Lãn Miên

Chữ "thoại"

1 bài viết trong chủ đề này

Từ “THOẠI” là từ Việt gốc Hán hay là từ Việt gốc Huế?

Lãn Miên.

Ngày nay ta quen dùng từ “đối thoại” mà các nhà hàn lâm nói đó là từ Hán-Việt tức từ Việt gốc Hán. Từ “đối” thì trong tiếng Việt, vì có nhiều lối đếm , trong đó có lối đếm “đếch”=0, “đứa”=1 , “đôi”=2, có đôi (như đôi đũa của nền văn minh lúa nước thì ắt có “đối”, Quan Thoại nói “soang” dép chứ không nói đôi dép, còn đôi câu đối thì nó là sản phẩm của chữ Nho, câu đối hay bài thơ Đường mà đang đọc giọng Việt 越=粤 nghe đúng vần điệu vậy mà nếu đọc như giọng Quan Thoại thì chẳng còn gì là luật âm vận cả) vậy “đối” là gốc Việt rõ ràng (tiếng Quan Thoại tương ứng là “líng”=0, “yi”=1, “ar”=2). Còn từ “thoại”?

Muốn tìm nó gốc từ đâu ra trước hết hãy hiểu rằng trong tiếng Việt mỗi âm tiết là một từ có nghĩa và nó không phân biệt nó là động từ, tính từ hay trạng từ như trong tiếng Tây, mà nó gì cũng là cả. Ví dụ: “Bác ấy có nói mời cụ sang xơi cơm ạ” = “Bác ấy có lời mời cụ sang xơi cơm ạ” = “Bác ấy có nói lời mời cụ sang xơi cơm ạ” = “Bác ấy có lời nói mời cụ sang xơi cơm ạ”, tức là NÓI=LỜI=NÓI LỜI=LỜI NÓI chứ không phải phân tích “nói” là động từ,"lời" là trạng từ như ngữ pháp Tây.

Ta phải đi từ “NA” nghĩa là “nói”,nó là cổ xưa nhất từ thời cổ đại trong từ NÔM NA nghĩa là người Nam nói, tức người Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử nói, NÔM NA nghĩa là tiếng người Nam tức tiếng Bách Việt. Từ NA ấy trong tiếng Đài Loan thì gọi là LA, ở Việt Nam nhiều vùng cũng gọi là LA, trong tiếng Nhật thì gọi là HA-NA-XƯ nghĩa là nói, mà khi đem nó VÔ trong nôi Âm Dương của người Lạc Việt (giống cái vật chứa là cái VỎ hình bầu, như cái VÒ chứa rượu, như cái VÓ chứa cá, như cái VŨ 宇 là bầu không gian của vũ trụ chứa hết tất cả, như cái VÚ là bầu chứa sữa nơi người mẹ, như cái RỔ, cái RỌ, cái BỒ, cái TÔ chứa canh, cái MO chửa chứa cái nang cau…) để VO thì nó bị VÒ rụng mất đầu HA và rụng mất đuôi XƯ đi còn lại NA là nói của Bách Việt.

NA trong nôi Âm Dương Lạc Việt đẻ ra: NÍN…NẢY-NÒI…NÓI ( NÍN là không nói, NÍN=0, đương nhiên NÓI=1, NẢY-NÒI là khi NA đang tự tách đôi trong nôi, cặp Âm-Dương dính nhau này có nghĩa là “bắt đầu nói”, ví dụ: “mày lại nảy-nòi yêu sách gì đấy?” = “mày lại bắt đầu nói yêu sách gì đấy?”).

Vì NA còn gọi là LA, nên LA trong nôi Âm Dương Lạc Việt đẻ ra: LẶNG…LẤP-LỬNG…LỜI (LẶNG là không nói, im lặng, LẶNG=0, đương nhiên LỜI=1, LẤP-LỬNG là chưa rõ vì nó đang còn dính nhau trong nôi, nó chưa hẳn thành lời).

LỜI lại đẻ ra: LỊM…LẬP-LỜ…LỐI (LỊM là không nói gì, ngất lịm là ngất không nói gì, LỊM=0, LỐI là "nói rõ ràng từng từ một”, chỉ lối tức chỉ cho rõ ràng từng từ một, đường lối tức đường được nói rõ ràng từng từ một, nói lối hay hát lối là đoạn trong hát trong chèo ,đang hát theo điệu thì đào hay kép chuyển sang nói rõ ràng từng từ một; LẬP-LỜ là nói chưa rõ ràng vì chúng đang còn dính nhau trong nôi, chưa trường thành).

Ta có các từ ghép NÓI LỜI=LỜI NÓI= LA LỐI và có từ ghép NÓI LỐI ở khái niệm khác.

Nhưng NA còn dẫn đến NHẢ cũng nghĩa là nói, “nhả lời châu ngọc” = “nói lời châu ngọc”. NHẢ đẻ ra: NHỊN…NHẤP-NHỔM…NHẮN (NHỊN là không nói, NHỊN=0, đương nhiên NHẮN=1, NHẤP-NHỔM là đang chuẩn bị nhắn chứ chưa tới nhắn vì nó đang nảy nở trong nôi). NHẮN dẫn đến DẶN đều là các hình thái của nói cả, (chưa kể đến còn NHẮN-NHỦ rồi DẶN-DÒ) và dẫn đến NGÔN viết bằng chữ Nho là 言.

NA còn dẫn đến NGẢ nghĩa là nói, “ngả lời chào hỏi” = “nói lời chào hỏi”, “ngả giá bao nhiêu” = “nói giá bao nhiêu”. NGẢ đẻ ra: NGẬM…NGẬP-NGỪNG…NGỎ (NGẬM là không nói, NGẬM=0, đương nhiên NGỎ=1, “ngỏ lời mời” = “nói lời mời”; NGẬP-NGỪNG là rất muốn NGỎ nhưng vì đang còn trong nôi chưa lớn tới NGỎ).

NGỎ đẻ ra: NGHẸN…NGỌNG-NGHỊU…NGỮ (NGHẸN là không nói, “nghẹn giọng” là không thành tiếng, “nghẹn lời” là không thành lời, NGHẸN=0, đương nhiên NGỮ=1=nói, NGỌNG-NGHỊU là chưa nói được rõ lời vì nó đang còn nằm trong bọc nôi. NGỎ là nói, nó còn dẫn đến là “GÔ” trong tiếng Nhật, là “GÍ” trong tiếng Đài Loan, là GỌI trong tiếng Việt, và tất cả các âm tiết ấy đều viết bằng một chữ Nho là NGỮ 語. "Ni-hon Go" 日 本 語 là Nhật Bản Gọi tức Nhật ngữ, "Đài Gí" 台 語 là Đài Gọi tức Đài ngữ,cũng còn gọi là "Đài la" 台 罗.

Đến đây thì ta thấy rõ là NGÔN NGỮ=LỜI NÓI=NGỮ NGÔN=NÓI LỜI là do từ NA của Bách Việt mà ra, NGỮ NGÔN 語 言 là từ Việt gốc Bách Việt ,chứ không phải là từ Hán- Việt như vẫn quan niệm.(Quan Thoại dùng hai chữ đó 語 言 và phát âm là “ủy yán”).

NA còn dẫn đến THẢ cũng là nói, “thả lời ong bướm” = “nói lời ong bướm”. THẢ đẻ ra: THÍT…THẦM-THÌ…THÓI (THÍT là không nói, “nín thít”, THÍT=0, THÓI là nói, “thói hư tật xấu” = “nói thì không đúng, hành vi thì xấu”, “quen tật quen thói” = “quen hành vi và lời nói”, THẦM-THÌ là nói rất nhỏ vì đang còn nằm trong bọc nôi. Từ THÓI nầy người Huế phát âm là “thoái”, cũng như từ NÓI thì họ phát âm là “noái”, lại do giọng nặng nữa nên thành ra “thoái” họ phát âm ra “thoại”. Vào kinh đô Huế đi thi mà thầy phát âm là “thoại” thì trò cũng phải cắn răng mà theo không thì rớt điểm, bởi vậy mới có chữ 話 là lời nói bị phát âm là THOẠI . Đó là một từ Việt gốc Bách Việt mà phát âm theo giọng Huế.

THÓI đẻ ra: THIN…THỦ-THỈ…THỐT (THIN là không nói, “im thin thít”, THỦ-THỈ là nói nhỏ vì còn trong nôi, THỐT là nói, “biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”).

THỐT đẻ ra: THINH…THẼ-THỌT…THUYẾT (THINH là không nói, làm thinh, lặng thinh; THẼ-THỌT là nói nhỏ vì đang còn trong nôi, THUYẾT là nói dài dòng). Chữ THUYÊT 說 là một từ Việt gốc Bách Việt. Người Quan Thoại dùng chữ THUYẾT THOẠI 說 話 là hai chữ Nho và họ phát âm là “sua họa” nghĩa là nói lời.

THUYẾT đẻ ra: THÔI…THỎ-THẺ…THÉT (THÔI là không nói nữa,THÔI=0, đương nhiên THÉT=1=nói to, còn THỎ-THẺ là nói còn nhỏ vì nó đang còn dính trong nôi).

Hóa ra những từ mà người ta vẫn gọi là từ Hán- Việt lại là từ do Nôm na mà ra vì chữ Nôm có trước chữ Hán. Trong bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh Trung Quốc có một bản đồ minh họa khởi nguồn văn tự toàn thế giới, trong đó chữ viết sớm nhất là chữ Ai Cập. Chữ Hán đến năm 1300 BC mới có, đến nay mới được 3300 năm, tức là 1300 BC về trước thì mới chỉ là sử tiền sử vì chưa có văn tự. Nhưng chữ Hán là trên nền của chữ Nho. Khổng Tử là người đầu tiên dùng chữ Hán viết nên bộ sách sử đầu tiên gọi là “Xuân Thu”, Ông sinh năm 551BC, mất năm 479 BC, tức Ông sinh ra cách nay khoảng 2600 năm. Ngược về trước,thời Tam Hoàng, Ngũ Đế, Nghiêu, Thuấn … là lịch sử của Bách Việt . Chữ khoa đẩu và chữ rắn thì ngày nay mới sáng tỏ ra là nó có cách nay 5000-6000 năm, sau nó là chữ Nho.

Lãn Miên

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites