nguoivosu

Khổng Minh Đoán Ngày Tận Thế

2 bài viết trong chủ đề này

011

Posted Image

Khổng Minh

Bài “Mã tiền khóa” được tương truyền là của Khổng Minh, dự đoán vận nước Trung Hoa từ đời Ngụy cho đến hiện nay. Nếu căn cứ vào kiến giải bên dưới thì lời tiên tri trong quá khứ hoàn toàn chính xác, còn tương lai có đúng hay không chỉ có cách ngồi đợi thời gian trả lời (?).

Đặc điểm của sấm truyền là thông điệp được ẩn bên dưới ngôn từ lời thơ, và cần phải có chìa khóa chính xác để giải mã. Phần kiến giải dưới đây chỉ tham khảo, do tính chất luận bàn này hàm chứa thông tin một chiều nên người sưu tập đã lượt bỏ một số đoạn.

KHỔNG MINH – MÃ TIỀN KHOÁ

孔明馬前課

按孔明馬前課,乃軍中閒暇之時,作此以示後人,趨避之方,此十四課為馬前課中之別裁,每一課指一朝其興衰治亂可得言諸外,至十四課止者,兩次來復之期也,殿以未濟,以見此後又一元矣。天道循環,明者自明,昧者自昧,又烏可以坐而致哉?

八六老僧白鶴山守元誌

Án Khổng Minh Mã Tiền Khóa, nãi quân trung gian hạ chi thì, tác thử dĩ kì hậu nhân, xu tị chi phương, thử thập tứ khóa vi mã tiền khóa trung chi biệt tài, mỗi nhất khóa chỉ nhất triêu kì hưng suy trì loạn khả đắc ngôn chư ngoại, chí thập tứ khóa chỉ giả, lưỡng thứ lai phục chi kì dã, điện dĩ vị tể, dĩ kiến thử hậu hựu nhất nguyên hĩ. Thiên đạo tuần hoàn, minh giả tự minh, muội giả tự muội, hựu ô khả dĩ tọa nhi trí tai ?

Bát lục lão tăng Bạch Hạc sơn Thủ Nguyên chí.

Muốn biết và tin tưởng vào tương lai, cần dõi tìm hiểu rõ ở quá khứ

Xác nhận và nắm vững quá khứ và hiện tại, sẽ tin tưởng vào tương lai

Đại lược của Sư Thủ Nguyên:

Trong quân lữ khoảng thời gian nhàn rỗi, Khổng Minh gieo quẻ trước ngựa để người đời sau biết phương nào mà tới, phương nào mà tránh. Mỗi quẻ chỉ một triều đại, hưng suy trị loạn thế nào người ta có thể hiểu được ngoài lời nói.

Đại đạo tuần hoàn, người sáng suốt thì tự hiểu, kẻ ngu tối thì cứ mịt mù mê muội trong u tối, dâu có ngồi yên không làm gì mà hiểu thấu được .

Lời bàn:

Đoạn trên rất ích lợi cho người đọc, nếu suy ngẫm và hiểu thấu đáo, không riêng gì vấn đề Sấm truyền mà còn cho mọi vấn đề mọi phương diện khác, nhất là đang sống toàn cảnh trong ngoài nước Việt, các sự kiện trên thế giới ngày càng dần đi tới tình cảnh rối ren, hỗn loạn, khủng hoảng … mọi vấn đề, “Thế đồ đa hiểm trở – Dục vãng cánh hà chi : đường đời bao hiểm trở – Muốn đi nào biết đi đâu ?”, đi đâu không hiểm trở ?, muốn, muốn đi nào biết đi đâu ?, mà đi đâu thì ở đâu cũng đã và đang hoặc sẽ đầy hiểm trở !!!, nếu cứ ùa theo dòng trào lưu xu thế mà không xét kỹ, có thể tưởng rằng bỏ nơi nguy hại sẽ có hiện nay, nhưng không đến nguy hại lớn và sẽ được yên ổn về sau, để rồi lao vào nguy hại nhiều hơn hoặc rồi sẽ nguy hại lớn hơn về sau.

01. 第一課 ○●●●●○ 中下

無力回天 鞠躬盡瘁

陰居陽拂 八千女鬼

證曰 : 陽陰陰陰陰陽在卦為頤

解曰 : 諸葛鞠躬盡瘁而死 後蜀漢後主降於魏

Quẻ thứ nhất: Quẻ Di (Trung Hạ)

Vô lực hồi thiên

Cúc cung tận tụy

Âm cư dương phất

Bát thiên nữ quỷ

Chứng viết: dương âm âm âm âm dương tại quái vi Di

Giải viết: chư cát cúc cung tận tụy nhi tử, hậu Thục Hán hậu chủ hàng vu Ngụy

Dịch nghĩa:

Không có sức (để) xoay ngược lại (được) cơ trời

Còng lưng kiệt sức

Âm ở lại dương lướt qua

Tám ngàn nữ quỷ

Sư Thủ Nguyên ở núi Bạch Hạc sống vào năm Gia Tĩnh đời Minh đoán như sau:

Sau khi Khổng Minh chết, hậu chúa hàng Ngụy, bốn chữ bát 八 thiên 千 nữ 女 quỷ 鬼 hợp lại thành chữ Ngụy 魏

02. 第二課 ○●○○●○ 中下

火上有火 光燭中土

稱名不正 江東有虎

證曰 : 陽陰陽陽陰陽在卦為離

解曰 : 司馬炎篡魏 元帝都建康屬江東

Quẻ thứ 2: Quẻ Ly (Trung Hạ)

Hỏa thượng hữu hỏa (Viêm : 炎)

Quang chúc trung thổ

Xưng danh bất chính

Giang Đông hữu hổ

Chứng viết: dương âm dương dương âm dương tại quái vi Li

Giải viết: Ti (Tư) Mã Viêm 炎 soán Ngụy, nguyên đế đô kiến khang chúc Giang Đông

Dịch nghĩa:

Trên lửa có lửa

Soi sáng trung thổ (vùng dất ở giữa)

Xưng danh không chính đáng

Giang Đông có cọp

Lời giải thích của sư Thủ Nguyên:

Lưỡng hỏa thành Viêm ý nói Tư Mã Viêm lên ngôi thế nhà Ngụy. Tư Mã Viêm sẽ thống nhất Trung Hoa, nhưng xưng danh không chính đáng, sau này con cháu chạy về phía Giang Đông.

03. 第三課 ○●●●●● 下下

擾擾中原 山河無主

二三其位 羊終馬始

證曰 : 陽陰陰陰陰陰在卦為剝

解曰 : 五代始於司馬 (五代始於蕭氏 ) 終於楊氏

Quẻ thứ ba: Quẻ Bác (Hạ Hạ)

Nhiễu nhiễu Trung Nguyên

Sơn hà vô chủ

Nhị tam kì vị

Mộc chung mã thảo 草 thủy

Chứng viết: dương âm âm âm âm âm tại quái vi bác

Giải viết: ngũ đại thủy vu ti mã (ngũ đại thủy vu Tiêu thị ) chung vu Dương thị

Dịch nghĩa:

Trung Nguyên nhiễu loạn (rối loạn)

Sơn hà (quốc gia) không có chủ

Lại hai ba đời (ngôi vị)

Mộc cuối mã 馬 đầu (bản khác là chữ thảo 草)

Chứng viết: dương âm âm âm âm âm tại quái vi Bác

Giải viết: ngũ đại thủy vu ti mã (ngũ đại thủy vu Tiêu thị), chung vu Dương thị

Sư Thủ Nguyên giải thích rằng:

Trung Nguyên (Trung Quốc) bị rối loạn, đất nước không có chủ (chính thức). Hai ba đời là ngũ đại. Đời Ngũ Đại (Tề, Lương, Trần, Ngụy, Tùy) bắt đầu từ họ Tiêu có chữ thảo đầu, tức là Tiêu Đạo Thành và kết thúc bằng họ Dương tức là Dương Đế có chữ mộc ở bên.

04. 第四課 ●●○●○● 中上

十八男兒 起於太原

動則得解 日月麗天

證曰 : 陰陰陽陰陽陰在卦為解

解曰 : 李唐起於太原 武曌稱周

Quẻ thứ tư: Quẻ Giải (Trung Thượng)

Thập bát nam nhi

Khởi vu Thái Nguyên

Động tắc đắc giải

Nhật nguyệt lệ thiên

Chứng viết: âm âm dương âm dương âm tại quái vi Giải

Giải viết: Lí Đường khởi vu Thái Nguyên, Vũ ? xưng Chu

Dịch nghĩa:

Mười tám người con trai

Dấy (khởi) lên từ Thái Nguyên

Động ắt được giải (thông)

Mặt trời mặt trăng (sáng) đẹp (ở trên) bầu trời.

Sư Thủ Nguyên giải:

Nam nhi là chữ tử 子, thập bát tử là chữ Lý 李, chỉ Lý Uyên khởi binh từ Thái Nguyên, sau lên ngôi vua là Đường Cao Tổ, con nối ngôi là Lý Thế Dân tức Đường Thái Tông.

05. 第五課 ○○○●●● 下中

五十年中 其數有八

小人道長 生靈荼毒

證曰 : 陽陽陽陰陰陰在卦為否

解曰 : 五代八姓 共五十三年

Quẻ thứ năm: Quẻ Bỉ (Hạ Trung)

Ngũ thập niên trung

Kì sổ hữu bát

Tiểu nhân đạo trưởng

Sinh linh đồ độc

Chứng viết: dương dương dương âm âm âm tại quái vi Phủ (否: phủ, bĩ)

Giải viết: ngũ đại bát tính, cộng ngũ thập tam niên

Dịch nghĩa:

Trong năm mươi năm

Số đó là tám

Tiểu nhân đạo trưởng (kẻ tầm thường mà muốn ra làm đạo lý xa dài)

Làm hại sinh linh (thần và người ắt phải căm giận cay đắng)

Sư Thủ Nguyên giải:

Sau Đường là đời Ngũ Đại trải 53 năm (Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu), có 8 họ làm vua cả thẩy (Đướng, Vương, Tiêu, Lưu, Mã, Cao, Mạnh, Lý) làm cho mọi sanh linh than thở căm giận oán ghét.

06. 第六課 ●○○●○○ 上中

惟天生水 順天應人

剛中柔外 土乃生金

證曰 : 陰陽陽陰陽陽在卦為兌

解曰 : 趙宋黃袍加身 而立敵為金

Quẻ thứ sáu: Quẻ Đoài (Thượng Trung)

Duy thiên sinh thủy

Thuận thiên ứng nhân

Cương trung nhu ngoại

Thổ nãi sinh kim

Chứng viết: âm dương dương âm dương dương tại quái vi Đoái

Giải viết: Triệu Tống hoàng bào gia thân, nhi lập địch vi Kim

Dịch nghĩa:

Chỉ có trời (mới) sinh (ra) nước

Thuận theo trời (thì mới) hợp lòng người

Trong cứng ngoài mềm

Đất sẽ sinh kim

Sư Thủ Nguyên giải thích:

Họ Triệu (Triệu Khuông Dẫn) lập nhà Tống, thống nhất Trung Hoa. Sau đó, Kim vào cướp phá, đó là cứng bên trong mà mềm bên ngoài (Thổ nãi sinh Kim).

07. 第七課 ●○●○○● 中中

一 兀 復始 以剛處中

五五相傳 爾西我東

證曰 : 陰陽陰陽陽陰在卦為井

解曰 : 元代共十主 後各汗國分裂

Quẻ thứ bảy: Quẻ Tỉnh (Trung Trung)

Nhất ngột phục thủy

Dĩ cương xử trung

Ngũ ngũ tương truyền

Nhĩ tây ngã đông

Chứng viết: âm dương âm dương dương âm tại quái vi Tỉnh

Giải viết: Nguyên đại cộng thập chủ, hậu các hãn quốc phân liệt

Dịch nghĩa:

Một (cái, sự) cao chót vót trở lại đầu

Lấy (cái) cứng bền đặt ở chính giữa

Năm năm truyền cho nhau

Người ở bên tây ta bên đông

Sư Thủ Nguyên giải thích:

Chữ nhất 一 và chữ ngột 兀 hợp thành chữ nguyên 元 chỉ nhà Nguyên đánh lấy Trung Quốc, truyền được ngũ ngũ là 10 đời vua, về sau mỗi chúa hùng cứ một nơi hai bên Đông Tây (nội Mông và ngoại Mông).

08. 第八課 ○○●●●○ 上上

日月麗天 其色若赤

綿綿延延 凡十六葉

證曰 : 陽陽陰陰陰陽在卦為益

解曰 : 朱即赤 日月是明 共十六主

Quẻ thứ tám: Quẻ Ích (Thượng Thượng)

Nhật nguyệt lệ thiên

Kì sắc nhược xích

Miên miên diên diên

Phàm thập lục diệp

Chứng viết: dương dương âm âm âm dương tại quái vi Ích

Giải viết: chu tức xích, nhật nguyệt thị minh, cộng thập lục chủ

Dịch nghĩa:

Mặt trăng mặt trời đẹp (ở trên) bầu trời

Sắc của nó màu đỏ

Kéo dài không dứt

Tính thành mười sáu lá.

Sư Thủ Nguyên dịch nghĩa:

Chữ nhật 日 chữ nguyệt 月 thành chữ minh 明 chỉ nhà Minh. sắc đỏ chỉ chữ chu 朱 là họ Chu đời nhà Minh, Minh Thái Tổ là Chu Nguyên Chương, đời nhà Minh được 16 đời.

09. 第九課 ○●○●●● 中上

水月有主 古月為君

十傳絕統 相敬若賓

證曰 : 陽陰陽陰陰陰在卦為晉

解曰 : 水月有主是清也 古月是胡也 滿清十皇朝最後亡於宣統

Quẻ thứ chín: Quẻ Tấn (Trung Thượng)

Thủy nguyệt hữu chủ

Cổ nguyệt vi quân

Thập truyền tuyệt thống

Tương kính nhược tân

Chứng viết: dương âm dương âm âm âm tại quái vi Tấn

Giải viết: thủy nguyệt hữu chủ thị Thanh dã, cổ nguyệt thị Hồ dã, Mãn Thanh thập hoàng triêu tối hậu vong vu tuyên thống

Dịch nghĩa:

Có trăng có nước lại có chủ

Trăng xưa làm vua

Truyền được mười lần thì dứt

Xem nhau như khách

Sư Thủ Nguyên nói:

Ba chữ thuỷ 水, nguyệt 月, chủ 有 hợp lại thành chữ thanh 清 ý chỉ nhà Thanh. Hai chữ cổ 古 và nguyệt 月 hợp lại thành chữ hồ 胡 chỉ người Hồ ở phương Bắc làm vua, truyền được 10 đời thì hết.

- Lão tăng sinh vào năm thứ 10 đời Gia Tĩnh, đến nay đã 86 tuổi, từ đây về sau không dám bàn láo nữa.

10. 第十課 ●○●○●● 中下

豕後牛前 千人一口

五二倒置 朋來無咎

證曰 : 陰陽陰陽陰陰在卦為蹇

解曰 : 豕後牛前 辛亥也 千人一口為和 五二倒置是民也 朋者外邦也

Quẻ thứ mười: Quẻ Kiển (Trung Hạ)

Thỉ hậu ngưu tiền

Thiên nhân nhất khẩu

Ngũ nhị đảo trí

Bằng lai vô cửu

Chứng viết: âm dương âm dương âm âm tại quái vi Kiển

Giải viết: thỉ hậu ngưu tiền, Tân Hợi dã, thiên nhân nhất khẩu vi hòa, ngũ nhị đảo trí thị dân dã, bằng giả ngoại bang dã.

Dịch nghĩa:

Sau heo trước trâu

Ngàn người một miệng

Năm (5) hai (2) đảo lộn

Bạn đến không lỗi

Sư Thủ Nguyên không giải quẻ này. Hai ông Mã Nguyên Lương và Lê Xuân Mai lạm bàn rằng:

Sau heo trước trâu chỉ năm Tân Sửu, ký hoà ước với 11 nước, đến năm Tân Hợi xảy ra cuộc Cách mạng, xóa ngôi vua.

Chú thích: phong trào Dân chủ Cộng Hoà nổi lên từ năm Tân Sửu (Ngưu tiền 1901), ký hoà ước với 11 nước ngoài (bằng lai), đến năm Tân Hợi (Thỉ hậu 1911) xẩy ra cuộc Cách mạng lập chính phủ Nam Kinh, thiên 千 nhân 人 nhất 一 khẩu 口 là chữ hoà 和 (Cộng hoà)

11. 第十一課 ○●○○●○ 中下

四門乍辟 (四門乍開) 突如其來

晨雞一聲 其道大衰

證曰 : 陽陰陽陽陰陽在卦為離

解曰 : 當朝之象也 四門乍辟謂為門戶開放 酉年當期時 無人再相信其道理故

Quẻ thứ mười một: Quẻ Ly (Trung Hạ)

Tứ môn sạ tích (Tứ môn sạ khai)

Đột như kì lai

Thần kê nhất thanh

Kỳ đạo đại suy

Chứng viết: dương âm dương dương âm dương tại quái vi Li

Giải viết: đương triêu chi tượng dã, tứ môn sạ tích vị vi môn hộ khai phóng, dậu niên đương kì thì, vô nhân tái tương tín kì đạo lí cố

Tạm lược dịch: cái tượng đang (còn là) sáng sớm, (mà) bốn cửa chợt nhiên (lại) mở toang ra, gọi là cửa ngõ cửa nhà (đều bị) mở bung ra (cả), (đó là) đang là thời kỳ của năm Dậu, chẳng người (nào) tin được cái đạo (vô) lý (đến) như vậy.

Dịch nghĩa:

Bốn cửa (chợt nhiên) mở toang (ra)

Thình lình mà (xông) đến

Sớm mai gà gáy một tiếng

Đạo ấy rất (là) suy kém

12. 第十二課 ●○○○○● 上中

拯患救難 是唯聖人

陽復而治 晦極生明

證曰 : 陰陽陽陽陽陰在卦為大過

解曰 : 當來之象也 災難當頭之極 其時聖人出現 救苦救難故

Quẻ thứ mười hai: Quẻ Đại Quá (Thượng Trung)

Chửng hoạn cứu nạn

Thị duy thánh nhân

Dương phục nhi trị

Hối cực sanh minh

Chứng viết: âm dương dương dương dương âm tại quái vi Đại Quá

Giải viết: đương lai chi tượng dã, tai nan đương đầu chi cực, kì thì Thánh Nhân xuất hiện, cứu khổ cứu nan cố.

Tạm lược dịch: đang là cái tượng đương đầu với tai nạn đến cùng cực (giống như là bị bất ngờ cháy nhà, tai 災: tai vạ, cháy nhà), thì lại có Thánh Nhân xuất hiện, đến cứu giúp khổ nạn vậy.

Dịch nghĩa:

Cứu vớt hoạn nạn

Ấy chỉ có thánh nhân

Dương (khí trở) về (mà sẽ được) trì (sửa chữa lại)

Tối (tăm mù mịt) quá (thì sẽ lại) sinh (ra) sáng (sủa trở lại)

13. 第十三課 ○●●○○○ 上中

賢不遺野 天下一家

無名無德 光耀中華

證曰 : 陽陰陰陽陽陽在卦為大畜

解曰 : 世界大同之象

Quẻ thứ mười ba: Đại Súc (Thượng Trung)

Hiền bất di dã

Thiên hạ nhất gia

Vô danh vô đức

Quang diệu Trung Hoa

Chứng viết: dương âm âm dương dương dương tại quái vi Đại Súc

Giải viết: thế giới đại đồng chi tượng

Tạm lược dịch:

(chẳng bỏ sót) Người hiền tài (nào cho dù có ở nơi đồng quê) thôn dã

Trên dưới (cùng chung) một nhà

(cho dù) Chẳng (có) danh không (có) đức.

(Thì nước) Trung Hoa (cũng được) sáng sủa

14. 第十四課 ○●○●○● 中下

占得此課 易數乃終

前古後今 其道無窮

證曰 : 陽陰陽陰陽陰在卦為未濟

Quẻ thứ mười bốn (hết): Quẻ Vị Tế (Trung Hạ)

Chiêm đắt thử khóa

Dịch số nãi chung

Tiền cổ hậu kim

Kỳ đạo vô cùng

Chứng viết: dương âm dương âm dương âm tại quái vi Vị Tể

Tạm lược dịch:

Bói được quẻ này

Dịch số bèn hết

Trước cũ sau mới

Đạo ấy vô cùng

Chú thích: Gia Cát Khổng Minh băn khoăn về vận mệnh của nước Trung Hoa ra sao mới gieo thêm quẻ thứ 14, thì lại bị quẻ Vị Tế, có nghĩa là chưa xong, không tốt, cho nên mới tỏ ra lời có vẻ chán chường, nước Trung Hoa quẻ số 13 đã là “Vô danh vô đức” vậy trong tương lai rồi sẽ ra sao ?, lại vẫn chưa xong (Vị Tế) và cũng là quẻ cuối cùng trong 64 quẻ tức là hết rồi “Dịch số nãi chung”, số của Dịch đã hết, không còn có hy vọng nào và quẻ này không có lời giải (giải viết).

(Nguồn tổng hợp)

ưu Bá Ôn (Chữ Hán: 劉伯溫), tên thật là Lưu Cơ (劉基), 1311-1375); là nhà văn, nhà thơ và là công thần khai quốc nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là một trong những nhân vật có nhiều huyền thoại; là người đã đề cao tư tưởng “quan bức, dân phản”, đồng thời là tác giả Mại cam giả ngôn, một tản văn nổi tiếng nhằm đả kích giới “thống trị thối nát”.

Thân thế và sự nghiệp

Lưu Bá Ôn, người huyện Thanh Điền, tỉnh Chiết Giang. Nhờ siêng học, đam mê đọc sách, ông sớm làu thông kinh sử, văn chương, binh pháp và thiên văn. Vào cuối đời nhà Nguyên, ông thi đỗ tiến sĩ, được bổ làm quan; nhưng vì bị chèn ép, chỉ trích nên ông tức giận bỏ về ở ẩn năm 1360.

Khi Chu Nguyên Chương khởi nghiệp, lấy lễ mời ông ra giúp. Ông đệ trình bản Thời vụ thập bát sách (tức 18 sách lược vận dụng trong tình thế đương thời) , liền được tin dùng, cất ngay lên chức Quảng Văn quán Học sĩ. Rồi nhờ những kế sách trên, mà quân nổi dậy lần lượt đánh tan các tập đoàn quân phiệt mạnh như Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành…chiếm lấy các tỉnh vùng hạ lưu sông Trường Giang. Năm 1367, ông lại bày mưu cho Chu Nguyên Chương chiếm Sơn Đông, Hà Nam, rồi tiến đánh kinh đô của nhà Nguyên là Đạo Đô (nay là Bắc Kinh), khiến vua Nguyên Thuận Đế (1333-1370) tháo chạy, triều nguyên sụp đổ. Khi đại cuộc đã định xong, Lưu Bá Ôn được giữ chức Ngự sử trung thừa kiêm Thái sư lệnh, tước Thành Ý Bá. Kể từ đó ông cùng với Tống Liêm(1310-1381) giúp vua chế định mọi công việc, từ khoa cử, hình pháp cho đến lễ nhạc…

Sau thấy Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) rắp tâm hãm hại công thần, tháng 8 năm Hồng Vũ thứ nhất (khoảng tháng 10 năm 1368), ông đệ đơn xin từ chức, nhưng mãi đến năm 1371, ông mới được về nghỉ sau khi từ chối ngôi vị tể tướng.

Về cuối đời, do bất hòa với Tể tướng Hồ Duy Dung, ông buồn rầu mà sinh bệnh. Sau khi uống thuốc, bệnh càng trở nên nguy kịch, và ông mất hơn một tháng sau đó (năm 1375), hưởng thọ 64 tuổi.

Tác phẩm

Tác phẩm của Lưu Bá Ôn có Thành Ý Bá văn tập, gồm 20 quyển, trong đó nổi bật là phần bàn về mưu lược quân sự, mà tiêu biểu là quyển Bách chiến kỳ lược, nêu lên một trăm loại hình tác chiến trong mọi điều kiện, được giới quân sự đánh giá cao.

Huyền thoại

Lưu Cơ truyện trong bộ Minh sử không ghi chép gì về thuật phong thủy của ông. Nhưng dân gian thì lại lưu truyền rất nhiều chuyện, như chuyện Lưu Cơ chọn đất xây cung điện (chép trong Anh liệt truyện), hay chuyện ông cùng các thầy phong thủy huyện Hải Diêm bàn luận về long mạch ở Trung Quốc (chép trong Lạc dao tư ngữ) v.v…

Đề cập đến vấn đề này, sách Bí ẩn của phong thủy có lời bình:

Lưu Cơ về ẩn dật ở quê, nghe nói ông bị Hồ Duy Dung sai thầy thuốc đầu độc mà chết. Trong con mắt các thầy phong thủy, Lưu Cơ là bậc thầy về thần cơ diệu toán, là nhân vật để lại dấu ấn trong lịch sử phong thủy. Với một “thần nhân” như vậy mà không hiểu làm ăn thế nào, để đến nỗi cuối đời, bị bất hạnh, thậm chí bị đầu độc mà chết? Xem ra, thuật phong thủy không cứu nổi con người. Sau khi có lời bàn tương tự, hai tác giả là Đại tá Trần Ngọc Thuận & Trần Thanh Loan đã kết luận rằng:

Lưu Bá Ôn, lúc già bị thất sủng, bị bệnh tật và bị đầu độc chết, Nhân sinh khó tránh thiên mệnh, thế sự suy vi nhân vô thập toàn.Qua đó cho rằng ông chán cảnh đời chán cảnh vua tôi bạc tình đa nghi cho bậc trung thần cứu quốc. Quyết chí đi về cõi thiên thu lánh sự thời gian gian.

Nhận xét tác phẩm

Trong Lịch sử Văn học Trung Quốc tập 3, có giới thiệu vài tác phẩm tiêu biểu của Lưu Bá Ôn kèm theo lời nhận xét, tóm lược như sau:

Tản văn

Bài Mại cam giả ngôn (Lời người bán cam): thông qua cuộc nói chuyện giữa người bán cam và tác giả, bằng giọng văn sắc sảo, sinh động, mạnh mẽ; truyện đã vạch trần và công kích sự thối nát của tầng lớp thống trị…

Bài Tùng phong các kí: lời văn điêu luyện, miêu tả thành công hình tượng và âm thanh của cây thông núi, rất xác thực và sinh động…

Nhưng đặc biệt hơn cả là tập Úc Li tử, gồm 18 chương (195 thiên), bằng thể văn ngụ ngôn, được viết vào đời Nguyên, khi ông còn ở ẩn.

Trong Lời tựa, Từ Nhất Quỳ khi nói đến ý đồ sáng tác của tác giả: có lẽ vì ông muốn uốn nắn cái sai lầm của triều Nguyên, nên gợi ra mà nói. Và Lịch sử Văn học Trung Quốc có lời bình:

Trong tập Úc Li tử, chủ yếu tác giả đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích của tầng lớp thống trị, để gieo rắc nhiều những thứ, như tư tưởng thống trị, quan niệm đạo đức, quan điểm định mệnh theo phong kiến…Tuy nhiên trong đó có không ít truyện ngụ ngôn đã bóc trần được hành vi tội ác bóc lột và lừa gạt nhân dân của tầng lớp thống trị, công kích sự thối nát, bất lực và lòng tham không đáy của họ, như chuyện Dưỡng thư giả (Người nuôi khỉ), Dưỡng Phong giả (Người nuôi ong)…Về mặt nghệ thuật, trongÚc Li tử, mỗi bài thường ngắn gọn, nội dung sinh động, ngôn từ giản đơn, tự nhiên và đều có khả năng đứng độc lập vì chỉ được liên kết nhau qua lời bàn của nhân vật Úc Li Tử.

Thơ ca

Nhìn chung, lời thơ mộc mạc, hào phóng, hùng hồn mang phong cách thơ cổ, làm khơi dậy dòng thơ phục cổ sau này. Lịch sử Văn học Trung Quốc đánh giá:

Nhờ gần gũi nhân dân, nên trong các tác phẩm thơ ca của ông ở thời kì đầu, có không ít bài phản ảnh được hiện thực xã hội, cảm thông được nỗi thống khổ của nhân dân. Như bài Mãi mã từ, Bắc thượng cảm hoài, Tặng Chu Tông Đạo; ông không những chỉ trích gay gắt những quan lại địa phương chiếm đoạt gạo cứu tế, vu cho dân lành là kẻ cướp; mà còn vạch hành vi trần tội ác, thói hay đàn áp của chúng, làm nguy hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Điểm nổi bật nữa là, qua thơ ca, ông đã chỉ ra một chân lí cuộc sống “quan bức, dân phản”…

Thực tế là trong những người tu luyện, hoặc những người có những khả năng đặc biệt, họ có thể thấy được nhiều điều trong tương lai. Tôi xin đóng góp một bài này để tham khảo, dù sao nếu những lời cảnh tỉnh này giúp ích cho việc hồi tâm, chuyển ý, hướng thiện con người ta thì đó cũng là việc nên làm.

Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây

Lời dịch giả: Lịch sử Trung Quốc trải qua nhiều triều đại vua chúa, mỗi một triều đại đều có người tu Đạo, nên đã có một số dự ngôn để lại đời sau, như bài thơ dự ngôn của Bộ Khư Đại Sư đời nhà Từ, “Bài đẩy lưng” của Lý Thuần Phong và Viên Thiên Cang đời nhà Đường (bên cạnh Lý Thái Dân). “Mã tiền khóa” của Khổng Minh thời kỳ chiến quốc. “Mai hoa thơ” củaThiện Ung đời nhà Tống. Bài “Bánh Chiên Ca” của Lưu Bá Ôn đời nhà Minh (bên cạnh Chu Nguyên Chương).

Đến hôm nay thì tất cả dự ngôn ấy đã có người giải ra rất chính xác với chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Người tu Đạo không cầu danh lợi nên những gì họ để lại đời sau chắc chắn không phải khoe tài, có lẽ chỉ nhằm mục đích cảnh tỉnh đời sau là sự việc trên đời đều đã có sự sắp xếp của Trời. Tất cả bài đều nhắc đến cùng một việc là đừng nên bỏ lỡ việc lớn nhứt ở trên đời sẽ xảy ra. Hôm nay có lẽ tất cả những Thần ấy đều có mặt tại đây để nắm giữ cơ hội cuối cùng này. Bài dưới đây là một bài khác của Lưu Bá Ôn đã phát hiện ở trên bia đá, tạm dịch nghĩa nên chắc chắn không chính xác, chỉ để hiểu sơ đại ý bài thơ.

Thiên có nhãn, Địa có nhãn, người người cũng có một đôi nhãn. Thiên cũng lật, Địa cũng lật, tiêu diêu tự tại lạc vô biên. Kẻ nghèo một vạn lưu một ngàn, kẻ giàu một vạn lưu hai ba. Giàu nghèo nếu không hồi tâm chuyển, nhìn xem ngày chết ở nhãn tiền(trước mắt).

Bình địa không có ngũ cốc trồng. Cẩn phòng tứ phương tuyệt khói người. Nếu hỏi ôn dịch hà thời hiện, nên xem giữa tháng 9 tháng 10 mùa đông. Người làm việc thiện thì được thấy, người làm việc ác không được xem. Trên đời có người hành đại thiện, lây bởi kiếp này thật không đáng.

Còn có mười sầu ở trước mắt.

Nhứt sầu thiên hạ loạn khắp nơi. Nhị sầu đông tây người đói chết. Tam sầu hồ rộng bị đại nạn. Tứ sầu các tỉnh khởi lang khói. Ngũ sầu nhân dân không an nhiên. Lục sầu mùa đông giữa tháng chín tháng mười. Thất sầu có cơm không người ăn. Bát sầu có người không áo mặc. Cửu sầu thi thể không người liệm. Thập sầu khó qua năm heo chuột. Nếu được qua khỏi đại kiếp niên, mới tính là thế gian bất lão tiên.

Dù cho là thiết La Hán làm bằng đồng, khó qua mùng mười ba tháng bảy. Cho dù bạn là Kim Cang Thiết La Hán, trừ phi thiện mới được bảo tồn. Cẩn phòng người người khó khăn qua. Ngãi qua thiên phiên năm Rồng Rắn. Ấu nhi giống như Chu Hồng Võ, Tứ Xuyên còn khổ hơn Hán Trung.

Sư tử gầm như Lôi, hơn hẳn trăm cọp hung. Tây giác hiện ra đuôi, bình địa gặp mãnh dược. Nếu hỏi thái bình niên, dựng cầu nghinh tân chủ. Thượng nguyên giáp tử đến, Người người ha ha tiếu. Hỏi bạn cười cái gì? Nghinh tiếp tân địa chủ. Trên quản đất ba tất, tối không nạn trộm cướp. Tuy là mưu vì chủ, chủ ngồi thổ trung ương.

Nhân dân gọi chân chủ, tiền bạc là cái bửu, nhìn thấu dùng không được, nếu thật là cái bửu, lòng đất nứt không ngã.

Bảy người nhứt lộ tẩu, dụ dỗ đã vào khẩu.

Ba chấm cộng một mốc (Chữ Hán ghép lại là chữ Tâm),

Bát Vương nhị thập khẩu (Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện).

Người người đều hỷ cười, ai ai cũng bình an.

Tạm dịch từ Hán văn :

【正见网2003年06月17日】天有眼,地有 眼,人人都有一双眼,天也翻,地也� �,

逍遥自在乐无边,贫者一万留一千,� �者一万留二三,

贫富若不回心转,看看死期在眼前,� �地无有五谷种,

谨防四野绝人烟,若问瘟疫何时现,� �看九冬十月间,

行善之人得一见,作恶之人不得观,� �上有人行大善,

遭了此劫不上算,还有十愁在眼前,� �愁天下乱纷纷,

二愁东西饿死人,三愁湖广遭大难,� �愁各省起狼烟,

五愁人民不安然,六愁九冬十月间,� �愁有饭无人食,

八愁有人无衣穿,九愁尸体无人检,� �愁难过猪鼠年,

若得过了大劫年,才算世间不老仙,� �是铜打铁罗汉,

难过七月初一十三,任你金刚铁罗汉� �除非善乃能保全,

谨防人人艰难过,关过天番龙蛇年,� �儿好似朱洪武,

四川更比汉中苦,

大狮吼如雷,胜过悼百虎,犀牛现出� �,平地遇猛若,

若问大平年,架桥迎新主,上元甲子� �,人人哈哈笑,

问他笑什么?迎接新地主,上管三尺� �,夜无盗贼难,

虽是谋为主,主坐中央土,人民喊真� �,银钱是个宝,

看破用不了,果然是个宝,地下裂不� �,七人一路走,

引诱进了口,三点加一勾,八王二十� �,人人喜笑,个个平安。

Từ bài trên, có tiên đoán về Tứ Xuyên, các bạn thử đối chiếu với trận động đất kinh hoàng vừa rồi, hàng chục nghìn người chết và mất tích. Năm Rồng rắn là hai năm sắp tới 2012 và 2013.

Được đăng từ năm 2003 và có nhiều ý kiến xác thực.

Đây là bản dịch khá chính xác:

Dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn tại núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây

1. Trời có mắt.

2. Đất có mắt.

3. Mọi người đều có hai con mắt.

4. Trời dịch chuyển.

5. Đất dịch chuyển.

6. Sống lâu tự tại nhạc vô biên.

7. Người nghèo thì một vạn (người) còn lại một nghìn.

8. Người giàu thì một vạn còn lại hai ba (người).

9. Giầu nghèo không chịu chuyển hồi tâm.

10. (Hãy) Nhìn xem ngày chết ở trước mắt.

11. Đất bằng không trồng được ngũ cốc.

12. (Nơi) Canh phòng bốn cõi tuyệt không hơi người.

13. Như là có bệnh truyền nhiễm đang hoành hành .

14. Những thấy chín mùa đông dài mười tháng.

15. Người sống thiện có thể nhìn thấy được.

16. Kẻ sống ác thì không được xem.

17. Trên đời có người hành đại thiện.

18. Phải biết rằng gặp kiếp này là không thể mưu tính khác được.

19. Hoàn toàn có thể nhìn thấy mười cái sầu ở trước mắt.

20. Một sầu thiên hạ loạn khắp nơi.

21. Hai sầu đông tây người chết đói

22. Ba sầu hồ nước yểm chứa tai nạn lớn

23. Bốn sầu các tỉnh bốc khí độc (khói tàn ác).

24. Năm sầu thấy nhân dân bất an như thế.

25. Sáu sầu chín mùa đông dài mười tháng

26. Bảy sầu có cơm mà không có người ăn

27. Tám sầu có người không áo mặc.

28. Chín sầu thi thể không người liệm

29. Mười sầu khó qua năm Hợi năm Tí.

30. Vượt qua được năm đại kiếp nạn. (qua được năm Hợi năm Tí)

31. Mới tính (toán thấy) khoảng đời (sống) chẳng (như) lão tiên.

32. Dù cho là Thiết La Hán làm bằng đồng.

33. Khó qua mùng mười ba tháng bảy.

34. Cho dù là Kim Cang Thiết La Hán.

35. Trừ phi tích thiện mới được bảo tồn.

36. Có cẩn thận phòng bị đến đâu cũng khó mà qua được.

37. Cửa vượt Trời lần lượt vào năm Thìn Tỵ.

38. Trẻ em tốt như Chu Hồng Võ. (Trẻ em được chăm sóc tốt như con vua chúa)

39. Tứ Xuyên còn khổ hơn Hán Trung.

40. Sư tử gầm như sấm.

41. Quá thương tiếc trăm hổ.

42. Trâu tê (giác xuất) hiện ở đuôi.

43. Đất bằng có sức mạnh tự nhiên.

44. Hỏi năm thái bình như thế nào.

45. Dựng cầu đón chủ nhân mới.

46. Thượng nguyên Giáp Tí đến. (Thượng nguyên Giáp Tí: Bề trên mới đứng đầu hoa giáp hay người cầm đầu thiên hạ)

47. Người người cười khanh khách.

48. Hỏi sao cười như ma (làm) vậy?

49. Nghênh tiếp chủ đất mới.

50. Trên quản đất ba tất.

51. Tối không nạn trộm cướp.

52. Thôi thì cầu là chủ.

53. Chủ ngồi giữa trung ương.

54. Nhân dân gọi chân chủ.

55. Tiền (bằng) bạc là bảo vật.

56. Khám phá dùng không được.

57. Quả nhiên là bảo vật.

58. Dưới đất nứt không ngã.

59. Bảy người một đường thoát.

60. Dẫn dụ đã vào khẩu.

61. Ba giọt (nước) cộng một móc. (Hình tượng của chữ Tâm 心 ).

62. Tám vua hai mươi miệng. (八王二十口 – Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện, Thiền禪 bộ kỳ 示 ).

63. Người người đều vui cười.

64. Ai ai cũng bình an.

Một điểm lưu ý rằng các xác định thời điểm trong bài này cũng khá giống trong sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là mốc thời gian tương đối và tuyệt đối. Tương đối ở đây là các năm Thìn, Tỵ, Hợi, Tí. Để xác định mốc tuyệt đối có thể thấy ở các câu 38 đến 43.

38. Trẻ em tốt như Chu Hồng Võ.

Chính sách mỗi gia đình Trung Quốc chỉ có một con đã dẫn đến việc nuông chiều trẻ em như những ông hoàng bà chúa.

39. Tứ Xuyên còn khổ hơn Hán Trung.

Hán Trung là một thành phố của tỉnh Thiểm Tây, nơi có bia đá dự ngôn này. Việc so sánh nhằm chỉ ra địa danh Tứ Xuyên. Tứ Xuyên vừa xảy ra động đất do hồ chứa nước.

Sẽ còn một số cảnh báo tiếp

40. Sư tử gầm như sấm.

41. Quá thương tiếc trăm hổ.

42. Trâu tê (giác xuất) hiện ở đuôi.

43. Đất bằng có sức mạnh tự nhiên.

Câu 43 cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thảm họa ở Trung Hoa là các sức mạnh tự nhiên từ mặt đất.

Từ câu 54 đến 64 có thể dịch chính xác là:

54. Nhân dân hỏi chân chủ.

55. Tiền bạc là báu vật.

56. Khám phá dùng không xong.

57. Thật sự là báu vật.

58. Dưới đất nứt không đổ.

59. Bảy người một đường thoát.

60. Dẫn dụ đã vào khẩu.

(nghĩa đen của câu 59-60 là bảy người chỉ có một được thoát vào miệng và đã được dẫn vào. Hai câu này câu hợp thành chữ chân – chân 眞 . Trên có chữ thất 7 七, dưới có chữ người chạy 儿, có chữ nhất dẫn 一 vào chữ khẩu 口, chữ khẩu có hai vạch chia thành ba thành chữ mục 目, hình tượng của dẫn dụ đã vào khẩu)

61. Ba giọt (nước) cộng một móc. (Hình tượng của chữ Tâm 心 ).

62. Tám vua hai mươi miệng. (八王二十口 – Chữ Hán ghép lại thành chữ Thiện, Thiền 禪 bộ kỳ 示 ).

63. Người người đều vui cười.

64. Ai ai cũng bình an. (Báu vật của thế gian chính là chân tâm thiện)

Giải nghĩa:

Nhân dân hỏi chân chủ liệu tiền bạc có phải báu vật không và được trả lời báu vật chính là “chân tâm thiện”, và đây là chân lý để cho cuộc sống phát triển trường tồn.

Nguồn:

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay