Lãn Miên

Quá Trình Hán Hóa Tiếng Việt

1 bài viết trong chủ đề này

Quá trình Hán hóa tiếng Việt

Khu tam giác châu Chu giang vùng Lĩnh Nam 嶺 南 tồn tại ngôn ngữ hệ Quảng Phủ (tức tiếng Quảng Đông) , xưa nó là vùng tiếng Việt cổ, gọi là Nam Việt ngữ 南 越 語. Sau đó Nam Việt ngữ diễn biến thành tiếng Choang 壯 ngày nay, người Choang chính là người Việt cổ. Sách cổ “Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư 天 下 郡 國 利 病 書” của ông Cố Viêm Vũ 顧 炎 武 có nói: “ Quảng Đông có hai tộc người là người Choang 壯 và người Dao 瑤, người Dao 瑤 là người Kinh 荊, Man 蠻 (chữ “kinh 荊” này = “canh” = “cây lanh” cho sợi lanh dệt vải chứ không phải chữ “kinh 京” là kinh đô như đang dùng để phiên âm chỉ dân tộc Kinh hiện nay), còn người Choang là người Việt cũ”. Những “ người Việt cũ” này chính là một bộ phận tiên nhân của người hệ ngữ Quảng Phủ 廣 府 系. Họ sử dụng Nam Việt ngữ 南 越語, mà âm, nghĩa , từ vựng và kết cấu ngữ pháp không thể lý giải được bằng Hán ngữ, như “nà” là ruộng nước( tiếng Tày), “nặm” là nước (tiếng Tày), “bản”, “xư”(xóm), “đô” (đồn”), “vân” (vạn chài) đều nghĩa là thôn lạc 村落 (村落 đọc là “xun lua” tiếng Hán = “phum sóc” tiếng Khơ Me. Do dân du mục đồng cỏ phương bắc thời cổ đại không sống theo làng như dân nông nghiệp định cư phương nam, nên trong ngôn ngữ của họ không có khái niệm phum sóc, họ mượn chữ nho phiên âm từ “ phum sóc” thành “xun lua”. Ai bảo từ “thôn” là “từ Hán – Việt " ? Nó là do “phum” = “chùm” = “chòm” = “xóm” = “xúm” = “xun” tiếng Hán = “thôn” tiếng Việt. “Thôn” qua mấy ngàn năm lại quay về với “phum” như cháu đích tôn quay về với ông nội của nó vậy. “Cá nhà mình nhảy sang ao nhà người ta - đương nhiên là nó lớn lên ở đó một thời gian dài - , người ta bắt được bán lại cho mình, mình lại gọi là cá của người ta sao?” - Lời Bác Hồ nhắc chiến sĩ cận vệ của Bác năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc, khi Bác tập võ quật ngã được anh chiến sĩ, anh ta liền khen “ Bác đánh võ Tàu giỏi thật !”), từ “khách nhân” họ gọi là “nhân khách” (= người khách, kết cấu ngữ pháp Việt), “công kê” họ gọi là “kê công” (= gà trống, kết cấu ngữ pháp Việt) v. v. đó là nền tảng văn hóa cho việc hình thành Việt ngữ 粵 語 tức tiếng Quảng Đông ngày nay. Thời Đường ,Tống người Hán xuống vùng Lĩnh Nam 嶺 南 ngày càng nhiều, trở thành chủ thể cư dân ở đó. Họ đem từ Trung Nguyên xuống qui phạm ngữ pháp và âm đọc, bắt buộc những người học chữ phải theo. Nhưng đến thời Nam Hán vì chính quyền cát cứ nên phương ngữ Việt粵 方 言( tức tiếng Quảng Đông) có cơ hội phát triển ổn định không bị chèn ép, hấp thụ nguồn rất lớn thành phần của Việt ngữ 越 語 cổ (tức tiếng Việt), phát triển theo hướng ngược với hướng phát triển của Hán ngữ, hình thành một ngôn ngữ độc lập, chấm dứt giữa chừng sự đồng hóa của Hán ngữ. Đến thời Tống lại thực hiện chính sách mềm nắn rắn buông nên quan hệ địa phương với trung ương lỏng lẻo, Việt ngữ 粵 語 lại càng có cơ hội phát triển độc lập. Thời đó một dịch giả người Hán là thư lại bộ Lễ khi so sánh Hán ngữ với Việt ngữ粵 語 ( tức tiếng Quảng Đông), nói rằng: “Âm vận của họ toàn là theo âm Giao Chỉ ngữ 交 趾 語 ( họ có là con đẻ của dân Giao Chỉ thì âm vận mới theo âm vận của “Giao Chỉ ngữ” chứ chẳng lẽ người Việt đẻ ra lại nói theo âm vận của tiếng Anh ?), chữ thì từng chữ của họ đều khác chữ Hán” (vì họ dùng chữ Nôm Quảng Đông ! ) chứng tỏ rằng thời Tống âm vận của phương ngữ Việt 粵 ( tức tiếng Quảng Đông) khác xa âm vận tiếng Hán ở Trung Nguyên, nó đã định hình thành một ngôn ngữ riêng. Sau thời Tống ngôn ngữ Việt 粵 語 (tức tiếng Quảng Đông) ấy vẫn tiếp tục phát triển theo qui luật riêng của nó, tuy có không ít biến dị nhưng cơ bản vẫn như lúc nó đã được định hình thời Đường, Tống. Ngày nay ngôn ngữ ấy là một phương ngữ lưu hành ở vùng tam giác châu Chu giang 珠 江, vùng lưu vực Tây giang 西 江 và khu vực Đông giang 東 江 thuộc Quảng Đông và Quảng Tây. Riêng về tiếng Khách Gia thì vào thời Đường, tiên nhân người Khách Gia ở Lĩnh Nam số lượng mới chỉ có hạn nên chưa hình thành được một hệ ngữ riêng, phương ngữ Khách Gia cũng chưa hoàn thành quá trình phân hóa khỏi Hán ngữ Trung Nguyên. Đến cuối thời Đường hàng loạt tiên nhân người Khách Gia đổ xuống định cư vùng Lĩnh Nam, chủ yếu tập trung ở đông và đông bắc đất Việt 粵 (đông Quảng Đông và nam Phúc Kiến ngày nay), có đất để ổn định phát triển, dần dần hình thành một hệ ngữ độc lập, hoàn thành quá trình phân hóa khỏi Hán ngữ Trung Nguyên, phát triển theo một hướng độc lập. Đến thời Tống, Nguyên lại có số lượng lớn người Khách Gia chạy khỏi Trung Nguyên xuống Lĩnh Nam nhập vào số đến trước, hình thànhquần thể lớn cư dân có hệ ngữ hoàn chỉnh, thoát ly hẳn Hán ngữ, chín mùi thành một phương ngữ độc lập là tiếng Khách Gia.

Nguồn trích: http://www.chinareviewnews.com

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites