Lãn Miên

Thông Tin Thêm Về "bách Việt Tiên Hiền Chí"

1 bài viết trong chủ đề này

Thông tin thêm về cuốn sách “Bách Việt tiên hiền chí”

Thời Xuân Thu Chiến Quốc kéo dài từ năm 770 BC đến 221 BC là thời kỳ có rất nhiều học phái gọi là “Bách gia tranh minh” tức trăm nhà đua gáy thể hiện sự năng động hoạt bát trong sáng tạo tư duy của dân Bách Việt, các đạo cùng tồn tại và thỏa sức tranh luận nhau, đó là Nho gia của Khổng-Mạnh-Tuân, Đạo gia của Lão-Trang, Mặc gia của Mặc tử, Pháp gia của Hàn Phi tử, Âm Dương gia của Trâu Diễn, Tung Hoành gia của Tô Tần-Trương Nghĩa, Tạp gia của Lã Bất Vi, Nông gia của Hứa Hạnh, Danh gia của Huệ Thi- Công Tôn Long.

Từ Tần Thủy Hoàng bắt đầu bạo hành “đốt sách, chôn Nho sĩ”; sau đó Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156 BC-87 BC) lại phản động theo một cực đoan khác là cấm “bách gia”, chỉ độc tôn Nho gia , đề xuất “tam cương”: Thiên tử thụ mệnh ư thiên,Thiên hạ thụ mệnh ư thiên tử, Thân dĩ tâm vi bản, Quốc dĩ quân vi bản, Quân vương vị trung tâm; để nhất nhất phải theo chỉ ý của triều đình mà nói thuyết và hành sự (không như “phép vua thua lệ làng” trong tư tưởng hoạt bát của dân Việt cổ).

Từ khi căn bản diệt xong nhà Tống, các triều đại sau kế tiếp nhau từ Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh thì bốn trong năm triều đại đó đều là ngoại bang (rợ Khiết Đan) thống trị Trung Hoa. Thời Nguyên, người Mông Cổ chia chức nghiệp ra làm mười bậc: Quan, Sứ, Tăng, Đạo, Y, Công, Thợ, Xướng, Nho, Ăn mày, cho thấy họ đánh giá Nho còn thấp hơn cả xướng kỹ. (Thời nhà Thanh sửa đổi cổ thư còn tệ hại hơn. Lỗ Tấn trong cuốn “Hoa cái tập,này với kia华盖集 这个与那个” đã nói triều Mãn Thanh công nhiên sửa đổi cổ tịch: “ Hiện nay các học giả Trung Quốc và phương Tây hầu như hễ nghe đến danh mục “Khâm định tứ khố toàn thư” đều ngoan ngoãn thán phục và nghe theo, kỳ thực nguyên tác các sách cổ đã bị sửa đổi rồi, thêm vào nhiều chữ sai, thậm chí nhiều đoạn văn bị cạo xóa sửa lại. Rõ ràng nhất như “Lâm Lương bí thất tùng thư 琳琅秘室丛書” trong đó có bản “Mâu đình khách thoại茅亭客話”, nếu lấy bản của Tống so sánh với bản của “Tứ khố” thì sẽ phát hiện ra ngay. Thời Thanh phát hành, mọi người nghĩ ắt thấy ngay, nhưng ai dám công nhiên trách vấn?”).

Cho nên cuối Nguyên đầu Minh có năm học giả trứ danh người Lĩnh Nam là Tôn Công, Triệu Giới, Vương Hựu, Hoàng Triết, Lý Đức rủ nhau lập ở Nam Viên thành phố Quảng Châu một Hội thơ nhằm chấn hưng phong nhã. Do năm vị này về học vấn và đạo đức đều có ảnh hưởng rất lớn trong giới trí thức Lĩnh Nam nên người đương thời rất kính trọng và mến mộ họ, gọi họ là “Nam Viên ngũ Tiên sinh”. Đến thời vua Gia Tĩnh triều Minh, học giả Âu Đại Nhậm cùng bốn học giả khác là các ông Lương Hữu Dự, Lê Dân Biểu, Ngô Đán, Lý Thì vì hâm mộ cao phong lượng tiết và thi thư xuất sắc của năm vị tiền bối của Hội thơ xưa nên lại khởi xướng ở Nam Viên một Hội thơ “nhã tập hào ngâm”. Do vậy người đương thời gọi họ là “Nam Viên hậu ngũ tử”.

Âu Đại Nhậm tên chữ là Trinh Bá, người huyện Thuận Đức tỉnh Quảng Đông, khi còn trẻ ông đã thi hương (cấp tỉnh) để đậu cử nhân rồi qua tiếp thi hội (ở kinh đô) đậu cống sinh, còn gọi là cống sĩ (chưa đến tiến sĩ), nhậm chức Huấn đạo ở Giang Đô (nay là Dương Châu tỉnh Giang Tô). Không lâu sau đó ông phụng mệnh lên kinh đô Nam Kinh tham gia sửa cuốn “Thế tông thực lục”. Sau lại chuyển về Quang Châu (nay là Hoàng Xuyên tỉnh Hà Nam) làm học chính. Năm Vạn Lịch thứ ba (1575) nhậm chức trợ giáo Quốc Tử Giám, sau thăng lên chức Đại lý thi bình sự. Ông chấp pháp rất ngay thẳng, không khuất phục áp lực của quyền quí nên rất nổi danh. Ông đã phản bác lại rất nhiều án giả, án sai, án oan trong lĩnh vực dân sự. Cuối cùng ông làm quan ở bộ công đến năm Vạn Lịch thứ mười hai thì lấy cớ tuổi cao cáo quan về quê khởi động lại thi đàn, là thành viên của “Nam Viên hậu ngũ tiên sinh”, không cam chịu dính nhơ nhớp trong quan trường thối nát. Ông sáng tác nhiều thơ, tập hợp thành 28 quyển. Nội dung và khí tiết thơ của thi đàn Nam Viên được hậu thế kính trọng và hâm mộ. Sau ông mất, được thờ tại Hương Hiền tự và Tiền Hậu Ngũ Tiên Sinh tự.

Tập “Bách Việt tiên hiền chí” của Âu Đại Nhậm gồm bốn quyển, sưu tầm được 120 danh nhân là những học giả trứ danh người Bách Việt từ thời Đông Hán đến thời Minh, đông nhất là thời các nước Việt, Ngô, Sở. Riêng người ở Cối Kê thủ đô của Việt Quốc của Việt Vương Câu Tiễn chiếm đến 30 vị, ở Nam Hải 5 vị, ở Giao Châu 1 vị quê ở Sòng Sơn.

Share this post


Link to post
Share on other sites