Lãn Miên

Kẻ Lửa(bài 2)

1 bài viết trong chủ đề này

Kẻ Lửa, bài 2

Khoa học gen chỉ ra rằng người Homo Sapient bắt nguồn từ Đông Phi,

khoảng 80.000 năm trước một nhóm trong số họ men theo bờ biển Ả Rập thiên di về bờ biển Ấn Độ phía đông. Khoảng 60-70.000 năm trước họ đã đến trú ở ven biển Đông Nam Á. Một chi đi về đông nam đến Indonexia, khoảng 50.000 năm trước họ đến Châu Úc thành tổ tiên của người bản địa Maori ở Úc. Một chi khác men theo bờ biển Đông vào vùng Hoa Nam sau đó mới lên phía bắc cư trú ở lưu vực sông Hoàng.

Báo “Di truyền học Trung Quốc” năm 1991 đưa ra so sánh gen nhân chủng người Trung Quốc, phát hiện người Mân Nam Trung Quốc (nghiên cứu ở Hạ Môn Phúc Kiến,Sán Đầu Quảng Đông), người Khách Gia ( nghiên cứu ở Mai Huyện Quảng Đông) về chủ thể huyết hình đều là Việt tộc phương nam ( gen chiếm 75% đến 90% trở lên), gần gũi nhất với người Đông Nam Á; người Quảng Châu càng ít huyết thống phương bắc hơn cả người Mai Huyện. Mân Nam là tên chỉ vùng Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Đài Loan và Hải Nam, chung hệ ngữ gọi là Mân Nam ngữ. Thời cổ đại ngôn ngữ Bách Việt là một ngôn ngữ cộng thông tính. Phân tích của giáo sư Lâm Ma Lợi林媽利 viện nghiên cứu huyết thống của Đài Loan vào năm 2007 chỉ rõ người Đài Loan có 48% là đến từ Phúc Kiến, 52% còn lại là từ dân miền núi bản địa Đài Loan, dân đảo Đông Nam Á và dân các vùng khác của châu Á. Về gen thì 85% người Đài Loan có gen của dân bản địa Đài Loan và dân đảo Đông Nam Á, đồng thời hơn 90% người Đài Loan là có gen của Việt tộc. Các phó giáo sư Trầm Kiến Đức, Hứa Minh Châu của đại học Trung Hưng khi nghiên cứu tính chân thực trong tộc phả của người Hà Lạc Đài Loan đã nhận định rằng người Hà Lạc Đài Loan thực chất là người Bình Bồ (bản địa Đài Loan) đã bị người Hà Lạc di cư từ Phúc Kiến ,Quảng Đông sang đồng hóa chứ không phải là người Hán thuần chủng từ Trung Quốc đến Đài Loan.

Ngôn ngữ của dân Đài Loan là tiếng Ho Ló, sử gọi là tiếng Hà Lạc 河洛Người Đài Loan còn gọi là người Hà Lạc (Ho Ló), còn có các tên gọi khác là người Phước Lào, Hạc Lào, Học Lão, dân số 17 triệu người, phân bố ở Đài Loan và ở hải ngoại. Người Hà Lạc tức người nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Hà Lạc, bao gồm người Bình Bồ bản địa đã bị Hà Lạc hóa, người Việt đã bị Hán hóa, người Khách Gia đã bị Hà Lạc hóa. Họ là hậu đại của cư dân ven biển nam Trung Quốc di cư sang Đài Loan hỗn huyết cùng dân Bình Bồ bản địa. Thời xưa di dân từ Trung Quốc sang là dân Chương Châu漳州 và Tuyền Châu泉州 của Phúc Kiến và sau hơn là dân Triều Châu潮州, Sán Đầu 汕頭của Quảng Đông là những sắc dân Việt tộc đã bị Hán hóa.

Về ngôn ngữ Hà Lạc Đài Loan thì ở những vùng khác nhau của Đài Loan có giọng nói khác nhau chút ít nhưng đều giao tiếp được. Đài Loan có bốn dân tộc lớn, người Hà Lạc Đài Loan chiếm 73,3%(16.572.000 người). Người Khách Gia ở Đài Loan được gọi là Hà Lạc Khách vì ngôn ngữ của họ đã hầu như thất truyền, nhiều người vẫn nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Khách Gia nhưng lại tự xưng mình là người Hà Lạc, nhiều nhân sĩ người Khách Gia kể cả nguyên tổng thống Lý Đăng Huy tiên tổ là người Khách Gia ở Giang Châu Phúc Kiến thì đến đời tổ phụ của họ đã là không còn nói được tiếng Khách Gia.

Giải thích từ vựng Hà Lạc河洛

Để giải thích nguồn gốc của từ vựng này, vốn chỉ một tộc người ngày nay nói thứ tiếng đó là tiếng mẹ đẻ của họ, thì phải dùng mẫu tự Latin ký âm đúng như người Đài Loan gọi là “ Ho Ló”.

Chữ Mân là chữ thời Tần chỉ dân tộc bản địa toàn bộ vùng Đông Việt và Nam Việt , ngày nay thành cái tên chỉ vùng bao gồm toàn bộ tỉnh Triết Giang, toàn bộ tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu và Mai Châu của Quảng Đông. Thời Đông Hán học giả Hứa Thận trong cuốn sách “Thuyết văn giải tự “của mình đã giải thích chữ Mân là chỉ Việt tộc thờ rắn vùng Đông Nam, lấy bộ thủ “môn” làm chú âm, bộ thủ “trùng” làm phù hiệu nghĩa. Mân Việt tộc là tộc Việt vùng Đông Nam thờ rắn. Năm 1984 ở Phúc Kiến đã khai quật được Cổ Việt thành là thành của vua nước Mân Việt.

Thực ra cổ đại thì Mân là từ ký âm chỉ người Mun,da ngăm ngăm hơn người Hán, mà người Hán còn gọi là người Man蠻 với ý khinh thị. (Từ “mun” là từ Việt cổ chỉ màu đen, có lẽ nó có từ thời lục địa “Mu” , tự nó cũng đã nói lên nguồn gốc châu Phi của loài người, từ “mun” ấy nay trong tiếng Việt chỉ còn ở “cây gỗ mun”, “con mèo mun”, “con chó mực”, “mực tàu” mà thôi, còn thì phổ biến dùng từ “đen” thay thế). Danh từ “Bách Việt” đến thời Xuân Thu Chiến Quốc mới xuất hiện trong Hán thư để chỉ Việt tộc nói chung, chứ còn âm tiết “việt” thì nó đã có trước đó hàng ngàn năm.

Văn hiến đời Thanh ghi rằng người Khách Gia ở Phúc Kiến gọi những người nói tiếng Hà Lạc ở Phúc Kiến là “ Hà Lão” hay “Phúc Kiến Lào” , gọi tắt là “Phúc Lào”, tiếng Khách Gia phát âm là “ Phuk Lò”, tự gọi mình là “Khách Gia Lào”. Còn người Hà Lạc gọi chính mình là “Ho Ló”. Âm tiết “Ló” và “Lò” trong tiếng Hà Lạc hay tiếng Khách Gia có nghĩa là “người” , sử thư viết là “ Hà Lạc nhân” tức “người Hà Lạc” là viết thừa chữ người, làm cho người đọc cứ tưởng Hà Lạc là tên một địa phương nào đó nên người xuất xứ từ đó gọi là người Hà Lạc.Tuy vậy ngày nay từ “Hà Lạc”mà chính sử dùng và giải thích là “do nguồn gốc từ lưu vực Hoàng Hà và Lạc Thủy tức Trung Nguyên”, nghiễm nhiên thành từ chỉ tộc người cũng như chỉ ngôn ngữ của họ.

Trung Quốc sở dĩ tồn tại tới 7 phương ngữ không thể giao tiếp với nhau được là do nguồn gốc của chúng không đồng nhất.Tiếng Ho Ló là một ngôn ngữ bắt nguồn từ phương Nam. Khi người Hán tránh xâm lăng của Hồ, Di mà chạy về Giang Nam thì họ chỉ là dân tị nạn, thiểu số so với dân bản địa ở đó từ xưa. Ngôn ngữ Ho Ló cổ là tiếng mẹ đẻ của người Phúc Kiến. Sau do người Hán di cư đến và ảnh hưởng của chữ Hán tạo nên ngôn ngữ Ho Ló có diễn biến Hán hóa, nhưng không thể vì cái yếu tố Hán hóa này mà nói rằng tiếng Ho Ló bắt nguồn từ lưu vực Hoàng Hà, cũng giống như người Hàn, người Nhật, người Việt Nam từ xưa vẫn học và đọc chữ Hán nhưng không thể nói tiếng các dân tộc đó là bắt nguồn từ lưu vực Hoàng Hà. Lại nữa, người Hán ở phương Bắc do bị người Hồ thống trị nên ngôn ngữ của họ bị ảnh hưởng, nhưng không thể nói ngôn ngữ họ là tiếng Hồ được.

Trong tiếng Khách Gia nói “Lò” và tiếng Hà Lạc nói “Ló” có nghĩa là “người” ,vậy nó chính là từ tiếng Việt nói “Lòi” cũng gọi là “Nòi” (do tiếng Việt “N”và “L” chuyển đổi được cho nhau nên hay bị lầm lẫn với từ đồng âm dị nghĩa,vì tiếng Việt còn có từ “nòi” = “giống”, bởi vậy mới cần đến ngữ pháp hàn lâm để qui ước chặt chẽ), tiếng Lào nói “Nọi” hoặc “Neo”, tiếng Quảng Đông nói “lào” đều có nghĩa là “người”. Tiếng Việt “con người” còn nói là “con nòi” , xứng đáng là “con nòi” ý là xứng đáng là người để làm giống, do chơi chữ nòi=người, đồng âm dị nghĩa với nòi=giống. “Nòi” có biến âm là “Mòi” cũng nghĩa là người, mà trong tiếng Việt con người cổ xưa nhất tức xuất hiện đầu tiên trên trái đất thì gọi là “Mọi” (chứ không phải như trong nhà trường vẫn giải thích “mọi” là từ “do thực dân Pháp sang ta nó đặt ra để gọi miệt thị dân ta”). “Mòi” là cá nhân một con người tức “Mỗi”, phân biệt được với nhau từ cái mong manh nhất là “Mùi” nên con chó nó mới đánh hơi phân biệt được. Biến âm “Mùi” ở giới hạn khái niệm này cũng nghĩa là “con người cá nhân” mà chữ nho viết là “Vị” 位mà gốc dân gian của nó từ thuở đầu tiên là “Lòi”. Từ vựng “Lòi” ấy Quan Thoại đọc là “wây” (của chữ Vị), L- đã biến sang V- tương tự như Lang đã biến thành Vương mà Quan Thoại đọc là “Wáng” cũng như “Lửa” tức chữ nho Liệt烈 (“rực”) đã biến thành Việt 越,粤mà Quan Thoại đọc là “Duê”. (“Duê”, “Yuê” còn biến âm thành “Huê” 華, “Hoa” 華, người Hoa cũng là do Việt tộc mà ra). Chư vị=các vị=các người=các ngài. Còn từ vựng “mùi” ở khái niệm là cái ngửi được thì chữ nho cũng viết bằng một chữ “Vị” khác là 味 (cũng còn đọc là “mùi”) mà Quan Thoại đọc là “wây” chứ trong Quan Thoại không có âm tiết “mùi”. Trong tiếng Việt thì cái mà ngửi được là “mùi”= “vị”= “mùi vị”, từ ghép “mùi vị” là ghép “mùi” của dân gian có trước với “vị” của chữ nho đồng nghĩa có sau để chỉ “nhiều mùi”, trong cách ghép đó “mùi” đứng trước vì nó ra đời trước, mà không hề có ghép ngược là “vị mùi”, đúng như qui luật của tiếng Việt. “Ngửi mùi” để nhận biết chính mình đã cho ra từ “Người” đồng nghĩa với “Lòi” ban đầu, mà tiếng Đài Loan từ mang nghĩa là “người”, họ phát âm là “nghìn”. Từ vựng “Mòi” nghĩa là “người” ấy trong tiếng Mân Nam có từ vựng “Mằn” cũng là “người”, mà chữ nho viết là “Dân”; trong tiếng Quảng Đông thì còn có từ vựng “Dành” cũng là người, mà chữ nho viết là “Nhân”, còn tiếng Tày thì gọi là “cần”. Từ “nhân dân” là một từ ghép hai từ đồng nghĩa “nhân”= “dân”= “người” để mang ý “nhân dân” là nhiều người, đúng như qui tắc của tiếng Việt, “nhân dân” thì Quảng Đông-Phúc Kiến nói là “dành mằn”, Quan Thoại nói là “rấn mín”.Tiếng Huế có từ “tình cảm mằn mòi” nghĩa là tình cảm “mằn” với “mòi” tức người với người, nó hẳn là sâu sắc và nó mang nghĩa ngọt ngào chứ không phải là “mặn mòi” tức “mặn mói” = “đậm muối” = cho quá nhiều muối. Tiếng Việt từ vựng “Lòi Người” là một từ ghép hai từ đồng nghĩa con người để tạo ý nhiều người, đúng qui luật từ “Lòi” ra đời trước nên đứng trước, “Lòi Người” sau phát âm là “Loài Người” (chắc do từ tiếng Huế, “nói” phát âm thành “noái”, “thói” phát âm thành “thoại”, chứ ở vùng quê Nam Bộ “đối thoại” người ta vẫn phát âm là “đối thọi”). Từ ghép “giống lòi” trong tiếng Việt chỉ có duy nhất một nghĩa là “giống người” nhưng hàm ý còn hẹp hơn, đó là “giống lòi Việt”, “giống Việt”, nhưng do hàn lâm quen nói “N”, chê nói “L” là nói ngọng, nên dùng “giống nòi Việt”, câu “giống nòi Việt Nam” là một câu thiêng liêng, tuy vậy nó bị đồng âm thành ra nhạt ý, vì “giống” = “nòi” nên “giống nòi” = nhiều giống = nhiều nòi, đã nói Việt thì chỉ có một giống tức một nòi chứ làm gì có nhiều? “Loài người” nghĩa là “nhiều người”, cũng tương tự như vậy, từ “mọi” nghĩa là “ người” có từ ban đầu cũng được ghép đứng trước từ “người” để có từ “Mọi Người” nghĩa là nhiều người. Còn có từ ghép “ Mọi Nhân” = nhiều Người , mà “Mọi Nhân” đã lướt thành “Muôn” để chỉ con số, Muôn (Việt) = Mưn (Tày) = Man (Nhật Bản), chữ nho viết là Vạn萬, quan thoại đọc là “wan”. Lòi Người = Mọi Người = Loài Người = nhiều Người theo đùng qui tắc của tiếng Việt là: hai từ đồng nghĩa ghép với nhau thì thành một từ ghép có hai âm tiết cũng đồng nghĩa nhưng mang ý là nhiều, trong thứ tự ghép thì từ xuất hiện trước đứng trước, từ xuất hiện sau đứng sau. Đây chính là do tư duy “ lưỡng hợp” của người Việt, kẻ đã phát minh ra thuyết Âm Dương, hai từ đồng nghĩa tức cùng gốc từ Một, nhưng là hai âm tiết khác nhau như một tiếng Âm và một tiếng Dương, cùng hợp với nhau chúng sẽ cho ra “nhiều”.

Từ “Lòi” nguyên thủy trong tiếng Việt nghĩa là “người” ấy cũng chính là từ mà người Việt nguyên thủy dùng gọi “Mặt trời” là “Blời”,rồi vo thành “Lời”, rồi lại biến âm thành “Trời” (Trống đồng có hình mặt trời là sản phẩm đặc trưng của người Việt cổ). Con “Lòi” tồn tại dưới mặt “Lời” từ khi nó “lòi” ra khỏi bụng mẹ, rồi nó “lớn” lên, đến khi nó “lằm” xuống là hết một “đời”của nó, từ “Đời” chữ nho viết là “Đại” 代 mà Quan Thoại đọc là “tai” (vậy thử hỏi chữ “Đại” ấy là từ Hán-Việt hay từ Việt-Hán? Tiếng Hán gọi là “thế”, “thế hệ”).Từ “Con” do từ “Kẻ” mà ra , “con người” = “con lòi” = “kẻ lòi”. Cũng cùng logic như đời người ( Lòi ra, Lớn lên, Lằm xuống), sự tồn tại của mặt trời là “Lời” trong một ngày cũng là từ “Lòi” ra lúc bình minh,lên “ Lửa” lúc giữa trưa, cho đến “Lặn” xuống lúc hoàng hôn là hết một “Ngày”, rõ ràng là từ “Ngày” rất có logic với từ “Ngài” = “Người”. Chính “Lòi” nghĩa là “người” đã biến âm thành “Lửa” bởi người nguyên thủy đã biết tự gọi mình là người bằng tiếng “Lòi” từ khi còn chưa phát hiện ra lửa, khi loài người tìm ra được lửa họ mới thực sự là “người” và làm chúa tể muôn loài. Khi người nguyên thủy vô tình cọ xát đá sinh ra lửa cháy họ đã hô lên “lòi !” để gọi nhau đến “coi”. “Lửa” đã có tên gọi do “Lòi”, và logic tồn tại của Lửa cũng tương tự logic tồn tại của “đời người” hay logic tồn tại của “ngày trời” là Lửa đã từ “Lòi” ra khi nảy ra từ đá , lớn lên thành ngọn là Liệt (rực) nhất rồi giảm dần cho đến lúc “Lụi” đi khi đã ngốn hết củi đun. Người Việt cổ đã tự gọi mình là “Kẻ Lòi” mà lúc đầu là “Kẻ” hay “Lòi” đều có nghĩa là “người”. “Lửa” đã sinh ra do từ “Lòi” là người vì chính con người tìm ra lửa và làm ra lửa nên người Việt cổ cũng còn gọi mình là “Kẻ Lửa” là một từ đại diện để phân biệt với những kẻ khác là động vật không biết làm ra lửa. Rồi người Việt sáng tạo ra dịch lý, gọi Kẻ Lửa là Quẻ Ly, xác định phương nơi mình sống là phương của quẻ ly là phương xích đạo ấm (chữ nho là “Ôn” 温) là phương nóng bức, từ đó “Quẻ Ly”= “Kẻ Lửa”= “Kẻ Lả”= “Kẻ La”= “Kẻ Ly” đều là tên người Việt tự gọi mình. Chẳng thế mà nhà sàn có đốt bếp lửa ở giữa sàn như còn thấy ở vùng Tây Nguyên hay miền núi phía bắc, đồng bào miền núi phía Bắc Việt Nam đến ngày nay vẫn gọi là “nhà quẻ ly”, đó chính là nhà của dân Kẻ Lửa tức dân Việt. Chuyện cổ tích của người Ba Na kể rằng thời xưa loài người nói chung một thứ tiếng, sau vì cùng nhau dựng một cái nhà rông quá rộng,mài nhà quá lớn quá cao, khi lợp mái người ngồi lợp các phía mái chẳng thấy được nhau, đến khi lợp xong xuống thì không còn hiểu nhau được nữa vì tiếng nói đã bị khác nhau mất rồi. Cái mái lá của nhà rông cong bốn phía và võng trên nóc để lại dấu ấn rõ ràng trong kiến trúc đền chùa miếu mạo của khắp vùng Phúc Kiến, Quảng Đông,Việt Nam và Trung Hoa mà hoàn toàn không phải là dấu ấn của kiến trúc của dân du mục đồng cỏ Mogoloit. Nhà sàn “quẻ ly” ấy thời cổ đại tồn tại phổ biến ở Quảng Đông mà sử thư gọi là nhà “sào cư 巢居tức nhà cách đất trên cọc như tổ chim, ở Việt Đông”, và phổ biến ở Phúc Kiến mà cổ thư gọi là nhà cách đất tức “nhà can lan 干欄 ở Mân Việt”, do phiên chữ một âm tiết là “sàn” mà thành chữ “can lan”.

Quẻ Ly là “Lửa” được người Việt ghi bằng ký tự kẻ vạch của dịch lý bằng ba kẻ vạch là : một kẻ vạch liền là Dương ở dưới cùng, một kẻ vạch đứt là Âm ở giữa, một kẻ vạch liền là Dương ở trên cùng, logic biến của nó từ hào dưới là vạch dưới cùng lên hào trên là vạch trên cùng cũng là logic biến từ tĩnh (Dương) đến động (Âm) rồi lại đến tĩnh (Dương), cũng hợp logic biến của “Lòi” là con người từ “Ló” ra đến “ Lớn” lên rồi “Lằm” xuống, cũng là logic trong một ngày trời của “Lời” là mặt trời từ “Ló” ra đến “Liệt”(rực) nhất lúc giữa trưa rồi cũng đến “Lặn”. Ba kẻ vạch của quẻ ly là một nét dài dưới, hai nét ngắn giữa, một nét dài trên, tất cả là bốn nét. Bốn nét ấy đã được cách điệu thành chữ nho là bộ Hỏa 火 hay灬đều chỉ gồm bốn nét . Lại do Lửa là từ đại diện chỉ người nên chữ nho có chữ Nhân 仁bốn nét là lòng nhân tức chữ nhân viết hoa, và có chữ Tâm心 bốn nét là từ đại diện chỉ con người, mà hình ảnh của chữ Tâm心 là ba ông đầu rau và cái vòng kiềng chỉ cái bếp, lửa trong lòng người cũng như cái bếp ở giữa sàn nhà sàn là nơi quây quần gia đình. Quẻ Ly cũng như các tên quái khác trong bát quái rõ ràng là những cái tên Việt ở Việt Nam, thời mà người Việt sáng tạo ra Bát Quái thì đã ghi bằng ký tự của dịch lý, rồi sau chắc là có ký âm bằng chữ khoa đẩu mà đã bị thất truyền, chữ nho chưa kịp đặt chữ cho chúng theo đúng âm và đúng biểu ý, để cho về sau người Mongoloit vốn chỉ quen dùng âm tiết chắp dính chứ không quen chữ biểu ý nên đã dùng những chữ nho có âm tương tự tiếng Việt để ghi âm, thành ra Ly vốn là lửa được họ ghi âm bằng chữ “ly” 離 là ly khai ,chẳng có một bộ thủ nào là hỏa, chữ Cấn vốn là núi ( do “bnâm” = “phnom” = “non” = “cồn” = “cấn” là từ Khơ Me sang Việt) đã được họ ghi âm bằng chữ “cấn”艮 cũng chẳng có một bộ thủ nào là sơn, và các tên của các quẻ khác của bát quái cũng trong tình trạng như vậy cả. Học giả Trần Trọng Kim năm 1945 đã có ý muốn lấy ký tự “Quẻ Ly” trong dịch lý của dân Kẻ Lửa để làm hình tượng biểu trưng cho dân tộc Việt, vì các vạch của Quẻ Ly nếu tô đậmdày nét lên thì nhìn thấy rõ phần trống còn lại của nó là hình chữ “công” 工 nghĩa là người lao động. Ngày nay ta lấy hoa văn mặt trống đồng Đông Sơn làm hình tượng biểu trưng dân tộc Việt, mà như Nhật Nguyên đã giải mã, nó có ý nghĩa lịch sử và văn hóa toàn diện và sâu sắc hơn nhiều.

Thời Tần người Hán di cư xuống Mân ngày càng nhiều, nhất là từ thời Tấn và Lục triều thì số người Hán di cư xuống Mân chỉ có ngày càng tăng chứ không giảm, ngôn ngữ Việt tại chỗ dần dần bị đồng hóa, nhất là ngữ pháp. Đến thời Đường Tống thì căn bản đã định hình một thứ ngôn ngữ được gọi là Mân Nam ngữ tồn tại đến ngày nay trong khẩu ngữ mà chỉ có nó mới đọc đúng được vần điệu của những thơ và những từ viết vào thời thời Đường Tống. Tiếng Mân Nam Đài Loan cũng bảo lưu được thanh điệu thời trung cổ này nên đọc và ngâm được đúng thơ Đường. Mân Nam ngữ về khẩu âm sở dĩ được bảo tồn cho đến ngày nay là do khoảng thời Minh các cố đạo Tây Ban Nha ở Manila đã dùng ký tự Latin để phiên âm tiếng Mân Nam phục vụ cho truyền giáo. Người Mân Nam di cư đến Đài Loan vào cuối Minh đầu Thanh, đến cuối thời Thanh thì đã phổ biến toàn Đài Loan. Người bản địa Đài Loan lui lên vùng rừng núi, người Khách Gia định cư ở vùng chân núi Đài Bắc, người Mân Nam ở vùng đồng bằng phía Tây.

Tiếng Ngô: lang = người, am = lãnh (= ẵm, người Việt vẫn nói “nó ẵm gọn tiền của người ta rồi”).Tiếng Quảng Đông “lào” 佬 = con trai. Người Khách Gia gọi người Phúc Kiến là “Phúc lào” 福佬 (huk lò) với ý miệt thị, tiếng Khách Gia “lò” 佬 = người, những từ khinh miệt trong tiếng Khách Gia như “tặc lò” 贼佬= kẻ trộm, “á lò” 哑佬 = kẻ câm. Người Trung Nguyên không biết nên viết là Phúc Lào nhân 福佬人 = người Phúc Lào, người đời sau cứ tưởng Phúc Lào福佬 là một tên riêng địa danh hay tộc người, cuối cùng cũng chấp nhận trong chính sử như cái tên riêng là Phúc Lào mà người Khách Gia phát âm là “huk lò”, người Đài Loan phát âm là “ho ló”. Về sau có xuất hiện một cuốn sách là “ Phúc Lào thoại ngữ pháp” không biết tác giả là người Khách Gia hay người Đài Loan. Các âm “phúc”= “học” = “hạc”= “hà” chỉ là biến âm của một từ mà người Mân phát âm là “hok”, “họ”, “hỏ”. Các âm “lào”= “lão”= “lạc” cũng chỉ là biến âm của một từ mà người Mân phát âm là “ló”. Thành ra có các từ dùng chữ nho ghi âm trong chính sử là Phúc Lào福佬, Phúc Lão福老, Học Lào學佬, Hạc Lào鶴佬, Hà Lạc河洛, rồi bảo đó là những tên gọi khác nhau của một tộc người có một hệ ngữ riêng là tổ tiên của người Mân Nam. Những chữ ký âm đó đúng là tam sao thất bản, chẳng có biểu ý gì để chứng tỏ nó là một địa danh hay tộc người cả. (Đó là nhược điểm của văn tự không phải là văn tự ký âm. Nhưng văn tự biểu ý cực kỳ hữu dụng cho những ngôn ngữ có quá nhiều từ đồng âm dị nghĩa như tiếng Hán hay tiếng Nhật. Người Nhật đã vô cùng sáng tạo khi từ chỗ dùng hoàn toàn chữ nho mà họ gọi là kanji đã chế tác thêm ra văn tự ký âm hiragana để ghi những từ gốc Nhật và văn tự ký âm katakana để ghi những từ gốc phương Tây, thành ra trong văn bản tiếng Nhật dùng cả ba loại ký tự.Văn tự biểu ý còn có một lợi thế nữa là khi đã được ngữ pháp hàn lâm bắt buộc nó phải đồng nhất về ngữ pháp thì nó là một công cụ hữu hiệu làm văn viết chung cho các cộng đồng khẩu ngữ không giao tiếp được với nhau có thể thống nhất được với nhau trong một quốc gia, đó là phương thức gọi là bút đàm). Những từ chỉ có “tiếng” mà không có chữ trong ngôn ngữ Mân Nam có nhan nhản, vốn cái tênHà Lạc ấy tự điển cổ ký âm là “hỏ ló”,người đời sau bị Hán hóa bằng chữ viết và bằng ngữ pháp trong văn ngôn và cả văn nói rồi nên lu mờ luôn cũng không còn biết nguyên gốc nó nghĩa là gì, đành chấp nhận là cái tên như chính sử viết về mình là Hà Lạc河洛. Chính sử lại căn cứ vào cái chữ Hà Lạc河洛 là có vẻ có biểu ý hơn cả trong những cái tên trên, nên giải thích là đó là người từ vùng Hà là Hoàng Hà và từ vùng Lạc là Lạc Thủy, tức từ Trung Nguyên tới , là tổ tiên của người Mân Nam. Các bậc túc nho ngày xưa đâu có ngớ ngẩn gì mà viết như vậy? “Hà” là “sông”, Hoàng là tên riêng; “Thủy” là đại diện cho “sông”, Lạc là tên riêng; nếu ghép hai lưu vực đó thành một cái tên vùng chung như một cái tên riêng thì phải lấy hai tên riêng ghép lại với nhau là Hoàng Lạc chứ, tức vùng lưu vực Hoàng hà và Lạc thủy. Rõ ràng là “Hà Lạc” chỉ là mượn chữ nho để ký âm “hỏ ló” mà thôi. Các học giả Trung Hoa đã tìm suốt một trăm năm qua trong thư tịch “Phúc Kiến chí thư” 福建志書 mà không thấy có chữ nào là chữ Hà Lạc河洛 là danh xưng( tên đất hay tên tộc người cả). Còn “ Hỏ Ló” là gì thì phải hỏi người Bách Việt cổ ấy, họ có Nôm na mới hiểu được, nó là chữ “Kẻ Lửa” hay “Kẻ Lòi” tức “nhiều người” hay “bách Việt” cũng vậy. Lòi = Người (Việt) = Lào (Quảng Đông) = Lang (Ngô) = Lò =Ló (Mân Nam) = Lang (=con trai vua Hùng ,như Hán thư đã ghi) = Quan (=con trai vua Hùng, như Hán thư đã ghi) = Dân (=người, địa vị xã hội thấp hơn Quan) = Cần (Tày) = Dành (=nhân, Quảng Đông)= Mằn (=dân, Phúc Kiến). Kẻ = Lả= Tỏ= Đỏ=Hỏ (Mân Nam)= Người ( “dân đen” = “con đỏ” = nhân dân= nhiều người, mà địa vị xã hội thấp hơn Quan tộc). “Lòi Lang” = nhiều Người vì là hai từ đồng nghĩa “ người” ghép với nhau. Còn ý nữa, Lòi Lang = Người + Con trai vua Hùng, nên nó có nghĩa là nhiều người , nhưng là “cộng đồng người có người đàn ông lãnh đạo”, đó chính là “Làng”, do lướt từ “ Lòi Lang” mà thành từ một âm tiết là Làng .( Qui tắc lướt để thành từ một âm tiết là một qui tắc cố hữu tự nhiên trong tiếng Việt do thói quen “đơn âm thành nghĩa” đối với từ hai âm tiết hay đối với cả một câu dài, dù dân gian chẳng biết chữ họ vẫn đặt ra từ lướt một cách tự nhiên. Ví dụ câu “ thợ dũa Lưỡi cưa cũ cho sắc lại như Mới” đã lướt thành “thợ Lỡi”, đó là thợ tay nghề cao dù thủ công nhưng không phải ai cũng làm được “thợ Lỡi”, này nay tự động hóa, người ta gọi là “máy mài tự động lưỡi cưa” chứ không biết gọi là “máy Lỡi” như từ “thợ Lỡi “ đã dùng phổ biến ở miền Nam từ xưa, đó là vì từ điển hàn lâm không theo kịp ngôn ngữ dân gian. Hay như câu “đi du lịch kiểu Phóng khoáng Vượt mọi trở ngại tự nhiên và sự bắt buộccủa tua truyền thống” đã được giới trẻ ngày nay chỉ lướt một tiếng là “đi Phượt”).Từ “làng” trong tiếng Việt hàm ý cộng đồng người chứ không hàm ý vùng đất, chỉ có tên riêng đi kèm “làng” mới là địa danh. Ví dụ “làng” Cót là nơi “nhiều người”= “dân làng” làm cót, “làng” Bún là nơi “nhiều người” = “dân làng” làm bún. Khi có người lỡ gặp nạn ở cánh đồng làng Bún, người đó kêu cứu gọi : “bớ làng ơi ! cứu tôi với! ” = “bớ mọi người ơi !...”= “bớ nhiều người ơi!...”= “bớ dân làng ơi!...” = “bớ nhân dân ơi!...”, chứ không phải là gọi “bớ Bún ơi ! cứu tôi với !”. Bởi vậy những từ chỉ người thì “Lang” biến thành( “wáng”)= Vương, Lửa biến thành (“lia”)= Liệt, biến thành Việt; quan thoại là bắt chước tiếng dân gian thì mới có thể giao tiếp quan dân được, lấy luôn cả chữ nho có từ xưa, chỉ có là phát âm theo giọng quan tộc và bắt ngữ pháp phải theo ngữ pháp ngôn ngữ của quan tộc, quá trình ấy gọi là quá trình đồng hóa ngôn ngữ.(Đồng nhất ngữ pháp đã phải hoàn thiện trong hàng ngàn năm để cuối cùng hoàn toàn theo ngữ pháp quan thoại.Thời kỳ đầu cú pháp Việt vẫn chiếm ưu thế. Bởi vậy người quan thoại ngày nay đọc cổ văn chữ Hán dù biết hết mặt chữ mà vẫn không thể dịch ý ra được, phải học qua đại học chuyên về dịch cổ văn thì mới dịch được,cũng như người Việt Nam ngày nay dù có giỏi ngoại ngữ là tiếng quan thoại cũng không dịch nổi cổ văn, phải học qua đại học Hán-Nôm thì mới dịch nổi cổ văn.Ví dụ câu cổ văn viết “thử điềm điềm giả” 此甜甜者 = thử điềm điềm dã” 此甜甜也, không ai hiểu nổi, nhưng rõ ràng nó là câu chữ nho ngữ pháp Việt: “nó ngọt ngọt là”). Từ “ Ho Ló” chính là “Kẻ Lòi” = “Kẻ Lửa” đã bị lịch sử Hán hóa làm lu mờ đi mà thôi.Ta so sánh từ vựng tiếng Ho Ló với từ vựng tiếng Đông Nam Á và tiếng Nam Đảo (Austronesian) thì thấy nhiều từ giống nhau, về thanh âm nó không phải là của tiếng Hán ( xem http://ws.twl.ncku.edu.tw/hak-chia/1/lou-e...ongpah-oat.htm), chứng tỏ nó không phải nguồn gốc Hoàng Hà, mà nó là nguồn gốc Nôm na. Ví dụ: Alnni = nì, nầy (Việt Nam) = ney (Thái) =ini (Mã Lai); dah, doh = đâu (Việt Nam); lut = lọt (Việt Nam) = lu-chut (Mã Lai) = lu-cut (Indonexia); vat, bat = biết (Việt Nam); za, cha = ta, choa (Việt Nam) = tau, cau (Philipin) = cau (Vân Kiều); za bou, cha po = cha bố (Việt Nam) v.v.Tiếng Mân Nam hình thành và tồn tại đến nay đã hai nghìn năm.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites