Lãn Miên

Người Lạc Việt Cổ đại ở đảo Hải Nam Và đảo Đài Loan

1 bài viết trong chủ đề này

Người Lạc Việt cổ đại ở đảo Hải Nam và ở đảo Đài Loan

Các học giả ngày nay nhận định văn hóa phương Nam, đặc biệt là vùng ven biển phương Nam , không phải là “ man hoang” như sách sử xưa nói, mà nó là một nền văn hóa phát triển và đặc sắc, đó là nền văn hóa cổ Đông Nam Á.Theo truyền thuyết thì thời thượng cổ đế Viêm tức Thần Nông có một bộ lạc chư hầu là Xuy Vưu, đó là tên chung chỉ các bộ lạc vùng Đông Nam, mà về sau Hán thư gọi bằng các tên là Nam Man, Bách Việt, Cửu Lê, Tam Miêu, thực chất đó là dân tộc Việt cổ 古 越 民 族chủng tộc Indonesien, là tổ tiên của các tộc người bản địa ở Đài Loan, của tộc Lê 黎 ở đảo Hải Nam, của tộc Miêu 苗, Choang 壯 và các dân tộc thiểu số ở miền nam Trung Quốc ngày nay. Thời thượng cổ bộ lạc Xuy Vưu hay còn gọi là Cửu Lê đã cư trú và canh tác nông nghiệp ở vùng hạ lưu sông Hoàng Hà. Sau trận Trác Lộc (ở tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay) bộ lạc Xuy Vưu thua phải rút về phía Nam là vùng lưu vực sông Trường Giang, lập nên hàng loạt quốc gia ở đó, gọi là Bách Việt. Văn hóa cổ Đài Loan có liên quan đến văn hóa cổ Chuân Di 淮 夷, Ngô 吳, Việt 越, Đông, Âu 東, 甄.

Nhà khảo cổ học người Úc dr. Peter Bellwood nghiên cứu các sắc dân bản địa Đài Loan nhận định ở Đông Nam Á có 2000 ngôn ngữ Indonesien thì ở Đài Loan hiện còn 333.000 người thuộc cư dân bản địa, là cư dân cư trú sớm nhất ở Đài Loan, nói 14 loại ngôn ngữ Indonesien . Căn cứ khảo cổ nhận định khoảng 5500 năm trước người Việt cổ đã đem nền nông nghiệp lúa nước đến Đài Loan, sau đó khuyếch tán sang Philipin, Malaixia, châu Úc.

Các sắc dân bản địa Đài Loan thì ở bắc đảo là người Thái Nhã 泰 雅 và người Trại Hạ 賽 夏, ở nam đảo là người Bố Nông 布 農, Thiệu 邵, Trâu 鄒, Lỗ Khải 魯 凱, Bài Loan 排 灣, Ti Nam 卑 南,A Mỹ 阿 美, Đạt Ngộ 達 悟v.v ,tổng cộng khoảng 20 ngôn ngữ thuộc hệ ngữ Indonesien, trong đó người Thái Nhã là từ các quần đảo hoặc bán đảo Đông Nam Á qua bờ biển nam Trung Hoa đến đảo Đài Loan vào khoảng 3-4 nghìn năm trước công nguyên. Người Thái Nhã 泰 雅 trước thời nhà Hạ là một chế độ xã hội thị tộc nguyên thủy chưa có giai cấp và tư hữu tài sản. Họ là một chi của dân tộc Việt cổ 古 越 民 族 ở vùng Hoa Nam của Bách Việt, họ còn bảo lưu được rất đậm nét đặc chất của văn hóa Việt cổ. Các nghiên cứu nhân loại học nhận định rằng, khoảng 6500 năm trước người Thái Nhã 泰 雅đến Đài Loan trong giai đoạn văn hóa thừng văn và đồ gốm.

Trên đảo Hải Nam đã phát lộ di tích cuối thời đá cũ ở hang Lạc Bút 落 筆 gần Tam Á ven bờ biển nam đảo. Người Lạc Việt cổ "古 駱越” Hán thư còn gọi là người Lý “俚”. Khoảng 3000 năm trước (thời Tần, Hán) người Lạc Việt 駱 越 ở Bắc Bộ Việt Nam và Lưỡng Quảng thiên di đến đảo Hải Nam, họ có đặc điểm là xăm mình và đeo vòng tai, họ thành tổ tiên của tộc Lê 黎 ở đảo Hải Nam. Đến thời Nam Bắc triều người Lý 俚 từ Lưỡng Quảng lại ồ ạt theo thủ lĩnh Tẩy Phu 冼 夫 thiên di sang Hải Nam.Theo tư liệu khảo cổ và văn hiến thì người Lý 俚 và người Lê 黎 là có cùng nguồn gốc sâu xa. Tức người Lê 黎 là do người Việt cổ phát triển thành. Quan sát từ phương thức tổ chức xã hội và văn hóa thì người bản địa Đài Loan cũng từ nguồn gốc đó, từ cái nền chung của văn hóa cổ Đông Nam Á.

( Các từ Lê 黎, Lý 俚 trong tên gọi người Lạc Việt, Ly 離 trong quẻ Ly đều có phát âm chung là “ li” , điều này cho thấy là người tộc Lê 黎 và người tộc Lý 俚 tức Lạc Việt đều là dân “Quẻ Ly” tức dân “Kẻ Lửa” ở phương “bức” xứ nóng của đế Viêm tức Thần Nông của nền văn hóa Hòa Bình làm nông nghiệp lúa nước sớm nhất của nhân loại, cách nay 10.000 năm. Chữ Lý gọi người dân tộc Lý 俚 tức người Lạc Việt về sau trong Hán ngữ còn mang nghĩa là quê mùa, nông thôn, bởi ở đô thị thì đã bị Hán hóa hoàn toàn rồi đâu còn Lý, chỉ có ở Việt Nam thì mới còn rặc Việt nên mới có những điệu hát “ lý” rặc Việt).

Người Lê khi sang đảo Hải Nam đầu tiên cư trú ở vùng ven sông và cửa biển, sau đó dần dần cư trú khắp đảo, lên cả các vùng núi, đến thời Tần , Hán thì thiên di lên cả phía bắc đảo cho đến ngày nay.

Từ thời Tây Hán đến thời Đường thì người Hán cư trú chủ yếu là các vùng thuộc Trung Nguyên, họ di cư đến Hải Nam trú ở ven biển tây bắc đảo. Sau thời Đường thì mới có người Hán từ vùng Triết Giang, Lưỡng Hồ, Phúc Kiến đến. Đến thời Tống thì do đã xuất hiện con đường tơ lụa thông thương sang thế giới Ả Rập nên mới có người Hồi đến cư trú ở Hải Nam, hiện nay họ ở hai thôn Hồi Tân, Hồi Huy thị trấn Dương Cách thuộc thành phố Tam Á.

Người Choang ở Quảng Tây di cư sang Hải Nam sớm nhất là người Lâm Cao 臨 高, sau đó thời Tống người Lâm Cao tiếp tục theo Chinh Phu 征 夫 sang Hải Nam. Đến thời Minh thì có binh lính tuyển toàn người Miêu 苗 là những tay thiện nghệ bắn nỏ tên thuốc độc đến đóng quân ở Hải Nam , về sau họ định cư luôn, thành tộc Miêu ở Hải Nam. Thời Minh, Thanh về sau ,cũng là cao trào di dân đông nhất, thì di dân đến Hải Nam chủ yếu là người vùng Mân 閩 và Việt 粵, Quế 桂, Kinh Nguyên 經元, Lưỡng Quảng.

Người Thái Nhã 泰 雅 và người Trại Hạ 賽 夏 là những sắc dân trong 10 sắc dân bản địa đến Đài Loan sớm nhất, cư trú chủ yếu ở bắc Đài Trung. Đến thời Minh, Thanh về sau thì người Hán mới ồ ạt di cư sang Đài Loan chủ yếu từ hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông, thời cận đại thì mới có từ các tỉnh khác của Trung Quốc đến, làm thành văn hóa đa quần thể ở Đài Loan.

Văn hóa của tộc Lê ở Hải Nam và của các sắc dân bản địa Đài Loan có cùng nguồn gốc gần gũi là phương thức sinh hoạt trên cơ sở kinh tế chế độ thị tộc xa xưa, truyền qua nhiều đời hình thành tâm lý văn hóa dân tộc, sản sinh di truyền văn hóa và phương thức tư duy, di truyền lại phong tục tập quán dân gian thành qui phạm hành vi xã hội duy trì sự bình yên và tiến bộ xã hội:

1. Trọng nam tôn nữ. Từ khi còn là xã hội thị tộc mẫu hệ, người phụ nữ là trung tâm của xã hội nhưng vẫn rất trọng nam, người đàn ông có vị trí nhất định trong xã hội.

2. Đoàn kết hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. Hàng nghìn năm sống trong môi trường nhiệt đới gió mùa, canh tác nông ngư nghiệp trên vùng đất đai rộng lớn đã hình thành nên tính cách ôn hòa, trọng huyết thống và tương thân tương ái trong xã hội xóm làng phum sóc, một hộ làm nhà cả làng tự nguyện đến giúp coi là điều vinh dự vẻ vang, một nhà có đám cả xóm đến lo giúp.

3. Cùng hưởng cùng vinh. Đi săn hay bắt cá đều chung cả bản , làm đồng thì vần công, những thực chất văn hóa thuần phác vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.

4. Chú trọng lễ nghĩa. Đối nội kính già yêu trẻ, đồi ngoại nhiệt tình hiếu khách, cử chỉ lễ phép .

5. Tự do luyến ái. Trai gái người Lê sau 15 tuổi không ở cùng phòng cha mẹ mà làm riêng phòng hoặc chái bên cạnh gọi là “long các”, ở đó tự do giao tiếp với bạn tình ,tâm sự, đàn hát, đến khi tâm đầu ý hợp mới báo cha mẹ xin chuyện hôn nhân, bên trai chọn ngày giờ đến xin đính hôn.

6. Nhiệt tình đãi khách. Người Lê rất hiếu khách, nhiệt tình đãi rượu, thuốc, trầu cau.Thuốc là thuốc lào điếu cày, rượu là rượu cần nấu bằng gạo nếp men lá, chủ và khách quây quần ngồi quanh ché rượu, cũng có uống rượu bằng bát. Trầu cau không thể thiếu trong cưới hỏi, cũng là vật phẩm giao tế, chè uống là chè tươi.

7. Lao động chuyên cần và chất phác. Dù là người già hay trẻ nhỏ đều làm theo sức mình , không có ai chơi không.

8. Kính già yêu trẻ. Đây là phẩm chất thuần phác bảo tồn từ ngàn xưa đến nay. Người Lê khi thưa với cụ ông nói là “Bá ạ - 帕 雅- bá nhã” , thưa với cụ bà nói là “Vãi ạ - 拜 雅- bái nhã” (cũng y chang tiếng người Việt ở Phú Thọ hay tiếng người Trại ở Vĩnh Yên). Người bản địa Đài Loan xưng hô cũng theo thứ bậc lứa tuổi mà xưng là cụ , chú , bác, cô, dì, anh, chị, em… như người Việt chứ không xưng ngộ, nị như người Hán.

9. Văn hóa dân tộc độc đáo. Tục xăm mình. Ăn trầu. Thích ăn chua và sản phẩm lên men. Người Lê ở Hải Nam và người Thái Nhã ở Đài Loan là những cao thủ tinh hoa về ngành dệt vải, người Thái Nhã đứng hạng nhất ở Đài Loan về nghệ thuật dệt .

Nguồn trích http://www.home.kimo.tw/bimaten/

Share this post


Link to post
Share on other sites