Lãn Miên

Chữ "huyền Khung"

1 bài viết trong chủ đề này

Từ vựng “Huyền Khung”

Chữ nho dùng từ “huyền khung” chỉ bầu trời huyền bí mà con người chưa hiểu biết hết được. Hai chữ đó cứ theo âm mà xét đều là từ dân gian của nông dân Việt mà ra:

Chữ nho “khung” 穹nghĩa là vòm trời. Trong tiếng Việt cái chứa đựng cái khác bên trong nó gọi là cái VỎ, nên mới sinh ra mọi từ mang nghĩa chứa đựng từ cái nhỏ nhất đến cái to nhất là: Mô(chứa tế bào), Ổ(chứa thú), Tổ(chứa chim), Tô, Tộ, Lọ, Lò, Bồ, Rổ, Vó, Bô, Xô…Mỏ(chứa quặng), nhưng cái chứa hết tất cả là cái VŨ mà chữ nho viết là 宇tức bầu không gian, do từ VỎ là từ vựng chung nhất mà ra. (Chữ nho lại viết “trời” thành chữ Trụ宙chỉ thời gian, vì người Việt cắm cây nêu làm cái trụ đo bóng nắng trời mà tính thời gian, rồi ghép thành từ ghép Vũ Trụ 宇宙, nghĩa là không gian và thời gian). Cái VỎ (là Vũ Trụ) ấy chia Âm Dương ra thì có cặp đối nghịch Âm/Dương là VÙNG/VUNG. Vùng là vuông đất (Vùng=Khuôn=KHÔN). Vung là vòm trời (Vung=Khung=Vòm=CÀN), nên mới có câu “coi trời bằng vung” . Chữ “khung” 穹 gồm hai phần, phần dưới là cái “cung” 弓 lấy làm biểu âm (dù nhìn hình tượng của nó đúng là thấy rõ cái cong cong), phần trên biểu ý một cái chứa là cái “huyệt” 穴. Chữ huyệt nghĩa là cái hang, nhưng mà là “hang Việt” nên người Việt nói lướt thành một âm tiết là “huyệt” (tiếng quan thoại thì hang gọi là “động”, người Việt mới ghép “hang động” để nói ý nhiều loại hang, đúng theo qui tắc từ “hang” có trước dùng trước, từ “ động” có sau dùng sau, chẳng nghe ai nói là “động hang” bao giờ). Chữ “huyệt” 穴ấy viết hoàn toàn biểu ý bằng hai bộ thủ : bộ thủ trên là chữ “miên” 宀 nghĩa là cái “mái” nhà, bộ thủ dưới là chữ “bát” 八 nghĩa là “bát quái”. (Tên các bộ thủ của chữ nho thì cứ đọc đúng âm Việt tức âm người Việt Nam nói ngày nay thì mới nghe ra ngay cái nghĩa của nó như nó biểu ý, mỗi bộ thủ chỉ là một âm tiết nhưng là “đơn âm thành nghĩa”, còn nếu phát âm bằng tiếng quan thoại thì cái âm tiết phát ra đó không mang được cái nghĩa như ký tự đó có, đành phải tra từ điển mới hiểu ý nó được, không biết ngày xưa ai đặt ra các bộ thủ làm cơ sở cấu thành chữ nho?). Cái chữ “huyệt” 穴 ấy cũng hiểu được là cái huyệt phát tích văn minh Việt. Nhìn chữ “khung” 穹lại càng rõ hơn vì nghĩa của nó là “ vòm trời là huyệt phát tích của văn minh Việt”, bởi như ngày xưa Hán thư từng viết “Lạc binh làm lạc điền mà mỗi người đều lưng đeo cung nỏ”. (Chẳng thế mà có khai quật cả kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và ở Quảng Tây, Quảng Đông).

Chữ “huyền” 玄nghĩa đen là màu đen nhánh, như câu “răng đen nhưng nhức hạt huyền”.(NHỌ là cái VỎ chứa, sinh ra NHEM…NHƯNG-NHỨC…NHÁNH). Nó từ chữ cổ xưa nhất là “mun” = màu đen mà ra. Dân ruộng còn có công nghệ làm ra khói đen gọi là “hun” để bắt chuột đồng và để làm đen nhánh cho bền các dụng cụ bằng tre trên gác bếp. “Hun cho đen tuyền” lướt thành một âm tiết là “huyền”, là màu đen nhánh do đã có gia công nhân tạo, răng đen cũng bởi có gia công nên mới gọi là “răng hạt huyền”, hạt trang sức màu đen cũng gọi là hạt huyền vì đã có gia công. Nghĩa bóng thì “huyền” là sâu kín, huyền bí. Chữ “huyền” 玄là một chữ hoàn toàn biểu ý bằng hai bộ thủ. Bộ thủ trên là chữ “đầu” 亠 nghĩa là đầu tiên (quan thoại dùng chữ khác là chữ “thủ”, như nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu quốc gia), bộ thủ dưới là âm tiết “út” mà chữ nho viết chữ “yêu” 幺. Từ “đầu” tới “út” biểu ý “kín” hay huyền bí, cái gì cũng vậy cả. Một cơ thể sinh ra là lòi từ “đầu” là cái đầu rồi tới “út” cuối cùng là ngón chân út , là một cơ thể “kín” và đương nhiên cũng rất huyền bí. Một vấn đề khoa học từ “đầu” đến “út” cũng là kín kẽ và huyền bí.

Chữ dùng trong bài “Ấu học quỳnh lâm” là chữ “huyền khung” 玄穹 chỉ bầu trời một cách văn vẻ. Câu đó là câu:

玄穹彼蒼 悉稱上天

Huyền khung bỉ thương, tất xưng thượng thiên

Đen vòm kia xanh, biết rằng trên trời

Toàn câu là:

甘霖甘澍, 俱指時雨

Cam lâm , cam thụ, cụ chỉ thời vũ

玄穹彼蒼, 悉稱上天

Huyền khung bỉ thương, tất xưng thượng thiên

Đảo ngược dưới trên thì có nghĩa là:

Xanh kia=thăm thẳm=trời cao

Sương lành, mưa thuận khác nào trời cho.

5 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites