Thiên Sứ

Lời Tiên Tri 2012

1.430 bài viết trong chủ đề này

Thiên tai tăng nặng......

=====================

Lở tuyết kinh hoàng ở Afghanistan, 42 người chết

07/03/2012 15:47

(TNO) Các dân làng Afghanistan hôm nay (7.3) đang tìm kiếm trong tuyệt vọng những người sống sót, sau các vụ lở tuyết kinh hoàng tại ba ngôi làng miền đông bắc hẻo lánh đã giết chết ít nhất 42 người, theo AFP.

Thiệt hại nặng nề nhất là tại làng Shirin Nazem, nơi có hơn 200 người thuộc huyện miền núi Shekay ở tỉnh Badakhshan bị chôn vùi, sau khi nhiệt độ khu vực gia tăng khiến những khối tuyết lớn lở xuống.

Posted Image

Afghanistan đang trải qua một mùa đông khắc nghiệt - Ảnh: AFP

Người dân nơi đây, hiện không có sự trợ giúp của quân đội hay cảnh sát, đã tìm thấy thi thể của 37 người và con số người thiệt mạng lo ngại sẽ còn tăng cao, AFP dẫn lời giới chức địa phương cho biết.

Năm người khác đã thiệt mạng trong các vụ lở tuyết nhỏ hơn ở hai ngôi làng gần đó, người phát ngôn tỉnh Badakhshan Abdul Rauf Rasekh nói.

"Chúng tôi đang cố gắng tiếp cận ngôi làng. Cung cấp sự hỗ trợ và giúp cứu người. Chúng tôi sẽ điều trực thăng đến đó", người đứng đầu tổ chức Trăng lưỡi liềm đỏ Badakhshan Sayed Naser Hemat nói với AFP.

"Dân làng đang đào bới trong tuyết để cố gắng giải cứu người bị chôn vùi", ông Hemat nói và cho biết thêm, ông không thể cung cấp thông tin cụ thể do khu vực này quá xa xôi.

Được biết, tại Afghanistan mỗi mùa đông đều có người thiệt mạng do những trận mưa tuyết nặng hạt và các vụ lở tuyết gây ra.

Mùa đông năm nay được coi là khắc nghiệt nhất tại Afghanistan trong vòng 15 năm qua, và chỉ riêng tại tỉnh Badakhshan đã có hơn 80 người chết tính đến thời điểm này.

Trong năm 2010, các trận lở tuyết đã giết chết hơn 150 người đang vượt qua dãy núi Hindu Kush nằm ở phía bắc thủ đô Kabul.

Tiến Dũng

=====================

Tin vắn 7.3.2012

07/03/2012 3:54

QĐã có ít nhất 65 người chết và 2 người mất tích vì bão lũ ở Madagascar, chủ yếu ở khu vực đông nam, tính đến ngày 6.3.

Ngọc Bi

(Theo AFP, Reuters)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tai nạn tăng nặng.......

====================

Cháy dữ dội, thiêu rụi hơn 10 kho hàng

Cập nhật 07/03/2012 07:38:58 PM (GMT+7)

Posted Image - Sau một tiếng nổ lớn, ngọn lửa bùng lên dữ dội tạo thành đám cháy lớn thiêu rụi nhiều kho hàng bên trong bãi chứa hàng của công ty TNHH thương mại dịch vụ vận tải Tân Tiến 180 Thống Nhất (P. Tân Thành, Q. Tân Phú, TP.HCM).

Đám cháy xảy ra vào lúc 16g45 ngày 7/3.

Ông Nguyễn Bảo Thiên, một tài xế đang nhận hàng trong bãi xe thuật lại: “Tôi đang nhận hàng lên xe để đi Quảng Ngãi bỗng dưng có một tiếng nổ lớn phát ra từ kho hàng của tuyến đường Thanh Hóa. Tiếp sau đó lửa bùng lên dữ dội. Không chần chừ, tôi vội đánh xe tránh xa khu vực bị cháy nhìn lại, cả một dãy kho hàng chìm trong biển lửa".

Posted Image

Hiện trường nơi xảy ra cháy

Posted Image

Nhiều hàng hóa làm mồi ngon cho lửa

Tại hiện trường, PV ghi nhận diện tích cháy có thể lên đến 1.500m2 trong khuôn viên bãi xe rộng 10.000m2. Đây là nơi tập kết hàng hóa của bạn hàng gởi về các tỉnh miền Trung.

Một số nhân viên tại đây cho biết, một dãy kho hàng nằm dọc theo sát tường kéo dài khoảng 100m gồm có nhiều kho hàng chứa đầy ắp hàng hóa chuẩn bị bốc lên xe để đi về các tỉnh.

Posted Image

Hàng chục lốp xe cùng nhiều mặt hàng có giá trị đã thành tro đen

Posted Image

Mái nhà kho bị sập cháy cong queo được thu don để lực lượng chữa cháy dập lửa tàn

Có 9 kho dành cho tuyến Quảng Ngãi, 1 kho đi Thanh Hóa và một kho đi Huế cùng một căn nhà vừa nhà ở vừa căn tin bị cháy rụi hoàn toàn.

Lực lượng chữa cháy quận Tân Phú và quận 11 đã huy động nhiều xe chữa cháy tích cực dập lửa trong gần 1 giờ mới khống chế được.

Tuy nhiên, khói vẫn tiếp tục tuôn ra mù mịt và dày đặc bao trùm cả khu dân cư rộng lớn.

Posted Image

Chữa cháy từ bên ngoài nhằm chặn đứng lây lan

Posted Image

Khói và mùi hôi bao trùm khu vực dân cư rộng lớn

Mùi hôi của cao su cháy tỏa ra khiến nhiều người bị ngất. Những nhà có cửa kính đều đóng kín. Nhiều người già và trẻ em đã phải di tản đến nơi an toàn tránh khói.

Đến 18h30, công tác dập lửa tàn vẫn còn tiếp tục.

Hiện chưa có con số thống kê thiệt hại. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều người, số hàng bị cháy có thể lên đến nhiều chục tỉ đồng.

Trần Chánh Nghĩa

Share this post


Link to post
Share on other sites

5 tiên đoán của Alan Phan về kinh tế Việt

Posted ImageNếu sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn.

Như thông lệ mỗi đầu năm, chúng ta đã được đọc rất nhiều bài viết về những dự đoán cho nền kinh tế Việt Nam trong 2012. Từ các chuyên gia có giấy phép và ăn lương chính phủ (trực tiếp hay gián tiếp) đến những định chế tài chính nước ngoài có họat động tại Việt Nam, tất cả đều đưa ra những chỉ số hay bối cảnh tương đối giống nhau. Hai lý do chính: một là mọi người đều dựa vào các số liệu thống kê cung cấp bởi chính phủ và vì tương lai làm ăn của họ cũng tùy thuộc vào chính phủ.

Kết quả của các tiên đoán trong quá khứ

Hôm nọ, có chút thì giờ rảnh rỗi, tôi hỏi anh sinh viên trợ lý, lục soát lại các dự đoán kinh tế về Việt Nam trong 5 năm vừa qua, nhất là vào thời điểm Quý 1. Tôi nhờ anh chia ra 3 kết quả: các dự đoán đúng trên dưới 10%, trên dưới 50% và sai bét. Tỷ lệ cho thấy số sai bét chiếm 46% và số sai trên dưới 50% là 39%. Con số đúng chỉ được 15%. Tuy nhiên, thầy bói vẫn là một nghề đông khách dù có nói trúng hay trật. Và ít người biết được một xảo thuật kiếm tiền của nghề thầy bói là phải "coi mặt mà bắt hình dong". Tiên đoán một tương lai sáng ngời cho mọi ông bà chi tiền sộp là có kỹ năng tiếp thị cao.

Tôi thường không tham dự vào các cuộc tiên đoán hàng năm. Dựa trên thống kê (phải trừ bớt những thổi phồng) hay các trải nghiệm quá khứ (con người luôn luôn tái diễn lịch sử qua các hành động ngu xuẩn về lâu dài) và dựa trên trực giác (rất giống các bà có chồng ngoại tình), tôi hay đưa ra những khuynh hướng (trend) của nền kinh tế vĩ mô hơn là những dự đoán ngắn hạn và không ổn định. Tuy nhiên, hôm nay, nghe lời khích bác của vài anh bạn, tôi thử dùng 3 nguyên tắc nói trên coi các tiên đoán của mình có chính xác hơn không. Nó cũng sẽ định hướng tương lai nghề làm thầy bói của tôi.

Posted Image

Trong các dự đoán thịnh hành, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6% trong 2012, lạm phát xuống còn 9%, tỷ giá đứng yên, cán cân mậu dịch cải thiện 23%, dự trữ ngoại hối tăng 18% v.v... Tóm lại, một nền kinh tế vĩ mô khá ổn định và ấn tượng so với sự suy thoái chậm chạp của toàn cầu.

Những thực tế

Tuy nhiên, nếu các vị quan và các chuyên gia này sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn. Chẳng hạn, nhập siêu giảm mạnh không phải vì xuất khầu tăng vượt tốc, mà vì nhu cầu tiêu dùng cũng như các hoạt động sản xuất đã ngừng trệ. Đây cũng là lý do tỷ giá USD đã không tăng như dự đoán vì người dân đã hết tiền để trữ đô la hay xài hàng nhập khẩu. Khi nền kinh tế suy thoái trầm trọng, lượng cầu tiêu dùng giảm mạnh và lạm phát cũng như lãi suất sẽ giảm theo. Đây không phải là những dấu hiệu tích cực để lạc quan.

Từ góc nhìn này, tôi sẽ đánh liều và tiên đoán các sự kiện nổi bật sau đây của 2012 và vài năm tới:

1. Nhà nước sẽ can thiệp mạnh hơn vào vận hành kinh tế:

Thay vì tiến về nền kinh tế thị trường và để mặc cho mọi thành phần tự điều chỉnh theo khả năng, chính phủ sẽ sử dụng mọi biện pháp hành chính để lèo lái con tàu kinh tế như việc ra quyết nghị cứu thị trường chứng khoán bằng "tái cấu trúc" toàn diện cơ chế. Việc đổ tiền để vực dậy giá trị bất động sản đang được nghiên cứu, cũng như phương thức thu góp hết vàng trong dân để chuyền thành ngoại hối hay tiền đồng.

Để tránh những bất ổn xã hội, khuynh hướng kiểm soát giá cả sẽ gia tăng và xăng dầu cũng như điện nước sẽ được tiếp tục hỗ trợ (subsidy).

Ngân sách nhà nước sẽ tăng thay vì giảm, nợ công tiếp tục tăng vì đầu tư công vào các dự án khủng hay cơ sở hạ tầng cần được duy trì để tạo bộ mặt bền vững.

Đây cũng là tin khá tốt cho nền kinh tế dựa vào chi tiêu công và quan hệ thân hữu. Doanh nghiệp nhà nước sẽ dồi dào nguồn vốn và tha hồ lợi dụng lợi thế của mình. Doanh nhiệp tư nhân làm ăn nhiều với chính phủ có thể hưởng tăng trưởng tốt trong những năm suy thoái tới.

2. Vàng và dầu sẽ gây lao đao cho tỷ giá và lạm phát

Tuy nhiên, các động thái can thiệp nói trên sẽ không có ảnh hưởng lâu dài vì hai yếu tố toàn cầu: giá vàng và dầu hỏa. Việc in tiền của Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB) để cứu các ngân hàng lớn trong khối Euro và gói kích cầu số 3 (QE 3) của Cơ quan Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục đẩy giá vàng và dầu hỏa lên và giá trị các bản vị USD hay Euro sẽ từ từ hạ giá, dù suy thoái toàn cầu sẽ làm quá trình này chậm lại. Một biến cố lớn ở Trung Đông hay Trung Quốc sẽ thay đổi hoàn toàn mọi dự đoán.

Tương tự, nền kinh tế suy thoái của Việt Nam sẽ giúp lạm phát và tỷ giá không gia tăng nhiều. Tuy nhiên, khi dòng tiền nhàn rỗi chạy theo cơn sốt vàng và dầu hỏa, các biến động và ảnh hưởng trên mọi hoạt động kinh tế tài chính sẽ khó cân bằng. Những chính sách nghị quyết sẽ bay theo mộng tưởng. Tất cả mọi chỉ tiêu về vĩ mô cũng như cán cân thương mại và các gói kích cầu hỗ trợ ngân hàng, chứng khoán và bất động sản sẽ trở nên bất khả thi và tương lai tùy thuộc vào "may rủi" nhiều hơn là hoạch định.

3.Các phi vụ M&A sẽ gia tăng mạnh

Một điều chắc chắn là trong tình trạng bất ổn, lĩnh vực thu tóm và sát nhập công ty sẽ tăng trưởng tốt. Thị trường tài chính thế giới luôn luôn có những dòng tiền mặt khá lớn để mua tài sản bán tháo. Phần lớn các nhà đầu tư nội địa, từng đổ tiền vào chứng khoán và bất động sản các năm trước, sẽ tham gia hăng hái vào cuộc săn đuổi này. Do đó mà tại sao tôi nói là trong 10 năm tới, rất nhiều tài sản sẽ đổi chủ và sẽ có những đại gia mới của Việt Nam lợi dụng cơ hội để kiếm tiền siêu tốc. Và ngược lại, nhiều siêu sao đang cháy sáng lúc này sẽ đi vào quên lãng.

Dù họ rất sẵn tiền, nhưng tôi nghĩ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham dự các phi vụ M&A một cách giới hạn. Các rào cản về thủ tục pháp lý, về lối thoát (exit), về quản trị địa phương và về bất ổn vĩ mô vẫn còn nhiều và sự thiếu minh bạch của các đối tác điều hành vẫn gây nhiều lo ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài.

4. Hàng Trung Quốc sẽ tràn ngập gây khó khăn cho hàng nội địa

Trung Quốc hy vọng sẽ chỉ giảm tăng trưởng GDP xuống 7.5% so với 9.2% năm 2011. Sản xuất công nghiệp sẽ chịu nhiều tác động nhất vì sự đầu tư vào các nhà máy gần đây luôn vượt quá nhu cầu của thế giới, nhất là các hàng tiêu dùng và điện tử. Trong khi đó, với suy thoái tại Âu Châu và Nhật Bản và "dậm chân tại chỗ" của kinh tế Mỹ, những nơi còn lại để Trung Quốc bán tháo hàng rẻ tiền là các quốc gia mới nổi, nhất là các láng giềng.

Ba lợi thế cạnh tranh đáng kể của hàng Trung Quốc:

(a) tỷ giá RMB dưới giá trị thực khoảng 26% (trong khi VND trên giá trị thực gần 14%) tạo một khác biệt chừng 40% trên giá thành;

( B) hệ thống tiếp liệu các linh kiện và hiệu năng sản xuất cùng công nghệ hiện đại tạo một thành phẩm có giá trị cao;

(c ) thị trường nội địa Tàu rộng lớn tạo lợi điểm chuyển giá theo nhu cầu và đặc điểm của thị trường xuất khẩu.

Mặc cho khẩu hiệu "người Việt dùng hàng Việt", khách hàng trong thời buổi kiệm ước sẽ lựa chọn túi tiền và các nhà sản xuất Việt có sản phẩm tương tự như Trung Quốc sẽ gặp khốn khó.

5. Thị trường bất động sản có thể thoát hiểm với luật đất đai mới

Việc không áp đặt luật về hộ khẩu và những cải tổ sâu rộng về luật bất động sản bên Trung Quốc khiến nhiều đại gia Việt hưng phấn chờ đợi. Tôi nghĩ đây là một cú hích quan trọng có thể gây một cơn sốt mới cho giá trị bất động sản ở Việt Nam vì lý do đơn giản là người có tiền ở Việt Nam không có nhiều lựa chọn về đầu tư. Hai yếu tố quan trọng khác là sự thu hút đầu tư mới của Việt kiều và các quỹ nước ngoài.

Thêm vào đó, hiện các nhóm lợi ích trong ngân hàng, quỹ đầu tư, tập đoàn kinh tế, tổng công ty... đang nắm giữ một số lượng tài sản rất lớn liên quan đến địa ốc. Việc tăng giá trị bất động sản xuyên qua việc thay đổi luật nhà đất là một việc mọi người mọi nhóm đều nhất trí đoàn kết để đạt mục tiêu. Chuyện oái oăm là nếu không nhờ cái luật nhà đất bất công ngày xưa, các nhóm này đã không giàu và quyền lực như ngày nay. Dù sao, qua sông rồi thì phải đắm đò, Tôn Tử dạy thế.

Tuy nhiên theo nhận xét cá nhân về quy trình để thay đổi luật lệ tại Việt Nam, tôi thấy thủ tục cũng nhiêu khê và đòi hỏi rất nhiều quyết đoán từ các cấp lãnh đạo. Tôi không lạc quan như các đại gia bất động sản, nhưng dù là cơ hội thay đổi có ít hơn 50%, đây cũng có thể là một cú ngoặt đáng kể trong sự phát triển kinh tế.

Tóm lại, đó là 5 sự kiện tôi cho là sẽ đánh dấu ấn trên nền kinh tế tài chính của Việt nam trong 2012.

T/S Alan Phan

Thùy link: http://vietnamnet.vn...nh-te-viet.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

5 tiên đoán của Alan Phan về kinh tế Việt

Posted ImageNếu sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn.

Như thông lệ mỗi đầu năm, chúng ta đã được đọc rất nhiều bài viết về những dự đoán cho nền kinh tế Việt Nam trong 2012. Từ các chuyên gia có giấy phép và ăn lương chính phủ (trực tiếp hay gián tiếp) đến những định chế tài chính nước ngoài có họat động tại Việt Nam, tất cả đều đưa ra những chỉ số hay bối cảnh tương đối giống nhau. Hai lý do chính: một là mọi người đều dựa vào các số liệu thống kê cung cấp bởi chính phủ và vì tương lai làm ăn của họ cũng tùy thuộc vào chính phủ.

Kết quả của các tiên đoán trong quá khứ

Hôm nọ, có chút thì giờ rảnh rỗi, tôi hỏi anh sinh viên trợ lý, lục soát lại các dự đoán kinh tế về Việt Nam trong 5 năm vừa qua, nhất là vào thời điểm Quý 1. Tôi nhờ anh chia ra 3 kết quả: các dự đoán đúng trên dưới 10%, trên dưới 50% và sai bét. Tỷ lệ cho thấy số sai bét chiếm 46% và số sai trên dưới 50% là 39%. Con số đúng chỉ được 15%. Tuy nhiên, thầy bói vẫn là một nghề đông khách dù có nói trúng hay trật. Và ít người biết được một xảo thuật kiếm tiền của nghề thầy bói là phải "coi mặt mà bắt hình dong". Tiên đoán một tương lai sáng ngời cho mọi ông bà chi tiền sộp là có kỹ năng tiếp thị cao.

Tôi thường không tham dự vào các cuộc tiên đoán hàng năm. Dựa trên thống kê (phải trừ bớt những thổi phồng) hay các trải nghiệm quá khứ (con người luôn luôn tái diễn lịch sử qua các hành động ngu xuẩn về lâu dài) và dựa trên trực giác (rất giống các bà có chồng ngoại tình), tôi hay đưa ra những khuynh hướng (trend) của nền kinh tế vĩ mô hơn là những dự đoán ngắn hạn và không ổn định. Tuy nhiên, hôm nay, nghe lời khích bác của vài anh bạn, tôi thử dùng 3 nguyên tắc nói trên coi các tiên đoán của mình có chính xác hơn không. Nó cũng sẽ định hướng tương lai nghề làm thầy bói của tôi.

Posted Image

Trong các dự đoán thịnh hành, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 6% trong 2012, lạm phát xuống còn 9%, tỷ giá đứng yên, cán cân mậu dịch cải thiện 23%, dự trữ ngoại hối tăng 18% v.v... Tóm lại, một nền kinh tế vĩ mô khá ổn định và ấn tượng so với sự suy thoái chậm chạp của toàn cầu.

Những thực tế

Tuy nhiên, nếu các vị quan và các chuyên gia này sống thực trong một xã hội đụng chạm với thực tế hàng ngày, như các doanh nghiệp tư nhân nhỏ vừa hay các nhân viên sống nhờ đồng lương, họ sẽ nhận ra vài điều đáng buồn. Chẳng hạn, nhập siêu giảm mạnh không phải vì xuất khầu tăng vượt tốc, mà vì nhu cầu tiêu dùng cũng như các hoạt động sản xuất đã ngừng trệ. Đây cũng là lý do tỷ giá USD đã không tăng như dự đoán vì người dân đã hết tiền để trữ đô la hay xài hàng nhập khẩu. Khi nền kinh tế suy thoái trầm trọng, lượng cầu tiêu dùng giảm mạnh và lạm phát cũng như lãi suất sẽ giảm theo. Đây không phải là những dấu hiệu tích cực để lạc quan.

Từ góc nhìn này, tôi sẽ đánh liều và tiên đoán các sự kiện nổi bật sau đây của 2012 và vài năm tới:

1. Nhà nước sẽ can thiệp mạnh hơn vào vận hành kinh tế:

Thay vì tiến về nền kinh tế thị trường và để mặc cho mọi thành phần tự điều chỉnh theo khả năng, chính phủ sẽ sử dụng mọi biện pháp hành chính để lèo lái con tàu kinh tế như việc ra quyết nghị cứu thị trường chứng khoán bằng "tái cấu trúc" toàn diện cơ chế. Việc đổ tiền để vực dậy giá trị bất động sản đang được nghiên cứu, cũng như phương thức thu góp hết vàng trong dân để chuyền thành ngoại hối hay tiền đồng.

Để tránh những bất ổn xã hội, khuynh hướng kiểm soát giá cả sẽ gia tăng và xăng dầu cũng như điện nước sẽ được tiếp tục hỗ trợ (subsidy).

Ngân sách nhà nước sẽ tăng thay vì giảm, nợ công tiếp tục tăng vì đầu tư công vào các dự án khủng hay cơ sở hạ tầng cần được duy trì để tạo bộ mặt bền vững.

Đây cũng là tin khá tốt cho nền kinh tế dựa vào chi tiêu công và quan hệ thân hữu. Doanh nghiệp nhà nước sẽ dồi dào nguồn vốn và tha hồ lợi dụng lợi thế của mình. Doanh nhiệp tư nhân làm ăn nhiều với chính phủ có thể hưởng tăng trưởng tốt trong những năm suy thoái tới.

2. Vàng và dầu sẽ gây lao đao cho tỷ giá và lạm phát

Tuy nhiên, các động thái can thiệp nói trên sẽ không có ảnh hưởng lâu dài vì hai yếu tố toàn cầu: giá vàng và dầu hỏa. Việc in tiền của Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB) để cứu các ngân hàng lớn trong khối Euro và gói kích cầu số 3 (QE 3) của Cơ quan Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục đẩy giá vàng và dầu hỏa lên và giá trị các bản vị USD hay Euro sẽ từ từ hạ giá, dù suy thoái toàn cầu sẽ làm quá trình này chậm lại. Một biến cố lớn ở Trung Đông hay Trung Quốc sẽ thay đổi hoàn toàn mọi dự đoán.

Tương tự, nền kinh tế suy thoái của Việt Nam sẽ giúp lạm phát và tỷ giá không gia tăng nhiều. Tuy nhiên, khi dòng tiền nhàn rỗi chạy theo cơn sốt vàng và dầu hỏa, các biến động và ảnh hưởng trên mọi hoạt động kinh tế tài chính sẽ khó cân bằng. Những chính sách nghị quyết sẽ bay theo mộng tưởng. Tất cả mọi chỉ tiêu về vĩ mô cũng như cán cân thương mại và các gói kích cầu hỗ trợ ngân hàng, chứng khoán và bất động sản sẽ trở nên bất khả thi và tương lai tùy thuộc vào "may rủi" nhiều hơn là hoạch định.

3.Các phi vụ M&A sẽ gia tăng mạnh

Một điều chắc chắn là trong tình trạng bất ổn, lĩnh vực thu tóm và sát nhập công ty sẽ tăng trưởng tốt. Thị trường tài chính thế giới luôn luôn có những dòng tiền mặt khá lớn để mua tài sản bán tháo. Phần lớn các nhà đầu tư nội địa, từng đổ tiền vào chứng khoán và bất động sản các năm trước, sẽ tham gia hăng hái vào cuộc săn đuổi này. Do đó mà tại sao tôi nói là trong 10 năm tới, rất nhiều tài sản sẽ đổi chủ và sẽ có những đại gia mới của Việt Nam lợi dụng cơ hội để kiếm tiền siêu tốc. Và ngược lại, nhiều siêu sao đang cháy sáng lúc này sẽ đi vào quên lãng.

Dù họ rất sẵn tiền, nhưng tôi nghĩ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham dự các phi vụ M&A một cách giới hạn. Các rào cản về thủ tục pháp lý, về lối thoát (exit), về quản trị địa phương và về bất ổn vĩ mô vẫn còn nhiều và sự thiếu minh bạch của các đối tác điều hành vẫn gây nhiều lo ngại cho các nhà đầu tư nước ngoài.

4. Hàng Trung Quốc sẽ tràn ngập gây khó khăn cho hàng nội địa

Trung Quốc hy vọng sẽ chỉ giảm tăng trưởng GDP xuống 7.5% so với 9.2% năm 2011. Sản xuất công nghiệp sẽ chịu nhiều tác động nhất vì sự đầu tư vào các nhà máy gần đây luôn vượt quá nhu cầu của thế giới, nhất là các hàng tiêu dùng và điện tử. Trong khi đó, với suy thoái tại Âu Châu và Nhật Bản và "dậm chân tại chỗ" của kinh tế Mỹ, những nơi còn lại để Trung Quốc bán tháo hàng rẻ tiền là các quốc gia mới nổi, nhất là các láng giềng.

Ba lợi thế cạnh tranh đáng kể của hàng Trung Quốc:

(a) tỷ giá RMB dưới giá trị thực khoảng 26% (trong khi VND trên giá trị thực gần 14%) tạo một khác biệt chừng 40% trên giá thành;

( B) hệ thống tiếp liệu các linh kiện và hiệu năng sản xuất cùng công nghệ hiện đại tạo một thành phẩm có giá trị cao;

(c ) thị trường nội địa Tàu rộng lớn tạo lợi điểm chuyển giá theo nhu cầu và đặc điểm của thị trường xuất khẩu.

Mặc cho khẩu hiệu "người Việt dùng hàng Việt", khách hàng trong thời buổi kiệm ước sẽ lựa chọn túi tiền và các nhà sản xuất Việt có sản phẩm tương tự như Trung Quốc sẽ gặp khốn khó.

5. Thị trường bất động sản có thể thoát hiểm với luật đất đai mới

Việc không áp đặt luật về hộ khẩu và những cải tổ sâu rộng về luật bất động sản bên Trung Quốc khiến nhiều đại gia Việt hưng phấn chờ đợi. Tôi nghĩ đây là một cú hích quan trọng có thể gây một cơn sốt mới cho giá trị bất động sản ở Việt Nam vì lý do đơn giản là người có tiền ở Việt Nam không có nhiều lựa chọn về đầu tư. Hai yếu tố quan trọng khác là sự thu hút đầu tư mới của Việt kiều và các quỹ nước ngoài.

Thêm vào đó, hiện các nhóm lợi ích trong ngân hàng, quỹ đầu tư, tập đoàn kinh tế, tổng công ty... đang nắm giữ một số lượng tài sản rất lớn liên quan đến địa ốc. Việc tăng giá trị bất động sản xuyên qua việc thay đổi luật nhà đất là một việc mọi người mọi nhóm đều nhất trí đoàn kết để đạt mục tiêu. Chuyện oái oăm là nếu không nhờ cái luật nhà đất bất công ngày xưa, các nhóm này đã không giàu và quyền lực như ngày nay. Dù sao, qua sông rồi thì phải đắm đò, Tôn Tử dạy thế.

Tuy nhiên theo nhận xét cá nhân về quy trình để thay đổi luật lệ tại Việt Nam, tôi thấy thủ tục cũng nhiêu khê và đòi hỏi rất nhiều quyết đoán từ các cấp lãnh đạo. Tôi không lạc quan như các đại gia bất động sản, nhưng dù là cơ hội thay đổi có ít hơn 50%, đây cũng có thể là một cú ngoặt đáng kể trong sự phát triển kinh tế.

Tóm lại, đó là 5 sự kiện tôi cho là sẽ đánh dấu ấn trên nền kinh tế tài chính của Việt nam trong 2012.

T/S Alan Phan Thùy link: http://vietnamnet.vn...nh-te-viet.html

==================

Như vậy là Tiến sĩ Alan Phan chuyển sang nghề xem bói ....như tôi. Hi. Đương nhiên thời buổi kinh tế suy thoái tàn cầu đã chứng tỏ sự bất lực của các chuyên gia kinh tế sừng sỏ. Họ không tìm được lối thoát cho nền kinh tế thì việc họ chuyển nghề sang làm thày bói là hợp lý.

Posted Image
2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tai nạn tăng nặng.....

===================

Xe tải lao xuống sông ở Uganda, 23 người chết

08/03/2012 8:26

(TNO) Cảnh sát Uganda ngày 7.3 thông báo 23 người đã thiệt mạng sau khi một xe tải chở họ lao xuống sông ở thị trấn tây bắc Arua.

Phát ngôn viên cảnh sát Uganda Asuman Mugenyi cho Tân Hoa xã hay vụ tai nạn xảy ra sáng 6.3 khi xe tải chạy từ thị trấn Zombo đến Arua thì lao xuống sông Al thuộc huyện Vuura Sub, cách Aura 12km.

Ông Mugenyi nói rõ: “Trong 23 thi thể được vớt lên, 22 thi thể đã được người thân mang về và một thi thể còn lại chưa được nhận dạng. Cây cầu có vấn đề. Gỗ trên cầu đã mục. Khi xe tải chạy lên, nó bị gãy, khiến xe rơi xuống sông”.

Cảnh sát cho hay có 8 người sống sót từ vụ tai nạn, trong khi số người chính xác trên xe vẫn chưa được xác định. Cảnh sát nói có tổng cộng 31 người, truyền thông địa phương thì đưa ra con số 34.

Vụ tại nạn trên xảy ra chỉ 3 ngày sau khi một xe tải chở nhiều người đi chợ tuần ở Uganda lao xuống vực sâu, khiến 50 người chết.

Văn Khoa

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sẽ xẩy ra chiến tranh cấp quốc gia......

==================================

'Trung Đông sẽ chìm trong lửa'

VnExpress

Thứ năm, 8/3/2012, 16:04 GMT+7

Cuộc chiến tranh giữa Iran và Israel là không thể tránh khỏi, vì thế hãy mua vàng hoặc cổ phiếu, một nhà quản lý tài chính và chuyên gia đầu tư của Thụy Sĩ, cảnh báo.

Israel vẫn muốn tấn công

Tấn công Iran, Israel sẽ sụp đổ

"Nguy cơ chính trị trong 6 tháng qua ở mức cao và nay đang cao lên. Tôi nghĩ sớm hay muộn, Mỹ hoặc Israel sẽ tấn công Iran - không thể khác được", Marc Faber, tác giả cuốn cẩm nang đầu tư nhiều người đọc mang tên Gloom Boom and Doom Report, phát biểu với hãng tin Reuters bên lề một hội nghị đầu tư.

Posted Image

Pháo phòng không Iran trong một cuộc tập trận gần đây. Ảnh: AP

Mức độ căng thẳng quanh chương trình hạt nhân của Iran ngày càng gia tăng. Israel lo ngại Tehran sẽ tiếp tục tiến lên trong chương trình nguyên tử gây tranh cãi. Phương Tây cho rằng Iran muốn chế tạo vũ khí hạt nhân và đang gấp rút làm giàu uranium để đi đến mục tiêu đó. Tehran thì khẳng định họ chỉ nhắm đến các mục tiêu sản xuất điện, nghiên cứu khoa học và y tế.

Tel Aviv nhiều lần công khai ý muốn tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran, trong khi chính phủ Mỹ muốn có thêm thời gian thực hiện các biện pháp trừng phạt. Trong cuộc gặp thu hút sự chú ý của toàn thế giới hôm 6/3 vừa rồi, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết một cuộc tấn công quá sớm sẽ không phải là điều mà Mỹ muốn.

Video: Tàu sân bay Mỹ qua eo biển Hormuz, bị tàu Iran theo dõi

Video: Hoạt động của chiến đấu cơ trên tàu sân bay Mỹ

Tuy nhiên Thủ tướng Israel Netanyahu không vì thế mà tỏ ra chùn bước. Các quan chức khác ở Tel Aviv cũng lo ngại rằng nếu Iran kịp phát triển vũ khí hạt nhân như họ đang nghi ngờ, thì Israel sẽ phải chịu "bóng tối của sự diệt vong".

"Nếu chiến tranh xảy ra ở Trung Đông hay bất kỳ nơi nào khác", Faber nói, "ông Bernanke sẽ in tiền. Chả có cách nào khác... vậy phải mua vàng hoặc cổ phiếu".

Nhà phân tích tài chính này cũng cho rằng nguy cơ chiến tranh Trung Đông lớn lên bởi phương Tây cần kiềm chế Trung Quốc về mặt kinh tế, tức là bằng cách gây bất ổn cho dòng nhiên liệu vào Trung Quốc - nước phụ thuộc vào dầu mỏ Trung Đông. "Tôi nghĩ là Trung Đông sẽ bốc cháy", ông nói thêm.

Giá dầu lửa thế giới hiện ở mức cao trong vòng 5 tháng qua, dao động quanh 123 USD mỗi thùng, một phần do các căng thẳng chính trị ở Trung Đông như Iran và Syria.

Tháng trước, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, trong một báo cáo, nhận định rằng Israel có thể sẽ tấn công Iran trong mùa xuân này. Một số tướng lĩnh Nga cũng cho là Tel Aviv sẽ thực hiện một cuộc tấn công chớp nhoáng vào Iran trước mùa hè.

Mai Trang

==================================

Thật là một điều buồn! Chỉ khốn khổ cho thân phận dân lành trong khói lửa chiến chinh. Thiên Sứ tui vẫn xác định rằng: "Kẻ nào nổ súng trước trong cuộc chiến thì dù có chiến thắng cũng phải gánh chịu sự tàn phá nặng nề của cuộc chiến!"

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sẽ xẩy ra chiến tranh cấp quốc gia......

==================================

'Israel có thể đánh Iran sau bầu cử ở Mỹ'

Tel Aviv được cho là sẽ chờ cho tới sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm nay, để tiến hành oanh kích các cơ sở hạt nhân của Tehran.

Posted Image

Các máy bay chiến đấu F-15 của Israel sẽ phải chờ tới sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ mới được xuất kích: Ảnh: AFP

TNew York Post dẫn lại thông tin từ báo Anh cho hay đây là nội dung của một thỏa thuận được Mỹ và Israel bí mật thông qua hồi tuần trước.

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày mai dự kiến tái khẳng định với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu trong cuộc gặp tại Nhà Trắng rằng Washington sẽ đảm bảo Iran không thể chế tạo một vũ khí hạt nhân, và Tel Aviv không nên nôn nóng tấn công.

Theo báo Anh nói trên, một nguồn tin thân cận với thủ tướng Israel cho hay ông Netanyahu sẽ không làm cản trở con đường tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông Obama. Một cuộc chiến ngay trước cuộc bầu cử sẽ không có lợi cho đương kim tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, nguồn tin trên cũng khẳng định nếu ông Obama không giữ lời hứa ngăn chặn Iran có được vũ khí hạt nhân, Israel sẽ "động binh".

Căng thẳng giữa Mỹ và Israel xoay quanh chương trình hạt nhân của Iran gia tăng trong những tháng qua. Nhiều quan chức cấp cao của Israel, trong đó có Tổng thống Shimon Peres và Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak muốn đánh ngay, trước khi Tehran - bị nghi là - phát triển được vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, Washington lại lựa chọn các lệnh trừng phạt nhằm gây sức ép với Iran.

Tổng thống Mỹ mới đây cảnh báo một cuộc tấn công quá sớm nhằm vào Iran sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường, trong khi Thủ tướng Israel lại cho hay nước ông có quyền tự vệ. Đáp lại sự nôn nóng của Tel Aviv, Bộ trưởng Quốc phòng Iran Ahmad Vahidi tuyên bố nếu Israel tấn công Tehran, nhà nước Do Thái sẽ diệt vong.

Nguy cơ về một cuộc chiến nhằm vào Iran càng được nhắc tới nhiều hơn sau khi hải quân Mỹ và các nước khác mới đây có cuộc tập trận đổ bộ ở bờ đông nước Mỹ, theo kịch bản nhằm vào một đối phương giả định có nhiều điểm tương đồng với Iran. Tàu sân bay USS Abraham Lincoln của Mỹ còn vượt qua eo biển Hormuz và tiến sát một số tàu hải quân Iran. Tehran đáp trả bằng cách liên tiếp tiến hành các cuộc tập trận, và mới đây còn đưa tàu chiến tới Syria.

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sẽ diễn ra vào tháng 11 năm nay. Đương kim Tổng thống Obama sẽ cạnh tranh với một ứng viên chưa xác định của đảng Cộng hòa.

Hà Giang

Israel muốn Mỹ 'cấp bom để đánh Iran'

Tel Aviv đã đề nghị Washington cung cấp loại bom công phá boongke hạng nặng cùng các máy bay tiếp liệu trên không nhằm tăng khả năng tấn công các cơ sở hạt nhân ngầm của Iran, một quan chức Israel cho biết.

úng là yêu cầu đó đã được đưa ra" trong thời gian Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu thăm Mỹ, một quan chức ở Tel Aviv cho Reuters biết, xác nhận thông tin trên báo chí nước này. Tuy nhiên ông bác bỏ thông tin "không chính xác" rằng Israel chỉ có thể được cung cấp nếu chấp nhận điều kiện của Mỹ là không tấn công Iran trong năm nay.

Ông Netanyahu vừa có cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Obama đầu tuần này với chủ đề chính là Iran. Hai nhà lãnh đạo bất đồng với nhau về cách thức đối phó với chương trình hạt nhân của Iran. Trong khi Israel tỏ ra nôn nóng muốn tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran thì Obama lại tuyên bố các bên cần thêm thời gian, để các lệnh trừng phạt đối với Iran phát huy hiệu quả và buộc nước này từ bỏ tham vọng hạt nhân.

Posted Image

Máy bay tiêm kích của Israel, loại có thể sử dụng trong các màn tấn công phủ đầu. Ảnh: Wikia

Tuy nhiên thủ tướng Israel hàm ý rằng Tel Aviv có thể sẽ quyết định dùng vũ lực để đối phó với Iran nếu Tehran vẫn bất chấp sức ép của các nước lớn mà tiếp tục chương trình bị nghi ngờ là nhằm phát triển vũ khí nguyên tử.

Nguy cơ chiến tranh Iran - Israel rõ ràng không phải là điều vui vẻ gì đối với ông Obama, người sẽ đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ tháng 11 này. Xung đột ở Iran sẽ đẩy giá dầu mỏ thế giới lên cao chót vót và ảnh hưởng đến kinh tế Mỹ cũng như toàn cầu.

Israel được cho là quốc gia duy nhất ở Trung Đông có vũ khí hạt nhân, tuy nhiên kho vũ khí thông thường của nước này có thể không đủ mạnh để gây hại lâu dài cho các cơ sở hạt nhân xa xôi, cách trở và được phòng thủ mạnh của Iran. Bom chống boongke của Israel cũng bị coi là lạc hậu, cỡ nhỏ; đội phi cơ tiếp liệu của Israel ít về số lượng.

Ảnh: Tiềm lực quân sự của Israel Theo kịch bản mà các nhà chiến lược quân sự Mỹ phân tích, nếu Israel tấn công Iran, họ chỉ có con đường là không kích. Chặng đường từ quốc gia Do Thái sang nước Cộng hòa Hồi giáo - dù bay trực tiếp qua Iraq hay vòng lên/xuống phía bắc/nam đều đòi hỏi các phi cơ tiếp liệu. Các máy bay ném bom của Israel, nếu thực hiện cuộc tấn công, sẽ phải bay chặng đường dài và trên một số không phận thù địch.

Posted Image

Các tuyến bay mà Israel có thể dùng nếu tấn công Iran. Tuy nhiên các nhà phân tích cho rằng tiềm lực oanh kích của Israel đối với Iran còn hạn chế. Đồ họa: NYT.

Mỹ hiện có loại bom xuyên phá siêu mạnh với khối lượng lên đến 14 tấn, là một sản phẩm của hãng Boeing. Nó được trang bị hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu và có thể được đưa lên các máy bay ném bom B-2 hoặc B-3. Bom mang theo lượng chất nổ lên tới 2,5 tấn, giúp nó có khả năng xuyên phá tới một mục tiêu ở sâu dưới lòng đất hơn 60 m.

Tư lệnh không quân Mỹ không xác nhận tin cho rằng Mỹ phát triển loại bom này là để đối phó với các cơ sở hạt nhân ngầm của Iran, nhưng khẳng định không quân Mỹ luôn sẵn sàng cho mọi tình huống, kể cả chiến tranh.

Mai Trang

Israel đánh hay không đánh Iran?

Một lần nữa, một cuộc chiến chống lại một quốc gia Hồi giáo đang dần thành hình hài. Lần này, đó là Iran.

Những lời dọa dẫm về chiến tranh đã dền dứ suốt hàng tháng qua, và khi Tổng thống Barack Obama gặp Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu thì khả năng chiến tranh trở nên rõ nét hơn. Và mục tiêu là Iran.

Với một cuộc chiến kết thúc không như mong muốn ở Iraq, một thất bại còn tệ hại hơn ở Afghanistan án ngữ trước mặt, ông Obama giờ đang bị hút vào cuộc xung đột với Iran. Ông biết rõ rằng điều này có thể mở ra hàng loạt hậu quả khôn lường tại khu vực Trung Đông đầy bất ổn. Điều này chắc chắn sẽ đẩy giá dầu lên cao chất ngất và suy thoái trở lại, và xóa sạch cơ hội tái đắc cử của ông. Ông cũng hiểu rõ ràng nếu như Israel "đơn thương độc mã" trong cuộc chiến này, điều đó cũng không có nghĩa là Mỹ sẽ không bị thế giới Hồi giáo chỉ trích, đơn giản vì Mỹ là đồng minh của Israel.

Posted Image

Israel cũng làm rõ một điều rằng, cho dù họ muốn Mỹ đánh bom các cơ sở hạt nhân của Iran, họ vẫn chuẩn bị sẵn tư thế tiến hành một việc nếu cần. Thực tế, Israel đang nói với Mỹ rằng: nếu như anh không thể cùng tham gia với tôi, thì ít nhất cũng đừng gây trở ngại cho tôi trong những việc mà tôi nghĩ rằng hoàn toàn cần thiết để ngăn chặn hay là trì hoãn bước tiến của Iran đến với vũ khí hạt nhân. Anh có thể tác động để trì hoãn thêm thời gian nếu như các lệnh trừng phạt của anh có tác dụng. Nhưng chúng tôi có rất ít thời gian vì nếu tôi chờ đợi thêm thì các có sở hạt nhân của Iran sẽ được đặt khắp nơi, và ở sâu trong lòng đất, và lúc đấy thì vũ khí của chúng tôi sẽ chẳng có tác dụng gì nữa.

Còn đây là thông điệp của Mỹ muốn nói với Israel: Anh chỉ có thể trì hoãn việc Iran có bom hạt nhân, chứ không thể ngăn được việc này, và một khi anh tấn công thì Iran sẽ trở thành nạn nhân, khiến cho những người bị chia rẽ cùng đoàn kết lại, và rồi tất cả đồng loạt lên tiếng vì vụ tấn công. Chúng tôi không tin rằng Iran đã đưa ra quyết định cuối cùng về việc nên hay không nên quân sự hóa chương trình hạt nhân của họ.

Israel lại nói với Mỹ rằng: Đừng coi thường sức mạnh từ thời gian trì hoãn đó. Khi chúng ta tôi công các cơ sở hạt nhân của Iraq vào năm 1981, sự trì hoãn đó tốn của chúng ta và cả thế giới hàng năm trời. Gần đây hơn, chúng tôi tấn công cơ sở chế tạo bom của Syria và bây giờ thì tình hình ở Syria đã hoàn toàn khác.

Giữa Mỹ và Israel có thể có bất đồng về bản chất của mối đe dọa (mà Iran mang lại đối với họ). Israel có khả năng đánh chặn khá tốt với vài trăm vũ khí hạt nhân. Mối đe dọa chỉ thực sự hiện hữu nếu như mọi người tin rằng Iran cuồng tín đến mức sẵn sàng đánh đổi cơ sở hạt nhân của mình chỉ nhằm tấn công Israel.

Nhiều người ở Israel nói rằng điều mà Mỹ, Israel và nhiều quốc gia Ả Rập dòng Sunni đều nhất trí rằng: một quả bom được sản xuất ở Iran có thể gây nên tình trạng phổ biến vũ khí hạt nhân trên khắp khu vực. Vua Abdullah của Ả Rập Xê Út đã hối thúc Mỹ ngăn chặn Iran có hạt nhân, ông cũng làm sáng tỏ một điều là: nếu Iran có vũ khí hạt nhân, Ả Rập Xê Út cũng phải có. Ai Cập và thậm chí cả Thổ Nhĩ Kỳ cũng có quan điểm tương tự. Nhưng vấn đề lại như một người Ai Cập từng nói với người viết rằng: "Iran vẫn còn có những quan điểm kiềm chế xung quanh quả bom hạt nhân. Nhưng còn tại Ả Rập Xê Út, nếu như nhà vua đã nói phải đánh bom một ai đó, sẽ chẳng có những bàn tay tương tự [như ở Iran] để kéo tay nhà vua khỏi cò súng".

Trong phân tích cuối cùng, Israel đang nói với Mỹ rằng: Nếu chúng tôi nhất trí không tấn công Iran, và nếu chúng tôi chờ quá thời gian mà chúng tôi có thể chờ, anh phải hứa rằng sẽ tham gia với chúng tôi và tiến hành việc đó [tấn công] khi mà các lệnh trừng phạt và các biện pháp gây sức ép khác không có tác dụng gì.

Trong bài phỏng vấn với tờ tạp chí Atlantic, ông Obama có vẻ như đã nói về điều này. "Tôi nghĩ rằng cả chính quyền Iran và Israel đều hiểu rằng khi Mỹ nói rằng họ không chấp nhận việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, thì chúng tôi đã nói ra những điều cần nói" - Tổng thống Mỹ nói. Ông muốn ám chỉ rằng một "phương án quân sự" chỉ có thể là giải pháp cuối cùng.

Tất nhiên là nước Mỹ, cùng với những pháo đài bay B52 và các loại bom phá boongke siêu đẳng có thể thực sự là mối đe dọa lâu dài đối với Iran, vì họ có thể tiến hành các cuộc đột kích kéo dài hàng tuần và hàng tháng. Israel thì chỉ có khả năng chừng mực, và sẽ không thể gây ra thiệt hại gì nhiều đối với Iran.

Để tới được Iran, Israel phải bay qua Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Jordan, hoặc Ả Rập Xê Út - Iraq chẳng có cách gì cưỡng lại được. Nhưng thậm chí nếu như một trong ba nước trên bị thuyết phục và có cách nhìn khác về việc đột kích, thì Israel rất khó có được sự chấp thuận để tự do bay qua không phận của họ. Điều này cũng có nghĩa là Israel có thể cùng với phương Tây đơn phương tiến hành tấn công, và phải hứng chịu các hậu quả khôn lường khi tiến hành chiến tranh chống lại Iran, trong khi Iran sẽ chẳng hề hấn gì nhiều và rõ ràng là không bõ công.

Do vậy, phương án tối ưu nhất với Israel luôn là lôi cả Mỹ vào cuộc - có được sự đảm bảo của Mỹ rằng họ sẽ sử dụng lực lượng của mình nếu như Israel bắt tay với họ. Đây cũng là điều mà cựu Thủ tướng Israel Ehud Olmert từng cố gắng nhưng đã thất bại với cựu Tổng thống George W. Bush. Và đây cũng là cách mà ông Netanyahu đang áp dụng với ông Obama vốn đang tỏ ra rất miễn cưỡng.

Và cuối cùng thì, nếu như Israel tin chắc rằng Iran thực sự là mối đe dọa đối với sự sống còn của họ, vậy thì tại sao họ không cố gắng tránh dùng tới vũ khí hạt nhân của mình trong một cuộc tấn công phủ đầu? Tuy nhiên, đây lại là điều chẳng ai muốn nhắc tới.

Lê Thu (theo GP)

Cơ quan giám sát hạt nhân LHQ "báo động" về Iran

Iran đã tăng gấp ba sản lượng hàng tháng uranium giàu ở cấp độ cao và cơ quan giám sát hạt nhân LHQ đã bày tỏ "lo ngại sâu sắc" về quy mô quân sự có thể có của các hoạt động hạt nhân Tehran.

Mỹ, Israel định dùng vũ khí nào tấn công Iran? Hôm nay, Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Israel sẽ họp bàn việc dùng loại vũ khí nào để tấn công các cơ sở hạt nhân ngầm của Iran.

Posted Image

Obama: Tấn công phủ đầu Iran có thể phản tác dụng Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết không thể chấp nhận được việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng cảnh báo rằng một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào nước này có thể phản tác dụng.

Share this post


Link to post
Share on other sites

"Đúng là yêu cầu đó đã được đưa ra" trong thời gian Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu thăm Mỹ, một quan chức ở Tel Aviv cho Reuters biết, xác nhận thông tin trên báo chí nước này. Tuy nhiên ông bác bỏ thông tin "không chính xác" rằng Israel chỉ có thể được cung cấp nếu chấp nhận điều kiện của Mỹ là không tấn công Iran trong năm nay.

Nếu cuộc chiến này xảy ra, thì sẽ không đơn giản chỉ giới hạn trong việc phá hủy hoặc bảo vệ các cơ sở hạt nhân ở Iran. Mà nó sẽ là một cuộc chiến tranh mang tính hủy diệt toàn diện tiềm lực quân sự của đối phương. Nặng nề hơn nữa là cả với dân thường. Bởi vậy, trên thực tế có khả năng xảy ra đó thì Israel không cần phải đến bom phá boongke hạng nặng của Hoa Kỳ. Bởi vì một khi tất cả đã bị tàn phá thì một vài cơ sở hạt nhân bí mật của Iran dù có tồn tại cũng sẽ không có ý nghĩa gì.

Vấn đề còn lại chỉ là nếu Iran có tiến hành mục đích quân sự hóa hạt nhân thì bộ phim chiến tranh khốc liệt đầu tiên ở thập niên 2010 bắt đầu.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tai nạn tăng nặng....

===================

Hoả hoạn lớn tại quảng trường cổ nổi tiếng ở Paris

Thứ Sáu, 09/03/2012 - 10:01

(Dân trí) - Người dân và du khách tại quảng trường Place Vendome cổ kính ở thủ đô Paris, Pháp đã được sơ tán hôm qua sau khi hoả hoạn bùng phát tại bãi đỗ xe ngầm của quảng trường.

Posted Image

Các xe cứu hoả tại hiện trường vụ hoả hoạn.

Ngọn lửa dường như xuất phát từ bãi đỗ xe ngầm của khách sạn Ritz gần đó và lan sang bãi đỗ xe ngầm 5 tầng tại quảng trường Place Vendome.

Place Vendome là một quảng trường cổ, nổi tiếng của thủ đô Paris với các khách sạn sang trọng, đồng thời là nơi đặt cửa hàng của hàng loạt hãng trang sức danh tiếng nhất thế giới. Hàng chục người đã được điều trị vì hít phải khỏi và ít nhất 15 chiếc ô tô sang trọng đã bị phá huỷ.

Posted Image

Quảng trường Place Vendome là khu có nhiều cửa hàng thời trang và trang sức cao cấp.

Bộ Tư pháp Pháp cũng nằm trong các toà nhà bị sơ tán, cùng với nhiều cửa hàng thời trang và trang sức cao cấp.

Trong khi các nhân viên cứu hoả chiến đấu với ngọn lửa, đã có những lo ngại cho hàng trăm du khách tại khu vực, trong đó có các nhân vật nổi tiếng đang tham dự Tuần lễ thời trang Paris.

“Đó là một vụ cháy rất lớn”, Bastien Bosigard, phát ngôn viên lữ đoàn cứu hoả thành phố, cho biết.

Posted Image

Khói bao trùm quảng trường Place Vendome ở Paris.

Ít nhất một người đã bị kiệt sức do hít phải khói và các bác sĩ cũng điều trị cho những người khác tại hiện trường. “Chúng tôi không rõ nguyên nhân, nhưng ưu tiên của chúng tôi là dập tắt đám cháy”, ông Bosigard nói.

Đến tối qua, những cột khói đen dày đặc vẫn được nhìn thấy bay lên từ quảng trường lịch sử.

Posted Image

Người dân quan sát vụ hoả hoạn.

Khoảng 120 phương tiện cứu hoả, cùng với 30 xe cứu thương và các xe của dịch vụ khẩn cấp khác đã có mặt tại hiện trường.

Hàng rào an ninh đã được đặt quanh quảng trường và các con đường lân cận bị đóng cửa.

Một số du khách được cấp mặt nạ ngừa khí độc khi họ sơ tán khỏi các khách sạn quanh quảng trường, trong khi một cảnh sát cho biết ít nhất 15 phương tiện, trong đó có những chiếc limo Mercedes sang trọng, đã bị thiêu rụi.

An Bình

Theo AFP

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Cơ quan giám sát hạt nhân LHQ "báo động" về Iran

Cập nhật 06/03/2012 10:54:48 AM (GMT+7)

Iran đã tăng gấp ba sản lượng hàng tháng uranium giàu ở cấp độ cao và cơ quan giám sát hạt nhân LHQ đã bày tỏ "lo ngại sâu sắc" về quy mô quân sự có thể có của các hoạt động hạt nhân Tehran, lãnh đạo cơ quan trên cho biết hôm qua (5/3).

Posted Image

Phòng điều khiển tại một cơ sở hạt nhân Iran

Trong khi người đứng đầu Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Yukiya Amano nói lên mối quan ngại tại một cuộc họp của IAEA thì Tổng thống Mỹ Obama nói với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu rằng Washington muốn "có sự ủng hộ của Israel" và sẽ không cho phép Iran có được vũ khí hạt nhân.

Phát biểu tại một cuộc họp báo tại trụ sở IAEA tại Vienna, ông Amano cho biết, có những dấu hiệu về các hoạt động không rõ ràng tại một cơ sở quân sự của Iran, nơi các thanh tra của ông muốn tới thăm như một phần của cuộc điều tra vì lo ngại Iran đang tìm kiếm năng lực vũ khí hạt nhân.

Tuyên bố của ông Amano đã xác nhận những nhận định của các nhà ngoại giao IAEA với Reuters tuần trước. Khi đó, một nhà ngoại giao nói: "Chúng tôi đã nghe được thông tin có tẩy uế ở căn cứ Parchin, một nơi rất đáng lo". Đây có thể là dấu hiệu cho thấy, Iran có thể trì hoãn việc tiếp cận của chuyên gia IAEA nhằm xóa dấu vết các hoạt động đáng nghi.

Mỹ và các đồng minh phương Tây đang tìm kiếm sự ủng hộ của Nga và Trung Quốc nhằm khiển trách Iran tại cuộc họp kéo dài một tuần của IAEA - vốn bắt đầu vào thứ hai, do không giải tỏa được lo ngại ngày càng tăng của IAEA.

Israel đã đe dọa sẽ tấn công phủ đầu Iran nếu không ngừng chương trình thâu tóm bom hạt nhân. Đây là phương pháp tiếp cận cứng rắn của Israel mà Tổng thống Mỹ cố gắng ghìm lại để dành thời gian cho các nỗ lực ngoại giao và trừng phạt.

Iran luôn phủ nhận đang tìm kiếm năng lực chế tạo vũ khí hạt nhân. Giới hoài nghi cho rằng đó là những nỗ lực phối hợp nhằm xử lý uranium với các vụ thử chất nổ và việc chỉnh sửa đầu đạn tên lửa đạn đạo nhằm lắp đầu đạn hạt nhân. Iran từ chối ngừng các hoạt động hạt nhân nhạy cảm, vốn có thể sử dụng cho cả mục đích dân sự lẫn quân sự, khiến LHQ và phương Tây áp đặt trừng phạt mạnh hơn với nước này.

Trong chuyến đi tới Tehran vào tháng 1 và 2, các thanh tra IAEA đã bị giới chức Iran từ chối đề nghị tới Parchin, tâm điểm cuộc điều tra.

Hoài Linh (Theo Reuters)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Những lời tiên tri của năm 2012

VIỆT NAM 2012

Phân tích dưới góc nhìn của Lý học

Bất động sản:

Thị trường Bất động sản VN vẫn là sự tiếp tục suy thoái của năm 2011 và bắt đầu tạo ra những hậu quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến những ngành liên quan, như: vật liêu xây dựng, sắt thép, ngân hàng..... Diễn biến tiếp theo sẽ là những xáo trộn về kinh tế do những nợ xấu gây ra. Chỉ những ai có tiềm lực thực sự có thể trụ vững được qua giai đoạn khủng hoảng này thì sẽ tiếp tục phát triển về sau.

===============================

Bi đát dân BĐS đi trồng rau, rửa xe

Tác giả: Nguyễn Nga - Duy Anh

Bài đã được xuất bản.: 07/03/2012 06:00 GMT+7

(VEF.VN) - Từ kinh doanh những nghành nghề lĩnh vực dựa trên lợi thế như cho thuê sân bãi, nội thất thiết kế đến những ngành tưởng chừng chẳng liên quan như trồng rau, trồng rừng, bán café, cơm hàng, rửa xe, kinh doanh loa đài thậm chí cả tranh thêu... nhiều chủ doanh nghiệp xây dựng, địa ốc đang xoay đủ kiểu để vượt qua những ngày bĩ cực.

Biến hình

Không nhiều người có thể nghĩ trước được rằng, kinh doanh BĐS và lĩnh vực thời thượng hiện nay là sản xuất nông nghiệp lại có lúc được nhập làm một. Mới đây đại diện của Công ty CP Phát triển bất động sản Phát Đạt (PDR) đã chia sẻ hướng đi mới của doanh nghiệp này là nhảy vào lĩnh vực nông nghiệp và trồng cao su.

Ông Nguyễn Văn Đạt, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc PDR cho biết, đây là những ngành nghề được ưu tiên và có triển vọng. "Với nông nghiệp, quan điểm của PDR là tự làm và trồng trọt tất cả sản phẩm nào có thể đem lại giá trị thu hoạch tốt trong ngắn hạn.

Với cao su, dĩ nhiên không thể thu hoạch được ngay, nhưng sẽ mang lại nguồn thu ổn định trong tương lai. Khó khăn của thị trường bất động sản vừa qua giúp chúng tôi hiểu hơn, nguồn thu bất động sản không phải luôn ổn định" - vị lãnh đạo bộc bạch.

Hay mới nhất, một công ty BĐS tại Mỹ Đình đã sáng kiến, tận dụng diện tích trống của dự án để trồng rau sạch và trang trại nuôi gà. Theo đại diện doanh nghiệp nói trên việc trồng rau sạch không đòi hỏi việc đầu tư nhiều. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn tận dụng được nhân lực là những kĩ sư nông nghiệp đang làm ở bộ phận thiết kế cảnh quan môi trường vào trồng rau, còn bộ phận kinh doanh thì chuyển sang liên hệ hợp tác với các nhà hàng, siêu thị.

Posted Image

Lượng thực phẩm sạch của doanh nghiệp này cung cấp cho thị trường chưa nhiều nhưng đây là nguồn thu chính để trả lương cho nhân viên. Không ai muốn nhưng lãnh đạo doanh nghiệp BĐS thừa nhận, quyết tâm chuyển đổi như vậy đã gây sốc cho các nhân viên. Một số phản đối, xin nghỉ việc, chỉ còn lại những người tâm huyết gắn bó để tìm hướng kinh doanh mới.

Không có thế mạnh về đất đai, có doanh nghiệp lại tận dụng ngay những ngón nghề gia truyền. Gặp lại giám đốc một doanh nghiệp BĐS, anh vui vẻ cập nhật tình hình: "mới chuyển đổi sang kinh doanh tranh thêu để lấy ngắn nuôi dài".

Vị này khoe đã đầu tư hơn một tỷ đồng để tìm kiếm đối tác cung cấp nguồn hàng và chuyển đổi hệ thống văn phòng tư vấn địa ốc sang làm showroom bán hàng. Đội ngũ nhân viên của sàn được nhận nhiệm vụ mới là chào đón khách, tìm kiếm nguồn hàng và khách hàng...

"Việc chuyển hướng đã đem lại lợi nhuận khá ổn định so với kinh doanh BĐS. Sắp tới, không chỉ tranh thêu mà doanh nghiệp cũng sẽ bán thêm các sản phẩm tranh ảnh đồ mỹ nghệ tại các khu phố cổ, trung tâm thương mại..." - lãnh đạo công ty dự tính.

Từ chỗ là một công ty giám sát xây dựng cỡ nhỏ và vừa với khoảng 100 kỹ sư, cán bộ cộng tác rải rác ở các địa phương, do làm ăn kinh doanh gặp nhiều khó khăn, không có việc làm, công ty Hoàng Lợi - doanh nghiệp tư nhân ở quận Hoàng Mai đến nay đã cắt giảm chỉ còn khoảng 20 nhân viên, mỗi người ăn lương chờ việc 2 triệu đồng/tháng.

Sau quá trình cầm cự hết cỡ vừa qua nhóm lãnh đạo công ty đã đưa ra một quyết định đột phá, đó là thuê mặt bằng, mở điểm rửa và bảo dưỡng xe ô tô tại một khu đô thị mới (Hà Đông) nhằm giải quyết công ăn việc làm và thu nhập cho số cán bộ nhân viên nói trên.

Lấy ngắn nuôi dài, không ít doanh nghiệp BĐS trên địa bàn Hà Nội cũng tranh thủ dự án chưa thực hiện, lấy mặt bằng để cho thuê làm bãi trông giữ xe, làm sân bóng, kinh doanh café, có người còn thầu quán cơm...

Anh Dương Thành nhân viên một sàn BĐS nay đã thuê địa điểm mở quán café tại khu đô thị Văn Phú (Hà Đông) tâm sự, bán café chỉ để đỡ cái cảnh "nhàn cư vi bất thiện", còn thực lòng nhiều người như anh vẫn cứ nuôi hy vọng sớm được trở lại thị trường. Ai hỏi gì vẫn nói "đang làm BĐS".

Xoay xở trăm bề

Nói đến giới kinh doanh BĐS trong năm đen tối của thị trường 2011 người ta thường nhắc đến tình trạng bỏ nghề, nằm chờ, đóng cửa hàng loạt sàn giao dịch BĐS với một con số ước tính lên đến 50-70%. Năm nay, hy vọng vào thị trường của bộ phận kinh doanh này dường như đã được gạt sang một bên để sống, lao động thích ứng với thực tế trước mắt.

Một ông chủ trẻ tuổi của một DN BĐS đình đám khu vực Mỹ Đình đang được xem kinh doanh ổn định nhờ tìm được hướng đi mới cho cả đơn vị trong hơn 1 năm qua. Theo đó, nếu trước đây, sàn này chỉ tập trung bán hàng cho các dự án thuộc công ty mẹ thì thời gian qua, với lợi thế kinh nghiệm và thương hiệu sẵn có, sàn chuyển ra liên kết, làm dịch vụ tư vấn triển khai từ A-Z cho các dự án từ Bắc chí Nam.

Vị giám đốc trẻ quan niệm, công việc trên thị trường BĐS là một vòng tròn khép kín. Không chỉ công tác bán hàng, doanh nghiệp đang tiến tới đáp ứng được nhu cầu của thị trường, từ việc tư vấn phát triển dự án, tư vấn pháp lý, chiến lược thông tin, giới thiệu các nhà thầu về thiết kế, quy hoạch, thi công, xây dựng bộ hồ sơ bán hàng... Vì thế thị trường khó khăn thì nhịp độ công việc cũng không giảm sút.

Posted Image

Xuất phát từ một doanh nghiệp kinh doanh nội thất hơn chục năm về trước rồi phất lên từ hoạt động kinh doanh BĐS nhưng lãnh đạo Công ty CP Đầu tư và Phân phối DTJ - ông Nguyễn Quốc Khánh giờ đây cũng thức thời xác định, muốn tồn tại phải đi bằng hai chân. "Ngoài việc cắt giảm nhân viên, các chi phí một cách tối đa, chúng tôi buộc phải đẩy mạnh hoạt động sang lĩnh vực khác để có thu nhập như đẩy mạnh môi giới cho thuê, làm phân phối cho các phân khúc nhà có cầu thực, đặc biệt, công ty còn kinh doanh mua bán, thiết kế nội thất cho các dự án với nhãn hiệu DTJ home", ông Khánh nói.

Ông Trần văn Phồn - một nhà đầu tư BĐS vẫn còn mắc kẹt tiền tại vụ án lừa đảo bán khống đất dự án Thanh Hà (Hà Đông) của Công ty 1/5 hồi năm 2010 cho biết đến nay các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã bị bắt; một phần tiền lên tới hơn 400 tỷ đồng của trên 200 nhà đầu tư tuy chưa được hoàn trả và nghe nói đã được chuyển thành cổ phiếu để đầu tư vào dự án Nam Đàn Plaza trên đường Phạm Hùng (Từ Liêm).

Tuy nhiên khổ nỗi đã mấy năm trôi qua, tiền của không thấy về, cổ phần mắc lại dự án mà dự án cũng không thực hiện, chỉ thấy chủ đầu tư dự án Nam Đàn Plaza sử dụng đất để làm bãi đỗ xe và sân bóng. Điều này khiến lòng ông cũng như những người "mắc cạn" tại đây như có lửa đốt.

Thừa nhận sau cơn bão của thị trường năm 2011, rất nhiều người kinh doanh BĐS rơi vào trắng tay, anh Thành vẫn tếu táo chia sẻ một nhận xét tâm đắc: "Những người đi lên bằng BĐS bắt đầu bằng con số 0, xây dựng được tài sản nhất định rồi, quay về con số ấy thì cũng không phải là đáng tiếc lắm".

===============================

Thừa nhận sau cơn bão của thị trường năm 2011, rất nhiều người kinh doanh BĐS rơi vào trắng tay, anh Thành vẫn tếu táo chia sẻ một nhận xét tâm đắc: "Những người đi lên bằng BĐS bắt đầu bằng con số 0, xây dựng được tài sản nhất định rồi, quay về con số ấy thì cũng không phải là đáng tiếc lắm".

Cái này tớ nói lâu rùi. Từ năm 2011 lận. Tại quí vị không wan tâm thôi.

Thật khổ cho mấy quí vị văn phòng - đang ngồi phòng máy lạnh, xử lý máy vi tính - nay lại phải đi trồng rau thay cho mấy bác nông dân vốn trồng rau trên chính mảnh đất này đã giao cho quí vị. Thôi cứ từ từ cũng quen và trồng rau giỏi như mấy bác nông dân ấy.Posted Image

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên tai tăng nặng.....(So với 2011)

==============================

Lũ lụt tại Úc gây thiệt hại lớn

10/03/2012 3:59

Chính quyền Úc ngày 9.3 thông báo tính đến nay, thiệt hại do lũ lụt gây ra chỉ tính riêng ở bang New South Wales đã vượt quá 500 triệu AUD (530 triệu USD).

Theo AFP, miền đông nước Úc phải hứng chịu những cơn mưa lớn trong suốt hơn một tuần qua, khiến hàng trăm ngôi nhà bị ngập, đường sá, cầu cống bị phá hủy. Mưa lũ cũng nhấn chìm những vùng đất nông nghiệp ở các bang Queensland, New South Wales và Victoria. Trong ngày 8.3, thủ phủ Sydney của New South Wales hứng trận mưa lớn nhất trong vòng 5 năm qua, khiến cả thành phố trở nên hỗn loạn. “Đến thời điểm này chúng tôi ước tính thiệt hại do lũ lụt là hơn 500 triệu AUD”, AFP dẫn lời một quan chức bang cho hay.

Đến nay, đợt lũ này đã làm 2 người thiệt mạng và khiến nhiều người phải rời bỏ nhà cửa. Các chuyên gia cảnh báo mưa lớn sẽ còn tiếp tục trong nhiều ngày tới.

Lê Loan

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

==========================

Mỹ giới thiệu siêu bom cải tiến 13,6 tấn

10/03/2012 3:03

Mỹ có thể sử dụng siêu bom phá boong ke mới, nặng 13,6 tấn do Boeing chế tạo, chống Iran. Đây là tiết lộ của Phó tham mưu trưởng không quân là trung tướng Herbert Carlisle trong một hội nghị tại Arlington, bang Virginia, vào ngày 8.3.

Tướng Carlisle khẳng định đây là vũ khí được thiết kế đặc biệt để tấn công các quốc gia như Iran, nơi xây các cơ sở hạt nhân kiên cố nằm sâu dưới lòng đất. Theo Bloomberg, bom phá boong ke nặng nhất trong lịch sử vũ khí của Mỹ, được đặt tên là MOP có thể xuyên qua lớp bê tông dày đến 65m trước khi phát nổ.

Cũng trong dịp này, Phó tham mưu trưởng không quân Mỹ cũng giải thích về khái niệm Tác chiến không - hải (hỗn hợp không quân và hải quân), chiến thuật dùng để tấn công những khu vực được phòng thủ chặt chẽ như Trung Đông hoặc gần Trung Quốc, và sự liên quan của chiến thuật này đối với việc lên kế hoạch tác chiến trong trường hợp Iran. Trước đó một ngày, Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ Martin Dempsey cũng cho biết Lầu Năm Góc đã đệ trình các kế hoạch hành động chi tiết với Syria.

H.G

==========================

Để sản xuất chỉ một cái hộp quẹt ga cũng cần sự phối hợp của nhiều cơ sở sản xuất của nhiều ngành. Chỉ cần một khâu bị đứt thì ngay cái hộp quẹt ga cũng không sản xuất được. Bom phá Boongke tuy cũng cần, nhưng khi toàn bộ cơ sở hạ tầng đã bị phá hủy thì dù có cơ sở hạt nhân bí mật cũng chẳng thể làm ra bom nguyên tử.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên tai tăng nặng......

=====================

Sydney hứng trận mưa lớn nhất trong 100 năm qua

Bộ trưởng Đường xá bang New South Wales - Duncan Gay cho biết thành phố Sydney ngày 8/3 đã phải hứng chịu trận mưa lớn nhất trong vòng 100 năm qua, khiến thành phố này rơi vào cảnh hỗn loạn, trong bối cảnh đa phần khu vực miền nam của bang được đặt trong tình trạng báo động cao trước sự đe dọa lũ lụt từ các dòng sông.

Lượng mưa do trạm khí tượng thủy văn Observatory Hill đo được tại khu vực Merrylands sáng cùng ngày đạt 149mm và tại trung tâm kinh doanh thành phố là 119mm. Dưới cơn mưa như trút nước, hệ thống đường xá và giao thông của Sydney trở nên hỗn loạn và hàng trăm người đã được các lực lượng chức năng giải cứu, nhiều người ngoan cố ở lại cũng bị buộc rời khỏi nhà của mình.

Posted Image

Nước lũ cô lập các con đường vào thành phố

Nước lớn do mưa đã khiến nhiều tuyến đường ôtô, xe lửa và ga tàu phải đóng cửa, nhiều chuyến phà cũng như chuyến bay tại sân bay Sydney bị hủy. Theo thống kê tạm thời, riêng sáng cùng ngày đã có hơn 1.000 cuộc điện thoại cầu cứu cơ quan chức năng do sự cố trên đường.

Trong khi đó, nhiều khu vực dân cư ở bang New South Wales đang hứng chịu những đợt lũ mới từ các dòng sông. Thị trấn Forbes, nằm trong khu vực Trung - Tây của bang, là nơi có nguy cơ lớn nhất với dự báo mức nước sông Lachlan có thể đạt 10,65m ngay trong tối 8/3.

Phát ngôn viên của Cơ quan Cứu trợ khẩn cấp bang (SES) cho hay: "Sau khi có lệnh sơ tán hồi tuần trước, 815 ngôi nhà đã nhận được cảnh báo và 125 người đăng ký di tản tới các trung tâm cứu nạn".

Các thị trấn lân cận trong phạm vi ảnh hưởng của lũ lụt như Condobolin, Willow Bend đã tiến hành dựng các bức tường ngăn lũ bằng bao cát. 600 người dân của thị trấn Wagga Wagga, Gumly Gumly hiện chưa thể trở về nhà do một bức tường nước cao khoảng 1m vẫn đang bao quanh 2 khu vực này.

SES cũng đã thông báo lệnh sơ tán tới cư dân khu vực Gillenbah, phía Bắc Wagga Wagga. Một số thị trấn khác đã được cảnh báo có nguy cơ bị nước lũ cô lập.

Theo Vietnam+

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

DN cạn tiền: Sau đám tang, sẽ là đám cưới

Tác giả: Phan Thế Hải

Bài đã được xuất bản.: 07/03/2012 06:00 GMT+7

(VEF.VN) - Thiếu thuế, nợ tiền thậm chí phá sản, vỡ nợ đang là chuyện xuất hiện ngày càng nhiều. Trong bối cảnh ngân hàng siết chặt tín dụng, DN lâm vào cảnh cạn tiền ngày càng nhiều, phải chăng đây là dấu hiệu của hoàn lưu sau cơn bão tài chính?

Bạn tôi là dân xây lắp, mới năm ngoái vẫn xông xênh vì vừa trúng mấy gói thầu của của dự án xây dựng. Gặp chủ đầu tư tốt, làm đến đâu quyết toán đến đấy, tiền nong đàng hoàng, không chậm một xu. Bây giờ gọi điện thấy nhăn nhó: "Hết hơi rồi anh ạ"!. Xem ra, chuyện làm ăn đang rơi và thời bi đát.

"Năm ngoái thì ngon lành, tưởng như tiền nong của đại gia này là vô biên, nên em nhận thêm mấy gói nữa, nhưng làm xong đã lâu mà chưa thấy tiền đâu. Giờ em còn đọng ở đó cỡ chục tỷ!", bạn tôi nói.

Chuyện doanh nghiệp khó khăn, cạn tiền là hiện tượng không mới. Tình trạng này diễn ra cách đây vài năm khi cơn bão tài chính từ bên kia bờ đại dương tràn qua châu Âu, sang châu Á rồi vào Việt Nam. Tuy nhiên, thời đó, do nền kinh tế nước ta còn trên đà tăng trưởng mạnh, lại thêm việc nhà nước áp dụng những chính sách kích cầu, tiếp sức cho doanh nghiệp nên hiện tượng khó khăn, chỉ diễn ra đơn lẻ. Không những thế, nhiều doanh nghiệp còn được hưởng lợi từ chính sách kích cầu của chính phủ, trở nên rủng rỉnh tiền bạc.

Posted Image

Tuy nhiên, những gói kích cầu cũng chỉ có tác dụng như một liều thuốc tăng trọng. Khủng hoảng thường đi liền với suy thoái, suy thoái thường đi liền với lạm phát - đó là quy luật khắc nghiệt của nền kinh tế. Lạm phát kéo dài tác động đến các tầng lớp bình dân đã gây xáo trộn xã hội. Năm 2011, lạm phát của Việt Nam đã đạt con số đáng sợ: trên 18%. Người dân hàng ngày cầm tiền đi chợ thấy như bị móc túi. Để kiềm chế lạm phát, Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng, thực hiện thắt chặt tiền tệ.

Theo dự kiến của Ngân hàng Nhà nước, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho cả năm 2012 sẽ khống chế trong khoảng từ 15-17%. Chính sách này đã giúp cho việc kiềm chế lạm phát một cách có hiệu quả, nhưng với cộng đồng doanh nghiệp thì đó là một liều thuốc đắng.

Với doanh nghiệp khoẻ mạnh, có sự chuẩn bị tốt sẽ vượt qua được liều thuốc đắng đó, với những doanh nghiệp khác không thuộc số đó, sẽ chết lâm sàng. Vấn đề còn lại là bao giờ được "chôn"?

Theo một kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 9 tháng đầu năm 2011, đã có khoảng 50.000 doanh nghiệp "mất tích". Đó chỉ là con số của 9 tháng đầu năm ngoái, còn nếu tính đến thời điểm này (3/2012) thì số đó sẽ lớn hơn rất nhiều. Sự mất tích là hiện tượng âm thầm, chỉ có cơ quan quản lý mới nắm được, bởi DN không nộp báo cáo tài chính, không tiến hành đại hội cổ đông, không nộp báo cáo thuế. Một vài DN nghiêm chỉnh hơn làm đơn xin tạm dừng hoạt động. Đó chỉ là phần nổi của tảng băng.

Một phần nổi khác rùm beng hơn là sự vỡ nợ của các DN tham gia huy động vốn. Những cuộc vỡ nợ nho nhỏ, một vài chục tỷ thường được dàn xếp nội bộ theo kiểu: đóng cửa bảo nhau, gán nhà, gán xe, gán sổ đỏ rồi cam kết: công nợ trả dần. Những cuộc vỡ nợ lớn hơn, cỡ hàng trăm tỷ khiến các con nợ ùn ùn kéo đến chủ nợ đập phá, đe dọa tính mạng khiến các cơ quan điều tra phải vào cuộc...

Tình trạng trên gần đây xuất hiện ngày càng nhiều, tin loan khắp các báo. Một thành phố nhỏ như thành Vinh, chỉ trong một thời gian ngắn, đã xảy ra 47 vụ vỡ nợ với số tiền lên tới hơn 412 tỷ đồng.

Nếu như cách đây ba năm, thì những vụ phá sản này là do ảnh hưởng của cơn bão tài chính từ bên kia bán cầu ập vào Việt Nam. Còn nay chỉ có thể gọi nó là "hoàn lưu sau bão".

Công bằng mà nói, trong số năm chục ngàn DN "xấu số" đó, không phải DN nào cũng đã chết hẳn mà có một số chỉ ngừng hoạt động, nằm im chờ thời, đợi "mùa xuân" ấm áp sẽ hoạt động trở lại. Thế mới có chuyện hàng trăm doanh nhân rủ nhau ra sân golf vừa giải trí, vừa đốt thời gian chờ thời cơ mới.

Posted Image

Vậy khi nào thì thoát khỏi tình trạng này? Trả lời câu hỏi này, một doanh nhân tâm sự: "Chờ thêm một thời gian ngắn nữa sẽ có thêm các DN chết hẳn. Ba năm qua, những người khôn ngoan đều tháo chạy khỏi bất động sản, âm thầm gom vàng và coi đó như là một kênh đầu tư. Đó là nguyên nhân chính để bất động sản rớt chưa có điểm dừng".

Sự ế ẩm của thị trường bất động sản, (ở thời kỳ hưng phấn, thị trường này chiếm non nửa GDP) là một trong những nguyên nhân để nền kinh tế trì trệ.

Những doanh nghiệp hoạt động trên thị trường này đang đứng ở giữa hai con đường mà con đường nào cũng tới cửa tử: Trong khi thị trường chứng khoán đìu hiu không thể huy động được vốn, nếu được vay vốn ngân hàng, phải chịu lãi suất quá cao cũng không sống nổi, nhưng chỉ có điều là cái chết sẽ đến muộn hơn. Nếu không vay được vốn ngân hàng, hoặc là chết luôn hoặc lâm vào tình trạng ngủ đông chờ khi thị trường ấm lên sẽ gượng dậy.

Khi vàng hết động lực tăng trưởng, những nhà đầu tư khôn ngoan sẽ tháo chạy khỏi vàng để tìm đến kênh đầu tư khác có hiệu quả hơn. Chứng khoán cũng là một sự lựa chọn. Nhưng dẫu sao, với một thị trường non trẻ như Việt Nam, vừa qua thị trường này đã chứng kiến một cuộc rớt giá thê thảm khiến người ta phải thận trọng và việc thăng hoa như cách đây dăm năm là điều không thể lặp lại.

Một kênh đầu tư khác có truyền thống lâu hơn là bất động sản sớm muộn sẽ sôi động trở lại. Bởi, tốc độ tăng trưởng kinh tế thường kéo theo tốc độ đô thị hoá. Dòng người đổ về thành thị ngày càng nhiều, kéo theo đó là nhu cầu an cư. Thị trường bất động sản ấm lên sẽ cứu sống nhiều doanh nghiệp hiện đang ngắc ngoải.

Sau bão sẽ có hoàn lưu. Hoàn lưu sau bão là những "đám tang". Sau đám tang sẽ là "đám cưới". Ai vượt qua được đám tang sẽ có cơ hội dự đám cưới. Đó là quy luật, chúng ta hãy kiên nhẫn chờ xem!

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng tới hạ tầng xã hội và gây ra khủng hoảng xã hội....

==========================

Các đại gia tín nhiệm đồng loạt tuyên bố Hy Lạp vỡ nợ

Thứ Bẩy, 10/03/2012 - 11:10

(Dân trí) – Ngày 9/3, hãng xếp hạng tín nhiệm Moody's tuyên bố Hy Lạp đã vỡ nợ. Tổ chức đánh giá tín nhiệm Fitch cũng hạ bậc xếp hạng tín nhiệm của nước này xuống mức “vỡ nợ hạn chế”, bất chấp việc Athens vừa đạt được thỏa thuận tái cơ cấu nợ khổng lồ.

Posted Image

Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp Evangelos Venizelos thông báo về việc đạt được thỏa thuận hoán đổi nợ tại thủ đô Athens ngày 9/3/2012.

Tuyên bố của Fitch và Moody’s là đòn giáng mạnh vào những nỗ lực giải cứu Hy Lạp thoát khỏi khủng hoảng nợ công của Athens nói riêng và châu Âu nói chung, mặc dù trước đó chính phủ Hy Lạp loan báo hầu hết các nhà đầu tư tư nhân đã đồng ý xóa một phần lớn nợ công cho nước này trong thỏa thuận “xoá và đổi nợ” lớn nhất trong lịch sử Hy Lạp.

"Theo các định nghĩa của Moody's, thỏa thuận trao đổi này là một sự 'trao đổi giá rẻ' và đó là một sự vỡ nợ", Moody's nêu rõ.

Gần như cùng lúc, Fitch cũng tuyên bố hạ mức tín nhiệm vỡ nợ ngoại tệ và nội tệ dài hạn của Hy Lạp (IDRs) từ bậc C xuống mức "vỡ nợ hạn chế" (RD). Trước đó, hãng Standard & Poor's cũng đã đánh tụt bậc xếp hạng của Hy Lạp xuống mức vỡ nợ.

Quyết định của ba “đại gia xếp hạng tín nhiệm” không nằm ngoài dự đoán, khi trước đó các tổ chức này đã tuyên bố coi thỏa thuận hoán đổi trái phiếu của chính phủ Hy Lạp là một sự vỡ nợ.

Sau nhiều tuần đàm phán căng thẳng, ngày 9/3, chính phủ Hy Lạp tuyên bố đã đạt được thỏa thuận hoán đổi nợ khổng lồ với giới đầu tư tư nhân. Theo đó, có tới 85,8% số nhà đầu tư tư nhân đồng ý xóa một phần nợ cho Hy Lạp và chuyển 177 tỷ euro (tương đương 234 tỷ USD) tiền nợ đến hạn thanh toán sang nợ dài trong 30 năm tới.

Ngoài các chủ nợ tư nhân, 69% các chủ nợ quốc tế cũng đã đồng ý sơ bộ về thỏa thuận “xóa và hoán đổi nợ” của Hy Lạp. Trong khi đó, các ngân hàng và quỹ hưu trí cũng sẽ phải gánh chịu phần thua lỗ lên tới 75% từ các khoản đầu tư của mình ở quốc gia hiện gặp khó khăn tài chính này.

Bộ Tài chính Hy Lạp cho biết đây là giải pháp duy nhất đối với Athens hiện nay, vì nếu không, Hy Lạp không còn con đường nào khác ngoài việc phải tự tuyên bố phá sản, động thái có thể kéo cả Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) rơi vào vòng xoáy vỡ nợ công “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử hình thành của khu vực này.

Trong hành động gấp rút cứu Hy Lạp, Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Christine Lagarde cho biết thể chế này sẽ cung cấp khoản vay mới cho Athens trị giá 28 tỷ euro (36,7 tỷ USD) như một phần của gói cứu trợ thứ hai dành cho nước này.

"Hôm nay tôi đã tham vấn Ban giám đốc IMF và trên cơ sở đó, như đã thảo luận với chính phủ Hy Lạp, tôi dự định khuyến nghị một thỏa thuận 28 tỷ euro trong khuôn khổ Tín dụng điều chỉnh mở rộng của IMF để hỗ trợ chương trình kinh tế tham vọng của Hy Lạp trong bốn năm tới", bà Lagarde cho biết.

Theo người đứng đầu IMF, khoản cho vay này cao hơn nhiều so với dự kiến và sẽ được đề xuất lên Ban giám đốc IMF vào tuần tới.

Tuy nhiên, hiện chưa biết Athens có trụ vững được trước các đòn hạ tín nhiệm của Moody's, Fitch và S&P's hay không.

Vũ Anh

Theo AFP, AP

==========================

Hết tập I. Bộ phim "Khủng hoảng kinh tế toàn cầu" sang tập II.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tai nạn tăng nặng.......

==========================

Hà Nội:

Cháy lớn thiêu rụi kho hàng dưới chân cầu Vĩnh Tuy

Chủ Nhật, 11/03/2012 - 01:16

(Dân trí) - Lửa đã thiêu rụi một kho hàng rộng hàng nghìn mét vuông chứa đồ chơi, phụ tùng ô tô, vải, đệm… dưới chân cầu Vĩnh Tuy Hà Nội vào hơn 19h tối ngày 10/3.

Một số người có mặt tại hiện trường cho biết, vào thời gian trên, khói lửa bốc lên tại kho chứa đồ chơi, phụ tùng ô tô, vải, đệm… của Công ty Vận tải và Giao nhận hàng nhanh Giang Linh (trong Cảng Hà Nội - dưới chân cầu Vĩnh Tuy).

Posted Image

Hiện trường kho hàng rộng hơn 1000m2 bị cháy

Không lâu sau khi đám cháy bùng phát, gần 20 xe chữa cháy chuyên dụng được lực lượng chức năng điều tới hiện trường để xử lý. Tại hiện trường, Trung tá Phùng Chí Cao, Bộ Tư lệnh Thủ đô cho biết, đơn vị đã điều hàng trăm cán bộ chiến sĩ đến tham gia dập lửa và cứu hộ cùng lực lượng PCCC Hà Nội.

Cảnh sát đã phá phần mái tôn của kho hàng từ bên ngoài đường Nguyễn Khoái để dễ dàng tiếp cận hiện trường. Một lượng hàng hóa lớn, gồm các xe đạp nhựa và đồ nhựa dễ cháy đã được lực lượng cứu hộ tập kết ra khu vực an toàn.

Posted Image

Kho hàng chứa những vật dụng dễ cháy nên lực lượng chức năng phải mất 2 tiếng mới dập tắt lửa

Tuy nhiên, kho hàng phần lớn là những vật dụng dễ cháy nên phải mất gần hai giờ lực lượng chức năng mới khống chế được ngọn lửa.

Vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ.

Phong Nguyên

==========================

Sao dạo này cháy nhiều thế nhỉ? - Mặc dù tôi đã dự báo trước với VTV - Tập trung vào các kho hàng từ trong Nam ra ngoài Bắc? Đề nghị các cơ quan doanh nghiệp - kể cả quân đội - rà soát kiểm tra lại nguy cơ cháy nổ ở các kho bãi trong phạm vi quản lý của mình.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Lời tiên tri 2012

Đại ý: Khủng hoảng bất động sản sẽ gây hậu quả cho ngân hàng và các ngành liên quan như sắt thép, vật liệu xây dựng ....

========================================

DN thép trong bước đường cùng

Tác giả: Trần Thủy

Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước

(VEF.VN) - Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, quý IV/2011, nhiều DN bị thua lỗ nặng do chi phí đầu vào tăng cao, trong khi giá bán lại không tăng tương ứng.

Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, quý IV/2011, nhiều DN bị thua lỗ nặng do chi phí đầu vào tăng cao, trong khi giá bán lại không tăng tương ứng. Tính toán của các DN cho thấy, chi phí đầu vào ngành thép bình quân tăng 25% trong năm 2011,trong khi giá bán chỉ tăng 17,8%.

Tình hình tiêu thụ thép sau Tết nguyên đán Nhâm Thìn vẫn hết sức khó khăn. Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam, lượng thép tiêu thụ trong tháng 1/2012, của các DN thành viên giảm mạnh, chỉ đạt 234.000 tấn, giảm 43% so với tháng 12/2011 và 50,19% so với cùng kỳ. Đây là thời điểm thê thảm nhất trong tiêu thụ thép tính từ 3 năm trở lại đây. Bước sang tháng 2/2012 lượng thép tiêu thụ có tăng lên, đạt 360 nghìn tấn, nhưng vẫn ở mức thấp so với mức bình quân 400 - 420 nghìn tấn/tháng mọi khi.

Nhiều DN thép đang gặp khó khăn lớn do phải sản xuất cầm chừng, hàng tồn kho cao, bán không có lãi. Hiện nay đứng đầu thị phần ngành thép là các DN như Pomina, Hòa Phát, Gang thép Thái Nguyên, Vinakyoei. Đây là những DN có lợi thế về công nghệ với mức tiêu hao nhiên liệu cạnh tranh hơn so với các nhà máy luyện và cán thép khác trong nước.

Posted Image

Trong khi sản lượng toàn ngành sụt giảm thì việc một số DN vẫn tăng trưởng sản lượng tiêu thụ, có nghĩa là những DN này đang chiếm thị phần của các DN khác, khiến các DN này thêm khó khăn. Nhiều DN thép đang tình trạng thái "chết lâm sàng", ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép cho biết.

Hiệp hội Thép nhận định, với việc nhiều dự án bất động sản, các công trình xây dựng gặp khó khăn do thiếu vốn hoặc tạm ngừng thì trong các tháng tới nhu cầu thép trong nước được dự báo vẫn sẽ ở mức thấp. Bên cạnh đó, những nước nhập khẩu nhiều thép như Mỹ và Tây Âu sẽ giảm bớt số lượng nhập khẩu làm cho xuất khẩu thép của các DN Việt Nam gặp khó khăn. Trong khi đó, thép giá rẻ từ ASEAN và Trung Quốc nhập khẩu về Việt Nam nhiều sẽ khiến sức cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn.

Các DN thép cũng có lý do để lo lắng hơn khi nhu cầu giảm, nguồn cung dư thừa, bán không được mà chi phí sản xuất thép có thể tiếp tục tăng trong năm 2012, do biến động các yếu tố đầu vào như điện, xăng, dầu, than... theo giá thị trường. Nếu vậy thì khó khăn thêm chồng chất.

Trong khi đó, lãi suất cho vay hiện nay ở mức 17 - 18% vẫn là quá cao, đặt nhiều DN vào tình cảnh không lối thoát. Đặc thù kinh doanh của ngành thép là phải sử dụng vốn vay lớn, trong đó, vay từ ngân hàng chiếm tới 70-80%, trong khi lãi suất vay vốn ngân hàng ở mức cao, nên khả năng cạnh tranh rất thấp và luôn trong tình trạng phụ thuộc.

Hiệp hội Thép Việt Nam đã kiến nghị Chính phủ có giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá và giảm lãi suất, nhằm giúp các DN thép vượt qua khó khăn, nhưng đến nay chưa DN thép nào được vay vốn với lãi suất thấp.

Trong cuộc họp bàn về tình hình sản xuất, kinh doanh năm 2012 diễn ra mới đây giữa Hiệp hội Thép và một số DN sản xuất thép lớn, đã có không ít ý kiến cho rằng, mức tăng trưởng toàn ngành dự kiến 4% cho năm 2012 là khó thực hiện. Theo các DN tăng trưởng sẽ thấp hơn. Nguyên nhân là do lượng tiêu thụ thép toàn ngành liên tục đi xuống, từ mức 11,7 triệu tấn năm 2009, xuống còn 11 triệu tấn năm 2010 và đến năm 2011 chỉ còn 9,9 triệu tấn.

Không chỉ có các doanh nghiệp đang sản xuất thép gặp khó mà cả những dự án đầu tư dang dở cũng đang trong tình cảnh hết sức lo ngại. Báo cáo của Hiệp hội Thép cho thấy, hàng loạt dự án đầu tư dở dang trong nước như: dự án thép Liên hợp ở Lào Cai, dự án giai đoạn II của Gang thép Thái Nguyên sẽ khó hoàn thành trong năm 2012 nếu không có những biện pháp thúc đẩy vấn đề giải ngân và kiểm soát thực hiện tiến độ của các nhà thầu. Đây sẽ là gánh nặng tài chính lớn cho chủ đầu tư vì trả lãi vay ngân hàng.

Ông Mai Văn Tinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty thép Việt Nam cho biết, ngành thép được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức trong năm 2012. Thậm chí, nếu chúng ta không có những chính sách hợp lý cùng với chiến lược đúng đắn trong việc mở rộng sản xuất và xuất khẩu, các DN sản xuất thép còn phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn trong những năm tiếp theo. Trước mắt, Chính phủ cần có các biện pháp hạn chế nhập khẩu để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm nội địa và đưa ra các chính sách tháo gỡ cho DN thép nếu khó khăn còn kéo dài hết năm 2012.

Theo Hiệp hội Thép, vấn đề của các DN ngành thép trong năm 2012 là buộc phải cơ cấu lại sản xuất. Những DN không đủ khả năng sẽ phải liên kết với nhau, tạo dựng thành những thương hiệu mạnh, chuyển hướng đầu tư sản xuất các chủng loại thép trong nước chưa sản xuất được.

Trong bối cảnh này, song song với các giải pháp từ cơ chế, chính sách, thì nhiều DN trong ngành thép đều xác định một trong những giải pháp hiệu quả là cần phải quyết liệt giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Vấn đề sống còn của ngành thép trong năm 2012 là phải nâng cao "sức khỏe" cho các DN, trong đó sẽ đầu tư mạnh cho công nghệ, chứ không phải là sản xuất bằng mọi giá, ông Phạm Chí Cường nói.

Share this post


Link to post
Share on other sites

LỜI TIÊN TRI 2012

Chứng khoán:

Do ảnh hưởng chung của tình hình kinh tế thế giới thì thị trường chứng khoán VN cũng không thể nằm ngoài sự suy thoái chung của thị trường thế giới. Tình trạng này sẽ kéo dài trong nhiều năm,. Sự tồn tại và nền kinh tế được duy trì bởi chính doanh nghiệp nhỏ và vừa.

===============================

DN nhỏ cổ tức khủng, đại gia khủng lợi nhuận bèo

Tác giả: Mạnh Hà

Bài đã được xuất bản: 02/03/2012 05:00 GMT+7

(VEF.VN) - Trải qua một năm đầy sóng gió, rất nhiều doanh nghiệp đã tuyên bố không trả cổ tức hoặc trốn tránh, khất lần. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao và công bố trả cổ tức hấp dẫn. Từ đây cho thấy, vấn đề đầu tư đúng hướng, hiệu quả với ngành nghề cốt lõi đang được các cổ đông đưa ra xem xét.

Giật mình cổ tức DN nhỏ

Ngày 28/2, Hội đồng quản trị CTCP CNG Việt Nam (MCK: CNG) vừa có quyết nghị thông qua các nội dung quan trọng để trình Đại hội đồng cổ đông trong kỳ họp thường niên tổ chức ngày 06/04/2012. Theo đó, tỷ lệ cổ tức năm 2011 là 70% (tương đương 7.000 đồng/cp) và kế hoạch cho năm 2012 là 35%.

Trước đó, CNG đã tạm ứng cổ tức 2011 với tỷ lệ 25% (trong đó 15% là tiền mặt). Đây là một trong những doanh nghiệp có mức trả cổ tức cao trên cả hai sàn chứng khoán TP.HCM và Hà Nội. So với mức giá hiện tại khoảng 26.000 đồng/cp thì mức trả cổ tức nói trên khá hấp dẫn.

Cổ tức cao là nhờ vào kết quả hoạt động kinh doanh 2011 khá tốt với doanh thu đạt 748 tỷ đồng (vượt 14% kế hoạch), lợi nhuận sau thuế đạt 203 tỷ đồng - một con số rất cao so với số vốn điều lệ 200 tỷ đồng của công ty.

Một loạt các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ cũng đã công bố mức chi trả cổ tức 2011 cao bao gồm: ABT (đã trả 60%), DSN (52%), DVP (40%), AAM (đã tạm ứng 30%), GIL (đã chia 40%), SDG (tạm ứng 30%), NTL (tạm ứng 25%)...

Posted Image

Cho tới thời điểm này, còn rất nhiều doanh nghiệp chưa công bố chính thức tỷ lệ chia cổ tức năm 2011 nhưng có thể thấy trong nghị quyết đại hội cổ đông năm 2011, không ít doanh nghiệp có kế hoạch trả cổ tức trên 30%.

Trong đó, nhiều doanh nghiệp tạm ứng một phần cổ tức như BHS (20%), DTL (20%), TIX (25%), AGF (10%), DPR (15%), DVP (20%), PHR (15%), RAL (15%), CMS (15%)...

Bên cạnh đó, cũng có khá nhiều doanh nghiệp có thu nhập/cổ phiếu (EPS) đạt trên 10.000 đồng/cp trong năm 2011 như: HGM (25.000 đồng), BMC, KSB, NNC, DPR, TRC, PHR, AGD, ACL, KTS, VSC, HHS, D11. Các doanh nghiệp này nhiều khả năng sẽ đưa ra mức trả cổ tức cao dựa trên kết quả kinh doanh tốt của mình.

Đây là những tín hiệu đáng mừng trong bối cảnh kinh tế 2011 gặp rất nhiều khó khăn với lạm phát đứng ở mức cao trên 18% và lãi suất lên tới trên 25%/năm.

Đặc biệt, đối với các nhà đầu tư chứng khoán thì điều này càng rất có ý nghĩa khi năm qua, thị trường chứng khoán khó khăn, giá cổ phiếu xuống thấp thì điều trông chờ lớn nhất của họ là cổ tức.

Hơn thế, theo các chuyên gia, trên một thị trường đầu tư dài hạn như cổ phiếu thì cổ tức luôn là vấn đề quan trọng. Nó đảm bảo lợi nhuận và hiệu quả của DN trong thời điểm khó khăn nhất, chứng tỏ hướng đi đúng, khả năng cạnh tranh và hiệu quả của DN. Từ đó càng thu hút thêm nhà đầu tư đến và gắn bó với DN hơn. Đó mới chính là điều quan trọng nhất khi lên sàn chứng khoán.

Bực mình lợi nhuận DN lớn

Trái ngược với những doanh nghiệp làm ăn tốt, tiền mặt dư dả và tính thanh khoản cao nói trên, TTCK năm 2011 chứng kiến một làn sóng các doanh nghiệp tìm cách hạ chỉ tiêu lợi nhuận và không trả cổ tức, hoặc trả ở mức rất thấp.

Và thật đáng tiếc là trong đó có cả những doanh nghiệp có quy mô vốn rất lớn. Sóng gió suy giảm kinh tế đã khiến họ không trụ vững do quản trị rủi ro không hiệu quả.

Trong thông báo phát đi ngày 28/2, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Sacom (SAM) đã thông báo kết quả kinh doanh quý IV và cả năm 2011 hợp nhất. Theo đó, năm 2011, SAM lỗ ròng 188,5 tỷ đồng, so với khoản lãi 118,08 tỷ đồng trong năm 2010.

SAM hiện tại có vốn điều lệ là gần 1.310 tỷ đồng, nhưng vốn hóa chỉ còn 693 tỷ do giá cổ phiếu hiện đang ở mức trên 5.000 đồng/cp. Với mức lỗ như vậy, kế hoạch trả cổ tức của SAM coi như đã phá sản.

Posted Image

Hai "đại gia" thua lỗ đáng tiếc khác là OceanGroup và Quốc Cường Gia Lai.

Tính lũy kế cả năm 2011, Quốc Cường Gia Lai lỗ 38,63 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 283 tỷ đồng). Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Dương (OceanGroup) bất ngờ báo lỗ gần 18,4 tỷ đồng trong quý IV do chi phí tài chính tăng mạnh. Tính chung cả năm, OGC lãi lãi ròng 182,75 tỷ đồng, nhưng giảm 68,8% so với cùng kỳ.

Một loạt các đại gia khác cũng thua lỗ trong năm 2011 như SJS (lỗ 71 tỷ đồng, so với mức lãi 457 tỷ đồng trong năm 2010), TLH (lỗ ròng hơn 40 tỷ đồng), NVT (lỗ ròng 70,3 tỷ đồng), VSP (lỗ 535 tỷ đồng), HLA (-19,5 tỷ đồng), THV (-198 tỷ đồng)...

Với kết quả lỗ hoặc lãi không đáng kể như vậy, có thể thấy các doanh nghiệp này chắc chắn sẽ không có tiền để trả cổ tức.

Khá nhiều doanh nghiệp lớn khác có lợi nhuận nhưng cũng không tính tới chuyện trả cổ tức hoặc trả ở mức thấp do "để lại kinh doanh hiệu quả hơn" như: Tập đoàn Minh Phú, Nhựa Tiền Phong, Masan, Vinaconex ...

Chết vì ham đa ngành

Doanh nghiệp nhỏ nhưng trả cổ tức cao, trong khi doanh nghiệp lớn trả cổ tức thấp là một mảng và là hai phần đối lập của bức tranh TTCK trong năm vừa qua.

Không mang tính phổ biến nhưng có thể thấy, đa số các doanh nghiệp trả cổ tức cao thường có quy mô vừa và nhỏ và có hoạt động không dàn trải, đa ngành nghề như ABT, AAM, AGF, AGD, ACL chuyên về thủy sản; DPR, PHR, TRC chuyên về cao su; KTS, BHS chuyên về đường; còn BMC, KSB, NNC chuyên về khoáng sản...

Trong khi đó, các doanh nghiệp thua lỗ hoặc lãi tụt giảm trong năm vừa qua thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, hoặc/và có liên quan ít nhiều tới bất động sản.

Trường hợp Sacom (SAM) là một ví dụ điển hình. Mức giá hơn 5.000 đồng/cp hiện tại và kết quả thua lỗ trong năm 2011 khiến nhiều người cảm thấy xót xa khi mà hơn 10 năm về trước, khi TTCK Việt Nam mới thành lập, Sacom là một trong hai công ty cổ phần hoạt động hiệu quả được chọn thí điểm niêm yết đầu tiên. Trong 5 năm dầu tiên, trước khi các tên tuổi lớn như Vinamilk, Sacombank xuất hiện, cổ phiếu SAM vẫn là blue-chip dẫn dắt thị trường.

Kể cả khi Vinamilk và Sacombank xuất hiện, SAM cùng với REE và GMD vẫn được các nhà đầu tư trìu mến đặt tên là "big 3 ", do tầm ảnh hưởng của cả nhóm tới thị trường chung mà SAM được ví như người anh cả. Room 49% của SAM với nhà đầu tư nước ngoài luôn đầy ắp với nhiều gương mặt cổ đông lớn: Amersham Industries Ltd, Wareham Group Ltd.

Nhưng tất cả đã thay đổi từ 2007 khi nguồn vốn chủ sở hữu của Sacom đã tăng chóng mặt từ 738 tỷ đồng vào cuối năm 2006 lên 2.433 tỷ đồng vào cuối năm 2007 (nhờ phát hành tăng vốn).

Vốn tăng mạnh trong khi thị trường cáp đồng trong nước đã bão hòa. Sacom đã tính lấn sân sang lĩnh vực bất động sản với việc mua đất xây cao ốc văn phòng, chung cư tại TP. HCM , góp vốn đầu tư Khu du lịch nghỉ dưỡng Sacom Resort (Đà Lạt) và cũng mở rộng các khoản đầu tư sang lĩnh vực tài chính.

Kết thúc năm 2008, lần đầu tiên kể từ năm 1998, lợi nhuận của Sacom tăng trưởng âm. Tới 2011, khi mà cả TTCK và bất động sản khó khăn thì việc Sacom gặp khó khăn là điều không tránh khỏi.

Mảng kinh doanh truyền thống của Sacom cũng đi vào bế tắc và có những năm đã thua lỗ trên chính mặt trận này như trong năm 2009.

Phong trào đầu tư đa ngành nghề đã diễn ra khá rầm rộ trong nhiều năm nay. Việc huy động vốn khá đơn giản trong nhiều năm trước đây đã khiến nhiều doanh nghiệp (như bộ ba SAM, REE, GMD) có cơ hội để xâm nhập vào các ngành nghề khác, trong đó có tài chính và bất động sản.

Chưa biết hiệu quả về sau sẽ như thế nào, nhưng hiện tại nhiều nhà đầu tư tỏ ra lo lắng về hiệu quả mà các doanh nghiệp này đạt được cùng một lúc trong nhiều lĩnh vực như vậy. Rủi ro còn tăng cao hơn bao giờ hết nếu các thị trường như bất động sản hay chứng khoán gặp khó khăn do tăng nóng trước đó.

Ở chiều trái ngược, trên TTCK Việt Nam vẫn còn khá nhiều gương mặt lớn vẫn phát triển bền vững với ngành nghề cốt lõi của mình như ACB, VNM, PNJ.

Chính cổ đông sáng lập của các doanh nghiệp này là những người hưởng cổ tức khủng nhất và bền vững. Những doanh nghiệp này đều chia cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 20% mỗi năm, thậm chí hơn. Trong khi lợi nhuận tích lũy cho doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tai nạn tăng nặng.....

===================

Thái Lan: Xe lửa đâm xe tải, 40 người bị thương

11/03/2012 15:17

(TNO) Ít nhất 40 người bị thương, trong đó có 3 trường hợp nghiêm trọng, sau khi một xe lửa đâm vào xe tải tại miền nam Thái Lan vào hôm nay 11.3, AFP dẫn lời cảnh sát địa phương cho biết.

Chiếc xe tải chở theo vật liệu nhựa đường đã bị xe lửa đâm vào khi nó vượt qua đường ray tại tỉnh Surat Thani, cảnh sát có mặt tại hiện trường nói với AFP.

Hai lái tàu và tài xế xe tải bị thương nghiêm trọng, trong khi gần 40 hành khách trên xe lửa bị những vết thương nhẹ hơn.

Cảnh sát cho biết, ngã tư đường vượt không có rào chắn và nguyên nhân vụ tai nạn đang được điều tra.

Tiến Dũng

===================

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kinh tế Mỹ sẽ ra sao nếu châu Âu suy thoái?

(Dân trí) - Với việc kinh tế khu vực EU giảm phát 0,3% trong quý 4/2011, nguy cơ về một cuộc suy thoái đang ngày một hiển hiện. Nếu điều này xảy ra kinh tế Mỹ sẽ khó tránh khỏi những tác động bất lợi.

Thông thường, kinh tế một quốc gia sẽ bị coi là suy thoái nếu GDP sụt giảm từ 2 quý liên tiếp trở lên. Và những ngày đầu năm 2012 này, khu vực châu Âu đã “tụt một chân” xuống khu vực này khi số liệu GDP quý 4/2011 cho thấy đã có sự sụt giảm 0,3%. Ủy ban châu Âu cũng nhận định kinh tế 17 quốc gia khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ phải hứng chịu một đợt “suy thoái nhẹ” do tác động của các biện pháp thắt lưng buộc bụng, khủng hoảng nợ công, thị trường tài chính u ám và tình hình kinh tế toàn cầu chưa khởi sắc.

Posted Image

Kim ngạch thương mại của Mỹ với các nước

Kinh tế châu Âu gặp khó, nước Mỹ chắc chắn có lí do để lo lắng. Kể từ năm 2010 đến nay thị trường chứng khoán Mỹ luôn gặp bất lợi mỗi khi có tin xấu về khủng nợ châu Âu đơn giản bởi các ngân hàng Mỹ đều có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống tài chính khu vực này.

Một khi EU rơi vào suy thoái các nhà đầu tư trái phiếu sẽ lo lắng về khả năng trả nợ của các chính phủ châu Âu. Sự lo lắng này có thể khiến các nhà đầu tư bán tháo trái phiếu các chính phủ châu Âu và khiến cho cuộc khủng hoảng hiện tại thêm trầm trọng. Theo số liệu của EU, trong năm 2010, khu vực này tiêu thụ đến 22% sản lượng xuất khẩu và đóng góp khoảng 2,7% GDP của Mỹ. Đồng thời EU và Mỹ cũng là những nhà đầu tư lớn của nhau.

Trong năm 2007, FDI của Mỹ vào lục địa già này đã lên tới 1400 tỷ USD. Ở chiều ngược lại Mỹ tiếp nhận tới 1300 tỷ USD FDI từ châu Âu. Năm 2008, theo số liệu của Bộ thương mại Mỹ, các công ty nước này với cổ đông chính là các nhà đầu tư châu Âu có doanh thu lên tới 1700 tỷ USD và tạo ra khoảng 3,5 triệu việc làm.

Và trong nền kinh tế toàn cầu có sự gắn kết chặt chẽ như hiện nay, tác động của suy thoái khu vực châu Âu không chỉ dừng lại ở mối quan hệ 2 bờ Đại Tây Dương. Theo CIA World Factbook, EU hiện là nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhà xuất khẩu lớn thứ hai và cũng là nhà nhập khẩu lớn thứ hai. Còn theo số liệu của Ủy ban châu Âu (EC), các quốc gia khu vực này là những nhà đầu tư lớn nhất và là địa điểm thu hút vốn đầu tư FDI nhiều nhất toàn cầu.

Posted Image

Kim ngạch thương mại của EU với Mỹ

Trong một cuộc phỏng vấn với trang tin tài chính Caixin Online, tỷ phúGeorge Soros từng chỉ ra rằng trong quý 1/2011, các ngân hàng châu Âu đã cho các quốc gia đang phát triển vay khoảng 3700 tỷ USD, vượt xa mức giải ngân của các ngân hàng Mỹ (1500 tỷ USD) và Nhật Bản (700 tỷ USD). Bởi vậy nếu các ngân hàng châu Âu bị tác động bởi suy thoái, nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển, vốn luôn có ý nghĩa quan trọng với tăng trưởng kinh tế toàn cầu những năm gần đây, sẽ bị cắt giảm.

Để đương đầu với viễn cảnh suy thoái và cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay, NHTW châu Âu (ECB) có thể đưa ra thêm nhiều chính sách kích thích tài khóa. Nếu điều này xảy ra, giá trị đồng euro so với USD sẽ sụt giảm, khiến hàng hóa xuất khẩu của châu Âu sẽ rẻ hơn hàng hóa của Mỹ.

Lợi thế này cộng với chi phí vốn rẻ mới đây đã giúp các doanh nghiệp của Đức hưởng lợi. Thống kê cho thấy, kim ngạch xuất khẩu của quốc gia này đã vượt Mỹ. Và nếu EU còn tiếp tục sử dụng chính sách đồng euro yếu để vượt qua khủng hoảng, chắc chắn kinh tế Mỹ sẽ chịu thiệt hại, nhất là hoạt động xuất khẩu.

Thanh Tùng

Theo IBT

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trung Quốc báo cáo thâm hụt mậu dịch

Các giới chức Trung Quốc hôm nay báo cáo một khoản thâm hụt mậu dịch khổng lồ trong tháng 2, với chênh lệch giữa nhập khẩu với xuất khẩu nằm ở mức cao nhất trong vòng hơn một thập niên.

Các số liệu của hải quan Trung Quốc cho thấy xuất khẩu trong tháng 2 đạt mức 114,5 tỉ đô la trong khi nhập khẩu lên tới 145,9 tỉ. Số nhập siêu 31,4 tỉ đô la này là con số cao nhất kể từ giữa thập niên 1990 và là một ngoại lệ hiếm hoi trong một loạt những khoản thặng dư mậu dịch nhiều tỉ đô la hồi gần đây.

Các nhà phân tích nói rằng hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc sang các đối tác mậu dịch lớn ở Tây phương bị sút giảm vì ảnh hưởng của vụ khủng hoảng nợ khu vực đồng euro và sự phục hồi không mấy nhanh chóng của nền kinh tế Hoa Kỳ.

http://www.voanews.c...-142180903.html

Share this post


Link to post
Share on other sites

Học giả Mỹ bàn về ngoại giao nước lớn tại biển Đông

Posted ImageTuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu độc giả báo cáo mới nhất của các chuyên gia cố vấn Mỹ về biển Đông. Sau đây là nhận định của Ian Storey về chính sách ngoại giao của Trung Quốc tại khu vực này trong thời gian tới.

Các hành động ngày càng xác quyết của Trung Quốc tại biển Đông đang làm dấy lên mối lo ngại tại Đông Nam Á và xa hơn thế, vì chúng có thể đe dọa sự tiếp cận tới các hải trình quan trọng, làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang hoặc khủng hoảng trên biển và có thể làm xấu đi các quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Nhưng bất chấp những căng thẳng này, Trung Quốc ít có lẽ không cố tìm cách giải quyết các tranh chấp tại biển Đông bằng vũ lực, vì chi phí cho việc này sẽ lớn hơn nhiều những lợi ích nó có thể đem lại. Thực vậy, giới chức Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục chính sách mà họ đang áp dụng từ hơn hai thập kỷ qua: đó là nhấn mạnh cam kết hướng tới hòa bình, ổn định và hợp tác đồng thời khẳng định các đòi hỏi tài phán và mở rộng sự hiện diện vật chất của Trung Quốc tại biển Đông.

Tài liệu này sẽ phân tích các lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông, các nỗ lực ngoại giao của nước này nhằm vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố các yêu sách của mình tại các khu vực tranh chấp. Sau đó, tác giả sẽ thử giải thích tại sao Trung Quốc thích ngoại giao song phương hơn là đa phương, nhưng tại sao trong hai thập kỷ qua, nước này lại tiến hành đàm phán hai thỏa thuận với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Kết luận cuối cùng của bài phân tích sẽ là các động lực cơ bản định hình chính sách của Trung Quốc ít khả năng thay đổi và vì vậy, sự nguyên trạng sẽ có thể kéo dài.

Lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông

Trung Quốc có ba lợi ích chủ chốt tại biển Đông, và các lợi ích này có liên quan đến nhau. Đầu tiên, họ muốn khẳng định chủ quyền đối với cái mà họ coi là các quyền lịch sử của mình, bao gồm chủ quyền đối với tất cả các hình thái địa chất và có thể toàn bộ vùng trời phía trên vùng biển này. Thứ hai, họ muốn đảm bảo sự tiếp cận, dựa trên nền tảng các quyền lịch sử kể trên, với các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là cá, dầu mỏ, khí thiên nhiên và các khoáng sản dưới lòng biển. Thứ ba, họ muốn đảm bảo rằng các tuyến thông thương trên biển (SLOCs) được an toàn vì các tuyến thương mại huyết mạch này có vai trò sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế và các khát vọng quyền lực của Trung Quốc.

Đòi hỏi chủ quyền. Trung Quốc đòi "chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo tại biển Đông và các vùng nước liền kề". Họ lập luận cho các yêu sách của mình dựa trên sự phát hiện, thời gian sử dụng lịch sử và sự kiểm soát về hành chính của các chính phủ liên tiếp của Trung Quốc từ triều đại nhà Hán thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Trung Quốc hỗ trợ cho các yêu sách của mình bằng các bản đồ đối chiếu, các phát minh khảo cổ và các kỷ lục lịch sử.

Tuy nhiên, không một bằng chứng nào kể trên phù hợp với luật pháp quốc tế hiện đại, vốn ủng hộ các yêu sách chủ quyền của những quốc gia có thể chứng minh sự quản lý một cách liên tục và hiệu quả. Trung Quốc không thể chứng minh điều này vì chính quyền trung ương của họ yếu kém trong thời loạn lạc trong nước và các cuộc xâm lược của nước ngoài thế kỷ 19 và 20, vì vậy không thể quản lý hiệu quả các đảo trên.

Điều này một phần giải thích tại sao Trung Quốc không muốn trình các yêu sách của mình lên trọng tài pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng các yêu sách lịch sử của các bên khác cũng thiếu thuyết phục.

Posted Image

Một trong các tài liệu lịch sử quan trọng nhất mà Trung Quốc viện dẫn cho các đòi hỏi của mình là một tấm bản đồ có từ thời Chính phủ Quốc dân đảng ở Trung Quốc năm 1947, trong đó vẽ một đường đứt đoạn đi qua bờ biển phía Tây của Philippines, tới bờ biển Borneo và sau đó tiếp tục đi lên phía Bắc dọc bờ biển phía Đông của Việt Nam. Sau khi lập nước năm 1949, Trung Quốc đã coi tấm bản đồ này như một trong các căn cứ cho các yêu sách của mình tại biển Đông. Ngày nay, các bản đồ chính thức của Trung Quốc tại Đông Nam Á vẽ 10 nét đứt, nhưng các bản đồ tại Trung Quốc chỉ có 9 nét, chính vì vậy họ thường quy chiếu tới đường 9 đoạn này.

Trung Quốc đã chính thức trình bản đồ này lên một tổ chức quốc tế lần đầu tiên vào ngày 7/5/2009, khi nó được kèm với một biên bản kiện lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLSC) của LHQ về một bản phúc trình chung của Malaysia và Việt Nam. Bất chấp thực tế là tấm bản đồ này đã tồn tại 6 thập kỷ, Trung Quốc vẫn phải giải thích ý nghĩa của đường 9 đoạn và chứng minh nó phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển của LHQ (UNCLOS) năm 1982, mà nước này đã phê chuẩn năm 1996.

Bản đồ trên có thể được hiểu theo hai cách. Trước tiên là 9 nét đứt đánh dấu các khu vực chung chung xung quanh các hình thái địa chất chính mà Trung Quốc đòi hỏi. Ít nhất một trong các hình thái địa chất này là một đảo, tức là kèm theo nó là một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý theo luật pháp quốc tế. Các hình thái địa chất lớn khác là các bãi đá ngầm, loại được phép kèm theo vùng nước dài 12 hải lý nhưng không tạo ra một EEZ riêng. Cách hiểu này có lẽ phù hợp hơn với luật pháp quốc tế ghi trong UNCLOS. Nó cũng phù hợp với các quy định pháp luật quốc gia của Trung Quốc năm 1992, trong đó đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa, Trung Sa, Scarborough Shoal, Điếu Ngư/Senkaku, Penghu và Dongsha. Dù các yêu sách chính xác của Trung Quốc vẫn còn rất mập mờ, nhưng cách tiếp cận này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cách hiểu thứ hai là đường 9 đoạn giới hạn các "vùng biển lịch sử" của Trung Quốc tại biển Đông - tức là Trung Quốc đòi toàn bộ vùng biển nằm trong lòng đường đứt đoạn này. Theo quan sát của Đại sứ Lưu động của Singapore, và cựu Chủ tịch Hội thảo của LHQ về Luật Biển lần thứ 3 Tommy Koh, đòi hỏi như vậy của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, hành vi ngày càng xác quyết của Trung Quốc đối với các nước có tranh chấp - như gây sức ép để các tập đoàn năng lượng nước ngoài không tham gia thăm dò ngoài khơi, áp đặt lệnh cấm đánh bắt và quấy nhiễu các hoạt động thăm dò dầu khí của các công ty dầu mỏ Đông Nam Á - cho thấy Bắc Kinh đang áp dụng các hiểu thứ hai.

Các quan chức Đông Nam Á coi đây là một diễn biến đáng lo ngại. Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã mô tả tấm bản đồ này "thực sự trao cho Trung Quốc chủ quyền đối với biển Đông", và cựu Thứ trưởng của Singapore và chuyên gia về luật S. Jayakumar cho rằng tấm bản đồ này "gây hoang mang và khuấy động" vì nó không có căn cứ nào dựa trên UNCLOS và có thể "được hiểu là một yêu sách đối với toàn bộ các khu vực biển nằm trong đường 9 đoạn". Cách hiểu này hủy hoại một số tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế và gây nguy hại đến quyền tự do hàng hải.

Sự mở rộng các yêu sách của Trung Quốc, các hành vi xác quyết định kỳ của họ và việc họ từ chối giải thích tấm bản đồ trên đã gây lo ngại trên toàn Đông Nam Á. Việt Nam bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc, Indonesia và Philippines đã chính thức khởi kiện đường 9 đoạn lên LHQ, và Singapore đã gọi điện tới Bắc Kinh yêu cầu làm rõ các yêu sách của mình. Nhưng Chính phủ Trung Quốc khước từ.

Tài nguyên biển. Biển Đông là một trong những vựa cá lớn nhất thế giới, chiếm tới 1/10 sản lượng đánh bắt cá toàn thế giới. Kho cá này, dù đang nhanh chóng suy giảm, không chỉ đóng vai trò tối quan trọng đối với an ninh lương thực của các nước châu Á mà còn là một nguồn thu nhập của ngư dân trong khu vực. Tuy nhiên quan trọng hơn, biển Đông còn chứa trong lòng nó những mỏ dầu khí lớn. Và một kết quả của các căng thẳng hiện nay trong khu vực là các công ty năng lượng quốc tế đã không thể hoàn tất các thăm dò chi tiết tại biển Đông, khiến các đánh giá về trữ lượng tiềm năng không giống nhau. Trung Quốc ước tính khoảng từ 100-200 tỷ thùng dầu đang nằm dưới lòng biển này, trong khi Nga và Mỹ đưa ra con số 1,6 - 1,8 tỷ thùng.

Trung Quốc ngày càng quan tâm tới nguồn tài nguyên dầu mỏ tiềm năng kể từ đầu những năm 1990, khi giá năng lượng và nhu cầu năng lượng toàn cầu đều tăng. Các hành động của Trung Quốc một phần xuất phát từ suy nghĩ rằng biển Đông là "một vùng Vịnh mới". Sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu mỏ nhập khẩu ngày càng tăng - dầu nhập từ nước ngoài chiếm 52% tổng lượng dầu tiêu thụ tại Trung Quốc vào năm 2009, con số này đã tăng lên 55% vào năm 2010 - an ninh năng lượng đã trở thành một khía cạnh quan trọng hơn trong tranh chấp tại biển Đông. Điều này giúp giải thích tại sao hành vi quấy nhiễu của Trung Quốc gần đây đối với các tàu thăm dò dầu khí được chính phủ các nước Đông Nam Á cho phép.

Thông qua các bình luận trên báo chí nhà nước, Trung Quốc đã cáo buộc một số nước Đông Nam Á có yêu sách trên biển Đông đang "chiếm đoạt" tài nguyên biển tại biển Đông, nguồn tài nguyên mà Trung Quốc cho là của mình dựa theo các "quyền lịch sử" quốc gia. Bắc Kinh liên tiếp khẳng định rằng các hành động của các công ty năng lượng nước ngoài tại biển Đông vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Họ kêu gọi các nước khác đòi chủ quyền phải ngừng thăm dò tài nguyên tại các khu vực mà Trung Quốc đòi chủ quyền, nhưng cả Việt Nam và Philippines đều bác bỏ yêu cầu này vì các đòi hỏi mở rộng của Trung Quốc không thuyết phục.

An ninh của các hải trình. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào an ninh của các tuyến SLOCs, con đường xuất khẩu hàng hóa của nước này tới các thị trường quốc tế, đồng thời đưa hàng hóa, nguyên liệu đầu vào và tài nguyên năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc. Theo một số ước tính, 80% năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đi qua các chốt chiến lược tại Đông Nam Á - eo biển Malacca, Singapore, các eo biển Lombok, Makkassar và Sunda - và biển Đông. Tính dễ bị tổn thương về mặt chiến lược này được mọi người gọi là "tiến thoái lưỡng nan Malacca".

Các năng lực của Hải quân của PLA đã được cải thiện trong thập kỷ qua, nhưng lực lượng này vẫn chưa có khả năng kiểm soát thực sự đối với các SLOCs ở xa, như các hải trình đi qua Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, Trung Quốc đã ngày càng thể hiện sự ảnh hưởng lớn hơn đối với các tuyến SLOCs gần, đặc biệt là tại biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm hai bên của các tuyến này, và đây là lý do quan trọng giải thích tại sao Trung Quốc tìm cách kiểm soát các quần đảo này.

Chính sách nước đôi của Trung Quốc ở Biển Đông

Tác giả: CHÂU GIANG DỊCH TỪ CNAS

Bài đã được xuất bản.: 10/03/2012 05:00 GMT+7

Chính sách của Trung Quốc liên quan đến các tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển tại biển Đông tương đối nhất quán từ cuối những năm 1970.

Kỳ 1: Học giả Mỹ bàn về ngoại giao nước lớn tại biển Đông

Trung Quốc đã tìm cách trấn an những nước có yêu sách khác bằng cách liên tiếp nhấn mạnh các ý định hòa bình của mình trong khu vực và thiện chí tham gia hợp tác quản lý các nguồn tài nguyên biển, trong khi tìm cách kéo dài các cuộc thảo luận về vấn đề này để có thời gian củng cố các yêu sách của mình tại biển Đông. Với việc củng cố các năng lực quân sự và tăng sự tự tin về chính trị, Trung Quốc đã hành xử xác quyết hơn tại biển Đông. Họ đáp lại những chỉ trích về cách hành xử của mình bằng việc hòa giải mang tính chiến thuật, nhưng các nền tảng của chính sách vẫn không thay đổi. Một số quan chức Đông Nam Á đã gọi chính sách nước đôi này là "miệng nói tay làm".

Trấn an các nước láng giềng trong khu vực.

Cuối những năm 1970, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra một công thức để "giải quyết" tranh chấp: các bên nên gạt sang một bên vấn đề chủ quyền và cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, không rõ liệu ông Đặng hay người kế nhiệm ông đã bao giờ coi đây là một đề xuất thực tế hay chưa. Trung Quốc chưa bao giờ thể hiện thiện chí gạt sang một bên các yêu sách lãnh thổ hay đề xuất một khuôn khổ cho sự hợp tác khai thác như thế. Tuy nhiên, ý tưởng này vẫn là câu thần trú trong chính sách của Trung Quốc, và đến nay vẫn vậy.

Nhiều năm qua, Trung Quốc nhấn mạnh rằng tranh chấp tại biển Đông là một vấn đề song phương. Tuy nhiên, cuối những năm 1990, họ đã đưa ra một quyết định chiến lược là kéo ASEAN tham gia vấn đề này ở khía cạnh ngoại giao, và kết quả là ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) năm 2002. Thỏa thuận này nhằm giảm căng thẳng và xây dựng niềm tin bằng việc thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin hợp tác (CBMs). Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đóng vai trò kẻ phá quấy, cả trong việc thương lượng thỏa thuận và các nỗ lực thực thi sau đó. Mỗi khi Trung Quốc có vẻ đưa ra một nhượng bộ, như ký kết thỏa thuận hay nhất trí các hướng dẫn thực thi vào năm 2011, thì ngay sau đó họ lại chặn đứng việc thực thi các hướng dẫn hay bất kỳ CBMs nào. Trung Quốc đã tìm cách củng cố các đòi hỏi chủ quyền của mình tại biển Đông trong một số năm qua. Sau khi họ gửi phản đối lên Ủy ban CLCS năm 2009, thì đầu năm 2010 các quan chức cấp cao Trung Quốc liên tục nói với các đồng cấp Mỹ rằng biển Đông là một "lợi ích cốt lõi". Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho biết Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc - vị cố vấn có tầm ảnh hưởng lớn nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc cho giới lãnh đạo cấp cao - đã nhắc lại thái độ xác quyết này tại cuộc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ - Trung tại Bắc Kinh tháng 5/2010. Một số quan sát viên cho đây là một cách để đẩy vấn đề biển Đông lên ngang tầm với các vấn đề cực kỳ nhạy cảm như Đài Loan và Tây Tạng. Điều này có nghĩa là tranh chấp tại biển Đông là không thể thương lượng và Trung Quốc đã chuẩn bị để sử dụng vũ lực để bảo vệ các yêu sách của mình. Việc Trung Quốc coi biển Đông là một "lợi ích cốt lõi" cũng gây lo ngại trong toàn khu vực. Tại cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tháng 7/2010, 12 quốc gia - trong đó có tất cả các nước thành viên ASEAN có yêu sách biển Đông - đã thể hiện những lo ngại về các diễn biến tại biển Đông, khiến Trung Quốc cũng phải ngạc nhiên. Sau đó, các quan chức chính phủ và các học giả Trung Quốc đã ngừng coi biển Đông là lợi ích cốt lõi. Đáng chú ý là Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào không sử dụng cụm từ này trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Mỹ tháng 1/2011. Tuy nhiên, vấn đề này lại nổi lên vào tháng 8/2011, khi một bài xã luận được Tân Hoa Xã đưa một lần nữa nhấn mạnh "chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các vùng biển, quần đảo và các vùng nước xung quanh", và cho rằng các khu vực này là một phần "lợi ích cốt lõi của Trung Quốc". Gần như ngay sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã công bố Sách Trắng mang tên "Sự phát triển hòa bình của Trung Quốc", trong đó liệt kê chủ quyền là một trong các "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc, bên cạnh an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất dân tộc. Sách Trắng cũng khẳng định quyền của Trung Quốc "cương quyết bảo vệ" bốn điểm chìa khóa này. Dù tài liệu trên không nêu đích danh biển Đông, nhưng nó cũng cho thấy Bắc Kinh coi khu vực này là một trong các lợi ích cốt lõi của mình.

Posted Image

Trung Quốc khẳng định rằng họ sẵn sàng tham gia đàm phán song phương với các nước đòi chủ quyền khác, nhưng các cuộc đàm phán này không hấp dẫn các nước liên quan. Tuy nhiên, Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh cách giải quyết song phương, hơn là đa phương, và kịch liệt bác bỏ cái mà họ gọi là "quốc tế hóa" tranh chấp. Vì vậy, Trung Quốc phản đối thảo luận vấn đề tại các cuộc họp an ninh của khu vực như ARF và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Trên thực tế, Trung Quốc đã gạt được vấn đề này ra khỏi chương trình nghị sự của ARF cho đến năm 2010, đến khi 12 nước bày tỏ lo ngại về các hành động ngày càng xác quyết của Trung Quốc tại biển Đông. Trung Quốc chắc chắn sẽ cố để tranh chấp biển Đông không được đem ra giải quyết tại nhóm làm việc về an ninh biển do Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+ thành lập tháng 10/2010.

Bắc Kinh hoàn toàn bác bỏ vai trò của các bên thứ ba trong tranh chấp, đặc biệt là Mỹ, nước mà họ cáo buộc là can thiệp, hay "xía vào việc của người khác". Trung Quốc cho rằng lợi ích ngày càng lớn của Mỹ tại biển Đông xuất phát từ các lợi ích mà họ không nói ra như sử dụng tranh chấp làm cái cớ để mở rộng sự hiện diện quân sự tại châu Á, và cảnh báo các nước Đông Nam Á - đặc biệt là Việt Nam - không nên khuyến khích sự can dự của Mỹ. Khi Ngoại trưởng Clinton gợi ý rằng Mỹ sẽ tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán về thực thi DOC, Trung Quốc đã kiên quyết phản đối. Trung Quốc cũng phản đối sử dụng trọng tài pháp lý quốc tế, một phần vì cách này sẽ cho phép sự can dự của một thể chế đa phương, trong khi họ không có cơ sở đủ mạnh. Trung Quốc đã từ chối đề xuất của Philippines năm 2011 trình các yêu sách lãnh thổ chồng lấn và yêu sách biên giới lên Tòa án Luật biển Quốc tế (ITLOS), cơ quan được thành lập theo UNCLOS để giải quyết các tranh chấp biển giữa các quốc gia đã phê chuẩn công ước này. Đề xuất này nhằm có được sự ủng hộ của khu vực đối với các nỗ lực quốc tế hóa trong giải quyết tranh chấp biển Đông. Nhưng Trung Quốc đã loại bỏ điều khoản về ITLOS khi phê chuẩn UNCLOS, tức là nước này sẽ hầu như chắc chắn tiếp tục phản đối đề xuất trên. Dù một số quốc gia Đông Nam Á đã trình các tranh chấp lãnh thổ của mình lên Tòa án Công lý Quốc tế xét xử, Trung Quốc gần như chắc chắn cũng sẽ phản đối một việc đưa vấn đề biển Đông lên tòa án này. Sự hiện diện của Trung Quốc tại biển Đông. Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã ngày càng mở rộng sự hiện diện vật chất tại biển Đông. Việc này diễn ra một cách chậm chạp nhưng vững chắc, một phần là kết quả của sức ép tài nguyên, nhưng cũng là một nỗ lực nhằm tránh gây hoang mang thái quá đối với các nước láng giềng. Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình ban đầu bằng cách tăng các chuyến tuần tra của các tàu lớn của Hải quân và các cơ quan thực thi pháp luật về biển, như Cơ quan Quản lý nghề cá khu vực biển Đông và cơ quan Giám sát biển Trung Quốc (CMS). Nước này thường xuyên sử dụng các cơ quan dân sự thực thi pháp luật biển, thay vì sử dụng Hải quân, để củng cố các yêu sách về tài phán của mình tại biển Đông, vì việc sử dụng tàu chiến sẽ chỉ làm leo thang căng thẳng. Tuy nhiên, các báo cáo định kỳ cho thấy tàu chiến của Hải quân Trung Quốc bắn súng vào các tàu đánh cá và đối đầu với các lực lượng hải quân các quốc gia Đông Nam Á tại biển Đông. Năm 2010, báo chí Nhật Bản đã nói về một cuộc chạm trán giữa các lực lượng Hải quân Trung Quốc và Malaysia, và tháng 2/2011, một tàu khu trục của Hải quân Trung Quốc được đưa tin là đã bắn cảnh cáo các tàu cá Philippines gần cồn san hô Jackson. Cơ quan Quản lý nghề cá khu vực biển Đông là cơ quan đầu tiên thực thi lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương mà Trung Quốc đưa ra hàng năm. Các tàu của CMS thì đe dọa một số tàu thăm dò của Philippines và Việt Nam năm 2011. Tháng 3/2011, hai tàu CMS đã quấy nhiễu tàu MV Veritas Voyager của Philippines gần bãi Cỏ Rong (phía Tây đảo Palawan), và buộc tàu này phải rút lui. Hai tháng sau đó, ngày 26/10, các tàu của CMS đã công khai cắt cáp thăm dò địa chất của tàu Bình Minh 02 của Việt Nam, khi tàu này đang hoạt động trong EEZ của Việt Nam. Sau đó vào ngày 9/6, tàu cá Trung Quốc được trang bị đặc biệt đã cắt cáp của một tàu thăm dò khác của Việt Nam, tàu Viking 2. Các sự cố trên cho thấy Trung Quốc đang sử dụng các năng lực hải quân không chỉ để thực thi các yêu sách tài phán của mình, mà còn để gửi đi một thông điệp tới các nước tại Đông Nam Á có đòi hỏi chủ quyền về cái giá phải trả nếu thách thức Trung Quốc. Các quan chức Trung Quốc đã tuyên bố rằng nước này sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp. DOC và Hiệp ước Bằng hữu và Hợp tác của ASEAN năm 1976, mà Trung Quốc gia nhập năm 2003, đều cấm sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp giữa các nước. Trên thực tế, Hải quân Trung Quốc đã không tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự nghiêm trọng tại biển Đông kể từ sau khi tấn công các lực lượng của Việt Nam tại cồn san hô Jackson năm 1988, làm hơn 70 người Việt Nam thiệt mạng. Trung Quốc hiểu rằng hành động quân sự công khai sẽ phản tác dụng vì nó sẽ hoàn toàn hủy hoại lập luận "phát triển/nổi lên hòa bình" của họ, khiến một số nước ASEAN củng cố quan hệ chiến lược với Mỹ. Tuy nhiên, việc hiện đại hóa lực lượng Hải quân đã tạo cho Trung Quốc các năng lực gây sức ép đối với các nước đòi chủ quyền khác, và nếu cần, sử dụng vũ lực một cách dứt khoát. Một số nhân vật cứng rắn trong quân đội được báo chí đưa là đã muốn sử dụng vũ lực để "dạy một bài học" cho các nước Đông Nam Á, nhưng hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy đấy là một sự chuyển hướng gì đó mà chỉ là một cái nhìn thiểu số trong lực lượng vũ trang. Vì vậy, khi Hải quân và các cơ quan thực thi luật pháp biển trở nên năng động hơn và xác quyết hơn tại biển Đông, nguy cơ ngày càng lớn là một sự cố vô tình trên biển có thể leo thang thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao và quân sự nghiêm trọng hơn. Sự thiếu vắng các cơ chế đề phòng xung đột giữa các nước có đòi hỏi chủ quyền khiến kịch bản này càng đáng lo ngại hơn. Hành xử của Trung Quốc trong sáu tháng đầu năm 2011 rõ ràng cho thấy chính sách nước đôi của họ, vừa trấn an nước khác vừa củng cố yêu sách của mình. Nhằm sửa chữa một số hỏng hóc về ngoại giao mà các hành động của Trung Quốc gây ra năm 2010, các quan chức cấp cao nước này - gồm Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì và Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt - đã công du Đông Nam Á để trấn an các nước trong khu vực, rằng sự nổi lên của Trung Quốc là hòa bình và có lợi về kinh tế, và nước này không tìm cách bá chủ. Về tranh chấp biển Đông, các vị lãnh đạo cấp cao này nhấn mạnh sự ủng hộ đối với DOC, tôn trọng tự do hàng hải và mong muốn hợp tác khai thác nguồn tài nguyên biển. Tại cuộc Đối thoại Shangri-La tháng 6 tại Singapore, Tướng Lương đã giảm căng thẳng bằng cách nhận định rằng tình hình tại biển Đông đã "ổn định" và nói rằng Trung Quốc muốn "hòa bình và ổn định". Nhưng như đã nói ở trên, các căng thẳng từ tháng Ba đã bùng lên sau các hành động xác quyết của các tàu tuần tra Trung Quốc ở ngoài khơi bờ biển Philippines và Việt Nam, làm rộng thêm khoảng cách giữa lời nói và hành động của Trung Quốc. Dù Trung Quốc không chiếm một đảo nào kể từ năm 1995 sau khi chiếm đảo Vành Khăn mà Philippines cũng đòi chủ quyền, nhưng thông tin về việc các tàu Trung Quốc tháo dỡ vật liệu xây dựng, dựng một số trụ cột và thả phao ở gần Iroquois Reef-Amy Douglas Bank (phía Tây Nam bãi Cỏ Rong) hồi tháng 5/2011 có thể cho thấy một sự thay đổi trong chính sách. Nếu thông tin này là có thực - trên thực tế chính quyền Philippines không đưa ra bằng chứng thuyết phục - thì đó sẽ là sự vi phạm nghiêm trọng nhất kể từ khi DOC được ký kết, vì một trong các điều khoản quan trọng của văn bản này cấm chiếm đóng các đảo chưa có người ở. Dù Trung Quốc không chiếm thêm một hình thái địa chất nào tại quần đảo Trường Sa từ năm 1995, nhưng họ tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự tại Hoàng Sa và trên 9 đảo mà họ chiếm đóng tại Trường Sa.

Ý đồ "chia để trị" của Trung Quốc tại biển Đông

Posted ImageCác nước Đông Nam Á đòi chủ quyền tỏ ra không hài lòng với kiểu khăng khăng với cách tiếp cận song phương của Trung Quốc. Vì Trung Quốc là bên liên quan mạnh nhất, các nước khác e là nước này đang cố ý "chia để trị" và sẽ mạnh hơn trong các cuộc thương lượng song phương. Hơn nữa, Trung Quốc chỉ ủng hộ các cuộc đối thoại song phương khi họ là một bên liên quan.

Chính sách song phương của Trung Quốc với các nước đòi chủ quyền khác.

Trung Quốc nhấn mạnh rằng tranh chấp biển Đông chỉ có thể được giải quyết thông qua các đối thoại song phương, dù vấn đề mang bản chất đa phương. Mặc dù vậy, trong hai thập kỷ qua không hề diễn ra một cuộc đối thoại thực sự nào giữa Trung Quốc với bất kỳ quốc gia đòi chủ quyền nào tại Đông Nam Á, có thể vì sự bất cân bằng về quyền lực, sự thiếu chân thành từ phía Trung Quốc, sự thiếu vắng các cơ chế hiệu quả, và gần đây nhất là việc các bên chính có quan điểm ngày càng cứng rắn hơn. Các lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc thảo luận về tranh chấp với các đồng cấp Đông Nam Á tại các cuộc họp cấp cao, nhưng các tuyên bố cuối cùng của hội nghị thường không cụ thể và không đi xa hơn những tuyên bố chung chung về sự cần thiết của việc duy trì hòa bình và ổn định tại biển Đông.

Các nước Đông Nam Á đòi chủ quyền tỏ ra không hài lòng với kiểu khăng khăng với cách tiếp cận song phương của Trung Quốc. Vì Trung Quốc là bên liên quan mạnh nhất, các nước khác e là nước này đang cố ý "chia để trị" và sẽ mạnh hơn trong các cuộc thương lượng song phương. Hơn nữa, Trung Quốc chỉ ủng hộ các cuộc đối thoại song phương khi họ là một bên liên quan. Không có chuyện Chính phủ Trung Quốc sẽ thừa nhận hiệu lực hay tính pháp lý của một thỏa thuận qua thương lượng giữa hai hay nhiều nước Đông Nam Á liên quan đến các yêu sách lãnh thổ chồng lấn của họ tại biển Đông. Trung Quốc đã thể hiện điều này hồi tháng 5/2009, khi kịch liệt phản đối phúc trình chung của Malaysia và Việt Nam lên CLCS liên quan đến một khu vực đáy biển ở phía Nam biển Đông. Trong một giác thư của mình, Trung Quốc nhắc lại "chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với các quần đảo tại biển Đông và các vùng nước liền kề" và cho rằng phúc trình của Malaysia và Việt Nam đã "vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại biển Đông" và kêu gọi ủy ban trên không xem xét phúc trình đó.

Trước mọi cuộc đàm phán song phương nghiêm túc, Trung Quốc đều muốn nhấn mạnh hai điều kiện: rằng chủ quyền của họ đối với các đảo trên biển Đông là không thể tranh cãi, và rằng các nước có yêu sách phải gạt sang một bên yêu sách chủ quyền của mình và cùng tham gia khai thác tài nguyên với Trung Quốc theo công thức của Đặng Tiểu Bình.

Trung Quốc đã tuyên bố như vậy về quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam cũng đòi chủ quyền đối với quần đảo này nhưng Bắc Kinh từ chối thảo luận vấn đề này với Hà Nội với lý do việc họ chiếm đóng quần đảo này năm 1974 đã khép lại vấn đề này. Tranh chấp Hoàng Sa vì vậy trở nên thực sự không thể thương lượng.

Hơn nữa, Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ công thức của ông Đặng sẽ được thực thi như thế nào. Các câu hỏi lớn vẫn không có lời đáp, như Các hoạt động hợp tác thăm dò sẽ diễn ra ở đâu? Nước nào sẽ tham gia? Đài Loan có được phép tham gia hay không? Và chi phí và lợi nhuận sẽ được chia sẻ như thế nào?

Posted Image

Vào năm 2005, Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã nhất trí hợp tác thăm dò địa chấn trong ba năm về biển Đông, mang tên Thỏa ước hợp tác thăm dò địa chấn biển (JMSU). Tuy nhiên, trước khi nghiên cứu này được thực thi, JMSU đã trở thành chủ đề của một cuộc tranh cãi chính trị tại Philippines khi họ phát hiện rằng một số hoạt động thăm dò được tiến hành ở ngoài khơi Philippines, vi phạm hiến pháp nước này. Thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào tháng 6/2008 và không được gia hạn thêm.

Triển vọng hợp tác khai thác càng ít khả thi sau khi Trung Quốc trình bản đồ có vẽ đường 9 đoạn lên CLCS năm 2009. Cả Việt Nam và Philippines đều nhận thấy rằng bản đồ của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp quốc tế và không thể trở thành căn cứ cho một thỏa thuận hợp tác khai thác tài nguyên vì nó bao chùm trên 80% diện tích biển Đông - bao gồm các khu vực chồng lấn với EEZ của họ. Hai nước này cho rằng hợp tác khai thác chỉ có thể diễn ra tại các khu vực được tất cả các bên thừa nhận là đang có tranh chấp. Nhưng lại rất khó phân định giữa các khu vực có tranh chấp và không thể tranh cãi, chừng nào Trung Quốc chưa nói rõ các yêu sách của mình.

Bất chấp các chướng ngại lớn này, Philippines gần đây đã đề nghị một nỗ lực hợp tác khai thác mới gọi là Vùng Hòa bình, Tự do, Bằng hữu và Hợp tác (ZoPFF/C). Đó là một tiến trình gồm hai bước. Đầu tiên là tách biệt các khu vực đang tranh chấp như quần đảo Trường Sa khỏi các khu vực mà Philippines không coi là có tranh chấp, như các vùng bờ biển và thềm lục địa. Như đã nói ở trên, Manila cho rằng các yêu sách của Trung Quốc đối với gần như toàn bộ khu vực biển Đông là không có hiệu lực và họ định khởi kiện bản đồ đường 9 đoạn của Bắc Kinh tại ITLOS. Thứ hai, các nước có yêu sách sẽ rút các lực lượng quân sự của mình khỏi các đảo đang chiếm đóng và thiết lập một khu vực hợp tác chung để quản lý tài nguyên biển.

Các ngoại trưởng ASEAN đã nhất trí xem xét kế hoạch này của Philippines vào tháng 7/2011, và đến tháng Chín, một cuộc họp của đại diện pháp lý từ các nước thành viên đã kết luận rằng đề xuất của Philippines có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, Trung Quốc phản đối ZoPFF/C. Báo chí đưa tin họ đã thể hiện sự phản đối tại hội nghị của các chuyên gia tư pháp ASEAN, và các bài xã luận trên báo chí nhà nước đã nhạo đề xuất này là một "trò lừa đảo" và cáo buộc Philippines không chân thành. Thiếu sự ủng hộ của Trung Quốc, đề xuất trên có ít cơ hội trở thành hiện thực.

Trong số 6 nước có đòi hỏi chủ quyền, chỉ Việt Nam và Trung Quốc đã thiết lập một cơ chế chính thức đề giải quyết tranh chấp. Năm 1994, hai nước này đã thành lập một nhóm làm việc chung để thảo luận về các tranh chấp tại biển Đông. Các cuộc thương lượng song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam đã giải quyết thành công các tranh chấp, trong đó có các vấn đề liên quan biên giới trên bộ và tại vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết tranh chấp tại biển Đông đã bị đóng băng, chủ yếu vì Trung Quốc từ chối thảo luận về quần đảo Hoàng Sa, và vì cả hai bên đều không muốn thỏa hiệp các yêu sách chủ quyền của mình. Tuy nhiên, quá trình này đã được nối lại.

Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 5/2011, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn cho biết hai bên đã tiến hành 5 vòng đàm phán nhằm thiết lập "các nguyên tắc hướng dẫn" về một giải pháp cho tranh chấp này. Hai vòng đàm phán đã diễn ra sau đó vào tháng 6 và tháng 8/2011, bất chấp căng thẳng gia tăng trong quan hệ Việt - Trung. Truyền thông Việt Nam đưa tin một "thỏa thuận sơ bộ" đã đạt được trong vòng đàm phán thứ 7 vào tháng 8/2011. Nhưng chi tiết của "thỏa thuận" này vẫn mập mờ và chỉ nhắc lại cam kết của hai bên đối với DOC, tầm quan trọng của việc tránh các hành động có thể "làm phức tạp thêm" tranh chấp, và cam kết không sử dụng vũ lực. Tuy nhiên cuối tháng đó, các quan chức quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí tiếp tục "các cuộc tham vấn và thương lượng".

Trung Quốc chưa thiết lập một cơ chế ngoại giao chính thức để thảo luận về biển Đông với Philippines, Malaysia hay Brunei. Philippines đang tiến hành các cuộc đối thoại an ninh và quốc phòng thường niên với Trung Quốc, nhưng không rõ liệu tranh chấp tại biển Đông có được nói tới trong các cuộc họp này hay không. Tổng thống Philippines Benigno Aquino gần đây đã bác bỏ các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc về tranh chấp này, thay vào đó muốn đưa các yêu sách của Philippines lên ITLOS. Malaysia dường như thuận hơn trong các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy các cuộc thảo luận thực sự đã được diễn ra giữa hai nước này. Giữa Trung Quốc với Brunei cũng vậy.

(Còn tiếp)

Hậu quả của việc không thực thi DOC tại biển Đông

Châu Giang dịch từ CNAS

Posted ImageTrung Quốc đã định hình được các nội dụng của thỏa thuận nhằm phản ánh các chính sách và lợi ích của họ. Đặc biệt, Trung Quốc đã thành công trong việc xóa bỏ sự ám chỉ tới phạm vi địa lý của thỏa thuận (Việt Nam muốn nêu rõ tên Hoàng Sa) và xóa bỏ một điều khoản cấm nâng cấp các cơ sở hạ tầng vốn có tại các đảo chiếm đóng.>> Kỳ 1:

Chính sách ngoại giao đa phương của Trung Quốc với ASEAN về biển Đông.

Dù ưu tiên đối thoại song phương, nhưng cũng đã tham gia vào ngoại giao đa phương với ASEAN từ đầu những năm 2000 nhằm đánh bóng hình ảnh của mình trong khu vực và cải thiện quan hệ với Đông Nam Á sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 -1998.

Cam kết ngoại giao giữa Trung Quốc và ASEAN đã dẫn tới DOC năm 2002, nhưng 9 năm kể từ khi tuyên bố này được ký kết, các bên đã không thể thực thi các điều khoản ghi trong đó. Trung Quốc rất giỏi gây trở ngại cho tiến trình này, họ không bao giờ thực sự nghiêm túc trong việc thực thi thỏa thuận. Một bước đột phá đã xảy ra tháng 7/2011, khi hai bên cuối cùng ký các Nguyên tắc hướng dẫn thực thi DOC. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, bản hướng dẫn này ít có khả năng giảm căng thẳng, ít nhất trong ngắn hạn.

DOC kêu gọi các bên phát triển một bộ quy tắc chính thức về cách ứng xử của các bên tại biển Đông (COC), nhưng khả năng đạt một bộ quy tắc như vậy rất ít vì sự phản đối của Trung Quốc và các vấn đề liên quan đến các nước giữ cương vị Chủ tịch ASEAN trong 4 năm tới.

Nguồn gốc của DOC có thể xuất phát từ các va chạm gia tăng tại biển Đông giữa những năm 1990 sau khi Trung Quốc chiếm đóng đảo Vành Khăn. Nhằm giảm căng thẳng, ASEAN đã nhất trí soạn thảo một bộ quy tắc ứng xử. Vì tính phức tạp của tranh chấp chủ quyền, bộ quy tắc này không được xem là một cơ chế giải quyết xung đột mà chỉ là một cách quản lý xung đột nhằm tạo ra một môi trường mang tính xây dựng cho một giải pháp chính trị hoặc pháp lý sau này cho vấn đề. ASEAN đã thăm dò ý kiến Trung Quốc vào năm 1999 về việc tham gia các cuộc thảo luận, nhưng Bắc Kinh phản ứng lạnh nhạt, cho rằng Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc năm 1997 đã đại diện cho bộ quy tắc ứng xử chính trị cấp cao nhất. Tuy nhiên, đầu năm 2000, Trung Quốc đã thay đổi quan điểm và nhất trí thảo luận một bộ quy tắc ứng xử với ASEAN. Đây là một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc cuối những năm 1990, theo đó thừa nhận giá trị của các khuôn khổ đa phương trong việc truyền tải thông điệp rằng sức mạnh đang lên của Trung Quốc không đặt ra một mối đe dọa nào đối với sự ổn định của khu vực.

Trong hai năm thảo luận sau đó, Trung Quốc đã định hình được các nội dụng của thỏa thuận nhằm phản ánh các chính sách và lợi ích của họ. Đặc biệt, Trung Quốc đã thành công trong việc xóa bỏ sự ám chỉ tới phạm vi địa lý của thỏa thuận (Việt Nam muốn nêu rõ tên Hoàng Sa) và xóa bỏ một điều khoản cấm nâng cấp các cơ sở hạ tầng vốn có tại các đảo chiếm đóng. Trung Quốc, được Malaysia hỗ trợ, cũng thành công trong việc đặt tên thỏa thuận này là "Tuyên bố" chứ không phải là "Bộ quy tắc" như Việt Nam và Philippines mong muốn. Đây không đơn thuần là vấn đề từ vựng: một tuyên bố sẽ là một tuyên bố chính trị về ý định của các bên chứ không phải là một công cụ pháp lý với các biện pháp chế tài hoặc trừng phạt. Tuy nhiên, để làm hài lòng Hà Nội, dự thảo cuối cùng đã khẳng định rằng mục đích cuối cùng của các bên là lập ra một bộ quy tắc chính thức về biển Đông.

Posted Image

DOC được ký kết tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN ngày 4/10/2002 tại Phnom Penh (Campuchia). Các bên tham gia ký kết nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về cách hành xử, như giải quyết hòa bình các tranh chấp và nhất trí không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; tôn trọng tự do hàng hải; thực hiện "kiềm chế" để không "làm phức tạp thêm hoặc leo thang" tranh chấp (quan trọng hơn, không "đưa người đến sống" tại các hình thái địa chất đang hoang hóa); cùng nhau thực hiện các CBMs ; tiến hành đối thoại và tham vấn; và nỗ lực hướng tới một bộ quy tắc về ứng xử.

Căng thẳng đã giảm trong nửa đầu những năm 2000, và DOC thường xuyên được viện dẫn như một lý do giải thích việc này. Tất cả các bên tranh chấp tôn trọng điều khoản không đưa người đến sống tại các hình thái địa chất đang hoang hóa, nên dù các cuộc đấu khẩu vẫn tiếp diễn nhưng không leo thang đáng kể, và JMSU năm 2005 đã được hợp lý hóa theo Khoản 6 của DOC, trong đó kêu gọi hợp tác nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên trên thực tế, DOC ít liên quan đến những các động lực của tranh chấp. Ngoại trừ JMSU, không biện pháp xây dựng lòng tin nào được nhắc tới trong DOC tồn tại trên thực tế, chủ yếu vì ASEAN và Trung Quốc không đạt tiến bộ về một khuôn khổ thực thi thỏa thuận này. Phải đến năm 2004 các quan chức cấp cao mới nhất trí thiết lập một Nhóm Làm việc Hỗn hợp để soạn thảo các hướng dẫn thi hành. Trong vòng 4 năm sau đó, nhóm này chỉ họp 3 lần - vào năm 2005, 2006 và họp không chính thức vào năm 2008 - và không đạt thỏa thuận nào.

Trở ngại chính không phải là bản chất hay địa điểm diễn ra các hoạt động hợp tác, mà là một điểm rất nhỏ về thủ tục: Trung Quốc phản đối đưa vào bản hướng dẫn thực thi này một điều khoản (Khoản 2) nói rằng các thành viên ASEAN sẽ tham vấn lẫn nhau trước các cuộc họp với các quan chức Trung Quốc. ASEAN thấy rất khó chấp nhận quan điểm của Trung Quốc, vì Hiến chương của Hiệp hội năm 2007 quy định các thành viên "hợp tác và bày tỏ các quan điểm chung" trong quan hệ với bên ngoài. Tuy nhiên, các quan chức ASEAN đã phải chịu nhượng bộ sau khi đã cố gắng làm dịu những lo ngại của Trung Quốc và nhắc lại điều khoản này 21 lần mà vẫn không được. Vì Trung Quốc không thể ngăn cản các thành viên ASEAN bàn bạc tham vấn, nên họ tìm cách cản trở việc thực thi.

Căng thẳng leo thang trong những năm 2009 - 2010 đã cho thấy hậu quả của việc không thực thi DOC. Các căng thẳng này cũng đã thách thức độ đáng tin cậy của ASEAN và tuyên bố được nhắc đi nhắc lại thường xuyên của Hiệp hội này, tự coi mình là "trung tâm" của kiến trúc an ninh châu Á. Ở cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam đã đặt ưu tiên cho vấn đề này và đã đạt thành công nho nhỏ: Nhóm Làm việc Hỗn hợp đã gặp nhau hai lần trong năm 2010 - tại Hà Nội vào tháng Tư và tại Côn Minh (Trung Quốc) và tháng 12 - nhưng cũng không đạt thỏa thuận nào. Indonesia cũng thúc đẩy vấn đề này khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2011: Nhóm Làm việc Hỗn hợp đã họp tháng Tư tại Medan, vào đúng thời điểm các căng thẳng leo thang rất nhanh tại biển Đông. Trung Quốc đã áp dụng các chiến thuật cương quyết hơn trong thời gian từ tháng 3 - 4/2011, trong đó có việc quấy nhiễu các tàu thăm dò của Việt Nam và Philippines. Giữa năm đó, căng thẳng tại biển Đông đã leo thang đến cực điểm kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên, cuối tháng 7/2011, bế tắc cuối cùng đã được khai thông khi ASEAN, vì sự cần thiết phải thúc đẩy tiến trình DOC và cũng là để thử các cam kết nhiều lần của Trung Quốc về việc thực thi tiến trình này, đã nhất trí thông qua tuyên bố chính thức rằng các thành viên Hiệp hội sẽ tham vấn trước khi gặp Trung Quốc. Thực vậy, phiên bản cuối cùng của Khoản 2 nói rằng các bên có ý định "thúc đẩy đối thoại và tham vấn". Tuy nhiên, theo một báo cáo, biên bản sơ lược của cuộc họp giữa các quan chức ASEAN và Trung Quốc cho thấy ASEAN định tiếp tục các cuộc tham vấn trước như vậy. Trung Quốc có vẻ đã chấp nhận điều khoản này vì một thỏa thuận với ASEAN giúp đánh lạc hướng sự chỉ trích về hành vi hiếu chiến gần đây của họ, và vì bản hướng dẫn cũng là một thành công ngoại giao của Bắc Kinh.

Bản hướng dẫn thi thành cực kỳ mập mờ và sẽ không ảnh hưởng tới các lợi ích của Trung Quốc hay ngăn cản nước này theo đuổi chính sách của mình tại biển Đông. Văn bản này nói rằng DOC sẽ được thực thi "từng bước", sự tham gia các dự án hợp tác sẽ là tự nguyện và các CBMs sẽ được quyết định qua đồng thuận. Nói tóm lại, bản hướng dẫn không đi xa hơn những điều khoản tương tự trong DOC.

Trung Quốc hài lòng ra mặt với kết quả này, vì họ chẳng phải nhượng bộ gì mà lại được tiếng là có thái độ xây dựng. Ngoại trưởng Dương Khiết Trì nói rằng việc ký kết bản hướng dẫn thi hành DOC "có ý nghĩa to lớn". Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario lại đưa ra nhận định thực tế hơn khi nói đây là một bước tiến về phía trước, đồng thời cảnh báo "các yếu tố cần thiết để bản hướng dẫn thi hành là một thành công vẫn còn chưa đầy đủ" và DOC vẫn "chưa có chân". Tuy nhiên, thỏa thuận giữa Trung Quốc - ASEAN không mở đường cho các cuộc đối thoại về việc vạch ra và tiến hành các CBMs như thế nào. Quá trình này sẽ là phép thử xem liệu Trung Quốc có chân thành đối với việc thực thi CBMs, hay họ sẽ cố kéo dài quá trình này.

ASEAN đã nhượng bộ với Trung Quốc, coi đây như một bước tiến hướng tới một bộ quy tắc ứng xử chính thức. Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa nhấn mạnh điều này khi ông phát biểu với báo giới tại ARF rằng sự nguyên trạng tại biển Đông "không phải là một lựa chọn" và "đạt được bản hướng dẫn thực thi DOC rồi, chúng ta phải tiến về phía trước để đạt một bộ quy tắc ứng xử". Ông nhấn mạnh rằng hiện giờ việc hình thành bộ quy tắc là "cuộc chơi chính" tại biển Đông.

Tuy nhiên, Trung Quốc không ủng hộ quan điểm này. Ngoại trưởng Dương nói nước ông để ngỏ cửa cho một thỏa thuận như vậy "vào một thời điểm thích hợp", câu mà các quan chức Trung Quốc thường dùng để nói đến một mục đích xa vời. Trung Quốc thích thực thi DOC đầu tiên, trước khi chuyển sang một bộ quy tắc chính thức. Nhận thấy sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc thúc đẩy bộ quy tắc, ASEAN đã quyết định đưa ra sáng kiến.

Theo tuyên bố cuối hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tháng 7/2011, các nước thành viên đã bắt đầu thảo luận về một bộ quy tắc ứng xử, và các quan chức cấp cao đã đề nghị trình một báo cáo về tiến bộ đạt được lên Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 11/2011. Tuy nhiên, báo cáo của Chủ tịch cho thấy có ít tiến bộ cụ thể. Nó chỉ khẳng định tầm quan trọng của DOC, nhấn mạnh sự cần thiết "phải tăng cường nỗ lực" để hoàn thành một bộ quy tắc ứng xử khu vực, hoan nghênh việc thông qua bản hướng dẫn thực thi DOC đạt được tháng 7/2011, hoan nghênh một cuộc thảo luận giữa ASEAN nhằm xác định "các yếu tố có thể là quan trọng cho một bộ quy tắc ứng xử khu vực", và nhấn mạnh "tầm quan trọng của một cách tiếp cận dựa trên quy tắc trong việc quản lý và giải quyết tranh chấp".

Nhưng quan điểm của ASEAN về vai trò của Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng. Nếu Trung Quốc được mời tham gia các cuộc thảo luận về khung sườn của bộ quy tắc, họ có thể sẽ tìm cách kéo dài các cuộc thảo luận và làm phai nhạt các đề xuất, như đã làm với DOC. Nếu ASEAN lập được một sườn quy tắc cho chính mình và đề nghị các nước khác gia nhập, Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ từ chối vì họ không hề tham gia các cuộc thảo luận.

Triển vọng không mấy lạc quan này về bộ quy tắc ứng xử càng trở nên mờ mịt hơn khi chiếc ghế Chủ tịch ASEAN lại đổi chủ. Tiến bộ hạn chế vừa đạt được trong hai năm qua là kết quả của việc Việt Nam và Indonesia tích cực thúc đẩy các nỗ lực khi đảm nhận cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010 và 2011. Nhưng động lực ngoại giao này ít khả năng tồn tại trong bốn năm tới. Campuchia đảm nhận chức Chủ tịch ASEAN trong năm 2012. Chính phủ của ông Hun Sen có quan hệ mật thiết về kinh tế và chính trị với Trung Quốc và sẽ không muốn làm tổn hại đến các quan hệ này chỉ vì Trường Sa. Phnom Penh cũng có quan hệ mật thiết với Hà Nội, nhưng ít khả năng ho sẽ tích cực thúc đẩy bộ quy tắc ứng xử trong thời gian giữ chức Chủ tịch.

Đến năm 2013, Brunei đảm nhận cương vị luân phiên này. Dù Brunei cũng là một nước có đòi hỏi chủ quyền, họ lại chưa bao giờ có sáng kiến lớn nào về biển Đông. Myanmar và Lào sẽ đảm nhận chức Chủ tịch vào năm 2014 và 2015. Cũng như Campuchia, cả hai nước này đều rất thân với Trung Quốc và sẽ không coi biển Đông là một ưu tiên trong nhiệm kỳ của mình.

Kết luận

Các lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông sẽ mở rộng trong các thập kỷ tới khi chủ nghĩa dân tộc gia tăng, cơn khát tài nguyên của nước này ngày càng lớn và an ninh tại các hải trình trở nên ngày càng quan trọng. Chính sách của Trung Quốc sẽ vẫn nhất quán, cả về nội dung và cách thức tiến hành. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ các yêu sách chủ quyền của mình. Họ sẽ tiếp tục nhấn mạnh chủ nghĩa song phương, dù các cuộc đàm phán nghiêm trúc ít khả năng xảy ra. Họ sẽ bác bỏ một bên thứ ba hay trọng tài pháp lý, và sẽ ngày càng sử dụng các tài sản trên biển của mình để khẳng định các đòi hỏi lãnh thổ và tài phán của mình, đồng thời gửi tới các nước Đông Nam Á thông điệp về mối nguy hiểm nếu dám thách thức.

Nhưng Trung Quốc sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp vì làm như vậy sẽ gây tổn hại lớn đến hình ảnh quốc tế cũng như ngoại giao khu vực của họ, và những cái giá này sẽ là quá lớn so với những gì thu được. Các nỗ lực của Trung Quốc nhằm mở rộng kiểm soát trên thực tế tại biển Đông vì vậy sẽ tăng mạnh. Sự nguyên trạng nhiều khả năng sẽ vẫn được bảo toàn trong tương lai gần, và vì vậy, căng thẳng sẽ tiếp tục lúc lên lúc xuống như thủy triều./.

Châu Giang dịch từ CNAS

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thích Đủ Thứ post nhầm chủ đề rồi. Những bài liên quan đến Trung Quốc và Biển Đông không thuộc phạm vi topic "Lời tiên tri 2012" - Nhưng vì tôi có một lời tiên tri rằng: Sẽ không có chiến tranh ở Biển Đông trong năm nay, nên coi như "Tư liệu tham khảo".

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đại ý: Sẽ xuất hiện những loại vũ khí chỉ có trong truyện khoa học viễn tưởng làm thay đổi nghệ thuật quân sự.....

================================================

Mỹ trình làng vũ khí phi sát thương khét tiếng

12/03/2012 16:55

(TNO) Một cảm giác không thể nào chịu đựng nổi, một sức nóng đột ngột bao phủ toàn thân, đó chính là tác dụng của tia điện từ cực mạnh phát ra từ một loại vũ khí phi sát thương khét tiếng của quân đội Mỹ.

Bạn không nhìn, không nghe, không ngửi được gì hết nhưng bạn sẽ cảm thấy nó”, AFP dẫn lời giải thích của đại tá lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ Tracy Tafola, Giám đốc Cơ quan phát triển vũ khí không gây sát thương Mỹ.

"Hiệu ứng đáng sợ đến nỗi phản ứng duy nhất là bỏ chạy ngay tức khắc", đại tá Tracy Tafola cho biết thêm.

Đại tá Tafola cũng cẩn thận nhấn mạnh rằng tia Active Denial System (tạm dịch: Hệ thống Ngăn chặn chủ động - ADS) dù rất mạnh và có tầm bắn khoảng 1km nhưng lại là vũ khí không gây sát thương đã được quân đội Mỹ phát triển trong hơn 15 năm qua, và chưa bao giờ ứng dụng trên thực tế.

Posted Image

Vũ khí không gây sát thương ADS - Ảnh: U.S Marines

Công nghệ tia ADS đang gây ra lo ngại vì nhiều người cho rằng nó giống sóng vi ba. Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự bác bỏ mối quan ngại này.

Khi đo hiệu ứng sinh học tần số sóng vô tuyến tại Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân, chuyên gia Stephanie Miller cho biết súng ADS phóng tia với tần số 95GHz, không ảnh hưởng nhiều đối với cơ thể nếu xét về khía cạnh gây tổn thương.

Trong khi đó, sóng vi ba có tần số khoảng 1GHz, giúp sóng này di chuyển nhanh hơn và thấm sâu hơn vào đối tượng.

Đồng thời, độ dày của tia ADS chỉ bằng 1/64 của inch (cỡ 0,4mm), khiến nó an toàn hơn sóng vi ba gấp nhiều lần.

Sau hơn 11.000 lần thử nghiệm, ADS chỉ gây tổn thương nhẹ cho 2 đối tượng, theo đại tá Tafola.

Các lãnh đạo quân sự và nhà nghiên cứu Mỹ đã biểu diễn hệ thống ADS trước sự chứng kiến của giới truyền thông tại căn cứ lính thủy đánh bộ Quantico ở Virgina vào cuối tuần qua.

Tại đó, một số nhà báo đã thử qua độ nóng của các tia điện từ vốn được mô tả như là một lò nướng nóng.

Theo AFP, tóc tai phóng viên Mathieu Rabechult của hãng này đã "dựng đứng" khi phơi mình trước hệ thống ADS.

Các tình nguyện viên của Quân đoàn Lính thủy đánh bộ mặc thường phục đã ném những quả bóng tennis giả làm đá trong đợt biểu diễn và khi tia điện từ được kích hoạt thì “những người biểu tình” đã phải bỏ chạy.

Nguyên mẫu của hệ thống ADS từng bị hủy bỏ vào năm 2008 song được triển khai ở Afghanistan hai năm sau. Tuy vậy, nó chưa bao giờ được triển khai tác chiến.

Bà Tafolla nói hệ thống này đã được cải tiến và hiện sẵn sàng được sử dụng khi cần thiết.

Theo Daily Mail, hiện có tin đồn rằng Lầu Năm Góc muốn xây dựng phiên bản sử dụng trên không của loạt vũ khí này.

Nguy cơ gây thương tích của hệ thống thấp hơn nhiều so với các vũ khí phi sát thương khác như đạn cao su hoặc hơi cay. Để giảm thiểu những tai nạn, nút kích hoạt đã được cài đặt để tự động ngắt sau 3 giây vì lý do an toàn.

Phản xạ tháo chạy khỏi sức nóng xảy ra với tất cả mọi người, theo giám đốc chương trình Brian Long.

Hệ thống ADS có thể được dùng trong việc bảo vệ vòng ngoài tại các căn cứ, kiểm soát đám đông hoặc chặn một chiếc xe hơi tốc độ cao mà không cần hủy hoại nó.

“Tôi nghĩ nó có thể dùng được bất cứ khi nào bạn muốn có một sự thay thế cho vũ lực sát thương”, ông Long phát biểu.

Theo các quan chức phụ trách chương trình, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chi khoảng 120 triệu USD cho hệ thống ADS, trong đó phần lớn được sử dụng để nghiên cứu các tác động sinh học.

Sơn Duân

Hạo Nhiên

Share this post


Link to post
Share on other sites