Lãn Miên

Thiên Hạ Họ Hùng Qua Gia Phả Các Họ

1 bài viết trong chủ đề này

Thiên hạ họ Hùng

Gia phả họ La

(nguồn trích: http://www.fineartfile.idv.tw/lo/cnlo.asp )

Thủy tổ gia tộc họ La 羅 là Chúc Dung thị 祝融氏thời thượng cổ. Chúc Dung thị có tên là Trọng Lê 重黎 ,kê theo các đời thì lại là chắt của vua Chuyên Húc 顓頊帝 , mà Chuyên Húc là chút của vua Vàng 黃帝 tức Hoàng đế (chút là cháu năm đời, còn gọi là huyền tôn, của Hoàng đế). Cách nay 4487 năm (tức 2514 BC) Chuyên Húc kế vị ngôi vua của Cao Dương th ị高陽氏, dựa vào kỷ quan ngũ hành, phái chắt của mình là Trọng Lê đảm nhiệm chức hỏa chính quan 火正官 , tức là Chúc Dung thị, về sau xưng hiệu là Họ Hùng (Hữu Hùng thị 有熊氏).

Cũng giống như quá trình phát triển của đại đa số các họ của người Hoa, hậu duệ của Trọng Lê từ thượng cổ xưng hiệu là Họ Hùng (hữu Hùng thị 有熊氏), đến về sau vẫn lấy Hùng 熊 làm họ của mình. Thời đầu nhà Chu 周 , gia tộc này đời nào cũng có nhân tài nên rất nổi tiếng, có Châu Hùng 鬻熊 từng làm thầy dạy của Chu Văn Vương 周文王. Đến thời Chu Vũ Vương 周武王 trong hậu duệ của Châu Hùng 鬻熊 có một vị tên là Hùng Dịch 熊繹 do có công với Vũ Vương 武王 nên được phong tước vị là chúa nước tại Đan Dương Hồ Bắc 湖北丹陽, trở thành một vị chư hầu của Chu thiên tử, đó là khởi đầu của nước Sở 楚國, từng diệu vũ dương uy một thời kỳ dài trong lịch sử thời nhà Chu.

Sớm hơn khi Hùng Dịch 熊繹 được phong tước, trong hậu duệ của họ Hùng còn có một vị tên là Khuông Chính 匡正 do có công giúp nhà Chu chinh phạt vua Trụ 紂 tàn ác của nhà Thương, nên vào năm Vũ Vương 武王thứ ba (tức 1118 BC) được phong chúa nước ở Nghi Thành 宜城 , tước vị một nước, đó chính là La Quốc 羅國, một chư hầu trong vô số chư hầu của nhà Chu những năm đầu, đó cũng là khởi nguyên của việc hậu duệ chi này của họ Hùng lấy chữ La 羅 làm họ (theo một trang trong công phả họ La có ghi : Khuông Chính 匡正, người khai sáng La Quốc, là cháu đời thứ 65 của vua Vàng tức Hoàng đế 黃帝, cháu đời thứ 60 của Chúc Dung thị 祝融氏). Năm Tây Chu 西周 352, nhà Chu có phong tước chúa nước cho 72 nước , trong đó có nước La Quốc, Khuông Chính được tôn là Tổ đời thứ nhất của họ La. Tại sao lại lấy quốc hiệu là La? Nguyên do là Khuông Chính do phò Chu diệt Trụ có công mà được phong nước ở Nghi Thành (tức thành La Xuyên , phía tây huyện Nghi Thành tỉnh Hồ Bắc ngày nay), thời đó , ở cách Nghi Thành 80 dặm có con sông La 羅, nên mới lấy tên đó làm quốc hiệu).

Sau khi Khuông Chính lập quốc, do người đời sau rất trọng thị, nên tư liệu về tình hình truyền thế được bảo tồn rất nguyên vẹn. Trong những năm thái bình ở Nghi Thành Hồ Bắc, kể từ Khuông Chính trở đi, tên tuổi các thế tổ truyền lại theo thứ tự như sau: đời 1 là Khuông Chính 匡正,đời 2 là Dịch Phương 奕芳,三đời 3 làTường 祥,đời 4 là Giáp Ứng 甲應,đời 5 là Văn Ba 文波, đời 6 là Đức 德, đời 7 là Thao 操,đời 8 là Tiến Hiền 進賢,đời 9 làThận 慎,đời 10 là Toàn 璇,đời 11 là Liên 輦,đời 12 làTán 贊,đời 13 làTịnh 靜,đời 14 là Hồng Thống 洪統. Suốt thời gian dài liên tục phát triển trong yên ổn, con cháu La Quốc ngày càng đông đúc và thịnh vượng.

Nhưng từ đời thứ 15 thì cuộc sống yên ổn của gia tộc họ La đi đến kết thúc do chính người láng giềng của mình là nước Sở đầy dã tâm.

Như trên đã nói, La Quốc và Sở Quốc đều là một huyết thống Họ Hùng 有熊氏 cổ đại, là những bang anh em, lại ở sát nách nhau (nước Sở ở huyện Tỉ Qui 姊歸縣 tỉnh Hồ Bắc ngày nay) lẽ ra phải giúp đỡ nương tựa nhau như môi với răng, thế mà sự thật diễn ra lại không phải như vậy. Lúc đó nước Sở với ý đồ tranh bá, cái lợi che mất cái trí, nên thường gây chiến với nước La, bức nước La phải thiên di từ Nghi Thành Hồ Bắc đến Chi Giang 枝江, sau lại xuống Trường Sa Hồ Nam tận Tương Âm 湘 陰, Điên Bái 顛沛 một giai đoạn rất dài.

Nước Sở khinh thị , lấn lướt những nước yếu. Gia tộc họ La phải chạy lánh nạn khắp nơi, là một cái họa, nhưng trong họa có phúc, người họ La đã phát triển rộng rãi khắp nơi thành một đại gia tộc.

Lịch sử kháng chiến lâu dài của La Quốc chống Sở Quốc đã trở thành sử xanh được đời đời sau ngưỡng mộ. Cuối cùng La mất nước vì Sở vào năm Chu Định Vương 周定王 thứ 11 ( tức 524 BC, cách nay 2498 năm). Sau khi mất nước, hậu duệ của La Quốc có nhiều đời ẩn náu sâu trong núi rừng, kinh qua các đời thế tổ thứ 25 tên là Thương 蒼, đời 26 là Loạn 亂, đời 27 là Lợi Đạt 利達, đời 28 là Tú Dương 秀揚, đời 29 là Học 學, đời 30 là Trình Chính 呈正, đều có ghi liên tục.

Đến đời 31 là Lăng Phủ Công 凌甫公 mới phục hưng được La Quốc đã bị diệt vong một thời gian lâu 230 năm. Sở dĩ họ La có được gia phả ghi chép đầy đủ như thấy ngày nay hoàn toàn là do công lao của ông Lăng Phủ 凌甫. Bởi vậy Lăng Phủ không chỉ là một nhân vật tài giỏi của họ La mà còn là một vị công thần của gia tộc họ La, gọi là “phục quốc nhất thế tổ 復國一世祖”.

Lăng Phủ 凌 甫,tên húy là Thặng 諱乘 là một người rất có chí khí, uất hận nước La bị nước Sở diệt, cháy lòng suy nghĩ, đắn đo tình thế, xem thế cuộc đương thời ai là kẻ mạnh nhất, thì thấy rằng chỉ có duy nhất nước Tần 秦國 mới có thể là đối thủ của nước Sở, thế là ông đi sang nước Tần làm việc, sau nhiều cố gắng bền bỉ, cuối cùng cũng đạt được sự tôn trọng của Tần Vương 秦王. Năm Chu Hiển Vương 周顯王thứ ba (366 BC, cách nay 2340 năm) Tần Vương cấp cho ông đất Long Tây 隴西 làm thái ấp, nhưng ông một mặt uyển chuyển tạ ơn, một mặt khẩn thiết xin Tần Vương giúp ông phục quốc. Kết quả dưới sự giúp đỡ của đại quân nước Tần, ông Lăng Bồ đã giành lại được Nghi Thành từ tay nước Sở.

Sau phục quốc là nhanh chóng ra tay kiến quốc. Ông Lăng Bồ nhận thấy vị trí Nghi Thành ở vùng núi hẻo lánh không tiện làm trung tâm chính trị nên ông quyết đoán dời đô đến Chi Giang phía nam (nay là huyện Chi Giang tỉnh Hồ Bắc). Đến nay ở Chi Giang vẫn còn di tích La Quốc 2300 năm trước.

Sau đại sự dời đô, ông Lăng Bồ bắt tay vào một đại sự khác không kém phần quan trọng. Số là ông nhận thấy các dòng của gia tộc họ La đã di tản tứ tung, đa số quên gốc tích, bởi vậy ông truy tìm cội nguồn, lấy được tư liệu thượng tổ Chúc Dung nhậm chức Hỏa Chính 上祖祝融居火正, Khuông Chính được phong Nghi Thành lấy tên nước là La 羅 làm họ, dò ra thứ tự các đời, lập thành gia phả để truyền hậu thế. Chính nhờ đó mà họ La có gia phả ghi chép từ cách nay hơn 2300 năm, rõ ràng mạch lạc như vậy không có gì là lạ.

Đại công thần của gia tộc họ La , ông Lăng Bồ tạ thế năm Chu Hiển Vương 周顯王 thứ 28 (372 BC) hưởng thọ 97 tuổi, lăng mộ ông ở phía bắc thành Chi Giang Hồ Bắc .

Con trai Lăng Bồ là Đồ Nam 圖南 tuy biểu hiện không có gì đặc sắc nhưng đã giữ được sự nghiệp của cha, truyền cho con trai là Thủ Long 守隴. Đến đời này họ La lại có biến động là thiên di từ Chi Giang 枝江 Hồ Bắc xuống Trường Sa Hồ Nam 湖南長沙. Ở đây gia tộc họ La đã tồn tại những năm tháng huy hoàng nhất, ở phía đông Tương Âm 湘陰 có La Thành 羅城, có sông Cốt La 汨羅 nổi tiếng trước kia gọi là La Nhuế 羅汭 , đều là do sự phồn vinh của họ La mà có những tên gọi đó.

Sau khi gia tộc họ La thiên di đến Trường Sa Hồ Nam, các thế tổ từ Thủ Long 守隴 trở xuống truyền cho Chân 真, Hoằng 弘, Khoa Bính科屏, Diên Vinh 廷榮, Phúc Nhậm 復任, Duy Hàn 維翰, Thiên Triều 天朝, cảnh vật đều đổi dời khi đến thời kỳ Tần 秦, Hán 漢. Trong các đời kể trên ở Hồ Nam có Duy Hàn 維翰 từng là cửu khanh, Thiên Triều 天朝 từng là quan bái hàn lâm học sĩ, đều là những người đỗ đạt cao cả.

Duệ tôn La Sĩ Cảnh 羅士景 soạn (bài văn tại nhà thờ họ La lấy đường hiệu là “Dự Chương Đường 豫章堂” ở Quan Tây 關西, huyện Tân Trúc 新竹縣 Đài Loan, trích năm 2000 từ cuốn “Thiết khanh La thị gia thạnh 鐵坑羅氏家乘” của tác giả La Sĩ Cảnh, dày hơn 400 trang xuất bản năm 2000, phân phát cho 88 chi phái họ La, hơn 4 vạn người)

Ghi chú:

1. Theo nghiên cứu của các nhà sử học Trung Quốc, từ thời cổ đại “người Chăm Pa đã đem giống lúa chịu hạn truyền bá lên vùng nam Trường Giang”.

2. Trích dẫn của Nhật Nguyên:

Bài 8 - Dịch học và thời lập quốc họ HÙNG.

Dịch học là ánh sáng của người họ HÙNG nên không có gì nằm ngoài nó,lịch sử cũng vậy, người họ Hùng đã kiến taọ lịch sử của mình trên cơ sở HÀ THƯ và NGŨ HÀNH, ta nhìn lại Hà thư và những vận dụng của ngũ hành:

Đối chiếu với Hà thư.

1 - Thời tiền lập quốc.

Tóm lược những thông tin rút ra được từ sách Lã thị xuân thu của Lã bất vi:

-Phương số 3-8 Hà thư là :Thái cao –Bào hy vua của phương đông ứng với màu xanh hành mộc ( xem các nút số ở hình trên )

- Phương số 2-7 Hà thư là : Viêm đế- thần nông vua của phương viêm nhiệt ứng với màu đỏ hành hoả.

- Phương số 4-9 Hà thư là : Thái hạo vua của phương tây ứng với màu trắng hành thổ.

- Phương số 1-6 Hà thư là :xuyên húc vua của phương u huyền ứng với màu đen hành thủy.

Ta thấy ngay cổ nhân Trung hoa đã kiến lập lịch sử buổi ban đầu của dân tộc mình theo HÀ THƯ.

Ở đây 2 phương đông và tây đã rõ ràng chỉ cần minh định 2 phương bắc và nam; theo Lã thị xuân thu phương viêm nhiệt là phương nam là sai ; viêm nhiệt là nóng bức, bức =bắc qúa rõ, liên quan tới nóng và lửa ta còn nhiều từ khác như : hỏa viêm thượng nghĩa là lửa thì bốc lên ; ta lưu ý từ viêm và bốc, nhẹ như bấc; số 2 trong hà thư đọc là nhị chính là biến âm của nhẹ từ Việt như vậy ta thấy từ bắc nằm trong cụm từ bắc-bức- bấc-bốc là những biến âm dùng diễn tả những gì liên quan tới ngọn lửa.

Vùng trời này được gọi là Viêm thiên trong cửu thiên và trên thực địa thì không thể có sự chỉ định nào khác ngoài vùng nhiệt đới hay cận xích đới, ngược với viêm thiên là huyền thiên hay phương nam,phương màu đen tiếng Việt còn gọi là Mun, người Tàu ký âm thành Man và chính người Tàu cũng đã xác định đấy là phương nam qua từ kép NAM MAN tức nam mun.

Một chứng lý nữa : trong vương chế Trung hoa vua luôn luôn quay mặt về hướng nam nếu là buổi thiết triều thì để nghe lời của hiền thần còn noí chung là để lắng nghe nguyện vọng của dân chúng; như vậy khi vua nhìn về hướng nam thì bản thân vua phải ở hướng bắc, quần thần và dân chúng chầu về hướng bắc, ở Trung hoa xưa vua được xem như mặt trời vậy, nên chầu vua tức chầu mặt trời tức là quay mặt về hướng xích đạo tóm lại hướng mặt trời là hướng Bắc.

Tới đây đã đủ bằng chứng để kết luận : phương bắc và nam đã bị lật ngược đây là việc làm có chủ đích , có hệ thống vì không phải chỉ có phương nam bắc mà toàn bộ những thông tin cơ bản của dịch lý đều bị đảo lộn như âm dương, vạch đứt -vạch liền, các phương vị của Hà Lạc và bát quái, ngũ hành cũng cùng chung số phận; nói chung CÀN KHÔN đã bị người Hán phá nát, những điều này dần dần khi đi sâu tìm hiểu địch học họ HÙNG chúng ta sẽ nhận ra.

Các cặp số của Hà thư cho ta 4 phương và trung tâm hay trung nguyên.

4 phương tượng trưng cho 4 thị tộc hay bộ lạc thời tiền lập quốc và trung nguyên là nơi hoà hợp –thống nhất các thị tộc thành dân tộc, thời gian này là thời lưỡng tính, khởi đầu là liên minh thị tộc và kết thúc là hình thành quốc gia. Quốc hiệu đầu tiên của dòng giống HÙNG là Quốc gia họ HÙNG hay HỮU HÙNG QUỐC, chữ hữu ở đây là ký âm chữ họ của Việt ngữ ̣( người Tàu cố tình nhập nhèm coi chữ HỮU là trợ từ ), quốc hiệu này biểu thị rất rõ thời lưỡng tính trên vì mang trong bản thân cả hữu lẫn quốc .

- căp số ( 3-8 )

Trong hà thư chỉ phương đông phương mặt trời mọc hay mùa xuân; ý chỉ buổi bình minh của dân tộc. Truyền thuyết lập quốc người Việt gọi vị tổ phụ phương đông là ĐỘNG ĐÌNH QUÂN vua vùng Động đình hồ. Mới đây các nhà nghiên cứu Việt nam đã sưu tập được trong truyền thuyết dân gian tên 4 vì vua đầu của họ HÙNG là : VUA CẢ- THÁI CAO, THÁI VIÊM ( ĐẾ VIÊM) , THÁI KHANG VÀ THÁI TIẾT ; THÁI CAO chỉ là tên chữ nho của VUA CẢ mà thôi, ta thấy đế hiệu này trùng khớp với THÁI CAO- BÀO HY của cổ sử Trung hoa, theo 1 trật tự hợp lý thì THÁI CAO chỉ là tên khác của ĐỘNG ĐÌNH QUÂN cả 2 đều mang tính biểu thị cho phương đông; chính xác phải gọi là phương động là tính chất của can BÍNH- BẤN tượng số (8) trong thập can, còn Thái cao hay Vua cả chỉ sự khởi đầu của các vua hay buổi bình minh của dân tộc , phương đông cũng là phương của màu xanh và tình thương , sách Lã thị xuân thu chép vua dựa vào mộc đức mà cai trị, số ứng là số 8 là số chỉ phương đông trong Hà thư, động vật tiêu biểu là loài có vảy tức loài rồng –rắn , kỷ cuả ngài gọi là mạnh xuân kỷ.

Động đình hồ ở đâu ? phần lớn những nhà nghiên cứu sử đều bị mê hoặc bởi đầm Vân mộng ở Hồ nam và xác định đấy là Động đình hồ của cổ thư, trong sách cổ của Trung hoa nói nhiều đến Chấn trạch hay Lôi trạch cả 2 đều có nghĩa là cái hồ ở phương đông ta thấy đầm Vân mộng không đủ các yếu tố theo chỉ định của ngôn ngữ vì nó nằm ở khoảng giữa đất Trung hoa..Đình hồ nghĩa là cái hồ lớn có thể hiểu là biển nên động đình hồ phải dịch sang Việt ngữ là Biển đông mới đúng, Động đình quân là vua vùng biển đông, căn cứ vào năng lực con người vào thời đại ấy thì biển đông chỉ có thể gom vào vùng vịnh bắc bộ ngày nay là hợp lý, truyền thuyết Việt nam nói Linh lang một vì vua được thờ rất nhiều đã hoá tức chết ở hồ Tây và hồn suôi về Động đình hồ , điều này kiện chứng thêm cho sự ấn định trên.

- cặp số ( 2-7 )

Số( 2-7) chỉ phương nóng bức hay hướng xích đạo là nơi cai quản của THÁI VIÊM ;tổ phụ phương lửa hay quẻ LY.sách Lã thị xuân thu và các tư liệu lịch sử Việt nam đều gọi là VIÊM ĐẾ đây là sự khập khễnh đáng tiếc , khi đã xác định là 1 tổ phụ thời tiền lập quốc phải gọi là THÁI VIÊM mới chuẩn xác và nhất quán;truyền thuyết lich sử Việt coi Thái viêm Thần nông là tổ cao nhất của mình; Đế MINH cháu 3 đời của Viêm đế Thần nông....dã sử Việt đả mở đầu như thế..., còn theo Lã thị xuân thu: Viêm đế cai trị bằng hoả đức, thần bảo hộ là hỏa thần Chúc dung, số tương ứng trong Hà thưlà số 7 hướng xích đạo cũng là màu đỏ, động vật tiêu biểu là loài lông vũ tức loài chim và nhiều sách cổ của Trung Hoa chỉ định rõ là chim khổng tước tức chim công. Thực tế ta hiểu thị tộc của Viêm đế có địa bàn sinh sống là vùng nóng nhất trong 4 thị tộc thời tiền lập quốc tức gần xích đạo nhất.Trung hoa xưa vẫn gọi miền trung Việt nam là miền bắc hộ ý nói vì đã vượt qúa xích đạo nên cửa mở về hướng bắc để đ̣ón ańh mặt trời.

- cặp số (4-9)

Phương tây trước đây không được nói tới trong truyền thuyết lập quốc nhưng nay đã được bổ sung là THÁI KHANG hay tổ phụ phương tây, từ khang thực ra là khăng hay khăng khăng nghĩa là không thay đổi, khăng =cang=cương=cứng là tính chất của phương tây theo dịch học: số 4 là cứng, số 9 là đinh hay tịnh, Lã thị xuân thu viết động vật tiêu biểu là loài lông mao ý nói loài sư tử , đây là cái sai rất điển hình của những người cố ý cạo sửa cổ thư vì sư tử là loài thú xa lạ với cả Đông nam á và Trung hoa, bạn có nghe nói đến sư tử đông á châu bao giờ chưa ?..Động vật tiêu biểu của phương tây phải là con voi vì can số 9 chỉ phương tây theo Hà thư là can: định, tịnh..;.bản thân chữ tịnh đã là con voi rồi vậy mà Có người cố ý nhập nhèm sửa đổi vì phía bắc sông Hòang hà từ cổ chí kim làm gì có voi nên họ thay bằng con sư tử , cả sư và tử đều xuất phát từ âm tsi số 4 mà thôi, số 4 việt ngữ là bốn, biến âm thành bóng ,sáng bóng hay bóng láng dịch sang Hoa ngữ là HẠO hay CHIÊU nên phương tây còn gọi là phương Chiêu, tổ phụ phương này là THIẾU HẠO. Ở trên ta đã biết khương hay cương có nghĩa là cứng rắn không thay đổi, đấy là đặc tính của phương tây cổ thư trung hoa cũng nói đến sông KHANG hay KHƯƠNG như cái nôi của người cổ, từ Khương ký âm thành Cương cho phép ta liên kết với sông MỄ CƯƠNG tức sông MÊCÔNG ngày nay.., sách ‘Đại nam thực lục’ gọi sông Khang là Khung giang là sự chỉ dẫn đích xác nhất về địa danh này .

_ Cặp số ( 1-6)

Việt ngữ gọi tháng 1 là tháng giêng, hoa ngữ ký âm thành giang đồng nghĩa với con sông thường được dịch thành xuyên, số 1 cũng là đơn biến âm của đen trùng khớp với huyền thiên trong cửu thiên cũng là mun màu đen tiếng Việt để tạo thành nam mun hay man, vị vua của phương này truyền thuyết dân gian Việt gọi là THÁI TIẾT, thực ra là TIẾP mới đúng, tiếp là tiếp giáp chỗ giao nhau của cũ và mới trước và sau là sự bắt đ̣ầu hay trước tiên theo nghĩa chữ giáp là đứng đầu là thứ nhất nên Thái tiết còn có tên là tiên đế, lĩnh nam trích quái gọi là bà VŨ TIÊN,ta thấy tất cả đều xoay quanh con số 1,Vũ tiên thực ra chỉ có nghĩa là vua vùng số 1 tức phương nam, vì vua của phương 1-6 này cổ sử Trung hoa gọi là XUYÊN HÚC, xuyên là con sông như ta đã biết ở trên còn Húc chỉ là ký âm sai của từ hắc nghĩa cũng là màu ̣đen.sông đen chuyển ngữ thành Xuyên húc hay Hắc

Tóm lại : thời tiền lập quốc người xưa đã dựa trên Hà thư để hư cấu thành 4 vị tổ phụ của 4 phương trời, mượn danh các vua nhưng thực ra để chỉ 4 thị tộc mà sau này đã tham gia vào việc cấu thành dân tộc họ HÙNG.

2 - Thời lập quốc.

Theo Cổ sử Trung hoa thì Hoàng đế và Viêm đế là hậu duệ của Thái Viêm Thần nông , đây chỉ là sự thể hiện sử tính của những con số thuộc Viêm phương theo Hà thư : 7=2+5 , số 7 chỉ Thái Viêm , số 2 là Viêm đế và số 5 là Hoàng đế hay Hùng Vũ – đế Minh

HIỀN VƯƠNG vua của thị tộc CẢ nghĩa là tộc đứng đầu cổ sử Trung hoa chép thành HIÊN VIÊN của tộc CƠ đánh bại XUY VƯU vua của thị tộc CỬU LÊ ; đoạn sử này xuất phát từ cặp số 4-9 chỉ phương tây của Hà thư, xuy là âm số 4 còn cửu là số 9. Sau đó ở trận Trác Lộc Hiền vương đánh bại VIÊM ĐẾ thủ lãnh thị tộc phương ‘nóng’ thống nhất 3 tḥị tộc thành một dân tộc, dân tộc HÙNG, lập nước họ HÙNG và lên ngôi HÙNG VŨ tức VUA HÙNG , vũ chỉ là ký âm hán tự chữ vua của việt ngữ, lãnh thổ của nước họ HÙNG là đất GIỮA chuyển âm Hán ngữ thành YUÊ còn được dịch thành GIAO CHỈ, chỉ là chỗ, nơi chốn ý nói nơi giao nhau của 2 đường nam –bắc, đông tây, chữ giữa ký âm YUÊ không hiểu sao Việt nho đọc thành VIỆT.

Vua Hùng dạo chơi phương nam gặp và kết hôn với con gái bà Vũ tiên hay tiên đế sinh ra LỘC TỤC, Lộc là biến âm của lục là số 6 và công thức đả ấn định trong hà thư để sinh ra Lục tục : Hiên viên hay Hiền vương tên tộc là NGU chính xác là NGŨ số 5 ở trung tâm của Hà thư, lấy con bà Vũ tiên là số 1, sinh ra Lộc tục được chỉ bởi số 6;ta có: 5+1=6, sau vua HÙNG truyền ngôi cho con cả lập nên triều đế NGHI ở phương Bắc và Lộc tục được phong là vương phương Nam lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, Kinh biến âm của cóng nghĩa là lạnh cũng là một tên khác của quẻ Khảm chỉ NƯỚC trong cặp đối Lửa-Nước hay phương Bắc và phương nam,nóng và lạnh còn dương chỉ là biến âm của Giêng tức số 1 của Hà thư.Giòng con cháu đế NGHI gọi là người LA tượng trưng bởi qủe LY là lửa , qủe của Viêm phương.

Cổ sử Trung hoa không ‘thích’ con đường hôn nhân mà nhất định phải đánh , phải có chiến tranh và chiến thắng mới oai ...nên viết HOÀNG ĐẾ tức HÙNG VŨ đánh bại HOAN ĐÂU con của vua XUYÊN HÚC ở ĐAN THỦY, đan là biến âm của đen, Đan thủy hay HẮC THỦY cũng là con ‘sông đen’ mà thôi, HẮC THỦY là tên của sông ĐÀ xưa. HOAN ĐÂU là tổ của người MIÊU hay Hữu Miêu tức họ Miêu, chữ Miêu chỉ là ký âm sai của chữ MUN mà thôi, người Mun nghĩa là người phương nam. Tất cả người tộc Miêu đều nhận mình là người MUN.

Thực tế thì chẳng có hôn nhân cũng chẳng có đánh nhau đấy chỉ là một lối ám chỉ ,diễn tả việc phát triển dân tộc HÙNG về phương nam ,ở đấy cộng sinh và hoà huyết với1 tộc người mới là người MUN kết qủa là tạo thành giòng tộc HÙNG phương nam gọi là người KINH hay CÓNG tên khác của quẻ Khảm chỉ phương nước ngược với phương lửa.

LA và KINH là anh em cùng cha khác mẹ , cả 2 là con HÙNG VŨ tức vua HÙNG và đất giữa hay YUÊ cũng có Yuê-bắc và Yuê- nam, ngày nay kim chỉ nam còn được gọi là LA-KINH tức cây kim 2 đầu, 1 đầu Bắc và1 đầu Nam nhưng chỉ là 1 cây kim mà thôi . Người KINH mọi người đều biết là người VIỆT hiện nay còn người LA ?

Câu ca dao sau sẽ dẫn dắt chúng ta ̣đến 1 bất ngờ to lớn:

Ai ơi chớ lấy KẺ LA.

Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.

Gạt bỏ ý tứ trong lối chơi chữ ‘dưa khú- cà thâm’ đi ta có được 1 thông tin quan trọng và qúy giá đó là KẺ LA, kẻ nghĩa là người , kẻ La là người La tên người Việt gọi người CHĂM hay CHÀM; thì ra La và Kinh là chỉ người Việt và người Chàm hiện nay..., người Chàm là dòng đế NGHI con cả của vua HÙNG, thật là một bất ngờ to lớn khi biết La là quẻ Ly ;Kinh là quẻ Cóng hay khảm tức quẻ lửa và quẻ nước biểu thị sự phân cực của một thể thống nhất theo luật lưỡng nghi của dịch học.

Người Chàm chỉ là một phần của người La , người La hiện nay có mặt ở nhiều nơi trong vùng đông nam á và trung quốc, Lào và Thái có người LÀO hay LÃO QUA, Trung quốc có người DI LÃO hay CAĐAI và người LÊ, các từ Ly-la- lê-lão-lô..v.v chỉ là những biến âm của 1 từ gốc là LỬA, chữ Di là tàn tích của chữ NHÌ là thứ hai .

DI_LÃO có 1 từ kép Đối xứng là KINH_LẠC, qủe Cóng đối với qủe Ly hay Kinh đối với Lão; Lạc biến âm của lục số 6 đối với Di biến âm của nhị số 2, 6 và 2 là 2 số đối phân cực Bắc –Nam của Hà thư.

Người KINH- LẠC; ngoài người Kinh ở đất Việt hiện nay còn có dòng Bách-lộc và người Hẹ hay Hacka và người mang họ MẠC ở đất Trung quốc vì Chữ LẠC còn đọc là ḤẠC và MẠC-MẠCH, có điều lạ lùng là không hiểu sao người Tàu lại gọi người Cao ly là Mạch, có 1 sự lẫn lộn nào đó của lịch sử hay không ?.

Khi hình thành nên tộc Kinh-Lạc dòng máu người họ HÙNG đã là sự hòa huyết của 3 thị tộc gốc: người dòng CẢ của phương bắc, người CỬU_LÊ của phương tây, người MUN hay MIÊU của phương nước hay nam xưa tức phương bắc ngày nay.

Truyền thuyết Việt nói : KINH DƯƠNG VƯƠNG kết hôn cùng LONG _NỮ con ĐỘNG ĐÌNH QUÂN; thế là người họ Hùng đã đi hết đoạn đường mà tạo hóa sắp đặt để hòa thêm dòng máu thứ 4 vào huyết thống của mình dòng máu của LONG tộc ở phương ĐÔNG, diễn biến này được Truyền thuyết lịch sử Trung hoa viết :Vua ĐẠI VŨ lấy vợ là ĐỒ SƠN THỊ, Đồ sơn thị là người con gái ở ĐỒ_SƠN ; phải chăng là bãi biển Đồ sơn ở Hải phòng bắc Việt hiện nay ? cổ thư trung hoa có nói đến việc họ KINH XUYÊN và ĐỘNG ĐÌNH đời đời là thông gia...

Cổ sử cũng cho biết khởi thủy đất trung hoa chỉ có châu ĐÀO-ĐƯỜNG hay ĐÀO- DƯƠNG, thông qua các dịch tượng ta hiểu Đào đường hay dương cũng chỉ có nghĩa là bắc - nam hay lửa và nước mà thôi, cổ sử Việt có nói đ̣ến đất Việt thường đấy chính là nói về đất Đường trên, Đường là phát âm hán việt chữ thoòng hay thường mà thôi.Con dân vua HÙNG có người LA người KINH, đất có đất Đào đất Đường hay Việt thường, căn cứ vào thư tịch cổ ta còn thấy vua cũng có 2 dòng, đế KHAI-MINH và đế MINH-KHIẾT, ông KHIẾT là tổ của người Trung hoa vùng Trường giang ta có thể suy ra đế Minh Khiết hay MINH + KHIẾT là vua gốc dòng KINH- LẠC do sự hòa huyết của đế MINH và dòng VŨ TIÊN phương nam gọi tên khác là ông KHIẾT như truyền thuyết đã nói ở trên. Khi vua HÙNG truyền ngôi cho đế NGHI ở phương bắc tức đất Đào thì quốc hiệu là nước ‘ĐÀO’ dịch sang Hoa ngữ là HỒNG BANG ký âm sai thành HỒNG BÀNG, đấy là quốc hiệu đã được mọi người VIÊT NAM mặc nhiên công nhận.

Những dòng tóm lược về thời khai quốc trên đã cho thấy có sự trùng hợp hầu như hoàn toàn giữa 2 dòng sử VIỆT và HOA , sự việc này thực kỳ bí buộc ta phải đi sâu thêm để khám phá.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites