị em moderator : Sau khi upload những files lên rồi, thì muốn xoá thì làm như thế nào?

Anh Thiên Sứ,

1. Cục: Sửa đổi tên của cục và an các sao trong vòng Trường Sinh đã thành công.

2. Lạc Thư Hoa Giáp: 90% xong. Theo Lạc Thư Hoa Giáp thì sửa đổi các Hoa Giáp như sau:

_____________________________________________

Giáp Tý Giáp Ngọ Ất Sửu Ất Mùi => hành Kim

Bính Tý Bính Ngọ Đinh Sửu Đinh Mùi => hành Thủy => Hỏa

Mậu Tý Mâụ Ngọ Kỷ Sửu Kỷ Mùi => hành Hỏa => Thủy

Canh Tý Canh Ngọ Tân Sửu Tân Mùi => hành Thổ

Nhâm Tý Nhâm Ngọ Quý Sửu Quý Mùi => hành Mộc

_____________________________________________

Giáp Dần Giáp Thân Ất Mão Ất Dậu => hành Thủy => Hỏa

Bính Dần Bính Thân Đinh Mão Đinh Dậu => hành Hỏa => Thủy

Mậu Dần Mâụ Thân Kỷ Mão Kỷ Dậu => hành Thổ

Canh Dần Canh Thân Tân Mão Tân Dậu => hành Mộc

Nhâm Dần Nhâm Thân Quý Mão Quý Dậu => hành Kim

_____________________________________________

Giáp Thìn Giáp Tuất Ất Tị Ất Hợi => hành Hỏa => Thủy

Bính Thìn Bính Tuất Đinh Tị Đinh Hơi => hành Thổ

Mậu Thìn Mậu Tuất Kỷ Tị Kỷ Hợi => hành Mộc

Canh Thìn Canh Tuất Tân Tị Tân Hợi => hành Kim

Nhâm Thìn Nhâm Tuất Quý Tị Qúy Hợi => hành Thủy => Hỏa

_____________________________________________

Lục khí - Vận 1

Tam Âm Tam Dương

Giáp Tí. Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim

Bính Dần. Đinh Mão -------------Tuyền Trung Thuỷ

Mậu Thìn.Kỷ Tỵ--------------- Đại Lâm Mộc

Như năm Bính Dần, Đinh Mão là "Tuyền Trung Thủy". Ngũ hành "Thủy" của năm Bính Dần thì em hiểu. Còn về Tuyền Trung Thủy hay là Đại Khe Thủy thì em muốn học hỏi thì tìm kiếm nơi đâu hay sách nào. Mong anh chỉ giáo

Em Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 11-07-2006

Vô Tri thân mến.

Trong phương pháp nạp âm thì về nguyên lý tôi đã chứng minh. Nhưng đi vào cụ thể nạp âm từng hành trong ngũ hành thì theo một nguyên lý sau:

Đó là nguyên lý của chu kỳ "Sinh Vượng Mộ" cho sự phát triển của từng hành trong một kỷ:

Thí dụ:

Kết thúc chu kỳ của hành Kim (Kim Mộ)ở năm Canh Tuất , Tân Hợi. Cách tám năm (Quí luật "Cách bát sinh tử") thì đến chu kỳ hành Thuỷ(Thuỷ là con do Kim sinh) gôm ba giai đoạn là:

1) Thuỷ Sinh - lấy tượng là: Thiên Hà Thuỷ (Nước trên trời) cho hai năm: Mậu Ngọ. Kỷ Mụi.

Cách 8 năm đến.

2) Thuỷ Vượng- lấy tượng là: Đại Khệ Thuỷ(Nước Khe lớn) cho hai năm Bính Thân , Đinh Dậu.

Cách 8 năm đến.

3) Thuỷ Mộ- lấy tượng là Đại Hải Thuỷ (Nước biển lớn) cho hai năm Giáp Thìn Ất Tỵ.

Cách tính của các hành khác cũng nằm trong qui luật này. Hết chu kỳ 24 năm thì là hành tương sinh tiếp theo , theo quy luật Sinh Vượng Mộ.

Cảm ơn sự quan tâm của anh Vô Tri.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 11-07-2006

Anh Thiên Sứ,

Vì em sợ anh trả lời như vậy nên em mới hỏi. Theo câu trả lời đó thì chúng ta có nên lập bản Lạp Thư Hoa Giáp như vậy hay không:

Lục khí - Vận 1

Giáp Tí. Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim

Bính Dần. Đinh Mão -----------Tuyền Trung Thuỷ ==> Đại Khe Thủy

Mậu Thìn.Kỷ Tỵ---------------- Đại Lâm Mộc

Lục khí - Vận 2

Canh Ngọ. Tân Mùi -------------Lộ Bàng Thổ

Nhâm Thân. Quí Dậu----------- Kiếm Phong Kim

Giáp Tuất. Ất Hợi----------------Trường Lưu Thuỷ ==> Đại Hải Thủy

Lục khí - Vân 3

Tam Âm Tam Dương

Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Tích Lịch Hoả

Mậu Dần, Kỷ Mão---------------Thành Đầu Thổ

Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim

Gi

Lục khí - Vận 4

Tam Âm Tam Dương

Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc

Giáp Thân, Ất Dậu---------------Lư Trung Hoả ==> Sơn Hạ Hỏa

Bính Tuất,Đinh Hợi -------------Ốc Thượng Thổ

Lục khí - Vận 5

Mậu Tí, Kỷ Sữu-------------------Giáng Hạ Thuỷ

Canh Dần, Tân Mão-------------Tùng Bách Mộc

Nhâm Thìn, Quí Tỵ---------------Sơn Đầu Hoả ==> Phúc Đăng Hỏa

KỶ THỨ II

Lục khí - vận 1

Giáp Ngọ, Ất Mùi ----------------Sa Trung Kim

Bính Thân, Đinh Dậu------------ Đại Khê Thuỷ . ==> Tuyền Trung Thủy

Mậu Tuất, Kỷ Hợi----------------Bình Địa Mộc

Lục Khí - Vận 2

Canh Tí, Tân Sữu---------------Bích Thượng Thổ

Nhâm Dần, Quí Mão-----------Kim Bạch Kim

Giáp Thìn, Ất Tỵ----------------Đại Hải Thuỷ ==> Trường Lưu Thủy

Lục Khí - Vận 3

Bính Ngọ, Đinh Mùi--------------Thiên Thượng Hoả

Mậu Thân, Kỷ Dậu-------------- Đại Dịch Thổ

Canh Tuất, Tân Hợi-------------Thoa Xuyến Kim

Lục khí - Vận 4

Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc

Giáp Dần, Ất Mão-------------- Sơn Hạ Hoả ==> Lư Trung Hỏa

Bính Thìn, Đinh Tỵ--------------Sa Trung Thổ

Lục khí - Vận 5

Mậu Ngọ, Kỷ Mùi ------------------Thiên Hà Thuỷ

Canh Thân, Tân Dậu--------------Thạch Lựu Mộc

Nhâm Tuất, Quí Hợi---------------Phúc Đăng Hoả.

Nếu lập như vậy thì chúng ta có sắp sếp lục khí theo năm sẽ ra như sau:

Âm Lịch

1994 1934 Giáp Tuất 1995 1935 Ất Hợi Đại Hải Thủy

---96 ---36 Bính Tý -----97---37 Đinh Sửu Tích Lịch Hỏa

---98 ---38 Mậu Dần----99---39 Kỷ Mão Thanh Đầu Thổ

---00 ---40 Canh Thìn---01---41 Tân Tị Bạch Lạp Kim

---02 ---42 Nhâm Ngọ---03---43 Quý Mùi Dương Liễu Mộc

2004 1944 Giáp Thân 2005 1945 Ất Dậu Sơn Hạ Hỏa

---06---46 Bính Tuất ----07---47 Đinh Hợi Ốc Thượng Thổ

---08---48 Mậu Tý------ 09---49 Kỷ Sửu Giáng Hạ Thủy

---10---50 Canh Dần ----11---51 Tân Mão Tồng Bách Mộc

---12---52 Nhâm Thìn--- 13---53 Quý Tị Phú Đăng Hỏa

2014 1954 Giáp Ngọ 2015 1955 Ất Mùi Sa Trung Kim

---16---56 Bính Thân----17---57 Đinh Dậu Tuyền Trung Thủy

---18---58 Mậu Tuất----19---59 Kỷ Hợi Bình Địa Mộc

---20---60 Canh Tý-----21---61 Tân Sửu Giản Hạ Thổ

---22---62 Nhâm Dần ---23---63 Quý Mão Kiếm Bạch Kim

2024 1964 Giáp Thìn 2025 1965 Ất Tị Trường Lưu Thủy

---26---66 Bính Ngọ ----27---67 Đinh Mùi Thiên Thượng Hỏa

---28---68 Mậu Thân----29---69 Kỷ Dậu Điạ Trạch Thổ

---30---70 Canh Tuất---31---71 Tân Hợi Thoa Xuyến Kim

---32---72 Nhâm Tý ----33---73 Quý Sửu Tang Giá Mộc

2034 1974 Giáp Dần 2035 1975 Ất Mão Lư Trung Hỏa

---36---76 Bính Thìn ----37---77 Đinh Tị Sa Trung Thổ

---38---78 Mậu Ngọ-----39---79 Kỷ Mùi Thiên Hà Thủy

---40---80 Canh Thân---41---81 Tân Dậu Thạch Lưu Mộc

---42---82 Nhâm Tuất---43---83 Quý Hợi Phú Đăng Hỏa

2044 1984 Giáp Tý 2045 1985 Ất Sửu Hải Trung Kim

---46---86 Bính Dần ---47---87 Đinh Mão Đại Khe Thủy

---48---88 Mậu Thìn---49---89 Kỷ Tị Đại Lâm Mộc

---50---90 Canh Ngọ---51---91 Tân Mùi Lộ Bàng Thổ

---52---92 Nhâm Thân-53---93 Quý Dậu Kiếm Phong Kim

Mong anh kiểm soát lại cho em học hỏi thêm

Em Vô Tri

VoTri

Posted: 11-07-2006

Hình như là : Lục Khí vận 5 cũng cần tu bổ lại :

Lục khí - Vận 5

Mậu Ngọ, Kỷ Mùi ------------------Thiên Hà Thuỷ

Canh Thân, Tân Dậu--------------Thạch Lựu Mộc

Nhâm Tuất, Quí Hợi---------------Phúc Đăng Hoả => Sơn đầu Hỏa

Sau đây là bản sửa lại.

Âm Lịch

1994 1934 Giáp Tuất 1995 1935 Ất Hợi Đại Hải Thủy

---96 ---36 Bính Tý -----97---37 Đinh Sửu Tích Lịch Hỏa

---98 ---38 Mậu Dần----99---39 Kỷ Mão Thanh Đầu Thổ

---00 ---40 Canh Thìn---01---41 Tân Tị Bạch Lạp Kim

---02 ---42 Nhâm Ngọ---03---43 Quý Mùi Dương Liễu Mộc

2004 1944 Giáp Thân 2005 1945 Ất Dậu Sơn Hạ Hỏa

---06---46 Bính Tuất ----07---47 Đinh Hợi Ốc Thượng Thổ

---08---48 Mậu Tý------ 09---49 Kỷ Sửu Giáng Hạ Thủy

---10---50 Canh Dần ----11---51 Tân Mão Tồng Bách Mộc

---12---52 Nhâm Thìn--- 13---53 Quý Tị Phú Đăng Hỏa

2014 1954 Giáp Ngọ 2015 1955 Ất Mùi Sa Trung Kim

---16---56 Bính Thân----17---57 Đinh Dậu Tuyền Trung Thủy

---18---58 Mậu Tuất----19---59 Kỷ Hợi Bình Địa Mộc

---20---60 Canh Tý-----21---61 Tân Sửu Bích Thượng Thổ

---22---62 Nhâm Dần ---23---63 Quý Mão Kiếm Bạch Kim

2024 1964 Giáp Thìn 2025 1965 Ất Tị Trường Lưu Thủy

---26---66 Bính Ngọ ----27---67 Đinh Mùi Thiên Thượng Hỏa

---28---68 Mậu Thân----29---69 Kỷ Dậu Điạ Trạch Thổ

---30---70 Canh Tuất---31---71 Tân Hợi Thoa Xuyến Kim

---32---72 Nhâm Tý ----33---73 Quý Sửu Tang Giá Mộc

2034 1974 Giáp Dần 2035 1975 Ất Mão Lư Trung Hỏa

---36---76 Bính Thìn ----37---77 Đinh Tị Sa Trung Thổ

---38---78 Mậu Ngọ-----39---79 Kỷ Mùi Thiên Hà Thủy

---40---80 Canh Thân---41---81 Tân Dậu Thạch Lưu Mộc

---42---82 Nhâm Tuất---43---83 Quý Hợi Sơn Đầu Hỏa

2044 1984 Giáp Tý 2045 1985 Ất Sửu Hải Trung Kim

---46---86 Bính Dần ---47---87 Đinh Mão Đại Khe Thủy

---48---88 Mậu Thìn---49---89 Kỷ Tị Đại Lâm Mộc

---50---90 Canh Ngọ---51---91 Tân Mùi Lộ Bàng Thổ

---52---92 Nhâm Thân-53---93 Quý Dậu Kiếm Phong Kim

VoTri

Posted: 11-07-2006

Các bạn thân mến,

Phần 5b: Áp dụng công thức trên software đã làm xong.

Phần 5c: Thí nghiệm: Upload version mới lên trên đây.

TuViLacViet software version 1.1 đã được đưa lên và có thể download tại:

http://www.vietlyso.....1152647970.zip

Version nầy có 2 cái khác biệt so với version 1.0

1. An vòng trường sinh theo luật mới

2. An tên của lạc thư hoa giáp theo bản của anh Thiên Sứ

Kế tiếp là phần

5d. Ý kiến sau khi thử version mới

Nếu các bạn nào có thắc mắc gì, thì xin ra ý kiến. Theo luật lệ thì phải cho mọi người ít nhất là 3 - 5 ngày để thử version mới và đóng góp ý kiến.

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 11-07-2006

Anh Vô Tri thân mến.

Về nguyên tắc Sinh Vượng Mộ là cơ sở của việc đặt tên từng hành cụ thể cho Ngũ Hành. Ý kiến của anh hôm nay tôi sẽ xem xét kỹ lại. Cái vụ này tôi cũng hay bị nhầm lắm. Bận rộn quá, nên lắm lúc cũng rối.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 13-07-2006

Anh Vô Tri thân mến.

Sau khi chúng ta hiệu chỉnh xong các phần căn bản như : Lạc Thư hoa giáp (Liên quan đến mệnh và cục). Sau đó là vòng Trường Sinh liên quan đến cục Thuỷ và Hoả.

Nhờ anh chính sửa tiếp theo một số sao sau đây:

VỊ TRÍ KHÔI - VIỆT TRONG

TỬ VI LẠC VIỆT

@ Khôi Việt trong sách Hán

(Theo Thái Thứ Lang)

Đã từ lâu, phương pháp an sao Khôi Việt rất nhiều sách viết khác nhau. Không có cách nào có thể kiểm chứng. Điều này thì các cao thủ Tử Vi gia đều biết. Bởi vậy việc đi tìm nguyên lý an sao Khôi Việt là một đề tài rất đáng quan tâm. Căn cứ vào sách của Thái Thứ lang và một số sách khác thì hai sao này an theo hàng Can như sau:

……………………Thiên Khôi……Thiên Việt

Giáp, Mậu………………..Sửu……………Mùi Ất, Kỷ………………………Tý…………….Thâ n

Bính, Đinh………………..Hợi……………..D�� �u

Canh, Tân………………..Ngọ…………..Dần

Nhâm, Quý……………….Mão…………..Tỵ

Nhưng cũng có rất nhiều sách an khác, thậm chí có sách còn khác phần lớn. Đặc biệt là “Hiệp Kỷ Biện Phương thư” thì càng hiểu không nổi (HKBPT Nxb Mũi Cà Mau 1998, trang 586. Mai Cốc Thành chủ biên. Vũ Hoàng – Lân Bình dịch thuật).

Vậy sách nào đúng và nguyên lý an sao Khôi Việt là gì ?

Vị trí Khôi Việt trong Tử Vi Lạc Việt

…………………….THIÊN KHÔI………………………..THIÊN VIỆT

Mậu Kỷ…………....Sưu………………………… .......… …………Mùi

Giáp Ât…………......Tí………………………�� �…...….....…..Thân

Bính Đinh…….........Hợi………………………… ….....…....….Dậu

Canh Tân…........….Dần………………………… …….....…….Ngọ

Nhâm Qui……........Mão………………………...�� �…… ……Tỵ

Trân trọng cảm ơn anh Vô Tri.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 13-07-2006

Dala,

Khi Vô Tri ban đầu học Thiên Văn Học, Vô Tri cũng không hiểu rõ ngôi sao nào trên trời là sao Tử Vi.

Muốn kiếm các bắc đẩu tinh trên trời thì Dala nên bắt đầu với Cửu Phi Tinh hay Bắc Đẩu Đại Hùng Tinh (Big Dipper). Các sao đó là sao

Tan Lang- Tham lang , Ju Men- Cự môn, Lu Cun- Lộc tồn, Wen Qu- Văn khúc, Lian Zhen- Liêm trinh, Wu Qu- Vũ khúc, Po Jun- Phá quân, Zhuo Fu- Tả phù, và Yu Bi- Hữu bật

Thiên khu, Thiên toàn, Thiên cơ, Thiên quyền họp thành lòng gáo

Ngọc hành, Khai dương, Dao quang họp thành chuôi gáo

Rồi từ sao Cự Môn trong Cửu phi tinh đi lên tới Tham Lang, rồi từ đó đi thẳng lên gặp chính tinh Tử Vi nằm trong little dipper hay là URSA Minor

Nếu theo đó thì Dala sẽ thấy sao Tử Vi là sao Apha Ursae Minoris và cũng là một trong ngôi sao sáng nhất trên trời.

Ngôi sao mà Dala nói "Beta-Ursa Minor" là ngôi sao kế bên sao Tử Vi , tên gọi là "Kochab". Nếu cho ""Beta-Ursa Minor" là sao Tử Vi thì vòng chính tinh trên lá số sẽ bị thay đổi

Mến

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 13-07-2006

Anh chị em thân mến.

Về sao Tử Vi là sao nào trên bấu trời. Anh em hãy thận trọng suy xét.

Có thể nó không phải là một chòm sao cụ thể mà chỉ là một hiệu ứng tương tác mạnh với Địa Cầu, được thể hiện bằng khái niệm Tử Vi.

Nếu Tử Vi là một ngôi sao hoặc chòm sao có thực thì nó chỉ có thể chi phối một cung. Đàng này chòm sao Tử Vi quy ước trong lá số chiếm hữu nhiều cung.

Tại sao chòm sao Tử Vi và Thiên Phủ trong lá số lại có độ số là 6/ 8?

Đây chính là độ số của Bát Quái và Lục khí khi kết hợp thành hai cặp quái Điên Đảo Dịch trong Hậu Thiên Lạc Việt. Chúng có liên quan gì đến phi tính trong Phong Thuỷ?

Anh chị em lưu ý:

Sao Tử Vi tuỳ độ số cục luôn bắt đầu từ cung Dần. Đây chính là vị trí trái Đất trên Hà Đồ (Tương đương cung Cấn trong HT Lạc Viêt. Đã chứng minh trong "Hà Đồ và văn minh Lạc Việt"; "Lý học Đông phương & bí ẩn của vũ trụ").

Về tính chất thực của các sao trong Tử Vi và hiệu ứng tương tác cụ thể của nó. chúng ta sẽ bàn sau khi hoàn chỉnh Tử Vi Lạc Việt.

Trên cở sở qui luật tương đối hoàn chỉnh của Tử Vi Lạc Việt , chúng ta mới xét hoạ đồ bầu trời, so sánh với hiệu ứng các sao và phăng ra bí ẩn vũ trụ.

Một định hướng đúng sẽ đỡ tốn rất nhiều công sức trong việc khám phá bí ẩn vũ trụ.

Giá như có sự giúp đỡ và hợp tác của Nasa.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 17-07-2006

An sao Lưu Hà trong

Tử Vi Lạc Việt

@ Sao Lưu Hà.

Sự liên hệ việc tìm qui luật an sao Lưu Hà chỉ liên hệ đến Thiên Bàn Tử Vi - vốn là một hệ quả phát triển của Hà Độ

Trước khi trình bày luận đề này, người viết lặp lại 2 phương pháp chính đang lưu truyền về qui tắc an sao Lưu Hà là:

# Theo phương pháp của Thái Thứ Lang:

* Giáp Kỷ hợp hóa Thổ:

Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ.

* Ất Canh hợp hóa Kim:

Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà Thân

* Bính Tân hợp hóa Thủy:

Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão.

*Ðinh Nhâm hợp hóa Mộc:

Ðinh an Lưu Hà tại Thìn, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi.

*Mậu Quý hợp hóa Hỏa:

Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần.

Phương pháp an sao của Thái Thứ Lang được miêu tả băng đồ hình sau:

ĐỒ HÌNH THIÊN BÀN TỬ VI & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

(Theo Thái Thứ lang)

…..………Tỵ ……….... Ngọ ………...Mùi………...Thân

……………MẬU……….KỶ………BÍNH……..CANH

Thìn……ĐINH…………………………………GIÁP……..Dậu

Mao……TÂN………………………………….............ẤT………..

Tuất

……….QUY…………………………………..NHÂM

……………Dần………...Sửu……...... Tý…………….Hợi

# An Lưu Hà theo cách của Hà Lạc Dã Phu

* Giáp Kỷ hợp hóa thổ:

Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ.

* Ất Canh hợp hóa Kim:

Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà tại Thìn.

*Bính Tân hợp hóa Thủy:

Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão.

*Ðinh Nhâm hợp hóa Mộc:

Ðinh an Lưu Hà tại Thân, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi.

*Mậu Quý hợp hóa Hỏa:

Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần.

Phương pháp an sao của Hà Lạc Dã phu được miêu tả băng đồ hình sau:

ĐỒ HÌNH THIÊN BÀN TỬ VI & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

(Theo Hà Lạc dã phu)

…………….Tỵ……….....Ngọ……….. ..Mùi………….....Thân

.…………MẬU………..KỶ……….BÍNH…………..ĐINH

Thìn…CANH……………………………………....GIÁ P……….Dậu

Mão……TÂN………………………………………. .ẤT………….Tuất

…………..QUÍ………………………………………. NHÂM

…………..Dần………...Sửu………….. .Tý…………….....Hợi

Như vậy qua hai đồ hình trên, quí vị quan tâm cũng nhận hấy rằng: sự khác nhau của hai phương pháp trên chỉ ở hai hiện tượng sau đây:

* Liên Quan đến Địa chi:

Vị trí của “Thân” và “Thìn” còn tất cả đều giống nhau.

* Liên quan đến Thiên Can:

Vị Trí của thiên can Đinh & Canh

Nếu quán xét kỹ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng:

Sự nối tiếp của vòng Thiên Can từ Quý => Nhâm => Ất ……=> Canh và kết thúc ở Tân là một chu kỳ tương sinh liên tục theo chiều ngược kim đồng hồ. Điều này được mô tả như sau:

Quí & Nhâm (Thủy) => Ất & Giáp (Mộc) => Đinh & Bính (Hỏa) => Kỷ & Mậu (Thổ) => Canh & Tân (Kim) .

Trên cơ sở qui luật này, chúng ta lại thấy rằng: Các Thiên Can Dương Nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương. Nhưng chỉ có can Canh & Tân là bị ngoại lệ (Can Canh thuộc Dương vẫn nằm ở cung Thìn thuộc Dương, Tân thuộc Âm nằm ở cung Mão thuộc Âm). Phải chăng đây là một sai lầm do tam sao thất bản ? Bây giờ, nếu chúng ta đổi lại Canh: Lưu Hà cư ở Mão và Tân: Lưu Hà cư ở Thìn thì sẽ là một qui luật hợp lý và hoàn chỉnh. Khi đổi vị trí Canh & Tân từ cách an sao Lưu Hà theo Hà Lạc dã phu sẽ đặt ra những v/đ và tính chất sau:

* Có tính qui luật theo tuận tự: Từ Quí & Nhâm tương sinh theo chiều ngược kim đồng hồ với Thiên Can Dương nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương.

* Nguyên lý Giáp hợp Kỷ hoá Thổ….=> Mậu hợp Quí hoá Hoả chỉ là một cách lý giải. Trên thực tế không hề liên hệ gì tới phương pháp an sao Lưu Hà (Cho dù là phương pháp nào)

* Sao Lưu Hà không an ở hai cung Tý (Thuỷ) và Kỷ (Thuỷ Mộ) có thể suy luận rằng:

Tính chất của sao Lưu Hà như là một hiện tượng của tính chất nguyên sơ (Mang tính cách của Thuỷ được thể hiện ở các cung khác) tương ứng với tính chất của Khảm là ngăn ngại hiểm trở. Do đó chữ Lưu có thể hiểu là giữ lại, Hà là tính chất của Thuỷ. Do đó, sao Lưu Hà mang đặc tính xấu.

Bởi vậy, căn cứ trên qui luật "tương sinh nghích chiều kim đông hồ " của Thiên Can phối với 12 cung địa chi.Tử Vi Lạc Việt lấy phương pháp của Hà Lạc dã phu làm chuẩn. Vì đây là phương pháp có tính quy luật.

TỬ VI LẠC VIỆT & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

………….Tỵ……….....Ngọ……. ..Mùi………….....Thân

.…………MẬU………..KỶ……….BÍNH…………..ĐINH

ThÌn….CANH……………………………....…....GIÁ P……….Dậu

Mao…TÂN…………..…………………….……. .ẤT………….Tuất

………….QUÍ………………………………………. NHÂM

…………..Dần………...Sửu….. .Ty……....….....Hợi

Anh Vô Tri thân mến.

Nhờ anh giúp kiểm tra và an lại sao cuối cùng có sự khác biệt của Tử Vi Lạc Việt là sao Lưu Hà.

Xong sao này, chương trình Tử Vi Lạc Việt kể như hoàn tất.Anh em kiểm chứng lại một lần nữa và đưa trình này vào đầu trang Văn Hiến Lạc Việt.

Trong Tử Vi còn một số sao gây tranh cãi về phương pháp an sao như bộ Tứ Hoá ...vv. Khi có điều kiện thời gian tôi tìm hiểu qui luật của nó và bổ sung sau.

TỬ VI LẠC VIỆT

Bản quyền của Tử Vi Lạc Việt được xác định do Thiên Sứ hiểu chỉnh từ nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi từ văn minh Lạc Việt và do Vô tri thực hiện kỹ thuật vi tính.

Trình Tử Vi Lạc Việt là độc quyền của Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương & Việt Lý số.

Các và khách dùng trình này không đòi hỏi một điều kiện nào.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của anh chị em.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 17-07-2006

Vô Tri thân mến.

Xin lỗi ! Tôi xin hiệu chỉnh lại một lần nữa vị trí an sao Lưu Hà.

Bản thân cách an sao của ông Hà Lạc Dã phu vẫn còn khiếm khuyết ở vị trí Thiên Can Canh/ Tân.(Gạch dưới trên biểu đồ)

Tôi xin sửa lại như sau:

TỬ VI LẠC VIỆT & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

………….Tỵ……….....Ngọ……. ..Mùi………….....Thân

.…………MẬU………..KỶ……….BÍNH…………..ĐINH

Thìn..….TÂN………………………….........…....…....GIÁ P……..Dậu

Mão.…CANH…………..…………………….……. .ẤT………….Tuất

………….QUÍ………………………………………. NHÂM

…………..Dần………...Sưu…......... .Ty……....….....Hợi

Xin cáo lỗi vì sơ xuất.

Chân thành cảm ơn Vô Tri.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 18-07-2006

Chân thành cảm ơn anh Vô Tri và sự quan tâm của anh chị em Quản trị viên Việt Lý số.

Tử Vi Lạc Việt ra đời là một dấu mốc quan trọng, chấm dứt huyền thoại Trần Đoàn lão tổ là người sáng lập môn Tử vi.

Tử Vi Lạc Việt cho thấy một dấu chứng về sự lưu hành từ lâu môn Tử Vi trong văn hóa Lạc Việt. Trần Đoàn Lão tổ chỉ là người có công dịch ra tiếng Hán và môn Tử Vi tiếp tục lưu truyền bằng văn tự Hán , khi tiếng Hán và văn tự Hán là ngôn ngữ chính thống trải hàng ngàn năm thuộc đế chế Hán, vốn bao trùm cả nam Dương Tử và phần Bắc Việt Nam.

Bản dịch ra tiếng Hán để tiếp tục lưu truyền môn Tử Vi cho đời sau là công lao của Trần Đoàn Lão tổ. Đây là điều đáng ghi nhận ở ông. Nhưng cội nguồn của khoa Tử Vi thuộc về văn minh Việt trải gần 5000 năm văn hiến phải được chứng tỏ.

Tiền đề của khoa Tử Vi là những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ, được nhận thức và hệ thống hoá trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tri thức vũ trụ và tiến đề này không thuộc tri thức phổ biến vào đời Tống và ngay cả bây giờ. Không hề có cơ sở tri thức và xã hội nào cho môn tử Vi từ Trần Đoàn lão tổ.

Sự phát triển của tự nhiên, xã hội và con người sẽ đến lúc nòng nọc trở thành cóc và về với cội nguồn của nó. Chính là nền văn minh khoa đẩu kỳ vĩ trải gần 5000 năm của người Lạc Việt.

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn anh Vô Tri và ban quản trị Việt Lý Số

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 19-07-2006

Anh Minh An viết:

Với chương trình mới tất cả đều thay đổi từ Mệnh,Cục và cung an Mệnh đều thay đổi cả.Chẳng hạn Minh An Mệnh Thích Lịch Hỏa,Hỏa lục Cục,Và cung an Mẹnh là Dần.Nay theo chương trình mới Mệnh Ốc Thượng Thổ Kim Tứ Cục,và cung an Mệnh cung Mùi VCD.Tất cả cuộc đời đều thay đổi.Minh An chỉ trình bày sơ qua.Xin chú Thiên Sứ cho thêm ý kiến.

Anh Minh An thân mến.

Về nguyên tắc thì sự thay đổi Cục và Mệnh không làm thay đổi lá số Tử Vi giữa Tử Vi Lạc Việt và Tử Vi theo sách Hán cổ. Hay nói chính xác hơn: Không thể có sự thay đội vị trí cung an mệnh.

Tại sao như vậy? Bởi vì cung an mệnh phụ thuộc vào ngày giờ tháng năm sinh. Ngày giờ tháng năm sinh không đổi thì không thể thay đổi vị trí cung an mệnh. Điều này theo tôi thì tất cả các nhà nghiên cứu về Tử Vi đều biết.

Hơn nữa, Tử Vi Lạc Việt không thay đổi độ số của Cục, nên việc an 2 chòm sao Tử Vi và Thiên Phủ cũng không đổi.

Ngày giờ tháng năm sinh là dữ kiện để An Mệnh không đổi. Bởi vậy không thể có sự thay đội vị trí cung Mệnh như anh Minh An nói.

Hơn nữa, Tử Vi Lạc Việt chỉ thay đổi hai hành Thủy và Hoả. Do đó nếu trước đây theo sách cổ chữ Hán , mạng anh Minh An là Tích Lịch Hoả nay đổi thành Giáng Hạ thuỷ chứ không thể thành Ốc Thượng Thổ được.Anh có thể xem lại bảng Lạc Thư hoa giáp ngay trong topic này để xác định.

Trường hợp này có hai khả năng:

1) Trình Tử Vi Lạc Việt bị trục trặc.

2) Anh Minh An nạp dữ liệu sai do hiểu sai.

Để công khai kiểm chứng điều này. Đề nghị Anh Minh An cho biết ngày giờ tháng năm sinh Âm lịch của anh.

Rất cảm ơn sự quan tâm của anh.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 19-07-2006

Trích:

Nguyên văn bởi Minh An

Minh An hoan nghênh chú Thiên Sứ và cậu Vo Tri sáng kiến tạo ra chương trình lập thành lá số Tử Vi Lạc Việt,đây là một việc PHÚC ÐỨC rất lớn .

Cho Minh An xin một đề nghị:

-về ngày tháng năm sanh nên dùng dương lịch thay vì âm lịch(áp dụng cho những người không rành về lịch Âm Dương).

_Giờ(Quan Trọng)những thời điểm giờ lên xuống,-1 hay +1.

- mấy cung không cần phãi màu mè,dùng màu sáng như THƯƠNG VIỆT

để dể nhìn và đọc.

Thành thật cám ơn.

Minh An,

Trước tiên Vô Tri cám ơn Minh An đã bỏ thời gian để đóng góp ý kiến về chương trình Tử Vi Lạc Việt. Hai ý kiến đầu thì hình như Anh Thiên Sứ đã cố gắng trả lời cho Minh Anh. Còn về màu mè, Vô Tri sẽ trả lời như sau:

Lúc ban đầu Vô Tri viết software, "Tử Vi" thì Vô Tri chỉ cho 2 màu : trắng cho đằng sau và đen cho chữ viết. Lúc đó khi các anh chị bạn bè Tử Vi dùng sofware "Tử Vi", mỗi lần so sáng ngũ hành các sao và cung của các sao , thì các anh chị phải mở sách để nhớ lại ngũ hành của các sao. Cho nên các anh chị bàn bè có một buổi họp và đồng ý là nên có màu trên các sao để giúp họ phân biệt ngũ hành của sao.

Khi ban đầu lựa chọn màu vào software thì cũng rất là khó khăn vì quá sáng. Sau nhiều lần thí nghiệm, thì các anh chị đồng ý các màu như sau:

Trắng : Kim , Xanh: Mộc, Đen: Thủy, Đỏ: Hỏa, Vàng: Thổ

Nếu Vô Tri đi ngược lại và chỉ để lại 2 màu trắng và đen thì sẽ mất đi một cái sử dụng ngũ hành trong software.

Đó là lý do tại sao Vô Tri bỏ màu mè vào "Tử Vi" software. Nhưng đó là "Tử Vi" software , còn đây là "Tử Vi Lạc Việt" software.

Như Vô Tri đã hứa rằng: mọi việc làm của Vô Tri cho "Tử Vi Lạc Việt" software là việc tự thiện và là việc chung. Vô Tri sẽ lấy ý kiến của mọi người.

Nếu mọi người đồng ý bỏ đi cách sử dụng ngũ hành trong software và lấy cái đẹp làm trọng thì cho Vô Tri biết để khi Vô Tri ra "Tử Vi Lạc Việt" version 3.1 , Vô Tri sẽ làm theo ý kiến chung của mọi người

Mến,

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 19-07-2006

Theo tôi về màu sắc do anh Vo Tri quyết định.

Nhưng tôi vẫn không hiểu sao anh Minh An lại cho rằng vì đổi Thuỷ Hoả dẫn đến sai cung an mệnh. Trong khi đó Cung Mệnh An tại đâu phụ thuộc vào Tháng sinh và giờ sinh :

Phương pháp an cung Mệnh trong Tử Vi như sau:

Kể cung Dần là tháng Giêng đếm theo chiều thuận đến tháng sinh. Dừng lại ở cung nào lấy đó làm giờ tý, đếm theo chiều nghịch đên giờ sinh. Dừng lại ở cung nào an cung Mệnh tại cung đó.

Như vậy, hoàn toàn không có vấn đề vì đổi Thuỷ Hoả mà cung an Mệnh bị sai được?

Có lẽ anh Minh An nhập dữ liệu sai , hoặc trình Tử Vi bị lỗi đúng trong trường hợp cụ thể của anh Minh An. Để kiểm chứng trình có bị lỗi đúng trong trường hợp của anh Minh An thì mong anh Minh An cho ngày giờ tháng năm sinh của anh để kiểm chứng.

Rất cảm ơn anh Minh An.

Thiên Sứ

Thiên Sứ

Posted: 20-07-2006

Anh Vô Tri thân mến.

Anh có thể thêm vòng sao Âm Sát và đổi dùm hai sao Không Kiếp sang hành Thuỷ được không ạ?

QUI LUẬT SAO ÂM SÁT

LUẬN VỀ SAO ÂM SÁT

Tử Vi khoa Việt không có sao Âm Sát. Nhưng Tử Vi khoa Trung Quốc lại rất chú trọng đến sao này. Âm Sát an thế nào? Âm Sát là sao thuộc nguyệt hệ, an theo tháng sinh như sau:

Sinh tháng 1 Âm Sát đóng Dần

Sinh tháng 2 Âm Sát đóng Tí

Sinh tháng 3 Âm Sát đóng Tuất

Sinh tháng 4 Âm Sát đóng Thân

Sinh tháng 5 Âm Sát đóng Ngọ

Sinh tháng 6 Âm Sát đóng Thìn

Sinh tháng 7 Âm Sát đóng Dần

Sinh tháng 8 Âm Sát đóng Tí

Sinh tháng 9 Âm Sát đóng Tuất

Sinh tháng 10 Âm Sát đóng Thân

Sinh tháng 11 Âm Sát đóng Ngọ

Sinh tháng 12 Âm Sát đóng Thìn

Như vậy sao Âm Sát chỉ có mặt ở các cung Dần, Tí, Tuất, Thân, Ngọ, Thìn thôi không vào các cung khác. Âm Sát tính chất là nghi tâm. Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân.

Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của những vị tu hành (Phật giáo) là sao thuộc về linh giới.

Một nhà tướng số Trung Quốc tên Trịnh Giá Học có viết nguyên một cuốn sách về Âm Sát cả mấy trăm trang, nhưng thâu tóm lại ta có thể đưa thẳng ra những nguyên tắc của một trang cũng đủ, mấy trăm trang chẳng qua chỉ là những dẫn chứng rườm rà.

Sau đây là tác động của Âm Sát đối với các cung. Âm Sát vào Mệnh hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy luôn cả Đà La, Hóa Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi đến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn, hoặc vì ma túy mà ra con người đầu óc lơ mơ.

Âm Sát ở cung Thiên Di, con người cô độc, ít hợp, khó hòa đồng hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.

Âm Sát ở Tật Ách thêm những sát tinh khác, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng bệnh tâm trí

Âm Sát ở Phụ Mẫu ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác mình

Âm Sát ở Nô Bộc hay uất ức với bè bạn, với một công việc hợp tác, nghi kị. Âm Sát ở Huynh Đệ thường bị phản từ nội bộ

Âm Sát ở Phối cung đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.

Âm Sát ở cung Quan Lộc làm một việc mê muội mà hại đến sự nghiệp,mê vợ mê tình nhân, hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khó.

Âm Sát ở cung Tài Bạch vì tự cao tự đại vì tham mê mà phá sản.

Âm Sát ở cung Phúc Đức tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị tinh có thể thành điên.

Âm Sát ở cung Tử Tức con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đáng kính đáng yêu hơn bất cứ ai khác.

Âm Sát ở cung Điền Trạch thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.

(Trích Thiên Đồng.tuvilyso.com)

Anh Vô Tri và quí vị quan tâm thân mến.

Tử Vi Lạc Việt được xác định tính chất cội nguồn Lạc Việt bởi nguyên lý căn để của nó là Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. và Lạc Thư hoa giáp , chứ không phải do sửa chữa , thêm bớt một số sao. Bởi vậy, cho dù thêm một số sao có trong sách Hán mà không có trong sách Việt điều này không làm thay đổi tính chất cội nguồn Lạc Việt của trình Tử Vi Lạc Việt.

Rất cảm ơn sự chia sẻ của anh Vô Tri và quí vị.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 20-07-2006

Trích:

Nguyên văn bởi Thiên Sứ

Anh có thể thêm vòng sao Âm Sát và đổi dùm hai sao Không Kiếp sang hành Thuỷ được không ạ?

Anh Thiên Sứ kính mến,

Trước tiên em rất vui khi thấy anh có ý định thêm vào những sao thất lạc trong Tử Vi Việt Nam lá số hiện nay. Nói là thất lạc nhưng thật ra là vẫn không có thất lạc bởi vì trong Tử Vi Trung Quốc và Đại Hàn vẫn còn sử dụng các sao thất lạc khi lập lá số. Nếu nhìn vào lịch sử Tử Vi Việt Nam thì các sao nầy có sử dụng, nhưng hậu thế đã thay đổi vài tên sao và bỏ đi vài sao như chòm sao "Sát"

Nếu em không lầm thì chòm sao "Sát" gồm có 4 sao thường gọi là "Tứ Sát Tinh". 4 sao đó là:

1. Âm Sát (có sách gọi là Ẩm Sát) - tiểu nhân

2. Tai Sát - tai kiếp, mang sự lo lắng

3. Thiên Sát - khắc cha khắc chồng

4. Nguyệt Sát - khắc mẹ khắc chồng

Anh Thiên Sứ, trong post của anh chỉ ghi chép một ngôi sao "Ẩm Sát" trong Tứ Sát , cho nên em sẽ cho thêm một sao trong version 3.2 . Trong tương lai các anh chị em mình có thể khai phá các sao thất lạc và mang lại các sao thất lạc vào lá số. Mong rằng dùng cách này sẽ giúp chúng ta mau đoàn kết các nhà Tử Vi khắp thế giới và tiếp tục trên con đường thống nhất môn khoa học Tử Vi

Vài lời chia sẽ trong khi em soạn tiếp version 3.2

Mến

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 20-07-2006

Rất cảm ơn Vô Tri.

Anh có thể thêm những sao mà anh sưu tầm được vào trình Tử Vi Lạc Việt . Nhờ anh đổi giủm hai sao Không Kiếp sang hành Thuỷ.

Thân

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 20-07-2006

Các bạn thân mến,

Tứ sát tinh trong những lá số thời xưa

1. Âm Sát (có sách gọi là Ẩm Sát) - tiểu nhân

2. Tai Sát - tai kiếp, mang sự lo lắng

3. Thiên Sát - khắc cha khắc chồng

4. Nguyệt Sát - khắc mẹ khắc vợ

Các nhà Tử Vi sau nầy đã bỏ bớt 3 sao: Ẩm Sát, Thiên Sát và Nguyệt Sát. Còn sao Tai sát thì lại đổi tên là sao "Kiếp Sát"

Nếu mà chúng ta muốn hoàn tụ lại các sao như xưa thì chúng ta sẽ an như sau:

1. Ẩm Sát sẽ an theo anh Thiên Sứ post

2. Tai Sát sẽ an giống như sao "Kiếp Sát" hiên nay

Năm sinh ........... Kiếp Sát ........... Thiên Sát .......... Nguyệt Sát

dần, ngo, tuất .......hợi .................... tý .................... sửu

hợi, mão, mùi ........thân .................. dậu ................... tuất

thân, tý, thìn ........tị ...................... ngọ ................... mùi

tị, dậu , sửu .........dần ................... mão ................... thìn

Cách an sao "Kiếp Sát" , "Thiên Sát", và "Nguyệt Sát" là căn cứ theo hình tam giác trong bát quái.

Kiếp Sát lúc nào cũng nằm trong cung "Tứ Sinh"

Thiên Sát lúc nào cũng nằm trong cung "Tứ Chính"

Nguyệt Sát lúc nào cũng nằm trong cung "Tứ Mộ"

Theo sách ba sao nầy tượng trưng cho tam sát. Tuy rằng lá số đã bỏ đi 3 sao nầy, những hiện nay các nhà Phong Thủy vẫn dùng tam sát trong khi coi đất coi nhà

Vô Tri

ps: Vì phải đi công tác xa nhà , Vô Tri sẽ đưa lên version 3.2 trong tuần sau, thứ hai ngày 24 tháng 07 năm 2006

Thiên Sứ

Posted: 21-07-2006

Anh Vô Tri thân mến.

Khi nào anh sửa lại Trình Tử Vi Lạc Việt nhờ anh :

#- Sửa lại chữ Tử Đức thành Tử Tức (Cung Tử Tức).

#- Đổi hành của hai sao Không Kiếp từ hành Hoả theo sách chữ Hán thành Thuỷ.

#- Thổ cục vòng Trường Sinh từ Tỵ.

V/v này, theo Nguyên lý an Trường Sinh truyền thống thì Trường Sinh An ở Tứ sinh.

Tỷ như:

- Mộc Cục Hợi Mão Mùi - Trường Sinh an ở Hợi vì Hợi Thuỷ sinh Mộc cục.

- Hoả Cục Dần Ngọ Tuất - Trường Sinh tại Dần vì Dần Mộc sinh Hoả cục.

Riêng Thổ cục theo sách chữ Hán- Trường Sinh tại Thân. Không lẽ Thân Kim sinh Thổ? Đây là điều phi lý với nguyên lý tương sinh của Ngũ hành. Nhưng đây chính là vị trí cung Khôn Thổ theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư. Nay Tử Vi Lạc Việt theo nguyên lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ ,cung Khôn chính Vị tại Tỵ Đông Nam . Bởi vậy, Thổ cục- Trường Sinh tại Tỵ. Đây cũng chính là vị trí của Trường Sinh Kim Cục Tỵ Dậu Sửu. Do Tỵ Âm Hoả chính vị Khôn Thổ sinh Kim - theo Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.

Rất cảm ơn sự quan tâm của anh Vô Tri.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 24-07-2006

Các bạn thân mến,

Tử Vi Lạc Việt software version 3.2 đã được đưa lên thư viện của diễn đàn. Các bạn có thể lấy bằng cách bấm

"Tủ Sách" => "Văn Hiến Lạc Việt" => "Tử Vi Lạc Việt software 3.2"

Mọi ý kiến và thắc mắc, xin các bạn tự nhiên hỏi.

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 25-07-2006

Chân thành cảm ơn anh Vô Tri.

Quí vị quan tâm thân mến.

Bản Tử Vi Lạc Việt 3.2 là bản hoàn chỉnh nhất.

Sự ứng dụng Tử Vi Lạc Việt về phương pháp luận đoán không hề thay đổi. Quí vị quan tâm có thể ứng dụng Tử Vi Lạc Việt hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan niệm của quí vị.

Các anh chị em ứng dụng Lạc Việt độn toán thân mến.

Tôi thường khuyên anh chị em nên nghiên cứu , học phương pháp luận đoán của Tử Vi. Bởi vậy, tôi có một yêu cầu coi như là một yếu tố cần là:

Các anh chị em chỉ sử dụng trình Tử Vi Lạc Việt để luận đoán.

Anh chị em nào thắc mắc về việc này có thể hỏi tôi ngay ở topic này.

Tôi cũng lưu ý rằng:

Để tránh những mâu thuẫn trên diễn đàn- mà thực tế đã xảy ra liên quan đến Tử Vi Lạc Việt, nên chỉ có anh chị em học Lạc Việt độn toán từ trước khi tôi viết bài này thắc mắc, tôi mới trả lời. Còn tôi sẽ xóa bài những ai không học Lạc Việt độn toán nhưng đặt câu hỏi liên quan đến Tử Vi Lạc Việt.

Anh chị em có quyền thắc mắc và đặt câu hỏi tất cả mọi vấn đề liên quan đến đến những lý thuyết của tôi từ trong sách vở, bài viết. Có những trường hợp thật đặc biệt tôi sẽ trả lời riêng. Tuy nhiên từ nay đến cuối năm, do tôi phải viết và biên tập lại hai cuốn sách và lý giải cuốn Hoàng đế nội kinh nên rất bận. Bởi vậy, sự trả lời của tôi sẽ ưu tiên cho những câu hỏi mang tính phát triển học thuật, hoặc trả lời chậm.

Anh Minh An thân mến.

Tôi viết điều này vì sự quí mến và chia sẻ với anh. Anh hãy tin tôi và ứng dụng trình Tử Vi Lạc Việt. Anh sẽ thấy sự chính xác của nó và nó sẽ mang lại sự thuận lợi hơn cho anh. Nếu anh có thắc mắc điều gì, tôi sẽ vì anh mà trả lời cặn kẽ. Trừ anh ra là người không học Lạc Việt độn toán , tôi không khuyên ai và cũng không khuyến khích ai dùng Tử Vi Lạc Việt.

Chúc anh vạn sự an lành.

Thiên Sứ

VoTri

Posted: 15-08-2006

Anh Thiên Sứ,

Tối qua em ngồi ngắm trăng và sao , và so sách các bài học Tử Vi trong sách với các sao trên trời. Khi em coi vòng Lộc Tồn và vòng Trường Sinh thì em thấy có nhiều thắc mắc. Em biết đây không phải là câu hỏi trong Tử Vi Lạc Việt, nhưng chắc em làm biếng mở thêm một bài mục khác.

Cách sắp sếp vòng trường sinh theo cục thì em thấy đúng cho các năm "Dương Nam và Âm Nữ", còn vài trường hợp cho "Âm Nam và Dương Nữ" thì hình như không mấy ổn.

Theo Tử Vi software cho những lá số cho "Dương Nam và Âm Nữ", thì em thấy sao Trường Sinh thì lúc nào cũng nằm trong cung Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi), và sao "Mộ" thì lúc nào cũng nằm trong cung Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi)

Còn cho những lá số "Âm Nam và Dương Nữ" thì đôi lúc sao "Mộ" lại rơi vào cung Tứ Chính (Tý Ngọ Mão Dậu) ??????

Sao khi coi lại cách an vòng sao Trường Sinh theo Tử Bình thì thấy sao "Mộ" thì lúc nào cũng nằm trong cung Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi), nhưng vòng sao Trường Sinh thì có khi cũng không cũng nằm trong cung Tứ Sinh (Dần Thân Tị Hợi) ???? Chỉ có cái thấy được là sao Lâm Quan thì lúc nào cũng đi đôi với sao Lộc Tồn , cho nên Lâm Quan còn được gọi là Lộc Kiến.

Em thấy 2 cách Tử Vi và Tử Bình không được ổn. Không biết anh có tài liệu hay cách an nào khác cho em biết.

Càng học em càng thấy em càng ngu ,

Vô Tri

Thiên Sứ

Posted: 16-08-2006

Vô Tri thân mến.

Trên thực tế quĩ đạo các vì sao trong vũ trụ chỉ theo một chiều. Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào thực tế đó mà thay đổi sách của người xưa thì theo tôi không phải cơ sở xác đáng.

Người xưa đã căn cứ vào thực tế thiên văn, tổng hợp với các thực tại khác thành một lý thuyết. Từ lý thuyết này mới ra phương pháp tiên tri là Tử Vi. Bởi vậy, chiều quay của các thiên thể trong vũ trụ chỉ là một yếu tố tương tác mà chúng ta nhận thấy, và cũng chỉ là nhận thức ban đầu sơ khởi của cổ nhân. Còn rất nhiều yếu tố tương tác phức tạp khác mà chúng ta chưa nhận thấy đã làm nên lý thuyết của cô nhân , sau đó mới là Tử Vi. Chúng ta chưa biết được những thực tại tương tác phức tạp khác thì chưa vội thay đổi những qui ước của tiền nhân trong Tử Vi. Thí dụ như: Tại sao cổ nhân đã phân Nam là Dương, Nữ là Âm, tại sao còn phân Âm Nam Dương nữ và sắp cho vòng Tràng Sinh đi ngược vậy? Tất yếu nó phải có nguyên do của nó.

Tôi sẽ đi tìm nguyên lý này - có lẽ sẽ có trong Phong Thủy- hi vọng sẽ trả lời được cho Votri.

Càng đi sâu vào chi tiết, càng đòi hỏi công lao nghiên cứu và thời gian. Một vài người nhiệt huyết như chúng ta làm không xuể. Nếu chúng ta được sự tài trợ xứng đáng thì chắc chắn vấn đề sẽ sớm sáng tỏ hơn.

Tiếc thay! Cả một nền học thuật cổ Đông phương đầy huyền vĩ lại không hề có chỗ đứng trong các cơ quan khoa học trên thế giới. Híc!

Thân mến

Thiên Sứ

Share this post


Link to post
Share on other sites