Lãn Miên

Họ Và Tên

1 bài viết trong chủ đề này

Họ và Tên

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, đến cái thời gọi là kỷ nguyên băng hà xa xưa thì các giống người vượn, trong đó cả “người vượn Bắc Kinh” đều đã bị tuyệt diệt. Chỉ còn lại giống người “trí nhân” ở Châu Phi và chính họ là thủy tổ của các quần thể người nguyên thủy không cùng chủng tộc, là tổ tiên của nhân loại ngày nay, khoa học về DNA đã phát hiện cho thấy như vậy. Một dòng người “trí nhân” đen lùn từ Châu Phi men theo bờ biển đến Đông Nam Á, họ là Thủy tổ của chủng tộc Đông Nam Á và thổ dân Maori ở Châu Úc ngày nay. Chủng tộc Đông Nam Á này đã khai phá nông nghiệp, văn minh nông nghiệp lúa nước, từ nam dần lên bắc đến tận lưu vực sông Hoàng Hà (Truyền thuyết sử Việt thì đó là “50 con lên núi tức lục địa và 50 con xuống biển tức hải đảo” của dòng giống con rồng cháu tiên). Một dòng người “trí nhân” khác từ Châu Phi đã đi lên vùng Trung Á, chuyên sống bằng chăn thả đại súc trên thảo nguyên, rồi cũng đặt chân đến muộn hơn vào vùng lưu vực sông Hoàng Hà ( truyền thuyết sử Trung Hoa gọi chủng tộc Trung Á này là tộc Di). Từ đó diễn ra sự tranh chấp đất đai giữa hai chủng tộc Bắc và Nam tức chủng tộc gọi thủ lãnh là “Khan” tức người Hãn và chủng tộc gọi thủ lãnh là “Lang= Vương” tức người Nam ( thực chất là tranh chấp giữa nền văn hóa du mục của người Hãn và nền văn hóa nông nghiệp định cư của người Nam) bắt đầu ở lưu vực sông Hoàng Hà , kéo dài hàng ngàn năm (Truyền thuyết sử Trung Hoa thì nói tộc Di tranh chấp với tộc của Viêm đế và tộc của Hoàng đế là hai tộc đã định cư ở thượng du Hoàng Hà và với tộc Cửu Lê của thủ lãnh là Xuy Vưu đã định cư ở hạ lưu Hoàng Hà. Cuối cùng bộ tộc Viêm đế và bộ tộc Hoàng đế lại liên minh với bộ tộc Di để đánh bại bộ tộc Cửu Lê ở hạ du Hoàng Hà vốn có binh khí tinh xảo tiên tiến hơn . Thủ lãnh bộ tộc Cửu Lê là Xuy Vưu bị tử trận trong trận quyết chiến cuối cùng là trận Trác Lộc ở tỉnh Hà Nam, là trung tâm của vùng về sau gọi là Trung Nguyên .

Gia phả các dòng họ Trung Hoa đều xưng là “ tử tôn Viêm, Hoàng”, nhưng có ý kiến cho rằng phải nói là “tử tôn của Viêm, Hoàng, Xuy” thì mới đầy đủ vì Xuy Vưu là thủ lãnh tuy đã chết nhưng bộ tộc Cửu Lê thì vẫn tồn tại trên đất Trung Hoa, không là máu đằng bố thì cũng là máu đằng mẹ của các dòng họ Trung Hoa).

Trung Quốc có 5000 năm lịch sử văn minh là nói bao gồm cả “thần thoại sử”, đó là “thời đại Hoàng Đế trong truyền thuyết”. Nhiều nhà sử học cứ khăng khăng rằng cuốn “Sử ký” đã chẳng ghi về vương triều nhà Hạ, còn nghi ngờ gì nữa? Nhưng ông Tư Mã Thiên viết cuốn “Sử Ký” sống sau nhà Hạ những 2000 năm, ghi những sự việc ông ta chưa từng thấy mà lại không cho nghi ngờ ư? Nếu tính từ cái gọi là nhà Hạ 2000 BC đến năm 2000 thì cũng chỉ có 4000 năm. Cái mà “văn minh Hoa Hạ” để lại chẳng qua là những mảnh vụn mà thôi, đến cái trang phục dân tộc cũng chẳng có..Nói “văn minh Trung Hoa là văn minh duy nhất liên tục” vậy nó để lại được cái gì? Mọi dân tộc đều có trang phục dân tộc, người Trung Quốc (Hán tộc) có trang phục dân tộc của mình ư?( bộ đồ trung sơn lại càng chẳng phải vì nó vốn là đồng phục học sinh của Nhật Bản sửa đổi thành). Qua hơn một nghìn năm, đặc biệt là vài trăm năm gần đây bánh xe lịch sử nghiền nát, cái gọi là “văn minh Hoa Hạ” chỉ còn là những mảnh vụn , mà lại là những mảnh vụn khó hình dung. So với các nền văn minh cổ trên thế giới thì chính nền văn minh bị tiêu vong nhiều nhất là ở Trung Quốc, ngoài một cái còn là chữ Hán thì Trung Quốc chẳng còn cái gì từ cổ đại. Văn minh cổ Hoa Hạ chân chính đã bị tiêu vong từ sau thời Tống rồi. ( theo mạng Trung Quốc http://culture.163.com/05/1230/10/267BSL1200280004.html )

Để giải thích cho cái băn khoăn về “nền văn minh cổ Hoa Hạ” mà mạng trên nêu thì hy vọng các nhà sử học Trung Hoa và các nhà sử học Việt Nam đi sâu nghiên cứu nền văn minh Văn Lang và nền văn minh Bách Việt sau nó, nhất là nền văn minh Văn Lang cổ đại, thì chắc mới sáng tỏ được để đưa cái giai đoạn “sử truyền thuyết” trong sử Hoa và cả trong sử Việt thành chính sử được. Tôi chỉ là bạn đọc nghiệp dư thích tìm hiểu cội nguồn dân tộc. Nhưng tôi thấy cái bóng Việt sừng sững 5000 năm nay trong ngôn ngữ phổ thông Trung Quốc, đó là họ tên người Trung Hoa là họ tên Việt ,vì kết cấu ngữ pháp của nó hoàn toàn là kết cấu ngữ pháp tiếng Việt : chính trước phụ sau nên có họ trước tên sau như tiếng Việt, trong khi kết cấu ngữ pháp tiếng phổ thông Trung Quốc là phụ trước chính sau giống ngôn ngữ phương Tây, đáng lý như vậy thì kết cấu họ tên cũng phải là tên trước họ sau như ngôn ngữ phương Tây chứ? Kính mong các bậc thức giả giải thích giùm .tại sao nó tồn tại như vậy 5000 năm nay. Logic mà nói thì kết cấu họ trước tên sau chỉ đúng như ngữ pháp Việt bất biến từ 5000 năm nay chứ không đúng với ngữ pháp tiếng phổ thông Trung Quốc hiện nay. Thứ nữa trong truyền thuyết Hoa,cũng như truyền thuyết Việt , các ông vua cổ đại toàn chỉ gọi bằng tên như đế Viêm, đế Hoàng, vua Nghiêu , vua Thuấn , giống như người Việt vẫn gọi người bằng tên vậy, chứ không gọi người bằng họ?

Gia phả họ Đinh người Hoa ghi rằng họ Đinh ở miền nam Trung Quốc là hậu duệ họ Cơ 姬của Chu Văn Vương 周文王. ( Mà Chu Văn Vương=Chúa Văn Lang, ông ấy là vua nhà Chu ở vùng sông Chu giang Quảng Tây, là một trong những cái nôi trống đồng Lạc Việt, sông ấy sau bị đổi tên thành sông Tứ giang, nhưng chẳng “đổi” được các di tích trống đồng chôn dưới đất của người Choang. Cổ sử Trung Quốc nói : nước Văn Lang xưa gồm Trung, Bắc bộ Việt Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang, Hồ Nam, Giang Tây. Lại nói Việt vương Câu Tiễn là hậu duệ của vua Hùng. Vua nhà Chu mà họ Cơ 姬 thì thủy tổ ông ấy phải là vùng sông Cả Nghệ An. Người Việt cổ sống định cư từng làng theo các con nước để trồng lúa nên lấy tên con nước do mình đặt ra làm họ. Gia phả họ Lê người Hoa thì nói rằng thủy tổ Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành là ở huyện Dương Sóc Quế Lâm Quảng Tây, cùng nước Văn Lang xưa cả thì cũng chẳng có gì là lạ). Gia phả họ Đinh ở Trung Quốc còn nói rằng có một nguồn khác cũng gọi họ Đinh nhưng không phải là người Nam mà là của người tộc Trung Á sau khi tiến nhập vào lưu vực sông Hoàng Hà thì bị Hoa hóa , và họ của họ là do phiên âm mà trùng âm là Đinh (người Hãn rặc thì họ tên của họ theo ngữ pháp tiếng nói của họ là phụ trước chính sau nên theo logic đó họ có kết cấu tên trước họ sau). Trường hợp này được ghi trong gia phả như sau: Do người Tây Vực (Tân Cương ngày nay) họ tên đa âm tiết mà đa số có tiết cuối cùng là “ding”, sau khi vào Trung Nguyên họ bị Hán hóa (tức Hoa hóa) dần, giữ lại mỗi tiết cuối của tên là “ding” làm họ Đinh 丁. Như “Linh Sơn phòng tập Cao Sĩ truyện 靈山房集高士傳 ” viết: “ Hạc Niên (Hu-a-ni-ans-tan) là người Tây Vực , tằng tổ tên là A-Lão-Đinh (A-las-tan), ông nội tên là Khổ-Tư-Đinh (Khus-tan), bố tên là Ô- Lục- Đinh (U-lus-tan), anh tên là Sĩ- Nhã- Mạc- Đinh ( Sư-y-a-mos-tan). Hạc Niên biết từ tằng tổ trở xuống tên đều có đuôi là “đinh” (stan) mà không biết nó nghĩa là gì cả, hậu thế coi Hạc Niên là họ Đinh, gọi ngược lại theo cú pháp họ tên người Hoa (thực tế nó là cú pháp Việt, chính trước phụ sau, họ trước, tên lót, rồi tên sau) là Đinh Hạc Niên (biến thành người Hoa có họ tên Việt luôn là Đinh Hạc Niên). Xin chia sẻ để các bạn thích sử tham khảo.

7 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites