Lãn Miên

Ngôn Ngữ Việt Nam

12 bài viết trong chủ đề này

Ngôn Ngữ Việt Nam

Qui tắc tạo từ của tiếng Việt (QT)

1.Qui tắc Vo ( qui tắc 1): Đưa từ đa âm tiết (của ngôn ngữ chắp dính) vào trong cái Vò của Việt gọi là Vò Việt là một cái “Nôi khái niệm” để vo tròn như vo gạo trong cái rá, từ đa âm tiết sẽ bị rụng những phụ tố đầu đuôi để chỉ còn mỗi cái “Lõi” thành một “ Lời” là một Từ đơn âm tiết.

2.Qui tắc Nở ( qui tắc 2) : Một từ đơn âm tiết là một cái “Tế” ở trong “Nôi khái niệm” là cái bầu, cái “Tế” ấy sẽ tự sinh sản theo kiểu tách đôi như cách sinh sản của tế bào thành “Tiếng” là một “Từ” hai âm tiết dính nhau không thể đảo ngược thứ tự khi phát âm, gọi là “từ dính” , mang khái niệm lấp-lửng. Rồi từ “dính” đó mới tách rời hẳn thành hai từ đơn âm tiết nữa, một từ mang tính Âm và từ kia mang tính Dương

3.Qui tắc Nút ( qui tắc 3) : Là phối tố đầu, theo kiểu “Biến phụ âm đầu mà bất biến âm vận đuôi”. Tôi gọi là qui tắc “Nút” vì có mỗi một cái chai rượu thì trước sau gì nó cũng gọi là chai, chỉ có cái Nút ở đầu nó thì cứ việc thay đổi bao nhiêu kiểu nút khác nhau mà chẳng được.

4.Qui tắc Rút ( qui tắc 4): Là phối tố đuôi, theo kiểu “ Biến âm vận đuôi mà bất biến “cái Có phụ âm đầu” hoặc “cái Vắng phụ âm đầu”. Tôi gọi nó là qui tắc “Rút” vì có mỗi một cái máy xe thì thương hiệu ( cái “Có phụ âm đầu”) và số ( cái “Vắng phụ âm đầu”, vì số có khi đã cà để làm cà vẹt rồi, có khi chưa cà) của nó là cái đầu, đã đăng ký rồi nên phải bất biến, còn cái ruột nó thì cứ việc rút mà đổi đồ lô, đồ nhái gì mà chẳng được ( đồ Lô=đồ Lõi= đồ Lọi=đồ Nọi= đồ Nội, Tây nó mượn của Ta nó phải gọi là Local chứ Từ Việt là bao la từ thời cổ đại). Người Việt vẫn nói Lục Lọi nghĩa là lục từ trong ra.

5.Qui tắc Lướt ( qui tắc 5): Là lướt một cụm từ gồm hai hay nhiều từ hoặc thậm chí cả một câu dài thành một từ hoặc một cụm từ đồng nghĩa.

6.Qui tắc Tháp ( qui tắc 6): Là ghép hai từ đồng nghĩa dị âm lại với nhau thành một từ đồng nghĩa có hai âm tiết theo qui luật từ đơn âm nào đã dùng trước trong tiếng Việt thì đứng trước trong từ ghép, từ ghép ấy nhấn mạnh ý hơn tức “nhiều”, “nhiều loại cùng loài ấy”. Tôi dùng chữ “Tháp” của nông dân ghép cây, rất chính xác, tức đặt tiếp theo cái cũ mà sẽ cho hiệu quả cao hơn .

7.Qui tắc Lặp (qui tắc 7): Là lặp lại một từ thành từ có hai âm tiết ( đương nhiên đồng âm) cùng ý nghĩa nhưng nhấn mạnh hơn.

Tôi nêu ra QT trên của tiếng Việt và thấy Từ Việt là bao la. Để kiểm chứng lại phát hiện của Nhạn Nam Phi về chữ nôm Việt Nam khắc trên gươm của Câu Tiễn là Gươm =Kiếm đều là tiếng Việt, tôi theo qui tắc 3 và 4 nêu trên, có được cái nôi khái niệm sau:

( Gươm=Đướm=Đâm=Châm=Chĩa=Chỉ=Chọt=Chọc=Chuốt=Chích=Chém=“Chén” - của người Quan thoại phát âm theo, không chuẩn, vì họ không có âm ngậm môi,= Kèm=Kiêm=Kiếm=Kiềm). Rõ ràng là trong nôi khái niệm này các từ đều mang khái niệm về bản thể cây gươm và các công năng của gươm, “đướm” là “đẫm rướm máu”, trừ từ “chén” của tiếng Quan thoại là trật, bị phát hiện là từ lạ trong cái nôi khái niệm này ngay, do họ mượn từ “chém” của tiếng Việt, nhưng phát âm sai là “chén” vì họ không nói được âm ngậm môi như tộc Việt.

Ví dụ khác, dùng QT 3 và 4 kiểm tra “đối thoại” là gì:

Đối thoại là dùng Lời (tiếng Việt), Lời mà lại được Lợi=được Lớn;

Đối thoại là dùng La (tiếng Đài Loan), La mà lại được Lợi=được Lớn;

Đối thoại là dùng Na( tiếng Nhật Bản-“ ha-Na-xư”),Na mà lại được Nắm= =được Lắm=được Lợi= được Lớn;

Đối thoại là dùng Yán (tiếng Trung Quốc), Yán mà lại được Yên=được Lên=được Lợi=được Lớn.

Xem trên thấy rõ cấp độ gần gũi của các ngôn ngữ láng giềng. Tiếng Việt và tiếng Đài Loan thì chỉ nói ra là từ “ Lời” là đạt ngay “ Lợi Lớn” rồi; tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Quốc thì phải nhảy qua hai bước thì “Lời” mới đạt “Lợi Lớn”, khi diễn tả bằng tiếng Việt theo QT. Vậy chẳng phải ngôn ngữ đã từ Nam ra Bắc đó sao? Như vậy là Tôi đã chứng minh được cho nhận định của các nhà khoa học: ngôn ngữ đã từ ĐNÁ đi ra Bắc đến tận Hoàng Hà. (Trong phát âm thì người VN phát âm dễ tiếngQuảng Đông, tiếng Mân Nam, tiếng Đài Loan và tiếng Nhật vì không thấy âm lạ, nhưng phát âm tiếng Trung Quốc thì gặp một số âm lạ rất khó phát âm). Câu tiếng Đài Loan: “Khắp Chúng Ọc Tai Oan Gí, Cả Việt Lâm Gí” hiểu được ngay là “Chúng Ta Học Đài Loan Gọi, Cả Việt Nam Gọi”. Câu tiếng Nhật “ Ni-hôn Gô Ga, Bê-tô-Na-mư Gô Ga, Ô-na-di Đế-xư Nế” hiểu được ngay là “Nhật Bản Gọi Cả, Việt Nam Gọi Cả, Na-ná dống Đấy Nhé”. Người Việt Nam, Quảng Đông, Đài Loan, Nhật Bản còn chung nhau một tiếng “hầy” nghĩa là “phải”.

Cứ theo QT 3 và 4 mà dẫn thì mỗi một khái niệm trong Việt ngữ là một “nôi khái niệm” có đến hàng chục từ cùng khái niệm mà sắc thái khác nhau nên rất chi ly, trong số hàng chục từ đó, Hán ngữ chỉ mượn có một từ. Còn để diễn tả được các sắc thái kia thì phải ghép từ mượn đó với một từ khác thành từ ghép là hai âm tiết. Ví dụ khái niệm “Ra”, theo QT sẽ dẫn được như sau: Ra=Re=Rời=Rẽ=Vẽ=Vỡ=Vỗ=Sổ=San=Say=Sót=Sập=Sau=Xấu=Xóa=Xuất=Xảy=Chảy=Chênh=Chệch=Cho=Chi=Đi=Đẻ=Đâm=Đầu=Đào=Điều=Đến=Đưa=Thừa=Thành=Thú=Thụ=Thức=Thoát=Thay=Theo=Trèo=Trái= =Trật=Trội=Trốn=Trút=Bút=Bứt=Bật=Bỏ=Có=Kết=Cất=Lật=Lạ=Lại=Lấy=Làm=Lên=Lòi=Ló=Lộ=Tố=Khổ=Khỏi=Khai=Khoáy=Khá=Hả=Hở=Hết=Hơn=Hơi=Dôi=Giỏi=Dư=Dự=Dẫn=Dãn=Dăn=Ăn=Yết. Trong đó mỗi từ đơn âm tiết đã bao hàm cả ý “ra”, nhưng Hán ngữ thì phải ghép từ “xuất”, mà phát âm là “txu”, với một từ khác, thành từ ghép mới diễn tả được sắc thái của những từ kia.

Cũng theo QT mà dẫn thì thấy kết cấu mọi cặp từ như Đất Nước, Đất Trời, Đầu Óc, Cối Chầy, Mẹ Cha đều là từ chế độ mẫu hệ của loài người, từ tiếng ru con “Ầu Ơ…” của mẹ mà ra:

Ầu=Âu=Bầu=Đầu=Đậu=Đất=Thật=Thôn=Khôn=Khuông=Ruộng=Vuông= =Văn=Khăn=Khối=Cối=Mồi=Mớm=Mẹ

Ơ=Cơ=Cóc=Óc=Nóc=Nước=Lược=Lạc=Lang=Quang=Quan=Càn=Còn=..=Tròn=Trời=Thời=Thờ=Thầy=Chầy=Cha

Như vậy từ “Âu Cơ” là có trước. Rồi sau đó người Việt mới lấy các từ của mình để đặt tên cho các con chim mình yêu thích vì nó gắn bó với mình trên đồng ruộng như chim Âu gốc từ “Ầu”; chim Cò, chim Lạc gốc từ “Ơ”=Cơ. Chứ lấy phiên âm từ “Hán tự”, vạn năm sau mới có, để giải thích nguồn gốc từ “Âu Cơ”, tôi cho là giải thích ngược.

Cũng kết cấu “Ầu Ơ” của mở đầu lời ru con mà chia thành Đất Trời. Đất là Mẹ, chỉ sinh ra bản thể con người, còn Trí của con người là do Trời sinh, nên tiếng Việt có câu thành ngữ “Mẹ sinh con, Trời sinh tính”. Và Trí nó là cái phần ở Trên, nên nó là cái Ngọn chứ không phải là cái Gốc. Loài người là trí tuệ hơn muôn loài nên tiếng Việt có “Con Ngài” lái thành “Cái Ngọn”. Vì Ngọn mới là cái tiếp thu được nguyên khí từ Trời để có Trí. Giống như cái Cây viết bằng chữ Mộc 木 (người Nhật đọc chữ này là Ki, nghĩa thuần Nhật là Cây) tức nó phải Mọc, và để mọc được thì quí nhất là cái Bổn của nó, chữ Bổn 本 phải có thêm một nét Càn ,tượng Trời, ngang ở dưới để đẩy cây lớn lên. Theo QT thì Bổn=Ngồn-Ngộn=Ngọn. Cái cây mà bị chặt ngọn nó sẽ mọc ngọn khác, kiên quyết vươn lên trời để đón nguyên khí. Người xưa có câu “ hiền tài là nguyên khí quốc gia”, lại cũng có câu “dĩ nhân vi bổn” là “dựa người làm bổn”, có Bổn thì mới đầu tư được, đó là nội dung cơ bản của kinh tế học hay “kinh tế tri thức” ngày nay. Nhưng câu “lấy dân làm bổn” tức “lấy dân làm ngọn” đã bị đổi thành “lấy dân làm gốc”.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bi sử chữ việt 越 Sách Sử Trung Hoa thường gọi chung các dân tộc ở phía nam Trường giang là Bách Việt 百越. Người Việt thuộc chủng Việt cũng tự gọi mình là Việt để phân biệt với chủng Hoa. Chữ Bách không hẳn chỉ định số là một trăm mà là chữ phiếm chỉ, hàm chỉ số nhiều không thể xác định số lượng.

Hiện nay còn biết được có Âu Việt 甌越 ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越 ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越 ở Quảng Đông 廣東, Lạc Việt 駱越 ở Việt Nam 越南.

Chữ 越 còn được dùng làm tên riêng của tỉnh Chiết Giang .

越 có khi viết là 粵, chữ Việt này lại được dùng làm tên riêng cho tỉnh Quảng Đông.

Với tư cách là kẻ chiến thắng, người Hoa đã dùng chữ Việt 越 để gọi các dân tộc Việt và vì áp lực đó các dân tộc Việt đều dùng chữ Việt 越 để tự gọi mình.

Chữ Việt 越 có hai phần, phần trước là chữ tẩu nghĩa là chạy, phần sau là Việt là một loại vũ khí thời cổ biểu tượng cho quyền uy. Cấu trúc chữ Việt như thế sẽ cho ta một cảm giác bất ổn, tại sao một chủng tộc to lớn có đầy đủ uy quyền mà lại phải bỏ chạy. Đây đúng là chữ tượng hình, một bức họa cực tả thảm trạng bại vong của cả một chủng tộc.

Sự thể đã được kể lại theo truyền thuyết, Hoàng đế (chủng Hoa) đã đánh nhau một trận quyết liệt một mất một còn với Si Vưu (chủng Việt) tại Trác Lộc, sau cùng đã chiến thắng giết được Si Vưu đánh bại chủng Việt, Việt tộc bắt đầu suy yếu tan tác, chạy tứ tán khắp nơi nhất là chạy dồn về phương Nam để rồi lần lượt bị Hoa tộc thôn tính, đồng hóa, chỉ riêng Lạc Việt kiên cường là giữ vững được độc lập.

Sự kiện này một phần nào cũng được phản ánh trong việc hình thành chữ khối vuông.

Chữ khối vuông ngày nay được gọi là chữ Hán thực sự không phải là chữ ban đầu của người Hoa. Đó chính là chữ do người Việt xây dựng nên.

Chỉ xét riêng diễn biến hình thành cấu trúc từ Việt ít nhiều ta cũng thấy được sự thật lịch sử ẩn dấu trong đó.

Lịch sử hình thành chữ khối vuông có thể chia làm hai chặng.

Chặng thứ nhất do người Việt khai phá đặt nền móng, đó là chữ viết trên mai rùa và xương thú gọi là Giáp cốt văn và chữ đúc trên đỉnh đồng hoặc chuông đồng thời Thương gọi là Chung Đỉnh văn hay Kim văn.

Chặng thứ hai do người Hoa tiếp quản, tu chỉnh, định hình bắt đầu từ Tiểu Triện cho đến chữ Giản thể ngày nay.

Trên Kim Văn chữ Việt được ghi như một hình đồ họa vẽ lại cái Việt biểu trưng cho quyền uy của vua chúa:

Posted Image Kim văn Posted Image

Có chữ lại hình dung con người ưỡn ngực kiêu hãnh với quyền uy của mình dưới ánh mặt trời:

Posted Image Kim văn

Thời Thương Chu Việt được sử dụng vừa như là vũ khí vừa như là nghi trượng. Vua dùng Việt để biểu thị vương quyền, Tướng dùng Việt để biểu thị tướng quyền. Sử Ký ghi Chu Võ Vương dùng Hoàng Việt, Chu Công dùng Đại Việt,Thiệu công dùng Tiểu Việt. Thời cổ đại vua thường ban cho đại thần “Thanh đồng Việt” mang ý nghĩa giao cho họ quyền cầm quân và quyền chinh phạt để phò tá và bảo vệ vương quyền.

Tại sao có danh xưng Việt, Văn hóa Lương Chử khai quật được ở tỉnh Chiết Giang cho ta câu trả lời:

“Ngọc Việt đào được tại Chiết Giang,văn hóa Lương Chử, là tượng chứng quyền lực của thủ lãnh người Việt. Việt Tộc do đó mà gọi tên là Việt (wet,vet,viet) là khí vật điển hình của văn hóa Bách Việt, lưu truyền phạm vi bao quát Đông Nam Á và một bộ phận các đảo Thái bình dương. Trong số văn vật của Triều Thương có thể tìm thấy Thanh đồng Việt (rìu bằng đồng xanh), và một dạng Ngọc Tông có khả năng là một bộ phận nhân tố văn hóa của nhóm người Việt ở đông bộ di chuyển lên phía bắc được người Ân du nhập về (chủ thể là tộc Đông Di)”.(theo Baiyueren)

Posted Image Việt http://baiyueren.cn

Chữ Việt 戉 (yuè) cũng viết là “钺”. Việt là búa lớn (đại phủ) ta gọi là Rìu thường nói chung là “Phủ Việt”( 斧戉).

Về sau chữ Việt được ghi theo dạng:

Posted Image

Theo tự dạng này chữ Việt có thêm bên cạnh chữ thổ 土 nằm trên chữ chỉ 止, hai chữ này ghép lại chính là chữ chỉ 址 có nghĩa là nơi chốn chỗ ở, cơ sở, nền móng.Cấu trúc này khẳng định người sử dụng Việt có quyền uy nơi chính lãnh địa của họ. Và chữ Việt này đã được dùng để gọi tên chủng tộc Việt. Phải nói đây là chủ quan của người tạo chữ vuông, họ tự hào chủng tộc họ mang tên, một chủng tộc có lãnh thổ và có quyền uy với sức mạnh được biểu trưng trên vũ khí và quyền trượng việt. Nói chính xác hơn họ là người Việt, đã tạo ra chữ của người Việt, chữ khối vuông. Họ có đất đai, có sức mạnh, đã định cư chứ không nay đây mai đó như người du mục.

Người Hoa 華 là người đến sau, không phải là người tạo chữ nên chỉ được chọn một bông hoa mỏng manh để làm chữ:

Posted Image Kim Văn Posted ImageTriện

Nhưng khi lịch sử đã sang trang, mọi chuyện đều có thể đảo ngược, cánh hoa yếu ớt đó đã quật ngã cái búa việt cứng rắn, chủng Việt thua trận, chủng Hoa lên ngôi, cùng với chiến thắng chữ Hoa cũng bước lên đài vinh quang mang thêm nhiều nghĩa quang huy, quang thái, phồn vinh, rực rỡ. Chữ Việt cùng chung số phận của chủng Việt ly tán, biến thái. Chữ Việt xuống nghĩa bi ai: chạy, ngã đổ, tan tác!Khuôn mặt oai hùng của chữ Việt cũng bị kẻ thắng trận làm biến dạng méo mó.

Từ dạng chữ (gồm chỉ và Việt)Posted Imageđã bị đổi thành Posted Image( gồm chữ tẩu và việt).Việc thay đổi này rất nhẹ nhàng thoạt nhìn chẳng xáo trộn nhiều,nhưng chỉ một cái rạch nhẹ của lưỡi lam trên mặt mỹ nhân cũng đủ làm tan nát một khuôn mặt khả ái, chữ Việt trước (chữ Việt nguyên thủy) với vũ khí khẳng định quyền uy thì chữ Việt sau (chữ Việt biến thái) đã được cách điệu lại diễn cảnh người ôm vũ khí bại tẩu. Trên Kim văn có họa đồ chữ tẩu rất sinh động,hình đó diễn tả cảnh con người bỏ chạy khỏi vị trí của mình:

Posted Image Chữ Tẩu 走 trên Kim Văn (Chung Đỉnh văn).

Cũng có ý kiến nói rằng Việt là vượt, là siêu việt nhưng nghĩa này chỉ là nghĩa phát triển về sau chứ thâm ý của người cải biên chữ Việt theo dạng Tiểu Triện thì không phải như vậy.

Ngay thời cực thịnh của nước Việt,Câu Tiễn vượt Trường Giang vào Trung Nguyên xưng bá cũng chưa có chữ Việt có bộ tẩu,chữ Việt trên thanh kiếm của Câu Tiễn đã nói lên điều này.

(Bốn chữ sau là “Việt Vương tự tác” trích trên thanh “Việt Vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm”)

Posted Image

Thói đời không ai không nghĩ tốt về mình, về người thân, về dòng họ, về chủng tộc của mình, chữ Việt nguyên thủy là bài ca về sức mạnh,về quyền lực của chủng Việt nên ta có thể nói chữ đó phải do người của chủng Việt tạo ra, thêm nữa nhà Thương cũng là triều đại của chủng Việt chứ không

phải là chủng Hoa (xin xem bài Ghét đời Kiệt Trụ-cùng tác giả), chữ khối vuông xuất hiện vào đời nhà Thương thì sự kiện chứng càng mạnh hơn nữa.

Chỉ có đối phương mới mạt sát đối thủ của mình, việc sửa lưng chữ Việt làm biến dạng nó từ chữ “chỉ” xác định địa bàn sang chữ “tẩu” bỏ địa bàn chạy khỏi địa bàn thì chỉ có người Hoa mới làm thế sau khi đã chiến thắng người Việt, sáp nhập mọi tài sản của người Việt vào tài sản của mình.

Tần Thủy Hoàng sau khi tiêu diệt lục quốc thống nhất Trung Hoa đã ra lịnh chỉnh lý,thống nhất chữ viết, định dạng chữ viết chuẩn gọi là Tiểu triện đã hoàn toàn xóa bỏ khuôn mặt chữ viết của người Việt bằng cái áo khoát màu Hoa, nhưng đâu đó trong cách viết chữ Hán vẫn không ngơi bàng bạc hồn Việt.

Lịch sử hào hùng của chữ Việt đã được thay bằng trang bi sử, vậy người Việt có nên giữ mãi hình dạng chữ này để nhắc mình nhớ mãi cảnh bại vong của cả một chủng tộc! Riêng tôi, tôi chỉ ước gì được thay hai chữ Việt Nam 越南 bằng hai chữ “Việt Nam - Tổ Quốc tôi”.

Có thể xem chữ Việt này cũng có nghĩa tương đồng với chữ 漢Hán (chỉ dân tộc Trung Hoa) và chữ 汗 Hãn /Khan của Mông Cổ đều dùng để chỉ quyền lãnh đạo.

(Nguyễn Thiếu Dũng)

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên Luân đưa giúp bài này ra trang chủ;

Ghi rõ: "Tư liệu tham khảo".

Cá nhân tôi không tán thành luận điểm : "Lạc Việt ở Việt Nam". Lạc Việt là một khái niệm chỉ toàn bộ bách Việt.

Tôi đố tất cả các học giả trên thế giới chứng minh một cách có hệ thống: "Lạc Việt là danh từ riêng chỉ một bộ phân trong bách Việt". Luận điểm tách Lạc Việt là một bộ phận của Bách Việt chính là tiền đề để phủ nhận Việt sử 5000 năm văn hiến.

Bởi vậy, mặc dù cùng quan điểm Việt sử 5000 năm văn hiến. kinh Dịch là của Việt Nam - như tác giả Nguyễn Thiều Dũng - nhưng chính vì những lấn cấn này mà tôi rất khó dung hòa về mặt học thuật. Đây là một luận cứ phản biện của tôi:

Nếu Kinh Dịch là của Việt Nam - mà theo quan diểm "Lạc Việt ở Việt Nam" hiện nay thì tất không phải của bách Việt nói chung. Vậy chỉ khi người Hán chiếm được vùng đồng bằng bắc bộ mới có thể chiếm hữu Kinh Dịch. Phải không nhỉ? Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành thì có tứ thời Trâu Diễn trước cả thời Hán Thế kỷ III trước CN. Kinh Dịch - mà bộ phận cấu thành là Bát quái không phải ký tự ngôn ngữ - liên hệ chắt chẽ với Ngũ hành sau đó mà chính người Hán thừa nhân là một học thuyết hợp nhất, nhưng cũng chẳng biết nó hợp nhất từ bao giờ?! điều này mâu thuẫn với quan điểm - mặc dù mới chỉ xác định Kinh Dịch của Việt Nam. Bởi vậy, cái nhìn "Lạc Việt ở Việt Nam hiên nay" không có tính nhất quán và tính hệ thống trong việc lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Điều này không phủ hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết hoặc một lý thuyết, phương pháp được coi là khoa học. Đó chỉ là cái nhìn và giải thích trực quan, cục bộ cho một hiện tượng.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên Luân đưa giúp bài này ra trang chủ;

Ghi rõ: "Tư liệu tham khảo".

Cá nhân tôi không tán thành luận điểm : "Lạc Việt ở Việt Nam". Lạc Việt là một khái niệm chỉ toàn bộ bách Việt.

Tôi đố tất cả các học giả trên thế giới chứng minh một cách có hệ thống: "Lạc Việt là danh từ riêng chỉ một bộ phân trong bách Việt". Luận điểm tách Lạc Việt là một bộ phận của Bách Việt chính là tiền đề để phủ nhận Việt sử 5000 năm văn hiến.

Bởi vậy, mặc dù cùng quan điểm Việt sử 5000 năm văn hiến. kinh Dịch là của Việt Nam - như tác giả Nguyễn Thiều Dũng - nhưng chính vì những lấn cấn này mà tôi rất khó dung hòa về mặt học thuật. Đây là một luận cứ phản biện của tôi:

Nếu Kinh Dịch là của Việt Nam - mà theo quan diểm "Lạc Việt ở Việt Nam" hiện nay thì tất không phải của bách Việt nói chung. Vậy chỉ khi người Hán chiếm được vùng đồng bằng bắc bộ mới có thể chiếm hữu Kinh Dịch. Phải không nhỉ? Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành thì có tứ thời Trâu Diễn trước cả thời Hán Thế kỷ III trước CN. Kinh Dịch - mà bộ phận cấu thành là Bát quái không phải ký tự ngôn ngữ - liên hệ chắt chẽ với Ngũ hành sau đó mà chính người Hán thừa nhân là một học thuyết hợp nhất, nhưng cũng chẳng biết nó hợp nhất từ bao giờ?! điều này mâu thuẫn với quan điểm - mặc dù mới chỉ xác định Kinh Dịch của Việt Nam. Bởi vậy, cái nhìn "Lạc Việt ở Việt Nam hiên nay" không có tính nhất quán và tính hệ thống trong việc lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Điều này không phủ hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết hoặc một lý thuyết, phương pháp được coi là khoa học. Đó chỉ là cái nhìn và giải thích trực quan, cục bộ cho một hiện tượng.

Quan điểm 'Lạc Việt là Bách Việt" đồng thời "Lạc Việt ở Việt Nam" có thể nào thể hiện một thực tế rằng, nguồn gốc Việt, tự ban đầu, từ Việt nam như "Sử thuyết" của anh Nhatnguyen52 không nhỉ?

Nếu vậy, cả hai quan điểm trên không mâu thuẫn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quan điểm 'Lạc Việt là Bách Việt" đồng thời "Lạc Việt ở Việt Nam" có thể nào thể hiện một thực tế rằng, nguồn gốc Việt, tự ban đầu, từ Việt nam như "Sử thuyết" của anh Nhatnguyen52 không nhỉ?

Nếu vậy, cả hai quan điểm trên không mâu thuẫn.

Lạc Việt ở Việt Nam là một danh từ mang khái niệm là một bộ phân thuộc Bách Việt, gồm nhiều chủng tộc Việt. Với khái niệm này thì nó không thể dung hòa. Nó chỉ dung hòa khi không mnag khái niệm đó và xác định Lạc Việt sống ở Nam Dương tử và Lạc Việt ở Việt Nam hiện nay là một.

Tôi không tán thành thuyết cho rằng Người Việt ở Việt Nam ngày nay tràn lên miền nam Dương Tử. Ngược lại thì là quan điểm của tôi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bi sử chữ việt 越 Sách Sử Trung Hoa thường gọi chung các dân tộc ở phía nam Trường giang là Bách Việt 百越. Người Việt thuộc chủng Việt cũng tự gọi mình là Việt để phân biệt với chủng Hoa. Chữ Bách không hẳn chỉ định số là một trăm mà là chữ phiếm chỉ, hàm chỉ số nhiều không thể xác định số lượng.

Hiện nay còn biết được có Âu Việt 甌越 ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越 ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越 ở Quảng Đông 廣東, Lạc Việt 駱越 ở Việt Nam 越南.

Chữ 越 còn được dùng làm tên riêng của tỉnh Chiết Giang .

越 có khi viết là 粵, chữ Việt này lại được dùng làm tên riêng cho tỉnh Quảng Đông.

Với tư cách là kẻ chiến thắng, người Hoa đã dùng chữ Việt 越 để gọi các dân tộc Việt và vì áp lực đó các dân tộc Việt đều dùng chữ Việt 越 để tự gọi mình.

Chữ Việt 越 có hai phần, phần trước là chữ tẩu nghĩa là chạy, phần sau là Việt là một loại vũ khí thời cổ biểu tượng cho quyền uy. Cấu trúc chữ Việt như thế sẽ cho ta một cảm giác bất ổn, tại sao một chủng tộc to lớn có đầy đủ uy quyền mà lại phải bỏ chạy. Đây đúng là chữ tượng hình, một bức họa cực tả thảm trạng bại vong của cả một chủng tộc.

Sự thể đã được kể lại theo truyền thuyết, Hoàng đế (chủng Hoa) đã đánh nhau một trận quyết liệt một mất một còn với Si Vưu (chủng Việt) tại Trác Lộc, sau cùng đã chiến thắng giết được Si Vưu đánh bại chủng Việt, Việt tộc bắt đầu suy yếu tan tác, chạy tứ tán khắp nơi nhất là chạy dồn về phương Nam để rồi lần lượt bị Hoa tộc thôn tính, đồng hóa, chỉ riêng Lạc Việt kiên cường là giữ vững được độc lập.

Sự kiện này một phần nào cũng được phản ánh trong việc hình thành chữ khối vuông.

Chữ khối vuông ngày nay được gọi là chữ Hán thực sự không phải là chữ ban đầu của người Hoa. Đó chính là chữ do người Việt xây dựng nên.

Chỉ xét riêng diễn biến hình thành cấu trúc từ Việt ít nhiều ta cũng thấy được sự thật lịch sử ẩn dấu trong đó.

Lịch sử hình thành chữ khối vuông có thể chia làm hai chặng.

Chặng thứ nhất do người Việt khai phá đặt nền móng, đó là chữ viết trên mai rùa và xương thú gọi là Giáp cốt văn và chữ đúc trên đỉnh đồng hoặc chuông đồng thời Thương gọi là Chung Đỉnh văn hay Kim văn.

Chặng thứ hai do người Hoa tiếp quản, tu chỉnh, định hình bắt đầu từ Tiểu Triện cho đến chữ Giản thể ngày nay.

Trên Kim Văn chữ Việt được ghi như một hình đồ họa vẽ lại cái Việt biểu trưng cho quyền uy của vua chúa:

Posted Image Kim văn Posted Image

Có chữ lại hình dung con người ưỡn ngực kiêu hãnh với quyền uy của mình dưới ánh mặt trời:

Posted Image Kim văn

Thời Thương Chu Việt được sử dụng vừa như là vũ khí vừa như là nghi trượng. Vua dùng Việt để biểu thị vương quyền, Tướng dùng Việt để biểu thị tướng quyền. Sử Ký ghi Chu Võ Vương dùng Hoàng Việt, Chu Công dùng Đại Việt,Thiệu công dùng Tiểu Việt. Thời cổ đại vua thường ban cho đại thần “Thanh đồng Việt” mang ý nghĩa giao cho họ quyền cầm quân và quyền chinh phạt để phò tá và bảo vệ vương quyền.

Tại sao có danh xưng Việt, Văn hóa Lương Chử khai quật được ở tỉnh Chiết Giang cho ta câu trả lời:

“Ngọc Việt đào được tại Chiết Giang,văn hóa Lương Chử, là tượng chứng quyền lực của thủ lãnh người Việt. Việt Tộc do đó mà gọi tên là Việt (wet,vet,viet) là khí vật điển hình của văn hóa Bách Việt, lưu truyền phạm vi bao quát Đông Nam Á và một bộ phận các đảo Thái bình dương. Trong số văn vật của Triều Thương có thể tìm thấy Thanh đồng Việt (rìu bằng đồng xanh), và một dạng Ngọc Tông có khả năng là một bộ phận nhân tố văn hóa của nhóm người Việt ở đông bộ di chuyển lên phía bắc được người Ân du nhập về (chủ thể là tộc Đông Di)”.(theo Baiyueren)

Posted Image Việt http://baiyueren.cn

Chữ Việt 戉 (yuè) cũng viết là “钺”. Việt là búa lớn (đại phủ) ta gọi là Rìu thường nói chung là “Phủ Việt”( 斧戉).

Về sau chữ Việt được ghi theo dạng:

Posted Image

Theo tự dạng này chữ Việt có thêm bên cạnh chữ thổ 土 nằm trên chữ chỉ 止, hai chữ này ghép lại chính là chữ chỉ 址 có nghĩa là nơi chốn chỗ ở, cơ sở, nền móng.Cấu trúc này khẳng định người sử dụng Việt có quyền uy nơi chính lãnh địa của họ. Và chữ Việt này đã được dùng để gọi tên chủng tộc Việt. Phải nói đây là chủ quan của người tạo chữ vuông, họ tự hào chủng tộc họ mang tên, một chủng tộc có lãnh thổ và có quyền uy với sức mạnh được biểu trưng trên vũ khí và quyền trượng việt. Nói chính xác hơn họ là người Việt, đã tạo ra chữ của người Việt, chữ khối vuông. Họ có đất đai, có sức mạnh, đã định cư chứ không nay đây mai đó như người du mục.

Người Hoa 華 là người đến sau, không phải là người tạo chữ nên chỉ được chọn một bông hoa mỏng manh để làm chữ:

Posted Image Kim Văn Posted ImageTriện

Nhưng khi lịch sử đã sang trang, mọi chuyện đều có thể đảo ngược, cánh hoa yếu ớt đó đã quật ngã cái búa việt cứng rắn, chủng Việt thua trận, chủng Hoa lên ngôi, cùng với chiến thắng chữ Hoa cũng bước lên đài vinh quang mang thêm nhiều nghĩa quang huy, quang thái, phồn vinh, rực rỡ. Chữ Việt cùng chung số phận của chủng Việt ly tán, biến thái. Chữ Việt xuống nghĩa bi ai: chạy, ngã đổ, tan tác!Khuôn mặt oai hùng của chữ Việt cũng bị kẻ thắng trận làm biến dạng méo mó.

Từ dạng chữ (gồm chỉ và Việt)Posted Imageđã bị đổi thành Posted Image( gồm chữ tẩu và việt).Việc thay đổi này rất nhẹ nhàng thoạt nhìn chẳng xáo trộn nhiều,nhưng chỉ một cái rạch nhẹ của lưỡi lam trên mặt mỹ nhân cũng đủ làm tan nát một khuôn mặt khả ái, chữ Việt trước (chữ Việt nguyên thủy) với vũ khí khẳng định quyền uy thì chữ Việt sau (chữ Việt biến thái) đã được cách điệu lại diễn cảnh người ôm vũ khí bại tẩu. Trên Kim văn có họa đồ chữ tẩu rất sinh động,hình đó diễn tả cảnh con người bỏ chạy khỏi vị trí của mình:

Posted Image Chữ Tẩu 走 trên Kim Văn (Chung Đỉnh văn).

Cũng có ý kiến nói rằng Việt là vượt, là siêu việt nhưng nghĩa này chỉ là nghĩa phát triển về sau chứ thâm ý của người cải biên chữ Việt theo dạng Tiểu Triện thì không phải như vậy.

Ngay thời cực thịnh của nước Việt,Câu Tiễn vượt Trường Giang vào Trung Nguyên xưng bá cũng chưa có chữ Việt có bộ tẩu,chữ Việt trên thanh kiếm của Câu Tiễn đã nói lên điều này.

(Bốn chữ sau là “Việt Vương tự tác” trích trên thanh “Việt Vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm”)

Posted Image

Thói đời không ai không nghĩ tốt về mình, về người thân, về dòng họ, về chủng tộc của mình, chữ Việt nguyên thủy là bài ca về sức mạnh,về quyền lực của chủng Việt nên ta có thể nói chữ đó phải do người của chủng Việt tạo ra, thêm nữa nhà Thương cũng là triều đại của chủng Việt chứ không

phải là chủng Hoa (xin xem bài Ghét đời Kiệt Trụ-cùng tác giả), chữ khối vuông xuất hiện vào đời nhà Thương thì sự kiện chứng càng mạnh hơn nữa.

Chỉ có đối phương mới mạt sát đối thủ của mình, việc sửa lưng chữ Việt làm biến dạng nó từ chữ “chỉ” xác định địa bàn sang chữ “tẩu” bỏ địa bàn chạy khỏi địa bàn thì chỉ có người Hoa mới làm thế sau khi đã chiến thắng người Việt, sáp nhập mọi tài sản của người Việt vào tài sản của mình.

Tần Thủy Hoàng sau khi tiêu diệt lục quốc thống nhất Trung Hoa đã ra lịnh chỉnh lý,thống nhất chữ viết, định dạng chữ viết chuẩn gọi là Tiểu triện đã hoàn toàn xóa bỏ khuôn mặt chữ viết của người Việt bằng cái áo khoát màu Hoa, nhưng đâu đó trong cách viết chữ Hán vẫn không ngơi bàng bạc hồn Việt.

Có thể xem chữ Việt này cũng có nghĩa tương đồng với chữ 漢Hán (chỉ dân tộc Trung Hoa) và chữ 汗 Hãn /Khan của Mông Cổ đều dùng để chỉ quyền lãnh đạo.

(Nguyễn Thiếu Dũng)

Thời của Việt vương Câu Tiễn, dân Lạc Việt ( Các nác 洛 Việt越 = “Lắm nác” Việt = “Lạc” Việt) ở đó vẫn nói tiếng Việt như người Việt Nam, hậu duệ đích tôn của Lạc Việt , ở đất Việt Nam bây giờ. Chữ nho của người Lạc Việt khi đó phải đọc như người Việt đọc thì mới hiểu được. Ví dụ cụ thể như câu mệnh lệnh huấn quân của Câu Tiễn mà người Hán ghi lại thời Xuân Thu, mà Nhạn Nam Phi cung cấp, người Hán theo biểu ý chữ mà luận đều không hiểu gì cả, đọc theo âm quan thoại càng không ra ý nghĩa gì:

-“維 甲” 修 “內 矛” : “Duy-giáp” tu nội mâu = “Xáp” tụ lại mau !

- 方 舟 航 治 “須 慮” : Phương xuồng hàng trị “tu-lự” = Phóng xuống hàng trật “tự” !

- 習 之 “于 夷”: Tập chi “ư-di” = Tập cho “giỏi” !

- 宿 之 “于 萊” : Súc chi “vu-lê” = Sống cho “vẻ” !

- 致 之 “于 單”: Chí chi “vu-đan” = Chết cho “vang” !

Những câu đó hoàn toàn theo ngữ pháp Việt. Thế giới Lạc Việt có hàng trăm nước , đều gọi là Việt cả, phân biệt nhau chỉ bằng biểu ý của chữ nho, mà vuông chữ nào cũng có mặt trời trong đó cả, vì dân Lạc Việt là dân thờ mặt trời trên trống đồng. Tất cả các chữ Việt của thế giới Bách Việt đó đều nằm trong nôi khái niệm Trời, theo QT: Trời=Ơi=Ư=Âu=U=Vu=Tu=Tươi=To=Rõ(nướcLỗ)=Rọi=Rực=Rỡ=Sở(nướcSở)=Soi=Sáng=Lãng=Lang=Mang=Mân=Minh=Đỉnh=Đông=Đường=

=Thường=Dương=Duôn=Diên=(nướcYên)=Dịch=Dạ=Hạ=Hẹ=Huê=Nghệ=Ngô(nướcNgô)=Ngời=Ngài=Ngôi=Ngoi=Chói(nước Tề)=Chín(nước Tấn)=Chiếu(nước Nam Chiếu)=Chỉu=Rìu=Rượt=Vượt=Viêm=Vic ( “Victory”)= Vid (“Vid” là tên tiếng Phạn của kinh “Vệ Đà” là bộ kinh “những điều hay của cuộc đời”, Vệ Đà= Việt Đời) =Việt=Nhiệt=Nhật.

Theo như nôi khái niệm này mà suy ra thì “Văn Lang” có nghĩa là “Vuông đất của dân thờ mặtTrời”= “Vuông Trời”= “Đất Trời”, nghĩa là vùng đất có văn hóa cao, “Đất Trời”= “Đất Trên”= “Đất Thiêng”= “Đất Thượng”, vì vậy mà có tên gọi “Việt Thường”. Đất=Vắt=Việt=Vịm, là dụng cụ gốm đầu tiên. Đất=Đá=Cà=Vá=Vẹt=Việt, là công cụ đá cuội mài đầu tiên là cái Vá để đào đất và cái Vẹt để chém cây phát ra tiếng kêu Rèn-Rẹt nên còn gọi là cái Rìu, tức cái rìu đá mới. Đó là những sản phẩm văn hóa Việt cách nay hàng chục vạn năm. Bởi vậy cái tên “Việt” mà tộc này tự gọi mình là có từ hàng chục vạn năm trước nữa, khi con người biết Chọi đá vào đá để cho nó Vọt (=Việt) lửa ra, mà họ gọi là Cháy=Chói=Lọi=Ly=Lả=Lửa, trở thành “đám người có lửa” gọi là Họ Lửa=(lướt)=Hỏa.(Do đó về sau Thần Lửa được sử viết là Hỏa Thần, còn Thần Cháy Nung thì sử lại viết là Chúc Dung Thần). Rồi người Việt mới Viết ký tự gạch kẻ lên cái Vịm bằng Đất Vắt cách nay hàng chục vạn năm, rồi hàng nghìn năm sau mới là ghi ký tự trên đồ đồng.

Chữ Việt bộ “tẩu” (Chạy=Nhảy=Nhanh-Nhẩu= “Tẩu”, đều là từ Việt hết) đọc theo kiểu Việt của thời Việt vương Câu Tiễn là : Chạy 走Rìu戈 =(lướt)=Chiêu=Chậu=Chúa=Chủ, cho nên nó mang nghĩa là “Tư tưởng dẫn đầu”, mà chữ Dẫn 足, là cái dò (Dò=To=Túc), ghép với chữ Đầu 首nghĩa là “Đầu dẫn Tao”=(lướt)=Đạo道, Đạo mới là cái dẫn chân người Ta đi mở đường văn hóa, vậy Đạo của Trang Tử tức Đạo Lão cũng là của người Lạc Việt. Chữ Đạo道 và chữ Việt 越đều có logic như nhau, một đằng là chân dẫn với cái đầu, một đằng là chân dẫn với cái rìu, đều là để đi mở mang lãnh thổ văn hóa. Chữ Việt bộ tẩu越này nghĩa là “Rượt theo mặt trời” của dân trống đồng, là “Vượt”, là nhảy Vọt, là “ưu việt” chứ không phải ý xấu như giải thích khác, nên chữ Việt 越bộ tẩu này rõ ràng là đã dùng trước thời Xuân Thu, và về sau dùng để chỉ tên đất vùng Triết Giang越. Còn chữ Việt khắc trên cây gươm của Việt Vương Câu Tiễn là chữ tên riêng nên đã thay bộ tẩu bằng bộ kim là Việt鉞. Nếu bình thường viết tên và chức thì người ta vẫn viết làViệt越Vương王Câu勾Tiễn践. Còn gươm là của riêng Vua dùng nên tên và chức vẫn phát âm như vậy, nhưng chữ thì phải là “tên riêng”, người xưa gọi là tên chữ, thường là do ông tiên chỉ làng viết cho khi khai sinh đặt tên. Ví dụ tên là Bình nhưng viết tên thì không phải chữ Bình thường dùng, mà tùy người đó mệnh gì thì đổi hay thêm vào bên trái chữ bộ thủy hay mộc hay kim…, nhiều khi thấy ba chữ họ và tên như Hồ Văn Tèn chẳng hạn, trong đó các bộ thủ tạo nên ba chữ này chưa có đủ “mầu” của ngũ hành thì người ta tự ý thêm vào bên trái chữ nào đó bộ thủ cần thiết cho đủ “mầu”ngũ hành, thành ra những chữ tên riêng thường chỉ đúng âm đọc, còn theo biểu ý thì vô lý, nhưng người có tên đó thích vậy hoặc nghe theo tư vấn như vậy thì cũng phải chịu thôi.( Ngày nay vẫn còn mê tín đó, cho nên giáo viên điểm danh học sinh, dù nghe thì hiểu, nhưng vẫn phải hỏi lại chữ họ tên học sinh đó viết như thế nào cho đúng). Cụm “Việt Vương Câu Tiễn” khắc trên gươm thì nó đã là cụm “tên riêng” nên người khắc đã phải đổi bộ thủ bên trái cho nó đủ mầu ngũ hành, vì vậy mà có chữ Việt bộ kim 鉞 trên gươm, chứ không phải là chữ này có trước chữ Việt 越bộ thủ công dụng. Có người tên “ Việt” còn viết thay bằng bộ thủy vì ông ta thích tên riêng mình phải là chữ như thế, với lý do tôi thích tôi là Việt 泧 nước tức nước Việt vì tính tôi nhu như nước.

Cứ theo QT mà dẫn thì mỗi nôi khái niệm của Việt ngữ có từ chục đến vài chục từ đơn âm tiết không đồng âm, mà trong đó Hán ngữ chỉ mượn có một âm và tất cả các chữ nho, do vậy Hán ngữ có từ đồng âm dị nghĩa quá nhiều, có muốn latin hóa để ký âm cũng chịu.

Ví dụ thời Việt Vương Câu Tiễn, dân Việt vốn là dân biển, dân sông nước, nói xuôi trong cấu trúc ngôn từ, vì luôn “xuôi chèo mát mái” tức chèo xuôi và có gió thổi mát cánh buồm, giỏi buôn bán trên bến dưới thuyền, nên có các từ của sôi động giao dịch là: Tới Lằn=(lướt)=Tấn 濒, nghĩa là sát mép nước; Tiếp Bạn=(lướt)=Tân 宾 =Khẩn-Khoản=Khách, nên còn có từ “tiếp tân” hay “tiếpkhách”; Bờ Lên =(lướt) =Bến=Bân= Tân; Bận Rộn= (lướt)= =Bộn=Tốn=Tân 缤; Bẽn=Bân 彬 ( ý nói người trong Rừng 林sâu ra giao dịch thường bẽn lẽn, từ tốn, chậm chạp nhưng có lòng tốt, nên từ ấy còn có nghĩa là lịch sự ,nho nhã, và có chuyện Rét nàng Bân đan áo cho chồng); Phô Vân=(lướt)=Phân 玢 (là loại đá ngọc đem ra trao đổi). Vậy mà tất cả các chữ nho ấy người Hán mượn, chỉ phát có một âm không chuẩn là “bin”. Còn đặt tên con thì người Việt mong muốn cái tố chất của nó tức cái Bổn của con phải có cả Vũ 武cả Văn文 , nên “Bổn Vũ Văn”=(lướt)=Bân斌, và chữ Bân này chỉ viết bằng ghép hai chữ Vũ 武và Văn文 thành Bân 斌, nó chẳng có nghĩa gì cả, chỉ nhìn chữ mới biết ý mà thôi, nhưng nó chính là thằng Bờm=Bân. Thằng Bờm chỉ có cái Quạt Mo tức cái Mo Quạt=Mỏ Qúi. Nó chỉ muốn đổi cục xôi tức cái Nền Nếp mà thôi, mà Mỏ Qúi với Nền Nếp đều là của nội địa Văn Lang cả. Cỗ cúng nào của người Việt chẳng có cái Thủ Lợn đặt trên mâm xôi , ý là Thủ Lĩnh phải trên cái Nền Nếp thì mới Lãnh Đạo được.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Vệ Đà phát xuất từ chữ Vid - là chữ Biết mang tính toàn bích.

Vid tương đương chữ Việt, Vệ Đà tức Việt Đời mà bác Lãn Miên dịch có vẻ hợp lý.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Mong mọi người hãy kiên trì nghe chia sẻ của cậu bé Nhật Nam (nói về ngôn ngữ tiếng Việt)

Clip 'Thần đồng Việt' phát biểu gây sốc

Clip phỏng vấn cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam đã gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng mạng suốt những ngày qua.

Mấy ngày hôm nay, cư dân mạng đã đồng loạt chia sẻ một clip khiến nhiều người kinh ngạc về cậu bé Đỗ Nhật Nam.

Nhật Nam không còn là gương mặt xa lạ đối với nhiều khán giả truyền hình Việt. Cậu bé từng là MC cho chương trình Chúc bé ngủ ngon (VTV3), Quả chuông nhỏ, Trò chuyện cùng bé (VTV2), là MC, “ca sĩ nhí”, “giáo viên” dạy tiếng Anh cho các bạn nhỏ đang điều trị tại khoa ung bướu Bệnh viện Nhi Trung ương.

Năm 7 tuổi, Đỗ Nhật Nam là dịch giả nhí nhỏ tuổi nhất có sách xuất bản. Mới đây nhất, vào những ngày cuối tháng 3, khi mới 11 tuổi, Đỗ Nhật Nam giành thêm một kỷ lục mới “Người viết tự truyện nhỏ nhất Việt Nam”.

Ở độ tuổi còn bé, thế nhưng khả năng tiếng Anh của Nhật Nam khiến nhiều người nể phục. Năm 7 tuổi, chỉ trong một thời gian cực ngắn, Nhật Nam hoàn thành xong hai chứng chỉ Starters, Movers của ĐH Cambridge với số điểm tuyệt đối. Cậu bé còn có điểm số thi TOEIC 940/990, IELTS 6.5/9.0.

Chỉ hơn 10 phút trong clip, người xem đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một phần là vì kiến thức quá rộng lớn của em, tuy nhiên, điều mọi người đưa ra bàn luận nhiều hơn cả chính là cách nói chuyện của em không hề giống với một cậu bé 11 tuổi. Nhìn và nghe Nhật Nam nói chuyện, khá nhiều người không đồng tình với thái độ trò chuyện của em.

Theo góc nhìn của một số độc giả, đó là thái độ được miêu tả là "quá tự tin vào bản thân mình, và có phần hơi... chảnh". Cậu bé trò chuyện với người lớn nhưng lại không ngồi ngay ngắn và nhìn thẳng vào mắt người đối diện khi giao tiếp.

Xuân Quý (Theo Trí Thức Trẻ)

Vì không copy được video, mọi người hãy xem theo đường link sau đây:

http://vietnamnet.vn...eu-gay-soc.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kính nhờ bác Lanmien dịch giúp nội dung ghi trên 4 quân bài tổ tôm ở bức tranh dưới đây.

 

1 quân trong bình ở giữa, 2 quân do 2 người đứa bé giơ lên, 1 quân trên tay người chơi nữ ở cửa Đinh.

 

nddg059b.gif

 

Trân trọng cảm ơn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Mong mọi người hãy kiên trì nghe chia sẻ của cậu bé Nhật Nam (nói về ngôn ngữ tiếng Việt)

Clip 'Thần đồng Việt' phát biểu gây sốc

Clip phỏng vấn cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam đã gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng mạng suốt những ngày qua.

Mấy ngày hôm nay, cư dân mạng đã đồng loạt chia sẻ một clip khiến nhiều người kinh ngạc về cậu bé Đỗ Nhật Nam.

Nhật Nam không còn là gương mặt xa lạ đối với nhiều khán giả truyền hình Việt. Cậu bé từng là MC cho chương trình Chúc bé ngủ ngon (VTV3), Quả chuông nhỏ, Trò chuyện cùng bé (VTV2), là MC, “ca sĩ nhí”, “giáo viên” dạy tiếng Anh cho các bạn nhỏ đang điều trị tại khoa ung bướu Bệnh viện Nhi Trung ương.

Năm 7 tuổi, Đỗ Nhật Nam là dịch giả nhí nhỏ tuổi nhất có sách xuất bản. Mới đây nhất, vào những ngày cuối tháng 3, khi mới 11 tuổi, Đỗ Nhật Nam giành thêm một kỷ lục mới “Người viết tự truyện nhỏ nhất Việt Nam”.

Ở độ tuổi còn bé, thế nhưng khả năng tiếng Anh của Nhật Nam khiến nhiều người nể phục. Năm 7 tuổi, chỉ trong một thời gian cực ngắn, Nhật Nam hoàn thành xong hai chứng chỉ Starters, Movers của ĐH Cambridge với số điểm tuyệt đối. Cậu bé còn có điểm số thi TOEIC 940/990, IELTS 6.5/9.0.

Chỉ hơn 10 phút trong clip, người xem đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một phần là vì kiến thức quá rộng lớn của em, tuy nhiên, điều mọi người đưa ra bàn luận nhiều hơn cả chính là cách nói chuyện của em không hề giống với một cậu bé 11 tuổi. Nhìn và nghe Nhật Nam nói chuyện, khá nhiều người không đồng tình với thái độ trò chuyện của em.

Theo góc nhìn của một số độc giả, đó là thái độ được miêu tả là "quá tự tin vào bản thân mình, và có phần hơi... chảnh". Cậu bé trò chuyện với người lớn nhưng lại không ngồi ngay ngắn và nhìn thẳng vào mắt người đối diện khi giao tiếp.

Xuân Quý (Theo Trí Thức Trẻ)

Vì không copy được video, mọi người hãy xem theo đường link sau đây:

http://vietnamnet.vn...eu-gay-soc.html

 

Theo góc nhìn của một số độc giả, đó là thái độ được miêu tả là "quá tự tin vào bản thân mình, và có phần hơi... chảnh". Cậu bé trò chuyện với người lớn nhưng lại không ngồi ngay ngắn và nhìn thẳng vào mắt người đối diện khi giao tiếp.

 

Còn cái nhìn của tôi thì chú bé này đúng là một thiên tài. Chú rất chân thành và chẳng có gì gọi là chảnh cả. So với nhiều giáo sư khi bàn về ngôn ngữ Việt - mà chú bé này đã mô tả - thì chú này có tầm nhìn cao cấp hơn hẳn.

Cảm ơn chú bé vì đồng quan điểm với tôi:

"Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong toàn bộ các hệ thống ngôn ngữ của nhân loại". Đây là phát biểu của tôi.

 

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

 

Ruột Thịt

 

Ruột và Thịt là hai từ cụ thể, chỉ cái vật cụ thể. Cụ thể gần thì Ruột chỉ cái bộ lòng của động vật, gồm có Ruột non và Ruột già, trong hai từ ghép này thì Ruột là “đề”, non và già là “thuyết” bổ nghĩa cụ thể thêm cho cái “đề” đó. Cụ thể xa thì Ruột dùng chỉ chung cho bất cứ cái gì là cái ở bên trong, tức cái Âm. Như QT Tơi-Rỡi tạo từ là dẫn biến âm: Ruột = Rọt = Lót = Lõi = Lí = Lõi Trong thiết Lòng, tiếp tục, Lòng = Tỏng = Tỏng Âm thiết Tâm, tiếp tục, Tâm = Tấm = Tim. Biết Tỏng đã chuyển nghĩa thành từ trừu tượng, chỉ cái nghĩa là biết hết trong bụng người khác đang nghĩ gì. Theo QT Lướt (tức thiết) thì lướt từ đôi “Lõi Trong” = Lòng, nên Lòng là chỉ toàn bộ cái cụ thể bên trong của cơ thể động vật, gọi là Bộ Lòng, Đông Y chi tiết hóa nó thành Lục Phủ + Ngũ Tạng. Cũng là lướt “Toàn bộ bên Trong” = Tỏng, hay lướt lủn “Toàn trong Cả” = Tỏng. Cơ thể có bộ lòng là cái lõi trong, rồi đến ngoài cái lõi trong ấy là Thịt tức cơ bắp, rồi đến ngoài cùng là cái  Vỏ =Dó = Da = Giáp = Giác = Xác . Từ dân gian Thịt là từ cụ thể chỉ cơ bắp, nhưng từ hàn lâm thì nhấn “Thịt Chi!” = Thỉ, thành chữ Nho là bộ thủ Thỉ 豕,Thỉ là một bộ thủ dùng để ghép thành các chữ chỉ con vật, như lợn là chữ Chư, voi là chữ Tượng; cũng còn ghép tạo nên chữ Gia chỉ cái quan hệ sự sống dưới vòm trời: “Mái Hiên” = Miên (bộ thủ Miên) và Thỉ (bộ thủ Thỉ). Thịt chuyển nghĩa thành động từ Thịt có nghĩa là giết chết để ăn thịt, nên con mồi săn được gọi là Con Thịt, và giết nhau hay hại nhau gọi là Thịt Nhau. Do vị trí cụ thể trong cơ thể thì Ruột ở trong (là Âm), Thịt ở ngoài (là Dương), nên từ ghép Ruột Thịt là ghép theo cấu trúc Âm Dương (Hán ngữ gọi là Yin Yang) mà không thể đảo ngược ghép sai qui tắc là “Thịt Ruột” được vì như vậy nó sẽ thành một từ ngố. Từ ghép Ruột Thịt đã chuyển nghĩa thành một từ trừu tượng và chỉ sử dụng như ý trừu tượng là chỉ sự gắn bó keo sơn gần gũi của những cá thể cùng chung một mái nhà, hay một quốc gia, hay cùng dưới một bầu trời. Lướt thì “Ruột Thịt” = Rịt = Sít = Siết = Xiết. Rịt là đắp điếm băng bó cho khỏi máu chảy, hay như  là “lá lành đùm lá rách”. Xiết là Buộc Chặt. tức Thít Chặt. Còn lướt “Thịt Ruột” = Thuột = Thuộc = Thắt = Chặt. Quan hệ Thắt Chặt hay quan hệ Thân Thuộc là đồng nghĩa. Nói lái như phát âm Nam Bộ thì Ruộc Thịt là Rịt Thuộc, Rịt nghĩa là gần gũi thân quen, như nhiều cây chung rừng thành ra Rậm Rịt 林森; Thuộc cũng nghĩa là gần gũi thân quen như nhiều người chung một cộng đồng thành ra Thân Thuộc 親屬. Nên không có chuyện là người ta lại muốn thịt nhau.

 

Dưới đây là hai đoạn trích ý trong văn học dân gian ở cuốn “Tích thời hiền văn 昔 時 賢 文” (Văn hay thời xưa), LM chuyển thể câu viết:

 

                  1
 

Lòng tốt mệnh lại tốt thêm

Vinh hoa phát đạt sớm hơn người đời     

Lòng tốt mà mệnh lại tồi

Có được bất quá một đời bụng no

Mệnh tốt mà lòng xấu xa

Chặng trước e sợ khó đa giữ tròn

Tâm mệnh đều chẳng song toàn

Một kiếp nghèo khổ đến toan về già

Nếu làm ơn nghĩa rải dày

Người dưng khắp chốn chóng chày gặp nhau

Chớ gieo oán nặng thù sâu

Đường nguy chỗ hiểm biết đâu mà nhờ

 

心好而命好多

Tâm hảo nhi mệnh hảo đa

就會早點榮華發財

Tựu hội tảo điểm vinh hoa phát tài

心好而命又虧

Tâm hảo nhi mệnh hựu khuy

得的不過一生飽腸

Đắc đích bất quá nhất sinh bão trường

命好而心

Mệnh hảo nhi tâm xú sai

前程恐怕難多保全

Tiền đồ khủng phạ nan đa bảo toàn

心命都不雙全

Tâm mệnh đô bất song toàn

一生窮苦到長老

Nhất sinh cùng khổ đáo trường lão chi

如果思義廣施

Như quả ân nghĩa quảng thi

生人處處都歸相逢

Sinh nhân sở sở đô qui tương phùng

常常莫結怨仇

Thường thường mạc kết oán thù

路逢險處難於避迴

Lộ phùng hiểm sở nan vu tị hồi

 

                      2

 

 Nghe Trời bặt chẳng âm thanh

Tìm Trời biết ở thâm xanh xứ nào

Trời  đâu có phải xa cao

Trời là chính ở chỗ vào lòng ta

Người niệm ,Trời Đất biết mà

Nếu không quả báo tại là Trời im

Nhân gian mọi tiếng thì thầm

Như sấm vang mạnh Trời lầm được chăng

Việc mờ ám chốn nhân gian

Mắt thần như chớp Trời làm lộ ngay

Người mà sai phạm đong đầy

Trời liền lập tức thành ngay quan tòa

Làm sai hại rõ rành là

Người ta chưa diệt, Trời đà diệt ngay

Lừa người ắt tự chối bay

Lừa lòng mình ắt lừa ngay đất Trời

Người tốt Trời chẳng phụ người

Lòng người thiện ác có Trời phân minh

 

聽天寂無聲音

Thính Thiên tịch vô thanh âm

尋天何處蒼深無窮

Tầm Thiên hà xứ thương thâm vô cùng

非高非遠的天

Phi cao phi viễn đích Thiên

天都正是在連人心

Thiên đô chính thị tại liền nhân tâm

人念天地必知

Nhân niệm Thiên Địa tất tri

若無果報天是有私

Nhược vô quả báo Thiên thì hữu tư

人間所有私言

Nhân gian sở hữu tư ngôn

如雷猛響天聞細詳

Như lôi mãnh hưởng Thiên văn tế tường

人間暗室虧心

Nhân gian ám thất khuy tâm

神目如電天尋陳鋪

Thần mục như điện Thiên tầm trần phô

人若惡錯滿行

Nhân nhược ác thác mãn hành

天必立即變成法官

Thiên tất lập tức biến thành pháp quan

作不善者顯明

Tác bất thiện giả hiển minh

人群不害誅行由天

Nhân quần bất hại chu hành do Thiên

欺人必自欺心

Khi nhân tất tự khi tâm

其心欺必坤乾也欺

Kỳ tâm khi tất Khôn Càn dã khi

天不負道心人

Thiên bất phụ đạo tâm nhân

人心善惡天分明詳

Nhân tâm thiện ác Thiên phân minh tường

 

 

Bốn chữ ÂN TỨ NINH GIA này thấy có treo trong  nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An

                         ÂN TỨ NINH GIA

                             恩賜寧家 

 Dịch nghĩa:  Sống chung giữ vững nếp nhà  

 

                   Ban ơn nhau trước, sau là biết ơn.

 

Chú thích: Trong một căn nhà thì các bộ phận đều là ban ơn cho nhau và biết ơn nhau nên cái khung nhà giữ được yên ổn, chắc chắn. Trong một gia đình (hay làng, nước) mỗi thành viên đều ban ơn cho nhau và biết ơn nhau thì gia đình (hay làng xóm, quốc gia) sẽ vững bền.

Giảng nghĩa:

 Sống thuận thiên theo Qui Luật Vũ Trụ (chữ ÂN ). Ân tức Ân Trạch恩澤 (Ơn Trời), Trời thì luôn luôn Trong và Sạch, lướt “Trong Sạch” = Trạch , Trong là trong suốt không ô nhiễm như Nước ( ), Sạch là sạch không ô nhiễm như Nắng ( Nắng biểu ý bằng từ Tạnh, do lướt xuôi “Tư Hạnh” = Tạnh. Nắng là cái Năng lượng vô hình biểu ý bằng từ Hư, do lướt ngược “Hạnh”= Hư, tức hư không đồng nghĩa vô hình. Tất cả những ý tứ là thông tin này đều được nén trong chữ vuông Trạch, là một trong những “vuông Chứa Nho nhỏ” = “vuông Chữ Nho nhỏ” mà gọi Vo cho rụng đầu (“vuông”) và rụng đuôi (“nhỏ”) còn cái lõi giữa là (“Chữ Nho”) nên chữ vuông còn gọi là chữ nho. Vũ Trụ ban cho (chữ TỨ) sự an lành (chữ NINH) đến mọi Nước và mọi Người (chữ GIA).

 Chú giải:

 Nghĩa đen của câu Ân Tứ Ninh Gia là: sự ban ơn và biết ơn (chữ Ân) của các bộ phận cột, kèo, rui, mè, dứng, vách giằng néo cho nhau (chữ Tứ ) làm nên sự vững chãi (chữ Ninh) của cái nhà (chữ Gia). Ngụ ý là những người trong một nhà hay một quốc gia cũng phải như vậy, ban ơn và biết ơn với nhau. Rộng ra thì là ân trạch của Vũ Trụ cho sự sống, sống là phải biết ơn Vũ Trụ. Vũ Trụ là cái NÔI lớn của sự sống, là cái ổ (chữ Ô) gồm tố âm (chữ N, tức Negative) và tố dương (chữ I, tức Innegative), là cái Chứa Nhiều = Chữ Nhiều = Trữ Nhiều lắm = TựNhan nhản = Tự Nhiên [ Hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơme: Muôi (1) –Tê (2) – Bây (3) – Buôn (4) – Prăm (5), đến 5 là nhiều nhất, rồi quay vòng lại Prăm Muôi (6). Do vậy mà Prăm = Năm (tiếng Việt) = Lắm (tiếng Việt) = Rắm (tiếng Việt: rối rắm nghĩa là rối nhiều), Rắm = Rán (tiếng Hoa) = Nhan nhản = =Nhiên = Nhiêu = Nhiều (tiếng Việt)]. Sống theo Tự Nhiên là cái Đạo, tức cái “ Đi  + Đầu = Đạo (lướt “Đi Đầu” = Đạo) của loài người. Sống theo Tự Nhiên, chết trả về với Tự Nhiên gọi là Tiên (Tự Nhiên thiết Tiên, tức lướt “TựNhiên ” = Tiên). Hán ngữ dùng chữ Tự Nhiên đọc là Zi Ran , dùng chữ Tiên đọc là Xian . Nhưng Zi Ran thiết Zan, trật, không thành Xian. Tiên là mục đích của Đạo, mục đích của Cụ Lâu = Cụ Lão = Tử Lão   à Lão Tử (chánh quả đắc Đạo thành Tiên). Không ai biết Cụ Lâu sống thời nào, <Đạo đức Kinh> của cụ là do người đời sau chép lại, chỉ biết rằng Đạo giáo có trước Phật giáo. < Đạo đức Kinh > nôm na là: Đi bằng Đầu (chữ Đạo ) Đầy ắp (chữ Đức) của Con người (chữ Kinh , gồm Đầu + Mình + Túc , “Túc Nhiều” = Tiểu), tức hành động bằng cái đầu có tư duy bao la của con người, cái mà thời nay gọi là “kinh tế tri thức”. Cổ đại chữ Dịch Kinh 易京hay Đạo Đức Kinh道德京đều viết bằng chữ Kinh này (nguồn: theo đọc trên mạng của TQ, “Dịch Kinh易京” phải hiểu theo cú pháp Việt đề trước thuyết sau là “thuyết Biến đổi (Dịch) của tác giả là loài Người (Kinh ). Chữ Đức có nghĩa là đầy ắp và lan tỏa như giọt nước (ám chỉ cái đồ hình âm dương), như một giọt nước mưa rớt xuống đất nó cũng lan tỏa đi ngay ti tỉ phương, Nước = Nác = Đác = Đức, “Đầy Ức” = Đức, chữ Ức nghĩa là đầy hương thơm của rượu (thơm nức, mùi sực nức), thơm như thế nên chủ một nước cũng gọi là Đức (như Đức Ngài), chủ một giáo lý cũng gọi là Đức (như Đức Phật) dù không “Xức” nước hoa Sài Gòn (xoa đầy thơm tức lướt “Xoa đầy Ức ” = Xức). Biểu ý của chữ Đức một mình nó (chữ Nhất ) tâm nguyện (chữ Tâm ) đi (chữ Hành) mười phương (chữ Thập ) bốn biển (chữ Tứ ) nghĩa là tự nó lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” như Phật giáo lan tỏa. Lâu về phía quá khứ thì càng xưa càng lâu hơn, “Lâu Hơn” = Luôn. Lâu về phía tương lai thì càng tới lâu càng muộn, “Lâu Muộn” = Luôn. Còn Đạo thì Luôn Luôn tồn tại ở cả ba thì quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhưng hiện tại chỉ như một khoảnh khắc của lịch sử cho nên chỉ có tồn tại (vấn đề tồn tại) mà không cần chữ Luôn (khác với vấn đề Luôn Luôn tồn tại, là vấn đề đó kéo dài sự tồn tại suốt cả ba thì). Ví dụ nói: Hiện nay tôi Thường đi bộ và cả đời tôi là Luôn Luôn đi bộ. Đạo  là cái lý luận luôn luôn tồn tại. Chả thế mà đến tận bây giờ thế giới vẫn phải lo “đối phó với biến đổi khí hậu” là cái hậu quả do loài người gây ra, mà trách nhiệm đầu tiên là ở người Lãnh Đạo. Lãnh là “Lấy sạch sành Sanh” = Lãnh, như Lãnh lương vậy, là không bỏ sót một đồng nào, sau đó mới chi gì thì chi. Hán ngữ dùng chữ Lão Lão chỉ ý Luôn Luôn, nhưng chỉ có ý nghĩa cho quá khứ: Ngã lão thuyết 我老說 (tôi đã luôn nói ), Ngã thuyết trước 我說著 (tôi đang nói), Ngã tương thuyết 我將說 (tôi sẽ nói).

 Chữ Ninh nghĩa là an lành. An lành như Con nằm trong Nôi. “Nôi của Mình” = Ninh , đọc từ trên xuống là: Mái ( ) Ấm ( ) Đựng () Người (). Rõ ràng là người Việt đã đặt ra cái chữ Nho gọi là Ninh này, gồm đủ các bộ phận như kê trên, cả tiếng lẫn biểu ý. Cái gọi là “Lục thư tá âm” chỉ là cách gọi về sau nhà Tần thừa kế chữ Nho. Tần Thủy Hoàng phải “đốt sách, chôn nhà nho” để bắt gọi chữ Nho là Hán tự một cách triệt để. “Nôi của Con” = (lướt) “Nôi của Kinh” = Ninh. Đó là cái tiếng được tạo nên đọc là “Ninh”. Con người là Kinh , đẻ ra con người tức lướt “Đẻ ra Kinh= Đinh , nên từ Đinh chỉ con người, không phân biệt giới tính. Mỗi con người muốn an lành thì phải có được một Mái (chữ Miên) Ấm (chữ Tâm ; Tâm thuộc Tá = Lả = Hỏa , trong khi Thận thuộc Nậm = Thâm = Thủy , theo đông y). Mái ấm ấy là cái “Ổ Đựng” = Ứng (đáp ứng nhu cầu) Ứng = Hứng = = Nưng = “Nưng Tôi” = Nôi của con người, là cái “Nôi Hứng” = Nưng, để “Nưng cái nhỏ Xíu” = Niu, nên Nôi là cái để Nưng Niu con người. Cái ổ đựng gọi là Nôi ấy hình dáng như cái Máng = Mủng = =Minh (chúa Giê Su sinh ra trong máng cỏ). Chữ Ninh là chữ nho Việt, hội ý của nó là: Mái Ấm Đựng Người (về nghĩa) và là “Nôi đựng Kinh” = Ninh (về thanh). Cái yên lành như nằm trong nôi gọi là “ninh”.

 Chữ Ân có gốc ở từ Ăn. Ăn = Ơn = Ân. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ăn là ban ơn cho cái dạ dày đang réo kêu đói, nhưng Ăn lại là mang ơn cái thực phẩm và người làm ra nó. Nhớ ghi là làm thành vết Hằn, Hằn = Ăn = Ấn = In = Kín = Khin khít = Khin = Khảm vào trong tâm, gọi là Tâm Khảm hay “Tâm In” = Tin. Nhớ cái gì là do Tin vào cái ấy. Biết ơn như cái dấu Ấn ở trong lòng. Người có Nhân Tâm thì mới biết ơn, nên chữ Ân viết biểu ý là Nhân + Tâm. Nhân là người, là Nhân Đạo人道; Nhân là Nhân Nghĩa 仁義; Nhân cũng là Nguyên Nhân, là cái Lõi = Lý. Nhân các loại hột có loại nhân ăn được, có loại nhân ăn độc chết người, bới vậy phải biết phân biệt cái nguyên nhân . Bởi vậy chữ Ân = =Nhân + Tâm  khuyên người ta phải tỉnh táo để mà nhận cái ban ơn là vô tư hay là dụ dỗ “củ cà rốt”, kẻo mang ơn mắc lỡm cảnh “theo voi hít bã mía”. Đương nhiên nếu ăn phải cái nhân độc mà chưa kịp chết thì cũng biết ơn cái được rút kinh nghiệm “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Nhớ = Nhiễm (nhiễm hơi là nhớ hơi, nhiễm mùi là nhớ mùi). Nhớ = Nhiễm = Niệm . Nhưng “Niệm cái cú ngộ độc do Ăn” = Năn, nên mới phải Ăn Năn, Hối Hận với sai lầm đã mắc phải.

 Chữ Tứlà “Ta cho người Chứ!” = Tứ , chữ Tứ có bộ thủ “Báu của Tôi” = Bối , cho người thì cho cái báu. Vì Bối là của quí nên chữ Bối (hình tượng nó là cái Bòi, nói lướt “Bòi Tôi” = Bối) được chuyển chú thành từ chỉ chung các loài nhuyễn thể, là thức ăn có chất đạm chủ yếu quí nhất của người nguyên thủy, nên mới gọi là “Báu của Tôi” = Bối , thành chữ Nho là Bảo Bối 寶貝. (Của quí nhất là cái dương thực khí để gieo giống, nên nói lướt “Bòi Tau” = Báu, “Bòi Tao” = Bảo). Vỏ Bối vứt quanh đống lửa , bị nung nóng , dội nước cho nguội ai ngờ nó nhuyễn ra thành “Vữa của Bối” = Vôi, sau biết dùng vỏ bối hoặc dùng đá nung vôi, rồi mới biết ăn trầu. Chữ Tứ là động từ người cho (lướt nhấn “Ta cho người Chứ!” = =Tứ), đó là cho ngang hàng. Còn trời cho thì là cho từ trên xuống, tức trời buông rót xuống mà người không biết. Buông Rót viết bằng chữ “Phóng Chú ” = Phú (trời cho thì trời cũng nói là cho cái “Báu của Tôi” = Bối, nên chữ Phú cũng có bộ Bối, cái cho của Trời là cái Trời bỏ vội, diễn ra rất nhanh trong khoảnh khắc, ví dụ sực nảy ra sáng kiến gì, đó là do Trời phú, nên chữ Phúđã biểu ý đúng là: “Bối ”= Bỏ và “Võ Bối” = Vội), mới có từ  gọi là Trời Phú, trời phú cho anh ta cái trí thông minh, trời phú cho chị ta cái sắc đẹp. Quan tự coi mình quyền thế như trời nên quan cũng chiếm dụng động từ Phúvề mình. Như tù cải tạo Hoàn Lương được tha thì quan ngục tuyên: “Phú cho con mẹ Hàng Lươn. Được tha ra khỏi án đường khổ sai!”.

Chữ Gia không đồng nghĩa với từ Nhà. Nhà chỉ là cái vỏ đựng người, chỉ vật thể kiến trúc. Cái âm chính của Nhà là “A” có trong các từ chỉ nhà của nhiều ngôn ngữ, vì phát âm mở của “A” nó nói lên sự thoải mái, tự do khi mình ở nhà mình, A = An, “An cư lạc nghiệp”, “Ta về ta tắm ao ta”, “Ao Ta” = A. A = Ao = Áng = Ang, đều là tên những cái đựng, Áng viết bằng chữ Đàng. Nhà tiếng Indonexia là Tangga, tức  Đàng Gia堂家hay Gia Đàng家堂của tiếng Việt. Nhà tiếng Hán gọi “Jia” là do dùng chữ Gia của Việt nho, tiếng Pháp là Ga (nhà ga), tiếng Nga cũng bắt đầu là âm tiết Ga -, kể cả từ Nhà Nước là Gaxudarstvo. Từ Nhà và từ Gia của tiếng Việt nếu đồng nghĩa như Từ Điển Tiếng Việt và Từ Điển Hán Việt giải thích thì viết Nhà Nước = = Gia Quốc = Nhà Quốc = Gia Nước chắc là không sai ngữ pháp (?). từ Nhà chỉ giúp hình dung được cái vỏ, bởi gốc của từ Nhà chính là từ Vỏ như logic mềm hóa phát âm: Vỏ (như vỏ con ốc, nên chữ Ốc để chỉ cái nhà, tiếng Việt Đông cũng đọc là “ốc”), Vỏ = Giỏ (giỏ đựng trái cây) = =Da (bộ da đựng cơ thể) = Nhà, phát âm của giọng Hà Nội là mềm mại chải chuốt nhất (“Nghe em giọng Bắc êm êm. Bà con hàng xóm đến xem chật Nhà. Răng chưa sang nhởi Nhà choa? Bà o đã nhốt con ga trong truồng” – thơ Nguyễn Bùi Vợi), vì Nhà là cái Vỏ nên “Nhà Nước”  thành ra Vỏ đựng Nước, “Vỏ Chứa” = Vựa, vựa đựng nước để bán . từ Gia mới giúp hình dung được cái quan hệ liên kết, vì nguồn gốc của Gia là từ Giằng, mà “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp Nhà là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Nhà. Gia Đàng là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Đàng (Tangga). Nhưng Gia Đình là nói Mối quan hệ của nhiều người ruột thịt. Vì “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” mà người ta đã hắt hủi tiếng Việt hàn lâm ví dụ từ Quốc Gia ra khỏi tiếng Việt để thay bằng từ Nhà Nước, nửa thế kỷ rồi, bây giờ lại quay lại có Đại học “Quốc Gia” Hà Nội (?). Gia là chỉ quan hệ của những người ruột thịt cùng sống chung dưới một mái Nhà, như chữ Gia biểu ý: Mái nhà (bộ thủ Miên) + Thịt = lướt nhấn “Thịt Chi !” = Thỉ (bộ thủ Thỉ), bộ Miên () đại diện cho toàn bộ cấu trúc vỏ, bộ Thỉ () đại diện cho sự sống trong cái vỏ đó, đó là dương âm, cứng mềm tạo nên cái “quan hệ tương tác giữa cứng với nhau, giữa mềm với nhau và giữa cứng với mềm”, gọi là Gia. Quan hệ ấy là sự Giằng níu chặt chẽ giữa các bộ phận cấu trúc cái nhà với nhau, giữa những người sống trong ngôi nhà với nhau và giữa người và vật dụng với nhau, Giằng = Giường = Trường, là một môi trường sinh thái, nên từ Giằng biểu thị quan hệ chặt chẽ ấy mới nhấn là “Giằng Ạ!” = Gia. Dùng từ Quốc Gia thì hình dung được xã hội, chế độ (tức các mối quan hệ trong một nước), còn dùng từ Nhà Nước thì không hình dung được quan hệ liên kết ở trong cái “Nhà” của “Nước” ấy. Nhân tiện, giải thích thêm: chữ Quốc không đồng nghĩa với từ Nước. Chữ Quốc chỉ vùng Đất (vuông ) trong đó có các vùng nhỏ (  ), con người (kẻ ) và công cụ (qua ), như Thái Quốc 泰國 là Thái Land. Tiếng Việt gọi Đất Nước VN, tức gồm Đất liền và Biển Đông ( lãnh Thổ và lãnh Hải). Chữ Hải mới chuyển chú thay cho từ Nước, đồng bào Hải nội là đồng bào ở trong Nước, đồng bào Hải ngoại là đồng bảo ở Nước ngoài. Biển Đông chữ nho viết là La Hải (biển của tộc Đại La. La = Lả = Lửa, tức của Viêm Bang, La = phương Quẻ Ly tượng Lửa của Dịch học), Biển Đông còn viết là Nam Hải (biển của người Nam, người Nam là người Canh (tức người Kinh), ở đầu Lạnh của cái “Kim chỉ Nam” của cái La – Canh (cái la bàn chỉ hướng). Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm (tiếng Lào) = Nậm (tiếng Tày) = Nước = North = Nam (tiếng Thái Lan) = Khảm = phương Quẻ Khảm tượng Nước của Dịch học).

Giằng níu nở ra các từ dính Dập-Dìu (quan hệ sôi động), Dắc-Díu (quan hệ lớn bé, già trẻ), Dan-Díu (quan hệ tình dục), Dan = Gian = Dâm. Cái quan hệ là Giằng = Gia ấy nhiều tầng nhiều lớp (tam đại , tứ đại đồng đường), gọi là “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp là quan hệ ruột thịt người với người trong một cái Nhà, gọi là Dớp Nhà. Quan hệ tức là hoàn cảnh, Dớp Nhà còn gọi là hoàn cảnh Nhà. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, Gia là cái quan hệ, Hán ngữ gọi là Gia Cảnh. Gia là các mối quan hệ ruột thịt, nếu là của nhiều người tức nhiều Đinh, mà nhiều Đinh là “Đinh Nhiều” = 0 + 1 = 1 = Đình (lướt lấy dấu) hay lướt từ lặp “Đinh Đinh” = 0 + 0 = 1 = =Đình, thì gọi là Gia Đình. (không phải theo chữ Gia là cái nhà, Đình là cái đình, Gia Đình là cái nhà và cái đình ? ) Gia Đình là mối quan hệ nhiều người ruột thịt. Xây dựng gia đình là xây dựng quan hệ nhiều người nối ruột, không phải là xây dựng cái nhà và cái đình. Lướt “Gia Đình” = Dinh, Dinh là mối quan hệ nhiều người thân, nếu thêm cho nó cái vỏ kiến trúc tương đương cái nhà thì phải gọi là Dinh Cơ, Dinh Cư, Dinh Thự, Dinh Lũy. Lí ngựa ô:  “Anh đưa nàng về Dinh” nghĩa là anh đưa nàng về với các mối quan hệ phía bên anh, dù cái Nhà, cái Cơ, cái Thự của anh có là túp lều cũng vẫn sướng. Truyện Kiều: “Dớp Nhà nhờ lượng người thương daám nài” nghĩa là Các mối quan hệ rắc rối éo le (hoàn cảnh)  - Dớp – trong ngôi nhà này – Nhà – nhờ người thương xót mà giải quyết cho, không dám nói dài. “Nói Dài” = Nài, “Nài Chi!” = Nỉ, Nài Nỉ là nói dài nhằm xin xỏ thuyết phục. Từ Daám được nói dài như thế để thành nghĩa ngược lại là Không Dám (như gạch dương thì dài mà gạch âm thì ngắn trong Quẻ Dịch). Trẻ con nói: “Tao thách mày đánh tao đấy, daám!” có nghĩa là  “Tao thách mày đánh tao đấy, hổng dám đâu !”. “Dớp Nhà” = Gia, nhưng nếu chỉ dùng một chữ Gia thì vẫn ý đó nhưng không cảm thấy kể lể chi li của cái giọng đang nài nỉ thuyết phục người nghe.

 

 

 

 

   

      PHÁT TRIỂN

CỦA NGÔN TỪ VIỆT

                          

 

 Tiếng Việt phong phú vô vàn

 

                         Hàn lâm trộn với dân gian cùng hành

 

                              Lời văn hàm súc uyên thâm

 

                     Công người xưa bốn nghìn năm trau dồi.

 

 

 

1.

 

Ngôn từ Việt ban đầu là đa âm tiết và không có dấu thanh điệu. Nó đã đơn âm hóa bằng cách mỗi từ đa âm tiêt (của chính tiếng Việt hoặc của mượn từ tiếng ngoại lai) đều bị lược bỏ (rụng) đầu và đuôi còn lại một âm tiết lõi (gọi là Qui tắc Vo để vò rụng đầu và đuôi, chỉ “Trọi Còn” = Tròn là cái lõi giữa, “trọi còn” là nói đảo của “còn trơ trọi” mỗi cái lõi giữa, theo Qui tắc Lướt: “Trọi Còn” = 0+1 = 1 = Tròn, con số chỉ sự biến âm của dấu thanh điệu theo số học nhị phân). Thành từ đơn âm thì có lợi thế là một thông tin bằng nhiều tiếng được nén thành chỉ còn một tiếng, tức  hiệu suất  chuyển tải thông tin của tiếng đó trở nên lớn hơn. Cách nén thông tin của tiếng Việt còn thể hiện trong Qui tắc Lướt (lướt hai tiếng thành một tiếng hoặc lướt cả câu bằng lướt tiếng đầu và tiếng đuôi của câu đó thành một tiếng).

2.

 

 Đơn âm hóa xong rồi thì để có nhiều từ lại buộc phải xuất hiện thanh điệu, thành ra tiếng Việt có 6 dấu thanh điệu để phân biệt thành 6 nghĩa khác nhau của một âm vận. Các dấu thanh điệu chia theo Dịch lý thành hai nhóm Âm và Dương. Nhóm thanh điệu thuộc Âm ( Âm = 0, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Không”, “Ngã”, “Nặng”; Nhóm thanh điệu thuộc Dương (Dương = 1, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Sắc”, “Hỏi”, “Huyền”. Khi lướt hai tiếng thì dấu thanh điệu của hai tiếng đó như hai con số nhị phân cộng với nhau theo qui tắc số học nhị phân mà thành dấu thanh điệu của tiếng kết quả thứ ba.

3.

 

 Mỗi từ đơn âm lại có thế tách đôi thành hai tiếng khác nhau bằng hai cách: 

1/ Là phiên thiết tiếng gốc  thành hai tiếng sao cho khi lướt hai tiếng đó thì lại thành hoàn nguyên của chính tiếng gốc. Ví dụ Ba (chỉ ba chiều lập thể) phiên thiết thành Bao La, để khi lướt lại “Bao La” = Ba. Do vậy không gian ba chiều như bầu trời gọi là bầu trời bao la.

2/ Là tách thành hai tiếng (có chung phụ âm đầu hoặc cùng vắng phụ âm đầu với tiếng gốc), dính nhau, không thể đảo ngược vị trí, gọi là từ dính (viết nên có gạch nối giữa chúng). Ví dụ Mặt (chỉ mặt phẳng có hai chiều là trục Tung và trục Hoành) đã nở ra từ dính là Mênh-Mông (trường hợp nó rộng) hay Mịn-Màng (trường hợp nó nhẵn) hay Mấp-Mô (trường hợp nó nhám, do đó mà có từ biển rộng mênh mông hay đồng lúa rộng mênh mông, hoặc Mặt lụa mịn màng, Mặt đường mấp mô v.v. để nói về bề Mặt chúng.

 Ví dụ về đơn âm hóa một từ đa âm tiết:

1/ Tiếng Nhật có từ bản địa “xacana” (chỉ con Cá), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Ca thành từ đơn âm tiết là Cá (chỉ con cá), chuyển sang tiếng Thái, Lào thành Pá (chỉ con cá). Hoặc tiếng Việt chiếm cái lõi giữa là Can thành từ đơn âm tiết là Cần = Cờn = Còng chỉ nơi cửa sông, bến cá như Cần Giờ, Cần Thơ (Nam Bộ), cửa Cờn (Nghệ An), chợ Còng (Thanh Hóa).

2/ Tiếng Ân Độ có từ bản địa “Palamitra” (chỉ cây Mít), tiếng Hán mượn bằng cách phiên âm thành “Puoluomi”( 3 tiếng thành một từ), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Mít (1 tiếng thành một từ). Rồi phát triển thêm: quả Mít như là một Mẹ ắt phải có nhiều Con bên trong nó. Do vậy từ Mít nở ra từ dính Múi-Món, rõ ràng trong quả Mít có nhiều Múi, mỗi Múi có một hột, như là một “Mít Con” = Món (đó là chuyện có từ cổ đại).

Những năm gần đây nông dân An Giang nhập giống mít ngoại có trái tròn như trái banh, nên gọi nó là giống “Mít trái Tròn” = “Mít Tròn” = 1+1=0 = Mon, gọi thành mặt hàng là trái Mon. Tương tự như nông dân Tiền Giang tạo ra giống khoai Mỡ mới, ăn béo ngậy hơn các giống khoai mỡ cũ khác nên gọi nó là giống khoai Mỡ Ú, nói lướt thành “Mỡ Ú” = 0 + 1 = 1 = Mú, gọi là giống khoai Mú hay củ Mú.

4.

Cổ đại tiếng Việt dùng từ Ồn để chỉ ý là Nói. Tin tức nghe do đông người ồn đã được lướt “Đông người Ồn” = Đồn, gọi là tin đồn. Từ dân gian Ồn được viết thành từ hàn lâm là chữ Âm , mà người Nhật lại đọc chữ Âm  là “Ồn ”, nênTiếng Nhật Bản (dân tộc Đại Hòa 大和) có  những từ: “Wa Ồn 和 音” có nghĩa là người “Hòa  Nói”, “Gô Ồn 吴 音” nghĩa là người “Ngô  Nói”, “Ê-chư 越 Ồn” có nghĩa là người “Việt Nói”. Ngày nay dùng chữ Ngữ  mà người Nhật đọc là “Gô ” (nghĩa là Gọi”, nên lại có những từ: “Ni -Hôn  Gô ” nghĩa là “Nhật Bản Gọi 日本語” (tức ngôn ngữ Nhật Bản), “Bê-tô Na-mư Gô” nghĩa là “Việt Nam Gọi 越南語” (tức ngôn ngữ Việt Nam), “Chư 中 Kô-kư  Gô ” nghĩa là “Trung Quốc Gọi 中國語” (tức ngôn ngữ Trung Quốc). Như vậy diễn biến âm của tiếng Việt là: Âm  = Ầm = Ồm = Ồn = Ngôn = Ngữ = Gừ (Gầm- Gừ) = Gô (tiếng Nhật) = Gí  (tiếng Đài Loan) = Gọi = Nói = lướt từ đôi “Nói Ôm” = Nôm = lướt từ đôi “Nói Và” = Na. Cho nên từ đôi Nôm Na có nghĩa đơn thuần là Nói (nhưng mà là người Việt nói, chính nghĩa là "tiếng Việt"). Lướt chỉ lấy dấu của  tiếng đứng sau: “Việt Nói” = Viết , nên từ hàn lâm Viết  có nghĩa là Nói (mà là người Việt nói). Diễn biến âm: Viết   = Van (tiếng Nghệ An) = Vân (tiếng Việt hàn lâm) = Và (tiếng Quảng Đông) = Na (tiếng Việt dân gian) = ha-Na-xư (tiếng Nhật) = Nói (tiếng Việt). Đoạn dẫn diễn biến âm Việt ở trên như là một Nôi khái niệm (NKN) của từ Nói, nó cũng cho thấy là từ Gọi đơn âm đã nở ra từ dính song âm là Gầm-Gừ (do đã lướt các từ đôi “Gọi Ầm” = Gầm và “Gọi Ngữ” = Gừ).

5. Từ dính do qui tắc Nở tách đôi của một từ đơn (giống như sinh sản của tế bào):

Từ đơn âm (một tiếng) đã theo Dịch lý “nhất nguyên sinh nhị nguyên” mà Nở ra từ dính (hai tiếng, đều có cùng phụ âm đầu với từ gốc).

Ví dụ về từ đơn âm nở ra từ dính song âm:

1/ Chữ Hà ? là một từ hàn lâm nghi vấn, Hà nở ra từ dính Hả-Hử; câu nghi vấn “Nói gì?” viết  thành câu lướt  “Hà 何 Nói” = Hỏi. Từ dân gian nghi vấn  Hỏi đồng nghĩa với  từ hàn lâm Vấn . Vấn   đơn âm tiết lại nở ra từ dính song âm là Vặn-Vẹo (cùng phụ âm đầu là “V” với Vấn), từ dính Vặn-Vẹo thường dùng làm hình dung từ cho động từ Hỏi, thành ra từ phức hợp là “hỏi vặn vẹo” nghĩa là hỏi nhiều câu hóc búa.

2/ Từ dân gian Mô bạn đồng nghĩa với từ hàn lâm Vô bạn (無伴). Mô nở ra từ dinh Mất-Mát (cùng phụ âm đầu “M” với Mô). Vô 無 nở ra từ dính Vò-Võ (cùng phụ âm đầu “V” với Vô). Sống vò võ là sống không có bạn, sống một thân một mình.

3/ Từ dân gian Võ đồng nghĩa với từ hàn lâm Vũ (), chuyển chú chỉ ý là gân bắp săn chắc, bằng chính từ đó hoặc bằng các từ dính do nở ra: Võ nở thành từ dính Vâm-Vâm (săn chắc). Vũ nở thành từ dính Vạm-Vỡ (săn chắc). Biểu ý của chữ Vũ  là: Kẻ (chữ Một ) biết Dừng (chữ đình Chỉ ) chiến Tranh (chữ can Qua ), đó là miếng Võ giỏi nhất.

4/ Từ hàn lâm Hảo 好 đồng nghĩa với từ dân gian Tốt. Hảo  nở ra từ dính Hơn-Hẳn; hơn hẳn đồng nghĩa với từ lướt  “Việt Ưu ” =   Vưu . Chữ Vưu   lại nở ra từ dính Vẻ-Vang. Vẻ vang nghĩa là ưu việt, hơn hẳn những cái bình thường. Từ Tốt còn nở ra từ dính Tươm-Tất. Từ Hảo còn nở ra từ dính Hòm-Hòm, nên các câu “làm Tốt rồi” = “làm Hảo rồi” = “làm Hòm-Hòm ròi”= =“làm Tươm-Tất rồi”.

6 Nôi khái niệm và qui tắc "Lướt" (trong <Thuyết Văn Giải Tự> gọi là "Thiết" vì NKN: Lướt = Thướt = Thiết)

Sử dụng qui tắc Lướt cùng với sử dụng song hành từ dân gian và từ hàn lâm đồng nghĩa lại tạo ra thêm nhiều từ  hàn lâm mới hoặc từ  dân gian mới nữa làm cho tiếng Việt càng tinh tế và  phong phú hơn.

Ví dụ 1:

NKN “lừa dối”: Lừa = Láo = Xạo = Giảo = Dối = Giả = Trá . Từ dân gian Dối đồng nghĩa từ hàn lâm Trá 詐 à dẫn đến lướt từ đôi “Dối Trá ”  = Giả  (là từ hàn lâm).Từ dân gian Dối (chỉ ý hành động) nở ra từ dính Dấu - Diếm (là từ dân gian). Từ hàn lâm  Trá (chỉ ý nói năng) nở ra từ dính Trắt -Trẻo (là từ dân gian).

Hàn lâm (Giả) và dân gian (Làm) ghép với nhau thành từ ghép Giả Làm đồng nghĩa với từ ghép hàn lâm  Giả Đương à dẫn đến  lướt từ ghép hàn lâm  “Giả 假 Đương ” = Dương   (là từ hàn lâm mới) à dẫn đến câu thành ngữ Dương đông kích tây 佯東擊西 (có nghĩa là: giả  đánh  Đông, nhưng thực nhằm đánh Tây)  

 

 

Từ hàn lâm Giả   có nghĩa là  không có căn cứ, tức Vô Sở 無所 (là từ hàn lâm) à dẫn đến lướt  “Vô Sở ” = 0+1 = 1 =  Vờ   ( là từ dân gian) à dẫn đến từ đôi Giả Vờ (là quyện lẫn hàn lâm và dân gian) à như vậy  từ hàn lâm Giả  đồng nghĩa từ dân gian Vờ .

Từ dân gian Vờ có nghĩa là không đúng, tức  Vô Chính 無正 (là từ hàn lâm) à dẫn đến  lướt “Vô Chính ” = 0 + 1 = 1 = Vỉnh à dẫn đến từ đôi Vờ Vỉnh  (phát âm từ Vỉnh mới là đúng dấu theo toán học nhị phân, bằng giọng Thanh Hóa), nhưng nếu nhấn thêm là Vờ Vỉnh Vỉnh = 1 +1 +1 = 1+ (1+ 1) = 1 + ( 0) = 1+ 0 = Vờ Vĩnh.

Giả = Vờ = Giả Vờ = Lừa (là từ dân gian). Lừa  có nghĩa là không đúng, tức  Phi Chính 非正 (là từ hàn lâm) à  dẫn đến lướt “Phi Chính ” = 0 +1 = 1 = Phỉnh (dấu thanh điệu đúng phép cộng toán học nhị phân) à dẫn đến có thêm từ dân gian mới là  Phỉnh đồng nghĩa từ dân gian Vờ à dẫn đến lướt từ đôi Phỉnh Vờ = 1+ 1 = 0 =  Phơ à dẫn đến có từ đôi mới là Phỉnh Phơ , nếu nhấn thêm là Phỉnh Phơ Phơ = 1 + 0+ 0 = 1 + ( 0 + 0) = 1+  ( 1  )= 1+ 1 = Phỉnh Phờ. Phỉnh Phờ và Vờ Vĩnh (đều là từ đôi và đều là từ dân gian)

Tiếng Trung Quốc do mượn chữ Nho của Việt mà làm thành ngôn ngữ Trung Quốc (chỉ có là phát âm lơ lớ, không chuẩn âm của tiếng Việt hàn lâm) nên chỉ có toàn dùng từ hàn lâm, do vậy tuy cũng có dùng từ Giả (phát âm lơ lớ là “jia ”),cũng có dùng từ Trá (mà phát âm lơ lớ là “zha ”) nhưng tiếng Trung Quốc  không thể có nổi những từ đôi như Vờ Vĩnh hoặc Phỉnh Phờ, hoặc từ dính Trắt-Trẻo; đương nhiên  những từ đôi và từ dính này của tiếng Việt có sắc thái hơi khác với đơn thuần cái nghĩa của từ Giả hoặc Trá, mà sắc thái ấy chỉ có người Việt mới hiểu nổi. Bởi vậy tiếng Việt nó tinh tế là ở chỗ đó.

 

 

Ví dụ 2:

 

 

Nôi khái niệm (NKN) sau đây cho thấy từ hàn lâm (là từ có viết bằng chữ nho) được sinh ra do từ dân gian (là từ không có viết bằng chữ nho nên phải viết bằng chữ nôm thế kỷ 13 nhằm ghi âm):

NKN: Mần = Bận (do lướt ý mần nhiều là “Bộn Mần” = Bận) = Lần (do lướt ý mần nhiều là “Lắm Mần” = Lần, lần mò: làm mà không rõ, lần lượt: làm theo thứ tự) = Làm (do lướt ý chịu mần là “Lần Cam”  = Làm) = Lam (do lướt từ lặp “Làm Làm” = 1 + 1 = 0 = Lam , để nhấn ý là làm nhiều tức như thành ngữ “hay lam hay làm”) = Ham (do lướt “Hay Làm” = Ham (lướt tiếp “Ham việc cho Thành” = Hành , nên từ hàn lâm Hành đồng nghĩa với từ dân gian Làm) = Lạm  (do ý tứ  “Lam quá mức”  tức Lam nặng = Lạm. Lạm , chuyển chú chỉ ý làm quá mức giới hạn, lạm phát: phát tiền lưu hành ra quá mức gọi là Lạm) = Tham (do lướt chữ “Thừa   Làm” nghĩa là thừa hưởng cái đã làm bởi người khác, lướt “Thừa 承 Làm” = 1 + 1 = 0 = Tham , thường dùng từ đôi Tham Lam 貪 婪  để chuyển chú sang nghĩa khác chỉ lòng ham muốn vô độ tức tham lam)  = Cam  (do lướt từ  “Cặm cụi Làm”  = Cam , chuyển chú sang ý là nhẫn nại làm) = Đảm (do lướt “Đựng việc Làm” = Đảm, Đảm chuyển chú sang ý là gánh vác công việc gọi là Đảm) = Đương ( do lướt ý “vẫn làm” là “Đảm Thường” = Đương) = Đang  (do lướt từ đôi “Đảm Mang” = Đang, thường dùng từ đôi Đảm Đang 擔 當 để nhấn ý là  làm được đủ mọi việc) = Đáng (do ý làm nhiều là lướt lấy dấu “Đang Lắm” = Đáng) = Mang (do lướt từ đôi “Mần Đang” = Mang. Mang đồng nghĩa với Bận, đa mang: nhiều làm) = Màng (do lướt từ lặp “Mang 忙 Mang ” = 0 + 0 = 1 = Màng, cùng logic với lướt lấy dấu từ đôi “Mang Làm” = Màng) = Cáng (do lướt “Cặm cụi Màng” = Cáng, cáng đáng: gánh việc làm) = Cán (do phát âm trùng Cáng = Cán) = Can (do ý “thường làm” biểu đạt bằng từ lặp Cán Cán được lướt “Cán Cán” = 1 + 1 = 0 = Can, ngược lại lướt từ ghép “Lười Can” = Lãn , thành từ hàn lâm Lãn 懶 đồng nghĩa Lười Can) = Cán 干 (do lướt lấy dấu “Can theo Chức” = Cán ,  cán bộ 干部 : làm theo chức trách được bố trí).

 

 

Qua một NKN  trên thôi đã đủ thấy là do có từ dân gian gốc Việt mà sinh ra được những từ đồng nghĩa với nó nhưng có viết bằng chữ nho của người Việt, gọi là từ hàn lâm (di chỉ khảo cổ ở Cảm Tang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, phát lộ năm 2011 cho thấy chữ vuông đã có cách nay 4000 – 6000 năm, lúc đó người Hán du mục chưa bén mảng được đến bờ nam sông Hoàng Hà chứ chưa nói là đến được sông Dương Tử),  những từ viết bằng chữ nho gọi là từ hàn lâm tiếng Việt được dùng song hành với từ dân gian tiếng Việt làm cho trong tiếng Việt như có trộn lẫn hai ngôn ngữ (dân gian và hàn lâm, đều là gốc của Việt) nên tiếng Việt càng tinh tế và phong phú. Còn cách gọi những từ hàn lâm này là “từ gốc Hán”, “từ Hán Việt” hay “Hán tự” (? !) đều là sai với sự thật lịch sử.

 

 

Tuy nhiên, ngôn từ mới sản sinh ra càng ngày càng nhiều thì chữ Nho (dùng cách chủ yếu là biểu ý và tượng hình) càng tỏ ra lạc hậu. Do vậy dùng “chữ quốc ngữ” (ghi âm bằng ký tự Latin là loại ký tự biểu âm) đã thống nhất được cách ghi cả hai nguồn từ vựng dân gian và hàn lâm, lại thuận tiện cho việc viết và ký âm từ ngoại lai, dễ hội nhập quốc tế, nên “chữ quốc ngữ” tỏ ra ưu việt hơn tất cả các loại hình ký tự cũ xưa.

 

Cao Lỗ người La

Câu “Chúa tể sơn lâm”  là để chỉ ngôi vị lớn nhất chúng động vật trong rừng là con Cọp. Lướt “Cọp Cha” = 0 + 0 = 1 = Cả. Cọp à Cả (chúa tể). Cả à Cao. Xuất hiện từ đôi kiểu “có mới với cũ” là Cao Cả. Dân xứ nóng là dân vùng gần xích đạo tức vùng “Viêm Nhiệt ” = Việt ; dân cũng gọi là dân Việt , còn gọi theo địa lý của Dịch học thì gọi là dân La vì ở phương quẻ Ly (Ly = Lửa = Lả = La). Tộc La là tộc lớn đông dân nên gọi là La Cồ (hay như viết bằng chữ nho là Đại La 大羅, biển Đông – nơi xuất xứ của "Kim chỉ Nam" là cái "La Canh" -  có tên xưa là La Hải 羅海 tức  biển của người La, hay tên xưa là Nam Hải 南海  tức biển của người Nam, cũng là người Canh =  Kinh, vì biếu ý của chữ Nam là Cung Hạnh thiết Canh và Hạnh Cung thiết Hùng). Đất nước của tộc La Cồ (La Cồ thiết Lồ, tức lướt “La Cồ” = 0 +1 = 1 = Lồ) là đất nước khổng lồ, diện tích rất lớn, nên nhấn mạnh cái lớn bằng từ lặp là Lồ Lồ, lướt “Lồ Lồ” = 1 + 1 = 0 = Lỗ. Nên đất nước của tộc Đại La gọi là nước Lỗ. Chúa của nước Lỗ nguyên gọi là Cả Lỗ. Cả Lỗ = Cao Lỗ. Sau có những đám dân lấy danh của chúa làm họ cho mình, gọi là họ Cao hay cũng có đám gọi là họ Lỗ. Cả đồng nghĩa với lớn nhất tức Đại, nên lướt từ đôi “Cả Đại” = Cái . Cái chỉ ngôi vị lớn nhất hay người lãnh đạo (người lãnh đạo làm chức năng chỉ huy nên thường gọi là “người cầm cái”), nên những con vật ở vị thế lớn nhất đều mang tên có vần “ai” của từ Cái. Ai (trùng với vần xưng “tôi” của tiếng Anh là “ai” = chữ “I”). Đó là: con người là Ai = Ngài; con cọp là Khái; con trâu là Khoai (tiếng Thái), là Vài ( tiếng Tày); gánh vác được việc nặng nhất là cái Vai hay con Voi; đồ dùng đựng nước lớn nhất là cái Vại; to như Vại thì phiên thiết thành hai tiếng Vĩ Đại (Vĩ Đại thiết Vại tức lướt “Vĩ Đại” = Vại); Vại à Voi, nên cái đựng đồ ăn lớn gọi là cái Đọi (do lướt câu thậm xưng “Đựng được cả Voi” = Đọi, đồ đựng nhỏ thì gọi là cái Chén). Tộc La là một tộc lớn đông dân nên còn gọi là La Cồ (chữ nho viết là tộc Đại La大羅). La Cồ nói lướt là “La Cồ” = 0 +1 = 1 = Lồ , đông dân nên nhấn ý nhiều bằng từ lặp Lồ Lồ, rồi lướt từ lặp “Lồ Lồ” = 1 +1= 0 = Lỗ.  Chúa nước Lỗ gọi là Cả Lỗ = Cao Lỗ. Cao Lỗ xây thủ đô nước Lỗ đặt tên là Cả Lỗ, nhưng phải nói lái (để diễn đạt ý là do người âm phù hộ mà truyền cho cái tên đó, kiểu “âm phù dương trợ) thì nói lái Cả Lỗ thành Cổ Lã à Cổ Loa. Khi kinh thành Cổ Loa bị giặc vây đánh, binh giữ thành đem cối đồng (“đồng cổ” tức trống đồng) lọi  cho Nổ rền như sấm, uy linh tiếng trống đồng làm cho giặc bạt vía kinh hồn mà tan chạy như bị Nỏ thần bắn vạn mũi tên mà chết như rạ.

Truyền thuyết thường kể chuyện bằng tưởng tượng ra hình ảnh ví von, nên không phải là Cao Lỗ chế ra “Nỏ thần” mà thực sự là Cao Lỗ chế ra cái “Nổ như thần Sấm” (tức là cái trống đồng) mỗi khi “Lọi” (đánh) vào trống (ca dao: “Chày kình mà Lọi chuông vàng. Cho ngân tiếng ngọc, cho nàng lấy anh” ). Chày/Cối tượng trưng cho Dương/Âm. Trống đồng có tên cũ là cái Cối Vỗ, nó làm chức năng là Cổ Vũ (鼓舞) tinh thần, nên từ hàn lâm gọi trống đồng là cái Đồng Cổ (铜鼓) ám chỉ là nó được chế bằng chất liệu Đồng, chức năng dùng để Cổ vũ tinh thần. Chức năng của cái Chày là để đánh: Dương   = Chưởng  = Chày = Chọt = Chọi = Lọi = Lôi  = Lảnh = Đánh = Đả = Dã = Dộng = Động . Chức năng của cái Cối là chịu đánh: Âm   = Im = Kìm = Kiềm  = =Cam = Cối = Lôi . Lôi là tiếng Nổ (chịu nén ắt nổ) của Sấm (khi điện Dương đụng vào điện Âm thì gây tiếng Nổ như Sấm). Sấm là từ dân gian viết thành Chấn là từ hàn lâm. Lọi là từ dân gian, viết bằng chữ Lôi thành từ hàn lâm (chữ Lôi 擂 là chữ nho kiểu tá âm, chữ có bộ Tayđể  biểu ý Đánh, và mượn chữ Lôicận âm để ký âm Lọi). Cối bị Lọi thì cũng phát ra tiếng Nổ là Lôi (tiếng nổ khi chập điện gây ra hiệu ứng “tóe Lửa và vang Dội”, được nói lướt gọn thành “Lửa Dội” = Lôi, chữ viết kiểu hội ý bằng chữ Mây trên trời ám chỉ điện Dương đánh xuống chữ Ruộng ở dưới đất ám chỉ điện Âm). Đánh Trống tức Lọi Cối thì Nho viết bằng chữ Lôi Cổ (擂鼓). Nhưng ở tiếng Việt dân gian thì chỉ cần đánh trống đồng tức Lọi Cối cũng đã gây ra tiếng Nổ gọi là Lôi vì cái hiệu ứng do lướt "Lọi Cối" = Lôi 雷, rất logic với "Lửa Dội" = Lôi. Đó là cái chặt chẽ tuyệt vời của ngôn từ Việt, cũng chứng tỏ rõ ràng là từ dân gian đẻ ra từ hàn lâm, chứ chẳng có cái "gốc Hán"(?!) nào cả. Sấm (là từ dân gian) tức Chấn (là từ hàn lâm) là hai từ đồng nghĩa cùng chỉ một hiện tượng chập điện dương với điện âm trong tự nhiên, hai từ này đều do ngôn ngữ dân gian Việt tạo ra bằng cách nói lướt cả câu: “Soạng điện dương với điện Âm” = “Soạng…Âm” = 0 + 0 = 1 = Sấm; “Chập điện dương với điện âm do kề Cận” = “Chập…Cận” = 0 + 0 = 1 = Chấn . Chỉ một ví dụ này cũng đủ chứng tỏ ngôn ngữ dân gian Việt đẻ ra ngôn ngữ hàn lâm Việt và chữ Nho là chữ vuông của người Việt chứ không phải là “Hán tự” hay “gốc Hán” (?!) gì cả.

 

 

Qui tắc Lướt là qui tắc rất hữu dụng trong tạo từ mới của tiếng Việt. Ví dụ phân tích từ  “Liểng xiểng”:

Liểng xiểng là một từ của ngôn ngữ dân gian Việt. <Từ điển Tiếng Việt> chỉ giải thích ý nghĩa và cách dùng nó chứ không nêu nguồn gốc nó ở đâu ra mà có từ gọi là “liểng xiểng”, nó gồm hai tiếng đi với nhau không thể đảo ngược, nhưng không phải là từ đôi (hai tiếng phải đồng nghĩa nhau), không phải từ dính, không phải từ lặp ( hai tiếng phải đồng âm và đồng nghĩa nhau), cũng không phải từ láy. Nó thường được dùng làm hình dung từ cho động từ “thua” như “thua liểng xiểng” nghĩa là đánh trận mà bị thất bại, bì đánh cho tơi tả. Hoặc chỉ dùng từ “liểng xiểng” cũng hiểu là một tình thế thất bại, không có lối ra, mà tiếng Việt hàn lâm dùng chữ Nho chỉ tình thế ấy là “tiến thoái lưỡng nan”. Nguồn gốc từ “liểng xiểng” là do động từ “Riềng”. Riềng nguyên là danh từ chỉ củ Riềng là thứ gia vị không thể thiếu để nấu món thịt chó. (Chó bị giết chết rồi mới nấu thịt) do vậy danh từ “Riềng” chỉ gia vị củ riềng bị chuyển chú thành động từ “Riềng” mang nghĩa là đánh chết như câu “quân địch bị quân ta Riềng cho một trận nhừ tử”. Và tình thế thất bại của địch là “tiến Lên cũng bị Riềng, lùi Xuống cũng bị Riềng”, câu này đã nói lướt thành “Lên cũng bị Riềng” = Liểng , “Xuống cũng bị Riềng” = Xiểng, nên có từ dân gian là “Liểng Xiểng”, nó ngắn hơn  (chỉ là một từ có hai tiếng) mà hàm ý mạnh hơn là câu mất bốn tiếng “tiến thoái lưỡng nan” của ngôn ngữ hàn lâm Việt.

 

 

Tại sao  người Việt lại tự xưng là “Ta”?

Từ Ta trong tiếng Việt thể hiện sự quá ư tự tôn, như Hán ngữ thì gọi là “Tôn 尊 Ngã ” thiết Ta, coi mình là nhất, vì Ta = Tất Cả thiết Ta, mà “tất cả” có nghĩa là Universal tức Vũ trụ. Tự xưng mình là “Ta” tức tự tôn mình như Trời vì từ Trời tức chữ Thiên là To (chữ Đại ) + Nhất (chữ Nhất ). Nhất đồng nghĩa với Cả nên Đại(大) Nhất (一) = To Cả thiết Ta, do vậy mà có từ Cao Cả tức là Cao Nhất, có từ Biển Cả là nơi chứa nước lớn nhất. Thiên 天 là Đại ( ) Nhất ( )  tức To Cả thiết Ta. Vậy Ta cũng được coi như Thiên 天 tức như Trời. <Thuyết văn giảI tự 说文解字> giải thích chữ Thiên 天 mang nghĩa là: “chí cao vô thượng至高無上” tức cao nhất không có gì cao hơn (tức “Thượng Trên” = Thiên). Ta cũng là Thiên 天 nên Ta cũng là “chí cao vô thượng”, cao nhất không gì cao hơn. Bởi vậy mà cái gì của Ta cũng đều là hạng nhất, như Nước Ta, Quê Ta, Làng Ta, Ao Ta, Tiếng Ta, Dân Ta  v.v. Đã tự tôn là hạng nhất nên chẳng cần học theo ai, làm cái gì cũng khác người gọi là làm theo kiểu Ta.

Lúc đầu còn khiêm tốn tự xưng Mình là Con, tức con người. Nhưng rồi tự cho rằng con người thông minh hơn muôn loài nên thêm từ Minh vào lướt thành “Con Minh ” = Kinh gồm Đầu + Mình  + Chân Tay 小). Rồi tự xưng Ta là một “Kinh  Dân” = Quân. Từ Quân cũng chính là một “Cá Nhân” = Quân, hay cũng là một “Công Dân” = Quân, hay một “Con Dân” = Quân. Nhưng Quân tự coi mình là một người dân làm quan cho chính mình, nên nói lướt “Dân 民 làm Quan ” = Doãn . Từ Doãn chuyển chú thành nghĩa là tự trị lý mọi việc, nhưng theo mệnh lệnh cua bộ óc, nên gọi là Lệnh Doãn (trở thành tên gọi một chức quan trị lý một vùng thời phong kiến), biểu ý từ Lệnh bằng chữ Khẩu  ghép vào với chữ Doãn 尹 thành ra chữ Quân . Lúc này từ Quân đã trở nên chuyển chú thành chỉ một chức (vốn trước chỉ là “Cá Nhân” = Quân, là một Con người) được ghép với từ Chủ 主 thành chữ Quân Chủ 君主, hay ghép với từ Vương  thành chữ Quân Vương 君王 để chỉ chức Chúa hay Vua cúa một vùng. Vốn xưa “Con Dân” = Quân, tức cùng một NKN con người: Tử = Tu = Cu = Kô = Con = Kinh 京 = Quân = =Dân = Nhân = Nhà = Gia = Giả = Ta = Ngã = Người. Thì đến khi xuất hiện chức Quân Vương 君王, Quân Chủ 君主thì Vua và Dân đã khác xa nhau, như chế độ Quân Chủ 君主 khác xa chế độ Dân Chủ 民主.

 

 

Chữ nho cổ là từ Việt.

Chú thích: chữ trong ngoặc vuông là [phát âm] của Hán ngữ hiện đại đọc chữ nho.Nôi khái niệm viết tắt là NKN. Sách Thuyết văn giải tự viết tắt là   < TVGT>.

Ví dụ:

1/ Nạo [nao]  ( ) biểu ý kiểu hội ý là Không Tốt (Bất  Hảo ). Bất Hảo tức là Nỏ Hảo, lướt “Nỏ Hảo” = 1+1 = 0 = Nạo . NKN phủ định: Nỏ (tiếng Nghệ) = Nai (tiếng Nhật) = No (tiếng Anh: “nâu”). Theo Dịch lý thì Dương = 1 = Phải (khẳng định), Âm = 0 = Nỏ (phủ định). NKN: Phải = Hai (tiếng Nhật) = Hầy (tiếng Nghệ) = Hầy (tiếng Quảng Đông). Phủ định là lướt “Nỏ Phải” = Nai (tiếng Nhật).

2/ Mi [ mi] ( ) biểu ý kiểu hội ý là Không Thấy (Bất 不 Kiến ). Không thấyàà nhấn lướt “Mò Chi!” = Mi à nghĩa là “kiếm mồi” như con vịt đi mò ốc

3/ Nại Tải [nài dài] (褦襶)nghĩa là Không Biết gì. Nai tiếng Nhật nghĩa là Không

Bộ Y = Áo à chuyển chú chỉ cái Vỏ. Năng tải 能戴 [néng dài] là Biết, thêm bộ Vỏ thì thành Không Biết(褦襶[nài dài], vì chỉ là Biết cái Vỏ chứ không biết thật

Nai (tiếng Nhật) thuộc âm cũng như Nái thuộc âm, trong khi Đực thuộc dương. Thời mẫu hệ thì bên Nái chính là bên Nội (Nái à Nội) còn bên Đực mới là bên Ngoại. <TVGT>: “ Người nước Kinh Sở đọc chữ Nữ là [nái]”. Còn di tích trong tiếng Thượng Hải hiện đại gọi “奶奶 [Nải Nai]” nghĩa là bà nội. Lướt “Nải Nai” = 1 + 0 = 1 = Nái

4/ Mụ   [mủ]     chữ hội ý là Bà () Lão () nghĩa là Bà Già

5/ Chữ Bỉ nghĩa là Nói tục, do nhấn lướt “Bòi Chi!” = Bỉ

6/ Chữ Bội [bèi] nghĩa là nói Sai,nói Sai (tức nói không đúng sự thật) gốc do tiếng Việt dân gian gọi là nói Bậy.Chữ Bội Hối 悖晦 [bèi hùi] của tiếng Việt hàn lâm có nguyên nghĩa là nói Sai (Bội) và  nghĩa Tối (tức Hối- do lướt từ đôi “Hôn Tối” = Hối) chuyển chú thành nghĩa Lẩm Cẩm trong tiếng Việt dân gian , là do vì chữ Hối đã có nghĩa là Tối, mà Tối là thuộc Âm nên có từ lướt “Lời Âm” = Lẩm và “Kêu Âm” = Cẩm. Thành ra Bội Hối悖晦 = Lẩm Cẩm. Tiếng Việt dân gian còn nhấn mạnh thành từ Bậy+(lướt nhấn “Bậy Dã!” = Bạ) = Bậy Bạ. “Nói Tầm Bậy Tầm 寻 Bạ” nghĩa là toàn tìm cái sai mà nói. Xui người khác làm Sai thì gọi là Xui Bậy, rồi còn nhấn mạnh hơn đó là lướt lấy dấu “Xui Thối” = Xúi, và lướt lấy dấu “Bậy Đểu” = Bẩy, nên có từ mới nhấn mạnh hơn đó là từ Xúi Bẩy.(Hán ngữ dùng từ  [慫恿songyong] chỉ khái niệm Xúi Bẩy).So sánh hàm ý nhẹ nặng khác nhau giữa Xui Bậy với Xúi Bẩy để thấy được giá trị của dấu thanh diệu, từ dấu thuộc âm (Xui Bậy) – ý nhẹ hơn, sang dấu thuộc dương (Xúi Bẩy) – ý nặng hơn, với hàm ý là Xui nhiều lần tức lướt từ lặp “Xui Xui” = 0 + 0 =1 = Xúi,logic với lướt “Xui Thối” = Xúi; và Bậy nhiều lần tức lướt từ lăp “Bậy Bậy” = 0 + 0 = 1 = Bẩy, logic với lướt “Bậy Đểu” = Bẩy.

Lướt lấy dấu (còn gọi là Lướt lủn) thể hiện cả trong từ dân gian, cả trong từ hàn lâm Việt. Ví dụ:

 

1/ Hoa màu đỏ, nói lướt lủn “Hoa Đỏ” = Hỏa. Từ “hỏa” này không có nghĩa là lửa, mà nó ám chỉ hoa đỏ, do vậy hàn lâm đã theo phương pháp “giả tá” mượn chữ Hỏa (nghĩa là Lửa) cận âm để thay cho từ lướt  “Hoa Đỏ” = Hỏa, như từ dân gian “Hoa Đỏ của cây lựu” được gọi bằng từ hàn lâm là  “Lựu Hỏa 榴火

2/ Quẻ Ly là hướng Xích đạo, xứ nóng tức xứ “Viêm Nhiệt” = ViệtQuẻ Ly tượng Lửa nên NKN: Ly = Lửa  = lướt nhấn “Lửa Ạ!” = “Lửa Dã!” = La = Lả = Tá = Hà = Hạ = Hè = Hẹ = Hỏa = lướt từ lặp “Hỏa Hỏa” = 1+1= 0 = Hoa. Như vậy là  tộc con cháu của Đế Viêm – Thần Nông là tộc ở xứ nóng của quẻ Ly là “Viêm Nhiệt” = Việt à tộc Việt àtộc Laà tộc Hạà(tộc Hak-Ka) à tộc Hà à tộc Hẹà tộc HèàHoa Hạ華夏(nghĩa hai chữ Hoa Hạ là: người Hoa vốn là người Hạ, tức cũng vốn là người Việt).

3/ Qúi Hơn = Qúi Hẳn = lướt “Qúi Hẳn” = Qủi. Giả tá mượn chữ Qủi cận âm để chỉ từ “quí hẳn” giá trị hơn từ Qúi. Tương tự mượn chữ Phụ (người cha) cận âm để thành chữ Phủ (chỉ ông già) nên người ta thường hỏi thăm nhau “ông già mày còn khỏe không?” thay cho câu “bố mày còn khỏe không?”

4/ NKN: “Chót Cùng” = Chung = lướt “Cùng Hết” = Kết = “Toàn niên Kết” =  Tết = Tốt = Tất = lướt  “Hết Tất” = Hất = lướt “Hết Toàn” = Hoàn = lướt “HoànTất”  = Hất. Chữ Hất nghĩa là đã xong

5/ Chữ Tịnhnghĩa là làm đẹp, do hội ý chữ Kiến (là thấy tức Tỏ) với chữ Thanh(là trẻ tức Xinh) rồi đọc bằng lướt “TỏXinh” = Tịnh = Thấy Trẻ = làm đẹp

6/ Lướt “Dối Xác” = Dạc (lợn “dạc” – lợn to xác nhưng chưa béo)

7/ Tổ khảo = lướt “Khuất Lão” = Khảo(ông tổ đã chết)

8/ Tổ tỷ = lướt nhấn “Tốt Chi!” = Tỷ  (bà tổ đã chết)

9/ Yên tĩnh = Mật = do đọc lướt “Miên Tất” = Mật[mi]

9/ Mù chột =do đọc lướt “Mắt Thiếu” = Miểu [ miao]

10/ Không tốt = Bất Hảo = lướt  “Nỏ Hảo” = Nao

10/ Chữ Tiều[qiáo] = lướt “Cây Thui” = Củi (Mộc 木 Cháy焦 tức Cây để Đốt). Tiều phu樵夫nghĩa là người hái củi. NKN: Cây = Cọc = =Mọc = Mộc (đều chỉ dùng một chữ để biểu đạt, chữnày tiếng Nhât  vừa đọc bằng phiên âm chữ nho Việt là Môkư = Mộc, vừa có thể đọc bằng tiếng thuần Nhật là Ki = Cây, cây hoa lan con mới nảy ra gọi là “Ki” trong tiếng Việt dân gian, tức do gọi lướt “Cây Tí” = Ki). NKN: Cháy = Chiếu = [JiaoTiêu] = Thiêu = Thui, nên Mộc Cháy = “Cây Thui” = Củi

11/ Ngọc cừ = do lướt “Cườm Cứ” = Cừ []

12/ Chữ Thạnh= “Thịnh 盛 Ánh” = “Thịnh盛 Ánh ” = Thạnh [shèng] (nghĩa là giàu và sáng)

13/ Cỏ Rậm viết bằng chữ Bồng Thảo蓬草, rồi lướt “Bồng Thảo” = =Bảo, nên chữ Bảo (mới do lướt mà  tạo ra, viết kiểu hình+thanh, hình là bộ Thảo, thanh là mượn âm của chữ Bảo)  có nghĩa là Cỏ Rậm (một chữ mới Bảo thay cho hai chữ cũ BồngThảo)

Cùng kết hợp các qui tắc Lưỡng hợp, Chuyển chú, Lướt, cũng tạo ra từ mới cho tiếng Việt. Ví dụ:

 

1/ Rừng, vì có nhiều cây, nên Rừng chuyển chú chỉ ý là Rậm, Rậm viết thành  từ hàn lâm là chữ Lâm (đúng NKN: Rừng = Rậm = Lâm). Cũng logic với lướt từ đôi “Rừng là Lâm” = “ Rừng Lâm” = Rậm.Cách viết chữ Lâm như sau: Đầu tiên lấy chữ Mộc là một cây (Mộc cũng từng chuyển chú thành động từ Mọc vì cây nào cũng phải mọc lên mới thành cây, dịch lý dùng chữ Mộc chỉ phương Đông là nơi thấy mặt trời mọc). Ghép thêm một chữ Mộc nữa thành hai đã là số nhiều, nên chữ Lâm biều ý nhiều cây,chuyển chú thành nghĩa là Rừng.Mô tả rừng sâu thì dùng từ Thâm, hay nhấn là Thăm Thẳm深深, hay dùng từ đôi Sâu Thâm nhưng lướt thành một tiếng mới là “Sâu Thâm” = Sâm, viết kiểu chỉ sự  bằng 3 cái cây (đúng là hình ảnh “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”). Có từ hàn lâm mới Sâm Lâm森林 nghĩa là rừng sâu thăm thẳm.

2/ Từ Thước

Thước đo trong tiếng Việt chỉ vật cụ thể làm chuẩn để đo lường. Người Việt đã chọn cái chuẩn nhất là cái “Theo Nước” = Thước. Vì mặt nước là chuẩn nhất cho mặt phẳng hay để lấy thăng bằng khi so sánh cao thấp.Chữ Thước này viết bằng hội ý là Nước Vàng (nước quí như vàng, cũng như trong kỹ thuật thì sự chính xác là quí nhất). Ở đây Nước viết bằng chữ Lạc (do NKN: Nước = Nác = Lạc, vì nước đem đến mát mẻ, nên Lạc chuyển chú thành vui vẻ); Vàng viết bằng chữ Kim. Chữ Thước 鑠 này được chuyển chú thành ý là “Kim loại nung chảy thành Nước ”, chuyển chú tiếp chỉ “sự tôi luyện – tư dưỡng” của con người: Có được rèn  luyện mới trở thành con người ngay thẳng và công minh như cái Thước . Người Việt cổ đại sống trên dải đất mà nay gọi là Đông Nam Á, theo Dịch lý là kéo dài từ phương quẻ Ly tượng lửa (Ly = Lửa = Lả = La =  Ló = Tỏ = Đỏ , màu ngũ hành là màu Đỏ) tức  phương Nóng = Hong = Hồng (gần xích đạo). Cho đến phương quẻ Khảm tượng nước (Khảm = Nam = Nậm = Nước = North = Nác = Lạc = Lầm = Thâm = Thui = Túi = Tăm = =Đậm = Đen, màu ngũ hành là màu Đen) tức phương Lạnh = Canh = Căm Căm = Kim. Dải đất ĐNA ấy chính là đất Hồng Lạc sinh ra con cháu Lạc Hồng. Và cái kim từ chỉ phương hướng gọi là cái La Canh. Biển Đông tức biển Đông Nam Á cổ xưa gọi là La Hải 羅海(tức là biển của nước Đại La大羅) hay gọi là Nam Hải南海 (tức là biển của nước Đại Nam大南). Mà chữ Nam viết hội ý là Cung 冂 Hạnh 幸 thiết Canh , đồng thời cũng là Hạnh 幸 Cung  thiết Hùng(nghĩa là nước của người Kinh của các vua Hùng). Mà âm của chữ Nam 南 là “Khảm = Nam =  Nặm = Nậm” với nghĩa là “Nước” của ngôn ngữ Tày-Thái.  Chưa từng có tên trong sử sách nào của phương Đông gọi biển ĐNA là “biển của nước Đại Hán” cả.

Con chim Thước (chỉ con chim khách hay chim báo hỉ, gọi là Hỉ Thước喜鵲) là con chim “ThấyTrước” = Thước. Nó thấy trước và báo cho người

trong nhà biết sắp có khách đến nhà.

Một chữ Thước 爍 nữa mang ý nghĩa là lưu lại ánh sáng, tức làm cho “Thấy Được” = Thước . Chữ này có kết cấu dương âm là Lửa Lạc . Đọc thiết “LạcLửa” = Lưa, logic với lướt “Lưu lại ánh Lửa” = Lưa (tiếng Nghệ thì “Lưa” nghĩa là còn, do NKN: Lưa = Thừa, tức còn thừa)

Chữ Lạc 樂 [Hán ngữ hiện đại đọc là “Le”] chính là Nước (dân gian đọc là Nước, hàn lâm đọc là Lạc). Cũng giống như chữ Dược 藥 chính là Thuốc (dân gian đọc là Thuốc, do lướt âm thành ý như đánh vần của tiếng Việt: “Thảo + Nước ” = Thuốc; hàn lâm đọc là Dược, do  Thảo  chỉ loại cỏ mọc ở hoang dã nên Thảo 艸 [ Hán ngữ đọc là  “Cao ” ] đã chuyển chú thành Dã野 [Hán ngữ đọc là “Ye ” ], đọc lướt “Dã + Nước” = Dược藥 [Hán ngữ hiện đại đọc là “Yao ”]). Rõ ràng là: Đọc chữ nho như Việt đọc thì lướt mới trúng (“Dã + Nước ” = Dược ), còn đọc chữ nho bằng phát âm lơ lớ như Hán ngữ hiện đại thì lướt trật (“Ye  + Le ” = Ye, trật, không thành “Yao ”).Cũng giống như thơ Đường mà đọc chữ nho như Việt đọc thì mới trúng luật bằng trắc của thanh điệu, còn đọc như phát âm lơ lớ của Hán ngữ hiện đại thì trật luật bằng trắc của thanh điệu, nghe không còn ra thơ Đường nữa.

3/ Chữ Ý là đẹp, cũng có nghĩa là cái âm thực khí (người nguyên thủy quan niệm nó là đẹp vì muôn loài đều chui ra từ đó). Chữ Ý 懿 gồm Nhất  và Thứ 次 Tâm. “Thứ Tâm” = Thâm (sâu). “Tâm Thứ” = =Tư (của riêng). Lướt từ đôi “Đẹp Ý” = Đĩ. NKN: Yoni (tiếng Chăm) = lướt “YoNi” = Ý = Đĩ = Hi (tiếng Tày) = Ki rê Y (đẹp, tiếng Nhật) = lướt “Ki rê Y” = Kĩ (kĩ nữ) = Pi (tiếng Đài Loan) = Pizda (tiếng Nga). Tiếng Việt thì Âm/Dương = 0/1 = Lép/Chắc. Đĩ thuộc Âm tức thuộc Lép, nên lướt từ đôi “Đĩ Lép”= Đẹp.

 

 

Họ Đậu và chữ Đậu

Sách <Bách gia tính> nói họ Đậu có gốc từ họ Cơ 姬 từ thời Chu . Họ Cơ 姬 xuất xứ ở dòng sông Cơ = sông Cả (nhấn “Cơ !” = Cả), xứ nóng (Cơ 姬 là Thần 臣 Nữ 女 thiết Thử  - nóng). Đất Thanh, Nghệ có nhiều người họ Đậu. Sách <Thuyết Văn Giải Tự> nói ý nghĩa của chữ Đậu là đồ đựng thịt khi ăn của người cổ đại (古代吃肉时用的盛器 – cổ đại ngật nhục dụng thì đích thịnh khí), chữ tượng hình gồm bốn thưng (四升  tứ thăng) + bộ khẩu () thành chữ Đậu (). Từ giải thích – định nghĩa này về chữ Đậu 豆 sáng tỏ một điều là sở dĩ chữ ấy đọc là “đậu” vì đã lướt câu “Đựng món Nhậu” = Đậu. Miếng nhậu ở đây là bằng thịt tức " miếng thịt" mà từ hàn lâm viết là "nhục khẩu" ( ), lướt “Nhục 肉 Khẩu ” = Nhậu, là từ dân gian, rồi từ Nhậu chuyển chú thành động từ “Nhậu” có nghĩa nguyên thủy là nhắm rượu với thịt. Tộc người họ Đậu 豆 chắc là những người đầu tiên làm ra cái đồ đựng gọi là Đậu ấy (nó hợp logic về  âm với một loại đồ đựng khác là cái Đĩa). Sách <TVGT> còn nói người Kinh Sở gọi cái Đậu là cái “Thìu” ( hợp logic về âm với một loại đồ đựng khác là cái Thìa). Về sau người ta dùng âm “đậu” và chữ Đậu để giả tá cho từ cận âm là từ Đỗ, là một loại ngũ cốc, nên hạt đỗ cũng gọi là hạt đậu. Đứng tại chỗ cũng gọi lướt là “Đứng Chỗ” = Đỗ, động từ Đỗ này viết bằng mượn âm chữ Đậu cận âm thêm bộ chân  vào bên cạnh thành chữ ”Đỗ Lâu” = Đậu , hàn lâm dùng hai chữ Đậu Lưu  留 nghĩa là ở lâu hay cắm neo (Neo = Níu = Líu = Lưu)

 

 

Sấm

“Vịt nghe Sấm” là một câu thành ngữ, có mỗi ba từ rất quê mùa, chỉ sự nghe mà không hiểu (do kém trí tuệ), nhưng nó nén thông tin không phải ít. Một từ Sấm trong câu thành ngữ này đã hàm chứa 2 trong 1:

1/ Sấm là tiếng động đột ngột xảy ra khi điện âm dương trong đám mây đụng nhau. Đụng viết bằng chữ Soạng , tiếng ồn viết bằng chữ Âm . Nói lướt “Soạng  Âm ” = 0 + 0 = 1 = Sấm . Vịt nghe sấm nó ngơ ngác hoảng loạn do không hiểu tiếng động đó là nguyên do gì.

2/ Sấm là ám ngữ mang nội dung tiên tri, phải giải mã mới hiểu được [Hán ngữ hiện đại gọi là “dự ngôn 预言”]. Cái nội dung sâu thâm ấy gọi bằng cách lướt từ đôi “Sâu Thâm” = 0 + 0 = 1 = Sấm . <Thuyết văn giải tự> nói: 河雒所岀書曰讖 (Hà Lạc sở xuất thư viết sấm), đọc Sở Âm thiết (tức lướt: “Sở 楚 Âm  = Sấm ) [Phát âm theo Hán ngữ hiện đại thì là: “Suo 楚 Yin ” = Sin, trật, không thành “Chèn ”(bởi âm “Chèn” chỉ là sự phiên âm từ “Sấm” của tiếng Việt, chứng tỏ chữ nho là của Việt, phải đọc như âm Việt nho đọc, mà không thể gọi hàm hồ đó là “âm Hán Việt” ].  Nghĩa là Hà thư và Lạc đồ cũng là những tờ “Sấm” viết bằng những ma trận ký hiệu mà phải nhờ các bậc thức giả giải mã cho thì mới hiểu được. Khi đã giải được mã, hiểu được rồi thì mới thấy nội dung nó quả thật là “Thâm Sâu” = 0 + 0 = 1 = Thấu

 

 

Chữ Đường

< TVGT>: 殿也。从土尚聲。坣,古文,籒文从高省。徒郎切


坣小 (tiểu Triện)


㙶小(tiểu Triện)

Chữ Đường  (kiểu “hội ý”: Thổ Thượng , biểu ý: Đất được đề Cao), nguyên nghĩa là một cái Điện 殿 (thiết “Địa Thiên” =  Điện, Thiên ở đây đã chuyển chú chỉ ý cao Thượng, ví dụ: cái điện thờ hay đền thờ), theo <Thuyết Văn giải Tự> thì đọc là Đồ 徒 Lang  thiết Đàng . [Hán ngữ hiện đại đọc là “Tú 徒 Láng thiết Táng ”, trật, không thành “ Đàng”]. Đồ Lang thiết Đàng, nhưng Đồ Lang phản thiết là Đàng Lồ. Đàng Lồ nghĩa  là con đường khổng lồ, tức con đường lớn, ám chỉ một hướng đi lớn. Do vậy trong tiếng Việt chữ Giảng Đường phản thiết (nói lái) là Dưỡng Đàng nghĩa là: nuôi dưỡng một hướng đi lớn. Đúng vậy, học sinh vào giảng đường để nghe giảng tức học để nuôi dưỡng cho chính mình một hướng đi lớn trong cuộc đời.

Chú thích: <TVGT> còn giải thích: “chữ Điện 殿 vốn chưa từng thấy nghĩa của chữ này. Thời Hán cái nhà mà bốn xung quanh toàn là nước chảy thì gọi là cái Điện 殿”. Trong tiếng Việt đó chính là cái vị trí có “Đất đội Lên” = Đền (nói lướt), (giống như chữ Đường 堂 là chữ kiểu “hội ý” bằng lướt âm thành ý, là: Thổ + Thượng  = Đườngnhư cổ văn, sau mới thêm cái Vuông  vào giữa biểu ý cái nền, thành chữ Đường 堂 như ngày nay). Những tên địa danh hiển dấu ấn địa hình như Gò Nổi hay Điện Bàn ở Quảng Nam chắc là có liên quan đến ý trên của chữ Điện.

 

 

Con cháu Tiên Rồng trên xứ Hồng Lạc

Nước Văn Lang cổ đại của 18 thời đại Hùng Vương còn có tên gọi trong sử thư là Hữu Hùng Quốc  (nước họ Hùng, có đia vực: Bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải. Nam giáp Hồ Tôn), các họ cổ nhất là Nguyễn Văn (nghĩa là: tộc Nguyễn đất Văn Lang) và họ Lê Hữu (nghĩa là: tộc Lê đất Hữu Hùng Quốc). Tên người trong tiếng Việt theo trật tự là: Họ + tên Đất + tên Riêng, do vậy thường thấy tên Đất là Văn chiếm đông nhất , vì nó có từ thời đất nước Văn Lang. Tiếng TQ do ngữ pháp ngược với ngữ pháp tiếng Việt nên tên Đất đứng trước tên Họ. Ví dụ họ Dương có chi chuyển đến đất Âu định cư thì gọi là họ Âu Dương chứ không phải Họ trước Đất sau là Dương Âu; hoặc như Khổng Minh vốn là họ Cát nhưng chi của ông đã di cư đến đất Gia nên thành ra họ Gia Cát (Đất trước, Họ sau), tên riêng là Lượng nên gọi đủ họ tên là Gia Cát Lượng. Ba thời đại Hạ () Thương () Chu () là thuộc thủa nước Văn Lang mà sử thư ghi là Hữu Hùng Quốc (xem sử thư của Đài Loan). Hạ () là mùa hè, biểu trưng theo Dịch lý chỉ phương Lửa (phương của quẻ Ly) gần xích đạo, nóng, màu đỏ, gọi là đất Hồng (Hồng Lĩnh) hay xứ Đào (ca dao: “rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say”), Đất Đào là đất kẻ La (La = Lả = Lửa, xứ nóng, từ Trung bộ VN trở vào ), vịnh Hạ Long 夏龍 có nghĩa là người Hạ  (kẻ La, tức tộc Đại La) đất Rồng , đặt đúng trật tự NgườiI trước, Đất sau, đúng logic là có người đến thì đất mới có tên (du lịch giải thích: “Hạ  Long 龍 nghĩa là nơi rồng xuống” là giải thích sai do dùng sai chữ Hạ nghĩa là xuống); Thương () nghĩa là phương đông, Biển Đông còn gọi là Thương Hồ 商湖, người Biển Đông gọi là dân Thương Hồ, màu ngũ hành của phương Đông theo Dịch lý là màu xanh, Xanh  = Thanh = Thương = Đường, đất Đường là đất kẻ Canh  (Bắc Bộ VN). Cái La bàn còn gọi là cái La-Canh hay cái “kim chỉ Nam” vì cái kim này có đuôi là hướng La = Lả = Lửa = Ly ( quẻ Ly tượng Lửa trong Dịch lý) là hướng nóng gần  xích đạo tức hướng Viêm Nhiệt mà nói lướt “Viêm  Nhiệt ” = Việt  , chữ Việt này chỉ Vùng đất () + nóng Chói = Cháy  = Chiếu = Thiêu = Thái ( ) + những dòng sông Dài () + bờ biển uốn Cong   ( ); còn mũi kim thì chỉ hướng    Lạnh = Canh = Căm Căm = Khảm (quẻ Khảm tượng Nước trong Dịch lý) = Khảm = Nam  (tiếng Thái Lan chỉ nước) = Nặm  (tiếng Lào chỉ nước) = Nậm (tiếng Tày chỉ nước) = Nước = Nác (tiếng Mường) = Lạc .Chữ Lạc  nghĩa là nước, được viết theo kiểu “hội ý” gồm bộ Ti   ý nói nước dù từ những giọt nhỏ li ti   + bộ Mộc 木 ý nói cho đến  đầy ắp như biển Đông mênh mông, Mộc  theo Dịch lý chỉ phương Đông là phương mặt trời Mọc, ám chỉ biển Đông + bộ Bạch ý nói nước vẫn luôn luôn là thứ vật chất trong sạch. Do Lạc 樂 nghĩa là nước, [Nôi Khái Niệm: Nước = Nam (tiếng Thái Lan) = =Nặm (tiếng Lào) = Nậm (tiếng Tày) = Nác (tiếng Mường) = Lạc = Lắc (tiếng Tây Nguyên) = Đắc (tiếng Tây Nguyên) = Đác (tiếng Choang) = Đức = Tức (tiếng Khơ me) = Té (lễ hội Té Nước)] cho nên chữ Lạc 樂 còn “chuyển chú” sang nghĩa là vui vẻ, hoan lạc vì nước đem lại sự mát mẻ cho muôn loài, còn từ Té cũng “chuyển chú” sang nghĩa là ngã do trơn trượt. Người La , gọi là tộc Đại La (bao gồm cả các quốc gia cổ đại như Chen La, Chiêm La và Xiêm La) là ở đất Hồng (xứ nóng), [Nôi Khái Niệm: Năng = =Nắng = Nóng = Hong = Hồng  紅 = Hỏa = Hà = Lả = La = Lửa  = Rưa = Rư = Rực = Nực = Nhực = Nhật = =Nhiệt = Liệt = Lửa, tiếng Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “Lửa ”, tiếng Mandarin – Mãn đại nhân 满大人 (tức tiếng phổ thông TQ) đọc chữ Nhiệt 熱 là “Rưa ”, đọc chữ Nhật là “Rư”]. Người La là tộc dòng Tiên (có totem là con chim Phượng), hợp nhất với Người Canh = Kinh ở đất Lạc 樂 tức đất Nam  là tộc dòng Rồng (có totem là con Rồng, phiên thiết thành "Rào Long", nên còn có tên là Giao Long) thành dân tộc “con cháu Tiên Rồng” trên đất Hồng Lạc, tức đất Việt Nam của đại gia đình các sắc dân của dân tộc Việt Nam. Người Việt ở đất Lạc cho nên gọi là dân Việt Lạc (kết cấu Người trước, Đất sau, như các tên làng của người Việt đều có kết cấu là Kẻ - tức Người, trước rồi mới đến tên đất sau, ví dụ tên làng là Kẻ Noi nêu rõ nghĩa là Người ở đất Noi, Kẻ Noi ký âm bằng chữ nho là Cổ Nhuế, nhưng chiêc cầu qua sông Nhuệ của làng vẫn mang tên là cầu Noi). Do ngữ pháp Hán ngữ ngược, nên người Việt Nam 越 南 tức người Việt Lạc 越 樂 thì bị viết là người Lạc Việt 樂 越 và chữ Lạc 樂 cổ xưa là kiểu “hội ý” (chữ Lạc 乐 giản thể của TQ chỉ có nghĩa là vui vẻ nhưng chữ không biểu ra được ý) bị Hán ngữ sửa thành chữ Lạc 洛 kiểu “hình thanh” (lấy chữ Nước làm “hình” và mượn chữ Các 各 làm “thanh" nên có chữ Lạc Việt 洛越, thậm chí còn có cả chữ Lạc Việt  駱越, với chữ Lạc  bị sửa lấy chữ Mã làm “hình” để biếu ý là người Lạc Việt 駱越 là dân bỏ chạy khỏi quê hương chữ Mã 馬 là ngựa, biểu ý chạy vì đã bị mất đất do người Hán xâm chiếm Chữ Nam (cái âm đọc “nam” có nghĩa là nước, như tiếng Thái Lan) còn chữ nho Nam viết theo kiểu “hội ý” biểu âm thành ý là “Cung 冂 Hạnh ” = Canh  và “Hạnh  Cung ” = Hùng , ý chỉ người Canh 京 thời đại các vua Hùng . Do vậy trong tiếng Việt thì từ “người Việt” còn gọi là “người Nam”, “chữ nho Việt” còn gọi là “chữ Nam” (cho đến nay nhà chùa vẫn gọi học chữ nho là học chữ Nam, khác với học chữ quốc ngữ, người “Nam Nói” thì gọi là “Nôm Na” (tiếng Nhật là “Nan ha-Na-xư”). Cho nên biển Đông xưa ngoài cái tên là Bát Hải 八海 (Bát  là số 8 chỉ phương Đông theo Dịch lý)  còn có tên là Nam Hải 南海 nghĩa là biển của người Canh của các vua Hùng, (chứ Trung Quốc không có tí  gì “quyền lịch sử” của Hán tộc ở đây cả), rõ ràng như thư tịch cổ đã viết là Nam Hải (南海).  Nam Hải  南海 xưa cũng còn có tên là La Hải 羅海 (biển của tộc Đại La 大羅) như trong cuốn sách <Hải ngoại ký sự 海外記事> của hòa thượng Thích Đại Sán  khi được Chúa Nguyễn mời từ TQ sang Đàng Trong của VN để thuyết giảng, đã viết: “Thuyền đi vừa qua khỏi đảo Hải Nam là đến biển La Hải 羅海 của nước Đại Việt 大越國”. [ Thời này ở Việt Nam đang là thời “Trịnh Nguyễn phân tranh”, một nước Đại Việt có hai chính phủ (Đàng ) chia quản vùng Ngoài và vùng Trong, Đàng Ngoài (堂外) nghĩa là một chính phủ quản vùng Ngoài, Đàng Trong (堂中) nghĩa là một chính phủ quản vùng Trong (chữ Đàng 堂 và chữ Phủ 府 đồng nghĩa đen là cái Nhà, ở đây “Nhà” đã chuyển chú sang nghĩa là cái “Cơ quan hành chính”), “Đàng Ngoài 堂外” và “Đàng Trong 堂中” là do dân gọi thế thì sử cũng phải ghi lại như thế, vì trong tư duy của nhân dân thì nước Việt và tộc Việt luôn luôn là thống nhất, không thể xẻ thành những quốc gia riêng ].

 

Chữ Vọng, tiếng Mandarin (Mãn đại nhân) phiên âm là “wang” (theo Tân Hoa tự điển)

望新华字典 (Tân Hoa tự điển)

拼音:wàng  ,异体字: (2 dị thể tự)

   tiếng Mandarin phiên âm là ”wang”

Tiếng Việt hàn lâm đọc chữ nho Vọnglà “vọng”, gốc nó tự tiếng Việt dân gian, gọi là Mong. Rất nhiều từ có phụ âm đầu là “M” sau bị biến âm (à) thành “V”. Ví dụ Mầnà Việc = Vụ (tiếng Nhật lại đọc chữ Vụ là “mu”, như lướt “Mần là Vụ” = “mu”); Mùaà Vụ (đến mùa gặt = đến vụ gặt); MuônàVàn = Vạn (tiếng Nhật lại đọc chữ Vạn là “man”, như lướt từ đôi “Muôn Vàn” = “man”); Múaà (tiếng Nhật lại đọc chữ Vũ là “mu”, như lướt “Múa là Vũ” = “mu”; Mất tức Bỏ=0 (như Nỏ=0 tiếng Nghệ, như Bò=0 tiếng Thái, như Bố=0 tiếng Tày, như Bộ=0 tiếng Nam Bộ), từ đôi Bỏ Mấtlướt từ đôi “Bỏ Mất” = Bất = 0, Mấtà Vong (tiếng Nhật lại đọc chữ Vong là “bò”, như tiếng Thái, Bò=0); Mo (thầy Mo)à Vu; Mù (lông vũ, tiếng Hoa)à (tiếng Nhật lại đọc chữ Vũ là “u”) v.v. Do vậy từ Mongà Vọng cũng không có gì lạ, đều là từ gốc Việt.

<Thuyết Văn giải Tự> giảng nghĩa chữ Vọng là: Người xuất dương (chữ Xuất) đi mất  (chữ Vong) ở bên Ngoài (chữ Tại Ngoại在外), Vọng nó trở về ạ (chữ Vọng Kỳ Hoàn Dã望其還也). Cách đọc chữ Vọng là “Mo Phóng thiết”, tức lướt “Mo Phóng” = Mong. (Theo bản khắc của Trân Xương Trị đời Thanh)

清代陈昌治刻本【说文解字】望

【卷十二】【亾部】

出亡在外 (xuất vong tại ngoại)其還也 (vọng kỳ hoàn dã)从亡,朢省聲。巫放切

Cách đọc: 巫放切 (“Mo 巫 Phóng  thiết ” ) . Tức lướt             “Mo Phóng” = Mong. Do tiếng Mandarin ( tức “Mãn đại nhân”, người Mãn họ tự xưng như vậy, khi họ đã chiếm và thống trị Trung Hoa 300 năm) lại đọc chữ Mo  là “wu ” và đọc chữ Phóng  là “fang ” nên theo hướng dẫn đọc chữ Vọng  cho đúng âm Việt  là “Mo 巫 Phóng  thiết ” thì họ lại đọc là “Wu 巫 Fang  thiết Wang 

Như giảng nghĩa của <TVGT> thì nội dung chữ Vọng là khi người thân đi ra Ngoài xa, người nhà luôn Muốn nó về lại Trong, nên câu ‘Muốn nó về Trong” = Mong (do lướt tức thiết mà thành). Từ gốc là từ Mong (từ dân gian). Còn từ hàn lâm là do lướt nhấn mạnh ý  mong đến cùng tức “Vẫn Mong” = Vọng .

Lướt như tiếng Việt thì nó logic, như “Vẫn Mong” = Vọng, là thành một đẳng thức (Vẫn + Mong = Vọng, như là đánh vần “V…..Ong=Vong nặng Vọng” vậy. Tữ Vẫn này trong tiếng Việt có nghĩa là kiên trì giữ vững ý muốn, tức “Vững Gân” = Vẫn. Do vậy có “Vẫn Mong” = Vọng. Còn <TVGT> hướng dẫn đọc bằng cách “thiết” chỉ là mượn âm hai chữ nho khác (phải đọc như âm Việt đọc) là chữ Mo (nghĩa là thầy mo tức thầy cúng) và chữ Phóng (nghĩa là Buông bỏ) để thiết ra đúng âm Việt là Mong, chứ nó không logic về nghĩa vì không thể có đẳng thức: Thầy cúng + Buông bỏ =  Mong  (phi lý).

Còn chữ  Vẫn trong từ ghép Tự Vẫn là từ Vẫn dồng âm dị nghĩa với từ Vẫn nêu trên, Vẫn này là “Vứt Thân ” = Vứt Nhân ” = Vẫn, tự vẫn tức tự sát là tự vứt bỏ mạng sống tức tự vứt bỏ thân thể mình, tức là lướt “Vứt Thân” = “ Vứt Nhân” =  Vẫn , chữ nho viết theo kiểu “hội ý” như sau:  Chữ Vẫn , đọc thiết như đánh vần là “Dao Vứt” = Dứt (nghĩa là dứt cái mạng sống). Ở đây từ Dao = chữ Đao, nên cũng là lướt “Đao 刂 Vứt ” = Đứt (nghĩa là đi đứt cái mạng sống). Còn từ Vứt = Vất = Vật = “Bỏ Mất” = Bất = 0 tức bằng Không.

<TVGT> giảng nghĩa chữ Vẫn 刎 là Kình , mà Kình 剄 nghĩa là Cắt đứt cổ hay Chém đầu (cũng là dứt mạng sống). Kình 剄 là chữ nho Việt cổ, chỉ có trong Sách cổ, từ đời Hán trở đi không dùng. Chữ Kình 剄 có con Dao, chuyển chú sang nghĩa là Cắt + chữ Kinh 巠 chỉ hệ kinh lạc của cơ thể. “Cắt刂 Kinh 巠” = Kình 剄 thì cơ thể cũng chết.

 

 

Chữ Nho: L = +++  (Lạc nghĩa là Nước , gồm những giọt nhỏ li ti như hai chữ Ti  cho đến lượng đầy ắp như biển Đông , viết đại diện bằng chữ Mộc là chữ chỉ phương Đông theo dịch lý,  thì bản chất của nó vẫn là Trong Sạch , viết đại diện bằng chữ Bạch ).         

Chữ Hán của TQ: LẠC , chữ này không biểu được ý là nước, âm “lạc”của nó chỉ mang cái nghĩa đã chuyển chú cùa Lạc (Nước) là vui vẻ, mát mẻ. Cho nên người Hán đã phải chế ra một chữ kiểu “hình thanh” để ghi từ Lạc (Nước) bằng chữ Lạc  này (gồm “hình” là chữ Thuỷ   . “thanh” là chữ Các )

Từ  Câu Lạc Bộ 俱乐部 ( C – lu – B ) là do TQ dùng ba chữ Hán để phiên âm từ Club của tiếng Anh. Tiếng Việt thì đáng lẽ cứ “Club” mà gọi thì lại sính Hán mà gọi theo phiên âm bằng chữ Nho là “Câu Lạc Bộ” thì chẳng hiểu nó là cái Bộ gì mà lại đi Câu củ Lạc. Cho  nên họ tên người TQ thì cứ nên theo phiên âm của tiếng TQ mà gọi cho nó đúng mới là tôn trọng người ta, không việc gì phải Việt hoá cái âm đó đi. Tiếng phổ  thông TQ ngày nay thì quốc tế gọi là tiếng Mandarin (do phiên âm từ Mản Dà Rén 满大人 – Mãn Đại Nhân , tức phát âm tiếng Hoa của quan lại người Mãn Thanh.

 

 

Nôi khái niệm:

Nêu= Bêu=Bẹo=Biểu=Tiêu=Têu=Hiệu=Huy=Xí=Kỳ=Cờ=Cây

Do đó có các từ ghép:

Cây  Nêu. Cây Bẹo. Nêu gương. Biểu dương.Tiêu Biểu. Tiêu chuẩn, Bêu xấu, đầu Têu, một Cây, Cây văn nghệ, Cây giỏi toán, thương Hiệu, bảng Biểu, quốc Huy, quốc Kỳ, Cờ nước, Cờ Xí, Huy chương.v.v.

Chữ Hiệu 號 còn được chuyển chú thành nghĩa là thành lập, là cái nền móng. Đặt nền móng  gọi là Trước Hiệu  . Nói lướt “Trước Hiệu”  =Triệu . Chữ Nam Việt Triệu Tổ 南越肇祖 ( chữ trên đền Hùng) có nghĩa là ông Tổ đặt nền móng cho nước Nam Việt)

 

 

Lời dạy của Việt Nho qua hoành phi:

                             THIÊN ĐỊA QUÂN THÂN SƯ

           天  地  君  親 師

Năm chữ này trong Nam còn thấy nhiều gia đình thường treo, kể cả trong các hội quán của đồng bào Hoa cũng có treo, ngoài Bắc không còn thấy,  vì bị đốt hết hồi CCRĐ rồi, có lẽ do hiểu chữ Quân là vua tức phong kiến, thực ra Con = Cán = Quân, con bài cũng là quân bài, con làm ở bộ phận có chức trách riêng gọi là cán bộ, xưng “Quân” cũng là xưng Con. Chữ Quân gồm chữ Doãn (tức lướt “Dân là Quan” = Doãn, mình tự quản mình) + chữ Khẩu (đại diện cho cái khẩu lệnh từ chính bộ óc mình). Cho nên Con = = Quân = “Cá Nhân” = Quân =  Mình.

Ý nghĩa bức hoành phi này là nhắc nhở làm bất cứ nghề gì cũng phải tôn trọng Âm Dương Ngũ Hành, cũng như tôn trọng Năm vị là: tôn trọng Trời (THIÊN), tôn trọng Đất (ĐỊA), tôn trọng Mình (QUÂN), tôn trọng Dân (THÂN), tôn trọng Thầy (SƯ). Nếu dựng đứng bức hoành phi thì đứng giữa là Mình (tức nhà DN là QUÂN) nhìn lên THIÊN là biết tôn trọng pháp luật nhà nước, nhìn lên ĐỊA là biết bảo vệ môi trường và ủng hộ nhân dân địa phương nơi mình có nhà máy, nhìn xuống thấy THÂN là biết coi người làm như thân nhân của mình, nhìn xuống thấy Sư là biết chức trách mình phải như thầy giáo dục kèm cặp nhân viên của mình. Hoành phi này đọc ngược thì là Thầy thuốc (SƯ) thương kính (THÂN) con dân (QUÂN, “Con Dân” thiết Quân) bởi thầy thuốc có lòng nhân từ mênh mông như mặt đất (ĐỊA) và kiến thức bao la như bầu trời (THIÊN). Hoành phi hay câu đối thường dùng từ theo lối ước lệ (mượn từ qui ước để nói lên một ví dụ cụ thể. Bởi vậy nó hàm nhiều nghĩa. Thuyết minh  phải dịch rõ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng hay ẩn ý. Đây là đặc điểm của chữ vuông của người Việt chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa thời cổ đại (nén nhiều thông tin vào một vuông qui ước nhỏ xíu) gọi là “vuông Trữ Nho nhỏ” tức “vuông Chữ Nho nhỏ”, nói tắt bằng vo bỏ đầu (“vuông”) bỏ đuôi (“nhỏ”) đi, còn lấy lõi giữa là “Chữ Nho”. Ví dụ người Nhật xưng ngôi một là “wa-Ta-xi” thì Việt chỉ xưng là “Ta”, Nhật gọi  “xa-Ka-na” thì Việt gọi là Cá (Lào, Thái gọi là Pá), v.v. vô cùng nhiều, đó là ngôn ngữ của Đại Tộc Việt có xuất xứ ĐNÁ cổ đại, trở thành ngôn ngữ Bách Việt mà về sau là các nước Ngô, Sở, Việt hơn 1000 năm trước công nguyên, đều toàn là dân Bách Việt, chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa cổ đại.

                                     天 地 君  親 師

                                   THIÊN  ĐỊA  QUÂN THÂN  SƯ

 Ý 1:              Yêu TRỜI ( ), yêu ĐẤT (), yêu MÌNH ().

                     Yêu CHA MẸ (), với tôn vinh yêu THẦY ()

  Ý 2:              Kinh doanh phép nước (THIÊN) phải hay

                     Giữ môi trường (ĐỊA) ở nơi này địa phương

                     Tự coi mình đáng  quân vương (QUÂN)

                     Dắt dìu cấp dưới như thương người nhà (THÂN)

                     Dạy họ như bậc sư gia (SƯ)

                     Làm thiện tạo phước mới là người khôn

                     Một lòng pháp luật thượng tôn

                     Làm ăn giữ tín thì luôn mạnh giàu.

Chú thích: Những đời sau Hán Nho hủ bại đã đổi câu hoành phi 5 chữ trên của Việt Nho thành câu có 3 chữ của Hán Nho là QUÂN THẦN SƯ tức dạy người dân chỉ tôn trọng ba vị là: Vua (QUÂN ) Quan (THẦN) Thầy ( SƯ).

 

 

Từ Lọc là một động từ. Chữ Nho Việt viết chữ Lọc là chữ kiểu ”hình thanh “ (hình là bộ Nước, thanh là mượn chữ Lự cận âm, vì Lọc thì phải dùng Nước nên  mượn chữ Nước, và nhấn mạnh “Lọc Chứ!= Lự,nên mượn chữ Lự cũng cận âm với âm “lọc”). Hán ngữ mượn dùng chữ Lọc của Việt với nguyên nghĩa là động từ Lọc nhưng phát âm lơ lớ là “luy”. Bộ Lọc thì Hán ngữ dùng ba chữ là “Qua Lọc Khí”, tức cái công cụ để Lọc qua. Tra chữ Lọc theo < Thuyết Văn Giải Tự> trên mạng thì sẽ được câu trả lời sau: “ 抱歉,没有收录汉字”- Xin lỗi, không có thâu lục Hán tự ‘Lọc”. Túc khẳng định nó không phải là chữ Hán (vì nó là chữ Nho của Việt)

Từ Nghiên là một tính từ mang nghĩa là Đẹp. Chữ Nho Việt cổ viết chữ Nghiên 妍 là kiểu “hội ý” gồm chữ Nữ 女 và chữ Khai 开 biểu ý là người con gái (Nữ) mà cời bỏ hết (Khai ) trang phục ra  thì đúng là Ngộ thật. Từ Ngộ này của tiếng Việt không phải là từ Ngộ  (gặp gỡ, tương ngộ 相遇), cũng không phải là từ Ngộ 悟 (nhận biết,  giác ngộ 觉悟) mà là Ngộ (đẹp dễ thương hiếm thấy, ví dụ nói: “thằng nhỏ đó hay con nhỏ đó nhìn Ngộ thật”. Trường hợp chữ Nghiên 妍 này là Ngộ Lắm, gọi theo lối hàn  lâm là Ngộ Nhiên, nói  lướt “Ngộ Nhiên ” = Nghiên   nên Nghiên mang ý là Đẹp. Như thành  ngữ cổ viết  “Bách Hoa Tranh Nghiên 百花争妍” nghĩa là “Trăm Hoa Đua Sắc”. Từ Nghiên  và  từ Nhan 颜 của tiếng Việt đều đồng nghĩa là Đẹp, nhưng Hán ngữ phát  âm chữ Nghiên 妍 và chữ Nhan 颜 đều là “Yán” nên Hán ngữ chí có câu “Bách Hoa Tranh Nhan 百花争颜” mà không có câu ”Bách Hoa Tranh Nghiên 百花争妍”. Tra chữ Nghiên theo <TVGT> trên mạng sẽ được câu trả lời: “ 抱歉,没有收录汉字”- Xin lỗi không có thâu lục Hán tự “Nghiên ”. Chứng tỏ nó không phài là chữ Hán, nó là chữ Nho Việt.

 

 

Chữ Triệu 肇 nghĩa là Đầu tiên đặt nền móng, đầu tiên đặt ra, đầu tiên dựng lên, đầu tiên vực dậy, đầu tiên nêu lên (< TVGT> giải thích Triệu 肇 nghĩa là Kích 擊 tức là khởi động đàu tiên cũng như là đầu tiên vực dậy vậy). NKN “nêu” là: Nêu = Têu =Tên = Tiêu = Biêu = Bẹo = Biểu = Hiệu = =Kiểu = Cây. Do vậy có những từ đôi như Cây Nêu (dùng ngày Tết), Cây Bẹo (dùng trên thuyền bán hàng chợ nổi miền Tây), Cây Tiêu (dùng để ngắm chuẩn), Tiêu Biểu (chỉ cái điển hình, như từ Cây trong từ ghép Cây văn nghệ, Cây giỏi toán v. v.). <TVGT> hướng dẫn đọc âm Triệu 肇 cho đúng tiếng Việt là bằng cách lướt hai từ “ Trị Tiểu” = Triệu ( như đánh vần vậy, đó chỉ là ví dụ cách đọc cho đúng âm Việt, chứ không phải là đẳng thức Trị Tiểu nghĩa là trị cái nhỏ thì bằng nghĩa là Triệu). Đúng logic phải là “ Trước  Hiệu ” = Triệu . Trước著 nghĩa là sáng tác. Hiệu nghĩa là đặt tên hay là đặt nền móng. Trước Hiệu 著號 nghĩa là sáng tác nền móng, tức là Triệu . Tiếng phỏ thông Trung Quốc (tức tiếng Mandarin – Mãn đại nhân, theo cách gọi của quốc tế) mà đọc hướng dẫn của <TVGT> bằng phát âm của họ thì “ Trị Tiểu thiết Triệu 治小切肇“ sẽ bị đọc là "Zhi Xiao qie Zhiao" chứ không thành Zhao như họ vẫn đang đọc chữ Triệu 肇 là     ' Zhao '. Chứng tỏ <TVGT> là từ điển tiếng Việt, phải đọc chữ Nho như người Việt đọc âm Việt thì mới đúng.

Nhân tiện chữ Triệu 肇 mới hiểu đúng bốn chữ trên cổng đền thượng ở Đền Hùng (Phú Thọ) là Tổ Triệu Việt Nam 祖肇越南 nghĩa là Ông Tổ (chữ Tổ) đầu tiên đặt nền móng (chữ Triệu ) nước Việt (chữ Việt ) của người  Nam (chữ Nam ). Chữ Nam 南 lại là chữ kiều hội ý gồm chữ Cung + chữ Hạnh , tức lướt “Cung  Hạnh ” = Canh 京 và “Hạnh  Cung ”= Hùng  (tức Người Nam 南 là người Canh có các vua Hùng , là dân x nóng). Chữ Hùng  熊 lại chữ kiểu hội ý (chữ biểu thành ý, âm thiết thành âm) là “ Lửa Nắng ” =  Lang (chữ Lửa và chữ Nắng biếu ý xứ nóng, âm L và âm Ang thiết thành Lang như đánh vần). Vua Hùng còn gọi là Lang , ví dụ Lang Liêu là một vua Hùng sáng tác ra bánh chưng. Dân  xứ nóng (ở vùng hướng quẻ Ly theo Dịch lý là hướng xích đạo tức hướng Ly = Lửa = Lả) xưa gọi là tộc Đại La (đã  từng dựng nên kinh đô Đại La) nên biển Đông xưa gọi là La Hải. Nơi đây sản sinh cái La bàn còn gọi là cái La - Canh. Vì đuôi kim ở hướng La (quẻ Ly hướng Lả) còn mũi kim chỉ hướng Canh là hướng quẻ Khảm tượng nước (Lạnh = Canh= Căm căm = Nặm = Nam = Khảm). Âm “nam” tiếng Thái Lan nghĩa là nước. Kim La Canh thì tiếng Hán dịch là cái  Kim chỉ Nam là vì vậy . Biển Đông gọi tên như xưa là La hải 羅海  (biển của người Đại La大羅)  hay là Nam hải 南海 (biển của người Nam – tức người Canh vua Hùng) thì chẳng thấy có một tí gì là lịch sử của người Hán 漢 hay người Trung Quốc 中國 ở đây cả.

Xứ sở Hồng Lạc là trải dài từ phương quẻ Ly là Nóng = Hong =  HỒNG = Hoả = Hạ = Lả = LA cho đến phương Lạnh của  Khảm = = Nam = Nước = Nác = LẠC = Lạnh = CANH, đúng như cái kim chỉ Nam là cái La – Canh của tộc Đại La gọi là cái La bàn.

 

 

Tiếng Việt ngày nay là dùng hồn hợp từ dân gian ( thương gọi là từ thuần Việt) và từ hàn lâm (thường gọi là từ Hán Việt). Từ Việt hàn lâm thì có viết bằng chữ Nho.Gọi nó là từ Hán Việt là cách gọi sai lầm, vì phát âm của nó là hoàn toàn thuần Việt. Thứ  tiếng Việt hàn lâm này chính là ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa thời nhà Đường trở về trước (mà trong cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn <Thuyết Văn Giải Tự 說文解字> có từ thời đầu Công nguyên đã thể hiện rõ. Thơ Đường viết bằng chữ Nho phải đọc đúng như phát âm của tiếng Việt hàn lâm thì mới đúng luật bằng trắc. Còn đọc như phát âm của Hán ngữ hiện đại thì sai, không còn ra thơ Đường nữa. Hán ngữ hiện đại hay còn gọi là tiếng Phổ thông Trung Quốc (mà quốc tế gọi là tiếng Mandarin – Mandaren tức Mãn Đại Nhân 滿大人, là thứ tiếng của quan lại nhà Mãn Thanh 滿清 ngoại tộc phát âm lơ lớ méo mó tiếng Trung Hoa có từ thời nhà Đường. Tiếng Mandarin còn gọi là tiếng Quan thoại [ theo kiến giải của nhà sử học trứ danh Viên Đằng Phi 袁騰飛, giáo thụ trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh Trung Quốc] ).

Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Nam Đảo ( Malayapolinesian – xưa gọi là tộc Đại La ở ĐNÁ), thuộc ngữ hệ Môn-Khơme . Hệ đếm của tiếng Khơ me là hệ ngũ phân: 1 – 2 - 3 - 4 - 5 tức Muôi – Tê –  Bây – Buôn – Prăm là hết vòng đếm, quay vòng tiếp là 6 tức Prăm Muôi. Vậy số 5 là lớn nhất vòng đếm, là con số Nhiều. Nôi Khái Niệm “ nhiều” đã tiến triển trong tiếng Việt là:  5 = Prăm =  Rắm =  Năm = Lắm = Lũ = Ngũ   = Ngao = Ngán = Ran  =  =Nhan-Nhản = Nhặn = Nhiên = Nhiêu = Nhiều. Trong Nôi Khái Niệm đó các từ Ngũ , Ran , Nhiên , Nhiêu 繞 là những từ hàn lâm có viết bằng chữ Nho. Hán ngữ hiện đại dùng chữ Nho , cũng với nghĩa như tiếng Việt, nhưng phát âm bị lơ lớ đi như Nhiên , thành “ rán ,”, Nhiêu 繞 thành “ráo ”, Ngũ  thành “wủ ”.v.v. Tiếng Việt dùng Vân Vân  ở cuối câu có nghĩa là còn nói nhiều ví dụ nữa. Vì từ hàn lân Vân đồng nghĩa từ dân gian Van (nghĩa là Nói). Ví dụ câu: “ Ai Van chi rứa?” có nghĩa là “ Ai Nói gì đấy?”. Hán ngữ hiện đại không dùng Vân Vân 云云 mà dùng từ Đẳng Đẳng 等等 ( nghĩa là còn nói nữa Bằng Bằng như ví dụ ấy).

 

 

Đặt tên là Minh Đăng

Minh Đăng, hiểu theo cú pháp Việt thì cái đề là Minh , thuyết là Đăng, nghĩa là ánh sáng của cái đèn, Còn hiểu theo cú pháp Hán thì Đăng là cái đề, minh là thuyết, nghĩa là cái đèn nó sáng. Cả hai chữ Minh và Đăng theo Từ điển yếu tố Hán-Việt thông dụng, Viên ngôn ngữ XB 1991Hà Nội thì chúng là những tố gốc Hán gọi là từ Hán-Việt: Minh (trang 260),nghĩa: sáng. Đăng (trang 118) nghĩa: đèn.Nhưng tra cuốn tự điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn <Thuyết Văn Giai Tự 說文解字> của tác giả Hứa Thận, in năm Hán Hòa Đế, có cách nay hơn 2000 năm thì được cuốn sách đó  trả lời:

1/ Chữ Đăng: Tra mạng <Thuyết văn giải tự> thì được trả lời: “Xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự Đăng (抱歉,没有收录汉字”)”. Đã xin lỗi rằng nó không phải là Hán tự thì nó chính là chữ nho của người Việt mà Hán ngữ mượn dùng với nguyên nghĩa vậy. Chữ Đăng 燈 là từ hàn lâm của từ dân gian là Đèn. Đèn là vật có nhiên liệu đốt sáng , chỉ dùng ở chỗ không gian đang đen tối, nó đốt sáng làm cho chỗ Đen đó bừng lên, nên gọi là “Đen Bừng” = Đèn (lướt ấy dấu). Cái sáng của nó cũng dịu như ánh trăng nên hay so sánh nó với trăng: “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng, đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn. Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn, cớ sao trăng phải chui luồn đám mây”. So sánh “Đèn sáng như Trăng” = Đăng (lướt cả câu), nên chữ Đăng là từ mới do lướt mà tạo nên, có nghĩa là Đèn. Đến “Tự điển đầu tiên của Trung Hoa” là cuốn <TVGT> còn công nhận “không có Hán tự Đăng - 没有收录汉字”” thì hà cớ gì Viện ngôn ngữ VN phải cố gọi nó là “từ Hán Việt”?

2/Chữ Minh, theo <TVGT>: “Minh, nhật nguyệt chiếu diệu (日月照耀)” và không có giải thích gì thêm về cách đọc bằng thiết như đối với các chữ khác trong tự điển. Vậy tại sao lại đọc là “minh” (Hán ngữ dùng và đọc theo Việt lơ lớ là “ míng”). Chữ Minh  mang nghĩa là sáng thì rõ rồi từ trong biểu ý của chữ kiểu hội ý là ghép Nhật 日 với Nguyệt . Nhật 日 là ánh sáng của mặt trời, chữ Nguyệt 月 là ánh sáng của mặt trăng. Nghĩa là cùng rọi sáng thì đúng quá như <TCGT> viết là “Nhật nguyệt chiếu diệu 日月照耀”, Chiếu 照 là sự rọi mạnh của ánh sáng mặt trời, Diệu 耀 là sự soi “Dịu Chiếu” = Diệu 耀 là của ánh sáng mặt trăng, không rọi gắt như của mặt trời. Kết cấu trong câu bốn chữ Nhật Nguyệt Chiếu Diệu 日月照耀 cũng nêu rõ theo thứ tự là Nhật Chiếu Nguyệt Diệu 耀. Vì cùng nhau rọi chung , hòa ánh sáng vào nhau, nên phải viết xen là Nhật Nguyệt Chiếu Diệu日月照耀, như vậy là càng sáng và luôn luôn sáng cả ban ngày (do có Nhật Chiếu日照) và cả ban đêm (do có Nguyệt Diệu月耀). Minh nghĩa là Sáng nhưng không hoàn toàn đồng nghĩa với Sáng, mà Minh nhấn mạnh hơn ở chỗ nó là luôn luôn sáng trong bất cứ điều kiện nào. Chữ Minh 明 này là một chữ nho của người Việt đặt ra, và gọi là “minh” vì nó do hai Mình cùng rọi sáng , một Mình là mặt trời (chữ Nhật , chữ tượng hình là một con mắt), một Mình khác là mặt trăng (chữ Nguyệt, chữ tượng hình là một con mắt). Hai từ Mình cộng lại thì theo qui tắc biến thanh điệu theo số học nhị phân thì là Mình + Mình = 1+ 1 = 0 = Minh, cho nên phải gọi từ mới là Minh (ba thanh “sắc”, “hỏi”, “huyền” đều là 1; ba thanh “không “ , ngã”, “nặng” đều là 0) . Cũng đúng với logic lướt “Mắt  mắt 月 đều Tinh ” = Minh 明 thì Minh 明 có nghĩa là Sáng. Ánh sáng là một dạng năng lượng, bản    chất của nó là như những từ thể hiện trong NÔI khái niệm sau: Trong = Trinh = Tinh = Tạnh = Ánh = Thanh = Thảng = Sáng = Lãng = Lượng = Dương = Nướng = Nóng = Nắng = Năng . Cặp đối Â/D lớn nhất tạo nên sự sống là Nước/Nắng . (theo thanh điệu thì: Nước + Nắng = 1+1 = 0 = Năng, theo lướt thì: “Nước và Nắng” = Năng ). Nước Nắng là một cái NÔI âm dương, trong đó phía “N” là Negative tức âm. Phía “I “ là Innegative tức dương.

                 Trời 日 Trăng cùng chiếu: hai Mình

 

            Mình + Mình = 1+1= 0 = Minh (sáng đều)                         

 

                   Đèn to ngọn ắt sáng nhiều

 

           “Đèn như Trăng” lướt thành Đăng chữ này                 

 

                

 Sáng đèn : hai chữ Minh 明 Đăng  

          Măng Đinh mọc thẳng như bằng mũi tên   (Măng= Trẻ, Đinh=Người)                                                                    

 

                  Trẻ Măng, Đinh 丁 tráng lớn lên                                                              

 

           Cương trực thẳng thắn – Đức thêm có Tài                                                      

                  Sáng () ắt đăng ()  được lên đài                                                          

                   Đó là phẩm chất con Ngài là Đinh                        

                              明燈

Chỉ nhìn một chữ Minh 明 đủ thấy rõ hai Mình, đó là Bố (chữ Nhật – sáng Trời) và Mẹ (chữ Nguyệt – sáng trăng), bố mẹ đều xưng là Mình và gọi nhau là:”Mình ơi”, do vậy hai Mình đó gần gũi nhau (chữ Minh nói lên sự gắn bó của Bố Mẹ) mới thành  ra là Mình+Mình = 1+1= 0 = Minh. Minh sáng bằng cả hai Mình cộng lại tức Minh là Sáng+Sáng =1+1= 0 = Sang. Nên Minh là sáng, cũng là sang, có sáng (trí tuệ) thì mới có cao sang (được đề cao tôn trọng).

 

Do lướt câu dân gian “Đèn sáng như Trăng” = “Đèn …Trăng” =  Đăng, tạo được từ mới là từ Đăng, cũng chỉ nghĩa là cái đèn, nhưng hàm ý trân trọng hơn nên gọi là từ hàn lâm và phải viết nó bằng chữ nho, trường hợp này đặt chữ bằng cách “hình thanh” (một trong Sáu cách tạo chữ nho gọi là Lục thư). Chữ Đăng 燈 được tạo ra như sau: Hình là chữ Hoả 火 biểu ý là Sáng (vì NKN: Lửa = Lả = Hoả = Hà = Tá = Tỏ, từ đôi Tá Hoả chỉ ý nóng rát, gấp gáp) + Thanh là mượn âm chữ Đăng 登 cận âm để đọc.

Chữ Đăng cho mượn âm này có bộ Đậu . Chữ Đậu 豆 theo <TVGT> thì nguyên nghĩa nó là “cái đĩa đựng  miếng thịt để cúng”, tức như tiếng Việt là đánh vần “Đĩa đựng mồi Nhậu” = Đậu. Người họ Đậu 豆 cũng dùng chữ Đậu này, vì cổ xưa họ là phường chuyên sản xuất  “Đĩa đựng mồi Nhậu” = Đậu. Chữ Đậu   là Văn (chứ chưa phải là Tự), tạo bằng cách ”chỉ Sự”: bốn nét thẳng bốn bên biểu ý vách đồ đựng + chữ Khầu hình vuông ở giữa biểu ý là  miêng mồi nhậu. Trường hợp lấy nghề nghiệp làm họ ở các chủng tộc khác cũng nhiều, ví dụ người Slav  có động từ "Kui"  nghĩa là nện búa của thợ rèn, nên họ thợ rèn gọi là họ "Kuznexov".

 

 

Chú thích:

 Tiếng Việt ngày nay là dùng hồn hợp từ dân gian ( thương gọi là từ thuần Việt) và từ hàn lâm (thường gọi là từ Hán Việt). Từ Việt hàn lâm thì có viết bằng chữ Nho, nhưng đều có gốc do từ đân gian. Gọi nó là từ Hán Việt là cách gọi sai lầm, vì phát âm của nó là hoàn toàn thuần Việt. Thừ tiếng Việt hàn lâm này chính là ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa thời nhà Đường trở về trước (mà trong cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn <Thuyết Vản Giải Tự 說文解字> có từ thời đầu Công nguyên đã thể hiện rõ. Thơ Đường viết bằng chữ Nho phải đọc đúng như phát âm của tiếng Việt hàn lâm thì mới đúng luật bằng trắc. Còn đọc như phát âm của Hán ngữ hiện đại thì sai, không còn ra thơ Đường nữa. Hán ngữ hiện đại hay còn gợi là tiếng Phổ thông Trung Quốc (mà quốc tế gợi là tiếng Mandarin – Mandaren tức Mãn Đại Nhân滿大人, là thứ tiếng của quan lại nhà Mãn Thanh 滿清 ngoại tộc phát âm lơ lớ làm méo mó tiếng Trung Hoa có từ thời nhà Đường. Tiếng Mandarin (Mãn đại nhân) vì vậy còn gọi là tiếng Quan thoại [ theo kiến giải của nhà sử học trứ danh 45 tuổi Viên Đằng Phi 袁騰飛, giáo thụ trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh Trung Quốc] ). 

Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Nam Đảo ( Malayapolinesian – xưa gọi là tộc Đại La ở ĐNÁ), thuộc ngữ tông  Môn-Khơme . Hệ đếm của tiếng Khơ me là hệ ngũ phân: 1 – 2 - 3 - 4 - 5 tức Muôi – Tê –  Bây – Buôn – Prăm là hết vòng đếm, quay vòng tiếp là 6 tức Prăm Muôi. Vậy số 5 là lớn nhất vòng đếm, là con số Nhiều. Nôi Khái Niệm “ nhiều” đã tiến triển trong tiếng Việt là:  5 = Prăm =  Rắm =  Năm = Lắm = Lũ = Ngũ = Ngao-Ngán = Ran  =  Nhan-Nhản = Nhặn = Nhiên = Nhiêu = Nhiều. (Thấy rõ từ Ngũ hàn lâm là có gốc do từ dân gian Prăm=5) .Trong Nôi Khái Niệm đó các từ Ngũ, Ran , Nhiên , Nhiêu 繞 là những từ hàn lâm có viết bằng chữ Nho. Hán ngữ dùng chữ Nho ,cũng với nghĩa như tiếng Việt, nhưng phát âm bị lơ lớ đi như Nhiên , thành “ rán ,”, Nhiêu 繞 thành “ráo ”, Ngũ  thành “wủ ”.v.v.Tiếng Việt dùng Vân Vân  ở cuối câu có nghĩa là còn nói nhiều ví dụ nữa. Vì từ hàn lân Vân có gốc do từ dân gian Van (nghĩa là Nói). Ví dụ câu: “ Ai Van chi rứa?” có nghĩa là “ Ai Nói gì đấy?”. Hán ngữ hiện đại không dùng Vân Vân 云云 mà dùng Đẳng Đẳng 等等 ( nghĩa là còn nói nữa Bằng Bằng như ví dụ ấy).

Ngay tiếng Sài Gòn, thường được coi là ngôn ngữ mới,  thực ra nó là tiếng Kinh rất cổ. Ví dụ từ Bộ = Không ( trong câu: “Tôi cũng làm nổi chứ Bộ! “ nghĩa là :”Tôi cũng làm nổi chứ Không à!”) .Từ đáy Bộ  (= Không) là một từ đáy rất cổ của tiếng Kinh, có gốc do từ Bỏ (= Không).. Nôi Khái Niệm “không” của tiếng Việt là: Nỏ (tiếng Nghệ) = No (tiếng Anh) = Bỏ = Bò (tiếng Thái) =Bộ (tiếng Sài Gòn) = Bố (tiếng Tày) = Bỏ Bồ (= Không Không, từ đôi, tiếng Kinh) = Mô = Vô = Vong  = Vất = Vật = Mất (do lướt từ đôi “Mô Vật:” = Mất) = Mạc  = Bất (do lướt từ đôi “Bỏ Mất”= Bất ) = =Thất  = Thác = Bác = Bác Bỏ = Nỏ = No. Trong NKN này chỉ có những từ hàn lâm là có viêt bằng  chữ nho như Vô  [wu], Vong  [wang], Vật  [wu], Bất  [bu], Thất [shi], Mạc  [mo], Bác  [bo], nên những chữ ấy được Hán ngữ mượn dùng nguyên nghĩa, chỉ có là phát âm bị Mãnđạinhân [Mandaren] làm méo mó đi như chú trong ngoặc vuông [  ], ngôn ngữ với lối phát âm ấy được quốc tế gọi là tiếng Mandarin [Mandaren], thường gọi là tiếng Quan Thoại (theo giải thích của Viên Đằng Phi 猿騰飛, nhà sử học hiện đại trứ danh Trung Quốc, giáo sư dạy sử trường đại học Thanh Hoa Bắc Kinh ).

Xem cuốn Từ điển Trung Việt (XB Hà Nội 1991) thấy đề bìa “khoảng 60. 000 chữ”, một kĩ sư trẻ người Trung Quốc (quê Triết Giang) đã thốt lên với tôi rằng: ”Trong đó chỉ có khoảng 2000 chữ là chữ của người Hán thôi, còn lại là chữ của dân tộc Bách Việt và các dân tộc khác.  Ví dụ từ Câu Lạc Bộ là mượn dùng ba chữ nho Việt là các chữ Câu , Lạc , Bộ , với ý nghĩa khác hẳn, để ký âm từ cận âm là từ Club ( C – Lu – B) của tiếng Anh, chứ nó không phải là tiếng Hán và chữ của Hán".  Cũng như từ Quản Lý là do người Nhật mượn hai chữ nho Việt là chữ Quản 管 và chữ Lý 理 để dịch từ Management của tiếng Anh. Ghép Quản Lý 管理 (Nhật phát âm là “Kan Ri 管理”, ghép theo ngữ pháp Nhật có nghĩa là “ dùng Lý 理 mà Quản ”, ý nghĩa rất đúng). Hán ngữ mượn lại nguyên si của Nhật (nhưng phát âm lơ lớ đi là “Guan Li 管理” mà từ này ở ngữ pháp Hán lại có nghĩa là “Quản 管 cái Lý ”, thì thành sai ý nghĩa hoàn toàn, vì chẳng ai Quản được cái Lý, chỉ có dùng Lý mà Quản người, Quản việc, thì mới thành.

 

 

Chữ Tiền

Theo <Thuyết Văn Giải Tự> giải thích Tiền hay Tuyền là tên gọi công cụ làm ruộng của người xưa thời nhà Chu, đến thời Tần, Hán thì hai chữ Tiền và Tuyền vẫn còn dùng giả tá (mượn) thay cho nhau. Điều này có lý vì tiếng Việt thì chữ Tiền và chữ Tuyền đều có “gen” T cùng với chữ Tay (tiếng  Nhật là “Tê”, chữ nho là chữ Thủ ), lại là công cụ làm ruộng nên nó còn có “gen” IÊN cùng với từ Điền. Giống như tường hợp khác là cái  Cày cũng có cùng “gen” AY với từ Tay. Và  vì là công cụ trợ giúp cho cái tay để làm ruộng nên nó phải làm bằng chất liệu cứng, cụ thể là Cứng = Kim (kim loại). Nôi Khái Niệm ‘cứng”là: Cứng = Cương = Kim = Căm (tiếng Quảng phủ, tiếng Thái) = Kiên = Kèn (tiếng Thái) =Kiện = Cường= Còn (tiếng Thái) = Cứng à àCơ = Công Cụ (cái Cộ, cái Cọn, cái Cối, cái Cũi, cái Cung,  cái Cạm, cái Cày, cái Cuốc, cái Cào, cái Can , cái Qua  v,v, ).Do đó chữ Tiền 錢 viết bằng chữ nho cách “hội ý” gồm chữ Kim (làm bằng kim loại cứng) + hai chữ Qua (ý là công cụ). <TVGT> còn  hướng dẫn cách đọc cho đúng âm Việt là bằng lướt hai chữ “Tức  Thiển ” = Tiền, hoặc lướt hai chữ khác là “Tạc 昨 Tiên ” = Tiền. Hái trường hợp đọc lướt (thiết) này nếu phát âm như tiếng Madarin phát âm thì là “Jí  Qiản ” = Jiản hay “ Zuo 昨 Xian ” = Zian. Đều  không thành Qián như họ vẫn phát âm chữ Tiền  là ”Qián “.  Vậy đúng là cuốn  <Thuyết Văn Giải Tự >, tự điển đầu tiên của Trung Hoa, in cách nay hơn 2000 năm, là cuốn tự điển tiếng Việt, vì phải phát âm như chữ nho từ hàn lâm Việt thì mới đúng, còn phát âm lơ lớ đi như tiếng Mandarin làm méo mó thì sai.

Do cái công cụ gọi là cái Tiền  ấy là một tài sản quí nên nó được qui đổi thành đơn vị Tệ, gọi là “bán được mấy Tiền?” rồi sau đó mới sản xuât ra Tệ bằng kim loạI và mượn chữ Tiền 錢 có sẵn để gọi Tệ này là Tiền, vì nó quí ngang với đồng Điền nên gọi nó là đồng Tiến dù nó là làm bằng đồng, bằng bạc, hay bằng vàng hoặc bằng giấy thì vẫn gọi nó là đồng Tiền. Từ ghép Tiền Tệ 幣 có nghĩa là lấy tên cái Tiền 錢 làm đơn vị đo Tệ , tổng ngạch Tệ 幣 là bao nhiêu Tiền 

Hình ảnh chữ Tiền ( Kim loại + nhiều Công cụ   ) cho thấy là chế tạo máy cái là nghề kiếm được nhiều tiền. Máy Cái nói lái là Mái Cáy, tức Mái Gà, là con “gà để trứng vàng”. Con Gà từ Việt hàn lâm viết là Tử Kê 子雞, tiếng Tày và tiếng Quảng phủ gọi là “Tu Cáy 子雞 ” nghĩa là Con Gà.

 

Trong <Thuyết Văn Giải Tự > giải thích âm Tiền là tên cái công cụ làm ruộng của người xưa ( Cổ Giả Điền Khí ) có từ thời Chu. “Làm ruộng” viết bằng chữ “Tác  Điền 田“, người xưa đã nói lướt “Tác Điền ” = Tiền (như đánh “vần “T- iên - Tiên = Tiền), đó mới chính là logic của cái âm “Tiền”, gọi cái công cụ làm ruộng là cái Tiền. Còn hướng dẫn cách đọc chữ Tiền  cho đúng âm Việt bằng “Tức 即 Thiển 淺 thiết ” = Tiền hay “Tạc 昨 Tiên  thiết ” = Tiền chỉ là nêu ví dụ cách đọc bằng lướt (thiết) mà thôi. Thời Chu con người đã chế ra Tệ bằng chất liệu kim loại đồng, hình dạng giống như cái công cụ làm ruộng, như khảo cố đã tìm thấy rất nhiều Tệ hình lưỡi mai ( gọi là Bố Tiền) ở Vân Nam, Bắc Lào và Tệ hình con dao (gọi là Đao Tiền) ở Việt Nam, trên mỗi đồng tiền đều có chữ kim văn, (theo < Bước ra từ huyền thoại> của Nguyễn Đức Tố Lưu, trang mạng Dòng Hùng Việt)

 

 

Chữ Nam là chữ nho Việt hay là Hán tự? Theo <TVGT>: Nam, trượng phu dã, Na Hàm thiết , 丈夫也, 那含切 (Nam là trượng phu, tức tính đực đã thành niên. Đọc bằng lướt “Na Hàm”= Nam, tiếng Quan thoại đọc là “Na Hán”= Nán). Giải thích đây là chữ kiểu hội ý, gồm chữ Điền 田 và chữ Lực, ý là con trai đang lao động canh tác giữa ruộng. Giải thích vậy đúng là của người đi mượn chữ về dùng phải giải thích ý nghĩa của chữ đó. Còn nếu là người Việt rặc thì chỉ cần nhìn vào chữ Nam 男 là đánh vần được ngay như đọc lướt (thiết): “Điền 田 Lực ” = Đực (Nếu là Mãn đại nhân mà đọc như tiếng Madarin thì sẽ thành là “Tián 田 Lì ”= Tì (sẽ chẳng có âm nào là “Tì” mà mang nghĩa là tính đực trong Hán ngữ cả. Đơn giản là vì chữ Nam nó là của tiếng Việt, đọc xuôi thì nó  là “Điền  Lực  thiết” = Đực (khác gì đánh vần “Đ- ức – Đưc = Đực”), nều đọc ngược thì nó là “Lực  Điền ” nói lái là “Liền Đực” (tức là “Liền Anh “- phái đàn ông, trong hát quan họ thời nay đấy thôi – từ Anh / Em thay cho Chồng / Vợ là do lấy từ  A  Đam / E Va). Còn tại sao lại gọi là Nam trong khi ở chữ tạo thành không có âm “am” nào cả? Đó là do quan niệm tính Đực của động vật là để Làm Giống tức Làm Nòi, mà cổ xưa thì động từ đứng sau như là ngữ pháp tiếng Nhật (ví dụ Ăn Cơm thì viết đúng ngữ pháp là Cơm Ăn). Nên con Đực là con Làm Nòi, viết là Nòi Làm, nói lướt “Nòi Làm”= Nam  cũng logic với nói lướt “ Nòi a Đam” = Nam 男). Còn chữ Nữ 女 thì nó là chữ tượng hình chỉ người vợ. <TVGT> hướng dẫn  đọc đúng âm Việt là “Ni Lữ thiết 尼呂切” = Nữ. Theo Tư Mã Thiên, người nước Sở đọc chữ Nữ 女 là "Nái". Cũng là tiếng Việt nốt,hợp lý, vì thuộc Âm là Nước = Nác = Nậm = Nái = Nàng = Noọng = Nương, đều có cùng gen "N". Cổ thư viết: “ Hùng Vương, tử vị Lang, nữ mị Nương” (thời Hùng, con trai gọi là Lang, con gái gọi là Nương, L cao so với N thấp như tỷ lệ Dương so với Âm). Nhấn lướt “Nái Chứ !”= Nữ , nhán lướt “Nái Ch i !” = Ni (trong từ Ni Cô 尼 姑)

 

 

Giao Chỉ là gốc Tổ của Bách Việt do đó tiếng Giao Chỉ cũng là gốc của các tiếng Bách Việt. Ví dụ xét động từ Đẩy Chống. Đẩy Chống là một động từ ghép bằng hai động từ Đẩy và Chống. Khi hai đứa trẻ sơ sinh độ tuổi tập nói, một đứa Chống lại đứa kia đang uồm tới vồ đồ chơi của nó bằng cách dùng tay Đẩy đứa kia ra. Động từ Đẩy Chống của tiếng Kinh chuyển sang tiếng Hoa (cụ thể là Việt ngữ Quảng Đông) là Tẩy Chay (Đẩy Chống à Tẩy Chay). Sự Biến  âm này là Bước đầu tiên, gọi là Bắt Chước (“Bắt Chước” là bắt theo đúng như cái “Cho Trước” =       = Chước, như con trâu đi, bao giờ chân sau cũng đưa lên theo Bắt trúng dấu chân trước, lâu dần làm cho mặt đường chổ dấu chân đó lún dần, biến hình mặt đường thành gồ ghề lượn sóng gọi là “đường sống trâu”). Tiếng Hoa không có phụ âm “đ” nên “đ” biến thành “t”, thành ra  “Đẩy” biến thành “ Tẩy”, “Chống” biến thành “Chay”, Đẩy Chốngà Tẩy Chay (nghĩa là “Đẩy nó ra, Chống lại sự xâm nhập của nó”, như ngày nay tiếng Việt hiện đại lại mươn lại từ tiếng Việt Đông mà nói “Tẩy Chay hàng hóa dỏm rẻ tiền, nên dùng hàng VN chất lượng cao””).

Từ Đẩy của tiếng Việt dân gian biến thành từ của tiếng Việt hàn lâm là khi lướt với từ nhấn mạnh đứng sau , thường dùng nhất là từ nhấn “Phải” trong NKN: Phải=Hày! (tiếng Nhật) = Hầy! (tiếng Nghệ An) = Hầy! (tiếng Quảng Đông) = Hề 兮!= Nê (tiếng Nhật) = Nư (tiếng Thái) = Chứ = Chi 之!. Khi trả lời câu “Xin Lỗi” thì nói bằng câu phủ định có hai từ nhấn đứng sau là  “Không Hề ! Chi !” có nghĩa là Anh không Hề có lỗi và Tôi cũng không Chi cả, tức xử huề. Lướt như sau: “Đẩy Hề !” = Để , chữ nho Để  là từ hàn lâm Việt. Lướt “Chống Hề !” = Chê = Chế ( còn dùng Chế Ngự 制御, do lướt “Ngăn Chứ!” = Ngự) Chế = Chắn = =Ngăn = Ngáng = “Đẩy Ngáng” = Đảng  = Kháng 抗 = Cảng (phát âm Nam Bộ) = Cản. Tiếng Mandarin dùng chữ nho Việt nhưng không phát âm được chuẩn như từ hàn lâm Việt mà phát âm lơ lớ: Để 抵 biến âm thành “Tỉ” ( Di ), Chế 制 biến thành “Trư” (Zhi ), Đẩy Chống à Để Chế 抵制 à “Tỉ Trư” (Di Zhi 抵 制) rõ ràng là xa hơn sự bắt chước trực tiếp Đẩy Chống (tiếng Việt Nam) à Tẩy Chay (tiếng Việt Đông).

Cùng một Nôi Khái Niệm (NKN) bắt đầu từ tiếng Việt dan gian: Con = Kô (tiếng Nhật) = Cu (tiếng Vân Kiều) = =Tu (tiếng Tày) = Tử ( hàn lâm Việt) = Tí(hàn lâm Việt)  = Zi (tiếng Mandarin, phát âm là “dử”) thì thấy rõ ràng là Con à (“Kô-đô-mô”, tiếng Nhật nghĩa là con trai) gần như bắt chước trực tiếp Conà, gần hơn là Con à Zi rất xa. Từ Con trong tiếng Việt dân gian còn được chuyển chú thành nghĩa là nhỏ bé: Con = Mọn =  Smal (tiếng Anh). Cái chuông nhỏ kêu Reng Reng được người Việt gọi là cái Reng Con (lấy tiếng kêu đặc trưng của vật thể làm danh từ chỉ vật thể đó, cũng như con Dê vì nó hay kêu Be Be nên tiếng Tày gọi Con Dê là “Tu Bẻ”). Người Nhật hay đặt tên cho con gái mình một cách đáng yêu là cái Reng Con (“Rin Kô”) tức cái chuông nhỏ (Reng Con, lắc thì kêu Reng Reng), qui trình biến âm là: Reng Con à Rin Kô 領子(tiếng Nhật) à Linh Tu 領子 (tiếng hàn lâm Việt) à Ling Zi領子(tiếng Mandarin), rõ ràng là Rin Ko là bắt chước trực tiếp cái Reng Con.

 

 

                   Tiếng Việt là Nôi ngôn ngữ

Người Việt là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ Hành, nên người Việt cũng đã vận dụng Dịch lý mà xây dựng nên tiếng Việt. Sáu thanh điệu của tiếng Việt chia thành hai nhóm là: nhóm “Không”.  “Ngã”. “Nặng”  thuộc Âm (là 0); nhóm “Sắc”, “Hỏi”, “Huyền” thuộc Dương (là 1), căn cứ vào dấu thanh điệu của mỗi từ mà ta có thể gọi từ ấy là thuộc Âm hay Dương. Tên gọi các loài động vật thường là từ song âm mà trong đó một tiếng Âm và một tiếng Dương, thể hiện cấu tạo mỗi sinh thể là gồm hai tố Âm và Dương. Ví dụ các tên gọi các con vật: Châu-Chấu, Niềng-Niễng, Săn-Sắt, Cù-Cu, Chiền-Chiện, Nhồng-Nhộng, Vè-Ve, Cà-Cuông, Se-Sẻ, Nhền-Nhện, Nòng-Nọc, Chem-Chép, Trùng-Trục  v.v. Khi hai tiếng mà bị lướt lại thành một tiếng khác thứ ba thì dấu thanh điệu của hai tiếng đó bị cộng nhị phân với nhau mà biến đổi thành dấu thanh điệu của tiếng thứ ba. Ví dụ:

1/  lướt “Người + Ồn” = Ngôn, dấu thanh điệu biến đổi rõ ràng là  đúng phép cộng nhị phân: Người (1) + Ồn (1) = Ngôn (0).

2/ Mồm (của con người) là cái cơ quan “Mở Tiếng” = Miệng, biến đổi dấu: Mở (1) + Tiếng (1) = Miệng (0)

3/ lướt “Từ Miệng” = Tiếng, đúng biến đổi thanh điệu:                      Từ (1) + Miệng (0) = Tiếng (1)

4/ lướt “Lưỡi Nói” = Lời, đúng biến đổi thanh điệu là :                  Lưỡi (0) + Nói (1) = Lời (1)

Tiếng Việt hay Lời Việt đều có nghĩa là Ngôn Ngữ Việt. Nói à Vois (tiếng Anh), LưỡiàLờiàLangues (tiếng Pháp)

Một từ (là một “tiếng” hay một “âm tiết”) của tiếng Việt dẫn được ra hàng loạt từ cùng gốc chung phụ âm đầu hay chung vắng phụ âm đầu (gọi là chung Tơi, do lướt “Tay Lời”  0 + 1 = 0 = Tơi), hoặc chung âm vận ( gọi là chung Rỡi, do lướt “Ruột Lời” = 0+1 = 0 = =Rỡi) làm thành một Nôi Khái Niệm (NKN). Ví dụ NKN của từ Nói là: Nói = Hỏi = Hô = Hò = Hét = Hót = Hát = Nạt = Nói = Gọi = Gô (tiếng Nhật, “Ni Hôn Gô日本語”) = Gí (tiếng Đái Loan, “Tai Wan Gí台灣語”) = Gào = Gắt = Gỏng = Coỏng (tiếng Quảng Đông, Đài Loan “Coỏng”) = Kêu = Ca = Quát = Nạt = Na = La = Lời = =Ngợi = Ngạn = =Ngỏ = Ngữ = Ngôn = Ồn = Đồn= Đờn = Đàn = Van = Vân = = Và = Viết = Thuyết = Thoại = =Thốt = Thưa = Thì-Thào = Thủ -Thỉ = Thì -Thầm = Thẽ -Thọt  v.v .

Bản thân NÔI (nói lên nghĩa là một thứ đồ đựng, cụ thể là đựng đứa trẻ sơ sinh để nó nằm nghe mẹ ru mà học nói tiếng mẹ đẻ), NÔI tròn như cái hình tròn biểu tượng Âm Dương, trong đó có hai con Nòng-Nọc quấn xoắn lấy nhau là: con Nòng (con cái, là Âm nhưng mang dấu thanh điệu Dương, đúng nguyên lý Dịch học: Trong Âm có Dương), và con Nọc (con đực, là Dương nhưng mang dấu thanh điệu Âm đúng nguyên lý Dịch học: Trong Dương có Âm).

NÔI = N + Ô + I

 

NÔI = Negative (Âm) + Off and On + Innegative (Dương)

 

Bộ Miên 宀 chỉ Vòm=Trời, cho nên chữ Vũ là “Vòm  Ủ ” = Vũ (chỉ không gian) và chữ Trụ là “Trời  Du” = Trụ (chỉ thời gian). Bộ Miên 宀 còn đọc là Bao  (Vòm trời bao bọc mọi thứ trong nó) , gọi tắt bầu trời là “Bao La” = Ba (không gian ba chiều), cho nên cái không gian là “Bao Ư ” = Bự và cái thời gian là “Bao  Du” = Bụ. Bự và Bụ đều là chỉ cái to lớn nhất, là Vũ 宇 Trụ 

Ba = Cha = Tía. Ba là giống đực, gây Nòi (con heo đực làm giống gọi là con heo Nọc hay con heo Nòi), nên gọi lướt “Ba Nòi” = Bòi, tức là:

 NÔI = Nòi = Bòi = Bối = Gôi = Gò = Phò = Phụ = Bủ = Bố = Bọ = Ba = Cha = Tía  = Tu = Đụ = Đực

NÔI = Nái = Gái = Cái = Mái = Mẹ = Mẫu = Mụ = U = Đụ = Đẻ

NÔI = Nơi = Trời = Vời = Vòm = Gom = Gầm.

Như vậy theo tiếng Việt thì cả Vũ Trụ, cả giống Đực và giống Cái đều có tên do từ NÔI, mà từ NÔI đã thể hiện rõ nó chính là cái Ổ (chữ Ô) của Âm (chữ N – Negative) và Dương (chữ I – Innegative). Mọi từ vựng đều xuất phát từ cái NÔI ấy mà ra, cho nên GS Hoàng Xuân Hãn đặt câu đầu tiên trong sách dạy bình dân học chữ quốc ngữ để xóa nạn mù chữ là câu:”O tròn như quả trứng gà, Ô thời đội mũ, Ơ thời mang râu”. Từ Nôi tuyệt vời như vậy nên cái đồ đựng đứa trẻ sơ sinh nằm nghe mẹ ru mà biết Nói gọi là cái Nôi. Và nơi cách mạng sinh ra còn trứng nước gọi là Nôi của cách mạng. Tiếng TQ không có từ Nôi, họ gọi đồ đựng đứa trẻ sơ sinh nằm là cái Làn Lắc, và địa phương sinh ra cách mạng cũng gọi là Làn Lắc của cách mạng (革命的摇篮).

NKN của từ NÓI: (gồm hơn 130 từ đồng nghĩa Nói, với mọi sắc thái khác nhau trong một Nôi này)

NÓI = Gọi = Gí (tiếng Đài Loan - Taiwan Gi) = Gô (tiếng Nhật Bản – Ni hon Go日本語) =  Gắt = Gỏng = Coỏng (tiếng Quảng Đông, Đài Loan)  = Câu( tiếng Đài Loan) = Kêu = Ca = =Ra – Rả = Ru = Tru = Tru -Tréo = Lắt - Léo = Lu - Loa = La = Lái =Lời = Mời = Mơi (tiếng Thái) = Vời = Viết = Vân = Van (tiếng Nghệ) = Vịnh  = Văng = Và (tiếng Quảng Đông - Và )  = Mạ = =Mỏ = Hò = Hô = Hoán  = Hét = Hỏi = ? = Hát = Phát  = Nhát = Nạt  = Nài = Nhại = Nhắn = Yán (tiếng Hán) = Ngạn  = Ngợi = Ngữ = Ngôn = Đồn = Ồn (tiếng Nhật Bản, nước Đại Hòa thời trung cổ – Wa On- Hòa Ồn ) = Ỡm-Ờ = Í-Ới = Inh-Ỏi = Ồn –Ào = Âm = Ngâm = Ngỏ = Nga  = Nhả = Thả = Thưa = Thỉnh = Thốt = Thuyết = Thoại = Thao-Thao = Thì – Thào  = Thì -Thầm = Thủ - Thỉ = Tỉ-Tê = Tiếng = Tụng = Tọc - Mạch = Thách  = Thanh  = Thệ = Thề = Chê = Chửi  = Chủy  = Chuyện = Chả-Chớt =  Chúc = Chào =  Phao = Pháo  = =Bảo = Ban = Bàn = Bắn = Dặn = =Dạm = Đàm  = Đáp = Đốp = =Bốp-Chát = Bạt = Bác = Bài = Dè-Bỉu = Bai = Cãi = Quát = Mát = Mỉa – Mai = Mắng =  =Giảng = Đằng-Hắng = E-Hèm = Lém = =Lời = Lả-Lơi = Lập-Lờ = Lấp –Lửng = Lấp-Liếm = Niệm = =Nựng = Năn-Nỉ = Na = =ha-Na-xư (tiếng Nhật) = Ga-va-rít (tiếng Nga) = Gọi = Vois (tiếng Mỹ) = Xoi - Mói = Say (tiếng Anh) = Xin = Xướng = Xưng = =Xửng-Cồ = Quát = Nạt = NÓI.

NKN của từ  NÔI :

 

 Nôi = Nồi = Nội = Nỗi = Nổi = Nối, đủ sáu thanh điệu, cho ra ý tứ là: Đồ đựng (Nôi = Nồi) đựng những cái bản địa bên trong (Nội) là những ý tưởng (Nỗi) sẽ nói ra thành lời (Nổi) và được kế thừa mãi mãi (Nối), đó chính là cái Nôi Khái niệm, là cái Ổ của ngôn ngữ, như nhà nghiên cứu ngôn ngữ nghiệp dư người Pháp là đô đốc hải quân Frey  đã nhận định: “Tiếng Việt là mẹ của các ngôn ngữ”(Le Annamite, mère des langues, NXB Hachete, Pari 1892). Tóm lại là:            

                          Cái NÔI sinh Nói của Nòi

                   “Từ Miệng” = Tiếng của Tôi đấy mà

                         Người sinh ra Ngã là Ta

            “Người Ồn” =  Ngôn = Ngữ sinh ra giống Nòi

                       Cái NÔI tiếng Việt thắm tươi

                 Bầu sinh Bách Việt cùng loài xưa xa

                       Nho – Hàn lâm Việt tinh hoa

                Cổ xưa ngôn ngữ chan hòa phương Đông.

                         Đọc câu lục bát nhi đồng

                  Hiểu lời nay lại có lồng lời Nho,

                  Thêm phiên âm tiếng Trung Hoa ( Mandarin)

              Thành học Tam Ngữ, thêm gia hiểu từ

                       Người xưa để lắm dặn dò

                  Mong trao trí đức cho trò sang sông:

                       Dốc lòng tín hiếu học hành

               Giữ đạo đến chết cũng thành tự nhiên.

                      (Đốc tín hiếu học hiếu hành 

               篤信好學好行  [dù xìn hào xué hào xíng]

                    Thủ tử thiện đạo dã thành tự nhiên 

         守死善道也成自然  [shou si shàn dào ye chéng zì rán]

                        Người mà không biết xưa nay

                   Khác gì trâu ngựa khoác thay áo quần

                         (Nhân nhược bất thông cổ kim          

                      人若不通古今 [Rén ruò bú tong gu jin]

                       Tựu như ngưu mã gia thiêm y thường 

               就如牛馬加添衣裳 [Jìu rú níu ma jia tian yi sháng]

 

 

     TIẾNG VIỆT DÂN GIAN VÀ TIẾNG VIỆT HÀN LÂM   

 1  Địa lý                              

 

Theo sách giáo khoa phổ thông của Đài Loan (Giáo dục Bộ công bố Tiêu chuẩn Tự điển : <Tối tân thực dụng Tự điển>  B5126) thì ba thời đại HạàThươngàChu là của Hữu Hùng quốc, không nói vị trí nó ở đâu. Lại cũng nói thời Tam quốc đánh nhau thì chỉ có nước Ngụy là chính thống Trung Quốc, còn nước Thục và nước Ngô không phải là chính thống Trung Quốc).  Ba thời đại liên tục HạàThươngàChu là của Hữu Hùng quốc. Hữu Hùng quốc chính là nước Văn Lang rộng lớn nằm ở xứ nóng là dân Quẻ Ly (phương Nam, màu Đỏ), “Quẻ Ly” = Qủi, nên còn gọi là nước Xích Qủi 赤鬼(chữ Xích nghĩa là màu Đỏ, vùng Xích đạo, thờ mặt trời thể hiện trên mặt trống đồng). Hạ = Hè = Hỏa = Hỏ = Tỏ = Đỏ. Thương = =Thanh = Lành = Lộng = Đông = Đỏ. Chu = Chon = Son = San = =Đan = Đỏ.

Chữ Chu chỉ con Tru, còn đọc là Châu, Hán ngữ đọc là Trâu [zhou]. Tru (tiếng Nghệ) = Tlu (tiếng Mường) = Chu = Châu = Trâu = Ngầu  (tiếng Quảng Đông) = Ngưu = Sửu = Sỉu = Níu (tiếng Quan thoại). Chữ Trâu là tượng hình con Trâu gồm : = quynh  thật ra là hình vẽ 2 sừng Trâu 2 bên cong quặp xuống . Cổ văn vẽ cặp sừng dài hai bên và cái đuôi ở dưới, như sau: 

chữ Châu (Chu) tượng hình con Trâu (Tru).

Mời bạn đọc một đoạn trong bài <Việt và Nhật> của nhà văn Nhật Bản nổi tiếng chuyên viết tiểu thuyết lịch sử là nhà văn quá cố Shiba Ryo Taro (nguồn: Tạp chí Xưa và nay, Hội sử học Việt Nam):

Trong khu vực văn minh Hoàng Hà phát triển ở Hoa Bắc ngày nay – nơi ngày xưa dân Hán đã gọi bằng danh từ “Trung Nguyên" hoa mỹ, người ta không biết có lúa. Chữ MỄ (gạo) khi mới đặt ra dùng để chỉ tất cả các loại cốc tổng quát

Trong khi đó trên lưu vực Trường Giang ở Hoa Trung, con người đã chân lấm tay bùn trồng lúa nước, và gạo là lương thực chủ yếu.

Vùng lưu vực Trường Giang có nền canh nông trồng lúa này gọi là Sở, không có dân Hán cư ngụ. Nhìn từ góc độ của Trung Nguyên, Sở là man địa.

Nguồn gốc xa xưa của nông nghiệp trồng lúa ở Trung Quốc phát xuất từ Vân Nam, một vùng cho đến thế kỷ 3 sau công nguyên vẫn còn được xem là man địa.

Sau lưng Vân Nam là những vùng trồng lúa mênh mông của Đông Nam Á và Ấn Độ. Nói một cách khác, khu vực trồng lúa trên lưu vực Trường Giang là biên giới tận cùng về phương Bắc của những dân tộc trồng lúa ở Đông Nam Á.

Đến khoảng thời Xuân Thu Chiến Quốc (720-221 TCN) thế lực của nước Sở trên lưu vực Trường Giang ngày càng trở nên hùng mạnh, uy thế áp đảo cả những nước Trung Nguyên. Lý do chắc hẳn vì lúa có thể nuôi được nhiều người hơn so với các loại cốc khác. ….

So với các nước Trung Nguyên, thì tính tình dân ba nước Sở, Ngô, Việt hình như có nhiều nét giống nhau…..

Tiếng nói ở Sở, Ngô, Việt ngày xưa đều khác tiếng Trung Nguyên và thuộc ngữ tộc của các tiếng Đông Nam Á…

Vào cuối thời Xuân Thu, nước Việt được hình thành quanh vùng Cối Kê. Phía Nam (nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông) có nhiều dân tộc trồng lúa gọi chung là Bách Việt cư ngụ. Vùng cư ngụ của Bách Việt thật là rộng lớn. Theo Hán thư vùng này “trải rộng từ Giao Chỉ (thuộc Việt Nam ngày nay) cho đến Cối Kê”. Tóm lại nói theo danh từ địa lý ngày nay, vùng đất của người Việt bao gồm các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông cho đến miền Bắc của Việt Nam trên bán đảo Đông Dương…. (hết trích)

Bài trên cũng cho thấy lúa nước xuất hiện đầu tiên ở Thái Lan (“sau lưng Vân Nam”). Ngôn từ diễn biến trong nôi khái niệm (NKN) “gạo” là: Khao (tiếng Thái Lan) = Gạo = Đạo = Cháo = Cao = Cơm = Cốm = Kô-Mê (tiếng Nhật chỉ gạo) = Mễ (tiếng Hán). Thời Xuân Thu Chiến Quốc, lúc này các nước ở Trung Nguyên (vùng Hoàng hà) đã tiếp thu chữ Nho của người Việt, họ dùng chữ Mễ 米 chỉ chung mọi loại cốc, họ canh tác  ở đồng đất khô, trồng chủ yếu là bắp và kê, họ gọi ngô (bắp) là Túc Mễ 粟米, gọi gạo tẻ là Canh Mễ  粳米 (nghĩa là “gạo của người Kinh”, do người Canh=Kinh di thực lên phương Bắc) và cho rằng Canh Mễ  粳米 nhiều dinh dưỡng hơn hẳn Túc Mễ 粟米 là món chủ lực của họ [nguồn : sách Đông Y cổ của Trung Quốc có viết về Canh Mễ 粳米 và rượu Giao Chỉ là loại rượu tốt nhất để ngâm thuốc Trung Y 忠醫. Trung y có nghĩa là chữa vào bên trong, chữ Trung 忠 này viết hội ý là “Trung Tâm ” = Trầm , và đồng thời  “Tâm Trung ” = Tùng , nghĩa là cái Trầm 沉 Tùng 從 tức cái không nhìn thấy được (Trầm ) mà cùng gắn với cơ thể  con người (Tùng ), tức chỉ cái Hồn. LướtTrung Y 醫”=  Trị   mà chữ Trị 治 đã biểu ý là Nước (chỉ Âm) và Đất (chỉ Dương) phải cân bằng nhau. Đúng như Hypocrat từng nói:”Bác sĩ giỏi là người biết chữa bằng kích hoạt cái tiềm năng người bệnh để tiềm năng ấy chữa tận gốc cái bệnh của họ”]. Hán ngữ phiên âm gọi gạo nếp là Nọa Mễ 糯米, gọi Bún là Phấn Mễ  粉米 .

Thủy tổ nghề làm bún (chế từ gạo tẻ) là họ Phan: Bún = Bàn (họ Bàn) = Phan (họ Phan) = Phấn. <Sử ký Tư Mã Thiên> viết: “Vợ vua Sở người họ Phan, họ Phan có gốc là họ Bàn”. (Đến ông Ban Ki Moon sang VN còn bí mật đến thắp hương nhà thờ Phan Huy Chú ở Sơn Tây Hà Nội). Chữ Phan 潘 gồm bộ Mễ () và bộ Nước ( ) , lướt “Mễ 米 Nước 氵" = Mước (chỉ thứ bánh Mướt ở Nghệ An, tức bánh cuốn, Nghệ An có làng Huỳnh Dương toàn người họ Phan, chuyên làm bún và bánh cuốn – bánh mướt)

Thủy tổ nghề trồng lúa nước là họ Lê (tộc Cửu Lê cổ đại ở miền Trung bán đảo Đông Dương. Nho viết chữ Lê 黎 hội ý rõ ràng ý tứ là:  Người (chữ Nhân ) đồng (một phết 丿) bào (chữ Bao ) trồng lúa (chữ Hòa ) nước (chữ Thủy ).

 

2 Phương hướng theo Dịch lý

Người Việt sống ở Bắc bán cầu như quan niệm của ngày nay, vì vậy từ xưa người Việt có khái niệm Dịch lý, chia địa lý phương dưới là Bức (Nóng – màu Đỏ tức Xích , của quẻ Ly tức Lửa, sau Xíchà South của tiếng Anh) và phương trên là Nam (Lạnh – màu Đen của quẻ Khảm, Khảm = Nam, tiếng Thái Lan “Nam” nghĩa là Nước, sau Namà North của tiếng Anh). Sử gia Hán đã đổi ngược tên phương hướng, phía trên gọi là Bắc nhằm mục đích giành toàn bộ lịch sử và văn hóa của đại chủng Việt phương Bức biến thành lịch sử văn hóa của đại chủng Hán. Người Việt đã theo Dịch lý chia phương dưới gần xích đạo là phương  Lửa. Lửa = Ly = Lả = La= =Hỏa = Hồng = Hong = Nóng = Nực = Bực = Bức = Bốc = Sốc = Sóc = Xích (Sóc mới thành South). Chữ Bức 北 viết biểu ý là hai người ngồi dựa lưng nhau, vì nóng mà ngoảnh mặt ra hai phía ngược nhau cho nó thoáng (hai chữ Thân đấu lưng nhau, sau giản hóa thành chữ Bức ). Truyền thuyết viết: “Thần Lửa là thần Bức 北 Nung  (Bắc Dung北熔)” là vậy, thần lửa là ở xứ nóng (chữ Nung 熔 có bộ lửa ).  < TVGT> giải thích chữ Bức   là hai người quay lưng đối nhau, đọc là Bác 博 Mực 墨 thiết Bức 北 (hay “Bác Mặc” = Bắc). Phương quẻ Ly là phương Nóng tức phương Bức , nên có từ đôi Nóng Bức. Do chữ nho “cái  lưng” là chữ Bối , nên có từ ghép Bức Bối hay Bực Bội chỉ sự căm ghét, do vậy mà <TVGT> giải thích nghĩa của chữ Bức 北 là tàn ác (Lệ 戾 Dã   ). Dịch lý chia phương trên xa xích đạo là phương Lạnh. Lạnh. = Canh =  Khảnh =  Khảm = Nam = Nước (Nam = Nước mới thành được àNorth).

Phương Đông là phương mặt trời Mọc, viết bằng chữ Mộc , chữ này trong <TVGT> hướng dẫn đọc là “mọc” và giải thích nghĩa là là “mạo xuất dã” tức là mọc ra ạ. Chữ Mộc 木 là chữ kiểu “chỉ sự” (dùng các nét để diễn tả sự đâm mầm của hạt cây lên khỏi mặt đất) rồi sau chữ được “chuyển chú” thành nghĩa là cái cây hay là gỗ, đọc là Mộc  (tiếng Nhật phiên âm là “Mô-Cư ” vì tiếng Nhật không có phụ âm tắc đứng sau và coi chữ Mộc  là Kanji – Hán tự, trong khi cái Cây thì tiếng thuần Nhật là “Ki ” viết bằng chữ Hiragana kí âm người Việt lại gọi “Ki” là cái cây con, như bụi hoa lan đẻ ra cây con là “Ki” dùng làm cây giống, còn chữ Thụ 樹 thì mới là cái cây. Theo Dich lý thì phương Đông là màu xanh, số 8.  Xanh = Thanh 青 = Thương , nên dân biển Đông được gọi là dân Thương 商 Hồ . Hồ 湖 = Hải , nên biển Đông còn có tên là Bát Hải, hay Động 洞 Đình  (Đình có nghĩa là lớn, tội mà bằng lớn thì gọi là tội tày đình, sâm mà lớn thì gọi là lôi đình như thành ngữ “nổi trận lôi đình”).

Phương Tây là phương mặt trời Lặn, lặn rồi thì coi như mất trắng hay mất sạch không còn thấy nữa, bởi vậy Dịch lý coi phương Tây là màu trắng, số 2. Lặn = Lẻn = Lánh = Tanh =  Tây 西 = Tư =  Tị = Tốn = Trốn = Tránh = Trắng = Trơn = Trợt = Bợt = Bạc = =Mạc = Mất (không còn tồn tại trước mắt người quan sát nữa), những từ đôi như Mất Trắng, Mất Trơn, “Bạc Sạch” = Bạch đều chỉ hiện tượng không còn, Tanh lòng chỉ tình cảm không còn, màu Trắng là cờ của đám ma đều là theo Dịch lý, trẻ chết non thì gọi là kẻ Bạc phận. Ngũ hành thì phương Tây là Thổ, nước phía Tây gọi là Thổ Phồn. Biến âm: Thổ = Thạch = Bạch. Chữ cổ viết chữ Bạch  gồm chữ Nhập (nghĩa là Nhốt, tức là lặn mất trơn rồi) bọc lấy chữ Nhị (là số 2), rồi cách điệu hóa thành chữ Bạch như thế này. Không ai đuổi mà gió luôn chạy Trốn nên quẻ Tốn là tượng gió. <TVGT> hướng dẫn đọc chữ Bạch là “Tật  疾 Nhị ” thiết Tị 避 thì đúng là mặt trời Lặn giống như là nó đi Tị nạn(避难) mất trơn rồi. [tiếng Mandarin đọc thiết là “ Ji  Er ” = “Jer”, trật, không thành  “Bì ” như họ vẫn đọc chữ Tị ] Đến thời Thanh thì Đoạn Ngọc Tái 段玉裁 hướng dẫn đọc chữ Bạch 白 là “Bàng  Mạch ” thiết Bạch [ tiếng Mandarin đọc thiết là “Páng 旁 Mò ” = “Pò”, trật, không thành “Bái ” ]. Đọc là Tị thì cũng là tiếng Việt, đọc là Bạch thì cũng do tiếng Việt là “Bạc Sạch” = Bạch . đến chữ Mạch  thì cũng là tiếng Việt, “Mất Sạch” = Mạch , chữ này nguyên là dùng để chỉ cái đường bờ ruộng, sau mỗi mùa nước nổi, nước rút đi rồi thì phù sa bồi lấp xóa sạch hết không còn nhận ra đâu là bờ ranh giới của khoảnh ruộng của mình nữa (mất sạch hết trơn dấu vết rồi), rồi về sau dùng từ ghép  Mạch Sinh 陌生 để chỉ người lạ, vì người ấy là Sinh 生 Mạch 陌 thiết Sạch, Sạch quá, chẳng có tí quan hệ máu thịt gì với mình, chẳng có tí nét gì là thân quen để mình nhận biết được là người thân, gọi là “người dưng nước lã, tuy cũng đỏ máu nhưng tanh lòng”.

Khổng Tử viết: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê (Hàng Châu, Triết Giang nay) đều là dân Bách Việt ở…” tức ý nói Giao Chỉ là cái gốc rồi mới đến Cối Kê. Cũng vậy, cái La bàn là do người Việt đất Giao Chỉ tạo ra nên mới gọi theo hướng chỉ của cái kim sắt từ tính là cái Laà Canh (= LửaàNước = Lyà Khảm = SócàNam = Southà North ) Cái Kim LaàCanh ấy Hán ngữ dịch ý là “Chỉ Nam Châm 指南針” tức cái Kim (Châm ) chỉ phương (Chỉ ) hướng Nước (Nam = Khảm), đâu phải là chỉ hướng Nam ngày nay như Hán thư đã đảo ngược tên gọi hướng dưới lên trên của Dịch lý (hóa ra cái kim chỉ ngược ?). Chữ Nam   (“Nam” tiếng Thái Lan nghĩa là Nước, chỉ phương quẻ Khảm = Nam , chữ Nam , viết hội ý là “Cung Hạnh ” = 0 + 0 = 1 = Cảnh , và “Hạnh幸 Cung ”= 0 + 0 = I = Hùng  (biến đổi dấu thanh điệu là 0+0 = 1). Cảnh Hùng (境熊)tức địa hạt của Hữu Hùng quốc (有熊国 . Mà chữ Hùng 熊 này hội ý là “Lửa 灬 Năng ” = Lang , tức Văn Lang (文郎, nghĩa đen là Vuông đất Lớn, “Năng”  Lửa”  = Nưa, Nưa tiếng cổ là con Hổ ám chỉ phương Hỏa, núi Nưa ở Thanh Hóa xưa lắm Hổ. Văn Lang cũng chính là Hữu Hùng quốc(有熊国,  là vuông (chữ Văn ) đất rộng “từ Giao Chỉ đến Cối Kê” mà về sau chính sử viết là: “Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông hải, nam giáp Hồ Tôn”.

 

Cổ xưa khái niệm tiếng vang, kể cả tiếng kêu, tiếng nói, đều  gọi chung là “Ồn”, nho gia viết từ Ồn bằng chữ Âm音, đó là từ hàn lâm của từ dân gian Ồn. Ồn mang nghĩa là Nói nên từ Ồn đã nở ra loạt từ dính hai âm tiết chỉ các sắc thái khác nhau của khái niệm Nói như Ồn-Ào, Ầm-Ĩ, Ing-Ỏi, Í-Ới v.v. những âm tiết này chỉ có âm vận, tức đều có chung một cái là “vắng phụ âm đầu” như từ Ồn gốc. Từ Ồn này trong tiếng Nhật (lúc đó là nước Đại Hoà 大和, dân gọi là người Hoà 和, giống như nước Đại Việt 大越,  dân gọi là người Việt 越) cũng có nghĩa là Nói. Nên người Ngô Nói (tức tiếng Ngô) thì tiếng Nhật gọi là Gô Ôn (吴音), người Hoà Nói thì tiếng Nhật gọi là Wa Ôn(和音). Cũng giống như người Nam (Nôm) Nói (Na) thì tiếng Việt gọi là Nôm Na. Từ Na nghĩa là Nói này đã biến Na = ha-Na-xư (tiếng Nhật nghĩa là Nói) = Và (tiếng Quảng Đông nghĩa là Nói ) = La (tiếng Việt nghĩa là Nói to tiếng) =  Lời (tiếng nói, ngôn ngữ) = Lưỡi (cơ quan tạo ra tiếng nói. Lời là từ dân gian gốc nở ra loạt từ dính hai âm tiết chỉ các sắc thái khác nhau của Lời như Líu-Lô, Lanh-lảnh, Luyến-Láy, Lẳng-Lơ, Lươn-Lẹo v.v.đều có chung gen “L” với từ Lời gốc. Từ Nói tiếng Huế phát âm là “Noái” do đó biến Noái = Thoại 話(từ hàn lâm đồng nghĩa Nói) =Thốt = Thưa = Thuyết 説 = Thiệt 舌(cái lưỡi, cơ quan tạo tiếng thoại), do đó lại nở ra loạt từ dính hai âm tiết chỉ các sắc thái khác nhau của Thoại 話 như Thủ-Thỉ, Thì-Thào, Thẽ-Thọt, Thao-Thao v.v. đều có chung gen “Th” với từ Thoại gốc.  Để phân biệt tiếng người với tiếng động vật, gIới hàn lâm đã đặt ra từ mới bằng lướt   “Người Ồn”  =  Ngôn 言 (Lời Nói của người, mà là nói bình thường). Còn nếu nói mà có tranh luận biện bác giữ quan điểm của mình thì phài thêm lướt nhấn mạnh là lướt “Ngôn Giữ”= Ngữ 语. Do vậy mà có từ ghép Ngôn Ngữ 言语 hay Ngữ Ngôn 语言 đồng nghĩa với từ dân gian Tiếng Nói. Còn động vật thì chỉ có tiếng kêu chứ không có tiếng nói, càng không thể gọi là có ngôn ngữ. Ngày nay ta viết chữ Thuyết 説 và chữ Thoại 話 như thế này, thực ra có lẽ là đã viết lộn, do sai từ xưa. Đáng lẽ chữ này 話 mới là Thuyết 話  (vì nó là Ngôn 言, có tá âm bằng chữ Thiệt 舌cận âm), còn chữ này mới là Thoại 説 (vì nó là Ngôn言, có tá âm bằng chữ Đoái 兑 cận âm).

 

 Kinh Dương Vương

 Kinh Dương Vương có nghĩa là NgườiLàmVua: Người (chữ Kinh, là chữ kiểu “chỉ sự”, gồm Đầu + Mảnh thân + Chân Tay) Làm (chữ Dương揚,là chữ kiểu “hội ý”, gồm Tay+ xê Dịch) Vua (chữ Vương, là chữ kiểu “chỉ sự”, gồm một Kẻ đứng thống lĩnh cả ba Kẻ ngang). Chữ Dương có bộ Tay, nghĩa là Làm (Giương cung, Giữ cày, Giơ cuốc, Dỡ gói xôi ra ăn, hay thậm chí  đến Giở trò chim chuột, Giở thói côn đồ, đều chỉ dùng một chữ Dương này). “Người làm vua” tức “Kinh dương vương”, tiếng Anh chỉ gọi gọn một chữ “King” nghĩa là vua. Tục thờ Kinh Dương Vương chứng tỏ người Kinh là Tổ của đại tộc Việt tức Bách Việt, chứ không phải người Kinh là con út của nòi Việt. Làng Việt nào cũng có tên bằng từ chỉ người, là từ nhấn “Kinh Hề!” = Kẻ, sau còn dùng các chữ Cổ , Khê để kí âm từ Kẻ, còn nhan nhản các tên làng bản bắt đầu bằng chữ Cổ hay chữ Khê 溪 ở Hoa Nam TQ. Quẻ Li = Kẻ Lửa, Kẻ Lửa viết ký âm bằng chữ cận âm là Cổ Loa, tương tự như ở Hà Nội có làng Kẻ Noi viết ký âm bằng chữ cận âm là Cổ Nhuế.

Chữ Dương 揚 có bộ Tay , mang nghĩa là Làm vì từ Dương là ở trong Nôi khái niệm “làm”: Chăm = Nhằm = Nhậm = Nhiệm = Nhắm = Lăm Lăm = Lao = Làm = Cam = Cù = Cử = Cần Cù = Cặm Cụi = (Cắc Củm = Cần Kiệm ) = Cán = Cần = Mần = ( Mẫn Cán = Cần Mẫn ) = Mở = Dỡ = Giơ = Giở = Giương = Dương = Cương = Căng = Gắng = =Ganh = Hành = Hạch = Trách = Tranh = Giành = Giăng = Chăng (vd: con nhện chăng tơ) = Chăm Chỉ = Chí (“Thập Nhất” = Thật + Tâm ”) = Chức = Dực = Dệt = Nết = Nết Na = Nàm = Nam = “Điền Lực” = Đực; Đực về nghĩa thì là giống đực, tương ứng số 1( số 1 là Làm thì số 0 là không làm tức “Làm Dối” = “Làm Chơi” = Lười hay “Làm Man” = Lãn), nhưng Đực về dấu thanh điệu thì là dấu nhóm âm thể hiện “trong dương có âm”, nên về dấu thanh điệu thì Đực + Đực = 0 + 0 =1 = Đức (thái âm thành dương); Đức về dấu thanh điệu thì là nhóm dương nhưng về nghĩa thì nó chính là Nước, Nước = Nác = Đác = Đức biểu ý của chữ Đức 德 là Đi Mười 十 phương Bốn 四 biển vẫn y Một là Nó = Tỏ = Tâm  là H2O, Đức mang dấu tính dương (thể hiện trong âm có dương), Đức có nghĩa là đầy đủ, chu đáo, như nước, “thương nhau như bát nước đầy”, Đức = Phức (sự đầy, nhiều, phức tạp) = Phúc (cả ba từ này đều hàm ý đầy, nhiều, là ba chữ do Việt Nho đặt ra từ tư duy phồn thực của dân nông nghiệp lúa nước). Chữ Phúc (Phúc = Phước = Nước = Nậm = Nậy = Đầy = Đủ = Tụ = Túc = Phúc) có nghĩa đen là sự đầy đủ, mà biểu ý của chữ là ước ao (Nước = =Ướt = Ước = Ao = Yêu = Kêu = Cầu) mà cụ thể là ước ao (yêu cầu要求) được Phúc, cụ thể là được thấy (chữ Thị) có nhiều ruộng nước (chữ Điền khi thấy gần +  chữ vuông khi thấy ở “tầm nhìn xa mười ki lô mét” + chữ gạch một nét khi thấy ở tầm nhìn xa tận chân trời, có nghĩa là ước ao giàu có, sở hữu “Đồng ruộng liền Liền” = Điền, là có được “ruộng đồng thẳng cánh cò bay”). Công việc nhà nông cứ lặp đi lặp lại chậm chạp (lặp lại chẳng khác gì thao tác công nghiệp của công nhân trong dây chuyền tự động, chỉ khác là nhanh thoăn thoắt), đó là Mần = Vần = Vận = Vụ = “Vụ Chiếc” = Việc . Công vụ hay thời vụ gọi cho sang là nhiệm vụ, là nhiều việc trong thời gian dài, còn công việc thì chỉ là cụ thể lẻ loi ngắn trong thời gian một Chốc = Chiếc.

 

Khi cúng đều dâng hai thứ biểu trưng dương âm không thể thiếu là Lửa và Nước, thể hiện bằng Nhang + Đăng (lửa) và Trà +Tửu (nước) và cái thứ năm là Hoa vừa có nước (cắm vào bình nước) vừa có lửa (bông hoa nở). Nước/Lửa = Nậm/Nắng = Âm  / Dương . Nước = Ướt = Âm . Nắng = Nướng = Dương . Âm = Đẫm (vd: ướt đẫm) = Đêm = Đen = Mèn = Mun = Hun = Hôn = Hối  = Hắc = Huân = Hoen = Hoẻn = Huyền . Dương = Nướng = Nắng = Nỏ = Nôi (nắng nỏ, nắng nôi) = Ngời = =Ngày = Cháy = Chói = Soi = Sáng = Tráng = Trắng. Âm màu Đen, Dương màu Trắng, chính là màu của con Nòng và con Nọc trong đồ hình Âm Dương. Lướt lấy dấu cả câu: cái làm cho “Đen của đêm được sáng như Ngày” = Đèn, gọi là cái Đèn, đương nhiên lướt “Đèn sáng như Nắng” = Đăng, nên cái Đèn còn gọi là cái Đăng . Tra <TVGT> trên mạng sẽ được câu trả lời: “Xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự Đăng ( 抱歉,没有收录汉字”)”. Đã xin lỗi rằng nó không phải là Hán tự thì nó chính là chữ nho của người Việt mà Hán ngữ mượn dùng với nguyên nghĩa vậy. Hán ngữ hình thành trên nền chữ Nho, nên có mượn dùng từ Đăng (Mandarin phát âm lơ lớ là “tâng”) mà không có từ Đèn, nhưng chữ Đăng 燈 thì lại phát âm lơ lớ là “Tâng” [ Deng  ]. Thiên thể ban đêm nhìn thấy to và sáng nhất là cái lướt lấy dấu “Trắng ban Đêm” = Trăng, nó duy nhất sáng như con “Mắt Độc” = Mặt (lướt lấy dấu), nên gọi là Mặt Trăng. Lướt “Thời Trăng” = Tháng (tháng âm lịch). Thiên thể ban ngày nhìn thấy nó Chói Soi = Chiếu Sáng thành Nắng Rọi = Sáng Ngời = “Trắng Ngời” = Trời, nó duy nhất sáng như con “Mắt Độc” = Mặt (lướt lấy dấu), nên gọi là Mặt Trời. Một = Mọn (lẻ mọn) = Đơn = Độc = Cộc = Côi = Cô = Cột = Thột (giật thột) = Thọt = Thẻ = Lẻ = Que. Que để hỏi mà đoán gọi là “Que Hỏi” = Quẻ = Quái, đó là cái “Thẻ Xem” = Thăm (rút thăm coi bói)

Người nguyên thủy dùng Tay làm ra lửa bằng Mài = Ma sát, nên từ lửa đầu tiên là do lướt “Tay Ma” = Tá. Tá = Lả = Tá Lả = Lửa = Lộ = Ló = Tỏ = Đỏ = Đóm = Đuốc = Chúc  = Chiếu = Diệu 耀 = Triêu = Trời = Ngời = Ngày = Cháy = Chói = Rọi = Soi = Sao = Sáng = Láng  = Lãng = Rạng = Rang = Ràng = Rực = Rỡ = Rõ  = Lộ Rõ = Tỏ Rõ = Tỏ = Tảng = Tạnh = Tình = Tinh = Tường = Tỏ Tường = Tinh Tường = Dương = Giàng = Chang Chang = Náng = Nắng = Trắng = Tráng = Quang = =Máng = Manh = Mắt Tinh = Minh = Bính = Bừng Bừng = Hừng Hực = Hong = Hồng = Huy = Hoàng = Hỏa = Tá Hỏa = Hoa = Tinh Hoa = Hà = Húc = Chúc = Cháy = Chói = Chiếu = Diệu 耀 = Thiều = Thiêu = Liệu = Lượng = Dương . Tiêu biểu nhất cho cái Sáng cả ngày cả đêm là mặt trời và mặt trăng, là hai con “Mắt Tinh” = Minh . Đó là cái Minh trong một vòng xoay Vần (tiếng Tày gọi là Vằn, chỉ một ngày đêm), Vần là một ngày đêm trọn vẹn, nên gọi lướt lấy dấu là “Minh trọn Vẹn” = Mịnh  (nói về cái sáng, Sáng = Sống), còn về thời gian thì nó là lướt lấy dấu một “Vần trọn Vẹn” = Vận. Nhiều ngày đêm Lăn Tròn = Luân, Luân 輪 Chuyển 轉 trong suốt thời gian của cuộc Sống = Sáng của “Minh + Minh” = 0 + 0 =1 = Mình, là của con người, gọi là Vận Mịnh (nghĩa sát ý là: Vần xoay trọn vẹn của sự Sáng trọn vẹn). Cái Thời (chữ Vận) có trước, như là cái đề. Còn cái Mạng sống (chữ Mịnh) có sau, như cái thuyết; nên có từ Vận Mịnh運命. Hán ngữ gọi ngược thuyết trước đề sau là Mịnh Vận命運. Thời là có sẵn trên trời, đó là cái Hồn, khi có thai tức có “Mầm Sáng” = Mạng, “Mạng Sống” = =Mống, gọi là cái Mầm Mống của cơ thể thì Hồn mới nhập vào (gọi là đầu thai), là bắt đầu của cái Mịnh. Mịnh được sống hết đời, nên lướt lấy dấu “Mịnh 命 Đời” = Mình, cùng logic “Một Kinh” = Mình, “Minh + Minh” = 0 +0  = 1 = Mình. Qui Tắc Lướt (Thiết) trong đó có Lướt Lủn (tức lướt lấy dấu chứ không lấy âm vận) là có tồn tại trong tiếng Việt.

 

Nôi  Khái Niệm

Ví dụ NKN “Màu Đen” = Mèn (như con dế Mèn) hay “Màu Hun” = Mun (như tượng đồng Mun) là:  U = Ô = Ố = Dơ = Mơ (do lướt từ đôi “Muội Dơ” = Mơ) = Mù (do lướt từ đôi “Mun U” = Mù) = Mờ (do lướt từ đôi “Mơ Huyền” = Mờ) = Đồ (do lướt từ đôi “Đen Ô” = Đồ) = Hồ (do lướt từ đôi “Hoen Ố” = Hồ) = Hắc = Hun = Hôn = Hôm = Hoen = Huyền = Hối (do lướt từ đôi “Hun Tối”= Hối) =Tối = Môi   = Hôi = Muội = Mun = Mực = Mặc = Mèn (do lướt “Màu Đen”= Mèn) = Man = Than = Thâm = Lầm = Đậm = Đêm = Lem = Nhem = Nhèm (tiếng Tày nghĩa là Đen) = =Nhờ Nhờ (do lướt từ đôi "Nhọ Dơ" = Nhờ) = Nhọ = Tro = Lọ = Lê = Lọ Nghẹ (nhọ nồi, tiếng Huế) =  Ngầm = Râm = Âm = Ám = Xám (khoảng 45 từ, chưa hết, bạn đọc tìm thêm)

Trong NKN này những từ đôi như Hồ Đồ, Mơ Hồ còn được chuyển chú thành nghĩa là “không rõ ràng”, “không minh bạch”, từ Đồ còn được chuyển chú thành “đồ  vật bị che trong tối” ( như câu đối: Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm). Hán ngữ đã mượn một số chữ để chuyển chú thành nghĩa chỉ vật thể có màu đen như mượn chữ Môi 煤 (để chỉ Than), mượn chữ Muội 昧 (để chỉ tro), mược chữ Hôi (để chỉ tàn tro). Riêng từ Mơ Hồ thì Hán ngữ mượn nguyên si nhưng phát âm lơ lớ là [Mó Hú] và ghi âm ấy bằng mượn chữ nho cận âm là chữ Mô 模 và chữ Hồ . Chữ Mô 模 nghĩa là cái khuôn là chữ kiểu hình thanh, hình là chữ Mộc 木 ý nói gỗ làm khung, thanh là chữ Mô 莫 nghĩa đen là không có. Chữ Hồ  nghĩa là hồ dán là kiểu chữ hình thanh, hình là chữ Mễ  ý nói làm bằng bột gạo, thanh là chữ Hồ  mà người Việt gọi lướt bọn rợ “Hung Nô” = Hồ (thành ngữ cổ đại: “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ”). Chữ Hồ 胡 nguyên là Cổ  Nhục月 lái lại là Cục Nhô để chỉ cái Cục bèo nhèo Nhô thõng dưới cổ con bò, mà từ dân gian gọi là cái “yếm” bò. Như  vậy từ [Mó Hú] của Hán ngữ nếu căn cứ chữ nho, mà Hán ngữ đã mượn để ghi âm, thì nghĩa của nó là cái “Hồ dán cái Khuôn” thì làm sao chuyển tải được cái nghĩa là “không minh bạch”? Chỉ có phát cái âm [Mó Hú] là còn gợi được cái âm Việt là Mơ Hồ (dù hơi lơ lớ “như Ngố nói tiếng Việt “) thì  mới đúng nghĩa là “không minh bạch”, vì Mơ cũng là đen tối (“Muội Dơ” = Mơ) và Hồ cũng là đen tối (“Hoen Ố” = Hồ)

 

 

 42/ Câu Kiều 641:                           “Mặn nồng một vẻ một ưa

                                                Bằng lòng khách mới tùy cơ Dặt-Dìu”

Từ Dạm  (hỏi ướm ý) nở ra từ dínhà Dặt – Dìu (do lướt “Dạm Đắt”= Dặt, hỏi ướm giá có đắt không? lướt “Dạm Chìu” = Dìu, hỏi ướm giá có chịu chiều không?). Từ dính Dặt - Dìu lại chuyển chú thành động từ trả giá. [TQ dịch từ dính Dặt Dìu bằng dùng chữ Thảo Giá讨价 – thảo luận về giá cả]

 

 

 43/ Câu Kiều 647:                     “Cò- Kè bớt một thêm hai

                                            Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm”

Nói = Na = La = Ca = Coỏng (tiếng Quảng Đông, Đài Loan) = Kêu      Kêu nở ra từ dính Cò-Kè. Cò-Kè chuyển chú thành trả giá bớt ít thêm nhiều, tức lướt “Kêu giá To” = Cò, lướt “Kêu giá Bé” = Kè.    Cò- Kè  là từ dính, mọi từ dính đều không thể đảo ngược vị trí hai tiếng, mà tách độc lập từng tiếng ra thì nó mất nghĩa. Cò-Kè không phải là con Cò và cái bờ Kè. Do vậy từ xưa GS Nguyễn Lân đã khuyên là viết từ dính nên có dấu gạch nối giữa hai tiếng đơn.

 

 

 44/ Câu Kiều 697:                   “Phận rầu dầu vậy cũng dầu

                                              Xót lòng Đeo-Đẳng bấy lâu một lời”

 

 

Từ Đợi nở ra từ dính à Đeo-Đẳng (do lướt “Đợi cho Theo” = Đeo, lướt “Đợi cho Bằng” = Đẳng)

 

 

45/ Câu Kiều  699:                 “ Công trình kể biết mấy mươi

                                          Vì ta Khăng-Khít cho người Dở -Dang”

 

 

Từ Khép nở ra từ dính à Khăng-Khít. Từ Dừng nở ra từ dínhà Dở- Dang (do lướt “Dừng để Chờ” = Dở, lướt “Dừng giữa Đàng” = Dang) [TQ dịch là “nhân duyên trung đồ đoạn tống姻缘中途断送”(nhân duyên giữa chừng ngừng đi tiếp)]. Sản phẩm đang trong chu trình gia công, vì có những đoạn thời gian phải dừng chờ, gọi là “sản phẩm dở dang”. Sản phẩm đã gia công xong gọi là thành phẩm.

 

 

46/ Câu Kiều 701:                “Thề hoa chứa ráo chén vàng

                                            Lỗi thề thôi đã Phụ-Phàng với hoa”

 

 

Từ láy Phụ-Phàng (do lướt “Phụ tình Chàng” = Phàng). Phụ Phàng (phụ tình với chàng).  Khác với Phũ Phàng là do Vũ Phu nói lái là Phũ Vu, nên lướt “Phũ với Nàng”= Phàng, thành từ láy Phũ-Phàng (nói về hành động bạo lực của chồng đối với vợ).

 

 

47/ Câu Kiều 711:            “Nỗi riêng riêng những Bàn Hoàn

                                     Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn”

 

 

Từ Bàn là do nói lướt “Bất An” = Bàn. Bàn Hoàn là bất an hoàn toàn.

 

 

 48/ Câu Kiều 713:              “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân

                                        Dưới đèn ghé đến ân cần Hỏi Han”

 

 

Hỏi Han là từ láy. Han là do “hỏi nóng lạnh” thành lướt “Hỏi huyên Hàn” = Han, ghép với từ Hỏi thành Hỏi Han, tức hỏi nóng lạnh nọ kia. NKN: Nói = Vois (tiếng Anh) = Và (tiếng Quảng Đông) = Viết ( do lướt lấy dấu “Việt Nói” = Viết) = =Van (tiếng Nghệ) = Vân = Vấn. Đại từ nghi vấn là từ dân gian Hả? viết bằng từ hàn lâm là chữ Hà?. Lướt “Hà 何?Nói” = Hỏi. Hỏi là từ dân gian đồng nghĩa với từ làm lâm Vấn.

 49/ Câu Kiều 719:                 “Rằng lòng đương Thổn-Thức đầy

                                          Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong”

 

 

Thương (mà đau) nở ra từ dính Thổn -Thức (do lướt “Thương mà Tổn” = Thổn, lướt “Thương mà Ức” = Thức).  [TQ dịch từ dính Thổn – Thức bằng hai chữ nho Uất Muộn -  [Yu men郁闷]]

 

 

50/ Câu Kiều 721:                “Hở môi ra cũng Thẹn -Thùng

                                             Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”

 

 

Thẹn -Thùng là từ dính nở ra do tâm trạng Thương. Thương cho nên Bẽn, lướt “Thương Bẽn” = Thẹn, vì Thẹn nên muốn lánh không nói đến, tức lướt “Thẹn thành ra lạnh Lùng” = Thùng, tạo ra từ Thẹn-Thùng. [TQ dịch từ dính Thẹn -Thùng là [cán kui惭愧], [xìu kui羞愧] nghĩa là ngượng và xấu hổ].

 

 

51/ Câu Kiều 751:              “Trăm nghìn gửi lạy tình quân

                                      Tơ duyên Ngắn-Ngủi có ngần ấy thôi”

 

 

Từ láy Ngắn Ngủi, chỉ tâm trạng (do lướt “Ngắn và Tủi” = Ngủi). Khác với Ngắn Ngủn , chỉ vật thể (do lướt “Ngắn và Lùn” = Ngủn)

 

 

 52/ Câu Kiều 783:                 “Trời hôm mây kéo tối rầm

                                   Rầu Rầu ngọn cỏ, Đầm Đầm cành sương”

 

 

Đêm = Đom = Om = Hom = Hôm – Hôn = Hối = Tối = Túi = Têm = Đêm  = =Đêm Hôm. Từ lặp, lướt “Rầu Rầu” = 1+1=0 = Rẫu. Phiên thiết Rẫu = Rũ Ấu (héo non). Đầm Đầm” = 1+1=0 = Đẫm. Câu “bát”có nghĩa là: Cành cây đẫm sương, ngọn cỏ héo từ khi còn non ấu.

 

 

53/ Câu Kiều 787:                       “Ngập –Ngừng thẹn lục e hồng

                                                   Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen”

 

 

Ngượng nở ra từ dính Ngập- Ngừng (Do lướt “Ngượng mà Vấp” = Ngập, lướt “Ngượng mà Dừng” = Ngừng). [(TQ dịch từ dính Ngập Ngừng là Do Dự犹豫)]

 

 

54/ Câu Kiều 797:                        “Đã sinh ra số Long-Đong

                                            Còn mang lấy liếp má hồng được sao?”

 

 

Từ hàn lâm Lưu chảynở ra từ dính Long -.Đong (do lướt “Lưu theo Dòng”= Long, và lướt “Đội theo Sóng” = Đong). [TQ dịch từ dính Long-Đong bằng hai chữ nho Phiêu Bạc 漂泊 (trôi nổi) ]

 

 

55/ Câu Kiều 839:                   “Mập –Mờ đánh lận con đen

                                         Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi?”

 

 

 Từ Mù (nghĩa là không minh bạch),  Mù nở ra từ dính Mập - Mờ [TQ phiên thiết đúng từ Mù thành hai tiếng Mó Hú (thiết lại thì như lướt “Mó Hú” = Mù)  nhưng chữ thì mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó Hồ tức tay sờ (chữ Mó) vào hồ dán (chữ Hồ ) không có nghĩa gì với không minh bạch. Mù ( nghĩa là không rõ ràng) tức là  Mơ Hồ ( Mơ là  do lướt “Muội Dơ” = Mơ và Hồ là do lướt “Hoen Ố’ = Hồ. Mơ và Hồ đều có nghĩa là đen, không rõ ràng).  Các từ của NKN đen là: “Đen Ô” = Đồ = Ô = Ố = Dơ = Mơ = Hồ = Hắc= Hôn= Hôm = Hoen = Huyền = Hối = Tối = Muội = Man= Mun = Mực = Mèn = Đen,  đều có nghĩa là đen tức không minh bạch. Ca dao: “Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Đồ là đen đã chuyển chú thành từ Đồ chỉ  những cái gì đen, có khi cái Đồ ấy màu nó không đen nhưng  vì nó bị che kín cả ngày lẫn đêm trong bóng tối nên nó cũng thành đen. [TQ mượn cả nghĩa “không minh bạch” của từ Mơ Hồ của tiếng Việt, lẫn mượn cả cái âm “mơ hồ” nhưng lại phát âm lơ lớ là Mó Hú, rồi mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó và chữ Hồ để làm phiên âm, thành ra nghĩa của hai chữ cận âm đó là “Mó tay vào Hồ dán”, đâu phải nghĩa là không minh bạch.Chữ Mó là chữ hình thanh (hình là cái tay, thanh là chữ Mô cận âm), chữ Hồ cũng là chữ hinh thanh (hình là chữ Mễ chỉ bột, thanh là chữ Hồ, chữ Hồ lại là chữ hội ý ( là “Cổ Nhục” = Cục và Nhục Cổ” = Nhô, la cái Cục Nhô bằng da  bèo nhèo bạc nhạc dưới cổ con bò, thường gọi là cái yếm bò ] Người Việt cổ đại ở vùng Hoàng Hà cổ xưa lại dùng chữ Hồ này phiên thiết thành hai tiếng Hung Nô để chỉ dân du mục phương Bắc (lướt hai tiếng lại thì là “Hung Nô” thiết Hồ, chỉ bọn rợ Hồ du mục kém văn minh), thành ngữ cổ: “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ南方越, 北方胡

 

 

56/ Câu Kiều 851:               “Giọt riêng Tầm-Tã tuôn mưa

                                     Phần căm nỗi khách, phân dơ nỗi mình”

 

 

Giot riêng là giọt lệ khóc thầm mà tuôn ướt đẫm như trời mưa. Tuôn mưa như Tưới nước. Tưới nở ra từ dínhà Tầm, -Tã (do lướt “Tưới Đẫm” = Tầm, lướt “Tưới Đã” = Tã). Từ dính Tầm –Tã trở thành hình dung từ cho động từ Tuôn mưa.

 

 

57/ Câu Kiều 857 :                  “Giận duyên, tủi phận Bời Bời

                                            Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh”

 

 

Lớn nhanh như từ lướt “Bốc Hơi” = Bời. Cái tủi cũng bời bời tức lớn nhanh như bốc hơi.

 

 

58/ Câu Kiều 865:                   “Những là Đo-Đắn ngược xuôi

                                            Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường”

 

 

Lướt lấy dấu “Đo Nguyên” = Đo, lướt lấy dấu “Đo Ngắn” = Đắn, câu 4 chữ “Đo nguyên Đo ngắn” chuyển thành câu 2 chữ Đo-Đắn. NKN: Nói = Gọi = Gáy (dùng cho gà) = Gí (tiếng Đài Loan) = Gô (tiếng Nhật Bản- Ni Hon Go日本語) = Ngỏ = =Ngữ = Ngôn = Ồn = Âm. Đo- Đắn [TQ dịch từ dính Đo-Đắn là: Hằng lượng khinh trọng衡量轻重(cân nhắc năng nhẹ)]

 

 

59/ Câu Kiều 869:                     “ Đoạn trường thay lúc phân kỳ

                                           Vó câu Khấp –Khểnh bánh xe Gập-Gềnh”

 

 

Gấp Khúc, Khúc nở ra từ dính à Khấp-Khểnh [TQ dịch là “gian nan cử bộ艰难举步” (khó khăn cất bước)  ], Gấp nở ra từ dính Gập –Gềnh [ TQ dịch là  “dianbo颠簸”(lắc lư) ]. Những từ dính Khấp-Khểnh và Gập-Gềnh phát âm đều thấy rõ cặp môi  Mấp/Máy = Đóng/Mở  =  0/1  = Âm/Dương biểu lộ sự chuyển động Thấp/Cao như dao động hình sin.

 

 

51/ Câu Kiều 751:              “Trăm nghìn gửi lạy tình quân

                                      Tơ duyên Ngắn-Ngủi có ngần ấy thôi”

 

Từ láy Ngắn Ngủi, chỉ tâm trạng (do lướt “Ngắn và Tủi” = Ngủi). Khác với Ngắn Ngủn , chỉ vật thể (do lướt “Ngắn và Lùn” = Ngủn)

 

 52/ Câu Kiều 783:                 “Trời hôm mây kéo tối rầm

                                   Rầu Rầu ngọn cỏ, Đầm Đầm cành sương”

 

Đêm = Đom = Om = Hom = Hôm – Hôn 昏 = Hối 晦 = Tối = Túi = Têm = Đêm  = =Đêm Hôm. Từ lặp, lướt “Rầu Rầu” = 1+1=0 = Rẫu. Phiên thiết Rẫu = Rũ Ấu (héo non). Đầm Đầm” = 1+1=0 = Đẫm. Câu “bát”có nghĩa là: Cành cây đẫm sương, ngọn cỏ héo từ khi còn non ấu.

 

53/ Câu Kiều 787:                       “Ngập –Ngừng thẹn lục e hồng

                                                   Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen”

 

Ngượng nở ra từ dính Ngập- Ngừng (Do lướt “Ngượng mà Vấp” = Ngập, lướt “Ngượng mà Dừng” = Ngừng). [(TQ dịch từ dính Ngập Ngừng là Do Dự犹豫)]

 

54/ Câu Kiều 797:                        “Đã sinh ra số Long-Đong

                                            Còn mang lấy liếp má hồng được sao?”

 

Từ hàn lâm Lưu 流 (chảy)nở ra từ dính Long -.Đong (do lướt “Lưu theo Dòng”= Long, và lướt “Đội theo Sóng” = Đong). [TQ dịch từ dính Long-Đong bằng hai chữ nho Phiêu Bạc 漂泊 (trôi nổi) ]

 

55/ Câu Kiều 839:                   “Mập –Mờ đánh lận con đen

                                         Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi?”

 

 Từ Mù (nghĩa là không minh bạch),  Mù nở ra từ dính Mập - Mờ [TQ phiên thiết đúng từ Mù thành hai tiếng Mó Hú (thiết lại thì như lướt “Mó Hú” = Mù)  nhưng chữ thì mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó 模Hồ 糊tức tay sờ (chữ Mó模) vào hồ dán (chữ Hồ 糊) không có nghĩa gì với không minh bạch. Mù ( nghĩa là không rõ ràng) tức là  Mơ Hồ ( Mơ là  do lướt “Muội Dơ” = Mơ và Hồ là do lướt “Hoen Ố’ = Hồ. Mơ và Hồ đều có nghĩa là đen, không rõ ràng).  Các từ của NKN đen là: “Đen Ô” = Đồ = Ô乌 = Ố 污 = Dơ = Mơ = Hồ = Hắc黑= Hôn昏= Hôm = Hoen = Huyền 玄= Hối 晦 = Tối = Muội 昧= Man蛮= Mun = Mực = Mèn = Đen,  đều có nghĩa là đen tức không minh bạch. Ca dao: “Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Đồ là đen đã chuyển chú thành từ Đồ chỉ  những cái gì đen, có khi cái Đồ ấy màu nó không đen nhưng  vì nó bị che kín cả ngày lẫn đêm trong bóng tối nên nó cũng thành đen. [TQ mượn cả nghĩa “không minh bạch” của từ Mơ Hồ của tiếng Việt, lẫn mượn cả cái âm “mơ hồ” nhưng lại phát âm lơ lớ là Mó Hú, rồi mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó摸 và chữ Hồ 糊để làm phiên âm, thành ra nghĩa của hai chữ cận âm đó là “Mó 摸tay vào Hồ 糊dán”, đâu phải nghĩa là không minh bạch.Chữ Mó 摸là chữ hình thanh (hình là cái tay扌, thanh là chữ Mô 莫cận âm), chữ Hồ 糊cũng là chữ hinh thanh (hình là chữ Mễ 米chỉ bột, thanh là chữ Hồ胡, chữ Hồ 胡lại là chữ hội ý ( là “Cổ 古Nhục肉” = Cục và “Nhục 肉Cổ古” = Nhô, la cái Cục Nhô bằng da  bèo nhèo bạc nhạc dưới cổ con bò, thường gọi là cái yếm bò ] Người Việt cổ đại ở vùng Hoàng Hà cổ xưa lại dùng chữ Hồ 胡này phiên thiết thành hai tiếng Hung Nô để chỉ dân du mục phương Bắc (lướt hai tiếng lại thì là “Hung Nô” thiết Hồ, chỉ bọn rợ Hồ 胡du mục kém văn minh), thành ngữ cổ: “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ南方越, 北方胡”

 

56/ Câu Kiều 851:               “Giọt riêng Tầm-Tã tuôn mưa

                                     Phần căm nỗi khách, phân dơ nỗi mình”

 

Giot riêng là giọt lệ khóc thầm mà tuôn ướt đẫm như trời mưa. Tuôn mưa như Tưới nước. Tưới nở ra từ dínhà Tầm, -Tã (do lướt “Tưới Đẫm” = Tầm, lướt “Tưới Đã” = Tã). Từ dính Tầm –Tã trở thành hình dung từ cho động từ Tuôn mưa.

 

57/ Câu Kiều 857 :                  “Giận duyên, tủi phận Bời Bời

                                            Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh”

 

Lớn nhanh như từ lướt “Bốc Hơi” = Bời. Cái tủi cũng bời bời tức lớn nhanh như bốc hơi.

 

58/ Câu Kiều 865:                   “Những là Đo-Đắn ngược xuôi

                                            Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường”

 

Lướt lấy dấu “Đo Nguyên” = Đo, lướt lấy dấu “Đo Ngắn” = Đắn, câu 4 chữ “Đo nguyên Đo ngắn” chuyển thành câu 2 chữ Đo-Đắn. NKN: Nói = Gọi = Gáy (dùng cho gà) = Gí 語 (tiếng Đài Loan) = Gô 語 (tiếng Nhật Bản- Ni Hon Go日本語) = Ngỏ = =Ngữ 語 = Ngôn 言= Ồn = Âm音. Đo- Đắn [TQ dịch từ dính Đo-Đắn là: Hằng lượng khinh trọng衡量轻重(cân nhắc năng nhẹ)]

 

59/ Câu Kiều 869:                     “ Đoạn trường thay lúc phân kỳ

                                           Vó câu Khấp –Khểnh bánh xe Gập-Gềnh”

 

Gấp Khúc, Khúc nở ra từ dính à Khấp-Khểnh [TQ dịch là “gian nan cử bộ艰难举步” (khó khăn cất bước)  ], Gấp nở ra từ dính Gập –Gềnh [ TQ dịch là  “dianbo颠簸”(lắc lư) ]. Những từ dính Khấp-Khểnh và Gập-Gềnh phát âm đều thấy rõ cặp môi  Mấp/Máy = Đóng/Mở  =  0/1  = Âm/Dương biểu lộ sự chuyển động Thấp/Cao như dao động hình sin.

 

60/ Câu Kiều 873:                  “Ngoài thì chủ khách Dập –Dìu

                                            Một nhà huyên với một Kiều ở trong”

 

 

Động từ Dính nhau nở ra từ dínhà Dập-Dìu [TQ dịch là Tương Tụ 相聚- tụ họp với nhau].  Tụnở ra từ dính àTúm-Tụm

 

 

61/ Câu Kiều 875:                   “ Nhìn càng Lã-Chã giọt hồng

                                              Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao”

 

 

Từ dính Lã-Chã do từ Sa nở ra, hình dung sự Sa nước mắt. Giọt nước mắt ngắn thì lướt “Lọt Sa” = Lã, và giọt nước mắt dài thì lướt “Chảy Sa” = Chã . Hình dung từ Lã –Chã chuyển chú thành động từ, chỉ cần nói Lã - Chã là biết đang khóc giọt ngắn giọt dài, giọt ngắn (Lã), giọt dài (Chã). [TQ không có từ nào tương đương với từ đã được gia công kỹ như từ Lã - Chã nên chỉ dịch từ Lã - Chã là Lưu Lệ 流泪 (chảy nước mắt)]. Cùng là dùng chỉ có  hai âm tiết nhưng Lã Chã (của tiếng Việt) cho hiệu quả của câu nói hàm súc nhiều hơn là Lưu Lệ (của Hán ngữ).

 

 

62/ Câu Kiều 881:                     “Xem Gương trong bấy nhiêu ngày

                                                Thân con chẳng kẻo mắc tay Bợm già”

 

 

Một từ Gương ngắn gọn đã dùng chuyển chú để thay cho cả một câu dài: Thấy qua hành động cư xử mà lộ ra tính cách quái đản của Mã Giám Sinh. NKN: Gạt = Bạt = =Bịp = Bợm = Biển . [TQ dịch từ Bợm là Khi Biển欺騙 (lừa gạt)].

 

 

63/ Câu Kiều 883:                           “Khi về bỏ vắng trong nhà

                                               Khi vào Dùng-Dắng khi ra Vội – Vàng”

 

 

Câu này điển hình cho ngữ pháp VN là trong câu chỉ có Đề và Thuyết, không hề có chủ ngữ (theo Cao Xuân Hạo), Câu 1 thì Đề là “Khi về”, Thuyết là “Bỏ vắng trong nhà”, trong mệnh đề Thuyết không nêu ra mà vẫn hiểu được là có hai chủ ngữ: Kiều thì bị Bỏ trong nhà, Mã thì Vắng nhà. Câu 2 thì Đề là Khi vào, Khi ra; Thuyết là hành động của Mã. Dùng-Dắng là từ dính do Dặng (đánh tiếng) thể hiện thái độ cuống quýt hoảng hốt lớn dần lên của kẻ có ý đồ gian [TQ dịch là “ hoảng lý hoảng trưởng” 慌里慌长 (cái hoảng trong lòng lớn dần) ]. Vội Vàng là từ láy: Vàng là do lướt “Vội và Màng” = Vàng. Chẳng màng là không bận tâm đến, Màng = Mang nghĩa là Bận đa mang多忙: bận nhiều.

 

64/ Câu Kiều 885:                          “ Khi ăn thì nói Lỡ-Làng

                                            Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh”

 

 

Từ Lỗi nở ra từ dínhà Lỡ-Làng [ TQ dịch từ dính Lỡ-Làng là: “căn bản nói không nổi một tí nào cái cao quí của Nho Nhã”. Như vậy TQ cũng công nhận văn Nho của Nhã ngữ là hay nhất]. Câu 2 không nêu chủ ngữ mà vẫn hiểu được khi Mã và đám đầy tớ với nhau thì Mã bị đám đầy tớ xem thường xem khinh [TQ dịch là: “đến bọn nô bộc dịch trong nhà cũng chê nó thô bỉ chứ chẳng được như Đường tục”. Như vậy TQ công nhận phong tục của người Thoòng (Đường nhân – người Việt Thường từ thời Đường Nghiêu) là văn minh, lối sống thanh tao]

 

 

65/ Câu Kiều 897:                      “Chút thân liễu yếu thơ đào

                                           Dớp nhà Đến-Đỗi giấn vào tôi người”

 

 

Dớp là do lướt từ đôi “Dơ Nhớp” = Dớp, Dớp chuyển chú thay cho chỉ sự cố hoạn nạn của nhà. Đến-Đỗi là từ láy (do lướt “Đến Nỗi” = Đỗi, Đỗi dùng láy cho Đến thành từ láy Đến-Đỗi). Giấn là do lướt lấy dấu “Dẫn đến Lần” = Giấn ( do nhấn mạnh nên kéo dài D à Gi). Tôi Ngươi là nói tắt của câu làm Tôi tớ cho Người ta, lướt lấy dấu “Người Ta” = Ngươi. Lướt lấy âm vận và lướt lấy dấu nhằm tạo ra từ mới đơn âm từ hai từ đơn âm hay một câu dài bằng lướt từ đầu câu với từ cuối câu. Cách này làm cho câu văn Việt rút ngắn mà hiệu quả cao (nén thông tin nội dung). Ví dụ đi học bình dân thanh toán nạn mù chữ gọi bằng dùng chuyển chú là đi học “a-bê-xê” vì đó là ba chữ đầu của bẳng Alphabet, dùng chuyển chú chỉ trình độ sơ khai. Nhưng dân gian không gọi vậy, mà gọi là đi học “i – tờ” vì chữ I và chữ T có thể lướt “T- I” = Tí và lướt “I - T” = Ít (học một tí ít thôi lúc mới bắt đầu đi học). Nói trình độ “a-bê-xê” thì tính hình dung không mạnh bằng nói trình độ “I-Tờ”. Câu 2 cũng chỉ rõ thời Nguyễn Du viết Kiều thì chữ quốc ngữ đã có lưu hành chí ít là phổ biến trong công giáo, chữ Gi và chữ D là phát âm khác nhau và tiếp như vậy đến nay, như câu “Con nhà có Giáo dục” phát âm khác với câu “Con gà mẹ Dáo-Dác tìm gà con” (Dõi nở  ra từ dínhà Dáo-Dác, NKN: Nhìn = Nhãn = Nhòm = Dòm = Dõi = Diểu (nhìn xa)). Không đến nỗi GS Bùi Hiển phải làm dự án gộp Gi và D thành một  Z cho tiện đánh máy. Ngay từ Giời (tiếng Hà Nội) cũng là do lướt “Giàng là Trời” = Giời. Còn kẻ cho “Giời gửi sáng vào Trăng” = Giăng, nên có câu ca dao: “Giời bao nhiêu tuổi Giời già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non”

 

 

66/ Câu Kiều 899:                          “Từ đây góc bể chân trời

                                         Nắng mưa Thui-Thủi quê người một thân”

 

 

Thui-Thủi là từ láy, do lướt “Thân Tủi” = Thủi.

 

 

 67/ Câu Kiều 909:                      “Trông vời gạt lệ phân tay

                                   Góc trời Thăm –Thẳm ngày ngày Đăm-Đăm”

 

 

Thâm (sâu) nở ra từ dínhà Thăm-Thẳm .  Đăm Đăm là từ lăp do lướt “Đờ đẫn mà Ngắm” = Đăm, khác với “Chăm chú mà Ngắm” = Chằmà Nhìn Chằm Chàm.

 

 

 67/ Câu Kiều 911:                “Nàng thì dặm khách Xa-Xăm

                                       Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây”

 

 

 Xa Xăm là từ láy Xa và “Xa Lắm”= Xămà Xa Xăm

 

68/ Câu Kiều 923:                        “Thoắt trông Lờn –Lợt màu da

                                                      Ăn gì cao lớn Đẫy-Đà làm sao”

 

 

 Từ Lạt nở ra từ dínhà Lờn-Lợt (do lướt “Lạt Hơn” = Lờn, lướt “Lạt Bớt”= Lợt). Từ Đầy nở ra từ dính Đẫy-Đà (do lướt nhấn lấy dấu “Đầy Dã!”= Đẫy, lướt “Đầy Cả”=Đà)

 

 

 

 

69/ Câu Kiều 1035:                      “ Bốn bề Bát Ngát xa trông

                                                Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”

 

 

Để diễn tả cái rộng của mặt phẳng, thì từ Mặt nở ra từ dínhà Mênh-Mông (do lướt “Mặt Rộng” = Mông, “Mặt thênh Thênh” = Mênh). Kèm thêm từ Bát là con số 8 trên bản đồ Dịch lý chỉ phương Đông là biển rộng mênh mông, do vậy chữ Bát chuyển chú chỉ sự rộng (biển Đông còn gọi là Bát hải). Bốn bề Ngang đều rộng là “Ngang Bát” = Ngát, do vậy mà từ láy Bát Ngát nghĩa là vô cùng rộng, thành câu Rộng bát ngát, hay rộng mênh mông bát ngát. Câu có 6 chữ “Bốn bề bát ngát xa trông” [TQ phải dịch là: Hướng tứ chu viễn diểu, mãn nhãn thị nhất phiến liêu khoát đích向四周远眺,满眼是一片辽阔的] thành ra 13 chữ, dài gấp đôi câu Việt tức tính hiệu suất của câu chỉ bằng nửa của Việt, riêng chữ Liêu Khoát là rộng, phải thêm trợ từ Mãn Nhãn  cũng chưa cảm thấy rộng bằng Bát Ngát

 

70/ Câu Kiều 1057:                    “Ngậm-Ngùi rủ bức rèm châu

                                              Cách lầu nghe có tiếng đâu họa vần”

 

 

Ngậm-Ngùi là từ dính nở ra do từ Người (có tâm sự buồn), do lướt “Người dấu lòng Thầm” = Ngậm, lướt “Người dấu lòng Tủi” = Ngùi, thành từ dính Ngậm-Ngùi [TQ dịch từ dính Ngậm-Ngùi là Vọng cảnh thương hoài望景伤怀 ( ngắm cảnh mà đau lòng)]

 

 

71/ Câu Kiều 1077:                     “Những là Lần-Lữa nắng mưa

                                                 Kiêp phong trần biết bào giờ là thôi?”

 

 

Từ Lâu nở ra từ dính Lần-Lữa (do lướt “Lâu Dần” = Lần và lướt “Lâu Nữa” = Lữa). Từ 5 chữ “Lâu dần và lâu nữa” rút xuống còn 2 chữ “Lần-Lữa”, đấy là cách nén thông tin trong câu Việt nhờ áp dụng qui tắc Lướt trong tạo từ ( qui tắc Lướt chính là qui tắc “đánh vần” trong học chữ quốc ngữ, vd như: L + Am = Làm, hay Điền + Lực = Đực, đó là chữ Nam, do lướt “Nòi Làm” = Nam 男,tức “Nam hay Đực là “con nòi để làm giống”)

 

 

72/ Câu Kiều 1129:                       “Hóa nhi thật có nỡ lòng

                                                Làm chi giày tía vò hồng lắm nau!”

 

 

Tác giả đã dùng qui tắc Lướt tạo từ mới như lướt “Nỗi Đau” = Nau (là từ dân gian mới). Nhiều người do không hiểu qui tắc Lướt có tồn tại trong tiếng Việt nên đã tưởng câu “lắm nau” là viết sai của “lắm nao”.Từ “lắm nao” chỉ là một thán từ.

 

 

73/ Câu Kiều 1133:                      “Tú bà tốc thẳng đến nơi

                                             Hăm Hăm áp điệu một hơi về nhà”

 

 

Chữ nho Dọa Hù吓唬 là chữ ký âm phương ngữ (dùng bộ khẩu chỉ ý là từ khẩu ngữ của phương ngữ, mượn âm chữ Hạ cho t Dovà mượn âm chữ Hổcho t Hù), Dọa Hù là một từ đôi, Dọa cũng là Hù (làm cho người khác sợ). Dọa láy thành Dọa Dẫm (do lướt “Dọa Lắm” = Dẫm). Hủ nở ra từ dính Hằm-Hè. Phiên thiết Hằm = Hăm Hăm (dấu thanh điệu: 1= 0+0). Hăm Hăm cũng có nghĩa như Dọa-Dẫm, nhưng Hăm Hăm mạnh ý hơn, tốc độ hơn vì nó cận âm với Xăm Xăm (là đi nhanh).

 

 

74/ Câu Kiều 1189:                 “Buồng riêng riêng những  Sụt-Sùi

                                              Nghĩ thân mà lại Ngậm-Ngùi cho thân”

 

 

Chữ riêng đầu là riêng của buồng, chữ riêng sau là riêng của nỗi mình đang Sa nước mắt. Sa nở ra từ dínhà Sụt –Sùi (do lướt “Sa như lụt” = Sụt, lướt “Sa như Vùi” = Sùi). Ngượng nở ra từ dínhà Ngậm-Ngùi (do lướt “Ngượng Thầm” = Ngậm, lướt “Ngượng Tủi” = Ngùi). Nếu là Buồn Tủi và Ngượng Tủi thì lướt “Buồn Tủi” = Bùi, lướt “Ngượng Tủi”=Ngùi thành ra do lướt mà có được từ mới Bùi - Ngùi hơi khác sắc thái với Ngậm-Ngùi, đó là sự tinh tế của tiếng Việt nhờ sự gia công kỹ càng khi tạo từ đơn âm cũng như song âm bằng qui tắc Lướt và qui tắc Nở.

 

 

75/ Câu Kiều 1219:                 “ Những nghe nói đã Thẹn-Thùng

                                              Nước đời lắm nỗi Lạ-Lùng Khắt-Khe”

 

 

Lạ-Lùng là từ láy. Lạ và “Lạ Hung” = Lùng. Từ Khế (契约khế ước) nở ra từ dính Khắt-Khe (do lướt “Khế Chặt”= Khắt, lướt “Khế Chẽ” = Khe). Nói “qui định là khế ước chặt chẽ” thì mất 6 chữ. Nếu nói “qui định khắt khe” thì chỉ mất 4 chữ, rút gọn câu nói hơn, mà ai cũng hiểu là trong nội dung câu có hàm khế ước rồi, đó là cách “nén thông tin của tiếng Việt đi đôi với cách “nén ký tự” trong một “vuông Trữ Nho nhò” = “vuông Chữ Nho nhỏ” mà gọi Vo gọn là “…Chữ Nho…” có từ thời cổ đại ( di chỉ chữ Nho trên xẻng đá ở Cảm Tang, Quảng Tây có niên đại cách nay 6000 năm, mà 3000 năm sau người Hán mới lần đầu tiên có mặt ở Lĩnh Nam).

 

 

76/ Câu Kiều 1299:                      “Miệt- Mài trong cuộc truy hoan

                                              Càng quen thuộc nết càng Dan-Díu tình”

 

 

Từ Miết (liên tục) nở ra từ dínhà Miệt Mài (do lướt “Miết Thiệt”= Miệt, lướt “Miết Mãi”= Mài. Từ Dính nở ra từ dínhà Dan-Díu  (do lướt “Dính Can” = Dan, lướt “Dính Níu”= Díu)

 

 

77/Câu Kiều 1335:                        “Bình khang Nấn-Ná bấy lâu,

                                              Yêu hoa yêu được một màu điểm trang”

 

 

Nại 耐(nhẫn nạinở ra từ dính Nấn-Ná (do lướt “Nại Dần” = Nấn, lướt “Nại Dà”= =Ná)

 

 

78/ Câu Kiều 1473:                             “Mảng vui rượu sớm cờ trưa,

                                                      Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh”

 

 

Mảng do lướt “Mải Đang” = Mảng

 

 

79/ Câu Kiều 1543:                       “Lại còn Bưng-Bít giấu quanh,

                                                  Làm chi những thói trẻ ranh nực cười”

 

 

Chữ Bế nở ra từ dínhà Bưng-Bít (do lướt “Bế Đựng” = Bưng, lướt “Bế Chịt” = =Bít)

 

 

90/ Câu Kiều 1851:                    “Nàng đà tán hoán tê mê,

                                            Vâng lời ra trước bình the vặn đàn”

 

 

Lướt “Hồn Loạn”= Hoán, Tán Hoán nghĩa như Mất Hồn hay gọi là Choáng Váng. Tê Mê là đứng sững mê mẩn [TQdịch: Tâm lý nhất phiến mê võng心里更觉一片迷惘].

 

 

91/ Câu Kiều 1867:                 “Lòng riêng Tấp-Tểnh mừng thầm

                                                 Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay”

Chữ Tẩu 走(đinở ra từ dính àTấp-Tểnh (bắt đầu bước nhen nhúm lòng hứng  khởi)

 

 

92/ Câu Kiều 1959:                “Chút than Quằn –Quại vũng lầy

                                          Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao?”

 

 

Từ Cong nở ra từ dính Quằn-Quại (do lướt “Cong Uốn” = Quằn, lướt “ Cong Lại” = =Quại)

 

 

93/ Câu Kiều 3235:                     “Một nhà phúc lộc gồm hai

                                          Nghìn năm Dằng-Dặc quan giai Lần Lần”

 

 

Từ Dài nở ra từ dính Dằng-Dặc (do lướt “Dài Thẳng”= Dằng, lướt “Dài Chắc” = Dặc). Lướt “Lâu Dần”= Lần, “Lâu Dần” = Lần à Lần Lần

 

 

 

Tiếng Việt ngày nay là dùng hỗn hợp từ dân gian ( thương gọi là từ thuần Việt) và từ hàn lâm (thường gọi là từ Hán Việt). Từ Việt hàn lâm thì có viết bằng chữ Nho. Gọi nó là từ Hán Việt là cách gọi sai lầm, vì phát âm của nó là hoàn toàn thuần Việt. Thứ tiếng Việt hàn lâm này chính là ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa thời nhà Đường trở về trước (mà trong cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn <Thuyết Vản Giải Tự 說文解字> có từ thời đầu Công nguyên đã thể hiện rõ. Thơ Đường viết bằng chữ Nho phải đọc đúng như phát âm của tiếng Việt hàn lâm thì mới đúng luật bằng trắc. Còn đọc như phát âm của Hán ngữ hiện đại thì sai, không còn ra thơ Đường nữa. Hán ngữ hiện đại hay còn gọi là tiếng Phổ thông Trung Quốc (mà quốc tế gọi là tiếng Mandarin – Mandaren tức Mãn Đại Nhân 滿大人, là thứ tiếng của quan lại nhà Mãn Thanh 滿清 ngoại tộc phát âm lơ lớ làm méo mó tiếng Trung Hoa có từ thời nhà Đường. Tiếng Mandarin còn gọi là tiếng Quan thoại [ theo kiến giải của nhà sử học trứ danh Viên Đằng Phi 袁騰飛, giáo thụ trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh Trung Quốc] ). Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Nam Đảo ( Malayapolinesian – xưa gọi là tộc Đại La ở ĐNÁ), thuộc ngữ hệ Môn-Khơme . Hệ đếm của tiếng Khơ me là hệ ngũ phân: 1 – 2 - 3 - 4 - 5 tức Muôi – Tê –  Bây – Buôn – Prăm là hết vòng đếm, quay vòng tiếp là 6 tức Prăm Muôi. Vậy số 5 là lớn nhất vòng đếm, là con số Nhiều. Nôi Khái Niệm “ nhiều” đã tiến triển trong tiếng Việt là:  5 = Prăm =  Rắm =  Năm = Lắm = Lũ = Ngũ  = Ngao-Ngán = =Ran  =  Nhan-Nhản = Nhặn = Nhiên  = Nhiêu  = Nhiều. Trong Nôi Khái Niệm đó các từ Ngũ , Ran , Nhiên , Nhiêu 繞 là những từ hàn lâm có viết bằng chữ Nho. Hán ngữ dùng chữ Nho, cũng với nghĩa như tiếng Việt, nhưng phát âm bị lơ lớ đi như Nhiên  thành “ rán ”, Nhiêu 繞 thành “ráo ”, Ngũ  thành “wủ ”.v.v.Tiếng Việt dùng Vân Vân    ở cuối câu có nghĩa là còn nói nhiều ví dụ nữa. Vì từ hàn lâm Vân  đồng nghĩa từ dân gian Van (nghĩa là Nói). Ví dụ câu: “ Ai Van chi rứa?” có nghĩa là “ Ai Nói gì đấy?”. Hán ngữ hiện đại không dùng Vân Vân 云云 mà dùng Đẳng Đẳng 等等 ( nghĩa là còn nói nữa Bằng Bằng như ví dụ ấy).

Ngay tiếng Sài Gòn thường được coi là ngôn ngữ mới thực ra nó là tiếng Kinh rất cổ. Ví dụ từ Bộ = Không ( trong câu: “Tôi cũng làm nổi chứ Bộ! “ nghĩa là :Tôi cũng làm nổi chứ Không à!”) .Từ đáy Bộ  (= Không) là một từ đáy rất cổ của tiếng Kinh, có gốc do từ Bỏ (= Không). Nôi Khái Niệm “không” cửa tiếng Việt là: Nỏ (tiếng Nghệ) = =No (tiếng Anh) = Bỏ = Bò (tiếng Thái) = Bộ (tiếng Sài Gòn) = Bố (tiếng Tày) = Bỏ Bố (= Không Không, từ đôi, tiếng Kinh) = Mô = Vô  = Vong  = Vất = Vật  = Mất (do lướt từ đôi “Mô Vật:” = Mất) = Mạc  = Bác  = Bất (do lướt từ đôi “Bỏ Mất”= Bất ) = Phất  (do lướt từ đôi “Phi Vật” = Phất) = Thất  = Thác = Bác = Bác Bỏ = Nỏ = No. Trong NKN này chỉ có những từ hàn lâm là có viêt bằng  chữ nho như Vô  [wu], Vong  [wang], Vật  [wu], Bất  [bu], Thất  [shi], Phất  [fú], Mạc  [mo], Bác  [bo], nên những chữ ấy được Hán ngữ mượn dùng nguyên nghĩa, chỉ có là phát âm bị Mãnđạinhân [Mandaren] làm méo mó đi như chú trong ngoặc vuông [  ], ngôn ngữ với lối phát âm ấy được quốc tế gọi là tiếng Mandarin [Mandaren], thường gọi là tiếng Quan Thoại (theo giải thích của Viên Đằng Phi 猿騰飛, nhà sử học hiện đại trứ danh Trung Quốc, giáo sư dạy sử trường đại học Thanh Hoa Bắc Kinh ).

Xem cuốn Từ điển Trung Việt (Hà Nội 1991) thấy đề bìa “khoảng 60. 000 chữ”, một kĩ sư trẻ người Trung Quốc (quê Triết Giang) đã thốt lên với tôi rằng: ”Thấy đề 6 vạn Hán tự mà phát hãi! Thực ra trong đó chỉ có khoăng 2000 chữ là chữ của người Hán thôi, còn lại là chữ của dân tộc Bách Việt và các dân tộc khác. Ví dụ từ Câu Lạc Bộ là mượn dùng ba chữ nho Việt là các chữ Câu , Lạc , Bộ , với ý nghĩa khác hẳn, để ký âm từ cận âm có ba âm tiết là từ Club ( C – Lu – B) của tiếng Anh, chứ nó không phải là tiếng Hán và chữ của Hán”. Chữ Lạc là một chữ nho Việt kiểu “hội ý”, nghĩa là Nước = Nác = Lạc, chữ gồm  bộ Ti (  ý là nước dù là những giọt nhỏ li ti) + bộ Mộc (   ý là nước dù là đầy ắp như biển Đông -  Chữ Mộc theo Dịch lý chỉ phương Đông, ám chỉ biển Đông) + bộ Bạch (  ý là nước là vật chất trong trắng như “Bạc Sạch”= Bạch ), do nước làm mát nên chữ Lạc 樂 còn được chuyển chú thành nghĩa là mát mẻ, vui vẻ, khoái  lạc. (Chữ Dược  là chữ kiểu “hôi ý”, đọc lướt từ trên xuống là “Thảo 艸 Nước ” = Thuốc, hoặc đọc là “ Dại Nước ” = Dược, chữ Thảo là cỏ dại nên Thảo và Dại đồng nghĩa nhau). Lạc Việt 樂越 nghĩa là Nước Việt. Theo truyền thuyết thì ông tổ của người dân Nước Việt là Lạc  Long  Quân  ( đây là ba chữ nho khi đã bị viết theo ngữ pháp Hán, gọi là Hán văn) còn nguyên thuỷ theo từ dân gian viết theo ngữ pháp Việt là Quân Long Lạc thì nó có nghĩa là Con 君 Rồng 龍 Nước  tức Ông () Vua () của Nước () chữ Quân 君 là từ hàn lâm của từ dân gian Con, trong NKN: Con = Can  =  Cán  = Quan  = Quân  = Kô  (tiếng Nhật) = Cò (tiếng Thái) = Cu (tiếng Vân Kiều) = Tu (tiếng Tày) = Tử  =    = Nhi = Nhỏ = Nho 儒;chữ Rồng 龍 được chuyển chú thành nghĩa là Vua nên áo của Vua gọi theo ngữ pháp Hán là Long Bào 龍袍, giường của Vua gọi là Long Sàng 龍床. Người Hán  chế chữ Lạc 洛 khác kiểu “ hình thanh”: hình là chữ Nước ( ) + thanh là mượn âm của chữ Các(各), hoặc hình là bộ Mã (  ngầm ý là người Việt đã bị đuổi đi khỏi đất quê hương vì bị người Hán chiếm) thành chữ Lạc  này.

 Cũng như từ Quản Lý là do người Nhật mượn hai chữ nho Việt là chữ Quản và chữ Lý 理 để dịch từ Management của tiếng Anh. Ghép Quản Lý管理 (Nhật phát âm là “Kan Ri  管理”, ghép theo ngữ pháp Nhật, có nghĩa là “ dùng Lý 理 mà Quản ”, ý nghĩa rất đúng). Hán ngữ mượn lại nguyên si của Nhật (nhưng phát âm lơ lớ đi là “Guan Li 管理” mà từ ghép này ở ngữ pháp Hán lại có nghĩa là “Quản 管 cái Lý ”, thì thành sai ý nghĩa hoàn toàn, vì chẳng ai Quản được cái Lý, chỉ có dùng Lý mà Quản người, Quản việc, thì mới thành.

Tiếng Việt ngày nay là dùng hỗn hợp từ dân gian ( thương gọi là từ thuần Việt) và từ hàn lâm (thường gọi là từ Hán Việt). Từ Việt hàn lâm thì có viết bằng chữ Nho. Gọi nó là từ Hán Việt là cách gọi sai lầm, vì phát âm của nó là hoàn toàn thuần Việt. Thứ tiếng Việt hàn lâm này chính là ngôn ngữ chính thống của Trung Hoa thời nhà Đường trở về trước (mà trong cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn <Thuyết Vản Giải Tự 說文解字> có từ thời đầu Công nguyên đã thể hiện rõ. Thơ Đường viết bằng chữ Nho phải đọc đúng như phát âm của tiếng Việt hàn lâm thì mới đúng luật bằng trắc. Còn đọc như phát âm của Hán ngữ hiện đại thì sai, không còn ra thơ Đường nữa. Hán ngữ hiện đại hay còn gọi là tiếng Phổ thông Trung Quốc (mà quốc tế gọi là tiếng Mandarin – Mandaren tức Mãn Đại Nhân 滿大人, là thứ tiếng của quan lại nhà Mãn Thanh 滿清 ngoại tộc phát âm lơ lớ làm méo mó tiếng Trung Hoa có từ thời nhà Đường. Tiếng Mandarin còn gọi là tiếng Quan thoại [ theo kiến giải của nhà sử học trứ danh Viên Đằng Phi 袁騰飛, giáo thụ trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh Trung Quốc] ). Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Nam Đảo ( Malayapolinesian – xưa gọi là tộc Đại La ở ĐNÁ), thuộc ngữ hệ Môn-Khơme . Hệ đếm của tiếng Khơ me là hệ ngũ phân: 1 – 2 - 3 - 4 - 5 tức Muôi – Tê –  Bây – Buôn – Prăm là hết vòng đếm, quay vòng tiếp là 6 tức Prăm Muôi. Vậy số 5 là lớn nhất vòng đếm, là con số Nhiều. Nôi Khái Niệm “ nhiều” đã tiến triển trong tiếng Việt là:  5 = Prăm =  Rắm =  Năm = Lắm = Lũ = Ngũ 五 = Ngao-Ngán = =Ran 然 =  Nhan-Nhản = Nhặn = Nhiên 然 = Nhiêu 繞 = Nhiều. Trong Nôi Khái Niệm đó các từ Ngũ 五, Ran 然, Nhiên 然, Nhiêu 繞 là những từ hàn lâm có viết bằng chữ Nho. Hán ngữ dùng chữ Nho, cũng với nghĩa như tiếng Việt, nhưng phát âm bị lơ lớ đi như Nhiên 然 thành “ rán 然”, Nhiêu 繞 thành “ráo 繞”, Ngũ 五 thành “wủ 五”.v.v.Tiếng Việt dùng Vân Vân 云 云  ở cuối câu có nghĩa là còn nói nhiều ví dụ nữa. Vì từ hàn lâm Vân 云 đồng nghĩa từ dân gian Van (nghĩa là Nói). Ví dụ câu: “ Ai Van chi rứa?” có nghĩa là “ Ai Nói gì đấy?”. Hán ngữ hiện đại không dùng Vân Vân 云云 mà dùng Đẳng Đẳng 等等 ( nghĩa là còn nói nữa Bằng Bằng như ví dụ ấy).

Ngay tiếng Sài Gòn thường được coi là ngôn ngữ mới thực ra nó là tiếng Kinh rất cổ. Ví dụ từ Bộ = Không ( trong câu: “Tôi cũng làm nổi chứ Bộ! “ nghĩa là :Tôi cũng làm nổi chứ Không à!”) .Từ đáy Bộ  (= Không) là một từ đáy rất cổ của tiếng Kinh, có gốc do từ Bỏ (= Không). Nôi Khái Niệm “không” cửa tiếng Việt là: Nỏ (tiếng Nghệ) = =No (tiếng Anh) = Bỏ = Bò (tiếng Thái) = Bộ (tiếng Sài Gòn) = Bố (tiếng Tày) = Bỏ Bố (= Không Không, từ đôi, tiếng Kinh) = Mô = Vô 無 = Vong 亡 = Vất = Vật 勿 = Mất (do lướt từ đôi “Mô Vật:” = Mất) = Mạc 莫 = Bác 駁 = Bất 不(do lướt từ đôi “Bỏ Mất”= Bất 不) = Phất 弗 (do lướt từ đôi “Phi Vật” = Phất) = Thất 失 = Thác = Bác = Bác Bỏ = Nỏ = No. Trong NKN này chỉ có những từ hàn lâm là có viêt bằng  chữ nho như Vô 無 [wu], Vong 亡 [wang], Vật 勿 [wu], Bất 不 [bu], Thất 失 [shi], Phất 弗 [fú], Mạc 莫 [mo], Bác 駁 [bo], nên những chữ ấy được Hán ngữ mượn dùng nguyên nghĩa, chỉ có là phát âm bị Mãnđạinhân [Mandaren] làm méo mó đi như chú trong ngoặc vuông [  ], ngôn ngữ với lối phát âm ấy được quốc tế gọi là tiếng Mandarin [Mandaren], thường gọi là tiếng Quan Thoại (theo giải thích của Viên Đằng Phi 猿騰飛, nhà sử học hiện đại trứ danh Trung Quốc, giáo sư dạy sử trường đại học Thanh Hoa Bắc Kinh ).

Xem cuốn Từ điển Trung Việt (Hà Nội 1991) thấy đề bìa “khoảng 60. 000 chữ”, một kĩ sư trẻ người Trung Quốc (quê Triết Giang) đã thốt lên với tôi rằng: ”Thấy đề 6 vạn Hán tự mà phát hãi! Thực ra trong đó chỉ có khoăng 2000 chữ là chữ của người Hán thôi, còn lại là chữ của dân tộc Bách Việt và các dân tộc khác. Ví dụ từ Câu Lạc Bộ là mượn dùng ba chữ nho Việt là các chữ Câu 俱, Lạc 樂, Bộ 部, với ý nghĩa khác hẳn, để ký âm từ cận âm có ba âm tiết là từ Club ( C – Lu – B) của tiếng Anh, chứ nó không phải là tiếng Hán và chữ của Hán”. Chữ Lạc樂 là một chữ nho Việt kiểu “hội ý”, nghĩa là Nước = Nác = Lạc, chữ gồm  bộ Ti (絲  ý là nước dù là những giọt nhỏ li ti) + bộ Mộc (木   ý là nước dù là đầy ắp như biển Đông -  Chữ Mộc木 theo Dịch lý chỉ phương Đông, ám chỉ biển Đông) + bộ Bạch (白  ý là nước là vật chất trong trắng như “Bạc Sạch”= Bạch 白), do nước làm mát nên chữ Lạc 樂 còn được chuyển chú thành nghĩa là mát mẻ, vui vẻ, khoái  lạc. (Chữ Dược 藥 là chữ kiểu “hôi ý”, đọc lướt từ trên xuống là “Thảo 艸 Nước 樂” = Thuốc, hoặc đọc là “ Dại 艸Nước 樂” = Dược, chữ Thảo là cỏ dại nên Thảo và Dại đồng nghĩa nhau). Lạc Việt 樂越 nghĩa là Nước Việt. Theo truyền thuyết thì ông tổ của người dân Nước Việt là Lạc 樂 Long 龍 Quân 君 ( đây là ba chữ nho khi đã bị viết theo ngữ pháp Hán, gọi là Hán văn) còn nguyên thuỷ theo từ dân gian viết theo ngữ pháp Việt là Quân Long Lạc thì nó có nghĩa là Con 君 Rồng 龍 Nước 樂 tức Ông (君) Vua (龍) của Nước (樂); chữ Quân 君 là từ hàn lâm của từ dân gian Con, trong NKN: Con = Can 干 =  Cán 干 = Quan 官 = Quân 君 = Kô 子 (tiếng Nhật) = Cò (tiếng Thái) = Cu (tiếng Vân Kiều) = Tu子 (tiếng Tày) = Tử 子 =  Tí 子 = Nhi 兒= Nhỏ 孺= Nho 儒;chữ Rồng 龍 được chuyển chú thành nghĩa là Vua nên áo của Vua gọi theo ngữ pháp Hán là Long Bào 龍袍, giường của Vua gọi là Long Sàng 龍床. Người Hán  chế chữ Lạc 洛 khác kiểu “ hình thanh”: hình là chữ Nước ( 氵) + thanh là mượn âm của chữ Các(各), hoặc hình là bộ Mã (馬  ngầm ý là người Việt đã bị đuổi đi khỏi đất quê hương vì bị người Hán chiếm) thành chữ Lạc 駱 này.

 Cũng như từ Quản Lý là do người Nhật mượn hai chữ nho Việt là chữ Quản 管và chữ Lý 理 để dịch từ Management của tiếng Anh. Ghép Quản Lý管理 (Nhật phát âm là “Kan Ri  管理”, ghép theo ngữ pháp Nhật, có nghĩa là “ dùng Lý 理 mà Quản 管”, ý nghĩa rất đúng). Hán ngữ mượn lại nguyên si của Nhật (nhưng phát âm lơ lớ đi là “Guan Li 管理” mà từ ghép này ở ngữ pháp Hán lại có nghĩa là “Quản 管 cái Lý 理”, thì thành sai ý nghĩa hoàn toàn, vì chẳng ai Quản được cái Lý, chỉ có dùng Lý mà Quản người, Quản việc, thì mới thành.

 

Qui Tắc Lướt tồn tại trong tạo từ dân gian cũng như tạo từ hán lâm:

 Lướt lấy dấu: “Không Có”= Khống (hợp đồng “khống” là hợp đồng giả). Vu Khống là đặt điều, nói không đúng sự thật. Lướt “Vu Khống” = Vống (nói “vống” là nói không đúng sự thật đã có, nói vống lên thế thôi).

Từ hàn lâm viết bằng chữ nho cũng hình thành do QT Lướt, như:

1/  Chữ Siêm 覘 nghĩa là tìm thấy, viết bằng hội ý gồm chữ Chiêm 占 nghĩa là xem + chữ Kiến  nghĩa là thấy, tại sao lại đọc là Siêm? Đó là do đã lướt “Soi Kiếm” = Siêm (Soi = Tìm, Kiếm= Tìm được).

 2/ Chữ Gia 嘉 nghĩa là sáng, thông minh, thường được ghép với từ nữa cũng nghìa là sáng cho mạnh ý như Gia Huy 嘉辉, Gia Thiều 嘉韶 (như trong tên ông Nguyễn Gia Thiều 阮嘉韶 nghĩa là Nguyễn + Thông minh + Sáng đẹp ), chữ Gia 嘉 viết hội ý gồm chữ Gia + chữ Hỉ , đọc lướt, như đánh vần “Gia Hỉ ” = Dĩ, “Hỉ Gia ” = Hà . Dĩ 以 là từ hàn lâm của từ dân gian Giữ (do lướt nhấn mạnh “Giữ Chi!” = Dĩ ). Hà 霞 nghĩa là ánh sáng, cùng nôi khái niệm (NKN): Lửa = Lả = Hà = Hoả . Gia +Hỉ à lái thành Dĩ + Hà , Dĩ Hà  chính là từ hàn lâm của từ dân gian Giữ Lả, mà Giữ Lả thì có nghĩa là Sáng (chữ Gia ), mà Sáng tức là Thông Minh 聪明, vì Thông Minh 聪明 = + + + 月,là Tai nghe (chữ Nhĩ là tai) được Cả (chữ Tổng là tất Cả) Trời (chữ Nhật là trời) Trăng (chữ Nguyệt là trăng), tức là nghe được cả nói xuôi nói ngược, cả thế gới dương (Trời) lẫn thế giới âm (Trăng ).

<Thuyết Văn Giải Tự> giải thich chữ Gia 嘉 với nghĩa chung chung là Mĩ , là Thiện , Mĩ và Thiện đồng nghĩa ( như Chu Lễ, giữ gia lễ thân vạn dân周禮。以禮親萬民Cho thấy đây chính là hình ảnh đống lửa giữa vòng múa xoè đêm hội của cộng đồng dân cư thời Chu. Đống lửa chung vui ấy gọi là Cả - Cổ Nha thiết 古牙切 – hay “Giữ Lả”= Gia )

 

 

Văn hoá của lối nói Việt

 

Tiếng Việt từ trong ngôn từ gồm từ dân gian và từ hàm lâm cùng với sáu thanh điệu góp phần làm nhiều thêm âm vận nên rất phong phú nguồn từ vựng, rất ít từ đồng âm nên dễ latin hoá ký tự để dễ hội nhập bàn phím máy tính. Do có nguồn từ vựng phong phú nên tiếng Việt có lợi thế trong diễn đạt, thể hiện nó là rất tinh vi và tế nhị gọi tắt là tinh tế.

Văn hoá trong lối nói Việt thể hiện ở Kinh ngữ, Khiêm ngữ, Ôn hoà ngữ, Ái ngữ, Thán ngữ…(thể hiện rõ nhất ở lối nói của cư dân kinh thành Thăng Long – cư dân phổ cổ Hà Nội, và thể hiện rõ nhât trong lời thơ của Truyện Kiều). Lối nói ấy không phải chỉ có ở tầng lớp có học mà là lối nói dân gian, mà đa số là người mù chữ mà vẫn ăn nói dễ nghe như vậy, thể hiện cộng đồng rất có tôn ti trật tự, khiêm nhường ( trong xưng hô không phải chỉ co I với You. Wo với Ni mà bao giờ cũng hỏi trước thứ bậc trong gia đình để mà gọi là chị Hai hay chị Ba cho phải phép), không bào giờ gây xung đột trong đối thoại, giao dịch.

Đó là do người xưa đã gia công (trau chuốt) ngôn từ rất kỹ bằng các <Qui tắc tạo dụng ngôn từ dân gian> và các <Qui tắc tạo dụng ngôn từ hàn lâm> (hai loại ngôn từ này lại cùng có thể dùng lẫn Qui tắc  của nhau) do vậy mà lối nói trờ thành vô cùng phong phú trong diễn đạt, dùng từ rất chính xác với các ngữ cảnh.

Đơn cử chỉ riêng thanh điệu đã có Qui tắc chia theo Âm = 0 và Dương= 1 như sau: Các dấu <không> = 0, <ngã>= 0, <nặng>= 0; Các dấu <sắc> = 1, <hỏi> = 1, <huyền> =  1. Do vậy chỉ cần thay đổi “giới tính” của âm vận là nghĩa của từ thành khác ngay. Ví dụ (1): con Ma (dấu không = 0) và cái Mả (dấu hỏi = 1) là của một thực thể nhưng ở hai thế giới khác nhau: con Ma ở thế giới âm không nhìn thấy được còn cái Mả là ở thế giới dương nhìn thấy sờ sờ), còn “hàng hoá” (hàng đẻ mà hoá) thì lại gọi là hãng Mã      ( dấu ngã = 0) [viết bằng hàn lâm là chữ Minh (âm) nhưng đã dùng QT Lướt Nhấn mà thành từ mới được tạo dụng là “Minh Ạ ! = “Minh !” = Mã, gọi dân gian là hàng Mã. Rừng U Minh烏冥 dày kín như tối bưng là viết hàn lâm bằng hai chữ này 烏冥. U = tối , Minh = tối, đều thuộc Nôi Khái Niệm màu đen, Màu Đen theo QT Lướt mà thành từ mới được tạo dụng là “Màu Đen” = Mèn (lại được theo QT Chuyến Chú mà thành tên con dế Mèn). Màu Hun theo QT Lướt mà thành từ mới được tạo dụng là  “Màu Hun” = Mun. Hun như hun khói là làm cho đen như Đêm Hôm. Từ Hôm nghĩa là Đêm lại được viết hàn lâm bằng chữ Hôn . Nói Hôm Qua chỉ có nghĩa là Đêm Qua. Nói Ngày Hôm Qua thì mới có nghĩa chính xác là cả Ngày (đang còn sáng) và cả Đêm (trời đã tối) của thời đã qua. Ngày Hôm = Ngày Đêm (24 h) thì tiếng Tày chỉ gọi chính xác là một “Vằn”, viết bằng hàn lâm là một chữ Vận , tức một vòng quay của trái đất quanh trục của chính nó ( 24 h)]. Ví dụ (2): Từ Ham Muốn được viết hàn lâm bằng chữ Hâm Mộ 歆慕. Nhưng từ Ham Muốn đã theo QT Lướt Lấy Dấu mà thành từ mới được tạo dụng là từ “Ham Muốn” = Hám, làm cho ý nó mạnh hơn như dương mạnh hơn âm (Ham = 0, Hám =1), nếu quá hám tức Thái Hám thì đã Lướt thành từ mới cùng NKN là “Thái Hám” = 1 +1 = 0 =Tham (phép cộng dấu thanh điệu là theo đúng toán nhị phân 1+1 = 0, 0+ 0 =1).

QT Chuyển Chú (rót nghĩa của từ đang dùng sang một ý nghĩa khác) được dùng chung cho từ dân gian và từ hàn lâm. Ví dụ nói vùng đất tươi đẹp mà chỉ dùng lừ Land thì chẳng thấy nó tươi đep chỗ nào, mà lối  nói Việt thì diến tả là non sông tươi đẹp, giang sơn cẩm tú thí thấy cả một sinh thái tuyệt vời. Nói giặc đến giết dân ta không tha cả trứng lẫn kén, thì thấy nó dã man đến không tha cả trẻ sơ sinh đến người già nằm liệt giường. Nói yêu nhau sang chơi cửa chơi nhà để thầy mẹ biết hẹn chúc hoa định ngày (dịch sang tiếng nước ngoài là sang sờ cái cửa, xem cái nhà), nhưng đấy thật là một câu Khiêm ngữ, nói sang tìm hiều gia cảnh (từ truyền thống dòng họ. có gen bệnh di truyền gì không, địa vị xã hội ra sao, tập quán gia phong, điếu kiện kinh tế… còn quá công an điều tra hình sự… cho đến khi quyết chí Dám hỏi để cưới) vậy mà chỉ có nhẹ nhàng là mời  sang “chơi cửa chơi nhà”. Mà đến khi Dám đem sính  lễ sang hỏi cưới thật thì lại không gọi thô thiển là sự kiện “Dám hỏi” mà gọi nhẹ nhàng là sự kiện “Dạm ngõ” (Dám = 1, dương; Dạm = 0, âm, chỉ khác dấu thanh điệu. Thật là khó cho người nước ngoài học tiếng Việt, đúng là phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam).

 

 

Ví dụ về QT Nở ( từ đơn âm Nở ra từ dính song âm cùng tơi tức cùng phụ âm đầu):

Nói à (Nở ra từ dính cùng tơi N): Nài-Nỉ (nói mời); Nũng-Nịu (nói đòi thương); Nỉ-Non (nói nhớ);…

Thuyết à (Nở ra từ dính cùng tơi Th): Thưa – Thốt (nói báo cáo); Thỏ -Thẻ (nói yêu); Thủ -Thỉ (nói ân cần); Thì – Thầm (nói bí mật); Thẽ -Thọt (nói mách lẻo);…

Lời à (Nở ra từ dính cũng tơi L): Lập –Lờ (lời nước đôi); Lấp – Lửng (lời không minh bạch); Lắt – Léo (lời chối bỏ); Lươn –Lẹo (lời gian manh); Lưu –Loát (lời diễn đạt trôi chảy);…

Ngôn à (Nở ra từ dính cùng tơi Ng): Ngập – Ngừng (lời thiếu tự tin); Ngắc –Ngứ (lời diễn đạt không trôi chảy); Ngọng – Ngịu (lời phát âm không chuẩn);…

Từ dính là từ song âm đơn thuần, hai âm phải dính nhau (nên  có gạch nối giữa chúng) và không thể đổi ngược vị trí thì từ mới có nghĩa, nếu tách hai tiếng ra riêng biệt thì mỗi tiếng không còn nghĩa nữa. Khác với “từ ghép”, thực chất là cụm từ, tuy cũng chỉ gồm hai tiếng nhưng là “đề” và ”thuyêt” rõ ràng, ví dụ cụm từ Chiến Thắng (không phải là một từ song âm), mà là cụm từ, ghép theo ngữ pháp Hán (thuyết trước đề sau), trong đó đề là từ Thắng, còn thuyết là từ Chiến (ý nghĩa cụm từ này là Thắng nhờ Đánh nhau). Do hiện tượng mỗi từ đơn âm đều có thể Nở ra những từ dính mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau (nguyên lý nhất nguyên sinh nhị nguyên) nên tiếng Việt trở nên phong phú vì càng tinh tế, và từ vựng song âm nhiều gấp bội từ vựng đơn âm. (Có  thể lập một cuốn từ điển Từ dính)

 

 

Lướt lấy dấu là khi lướt thì tiếng đầu lấy dấu thanh điệu của tiếng sau thay cho dấu thanh điệu của chính nó, còn tiếng sau bị lược bỏ hoàn toàn. Ví dụ:

“ Không Có” = Khống. (Như khai điều Không Có thật, gọi là khai Khống).

“Ham Lắm” = Hám, (Như câu: “con ấy Hám thằng đó chỉ vì tiền”).

“Hưng Phấn”= Hứng. (Như câu: “Hứng lên thì nó chơi rất nhiệt tình”).

 

 

 Kinh Dương Vương

 Kinh Dương Vương có nghĩa là Người () +Làm () + +Vua (): Người (chữ Kinh, là chữ kiểu “chỉ sự”, gồm Đầu + Mảnh thân + Chân Tay, tức “Túc Nhiều” = Tiểu  +  Làm (chữ Dương揚,là chữ kiểu “hội ý”, gồm Tay+ xê Dịch) + Vua (chữ Vương, là chữ kiểu “chỉ sự”, gồm một Kẻ đứng thống lĩnh cả ba Kẻ ngang). Chữ Dương có bộ Tay, nghĩa là Làm ( như Giương cung, Giữ cày, Giơ cuốc, hay thậm chí đến Giở trò chim chuột, Giở thói côn đồ, đều chỉ dùng một chữ Dương này). “Người làm vua” tức “Kinh dương vương”, tiếng Anh chỉ gọi gọn một chữ “King” nghĩa là vua. Tục thờ Kinh Dương Vương chứng tỏ người Kinh là Tổ của đại tộc Việt tức Bách Việt, chứ không phải người Kinh là con út của nòi Việt. Làng Việt nào cũng có tên bằng từ chỉ người, là từ lướt “Kinh Đẻ” = Kẻ (tức “Người đẻ ra Người), sau còn dùng các chữ Cổ , Khê để kí âm từ Kẻ, còn nhan nhản các tên làng bản bắt đầu bằng chữ Cổ hay chữ Khê ở Hoa Nam TQ. Quẻ Li = Kẻ Lửa = Kẻ La. viết ký âm bằng chữ cận âm là Cổ Loa (người Đài Loan lại đọc chữ La là “Loa”. Người Hán lại đọc chữ La là “Lúa” gần với âm Lửa) tương tự như ở Hà Nội có làng Kẻ Noi viết ký âm bằng chữ cận âm là Cổ Nhuế.

Chữ Dương có bộ Tay, mang nghĩa là Làm vì từ Dương là ở trong Nôi khái niệm “làm”: Chăm = Nhằm = Nhậm = Nhiệm = =Nhắm = Lăm Lăm = Lao = Làm = Cam = Cù = Cử = =Cần Cù = Cặm Cụi = (Cắc Củm = Cần Kiệm ) = Cán = Cần = Mần = ( Mẫn Cán = Cần Mẫn ) = Mở = Dỡ = Giơ = Giở = Giương = Dương = Cương = Căng = Gắng = Ganh = Hành = Hạch = Trách = Tranh = Giành = Giăng = Chăng (vd: con nhện chăng tơ) = Chăm Chỉ = Chí ( “Thập Nhất” = Thật + Tâm”) = Chức = Dực = Dệt = Nết = Nết Na = Nàm = Nam = (“Điền Lực” = Đực) = Đụ; Đực về nghĩa thì là giống đực, tương ứng số 1( số 1 là Làm thì số 0 là không làm tức “Làm Dối” = “Làm Chơi” = Lười hay “Làm Man” = Lãn), nhưng Đực về dấu thanh điệu thì là dấu nhóm âm thể hiện “trong dương có âm”, nên về dấu thanh điệu thì Đực + Đực = 0 + 0 =1 = Đức (thái âm thành dương); Đức về dấu thanh điệu thì là nhóm dương nhưng về nghĩa thì nó chính là Nước (thuộc Âm), Nước = Nác = Đác = Đức , biểu ý của chữ Đức là Đi ( )Mười () phương Bốn () biển vẫn y Một () Lòng ()  là Nó = Tỏ = Tâm là H2O, Đức mang dấu tính dương (thể hiện trong âm có dương), Đức có nghĩa là đầy đủ, chu đáo, như nước, “thương nhau như bát nước đầy”, Đức = Phức (sự đầy, nhiều, phức tạp) = Phúc (cả ba từ này đều hàm ý đầy, nhiều, là ba chữ do Việt Nho đặt ra từ tư duy phồn thực của dân nông nghiệp lúa nước). Chữ Phúc (Phúc = Phước = Nước = Nậm = Nậy = Đầy = Đủ = Tụ = Túc = Phúc) có nghĩa đen là sự đầy đủ, mà biểu ý của chữ là ước ao (Nước = Ướt = Ước = Ao = Yêu = Kêu = Cầu) mà cụ thể là ước ao (yêu cầu要求) được Phúc, cụ thể là được thấy (chữ Thị) có nhiều ruộng nước: chữ Điền () khi thấy ruộng gần +  chữ vuông () khi thấy ruộng ở “tầm nhìn xa mười ki lô mét” + chữ gạch một nét () khi thấy ruộng ở tầm nhìn xa tận chân trời, có nghĩa là ước ao giàu có, sở hữu “Đồng ruộng liền Liền” = Điền, là có được “ruộng đồng thẳng cánh cò bay”. Công việc nhà nông cứ lặp đi lặp lại chậm chạp (lặp lại chẳng khác gì thao tác công nghiệp của công nhân trong dây chuyền tự động (chỉ khác là nhanh thoăn thoắt), đó là Mần = =Vần = Vận = Vụ = “Vụ Chiếc” = Việc . Công vụ hay thời vụ gọi cho sang là nhiệm vụ, là nhiều việc trong thời gian dài, còn công việc thì chỉ là cụ thể lẻ loi ngắn trong thời gian một Chốc = Chiếc.

 

 

Khi cúng đều dâng hai thứ biểu trưng dương âm không thể thiếu là Lửa và Nước, thể hiện bằng Lửa (Nhang + Đăng) và Nước (Trà +Tửu) và cái thứ năm là Hoa vừa có nước (cắm vào bình nước) vừa có lửa (bông hoa nở). Nước/Lửa = Nậm/Nắng = Âm / Dương. Nước = Ướt = Âm. Nắng = Nướng = Dương. Âm = =Đẫm (ướt đẫm) = Đêm = Đen = Mèn = Mun = Hun = Hôn = Hối = Hắc = Huân = Hoen =Hoẻn = Huyền. Dương = Nướng = Nắng = Nỏ = Nôi (nắng nỏ, nắng nôi) = Ngời = Ngày = Cháy = =Chói = Soi = Sáng = Tráng = Trắng. Âm màu Đen, Dương màu Trắng, chính là màu của con Nòng ( Đen) và con Nọc (Trắng) trong đồ hình Âm Dương. Lướt lấy dấu cả câu: cái làm cho “Đen của đêm được sáng như Ngày” = “Đen…Ngày” = Đèn, gọi là cái Đèn, đương nhiên lướt “Đèn sáng như Nắng” = 1 + 1= 0 = Đăng (nên cái Đèn còn gọi là cái Đăng. Tra <TVGT> trên mạng sẽ được câu trả lời: “Xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự Đăng (抱歉,没有收录汉字”)”. Đã xin lỗi rằng nó không phải là Hán tự thì nó chính là chữ nho của người Việt mà Hán ngữ mượn dùng với nguyên nghĩa vậy, chỉ có phát âm của Mandarin ( Mãnđạinhân) làm méo đi thành “Tâng”. Hán ngữ hình thành trên nền chữ Nho, nên có mượn dùng từ Đăng   mà không có từ Đèn. Thiên thể ban đêm nhìn thấy to và sáng nhất là cái lướt lấy dấu “Trắng ban Đêm” = Trăng, nó duy nhất sáng như con “Mắt Độc” = Mặt (lướt lấy dấu), nên gọi là Mặt Trăng. Lướt “Thời Trăng” = Tháng (tháng âm lịch). Thiên thể ban ngày nhìn thấy nó Chói Soi = Chiếu Sáng thành Nắng Rọi = Sáng Ngời = “Trắng Ngời” = Trời, nó duy nhất sáng như con “Mắt Độc” = Mặt (lướt lấy dấu), nên gọi là Mặt Trời. Một = Mọn (lẻ mọn) = Đơn = Độc = =Cộc = Côi = Cô = Cột = Thột (giật thột) = Thọt = Thẻ = Lẻ = =Que. Que để hỏi mà đoán gọi bằng lướt lấy dấu là “Que Hỏi” = =Quẻ = Quái, đó là cái “Thẻ Xem” = Thăm.

Người nguyên thủy dùng Tay làm ra lửa bằng Mài = Ma sát, nên từ lửa đầu tiên là do lướt “Tay Ma” = Tá. Tá = Lả = Tá Lả = Lửa = Lộ = Ló = Tỏ = Đỏ = Đóm = Đuốc = Chúc  = Chiếu = Diệu 耀 = =Triêu = Trời = Ngời = Ngày = Cháy = Chói = Rọi = Soi = Sao = =Sáng = Láng  = Lãng = Rạng = Rang = Ràng = Rực = Rỡ = Rõ  = Lộ Rõ = Tỏ Rõ = Tỏ = Tảng = Tạnh = Tình = Tinh = Tường = Tỏ Tường = Tinh Tường = Dương = Giàng = Chang Chang = Náng = Nắng = Trắng = Tráng = Quang = Máng = Manh = “Mắt Tinh” = Minh = Bính = Bừng Bừng = Hừng Hực = =Hong = Hồng = Huy = Hoàng = Hỏa = Tá Hỏa = Hoa = Tinh Hoa = Hà = Húc = Chúc = Cháy = Chói = Chiếu = Diệu 耀 = Thiều = Thiêu = Liệu = Lượng = Dương . Tiêu biểu nhất cho cái Sáng cả ngày cả đêm là mặt trời và mặt trăng, là hai con “Mắt Tinh” = Minh. Đó là cái Minh trong một vòng xoay Vần của quả đất tự quang trục của nó (tiếng Tày gọi là một “Vằn”, chỉ một ngày đêm), Vần là một ngày đêm trọn vẹn, nên gọi lướt lấy dấu là “Minh trọn Vẹn” = Mịnh (nói về cái sáng, Sáng = Sống), còn về thời gian thì nó là lướt lấy dấu một “Vần trọn Vẹn” = Vận. Nhiều ngày đêm Lăn Tròn = Luân, Luân Chuyển trong suốt thời gian của cuộc Sống = Sáng của “Minh âm + Minhdương” = 0 + 0 =1 = Mình, là của con người, gọi là Vận Mịnh (nghĩa sát ý là: Vần xoay trọn vẹn của sự Sáng trọn vẹn). Cái Thời (chữ Vận) đứng trước, như là cái đề. Còn cái Mạng sống (chữ Mịnh) đứng sau, như cái thuyết; nên có từ Vận Mịnh運命. Hán ngữ gọi ngược thuyết trước đề sau là Mịnh Vận命運. Thời là có sẵn trên trời, đó là cái Hồn, khi có thai tức có “Mầm Sáng” = Mạng, “Mạng Sống” = Mống, gọi là cái Mầm Mống của cơ thể thì Hồn mới nhập vào (gọi là đầu thai), là bắt đầu của cái Mịnh. Mịnh được sống hết đời, nên lướt lấy dấu “Mịnh Đời” = Mình, cùng logic với lướt “Một Kinh” = Mình, “Minh âm + Minhdương” = 0+0=1= Mình.

Kết luận: Qui Tắc Lướt (Thiết) trong đó có Lướt lấy dấu (tức lướt chỉ lấy dấu chứ không lấy âm vận) là có tồn tại trong tiếng Việt như một Qui Tắc quan trọng trong việc tạo từ mới cho tiếng Việt.

 

 

2.Giao Chỉ là cái NÔI sinh ra Bách Việt

Theo sách giáo khoa phổ thông của Đài Loan thì ba thời đại HạàThươngàChu là của Hữu Hùng quốc. Hữu Hùng quốc chính là nước Văn Lang rộng lớn nằm ở xứ nóng là dân Quẻ Ly (phương Nam, màu Đỏ), lướt “Quẻ Ly” = Qủi, nên còn gọi là nước Xích Qủi (chữ Xích nghĩa là màu Đỏ, vùng Xích đạo, thờ mặt trời thể hiện trên mặt trống đồng). NKN: Hạ = Hẹ = Hè = Hà = Hỏa = Hỏ = Tỏ = =Đỏ = Rõ = Ló = Lả = La = Li = Lửa = Lóe = Lói = Chói =  Rọi = =Rực = Nực = Nắng = Năng = Nóng = Hong = Hồng = Hạ = Hè = =Hà = Hỏa. Vân Hà 雲霞nghĩa là Mây Sáng (chỉ cái cầu vồng), đền Vân Hà 雲霞lại gọi lướt là “Vân” = Và, nên dân vẫn gọi nó là đền Và (gần Sơn Tây, Hà Nội). Núi Yên Tử 烟紫nghĩa là núi Khói Tím (luôn có mây che phủ như làn khói, màu tím chỉ sự tĩnh lặng và xa xôi). Những tên đền và tên núi kể trên đều dùng từ ghép hàn lâm ( chữ Nho) nhưng đều ghép bằng ngữ pháp Việt. Không như từ ghép Công Ty 公司là dùng chữ Nho của Việt mà lại ghép bằng ngữ pháp Hán, thuyết trước (chữ Công) đề sau (chữ Ty), ngược với ngữ pháp Việt. Ghép bằng ngữ pháp Việt thì phải gọi là Ty Công 公,gọi tắt thì gọi bằng cái đề là Ty, vd “làm ở Ty”, “đi lên Ty”. Khi ấy sẽ càng hiểu rõ chữ Nho là của người Việt: Ty là do lướt từ lặp “Tý Tý” = Ty, biến dấu thanh điệu là 1+1=0 , nhiều cổ đông mỗi người góp một Tý vốn thì thành một cái Ty. Công là do lướt “Của số Đông” = Công chứ không phải của một cá nhân nào. Bốn chữ Thiên Hạ Công Bằng 天下公平)có đúng 16 nét, nên người miềm Tây vẫn đếm một chục là 16, đúng như 16 lạng Ta là một cân Ta, nên “kẻ tám lạng” bằng đỉnh với “người nửa cân”. Bằng Đỉnh nói lái (phản thiết)  lại thành Bình Đằng. Nhưng các nhà từ điển VN thì lại cho rằng từ “bằng đỉnh” là từ thuần Việt còn từ “bình đẳng 平等” là tố gốc Hán (!).

Chữ Chu chỉ con Tru, còn đọc là Châu, Hán ngữ đọc là “Trâu” [zhou]. NKN: Tru (tiếng Nghệ) = Tlu (tiếng Mường) = Chu = Châu = =Trâu = Ngầu (tiếng Quảng Đông) = Ngưu = Sửu = Sỉu = =Níu (tiếng Quan thoại). Chữ Trâu là tượng hình Trâu gồm : = quynh thật ra là hình vẽ 2 sừng Trâu 2 bên cong quặp xuống . Cổ văn vẽ cặp sừng dài hai bên và cái đuôi ở dưới, như dưới đây:

 chữ Châu (Chu) tượng hình con Trâu (Tru)

2.1. Dịch lý trong ngôn từ Việt:

Dịch lý được vận dụng thể hiện rõ cả trong cấu tạo của từ dân gian lẫn trong cấu tạo của chữ Nho là từ hàn lâm Việt. Chữ Nho kiểu “hội ý” thể hiện rất rõ sự vận dụng Dịch lý trong tạo chữ. Ví dụ:

Vận dụng âm dương, hai tố Âm và Dương  là khởi nguồn của Dịch lý, Chử Tửnghĩa là Con. NKN: Con = Kô (tiếng Nhật) =      = Cu (tiếng Vân Kiều= Tu (tiếng Tày và tiếng Quảng Đông) = =Tử = Tý, Tý là tố đấu tiên của Chục Con = Thập Can. Chữ Tử có cấu tạo Dịch lý là: sự ra đời là 1 = Dương, sự kết thúc là 0 = Âm: Chữ Tử  gồm Một ( ) + Rồi (), mà đọc lướt xuôi thì là “MộtRồi” = Mối , và đọc lướt ngược thì là “Rồi Một” = =Rọt. Thế là có được hai tiếng Mối Rọt (tiếng Nghệ An) , có nghĩa là Mối Ruột hay Núm Ruột , mà Núm Ruột có nghĩa là đứa Con, đứa con là đứa sinh ra từ U nó tức từ mẹ nó, “Từ U” = Tu (tiếng Tày). Tu= Tử= Tý = Kỳ = Cụ = Cu = Con. Cấu tạo của chữ Tửlà Nhất (xuất hiện hay ra đời) cho đến lúc Liễu (kết thúc). Nhất là từ hàn lâm, có gốc là từ dân gian Một: Một = Mỗi = Nhôi = =Nhất (“để tôi giãi bày khúc nhôi” nghĩa là để tôi nói một đoạn). Liễu là từ hàn lâm có gốc là từ dân gian Rồi: Rồi = Lỗi = Liễu (“xin cáo lỗi” nghĩa là xin vắng mặt không tham dự sự kiện được, tức là Rồi = =Khỏi = Không).

Chữ Tử khác, (chỉ cây Tử, mà Tử Lý 梓里nghĩa là Quê Hương). Tại sao chữ Tửnó có nghĩa là quê hương thì phải phân tích nội dung Dịch lý của nó: Tử có cấu tạo gồm chữ Mộc ám chỉ ban đầu, vì Mộc là phương mặt trời mọc, và chữ Tân ám chỉ cuối cùng mặt trời lặn là phía Tây: Lặn = Là Là = Tà Tà = Tân = Tận = Tây = Tụt = Thụt = Thục = Tây Thục. Thế là có hàm nghĩa Quê Hương vì nó là nơi ta sinh ra rồi khi kết thúc lại về đó. Tân Mộc nói lái là Tộc Mân. Mân cũng là Việt. Tại sao hàn lâm lai  đọc là Tử? Vì quê hương chính là nơi Ta ở. NKN: Ở = Ư = U = Vu = Trú = =Ngụ. Ta Ở =  “Ta Ư” = Tử. (Ta = Nhà = Giả = Ta = Tia 丿nối Đất  với Trời ). Chữ Mộc chỉ phương mặt trời Mọc là phương Đông biếu ý của chữ Đônglà măt Trời + Mọc , nếu viết giản thể theo chữ của Trung Quốc thì chữ Đôngnày không biểu được ra ý mặt trời mọc, biếu ý của chữ Mọc là mầm cây đã nhô đầu lên khỏi vạch ngang chỉ mặt đất, dưới mặt đất là rễ cọc và  hai rễ chùm,.đây là kiểu chữ “chỉ sự”. Đông = Đầu, nơi ta ra đời. Tân chỉ phương Tây mặt trời lặn; Lặn = Là Là = Tà = =Tụt = Tân = Tần = Tận = Tấn = Tet  =  Chết = Chín, là nơi “về chín suối”. Chữ Đông chỉ phương Trời   Mọc. Khi mọc thì cái đầu nó xông ra nên gọi là “Đầu Xông” = Đông. Những từ theo Dịch lý chỉ phương Đông làm thành nôi khái niệm: Đông = Tống = Sống = =Động = Đụng = Đùng = Đấm = Sấm = Chấn = Chạm = Đụng Chạm = Đùng Đùng = Sầm Sầm = Chấn Động = Sống Động. Một chữ Đông hay một chữ Môc viết trong câu thì khi đọc để hiểu ý cả câu phải đọc theo những cách khác nhau tùy theo ngữ cảnh của nó. Ví dụ tác giả bài hát ca ngợi Đảng Lao Động VN khi mới ra công khai  (năm 1951) chỉ lấy một chữ Mộc mà viết ra thành cả câu: “Vừng trời Đông ánh hồng tươi sáng bừng lên, đàn bồ câu trắng bay về trong nắng mới”. Mới hay có một vế đối cổ: “Chớ bảo văn chương là vô dụng, tới lầu son gác tía mới hay một chữ đáng ngàn vàng”. Có nghĩa là đến khi xã hội phát triển văn minh hiện đại rồi người ta mới hiểu được cái quí giá của vốn cổ văn hóa dân tộc.

Phương Khảm là phương Nước, tiếng Thái Lan gọi nước là “Nam”. Phương Ly là phương Lửa, ở dưới, gần xích đạo. Ngược lại ở trên là phương Lạnh, càng xa xích đạo càng lạnh. NKN: Lạnh = Canh = =Cóng = Căm = Khảm = Nam = Nậm = Nước = Ướt = Ét (tiếng Triều Châu). Lửa = Ly = Lả = La = Liệt = Việt = Nhiệt = Nhật (chỉ  xứ nóng, dân xứ nóng có totem là trống đồng có hình mặt trời ở giữa mặt trống, tức Giao Chỉ) . Chữ Giao Chỉ biểu ý rõ là ở giữa tâm mặt trời trên trống đồng là nơi các cánh tia nắng giao cắt nhau (chữ Giao), nơi đó là nóng nhất tức “Chói Tỷ” = =Chỉ (chữ Chỉ này). Về sau do cách “Giả tá” – mượn chữ đồng âm thay cho chữ cần biểu đạt (một trong 6 cách tạo chữ Nho mà Hứa Thận đã phê phán trong <Thuyết văn giải tự> là cách này làm cho người đọc hiểu sai nghĩa của từ đồng âm đáng có, ví dụ dùng chữ Trường là dài giả tá cho từ Trưởng là lớn thì khi đọc người đọc phải theo ngữ cảnh mà hiểu, “con Trưởng” là đứa con lớn nhất chứ không thể đọc là đứa “con dài” hay “con Trường”), người ta đã dùng chữ Chỉ đồng âm (chữ Chỉ này là địa chỉ nghĩa là chỗ ở) hay chữ Chỉ đồng âm (chữ Chỉ này nghĩa là ngón chân cái, làm cho người đọc hiểu sai rằng người Giao Chỉ交趾 là người có hai ngón chân cái dị dạng giao nhau). Cái kim La-Canh còn gọi là kim chỉ Nam (nó chỉ hướng của quẻ Khảm trong Dịch lý, là hướng trên xa xích đạo, ngược với hướng quẻ Ly là hướng dưới gần xích đạo). Chữ Nam là CungHạnh thiết Canh , và HạnhCungthiết Hùng , chỉ người phương Canh là tộc họ Hùng, còn gọi là người Nam. Màu ngũ hành của Khảm là màu Đen. Nôi khái niệm “Đen” là: [ Tro = Gio = Lọ = Nhọ = Nhờ Nhờ = Nhem = Lem = Nhèm (tiếng Tày chỉ màu đen) = Đêm = Đậm = Nhầm = Lầm = Thâm = Than = Lầm Than = Man = Mun = =Môi = Muội = Mực = Mặc = Minh = Mèn = Đen = Hoẻn = Huyền = Hôm = Hom = Om = Ngòm = Hỏm Hòm Hom = Hôn = Hun = Hắc = Hối = Khôi = Tối = Túi = Tạo = Xạo = =Xám = Ám = Âm = Ô = U = Mù = Mờ = Nhờ Nhờ = Nhọ = Tro], (những vật màu đen như: Rừng U Minh, quả Ô Môi, ngựa Ô, chó Mực, dế Mèn, lụa Thâm, vải đồng Lầm). Đen = Mèn = Man = =Minh = Môi = Mù = U = Ô. Từ “Môi” (nguyên nghĩa là “Màu Tối” = Môi, màu tối hay màu Hối tức là “Màu Đen” = Mèn, như con dế mèn) đã được Hán ngữ dùng chỉ than đun bếp, phát âm là “méi ”. Trong rừng UMinh (đen+đen = đen ngòm = tối om vì rất rậm rịt cây lá) có cây Ô Môi (đen+ đen), quả chín thì vỏ và ruột đều màu đen, nên dùng hai chữ đen để đặt tên. Địa danh Bắc Kinh, cổ đại gọi là U Châu vì nó ở phương Khảm (trong   < Ấu học quỳnh lâm幼學瓊林> là cuốn sách dân gian, tương truyền có từ thời Tùy - nước Thủy Việt - có viết: “北京原属幽燕,浙江是武林之区,原为越国 Bắc Kinh nguyên thuộc U Yến, Triết Giang thị Vũ Lâm chi khu, nguyên vi Việt quốc - Bắc Kinh xưa gọi là U Châu vốn thuộc U Yến, Triết Giang là một khu của Vũ Lâm, vốn là nước Việt”). Chữ Việt này chỉ người Việt, là “Vươn Liệt” thiết Việt, chỉ người cổ đại đã vượt từ phương Lửa (烈)đi lên khai phá phương Lạnh. Khác với chữ Việt chỉ vùng đất xứ nóng là chữ Việt có bộ Thái = Chói (Thiêu Cháy = “Thiêu Chái”= Thái, tiếng Quảng Ngãi còn phát âm từ “cháy” là “chá”, gần với thiết “Cháy Lả” = Chá, chứ không phải là họ nói ngọng). Chữ bộ Thái tượng hình như các tia nắng mặt trời cắt giao nhau tại điểm giữa (米)trên mặt trống đồng . Việt quốc ở Triết Giang là nước của người Bách Việt, có vua là Việt vương Câu Tiễn越王勾践.(từ nguyên là Cu Tí, lướt “Cu Lâu”=Câu, “Tí Viễn”=Tiễn, mà Câu Tiễn thiết Kiến, nên đất Triết Giang xưa còn có tên là Kiến Nghiệp建業, nghĩa là nơi Câu Tiễn dựng nghiệp (xem <Ấu học quỳnh lâm>). Qúi Châu xưa thuộc Văn Lang của dân Bách Việt, dân xứ nóng, dân “Quẻ Ly” = =Qủi = Qùi = Qúi, dân bản địa là hậu duệ của Đế Viêm -Thần Nông, nên đất ấy còn có tên là “Qủi Viêm” = Kiềm, gọi đơn giản là đất Kiềm , xưa cùng Quảng Tây được gọi chung là đất Nam Giao (tức ở phương Khảm – Nam so với Giao Chỉ (là Bắc Bộ VN nay). Chữ Kiềm là chữ kiểu hội ý chỉ rõ điều đó:bộ Hắclà màu đen, Đen = Hoẻn = Hom = Hôm = Hôn = Hối = Hắc = Huyền, chỉ màu đen theo ngũ hành của Nước là quẻ Khảm + bộ Kim mà tiếng Thái và tiếng Quảng Đông đọc là “Căm”, chỉ phương Lạnh = Canh = Cóng = Căm Căm = Nặm (tiếng Lào)= Nậm (tiếng Tày) = = Nam (tiếng Thái Lan) = Nước = Ướt = Buốt = Băng. Canh là món ăn toàn nước, càng xa xích đạo thì nước càng lạnh cóng, lanh căm căm, lạnh buốt.

Ngôn từ dùng trong Dịch lý là ngôn từ Việt cổ. Người cổ đại đặt ra những từ đầu tiên là những từ chỉ nhu cầu sinh lý của con người, những từ ấy chắc là đã tồn tại hàng chục vạn năm từ khi nó có và dùng đến tận nay. Những từ trong Dịch lý dùng là những từ có sau, cũng cách nay cả vạn năm khi con người chưa có chữ viết, mới chỉ có chữ vạch, thành những vạch trong ô vuông qui ước như bát quái và kinh dịch, rồi cuối cùng là những từ hàn lâm của chữ Nho. Dẫn trong từng nôi khái niệm ra sẽ thấy. Ví dụ:

NKN Ăn và thức ăn:  Ăn = Cắn = Can (tiếng Vân Nam chỉ động từ “ăn uống”) Can = Kin (tiếng Tày Thái chỉ động từ “ăn uống”) Kin =   = Cơm (thức ăn) Cơm = Côm (phát âm Nam Bộ) Côm = Cốm = Kô-Mê (tiếng Nhật chỉ gạo) Kô-Mê = Mễ (chữ Nho chỉ gạo, TQ gọi gạo tẻ là “Canh Mễ粳米” hay “Kinh Mễ  粳米” chỉ gạo của người Kinh, sau gọi là “Đại Mễ大米” ý nói nó được trồng đại trà, gọi “Túc Mễ粟米” hay “Ngọc Mễ玉米” chỉ ngô).

NKN Uống và thức uống: Uống = Ẩm = Ướt = Ước (phát âm Nam Bộ) = Nước = Nác = Nam (tiếng Thái Lan chỉ “nước”) Nam = Khảm (tên quẻ Khảm trong Dịch lý) Khảm = Khuổi (tiếng Tày chỉ “suối”) = = Khuổi = Suối = Xối = Xuyên (chữ tượng hình dòng nước, có một vạch thẳng ở giữa tượng trưng khí dương) Xuyên = Tuyền (chữ Nho chỉ suối ngầm, chữ có bộ nước) Tuyền = Tẩm (chữ có bộ nước) = Nậm (tiếng Tày chỉ “nước”) = Lầm (chỉ màu đen theo ngù hành của nước) = Thâm (chỉ màu đen theo ngù hành của nước) = Thủy (từ hàn lâm viết bằng chữ Nho tượng hình dòng nước, giữa có một vạch thẳng tượng trưng khí dương)Thủy = Thấm = Thấu. Quẻ  Khảm trong tiếng Việt chính là Nam nghĩa là Nước, nó gồm hai vạch đứt ở trên và dưới, biểu thì dòng nước, giữa hai vạch trên và dưới là một vạch liền tượng trưng khí dương. Hán ngữ dùng chữ Nho  “Khản  (chẳng có một tí nước nào mà lại có bộ thổ) để ghi cái âm Khảm của tiếng Việt (dùng chữ cận âm để ghi âm gọi là cách “giả tá” là một cách trong lục thư) . Chữ Thủy là vẽ theo hình quẻ Khảm , chỉ có là xoay dọc đi 90 độ. Từ Khảm là của Việt thì chữ Thủycũng là của Việt, chẳng có “từ Hán Việt” nào ở đây cả.

 

 

2.2. Phương hướng theo Dịch lý

Người Việt sống ở Bắc bán cầu như quan niệm của ngày nay, vì vậy từ xưa người Việt có khái niệm Dịch lý, chia địa lý phương dưới là Bức (Nóng – màu Đỏ tức Xích, của quẻ Ly tức Lửa, sau Xíchà South của tiếng Anh) và phương trên là Nam (Lạnh – màu Đen của quẻ Khảm, Khảm = Nam, tiếng Thái Lan nghĩa là Nước, sau Namà North của tiếng Anh). Sử gia Hán đã đổi ngược tên phương hướng, phía trên gọi là Bắc nhằm mục đích giành toàn bộ lịch sử và văn hóa của đại chủng Việt phương Bức biến thành lịch sử văn hóa của đại chủng Hán. Người Việt đã theo Dịch lý chia phương dưới gần xích đạo là phương  Lửa. Lửa = Ly = Lả = La= Hỏa = Hồng = Hong = Nóng = Nực = Bực = Bức = Bốc = Sộc = Sóc = Xích (Xích à South). Chữ Bức viết biểu ý là hai người ngồi dựa lưng nhau, vì nóng mà ngoảnh mặt ra hai phía ngược nhau cho nó thoáng (hai chữ Thân đấu lưng nhau, sau giản hóa thành chữ Bức). Truyền thuyết viết: “Thần Lửa là thần Bức Nung (Bắc Dung北熔)” là vậy, thần lửa là ở xứ nóng (chữ Nung có bộ lửa).         < TVGT> giải thích chữ Bức  là hai người quay lưng đối nhau, đọc là Bác Mực thiết Bức (hay “Bác Mặc” = Bắc). Phương quẻ Ly là phương Nóng tức phương Bức, nên có từ đôi Nóng Bức. Do chữ nho “cái  lưng” là chữ Bối, nên có từ ghép Bức Bối hay Bực Bội chỉ sự căm ghét, do vậy mà <TVGT> giải thích nghĩa của chữ Bức là tàn ác (Lệ ). Dịch lý chia phương trên xa xich đạo là phương Lạnh. Lạnh. = Canh =  Cóng = Căm =  Nặm = =Nậm = Nước = Nam = Khảm (Nam à North).

Phương Đông là phương mặt trời Mọc, viết bằng chữ Mộc, chữ này trong <TVGT> hướng dẫn đọc là “mọc” và giải thích nghĩa là là “mạo xuất dã” tức là mọc ra. Chữ Mộc là chữ kiểu “chỉ sự” (dùng các nét để diễn tả sự đâm mầm của hạt cây lên khỏi mặt đất) rồi sau chữ được “chuyển chú” thành nghĩa là cái cây hay là gỗ, đọc là Mộc (tiếng Nhật phiên âm là “Mô-Cư ”vì tiếng Nhật không có phụ âm tắc đứng sau và coi chữ Mộc là Kanji – Hán tự, trong khi cái Cây thì tiếng Nhật là “Ki ” viết bằng chữ Hiragana kí âm, còn chữ Thụthì mới là cái cây. Theo Dich lý thì phương Đông là màu xanh, số 8.  Xanh = Thanh = Thương, nên dân biển Đông được gọi là dân Thương Hồ. Hồ = Hải, nên biển Đông còn có tên là Bát Hải, hay Động Đình (Đình có nghĩa là lớn, tội mà bằng lớn thì gọi là tội tày đình, sâm mà lớn thì gọi là lôi đình như thành ngữ “nổi trận lôi đình”). Biển Đông còn có tên là La Hải 羅海(biển của tộc Đại La), như trong cuốn sách <Hải ngoại ký sự海外记事> của nhà sư Thích Đại Sán, khi được chúa Nguyễn mời từ Trung       Quốc sang Đàng Trong thỉnh giảng, có viết:”Thuyền vừa đi qua khỏi đảo Hải Nam là đến  La Hải羅海của nước Đại Việt”.

Phương Tây là phương mặt trời Lặn, lặn rồi thì coi như mất trắng hay mất sạch không còn thấy nữa, bởi vậy Dịch lý coi phương Tây là màu trắng, số 2. Lặn = Lỏn = Lánh = Tanh =  Tây 西 = Tư =  = Tị = Tốn = Trốn = Tránh = Trắng = Trơn = Trợt = Bợt = Bạc = Mạc = Mất (không còn tồn tại trước mắt người quan sát nữa), những từ đôi như Mất Trắng, Mất Trơn, “Bạc Sạch” = Bạch đều chỉ hiện tượng không còn, Tanh lòng chỉ  tình cảm không còn, màu Trắng là cờ của đám ma đều là theo Dịch lý, trẻ chết non thì gọi là kẻ Bạc phận. Ngũ hành thì phương Tây là Thổ, nước phía Tây gọi là Thổ Phồn. Biến âm: Thổ = Thạch = Bạch. Chữ cổ viết chữ Bạch gồm chữ Nhập (nghĩa là Nhốt, tức là lặn mất trơn rồi) bọc lấy chữ Nhị (là số 2), rồi cách điệu hóa thành chữ Bạch như thế này. Không ai đuổi mà gió luôn chạy Trốn nên quẻ Tốn là tượng gió. <TVGT> hướng dẫn đọc chữ Bạch là “Tật Nhị” thiết Tị thì đúng là mặt trời Lặn giống như là nó đi Tị nạn(避难) mất trơn rồi.[Hán ngữ đọc thiết là “ Ji Er” = “Jer”, trật, không thành  “Bì   ] Đến thời Thanh thì Đoạn Ngọc Tái 段玉裁hướng dẫn đọc chữ Bạch là “Bàng Mạch” thiết Bạch [ Hán ngữ đọc thiết là “Páng ” = “Pò”, trật, không thành “Bái” ]. Đọc là Tị thì cũng là tiếng Việt, đọc là Bạch thì cũng do tiếng Việt là “Bạc Sạch” = Bạch. đến chữ Mạch thì cũng là tiếng Việt, “Mất Sạch” = Mạch, chữ này nguyên là dùng để chỉ cái đường bờ ruộng, sau mỗi mùa nước nổi, nước rút đi rồi thì phù sa bồi lấp xóa sạch hết không còn nhận ra đâu là bờ ranh giới của khoảnh ruộng của mình nữa (mất sạch hết trơn dấu vết rồi), rồi về sau dùng từ ghép  Mạch Sinh 陌生để chỉ người lạ, vì người ấy là Sinh Mạchthiết Sạch, Sạch quá, chẳng có tí quan hệ máu thịt gì với mình, chẳng có tí nét gì là thân quen để mình nhận biết được là người thân, gọi là “người dưng nước lã, tuy cùng đỏ máu nhưng tanh lòng”.

Khổng Tử viết: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê (Hàng Châu, Triết Giang nay) đều là dân Bách Việt ở…” tức ý nói Giao Chỉ là cái gốc rồi mới đến Cối Kê. Cũng vậy, cái La bàn là do người Việt đất Giao Chỉ tạo ra nên mới gọi theo hướng chỉ của cái kim sắt từ tính là cái Laà Canh (như là  LửaàNước , như là Lyà Khảm , như là SócàNam như là Southà North).Cái Kim LaàCanh ấy Hán ngữ dịch ý là “Chỉ Nam Châm指南針” tức cái Kim (Châm) chỉ phương (Chỉ) hướng Nước (Nam = Khảm), đâu phải là chỉ hướng Nam ngày nay như Hán thư đã đảo ngược tên gọi hướng dưới lên trên của Dịch lý (hóa ra cái kim chỉ ngược ?). Chữ Nam  (“Nam” tiếng Thái Lan nghĩa là Nước, chỉ phương quẻ Khảm . Khảm = Nam, chữ Nam, viết hội ý là “Cung Hạnh ” = Cảnh, biến đổi dấu thanh điệu là  0+0=1 và “HạnhCung”= Hùng, biến đổi dấu thanh điệu là 0+0 = 1. Cảnh Hùng (境熊)tức địa hạt của Hữu Hùng quốc (有熊国 . Mà chữ Hùng này hội ý là “Lửa () Năng ()” = Lang(郎), tức Văn Lang (文郎), cũng chính là Hữu Hùng quốc(有熊国), rộng “từ Giao Chỉ đến Cối Kê” mà về sau chính sử viết là: “Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông hải, nam giáp Hồ Tôn”.

 

 

4. Qui tắc tạo chữ vuông

4.1. Chữ vuông gọi là Văn Tự 文字 (từ nguyên là Vuông Chứa)

vì nó có hai loại ký tự đều sắp đặt trong một ô vuông qui ước. Một loại ký tự là vẽ cái Vằn, gọi là Văn. Vằn = Văn. Văn = Vuông = =Vẹn = Vành = Mảnh (người Triều Châu đọc chữ Văn là “vuông”, người Quảng Đông đọc chữ Văn là “mảnh”). Một loại  ký tự là các nét mang nghĩa hoặc mang âm có nguồn gốc từ chữ Khoa Đẩu, loại này gọi là cái được chứa trong ô vuông qui ước, gọi là Tự. Chứa = Chửa = Chữ = Trữ  = Tự =Tự. Chữ Tự lại có biểu ý là cái Vòm = Vuông = Viên = Miên, bên trong có chứa các nét ký là các con, nghĩa là rất nhỏ (Con = Smal). Con (tiếng Kinh) = Kô (tiếng Nhật) = Cò (tiếng Thái) = Cu (tiếng Vân Kiều) = Tu (tiếng Tày) = Tử (tiếng Nho) = Tí(tiếng nho)

4.2. Vằn=Văn thì có hai loại: Tượng hình Chỉ sự

         (1)Tượng hình:  là hình vẽ giống vật dùng để chỉ vật đó;

 

 

Ví dụ chữ Bối mang nghĩa là quí vì chữ Bối ban đầu là hình vẽ tượng hình cái Bòi và đọc là “Bòi”, từ này được “chuyển chú” sang nghĩa là quí, đồng nghĩa với từ lướt “Bòi Tau” = Báu hay “Bòi Tao” = Bảo. Do “Bòi” đã mang nghĩa là quí báu nên nó được dùng làm đại diện cho giá trị trao đổi (tức tiền) nên khi ấy nó được gọi là “Bòi Đổi” = Bối. Chữ Bối lại được “chuyển chú” sang nghĩa là quí, ghép với chữ Bảo thành từ hai âm tiết là Bảo Bối寶貝. Thời hiện đại Hán ngữ lại dùng hai chữ Bảo Bối 寶貝(“baobei”) để “giả tá” cho từ Baby của tiếng Anh, thành ra thường gọi đứa con nhỏ là “bao bei寶貝” ám chỉ ”baby”. Trong khi tiếng Anh hiện đại lại dùng từ  Baby để “chuyển chú” chỉ cái Bòi, nên thương hiệu dầu (oil) đẻ bôi trơn cho cái bòi thì mang tên là “baby oil”

        (2) Chỉ sự:  là hình thể nói lên ý nghĩa trừu tượng, 

ví dụ chữ Hồi, là hình vẽ cái cối xay bột nước gồm hai thớt cối trên nhỏ dưới to, đáng lẽ đều là hình tròn nhưng đã được qui ước thành vuông, gọi là chữ Hồi vì đã lướt “Hình cái Cối” = Hồi, và Hồi mang nghĩa trừu tượng là sự quay về vị trí cũ,  vì thớt trên của cối cứ quay được một vòng thì Tai (Tay) cối lại về vị trí cũ của ban đầu, đó là một Lần quay hay một Bước cối, gọi lướt là “Lần Bước” = =Lượt, đến khi đã quay nhiều vòng tức “Lần Lần cho Đủ” = Lũ thì gọi là Lũ Lượt tức nhiều đợt quay nối tiếp nhau. Nôi khái niệm: Hồi = Cối = Quay = Kai (tiếng Nhật đọc chữ Hồi là “Kai”) = Quay    = = Xoay = Xay = Chạy = “Chảy Uyên” = Chuyển = Xoay Chuyển, làm cho bột nước chảy sâu xuống máng cối ở thớt dưới, chảy sâu là “Chảy Uyên” = Chuyển. Quay về vị trí cũ được nhấn là “Quay về Chi!” = Qui , nên Qui và Hồi đều nghĩa là về chỗ cũ, gọi đúp là Qui Hồi歸回 hay Hồi Qui回歸.

4.3. Chữ = Tự cũng có hai loại: Hội ý Hình thanh

(1)  Hội ý:

 là hai hay nhiều chữ gộp lại với nhau trong một vuông qui ước để nói lên một ý nghĩa nào đó, không mượn âm của chữ nào,

ví dụ chữ Nam (gọi là Nam do lướt dấu “Nàm Trai” = Nam) chỉ phái đàn ông, biếu ý là sức mạnh để cày ruộng, viết bằng lướt xuôi “Lực Điền” = Liền, đồng thời lướt ngược “Điền Lực” = =Đực (lướt ngược còn gọi là phản thiết tức nói lái). Liền Đực nghĩa là Liền Anh chỉ phái đàn ông thì đương nhiên phái đàn bà phải gọi là Liền Chị cho bình đẳng, mà không thể gọi  là Liền Em được.

(2)  Hình thanh:

(là chữ vuông gồm hai phần, một phần biểu ý bằng tượng hình, một phần là mượn thanh âm của chữ khác để nói cách đọc,

Ví dụ 1: Chữ Sông (hình là Nước , thanh là Công )

Chữ Sông gồm chữ Nước  để biểu ý (đây là chữ tượng hình, từ ba nét của chữ Xuyêncách điệu thành ba nét của chữ Thủy rồi cách điệu thành ba nét chỉ Nước) và chữ Công để mượn âm, nên chữ Sông đọc là sông. Nôi khái niệm: Sông = Krông = Công = Kinh = Kênh =  Kang = Giang = Dòng = Dõng = Lỏng = =Luồng = Lạch = Rạch = Rào = Chao = Hào = Hà = Hói = Ngòi  = Nguồn = Nguyên = Xuyên = Xủy = Thủy. Chú thích: Chỉ ý sông thì Kanglà tiếng Triều Châu, Chao là tiếng Thái Lan, Rào là tiếng cổ Việt như Rào Rum = Rào Lùm = Sông Lắm = Sông Lam, là tên con sông Cả (= Sông Cơ ), lớn nhất xứ Nghệ.

 

 

Chú thích: Từ “Lùm” là tiếng Lào chỉ ý “lắm” như từ “lùm cây” nghĩa là nhiều cây trong tiếng Việt. Sắc dân đa số ở Lào gọi là  “Lào Lùm”, sắc dân thiểu số trên vùng cao gọi là “Lào Thơơng” tức người Thượng. Bản thân từ “Lào”cũng mang nghĩa là “người” nên tiếng Việt gọi là Người Lào = Ngài Lào = Ai Lao. Lướt “Ai Lao” = Âu. Đó chính là dòng tộc Âu Cơ trong truyền thuyết, còn gọi là dòng Tiên hay dòng Tây Âu. Tây = Tiên = Tiêm = Xiêm = Chiêm = Chim= =Chuy = Truy= Xuy Vưu. Totem “chim” còn lưu dấu như: cúng tế bằng con Gà luộc nguyên con, thờ con Hạc, tượng con Gà trên đầu nóc nhà người Thái, cặp đôi Long / Phụng. Dòng Rồng là tộc người ở phía biển Đông. Đông = Rộng = Hồng = Hoằng. Chữ Hồng đại diện cho dòng Rồng, chữ Chuy đại diện cho dòng Tiên (Chim).  Hồng và Chuy ghép với nhau lại thành chữ Hùng. Đó là biểu đạt sự hình thành tộc Hữu Hùng 有雄của Hữu Hùng quốc有熊國 là từ hai dòng Tiên và Rồng. Hữu nghĩa là Có, nên lướt “Hữu Có” = Họ. Hữu Hùng quốc chính là nước Họ Hùng. Có hai chữ Hùng: Chữ Hùng này chỉ tộc người, là sự hòa huyết của dòng Tiên và dòng Rồng. Chữ Hùng này chỉ địa lý là xứ nóng, gồm: Nắng và Lửa, xứ “Lửa Nắng” = Lang, đó là nước Văn Lang. Sử thư ghi: “Hùng Vương, tử vị Lang, nữ mị Nương雄王子謂郎女媚娘” (nghĩa là: thời Hùng Vương, con trai gọi là Lang, con gái gọi là Nương). Vị và Mị đều nghĩa là Nói (theo < Thuyết Văn Giải Tự>). Nói = Vois (tiếng Anh) = Vị = Mị = Mạ = =Măng = Văng = Van = Vân. Tộc Hữu Hùng 有雄  là thủy tổ của dân tộc Bách Việt 百越. Cũng có  hai chữ Việt: (1) Chữ Việt này chỉ tộc người là “Vươn lên mãnh Liệt” = Việt. Khởi thủy là chỉ cái Rìu làm bằng đá thời đại đá mới: Rìu = Dìu = Dẹt = Vẹt = Việt = =Duyệt (tiếng Quảng Đông) = Yue (tiếng Hán) = Duôn (tiếng Thái Lan). Sắc tộc Sán Dìu ở vùng núi Tam Đảo chính là người Sơn Việt; (2) còn chữ Việt này chỉ xứ nóng tức “ViêmNhiệt” = Việt : là Vùng đất () nắng Chói ( )  có những dòng sông Lớn () bờ biển uốn cong ( ). Những dòng Sông Lớn = Sông Lang chính là các dòng Mê Công và Dương Tử là hai dòng sông Lang tức sông Cha, ở vùng Giữa có dòng sông Cái tức sông Mẹ là sông Hồng. Vùng địa lý hình rẻ quạt này của nước Văn Lang cổ đại chính là hình ảnh Quẻ Ly có hai kẻ liền dài (, tượng Dương ) là hai sông Lang và một kẻ đứt ngắn (- - , tượng Âm) ở giữa là một sông Cái (nên vùng Giữa còn gọi là Giao Chỉ 交址tức Đất Giữa), hình ảnh Quẻ Ly là tiền đề cho truyền thuyết sự tích Trầu Cau có hai ông một bà. Sông Mê Công ở thượng lưu (Vân Nam) vốn tên là sông Lang (nghĩa là sông Lớn hay sông Cha), Hán ngữ phiên thành hai tiếng là Lan Cang (“Lan Cang” = Lang), ở trung lưu của sông Lang là vương quốc Lạn Xạng (“ Lạn Xạng” = Lang) có thủ đô là Luông phạ Bang (“Luông phạ Bang” = Lang) là nước Lào cổ đại, ở hạ lưu (Cam pu chia) gọi sông Mê Công là Tôngle Thom (nghĩa là Sông Lớn).

 

 

Cả = Cơ姬,chữ Cơ lại là lướt “Thần Nữ” = Thử, Thử nghĩa là nóng, chỉ hướng Quẻ Ly của Dịch học, tượng Lửa, màu ngũ hành của lửa là màu đỏ, nên gọi là đất Đào hay Hồng bang; (ca dao: “rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say”). Quẻ Ly = Kẻ La, chỉ dân ở hướng nóng gần xích đạo, ngược với hướng Quẻ Khảm, tượng nước, màu ngũ hành của nước là màu đen (Khảm = Nam = Nước = =Nặm = Căm = Canh = Kinh), Quẻ Khảm = Kẻ Canh, chỉ dân ở hướng nước (Nước = Nác = Lạc) tức đất Lạc. Cái La bàn còn gọi là cái La-Canh. Sự kết hợp La và Canh (tức Âu Cơ và Lạc Long Quân theo truyền thuyết) tạo nên dân tộc Bách Việt từ mảnh đất Hồng - Lạc tức Việt Nam ngày nay.

 

 

Ví dụ 2: chữ SÂN (hình là Mắt trừng, thanh là Chân)

Chữ  SÂN và chữ SÂN đều cùng nghĩa là  Giận hay Hận. Nhưng chữ đầu SÂN là chữ kiểu giả tá, tức mượn âm chữ Chân cận âm để nói lên âm” Giận”. Còn chữ sau SÂN lại là chữ kiểu hình thanh gồm Mục là chữ tượng hình con mắt và Chân là để mượn âm. Chữ SÂN này diễn tả thái độ khi “Giận” là mắt thì trợn trừng lên và lòng thì giận bực bội. Chữ SÂN này là diễn tả hai tiếng SỪNG SỘ chỉ thái độ khi Giận là “Sân Trừng” = Sừng (giận trừng mắt lên) và ”Sân Nộ” =Sộ (giận tức anh ách).Nhà Nho đã lướt hai chữ “Trừng Sân” = Sân   thành chữ Sânnày bằng cách lấy phần đầu (tượng hình “mắt”) của chữ Trừng lướt tới chắp với phần sau (là âm “chân” ) của chữ Sân, thành ra chữ Sân này. Chính QT lướt âm hai tiếng đã làm tiền đề cho việc “lướt chữ” trong cách viết kiểu “hội ý” hai chữ thành một chữ mới.

 

 

 

 

4.4 Hai cách nữa của Văn Tự là: Chuyển chú Giả tá

(1)  Chuyển chú

Chuyển chú chữ được dùng rộng nghĩa hơn nghĩa ban đầu của nó. Ví dụ: chữ Bịnh vốn nghĩa là hệ quả của Tật đã bị chuyển chú thành đồng nghĩa với Tật, nên gọi đúp là Tật Bệnh hay Bệnh Tật. Cho đến thời hiện đại vẫn tạo ra từ “chuyển chú”, VD xe máy thì Honda Nhật là chất lượng nhất nên từ Honda đã bị chuyển chú để thay luôn từ xe máy đến nối đi xe máy thì gọi là “đi hon đa”, ngã xe máy thì gọi là “té hon đa”, tông xe máy thì gọi là “đụng hon đa”, hiệp hội xe máy chở khách thì gọi là “hiệp hội hon đa chở khách” (lịch sự hơn từ “xe ôm” khi đăng ký xin mở doanh nghiệp).

(2)  Giả tá

Giả tá là mượn chữ cân âm thay cho từ chưa có chữ viết. Ví dụ: chữ Trường (nghĩa là dài) dùng thay cho từ Trưởng (nghĩa là lớn lên); chữ Trần nghĩa là một họ ở ấp phía đông (Đông A) dùng thay cho từ Trận (nghĩa là bãi trống để đánh nhau , trận mạc陣漠).

Tóm lại, gộp chung Văn Tự  (Vuông Chữ hay chữ Vuông) có tất cả là 6 cách tạo chữ, cổ văn gọi là Lục Thư (6 cách viết chữ, dùng từ): Tượng hình + Chỉ sự + Hội ý + Hình thanh + Chuyển chú + Giả tá

4.5. Một ví dụ về tạo chữ vuông:

Cặp đối Đán / Hãn (mặt trời lên / mặt trời lặn):

NKN: Đỏ = Đào = Hào = Hồng,  (“Đỏ Ao” = Đào, Hồng Hào, Hồng Đào)

Mặt trời lên: Đán   (cùng NKN: Minh = Máng = Quang = =Tráng = Lãng = Sáng = Sán = Lạn = Đán = Đỏ = Tỏ = Rõ = Rực = Nhực = Nhật = Nhiệt = Liệt = Lửa = Láng  =Lượng = Nướng = Nóng = Hong = Hồng). Chữ Đán (biểu ý: mặt trời đã lên khỏi mặt đất) gồm phần tượng hình là chữ Nhật nghĩa là mặt trời, Nhật chuyển chú đọc là Đỏ ; phần chỉ sự là gạch ngang chỉ mặt đắt, chuyển chú đọc là Lan (ánh nắng trải rộng ngang ra mặt đất) . Lướt (hội ý): “Đỏ Lan” = =Đán. <Thuyết Văn Giai Tự >: “ 明也minh dã从日見一上。得案切Đắc Án thiết Đán

Mặt trời lặn : Hãn    (cùng NKN: Ô = U = Ám = Om = =Hom = Hôm = Hôn = Hối = Tối = Muội = Muộn = Muộn Mằn = Vãn). Chữ Hãn, biểu ý mặt trời đang Cạn = đang Lặn , đang chui xuống dưới mặt đất (như ta nhìn thấy),  gồm phần tượng hình là chữ Nhật nghĩa là mặt trời, chuyển chú đọc là Hồng; phần chỉ sự là chữ Cạn , biểu ý là tia nắng (gạch thẳngđứng) từ trời ( gạch ngangtrênrót thẳng xuống xuyên qua mặt đất (gạch ngangdướiđi sâu xuống nữa. Lướt “(hội ý): Hồng Cạn” = Hãn. <Thuyết Văn Giải Tự>:vãn dã。古案切Cổ Án thiết Cạn”, ở đây chữ Cổ phải đọc băng chuyển chú của nó là Hủ, thì mới đúng âm ‘Hủ Án” = Hãn.

Do cách “chuyển chú”,của từ mà từ xưa cổ văn đã dùng từ trong các cặp đối Âm/Dương = Tối/Sáng = Minh/Minh = =Đen/Đỏ = Nước/Non  v.v. để chuyển chú cho nhau. Ví dụ từ Nam Minh南冥 của cổ văn  (trong <Đạo đức kinh> của Lão Tử) có nghĩa là Nam Hải (để chỉ biển của người Nam, chứ không phải là biển của người Hán). Vì chữ Minh âm là thuộc Âm, màu đen của quẻ Khảm là màu của nước đã chuyển chú thay cho từ Biển. Bản thân chữ Minh là chữ hội ý gồm Mịch (mịt mù, chuyển chú thành Minh, đen tối như rừng U Minh乌冥)) + Và (tức Viết, nghĩa là nói, tiếng Quảng Đông là “và)) + Lục (tức Lâungười Hồ Nam phát âm chữ Lụclà “Lấu”), thuộc thế giới Âm nên phải lái lại (đọc ảo) Minh+ Và + Lâu   lái lại) là Mầu Và Linh , như vậy Nam Hải 南海tức Nam Minh 南冥là biển của người Nam, rất Mầu nhiệm và Linh thiêng. Chữ Nam lại cũng là chữ kiểu hội ý, đọc là Hạnh Cungthiết Hùng, tức người Nam là tộc Hùng (thời Hùng Vương). Chữ vuông là của người Việt nên những chữ viết kiểu hội ý cứ phải đọc lướt như tiếng Việt thì ra một từ Việt. Ví dụ nước mà người uống vào là có ích cho sức khỏe con người,nên gọi là nước mạnh, còn nước từ con người thải ra không còn có ích cho sức mạnh con người thí gọi là nước yếu, yếu đồng nghĩa với nhược, nước ấy gọi là Nước ( ) Yếu   ) ghép lại thành một chữ vuông kiểu hội ý, phải đọc lướt là “Nước Yếu” = Niệu. Ống mạch dẫn Niệu gọi là Quản Niệu, mà  nô lệ theo ngữ pháp Hán thì gọi là Niệu Quản . Hán ngữ dùng chữ Niệu   đọc lơ lớ là “nieo”.  Hán ngữ  dùng  chữ  Nước đọc là “ shui”,  chữ Nhược đọc là “ruo “ . Nếu thiết như trong <TVGT> hướng dẫn thì chữ Niệu (Hán ngữ phát âm là “nieo” sẽ là phải lướt như sau:  “Shui Ruo” = Shuo, đâu thành “nieo được (!) , mà “shuo” của Hán ngữ lại có nghĩa là nói.

 

 

5. Từ dân gian tiếng Việt

Qui tắc <chuyển chú> đã có sẵn trong dùng từ dân gian, rồi sau cũng dùng trong từ hàn lâm viết bằng chữ Nho. Ví dụ một vật nổi trên mặt nước được, lúc này từ Nổi là một động từ, nhưng chính động từ đó cũng chuyển chú thành danh từ: cái vật nổi được ấy người ta gọi luôn nó là cái Nổi (danh từ). Một bó tre đặt xuống nước nó nổi được, người ta gọi lướt nó “Bó Tre” = Bè, thành ra cái Bè là cái nổi được . Con Ốc coi vỏ của nó như cái nhà của nó, bò đi đâu tha nhà đí đó, gặp nguy thì rút vào nhà, đậy nắp vỏ lại. Người nguyên thủy gọi cái nhà là cái Ốc, danh từ Ốc này chữ nho viết là chữ Ốc 屋,Hán ngữ đọc là “wu” chỉ cái buồng, nhưng tiểng Quảng Đông (Việt ngữ) vẫn đọc chữ Ốc là “ốc”, chữ Ốcđã thành danh từ khoa học ngày nay là “kinh doanh địa ốc”. Dân sông nước trú cả gia đình trên cái Nổi, phải làm thêm mái che cho nó như cái Ốc, vì vậy gọi nó là Nổi Ốc (vừa nổi được vừa là nhà), từ đôi Nôi Ốc đã bị lướt thành “Nổi Ốc” = Nốc (nghĩa là cái thuyền có mái che, cư trú trong đó được). Tiếng Nhật lại gọi cái từ dùng phổ biến ở vùng Bắc Trung bộ VN là cái Nốc này là “Nô-ê” (nghĩa là con thuyền). Từ Thuyền hàn lâm này chẳng qua là  chuyển chú do từ dân gian Dòng Sông mà ra, trong NKN: Sông = Dòng = Lỏng = =Luồng = Xuồng = Xuyên = Thuyền. Còn < Kinh Thánh> lại kể rằng loài người gặp đại nạn hồng thủy, những người và vật sống sót chỉ còn gồm 8 miệng ăn dồn lên “con thuyền Nô ê” để chạy lụt. Nho viết chữ Thuyền kiểu <hội ý> gồm chữ Châu (chỉ cái Chậu tức cái nổi được và đựng được) + Chữ là số 8  (ám chỉ tám mạng sống) + chữ Khẩu (chỉ nhân khẩu là mạng sống hay miệng ăn). Danh từ cái Chậu = cái Châu = cái Tầu (cái Tầu còn gọi cụ thể hơn là Tầu thủy), rồi cái chuồng ngựa cũng bị lây mà gọi là cái Tầu ngựa (thành ngữ “một con ngựa đau cả Tầu không ăn cỏ”), rồi xe lửa cũng bị lây mà gọi là Tầu hỏa (thực ra nó là Xe lửa hay gọi theo ngữ pháp Hán là Hỏa xa 火車, mà tiếng Quảng Đông lại đọc chữ Xa là “xe”). Ở tỉnh Quảng Ngãi có thi trấn Châu Ổ cách bờ biển Vũng Quýt (Dung Quất) 42 km, cổ đại nó chỉ là một vụng biển kín dùng cho Tầu biển đỗ tránh bão, nên cái vụng Tâu Đỗ đó gọi bằng danh từ là Châu Ổ.

Từ dân gian tiếng Việt  (ban đầu viết bằng chữ Nòng nọc ký âm, đánh vần, mà Cụ Đỗ Văn Xuyền đã sưu tầm , nghiên cứu, hoàn nguyên) đã là cái gốc của từ hàn lâm (viết bằng chữ Nho). Từ dân gian và từ hàn lâm cùng dùng song hành trong tiếng Việt, thành ra từ vựng của tiếng Việt phong phú. Và càng phong phú hơn vì từ mới sinh ra do ứng dụng Dịch lý mà mỗi tiếng đơn âm lại sinh ra nhiều từ dính song âm cùng Tơi – cùng phụ âm đầu với từ gốc (phần này đề cập đến trong cuốn <Từ dính tiếng Việt> của Lãn Miên); hoặc do lướt hai từ với nhau. Ví dụ: Từ dính Xôn-Xao ai cũng hiểu là một sự hỏi nhau qua lại ồn ào, VD: “Làng trên xóm dưới Xôn-Xao, làm sao Ông đã làm sao mất rồi” – Tố Hữu. ( Từ dính đã sinh ra do Ồn = Âm; rồi theo qui tắc Nở tách đôi như tế bào: Âm à Ồn-Ào = Ầm – Ĩ = Inh - Ỏi = Í - Ới). Từ dính Xôn –Xao có gốc là do từ hàn lâm Xướng, rồi lướt “ Xướng Ồn” = Xôn và “Xướng Ào” = Xao. Nhưng từ hàn lâm Xướng lại có gốc do từ Nói, trong NKN “nói”: Lưỡi = Lời = Láo = Dao = Xạo = Xưng = =Xướng, đó đều là những sắc thái khác nhau của Nói.

Nhiều từ do dân gian sáng tạo ra rất đủ ý nhưng sau lại bị giới học giả quyền uy xóa sổ để thay bằng “từ Hán Việt” tự họ tạo ra, cho nó “oai”. Ví dụ trước năm 1955 ở Hà Nội chưa ai biết từ “Bệnh Viện”  (hàn lâm) mà chỉ biết từ “Nhà Thương” (dân gian), VD nhà thương Đồn Thủy, nhà thương Phủ Doãn, nhà thương Bạch Mai, nhà thương Khách. Trong danh từ Nhà Thương thì từ Nhà (là từ dân gian), ở đây hàm cái ý đã chuyển chú là “nơi cưu mang”, “cưu mạng”  cận âm với “cứu mạng”. Từ Thương là từ hàn lâm, là gọi tắt  trong từ ghép Thương Sinh蒼生 (nghĩa đen là Xanh Sống , nhưng đã chuyển chú thành là Muôn Dân). Vậy danh từ Nhà Thương có nghĩa là “nơi cứu mạng muôn dân” (bình đẳng, không phân biệt ưu tiên ai, không có kiểu  hưởng chế độ, phân cấp bao cấp) rõ ràng là hàm ý của từ Nhà Thương hay hơn nhiều so với  từ Bệnh Viện 病院của các học giả quyền uy sau năm 1955 đặt ra, chỉ được cái  đúng là theo ngữ pháp Hán, nhưng lại sai nghĩa so với từ của TQ dùng là Y Viện đúng hơn, Y Viện醫院  (tức cái Viện chữa trị, đúng nghĩa hơn) còn Bệnh Viện 病院chỉ có nghĩa là cái viện chứa bệnh. TQ không có từ Bệnh Viện, cũng không có từ Bệnh Nhân mà gọi người tật là Hoạn Giả 患者 – người bị hoạn nạn . < TVGT> giải thích: “Bệnh chỉ là cái hậu quả của Tật”, chữ Bệnh là chữ kiểu hình thanh, hình là chữ Nhọc (), thanh là chữ Bính () để mượn âm.

Từ dân gian Việt và từ hàn lâm Việt đều nằm trong một Nôi khái niệm (NKN). Ví dụ từ Ách dân gian và chữ Áchhàn lâm cùng nghĩa là chặn lại, nhưng Hãm người ta lại để ăn chặn thì gọi lướt là ‘Hãm Ách” = Hách; Hách chuyển chú thành nghĩa là “dựa thế quyền lực mà ra oai cho người khác sợ”; Ách là động từ chăn lại, cũng chuyển chú thành danh từ cái Ách chặn trên vai trâu để bắt nó kéo vật nặng (chữ Ách này phải thêm bộ Xe); rồi chữ Ách này lại được chuyển chú chỉ sự nặng (do tiềm thức còn nhớ  chữ Nòng nọc từng đánh vần “Ách nặng Ạch”). Từ Ách () nghĩa là nặng này, như ách nặng phong kiến đế quốc, lại theo Dịch lý mà Nở ra từ dính Ọc-Ạch là hình dung từ chỉ sự nặng nề. Dòng nước , từ Việt cổ là Rào . NKN: Rào = Chao (tiếng Thái Lan nghĩa là sông) Chao = Chảy = Thảy = Thủy = Xủy = Xuyên = Tuyền = =Quyến = Khuyến = Khe = Khê = Khảm (suối nước = “Khe Nam” = Khảm) = Khuổi (tiếng Tày nghĩa là suối) = Suối = Shủi (tiếng Quan thoại – Mandarin= Man Da Ren =    Mãn Đại Nhân), như Rào Rum à Rào Lùm à Sông Lắm à Sông Lam. Rào mà chảy nặng nề chậm chạp do bị ách tắc thì là lướt thành từ mới: “Rào Ọc” = Róc và “Rào Ạch” = Rách, nên nghe nước chảy “Róc-Rách” chứ không thông  suốt  như chảy “Rào - Rào”

[ Phân tích từ Ách:  Ách( các kiểu viết khác , ) Ách (Nhật phiên âm : a-kư), nghĩa: tắc nghẽn, nơi hiểm yếu.

Gốc do NKN: Háng = Hang = Hẻm = Hẹp = Hóc = Ngóc = Ngách = =Ách = Ngạch =  Nghẹn = Ngắc = Mắc = Tắc = Ngắc = Nghẹt = Chẹt = Chạc = Chà = Ngà = Ngại (碍)= Ải = Ương

Nguyên gốc của từ tạo nên chữ Áchlà biểu ý bằng “” và tá âm bằng bộ thủ “Hãn ” chính là từ Háng chỉ cái “háng” cây, khi một cành mọc ra từ một cành khác tạo nên một góc nhọn gọi là Háng, Háng=Chạng=Chạc, Chạc cây còn gọi là cái Chàng Nạng (lướt lấy dấu  “Chàng Nạng” = Chạng, như người đứng chạng hai chân tạo ra cái góc đó gọi là Háng, nên còn nói là đứng Chạng Háng), trẻ con hay dùngChàng Nạng làm cái dàn thun để bắn nghịch. Cái góc kẹt giữa hai cành cây to vươn lên trời chính là cái Hẻm àHiểm nguy bởi khi con thú lớn leo cành lỡ bị tuột mà rớt xuống nhằm cái kẹt đó thì càng dãy càng bị kẹt xuống vì trọng lượng của chính nó, đành chịu Mắc mà chết Ngắc vì bị Nghẹt làm cho Nghẹn thở vì Tắc khí. Lướt nhấn mạnh thì cái “Ngách Ạ!”= Ngà là cặp Ngà voi, như gọng Kìm tạo một góc Kẹp nguy hiểm cho đối thủ, khác gì cái cửa Ải nguy hiểm làm cho đối thủ nhìn thấy mà Ái Ngại. Chùm cành cây bụi, gồm vô số góc kẹt tạo ra bởi các Chà gai, gọi chung là “Chà”, thường được dùng để “thả Chà xuống biển” làm nơi ẩn nấp cho các loài cá nhỏ nhằm bảo vệ sinh thái. Cái Kẽ hở giữa các cành cây mọc ra từ những đốt chồi, lớn lên thành cành, tưởng đơn giản thế mà tạo ra cả chữ nho hàn lâm là từ Khoa học mà chúng ta dùng ngày nay: “Cây Nẻ” = Kẽ (sự nhú ra một cái chồi nhọn sắc từ thân cây hay một cành cây), Kẽ = Khe = “Khe Ạ!” = Khoa, Chữ Khoa của Việt nho viết hoàn toàn biểu ý bằng bộ Hòa tượng trưng cái cây và bộ Đấu (là mượn để thay câu lướt lấy dấu: “Đầu chồi nhọn Sắc” = Đấu). Từ một cây sẽ mọc ra nhiều chồi, mỗi chồi lớn lên thành một Cành = Ngành, nhưng cái góc mà mỗi cành tạo ra với thân cây thì gọi là một Kẽ = Khe = Khoa. Nếu coi Cây như một Cục hay tổng Cục thì Cục sẽ có nhiều Khoa. [Hán ngữ Khoa là “Ke”, Khe là “Xi”, Cây là “Shu”, không có liên quan đẳng thức nôi khái niệm Shu = Xi = Ke (?)], như là của tiếng Việt mới đúng logic: Cây = =Kẽ = Khe = Khoa. Vậy chữ nho chính là của Việt.

Từ liên quan: Ngóc-Ngách, Ọc-Ạch, “Tức anh ách”, Ái Ngại, Tai Ách, Tai Ương

<TVGT>: khoaách,木mộc tiếtdã. Ngũquảthiết (ách là cái khe háng của chồi cây. Thiết “Ngũ Qủa” = Ngà. [ Hán ngữ thiết “ Wu Guo” = Wuo, trật, không thành È ]. Nhật ngữ đã không phiên âm từ È của Hán ngữ, cũng không phiên âm từ Ngàcủa TVGT, mà phiên âm từ Ách của tiếng Việt, là A-Kư (ak), có sớm nhất, cái Ách cày trên vai con trâu cũng là bằng gỗ và hình dáng cái “Chà Gạc” = Chạc=Chạng = Háng. Thuận tự diễn biến phiên âm là: Ách (Việt) = Aku (Nhật) = È (Hán), thể hiện nhịp cầu Việt – Nhật – Hán (chữ Nho từ đất Việt truyền qua đất Nhật trước rồi truyền đến đất Hán sau)  ].

Cái danh từ <Tiếng> để chỉ ngôn ngữ mà người VN dùng ngày nay đã là một sự <chuyển chú> rồi, làm cho nghĩa nó rộng hơn nhiều (để chỉ tổng hợp gồm lời nói + khái niệm + chữ viết), từ <Tiếng> này đã khác xa khái niệm của từ “tiếng” ban đầu chỉ để chỉ tiếng ồn hay tiếng nói mà Nho viết từ Tiếng bằng chữ Thanh và từ Ồn chữ Âm ; hay bằng từ đôi Thanh Âm, 聲音,Âm Thanh音聲. Như vậy từ <Tiếng> có tính tổng hợp: nó là Ngôn ngữ + Khái niệm+ Chữ viết. Trong khi tiếng Nga chỉ mượn từ “cái lưỡi” để chỉ <Tiếng>, hoặc tiếng TQ chỉ mượn hai chữ Ngôn Ngữ để chỉ <Tiếng> mà chữ nho Ngôn đồng nghĩa chữ nho Ngữ , đều là chỉ “lời nói”. Trích lục “Khổng Tử Ngôn孔子言”, “Khổng Tử Ngữ孔子語”, “Khổng Tử Thuyết孔子說”, “Khổng Tử Thoại孔子話”, “Khổng Tử Thanh孔子聲”, “Khổng Tử Xưng孔子稱”, “Khổng Tử viết孔子曰 “, “Khổng Tử Xướng孔子唱 đều chỉ một nghĩa là “Khổng Từ Nói”. Có lẽ do từ <Tiếng> nó mang nghĩa tổng hợp như vậy nên khi đi học để thanh toán nạn mù chữ trong những lớp “bình dân học vụ” học chữ Quốc ngữ (chữ Latin ký âm tiếng Việt) chỉ kéo dài 3 tháng, giáo viên gọi trình độ tốt nghiệp lớp này là “ trình độ ABC” (tức trình độ ban đầu, lấy ba chữ cái đầu của bẳng Anphabet để chuyển chú thành nghĩa trình độ ABC ám chỉ trình độ ban đầu) thì học viên còn thông minh hơn (bởi họ chỉ mù chữ chứ rất thông về tiếng nói, thậm chí bài chửi đổng bằng lời của họ còn hay hơn bài viết kể cả về văn vẻ đến ngữ pháp), họ tự công nhận trình độ 3 tháng tốt nghiệp của họ chỉ là “trình độ I TỜ”, đi học I-T để có “trinh độ I tờ” cái đã, để rồi có cái cơ bản mà tự học lên cao hơn (họ đã tự biết dùng mà không cần ai dạy cái cách “thiết” của Hứa Thận trong <Thuyết Văn Giải Tự> tức cách “lướt” mà thực ra là cách “đánh vần” còn âm ỉ trong tiềm thức họ mà tổ tiên họ từ xa xưa đã dùng trong chữ Việt cổ (chữ Nòng nọc) là thứ chữ ký âm: “I TỜ  ÍT, TỜ I TI SẮC TÍ” , học ban đầu mới mất một “ít” thời gian thôi và mới được một “tí’ nhận thức thôi, nhưng nó là những viên gạch xây móng). Rõ ràng là nói “đi học I TỜ”  đầy đủ nghĩa hơn và hay hơn là nói “đi học ABC”.

Hiểu cách <chuyển chú> của của từ trong tiếng Việt nói chung và cả trong văn Nho nói riêng  thì sẽ hiểu trọn nghĩa sâu sắc của câu đối viết bằng chữ Nho như vi dụ dưới đây:

1 PHÚC ĐIỀN TÔNG TỔ CHỦNG, 2 TÂM ĐỊA TỬ TÔN CANH

    福田宗祖種             心地子孫耕

Nghĩa là:

1 Từ thế hệ Tông đến thế hệ Tổ xưa nữa đã để lại (CHỦNG) di sản phi vật thể ( PHÚC) và di sản vật thể (ĐIỀN) ,

2 Các thế hệ con cháu (TỬ TÔN) phải có tâm (TÂM) để trên nền móng đó *ĐỊA) mà khai thác và phát huy (CANH) cho hiệu quả hơn.

Qui tắc Lướt mà trong < TVGT> vận dụng để hướng dẫn cách đọc chữ Nho Việt cho đúng giọng Viêt thực ra là bắt nguồn từ qui tắc Đánh Vần của tiếng Việt thủa đang dùng chữ Việt cổ (Chữ  Nòng nọc) là thứ ký tự ký âm mà Cụ Đỗ Văn Xuyền đã nghiên cứu khôi phục lại. Chữ Việt cổ ký âm ấy có phụ âm và nguyên âm đều đọc thành tiếng (tương tự như chữ Lào và cách Đánh Vần trong tiếng Lào), như ví dụ đã nêu trên: T + I đánh vần là “Tờ I Ti”, I +T + Dấu sắc, đánh vần là “ I Tờ Ít sắc Ít”.

Trong tiếng Trung Quốc cũng dùng lướt với từ Việt để tạo từ mới. Ví dụ chữ Nhiệt  , tiếng Việt gọi là “Nóng”, tiếng Hán gọi là “Re”, tiếng Đài Loan gọi là “Lửa”.

Phân tích: NKN : Dương = Giàng = Giời = Trời = Blơi  = Lời ( vd: “thiên chúa ở côi Lời” ) = Lửa = Liệt = Nhiệt   = Nhật        

Phát âm của Trung Quốc:           Rưa [ Re] (Nhiệt),  Rư [ Ri] (Nhật)             Phát âm của Đài Loan :              [ Lửa ] (Nhiệt)

Người TQ sé lướt câu “Re là Nóng” = Róng [TQ phát âm là “Rúng ”]

NKN: Chảy = Giải = Cởi. TQ đọc chữ Giảilà [Jie]

Từ mới [ Róng Jie ]  của TQ [“rúng chỉa”] có nguồn gốc do từ Nóng Chảy của tiếng Việt.

Cũng giống như từ ghép Hò La nguyên gốc là của tiếng Việt , nghĩa là La Hét tức là nói thật to tiếng và dài dòng (do lướt  “ Hét To” = Hò = Hô, “Lời ra Rả” = La = La Lối). Hò La đã được TQ mượn nguyên từ nhưng ghi bằng mượn chữ Nho cận âm là chữ Hô và chữ Lôi (kéo : dùng Tay lôi khỏi chỗ Đứng . Đọc là lướt “Lập Tay   ” = Lay = Lôi= nhấn lướt “Lôi Ạ!” = La)  rồi TQ thêm chữ Khấu (miệng nói) vào bên cạnh để diễn ý là “từ của phương ngữ”, TQ phát âm lơ lớ là “ hula”.

Tương tự, từ Gào Hét nghĩa là to tiếng (do lướt “Gọi ồn Ào” = Gào; “Hò Thét” = Hét). TQ mượn từ Gào Hét nhưng ghi bằng mượn chữ nho cận âm là chữ Bao (cho âm Gào, vì tiếng TQ không có âm “G”) và chữ Hiếu (cho âm Hét vì tiếng TQ không có âm “Ét”) chỉ cần thêm chữ Khẩu vào bên cạnh để biểu ý đó là ”từ phương ngữ”  thành ra Bao Xiao nghĩa là Gào Hét của Việt, ví dụ câu: “Các trường phái đang Bao 口包Xiao 口孝(Gào Hét) âm ĩ trên mạng.”

Tiếng Việt từ Tụa = Tnghĩa là giống như , TQ dùng chữ Tượng(phát âm là Xiang) nghĩa là giống như. Từ Nhiều Nhặn viết chữ nho là Nhiêu Nhiên饒然 (TQ phát âm là Ráo Rán饒然). Giống hệt tức giống nhiều, lướt bằng chữ Nho là “Tự Nhiêu” = Tiêu, chữ Tiêu nghĩa là giống hệt  (lướt lấy dấu Hết Thật” = Hệt, chữ Tiêu mà chẻ dọc đôi thi hai nửa giống hệt nhau). TQ phát âm chữ Tiêu là Xiao (do khái niệm “giống nhiều” thì TQ cũng dùng lướt , mà lướt theo ngữ pháp Việt là Xiang Ráo” = Xiao .

Cách thức đơn giản nhất để biến một từ dân gian thành một từ hàn lâm là lướt từ dân gian ấy với từ khẳng định chính nó. Từ khẳng đinh hay dùng nhất là từ nhấn “Chứ!” (viết bằng chữ Chi) và Hài! (viết băng chữ Hể), tỏ ý đồng thuận, hài lòng, khen đúng. Ví dụ khẳng định từ Có là “Có Chứ!” hay “Có Hề!”. NKN từ khẳng định là: Phải! = Hài! = Hày! (tiếng Nhật) Hày = Hầy! (tiếng Nghệ) Hầy = Hầy ! (tiếng Quảng Đông) Hầy ! = Hề != Nê (tiếng Nhật) Nê = Nư (tiếng Thái) Nư = Chứ = Chi != Thị != Shi (tiếng Hán) = Hĩ = = Nhỉ

Ví dụ từ Đẩy Chống à Để Chế (Để Kháng và Chế Ngự):

Đẩy Chống = Tẩy Chay (tiếng Quảng Đông) = Di Zhi (tiêng Hán)

Đẩy  = “Đẩy Hề !”) = Để        dân gian à hàn lâm

Chống = “Chống Hề !”= Chế    (dân gian à hàn lâm)

Đẩy Chống = Để Chế (tiếng Việt hàn lâm) = Di Zhi (tiếng Hán)

Giao Chỉ là gốc tổ của Bách Việt do đó tiếng Giao Chỉ cũng là gốc của các tiếng Bách Việt. Ví dụ xét động từ Đẩy Chống. Đẩy Chống là một động từ ghép bằng hai động từ Đẩy và Chống. Khi hai đứa trẻ sơ sinh độ tuổi tập nói, một đứa Chống lại đứa kia đang uồm tới vồ đồ chơi của nó bằng cách dùng tay Đẩy đứa kia ra. Động từ Đẩy Chống của tiếng Kinh chuyển sang tiếng Hoa (cụ thể là Việt ngữ Quảng Đông) là Tẩy Chay (Đẩy Chống = Tẩy Chay). Sự Biến  âm này là Bước đầu tiên, gọi là Bắt Chước (“Bắt Chước” = Bước, tức bắt theo đúng như cái “Cho Trước” = Chước, như con trâu đi, bao giờ chân sau cũng đưa lên theo Bắt trúng dấu chân trước, lâu dần làm cho mặt đường chổ dấu chân đó lún dần, biến hình mặt đường thành gồ ghề lượn sóng gọi là “đường sống trâu”). Tiếng Hoa không có phụ âm “đ” nên “đ” biến thành “t”, thành ra  “Đẩy” biến thành “ Tẩy”, “Chống” biến thành “Chay”, Đẩy Chốngà Tẩy Chay (nghĩa là “Đẩy nó ra, Chống lại sự xâm nhập của nó”, như ngày nay tiếng Việt hiện đại vẫn nói “Tẩy Chay hàng hóa dỏm rẻ tiền, nên dùng hàng VN chất lượng cao””).

Người Nhật hay đặt tên con gái là cái Reng Con (Rin Kô) tức cái chuông nhỏ (reng con, lắc thì kêu reng reng), qui trình biến âm là: Reng Con à Rin Kô 領子(tiếng Nhật) à Linh Tử 領子 (hàn lâm Việt) à Ling Zi領子(tiêng Hán), rõ ràng là Rin Ko là bắt chước trực tiếp cái Reng Con.

 

 

Khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, chữ Nho đã tự thấy lạc hậu trong hội nhập toàn cầu, người Việt đã mạnh dạn dùng chữ cái ký âm của Latin để ký âm từ Việt (quay lại như thời xưa dùng chữ Khoa đẩu là loại chữ ký âm), đã quyết định xếp chữ Nho vào bảo tàng, chuyển sang dùng  chữ ký âm là mẫu tự Latin cho giản tiện ,  tiến bộ hơn và dễ hội nhập hơn với thế giới văn minh, thì các cách dùng của Văn Tự (chữ Nho) như chuyển chú, hình thanh cũng chuyển sang theo, làm cho tiếng Việt càng phong phú. Trong tiếng Việt dân gian vẫn vận dụng các cách tạo từ của chữ Nho để thể hiện trong chữ quốc ngữ , nên mặc dù đã dùng ký tự latin nhưng trong từ vẫn thể hiện “hình thanh”. Ví dụ: từ “bắn” là chỉ động tác dùng với công cụ là cây súng, mà sơ khai là cây cung, cung thủ tay nắm đuôi tên cùng dây cung đã kéo căng, chỉ khi cung thủ buông hẳn tay nắm thì tên mới có thể lao đi nhờ sức đàn hồi của dây cung kéo cánh cung, động tác buông hẳn ấy đã được lướt thành “Buông Hẳn” = Bắn. Rồi từ “bắn” thành động từ chỉ chức năng của mọi loại súng ống, đó là sự “chuyển chú” của từ “bắn”, thành ra súng trường cũng “bắn”, súng ngắn cũng “bắn”, đại bác cũng “bắn”. Hán ngữ gọi động từ “bắn” là Xạ, hoặc có thể dùng từ Đả chuyển chú thay cho Xạ, hay dùng từ ghép Khai Thương 開槍 (nổ súng) chuyển chú thay cho từ Xạ. (Từ Xạ [“she”] trong Hán ngữ không phái sinh ra từ song âm nào có Tơi “Sh” hay Rỡi “E” của từ “she” để chỉ tiếng nổ cả). Nhưng tiếng Việt còn phong phú và tinh tế hơn trong dùng từ để chuyển chú thay cho từ “bắn” đó là dùng từ tượng thanh tiếng nổ của viên đạn để chuyển chú thành từ thay cho từ “bắn”. Chữ Đạn đã theo qui tắc của dịch lý (“nhất nguyên sinh nhị nguyên”) mà phái sinh ra các từ dính Đòm-Đọp (tiếng nổ Dài/Ngắn của loại súng nhỏ), Đùng-Đoàng (tiếng nổ Ngắn/Dài của loại súng lớn) cũng như từ Bắn (tơi là B) đã phái sinh ra từ tượng thanh là  Bùm-Bụp (tiếng nổ Lớn/Nhỏ). Khi dùng tiếng Pháp “pullet” là viên đạn, thì tượng thanh tiếng nổ của nó là “Pằng Pằng”(cùng Tơi “P”), TQ dịch phiên âm từ Việt sang Hán là “Péng Péng彭彭”. Những từ tượng thanh chuyển chú thay cho từ “bắn” này rất khó dịch sang tiếng nước ngoài, thông thường chỉ dịch bằng từ đồng nghĩa là bắn mà thôi. Trong khi tiếng Việt nếu nói “Đòm một phát” thì liên tưởng cái âm dài đó mà hiểu ngay là “bắn một phát bằng súng trường”, nhưng nếu nói “Đọp một phát” thì hiểu ngay là “bắn một phát bằng súng ngăn”, đủ thấy tiếng Việt nói ngắn mà hiệu quả (nội dung) của câu nói rất lớn. Trong cuốn tiểu thuyết <Chiến tranh ai ca戰爭哀歌> là bản dịch sang tiếng TQ của TS văn học Hạ Lộ 夏露chuyển ngữ cuốn tiểu thuyết <Nỗi buồn chiến tranh> của Nhà văn Bảo Ninh sang tiếng TQ (xuất bản tháng 3- 2019 và bán rất ăn khách tại TQ), dịch giả  Hạ Lộ, giáo sư dạy văn học của  Đại học Bắc Kinh, đã nói: “Tác giả Bảo Ninh của cuốn tiểu thuyết từng đoạt nhiều giải quốc tế này có cách dùng từ thật độc đáo vô cùng chính xác… nó cho thấy năng lực thể hiện của tiếng Việt rất phức tạp, tinh tế, chính xác và vô cùng phong phú”. Đây là một đoạn trong tiểu thuyết tả cảnh chiến đấu: “Người chỉ huy tay giơ cao súng lục hét lớn: “các anh em, chúng ta thà hy sinh chứ không đầu hàng!” Rồi kê súng vào thái dương đọp một phát óc phọt ra lỗ tai”. Đoạn này dịch giả chỉ kể là: “chỉ huy hô vang: “…”, rồi tự sát”. Vì khó mà tìm được từ nào trong Hán ngữ chuyển tải được nghĩa của từ “Đọp”. Những từ tượng thanh cho sự nổ của súng bắn đều dùng âm vận (cái “Ruột Lời” = Rỡi) để nói lên tiếng nổ, còn giữ nguyên Tơi “Đ” như là tượng hình của viên Đạn (cùng có “Tay Lời”=Tơi “Đ”), do vậy những từ Đọp, Đòm, Đùng, Đoàng đều chính xác là những chữ “hình thanh” như kiểu chữ Nho xưa, mặc dù đã viết bằng ký tự latin. Ví dụ chữ Đòm thì “Đ” là phần hình (viên Đạn) và “Òm” là phần thanh (tiếng nổ dài), cái âm dài của “òm” làm cho người nghe liên tưởng mà hiểu ngay là bắn một phát bằng súng trường, còn chỉ “Đọp” một phát thì rõ ràng là bắn bằng súng ngắn (súng lục, vì băng đạn của nó chỉ có 6 viên nên từ “lục” đã được chuyển chú để chỉ súng ngắn), nếu nói “Đùng” một phát thì hiểu ngay là bắn bằng súng cối. Khí cụ là gì thì tiếng của nó là từ cùng “Tơi” với nó: Cái Chuông (tơi Ch) thì kêu Choang Choang, cái Kẻng (tơi K) thì kêu Coong Coong, cái Trống kêu Tùng Tùng, cái Ca gốm kêu Lanh-Canh, viên Đạn đại bác nổ Đùng Đoàng, nhưng viên Pullet (đạn súng trường Pháp) thì phải nổ Pằng Pằng. Ví dụ khác về cách chuyển chú: Xe máy chất lượng nhất vẫn là thương hiệu Honda của Nhật Bản, do vậy mà từ Honda đã bị chuyển chú thành nghĩa là Xe máy, cho nên đi xe máy lại được nói là “đi Honda”, đụng xe máy nói là “đụng Honda”, ngã xe máy lại được nói là “té Honda”, hiệp hội xe máy chở khách (thay cho từ ‘xe ôm: của Hà Nội) lại gọi là “hiệp hội Honda chở khách”. Phanh được xe đang chạy ẩu là thắng chứ không chịu  thua cái xe, nên từ Thắng được chuyển chú  thành nghĩa là Phanh xe,  có đạp phanh rồi mà nó vì dởm (do mua phải phanh là hàng nhái của Tàu lắp vào) nên có đạp phanh mà nó  không ăn, gọi là “mất thắng”.

6. Kết luận

Phần kết luận mượn ý kiến sau đây của học giả Hà Sĩ Phu:

Nền giáo dục và Văn học Việt Nam cần có những chương trình dài ngắn thích hợp về chữ Nho, chữ Nôm, tức một loại chữ Việt cổ cho học sinh Trung học và Đại học, cho các lớp bồi dưỡng nhà văn, nhà báo, nhà chính trị… Thiếu kiến thức tối thiểu về chữ Việt cổ ấy chẳng những sẽ thiếu hiểu biết cội nguồn dân tộc mà còn không thể hiểu và sử dụng tiếng Việt một cách thành thục được.

 

 

1.   Người Việt

 

1/ Phân tích chữ Kinh

 

Chữ Kinh hội ý là Người, gồm (Đầu ) + Mảnh () thân + Chân () tay (“Túc Nhiều” = Tiểu), là Kẻ vẫn tự xưng là Mình, tức “Kẻ Mình” = 1 + 1 = 0 = Kinh. Nhiều Mình thì thành dân tộc, tức “Mình Mình” = 1 + 1 = 0 = Minh nghĩa là Sáng, dân tộc Kinh là dân tộc Sáng nên có truyền thuyết xưng ông Tổ của dân tộc là Đế Minh. Theo dẫn biến âm trong  qui tắc Nôi khái niệm (NKN) của tiếng Việt thì Sáng =   Láng = Tráng = Choang = Quang = Máng    =   = Minh =  Kinh = Canh ( nên có các từ đôi Sáng Láng (=      = Sán Lạn灿烂), Sáng Choang, Quang Máng光芒, Quang Minh光明,  Người Choang và người Kinh từng là một dân tộc trong quốc gia Âu Lạc). Chữ Minh hội ý gồm Nhât + Nguyệt . Nguyệt Nhật đều rất Cao, cụ thể lướt “Nguyệt Nhật” = Ngật, nghĩa là Cao. Cao mà lại Sáng nghĩa là Cao Ánh, lướt “Cao Ánh” = Canh. Do vậy mà thấy rõ cái logic là: “Kẻ Minh” =  Kinh = “Cao Ánh” = Canh.   Minhtức là “Cao + Ánh” = Canh = Kinh (hợp logic chỉ con người là “Kẻ Minh” = Kinh). Mỗi người tự xưng là Mình, nên gọi kẻ thứ hai là “Mình Hai “ = Mày, hay “Mình Nhị” = Mi, hợp logic với lướt nhấn “ Mày Chi!” = Mi hay “Mày Chứ! “ = Mừ (nhân xưng ngôi thứ hai của tiếng Tày). Kinh = Canh = Cao Ánh = Cao  + Ánh = Ngật + Nhiệt . = lướt “Ngật Nhiệt” =  Nghiệt. Nghiệt lại phiên thiết thành hai tiếng Người Việt thiết thì thành một tiếng: “Người Việt” =       = Nghiệt. Do vậy Kinh chính là Người Việt .

Theo truyền thuyết thì người Việt có thủy tổ là Đế Minh. Từ Đế Minh mang nghĩa đen là Đất Trời .Gọi là Trời do Minh là Sáng, Sáng = Tráng = Trắng = Trời = Ngời = = Ngày, chữ Minh dương này dùng ước lệ là Trời; Gọi là Đất thì Đất = Địa = (lướt nhấn) “Địa Hề!” = Đế. Đế Minh = Đất Trời có nghĩa là vũ trụ, Đế Minh thiết Đinh có nghĩa là Đất Trời sinh ra con người (chữ Đinh nghĩa là con người, cùng hợp logic “Đứa Kinh” = Đinh, nên từ Đinh và họ Đinh hiểu là của người Kinh, dân tộc Kinh. Theo vị trí bản đồ Dịch học thì Đinh còn chỉ phía Tây, vị trí là  số 4 trong Hà  Thư : Tư = Tây = Sài = Đoài = Định = Đinh = Tịnh = Tây = Tư. Minh Đế thiết Mế nghĩa là người Mẹ ở đất Tây, chính là người Ai Lao thiết Âu, là tổ tiên dòng Âu Cơ, “Mẹ Âu” = Mẫu, Đạo Mẫu của người Việt có điện thờ Mẫu Thượng Ngàn ở đỉnh núi Tản Viên, Ba Vì, Hà Nội, Mẫu được thờ là tượng người đàn bà vấn khăn hình củ Ấu). Vấn khăn hình củ Ấu như kiểu của phụ nữ người Choang, Quảng Tây, hay kiểu vấn khăn rằn của phụ nữ Nam Bộ . Nhiều từ gốc chỉ bộ phận cơ thể con người của tiếng Choang cũng na ná giống tiếng Kinh ( na ná giống thì tiếng Nhật gọi là “ô-na-gi”). Ví dụ: đầu là “Vuô” (Vuô = Bua = Bố = Bọ = Phò = Sỏ), mắt là “Mark ta”, lưỡi là “Lín”, cẳng là “Kơ” chân là “Tìn”,  bàn chân là “Pa Tìn”, cánh tay là “Kêu”, Khớp là “Kó”, Khu là “Khún”  (mông), Hông là “Háng”, Đít là  “Đọt” , Cứt là “Kí”, ,Mũi Dãi là “Mug Xải”, Dạ dày là “Tày” v.v

Chữ Kinh gồm Đầu + Mình + Chân Tay, chính là Con Người tức “Con Minh” = “Kẻ Minh” = Kinh = “Cao Ánh” = Canh (có tư duy – Cao, và biết dùng lửa – Ánh). Chữ Kinhviết rất cân bằng hai nửa theo chẻ dọc, biếu ý con người là một thể lưỡng lập gồm thể thật và thể huyền bí. Trong thể thật lại cân bằng hai tố là tố âm và tố dương, Cho nên tiếng Tày đã dùng từ do lướt lấy dấu “Cân Bằng” = Cần, để dùng từ Cần chỉ con người, gọi người Tày là “cần Tày” gọi người Kinh là “cần Keo”. Từ Cần đã biến ra từ Nhân và từ Dân cũng chỉ con người. Nhân Dân biến thành từ Dằn Mằn của tiếng Quảng Đông, rồi biến thành từ Rén Mín của Hán ngữ hiện đại.

 

Chữ Minh âm ứng với thế giới âm nên đối với thế giới dương thì nó là trong bóng tối. Minh âm đại diện cho từ đôi “ Mun Tối” = Môi (Hán ngữ dùng chữ Môi để chỉ Than, vì than có màu đen ( Đen = Mèn = Mun = Man = Than = Thâm = Lấm = Lầm = Lầm Than = “Đen Than” = Đan =  “Đan Ạ!” = Đà, sông Đà xưa sử còn ghi là Đan Xuyên hay Hắc Thủy vì Đen = Hoẻn = Huyền = Hôm = = Hôn = Hắc = Hối = Tối = Túi = Thui = Than = Man = Mèn = Đen . Sử ghi: “Đại Vũ trị thủy ở Đan Xuyên”, Đại Vũ có nghĩa là Lang đứng Đầu. Chu Công diễn giải Kinh Dịch dùng chữ Vô Thủ để chỉ kẻ đứng đầu, vì Vô Thủ thiết Vũ, là chức đầu tiên, trước nó không có “thủ” nào khác). Tên rừng U Minh hay cây Ô Môi có nhiều ở rừng đó (thịt quả và vỏ quả khi chín đều màu đen) đều là những tên dùng từ đôi chỉ màu đen tối. Nhấn “Minh Ạ!”  = “Minh !” = Mã , dùng chỉ hàng mã là đồ âm phủ (tiền giấy, vàng giấy, hình nộm bằng giấy, bán ở phố Hàng Mã, khu phố cổ Thăng Long). Biếu ý của Minh âm là Mịch + Và + Lâu , là thế giới âm, ảnh ảo, nên phải phản thiết  (nói lái) là “Mầu + Và + Linh” = Minh .

Đại từ nhân xưng ngôi một của tiếng Kinh là Ta (“Đất Trời” = “Tất Càn” = “Tất Cả” = Ta = Nhà = Gia = Giả = Ngã = Ngô = Ngộ = Người, thể hiện con người là một tiểu vũ trụ tức là cả Đất Trời được nén lại thành con người, khi chết thì phần hồn trả lại trời, phần xác trả lại đất); xưng ngôi một là Người thì ngôi hai phải là lướt lấy dấu “Người Hai” = Ngươi, còn gọi là Nhà Ngươi. Nhân xưng ngôi một của tiếng Nhật là “wa-Ta-xi” để lộ cái giữa của tiếng Giao Chỉ là “Ta”).