Thiên Sứ

Định mệnh có thật hay không?

301 bài viết trong chủ đề này

Kính thưa quí vị quan tâm

Tiểu luận: "Định mệnh có thật hay không?" đã được sự chú ý của dư luận mạng từ khi công bố lần đầu tiên trên website tuvilyso.com (Bây giờ là tuvilyso.net). Đến năm 2006 được ông Lê Duy Chữ là nhà nghiên cứu văn hóa tôn giáo viết bài giới thiệu và được NXB Tôn Giáo cấp giấy phép xuất bản. Chính cuốn sách này có nội dung chỉ thẳng đến vấn đề "Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiêm" - mà những cuốn sách khác của tôi viết trước đó chỉ để cập đến một cách dè dặt. Nhưng vào thời điểm trước khi xuất bản, những tư liệu và bằng chứng còn rất nhiều thiếu thốn với người viết. Kể từ khi được xuất bản đến nay, những tư liệu, bằng chứng mới xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng mang tính thuyết phục cho luận điểm mà cuốn sách chuyển tải.

Bởi vậy, mặc dù còn nhiều việc cần làm, tôi vẫn viết lại tiểu luận này với những sửa chữa thay đổi và bổ sung những tư liệu, bằng chứng mới nhất để tiếp tục minh chứng thuyết phục hơn cho luận đề:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu đang tìm kiếm.

Lý thuyết này thuộc về một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã từng tồn tại trên trái đất và dân tộc Việt hiện nay chính là hậu duệ của nền văn minh này.

Bài viết chỉnh sửa lần này sẽ thay cho bài ở trang chủ website lyhocdongphuong.org.vn:

http://www.lyhocdongphuong.org.vn/News/03/Dinh-menh-co-that-hay-khong-Loi-bach/70/443/

Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

* * *

ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Lời Bạch

Cuốn “Định mệnh có thật hay không?” nhằm mục đích trả lời một nghi vấn trải khắp một đời người và qua hàng thiên niên kỷ trong xã hội loài người. Mặc dù vấn đề thật không đơn giản. Nhưng chính sự không đơn giản đó lại là việc cần làm, khi mà nền khoa học hiện đại đã bắt đầu có một cái nhìn thiện cảm về nền văn hoá Đông phương vốn một thời được coi là huyền bí.

Bói toán, tiên tri là một trong nhiều hiện tượng huyền bí của văn hoá Đông phương. Cách hiểu mới về những giá trị văn hoá Đông phương với cái nhìn của khoa học hiện đại – xét trên những tiêu chí của nó – sẽ tiếp tục chứng tỏ một nền văn minh kỳ vĩ đã từng tồn tại. Đó chính là nền văn hiến trải gần 5000 năm của người Việt. Tiếp theo những cuốn sách đã xuất bản của người viết: “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”; “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp”; “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”; “Tình minh triết trong tranh dân gian Việt Nam”, cuốn “Định mệnh có thật hay không?” là sự tiếp tục phát triển của luận điểm cho rằng:

Lịch sử dân tộc Việt trải gần 5000 năm Văn hiến là một luận điểm khoa học, có cơ sở là những tiêu chí khoa học hiện đại; có khả năng giải thích từ những hiện tượng văn hóa đời sống của con người đến lý thuyết thống nhất vũ trụ theo cách nhìn của nó và là một luận điểm nhất quán. Hay nói 1 cách khác: Với luận đề: “Định mệnh có thật hay không?” sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là: “Có hay không một lý thuyết thống nhất vũ trụ?” và là sự tiếp tục minh chứng sắc sảo cho nền văn hiến trải gần 5000 năm của người Việt.

Trong sách này, chính văn của người viết được thể hiện bằng kiểu chữ VNI-Times 12; phần trích dẫn được thể hiện bằng kiểu chữ: VNI-Helve 10. Sự hạn hẹp của tri thức người viết trước một vấn đề không nhỏ, sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Người viết chân thành và hy vọng sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của bạn đọc

1 / 3 / Năm Giáp Thân.

Kính bút

ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Ngay từ thuở hoang sơ của nhân loại - khi lịch sử hãy còn là truyền thuyết. Con người đã có những cố gắng tìm kiếm những thông tin cho tương lai của cuộc đời. Nhưng tính chính xác của dự báo càng cao, con người càng bị đẩy dần đến sự khắc nghiệt của định mệnh. Hàng thiên niên kỷ đã trôi qua. Nhân loại vẫn chưa tìm được câu trả lời:

ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?

Thay lời mở đầu

Có thể nói rằng:

Ngay từ thuở hoang sơ của loài người, vào thời mà lịch sử chỉ là những truyền thuyết và huyền thoại, nhưng khi con người đã ý thức được sự tồn tại của chính mình thì cũng muốn biết đến tương lai của cuộc đời. Từ vua chúa đến thứ dân, họ đã tìm đến những nhà tiên tri - hoặc nhân danh thần thánh, hoặc nhân danh những quyền lực siêu nhiên - để nghe lời tiên đoán về những việc lành dữ sẽ xẩy ra cho số phận con người và cả những quốc gia. Từ những truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa nhất cho đến giai thoại về những nhà tiên tri, những phương pháp bói toán của các nền văn minh cổ còn lưu truyền, cho đến sự hiện hữu của những nhà tiên tri nổi tiếng ngay trong thời hiện đại, đã chứng tỏ con người luôn muốn biết trước tương lai của mình. Hiệu quả của những lời dự đoán trải dài theo lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay, thỏa mãn được trí tò mò của con người trước những cái sẽ xảy ra cho số phận con người. Nhưng oái ăm thay! Chính hiệu quả của những lời dự đoán đó, lại khiến cho con người phải ngậm ngùi khi đặt vấn đề cho thân phận của mình: Định mệnh có thật hay không? Như vậy định mệnh được thể hiện rất cụ thể qua những lời tiên tri mà bạn sẽ phải rơi vào một hòan cảnh đã được biết trước. Bạn có thể đã từng đi xem bói. Thầy bói nói trật lấc. Bạn có thể có lý khi không tin vào định mệnh và chỉ tin vào chính khả năng của mình. Bạn vẫn có thể thành công và tay trắng tạo nên sự nghiệp. Bạn vẫn có thể yên tâm nhắm mắt, xuôi tay ở giây phút chót của cuộc đời và di huấn lại cho con cháu: "Không có định mệnh, tất cả đều do chính con người!".

Nhưng, những điều xảy ra cho cuộc đời của bạn, chưa chứng minh được rằng: Định mệnh không có thật. Bởi vì, tất cả những tri kiến tích lũy trong cuộc đời bạn, chỉ có thể giải thích được những cái đã xảy ra. Nhưng con người lại muốn biết chính xác những cái sẽ xảy ra. Tính chính xác của sự dự báo càng cao, con người lại càng bị đẩy gần tới sự khắc nghiệt của định mệnh?!

Không chỉ có bạn - có thể bạn nhân danh những giá trị nhân bản, những trí thức mà bạn coi là khoa học - mà ngay cả những niềm tin tôn giáo chính thống cũng phủ nhận định mệnh và cho rằng chỉ có Đấng Chí Tôn mới quyết định số phận con người. Với niềm tin này cho rằng mọi số phận đều đã được Đấng Chí Tôn an bài từ trước. Số phận con người phụ thuộc vào Đấng Chí Tôn. Bởi vậy, những người trung thành với niềm tin tôn giáo mãnh liệt nhất, phải cố gắng làm vừa lòng Đấng Chí Tôn để thay đổi số phận của mình trong hiện hữu, trong tương lai và trong cả những kiếp mai sau. Hoặc số phận của bạn phụ thuộc vào qui luật Nhân & Quả và kết luận là: không có Định Mệnh mà chỉ có sự nhận thức thể hiện qua hành vi con người và hậu quả của nó. Như vậy, trong trường hợp này:

Định mệnh phụ thuộc vào tri thức của bạn (luật nhân quả), hoặc vào ý chí của Đấng Tối Cao?

Như vậy, những lời tiên tri - hoặc là - chỉ là sự phản ánh ý trí của Đấng Tối Cao, hoặc là phản ảnh hậu quả của chính những dữ kiện trong cuộc đời của bạn và dữ kiện đó phụ thuộc vào tri thức của bạn?

Hoặc cũng có thể bạn nhân danh khoa học để phủ nhận định mệnh và cho rằng sự bói toán chỉ là hệ quả của tư duy mê tín dị đoan. Nhưng nếu bạn là một nhà khoa học, thì chắc chắn bạn cũng biết một tiêu chí khoa học là:

"Một giả thiết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề và sự kiện liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri".

(mà dân gian gọi nôm là "bói" ).

Hơn nữa, chính các nhà khoa học đang mơ ước:

"Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích mọi sự kiện bao quanh của con người từ những hạt vật chất cực nhỏ, đến những thiên hà khổng

lồ".

Chúng ta đặt một giả thiết rằng: Tri thức của nhân loại đã đạt được điều mà các nhà khoa học đang mơ ước. Nhưng siêu lý thuyết đó - khi hiện hữu - lại tồn tại trong một cuộc sống và xã hội vẫn tiếp tục phát triển. Như vậy, một trong những chức năng quan trọng của siêu lý thuyết này sẽ lại là những lời dự báo mọi sự kiện bao quanh của con người, cho đến sự vận động của những thiên hà khổng lồ. Phải chăng chính khoa học, khi đạt đến sự tuyệt đỉnh của nó, sẽ lặp lại câu hỏi mà nhân loại đã đặt ra từ ngàn xưa:

Định mệnh có thật hay không?

Bởi vì, Khi khoa học đã thống nhất mọi quy luật vũ trụ (Định luật vũ trụ) thì nó phải có khả năng tiên tri trên cơ sở lý thuyết đã được tổng hợp ấy và dự báo mọi vấn đề liên quan đến con người. Một lý thuyết khoa học thực sự phải có khả năng dự báo những hiện tượng liên quan đến nó. Sự khác nhau giữa khả năng tiên tri đã và đang hiện hữu trong lịch sử với khi tri thức của nhân loại đạt được một siêu lý thuyết (theo giả thuyết) là: Sự tiên tri đang hiện hữu, tri thức khoa học hiện đại chưa lý giải được căn nguyên của nó, cho nên nó được coi là mang màu sắc huyền bí; còn sự tiên tri trong tương lai thì con người biết được căn nguyên của nó nên không thấy huyền bí. Phải chăng - trong trường hợp này – chính những tiêu chí khoa học và những mơ uớc của nó lại chứng tỏ Định mệnh đang hiện hữu trên thực tế và sẽ được khoa học chứng minh trong tương lai?

Nhưng liệu khả năng của khoa học hiện đại có thể đạt được điều mơ ước đó không?

Trong cuốn sách khá nổi tiếng:"Thượng Đế và Khoa học" (Đồng tác giả là ba viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp gồm: Jean Guiton. Grichka Bogdanov. Igor Bogdanov. Nxb Grasset - Paris) cho thấy Thượng Đế vẫn mỉm cuời trước những cố gắng của con người - trước những tri thức khoa học hiện đại nhất - trong việc tìm về sự khởi nguyên của vũ trụ. Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản dịch tiếng Việt của Lê Diên. Nxb Đà nẵng), giáo sư Đặng Mộng Lân đã viết:

"Nói cách khác, Thượng Đế hay khoa học, đó chỉ là hai sự lựa chọn. Guiton đã chọn khả năng thứ nhất. Còn khả năng thứ hai? Không có gì ngăn cản chúng ta với sự lựa chọn còn lại".

Có lẽ giáo sư Đặng Mộng Lân đã lầm. Ở đây không phải là sự lựa chọn mang tính áp đặt chủ quan, mà là phải chứng minh cho một trong hai khả năng ấy: Thượng Đế hay khoa học. Với tựa của luận đề này và cũng là vấn đề đặt ra cho nó thì dù Thượng Đế hay khoa học sẽ đều có trách nhiệm chung để trả lời một câu hỏi tồn tại từ ngàn xưa của nhân loại:

"Định mệnh có thật hay không?".

Vấn đề là:

Sự trả lời ấy nhân danh Thượng Đế hay khoa học!

Ông Guiton đã lựa chọn khả năng thứ nhất và ông đã chứng minh cho sự lựa chọn của mình qua những lý thuyết khoa học hiện đại và tiên tiến nhất trong cuốn: "Thượng Đế và Khoa học". Nếu ý chí của Thượng Đế chính là sự khởi nguyên của vũ trụ thì sự lý giải cho vấn đề đặt ra của luận đề này sẽ được giải quyết đơn giản hơn nhiều: Định mệnh sẽ không có thật, vì nó lệ thuộc vào ý chí của Đấng Chí Tôn khi Ngài muốn thay đổi trật tự của vũ trụ. Luận đề này sẽ được kết thúc ở đây.

Nếu vũ trụ này là một sự tồn tại khách quan, tự nó và do nó - đồng thời khoa học là kết quả của sự nhận thức của con người phản ánh những qui luật vận động khách quan của vũ trụ thì những lời bói toán, tiên tri chính là kết quả của những sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ với cuộc sống con người mà con người có khả năng nhận thức được. Nhưng với sự lựa chọn này, luận đề mà tôi đang trình bày với các bạn sẽ phải chứng minh điều đó. Như vậy, cũng đồng nghĩa với việc nó phải vượt qua chính cái ngưỡng mà nền khoa học hiện đại chưa đạt tới và đang mơ ước. Bởi vì, chỉ có một lý thuyết thống nhất mới có khả năng giải thích "mọi sự kiện bao quanh con người" như mơ ước của nó và tất yếu nó phải có khả năng tiên tri theo đúng tiêu chí cho một lý thuyết khoa học.

Nhưng với lập luận này - khi con người nhận thức được những qui luật tương tác của vũ trụ và tích luỹ những tri thức ấy - thì chính sự nhận thức lại không thuộc về những qui luật đó. Vì sự nhận thức lúc này là một chủ thể và là đối tác của những qui luật tạo nên "Định mệnh". Tất nhiên nó không phải Định mệnh. Như vậy giữa Định mệnh và phi Định mệnh; đâu là chân lý? Chiếc chìa khoá mở bức màn huyễn ảo này đang ở đâu?

(Còn tiếp)

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐỊNH MỆNH

Trong truyện Kiều, một áng văn chương trác tuyệt của người Lạc Việt, cụ Nguyễn Du đã mở đầu cho thiên trường thi bất hủ của mình bằng một cảm nhận hoài nghi cho sự tồn tại của định mệnh:

Trăm năm trong cõi người ta

Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau.

Trong suốt thiên trường thi tiểu thuyết đó, định mệnh như đeo đẳng; quyết định số phận cay đắng của nàng Kiều. Nhân vật Thúy Kiều đã cố gắng vùng vẫy; nhưng hình như cũng không thoát khỏi định mệnh:

Chém cha cái số hoa đào

Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi

Nhưng những sự kiện xảy ra liên tiếp trong truyện Kiều, cũng không minh chứng được sự tồn tại của định mệnh cho số phận của con người. Để rồi cụ Nguyễn Du cũng phải thở dài, buông một vần thơ nổi tiếng, trở thành thành ngữ trong ngôn ngữ Việt Nam.

Nào ai học được chữ ngờ?

Với khái niệm của chữ "ngờ" thì sự may rủi không thuộc về định mệnh, mà đó là quan hệ giữa tri thức của con người với khả năng dự liệu những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Và cái vòng lẩn quẩn lại lặp lại. Con người - để tránh chữ "ngờ" - tiếp tục đi tìm tương lai qua những lời dự báo. Tính chính xác của dự báo lại đặt ra một khái niệm về “định mệnh” cho số phận con người.

Ngay cả Khổng Minh Gia Cát Lượng, một nhân tài kiệt xuất - người đã tạo nên một cục diện lịch sử Trung Hoa thời Tam quốc - hình như cũng không thoát khỏi định mệnh qua tiếng thở dài của Tư Mã Đức Tháo:

"Khổng Minh tuy gặp chủ nhưng không gặp thời. Thật tiếc lắm thay!".

Cuối đời, ông cũng phải ngậm ngùi nhìn ngôi sao định mệnh của mình rơi ở gò Ngũ Trượng, để lại một sự nghiệp còn giang dở.

Không phải chỉ ở phương Đông, định mệnh còn là sự ám ảnh của con người trên khắp thế giới, theo xuốt dọc thời gian lịch sử loài người. Mỗi nền văn minh cổ mà những di sản văn hóa còn truyền lại đến bây giờ, đều có những phương pháp dự đoán khác nhau nhằm tìm kiếm những thông tin cho tương lai. Từng thời đại trong lịch sử loài người đều ghi nhận trong truyền thuyết những nhà tiên tri có tên tuổi. Ngay trong thời hiện đại cũng có những nhà dự đoán mà tên tuổi được nhắc nhở: Bà Vanga, nhà tiên tri người Bungari; Hassan Chami, phó chủ tịch hội chiêm tinh thế giới người Tuynidi; Thiệu Vĩ Hoa, nhà dự đoán học người Trung Quốc… đã dự đoán nhiều sự kiện và thế giới phải kinh ngạc vì sự chính xác của nó (Mặc dù có những sự kiện nổi tiếng họ đã không dự đoán như: Cuộc họp bí mật và tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại của Tổng thống Mỹ Reagan và Tổng thống Liên Xô Goocbachop ở Địa Trung Hải). Nhưng không phải lúc nào họ cũng đoán trúng. Một thí dụ trong trường hợp này là: Vào năm 1998, ông Hassan Chami đã tiên đoán:

"Giáo hoàng Jean Paul II, Quốc vương Ả Rập Saudi Fahd, Tổng thống Habib Bourguiba, nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz và diễn viên điện ảnh Mỹ John Travolta sẽ chết trong năm nay. Tổng thống Mỹ Bill Clinton; Tổng thống Pháp Jacques Chirac sẽ là mục tiêu của các cuộc mưu sát. Tổng thống Ai Cập Hoshi Moubarak và Tổng thống Libi Kadafi là mục tiêu của các cuộc đảo chính quân sự".

Trong đó ông cũng mạnh dạn đoán rằng:

"World Cup 98 sẽ bị khủng bố."

Những người quan tâm hồi hộp chờ đợi sự ứng nghiệm của những lời tiên tri, như một định mệnh đã an bài. Nhưng may quá....nó đã không xảy ra. Chưa hết - vào năm 1999, hiện tượng đại thập tự giá trên không gian Thái Dương hệ, khiến cả thế giới xôn sao về khả năng xảy ra ngày tận thế. Bà Elizabeth Teisster, một chiêm tinh gia nổi tiếng của Pháp, đã khẳng định một cách bi đát cho tình cảnh của nhân loại trong năm 1999 như sau:

"Năm 1999 sẽ là năm thật sự bùng nổ về thiên tai và sự xung đột quốc tế với qui mô còn lớn hơn cả chiến tranh vùng Vịnh"

Bà còn cho biết: nếu đoán sai, bà sẽ giải nghệ (Theo tạp chí Thế giới mới - số 325. Xb tạI VN). Điều này lại trùng hợp với khả năng xảy ra sự cố Y2K mà ngay cả những nhà khoa học nghiêm túc nhất cũng kêu gọi nhân loại văn minh cần đề phòng. Các hãng mỳ tôm hoạt động hết công xuất, hàng bán chạy như tôm mà không tốn tiền quảng cáo. Cả nhân loại quan tâm lại hồi hộp chờ đợi. Kết thúc năm 2000. Chẳng có gì cả. Toàn nhân loại hân hoan chào đón thiên niên kỷ mới với những cách hiểu khác nhau: nơi đón vào năm 2000; nơi thì vào năm 2001.

Nhưng ngay cả những lời bói toán trật lấc mang tầm vĩ mô như vậy, cũng chưa lay chuyển được sự hoài nghi về khả năng tồn tại của định mệnh. Đây là sai lầm do khả năng của người dự đoán, hay là tính phi khoa học của phương pháp dự đoán? Hay cũng có thể do con người đã biết trước sự việc xảy ra, nên đã tác động theo hướng có lợi cho con người?

Trải hàng thiên niên kỷ, những lời tiên tri ứng nghiệm trong thế hệ này, gây sự hoài nghi của thế hệ sau. Làm sao bạn có thể tin được có một lời tiên tri cho một sự kiện đã xảy ra trước khi bạn ra đời? Không hề có biên niên sử cho những lời tiên tri. Nhưng những lời tiên tri ấy vẫn hiện hữu trong cuộc sống của từng thế hệ, dù đúng hay sai, được công nhận hay không công nhận, như vẫn nhắc nhở cho con người một sự ám ảnh của định mệnh.

Nhưng không phải lúc nào sự dự đoán cũng sai lầm.

Trong nền văn minh Đông phương cổ đại đã tồn tại những lời tiên tri đầy huyền bí nói về số phận từng con người, của cả một thành phố, cả những quốc gia hay thậm chí của cả thế giới. Những phương pháp bói toán, tiên tri phổ biến của nền văn minh này hầu hết đều có phương pháp luận của nó. Thật kỳ lạ thay! Có một hệ thống lý thuyết vũ trụ - nền tảng của những phương pháp luận cho những lời bói toán huyền bí ấy - lại không coi sự khởi nguyên của vũ trụ bắt đầu từ ý thức của Đấng Chí Tôn. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Trong kho tàng kiến thức của nhân loại, về khả năng dự báo tương lai - nếu tạm gác lại những khả năng trực giác mang tính tiên tri - được ghi nhận qua truyền thuyết của những nhà tiên tri thuộc nền văn minh Hy-La, hoặc cổ Ai Cập cho đến Notsdame, hoặc gần hơn như bà Vanga ở Bungari hiện nay; thì những phương pháp để tìm các thông tin về tương lai của tự nhiên, xã hội và con người, có một hệ thống và phương pháp luận nhất quán phải kể đến: Thái Ất thần kinh, Mai Hoa dịch số, Tử vi đẩu số, Nhân tướng học. Lạc Việt độn toán… của học thuật Đông phương cổ đại. Hiệu quả của sự dự báo này khiến cho những người quan tâm phải kinh ngạc:

Trong sách "Chu Dịch và dự đoán học", ông Thiệu Vĩ Hoa đã viết:

“Tháng 10 năm 1990, một cán bộ chỉ huy tác chiến cao cấp của một bộ tư lệnh đã dùng phương pháp dự đoán giới thiệu trong sách, đã dự đoán trước ba tháng cuộc chiến vùng Vịnh làm chấn động cả thế giới sẽ nổ ra từ 5 đến 9 giờ sáng ngày 17 tháng 1 năm 1991. Ngày 13 tháng giêng năm 1991 họ đã báo cáo lên bộ phận chỉ huy cấp trên về việc này. Cấp trên đã hỏi lại họ"Làm sao các anh biết được mấy giờ ngày ấy sẽ nổ ra?" Họ trả lời "Dùng Bát quái tính ra". Cấp trên không chấp nhận và nói "Bát quái có thể tính ra ngày giờ đánh nhau thì cần gì đến ban chỉ huy chúng tôi nữa". Ngày 17 tháng giêng, quả nhiên trong thời gian dự đoán đã úng nghiệm”.(*)

* Chú thích: "Chu Dịch và dự đoán học". Thiệu Vĩ Hoa. NXB Văn Hóa 1995. trang IX - X.

Để xảy ra một sự kiện lịch sử, không phải chỉ do một vài nguyên nhân đơn giản, dễ nhận thấy, xuất phát từ những hành động và suy nghĩ của một vài nhân vật lịch sử theo kiểu cái hắt hơi của Napoleon, đã gây nên sự thất bại của ông trong trận Oaterlo. Nhưng thật khó giải thích khi chỉ bằng ba đồng tiền cổ rơi trên chiếc mai rùa của một quẻ Dịch, cả một sự kiện mang tầm cỡ quốc tế đã được dự đoán trước ba tháng - chính xác đến tận giờ nổ súng của cuộc chiến vùng Vịnh. Để xảy ra một sự kiện tầm cỡ lịch sử nhân loại như vậy - trùng khớp với lời tiên tri - thì mọi diễn biến của sự kiện: Từ những tính toán của bộ máy chiến tranh của cả hai bên; sự hoạt động tấp nập nhộn nhịp của các chính khách có chỉ số IQ khác nhau; của các nhà ngoại giao tài ba hoặc chuyên gây khó chịu; mức độ ảnh hưởng của các cường quốc lớn nhỏ; cho đến sự vận động của từng người lính trong bộ máy chiến tranh…đều phải trùng khớp đến từng chi tiết. Chỉ cần một sự trục trặc - một toán biệt kích bị lộ, hoặc một tù binh bị bắt chẳng hạn - cuộc chiến vùng Vịnh I sẽ không thể xảy ra từ 5 đến 7 giờ sáng ngày 17/ 1/ 1991, mà có thể sẽ vào dịp khác!

Phải chăng định mệnh đang chi phối cả lịch sử của loài người? Phải chăng, ngay với sự vận động ở quy mô xã hội, mà trong đó những giá trị thánh thiện, tình yêu thương cùng với những âm mưu đen tối và mọi cái xấu xa bẩn thỉu đều quay cuồng trong trò chơi định mệnh, để con người phải ngậm ngùi trong số phận của mình? Hay đó chỉ là những diễn tiến tất yếu có thể dự đoán được, nhưng bằng những phương pháp bắt nguồn từ những nhận thức của thời xa xưa, mà ngày nay con người hiện đại đã xa lạ với những khái niệm của nó?

Bạn vẫn có thể hoài nghi sự dự đoán của ông Thiệu Vĩ Hoa. Bởi vì, ít nhất sự dự đoán của ông chỉ được công bố chính thức sau khi cuộc chiến đã xảy ra. Chẳng ai hơi đâu mà kiểm chứng một lời bói toán (cho dù của một thiên tài), nhưng lại không có văn bản chính thức lưu lại mà chưa được công chứng như vậy (Tối thiểu cũng phải ở cấp phường). Nhưng vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây.

Trong mùa Tiger cúp 1998. Tại sân vận động Hàng Đẫy - Hà Nội, một trận đấu được chờ đợi từ lâu sắp xẩy ra giữa đội tuyển Việt Nam và Thái Lan. Tất cả khán giả xem truyền hình trực tiếp trong cả nước và có thể cả nước ngoài, đều nhìn thấy một khán giả giương cao tấm bảng ghi tỷ số 4 - 1. Hình ảnh này được lặp lại không chỉ một lần. Sau trận đấu, đội Việt Nam thắng 4, Thái Lan 1, đúng như lời tiên tri. Để có kết quả tiên tri này, người dự báo phải chọn 1 trong 100 con số. Tức là, phải chọn từ 0 - 0 đến 9 - 9. Nói theo ngôn ngữ toán học thì xác xuất dự báo chỉ là 1%. Hiện tượng dự báo chính xác này cũng không thể khiên cưỡng cho rằng: Đó là do tính ngẫu nhiên của phép xác xuất (mà dân gian quen gọi nôm là "chó ngáp phải ruồi"). Bởi vì, để có một tỷ số như vậy, không thể giải thích đơn giản chỉ là tính xác xuất; mà đó là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố: Từ nỗ lực của huấn luyện viên, ban lãnh đạo đội bóng cho đến từng cầu thủ; cũng còn phải kể đến sự nhiệt tình của cổ động viên, tâm lý trọng tài và hàng trăm thứ khác. Chỉ cần một ngọn gió đổi chiều, một cú sút không phải từ má trái, mà từ má phải của bàn chân, cũng đủ để tỷ số sẽ thay đổi! Nhưng ở đây, tất cả đã trùng khớp như một sự an bài kỳ diệu để tỷ số phải là 4 -1!

Trong trang web Tuvilyso.com, nếu ai có dịp ghé qua sẽ chứng kiến lời tiên tri thần sấu của Thiên Cơ và Dương Tường trong topic do CayVong pos lên vào đầu năm 2003; có tựa là:"Vận của Sadam Hussen sắp hết?”: Họ đã đoán trước chính xác đến ngày khởi chiến của cuộc chiến vùng Vịnh II (Thiên Cơ) và ngày kết thúc (Dương Tường) trước ba tháng khi cuộc chiến xảy ra.

Chưa hết! Bạn đọc hãy xem đoạn trích dẫn sau đây trong sách "Thái Ất thần kinh". Dịch giả Thái Quang Việt, đề đáp Nguyễn Đoàn Tuân. Nxb Văn Hóa Dân Tộc 2/ 2001. Trang 352:

"Trong sách nói về quẻ Giải là do sấm mưa tạo nên họa hoạn, nạn tai và thế giới khó bề an ninh, động 8 phương nước lớn, thuộc hạn cửu dương bách lục, nhất là vào cuối năm 2002 là Nhâm Ngọ thì thế giới có nạn lụt lớn vô cùng".

(Chú thích: Cuốn sách này được tái bản vào tháng 4/ 2002 (Tháng 3/ Nhâm Ngọ.Tức là trước khi nạn lụt xảy ra). Lời tiên tri trong lần tái bản này ở trang 397. Cụ Nguyễn Đoàn Tuân mất vào ngày 19/7 năm Nhâm Ngọ; tức là trước khi cụ được tự hào nhìn thấy sự tính toán chính xác của mình bằng phương pháp Thái Ất).

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đây là một lời tiên tri và đã ứng nghiệm vào một năm sau đó. Trong năm Nhâm Ngọ (2002) bắt đầu vào tháng 7 Âm lịch (nửa cuối năm), bão lụt hoành hành khắp từ châu Mỹ sang châu Âu, Băng Đa Let, Ấn độ, Nam Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và đều là những cơn bão, lụt tầm cỡ lịch sử. Thậm chí cho đến tận những ngày cuối cùng của năm Nhâm Ngọ, thiên tai do lở đất và lụt lội khủng khiếp vẫn xảy ra ở Indonesia và Peru. Có thể nói rằng: đây là lời tiên tri chi tiết và sớm nhất về khí hậu toàn cầu, trước tất cả các cơ quan dự báo khí tượng hiện đại nhất thế giới. Tất nhiên, không phải chỉ đến khi sách phát hành, lời dự báo đó mới được thực hiện. Đây là một công thức tính toán có phương pháp hẳn hoi. Phương pháp này đã được lập thành với thời gian tính bằng thiên niên kỷ.

Hay ngay gần đây - năm 2007 - Tiến sĩ Phạm thị Minh Hoàng - thành viên nghiên cứu Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương - trong "Lời tiên tri 2007", dùng Lạc Việt độn toán đã dự báo trước tình hình lũ lụt của ba miền Việt Nam với sự tiên tri về cơn lũ miền Trung lịch sử, trước khi nó xảy ra 4 tháng. (Những lời tiên tri đã ứng nghiệm của nhóm nghiên cứu Lạc Việt độn toán thuộc Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương sẽ công bố trong phần VI của Lạc Việt độn toán)

Phải chăng ở đây, định mệnh đã an bài hay một quy luật vũ trụ đã được nhận thức từ trước đó, từ nền văn hóa cổ Đông phương và nó đã được ký hiệu hoá?

Nếu định mệnh có thật và nhân danh bất cứ một giá trị tuyệt đối nào, phải chăng con người chỉ là một thứ robot sinh học, được lập trình từ trước trong trò chơi của tạo hóa? Nhưng nếu định mệnh có thật - thì dù hiện hữu dưới bất cứ hình thức nào và gọi bằng bất cứ danh từ gì - nó sẽ là đối tác trong khả năng nhận thức của con người. Lúc ấy, chính khả năng nhận thức của con người lại không thuộc về định mệnh.

Phải chăng định mệnh không có thật?

Còn tiếp

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Khát vọng tiên tri

Nhà tư tưởng Pháp, ông Pascal, đã có một sự so sánh rất nhân bản về thân phận con người:

“ Con người chỉ là một cây sậy nhỏ bé và yếu ớt trong vũ trụ. Nhưng là một cây sậy có tư tưởng!”

Số phận con người và kiếp sống của nó thật mong manh. Thiên tai, chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật luôn rình rập thân phận con người. Đức Phật đã nói trong sự xót thương:

“Nước mắt thế nhân bao đời kiếp đã chảy thành bể khổ. Mọi kiếp người trầm luân trong đó. Ngay cả những người cho là sung sướng cũng chỉ lênh đênh trên mặt bể khổ mà thôi”.

Chính vì thân kiếp mong manh đó mà con người có khát vọng tiên tri. Bởi vì con người muốn thoát khỏi cảnh khổ trần gian mà họ sẽ phải gặp trong thân kiếp làm người. Chỉ có những sinh vật cao cấp mới có khả năng tiên tri vì sự phát triển của tư duy logic. Đây là tính tất yếu của sự tiến hoá. Những sinh vật bậc thấp không có khả năng này. Bởi vậy, khát vọng tiên tri chính là một nhu cầu rất nhân bản và là đặc thù của xã hội loài người mơ ước tới tương lai phát triển và tốt đẹp.

Do đó, nếu định mệnh không có thật, vấn đề sẽ không đơn giản chỉ vì nó là mê tín dị đoan, chỉ vì con người không tin vào định mệnh. Và điều này phi lý trước khát vọng tiên tri của con người, vốn là một thực tế tồn tại. Nhưng những lời tiên tri với những phương pháp của nó sẽ cho biết điều đó và định mệnh lại tiếp tục an bài?

Như vậy, phải chăng con người cứ loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn cho chính khát vọng tiên tri của mình? Còn nếu như con người không còn khát vọng biết trước tương lai thì ngay cả luận đề này sẽ không thể hiện hữu trong ý tưởng của người viết vì nó vô nghĩa. Chính những lời tiên tri với những phương pháp dự báo có hiệu quả của nó, thỏa mãn khát vọng biết trước tương lai của con người, là căn nguyên để hình thành ý niệm về “định mệnh”. Vì vậy, vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây là: Những lời tiên tri và những phương pháp của nó bắt đầu từ đâu?

Bói toán

Từ lâu, cũng đã có ý kiến cho rằng:

Trong cuộc sống đầy bất trắc và đau khổ của con người, hoặc vì những ước mơ và khát vọng không thành đạt. Con người đã bất lực, họ đi tìm cứu cánh cuộc đời ở những khả năng siêu nhiên, thần quyền. Đây là nguyên nhân để nảy sinh những hiện tượng mê tín dị đoan, lợi dụng thần quyền mê hoặc con người. Bói toán được cho là sản phẩm của sự mê tín vào những thế lực siêu nhiên, dựa trên những sự bịa đặt không có căn cứ khoa học.

Thậm chí, có người còn cho bói toán mang màu sắc tôn giáo. Hình ảnh những người hành nghề bói toán quanh quẩn ở đình đền, chùa miếu như củng cố thêm tính hiện thực của giả thuyết này.

Nhưng sự lý giải ấy lại không phải là một minh chứng, nên không đủ sức thuyết phục. Bởi vì, bói toán vốn không phải là một hiện tượng riêng lẻ, mà là một thực tế đã hiện hữu bao trùm cả không gian và thời gian lịch sử nhân loại. Với lập luận này không giải thích được những phương pháp bói toán có hệ thống, qui tắc và chuẩn mực rõ ràng và có phương pháp luận thể hiện tính khách quan trong cách luận đoán. Không những vậy, hiệu quả của những phương pháp bói toán có tính thuyết phục, đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong xã hội loài người. Nếu quả thực, bói toán chỉ là sự bịa đặt, lợi dụng mê tín dị đoan thì sẽ chỉ là những hiện tượng riêng lẻ và không có cơ sở để tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại.

Để tìm về một thực tế là nguyên nhân của các phương pháp bói toán Đông phương, một giả thuyết khác được đặt ra từ những hiện tượng và vấn đề sau đây:

* Hầu hết các phương pháp bói toán phổ biến thuộc văn minh Đông phương đều có một cơ sở phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành (*). Sự ứng dụng của các phương pháp này có tính quy luật tính hệ thống, tính khách quan và khả năng tiên tri. Những yếu tố này cũng là tiêu chuẩn để thẩm định một luận thuyết khoa học.

* Trên tinh thần của tiêu chí khoa học là:

“Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng lý giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cáhh hoàn chình, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và phải có khả năng tiên tri” (dân gian gọi là “bói toán”).

Như vậy, sự bói toán của nền văn minh Đông phương phải chăng chính là khả năng tiên tri của một học thuyết khoa học đã hoàn chỉnh và tồn tại trong văn minh nhân loại. Nhưng nền văn minh này đã bị huỷ diệt, nên hệ thống lý thuyết của nó bị sai lệch và thất truyền?

* Các nhà khoa học đang mơ ước:

“Một siêu lý thuyết có khả năng thống nhất tất cả các định luật vũ trụ. Có thể lý giải từ sự hình thành các thiên thể cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người”.

Phải chăng thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại trong nền văn minh Đông phương là một học thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh và những quẻ Dịch chính là những ký hiệu siêu công thức của học thuyết này (**) và những phương pháp bói toán của nó chính là khả năng tiên tri - một yếu tố cần để thẩm định một lý thuyết được coi là khoa học - một khả năng tiên tri giải thích "mọi vấn đề liên quan đến con người" mà các nhà khoa học đang mơ ước.

Căn cứ vào những hiện tượng và vấn đề trên, giả thuyết này cho rằng:

Những phương pháp bói toán đang tồn tại trong văn minh Đông phương là hệ quả của một lý thuyết thống nhất vũ trụ, tổng hợp tất cả các định luật vũ trụ, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến hầu hết những vấn đề liên quan đến con người. Khả năng bói toán (Tính tiên tri, một điều kiện cần của một lý thuyết khoa học) chính là kết quả ứng dụng và cũng là sự chứng tỏ tính khoa học của siêu lý thuyết này. Với giả thuyết này, sự chứng minh sẽ cực kỳ khó khăn. Vì ngay bây giờ khoa học hiện đại vẫn còn đang mơ ước đạt tới một siêu lý thuyết vũ trụ quan. Hay nói một cách khác: Sự chứng minh cho giả thuyết này phải vượt qua cái ngưỡng mà chính nền khoa học hiện đại chưa đạt tới. Bạn có thể nhận thấy điều này qua sự mỉm cười của Thượng đế cho những cố gắng của con người tìm về cội nguồn của mình, trong cuốn sách nổi tiếng “Thượng Đế và Khoa học” (***).

Tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" với những luận cứ của nó sẽ chứng minh giả thuyết cho rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành - một học thuyết cổ của nền văn minh Đông Phương thuộc về nền văn hiến hiến huyền vĩ của người Việt với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, chính là lý thuyết thống nhất mà các nhà khoa học hiện nay đang mơ ước.

Nhà tiên tri nổi tiếng người Bungari - bà Vanga đã dự báo:

Một học thuyết cổ xưa sẽ trở lại với nhân loại.

Phải chăng đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt?

--------------------

Chú thích: * Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại trên thực tế. Nhưng về mặt lý thuyết thì các nhà nghiên cứu chưa hề chứng minh được sự thống nhất của học thuyết này. ** “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb Văn Hóa Thông Tin tái bản 2002.

*** Sách đã dẫn

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

"Một lý thuyết khoa học phải có khả năng tiên tri".

Đây là một yếu tố cần để thẩm định một lý thuyết nhân danh khoa học. Nhưng những nền văn minh cổ đại trong lịch sử văn minh nhân loại nhận biết được đến ngày nay - trong đó có nền văn minh Đông phương huyền bí - chỉ để lại những phương pháp tiên tri mang tính ứng dụng - và nhân loại chưa tìm thấy cơ sở lý thuyết nào để có những phương pháp tiên tri đó. Đã có một thời - khi nền khoa học hiện đại mới định hình và cách đây không lâu - người ta đã giải thích một cách đơn giản cho các phương pháp bói toán Đông phương là "mê tín dị đoan". Với cách giải thích này không còn gì để bàn và tất nhiên không cần phải tư duy. Nhưng những hiệu quả của lời tiên tri trải hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại , tự nó đã bác bỏ cách giải thích trên và không ít người đi tìm nguyên nhân sâu xa của sự huyền bí. Ngày nay, khi khoa học lý thuyết phát triển, những nhà khoa học hàng đầu bắt đầu chú ý đến lý học Đông phương và coi đó là đối tượng nghiên cứu khoa học, mong vén bức màn huyền bí của nến văn minh này. Căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại xuất hiện khi khoa học lý thuyết phát triển. Tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" có tham vọng minh chứng với bạn đọc một lý thuyết đứng đằng sau các phương pháp bói toán Đông phương và đó chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm.

Bởi vậy chúng ta bắt đầu từ việc tham khảo các phương pháp bói toán - hay nói chính xác hơn là:

Khả năng tiên tri của nền lý học Đông phương.

Hiệu quả và sự sai lệch của phương pháp bói toán.

Bói toán và dự đoán

Khi nói đến xem “bói”, dễ làm người ta nghĩ ngay đến một thể thức huyền bí, đang cố gắng tìm trong lời phán truyền thiêng liêng những diễn biến của cuộc đời đã được an bài. Sự nhạy cảm của những người có tiếp thu tri thức khoa học, dễ liên hệ đến tính chất mê tín dị đoan và lạc hậu của thể thức này.

Ngày nay, một số phương pháp bói toán đã được đặt vấn đề về tính khoa học của nó. Với “tinh thần khoa học” theo kiểu “thời buổi khoa học thì không có ma”, người ta không gọi là xem bói nữa, mà gọi là môn “dự đoán học”. Như “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học”. Thậm chí, môn phong thuỷ, cho đến ngày hôm nay vẫn chưa một nhà khoa học nào chứng minh được nguyên lý của nó để gỡ bỏ bức màn huyền bí, nhưng cũng được gọi bằng một từ rất thời thượng là “khoa học phong thuỷ”. Gọi như vậy cho nó dễ hòa nhập với “tinh thần khoa học”, tránh mặc cảm bị coi là “mê tín dị đoan”. Những điều này chỉ chứng tỏ một cách nhìn mới về những hiện tượng đã tồn tại trong xã hội loài người, còn bản chất của hiện tượng chưa hề thay đổi và vẫn còn chìm sâu trong bức màn huyền bí. Nhưng, một cái tựa sách thì phải vậy thôi, chứ không lẽ cứ nôm mà viết tựa là “Bói toán theo tứ trụ” thì nghe cũng lạ tai, không có “tinh thần khoa học”. Thực ra xét về mặt ngữ nghĩa thì từ “bói toán” chính xác và bao hàm hơn “dự đoán” nhiều.

Từ “bói” theo nhà nghiên cứu Lê Gia thì có xuất xứ từ nghĩa Hán Việt của chữ “bối”, có nghĩa là cái lưng. Tìm phía đằng sau lưng là chỗ không nhìn thấy, không biết được. Vậy từ “bói” là từ “bối” mà ra (Tức là có gốc Hán?!), chỉ việc đi tìm cái chưa biết (*). Nếu theo cụ Lê Gia thì khó có sự liên hệ giữa chữ “bói” với danh từ chỉ chim “bói cá”. Người viết cho rằng: “Bói” là từ thuần Việt, có liên hệ với các từ: bới, bươi, bơi, bái....nghĩa là động tác tìm kiếm những cái bị khuất lấp. “Toán” là phương pháp đi tìm cái bị khuất lấp. Tất nhiên nếu phương pháp đúng và làm toán giỏi thì việc đào bới có hiệu quả, tìm thấy cái cần tìm. Phương pháp sai và làm toán dở thì đào bới cũng không thể tìm thấy. Còn “dự đoán” thì không mang tính khẳng định rõ ràng. Tất nhiên nó còn bao hàm cả tính chủ quan và việc nói phong long! Thí dụ như "Dự báo thời tiết" của các nha khí tượng trên thế giới.

Để biết trước tương lai, con người có rất nhiều phương pháp bói toán, từ cực kỳ huyền bí cho đến các phương pháp có hẳn một phương pháp luận, có hệ thống và những quy tắc, chuẩn mực rõ ràng. Những phương pháp bói toán huyền bí thường ít được tin tưởng, trừ sự dự báo rất chính xác, được lặp lại nhiều lần trên thực tế. Những trường hợp điển hình của loại bói huyền bí có thể thí dụ như: bà Van Ga ở Bungary, hoặc khả năng tìm mộ xuất hiện trong thập niên gần đây ở Việt Nam. Còn lại là những phương pháp dự báo cần có phương tiện dự báo hoặc có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng, như: Bói Dịch, Tử Vi, bói bài Tây, bói Kiều, bói chân gà, bói lá trầu, bói bằng quả cầu thuỷ tinh...

Trong phương pháp bói cần phải có phương tiện dự báo, có thể chia làm hai loại: phương pháp dự báo có phương pháp luận và qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và không có qui tắc chuẩn mực rõ ràng. Trong mỗi loại lại cần xét đến định lượng của tính chất ngẫu nhiên thuộc từng phương pháp cụ thể. Với sự phân loại này thì phương pháp dự báo có định lượng tính ngẫu nhiên ít nhất, có phương pháp luận rõ ràng, có hệ thống và qui tắc hẳn hoi, phải kể đến môn Thái ất và Tử Vi đẩu số, hoặc các môn bói toán có dữ kiện là ngày, giờ tháng, năm sinh khác., như: Tử Vi, Tử Bình, Mai hoa Dịch, Lạc Việt độn toán.... Nhưng đây cũng là những phương pháp ít được các nhà nghiên cứu chú ý. Ngược lại, phương pháp bốc Dịch (chứ không phải bản thân kinh Dịch) mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên, hay nói một cách khác là gần gũi với tính huyền bí hơn, nhưng lại khá phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến, nhắc nhở đến tính khoa học của nó trong các trước tác của mình với một "tinh thần khoa học" nghiêm túc?!

Thời gian gần đây, có rất nhiều cuốn sách có nội dung trình bầy các phương pháp dự đoán tương lai của nước ngoài được dịch và xuất bản, khá phổ biến ở Việt Nam như: “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học” của Thiệu Vĩ Hoa, “Bí ẩn của tướng thuật” của Trần Hưng Nhân và đặc biệt hai bộ kỳ thư nổi tiếng của học thuật cổ Đông phương có khả năng dự báo tương lai là Kinh dịch và Mai hoa dịch số cũng được ấn hành. Đấy là chưa kể hàng trăm đầu sách của những nhà nghiên cứu khắp thế giới. Gần đây nữa là cuốn Thái ất thần kinh, một kỳ thư ngoại hạng, tương truyền của ngài Trạng Trình đã dùng để đoán những sự kiện xảy ra trước và sau 500 năm trong lịch sử, cũng đã được Nxb Văn Hoá Dân Tộc xuất bản. Thậm chí cả Tử Vi đẩu số, một cuốn sách có tham vọng dự đoán cho số phận con người đến từng ngày trong cuộc đời, cũng được giới thiệu phương pháp luận đoán của nó trong cuốn “Kinh Dịch với hệ nhị phân” (Gs Hoàng Tuấn. Nxb VHTT 2002). Chưa kể đến hàng chục đầu sách còn lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác, có tham vọng dự báo cho số phận con người.

Không phải chỉ đến bây giờ, mà hàng thiên niên kỷ đã trôi qua, sự chứng nghiệm của những kỳ thư này đã khiến cho con người phải suy nghĩ về thân phận của mình, về mặt này thì Tử Vi đẩu số, ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã đặt ra cho con người sự thách đố lớn nhất của định mệnh ngay từ khi mới chào đời. Môn Tử Vi đẩu số cũng là một phương pháp dự báo có quy tắc, chuẩn mực rõ ràng và ít mang yếu tố ngẫu nhiên nhất so với những phương pháp dự báo khác. Trước khi trình bầy hiệu quả của các phương pháp dự đoán ở phần tiếp theo, người viết cũng xin được lưu ý các bạn một vấn đề: Trong tất cả các phương pháp dự đoán, hiệu quả của nó còn tuỳ thuộc vào khả năng của người dự đoán. Do đó, trong sự phân tích các phương pháp dự đoán dưới đây, người viết loại trừ tác nhân người dự đoán trong hiệu quả của nó, mà chỉ bàn đến hiệu quả về mặt lý thuyết của nó.

* Chú thích: “Dịch học giản yếu”. Lê Gia. Nxb VHTT 2000. Trang 621.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phương pháp bói toán có hệ thống

Tử Vi đẩu số - Hiệu quả và định mệnh?

Tử Vi đẩu số là môn dự đoán tương lai trong giới hạn số phận của từng con người cụ thể và những vấn đề liên quan đến nó. Phương pháp coi Tử Vi rất phức tạp, đòi hỏi người coi phải có tri thức nhất định để luận đoán. Để lập một lá số Tử Vi, dữ kiện phải có là ngày, giờ, tháng, năm sinh theo âm lịch Đông phương.

Trên cơ sở đó, hơn 150 đại lượng gọi theo tên những vì sao được phân loại (theo bản văn chữ Hán, còn Tử Vi lưu truyền ở Việt Nam chỉ có khoảng 110 vì sao), gồm: chính tinh, trung tinh và phụ tinh. Các vì sao này được phân bố theo những quy tắc định trước cho mười hai cung qui ước của lá số, lần lượt có tên gọi như sau: 1. Bản mệnh, 2. Anh em (Huynh đệ), 3. Vợ hoặc chồng (Phu Thê), 4. Con cái (Tử Tức), 5. Tiền Tài (Tài Bạch), 6. Bệnh Tật (Giải ách), 7. Di chuyển (Thiên Di), 8. Quan hệ xã hội (Nô Bộc), 9. Nghề nghiệp chức vụ (Quan Lộc), 10. Đất đai nhà cửa (Điền Trạch), 11. Phúc Đức, 12. Cha mẹ (Phụ Mẫu).

Như vậy, với mười hai cung của Tử Vi bao gồm hầu hết những mặt chủ yếu của sự hoạt động và những mối quan hệ gia đình, xã hội của con người. Để luận đoán một lá số Tử Vi, đòi hỏi phải có sự phân tích và nghiên cứu công phu dựa trên sự tương tác giữa các đại lượng thể hiện qua tên các vì sao và tương quan giữa các cung trong lá số Tử Vi. Người luận đoán cũng cần phải có kiến thức để xử lý các đại lượng phản ánh sinh hoạt thời cổ phù hợp với sinh hoạt hiện đại. Thí dụ: Sao Thiên Mã ứng về vật dụng, trước đây có thể đoán là con ngựa, bây giờ phải luận là xe gắn máy, hoặc xe hơi.....

Trong 12 cung của Tử Vi thì cung Mệnh có tính quyết định cho số phận con người. Những đại lượng được phân bố trong cung Mệnh sẽ phản ánh từ nhân cách, cá tính, chỉ số thông minh, khả năng nhận thức, thói quen, kể cả hình dáng bên ngoài. Sự tương tác giữa các đại lượng trong cung Mệnh và các cung khác trong sự vận động theo thời gian cuộc đời, sẽ phản ánh diễn biến số phận. Tham vọng dự đoán của lá số Tử Vi cho một người rất lớn. Thậm chí, qua 12 cung của lá số, người ta muốn đoán cả từng giai đoạn của cuộc đời, từng năm, từng tháng, từng ngày và có thể cả từng giờ. Hiệu quả của sự đoán, nếu người ta dự đoán giỏi, đôi khi rất đáng kinh ngạc. Hiện nay, trên cơ sở những nguyên tắc lập thành lá số Tử vi, người ta đã lập trình đưa vào máy tính với những lời dự đoán đơn giản cho số phận con người. Qua phương pháp dự đoán của Tử Vi, cũng như các môn bói toán khác thì định mệnh là một thế lực siêu nhiên đang thật sự hiện hữu hay chỉ là một danh từ hoài nghi về sức mạnh của những qui luật đang chi phối con người? Phải chăng cổ nhân đã dày công nghiên cứu, để cho hậu thế một cảm nhận hoài nghi về sự bất lực của con người cho số phận của mình? Phải chăng con người và máy tính sẽ không có gì khác nhau, khi định mệnh đã lập trình cho từng số phận?

Sẽ là một kết luận vội vã, nếu cho rằng: Tử Vi là một học thuật huyền bí, mang tính dị đoan. Cũng khó có thể giải thích một cách đơn giản cho rằng: sự tồn tại của Tử Vi là do sự áp đặt của các thế lực phong kiến, khi tâm lý con người luôn muốn tìm hiểu về tương lai, nếu Tử Vi không chứng tỏ được khả năng đáp ứng nhu cầu đó của con người. Cũng khó có thể cho rằng Tử Vi là hệ quả của chiêm tinh học cổ đại, các đại lượng trong Tử Vi là những ngôi sao định mệnh, rồi nhân danh khoa học kết luận tính mê tín dị đoan của nó. Bởi vì, một tinh thần khoa học thực sự phải được thể hiện qua những tiêu chí khoa học cụ thể, chứ không thể được coi là có “tinh thần khoa học” chỉ vì không tin ma quỉ.

Nếu ta so sánh những đặc trưng của một lý thuyết khoa học là: Tính khách quan, tính quy luật,,tính hệ thống vàtính tiên tri thì phương pháp luận đoán của Tử Vi có đầy đủ những tính chất đó. Tử Vi có hẳn một phương pháp luận và những qui tắc chặt chẽ cho nó. Trong môn Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền.

Và chính khả năng tiên tri - là tính ứng dụng cụ thể của môn Tử Vi - qua hiệu quả của nó bảo đảm cho sự tồn tại tính bằng thiên niên kỷ với một không gian phổ cập, rộng khắp ở những nước có ảnh hưởng của văn minh Đông Phương– chứng tỏ điều này.

Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở khoa học khi đặt một giả thuyết cho rằng: môn Tử Vi chính là một siêu công thức đã được ký hiệu hoá, phản ánh một hiệu ứng vũ trụ tương tác có tính qui luật tới môi trường trái đất và ảnh hưởng tới từng con người. Nhưng sự chứng minh cho giả thuyết này là một việc không đơn giản. Bởi vì phương pháp luận của Tử Vi dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết cho đến nay vẫn còn quá nhiều bí ẩn do thất truyền. Nhưng bắt đầu từ giả thuyết này mới có thể đi tìm tính hiệu quả của môn Tử Vi qua phương pháp dự báo của nó, dẫn tới sự lý giải luận đề được đặt ra. Còn nếu như coi Tử Vi là mê tín dị đoan thì đây chính là một cách tư duy đơn giản nhất và không có gì để bàn.

Những khiếm khuyết của phương pháp luận đoán theo Tử Vi

Cũng đã có nhiều ý kiến hoài nghi tính hiệu quả của khoa Tử Vi với những lập luận có vẻ chắc chắn, góp phần hỗ trợ cho sự phản bác khoa Tử Vi về sự hoàn chỉnh của nó, trong việc dự đoán tương lai cho mỗi con người. Đã có những lập luận hoài nghi và phản bác dựa trên những cơ sở như sau:

1 - Bài toán trên cơ sở dữ kiện lập thành lá số: Do một ngày được chia làm 12 giờ theo thời khắc cổ, chu kỳ năm Âm lịch theo phương pháp lập lá số Tử Vi là 60 năm (Từ Giáp Tý đến Quí Hợi). Do đó, trong vòng 60 năm đó sẽ có: 12 giờ X 30 ngày X 12 tháng X 60 năm X 2 (Nam & Nữ ) = 518.400 lá số Tử Vi. Nếu lấy tổng số dân trên thế giới ước tính 6000.000.000 người: 500.000 (làm tròn số); Như vậy, sẽ có khoảng xấp xỉ 12.000 người chung một lá số Tử Vi. Một sự vô lý với thực tế: không lẽ trên thế giới có đến 12.000 ông vua; 12.000 nhà tỷ phú....?

Nhưng vấn đề nêu trên chỉ là kết quả trung bình toán học thuần tuý. Trên thực tế, không thể trong cùng một giờ có đúng 12.000 người cùng sinh ra trên trái đất để cùng làm vua, hoặc cùng làm thợ giày. Theo quan niệm của khoa Tử Vi thì việc sinh ra một con người với một tính cách nào đó (làm vua, hoặc làm thợ giày) là kết quả của nhiều yếu tố rất phức tạp. Nhưng đã sinh vào thời điểm đó, thì phải có số phận đó. Những yếu tố để thai nhi phải sinh vào thời điểm nào, để có số phận đã an bài vào thời điểm đó, không nằm trong phạm vi lý giải của khoa Tử Vi.

2 - Có những trường hợp cả một thành phố bị huỷ diệt do thiên tai, hoặc chiến tranh. Trong thành phố đông đúc đó, có hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu con người sinh ra vào thời điểm khác nhau, tất nhiên họ phải có số phận khác nhau. Nhưng tại sao họ lại có thể có một kết thúc giống nhau: cùng chết trong một thời điểm. Như trường hợp thành phố Pompei bị huỷ diệt vào khoảng thập kỷ 40 sau CN chẳng hạn.

Trong trường hợp này, có thể giải thích một cách khiên cưỡng theo dữ kiện của môn Tử Vi là: thời điểm sinh của những người dân thành phố tuy khác nhau, nhưng vẫn có thể dẫn đến một kết thúc giống nhau trong lá số. Lập luận này không kiểm chứng được, vì chẳng ai xem được những lá Tử Vi của những người dân trong thành phố xấu số đó. Có thể nói: đây một yếu tố hoài nghi rất hợp lý tính chính xác của phương pháp luận đoán theo Tử Vi, nhưng không có nghĩa là một chứng cứ hợp lý để phủ nhận. Điều này cũng có thể giải thích bằng tính khác nhau của những phần tử trong một tập hợp, số phận của một tập hợp sẽ quyết định chung của các phần tử trong tập hợp đó, cho dù tính chất của các phần tử trong tập hợp có khác nhau. Tuy nhiên, cách giải thích này không nằm trong phạm vi quán xét của Tử Vi (Chỉ giới hạn trong việc xem xét số phận cho một cá thể, bắt đầu từ lúc ra đời).

3 - Do chu kỳ năm của Tử Vi là 60 năm (một Hoa giáp). Như vậy, một người sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm của Hoa giáp trước và sau Hoa giáp sau, về lý thuyết của môn Tử Vi, sẽ phải giống nhau về số phận. Nhưng thực tế đã chứng tỏ sự kiện không đơn giản như vậy. Trong truyền thuyết đã có sự giải thích là cùng giờ sinh, nhưng do nhiều yếu tố tương tác khác, nên người thì làm vua, người thì làm chủ những bầy ong. Nhưng vấn đề là cùng một lá số giống nhau, làm sao có thể đoán được ai làm vua, ai là chủ doanh nghiệp nuôi ong?

Có thể cho rằng đây là sự khiếm khuyết về mặt phương pháp luận của môn Tử Vi, hoặc là do thất truyền, hoặc là chưa hoàn chỉnh. Trên thực tế, môn Tử Vi là hệ quả của một học thuyết đã thất truyền, cho nên ngay cả những dữ kiện dể lập thành lá số–cơ sở luận đoán của Tử Vi–cũng gây nhiều tranh cãi.

Về vấn đề này, trong sách “Chu Dịch và dự đoán học” Nxb Văn Hoá 1995, trang 139) ông Triệu Vĩ Hoa đã lập luận như sau:

Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, nhưng không có cách nào để giải thích rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi xin vắn tắt như sau:

1- Phương vị khác nhau, như phương Nam là Hoả, phương Đông là Mộc, phương Bắc là Thuỷ, phương Tây là Kim. Người mệnh Hoả nhưng sinh ở phương Nam hay phương Bắc sẽ khác nhau. Phương Nam tất Hoả vượng, phương Bắc bị Thuỷ khắc, cho nên không như người sinh ở phương Nam.

2- Năm mệnh của người phụ mẫu, anh chị em, con cái và số con, năm hôn nhân đều khác nhau. Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. (Điểm 2 do người viết tóm lược).

3- Nam, nữ khác nhau nên có sự vận hành thuận nghịch khác nhau.

4- Tướng mặt vân tay khác nhau, nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.

5- Cốt tướng của người khác nhau.

6- Mộ tổ và nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau.

7- Gen di truyền của mỗi người khác nhau.

8- Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.

9- Điểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào một người nào đó, hoặc đúng vào người mang thai đang sinh, người đó có thể làm Hoàng Đế, còn người khác thì không làm nổi Hoàng đế. Có một tạp chí nào đó đã thông báo: bố, mẹ Mao Trạch Đông đều đồng thời nhìn thấy một vầng đỏ phía Đông phòng họ, rồi sau đó mang thai Mao Trạch Đông. Đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.

Mặc dù ông Triệu Vĩ Hoa đã cố gắng giải thích về những yếu tố khác nhau cho số phận những người cùng ngày, giờ, tháng, năm sinh. Nhưng những giải thích này đều không đủ sức thuyết phục cho sự chứng minh tính hoàn thiện của Tử Vi. Vì môn Tử Vi (hoặc những môn bói toán khác bắt đầu bằng dữ kiện ngày, giờ, tháng, năm) không đề cập đến những hiện tượng khác biệt nêu trên. Do đó, chỉ có thể coi đây là một sự khiếm khuyết về mặt phương pháp của môn Tử Vi, hoặc do sự thất truyền của môn này.

4 - Tính thời điểm giờ sinh của một người trong khoa Tử Vi?

Giờ sinh đích thực theo cổ học Đông phương là thời điểm tương quan vị trí Địa cầu với mặt Trời. Ngày xưa, người ta dùng các dụng cụ đo bóng mặt trời để tính giờ sinh khi chưa có đồng hồ Tây. Một giờ trong lịch sử cổ ứng dụng trong Tử Vi bằng hai tiếng theo giờ hiện đại. Ngày nay, khi lấy số Tử Vi người ta căn cứ theo giờ quy ước. Bởi vậy, vấn đề giờ sinh khi lấy một lá số Tử Vi cũng gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng: Tất cả đều phải qui về giờ địa phương của người đoán lá số (?). Thậm chí, vì cho rằng Tử Vi xuất phát từ Trung Hoa, cho nên có người còn đặt vấn đề lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn (?!). Chính những ý kiến sai lầm trên khiến môn Tử Vi được góp thêm phần huyền bí. Điều này chứng tỏ sự thất truyền một hệ luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan đến môn này, nên không có sự kế thừa những phương pháp của nó. Do đó, trên cơ sở một giả thuyết cho rằng: Tử Vi là một môn dự báo dựa trên những hiệu ứng vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất đã được ký hiệu và qui ước hoá vào thời điểm con người sinh ra và ảnh hưởng đến số phận người đó, thì phải lấy giờ sinh theo vị trí địa lý của người đó. Điều này phù hợp với phương pháp tính giờ mặt trời thời cổ: Sinh tại đâu, tính giờ tại đó.

Tuy nhiên, về giờ sinh, giả thuyết đã loại trừ yếu tố không gian sinh, trong Tử Vi còn có yếu tố có khả năng làm sai lệch được trình bầy sau đây. Do một giờ trong Tử Vi bằng 2 tiếng trong giờ hiện đại. Nhưng giờ hiện đại của một quốc gia lại theo vị trí múi giờ mà thủ đô nước đó toạ lạc. Như vậy, giữa giờ sinh quy ước, theo giờ quốc gia và thời điểm hiệu ứng giờ sinh của Tử Vi sẽ có một khoảng cách đôi khi rất lớn. Điều này được miêu tả như sau: Chu vi trái đất khoảng 40.000 Km, chia cho 12 múi giờ Tử Vi, ta sẽ có khoảng 3.400 Km cho một múi giờ Tử Vi ở xích đạo. Như vậy, khả năng cùng vị trí không gian của múi giờ, nhưng có thể lấy đến hai lá số khác nhau vì thuộc giờ qui ước khác nhau, được định vị bởi thủ đô của các quốc gia khác nhau.

Một thí dụ cho trường hợp này là: Hai bà mẹ ở sát biên giới, nhưng thuộc hai quốc gia có múi giờ qui ước khác nhau, họ cùng sinh vào một thời điểm. Như vậy, về lý thuyết của môn Tử Vi, hai đứa trẻ này phải có số phận giống nhau. Nhưng chúng lại có thể có hai lá số khác nhau, vì giờ sinh khác nhau? Hoặc vì khoảng chệnh lệch về không gian múi giờ quá lớn; cho nên có thể xảy ra trường hợp hai số phận, nhưng vẫn chung một lá số Tử Vi. Mặc dù những trường hợp trên có thể khắc phục bằng cách lấy hai hoặc ba lá số cạnh giờ nhau và tìm lá đúng nhất. Nhưng thực tế người dự đoán thường chỉ lấy một lá số. Do đó, khả năng sai lệch có thể xẩy ra. Hoặc một vấn đề nữa được đặt ra: Nếu một người sinh ở Bắc hoặc Nam cực thì giờ sinh hoặc lá số sẽ như thế nào khi khoảng cách giữa các múi giờ rất ngắn, gần như bằng 0 ? Đây là một trường hợp ngoại lệ của môn Tử Vi chăng? Nếu xét theo lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành, thì ở Bắc và Nam cực ngày và đêm không bình thường so với các nơi khác (Âm Dương không tương giao). Có thể vì vậy có sự khác biệt khi luận đoán cho những số phận ở các vùng địa lý khác nhau theo vĩ tuyến. Nhưng môn Tử Vi lại không đề cập đến vấn đề này.

Hơn nữa, vì Tử Vi thiếu hẳn một hệ luận hoàn chỉnh liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành - là cơ sở phương pháp luận của nó -nên những yếu tố luận đoán của Tử Vi cứ như từ trên trời rơi xuống, mang tính tiên đề. Điều này đã khiến cho tính chất và cách sắp đặt một số sao vẫn còn gây tranh cãi và chưa lý giải được. Đây cũng là số phận của hầu hết những phương pháp ứng dụng có phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng là nguyên nhân chính để gây sự hoài nghi về tính khoa học của môn này.

Như vậy, qua phần trình bày ở trên cho thấy: Phương pháp bói Tử Vi vẫn có những yếu điểm chưa thể coi là chưa hoàn chỉnh và chính xác (chưa nói đến những sai lệch khác về hành khí theo Ngũ hành của bản mệnh trong Hoa giáp và tương quan hành với độ số cục của Tử Vi). Đây là sai lệch rất căn đề của các môn dự đoán Đông phương cổ.) (**)

Nhưng cho dù Tử Vi là một môn dự đoán chưa hoàn chỉnh, hoặc do thất truyền sai lạc, hoặc do ngay từ những tri thức lập thành môn này, thì cũng chưa có cơ sở để cho rằng: đây là một hiện tượng mê tín dị đoan. Bởi vì, Tử Vi có đầy đủ những yếu tố gần gũi với tri thức khoa học hiện đại. Như vậy, với tất cả những nhận xét phản bác trình bày ở trên, chỉ thể hiện tính khiếm khuyết của môn Tử Vi, chứ chưa thể coi là đã chứng minh được tính phi khoa học của môn này. Do đó, nếu với một tinh thần thận trọng và hợp lý nhất, chỉ có thể coi những phương pháp dự báo của môn Tử Vi là chưa chứng minh được trên cơ sở tri thức khoa học hiện đại, khi hiệu quả ứng dụng của nó đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn hoá Đông phương, chính là sự biện minh cho cơ sở khoa học của nó.

Chính hiệu quả của môn Tử Vi cũng biện minh cho sự thất truyền của một hệ luận từ thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan. Chưa nói đến những sự sai lệch có tính căn để cho sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán (Xin xem: “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp”. Nxb Văn Hóa Thông Tin. Tái bản 2002: “vanhienlacviet.com”)

Thực tế đã cho thấy không thể có một phương pháp ứng dụng một giá trị nhận thức ra đời trước phương pháp luận của nó phản ánh một hệ thống lý thuyết cần có đáng ra phải xuất hiện trước nó. Do đó, sự thất truyền của một hệ luận liên hệ với phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong thực tế ứng dụng, chính là một yếu tố quan trọng chứng tỏ: Tử Vi đã lưu truyền từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông Phương, thực tế cho thấy nó chỉ lưu truyền phần ứng dụng. Đến đời Tống, phần ứng dụng – đã sai lệch phần nào trong khi lưu truyền – được phát hiện và công bố, khiến cho những yếu tố lập thành lá số có tính chất tiên đề, cứ như từ trên trời rơi xuống. Tương tự như những chiếc máy vi tính trong thời hiện đại, khi đã phổ biến chỉ là phần ứng dụng. Nếu giả thuyết rằng: Có một sự cố nào đó huỷ diệt tất cả những hệ luận của tri thức liên quan đến việc chế tạo máy vi tính, thì lúc đó con người ở thế hệ sau – không phải là sự tiếp tục thừa kế của nền văn minh đó – sẽ nhìn sự hiện hữu của chiếc máy vi tính như một sự huyền bí. Hiện tượng này, tương tự như khi con người chỉ biết đi xe ngựa, chưa biết đến chiếc ôtô và những nguyên lý, phương pháp tạo ra nó; họ sẽ không thể tin được có một loại xe không ngựa kéo vẫn chạy được. Nhưng chiếc xe, chiếc máy vi tính là những vật thể hiện hữu sẽ ít mang tính huyền bí. Còn bói toán thuộc về những giá trị phi vật thể, cho nên khi thất truyền những hệ luận liên hệ, tính huyền bí sẽ phát triển tuỳ theo khả năng tưởng tượng của con người.

Đây cũng là một bằng chứng nữa, chứng tỏ: Những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong cổ thư chữ Hán không có tính kế thừa – Đây là một yếu tố rất cần để chứng tỏ một nền văn minh phát triển liên tục - mà chỉ là sự tiếp thu không hoàn chỉnh từ một nền văn minh khác đã thất truyền.

Hơn nữa, Tử vi chỉ là một phương pháp ứng dụng, tất yếu nó phải là hệ quả của một nguyên lý và một hệ thống lý thuyết phản ánh nhận thức của con người đã nhận thức được những qui luật khách quan nào đó trong vũ trụ đã bị thất truyền. Do đó, những khiếm khuyết của Tử Vi đã trình bày ở trên, chỉ coi là khiếm khuyết khi ta chưa biết được một nguyên lý và một hệ thống lý thuyết nào, phản ánh một thực tại nào tạo ra môn tử vi có khả năng tiên tri một cách có hiệu quả này.

Do đó, từ những hiện tượng và những vấn đề đã phân tích ở trên, so sánh với tiêu chí khoa học cho một giả thiết và phương pháp được coi là khoa học và qua khả năng dự báo của Từ Vi là cơ sở của một giả thiết cho rằng:

Tử Vi là một phương pháp luận đoán tương lai cho mỗi một con người, trên cơ sở nhận thức của con người với những hiệu ứng vũ trụ, tương tác có tính quy luật với môi trường trái đất và ảnh hưởng lên sự phát triển tâm, sinh lý con người tại thời điểm người đó ra đời. Từ những nhận thức này, người xưa đã lập ra môn Tử Vi có thể dự báo được tiến trình vận động của cuộc sống cho mỗi con người. Hay nói một cách khác: Tử Vi là môn dự báo có cơ sở khoa học, nhưng những hệ luận liên quan đã thất truyền.

Giả thuyết này sẽ được tiếp tục chứng minh rõ hơn ở phần sau.

Nhưng ngay cả trong trường hợp coi Tử Vi là một phương pháp tiên tri có cơ sở khoa học, thì điều đó cũng không có nghĩa là phương pháp luận đoán của Tử Vi có sự chính xác tuyệt đối. Bởi vì - khi đã là một phương pháp , một công cụ dự báo do con ngươi tìm ra thì không thể tuyệt đối. Ngay cả khi đã loại trừ khả năng hay, dở của người luận đoán thì chỉ nên coi Tử Vi – cũng như tất cả các phương pháp bói toán khác – như một sự tham khảo về tính tất yếu có khả năng xảy ra và từ đó ứng sử phù hợp với qui luật của tự nhiên.

------------------------------------------

* Chú thích: Bạn có thể chính mình tìm hiểu những khái niệm cơ bản về Tử Vi đẩu số qua cuốn: “Kinh Dịch và hệ nhị phân” Nxb VHTT. Giáo sư Hoàng Tuấn.

**Luận điểm này thể hiện và chứng minh trong sách “ Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp - Nxb VHTT - Tái bản 2002.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

MỘT THỜI HUYỀN BÍ LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.

Cho đến tận ngày hôm nay, khí tôi đang gõ những hàng chữ này thì vẫn còn rất đông người nhân danh khoa học và cả nhân danh đức tin tôn giáo đều không tin vào lý học Đông phương. Tất nhiên đây là điều khôi hài. Cả hai tư tưởng khó dung hòa ấy lại nhất quán với nhau trong việc không thừa nhận Lý học Đông phương. Đã không ít các tín đồ tôn giáo cho rằng Phong Thủy, bói toán thuộc về tín ngưỡng không phải của họ. Còn những người có tinh thần khoa học thì cho là một trò "mê tín dị đoan". Không thể có cách giải thích nào hợp lý hơn khi cho rằng: Đó là hệ quả của sự thiếu hiểu biết vì kiến thức nửa mùa này, khi chúng thống nhất phản ứng với Lý học Đông phương giữa hai nhận thức thật khó dung hòa là khoa học và tôn giáo.

Đã nhiều lần tôi cố giải thích với các tín đồ tôn giáo rằng: Lý học Đông phương là một phương tiện, nó cũng giống như chiếc điện thoại di động của bạn và cả Bin laden với ông Bush đều dùng dù có niềm tin khác nhau. Bin Laden cũng có thể dùng Phong Thủy, nếu ông ta muốn có chỗ ở tốt hơn để phụng sự Đức Ala. Cả hai ông đều có thể xem Tử Vi hoặc xem bói cho sự nghiệp của mình.

Nhưng nếu may mắn, cả thế giới này ứng dụng các phương pháp của Lý học Đông phương không phân biệt tôn giáo và chính kiến thì suy cho cùng, vấn đề không phải chỉ dừng ở đây. Mà vấn đề chính là sự huyền bí đứng đằng sau các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương.

Sự hoài nghi sẽ tiếp tục lặp lại như hàng ngàn năm trôi qua trong lịch sử văn hóa Đông phương huyền bí. Mọi cố gắng của con người với thời gian không phải tính bằng năm, tháng mà là hàng thiên niên kỷ để đi tìm bí mật của văn hóa Đông phương, nhưng vẫn hoàn toàn vô vọng.

Đã hàng ngàn năm trôi qua, không phải chỉ những người trí thức thường thường bậc trung, mà là cả những kỳ nhân, thánh trí đều như lao vào một bức tường huyền bí đến kỳ vĩ. Khi nến văn hóa toàn cầu giao lưu, thì sự huyền bí của Lý học Đông phương đã không còn giới hạn ở vài nước ở phương Đông, mà là cả thế giới đã quan tâm đến nó. Liên hiệp quốc đã bốn lần tổ chức đại hội thảo Kinh Dịch. Nhưng kết quả vẫn là sự huyền bí kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương, sừng sững thách đố trí tuệ nhân loại.

Phải chăng người ta đã bế tắc vì không thể đi tìm một cái đúng từ một cái sai trên nguyên lý lý thuyết nền tảng của Lý học Đông phương?

Phải chăng những thực tại vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống và con người được nhận thức tổng hợp từ một tri thức xa xưa của con người đã vượt xa tri thức của nhân loại hiện đại, nên khiến cho con người ngày nay không thể hiểu được những khái niệm của nó?

Bởi vậy, tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" mà các bạn đang xem đây phải trở lại với những cái mà cổ thư để lại và xem xét chính những nguyên lý căn để của các phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương, mà hệ quả của nó là bói toán và phong thủy mà tôi đã đề cập đến ở phần đầu tiểu luận này.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Những vấn đề nguyên lý trong thuyết Âm Dương Ngũ hành

Trải hàng ngàn năm trong văn hóa Hán, chưa bao giờ thuyết Âm Dương ngũ hành được chính thức công nhận như là một giá trị tư tưởng chính thống. Mặc dù Nho học được đề cao và trong đó Khổng tử được coi là đồng tác giả trước tác nên Kinh Dịch, một trong Ngũ kinh của Nho Giáo. Nhưng trong kinh Dịch lại chỉ nói đến Âm Dương, không nói đến Ngũ hành. Trải hàng ntgànn năm sau, nhưng nhà nghiên cứu dịch học và văn hóa cổ Đông phương của chính Trung Hoa cũng không hề tìm thấy dấu ấn, nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết này. Thiệu Vĩ Hoa - nhà lý học nổi tiếng Trung Hoa hiện đại thừa nhận rằng:

Thuyết Âm Dương rất có thể đồng thời với thuyết Ngũ hành.(*)

Rất có thể. Tức là chưa hẳn. Đây mới chỉ là một giả thuyết. Hay nói cách khác: Trải hàng ngàn năm lịch sử văn hóa Hán, người ta vẫn chưa thể tìm thấy dấu ấn cho sự nhất quán, hoàn chỉnh của học thuyết này. Thâm chí cho đến ngày hôm nay - khi tôi đang gõ những hàng chữ này, vẫn có những nhà nghiên cứu cho rằng thuyết Âm Dương là đối tượng ứng dụng nghiên cứu chính và phủ nhận thuyết ngũ hành.

Thuyết Âm Dương xuất hiện trong Kinh Dịch và được cho là do các bậc thánh nhân Hoa Hạ làm ra. Nhưng chúng ta lại thấy nó liên quan đến hai đồ hình rất căn để trong lý học Đông phương đó là Lạc Thư Hà đồ. Nguyên lý căn để của Bát quái Hậu Thiên và Tiên Thiên trong Dịch học - cội nguồn của mọi phương pháp ứng dụng trong Lý học Đông phương. Bởi vậy, chúng ta tiếp tục tìm hiểu căn nguyên của hai đồ hình này ngay dưới đây.

Người viết đã hân hạnh trình bày về sự sai lệch có tính căn đế của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán. Đồng thời chứng minh cho sự hiệu chỉnh vị trí Tốn Khôn trong Hậu thiên bát quái và liên hệ với Hà Đồ (Xin xem “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin. Tái bản 2002. website vanhienlacviet.com; hoặc lyhocdongphuong.org.vn).

Chỉ có trên cơ sở này, chúng ta mới có thể nhận thấy một cách dễ dàng sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ thể hiện trong những nguyên tắc và qui luật an sao Tử Vi. Còn theo cổ thư chữ Hán thì hoàn toàn không thể thực hiện được sự tìm hiểu và khả năng phục hồi những phương pháp tiên tri Đông phương, trên cơ sở những tiêu chí khoa học.

Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.

Ngược lại trên cơ sở Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ, bức màn bí ẩn của văn hóa Đông phương một thời huyền bí từ từ sáng tỏ dưới ánh sáng khoa học thật sự nhân danh tiêu chí khoa học. Và nó cũng chứng tỏ rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm - nhân danh nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt một thời huyền vĩ bên bờ Nam Dương tử với lịch sử đến nay trải gần 5000 năm.

Để bạn đọc tiện tham khảo, người viết xin được tóm lược những vấn đề và hiện tương liên quan đến Hà Đồ Lạc thư và Bát quái trong cổ thư chữ Hán với sự hiệu chỉnh liên quan.

I) Những vấn đề Hà Đồ Lạc Thư và Kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán

I - 1:

Hà Đồ trong cổ thư chữ Hán được coi là do vua Phục Hy (Khoảng 4000 – 6000 năm trước CN) tìm ra từ trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà và Đồ hình Tiên thiên bát quái được ngài sáng tạo từ Hà Đồ. Dưới đây là đồ hình Hà Đồ được công bố vào đời Tống sau vua Phục Hy tìm ra nó mà truyền thuyết nói tối và cách thời Phục Hy từ 5000 năm đến 7000 năm sau CN.

Posted Image

Hình Hà Đồ

Posted Image

Hà Đồ cửu cung

Dưới đây là hình Tiên Thiên Bát quái, cũng được coi là do vua Phục Hy sáng tạo cùng thời căn cứ vào Hà Đồ trên lưng Long Mã.

Posted Image

Tiên thiên bát quái

Posted Image

Tiên thiên liên hệ với Hà Đồ cửu cung

I - 2: Lạc Thư theo truyền thuyết Trung Hoa do vua Đại Vũ (Khoảng 2000 – 2200 trước Cn) tìm ra từ trên lưng rùa thần trên sông Lạc thuỷ

Posted Image

Hình Lạc thư

Posted Image

Lạc thư cửu cung

I - 3:

Hậu thiên bát quái theo truyền thuyết Trung Hoa là do vua Văn Vương (Khoảng 1150 năm trước Cn) sáng tạo căn cứ trên Lạc thư.

Posted Image

Hình Hậu Thiên Bát quái

Posted Image

Hậu thiên Bát quái phối Lạc thư cửu cung

II - Những vấn đề Hà Đồ Lạc thư và Kinh Dịch từ văn minh Lạc Việt

II - 1: Bản chất của Lạc Thư trong văn minh Lạc Việt:

Lạc Thư là sách của người Lạc Việt. Lạc thư cửu tinh đồ là đồ hình vị trí các sao trên bầu trời quan sát từ trái đất. Đây là cơ sở của Lạc Thư.

Posted Image

Lạc thư cửu tinh đồ

Posted Image

Lạc thư điểm

Đồ hình Lạc thư này giống đồ hình Lạc thư ghi nhận từ cổ thư chữ Hán, nhưng có xuất xứ cội nguồn khác nhau: Lạc thư điểm từ văn minh Lạc Việt là đồ hình biểu kiến của Lạc thư cửu tinh đồ trên bầu trời Trái đất. Khác với Lạc thư trong cổ thư chữ Hán từ trên lưng con rùa.

II - 2: Bản chất của Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt:

Hà đồ trong văn minh Lạc Việt là đồ hình miêu tả quy luật vận động của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tương tác với mặt Trời (Dương) và mặt trăng (Âm). Đồ hình Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt không khác sự ghi nhận trong cổ thư chữ Hán (Tham khảo hình trên), nhưng khác nhau về xuất xứ cội nguồn.

Trước khi diễn tả nội dung của Hà đồ từ văn minh Lạc Việt, xin được trình bày phương pháp tính giờ của Âm dương lịch.

Âm lịch chia một ngày thành 12 giờ. Mỗi giờ âm lịch bằng hai giờ dương lịch:

Giờ thứ nhất – giờ Tí – từ 23 giờ ngày hôm trước đến 1 giờ ngày hôm sau.

Giờ thứ hai – giờ Sửu – từ 1 đến 3 giờ.

Giờ thứ ba – giờ Dần – từ 3 đến 5 giờ.

Giờ thứ tư – giờ Mão – từ 5 đến 7 giờ.

Giờ thứ năm – giờ Thìn – từ 7 đến 9 giờ.

Giờ thứ sáu – giờ Tỵ – từ 9 đến 11 giờ.

Giờ thứ bảy – giờ Ngọ – từ 11 đến 13 giờ.

Giờ thứ tám – giờ Mùi – từ 13 đến 15 giờ.

Giờ thứ chín – giờ Thân – từ 15 đến 17 giờ.

Giờ thứ mười – giờ Dậu – từ 17 đến 19 giờ.

Giờ thứ mười một – giờ Tuất – từ 19 đến 21 giờ.

Giờ thứ mười hai – giờ Hợi – từ 21 đến 23 giờ.

Với sự phân chia thời gian theo âm lịch nói trên và sự định hướng phương vị của Lạc thư thì sự vận động của các vì sao quen thuộc trong Thiên văn học hiện đại thuộc Thái dương hệ gồm: sao Kim, sao Thủy, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ lần lượt xuất hiện trên bầu trời sẽ tạo ra độ số của Hà đồ như sau:

1) Vị trí xuất hiện của sao Thủy ở phương Bắc trên bầu trời

Trong ngày: giờ thứ nhất (giờ Tí); giờ thứ sáu (giờ Tỵ)

Trong tháng: ngày mồng 1, 6, 11, 16, 21, 26. Mặt trời, mặt Trăng gặp sao Thủy ở phương Bắc.

Trong năm: Tháng 11, 6. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.

Vị trí của sao Thủy theo độ số của sao Thủy trên Hà đồ (1 – 6),ứng với phương Bắc của Lạc thư .

2) Vị trí xuất hiện của sao Hỏa ở phương Nam trên bầu trời

Trong ngày: giờ thứ hai (giờ Sửu); giờ thứ bảy (giờ Ngọ)

Trong tháng: ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Hỏa ở phương Nam.

Trong năm: Tháng 2, 7. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.

Vị trí của sao Hỏa theo độ số của sao Hỏa trên Hà đồ (2 – 7), ứng với phương Nam của Lạc thư .

3) Vị trí xuất hiện của sao Mộc ở phương Đông trên bầu trời

Trong ngày: giờ thứ ba (giờ Dần); giờ thứ tám (giờ Mùi).

Trong tháng: ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.

Trong năm: tháng 3, 8. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông.

Vị trí của sao Mộc theo độ số của sao Mộc trên Hà đồ (3 – 8), ứng với phương Đông của Lạc thư .

4) Vị trí xuất hiện của sao Kim ở phương Tây trên bầu trời

Trong ngày: giờ thứ tư (giờ Mão); giờ thứ chín (giờ Thân)

Trong tháng: ngày mồng 4, 9, 14, 19, 24, 29. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Kim ở phương Tây.

Trong năm: tháng 4, 9. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.

Vị trí của sao Kim theo độ số của sao Kim trên Hà đồ (4 – 9), ứng với phương Tây của Lạc thư .

5) Vị trí xuất hiện của sao Thổ ở giữa bầu trời

Trong ngày: giờ thứ năm (giờ Thìn); giờ thứ mười (giờ Dậu).

Trong tháng: ngày mồng 5, 10, 15, 20, 25, 30. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.

Trong năm: tháng 5, 10. Lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.

Vị trí của sao Thổ theo độ số của sao Thổ trên Hà đồ (5 – 10), ứng với Lạc thư ở giữa. (*)

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: những nội dung mới mẻ này hoàn toàn chưa hề có trong cổ thư chữ Hán. Trong cuốn sách Chu Dịch vũ trụ quan, giáo sư Lê Văn Quán cũng chỉ đưa ra nội dung như trên cho từng đồ hình Lạc thư và Hà đồ một cách riêng rẽ; ông không có sự liên hệ nào giữa hai đồ hình này. Việc liên hệ giữa hai đồ hình Lạc thư – Hà đồ và cho rằng Lạc thư phải có trước – để định phương vị cho Hà đồ; Hà đồ có sau trên cơ sở phương vị Lạc thư, là do người viết thực hiện.

II - 3: Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ:

Hậu thiên bát quái Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn Khôn so với Hậu Thiên Văn Vương) và liên hệ với Hà đồ. Đây là đồ hình căn để mà mục đích của nó là thể hiện nguyên lý tương tác những hiệu ứng vũ trụ lên trái Đất theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành có xuất xứ từ nền văn minh Lạc Việt.

Posted Image

Hình Hậu thiên Bát quái nguyên thủy Lạc Việt

Hậu Thiên Lạc Việt

Posted Image

Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ Hà Đồ cửu cung

III - Tử Vi Đông phương và những hiệu ứng vũ trụ liên hệ với Địa cầu:

III - 1: Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt và địa cầu so sánh với 12 cung tử Vi:

Trên cơ sở những nguyên lý căn để khác biệt được trình bày ở trên, bạn đọc so sánh nguyên lý: Hậu thiên Bát quái liên hệ với Hà Đồ phối hợp với vị trí biểu kiến của Trái Đất đặt tại Trung cung, chúng sẽ có một sự liên hệ hợp lý như sau:

Posted Image

Hình Hà Đồ - Hậu thiên và trái Đất.

Qua hình trên, xin bạn đọc lưu ý rằng: mặt phẳng Hoàng đạo chính là vị trí biểu kiến của hai cung Thìn Tuất. Bây giờ chúng ta quán xét sự trùng khớp giữa Thiên bàn Tử Vi và đồ hình Hà đồ qua hình dưới đây.

Posted Image

Hình thiên bàn tử vi

Qua hình trên, bạn đọc cũng thấy sự trùng khớp về nguyên tắc vận động của Ngũ Hành trên Hà Đồ và thiên bàn Tử Vi.

Từ sự liên hệ những đồ hình trên, chúng ta sẽ thấy những yếu tố nhằm chứng minh cho một giả thuyết cho rằng:

“Tử Vi chính là sự ứng dụng những tri thức về những hiệu ứng vũ trụ tương tác với Địa Cầu”.

III - 2: Những yếu tố liên hệ giữa phương pháp ứng dụng của Tử Vi và mối liên hệ tương quan trong vũ trụ:

III - 2 - 1: Hai cung Thìn Tuất – là nơi xuất phát của hầu hết các sao trong Tử Vi – chính là sự biểu kiến qui ước của Mặt phẳng Hoàng Đạo Trái Đất. Và chúng ta cũng biết rằng mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng biểu kiến quĩ đạo của các vì sao gần Trái Đất.

III - 2 - 2:

Phương pháp an chòm sao Tử Vi (Đế tinh) luôn bắt đầu (có tính quy ước) cho các số Cục từ cung Dần. Cung Dần là Dương Mộc tương ứng với cung Cấn của Hậu Thiên trên Hà Đồ (Xem đồ hình trên), tức là chính giữa bầu trời. Đây là vị trí Trung Cung của sao Ngũ Đế toạ. Xin xem: Lạc Thư cửu tinh đồ (Hình trên). “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp”. Nxb Văn Hoá Thông Tin. Tái bản 2002. Website vanhienlacviet.com. Giới thiệu sách.Trang 51...

III - 2 - 3:

Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Quĩ đạo các vì sao quan sát từ trái đất có một hiệu ứng chuyển dịch ngược, sau đó lại vận động trở lại theo chiều chuyển động của nó. Hiệu ứng này đã tạo ra do trái đất quay quanh mặt trời (Còn gọi là hiện tượng quỹ đạo chuyển động đảo biểu kiến của các vì sao quan sát từ trái đất). Đây cũng chính là nguyên tắc tính đại & tiểu hạn trong Tử Vi và phương pháp an sao của phần lớn các sao trong Tử Vi (Chuyển theo “tháng” và ngược lại theo “Giờ”). Xin xem hình minh hoạ dưới đây:

Posted Image

Hình minh hoạ quĩ đạo chuyển động đảo biểu kiến của các vì sao quan sát từ trái đất.

Tư liệu trong cuốn Dynamic Astronomy. Tác giả: Robert.T.Dixon. Prentice - Hall ternational. Inc.

Posted Image

Hình minh hoạ phương pháp lưu Đại hạn trên Thiên Bàn Tử Vi

(Hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến. Hầu hết phương pháp an sao Tử Vi cũng có tính chất chuyển động đảo)

Như vậy, qua sự minh hoạ trên cho chúng ta thấy một sự trùng khớp hợp lý của hầu hết những yếu tố quan trọng có tính nguyên lý của Tử Vi với sự vận động của các vì sao trên bầu trời và sự liên hệ với các vấn đề trong học thuật cổ Đông phương: Hà Đồ, Hậu thiên bát quái Lạc Việt... Như vậy – cùng với những yếu tố phù hợp với tiêu chí khoa học – hoàn toàn có cơ sở khoa học của một giả thuyết cho rằng:

Tử Vi chính là một phương pháp thể hiện những hiệu ứng tương tác vũ trụ có tính qui luật trong sự vận động của các vì sao trên bầu trời với Trái Đất và con người, được giải thích bằng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Nếu giả thuyết này được coi là đúng vì tính hợp lý của các vấn đề liên quan thì đây sẽ là sự mở đầu cho những phương pháp nghiên cứu về những hiệu ứng vũ trụ, ngoài những hiệu ứng mà nhân loại đã khám phá, như: Sự tương tác của mặt Trời, mặt Trăng, từ trường Trái Đất...

Từ hiệu ứng này và trên cơ sở giả thuyết đã nêu, chúng ta sẽ kiểm định lại hai phương pháp tính Nguyệt hạn của Tử Vi là:

III - 2 - 3 - 1:

Năm tiểu hạn đâu, tháng Giêng xuất phát từ đó và thuận theo chiều kim đồng hồ.

III - 2 - 3 -2:

Từ năm tiểu hạn tính ngược đến tháng sinh và thuận đến giờ sinh.

Các Tử Vi gia thường đưa ra cả hai phương pháp rồi khuyến cáo người xem ứng dụng cả hai và chứng nghiệm. Nhưng về mặt lý thuyết thì phương pháp III - 2 - 3 - 2 phù hợp với hiệu ứng trong sự chuyển động của các vì sao quan sát từ trái Đất đã nêu ở trên. Tất cả những yếu tố trên là cơ sở để chứng minh cho một hiệu ứng vũ trụ tương tác với Trái Đất, được ký hiệu và qui ước hóa trong Tử Vi gây ảnh hưởng đến con người. Cơ sở này chỉ được chứng minh và hoàn thiện trên cơ sở nguyên lý căn để của nền lý học Đông phươmng nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5000 năm, : Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn & Khôn) liên hệ với Hà Đồ (*).

IV - Kết Luận:

Từ cơ sở này, như vậy chúng ta sẽ có một hệ quả liên hệ với nó

là:

* Sự liên hệ những hiệu ứng vũ trụ qua sự vận động của các sao gần hệ mặt Trời trong Tử Vi chỉ có thể thực hiện được từ văn minh Lạc Việt với sự hiệu chỉnh Tốn Khôn trong Hậu thiên Bát quái và liên hệ với Hà Đồ. Điều này đã chứng tỏ văn minh Hán không thể là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành và các học thuật cổ Đông phương.

* Trần Đoàn lão tổ không thể là tác giả của Tử Vi đẩu số. Ông ta chỉ có công phổ biến Tử Vi trong văn hóa Hán bằng chữ Hán (là văn tự chính thống và phổ biến trong đế quốc Hán vào thời dân Việt mất nước cả ngàn năm). Bởi vì, ông ta vào thời Trung cổ không thể có những tri kiến thiên văn của nền khoa học hiện đại và của những tri kiến mà chính nền khoa học hiện đại cũng chưa đạt tới. Hơn nữa, ông ta không thể làm ra một giải pháp đúng từ một đồ hình có trên lưng Rùa Thần hiện ra trên sông Lạc (Sic!).

* Sự vận động của vũ trụ từng giây, từng phút – Nói theo ngôn từ của Đức Thích Ca là từng sát na – trong khi lá số Tử Vi là những ký hiệu qui ước, nên với một lá số cũng chỉ có giá trị tương đối về mặt lý thuyết. Do đó chúng phải có sai lệch trong một khung nhất định. Điều này, cũng giải thích vì sao cùng dữ kiện: ngày, giờ, tháng, năm sinh vẫn có thể có những sai lệch cho từng số phận. Nhưng trong điều kiện chuẩn về lý thuyết, thì tính chính xác đến chi tiết khi luận đoán của Tử Vi đủ cho thấy trí tuệ siêu việt của người xưa. Khi mà nhưng tương tác của vũ trụ thông qua sử chuyển động có quy luật của các sao trên Thiên Hà với Địa Cầu còn nằm ngoài sự hiểu biết của khoa học hiện đại.

Không phải chỉ có Tử Vi Đông Phương mà có thể nói rằng: Hầu hết khoa chiêm tinh của các nền văn minh cổ đại còn sót lại trong văn minh nhân loại, đều chỉ thẳng lên bầu trời.

Điều này khẳng định rằng: Phải có một nền văn hóa toàn cầu kỳ vĩ đã từng tồn tại và họ đã khám phá ra những hiệu ứng vũ trụ tương tác có quy luật với Địa cầu và lên sự phát triển của sự sống nới đây.

Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri - Đó là phát biểu của tiêu chí khoa học.

---------------------

* Chu Dịch và dự đoán học - Thiệu Vĩ Hoa - Bản tiếng Việt Nxb VHTT 1992.

** Chú thích: Gs Lê Văn Quán, Chu Dịch vũ trụ quan, (NXB Giáo dục 1995).

*** Xin xem phần chứng minh trong “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”- Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb VHTT tái bản 2002.Website vanhienlacviet.com.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thái ất thần kinh và khả năng dự báo

Nếu một người sinh ra trong điều kiện chuẩn về lý thuyết của lá số Tử Vi; tức là mọi quy ước đều phản ánh đúng với thực tế, thì khả năng dự báo khá chính xác và chi tiết cho số phận một con người. Đó là nguyên nhân góp phần tạo nên một khái niệm về định mệnh.

So sánh với Tử Vi thì Thái ất cũng là một môn dự báo có tính hệ thống, qui tắc và chuẩn mực, có tham vọng dự báo tất cả các hiện tượng xã hội và tự nhiên trên trái Đất liên quan tới con người. Do đó, Thái ất cũng tạo một ý niệm khắc nghiệt hơn về định mệnh ở tầm cỡ xã hội.

Trong các trước tác thuộc về cổ học Đông phương, mà hầu hết đều được gán cho các tác giả thuộc văn minh Hoa Hạ thì riêng có Thái Ất thần kinh là cuốn kỳ thư duy nhất ứng dụng phương pháp luận của tuyết Âm Dương Ngũ hành không có tác giả thuộc nền văn minh Hoa Hạ. Người viết cho rằng: Sẽ không thể có một lập luận hoàn chỉnh và là sự sai lầm, nếu vẫn cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc văn minh Hoa Hạ, nhưng cuốn Thái Ất lại thuộc về văn minh Lạc Việt. Bởi vậy, hai nhà nghiên cứu Thái Quang Việt và Nguyễn Đoàn Tuân tuy có ý tưởng đúng khi cho rằng: Thái Ất thần kinh là trước tác của người Việt (*), nhưng lập luận lại không vững chắc khi mắc sai lầm trên.

Thái ất thần kinh là cuốn sách ứng dụng thuần tuý, mang tính dự báo tương lai (**) Tham vọng dự báo của Thái ất bao trùm sự vận động của vũ trụ mà hiệu ứng của nó ảnh hưởng tới môi trường trái đất, cho nên mọi vấn đề xã hội và con người. Trong Thái ất ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu của Kinh Dịch. So với Tử Vi, phương pháp dự đoán của Thái ất thể hiện khá rõ nét các hiệu ứng vũ trụ tương tác lên trái đất có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và cũng không hề có nội dung thần quyền. Một ví dụ cho vấn đề này là cách tính mốc chuẩn của Thái ất.

Theo Thái ất, mốc chuẩn thời gian được tính theo Thượng cổ Giáp Tý 10.153.917 trước CN. Cũng theo Thái ất, căn cứ để tính mốc chuẩn này vì:

“Năm gọi là gốc thời gian vì có hiện tượng 7 sao tụ hội. Tức là tất cả Nhật Nguyệt hợp bích và 5 tinh liên châu đều họp ở cung Tý, cho nên: năm, tháng, ngày, giờ, thiên chính, đông chính đều lấy cung Tý làm mốc hầu hết, gọi là Thượng Cổ Giáp Tý” (***).

Như vậy, ngay từ mốc chuẩn đầu tiên đã cho thấy phương pháp tính toán của Thái ất có cơ sở là những hiệu ứng và sự tương tác vũ trụ. Hiệu quả của phương pháp tính Thái ất quả là đáng kinh ngạc, khi cho đến nay tính tiên tri là yêu cầu của một lý thuyết khoa học, vẫn tỏ ra có hiệu quả (Đã trích dẫn: lời dự báo thiên tai cho năm 2002). Nhờ đó có duyên hội ngộ với học giả Nguyễn Đoàn Tuân, cụ đã cho xem một bản văn trong đó cụ đã tính trước và biết được sự thất bại của tàu con thoi Chelinge 13 bị cháy sau khi rời bệ phóng.

Từ lâu, trong các truyền thuyết dân gian đã cho rằng: Chính ngài Trạng Trình đã sử dụng Thái ất để dự đoán 500 năm về trước và 500 năm về sau. Hiệu quả của dự báo Thái ất đã được truyền tụng trong dân gian và cho đến ngày nay. Mặc dù những khái niệm trong Thái ất vẫn thách đố tri thức khoa học hiện đại, nhưng chính những công thức tính toán và chuẩn mực, quy tắc của Thái ất với khả năng tiên tri của nó, đã minh chứng cho tính khoa học và khả năng đã tồn tại của một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ đứng đằng sau nó. Đồng thời cũng chứng tỏ khả năng nhận thức của con người trước những yếu tố tế vi tác động và chi phối lên chính con người. Bởi vì, người ta chỉ có thể lập trình, qui ước và hệ thống hoá để tính toán được những trạng thái vận động có tính quy luật. Không ai có thể tính trước được việc làm của thần linh và ma quỉ. Những dữ kiện trong Thái ất cũng hé mở cho khả năng khám phá sự tồn tại của những hiệu ứng vũ trụ tương tác với trái Đất, cuộc sống, xã hội và con người mà con người có thể nhận thức được. Kết quả của khả năng tiên tri thể hiện trong Thái ất và Tử Vi đẩu số, đã chứng tỏ tính quy luật trong sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ qua những quy tắc, chuẩn mực của nó.

Như vậy, vấn đề còn lại sẽ là khả năng nhận thức của con người, trên cơ sở tri thức hiện tại hoặc sự phát triển của tri thức trong tương lai, có phát hiện được những hiệu ứng vũ trụ đang tác động lên chính con người hay không? Đây là một hiện tượng rất khó có thể chứng minh được bằng thực nghiệm trong khả năng của nền khoa học hiện đại. Điều này chỉ có thể chứng minh dựa trên cơ sở những mối liên hệ hợp lý của những vấn đề và hiện tượng liên quan. Hay nói một cách khác: Nó thuần túy mang tính lý thuyết. Nhưng chưa chứng minh được bằng thực nghiệm không có nghĩa là những hiệu ứng vũ trụ đó không tồn tại. Bởi vì, con người cũng như tất cả các sinh vật đã phát sinh, phát triển và tồn tại trên trái đất này, đều chịu ảnh hưởng của những hiệu ứng vũ trụ và hòa nhập với nó. Một thí dụ trong trường hợp này là: Bạn sẽ rất ít khi nghĩ rằng bạn đang thở, mặc dù không khí là yếu tố tồn tại của bạn. Do thở là một điều kiện cần, đã hoà nhập với bạn ngay từ lúc bạn mới chào đời. Nhưng không khí là một thực thể tồn tại bên ngoài bạn, nên có thể cảm nhận bằng giác quan. Thí dụ khác là: Bạn có bao giờ cảm nhận được lực hấp dẫn hoặc ảnh hưởng của từ trường trái Đất lên người bạn không? Có lẽ chỉ trừ những siêu nhân, còn tình trạng phổ biến, trong đó có cả tôi – câu trả lời sẽ là: “Không cảm nhận được điều này”. Bạn chỉ có thể nhận thức được từ trường và lực hút của trái Đất qua các hiện tượng liên quan và là một thực tế đã được khoa học hiện đại chứng minh. Theo truyền thuyết, việc chứng minh khoa học cho sự tác động của lực hấp dẫn được nghĩ đến, khi quả táo rơi xuống cái đầu vĩ đại của nhà bác học Newton vào thế kỷ XVII. Hàng ngàn năm trôi qua, hàng triệu quả táo đã rơi...Nhưng chỉ đến khi nó rơi vào đầu nhà bác học Newton, nhân loại mới phát hiện ra lực hấp dẫn. Thật là may, nếu quả táo thiên thần đó rơi xuống đầu một con bò, thì có lẽ đến bây giờ người ta vẫn chưa tin là có sức hút trái Đất. Con người đã biết được lực từ trường và lực hấp dẫn, nhưng vẫn không cảm nhận được, vì đã phát sinh, phát triển, tồn tại và hoà nhập trong đó. Tương tự như vậy, những hiệu ứng vũ trụ khác đang tác động lên con người, cũng sẽ không cảm nhận được.

Như vậy, với giả thuyết cho rằng: Tử Vi và tất cả những khoa dự đoán Đông phương nói chung – có phương pháp, chuẩn mực, hệ thống và qui tắc – là những hiệu ứng vũ trụ tác động có tính quy luật lên con người đã tạo nên khả năng tiên tri cho số phận con người, thì vấn đề rất cần và đủ và rất nghiêm túc cho việc lý giải câu hỏi từ ngàn xưa của con người: “Định mệnh có thật hay không ?” sẽ là:

Những hiệu ứng đó có tác động lên trạng thái ý thức của con người hay không?

Bởi vậy, vấn đề cần bàn sau đây sẽ là: bản chất của ý thức trong sự tương tác với hiệu ứng vũ trụ. Đây là một yếu tố rất căn bản để tạo nên chiếc chìa khoá mở cánh cửa bí ẩn của “Định Mệnh”.

Posted Image

Chú thích:

* “ Thái ất thần kinh” Thái Quang Việt, Nguyễn Đoàn Tuân.Nxb VHDT 2001 - Tái bản 2002 . trang 9.

** Người viết tiểu luận này cho rằng Kỳ Môn độn giáp và Thái Ất thần Kinh là hai phần của một cuốn kỳ thư duy nhất. Thái Ất tức là phía trên tất cả các Thiên Can Âm mà Ất là biểu tượng, Độn Giáp là phía dưới thiên can Dương mà Giáp là biểu tượng. Dưới Dương và Trên Âm chính là tri thức về cái Dụng của trời đất với con người. Tuy nhiên đây là một chủ đề khác, không nằm trong tiểu luận này.

** * Thái ất thần kinh. Nxb VHDT 1/2001. trang 300.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bản chất của ý thức

Phù Dịch quãng hỹ. Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ.

Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc nhi chính. Dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ.

Dịch lớn thay! Nói về xa thì vô cùng, nói về gần thì tĩnh mà chính.

Nói về trời đất thì bao trùm tất cả! .

I - Khái niệm về vấn đề

Khoa học ngày càng đi sâu vào thế giới vật chất vi mô. Những dạng tồn tại nhỏ nhất của vật chất được lần lượt phát hiện. Những cấu trúc - những dạng tồn tại của vật chất - ngày càng nhỏ dần và có vẻ như từ từ biến mất. Các nhà khoa học hàng đầu ngơ ngác. Đã có người la lên rằng: "Vật chất đã biến mất". Những giáo lý tôn giáo bắt đầu xem xét lại tính hợp lý cho sự tồn tại của Thượng Đế. Cuốn "Thượng Đế và Khoa học" là một điển hình (*). Trong cuốn này - được trước tác bởi ba vị viện sĩ của Viện Hàn lâm khoa học Pháp Quốc - đã kết luận: Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ. Trong trường hợp này - như người viết đã trình bày:

Định mệnh không có thật. Vì nó tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của Thượng Đế.

Chúng ta giả thiết rằng: Tất cả các qui luật vật lý trong vũ trụ đã được phát hiện. Mọi quy luật tương tác - mà khoa học thừa nhận tính tương tác tạo nên vạn vật - đều được khám phá. Trong trường hợp này vấn đề đặt ra cho khoa học sẽ là:

Bản chất của ý thức là gì? Và tất cả các quy luật tương tác vật lý có tương tác với ý thức hay không?

Hay chỉ có sự tương tác một chiều: Sự tương tác của ý thức với vật chất và không có chiều ngược lại?

Cũng hàng ngàn năm qua đi...Đã có nhiều cách giải thích minh triết khác nhau về vũ trụ và con người. Nhưng hầu hết các trường phái triết học cổ xưa cũng như hiện đại đều phân biệt trạng thái ý thức (hoặc tinh thần) và vật chất. Và “Ý thức” là khái niệm cho một dạng tồn tại phi vật chất và có tương tác với vật chất.

Bởi vậy, nếu tiêu chí khoa học hiện đại cho rằng: “một lý thuyết khoa học phải có tính quy luật và có khả năng tiên tri” thì – từ tiêu chí khoa học và giả thiết về tính quy luật của những hiệu ứng vũ trụ tác động lên con người – vấn đề sẽ được đặt ra là:

Những hiệu ứng tương tác vũ trụ này có tương tác với ý thức con người hay không?

Hay nói một cách khác:

Có sự tương tác hai chiều giữa vật chất và ý thức không - Khi tất cả các trường phải triết học đều đã xác định một chiều là: "ý thức có tương tác với vật chất"?

I - 1: Trong trường hợp được xác định là "có" sự tương tác hai chiều thì bản chất của ý thức mang thuộc tính vật chất.

Như vậy sự phân biệt giữa vật chất và ý thức phi vật chất là một sai lầm trong nhận thức cổ điển. Đã có một lần, tôi hỏi một nhà khoa học trẻ, giảng viên toán lý một trường đại học. Câu hỏi là:

"Trong tri thức khoa học hiện đại mà anh biết, có một dạng tồn tại nào phi vật chất, nhưng lại có năng lương tác động lên vật chất hay không?".

Anh ta trầm ngâm suy nghĩ một lúc và trả lời tôi:

"Không!".

Với câu trả lời này thì nếu coi ý thức là một dạng tồn tại phi vật chất thì đây là điều hoàn toàn phi lý trong mối tương quan với tri thức khoa học hiện đại. Và điều này xác định về mặt lý thuyết rằng:

Tất cả mọi quy luật vật chất mà khoa học khám phá được sẽ hoàn toàn vô nghĩa . Vì trong vũ trụ tồn tại một sự tương tác phi vật chất và không kiểm chứng được, không quán xét được do tất cả mọi phương tiện kỹ thuật - vật chất - không tương tác với nó.

So sánh với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học thì vấn đề được xác định ở đây là: Ý thức và biến tướng của khái niệm này - mà ngày nay người ta gọi là "tâm linh" - phải là một dạng tồn tại của vật chất - chưa được khám phá. Hay nói cách khác: Khái niệm "vật chất" phải được định nghĩa lại. Và đây không phải lần đầu tiên trong lịch sử văn minh nhân loại những tư duy khoa học và minh triết đặt lại định nghĩa về khái niệm này.

Khái niệm mới định nghĩa về vật chất - được coi là hợp lý và cần trong tiểu luận này - như sau:

Mọi dạng tồn tại tương tác lẫn nhau, dù đã được biết đến hoặc chưa được biết đến - đều là vật chất.

Hay diễn đạt một cách đầy đủ là:

Vật chất là tất cả những dạng tồn tại và tương tác lên những dạng tồn tại khác và chính nó.

Bởi vì chúng phải có năng lượng để thực hiện sự tương tác đó. Khi đã có năng lượng thì chúng sẽ phải tuân theo quy luật tích lũy, sản sinh hay bảo tồn năng lương - một quy luật của khoa học.

I - 2: Trong trường hợp sự trả lời câu hỏi "Có sự tương tác hai chiều giữa vật chất và ý thức không - Khi tất cả các trường phải triết học đều đã xác định ý thức có tương tác với vật chất?" là “Không”.

Trong điều kiện này mọi quy luật vật lý thể hiện sự tương tác của vật chất đều không thể tồn tại, khi có sự tác động của ý thức – vốn được coi là một dạng tồn tại phi vật chất – và không kiểm soát được tính quy luật của nó. Tất yếu sẽ không có khả năng tiên tri. Và khi không có khả năng tiên tri thì đây chính là sự phủ nhận tiêu chí khoa học cho bất cứ một lý thuyết khoa học nào - "Một lý thuyết khoa học phải có khả năng tiên tri".

Như vậy - trong trường hợp này - dù người ta nhân danh tư tưởng minh triết thuộc bất cứ trường phái nào đều cũng sẽ dẫn thẳng đến Thượng Đế. Hay nói một cách khác: Toàn bộ tri thức khoa học loài người đã xây dựng nên trong lịch sử văn minh hiện đại phải sụp đổ (Chưa nói đến cái đám lóc nhóc "hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "cộng đồng khoa học quốc tế" đang được quảng cáo là ủng hộ quan niệm phủ nhận lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm, nhân danh khoa học).

I - 3: Phần này giới thiệu một dạng tồn tại được đặt ra và cần lưu ý của nền minh triết Đông phương, trong ba luồng tư tưởng cổ đại là: Dịch, Phật, Lão. Trong tính minh triết này có đặt vấn đề về một dạng tồn tại “không phải có, không phải không” và là bản tính chân như trong minh triết Phật Giáo; hoặc khái niệm Đạo trong Đạo giáo: "Đón thì không thấy đầu, theo thì không thấy đuôi. Ở trên không sáng, ở dưới không tối. Nhưng có thật và đáng tin"; Hoặc khái niệm Thái cực trong Dịch học.

Vấn đề này được đặt ra chỉ để lưu ý bạn đọc và sẽ được trình bày trong phần sau của tiểu luận này.

III - Bản chất của ý thức là gì?

Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã và đang có một khái niệm mới là một dạng tồn tại khác của "ý thức" và có vẻ như "ý thức" chỉ là một trường hợp riêng của trạng thái này. Đó là khái niệm "tâm linh". Nhưng dù với bất cứ khải niệm nào. Miễn là cái gọi là "ý thức " hay "tâm linh" đó có tương tác với vật chất thì - theo định nghĩa "Mọi dạng tồn tại có tương tác lẫn nhau, dù đã được biết đến hoặc chưa được biết đến - đều là vật chất.".

Ngược lại, nếu khẳng định tính phi vật chất của "ý thức" và "tâm linh" - cho dù thừa nhận tính tương tác của nó - thì như người viết đã trình bày ở trên: "Sẽ không có một khả năng tiên tri nào thực hiện được nhân danh khoa học". Bởi vì mọi quy luật vật lý sẽ phụ thuộc vào sự tương tác một chiều phi vật chất không kiểm chứng được, không phải đối tượng nghiên cứu khoa học và tất cả tri thức khoa học sẽ sụp đổ bởi chính tiêu chí của nó vì không còn tính quy luật và khả năng tiên tri.

Do đó, tính “Phi vật chất” của ý thức - tâm linh được tất các trường phái triết học cổ kim thừa nhận đến ngày hôm nay - khi người viết đang gõ những hàng chữ này, chính là một sai lầm trong phát triển tri thức của con người thuộc lịch sử văn minh hiện đại - khi người ta có một giới hạn trong khái niệm và định nghĩa cổ điển về vật chất.

Đó là nguyên nhân – ít nhất về mặt lý thuyết – khả năng tiên tri sẽ không thực hiện được và mọi quy luật của tự nhiên tạo nên tri thức nhân loại hiện đại sẽ sụp đổ bởi chính tiêu chí khoa học của nó.

Nhưng thực tế khả năng tiên tri vẫn đang hiện hữu và tồn tại từ ngàn đời. Trong đó tồn tại những phương pháp tiên tri có hệ thống, có qui luật và khách quan đã dẫn chứng là Tử Vi, Tử Bình...

Như vậy, sự tồn tại và hiệu quả của các phương pháp có khả năng tiên tri tri hàng ngàn năm, tự nó đã phủ nhận khái niệm “ý thức là một thể tồn tại phi vật chất”. Hay nói một cách khác: Khái niệm "ý thức: - hay "tâm linh" chỉ là những dạng tồn tại của vật chất. Trong điều kiện này thì nó phải chịu sự tương tác của những quy luật vật lý mà loài người đã khám phá ra hoặc chưa khám phá ra.

Như vậy, nếu câu trả lời là "Không" có sự tương tác của vật chất lên ý thức thì kết luận sẽ là "Không có Định mệnh có khả năng tiên tri" và vấn đề sẽ kết thúc ở đây.

Hay nói một cách khác: Nhân loại sẽ không bao giờ tìm được một lý thuyết thống nhất mà các nhà khoa học đang mơ ước - sẽ chứng minh rõ hơn ở phần sau với những nhận định của S.W. Hawking. Đồng thời người ta sẽ phải thừa nhận một lực lượng phi tự nhiên đang tác động vào tự nhiên không mang tính quy luật khách quan. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sụp đổ của tất cả tri thức khoa học mà nhân loại đã tích lũy.

IV - Những vấn đề tồn tại.

Nhưng nếu ý thức không thể phi vật chất thì con người rút cục chỉ là robot cao cấp chăng? Thực tế đã chứng minh không phải như vậy, cho dù tư duy (ý thức, tinh thần) có tính quy luật và có những thuộc tính vật chất thì vấn đề hợp lý tiếp theo sẽ là:

Cái gì nhận thức tính tương tác có qui luật đó? Kể cả qui luật tương tác của ý thức?

Để giải thích một cách hợp lý vần đề được đặt ra trong một chuỗi suy luận vì tính hợp lý của nó, chúng ta cần quay lại từ sự hình thành Thái Dương hệ.

"Trong giai đoạn đầu của sự hình thành Thái Dương Hệ – tức là vào giai đoạn chưa hề có một phần tử hữu cơ nào xuất hiện trên trái Đất để mở đầu cho sự sống – thì tất cả từ những vận động khởi đầu cho một quá trình phát triển, tiến hoá của tự nhiên trên trái Đất đều ảnh hưởng của những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ. Chính những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ này đã ảnh hưởng và chi phối quá trình tiến hoá của vật chất – cụ thể là trên trái đất – từ vô cơ đến hữu cơ, từ đơn giản đến phức tạp – cho đến khi hình thành những sinh vật cao cấp trên trái Đất hiện nay, trong đó có con người. Do đó, tất cả những sự hiện hữu dù đơn giản hay phức tạp, dù sinh vật bậc thấp hay cao trên trái Đất, đều tồn tại và phát triển trong tính tất yếu đã hiện hữu của những hiệu ứng vũ trụ và hoà nhập cân đối với những hiệu ứng đó, ngay từ những tế bào sống đầu tiên. Loài người cũng chỉ là một hiện tượng tồn tại hữu hạn trong quá trình vận động tương tác vô tận của vũ trụ. Do đó, sự tác động mang tính quy luật của những hiệu ứng vũ trụ lên chính con người (bao gồm cả những giá trị nhận thức và sự vận động tư duy, vốn là hệ quả của các hiệu ứng trên) phải là một thực tế hiện hữu và liên tục.

Nếu những vấn đề đặt ra theo giả thuyết ở trên không phải là một thực tế hiện hữu; tức là sự vận động của tâm lý, tư duy, những giá trị nhận thức... gọi chung là những giá trị tinh thần của con người, tách rời hoặc không chịu sự tác động của những hiệu ứng vũ trụ, thì sự phủ nhận này sẽ dẫn đến tính hợp lý tiếp theo của nó là: Thừa nhận một sự tồn tại thoát thai từ tự nhiên và trở thành phi tự nhiên (xuất phát từ vật chất và phi vật chất), không nằm trong sự chi phối của tự nhiên và tách rời tự nhiên ở tầm cỡ vũ trụ. Nếu sự tồn tại phi tự nhiên đó có thật và hiện hữu trong con người, thì đó chính là con đường dẫn tới ý niệm về Thượng Đế. Vì theo truyền thuyết, chỉ có Thượng Đế mới không chịu sự tương tác của tự nhiên. Điều này không thuộc về những luận điểm nhân danh khoa học và luận đề này sẽ kết thúc ở đây. Trong trường hợp này Định Mệnh sẽ không có thật mà tuỳ thuộc vào ý chí của Đấng Tối Cao, hoặc là một khái niệm khác - mà để tránh nhắc tới Thượng Đế - người ta gọi là "Tâm linh". Nếu đặt vấn đề: “ý thức có trước” thì câu hỏi đặt ra tiếp theo sẽ là: Tại sao cái có trước đó lại tạo ra những qui luật vật lý như thế này chứ không như thế kia? Tại sao nó không tạo ra một thế giới ngay như bây giờ mà lại phải từ một nền văn minh thấp và phát triển như hiện nay? Đây cũng là vấn đề đặt ra trong cuốn “Thượng Đế và khoa học” và được giải thích rằng: Thượng Đế toàn năng đã sắp đặt vũ trụ như hiện nay với những qui luật của nó? Nhưng khi đặt vấn đề như vậy, bản thân ngài Jean Guitton – Đồng tác giả, viện sĩ Hàn lâm viện Pháp Quốc – cũng chưa chứng minh được sự hiện hữu của Thượng Đế. Lập luận của ông trong suốt cuốn sách chỉ có thể coi là một cách đặt vấn đề, khi tri thức khoa học hiện đại còn khiếm khuyết ở cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ. Hơn nữa sự phản biện quan điểm "Thượng Đế tạo ra vũ trụ" với các viện sĩ hàn lâm Pháp Quốc kia sẽ là:

Tại sao Thượng đế toàn năng lại sáng tạo ra những qui luật vật lý không thuộc sự chi phối của Ngài?

Khi các nhà khoa học tiến vào thế giới vi mô của vật chất thì họ chợt nhận ra rằng: Hình như vật chất biến mất, hình như sự tương tác của các hạt lượng tử trong các thí nghiệm tuỳ thuộc vào cách nghĩ của con người trực tiếp thí nghiệm nó? Nhưng với khái niệm về vật chất trình bày ở trên thì chính một sự tồn tại của vật chất chứa đựng năng lượng - mà người ta quen gọi là "ý thức" hoặc "tâm linh" đã tác động vào các hạt lượng tử.

Với những luận điểm và những luận cứ đã trình bày ở trên thì tiểu luận này cần giải quyết và chứng minh tiếp tục rằng:

Nếu tất cả những gì tồn taị trong vũ trụ đều là vật chất - đều là Âm trong khái niệm của Lý học Đông phương so với thể bản nguyên vũ trụ thì để giải quyết vấn đề còn lại mang tính nhân bản sẽ chứng minh rằng: "Con người không phải là robot của tạo hóa" sẽ phải tiếp tục trong tiểu luận này.

Một giả thuyết được đặt ra và cần phải chứng minh tính hợp lý của nó sẽ dẫn đến việc chỉ thẳng vấn đề mà những trí thức hàng đầu của nhân loại đang tìm kiếm:

"Thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt trải gần 5000 năm văn hiến - chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ"

Giả thuyết này đặt vấn đề cho rằng:

Phải chăng sự khởi nguyên của vũ trụ được bắt đầu bằng một thể nguyên thuỷ thống nhất?

----------------------

* Chú thích: Sách đã dẫn

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

NHỮNG TIÊU CHÍ CỦA LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT

Năng lượng không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi,

mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.

Định luật bảo toàn năng lượng.

Lomonoxop

I - Điều kiện cần của lý thuyết thống nhất.

S.W. Hawking đã viết trong cuốn “Lược sử thời gian” nổi tiếng của ông như sau:

"Nhưng trong quá trình tìm kiếm một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh như vậy, lại vấp phải một nghịch lý rất cơ bản. Những ý niệm về các lý thuyết khoa học được phác ra ở trên xem rằng chúng ta là những sinh vật có lý trí tự do quan sát vũ trụ theo ý của chúng ta và rút ra những suy diễn logic từ những cái mà chúng ta nhìn thấy. Trong một sơ đồ như thế, sẽ là hợp lý nếu cho rằng chúng ta ngày càng tiến gần tới các quy luật điều khiển vũ trụ. Nhưng nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta. Và như vậy tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định kết quả việc tìm kiếm lý thuyết ấy của chúng ta! Hơn nữa, tại sao nó sẽ quyết định rằng chúng ta sẽ đi tới những quyết định đúng từ những điều quan sát được? Hay là tại sao nó không thể quyết định để chúng ta rút ra những quyết định sai? Hay là không có kết luận nào hết”

Qua trích dẫn trên chúng ta thấy ngay một vấn đề được đặt ra là:

Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta.

Hay nói một cách khác thì trong trường hợp này những quy luật vật lý của vũ trụ mà con người sẽ nhận thức được phải tương tác với ý thức, quyết định và chi phối ý thức "nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta."

Còn trong trường hợp ngược lại - ý thức phi vật chất - tức là không chịu sự tương tác của vật chất, thì như SW. Hawking viết:

“Chúng ta là những sinh vật có lý trí tự do quan sát vũ trụ theo ý của chúng ta và rút ra những suy diễn logic từ những cái mà chúng ta nhìn thấy”.

Trong trường hợp này - ý thức thuộc về "lý trí tự do" - hay nói cách khác: Không chịu sự tương tác có tính quy luật của vũ trụ thì không thể có một quy luật thống nhất vũ trụ, mà chỉ có thể: “ngày càng tiến gần tới các quy luật điều khiển vũ trụ”.

Nhưng với một định nghĩa mới về vật chất:

Mọi dạng tồn tại tương tác lẫn nhau, dù đã được biết đến hoặc chưa được biết đến - đều là vật chất.

Với định nghĩa này thì mặc nhiên ý thức mang thuộc tính vật chất và cũng tất yếu nó phải chịu sự tương tác của những sự vận động có quy luật trong vũ trụ. Và đây chính là điều kiện cần để tìm đến một lý thuyết thống nhất mọi quy luật vũ trụ - mà SW. Hawking đã đặt ra ở trên và là điều mà các nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước. Và chỉ trong điều kiện này chí ít định luật bảo toàn năng lượng nổi tiếng mới chứng tỏ tính chân lý của nó. Hay nói một cách khác: Khi chịu tác động của ý thức năng lương mới không sản sinh thêm ở dạng vật chất được tác động. Và cũng chỉ trong điều kiện này thì tất cả các quy luật vật lý mới được xác định khi mà nó không chịu một sự tác động không thể kiểm chứng.

Những tri thức khoa học về các quy luật tương tác vật lý đã được kiểm chứng và trở thành hiển nhiên. Tất yếu nó không bị chi phối bởi những dạng tồn tại không thể kiểm chứng. Và chúng ta đang giải quyết một cách hợp lý mang tính lý thuyết cho thực tại này. Đây chính là điều kiện cần để con người tìm đến lý thuyết thống nhất:

Một siêu lý thuyết thống nhất tất cả moi quy luật vũ trụ, Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích được từ sự hình thành vũ trụ, từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ và mọi hành vi bao quanh con người.

Đây chính là ước mơ của các nhà khoa học hàng đầu và cũng là tiêu chí cho lý thuyết thống nhất vũ trụ, mà như SW. Hăking đã viết: Nó sẽ quyết định những hành động của chúng ta - Hay nói cách khác: Những quy luật vũ trụ tác động đến ý thức và quyết định nó.

II - Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất

Một lý thuyết thống nhất sẽ là lời giải đáp cho câu hỏi từ muôn kiếp:

“Định mệnh có thật hay không?”.

II - 1: Những lý thuyết thống nhất trong văn minh nhân loại.

Trong lịch sử văn minh nhân loại đã có rất nhiều mảnh rời rạc với những cố gắng giải thích sự hình thành vũ trụ. Để tránh viết dài - người viết chỉ nêu một thí dụ về dạng lý thuyết thống nhất có đủ những yếu tố: Giải thích sự hình thành vũ trụ - sự vận động của các thiên hà và các vấn đề liên quan đến con người trong lịch sử tiến hóa của văn minh nhân loại.

Đó chính là thuyết cho rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra vũ trụ, tạo ra bầu trời và trăng sao. Ngài đã sai các thiên thần cai quản các vì sao và đẩy các chuyển động của nó. Ngài quyết định số phận của con người.

Thuyết này đã tồn tại, hình thành và phát triển trong một bộ phận của văn hóa nhân loại hàng ngàn năm. Nó thỏa mãn nội dung của một lý thuyết thống nhất. Nhưng nó không phải là một lý thuyết khoa học so với tiêu chí khoa học:

Một thuyết khoa học được coi là đúng phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

So sánh với tiêu chí khoa học thì thuyết "Thương Đế tạo ra vũ trụ" không đáp ứng được các yếu tố về tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri (Tiếng Việt cổ gọi là xem "bói" :rolleyes: ). Bởi vậy, trong trường hợp này "không có định mệnh" có thể tiên tri. Do tất cả các quy luật tương tác trong vũ trụ thuộc về ý chí của Thượng Đế.

Nhưng liệu nền khoa học hiện đại với tri thức và điều kiện hiện nay của nó có thể tìm ra một lý thuyết thống nhất? Trong cuốn “Lược sử thời gian”, phần: “Lý thuyết thống nhất của vật lý học”, SW Hawking nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới đã viết như sau:

“Mặt khác có thực tồn tại một lý thuyết như thế hay không? (Lý thuyết thống nhất. Người viết) Hay chúng ta đang chỉ săn đuổi một ảo ảnh?

Có thể có ba khả năng:

1- Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra, nếu chúng ta có đủ tài năng.

2- Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ, chỉ tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác.

3- Không tồn tại một lý thuyết nào về vũ trụ, các sự cố không thể tiên đoán vượt quá một thời gian hạn nào đó, chúng xảy ra một cách ngẫu nhiên, tuỳ tiện.

Với sự ra đời của cơ học lượng tử, chúng ta phải thừa nhận rằng các sự cố không thể được tiên đoán với độ chính xác hoàn toàn mà luôn tồn tại một độ bất định. Nếu muốn người ta có thể gán sự ngẫu nhiên đó cho sự can thiệp của Chúa, song đấy quả là một sự can thiệp kỳ lạ: không có một chứng cứ gì cho thấy can thiệp đó được định hướng đến bất kỳ một mục đích nào.

Thực vậy, nếu có một mục đích, thì không còn là ngẫu nhiên nữa. Trong thời đại hiện nay, chúng ta đã loại bỏ hữu hiệu khả năng thứ ba bằng cách định nghĩa lại mục đích của khoa học:

mục tiêu của khoa học là: xây dựng một bộ định luật có khả năng cho phép chúng ta tiên đoán có các sự cố chỉ trong giới hạn xác định bởi nguyên lý bất định.

Khả năng thứ hai, khả năng tồn tại một chuỗi vô cùng những lý thuyết ngày càng tinh tế, rất phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta. Nhiều lần chúng ta đã tăng độ nhạy các phép đo và thực hiện nhiều loại thí nghiệm mới chỉ với mục đích phát hiện những hiện tượng mới không tiên đoán được bởi nguyên lý hiện có và để mô tả những hiện tượng đó chúng ta phải phát triển một lý thuyết tiên tiến hơn. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên nếu thế hệ hiện tại các lý thuyết thống nhất phạm sai lầm khi khẳng định rằng không có điều gì căn bản mới xảy ra giữa năng lượng cỡ 100 GeVcủa lý thuyết thống nhất yếu điện tử và năng lượng cả ngàn triệu triệu GeV của lý thuyết thống nhất lớn. Đáng lý chúng ta phải hy vọng tìm ra nhiều tầng cấu trúc mới cơ bản hơn quak và êlectrôn hiện nay được xem như là những hạt “cơ bản”. Song dường như hấp dẫn có thể cung cấp một giới hạn cho chuỗi các “hộp trong hộp” đó. Nếu ta có một hạt với năng lượng lớn hơn cái gọi là năng lượng Planck, mười triệu triệu GeV (1 theo sau là 19 số không), thì khối lượng của nó có mật độ tập trung đến mức mà nó tự cô lập tách khỏi phần vũ trụ còn lại và biến thành một lỗ đen nhỏ.

Như vậy dường như chuỗi các lý thuyết ngày càng tinh tế phải có một giới hạn khi chúng ta tiếp cận với những năng lượng ngày càng cao, và ắt phải có một lý thuyết tối hậu về vũ trụ.

Lẽ dĩ nhiên, năng lượng planck là một quãng đường dài kể từ những năng lượng cỡ nghìn GeV mà hiện nay là năng lượng lớn nhất chúng ta có khả năng tạo ra trong phòng thí nghiệm. Chúng ta chưa vượt qua được hố ngăn cách đó trong một tương lai gần nhờ những máy gia tốc!

Nhưng những giai đoạn sơ sinh của vũ trụ đã từng chứng kiến những năng lượng như vậy.

Tôi nghĩ rằng có nhiều xác xuất may mắn là sự nghiên cứu những giai đoạn sớm của vũ trụ kết hợp với những đòi hỏi chặt chẽ của toán học sẽ dẫn chúng ta đến một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh trong giới hạn cuộc đời của nhiều người chúng ta.

Nếu chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về vũ trụ, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng quả chúng ta đã tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh. Song nếu lý thuyết chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra những tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắn. Nó sẽ kết thúc một chương dài và vinh quang trong lịch sử đấu tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ.

Đồng thời nó cũng cách mạng hoá sự hiểu biết các định luật vũ trụ của con người bình thường. Thời Newton một người có giáo dục rất có thể nắm được toàn bộ kiến thức của nhân loại, ít nhất là trong những nét cơ bản. Song sau đó nhịp độ phát triển của khoa học làm cho khả năng trên không còn nữa. Vì rằng các lý thuyết này luôn thay đổi để phù hợp với những quan sát mới, chúng không thể đơn giản hoá được để một người bình thường có thể hiểu thấu. Bạn phải là một chuyên gia và dẫu là một chuyên gia bạn cũng chỉ hy vọng nắm bắt được một phần các lý thuyết khoa học. Ngoài ra khoa học tiến nhanh đến mức mà những kiến thức thu nhận được ở học đường cũng luôn bất cập với thời đại. Chỉ một số ít người theo kịp được với ranh giới tiên tiến của kiến thức và số người đó cũng phải dùng toàn bộ thời gian để làm việc và chuyên sâu vào một lĩnh vực nhỏ. Số đông còn lại ít có khái niệm về những thành tựu tiên tiến của khoa học và những vấn đề lý thú nảy sinh từ đó. Bảy mươi năm về trước, nếu tin lời Eddington - thì chỉ có hai người hiểu được lý thuyết tương đối rộng. Ngày nay hàng vạn sinh viên đại học hiểu được lý thuyết đó và hàng triệu người ít nhất đã làm quen với lý thuyết tương đối rộng.

Nếu một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh được phát minh, thì chỉ còn là vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có được một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

Ngay nếu chúng ta tìm được một thuyết thống nhất hoàn chỉnh, điều đó cũng không có nghĩa rằng chúng ta có khả năng tiên đoán mọi sự cố nói chung, vì hai lẽ.

Thứ nhất do giới hạn mà nguyên lý bất định của cả học lượng tử áp đặt lên mọi quyền lực tiên đoán của chúng ta. Chúng ta không thể làm gì được để vượt giới hạn đó. Song trong thực tiễn giới hạn thứ nhất đó còn ít ràng buộc hơn giới hạn sau đây. Vấn đề là ở chỗ chúng ta không thể giải được các phương trình của lý thuyết một cách tuyệt đối chính xác, trừ vài trường hợp rất đơn giản. (Chúng ta không thể giải chính xác ngay cả chuyển động ba vật trong lý thuyết hấp dẫn của Newton và khó khăn sẽ tăng lên với số vật tham gia chuyển động và mức độ phức tạp của lý thuyết). Chúng ta đã biết nhiều định luật điều hành vật chất dưới mọi điều kiện cực đoan nhất. Nói riêng, chúng ta đã biết những định luật cơ bản điều khiển mọi đối tượng của hoá học và sinh học. Nhưng chắc chắn chúng ta không quy các đối tượng đó về thực trạng của những bài toán giải được, đến nay chúng ta đạt được quá ít tiến bộ trong việc tiên đoán cách xử sự của con người từ những phương trình toán học!.

Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta đã thấy rằng: Ông S. W Hawking đã phủ nhận khả năng thứ ba và chỉ còn hai khả năng:

1- Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra, nếu chúng ta có đủ tài năng.

2- Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ, chỉ tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác.

Nhưng ông SW. Hawking cũng nhận thấy rằng:

Như vậy dường như chuỗi các lý thuyết ngày càng tinh tế phải có một giới hạn khi chúng ta tiếp cận với những năng lượng ngày càng cao, và ắt phải có một lý thuyết tối hậu về vũ trụ.

Như vậy, ông SW Hawking đã nghiêng về khả năng thứ nhất có tính tiên đoán trong điều kiện tri thức khoa học hiện nay

về tính tất yếu phải có một lý thuyết thống nhất đang tồn tại mà con người có khả năng tìm ra. Bây giờ chúng ta xét đến: Với khả năng thứ nhất - tức là quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất thì những điều kiện cần của nó là gì?

II -2: Tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất khoa học.

II - 2 - 1: Sự khẳng định yếu tố cần có đầu tiên là lý thuyết này phải thỏa mãn tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học nói chung, mà người viết đã hân hạnh trình bày ở trên và nhắc lại ở đây:

Một lý thuyết khoa học được coi là đúng phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

II - 2 - 2: Yếu tố cần có thứ hai là:

Lý thuyết này phải thỏa mãn yêu cầu:

Thống nhất tất cả mọi quy luật vũ trụ. Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích được từ sự hình thành vũ trụ, từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ và mọi hành vi bao quanh con người.

II - 2 - 3: Yếu tố cần có thứ ba - đồng thời cũng là tiêu chí cho một lý thuyết khoa học, có tính bổ sung cho tiêu chí trên - là:

Một lý thuyết khoa học phát triển trên cơ sở tri thức khoa học trước đó phải nội hàm những lý thuyết khoa học trước đó liên quan đến nó và không phủ nhận những thành tựu của những tri thức khoa học đã đạt được liên quan.

Như vậy, một lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học phải bảo đảm được tối thiểu ba tiêu chí trên. Trên cơ sở những tiêu chí khoa học và nội dung cần có một lý thuyết thống nhất. Chúng ta - những người quan tâm đến lý học Đông phương chợt nhận thấy rằng:

Phải chăng trong nền văn minh cổ Đông phương đã tồn tại một lý thuyết như vậy?

Nếu chúng ta xét nội dung cần có của một lý thuyết thống nhất thì đây chính là điều kiện đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Nhưng bản thân thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các bản văn cổ chữ Hán lại không chứng tỏ là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán? Mặc dù những phương pháp ứng dụng của nó lại chứng tỏ nó là hệ quả của một lý thuyết hoàn chỉnh. Bởi vậy, việc tiếp theo là cần phải minh chứng điều này:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán đã tồn tại trên thực tế của lịch sử văn hóa Đông Phương. Sự thăng trầm của lịch sử đã khiến nó bị thất truyền và trở thành rời rạc, huyền bí. Nội dung của học thuyết này đã ứng được yếu cầu của một lý thuyết thống nhất theo tiêu chí khoa học.

Những phần tiếp theo trong tiểu luận sẽ phải minh chứng điều này.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quí bạn đọc thân mến.

Đây là những tư liệu phục vụ cho việc minh chứng cho tiểu luận: "Định mênh có thật hay không?" ở phần cuối. Tôi đưa vào đây để dễ tìm. Không phải bài viết.

1. Tuổi của kim tự tháp và tượng nhân sư Sphinx

Hầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza khoảng 4.500 tuổi. Nhưng con số này chỉ là giả thuyết chứ không có bằng chứng xác thực.

Theo Robert Bauval, tác giả cuốn “Tuổi của Sphinx” thì “không hề có bất cứ ghi chép nào, thậm chí chữ khắc trên vách đá, bia mộ hoặc chữ viết trên giấy cói” gắn kết Sphinx với khoảng thời gian trên.

Vậy nó được xây dựng từ khi nào? Học giả John Anthony West đã phủ nhận con số 4.500 tuổi, ông đưa ra bằng chứng là chân tượng bị phong hóa theo chiều thẳng đứng mà nguyên nhân thì chỉ có thể là do ngâm lâu dưới nước (từ những trận mưa lớn).

Mưa lớn tại sa mạc là điều không tưởng trong khoảng thời gian đó và nó chỉ xảy ra cách đây 10.500 năm. Điều này có nghĩa là tuổi của Sphinx gấp hơn 2 lần so với con số 4.500 mà người ta vẫn nghĩ. Bauval và Graham Hancock ước tính Đại kim tự tháp Giza được xây dựng cách đây khoảng 10.500 năm trước Công nguyên - trước khi có nền văn minh Ai Cập. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã xây dựng chúng và tại sao?

4. Lịch của người Maya

Có nhiều người hiện nay tin rằng, “ngày tận thế” của nhân loại trên Trái Đất chúng ta sẽ là ngày 21/12/2012. Niềm tin của họ dựa trên dấu tích lịch cổ của người Maya - một dân tộc từng sống ở Mexico thời cổ đại.

Người Maya vốn nổi tiếng về sự thông thái trong các lĩnh vực toán học và thiên văn học. Dựa theo chiếc cột vốn là lịch của người Maya, được các nhà khảo cổ tìm thấy tại Mexico, thì người Maya đã tính toán và xây dựng lịch cho tổng cộng… 5126 năm. Điều đặc biệt ở chỗ: ngày cuối cùng của bộ lịch cổ này chính là ngày 21/12/2012.

Theo đó, vào đúng ngày này thì phần trung tâm của dải Ngân Hà chứa Trái Đất của chúng ta sẽ tạo với Mặt Trời một đường thẳng lần đầu tiên trong 26 nghìn năm. Điều này sẽ làm xáo trộn nguồn năng lượng từ Mặt Trời chuyển đến Trái Đất.

Nói cụ thể hơn, nguồn nhiệt của Mặt Trời vào thời điểm như vậy sẽ phóng ra cao hơn bình thường, có thể ảnh hưởng mạnh đến môi trường sống trên Trái Đất.

Liệu Trái Đất của chúng ta có tan tác vào “ngày tận thế” 21/12/2012 hay không? Câu hỏi này vẫn đang được bàn cãi xuất phát từ một nguồn khác là những tài liệu lịch cổ của người Maya. Tài liệu cổ nhất còn giữ lại của nền văn minh này đã được các tu sĩ Tây Ban Nha dịch ra năm 1521 có nói về sự xuất hiện của quỷ dữ và “ngày tận thế”.

5. Xác ướp tại ‘Hang Ma’

Năm 1940, hai vợ chồng nhà khảo cổ học Sydney và Georgia Wheeler tìm thấy một xác ướp tại ‘Hang Ma’, một hang động cách thành phố Fallon, bang Nevada (Mỹ) 15 dặm về phía đông.

Khi bước vào hang, họ phát hiện bộ hài cốt của 2 người được quấn bằng vải tuyn. Một bộ hài cốt được chôn sâu hơn bộ kia, phần đầu và vai phải vẫn còn nguyên vẹn.

Với sự trợ giúp của người dân địa phương, Sydney và Georgia Wheeler đã đào được 67 cổ vật trong hang. Những cổ vật này được giám định tại bảo tàng bang Nevada, người ta ước tính chúng 1.500-2.000 tuổi. 54 năm sau, vào năm 1994, nhà nhân chủng học thuộc trường đại học California R. Erv Taylor đã giám định lại 17 cổ vật trong ‘Hang Ma’ bằng phương pháp ghi phổ khối lượng.

Kết quả thật bất ngờ xác ướp có tuổi thọ vào khoảng 9.400 tuổi. Nghiên cứu thêm cho thấy xác ướp cổ nhất tại Bắc Mỹ này có những đặc điểm của người Aino, một chủng người da trắng sống ở vùng biển Bắc - Nhật Bản. Cho đến nay người ta vẫn chưa giải thích được mối liên hệ này.

Theo Dân Trí

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thuyết Âm Dương ngũ hành - Học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh

I - Vấn đề:

Những vấn đề đặt ra trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" đã dẫn đến phải định nghĩa lại về khái niệm vật chất trong tiểu luận này - nếu chưa được công nhận như một tính hợp lý tất yếu thì coi đó như một giả thuyết có tính tiên đề để dẫn tới những suy diễn hợp lý với các vấn đề liên quan. Từ tiên đề này với các mối liên hệ logic của nó lại chỉ thẳng đến khả năng tồn tại - hay chính xác hơn là đã tồn tại một lý thuyết thống nhất khoa học trong cổ sử của nhân loại. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng xét theo tiêu chí khoa học về một lý thuyết khoa học thì vấn đề "thuyết Âm Dương ngũ hành" có phải là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh hay không lại là điều cần chứng minh. Và chỉ khi chứng minh được điều này thì mới thỏa mãn được tính khoa học của học thuyết này, để từ đó, quán xét nó với tư cách là một lý thuyết thống nhất khoa học.

Tại sao lại phải chứng minh?

Chính bởi vì những di sản còn lại liên quan đến khái niệm Âm Dương và ngũ hành ghi nhận trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm có vẻ như là nó không phải là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán. Cho đến tận bây giờ - khi người viết đang cặm cụi gõ những hàng chữ này - có thể nói hầu hết những nhà nghiên cứu lý học đông phuơng - kể cả ở Trung Hoa - nơi tự nhân là cái nôi của nền văn hóa Đông phương - cũng đang hoài nghi tính nhất quán và hoàn chính của nó.

Bởi vậy để tiếp tục vấn đề được đặt ra từ đầu "Định mệnh có thật hay không?", thì sự tiếp nối cần thiết là :

Thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ít nhất về mặt định tính và là một học thuyết thỏa mãn những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất.

I - Lịch sử thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán

Tất cả những sách liên quan đến các môn cổ học Đông phương dính dáng đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành lưu truyền từ trước đến nay – mà con người hiện đại biết được – đều qua những bản văn chữ Hán. Bởi vậy, chúng ta bắt đầu xem lại từ những bản văn này.

Tất cả những ai có tìm hiểu về Kinh Dịch và các phương pháp bói toán Đông Phương đều biết rằng - Cổ thư Hán ghi nhận:

Căn nguyên của Tiên Thiên Bát quái do vua Phục Hy tìm khoảng 3500 trước CN là Hà Đồ. Hà Đồ được nhắc tới từ rất sớm trong những cổ thư và được coi là vào thời Xuân thu Chiến quốc. Trong kinh Dịch, sự tồn tại của Hà đồ được căn cứ vào câu “Hà xuất đồ Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi”. Nhưng đồ hình Hà đồ chỉ được công bố chính thức vào đời Tống. Điều kỳ lạ là lúc này – hơn 4000 năm sau khi Hà đồ được coi là của vua Phục Hy phát hiện – Ngũ hành tương sinh lại là nội dung chính của Hà Đồ? Đây là điều trong kinh văn của Kinh Dịch từ hơn 3000 năm trước (Tính từ thời Chu) lại không hề có đoạn nào nhắc tới Ngũ hành.

Lịch sử thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán là một vấn đề quan trọng, liên quan đến việc chứng minh đến giả thuyết được trình bày. Bởi vậy, không thể không giới thiệu với các bạn lịch sử của thuyết Âm Dương và Ngũ hành theo cổ thư chữ Hán và cái nhìn của các nhà nghiên cứu hiện đại về học thuyết này.

I -1: Những vấn đề lịch sử của thuyết âm dương ngữ hành

Khi nghiên cứu về thuyết Âm Dương Ngũ hành, hầu hết các nhà lý học hiện đại đều cho rằng: Âm Dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt không liên quan với nhau được phát hiện ở hai thời kỳ khác nhau. Sở dĩ có hiện tượng này bởi trong cổ thư chữ Hán chưa hề có một văn bản nào được coi là xuất hiện trước thời Tần, Hán thể hiện một cách hoàn chỉnh phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chỉ là sự phát hiện rời rạc từng mảng của học thuyết đó, ngoại trừ cuốn Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn mà nội dung của nó ghi nhận có xuất xứ từ thời Hoàng Đế (khoảng 3000 năm trước CN).

Quan niệm về lịch sử hình thành thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán cũng được các học giả hiện đại nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong đó quan niệm phổ biến cho rằng: thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt, được chứng tỏ trong đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch Vũ trụ quan (Giáo sư Lê Văn Quán, Nxb Giáo dục Hà Nội 1995):

“Ngũ hành là chỉ năm loại vật chất: mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ. Theo hệ thống phân loại sắp xếp của vũ trụ quan truyền thống, thì đây là năm nguyên tố cơ bản cấu tạo thành muôn vật. Nhưng vận dụng quan niệm về Ngũ hành lại đặt chúng ở mối quan hệ giữa năm nguyên tố. Đó là mối quan hệ tương sinh tương thắng (khắc). Vì vậy, người xưa lấy mối quan hệ này làm cơ sở giải thích những hiện tượng biến đổi trong vũ trụ: tự nhiên, nhân sinh, xã hội, chính trị...

Qua các tài liệu “Tả truyện”, “Quốc ngữ”, ở thời đại Xuân Thu, Ngũ hành chỉ năm loại vật chất không thể thiếu trong sinh hoạt. Tư tưởng Ngũ hành đầu tiên lưu hành ở hai nơi Yên, Tề miền phía đông Trung Quốc, thời đại nảy sinh sớm nhất không trước Trâu Diễn một thế kỷ, vào thế kỷ thứ V trước CN. Thời đại sinh của Trâu Diễn khoảng 350 đến 270 trước CN. Nếu ông ta không phải là người duy nhất khai sáng ra thuyết Ngũ hành, thì ít nhất cũng là người hệ thống hoá và cố định thêm những tư tưởng có liên quan đến loại này.

Trong sách Thượng Thư, thiên Hồng Phạm cũng đề cập đến Ngũ hành, nhưng không thể ra đời sớm hơn thời đại Trâu Diễn. Sách “Thượng Thư”, thiên Hồng Phạm viết: “Ngũ hành: nhất viết hoả, nhị viết thuỷ, tam viết mộc, tứ viết kim, ngũ viết thổ. Thuỷ viết nhuận hạ, hoả viết viêm thượng, mộc viết khúc trực, kim viết tòng cách, thổ viên giá sắc. Nhuận hạ tắc hàm, viên thượng tác khổ, khúc trực tác toan, tòng cách tác tân, giá sắc tác cam”.

“Ngũ hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là kim loại, năm là đất. (nói về tính) nước thấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ có cong có thẳng, đồ kim khí tuỳ tay người thợ mà đổi hình, đất để cấy lúa và gặt lúa . Nước thấm xuống dưới làm vị mặn, lửa bốc lên trên là vị đắng, gỗ cong hay thẳng là vị chua, đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình: vị cay, lúa cấy gặt vị ngọt”.

Quan niệm về Ngũ hành mà sách Hồng Phạm đề cập không thuần tuý dừng lại ở năm loại vật chất cơ bản. Nó đặc biệt chú ý đến mối quan hệ và các thuộc tính của Ngũ hành. Ngay ở thiên “Hồng phạm” cũng đã phản ánh thuộc tính liên quan với ngũ hành: “Thuỷ, nhuận hạ tác hàm; hoả, viêm thượng tác khổ; mộc, khúc trực tác toàn; kim, tòng cách tân; thổ, giá sắc tác cam”. (Nước thấm xuống dưới làm vị mặn, lửa bốc lên trên là vị đắng, gỗ cong hay thẳng là vị chua, đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình: vị cay, lúa cấy gặt vị ngọt). Thuyết Âm dương Ngũ hành dung hoà.

Thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành phát triển đến thời Tần Hán đã có sự phân biệt khá rõ rệt: tuy thuyết Âm Dương thiên về nguyên lý sinh thành vũ trụ. Thuyết Ngũ hành thiên về phân loại hiện tượng sự vật trong vũ trụ và hệ thống quan hệ giữa những thuộc tính. Hai cái đó hoà vào nhau và trở thành hệ thống giải thích hiện tượng sinh thành vũ trụ, cuối cùng hoàn thành từng bước ở đời Hán.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành ở thời lưỡng Hán kế thừa tư tưởng thời Tiền Tần, dung hoà và phát triển rộng tạo thành hệ thống giải thích vũ trụ hoàn chỉnh. Các trước tác viết về tư tưởng này rất nhiều, lưu lại đến ngày nay tương đối đầy đủ và có giá trị như: Lễ Ký, Hoài Nam Tử, Xuân Thu phồn lộ....

Qua đoạn trích dẫn trên, xin các bạn lưu ý: thiên Hồng phạm trong sách Thượng thư được giáo sư Lê Văn Quán nhắc tới ở trên, chính là nói đến Hồng phạm cửu trù mà Khổng An Quốc nói tới. Trong cuốn sách này nhắc tới sự tích Nghiêu Thuấn và vua Đại Vũ là người làm ra Hồng Phạm cửu trù - niên đại 2000 năm trước CN. Còn phái Âm Dương gia được coi là ra đời khoảng 300 năm trước CN. Nhưng vậy khoảng cách của hai nội dung này là 1700 năm. Còn nếu so sánh tính chất của Ngũ hành trong Hà Đồ do vua Phục Hy phát hiện thì khoảng cách này gần 6000 năm. Thật là một điều vô lý đến không thể tưởng tượng nổi.

Những vấn đề về nội dung và lịch sử thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán còn được tiếp tục trong những bài viết dưới đây.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

I - Lịch sử thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán

Tiếp theo

Độc giả tiếp tục xem đoạn trích dẫn dưới đây từ trong sách Đại Cương triết học Trung Quốc (Tác giả Phùng Hữu Lan. Nhà nghiên cứu triết học/lịch sử hiện đại nổi tiếng của Trung Quốc. Nxb Thanh Niên 1999, người dịch Nguyễn Văn Dương):

“Tại Trung Quốc xưa có hai luồng tư tưởng đã cố giải thích cấu tạo và nguồn gốc vũ trụ.

Một luồng tư tưởng dựa trên những trứ tác của Âm dương gia và luồng tư tưởng kia dựa trên vài phần trong “Dịch truyện” do các nhà nho khuyết danh đưa phụ vào bản kinh Dịch nguyên thuỷ. Hình như hai luồng tư tưởng ấy đã tiến triển độc lập, không liên quan với nhau.

Trong thiên “Hồng Phạm” và “thiên Nguyệt lệnh” mà ta sẽ xét, Ngũ hành được đề cập mà thấy không nói tới Âm Dương, trong “Dịch truyện” trái lại, chỉ thấy nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ hành. Nhưng về sau, hai luồng tư tưởng ấy hợp làm một.

Sự hợp nhất ấy đã thấy vào thời Tư Mã Đàm (chết năm 110 tr.C.N), khiến cho ông đã gom lại trong bộ Sử ký, dưới tên Âm Dương gia.

Âm dương gia và vũ trụ luận nguyên thuỷ tại Trung Quốc

Trong chương III sách này, tôi có nói rằng Âm dương gia vốn gốc ở những nhà thuật số. Những thuật số gia này ngày xưa được biết đến dưới tên “phương sĩ”. Trong phần “Nghệ văn chí” (quyển 30) của sách Tiền Hán thư, được lập theo bộ Thất lược của Lưu Hâm, những ngành thuật số ấy được gom vào 6 loại.

Sáu ngành thuật số

Ngành thứ nhất là thiên văn. “Thiên Văn”, theo “Hán thư Nghệ văn chí”, là sắp thứ tự hai mươi tám sao, ghi chép sự vận chuyển của năm hành tinh, của mặt trời mặt trăng để ghi những hiện tượng lành dữ.”

Ngành thứ hai là lịch phổ. “Lịch phổ”, theo thiên ấy, là xếp đặt vị trí bốn mùa, chia đúng các tiết, hiểu giờ của mặt trời mặt trăng của năm hành tinh, để khoả sát lạnh nóng, sống chết... Nhờ luật này. Điều lo về

tai ách, điều vui vẻ tốt lành đều biết được rõ ràng.

Ngành thứ ba là về Ngũ hành. “Phép đó, theo “Nghệ văn chí”, cũng bắt đầu từ sự vận chuyển của ngũ đức (năm nguyên tố), suy cho cùng cực thì không có gì là không thấu.”

Ngành thứ tư là bói bằng cỏ thi và mai rùa, xương bò. Đó là những phép bói chính ở Trung Quốc xưa. Về cách bói sau, thì những thầy bói đục lỗ ở trong vỏ rùa hay trong miếng xương phẳng, rồi đem hơ vào lửa nóng, trên chiếc đũa bằng kim loại, để làm thành những đường nứt phát ra chung quanh lỗ. Thầy bói giải thích những đường nứt ấy theo hình trạng chúng, để trả lời câu hỏi nêu ra. Theo phép thứ nhất, thì thầy bói trộn các nhánh cỏ thi làm thành những tổ hợp về số để có thể giải thích theo Kinh Dịch. Mục đích của phần kinh nguyên thuỷ của sách này là để giải thích như vừa nói.

Ngành thứ năm là ngành tạp chiêm và ngành thứ sáu là hình pháp. Ngành sau này được căn cứ vào khái niệm con người là sản vật của vũ trụ. Do đó, nhà cửa hay mồ mả phải được bài trí theo cách nào cho hợp với những lực thiên nhiên, nghĩa là với “gió nước”.

Ngũ hành theo thiên Hồng phạm

Từ ngữ “Ngũ hành” thường được dịch là: năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh, mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng lên nhau. Từ “hành”, “hoạt động”, cho nên từ ngữ Ngũ hành theo nghĩa đen, có nghĩa là năm hoạt động hay năm tác nhân. Người ta cũng gọi là “ngũ đức”, có nghĩa là năm thế lực. Từ ngữ Ngũ hành đã có trong một bản văn theo truyền thuyết được viết vào thế kỷ thứ XX tr. CN (xem kinh Thư phần II, quyển II, thiên I,3). Ta không thể chứng minh sự chân thực của văn bản ấy có cùng nghĩa với trong các bản văn khác, mà niên đại được định rõ hơn. Sự đề cập đầu tiên thật chính xác về Ngũ hành được thấy trong đoạn khác của Kinh Thư (phần V, quyển IV), dưới tên “Hồng Phạm”, nghĩa là “khuôn lớn”. Truyền thuyết cho biết rằng thiên “ Hồng Phạm” thuật lại lời cơ tử cáo với vua Vũ nhà Chu, cơ tử là một Vương hầu nhà Thương bị vua Vũ lật đổ vào cuối thế kỷ thứ XXII tr. CN. Trong bài Cáo, cơ tử cho những ý của mình là của vua Vũ, người sáng lập nhà Hạ, theo truyền thuyết sống vào thế kỷ thứ XXII tr. C.N. Chúng tôi nêu truyền thuyết này là coi như ví dụ về thể thức theo đó tác giả Kinh Thư đã thử mang lại sự trọng yếu của thuyết Ngũ hành. Về thời đại thật của thiên “Hồng Phạm”, thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay III.

(Lưu ý: Đây là thời điểm văn minh Văn Lang sụp đổ. 258 Trước CN/ Người viết).

Trong thiên “Hồng phạm”, ta thấy bản “Cửu trù”, “Thứ nhất trong Cửu trù là Ngũ hành. Thứ nhất trong Ngũ hành là thuỷ, nhì là hoả, ba là mộc, tư là kim, năm là thổ. (Tính ) thuỷ là ướt và xuống, hoả là cháy và lên, mộc là cong và thẳng, kim là theo và đổi, thổ là để gieo mạ làm mùa.

Trong thiên “Hồng phạm”, ta thấy ý niệm Ngũ hành còn ở trong giai đoạn chưa hoàn thành. Tác giả đang còn tư tưởng bằng từ ngữ vật thể có thật như nước lửa.... thay vì tư tưởng bằng từ ngữ những lực trừu tượng mang các tên ấy như Ngũ hành được quan niệm về sau. Tác giả cũng cho ta biết rằng nhân gian và tạo vật có liên hệ với nhau, cách cai trị sai lầm của ông vua sẽ tạo ra những hiện tượng bất thường trong trời đất. Lý thuyết này được triển khai đầy đủ về sau bởi Âm dương gia, người ta gọi là thuyết “Thiên nhân tương dữ”.

Hai lý thuyết được đưa ra để giải thích lý do của sự hỗ tương ảnh hưởng nói trên. Thuyết thứ nhất thuộc về mục đích luận. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của ông vua làm cho Trời nổi giận. Sự giận của Trời gây ra những hiện tượng bất thường trong tự nhiên, tức là Trời báo trước cho vua biết. Thuyết thứ hai thuộc về thuyết cơ giới. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của vua sẽ tự nhiên gây rối loạn trong trời đất và do đó những hiện tượng bất thường cũng xẩy ra một cách máy móc. Toàn thể vũ trụ là một cơ giới. Khi một phần cơ giới ra khỏi trật tự, thì những phần khác cũng bị tổn thương. Thuyết này biểu thị cho tinh thần khoa học của Âm dương gia, còn thuyết thứ nhất phản ánh những nguồn gốc huyền bí.

Nguyệt lệnh

Sau thiên “Hồng phạm”, tài liệu trọng yếu nhất của Âm dương gia là thiên “Nguyệt lệnh”. Thiên này trước hết được thấy chép trong sách Lã thị xuân thu, tác phẩm vào cuối thế kỷ thứ III tr. C.N. Về sau, thiên ấy được đưa vào sách Lễ ký. “Nguyệt lệnh” có tên ấy, vì vốn là quyển sách lịch nhỏ trình bầy cho vua và mọi người nói chung, những bổn phận phải làm hàng tháng, để hợp với thời trời. Cách cấu tạo vũ trụ trong thiên này được diễn tả bằng từ ngữ của Âm dương gia. Cách cấu tạo này có tính chất vũ trụ, nghĩa là liên quan tới thời gian và không gian. Người Trung Quốc xưa ở về bắc bán cầu, tất phải coi phương nam là phương của sức nóng và phương Bắc là phương của khí lạnh. Vì lí do ấy, Âm dương gia đưa ra sự tương quan giữa bốn mùa và bốn phương. Mùa hè có tương quan với phương nam, mùa đông, phương bắc, mùa xuân phương đông, mùa thu phương tây, vì mặt trời ở phương tây. Phái này cũng coi sự thay đổi của ngày đêm như biểu thị sự thay đổi của bốn mùa trong năm, vào một tỉ lệ nhỏ. Cho nên buổi sáng là tượng trương cho mùa xuân, buổi trưa mùa hè, buổi chiều mùa thu, buổi tói mùa đông.

Phương Nam và mùa hè thì nóng, vì phương nam là phương các mùa hè là lúc mà hành hoả mạnh hơn cả. Phương Bắc và mùa đông thì lạnh, vì phương Bắc là phương và mùa đông là lúc mà hành thuỷ mạnh hơn cả, nước lại liên quan tới nước đá và tuyết và rất lạnh. Cũng vậy, mộc là hành mạnh ở phương Đông có liên quan tới mùa xuân, bởi vì mùa xuân là mùa mà cỏ bắt đầu mọc, và vì phương Đông có liên quan tới mùa xuân. Hành kim mạnh ở phương Tây và mùa thu, bởi vì kim khí được coi là cứng và thô, vì mùa thu là gió, cây cỏ hết mùa và vì phương Tây có liên quan tới mùa thu. Như vậy bốn năm hành được cắt nghĩa. Chỉ còn hành thổ là chưa có vị trí mùa. Nhưng theo thiên “Nguyệt lệnh”, thổ là hành chính của Ngũ hành, vì vậy nó được vị trí trung ương của bốn mùa. Lúc mà thổ mạnh là vào một khoảng ngắn giữa mùa hè và mùa thu.

Do lý thuyết vũ trụ ấy, Âm dương gia đã cố giải thích những hiện tượng tự nhiên bằng những từ ngữ vừa thời gian và không gian và còn chủ trương rằng những hiện tượng ấy có liên quan tới tâm tính con người.

Vì vậy, như đã nói ở trên, thiên “Nguyệt lệnh” đưa ra những điều qui định mà ông vua phải theo từng tháng, do đó mà có tên “Nguyệt lệnh”. Vì vậy, người ta nói: “Tháng giêng mùa xuân, gió thổi tan hơi lạnh. Sinh vật nằm im trong mùa đông bắt đầu vùng dậy... Đó là mùa khí trời toả xuống, khí đất dâng lên. Trời đất hoà hợp nhau, cây cỏ đâm trồi nẩy lộc.” (Lễ ký, thiên 4). Bởi vì cách cư xử của người phải hoà hợp

với đạo trời trong tháng đó, cho nên “(Vua) sai công khanh đại phu ban bố đạo đức, điều hoà mệnh lệnh để làm điều vui, thi ơn cho triều dân.... Cấm chặt cây, không được lật tổ.... Trong tháng đó, không thể dấy binh, dấy binh ắt bị hoạ Trời. Không dấy binh nghĩa là ta không khởi sự trước.” Nếu trong một tháng, ông vua không làm theo khuôn phép tháng đó, mà lại theo quy tắc ứng xử hợp với tháng khác, thì những hiện tượng bất thường ngoài tự nhiên sẽ xảy ra. “Tháng mạnh xuân mà thì hành mệnh lệnh muà hè, thì mưa không hợp thời, cây cỏ khô héo, quốc gia luôn có điều sợ. Nếu thi hành lệnh mùa thu, thì dân có bệnh dịch lớn. Gió dữ mưa mạnh sẽ tới... Nếu thi hành lệnh mùa đông, thì nước lụt sẽ làm hại, tuyết sương rơi nhiều.”

Trâu diễn

Trâu Diễn là một nhân vật trọng yếu của Âm dương gia vào thế kỷ thứ III tr. C.N. Theo bộ sách Sử ký của Tư MãThiên, thì Trâu Diễn là người nước Tề, ở vùng giữa tỉnh Sơn Đông bây giờ. “Viết sách trên mười vạn lời”.Thảy đều thất tán. Nhưng trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên thuật lại khá kỹ lý thuyết của Trâu Diễn.

Theo sách ấy (quyển 74), thì phương pháp của Trâu Diễn là “ trước hết thì nghiệm các vật nhỏ mà suy rộng ra cho tới vô hạn”. Hình như chủ điểm của ông là địa lý và sử ký.

Về địa lý, Tư MãThiên viết: “Trước hết sắp đặt danh sơn của Trung Quốc, sông lớn thung lũng đều nhau, cầm thú, sản vật của sông biển, món quý của vật loại, từ đó mà suy ra cho đến hải ngoại, ít người thấy được....Bảo rằng nho giả gọi là Trung Quốc thì chiếm một phần trong tám mươi một phần của thiên hạ. Gọi Trung Quốc là Xích huyện Thần Châu ấy họp thành khu. Quanh chín châu, có biển lớn bọc ngoài, tức là nơi trời đất giáp nhau”.

Về quan niệm của Trâu Diễn đối với Sử ký. Tư MãThiên viết: “Trước hết kể việc nay trở lên tới Hoàng Đế, học giả ai cũng thuật. Cùng theo thịnh suy của đời, mà chép điềm tốt xấu, chế độ, suy xa hơn, cho tới khi trời đất chưa sinh, tới chỗ tối tăm mờ mịt chưa có thể khaỏ tới gốc được... Cho đến khi trời đất phân, thì nói sự vận chuyển biến hoá của Ngũ hành, (những lề lối khác nhau của chính trị, mọi điềm ứng với mỗi hành)”.

*Đoạn trích dẫn tiếp theo đây, bạn đọc tham khảo về nguồn gốc của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành qua tài liệu và nhận xét của ông Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn “Dự đoán theo Tứ trụ”:

1- Khởi nguồn của học thuyết Âm dương:

Sự ra đời của học thuyết Âm dương, từ đời Hạ xa xưa đã hình thành. Điều đó có thể được chứng thực bằng sự xuất hiện hào Dương, hào Âm trong Bát quái của Kinh Dịch. Hào âm và hào Dương trong bát quái xuất hiện trong sách cổ “Liên sơn” của đời nhà Hạ Trung Quốc, cho nên trong “Sơn hải kinh” có câu: “Phục Hy được Hà đồ, người Hạ nhân đó nói là “Liên Sơn”, Hoàng đế được Hà đồ nên người Chu gọi là “Chu dịch”. Tức là nói ở đời Hạ đã có quyển sách về Bát quái liên sơn này, còn Bát quái lại do hai hào cơ bản nhất: Âm và dương cấu thành. Cho nên học thuyết Âm dương bắt nguồn từ nhà Hạ là điều tin được.

Nhân đây muốn nói thêm rằng: giới học thuật ngày nay đối với mối quan hệ của học thuyết Âm dương, Ngũ hành và Bát quái, cũng như sự khởi nguồn và quá trình diễn biến của nó, vẫn có những kiến giải khác nhau. Nhà sử học Bàng Phác trong bài “Nghiên cứu về nguồn gốc Âm dương Ngũ hành” (đăng ở mục “Bàn về lịch sử văn hoá cổ đại Trung Quốc”, do tạp chí Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 1986) có nêu:

Nguồn gốc của quan niệm Ngũ hành là ở quy bốc của dân tộc Khương, nguồn gốc quan niệm Âm dương là mai bốc là của dân tộc Ngô Việt ở phương nam (tức ở trong “Sở từ” gọi là “Diên bạc”). Bát quái thì bắt nguồn ở Phệ chiêm của dân tộc Chu (tức là trong sách cổ có ghi là lục nhâm mà về sau phát triển thành sáu hào). Do đó ngài Bàng Phác đã căn cứ vào tích Thù Ty Mã ở trong sách cổ mà suy đoán, cho rằng các dân tộc ở phương Bắc và phương Nam thời kỳ cổ đại của Trung Quốc (chủ yếu là nhà Thương, nhà Chu và Việt Sở) do sự thâm nhập văn hoá mà thành, đến thời Chiến quốc do các nhà nho như Khổng Tử, Trâu Diễn đã hoà trộn ba nền văn hoá lớn với nhau. Đến đời Đồng Trọng Thư nhà Hán mới tập hợp thành học thuyết Âm Dương Ngũ hành và cùng với thuật số Bát quái của Chu Dịch kết hợp thành học thuyết Âm dương Ngũ hành và thành một công trình vĩ đại. Các bài viết của ngài Bàng Phác cách chứng minh chẽ, có giá trị là tác phẩm diễn giải độc đáo. Nhưng giới khảo cổ ngày nay và giới sử học đối với văn hoá cổ đại của đời nhà Hạ, với Liên Sơn, Quy tàng vẫn chưa có ý kiến nhất trí trong kết quả nghiên cứu của mình. Các tài liệu và chứng vật cũng không đầy đủ, do đó quyển sách này cũng chỉ có thể dựa theo cách nói truyền thống để xác định khởi nguồn của thuyết Âm dương vào thời kỳ nhà Hạ. Nếu sau này phát hiện được những chứng cứ mới đủ để bác bỏ cách nói truyền thống này, cho rằng khởi nguồn của học thuyết Âm dương ở thời đại về sau hơn thì chúng tôi cũng sẽ tuân theo chân lý mà không sửa đổi những luận điểm trong sách này”.

*

Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách Chu Dịch với dự đoán học (sách đã dẫn, trang 94). Bạn đọc tham khảo những ý kiến khác nhau về xuất xứ của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.

2.Khởi nguồn của học thuyết Ngũ hành

Sự ra đời của học thuyết Ngũ hành, trong giới học thuật vẫn còn là một vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Ba loại ý kiến rất đối lập nhau như sau:

* Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm dương.

* Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành là Mạnh tử.

Trong cuốn “Trung Quốc thông sử giản biên” của Phạm Văn Lan đã nói: “Mạnh tử là người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành, Mạnh Tử nói năm trăm năm tất có Vương giả hưng, từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn năm trăm năm.... Từ Văn Vương đến Khổng Tử lại hơn năm trăm năm... Hầu như đã có cách nói tính toán về Ngũ hành. Sau Mạnh Tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết Ngũ hành trở thành nhà Âm dương Ngũ hành”. Nói học thuyết Ngũ hành là do Mạnh Tử phát minh là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên ông đã nói: “Mặc (*) tử không tin Ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát huy”. Mạnh Tử là người nước Lỗ , thời Chiến Quốc mà thời Đông Chu đã có Ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh Tử phát minh ra Ngũ hành. Có những sách sử nói, học thuyết Âm dương Ngũ hành là Đổng Trọng Thư thời Hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.

* Giới triết học như Vũ Bạch Huệ, Vương Dung thì cho rằng: “Bản văn công khai của Ngũ hành có thể thấy trong sách “Thượng Thư” của Hồng Phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng của người cận đại có thể là thời Chiến quốc) . Ngũ hành, một thuỷ, hai hoả, ba mộc, bốn kim, năm thổ, thuỷ nhuận dưới, hoả nóng trên, mộc cong thẳng, kim là cắt đứt, thổ là nông gia trông trọt” (xem “ảnh hưởng của học thuyết Âm dương Ngũ hành với khoa học truyền thống Trung Quốc”). Qua đó có thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết Ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.

* Qua những đoạn trích dẫn ở trên, chúng ta cũng nhận thấy được những vấn đề rất căn bản sau đây:

Ngay những nhà nghiên cứu Trung Hoa có tên tuổi và hầu hết những nhà nghiên cứu trên thế giới ở các ngành học thuật khác nhau: Lịch sử, triết học, văn hóa xã hội... thậm chí ngay cả học thuật chiêm bốc cũng cho rằng Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt. Thậm chí quan điểm của một số nhà nghiên cứu còn cho rằng: Thuyết Ngũ hành không tác dụng bằng thuyết Âm dương.

Hay nói cách khác:

Những nhà khoa học quốc tế và cả Hoa Hạ đã nhìn với tất cả các góc độ khác nhau bằng chuyên ngành của mình, cũng không thể chứng minh được tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ các bản văn được tự nhận là thuộc về văn minh Hoa Hạ.

Từ đó bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Thuyết Âm Dương và ngũ hành không hề tồn tại trong lịch sử văn minh Hoa Hạ như là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. các nhà nghiên cứu không thể chứng minh được tính hoàn chỉnh của học thuyết này cho đến ngày hôm nay - khi tôi đang gõ những hàng chữ này để chuẩn bị tái bản cuốn sách. Nhưng ngược lại, những phương pháp ứng dụng như Tử Vi, Phong thủy, Đông y....thì lại chứng tỏ Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán. Và không phải ngẫu nhiên, nhà Lý học nổi tiếng Trung Hoa - tức là trực tiếp ứng dụng học thuyết này - Thiệu Vĩ Hoa cho rằng:

* Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm dương.

Đây cũng chính là nguyên nhân để tiểu luận này phải chứng minh rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán và từ đó là cơ sở vấn đề cần được giải quyết trong tiểu luận này:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành - với tư cách là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán - không thể thuộc về nền văn minh Hoa Hạ. Mặc dù hàng ngàn năm trôi qua họ vẫn tự nhận như vậy.

Từ đó vấn đề tiếp tục đặt ra cho hệ quả của nó là:

1 - Chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành phải thuộc về một nền văn minh gần gũi nhất với nền văn minh Hoa Hạ. Đó chính là nền văn minh Lạc Việt một thời huyền vĩ ở miền Nam sông Dương tử.

Nền văn minh này đã bị sụp đổ ở thế kỷ thứ III trước CN. Những giá trị của nền văn minh này đã thất truyền và lần lượt bị Hán hóa những mảnh vụn của nó. Khi một đế chế thống nhất tất yếu phải thống nhất về văn tự và ngôn ngữ. Để tiếp tục lưu truyền những giá trị của nền văn minh Việt, nó buộc phải Hán hóa; khi mà thời gian đô hộ không phải vài chục năm, vài ba thế kỷ mà là hàng Thiên niên kỷ.

2 - Với tư cách là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng ta mới có thể nhân danh những tiêu chí khoa học để minh chứng rằng: Đó chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu đang nỗ lực tìm kiếm

- khi tính hoàn chỉnh và nhất quán của một lý thuyết là những yếu tố cần cho một lý thuyết khoa học.

Những vần đề tiếp tục được đặt ra và sẽ lần lượt được minh chứng, giải quyết trong phần tiếp theo đây. Một hiện tượng cần ghi nhận liên quan đến học thuyết Âm dương và Ngũ hành để minh chứng cho các vấn đề trên: Đó là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Một trong những tứ đại kỳ thư Đông phương về Đông Y . Sự tương quan về nội dung bản văn, không/ thờii gian lịch sử của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” với giả thuyết được trình bầy với bạn đọc ở trên có một vị trí quan trọng. Bởi vậy, phần tiếp theo đây xin được trình bày với bạn đọc nội dung cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” và những vấn đề liên quan.

----------------------------------

*Chú thích: Có lẽ là Mạnh tử? Sách in nhầm chăng?

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đây là tư liệu phục vụ bài viết và không phải bài viết trong luận đề này.

Thứ sáu, 23/5/2008, 11:17'

Phát hiện khả năng tiên đoán tương lai ở con người

Posted Image

VIT - Các nhà khoa học người Mỹ vừa tiết lộ một khám phá làm chấn động giới khoa học… Qua nghiên cứu, họ đã phát hiện cơ quan thị giác ở người có khả năng xây dựng hình ảnh, cho phép chúng ta thấy trước được tương lai gần.

Theo lời các nhà khoa học này, cứ 1/10 giây não người sẽ phải tri giác những gì mắt mình nhìn thấy. Để bù lại những vết nứt tạm thời từ hệ thống thị giác, sự phát triển khả năng tiên đoán trong tương lai cũng diễn ra trong khoảng thời gian 1/10 giây đó. Nếu tương lai giả định không trùng với thực tế, thì sẽ xảy ra quá trình ảo giác. Các nhà khoa học đã lấy ra hơn 50 kiểu ảo giác ở thị giác xuất hiện do bộ não thử tiên đoán tương lai gần.

Các chuyên gia khẳng định rằng, phát hiện mới này sẽ giúp con người cải thiện khả năng nhìn của mình, qua đó quá trình nhận thức về thực tại cũng mang lại nhiều điều thỏa đáng hơn.

T.H (Theo Newsland)

Vấn đề đặt ra là: Khả năng tiên tri sẽ không thể xảy ra nếu vũ trụ có một vận tốc giới hạn. Dù nó gấp hàng tỷ lần tốc độ ánh sáng. Nhưng là giới hạn ở một con số nào đó có thể đo được về lý thuyết.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

I - Lịch sử thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán

Tiếp theo

Hoàng đế nội kinh tố vấn & lịch sử thuyết âm dương và ngũ hành

Về cổ thư liên quan đến thuyết Âm dương và Ngũ hành còn được nói tới trong một cuốn sách Đông y nổi tiếng, đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Nội dung cuốn sách này diễn tả những cuộc đối thoại giữa Hoàng Đế (*) với Kỳ Bá là đại thần của ngài, cho thấy sự ứng dụng thuyết Âm dương thuyết Ngũ hành vào việc phòng bệnh, chữa bệnh ở thời thượng cổ. Về giá trị của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được những nhà nghiên cứu Trung Hoa ca ngợi như sau:

“Trên thực tế, Hoàng Đế nội kinh trong lịch sư Trung Quốc đối với văn hoá Hán học có ảnh hưởng sâu sắc không thể mất đi, nó cấu thành một truyền thống văn hoá Trung Hoa. Nếu như truyền thống văn hoá thiếu khuyết phần này, chúng ta không thể tưởng tượng tình cảnh của nó vô lý đến mức nào. Thậm chí ở Trung Quốc cổ đại, người ta còn đem Hoàng Đế Nội Kinh với Đạo Đức kinh của Lão Tử, Nam Hoa kinh của Trang Tử, Chu Dịch ra so sánh với nhau, mọi người không chỉ xem nó là một cuốn sách ý học bình thường. Người xưa xem Hoàng Đế Nội Kinh là: “Thượng cùng ở Trời hạ cực ở Đất, xa xét vạn vật, gần nắm bản thân, biến đối khó lường”. cơ hồ như mọi việc trời đất không gì là không bao lấy”.(**)

Trong cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” hoàn toàn sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành. Để chứng tỏ điều này, xin bạn đọc xem đoạn sau đây trong phần Lục Nguyên chính kỷ đại luận:

“ Trước lập năm ấy, lấy tỏ khí ấy, số của vận hành của Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Là lạnh, nóng khô, ẩm gió, hoả đến ngự thì đạo trời có thể thấy, dân khí có thể điều, Âm dương co duỗi, gần mà không cảm, có thể đếm số ấy”.

Bạn đọc có thể tìm thấy dấu ấn của Thuyết Âm dương Ngũ hành và phương pháp luận của nó trong khắp cuốn sách, tự thân nội dung của nó đã chứng tỏ thuyết Âm dương Ngũ hành đã được ứng dụng từ thời Hoàng Đế - khoảng 3.000 năm tr.C.N - trước CN. Nhưng các nhà nghiên cứu hiện đại lại cho rằng: Cuốn Hoàng đế nội kinh tố vấn ra đời vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (?!). Đoạn sau đây được trích trong cuốn “Hoàng Đế Nội Kinh và suy đoán vận khí” (sách đã dẫn).

“Hoàng Đế nội kinh được viết thành sách vào khoảng thời kỳ Xuân thu Chiến Quốc, nên trong sách tư tưởng chỉ là chủ nghĩa duy vật cổ đại, xuất phát từ quan niệm chỉnh thể và tổng kết của người xưa qua kinh nghiệm phong phú đấu tranh với bệnh tật, xây dựng nền cơ sở lý luận của y học Trung Quốc”.

Như vậy, qua các đoạn trích dẫn trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Nội dung của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” là sự ứng dụng của thuyết Âm dương và Ngũ hành đã có từ thời Hoàng Đế, tức là trước thời vua Đại Vũ phát hiện ra Lạc thư trên lưng rùa ghi dấu ấn của Ngũ hành hơn 1.000 năm. Các nhà nghiên cứu đã đặt thời điểm xuất hiện của cuốn sách này vào thời Xuân thu Chiến Quốc, tức là sau đó hơn 2000 năm so với thời điểm nội dung của nó (?). Nhưng với các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa thì thuyết Ngũ Hành còn ra đời rất lâu sau đó - vào thế kỷ thứ IV, hoặc thứ III trước CN. Tức là các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa đã đẩy lùi thời gian ra đời so với niên đại của Hoảng Đế theo quan niệm lịch sử Trung Hoa gần 3000 năm. Chúng ta xem lại đoạn trích dẫn trong "Đại cương triết học Trung Quốc" - (sách đã dẫn):

Sự đề cập đầu tiên thật chính xác về Ngũ hành được thấy trong đoạn khác của Kinh Thư (phần V, quyển IV), dưới tên “Hồng Phạm”, nghĩa là “khuôn lớn”. Truyền thuyết cho biết rằng thiên “ Hồng Phạm” thuật lại lời cơ tử cáo với vua Vũ nhà Chu, cơ tử là một Vương hầu nhà Thương bị vua Vũ lật đổ vào cuối thế kỷ thứ XXII tr. CN. Trong bài Cáo, Cơ tử cho những ý của mình là của vua Vũ, người sáng lập nhà Hạ, theo truyền thuyết sống vào thế kỷ thứ XXII tr. C.N. Chúng tôi nêu truyền thuyết này là coi như ví dụ về thể thức theo đó tác giả Kinh Thư đã thử mang lại sự trọng yếu của thuyết Ngũ hành. Về thời đại thật của thiên “Hồng Phạm”, thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay III.

Như vậy, chúng ta cũng thấy rằng: Các nhà triết học Trung Hoa cho rằng thuyết Ngũ Hành trong thiên Hồng Phạm - văn bản đầu tiên đề cập đến thuyết Ngũ Hành chỉ ra đời vào thế kỷ thứ IV - thứ III trước CN. So sánh với quan niệm trên của Đàm Thành Mậu thì rõ ràng không thống nhất. Sự thay đổi niên đại ra đời của cuốn sách của chính các học giả ảng đầu của Trung Hoa chính là sự tự phủ nhận niên đại theo nội dung bản văn của cuốn sách: Thời Hoàng Đế hơn 3000 năm trước CN.

Và vấn đề cũng không dừng lại ở đây.

Hoàng đế nội kinh tố vấn

Hà đồ và những vấn đề liên quan.

Tính bất hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh

trong lịch sử văn minh Hoa Hạ.

Thực tế cho thấy rằng: thời điểm xuất hiện của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” khó có thể đặt vào một giai đoạn nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ, để có sự tương quan hợp lý với những vấn đề của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nội dung của cuốn sách này thể hiện phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành trong đông y với điều kỳ lạ là trong đó có dấu ấn của Hà đồ.

Ý nghĩa trực tiếp trong nội dung của nó xác định thời điểm xuất hiện thuộc về thời Hoàng Đế. Nhưng những nhà nghiên cứu đã đặt vào giai đoạn lịch sử thời Xuân Thu Chiến Quốc hoặc mợn hơn (Giáo sư Phùng Hữu Lan) - đã trích dẫn ở phần trên.

Qua những đoạn trích dẫn ở trên, chúng ta có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp can chi). Như vậy, thuyết Âm dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn. Tức là, từ thời Hoàng Đế, trước cả Lạc thư do vua Đại Vũ phát hiện cả ngàn năm (niên đại của Hoàng Đế ước tính khoảng 3000 năm tr. CN, vua Đại Vũ khoảng 2205 năm tr. CN). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý.

Nếu như chúng ta tin vào tính chính xác của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn thì sẽ phủ nhận toàn bộ những tác giả Trung Hoa được coi là sáng lập ra thuyết Âm dương và Ngũ hành sau đó. Vậy thì trước Hoàng Đế; ai là người sáng tạo thuyết Âm dương Ngũ hành? Khi chính cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn chỉ thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành, chứ không phải thể hiện nội dụng của học thuyết đó?

Có lẽ nhận thấy được điều phi lý này – trên quan niệm thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hoa Hạ – nên các nhà nghiên cứu hiện đại đã có sự cố gắng tìm một thời điểm lịch sử hợp lý cho sự ra đời của cuốn sách Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

1 - Nhận định đầu tiên cho rằng:

Cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được viết vào thời Xuân Thu Chiến Quốc! (Đã trích dẫn).

Nếu nhận định của các nhà nghiên cứu hiện đại đúng, thì đây là sự phủ nhận tác giả của cuốn sách là Hoàng Đế và Kỳ Bá. Như vậy tại sao lại có sự gán ghép này và ai là tác giả đích thực của nó? Trong khi sách Đông y cũng như sách bói không phải đối tượng phá huỷ vào thời Tần Thuỷ Hoàng. Hơn nữa y học là một nhu cầu cần thiết và phổ biến trong đời sống xã hội trên từ thời vua chúa, dưới đến thứ dân. Tại sao một cuốn sách y lý căn bản, sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành, lại không hề được nhắc đến trong bất cứ một cuốn cổ thư nào của các học giả nổi tiếng trước thời Hán?

Thời Xuân Thu Chiến Quốc là một thời đại xuất hiện rất nhiều nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử... được coi là thuộc văn minh Hoa Hạ; họ để lại rất nhiều trước tác. Nếu hệ thống vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành với giá trị tuyệt vời của nó, được thể hiện trong sự ứng dụng ở ngay trong một nhu cầu không thể thiếu và phổ biến là y học; vậy tại sao lại không được các học giả lưu danh hàng thiên niên kỷ quan tâm đến như: Khổng Tử thời Xuân Thu; Mạnh Tử, Trang Tử, thời Chiến quốc..? Một điều đáng lưu ý nữa là: Sau các học giả nổi tiếng thời Xuân Thu - Chiến quốc hàng nửa thiên niên kỷ, trong Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng không hề một lần nhắc đến cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn, mặc dù ông lại nói đến Trâu Diễn (350 -270 tr. CN), như là một người nếu không phải là sáng lập thì cũng là người đầu tiên tổng hợp thuyết Âm dương Ngũ hành trở thành một học thuyết thống nhất (Phái Âm Dương gia).

Chúng ta giả định rằng: Sử Ký Tư Mã Thiên phản ánh trung thực lịch sử Trung Hoa thì cái oái oăm lại là: Sau khi Trâu Diễn tổng hợp thuyết Âm Dương Ngũ hành vào thế kỷ thứ III - IV trước CN thì Hoàng Đế sinh ở 3000 năm trước đó mới trước tác cuốn sách này để ứng dụng trong Đông Y!?

Đây thật sự là một điều vô lý!

2 - Giả thuyết thứ hai cho rằng:

Hoàng Đế nội kinh tố vấn là do các phương sĩ kiết tập, tổng hợp vào đời Hán.

Giả thuyết này giải thích được một vài điểm vô lý đã phân tích ở trên. Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy cũng không thể giải thích được một cách hợp lý hoàn cảnh ra đời của cuốn Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn.

Bởi vì: để viết cuốn sách này thì cần phải có một kiến thức hoàn chỉnh về thuyết Âm dương Ngũ hành. Nhưng học thuyết này, theo các nhà nghiên cứu hiện đại vào thời Hán mới đang từng bước hoàn chỉnh. Do dó, không có cơ sở nào để có một sự ứng dụng một học thuyết cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hoàn chỉnh (ít nhất về mặt lý thuyết) để có một sự ứng dụng hoàn chỉnh cho nó. Huống chi, trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã có trước Hán, tức là thuyết Âm dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh trước đó và vấn đề tiếp tục lặp lại như phân tích ở trên.

3 - Giả thuyết thứ ba cho rằng:

Hoàng Đế nội kinh tố vấn được kiết tập vào đời Minh (?!).

Giả thuyết này chỉ có sự hợp lý hình thức, mặc dù nó lý giải được dấu ấn của Hà Đồ (chỉ thực sự xuất hiện vào đời Tống, trước Minh). Nhưng với giả thuyết này thì ngoài những mâu thuẫn chung với các giả thuyết trên, nó lại gặp những mâu thuẫn không lý giải được sau đây:

- Sự liên hệ giữa lịch sử thời Minh (thế kỷ XIV) với thời Hoàng Đế gần 3000 năm tr. CN, thể hiện trong nội dung cuốn sách.

- Vào thế kỷ 14 sau CN, là lúc sự ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành đã rất phổ biến. Do đó, càng không thể có sự kiết tập những cái mà cho đến tận bây giờ người ta vẫn không thể lý giải.

- Vào thời Minh, lịch sử cũng đã rõ ràng. Không thể có một cuốn sách vào hạng kỳ thư và được ứng dụng trong một nhu cầu phổ biến, mà người ta không thể chỉ ra chính xác thời điểm ra đời hoặc tác giả của nó. Một vấn đề được đặt ra là cấu trúc ngôn ngữ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn không phải là cấu trúc ngôn ngữ của thời nhà Minh. Chỉ còn một cách duy nhất là viết lại cuốn sách này. Điều này rõ ràng không thể thực hiện được, khi cho đến tận bây giờ, thuyết Âm dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến nó vẫn còn là sự bí ẩn.

Trong ba giả thuyết trên, thì giả thuyết thứ hai và thứ ba là do tham khảo ý kiến bạn đọc gần gũi, không có tài liệu công bố chính thức.

Mâu thuẫn lớn nhất cần phải lý giải là: Hoàng Đế nội kinh tố vấn là cuốn sách lý luận căn bản của Đông y, được phát triển từ một hệ thống lý luận căn bản là học thuyết Âm dương Ngũ hành. Do đó, nó chỉ có thể được thực hiện khi người ta đã có một kiến thức hoàn chỉnh về học thuyết này. Nhưng cho đến ngày hôm nay, thuyết Âm dương Ngũ hành vẫn chỉ để lại những dấu ấn mơ hồ. Điều này, người viết đã dẫn giải ở phần trên: Cho đến ngày hôm nay, các nhà khoa học của nhiều ngành khoa học lịch sử, xã hội, triết học và cả lý học cũng chưa xác định được thời điểm chính thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Như vậy, thật là phi lý, khi người ta lại có thể sáng tác ra một cuốn sách lý luận, dựa trên một lý thuyết căn bản mà người ta hoàn toàn mơ hồ về nó. Hiện tượng này có thể ví như một học sinh không cần học thuộc bài, nhưng vẫn giải được toán. Cho dù có khiên cưỡng ứng dụng phương pháp luận siêu hình để phản bác, cho là học sinh dó kiếp trước vốn là nhà thông thái, thì ít nhất kiếp trước nó đã học bài.

Bởi vậy, ngoài những mâu thuẫn với những hiện tượng liên quan đến nó, thì đây chính là điều căn bản để cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn không thể đặt vào bất cứ một thời điểm lịch sử nào đó của nền văn minh Hoa Hạ. Về mặt thời gian lịch sử, người viết đã chứng minh với bạn đọc: cuốn Hoàng Đế nội kinh không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Nếu như từ trước đến nay nó được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ thì chỉ vì cuốn sách cổ nhất mà người ta tìm thấy viết bằng tiếng Hán mà thôi. Đương nhiên cuốn sách đó không thể từ trên trời rơi xuống.

Chính sự tồn tại của cuốn Hoàng Đế Nội Kinh trong lịch sử văn minh Hoa Hạ là một trong bằng chứng rất sắc sảo phủ định toàn bộ những vấn đề liên quan đến nó là Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh này. Không chỉ cuốn Hoảng Đế nội kinh, mà còn rất nhiều bằng chứng xác đáng khác chứng tỏ rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Chúng ta tiếp tục tham khảo một số bằng chứng khác dưới đây.

Dấu ấn Hà đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần

Trong sách Chu dịch Dự đoán học, ông Thiệu Vĩ Hoa viết:

“Thuyết “Hà Đồ” “Lạc đồ “trong cuốn “Thượng Thư” của tiên Tần, “Luận ngữ” của Mạnh tử và trong “Hệ từ” đều có ghi lại, nhưng “Đồ” và “Thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước đời Tống, không ít “Dịch” gia khi viết về “Dịch “, rất ít nói đến “Hà Đồ”, “Lạc Đồ”, một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ”, “Lạc thư” vào những năm Thái Bình Hưng Quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn).

Sách Bí ẩn của Bát quái - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường viết:

“...Thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi.”

Qua các đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng, Hà Đồ Lạc thư mà chúng ta biết đến ngày hôm nay, thực chất chỉ được công bố chính thức vào đời Tống. Trải hàng ngàn năm – từ trước Tần đến Tống – mặc dù Hà Đồ Lạc thư được nhắc đến trong một số sách được coi là của nền văn minh Hoa Hạ, nhưng ngay cả người Hoa Hạ cũng không hiểu chính đồ hình này. Và thật là kỳ lạ: Dấu ấn của Hà Đồ lại nằm ngay trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Hay nói một cách khác: Hà Đồ đã được ứng dụng từ thời Hoàng Đế trước cả vua Đại Vũ tìm ra Ngũ hành trên lưng rùa và viết nên Hồng Phạm cửu trù???!

Dấu ấn Hà Đồ trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”.

Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái Đất với đời sống con người và cả sáu mươi hoa giáp trong Âm lịch. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ.

Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn khác, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được. Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý. Nhưng một hiện tượng đặc biệt rất đáng lưu ý là: trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, một cuốn sách được các nhà nghiên cứu cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến Quốc – tức là tiên Tần – lại ghi nhận dấu ấn của Hà Đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập (*) (Nhà thuốc Hồng Khê /Hanoi, xuất bản 1954 - dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần “Kim quỷ chân ngôn luận”:

Hoàng Đế hỏi:

- Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gì không? Kỳ Bá thưa:

1- Đông phương sắc xanh, thông vào can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở can, phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài thảo MỘC, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với Tuế tinh, xuân khí thuộc về bộ phận đầu, thuộc về âm là tiếng Giác, thuộc về số là số 8, thuộc về mùi là mùi hôi. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.

2- Nam phương sắc đỏ, thông vào với tâm khai khiếu lên tai, tàng tinh ở tâm. Bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về HỎA; thuộc về lục súc là dê, thuộc về ngũ cốc là thử, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh Hoặc, thuộc về âm là tiếng Chuỷ, thuộc về số là số 7, thuộc về mùi là mùi hắc. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở mạch.

3- Trung ương sắc vàng, thông vào với tỳ, khai khiếu lên miệng, tàng tinh ở tỳ. Bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt và thuộc về THỔ; thuộc về lục súc là bò, thuộc về ngũ cốc là tắc, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn, thuộc về âm là cung, thuộc về số là số 5, thuộc về mùi là mùi thơm. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh tại thịt.

4- Tây phương sắc trắng, thông vào với phế, khai khiếu ở mũi, tàng tinh ở phế. Bệnh phát sinh ở vai, về vị là cay và thuộc về KIM; thuộc về lục súc là ngựa, thuộc về ngũ cốc là đạo, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch, thuộc về âm là Thương, thuộc về số là số 9, thuộc về mùi là mùi hắc. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh tại bì mao.

5- Bắc phương sắc đen, thông vào với thận, khai khiếu ở nhị âm, tàng tinh ở thận. Bệnh phát sinh ở khê, về vị là mặn và thuộc về THỦY; thuộc về lục súc là lợn, thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thần, thuộc về âm là Vũ, thuộc về số là số 6, thuộc về mùi là mùi húc mục. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở xương.

Qua phần trích dẫn trên, chúng ta quán xét độ số và hành ở các phương vị sẽ thấy là:

1) Phương Đông thuộc Mộc/ Sắc Xanh Độ số 8

2) Phương Nam thuộc Hoả/ Sắc Đỏ Độ số 7

3) Trung ương thuộc Thổ/ Sắc Vàng Độ số 5

4) Tây phương thuộc Kim/ Sắc Trắng Độ số 9

5) Bắc phương thuộc Thuỷ/ Sắc Đen Độ số 6

So sánh phương vị/ hành và độ số nói trên với Hà Đồ, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Hà Đồ vốn được coi là căn nguyên của nền lý học Đông phương. Do đó, sự trùng khớp nói trên không thể coi là hiện tượng ngẫu nhiên. Điều này chứng tỏ rằng: Khi hình thành cuốn sách này, tác giả của nó đã biết đến Hà đồ và những nguyên lý ứng dụng của nó ảnh hưởng đến đời sống Trái Đất và con người. Xin xem hình vẽ sau:

Hình minh họa

Sự ứng dụng phương vị Ngũ hành của Hà đồ trong Hoàng Đế nội kinh

Posted Image

Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong Hoàng Đế nội kinh với Hà đồ. Sự liên hệ này cho thấy: Hà đồ là một thực tế đã tồn tại và đã được ứng dụng trước thời điểm hình thành cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

Vậy tại sao đến đời Tống, những học giả Hoa Hạ mới biết đến Hà Đồ? Tại sao Khổng Tử viết thập Dực đã nói đến “Hà xuất Đồ / Lạc xuất thư” lại không miêu tả tại Hà Đồ cho các đệ tử? Nếu Khổng Tử đã biết đến Hà Đồ thì tại sao Kinh Dịch lại không hề có một chữ nói đến Ngũ hành khiến “Thuyết Âm Dương Ngũ Hành từng bước hoà nhập vào đời Hán?”.

Để giải thích những điều bất hợp lý này, các nhà nghiên cứu - bị trói buộc bởi thói quen cho rằng nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về Hoa Hạ - đã đưa sự ra đời của thuyết Âm Dương Ngũ hành về sau thời Khổng Tử - tức Xuân Thu Chiến quốc , hoặc muộn hơn - Thời Hán. Nhưng họ chỉ làm một việc là loay hoay đi tìm cái vô lý này để thay thế cho một cái vô lý khác. Điều này người viết đã minh chứng ở trên:

Không thể có một thời điểm thích hợp nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ có thể lý giải sự xuất hiện cuốn Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn.

Vấn đề cũng không dừng lại ở đây!

Qua phần chứng minh ở trên, chúng ta cũng thấy rằng Hà Đồ đã được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh, đã có từ lâu trong cổ học Đông phương và thể hiện sự nhất quán và hoàn chỉnh qua phương pháp luận của nó trong nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

Như vậy, cho dù cuốn sách này “xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc” như các nhà nghiên cứu quốc tế giả định thì nền văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân sáng tạo của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Điều rất đơn giản là: Không hề có tính kế thừa học thuyết này trong lịch sử sáng tạo, phát triển của nó vốn được coi là thuộc về nền văn minh Hoa Hạ. Đến đây người viết xin được một lần nữa lưu ý bạn đọc quan tâm là: Trên thực tế cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn không thể có chỗ đứng trong thời gian lịch sử của nền văn minh Hoa Hạ. Điều này chỉ có thể giải thích rõ ràng là: Nó không có nguồn gốc thuộc về nền văn minh này. Nếu cho rằng sự sai lệch này là do thất truyền thì đó chỉ là một lý do khiên cưỡng và không hợp lý. Bởi vì, Hoàng Đế nội kinh không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho giả thuyết trên. Dấu ấn cho sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Hà Đồ còn nằm trong một số sách mà chính các nhà nghiên cứu cho rằng: “Thời tiên Tần có Hà Đồ/ Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”.

Để chứng minh điều này, xin bạn đọc quan tâm xem đoạn trích dẫn sau đây:

Dấu ấn của Hà đồ trong Lã Thị Xuân Thu.

Trong các cổ thư chữ Hán được coi là trước Tần, ngoài Hoàng Đế nội kinh tố vấn, dấu ấn của Hà Đồ còn được ghi nhận ở Lã Thị Xuân Thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi viết vào thời kỳ đầu của đế chế Tần. Lời giới thiệu trong sách Lã Thị Xuân Thu do Phan Văn Các dịch. Nxb Văn Học & Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:

“Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành “bát lãm” và “lục luận”, “thập nhị kỷ” cộng hơn hai mươi vạn chữ , coi là có đủ “ thiên địa vạn vật cổ kim chi sự”, đặt tên là Lã Thị Xuân Thu, và “đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng”.

“Hán thư nghệ văn chí” đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của “tạp gia”, đánh giá rằng về học thuật , sách ấy “kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mạc gia, ghép vào cả Danh gia với Pháp gia).

Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn “kiệm thính tạp học” không có tinh thần sáng tạo, nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.

Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: “Sách này không đặt tên Lã tử, mà đặt tên Lã Thị Xuân Thu, hẳn là Văn Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử. Sử ký nói rằng: Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã Thị Xuân Thu cũng đã coi đó là sử. Tựa niên biểu mười hai chư hầu trong Sử Ký đặt ngang hàng Lã Thị Xuân Thu với Tả Thị Xuân Thu và Ngu Thị Xuân Thu, chứng tỏ sử công cũng coi sách đó là sử rồi”

Trong nội dung của sách Lã Thị Xuân Thu nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng xử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 kỷ. Đoạn trích dưới đây chứng tỏ điều này:

Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: Mạnh, Trọng, Quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng . Xuân chủ sinh, Hạ chủ trưởng, Thu chu thu, Đông chủ tàng (*).

-----------------

* Chú thích trong sách đã dẫn: Thâp nhị kỷ chính là thiên nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng, chết có giá trị. Bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải Kỷ, các “Kỷ” ở sau đều như vậy.

Trong cuốn Lã Thị Xuân Thu, dấu ấn mang nội dung của Hà Đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:

Mạnh Xuân Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:

Tháng đầu xuân : Mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp ất (phương Đông). Vị đế Vương tương ứng với tháng này là Thái cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng Vương). Vị thần đối ứng với tháng này là Mộc thần Câu Mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vy, thanh âm tháng này lấy âm Giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong lục luật). Con số đối ứng với tháng này là số 8 (số của Thiếu Dương), vị đối ứng của tháng này là vị chua, mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh. Mạnh Hạ Kỷ.

Thiên thứ nhất nói rằng:

Tháng đầu mùa hạ: măt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế Vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào hoả đức mà xưng Vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hoả thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chuỷ (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ. Con số đối ứng tháng này là số 7. Đặc điểm của tháng này là lễ tiết. Sự việc tháng này là xem.

Mạnh Thu Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:

Tháng đầu mùa thu: mặt trời ở vị trí của sao Dực. Buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Canh Tân (phương Tây). Vị đế vượng ứng với tháng này là họ Thiếu Hạo (lấy đức Kim mà xưng Vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần nhục thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loại thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật). Con số đối ứng tháng này là số 9 ( số của Thiếu Âm). Vị tương ứng tháng này là vị cay. Mùi tương ứng tháng này là mùi tanh, tế tự tháng này ở cửa.

Mạnh Đông Kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng

Tháng đầu mùa đông: mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính Nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính Nam Mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế Vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thuỷ mà xưng Vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh (thuỷ thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với ứng chung (một trong lục l). Con số của tháng này là số 6. Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi húc mục, Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng Bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen. Trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. Ăn kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng.

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Nếu chúng ta lấy độ số và hành của 4 mùa Xuân / Hạ/ Thu/ Đông và liên hệ với Hà Đồ thì một lần nữa nó lại trùng khớp. Như vậy, không chỉ Hoàng Đế mà ngay cả Lã Bất Vi (?) cũng đã sử dụng độ số của Hà Đồ???!.

Chưa hết! Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân Thu chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký tất yếu cũng có dấu ấn Hà Đồ. Tất cả những sách này đều thuộc về Tiên Tần. Nhưng cho đến ngày hôm nay: Các học giả tầm cỡ quốc tế ( kể cả của ngay chính Trung Hoa) vẫn không thấy dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư trước Tần??? Và chính Kinh Dịch vốn được coi là của Khổng Tử lại là cuốn sách cổ nhất nói đến Hà Đồ (Hà xuất đồ, Lạc xuất Thư)???!

Những dấu chứngvv trên đã chứng tỏ rằng:

Tất cả hậu duệ của nền văn minh Hoa Hạ đều không thể tìm thấy dấu ấn Hà Đồ vào thời "Tiên Tần".

Nếu như trong sách Thượng Thư thiên Cổ Mệnh chỉ nhắc đến Hà đồ được vẽ ở vách cung điện nhà Chu một cách mơ hồ, thì Hoàng Đế nội kinh & Lã Thị Xuân Thu ghi lại những dấu ấn liên quan đến nội dung của nó.

Phần chứng minh trên đây đã chứng tỏ với bạn đọc rằng: Học thuyết quái khí ứng với 4 mùa được coi là của Kinh Phòng, Mạnh Hỉ phát minh vào đời Hán, thực chất chỉ là sự lặp lại và diễn đạt dưới một hình thức khác những phát kiến đã có từ trước đó. Như vậy, cũng chứng tỏ Hà Đồ đã được phát hiện từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và đã được ứng dụng trên thực tế. Nếu cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn có một xuất xứ mơ hồ, người ta có thể dựa vào cớ thất truyền để giải thích sự vắng mặt của Hà Đồ trải hàng ngàn năm: kể từ đời Hán đến Tống; nhưng với Lã Thị Xuân Thu là một tác phẩm được coi là của chính vị tể tướng đời Tần mà khoảng cách thời gian không quá 14 năm cho sự bắt đầu của đời Hán thì thật là một sự vô lý không thể lý giải nổi bằng tính thất truyền. Tính thất truyền đó chỉ có thể lý giải từ văn minh Lạc Việt với hơn 1000 Hán hoá.

Như vậy, cả ba cuốn sách Hoàng Đế nội kinh, Lã Thị Xuân Thu & Lễ Ký đều mang dấu ấn của Hà đồ lưu truyền từ thời Hán cho đến Tống, là thời điểm Hà Đồ được công bố. Nhưng trong cả ba cuốn sách nói trên không hề có sự liên hệ lý giải tính ứng dụng của nó và cho đến ngày hôm nay Hà đồ vẫn còn là điều bí ẩn: Từ lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà (?!).

Điều này chứng tỏ một cách rất sắc sảo rằng:

Không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính duy trì và phát triển liên tục của một nền văn minh. Nó cũng chứng tỏ tính công bố và phát hiện của các học giả thời Tống về đồ hình Hà Đồ, khi dấu ấn sự ứng dụng của Hà Đồ đã có ở những cổ thư trước Tần.

Chính những luận cứ trên là một trong số những yếu tố quan trong đã minh chứng rằng:

Nền văn minh Hoa Hạ hoàn toàn không phải chủ nhân của nền văn minh Đông phương huyền bí đến kỳ vĩ.

Trên đây là yếu tố thứ nhất, nhưng không phải là duy nhất để chứng tỏ rằng: Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ngay từ trạng thái khởi nguyên của nó.

Vấn đề vẫn chưa kết thúc.

Như vậy, phần trên người viết đã chứng minh tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn, thông qua sự ứng dụng của Hà Đồ, một hình tượng liên quan đến Kinh Dịch. Những ai đã xem kinh Dịch đều biết đến đó là cuốn sách đầu tiên nói đến Hà Đồ, Lạc Thư như một nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương. Và cũng chính cuốn Kinh Dịch với vị trí kỳ vĩ của nó trong văn hoá Đông Phương, chỉ nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ Hành là một trong những nguyên nhân quan trọng để các nhà nghiên cứu tách thuyết Âm dương ra khỏi Ngũ hành. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn rất máy móc và sai lầm và thuần nghiên cứu văn bản một cách phiến diện.

Thực tế đã chứng tỏ rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng phổ biến (Phong thuỷ, Đông y, Tử Vi, Tứ Trụ và bây giờ là Lạc Việt độn toán nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử gần 5000 năm văn hiến...) đều sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành. Chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã đặt vấn đề về sự ra đời cùng lúc của thuyết Âm dương Ngũ hành (đã trích dẫn). Nhưng họ không thể chứng minh được vì tính thiếu nhất quán, không hoàn chỉnh cùng sự sai lệch và không hợp lý về nội dung của các bản văn chữ Hán. Đấy chính là yếu tố quan trọng để chứng tỏ sự phát triển liên tục và nhất quán của một học thuyết (ở đây là thuyết Âm dương Ngũ hành) mà các bản văn chữ Hán của nền văn minh Hoa Hạ đã không minh chứng được. Bởi vậy nó không thuộc về nền văn minh Hoa Hạ, vì nền văn minh này đã không thể hiện được điều đó. Nhưng nếu không chứng minh được sự liên hệ giữa các ký hiệu của Chu Dịch với Ngũ hành thì vấn đề đặt ra cho sự nhất quán của thuyết Âm dương Ngũ Hành vẫn chưa hoàn chỉnh.

Thực ra điều này, đã có ngay trong các bản văn dù rất mơ hồ đó chính là câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” đã nói đến nguyên lý căn bản của các ký hiệu Dịch (Bát quái) liên quan đến Đồ - Thư. Hay nói một cách khác: Bát quái có cơ sở là Ngũ hành vì Đồ - Thư mang nội dung Ngũ hành (Cho dù là Đồ hay Thư). Những chính sự sai lệch trong các nhà trứ tác Hán nho thuộc văn minh Hoa Hạ trải hàng thiên niên kỷ đã khiến người ta không thể nào tìm thấy sự liên hệ này.

Người ta không thể tìm thấy một cái đúng từ một cái sai - khi cho rằng:

“Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà đồ”“Hậu thiên bát quái liên hệ với Lạc Thư” .

Xin lưu ý quí vị là:

Những ý tưởng này không có trong chính văn Kinh Dịch, mà do đời sau thêm vào để giải thích.

(Cũng như thuyết Vô Cực là do Chu Hy thêm vào từ đời Tống, để giải thích một cách ngớ ngẩn về sự khởi nguyên vũ trụ).

Bởi vậy, phần tiếp theo đây sẽ lý giải điều này.

Còn tiếp

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

----------------------------------------------

Chú thích:

*Hoàng Đế-có niên đại ước tính hơn 3000 năm trước CN.

** Trích dẫn trong “Hoàng Đế nội kinh và suy đoán vận khí”. Đàm Hiền Mậu biên soan. Nxb Văn Hoá Thông Tin 1998

*** Cuốn sách này được dịch từ cuốn “ Hoàng Đế nội kinh tố vấn hợp chú” của Trương Ẩn Am và Mã Nguyên Đài. Đây là cuốn sách dịch được coi là ưu tú nhất trong các bản dịch “Nội Kinh” từ trước đó đến nay ở Việt Nam.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hà Đồ và Chu Dịch

Trong Chu Dịch, Hà đồ chỉ xuất hiện một cách rất mơ hồ, có vẻ như thoáng qua trong một câu của Hệ Từ: ”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi”. Từ khi Nho học trở thành phổ biến trong văn minh Hoa Hạ thì trong các bản văn chữ Hán – Hà đồ cũng chẳng liên quan đến Chu Dịch. Hàng ngàn năm nay theo sách cổ chữ Hán thì Hà Đồ liên quan đến Hy Dịch “Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái” còn Chu Dịch (Vốn được hiểu theo nghĩa Dịch của nhà Chu) thì liên quan đến Lạc Thư.

Tất cả những ai đã xem qua về kinh Dịch đều biết điều này.

Nhưng ở đây người viết xin được đặc biệt lưu ý với bạn đọc là: Những ý tưởng trên - Lạc thư phối Chu dịch (Hậu Thiên Bát quái) và Hà đồ phối với Hy Dịch (Tiên Thiên Bát quái) - đều không có trong chính văn của Kinh Dịch (Soán, Hào từ và thập Dực). Hà đồ được các nhà nghiên cứu từ đời Hán về sau giải thích chỉ như với tư cách minh hoạ cho lịch sử Kinh Dịch từ thời Phục Hy và chẳng ai biết mặt mũi nó ra sao cho đến đời Tống.

Nhưng những phần trình bầy với bạn đọc ở trên đã chứng tỏ: Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến cho – nói theo ngôn ngữ hiện đại – những hiệu ứng vũ trụ tương tác với Địa cầu. Hà đồ được ứng dụng trong Đông Y qua Hoàng Đế nội kinh, lý giải sự vận động của 4 mùa trong Lã Thị Xuân Thu và ngay cả trong chiếc La Kinh của các phong thuỷ gia - các bạn hãy xét kỹ: Đó chính là chiều vận động Ngũ hành tương sinh của Hà Đồ. Hay nói theo một cách khác:

Hà đồ chính là đồ hình biểu kiến có tính nguyên lý của thuyết âm dương Ngũ hành thể hiện sự tương tác của các hiệu ứng vũ trụ liên quan đến Địa cầu.

Phần kế tiếp sau đây là sự minh chứng tính liên hệ giữa Hà đồ và Chu Dịch. Chu Dịch (còn gọi là Kinh Dịch) chính là một cuốn sách mà từ hàng ngàn năm vẫn được coi là tiêu biểu cho thuyết Âm dương, không liên quan đến Ngũ hành trong bản văn chữ Hán.

Bây giờ chúng ta cùng quán xét đồ hình Hà Đồ được thể hiện bằng hình vành khăn chia làm 8 cung tương ứng với Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả với Trung cung Hà đồ được thay bằng biểu tượng của Địa Cầu như sau:

Đồ hình miêu tả sự liên quan giữa Địa cầu và Hà đồ

Posted Image

Từ đồ hình trên, bạn đọc quan tâm cũng thấy rằng:

1- Trục Địa cầu Bắc - Nam chính là đường phân giác biểu kiến của hai phương Bắc - Nam (45o/2 = 22o5, tương đương độ nghiêng của trục Địa cầu là 21o5).

2- Mặt phẳng Hoàng Đạo biểu kiến của trái Đất chia Hà đồ thành hai phần: Trên - dưới. * Phần trên của Địa cầu là Dương (theo nguyên lý Dương trên; Âm dưới) – Phần Âm về Lý (Trong Dương có Âm: Thực tế là Dương, nên Lý thuộc Âm). Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Âm cho hai hành thủy - 6 và Mộc - 8.

* Phần dưới là Âm – nên Lý thuộc Dương. Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Dương cho hai hành Kim - 9 và Hỏa - 7.

(Đã trích dẫn ở trên “Dấu ấn Hà đồ trong Hoàng đế nội kinh tố vấn” và "Lã thị Xuân thu").

Như vậy, đồ hình trên đây chính là sự liên quan hợp lý về phương vị, hành và các vấn đề liên quan trong thuyết Âm dương Ngũ hành qua Hà Đồ với Địa Cầu.

Bây giờ, chúng ta đặt Hậu thiên bát quái Lạc Việt (đổi chỗ Tốn Khôn) liên hệ với 8 cung của Hà đồ phối Địa cầu ở trên thì chúng hoàn toàn trùng khớp về phương vị và quái khí liên quan đến phương vị Hà đồ phối Địa cầu. Xin xem hình dưới đây:

Sự liên hệ Hà đồ với Hậu thiên & Địa cầu

Posted Image

Qua đồ hình trên, bạn đọc đã tìm hiểu về Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành sẽ thấy một sự trùng khớp dẫn đến khả năng làm sáng tỏ những vấn đề còn bí ẩn liên quan đến thuyết này, vì tính hợp lý và khả năng lý giải các vấn đề liên quan. Chúng ta quán xét các hiện tượng sau đây:

* Quái Khảm thuộc Thuỷ, thuộc phương Bắc trong Chu Dịch, nằm đúng ở phương Bắc thuộc Thuỷ của Hà Đồ và phương Bắc của địa cầu.

* Quái Ly thuộc Hỏa, thuộc phương Nam trong Chu Dịch, nằm đúng ở phương Nam của Hà Đồ và phương Nam của Địa cầu.

* Quái Đoài thuộc Kim, thuộc phương Tây trong Chu Dịch, nằm đúng ở phương Tây của Hà đồ và phương Tây của Địa cầu.

* Quái Chấn thuộc Mộc, thuộc phương Đông trong Chu Dịch, nằm đúng ở phương Đông của Hà đồ và phương Đông của Địa cầu.

Phần trên, người viết đã hân hạnh chứng minh với bạn đọc là:

1 - Về thực tế và ứng dụng:

Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến cho những hiệu ứng vũ trụ tương tác với trái Đất, cụ thể là qui luật vận động của Ngũ tinh (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ) tương tác với mặt Trời, mặt Trăng trong Thái Dương hệ nhìn từ Địa cầu. Dấu ấn Hà Đồ có mặt trong hầu hết các sách liên quan đến phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương mà người viết đã trình bày: Về Đông y trong Hoàng Đế nội kinh, về thời tiết trong Lã Thị Xuân Thu, về Phong thủy trong ngay chính chiếc La bàn là vật bất ly thân của các phong thủy gia, trong Tử Vi chính là đồ hình Địa bàn 12 cung Tử Vi....

2 - Về bản văn ghi nhận dấu ấn Hà Đồ trong các vấn đề liên quan:

Xét về bản văn thì Hà Đồ luôn có mặt trong các bản văn và kể cả truyền thuyết. Ngay trong Chu Dịch. mà chúng ta đầu biết rằng - Chu Dịch chính là cuốn kỳ thư Đông Phương và cũng chính qua bản văn này mà các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng chỉ nói đến Âm Dương và không thấy dấu ấn của Ngũ hành thì cũng có dấu ấn của Hà Đồ: "Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tác chi" . Theo truyền thuyết và cách chú giải của Khổng An Quốc thời Tây Hán thì cội nguồn của Kinh Dịch gồm cả Hy Dịch và Chu Dịch đều bắt đầu từ Hà Đồ: "Phục Hy tắc Hà Đồ hoạch quái".

Như vậy điều này đã chứng tỏ rằng:

2 - 1:

Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến sự vận động của vũ trụ liên quan đến địa cầu lý giải theo thuyết Âm Dương Ngũ hành và trên Hà Đồ phản ánh đầy đủ những yếu tố Âm Dương Ngũ hành.

2 - 2:

Hà Đồ là đồ hình căn bản của Bát quái dù hiểu theo sách Hán hay Việt:

* Văn minh Hán cho rằng: Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái (Hy Dịch).

* Văn minh Việt cho rằng Hà Đồ phối Hậu Thiên Bát quái.

Như vậy - nếu tạm thời gác lại tính đúng sai của hai quan niệm Hán Việt trên thì dù hiểu theo cách nào thì Hà Đồ chính là cơ sở của Bát quái - vốn là nội dung chủ yếu của Chu Dịch.

Điều này đủ cơ sở để chúng ta khẳng định răng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán qua biểu tượng của nó chính là đồ hình Hà Đồ. Đây là đồ hình nguyên lý căn để của Dịch với đầy đủ yếu tố Âm Dương Ngũ hành trên đó.

Bát quái dù được thể hiện dưới hình thức Tiên Thiên hay Hậu Thiên thì chính là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này. Như vậy, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc chứng tỏ tính nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành - qua đồ hình Hà Đồ liên hệ với thực tế Địa Cầu và Bát quái. Điều này cũng chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: Nền văn minh Hoa Hạ hoàn toàn không phải chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Chu Dịch. Những bản văn chữ Hán cổ còn lại chỉ là sự tiếp thu những mảnh vụn rời rạc một cách sai lệnh của nền văn hiến Việt một thời vàng son, huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Chính qua những bản văn đó cũng chỉ ra nền văn minh Hán không hề có tính kế thừa nội dung những tri thức Đông Phương và điều này giải thích sự bí ẩn của nền văn minh này trải hàng thiên niên kỷ cho đến ngày nay. Chỉ có nền văn hiến Lạc Việt, chủ nhân đích thực của những giá trị văn hiến huyền vĩ Đông phương - cho dù trải hàng ngàn năm bị đô hộ, hàng ngàn năm tiếp theo với những thăng trầm của lịch sử - Nhưng qua những di sản còn lại, mới có khả năng phục hồi lại những giá trị đích thực của tổ tiên.

Chu Dịch - một kỳ thư huyền vĩ của nền văn minh Đông phương đã làm cả thế giới kinh ngạc với bốn cuộc hội thảo do chính Liên Hiệp Quốc chủ trì - phải trả lại tên gọi nguyên thủy của nó chính là cuốn "Lạc Thư Chu Dịch". Tức là sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ. Nhưng chính cách hiểu sai của những nhà nghiên cứu Hán Nho cổ đại đã biến nó thành Lạc Thư là cơ sở của chu Dịch và Lạc Thư là đồ hình trên lưng con rùa thân nổi lên trên sông Lạc Thủy :) .

Nhưng ngay cả những luận điểm trên được cho là đúng – vì sự hợp lý và phù hợp với những tiêu chí cho một lý thuyết khoa học – thì đây cũng mới chứng tỏ được một yếu tố cần theo tiêu chí khoa học là tính nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chứ chưa phải là sự hoàn tất cuối cùng như bản thân lý thuyết đó đã từng tồn tại trên thực tế của nó. Đây sẽ chỉ là sự khởi đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp nối sẽ vô cùng đồ sộ, để tiến tới sự hoàn chỉnh như trên thực tế nó đã chứng tỏ qua hệ quả là những phương pháp ứng dụng ttrên nhiều lĩnh vực thuộc văn minh Đông phương: Phong Thủy, Tử Vi, Đông Y....

Nhưng trên cơ sở này, chúng ta mới có điều kiện để minh chứng thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm. Lý thuyết này giải thích từ sự khởi nguyên của vũ trụ, một siêu công thức lý giải từ những hạt vật chất cực nhỏ đến sự vận động của các thiên hà khổng lồ và mọi sự kiện bao quanh con người.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành với những di sản còn lại của nó sẽ miêu tả sự khởi nguyên của vũ trụ (Giây /0/ của vũ trụ) không như thuyết Bigbang miêu tả; mà tất cả những hiện tượng đã được kiểm chứng bằng khoa học thực nghiệm cho sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Bicbang sẽ được lý giải theo một nguyên lý khác của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Còn tiếp

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO.

Không phải bài viết.

Mục đích sử dụng:

- Từ năm 2004 - khi tiểu luận "Định Mệnh có thật hay không?" được viết lần đầu tiên - thì chính tạng kinh nổi tiếng của Phật Học - "Thần Chú phật đỉnh thủ lăng nghiêm" - được trích dẫn để minh chứng cho mối liên quan giữa tính Thấy - Thái Cục và bản thể khởi nguyên của vũ trụ. Tức là có trước nhiều năm so với cuộc hội thảo được miêu tả trong bài viết này.

- Giải mã "Sự tích cây nêu".

Thế giới quan của Vật lý học hiện đại và của Phật giáo

Nguồn: chungta.com

Đôi bờ sông Ngân

08:29' PM - Thứ năm, 26/06/2008

Cao Huy Thuần

Văn hóa Phật giáo

Ngày 29.5.2005, tại Phật đường Khuông Việt (Paris, Pháp) đã diễn ra buổi thảo luận bàn tròn, đề tài “Thế giới quan của Vật lý học hiện đại và Phật giáo”, gồm có khoảng 100 người tham dự. Thuyết trình viên là GS.TS Thiên văn học Nguyễn Quang Riệu, GS.TS Vật lý học Phạm Xuân Yêm, TS Vật lý và là nhà Phật học Nguyễn Tường Bách. Điều khiển chương trình là các GS.TS Cao Huy Thuần, Trịnh Đình Hỷ. Ý kiến của các nhà khoa học, Phật học và được trình bày một cách cởi mở. Nói cách khác, các nhà khoa học, Phật học đã trình diện ý kiến của mình. Trình diện để chia sẻ hiểu biết. Phải chăng đây là con đường đối thoại đúng đắn nhất mà chúng ta cần có hiện nay?

Tôi xin giới thiệu các thuyết trình viên. Anh Phạm Xuân Yêm, nhà vật lý học, giám đốc trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp CNRS, giáo sư vật lý tại đại học Paris 6. Tôi không kể tên các nghiên cứu của anh ra đây vì nhiều quá, bởi sách và các bài viết của anh thì có đến cả hàng trăm, viết cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Kể từ ngày Việt Nam mở cửa, Anh Yêm công tác thường xuyên tại các trung tâm nghiên cứu khoa học của Việt Nam. Tôi rất cảm động khi anh nói với tôi rằng anh đang học viết tiếng Việt. Tôi biết đó là một câu nói rất khiêm tốn và tôi biết chắc chắn rằng anh Yêm sẽ để lại cho chúng ta những tác phẩm bằng tiếng Việt rất hay sau khi đã viết cả hàng trăm tác phẩm bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.

Anh Nguyễn Quang Riệu là nhà thiên văn, giám đốc nghiên cứu CNRS, hiện đang công tác tại Observatoire de Paris. Anh nghiên cứu các thiên hà, đặc biệt là những thành phần lý hóa có khả năng dẫn đến sự hình thành của sự sống trong vũ trụ. Chỉ qua những tác phẩm của anh bằng tiếng Việt thôi, chúng ta cũng đã thấy được cái tài và cái tâm của anh. Tôi xin trích tên vài cuốn sách của anh viết bằng tiếng Việt: “Vũ trụ, phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại” (NXB Giáo dục, 1995), “Lang thang trên dải ngân hà” (NXB Văn hóa thông tin, 1997), “Sông Ngân khi tỏ khi mờ” (song ngữ, NXB Văn hóa thông tin, 1998), “Bầu trời tuổi thơ” (NXB Giáo dục, 2001)… Thực sự tôi không ngạc nhiên tí nào khi anh xuất bản nhiều sách như vậy, bởi vì ngắm nhìn vẻ đẹp tinh tú của bầu trời mà không thành triết gia, văn sĩ hay thi sĩ mới là chuyện lạ, huống hồ gì trên mặt trăng có một người rất đẹp và anh đã tha hồ thỏa thích ngắm nhìn suốt đêm.

Posted Image

Anh Nguyễn Tường Bách thì không có ‘người đẹp’ như thế mà lại quen tương chao, vậy mà anh viết hơi nhiều: “Đạo của vật lý” (biên dịch, NXB Trẻ, 1999), “Sư tử tuyết bờm xanh” (NXB TP. HCM, 1999), “Con đường mây trắng” (biên dịch, NXB Trẻ, 2000), “Đêm qua sân trước một cành mai” (NXB Trẻ, 2000), “Thiền trong nghệ thuật bắn cung” (biên dịch, NXB Trẻ, 2001), “Mùi hương trầm” (NXB Trẻ, 2001) - một cuốn sách rất được ưa thích tại Việt Nam, và cuốn sách liên quan đến buổi nói chuyện hôm nay, đó là cuốn “Lưới trời ai dệt?” (NXB Trẻ, 2004). Đó là chưa kể những cuốn sách viết chung, chẳng hạn như “Từ điển Phật học” (NXB Thuận Hóa, 1999)…

Posted Image

Sở dĩ tôi nói về sách và tiếng Việt nhiều ở đây là vì ba thuyết trình viên: một nhà thiên văn, một nhà vật lý và một nhà vật lý kiêm Phật học gặp nhau trên một hạnh phúc chung, hạnh phúc được diễn tả hoặc ao ước được diễn tả bằng tiếng Việt, nghĩa là được quay về lại với bầu trời tuổi thơ. Chừng đó đủ xui khiến cho ba anh gặp nhau, huống hồ các nhà khoa học vật lý, các nhà khoa học thiên văn đã và đang liếc mắt đưa tình về phía tâm linh của Đông phương từ nhiều năm trước đây. Cái liếc mắt đưa tình đó giữa khoa học vật lý và chân lý, đó là nội dung của cuộc nói chuyên hôm nay. Đó cũng là nội dung trong cuốn sách của anh Nguyễn Tường Bách. Và đó cũng là nguyên nhân trực tiếp của cuộc gặp gỡ này. Tôi xin đề nghị cách làm việc như thế này: tôi sẽ giới thiệu nhập đề, giải thích tại sao có buổi nói chuyện ngày hôm nay, tại sao có sự tương đồng sự gặp gỡ giữa khoa học vật lý và triết lý Phật giáo. Sau đó anh Bách sẽ trình bày luận đề về cuốn sách của anh. Nhưng trước tiên, anh Bách sẽ trình bày về những khám phá, những bước đi, những tiến bộ của khoa học vật lý. Bởi nếu anh nói ngay về Phật học thì buổi nói chuyện này sẽ mất tính khoa học. Sau đó, anh Phạm Xuân Yêm và anh Nguyễn Quang Riệu với tư cách những nhà khoa học sẽ nói về quan điểm của hai anh, về vấn đề khoa học vật lý, và chắc cũng có thể hai anh sẽ nói qua về sự tương đồng, vấn đề gần gũi giữa khoa học vật lý, khoa học thiên văn và một chút Phật giáo. Tiếp theo, anh Bách sẽ nói về vấn đề Phật giáo, những quan điểm của Phật giáo về vũ trụ như thế nào, sự tương quan, gần gũi như thế nào nào giữa những quan điểm đó với các khám phá mới nhất của khoa học vật lý. Sau đó sẽ là phần đối thoại, giữa các thuyết trình viên và người nghe, cũng như giữa các thuyết trình viên. Tôi rất mong phần đối thoại sẽ rất sinh động.

Tôi xin vào phần nhập đề, tại sao có việc các nhà khoa học vật lý, khoa học thiên văn ngồi nói chuyện với người có chuyên môn là Phật học hôm nay?

Trước hết, xin nói về anh Bách. Với hai kiến thức đạt được một cách sâu sắc về vật lý học và về Phật học, anh Nguyễn Tường Bách, trong quyển “Lưới Trời Ai Dệt”, đã làm một tổng hợp so sánh lý thú giữa sự phát triển của nhận thức về vũ trụ trong khoa học vật lý và vũ trụ quan của Phật giáo. Tôi nói “so sánh” đã là không đúng hoàn toàn với ý của tác giả rồi, bới vì anh Bách không hề làm cái việc vô nghĩa - và vô duyên - là thổi một hồi kèn chiến thắng cho “phe ta”: thấy chưa, các nhà khoa học vật lý đã gõ cửa tìm vào tòa nhà triết lý của Đông phương để thắp thêm ánh sáng cho những câu hỏi mới mà họ đặt ra trong đầu. Anh Bách chỉ làm mỗi một việc thôi là trình bày: đây, bước đi lần mò của khoa học từ Aristote để giải thích vũ trụ; đây, lý thuyết của Phật giáo, xưa 25 thế kỷ rồi mà nay hầu như mới. Anh Bách không đánh giá đúng sai. Đánh giá là công việc của độc giả.

Nhưng, tất nhiên, anh Bách không thể nào chế ngự được sự kinh ngạc của anh - nếu không thì anh đã không viết sách! - trước sự phong phú, tinh vi, nhất quán, rành mạch, chi ly một cách kỳ lạ trong giải đáp của Phật giáo. Anh tránh chủ quan, nhưng, khi viết về lịch sử khoa học vật lý, anh không thể khách quan hơn chính các nhà khoa học vĩ đại đã làm nên khoa học vật lý. Có nhà vật lý học vĩ đại nào không mang một câu hỏi triết lý ở trong đầu về vật chất, về vũ trụ? Có bao nhiêu nhà vật lý trứ danh mà chẳng đồng thời là triết gia? Câu hỏi của Kepler: “do đâu mà ta có khả năng “thiêng liêng” là nhận thức được thế giới?”, chẳng phải là câu hỏi chung của các nhà vật lý trứ danh sao? Max Planck có bao giờ giấu giếm mình có một tâm hồn tôn giáo sâu sắc ? Và Einstein có ngại ngần gì thốt ra những câu thán phục Phật giáo? Tách ra khỏi tôn giáo và thần quyền để trưởng thành, khoa học vật lý dường như bao giờ cũng trường tương tư với triết lý và tính thiêng liêng. Tương tư thì tìm đến nhau. Do đó, khi chúng tôi tìm đến anh Nguyễn Quang Riệu và anh Phạm Xuân Yêm thì hai anh không ngoảnh mặt làm thinh. Kết quả là buổi gặp gỡ “tiền định” hôm nay mà tôi muốn nói một cách tình tứ hơn là một buổi dạm mặt. Một buổi dạm mặt để hai trẻ tìm hiểu nhau. Nhưng đây là hai trẻ thiên thu tìm hiểu nhau mà không bao giờ đi đến hôn phối. Anh Nguyễn Quang Riệu là nhà thiên văn, nên anh đã nói trước: tôi ở bên này sông Ngân, anh ở bên kia; giữa hai bên sẽ không có con quạ nào bắc cầu Ô Thước cả. Anh đến đây với chúng tôi, với chúng ta, như một nhà khoa học. Đó cũng là thái độ của anh Phạm Xuân Yêm. Và đó là thái độ đúng đắn nhất. Khoa học cứ là khoa học. Tôn giáo cứ là tôn giáo.

Thế nhưng, lại có chút kỳ lạ. Phật giáo không phải là tôn giáo theo như nghĩa mà Tây phương gán cho tôn giáo, nghĩa là có siêu việt, có tín điều, có Thượng đế, có sức nặng chủ lực của lòng tin. Phật giáo đặt nặng trên kinh nghiệm, trên chứng ngộ của bản thân, không có tín điều. Thái độ của Phật giáo không đi ngược với khoa học. Đó là một mặt. Mặt khác, khoa học thay đổi cách nhìn và đặt lại vấn đề phương pháp. Cách nhìn mới khiến khoa học tiếp cận với tính thiêng liêng một cách ích lợi hơn. Đây là mấu chốt của vấn đề đặt ra hôm nay, bởi vậy tôi xin phép 5 phút nữa để ... bây giờ mới bắt đầu nhập đề.

Tôi xin bắt đầu với Thomas Kuhn và khái niệm paradigme (mà tôi dịch là “mô thức”) của ông. Kuhn là nhà sử học về khoa học, người Mỹ. Trong quyển sách của ông, “Structures des révolutions scientifiques” (Flamarion.1972), ông luận thuyết rằng lịch sử của khoa học không phải chỉ là một chuỗi thâu thập những kiến thức, đi từ một điểm trong quá khứ, lúc mà khoa học còn nghèo nàn, đến một điểm trong tương lai, lúc mà khoa học giàu có, phong phú hơn. Không loại bỏ tầm quan trọng của vốn liếng thâu thập trong thời gian, Kuhn đặt nặng cách nhìn trên những cách mạng khoa học diễn ra trong từng giai đoạn. Trong những giai đoạn cách mạng đó, khoa học thay đổi mô thức. Mô thức, nói cho gọn, là những khung nhận thức, những không gian ý nghĩa, những bối cảnh ý thức hệ giúp ta hiểu được những thực tiễn và những cách diễn dịch khoa học. Khi có một thay đổi mô thức, khoa học đặt lại vấn đề đối tượng nghiên cứu của mình, phương pháp tìm hiểu của mình, toàn bộ những khái niệm mà mình đã dùng vv... Lý thuyết của Kuhn chia rẽ nội bộ giới khoa học gia. Người thì cho là phong phú, sáng tạo ; người thì bỉu môi : tiến bộ khoa học lúc nào chẳng thế, có khi nhanh khi chậm, khi vượt bực, nhảy vọt. Riêng tôi, tôi chỉ giữ một ý này thôi : những cách mạng mô thức là những giai đoạn mà những chất vấn kiểu tri thức luận (épistémologique) và triết lý được đặt ra một cách bức xúc nhất. Đó là giai đoạn hiện tại ở Tây phương, từ mấy chục năm gần đây. Khái niệm “mô thức khoa học mới” (“nouveaux paradigmes scientifiques”) đã thành ra thông dụng.

Thế thì, giữa các phong trào tôn giáo mới ở Âu châu và những mô thức khoa học mới đó có liên hệ gì không ? Nhiều lắm. Mà một trong những liên hệ cơ bản là cùng đặt lại một cách rốt ráo luận lý của Aristote và cùng lấy nghịch lý (paradoxe) làm con đường đi đến hiểu biết.

Luận lý của Aristote dựa trên 3 nguyên tắc :

- Nguyên tắc đồng nhất : A là A

- Nguyên tắc bất đối kháng : A không phải là phi-A. Một vật không thể vừa là nó vừa không phải là nó.

- Nguyên tắc loại trừ vế thứ ba : bất cứ vật nào cũng phải bắt buộc hoặc là được công nhận, hoặc là phủ nhận : X là A hoặc phi-A.

Nhận thức của khoa học đặt trên luận lý đó của Aristote. Đó là căn bản luận lý của Tây phương. Trên căn bản đó, tư tưởng Tây phương là tư tưởng nhị nguyên, nhìn cái gì cũng chẻ làm hai : chủ thể-khách thể, vật chất-tinh thần, tâm-vật, một-tất cả, Thương đế-nhân loại, thiên đường-địa ngục, tôi-người khác

Luận lý của Phật giáo không phải như vậy. A vừa là A vừa là phi-A. Luận lý của Phật giáo chống lại nhị nguyên, và cả rừng kinh điển của Phật giáo chung quy cũng chỉ nhắm vào một chuyện thôi là vượt lên trên có và không. Tôi nghe quần chúng thường nói đùa: nói zậy mà không phải zậy. Quần chúng đọc kinh Kim Cương mà không biết đó thôi. Mọi tư tưởng, mọi ý nghĩ, mọi lời nói của chúng ta để là như vậy cả, kể cả câu nói xác quyết nhất mà cả người nói lẫn người nghe đều nghĩ là chắc như đinh đóng gỗ lim: “anh yêu em”; “em yêu anh”. Coi chừng! Nói zậy mà không phải zậy. A là A mà cũng là phi-A. Nhưng kinh Kim Cương đâu phải ngừng ngang đó ! A là phi-A và đó là lý do tại sao Phật nói A. “Tu Bồ Đề, tại sao như vậy? Bởi vì bát nhã ba la mật đa thì Như Lai nói là phi - Bát nhã ba la mật đa, thế nên Như Lai lại nói là Bát nhã ba la mật đa”. Phi không phải là không, là non. Phi là siêu việt, siêu việt khái niệm và diễn tả. Khi nói A thì lập tức Phật phá ngay cái chấp vào A. Phi như thế là thấy biết như thật. Cho nên thấy biết gì cũng phải đồng thời là phi thì mới thấy biết thật. Cho nên em cũng đừng lo. Anh không nói dối em đâu, nhưng ngôn ngữ nó dối em và dối cả anh, bởi vì nó bất lực, không bao giờ diễn tả đúng ý nghĩ trong đầu anh. Anh nói ra, đã không đúng rồi, làm sao em hiểu đúng được ? Huống hồ em nghe tiếng “yêu” như em muốn, đâu phải nghe tiếng “yêu” nơi miệng anh ? Anh nói “anh yêu em” trăm bận đến nghìn lần, nhưng có bao giờ chữ “yêu” này giống với chữ “yêu” kia đâu? Anh nói với em một ngàn chữ “yêu” thì có một ngàn cái “yêu”, không cái nào giống cái nào, tùy tâm trạng của anh mỗi lúc, tùy buổi sáng mùa xuân hay buổi chiều mùa đông, tùy anh ôm em trong tay hay nghĩ đến em trong một bức thư, tùy em đang rúc rích cười hay em đang hờn dỗi. Không có “yêu” nào giống “yêu” nào, thì làm gì có “yêu”? Nói có, thì cũng được. Nói không, chẳng sai. Mà chắc là không. Chính từ trong không đó, bỗng nhiên … “có một dạo em ngồi xa anh quá , anh bảo em ngồi xích lại gần đây”, bỗng nhiên tôi thốt ra “anh yêu em”. Đó là “yêu” thốt ra lần đầu. Thốt ra là đã sai rồi, bởi vì ngay sau đó, sau khi xích lại gần nhau, sau khi được hôn em một cái, tôi lại nói “anh yêu em”, thì… ce n’est plus la même chose - hai chữ “yêu” không nói cùng một sự việc!

Con mèo của Schrödinger, nó vừa sống vừa chết. Xin nói rõ thêm đây là nghịch lý mà nhà bác học Schrödinger đã chứng minh trong thí nghiệm nổi tiếng của ông.

Tôi động đến kinh Kim Cương là vì thế. Vì “cách mạng lượng tử” trong khoa học vật lý đem ta đến gần luận lý đó. Tôi mù tịt vật lý học, nên rất khó khăn để hiểu Max Planck, Einstein, Bohr và trường phái Copenhague, nhưng tôi cũng hiểu sơ sơ rằng môn khoa học mới về cái vô cùng bé này không những đổi mới tri thức về vật chất mà còn đổi mới một cách cơ bản cách giải thích về vật chất. Trường phái Copenhague làm ta choáng váng trước sự khó khăn của ngôn ngữ để mô tả và diễn dịch những cái nghịch lý , những cái “điên rồ” mà người ta khám phá trong cái thế giới cực nhỏ hạ nguyên tử đó. Luận lý Aristote, qua nguyên tắc loại trừ vế thứ ba, không diễn dịch được tính đồng thời giữa những khía cạnh sóng và những khía cạnh hạt của vật chật : chúng vừa là sóng vừa đồng thời là hạt. Cũng khó diễn dịch qua ngôn ngữ thông thường sự “ phản vật chất” của vật chất (la “déchosiphication” de la matière), khó mô tả cái khám phá kỳ lạ “nền tảng của vật chất không phải là vật chất” (“les fondements de la matière ne sont pas matériels”).

Đàng sau những khó khăn của cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, chính là cả một khủng hoảng của triết lý mà ta đang chứng kiến. Thuyết định mệnh, thuyết duy vật cơ giới, thuyết nhị nguyên bị đặt lại vấn đề từ cơ bản ; từ đó sinh ra những khái niệm mới vượt lên trên những quan niệm cũ. Hầu hết những người khai phá ra cơ học lượng tử cũng vừa là triết gia, có khi là nhà siêu hình học. Cách mạng khoa học mà họ mở đường đưa họ vào triết lý Đông phương, xem đó là nơi có thể giải đáp thắc mắc của họ. Bohr du nhập thuyết âm dương, Erwin Shrödinger viết “Vệ Đà của một nhà vật lý”, David Bohm đối thoại với Krishnamurti, Fritjof Capra xuất bản “Đạo của vật lý” mà Nguyễn Tường Bách đã dịch năm 1999. Tôi xin trích một đoạn :

“Vật lý học hiện đại xác nhận một cách kỳ lạ một trong những ý tưởng cơ bản của đạo giáo Đông phương : tất cả mọi khái niệm mà ta dùng để mô tả thiên nhiên đều bị giới hạn ; đó không phải là những đặc tính của thực tại như ta đã từng có khuynh hướng tin tưởng, mà chỉ là những sáng tạo của trí óc, chỉ là cái bản đồ chứ không phải sông núi đất đai. Cứ mỗi lần ta nới rộng lĩnh vực của kinh nghiệm, những giới hạn của tư tưởng thuần lý trở thành hiển nhiên và ta phải thay đổi, có khi phải từ bỏ, một vài khái niệm mà ta có”.

Thế thì, ai dám bảo sông Ngân không có quạ bắc cầu ?

[(*) PV ghi, tựa bài do VHPG đặt]

Kỳ tới: Khi vật lý gõ cửa bản thể học

Nguồn: Văn hóa Phật giáo

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO.

Không phải bài viết.

Mục đích sử dụng:

Các quan niệm về khởi nguyên vũ trụ - lý thuyết thống nhất và sự bao trùm lên các lĩnh vực liên quan.

- Phản biện và minh chứng.

Tôn giáo trước ngưỡng cửa khoa học

02:25' PM - Thứ ba, 02/01/2007

Đức Phường

Tạp chí Tia Sáng

Thuyết Sáng thế và Vũ trụ học không đơn thuần chỉ là quá trình tiến hóa sinh học đã đặt ra những thách thức trong quan điểm Thiên chúa giáo truyền thống. Những hiểu biết khoa học về quá trình tiến hóa của vũ trụ đã làm suy giảm đức tin tâm linh của con người.

Trong cuốn sách về sự sáng thế, Chúa đã tạo dựng nên toàn cõi vũ trụ trong vòng sáu ngày. Nhưng theo các nhà vũ trụ học ngày nay thì vũ trụ bắt đầu từ một “vụ nổ” và thường được ví von với thuật ngữ “Vụ Nổ Lớn-Big Bang”. Sau hàng tỷ năm, các ngôi sao và thiên hà bắt đầu hình thành. Giống như Darwin đã giả thuyết, tiến hóa của sự sống là một quá trình đều đặn, chậm rãi và lâu dài. Bởi vậy, các nhà vũ trụ học cũng tin rằng, vũ trụ của chúng ta cũng trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài và chậm chạp như thế.

Nhưng giả thuyết và phương thức giải quyết vấn đề của Kinh Thánh và Khoa học lại không tương thích với nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là cả hai đều gợi ý rằng, vũ trụ bắt đầu từ hư không trong một khoảng thời gian hữu hạn ở quá khứ. Quả thực, rất nhiều đức tin tôn giáo hiện thời coi lý thuyết Vụ Nổ Lớn như là một lời khẳng định ý niệm của Chúa về sự tạo thành vũ trụ. Thật là thú vị khi bằng chứng đầu tiên của lý thuyết Vụ Nổ Lớn được khám phá vào năm 1929 bởi nhà thiên văn người Mỹ Edwin Hubble. Các quan sát của Hubble chỉ ra rằng vũ trụ đang giãn nở. Rất nhiều nhà khoa học đã bác bỏ ý kiến này, bởi theo họ, nó mang thoang thoảng hương vị của tôn giáo. Nếu vũ trụ có một khởi đầu thì phải có một Đấng tạo hóa. Đó là một điều phản khoa học. Quan điểm thịnh hành ở thời điểm đó cho rằng, vũ trụ trong trạng thái tồn tại vĩnh hằng, và do đó, không có khởi điểm.

Khám phá của Hubble về sự giãn nở của vũ trụ đã đặt dấu chấm hết cho một vũ trụ tĩnh không thay đổi theo thời gian, đồng thời nó cũng đưa chúng ta tới một sự ngoại suy rằng, vũ trụ có một thời khắc khởi đầu xác định trong quá khứ. Hơn nữa, quan niệm này đã củng cố cho thuyết tương đối rộng của Einstein, mà ở đó, nó đưa ra một loạt các phương trình đẹp đẽ miêu tả cách thức mà vũ trụ xuất hiện từ hư không. Một số các nhà khoa học ngày nay đã giành lại thế thượng phong để tranh luận rằng, thuyết Vụ Nổ Lớn minh chứng vũ trụ xuất hiện từ những quá trình tự nhiên thuần túy mà không cần có sự can thiệp bởi một sức mạnh siêu nhiên nào.

Quan niệm này được diễn tả rành rọt bởi nhà vật lý người Anh Stephen Hawking. Trong cuốn sách bán chạy nhất thế giới của ông “Lược sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng, nếu lý thuyết vũ trụ hiện tại là đúng thì sự tạo thành của vũ trụ hoàn toàn có thể giải thích được bằng các định luật vật lý thuần tuý. Trong tình huống như thế, Hawking đặt ra câu hỏi, cái gì đóng vai trò cho một Đấng sáng tạo?

Trong khi Hawking nhìn nhận khoa học như một sự lột tả bức tranh của Chúa thì cũng có nhiều nhà khoa học mang những quan niệm khác nhau. Chẳng hạn, nhà vật lý Paul Davies đã diễn tả rằng, vẻ đẹp và trật tự của các định luật vật lý đã gợi mở một vài điều còn ẩn sau chính những định luật đó, một vài điều bắt nguồn từ vẻ đẹp của toán học và trật tự của vũ trụ. Tương tự như vậy, nhà vật lý John Polkinghorn và John Barrow tin vào sự cân bằng tinh tế đáng kinh ngạc của trật tự toán học cho phép mô tả vũ trụ. Điều đó ngụ ý rằng, có một tác động trí tuệ nào đó có trách nhiệm cho chính sự tinh tế này. Chính Stephen Hawking đã liên hệ Chúa với các định luật vật lý. Đặc biệt, Hawking và Davies đã gán Chúa với cái gọi là “Lý thuyết của vạn vật”- Một lý thuyết đơn lẻ mà các nhà vật lý hy vọng một ngày nào đó nó sẽ thống nhất được cả thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử, bởi vậy có thể mang toàn bộ vũ trụ vào trong một cái bóng lớn đầy hiệu lực của toán học. Lý thuyết này là mục tiêu lớn nhất mà các nhà vật lý lý thuyết đương đại muốn vươn tới. Đây cũng là cái mà Hawking ám chỉ là “ý niệm của Chúa”. Tuy nhiên, vươn xa hơn các ngành khác, vũ trụ học là trường hợp mà bạn có thể hoặc không thể nhìn thấy Chúa phản ánh trong bức tranh. Và cuối cùng, khoa học hoặc không làm sáng tỏ hoặc không bác bỏ sự tồn tại của Chúa.

Đi tìm cội nguồn của vũ trụ

Ý tưởng cho rằng vũ trụ có một bắt đầu lần đầu tiên được tiên đoán bởi thuyết tương đối rộng của Einstein vào năm 1916. Các phương trình Einstein miêu tả cấu trúc của không gian và thời gian đã ám chỉ rằng, vũ trụ không phải là tĩnh, và nó phải giãn nở theo thời gian. Cả Einstein và các nhà vật lý khác đã sớm nhận ra hệ quả tất yếu này. Nhưng hầu hết các nhà vật lý thời đó đều có một niềm tin vững chắc vào một vũ trụ tĩnh tại. Chính Einstein cũng bị thống trị bởi cách suy nghĩ này hơn là chấp nhận hệ quả mà phương trình của ông đưa ra, để rồi buộc ông phải thêm vào phương trình vốn dĩ rất đẹp một thuật ngữ xa lạ để làm sao phương trình đó miêu tả một vũ trụ tĩnh. Sau khi các quan sát của Hubble về sự lùi xa của các thiên hà cho thấy vũ trụ đang giãn nở thì Einstein mới thừa nhận “đó là sai lầm lớn nhất của đời tôi”. Ông đã bỏ lỡ cơ hội mà chắc chắn đó là tiên đoán vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học.

Một trong những người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự giãn nở và nguồn gốc của vũ trụ là một cha cố người Bỉ George Lemaitre. Ông gợi ý rằng, vũ trụ bắt đầu từ cái gọi là “nguyên tử khổng lồ”. Trong kịch bản của ông về sự tiến hóa của vũ trụ thì siêu nguyên tử này sau đó bị vỡ ra thành nhiều mảnh nhỏ, dần dần tạo ra các nguyên tử, các hạt mà sau đó là những viên gạch kiến tạo nên toàn bộ vũ trụ. Các nhà vật lý đã không chấp nhận ý tưởng về “nguyên tử khổng lồ” của Lemaitre. Nhưng họ cũng lần theo ý tưởng đó để suy đoán về sự bắt đầu của vũ trụ từ một điểm vật chất đặc và nhỏ, sau đó giãn nở và tạo nên vô vàn các cấu trúc trong vũ trụ mà chúng ta có thể quan sát thấy ngày nay. Cha cố Lemaitre hoạt động nghề nghiệp vinh quang như một nhà vũ trụ học, và trong nhiều năm ông cũng là lãnh đạo của Viện Hàn lâm Giám mục của khoa học nằm trang trọng trong khuôn viên của Vatican.

Chúa của Stephen Hawking

Trong cuốn sách “Lược sử thời gian”, nhà vật lý Stephen Hawking đã tuyên bố rằng, khi một nhà vật lý tìm ra một lý thuyết, anh ta và các đồng nghiệp đang tìm kiếm cái gọi là “Lý thuyết của vạn vật”- sau đó họ sẽ nhìn vào “Ý niệm của Chúa”. Hawking là nhà vật lý duy nhất gán Chúa với các định luật vật lý. Nhà khoa học đoạt giải Nobel, Leon Lederman, đã tạo ra mối liên kết giữa Chúa và các hạt hạ nguyên tử được gọi là các boson Higgs. Lederman đã gợi ý rằng, khi các nhà vật lý tìm ra các hạt đó trong các máy gia tốc của họ, nó cũng giống như việc nhìn thấy khuôn mặt của Chúa. Nhưng các dạng nào của Chúa mà các nhà vật lý muốn nói đến?

Nhà vật lý đoạt giải Nobel Steven Weinberg diễn tả rằng, thực tế không có Chúa nào hết. Weinberg lưu ý rằng, theo cách hiểu truyền thống, “Chúa” có nghĩa là một cá nhân cụ thể. Nhưng đó không phải là điều mà Hawking và Lederman có ý nói đến. Ông nói, Chúa của họ thực ra chỉ là một nguyên lý trừu tượng của trật tự và sự hài hoà, một tập hợp các phương trình toán học. Weinberg sau đó đặt câu hỏi, “Tại sao họ lại sử dụng thuật ngữ “chúa”?”. Ông đã tạo ra một quan điểm khá sâu sắc rằng, “nếu một ngôn từ có bất cứ ý nghĩa gì đối với chúng ta thì chúng ta hãy cố gắng gìn giữ ý nghĩa của ngôn từ ấy, và “Chúa” xét về mặt lịch sử không có nghĩa là các định luật của tự nhiên”. Câu hỏi “Chúa” là gì đã đánh nặng các nhà thần học trong suốt hàng nghìn năm. Những điều mà Weinberg nhắc nhở chúng ta là phải thận trọng với những khái niệm chế tác.

Chúa và thời gian

Cũng trong cuốn “Lược sử thời gian”, Hawking đã chỉ ra rằng, nếu mô hình về một vũ trụ không có biên là đúng thì không cần phải viện đến một Đấng sáng tạo. Mô hình này giả thiết rằng, không cần một thời khắc chính xác cho sự bắt đầu của vũ trụ, bởi vì không có thời khắc xác định nào khi thời gian bắt đầu. Lý thuyết Vụ Nổ Lớn nói rằng, vụ nổ xảy ra ở tất cả mọi điểm trong không gian và là bắt đầu của thời gian. Bởi vì điều mà Hawking đã tuyên bố là không có vai trò nào cho một Đấng sáng tạo. Trong mô hình của ông, đại lượng được gọi là thời gian được nảy sinh ra từ một dạng của rối lượng tử, trong đó có một thành phần ảo của thời gian, tối thiểu ở những thời khắc ban đầu của Vụ Nổ Lớn. Nó có một ý nghĩa toán học chính xác liên hệ với cái gọi là số phức. Những tình tiết của thời gian ảo này thực ra không quan trọng. Theo Hawking, vũ trụ không bắt đầu trong thời gian mà chính thời gian bắt đầu cùng với vũ trụ.

Nhưng nếu Hawking nhìn nhận vấn đề này như một sự tranh luận chống lại một đấng sáng tạo thì nhà vật lý đồng thời cũng là nhà thần học Robert Russell lại có ý kiến khác. Russell chỉ ra rằng, ý kiến của Hawking cũng khá tương tự như ý kiến được đưa ra hơn 1500 năm trước bởi một nhà thần học Thiên chúa giáo nổi tiếng. Augustine cũng tuyên bố vũ trụ không sinh ra trong thời gian, đúng hơn là cùng với thời gian. Như Russel nhận xét, đây là một ví dụ đẹp, nơi mà các học thuyết thần học kinh điển và khoa học đương đại khá tương đồng. Ông nói, “Nếu bạn mang trong mình một bức tranh đầy thú vị về hai nền văn hoá khác nhau, nhưng có thể đặt ra cùng một câu hỏi cho cả hai nền văn hoá đó, và hơn nữa, sẽ có cùng một câu trả lời được đưa ra”. Những điều chỉ cho chúng ta, như Russell nói, đó là “Trên phương diện thần học, Hawking thực sự là một người đồng minh của chúng ta bởi vì ông ta đã nói cho chúng ta ý niệm về một vũ trụ hữu hạn như là sự sáng tạo của Chúa được duy trì, cho dù vũ trụ đó có điểm khởi đầu hay không”.

Lý thuyết của vạn vật

Chúng ta đã tìm đến một thời điểm phi thường trong lịch sử khoa học. Một số nhà vật lý tin rằng, họ đang tiệm cận đến một lý thuyết duy nhất có thể kết hợp được tất cả các khoa học dưới một cái bóng quyền lực của toán học. Đặc biệt, lý thuyết này có thể thống nhất được hai pháo đài vĩ đại nhất của nền vật lý thế kỷ 20: thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử. Thuyết tương đối rộng miêu tả thế giới ở thang đo vĩ mô như những cấu trúc của vũ trụ, trong khi cơ học lượng tử lại miêu tả mọi hành xử của vật chất ở thang vi mô, trong thế giới hạt nguyên tử. Việc thống nhất cả hai lý thuyết này cho phép giải thích một cách toàn vẹn và chính xác về toàn bộ thế giới. Một lý thuyết như thế được ví von như là “Lý thuyết của vạn vật”.

Đặc biệt, lý thuyết này sẽ thống nhất được tất cả các tương tác cơ bản vốn điều hành mọi hành xử của vũ trụ. Các nhà vật lý đã tìm ra tất cả bốn tương tác cơ bản trong tự nhiên: tương tác hấp dẫn giữ cho các hành tinh quay xung quanh Mặt trời và đóng vai trò cốt yếu trong sự hình thành các sao và thiên hà trong vũ trụ. Tương tác điện từ giữ cho các electron chuyển động xung quanh hạt nhân nguyên tử và liên kết các nguyên tử với nhau. Tương tác hạt nhân yếu có tác dụng bên trong hạt nhân nguyên tử và gây ra các phân rã phóng xạ. Và cuối cùng, tương tác hạt nhân mạnh có vai trò liên kết các proton và notron trong nguyên tử với nhau, và như vậy, rất cần thiết cho sự ổn định của vật chất. Ở thời điểm này, các nhà vật lý đã xây dựng thành công từng lý thuyết riêng biệt cho mỗi loại tương tác, nhưng mục đích cuối cùng mà họ muốn đạt được là xây dựng một lý thuyết thống nhất được tất cả các tương tác trên. Mục tiêu trên phần nào đã có những tiến triển lạc quan, bởi vì hiện tại họ đã thống nhất được tương tác điện từ và tương tác yếu thành tương tác điện yếu. Nhưng quả thật, việc thống nhất cả bốn tương tác trên là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Dù sao các nhà vật lý đều rất tự tin rằng, trong một vài thập kỷ tới họ có thể hoàn thành được sứ mạng cao cả đó.

Nhà vật lý lý thuyết Steven Weinber, người đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất thành công lý thuyết điện yếu và đoạt giải Nobel cùng với hai đồng nghiệp Abdus Salam và Sheldon Glashow, đã gọi lý thuyết thống nhất cả bốn tương tác trên là một “lý thuyết tối hậu”. Ông và nhiều nhà vật lý khác phát biểu, khi các nhà vật lý tìm ra được lý thuyết này thì nền vật lý sẽ đặt hồi chuông cáo chung. Ngày nay, vũ trụ được mô tả bởi tập hợp các phương trình hoặc chỉ một phương trình. Nhưng vẫn còn lại câu hỏi là, các phương trình đó thực chất là gì?

Mang cho vũ trụ một ý nghĩa

Weinberg từng viết “Chúng ta càng hiểu vũ trụ bao nhiêu, thì dường như nó càng trở nên vô nghĩa bấy nhiêu”. Đối lập với cách nhìn nhận lạnh lùng của Weinberg, nhà sinh học Australia Charles Birch, một trong những người sáng lập nên sinh thái học hiện đại, lại tìm thấy vũ trụ có một ý nghĩa nào đó khi ông coi mình như là một phần cố hữu của vũ trụ.

Tương tự như vậy, vị linh mục và cũng là một nhà thiên văn George Coyne đã phát biểu rằng, vũ trụ tự nó đã có một mục đích và một ý nghĩa đầy đủ. Ông chỉ ra rằng, đối với tất cả những thành tựu vĩ đại của khoa học, nó không cần thiết phải là một bãi chiến trường để chỉ cho chúng ta quan điểm hoặc là cuộc đời của mỗi chúng ta hoặc vũ trụ là tất cả. Nhiệm vụ đó ngoài khả năng của khoa học. Thay vì thế, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh nghiệm thường ngày và ngay tại thế giới này. Ông giải thích, “Với tất cả kinh nghiệm của con người, tôi nghĩ, có thể nói với chúng ta một điều rằng, có một ý nghĩa cho điều đó. Khi tôi nắm bàn tay lạnh lẽo của một người bạn vừa lìa xa cõi đời, và nhìn thấy một diễn tả về sự hy vọng và niềm vui sướng trong đôi mắt của người bạn đó, thậm chí ngay ở thời khắc của sự chết đến. Tôi có thể nhìn thấy ý nghĩa cho sự tồn tại mà điều này vượt ra ngoài những phát minh khoa học”

Thú vị thay, Weinberg lại tán thành với quan điểm của Cha cố Coyne, mặc dù ông tin tưởng rằng, khoa học đang vẽ lên bức tranh về một vũ trụ vô nghĩa, lạnh lùng và dửng dưng. Ông cũng tuyên bố mạnh mẽ rằng, chúng ta, những con người, đang mang cho vũ trụ một ý nghĩa và một mục đích thông qua cách mà chúng ta đối xử với nhau trong cuộc sống, bởi tình yêu thương đối với tha nhân, bởi khám phá những điều bí mật còn chôn dấu trong tự nhiên, bởi làm việc và sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta không phải là những ngôi sao trong vở kịch vĩ đại của vũ trụ, nhưng chúng ta buộc phải đối mặt với một vũ trụ thờ ơ vô cảm và không có tình yêu. Tuy nhiên, chúng ta lại mất khả năng sáng tạo nên chính bản thân mỗi chúng ta, một ốc đảo nhỏ của sự ấm áp, tình yêu và cả trong đó là khoa học và nghệ thuật. Đó là một tuyên bố nhân văn sâu sắc từ một con người với cách nhìn lạnh lùng dường như là vô cảm. Tuy vậy, điều gì là ngạc nhiên nhất? Đó chính là một nhà khoa học vô thần thẳng thắn đã diễn tả một quan niệm không tương đồng với quan điểm của những tông đồ tôn giáo.

Điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo

Khác biệt với quan điểm của Thiên chúa giáo, Phật giáo lại có nhiều điểm tương đồng với nền khoa học đương đại. Trong đạo Phật, Đức Phật đã đưa ra thuyết Vô thường và Duyên khởi, tức là vạn vật hiện hữu trong thế giới luôn vận động và biến đổi. Vạn vật khi hội đủ duyên thì được sinh ra, hết duyên thì hoại diệt. Không có gì hiện hữu tự thân, một vật chỉ có thể tồn tại và ghi nhận trong tổng hoà các quan hệ với các đối tượng khác trong thế giới thực tại. Các học thuyết khoa học đương đại đã minh chứng cho quan điểm này của Phật giáo. Bất cứ một đời sống nào trong vũ trụ này đều trải qua bốn giai đoạn “sinh, lão, bệnh, tử”. Và để sinh vật đạt đến một đời sống trí tuệ lại phải trải qua một chuỗi các tiến hoá. Ngay cả với vũ trụ, thông qua một loạt các biến cố từ Vụ Nổ Lớn đến vũ trụ giãn nở, và hình thành nên các cấu trúc vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy ngày nay. Cả chúng ta nữa, những đời sống trí tuệ biết thưởng thức vẻ đẹp cùng sự hài hoà của vũ trụ và có thể đặt những câu hỏi về vũ trụ. Tất cả đều có một đời sống và một lịch sử. Hơn thế nữa, ý niệm về tánh không trong Phật giáo tương ứng với lưỡng tính sóng hạt trong cơ học lượng tử. Cũng nhờ ý niệm về duyên khởi và tánh không mà Phật giáo không chấp nhận ý niệm về Đấng sáng tạo.

Có chăng, điều khác nhau giữa khoa học và Phật giáo là phương thức tiếp cận đối tượng của chủ thể quan sát trong thế giới thực tại. Khoa học xây dựng các quy luật của thế giới thực tại bằng một hệ thống cấu trúc toán học chặt chẽ và kiểm chứng thông qua các khí cụ khoa học. Còn trong Phật giáo, phương pháp chính là quán tưởng và công cụ là tâm. Einstein từng phát biểu: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Nó sẽ phải vượt qua một vị Thượng Đế có nhân trạng và tránh xa những học thuyết lẫn giáo điều. Bao gồm cả khoa học tự nhiên và tâm linh, nó sẽ phải được đặt căn bản trên một ý thức tôn giáo phát khởi từ cảm nghiệm về tất cả mọi sự vật, khoa học tự nhiên lẫn tâm linh, và đây được xem như một sự hợp nhất đầy ý nghĩa… Phật giáo là câu trả lời cho sự mô tả này… Nếu có bất kỳ một tôn giáo nào có thể đáp ứng được những nhu cầu của nền khoa học đương đại, thì đó chính là Phật giáo”.

Mối tương hỗ

Các nhà thiên văn đang cố gắng nhìn sâu hơn vào không gian và các nhà vũ trụ học có thể mở rộng các phương trình để mô tả nhiều hơn về vũ trụ, các nhà di truyền học tháo gỡ tất cả những bí mật của gene người và các nhà sinh học tiến hoá khám phá nhiều hơn nữa nguồn gốc và sự phát triển của cuộc sống. Tất cả họ đang cố gắng trả lời những những câu hỏi thần học hóc búa. Trong kỷ nguyên này của khoa học chúng ta có thể hỏi tôn giáo có vai trò gì? Khoa học và tôn giáo cùng tương hỗ cho nhau như thế nào?

Theo nhà vật lý và thần học Robert Russell - giám đốc Trung tâm Thần học và Khoa học tự nhiên ở Berkeley - thì, cả khoa học và thần học đều cần đến nhau. Mặc dù các nhà khoa học đang trả lời một lượng lớn các câu hỏi, nhưng lại nảy sinh ra những câu hỏi khác mà khoa học chưa thể làm sáng tỏ, và thường là những câu hỏi liên quan đến triết học và đạo đức: Tại sao lại có vũ trụ này? Vì sao chúng ta đi tìm kiếm trật tự của toán học trong thế giới xung quanh? Tại sao khoa học tự nó lại mang một ý nghĩa nào đó?...Theo Russell, những câu hỏi này muốn giải quyết được không chỉ cần các nhà khoa học mà phải có sự tham gia của các nhà triết học, nhà đạo đức học và thần học.

Mặt khác, Russell chỉ ra rằng, trong kỷ nguyên của khoa học hiện đại, các nhà thần học và những người có tín ngưỡng không đủ sức để lờ đi những gì đang tiếp diễn trong khoa học. Nhà triết học Thiên chúa giáo Nancey Murphy giải thích, nếu quan điểm của tôn giáo không liên hệ với một vũ trụ cụ thể mà khoa học mô tả thì nó rất dễ bị tàn lụi. Chúng ta cần tránh sự tách biệt của tôn giáo từ khoa học trong Thời kỳ Khai Sáng, thời kỳ ở Châu Âu thế kỷ 18, cho rằng chỉ có lý trí và tri thức của khoa học mới đưa loài người tiến bộ.

Theo Murphy, để tôn giáo duy trì được sức mạnh trong việc giảng dạy đạo đức thì họ phải nhìn một cách hài hoà trong sự thật của khoa học. Nếu bạn muốn ai đó tin vào những gì bạn nói trong những phạm trù đạo đức, bạn cần mang cho họ bức tranh về thế giới dựa trên những kinh nghiệm của chính bạn. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận những lý thuyết của khoa học.

Nguồn: Tạp chí Tia Sáng

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO.

Không phải bài viết.

Những thách đố cho khoa học

Cuộc tranh luận giữa những người theo phái Vô thần và phái Đấng sáng tạo

Nguyễn Tiến Vởn

Tạp chí Tia sáng

01:24' PM - Thứ năm, 07/12/2006

“Người biết về đạo không nói về đạo,

Người nói về đạo không biết về đạo”

Lão Tử

Theo tiêu chuẩn truyền thống, đúng hơn là kể từ Galileo và Darwin, những gì thuộc về khoa học thường là đối nghịch với tôn giáo và ngược lại. Tuy nhiên, vẫn không ít ý kiến cho rằng khoa học và tôn giáo không những không đối lập, ngược lại bổ sung và giải thích cho nhau. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều nhà khoa học dùng ngay chính những công trình khoa học của họ và tri thức khoa học của thời đại để bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình. Hiệp hội những nhà khoa học tin vào sự sáng tạo ra vũ trụ trong đó có nhân loại được thành lập bởi những nhà khoa học như vậy. Họ tự đặt tên cho ngành khoa học này là Khoa học về sự sáng tạo - một ngành khoa học mà cho đến lúc này trừ ở một số trường Dòng, nhà thờ Thiên chúa giáo, nó chưa được bất kỳ trường học công lập nào chấp nhận như là một môn học (chưa nói đến ngành học) chính thức. Những người ủng hộ trường phái Chúa sáng tạo này không đơn thuần chỉ là những tín đồ tôn giáo, họ còn là những nhà khoa học nghiêm túc thậm chí có nhiều người chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu của họ. Cho nên bên cạnh vấn đề tín ngưỡng tôn giáo, cuộc tranh luận này mang một sắc thái khoa học mà bất cứ ai có thái độ nghiêm túc, dân chủ trong nghiên cứu khoa học cũng không thể làm ngơ.

Những vấn đề chính mà các nhà Khoa học về sự sáng tạo dựa vào đó để chứng minh rằng: thế giới vũ trụ và bản thân con người là do Thượng đế sinh ra bao gồm: Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học, Đại hồng thủy, truyền thuyết hay sự thật, Chúng ta đang ở đâu trong vũ trụ? Bí hiểm của biểu tượng ngôn ngữ và vấn đề tồn tại khách quan.

Nguồn gốc sự sống và thuyết tiến hóa trong sinh học

“Sự sống trên trái đất sinh ra từ đâu là câu hỏi có lẽ xa xưa như chính lịch sử con người. Tín đồ Thiên chúa giáo đương nhiên tin rằng Chúa trời tạo ra sự sống trên trái đất. Các nhà khoa học vô thần không bao giờ tinvào một đấng Chúa trời mà con người không về nhìn thấy, mô tả và chứng minh là có được. Công cuộc tìm kiếm câu trả lời của khoa học được bắt dầu không muộn hơn thời Aristote, kéo dài đến ngày nay và chắc sẽ còn tiếp tục mãi.

Theo thuyết tiến hoá của Darwin, sự sống trên trái đất bắt đầu từ "sự không sống". Nói cách khác, vật chất sống (hữu cơ) được sinh ra từ sự tương tác ngẫu nhiên của vật chất vô cơ, là loại vật chất "không sống", hay vô sinh. Thoạt đầu, trên trái đất chỉ toàn chất vô cơ, không hề có mặt bất cứ vật chất hữu cơ nào, dù với cấu trúc hóa học đơn giản nhất. Các chất vô cơ ngẫu nhiên kếp hợp với nhau thành những phức hợp hoá học ngày càng phức tạp, rồi đến một thời điểm (khoảng 3, 4 tỉ năm trước đây) đại phân tư hữu cơ có chứa cả 4 nguyên tố, CO2 , H2, O2 và N2 - phân tử protein đầu tiên, ra đời. Với cấu trúc bậc 4, (cấu trúc không gian), chất protein có một khả năng đặc biệt mà chất vô cơ không có được: trao đổi chất. Sự sống đầu tiên hình thành. Với khả năng trao đổi chất, và sau hàng tỉ năm tiến hoá, chất protein trải qua một quá tnnh tự tổ chức đã hình thành một cơ thể hoàn chỉnh đầu tiên, gổm 1 tế bào sống, tương tự tế bào vi khuẩn mà ta biết hôm nay. Hàng tỉ năm nữa trôi qua, các cơ thể đơn bào phát triển thành cơ thể đa bào, rồi cứ thế, cùng với thời gian trôi qua, cơ thể sống ngày càng trở nên phức tạp tinh vi cho đến khi đạt được trình độ rất cao của quá trình tiến hoá thì Con Người ra đời. Từ lâu, học thuyết tiến hoá đã được coi là một mẫu mực khoa học dùng để giải thích hiện tượng khách quan và phổ biến đến mức hầu như bất kể một nơi nào trên thế giới ngày nay, một học sinh phổ thông trung học cũng đều hiều được nó, chí ít ở mức độ sơ 1ược nhất: sự sống bắt nguồn từ thế giới vô cơ.

Ngược với thuyết tiến hoá, các nhà theo thuyết sáng tạo cho rằng không thể có một sự tiến hoá ở bậc vĩ mô (tức toàn bộ sự sống). Và tất nhiên không thể có chuyện sự sống bắt đầu từ việc kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thế giới vô cơ. Những người này dựa vào các lập luận sau đây.

Thứ nhất, khả năng thế giới vô cơ ngẫu nhiên kết hợp với nhau để thành vậtc hất sống,(protein) là không có, cho dù các nhà theo thuyết tiến hóa lập luận “có thể được với cả tỉ năm trời”. Cứ ước tính (khá lỏng) rằng toàn bộ vũ trụ chứa 1080 nguyên tử, số tương tác giữa các nguyên tử trong một giây cho một nguyên tử là 1012 (một nghìn tỉ tương tác trong một giây) và tuổi của vũ trụ là 1018 giây (tương đương 30 tỉ năm, trong khi đa số các nhà thiên văn học cho rằng con số đó khoảng 15 tỉ năm). Vậy, tổng số các phản ứng có thể xẩy ra kể từ khi vũ trụ ra đời, trong toàn bộ vũ trụ, là 10110. Bây giờ hãy bắt đầu với một cơ thể sống đơn giản nhất, cơ thể đơn bào hay tế bào vi khuẩn. Một tế bào vi khuẩn đơn giản nhất cũng cần một số loại protein tối thiểu khoảng 1000. Để đơn giản hoá, cứ coi đã có sẵn 999 loại, chỉ cần một phân tử protein cuối cùng nữa là ta có một tế bào sống. Mặc dù trong thiên nhiên có cả trăm loại acid amin, là "viên gạch" để xây "bức tường protein", nhưng hãy chỉ lấy 20 loại, là số lượng mà khoa học hiện tại đoán chắc đã tìm thấy trong cơ thể sống. Cũng lại cho qua một thực tế là chỉ những acid amin có 20 loại, là số lượng mà khoa học hiện tại chắc đã tìm thấy trong cơ thể sống. Cũng lại cho qua một thực tế là chỉ những acid amin có "đối xứng tay trái" mới có thể dùng được để xây "bức tường" sống. Và cũng không tính đến một thực tế là, do các động thái hoá học rất đặc biệt, để tạo ra một chuỗi polypeptid (một mẩu nhỏ của phân tử protein) ở môi trường ngoài cơ thể sống là việc cực kỳ khó khăn. Bây giờ hãy tập trung vào khả năng kết hợp ngẫu nhiên để có được một phân tử protein cuối cùng gồm 200 acid amin, một số lượng rất khiêm tốn. Các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, để protein có được thuộc tính cấu trúc không gian ba chiều là điều kiện tiên quyết để phân tử protein thực hiện chức năng sống), ít nhất một nửa trong tổng số các điểm kết nối giữa các acid amin phải được xác định theo một trình tự nhất định. Như vậy phân tử protein cuối cùng của chúng ta cần ít nhất 100 "điểm kết nối xác định". Tổ hợp các kết hợp giữa 20 acid amin với 100 điểm kết nối xác định, đạt đến con số 20100, hay 10130, các phản úng ngẫu nhiên. Chưa nói đến thời gian và số lượng phản úng cần thiết cho việc tạo ra các acid amin, thì tổng số các phản ứng ngẫu nhiên này đã lớn hơn một trăm tỉ tỉ (1020) lần tổng số các phản ứng có thể có giữa các nguyên tử trong toàn bộ vũ trụ, kể từ khi nó ra đời đến nay (10110). Đấy mới chỉ là 1 trong số hàng nghìn protein cần thiết cho cơ thể sống ban đầu!

Thứ hai, còn hắc búa hơn nữa cho các nhà tiến hóa luận là cấu trúc AND, được coi là phần tinh túy nhất của sự sống. Bỏ qua chuyện tuổi vũ trụ có tương đương với thời gian cần thiết tối thiểu để tạo ra ADN đầu tiên hay không (mà chắc chắn theo bài toán xác suất trên, quả là không thể xay ra được). Ta tập trung vào một khía cạnh khác khi nói đến cấu trúc sống này. Một chuỗi đơn ADN là một đại poiymer gồm hơn một tỉ phân tử. Khoảng một phần ba (333 triệu) số phân tư trong đó được chương trình hoá bằng 1 trong 4 bazơ chứa nitơ. Vậy theo luật kết hợp ngẫu nhiên (của thuyết tiến hoá) sẽ có 4333 triệu, hay 122,9637*1032 cấu trúc ADN có thể có (tạm lấy tròn 122*1032). Lại giả thiết, chỉ có một trong một tỉ cấu trúc đó là có khả năng tạo ra sự sống, số lượng còn lại sẽ là 122*1023. Giả thiết tiếp là tỉ lệ sống sót của ADN qua mấy tỉ năm tiến hoá chỉ là 1 phần tỉ, vậy hiện lúc này phải còn lại 122*1014, túc 12.200.000.000.000.000 AND trong tự nhiên. Có vấn đề gì với con số này. Vấn đề là ở chỗ, theo logic của thuyết tiến hoá, mỗi loài cần có một cấu trúc ADN riêng (vì thế loại này khác loại kia), vậy với 122*1014 dạng cấu trúc ADN còn tồn tại đến nay, tổng số loài sinh vật hiện có đến hôm nay cũng phải tương đương là 122*1014. Song theo ước tính của các nhà tiến hóa luận, tổng số loài trên trái đất kể tù khi sự sống xuất hiện đến nay chỉ đạt con số khiêm tốn từ 2 đến 3 triệu loài, cả mấy tỉ lần nhỏ hơn số loài cần có. "Vậy, những người ủng hộ thuyết sáng tạo đặt câu hỏi, ADN là sản phẩm của quá trình kết hợp ngẫu nhiên các nguyên tố trong thiên nhiên hay do "Ai Đó" sáng tạo nên theo một thiết kế định sẵn"?

Chuyện đau đầu thứ ba cho các nhà tiến hóa luận là hoá thạch của các sinh vật (đối tương nghiên cứu của ngành khoa học cổ sinh học, một chỗ dựa quan trọng của thuyết tiến hoá). Các nhà tiến hoá luận cho rằng nhìn vào sưu tập các mẫu hoá thạch, ta có thể hình dung ra con đường tiến hoá của sinh giới, từ thấp đến cao, tử đơn giản đến phức tạp. Căn cứ vào những đặc trưng cấu trúc tương tự, các nhà tiến hoá luận có thể phân loại các sinh vật hoá thạch thành từng nhóm khác nhau, gọi là loài và xếp từng loài vào vị trí thích hợp trong cây tiến hoá. Vấn đề đặt ra là theo luật tiến hoá giữa các loài phải có rất nhiều dạng hình trung gian đã từng tồn tại và vì thế phải có hoá thạch của chúng. Ngay Darwin, trong cuốn Nguồn gốc các loài cũng đã phải tự thú nhận điểm yếu nhất này trong học thuyết của ông. Ông viết trong phần mở dầu của chương X: "…Số lượng các dạng trung gian (giữa các loài - NTV), là các dạng đã tồn tại một cách chính thúc (theo lý thuyết tiến hoá - NTV), sẽ là rất lớn. Nhưng tại sao không có một kiến tạo hoặc một giải tầng địa chất nào chứa đầy đủ các gạch nối trung gian này. Rõ ràng là ngành địa lý đã không tìm ra được bất cứ một chuỗi hữu cơ biến đổi tù từ nào và đó có lẽ là một khách quan hiển nhiên và nghiêm trọng nhất chống lại lý thuyết này". Nhưng ông cũng hy vọng "Lời giải thích có lẽ nằm trong sự thiếu hoàn hảo thái quá trong dữ liệu địa lý". Tất nhiên ông tin là khoa học địa lý sau thời ông có thể bổ sung vào cái lỗ hỏng về sự hiện hữu của các đang sống trung gian giữa các loại. Oái oăm thay, gần 150 năm qua, hàng nghìn các nhà cổ sinh học khắp thế giới ra công đào bới, tìm kiếm các mẫu hoá thạch này để mong lấp đầy (khoảng trống giữa các loài”, nhưng khoảng trống đó vẫn nguyên vẹn như thời Darwin còn sống. David Kitts, từng thú nhận ngay trên Tạp chí Tiến hoá "Mặc dù với sự hứa hẹn sáng sủa rằng Cổ sinh học là sẽ đem đến cho chúng ta một phương tiện để có thể nhìn thấy sự tiến hoá, nhưng ngược lại nó đã đem đến cho các nhà tiến hoá còn những khó khăn bộn bề hơn, bởi vì nó (ngành Cổ sinh học) càng làm hiện rõ hơn "khoảng trống giữa các loài". Thuyết tiến hoá cần những hoá thạch sinh vật trung gian, nhưng Cổ sinh học lại không thể cung cấp được". Càng tìm kiếm, càng thấy nhiều hoá thạch các loài chứ không hề thấy hoá thạch các sinh vật trung gian! Vậy có quá trình tiến hoá không, để từ một loài này một (hoặc vài) loại mới xuất hiện?

Còn nhiều cái vênh giữa lý thuyết tiến hoá và các bằng chứng ủng hộ nó, song với khuôn khổ của một bài báo tôi chỉ nêu thêm một vấn đề rất mới mẻ. tuổi của các hoá thạch và phương pháp Cacbon 14.

Việc dùng sự tan rã nguyên tố của các chất phóng xạ để xác định tuổi địa chất đã được sử dụng từ lâu. Riêng với các hoá thạch sinh học, phương pháp đó lượng Cacbon phóng xạ 14 (C14) còn lại trong mẫu xét nghiệm được sứ dụng khá rộng rãi. Trong tự nhiên, CO2 phóng xạ được hình thành bởi sự va đập của tia vũ trụ vào nguyên tử nhỏ. Tỉ lệ giữa CO2 thông thường (C12) và CO2 phóng xạ là 1 nghìn tỉ trên 1. Thực vật hấp thu CO2 phóng xạ tử không khí, đất, nước, rồi đến lượt động vật ăn thực vật, cho nên trong cơ thể sinh vật tồn tại một lượng CO2 phóng xạ, có tỉ lệ rương đương trong tự nhiên. Khi một sinh vật chết, quá trình tan rã (để biến thành lại Nitơ) của CO2 phóng xạ bắt đầu. Một nửa đời của CO2 phóng xạ là 5730 năm. Bằng các phương pháp khác nhau nếu xác định được lượng CO2 phóng xạ trong một mẫu hoá thạch, ta có thể suy ra tuổi của hóa thạch đó (hàm lượng tỉ lệ nghịch với tuổi hoá thạch, có nghĩa thời điểm chết của sinh vật càng xa hiện tại, lượng CO2 phóng xạ còn lại càng ít). Tại hội thảo quốc tế của những người theo trường phái sáng tạo lần thứ năm, tổ chức tại Pittsburgh, PA, USA, từ ngày 4 đến 8/8/2003, Tiến sĩ Baumgardner đã trình bày một báo cáo khoa học thú vị về C14. Khi tập hợp, phân tích kết quả hơn 20 năm nghiên cứu về cac-bon phóng xạ bằng máy do quang phổ gia tốc có độ nhạy cao (AMS) của nhiều phòng thí nghiệm ở nhiều nước khác nhau, ông nhận thấy các mẫu hữu cơ đại diện cho tất cả các thời kỳ của kỷ Phan- erozoic (khoảng 500 triệu năm trở lại đây) đều chứa một lượng CO2 phóng xạ có thể định lượng được và tập trung vào khoảng tử 0,1 - 0,5 pmc (phần trăm CO2 hiện đại). Ông kết luận ngay: các mẫu vật hoá thạch này không thể có tuổi lớn hơn 250.000 năm. Thời gian này tương đương với 43,6 nửa đời của CO2 phóng xạ. Nhưng sau 43,6 nửa đời, lượng CO2 phóng xạ còn lại sẽ không thể nào định lượng được nữa vì quá ít. Một gam CO2 hiện đại (tức trước khi CO2 phóng xạ bắt đầu tan rã, hay CO2 có thể của sinh vật đang sống) chúa 6*1010 nguyên tử CO2 phóng xạ, sau 43,6 nửa đời chỉ còn 6*1010/7.3*1014, tức khoảng 1 phần vạn nguyên tử! Vậy những gì đã hoá đá mà các nhà cổ sinh học tìm thấy hôm nay, không thể nào có được cả triệu năm tuổi như cách tính của học thuyết tiến hóa.

Vậy phải có một giả thuyết nào đó khả dĩ có thể giải thích được vấn đề CO2 phóng xạ này. Giả thuyết nào, Tiến sĩ Baumgadner dựa vào nghiên cứu của chính ông đã kết luận trận đại hổng thuỷ đã gần như xóa sạch mọi thứ trước đó trên mặt đất, những gì ta thấy qua các mẫu hóa thạch ngày nay phần lớn đều và những gì xuất hiện sau trận đại hồng thủy ấy. Nếu có bằng chứng khoa học xác đáng về một đại hồng thuỷ, vậy không thể không tin vào những gì đã được ghi trong Kinh Thánh!

Nguồn: Tạp chí Tia sáng

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO.

Không phải bài viết.

Sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo

Tất cả những tư liệu liền nhau này đều từ nguồn: chungta.com

06:23' PM - Thứ sáu, 04/08/2006

Thưa tiến sĩ Adler,

Có hay không sự xung đột giữa khoa học và tôn giáo? Tôi không nghĩ rằng văn bản của Thánh Kinh lại có thể hòa giải được với tri thức khoa học hiện đại. Phải chăng những khám phá của vật lý hiện đại, địa chất học, thiên văn học, và sinh vật học mâu thuẫn với câu chuyện được kể trong Sáng Thế Ký về sự sáng tạo ra trời đất và con người?

E.V.

E.V. thân mến,

Hồng y Barberini, bạn của Galileo(1), một lần giải thích với Galileo lý do tại sao không thể xảy ra xung đột giữa khoa học và tôn giáo. Ông nói: “Anh dạy cho mọi người biết bầu trời di chuyển như thế nào; còn chúng tôi dạy cho mọi người biết cách lên trời.” Với những sứ mệnh đuợc phân biệt như thế, các nhà thiên văn và các nhà thần học tất không thể có tranh cãi .

Ý tưởng mà Barberini trình bày với Galileo có thể được khái quát hóa. Nếu khoa học và tôn giáo có những mục đích khác nhau – nghĩa là, nếu họ cố gắng trả lời những câu hỏi khác nhau, và nếu họ cố gắng làm những việc khác nhau cho con người – thì giữa họ sẽ không có sự xung đột.

Đâu là những câu hỏi mà tôn giáo tìm cách trả lời? Đó là những câu hỏi về hiện hữu và bản chất của Thượng Đế, về sự liên hệ của con người với Thượng Đế, về sự chi phối của Thượng Đế đối với vũ trụ, và đặc biệt là sự quan tâm của Ngài dành cho con người. Tất cả những điều này hoàn toàn vượt quá thẩm quyền giải quyết của khoa học, bây giờ và mãi mãi. Những tôn giáo khác nhau đưa ra những câu trả lời khác nhau cho những câu hỏi trên đây, nhưng trong khi tìm hiểu để chọn câu trả lời đúng, chúng ta không mong gì đến sự trợ giúp của khoa học.

Tôn giáo có làm điều gì thực tế cho con người không? Có, nó đưa con người tiếp xúc trực tiếp với Thượng Đế, nó mang lại cho cuộc sống của con người một ý nghĩa và giá trị đạo đức nền tảng, và trên hết nó cung cấp cho con người một phương tiện mà nhờ đó con người tìm kiếm và nhận được sự giúp đỡ của Thượng Đế để tuân theo những điều răn dạy của Ngài. Nếu chúng ta hiểu được chút ít về khoa học, chúng ta sẽ nhận ra rằng khoa học không thể làm được những điều vừa kể. Do vậy không có sự cạnh tranh ở đây.

Khoa học trả lời những câu hỏi khác và làm những việc khác cho chúng ta. Nó mô tả cái thế giới chúng ta đang sống. Nó giải thích cơ cấu và cách chuyển động của sự vật – chúng sinh ra và biến dịch như thế nào, và do đó chúng ta sử dụng chúng như thế nào vào những mục tiêu tốt hoặc xấu. Chúng ta ứng dụng những khám phá của khoa học để sản xuất ra hằng hà sa số sự vật, từ thức ăn cho bé sơ sinh đến bom nguyên tử. Nhưng khoa học không nói cho chúng ta biết căn nguyên và lý do tồn tại của sự vật; nó cũng không ngăn cản chúng ta lạm dụng sức mạnh mà nó mang lại cho chúng ta. Cùng một tri thức khoa học, nó có thể đầu độc hoặc cứu chữa, có thể hủy diệt hoặc xây dựng.

Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng không có vấn đề hòa giải khoa học và tôn giáo – rằng lựa chọn giữa kỹ thuật và lời cầu nguyện không còn cần thiết hơn là lựa chọn giữa việc có một thân xác và có một linh hồn. Nhưng thật không may, lúc ấy chắc chúng ta phải bỏ sót một vài điều nan giải thật sự. Câu hỏi của bạn về thuyết tiến hóa của Darwin(2) và câu chuyện sáng thế trong Kinh Thánh là một trong những điều nan giải đó.

Nếu chúng ta đã đọc những chương đầu của Sáng Thế ký(3) cứ như đó là lời diễn tả cụ thể về tiến trình con người và vũ trụ đi vào cuộc hiện hữu, chúng ta sẽ thấy những giải thích ấy hòan toàn ngược lại với những giải thích về cùng vấn đề được khoa học hiện đại, từ Thiên văn học đến Động vật học, đưa ra. Tuy nhiên, theo Augustine(4) và các nhà thần học khác, đọc sâu hơn Sáng Thế ký sẽ dẫn đến những diễn giải tránh được xung đột với khoa học. Chẳng hạn, Augustine nói với chúng ta rằng “sáu ngày” nói đến ở đây không phải là những đơn vị thời gian. Chúng tượng trưng cho một trật tự của sự diễn biến. Theo Augustine, Thượng Đế tạo ra vạn vật cùng một lúc và đặt ra trật tự để chúng theo đó mà diễn biến cùng với thời gian. Khoa học kể khá tường tận cho chúng ta về lịch sử thật sự của sự diễn biến đó, và hầu như chúng không có gì xung đột với kiểu diễn giải những chương đầu Sáng Thế ký của Augustine.

Nhưng vẫn còn một điểm xung đột nghiêm trọng. Sáng Thế nói với chúng ta rằng Thượng Đế tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài, và rằng trong tất cả tạo vật trên trái đất này chỉ có con người là được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế. Điều này thường được giải thích để nói lên rằng con người về bản chất khác với muôn vật khác, kể cả những hình thức cao đẳng của đời sống động vật. Chỉ mình anh ta là một con người, là một sinh vật có lý trí và ý chí tự do. Anh ta không chỉ là một sinh vật, chỉ khác biệt nhau với các con vật khác về mức độ. Anh ta hoàn toàn khác biệt về loài.

Theo lý thuyết của Darwin về sự tương cận họ hàng giữa con người và loài khỉ, thì con người khác với con khỉ chỉ ở mức độ, chứ không khác về loài giống. Sự khám phá ra “những mắt xích còn thiếu” này trong chuỗi tiến hóa được cho là thể hiện sự liên tục giữa người và vượn. Trong khi tuyên bố chỉ mình con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế, Sáng Thế ký nhấn mạnh vào một sự bất liên tục giữa người và các hình thức khác của sự sống trên trái đất. Về vấn đề này, Kinh Thánh và Sinh vật học không thể cả hai đều đúng được.

Theo tôi, đây là một xung đột thực sự, chứ không chỉ bề ngoài, giữa một bên là khoa học và một bên là tín điều căn bản của tôn giáo. Không có nhiều xung đột loại này, chắc chắn không nhiều xung đột rõ ràng như vậy. Điều đáng chú ý là loại xung đột này lại nói về bản chất của con người. Dù nó có được giải quyết hay không, và, nếu giải quyết được, thì giải quyết như thế nào, thì nó cũng không phải là điều cho tôi phát biểu ở đây.

(1)Galileo (1564 – 1642) : Nhà vật lý và thiên văn người Ý, một trong những người đặt nền móng cho cách mạng khoa học ở Âu châu. Cống hiến đặc biệt quan trọng của ông là ứng dụng kính viễn vọng vào khoa Thiên văn, khám phá qui luật của các vật thể rơi và chuyển động của đạn. (2)Charles Darwin (1809 – 1882): Nhà khoa học người Anh, ông đặt nền móng cho thuyết tiến hóa hiện đại và viết tác phẩm gây nhiều tranh cãi, On the Origin of Species by Means of Natural Selection (“Về Nguồn gốc các loài thông qua chọn lọc tự nhiên” - 1859). Ngoài ra ông còn viết nhiều tác phẩm về khoa học tự nhiên, trong đó có The Volcanic Islands (“Những hòn đảo núi lửa” - 1844) và The Descent of Man (“Dòng dõi con người” - 1871).

(3)Genesis: Sáng Thế ký; cuốn sách đầu tiên trong Cựu Ước mô tả sự hình thành thế giới.

(4)Saint Augustine (354 – 430): Nhà tu và nhà thần học người Algeria. The City of God (“Thành phố của Chúa”), kiệt tác của ông, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Cơ Đốc giáo. Ông làm Giám mục địa phận Hippo, Bắc Phi (bây giờ là Annaba, Algeria) từ năm 396 đến cuối đời.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Các nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước:

"Một lý thuyết thống nhất các định luật trong vũ trụ. Có khả năng giải thích từ sự khởi nguyên của vũ trụ....". Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét một lý thuyết nổi tiếng trong khoa học hiện đại là thuyết Bigbang và so sánh nó với cách lý giải của Thuyết Âm Dương Ngũ hành qua một câu rất mơ hồ trong Hệ từ: "Thái Cực sinh lưỡng nghi".

I - Sự lý giải khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Bigbang

Sự khởi nguyên của vũ trụ cho đến ngày nay, đối với khoa học hiện đại mới chỉ là những giả thuyết khoa học chưa hoàn chỉnh. Kể cả thuyết Bigbang – một giả thuyết về sự hình thành vũ trụ được coi là có khả năng lý giải khá nhiều hiện tượng vũ trụ hiện nay – nhưng các nhà khoa học hàng đầu cũng phải thừa nhận những lỗ hổng mà thuyết Bigbang không thể lý giải được.

Mặc dù người ta đã chứng minh được sự tồn tại của những bức xạ hoá thạch trong vũ trụ - vốn được tiên tri (bói) trước khi khám phá ra nó - như là một yếu tố minh chứng tính khoa học của thuyết Bigbang theo tiêu chí khoa học và như là một sự biện minh cho tính thực tiễn của học thuyết này (Những hiện tượng này vẫn có thể được giải thích bằng một lý thuyết khác về sự hình thành vũ trụ). Một thí dụ cho sự khiếm khuyết của thuyết này là: “Giây 0 trước Bigbang” Vũ trụ đã tồn tại như thế nào? Vũ trụ đang giãn nở hay co rút?

Trong cuốn “Trò truyện với Trịnh Xuân Thuận” (Hay “Cuộc trò chuyện của Trịnh Xuân Thuận với nhà báo Jacques Vauthier”). Phạm Văn Thiều dịch. Tạp chí Tia Sáng và Nxb Trẻ 7/ 2001. Ông Trịnh Xuân Thuận thừa nhận:

“Nhưng cần phải thấy rằng: vật lý học mà chúng ta đã biết không thể lần ngược theo thời gian tới tận điểm zêzô. Nó không còn dùng được nữa ở 10-43 giây, một thời gian ngắn không thể tưởng tượng nổi (số khác không đầu tiên đứng ở vị trí thứ 43 sau dấu thập phân) và xác định bức tường “tăm tối” mà tôi đã nói ở trên. Sau bức tường đó, vũ trụ có thể có tới 10, thậm chí 26 chiều thay cho 3 chiều không gian và một chiều thời gian nữa. Quá khứ, hiện tại, tương lai hoàn toàn mất ý nghĩa (*).

* Chú thích: Sách đã dẫn . Trang 168.

Sự khiếm khuyết của thuyết Bigbang còn được chứng tỏ trong đoạn trích dẫn sau đây từ cuốn “Lược sử thời gian”.

“Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực hiện một quan sát có tính chất là một cột mốc, cho thấy dù bạn nhìn ở đâu thì những thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta. Nói một cách khác, vũ trụ đang giãn nở ra. Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước kia các vật gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời, mười hoặc hai mươi ngàn triệu năm về trước, tất cả chúng đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ vũ trụ khi đó là vô hạn. Phát minh này cuối cùng đã đưa câu hỏi về sự bắt đầu của vũ trụ vào địa hạt khoa học.

Nhưng quan sát của Hubble gợi ý rằng có một thời điểm, được gọi là vụ nổ lớn, tại đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đặc (mật độ vô hạn). Dưới những điều kiện như vậy, tất cả các định luật khoa học và do đó mọi khả năng tiên đoán về tương lai đều không dùng được.

Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại. Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước đó không xác định được. Cũng cần nhấn mạnh rằng sự bắt đầu này của thời gian rất khác với những sự bắt đầu đã được xem xét trước đó. Trong vũ trụ tĩnh không thay đổi, sự bắt đầu của thời gian là cái gì đó được áp đặt bởi một Đấng ở ngoài vũ trụ, chứ không có một yếu tố vật lý nào cho sự bắt đầu đó cả. Người ta có thể tưởng tượng Chúa tạo ra thế giới ở bất kỳ một thời điểm nào trong quá khứ. Trái lại, nếu vũ trụ giản nở thì có những nguyên nhân vật lý để cần phải có sự bắt đầu. Người ta vẫn còn có thể tưởng tượng ra Chúa đã tạo ra thế giới ở đúng thời điểm vụ nổ lớn, nhưng sẽ là vô lý nếu vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn. Một vũ trụ giãn nở không loại trừ Đấng sáng tạo, nhưng nó đặt ra những hạn chế khi Người cần thực hiện công việc của mình “(*).

* Chú thích: Sách đã dẫn. trang 27-28.

Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên thì với giả thiết về Bigbang (Vụ nổ lớn), mặc dù hạn chế được phần nào quyền năng của Thượng Đế, nhưng vẫn không phủ nhận được sự hiện hữu của Ngài. Do đó, định mệnh vẫn phải bắt đầu từ Thượng Đế. Vậy phải chăng những lời tiên tri dù theo phương pháp nào, cũng là sự đoán trước ý muốn của Thượng Đế? Nếu đây được coi là điều vô lý thì chỉ có thể giải thích:

1- Hoặc là: Bằng sự chưa hoàn chỉnh của thuyết Bigbang. Như vậy, tất cả những hiện tượng quan sát được liên quan đến thuyết Bigbang phải được giải thích bằng một nguyên nhân khác.

2- Hoặc là: Tất cả các phương pháp tiên tri của chúng ta có xuất xứ từ văn minh Đông phương thuộc về đặc ân của Thượng Đế phương Tây (Hi!) Mặc dù ngay cả trong truyện cổ tích của nền văn minh Đông phương này, cũng không hề nói đến sự sáng tạo vũ trụ là do Thượng Đế. khả năng này loại trừ và đã chứng minh ở các phần trên.

Đây cũng là nguyên nhân để người viết phải đề cập tới sự khởi nguyên của vũ trụ khi lý giải vấn đề “Định mệnh có thật hay không?”.

Như vậy, chủ đề vẫn có thể tiếp tục, nếu điều kiện thứ nhất được thực hiện:

“Sự chưa hoàn chỉnh của thuyết bigbang. Tất cả những hiện tượng quan sát được liên quan đến thuyết Bigbang phải được giải thích bằng một nguyên nhân khác”.

Chúng ta bắt đầu quán xét những vấn đề liên quan đến học thuyết này.

I - 1: Thuyết Bigbang và vũ trụ giãn nở - Nhận thức và hiện tượng

Qua đoạn trích dẫn ở trên cho thấy: Thuyết Bigbang đã bắt đầu từ nhận thức hiện tượng:

“Cho dù bạn nhìn ở đâu thì những thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta”.

Nhưng từ nhận thức hiện tượng nói trên, các nhà khoa học đã liên hệ đến một nghiệm lý được diễn đạt:

“Nói một cách khác, vũ trụ đang giản nở ra. Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước kia, các vật ở gần nhau hơn”

Đến đây thì đã xuất hiện yếu tố suy luận chủ quan: "Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước kia, các vật ở gần nhau hơn”.

Từ sự chủ quan này cuối cùng đã dẫn đến sự hình thành thuyết Bigbang. Và học thuyết này là kết quả của sự suy luận rằng:

“Tất cả chúng ta đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ vũ trụ khi đó là vô hạn”.

Kết quả của sự suy luận chủ quan này – về mặt lý thuyết – đã dẫn đến sự lý giải mâu thuẫn ngay trong nguyên lý của nó: "mật độ vũ trụ khi đó là vô hạn”.

Đến đây, chúng ta đã nhận thấy tính phi lý và mâu thuẫn của lý thuyết này:

Như vậy về mặt lý thuyết - theo thuyết Bigbang - thì ở trang thái giây /0/ chúng ta sẽ có hai khái niệm về không gian vũ trụ:

- Một khái niệm về "mật độ vũ trụ vô hạn" và một khái niệm về "không gian vũ trụ vô hạn" chứa cái "mật độ vũ trụ vô hạn" kia!?!

Đó là tính phi lý của khái niệm "vô hạn" về không gian theo thuyết Bigbang:

Vấn đề được đặt ra là: Trong hai cái không gian vũ trụ vô hạn đó thì cái nào là không gian vũ trụ đích thực hiện nay - ít nhất về mặt lý thuyết? Tất nhiên không thể giải thích rằng: Sau vụ nổ Bigbang thì hai cái không gian vô hạn này hòa nhập với nhau?

Hay nói theo cách nói của SW. Hawking:

"sẽ là vô lý nếu vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn".

Diễn tả một cách cụ thể hơn: Thuyết Bigbang đã tạo ra một vũ trụ không gian phi vật chất bao quanh một vũ trụ mà trong đó vật chất cô đặc vô hạn.

Chính vì vậy mà SW. Hawking phải phát biểu:

Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại. Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước đó không xác định được.

Đến đây - tôi xin phép lưu ý bạn đọc rằng: Sự khởi nguyên của vũ trụ theo cách hiểu của thuyết Âm Dương Ngũ hành sẽ không như nhận định của SW. Hawking với Bigbang. Tức là: Thời điểm giây 0 của thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là nguyên nhân của những hậu quả quan sát được. Hoặc chí ít con người có thể suy luận nó chính là nguyên nhân của những hậu quả quan sát đước. Chứ không phải là - Như SW. Hawking nói:

nó không có những hậu quả quan sát được

Như vậy - theo chính ngay thuyết Bigbang - thì cái vật chất vô hạn ấy, phải có giới hạn cho dù vô cùng lớn: Gồm tất cả vật chất trong vũ trụ hiện nay - để cân đối với một không gian phi vật chất vô hạn và không mâu thuẫn với nó.

Với một sự hữu hạn ban đầu thì kết quả tất nhiên phải là một sự hữu hạn trong không gian dãn nở của vũ trụ. Tính hợp lý tất yếu của hệ quả phi lý này – chính là thuyết vũ trụ phải co lại mà hầu hết các nhà khoa học đang đặt ra khi thừa nhận thuyết Bigbang. Bởi vì sự hữu hạn của vật chất cô đặc hay của một cái có sự bắt đầu thì không thể phóng ra mãi trong một không gian vô hạn. Nhưng đây chỉ là tính hợp lý hình thức như: Với sự tồn tại một Thiên đường thì tất yếu phải có Địa ngục, mặc dù cả hai đều không có thật. Nhưng học thuyết này đã lý giải được một số hiện tượng liên quan, mà đặc biệt là sự phát hiện có tính dự báo nhân danh thuyết Bigbang những tàn dư của bức xạ vũ trụ được tạo ra sau Bigbang, nên nó đã được hầu hết các nhà khoa học trên thế giới công nhận. Nhưng chính vì bắt đầu từ tính chủ quan của nhận thức hiện tượng, nên cuối cùng nó đã là một trong những nguyên nhân quan trọng để dẫn đến sự bế tắc của khoa học hiện đại. Sự xuất hiện tác phẩm “Thượng Đế và khoa học” là một hiện tượng chứng tỏ điều này. Lý thuyết về vụ nổ lớn sẽ không thể giải thích được một số những hiện tượng được trình bày sau đây:

* Với một sự tưởng tượng phong phú nhất, người ta không thể giải thích được chuyển động cong của các vật thể từ vi mô đến vĩ mô trong vũ trụ bằng thuyết Bigbang.

* Thuyết Bigbang thừa nhận sự tồn tại của những hạt căn bản trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ là một thực tế. Nhưng người ta không thể giải thích được từ một tâm điểm duy nhất bùng nổ trong một không gian đa chiều làm thế nào vật chất lại có thể kết hợp với nhau để vũ trụ có một cấu trúc như hiện nay. Hay nói một cách khác: người ta sẽ không thể cân đối được một năng lượng khổng lồ tạo ra một nội lực làm vật chất bùng vỡ đến mức độ tan vụn thành dạng hạt và sự tương tác kết hợp các hạt đó với nhau để tạo thành các sao, hành tinh và các Thiên hà.

* Với sự bắt đầu từ một tâm duy nhất bùng nổ, khiến vật chất bắn vào không gian và tạo nên vũ trụ tiếp tục chuyển động ra xa nhau như hiện nay thì về lý thuyết sẽ không thể có sự nhận thức quá khứ, khi tất cả mọi sự vận động của vật chất từ vi mô đến vĩ mô đều chỉ vận động về phía trước. Trong khi đây là một thực tế đang hiện hữu mà chúng ta quen gọi là kỷ niệm, trí nhớ...

* Khi đã có sự hiện hữu của vật chất ở giai đoạn trước Bigbang (vật chất cô đặc) thì khoảng không vũ trụ do cái gì tạo ra và có hay không có giới hạn ở khoảng không này?....

"sẽ là vô lý nếu vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn".

Do đó, với một lý thuyết thống nhất tất cả các định luật vũ trụ thì về nguyên tắc nó phải giải thích được tất cả những hiện tượng đã quan sát được và lý giải được một cách hợp lý những hiện tượng liên quan đến nó với khả năng tiên tri, cũng như giải thích được tính nhận thức quá khứ là một thực tế đang hiện hữu. Nếu thuyết Bigbang chưa phải là một học thuyết hoàn chỉnh, nhưng phản ánh đúng thực tế thì nó phải chứng tỏ được sự tiếp tục hoàn chỉnh và phát triển trong những vấn đề liên quan để chứng tỏ tính khách quan của nó. Đây là một yếu tố cần trong tiêu chí cho một lý thuyết khoa học - "Giải thích một cách hợp lý hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó". Đằng này nó lại dẫn tới sự bế tắc trong việc giải thích những hiện tượng rất cơ bản của vũ trụ. Như vậy, cùng với những hiện tượng quan sát được (các thiên hà ngày càng chạy xa nhau với tốc độ ngày càng lớn); hoặc chứng nghiệm được qua tiên tri - xem bói - (thí dụ như hiện tượng bức xạ hoá thạch chẳng hạn), cũng như những vấn đề đã đặt ra cần phải được giải thích bằng một lý thuyết vũ trụ khác.

Sai lầm của thuyết Bigbang còn thể hiện ở chỗ:

S.W Hawking đã viết: “Nếu có những sự kiện ở thời điểm đó thì chúng không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại”.

Đúng như vậy! Nhưng chỉ đúng với thuyết Bigbang, khi nó đặt cái vô hạn trong cái hữu hạn. Bởi vậy, mặc dù vẫn cảm thấy có một cái gì đó chưa ổn, nhưng cuối cùng thì họ vẫn phải ngậm ngùi nhìn Thượng Đế còn ngự trị ở giây 0 trước Bigbang. Và đây chính là hệ quả của sự sai lầm trong lý thuyết khoa học cuối thiên niên kỷ thứ II: Cuốn “Thượng đế và khoa học” có nội dung chứng minh rằng: Chính Thượng đế đã tạo ra sự khởi nguyên của vũ trụ và các định luật khoa học là ý muốn của Ngài.

Người viết đã hân hạnh trình bày: Chính vì thuyết Bigbang đã sai lầm về mặt lý thuyết khi cho rằng: một cái hữu hạn (Vật chất cô đặc trước Bigbang) là nguyên nhân của cái vô hạn (Vũ trụ hiện nay), nên họ đã lúng túng không thể giải thích được những hiện tượng liên quan. Bởi vậy, Thượng Đế (tính tuyệt đối) phải xuất hiện như một cứu cánh. Những người đặt vấn đề này là những nhà khoa học tên tuổi: Jean Guiton - Viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp, Grichka Bogdanop & Igor Bogdanov - Tiến sĩ thiên văn và vật lý lý thuyết. May mắn thay! Lập luận của họ khiên cưỡng và không đủ sức thuyết phục. Nếu không “Định mệnh sẽ thuộc về quyền năng của Thượng Đế”. Bởi vậy, phần tiếp theo đây, chúng ta quán xét sự giải thích khởi nguyên của vũ trụ và sự vai trò của Thượng Đế, trước khi thuyết Âm dương Ngũ hành nhập cuộc.

Không thể có cái vô hạn trong sự hữu hạn. Chỉ có thể có cái hữu hạn trong cái vô hạn.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cho dù thuyết Bigbang được coi là đúng thì đó vẫn chưa phải là một bộ phận cấu thành để mở đầu cho sự tiến tới một lý thuyết thống nhất vũ trụ của con người. Huống chi, bản thân lý thuyết ấy đã mâu thuẫn ngay trong nội dung của nó, mà SW. Hawking đã viết: "sẽ là vô lý nếu vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn". Điều vô lý đó chính là cái không gian vũ trụ phi vật chất chứa cái "mật độ vật chất vô hạn" của học thuyết này. Và chính cái vô lý đó đã đẻ ra một cái vô lý hơn: Khởi nguyên của vũ trụ khoa học được giải thích do Thượng Đế sáng tạo nên.
Quí vị quan tâm sẽ tìm hiểu điều nay qua cuốn: Thượng Đế và khoa học.

Thượng đế và khoa học (*)

Sự sai lầm trong lý giải hiện tượng
Ngay từ lời giới thiệu của cuốn sách – được viết rất suất sắc về văn chương – đã tóm lược và nêu bật chủ đề cũng như nội dung của cuốn sách trong một trang rất ngắn. Bạn đọc có thể xem toàn bộ lời giới thiệu của nhà xuất bản Grasset được trích dẫn sau đây:

Vào cuối thế kỷ XX, người ta có quyền nghĩ tới cả Thượng Đế lẫn khoa học không? Có quyền vượt qua cuộc xung đột cũ kỹ giữa người mang đức tin – mà đối với anh ta, Thượng Đế không thể chứng minh, cũng không thể tính toán được và nhà bác học mà đối với anh ta Thượng Đế thậm chí cũng không phải là một giả thuyết nghiên cứu? Nói cho cùng, đó chính là mục tiêu giải quyết của cuốn sách này. Cuốn sách bàn tới một điều hiển nhiên: Ngày nay khoa học đặt ra những câu hỏi mà cho tới tận gần đây chỉ thuộc về thần học và siêu hình học. Vũ trụ từ đâu tới? Cái hiện thực là gì ? Quan hệ giữa ý thức và vật chất là thế nào? Tại sao có một cái gì đó còn hơn không có gì hết? Mọi cái đang diễn ra như thể tính phi vật chất của siêu việt trở thành đối tượng có thể có của vật lý. Như thế những điều huyền bí của tự nhiên cũng thuộc về đức tin.
Jean Guitton, Igo và Grichka Bogdanov muốn biến cuộc xung đột cũ giữa người mang đức tin và nhà bác học thành một cuộc tranh luận chủ yếu. Qua sự trao đổi những luận cứ, những câu hỏi và trả lời giữa họ với nhau, Chính là vấn đề con người và vị trí của nó trong vũ trụ được đặt ra ở đây.
Jean Guitton, Viện sĩ viện Hàn Lâm Pháp, học trò của Bergson và là người thừa kế cuối cùng tư tưởng của Bergson, là một trong những nhà triết học cả Đốc giáo xuất sắc nhất hiện nay.
Igor và Grichka Bogdanov, cả hai đều là tiến sĩ vật lý thiên văn và vật lý lý thuyết, là những học trò cũ của Roladn Barthes ở Ecol Pratique des Hautes Etudes (Trường Cao Đẳng thực hành)”.


Toàn bộ cuốn sách – đúng như lời giới thiệu đã viết – những luận cứ của nó dẫn đến sự hiện hữu của Thượng Đế trong việc tạo ra vũ trụ và những định luật khoa học hoặc những hiện tượng vật lý dường như là vận động theo ý muốn của Ngài. Nhưng những lập luận nhằm chứng tỏ sự hiện hữu của Thượng Đế trong vai trò của Ngài ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ lại không đưa đến một hệ luận hợp lý trong việc lý giải các hiện tượng và vấn đề liên quan giữa Thượng Đế và khoa học. Nói cho đúng hơn, cuốn sách này chỉ chứng tỏ sự bất lực của nền khoa học hiện đại trong việc giải thích trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Vì lẽ đó, nên Thượng Đế đã được đưa vào như một cứu cánh cho lỗ hổng tri thức để tiếp quản cái khoảng trống của tri thức con người.
Nếu những lập luận trong cuốn “Thượng Đế và khoa học” chặt chẽ và hợp lý – trong sự liên hệ giữa quyền năng của Thượng Đế và khoa học – thì sự khẳng định cho tính phi Định Mệnh đã có thể bắt đầu và nhân danh Thượng Đế. Đương nhiên trong trường hợp này (Sự hoà nhập giữa Thượng Đế và khoa học) thì mọi phương pháp bói toán sẽ là đều không thể có cơ sở khoa học và là mê tín dị đoan; hoặc đó là sự lý giải những ý muốn của Thượng Đế. Tệ hơn nữa, tất cả các định luật khoa học và cái gì gọi là “tinh thần khoa học” sẽ chỉ có nghĩa là "không sợ ma" vì tin vào sức mạnh của Thượng Đế.
Nhưng vấn đề lại không đơn giản như vậy. Với chủ đề của chính cuốn sách và cũng là mục tiêu của các tác giả - vốn là viện sĩ viện Hàn Lâm khoa học Pháp và các tiến sĩ Vật lý lý thuyết và Thiên văn - vẫn không thành công, khi tìm sự hoà nhập giữa Thượng Đế và khoa học.
Chính từ sự không hoà nhập đó, kết luận của cuốn sách phải là: Có còn hơn không – Thượng Đế hay là sự bế tắc của tri thức khoa học. Bạn đọc có thể nhận thấy nội dung của cuốn sách nói về sự liên hệ giữa những học thuyết khoa học hiện đại và sự lý giải sự hình thành vũ trụ nhân danh Thượng Đế qua những đoạn trích dẫn sau đây:

GB (Grichka Bogdanov/ Người viết): Lần này, chúng ta phải đi ngược lên càng xa càng hay, cho đến khi chính bản thân vũ trụ được sáng tạo ra. Chúng ta đi ngược lên quá khứ tới 15 tỷ năm. Cái gì đã xảy ra hồi đó? Vật lý hiện đại nói với chúng ta rằng: Vũ trụ được sinh ra từ một vụ nổ khổng lồ, nó gây ra sự nở rộng của vật chất còn thấy được ngày nay. Chẳng hạn với các Thiên Hà – những đám mây gồm hàng trăm tỷ ngôi sao – rời xa nhau dưới sức đẩy của vụ nổ đầu tiên ấy.
JG: (Jean Guitton/ Người viết) Chỉ cần đo tốc độ rời xa nhau của những Thiên Hà này, cũng suy ra được thời điểm ban đầu trong đó chúng được tập hợp thành một điểm nào đó. Phần nào giống như chúng ta xem một bộ phim quay ngược. Bằng cách quay ngược cuốn phim vũ trụ vĩ đại ấy, từng hình ảnh một, cuối cùng chúng ta sẽ thấy ra đúng cái thời điểm mà toàn thể vũ trụ chỉ lớn bằng đầu cái kim. Theo tôi, chúng ta phải lấy khoảng khắc ấy làm những bước mở đầu của chúng ta.(**)


Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng: Hai ông Grichka BogdanovJean Guitton đã đặt vấn đề đi tìm sự khởi nguyên của vũ trụ trên một căn bản sai lầm của thuyết Bigbang, mà trong tiểu luận này, người viết đã chứng tỏ sự sai lầm của nó nhân danh thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến huyền vĩ Việt trải gần 5000 năm lịch sử.
Trên cơ sở của cách giải thích sự khởi nguyên vũ trụ của thuyết Bigbang đã trình bày ở trên, các tác giả của cuốn sách đưa ra những luận cứ tiêu biểu của cuốn sách nhằm chứng minh sự có mặt của Thượng Đế trong sự sáng tạo ra vũ trụ. Đoạn trích dẫn tiếp theo đây là một trong những luận cứ này:

JG: Nhưng thế thì năng lượng khổng lồ dẫn tới Bigbang từ đâu tới? Tôi linh cảm rằng cái ẩn dấu đằng sau “bức tường Planck” là một dạng năng lượng đầu tiên, một sức mạnh vô hạn. Tôi tin rằng trước sáng tạo có một thời gian dài vô tận ngự trị. Một tổng thời gian (temps Total) vô tận chưa được mở ra , chưa phân chia thành quá khứ, hiện tại và tương lai. Hồi đó thời gian này chưa được phân chia theo một trật tự đối xứng, trong đó hiện tại chỉ là một tấm gương hai mặt, thời gian tuyệt đối chưa đi qua đó, phù hợp với thứ năng lượng chung vô tận ấy. Đại dương năng lượng vô tận đó là Đấng Sáng tạo. Nếu như chúng ta không thể đi tới hiểu được cái gì nằm sau “Bức tường” thì đó là vì tất cả các định luật vật lý không đứng vững được trước sự huyền bí tuyệt đối của Thượng Đế và của “Sáng tạo” (***).

Qua đoạn trích dẫn ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Chính giả thuyết khoa học hiện đại về một vụ nổ lớn (Bigbang) cho nguyên nhân hình thành vũ trụ và chính sự khiếm khuyết, bế tắc của tri thức khoa học hiện đại trong việc giải thích giây /0/ của vũ trụ, đã được giải thích cho sự ngự trị của Thượng Đế. "Nếu như chúng ta không thể đi tới hiểu được cái gì nằm sau “Bức tường” thì đó là vì tất cả các định luật vật lý không đứng vững được trước sự huyền bí tuyệt đối của Thượng Đế và của “Sáng tạo” . Nhưng bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Lập luận của ông Jean Guitton mang tính giải thích áp đặt và mang tính lấp chỗ trống của tri thức khoa học hiện đại hơn là một sự minh chứng cho sự tồn tại của Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ.
Do đó, đoạn trích dẫn sau đây sẽ tiếp tục trình bầy với bạn đọc về nguyên nhân sự hình thành thuyết Bigbang.

“Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực hiện một quan sát có tính chất là cột mốc cho thấy dù bạn nhìn ở đâu thì những Thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta. Nói một cách khác: Vũ trụ đang giãn nở ra. Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước các vật ở gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời, mười hoặc hai mươi ngàn triệu năm về trước, tất cả chúng ta đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ của vũ trụ khi đó là vô hạn. Phát minh này cuối cùng đã đưa ra câu hỏi về sự bắt đầu của vũ trụ vào địa hạt khoa học. Những quan sát của Hubble đã gợi ý rằng có một thời điểm, được gọi là vụ nổ lớn, tại đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đặc (mật độ vô hạn). Dưới những điều kiện như vậy, tất cả các định luật khoa học và do đó mọi khả năng tiên đoán tương lai đều không dùng được”.(****)

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Bắt đầu từ sự quan sát phát hiện của ông Hubble thấy các Thiên hà ngày càng chạy xa nhau là một hiện tượng tồn tại thực tế. Từ hiện tượng này đã dẫn đến sự suy diễn vũ trụ phải quy tụ lại một điểm trong quá khứ. Từ đó hình thành giả thuyết về sự nổ lớn. Giả thuyết này được chứng minh bởi những hiện tượng liên quan. Nhưng, cùng một hiện tượng vẫn có thể giải thích bằng một nguyên nhân khác. Do đó, mặc dù thuyết “Vụ nổ lớn” được công nhận rộng rãi, vì sự chứng minh cho một khả năng tiên tri hạn hẹp của nó – như trường hợp tồn tại những bức xạ hoá thạch chẳng hạn – thì những hiện tượng này vẫn có thể giải thích một cách hợp lý bằng một nguyên nhân khác. Đây chính là trường hợp của thuyết Âm dương Ngũ hành sẽ được lý giải ở phần sau. Bởi vậy khi đặt Thượng Đế vào khoảng trống của tri thức khoa học hiện đại thì có thể nói rằng: Đây có thể coi là một luận điểm mang tính văn hoá nhân bản và đạo đức học, nó có giá trị lịch sử khi con người còn chưa hiểu được chính mình, chứ không phải là một chân lý. Và chính cuốn sách “Thượng Đế và khoa học” cuối cùng – ở phần kết luận của nó cũng như phần mở đầu – đã viết:

Lời cuối sách
Tại sao có một cái gì đó còn hơn là không có gì hết

Niềm tin chắc nào? Nguồn hy vọng nào? Hiểu biết nào? Từ tiểu luận triết học này chúng tôi phải giữ lại cái gì cho thật rõ ràng đây?
Trước hết tìm ý nghĩa trong cái vô nghĩa, tìm “dự án” trong cái ngẫu nhiên nhỏ bé nhất, tìm sự kiện trong cái tinh tế của sự vật: Lá cây, tiếng chim hót, giọt nước chảy, gió trong khoảng trống...

Tất cả những sinh vật ấy cùng mưu đồ trong cái vô hình để tạo thành cái hiện thực, hội tụ ở chính bên trong chúng ta cho đến khi làm nảy sinh ở đó một nhu cầu không thể đè nén được: Ham muốn tính hiện thực.
Chính lòng ham muốn ấy thúc đẩy chúng tôi, trong tiến trình đối thoại tìm kiếm thực thể.
Nhưng chúng tôi đã nhìn thấy thực thể ấy như thế nào? Trước hết là chiều dày của nó, là tính mù mịt của nó, đồng thời cũng là tính tinh tế đa dạng về những hình thức của nó. Cuộc đối thoại của chúng tôi do đó đã tìm thấy được ranh giới tự nhiên, điểm dừng cao nhất của nó. Với ý tưởng này: Chúng ta không thể hiểu được tính hiện thực độc lập, cái hiện thực bị che đậy và mãi mãi không thể nhận thức được. (Sự bế tắc/ người viết).
“Đó cũng có lẽ là lần đầu tiên chúng tôi nhận thức rõ rằng niềm hạnh phúc của một tư tưởng hiện đại, ở nơi giao nhau của vật lý mới và triết học là đã mô tả được điều bí ẩn của vũ trụ, với việc thay thế nó bằng một bí ẩn còn sâu hơn, khó hơn, bí ẩn của chính bản thân tinh thần.
Thế còn lại câu hỏi cuối cùng, câu hỏi đáng ngại nhất. Câu hỏi đã mở đầu và phải khép lại cuộc đối thoại này: ý nghĩa của vũ trụ là gì? Tất cả những điều đó dẫn chúng ta đến đâu ? Tại sao có một cái gì đó còn hơn không có gì hết?


Đoạn trích dẫn trên cho thấy một sự bế tắc trong cuộc hôn phối của Thượng Đế và khoa học trong sự mở đầu cũng như kết thúc. Cuối cùng sự chấp nhận Thượng Đế trong tính lý giải khởi nguyên của vũ trụ chỉ là
“Có còn hơn không”. Đây là một giải pháp mang tính đạo lý nhân bản và có tính văn hóa hơn là mang tính thực tế.
Bạn đọc xem tiếp đoạn trích dẫn sau đây, sẽ tìm thấy nguyên nhân nữa cho sự bế tắc của tri thức khoa học hiện đại.

“Nói cho cùng, trạng thái hỗn loạn tối đa, đặc trưng cho vũ trụ vào thời điểm biến mất của nó, có thể được lý giải như là dấu hiệu tồn tại của một số lượng thông tin tối đa ở bên kia vũ trụ vật chất.
Cứu cánh của vũ trụ ở đầu trùng hợp với sự tận cùng của nó: Tạo ra và giải thoát khỏi nhận thức, vào giai đoạn sau cùng ấy, toàn bộ lịch sử vũ trụ, sự tiến hoá hàng trăm tỷ năm sẽ qui thành một tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý.”


Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy hai mệnh đề mâu thuẫn là:
"Tạo ra và giải thoát khỏi nhận thức" với "Qui thành một tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý"
Nếu đã “Giải thoát khỏi nhận thức” thì không thể “qui thành một tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý”.
Chính vì chưa lý giải được thực chất của ý thức, vốn là một nguyên nhân bế tắc của nền khoa học hiện đại. Do đó, các tác giả của cuốn sách: “Thượng Đế và khoa học” phải viết rằng: “việc thay thế nó bằng một bí ẩn còn sâu hơn, khó hơn, bí ẩn của chính bản thân tinh thần”. Tức là thay thế sự bí ẩn này bằng sự bí ẩn khác.
Bản chất của vấn đề - của sự bế tắc của tri thức khoa học hiện đại - chính là vì nó chưa khám phá được hết tất cả những hiện tượng tự nhiên, chưa khám phá được bản chất của vật chất và bị giới hạn vào một cái mà chính con người cho là phi vật chất: Ý thức. Hay nói một cách khác:
Tri thức khoa học hiện đại đã tự loại ra khỏi đối tượng nghiên cứu của nó một bộ phận rất quan trọng của tự nhiên, đang tương tác với tự nhiên khi kết luận: ý thức là một thực tại phi vật chất.
Đó chính là lý do để trong tiểu luận này, người viết phải đặt vấn đề định nghĩa lại vật chất là gì. Điều này sẽ không thừa khi tôi lặp lại định nghĩa này ở đây:
Vật chất là tất cả những dạng tồn tại và tương tác lên những dạng tồn tại khác và chính nó.
Với định nghĩa này thì ngay cả khái niệm "Thượng Đế" cũng là một đối tượng nghiên cứu của khoa học, nếu như Ngài quả thực đã tương tác để tạo nên vũ trụ này. Còn nếu như Ngài không tương tác thì điều này như SW.Hawking đã viết:

Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại. Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước đó không xác định được.


Tức là: Nếu Thượng Đế không tương tác để tạo thành vũ trụ -
(
Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại) - thì Ngài không có thật.

Như vậy, người viết đã chứng minh rằng: Thuyết Bigbang giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ chỉ là một hệ quả nhận thức sai lầm về hiện tượng được quan sát. Các tác giả cuốn "Thương Đế và khoa học" đã bắt đầu từ một cái sai - Thuyết Bicbang - để giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ.

Người ta không thể làm ra một cái đúng từ một cái sai!

Vấn đề được tiếp tục đặt ra là:

Nếu khởi nguyên của vũ trụ này không như thuyết Bicbang giải thích và không phải do Thượng Đế tạo ra thì nó được giải thích như thế nào?

Kỳ diệu thay! Trong nền văn minh Đông phương huyền vĩ với thuyết Âm Dương Ngũ hành đã lý giải sự khởi nguyên vũ trụ hoàn toàn khác. Và sự khởi nguyên đó không phải là "không có những hậu quả quan sát được", mà là chúng ta hoàn toàn có thể nhận thức được nó, ngay bây giờ, ngay trong mỗi con người chúng ta. Đó chính là Thái Cực sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5000 năm - một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương Tử. Thuyết Âm Dương Ngũ hành không phải chỉ giới hạn ở việc giải thích sự khởi nguyên vũ trụ ở giây /0/ mà nó còn có khả năng mô tả được mọi điều trong vũ trụ và đó chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm.
SW. Hawking viết:

Nhưng nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta. Và như vậy tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định rằng chúng ta sẽ đi tới những quyết định đúng từ những điều quan sát được? Hai là tại sao nó không thể quyết định đúng từ những điều quan sát được? Hay là không có kết luận nào hết (*****).


Khi phát biểu luận điểm trên, ông Stephen Wiliam Hawking không hề có ý định ám chỉ hoặc nói tới thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng đây lại chính là những điều kiện đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành: Một lý thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người: Thái cực sinh lưỡng nghi... Cho đến sự hạnh phúc hay nỗi bất hạnh trong đời con người...và những quy luật vũ trụ mà nó mô tả quyết định nhận thức và hành động của con người - cái mà con người đặt cho nó một khái niệm "Định mệnh" - Nhưng nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta.

Chính sự phát triển của nền khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học lý thuyết đã và sẽ tiếp tục chứng minh cho tính khoa học kỳ vĩ của thuyết Âm Dương Ngũ hành - một học thuyết vũ trụ quan cho rằng vũ trụ là tự nó và do nó, không nhân danh Đấng Chí Tôn. Hay nói một cách khác hình ảnh qua truyện Trê và Cóc:
Chính sự phát triển tất yếu có qui luật của tự nhiên, cuộc sống và xã hội thì bầy nòng nọc sẽ trở thành cóc và trở về cội nguồn của nó là nền văn minh khoa đẩu thuộc về người Lạc Việt với lịch sử gần 5000 văn hiến.
Những phần tiếp theo sẽ chứng tỏ điều này.


Posted Image
--------------------

Chú thích:
* Sách đã dẫn. Nxb Grasset. Paris. Tác giả Jeam Guitton viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp. Grichka Bognov. Igor Bogdanov Tiến sĩ vật lý thiên văn và vật lý lý thuyết. Bản dịch của Lê Diên. Nxb Đà Nẵng 2/2002
** Chú thích: “Thượng Đế và khoa học”. Sách đã dẫn. Trang 41-42.
*** Sách đã dẫn. Trang 52 -53
**** Chú thích: “Lược sử thời gian”. Sách đã dẫn. trang 27.
***** “Lược sử thời gian”. Sách đã dẫn.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thuyết Âm Dương ngũ hành

LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ

Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải có tính hệ thống,

tính khách quan, tính qui luật đồng thời phải có khả năng giải thích

hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hợp lý và có khả năng tiên tri”.

Tiêu chí khoa học

“Một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh có khả năng mô tả được mọi điều trong vũ trụ”.

S.W Hawking

I - SO SÁNH THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VỚI TIÊU CHÍ KHOA HỌC.
Trên cơ sở những tiêu trí khoa học đã nêu ở trên. Trên cơ sở khái niệm được định nghĩa lại về vật chất từ đó xác minh thuộc tính vật chất của ý thức, sự nhất quán và tính hoàn chỉnh của thuyết Âm dương Ngũ hành trên cơ sở nguyên lý khởi nguyên của học thuyết này là Hà Đồ và Lạc thư với phương pháp luận đang ứng dụng trên thực tế của học thuyết này, chúng ta xét về mặt định tính đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành:

I - 1: Tính hệ thống:
Là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, Bát quái chỉ là những ký hiệu siêu công thức của học thuyết này. Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành nhất quán trong việc phân tích, lý giải trong mọi phương pháp ứng dụng: Từ Đông Y, dự báo, phong thủy....

I - 2: Tính khách quan:
Vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành tự nó và do nó không lệ thuộc vào ý chí của Thượng Đế .


I - 3: Tính qui luật:
Mọi sự vận động tương tác đều tuân thủ theo qui luật sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.

I - 4: Khả năng giải thích những vấn đề liên quan và tiên tri
Đây là một thực tế đã trải hàng ngàn năm lưu truyền trong dân gian về tính tiên tri qua các phương pháp bói toán cổ Đông phương trải rộng khắp trên mọi lĩnh vực từ thiên nhiên, xã hội và con người đến từng chi tiết trong cuộc sống.



II - SO SÁNH THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VỚI TIÊU CHÍ CỦA LÝ THUYẾT THỒNG NHẤT.

Xét nội dung căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng ta thấy rằng học thuyết này giải thích từ sự khởi nguyên của vũ trụ - "Thái Cực sinh lưỡng nghi" - cho đến mọi hành vi trong cuộc sống của từng cá thể con người qua khả năng dự báo tiên tri.
Như vậy - trên cơ sở so sánh về định tính của thuyết Âm Dương Ngũ hành với tiêu chí khoa học và tiêu chí của lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học thì chúng ta có thể khẳng định rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học mà nhân loại đang tìm kiếm.
Vấn đề còn lại là do tính thất truyền của học thuyết này mà chúng ta cần phải phục hồi lại một tri thức huyền vĩ đã tồn tại trong lịch sử tiến hóa của nhân loại.

III - CƠ SỞ PHỤC HỒI THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
III - 1: Nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm - một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử - chính là chủ nhân đích thực của những giá trị văn minh Đông phương.
Một yếu tố quan trọng, rất cần thiết và không thể thiếu được cần xác định trước khi đặt vấn đề khả năng phục hồi học thuyết này là:
Cội nguồn của học thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt với lịch sử lập quốc trải gần 5000 năm vắn hiến - một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử.
Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ không có cơ sở nào để phục hồi lại một cách hoàn chỉnh học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Căn cứ vào những luận điểm đã chứng minh ở trên, xin tóm lược như sau:
III - 1 - 1: Về nội dung thực tế.
* Những sai lệch bất hợp lý có tính nguyên lý của thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán, không thể có khả năng hoàn chỉnh và lý giải những vấn đề liên quan ngay trong nội dung của nó và các phương pháp ứng dụng.
* Sự rời rạc trong cấu trúc liên quan tới thời điểm xuất hiện riêng phần không thể chứng tỏ thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh trong cổ thư chữ Hán.

III - 1 -2: Về không - thời gian lịch sử.
* Nền văn minh Hán không chứng tỏ tính kế thừa và phát triển liên tục của học thuyết này. Những mâu thuẫn về thời điểm lịch sử xuất hiện những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành mang tính phủ định lẫn nhau.
* Không hề có một triều đại nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ coi thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết chính thống. Mặc dù phương pháp ứng dụng nó lại chứng tỏ là hệ quả của một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh và thực tế đã chứng minh những yếu tố là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh bị thất truyền. Không thể coi sự tôn vinh Nho giáo để chứng tỏ tính chính thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các triều đại phong kiến. Bởi vì, kinh điển Nho Giáo chỉ nói đến Âm Dương không nói đến Ngũ hành. Thực chất Nho Giáo chỉ là tính dụng chưa hoàn chỉnh của học thuyết này trên thực tế trong việc thiết lập những chuẩn mực đạo lý trong quan hệ xã hội.
Chính vì sự thất truyền và sự tiếp thu không hoàn chỉnh của nền văn minh Hoa Hạ với thuyết Âm Dương Ngũ hành, nên những phương pháp ứng dụng – vốn là hệ quả của nó, thí dụ như Tử vi, Đông y ..vv..- không hề chứng tỏ một nguyên lý ứng dụng và trở nên huyền bí trong tri thức của người đương thời.
* Trải một thời gian hơn 2000 năm lưu truyền và ngộ nhận những di sản của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong đế chế Hán, thuyết Âm Dương Ngũ hành hoàn toàn bế tắc trong sự phát triển phục hồi và liên hệ với tri thức khoa học hiện đại. Thậm chí đến nay, chính những hậu duệ của nền văn minh này - ngày nay - phải lên tiếng phủ nhận những di sản vốn được coi là thuộc về nền văn minh Hoa Hạ của chính họ**.
Đó là những lý do mà chỉ có thể phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến huyền vĩ của dân tộc Việt trải gần 5000 năm lịch sử - một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Vả đây cũng là một bằng chứng sắc sảo nhân danh khoa học trên cơ sở tất cả các tiêu chí khoa học trong điều kiện hiện nay và cả tương lai , để chứng tỏ tính chân lý:
Lịch dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương tử với quốc hiệu Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng.

Bắt đầu từ điều kiện nhất quán này - Lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến - trên cơ sở tiêu chí khoa học - chúng ta mới có khả năng phục hồi hoàn chỉnh thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất vũ trụ cho sự phát triển của con người trong tương lai.
Và cũng trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương tử - sẽ giải thích một cách khác sự khởi nguyên của vũ trụ không như thuyết Bicbang - vốn được đa số những nhà khoa học thế giới thừa nhận.
Còn tiếp

----------------
Chú thích:
* Những giá trị thuộc di sản văn hóa phi vật thể, vào năm 2002 đã được cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc thừa nhận là những bằng chứng khoa học.

** Xin xem bài: Đông y sẽ đi về đâu? Trang 261, Tiểu luận "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" - Nxb Tổng hợp T/p HCM. Nội dung toàn văn đã đang lại ở trang chu website lyhocdongphuong.org.vn, hoặc vanhienlacviet.org.vn.
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH LÝ GIẢI TRẠNG THÁI

KHỞI NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ.

I - Sự lý giải khởi nguyên vũ trụ theo thuyết Bigbang.

Thuyết Bigbang giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ - cho rằng vào giây /0/ vũ trụ là một khối vật chất vô cùng đậm đặc và vô cùng nhỏ. Các cấu trúc nhỏ nhất của vật chất nằm sát cạnh nhau và không có khoảng cách giữa chúng. Sự dồn nén ấy đã bùng vỡ, giải phóng một năng lượng cực lớn, khiến các hạt vật chất bắn vào không gian và tạo ra vũ trụ hiện nay.

Thuyết này được các hầu hết những nhà khoa học hiện đại chấp nhận. Mặc dù - như SW Hawking đã thừa nhận rằng:

Sự khởi nguyên của vũ trụ cho đến ngày nay, đối với khoa học hiện đại mới chỉ là những giả thuyết khoa học chưa hoàn chỉnh. Kể cả thuyết Bigbang – một giả thuyết về sự hình thành vũ trụ được coi là có khả năng lý giải khá nhiều hiện tượng vũ trụ hiện nay – nhưng các nhà khoa học hàng đầu cũng phải thừa nhận những lỗ hổng mà thuyết Bigbang không thể lý giải được.

Và trong điều kiện như vậy - giây /0/ của vũ trụ theo thuyết Bigbang - thì như Sw. Hawking đã viết:

Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại. Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước đó không xác định được.

.

Nhưng ngược lại, chính nền minh triết Đông Phương với thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt đã giải thích sự khởi nguyên vũ trụ khác hẳn thuyết Bigbang. Và với điều kiện của thuyết Âm Dương Ngũ hành giải thích sự khởi nguyên vũ trụ thì nó không rơi vào trường hợp mà SW. Hawking đã nhân xét với thuyết Bicbang ở trên. Tức là với cách giải thích của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì sự khởi nguyên của vũ trụ tiếp tục là hậu quả có thể quan sát được, hoặc chí ít con người có thể suy luận được. Hay nói rõ hơn là trạng thái khởi nguyên của vũ trụ vẫn tiếp tục tương tác với tất cả mọi sự tiến hóa trong vũ trụ , trong đó có con người. Đó chính là khái niệm Thái Cực trong lý học Đông phương - giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dượng Ngũ hành. Điều này sẽ được chứng tỏ và minh chứng tiếp theo đây.

II - Thái cực trạng thái khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Trong Chu Dịch (*)- qua bản văn chữ Hán - chỉ giải thích sự khởi nguyên vũ trụ một cách rất vắn tắt trong phần Kinh văn, Hệ từ truyện là: "Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái". Nhưng bản chất Thái cực là gì thì do tính thất truyền của nền văn minh Lạc Việt sau khi sụp đổ và thế kỷ III BC, ở miền nam Dương Tử, nền văn minh Hoa Hạ - vốn tự nhận là tác giả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - không thể giải thích được điều này. Cho đến hàng ngàn năm sau BC, Chu Hy một triết gia thời Tống đã đưa khái niệm Vô Cực vào để giải thích Thái Cực. Sai lầm của ông đã làm rối rắm thêm khái niệm Thái Cực và góp phần đẩy nền Lý học Đông phương vào bế tắc (**). Nhưng vì là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương ngũ hành cho nên chỉ những di sản còn lại của nền văn minh này, đã để những thế hệ tiếp nối của nền văn hiến người Lạc Việt đủ khả năng phục hồi lại những giá trị đích thực của nền Lý học Đông phương và giá trị cốt lõi của nó.

Trong những di sản của nền văn hiến Lạc Việt được tiếp tục lưu truyền qua hàng ngàn năm đô hộ và Hán hóa chính là cuốn Đạo Đức Kinh - Trong cuốn sách này đã đặt đưa một khái niệm khác về khởi nguyên của vũ trụ để giải thích Thái Cực mang tính phổ biến hơn và tạo - hoặc phục hồi - nên một tín ngưỡng trong nền văn minh này. Đó chính là khái niệm "Đạo".

Đạo Đức Kinh viết:

Hữu vật hỗn thành.

Tiên thiên địa sinh.

Tịch hề liêu hề.

Độc lập bất cãi

Châu hành nhi bất đãi.

Khả dĩ vi thiên hạ chi mẫu.

Ngô bất tri kỳ danh.

Tự chi viết Đạo.

Qua đoạn trích dẫn trên, cho thấy Đạo Đức Kinh xác định "cái có trước trời đất" - sự khởi nguyên của vũ trụ là Đạo - là mẹ của vũ trụ. Có thể nói rằng: Nếu lột bỏ cái áo văn tự Hán và sự mơ hồ của tác giả là Lão Tử thì cuốn Đạo Đức Kinh hoàn toàn có nội dung kế thừa và phát triển của thuyết Âm Dương Ngũ hành, giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo xu hướng phổ biến và hướng tới một mục đích khác trong việc đưa con người tự tìm hiểu giá trị đích thực của mình, đưa con người trở về với tự nhiên.

Mẹ của vạn vật chính là Đạo trong Đạo Đức Kinh - chính là "Mẹ tròn" trong thành ngữ dân gian Việt Nam - Mẹ sinh vạn vật chính là "Mẹ tròn sinh con vuông" mà ngàn năm văn hiến Việt lưu truyền qua hình tượng chiếc bánh chưng, bánh dầy - Linh vật của nền văn hiến huyền vĩ Việt.

Bây giờ chúng ta trở lại với khái niệm Thái Cực trong minh triết Đông phương qua những di sản còn lại là "Đạo Đức Kinh " và Phật giáo.

Đạo Đức kinh viết:

Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng. Thấp thoáng mập mờ nhưng bên trong có hình tượng. Mập mờ thấp thoàng mà bên trong có vạn vật. Nó thâm viễn tối tăm.

Theo tôi: Khái niệm “tối tăm” vì tính khó nhận thức, chứ không phải vì bản thể Đạo là tối. Điều này Lão Tử đã xác định ở câu: “ở trên không sáng, ở dưới không tối mà bên trong có cái tinh tuý. Tinh tuý đó rất xác thực và đáng tin!”.

Trong văn minh Lạc Việt thể bản nguyên của vũ trụ còn được hình tượng bằng chiếc bánh dầy. Chiếc bánh Dầy bằng nếp giã: mầu trắng tinh khiết, không mùi vị thể hiện sự thuần khiết. Hình tròn của bánh dầy tượng cho sự viên mãn và tính tuyệt đối. Tính dẻo thể hiện sự thông biến, chính là "Mẹ tròn", là cái có trước, là sự khởi nguyên của vũ trụ, là Thái Cực, là Đạo: “Vạn vật có nguồn gốc, Nguồn gốc đó là Mẹ của vạn vật” (Đạo Đức kinh).

Có thể nói rằng: Trong văn minh Đông Phương thì Kinh Dịch nhắc đến khởi nguyên vũ trụ là Thái Cực. Đạo đức Kinh nói đến cái thể của Thái Cực và Phật pháp nói đến cái tính của Thái cực. Chính Phật pháp đã chứng tỏ khái niệm về khởi nguyên của Thái Cực trong lý học Đông phương khác hẳn Bigbang - và không như nhận xét của SW. Hawking về bigbang mà tôi xin phép được nhắc lại nơi đây:

Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại. Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được.

III - Sự khởi nguyên của vũ trụ - Thái Cực - trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Nghĩa đen của Thái Cực nghĩa là vượt ra ngoài sự giới hạn. Căn cứ vào sự diễn tả trong Đạo Đức Kinh và nghĩa đen của danh từ Thái Cực, chúng ta có thể hiểu trang thái khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - như sau:

Giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ - Thái Cực - là tính tuyệt đối với vận tốc = |0|. Không giới hạn không gian, không có giới hạn thời gian; Trong trạng thái khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Lạc Việt - không có cái vô cùng nhỏ để so với cái vô cùng lớn; không có cái "Có" để so với cái "Không"; Không có cái "Động" để so với cái "Tĩnh"; Tự nó và do nó. Đây là giây 0 trước tất cả những thực tại đang hiện hữu mà tri thức con người đã nhận thấy và sẽ nhận thấy, hoặc có thể nhận thấy.

Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - thì Thái Cực - khởi nguyên vũ trụ là trạng thái duy nhất không Âm, không Dương vì không có đối đãi so sánh và chính là sự "Tuyệt đối" phi tín ngưỡng.

Trong Phật giáo qua bộ kinh nổi tiếng "Thần chú Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm" thì đây chính là tính nhận biết/ tính Thấy cho tất cả mọi sự vận động mang thuộc tính vật chất. Thái Cực với khái niệm đưộc phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt là một thực tại có thể tính, chính là Tính thấy mà Đức Thích Ca đã minh giảng ý nghĩa của nó, có thể liên hệ với khái niệm Đạo trong Đạo Đức kinh. Và đây chính là lý do để xác định rằng:

So với sự khởi nguyên vũ trụ được hình thành theo thuyết Bicbang là những hậu quả không thể quan sát được (SW. Hawking - đã dẫn) thì khái niệm Thái Cực trong thuyết Âm Dương Ngũ hành có thể tính và chính là sự tương tác tiếp tục trong quá trình tiến hóa của vũ trụ. Đạo Đức kinh xác định thể tính của Thái cực như sau:

“ở trên không sáng, ở dưới không tối mà bên trong có cái tinh tuý. Tinh tuý đó rất xác thực và đáng tin!”. [/color]

Thái cực là một thực tại có thể tính, nên có thể diễn đạt như một tính từ trong một điều kiện liên hệ với thực tế nào đó, như: Tính thấy, tính nhận thức, Trường thông tin, trạng thái năng lượng tĩnh (So với cái động hiện hữu)..vv...

Như vậy, với thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Thái cực , sự khởi nguyên của vũ trụ là một trạng thái tuỵêt đối, tự nó và do nó và là một thực tại. Đây cũng là điều mà nền minh triết cổ Đông phương dù xuất hiện ở không, thời gian khác nhau đã thống nhất xác định định tính của nó: Phật pháp, Đạo Đức Kinh với Văn minh Lạc Việt. Đây là sự khác biệt hoàn toàn với luận điểm của Bigbang khi cho rằng: Khởi nguyên của vũ trụ là trạng thái cô đặc tuyệt đối của vật chất.

Nhưng vũ trụ đã hình thành như thế nào từ trạng thái tuyệt đối đó?

Còn tiếp

-----------

Chú thích:

* Tên đầy đủ của cuốn sách này phải là "Lạc Thư Chu Dịch". Tức là sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ. Nhưng Khổng An Quốc - một danh nho đời Tây Hán - đã giải thích, hoặc bị giảng thành hiểu sai rằng: Chu Dịch là dịch của nhà Chu làm ra căn cứ vào Lạc Thư trên lưng con rùa thần hiện lên ở sông Lạc.

** Xin xem sự phân tích những sai lầm của ông Chu Hy trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch". Nxb Đại học Quốc gia T/p HCM lần thứ nhất - 2001 . Nxb VHTT lần thứ 2 - 2002. Nội dung sách có tại trang chủ website vanhienlacviet.org.vn, hoặc lyhocdongphuong.org.vn.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

SỰ HÌNH THÀNH VŨ TRỤ THEO THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

Nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt trải gần 5000 năm lịch sử

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh với chính nó, có khả năng lý giải một cách hợp lý với phương pháp luận của nó với mọi vấn đề liên quan. Có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri. Học thuyết này giải thích từ sự hình thành vũ trụ đến mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống và con người, đáp ứng đầy đủ tiêu chí của một lý thuyết khoa học và lý thuyết thống nhất vũ trụ. Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành lý giải từ trạng thái khởi nguyên của vũ trụ với khái niệm Thái Cực. Nhưng vũ trụ đã hình thành như thế nào từ trạng thái khởi nguyên với khái niệm Thái Cực này?

I - Sự bùng nổ của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Kể từ khi nền văn hiền huyền vĩ Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử, dân tộc Việt bị đô hộ hơn 1000 năm dưới đế chế Hán. Nhưng tri thức rực rỡ của nền văn hiến huyền vĩ Việt bị thất truyền, những di sản còn lại bị Hán hóa trải hơn 1000 năm. Trong một đế chế thống nhất, tất yếu phải thống nhất về ngôn ngữ và chữ viết. Đó là lý do mà trải hơn 1000 năm Bắc thuộc, những di sản còn lại của nền văn hiến Việt mang hình thức văn bản chữ Hán để có thể tiếp tục lưu truyền. Thậm chí nó mang luôn tên tác giả Hán - nhưng đó chỉ là những người có công chuyển ngữ từ văn bản Việt Ngữ sang Hán tự, cũng có những trường hợp bị ngộ nhận, hoặc cố tình như Chu Văn Vương làm ra Chu Dịch, Khổng Tử viết Thập Dực..vv...Nhưng đó cũng chỉ là những hình thức bên ngoài. Nội dung của những di sản Đông Phương này với tri thức vũ trụ quan kỳ vĩ, không thể được hình thành vào những niên đại với các tác giả được gán ghép và dịch thuật nêu trên.
Vì không phải chủ nhân đích thực của văn minh Đông phương, nên trải hàng ngàn năm, hậu duệ của nền văn minh Hoa Hạ và cả của nhân loại sau khi có sự tiếp xúc với văn minh hiện đại cũng không thể hiểu được sự huyền vĩ Đông Phương. Điều này đã khiến nó dẫm chận tại chỗ, kể từ khi những di sản đó bị Hán hóa từ hàng ngàn năm trước và không thể phát triển được. Đến nay, chính nhưng tri thức hậu duệ của nền văn minh Hoa Hạ phải lên tiếng phủ nhận ngay những giá trị văn minh Đông phương vốn được ngộ nhận là thuộc về tổ tiên của họ.
Đó là thực tế không thể phủ nhận.
Nhưng ngược lại, chính nền văn hiến huyền vĩ Việt với bao thăng trầm lịch sử giống nòi, chỉ với những gì còn lại từ những di sản văn hóa phi vật thể lại chỉ ra bản chất đích thực của nền văn minh Đông phương và những thực tại huyền vĩ của vũ trụ mà tri thức nhân loại phải mơ ước: Lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học.
Chính vì vậy thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt là một bằng chứng phi vật thể vô cùng sắc sảo, minh chứng cho lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm.
Sự giải thích sự khởi nguyên vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành hoàn toàn khác hẳn thuyết Bicbang của tri thức khoa học hiện đại. Sự giải thích này - tuân thủ theo tiêu chí khoa học - sẽ không hề phủ nhận những thành tựu khoa học đã được thừa nhận tính chân lý. Chúng ta bắt đầu từ trạng thái khởi nguyên của vũ trụ là Thái Cực.

I - 1: Thái cực sinh lưỡng nghi...
Trong Hệ từ viết về Thái Cực, duy nhất chỉ có một câu như vậy: "Dịch hữu Thái cực. Thái cực sinh lưỡng Nghi. Lương Nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái". Hàng ngàn năm trôi qua, khi Kinh Dịch của Việt tộc bị Hán hóa, các trí giả nổi tiếng của nền văn minh Hoa Hạ đã cố gắng lý giải bản chất khái niệm của Thái Cực. Nhưng đều thất bại.
Hàng ngàn năn sau đó, hầu hết những người nghiên cứu Dịch học đều chấp nhận cách lý giải Thái Cực của Chu Hy - một triết gia Đông phương đời Tống, cho rằng: Tứ tượng là Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Lưỡng Nghi là Âm Dương, còn Thái Cực là Vô Cực. Đấy là cách giải thích mơ hồ, vòng vo mà các bậc trí giả Lạc Việt đã khái quát bằng câu thành ngữ dân gian nổi tiếng : "Mồm bò, chẳng phải mồm bò. Nhưng lại là mồm bò". Tóm lại, nếu nền văn minh Họa Hạ là chủ nhân đích thực của Lý học Đông phương thì các thế hệ kế thừa chẳng việc gì phải dịch lại và giải thích Thái Cực - và toàn bộ ý ngghĩa của kinh Dịch làm gì. Nhưng họ cũng không làm nổi việc này. Không phải chỉ vài chục, vài trăm năm, mà là hàng ngàn năm đã trôi qua. Thậm chí cho đến ngày nay - khi Kinh Dịch phổ biến trên toàn thế giới - những phương pháp ứng dụng của nền Lý học Đông phương như Phong thủy, Đông Y được phổ biến trong văn minh nhân loại - thì con người vẫn ngơ ngác trước sự kỳ vĩ của nền văn hóa này và chưa hiểu gì về nó.
Nhưng nền văn hiến Lạc Việt mà hậu duệ là người Việt Nam ngày nay - cho dù với bao thăng trầm của lịch sử - vẫn có khả năng phục hồi lại những giá trị của nền văn minh Đông Phương kỳ vĩ qua những di sản còn lại.
Thái Cực chính là trạng thái khởi nguyên của vũ trụ.
Trạng thái tuyệt đối – Thái cực – tồn tại bao lâu thì không thể tính được, vì không không gian và không thời gian. Có thể chỉ là 1/ nhiều tỷ có lũy thừa của giây và cũng có thể là vô tân. Nhưng sự hiện hữu của chúng ta và tất cả vũ trụ hiện nay đã chứng tỏ cái tương đối - tạm khiên cưỡng gọi là cái Động - đã xuất hiện so với tốc độ ban đầu có giá trị tuyệt đối = |0|. Nói một cách khác, nếu có một vật thể chuyển động ở hai đầu của vũ trụ thì giá trị của vận tốc là tức thì. Động, Tĩnh phân biệt: Thái cực sinh lưỡng nghi, mà nền văn hiến trải gần 5000 năm của người Việt đã cô đọng trong một câu thành ngữ nổi tiếng: “Mẹ tròn, con vuông”. Ngày Tết đến - những ngày thiêng liêng nhất trong văn minh của người Việt - bạn hãy để chiếc bánh Dầy màu trắng tinh khiết lên trên chiếc bánh Chưng xanh mướt buộc bốn sợi lạc hồng, bạn sẽ hình dung được ý nghĩa tuyệt vời của câu thành ngữ trải qua bao thế hệ của giống nòi Lạc Việt: “Mẹ tròn, con vuông”. Đó chính là sự lý giải tiên đề nổi tiếng trong kinh Dịch: “Thái cực sinh Lưỡng nghi”.
Trong trạng thái Thái Cực khởi nguyên của vũ trụ là tuyệt đối, không có sự phân biệt. Nhưng khi xuất hiện một trạng thái tương đối so với nó xuất hiện. Trạng thái tương đối này có vận tốc gần bằng /0/, nhưng không phải/0/. Đây chính là hiện tượng đầu tiên của ngũ hành mà lý học Đông phương nói tới:

I - 1 - 1: Thiên nhất sinh Thuỷ:
Sự vận động khởi nguyên trong trạng thái một không gian không có bắt đầu và không có kết thúc, sẽ phải là một chuyển động cong và hỗn loạn trong một không gian nhiều chiều (Bởi vì nếu là chuyển động thẳng thì có bắt đầu và kết thúc). Trạng thái tương tác bắt đầu xuất hiện.


I - 1 - 2: Thiên nhị sinh Hoả:
Sự va chạm của các quỹ đạo chuyển động cong trong không gian nhiều chiều với vận tốc vô cùng lớn trong vũ trụ - (Gần bằng /0/, nhưng không phải /0/) - đã bùng nổ một trạng thái năng lượng Động vô cùng lớn. Đây cũng chính là trạng thái hỗn độn mà trong các cổ thư Đông phương nói đến về sự khởi nguyên của vũ trụ. Sự bùng nổ này mang tính đều khắp và tràn ngập.
Đây là giai đoạn tương tự với Bicbang mà các nhà khoa học hiện đại nói tới. Chính sự bùng nổ này đã để lại những bức xạ tàn dư mà những phương tiện khoa học hiện đại xác nhận. Nhưng nó không phải do sự dồn nén vật chất tạo ra như Bicbang miêu tả.
I - 1 - 3: Thiên tam sinh Mộc
Trạng thái hỗn độn ban đầu dần tự ổn định, dẫn đến sự vận động theo một chiều quay đẳng hướng (Nếu không tự ổn định thì sự bùng nổ vẫn tiếp tục do va chạm với tốc độ cực lớn). Tức là chiều quay của các thiên hà trong vũ trụ hiện nay, theo tính hợp lý của nó phải hình thành một trung tâm vũ trụ không ổn định.


I - 1 - 4: Thiên tứ sinh Kim
Từ tâm vũ trụ này, hình thành hướng chuyển động vòng xoáy ly tâm cực nhanh đẳng hướng.


I - 1 - 5: Thiên Ngũ sinh Thổ
Khối năng lượng động tích tụ dần hình thành dạng vật chất đầu tiên của vũ trụ. Cùng một lúc với sự xuất hiện của các trạng thái trên là sự tương tác của Âm Dương Ngũ hành:

I - 2: “Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng” .
Người Hoa Hạ tiếp quản nền văn hiến khi tan rã ở miền nam Dương Tử, đã giải thích Tứ tượng là Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương. Nhưng Thái Dương và Thiếu Dương chỉ là khái niệm về những giai đoạn của sự phát triển của một thể tính - gọi là Dương. Tương tự như vậy với Thái Âm và Thiếu Âm cũng chỉ là khái niệm về những giai đoạn đầu và cuối cho sự phát triển của một thể tính Âm. Nó không phản ánh tính xác định bốn trạng thái thể tính riêng. Với cách hiểu của người Hoa Hạ thì vũ trụ không có khái niệm tương tác ngay từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Điều này phi khoa học, khi khoa học đã xác định rằng:
Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của thế giới được nghiên cứu nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác như thế nào thì bản chất của sự việc như thế đó.

Bởi vậy - nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt - thì chữ Tượng 象 trong Hán tự đồng dạng với danh từ chỉ con voi - một sinh vật vốn chỉ có ở văn minh Lạc Việt ở Nam Dương Tử. Khái niệm "Tượng" trong Lý học Đông phương chỉ hình thức bên ngoài, sự thể hiện bên ngoài tính chất của sự vật hoặc sự việc và không phải bản tính của sự vật sự việc. Bởi vậy nó không thể là Thái Âm, Thái Dương...vốn là danh từ khái niệm thể tính. Do đó, chữ Tượng trong Lương Nghi sinh Tứ tương chính là để chí bốn trạng thái tương tác xảy ra ngay sau khi có "lưỡng nghi". Trong Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt chính là:
Tương sinh, Tương khắc, Tương thừa, Tương vũ. Đây chính là cơ sở của “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”.
Với luận điểm này thì Tứ Tượng là "sự tương tác của Thể Tính" (Âm dương Ngũ hành) chứ không phải Thể Tính. Điều này khác hẳn với cách giải thích sai lầm của các nhà lý học từ thời Hán về sau. Chính sự hiểu sai này - do không phải chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành - khiến nó không thể phát triển từ hàng ngàn năm trong lịch sử văn minh Hoa Hạ. Đó cũng chính là sự cản trở việc tìm hiểu giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ hàng ngàn năm qua, góp phần quan trọng trong việc đẩy nền văn minh Đông phương vào sự huyền bí. Trong các bản văn cổ thư chữ Hán còn lưu truyền, chúng ta có thể thấy khái niệm Thái Âm, Thái Dương,Thiếu Âm, Thiếu Dương trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn nhưng luôn đi kèm với Ngũ hành, như Thiếu Dương tướng Hoả, Thái Dương hàn Thuỷ... Đây cũng là một bằng chứng sắc sảo nữa cho thấy:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh ngay từ những khái niệm khởi nguyên của nó.

Sự khẳng định tứ tượng là 4 trạng tương tác có ngay từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, hoàn toàn phù hợp với những giá trị nhận thức của khoa học hiện đại.

Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của thế giới được nghiên cứu nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác như thế nào thì bản chất của sự việc như thế đó.


Chính vì thế nên khoa dự báo gồm cả Bốc Dịch, Mai Hoa, Lạc Việt độn toán mới viết về sự quán xét Tượng khi đoán quẻ, tức là quán xét sự tương tác . Và chính các nhà lý số khi đoán quẻ cân nhắc Ngũ hành sinh khắc, thực chất là quán xét sự tương tác giữa các thể tính trên thực tế, quán xét diễn biến hiện tượng mà quẻ tìm được.
Tất cả mọi hiện tượng trên chỉ xảy ra trong khoảng thời gian cực ngắn, do xuất phát điểm là một trạng thái tuyệt đối. So với cái tuyệt đối thì 10 lũy thừa - 43 giây là một thời gian quá dài. Tốc độ khởi nguyên của vũ trụ = |0| cũng chính là tốc độ giới hạn của vũ trụ.

II - Chuyển động cong và tâm vũ trụ.

Chỉ có sự va chạm giữa cái tuyệt đối - Thái Cực - với thể tính xuất hiện ban đầu - lưỡng nghi - theo thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt trải gần 5000 năm lịch sử - mới có thể giải thích được chuyển động cong của các thiên hà trong vũ trụ. Điều này đã minh chứng ở trên. Và cũng chính nền văn hiến Lạc Việt huyền vĩ sẽ giải thích hiện tương các Thiên Hà chạy ngày càng xa nhau mà các nhà thiên văn hiện đại đã quan sát được như sau:
Bạn đọc có thể so sánh hình ảnh sự vận động của vũ trụ hiện nay trong hình dưới đây với ba đỉnh của tam giác biểu tượng cho vị trí quan sát trong vũ trụ.


Posted Image

Như vậy, với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó:

II - 1: Giải thích hiện tượng các thiên hà chạy ngày càng xa nhau.

Với hình trên dù quan sát ở bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ chúng ta cũng thấy các Thiên Hà đang chạy xa nhau. Nhưng nguyên nhân của nó được giải thích theo một cách khác. Sự bùng nổ từ một trạng thái tuyệt đối: Thái Cực, khác với sự bùng nổ từ trạng thái hữu hạn: Bigbang – vốn không lý giải được trạng thái khởi nguyên và với những hạn chế từ khái niệm ý thức, dẫn đến sự ngự trị của Thượng Đế.

II - 2:
Giải thích hiện tượng
bức xạ tàn dư:
Hiện tượng bức xạ tàn dư tồn tai trong vũ trụ. Được giải thích theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đó là sự va chạm giữa trạng thái tuyệt đối và cái tương đối - "lưỡng nghi" - trong vũ trụ. Nhưng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì bức xạ này chỉ hình thành khi vũ trụ đã xuất hiện những chuyển động cong đẳng hướng - "Thiên thiên tam sinh Mộc"
Thuyết Âm Dương Ngũ hành với quan niệm của nó còn được giải thích được nhiều hiện tượng khác mà thuyết bigbang không thể giải thích được. Đó là:
Sự chuyển động cong của tất cả mọi thể tính trong vũ trụ từ các hạt vật chất nhỏ nhất đến các Thiên Hà khổng lồ (không thể có chuyển động thẳng trong trạng thái tuyệt đối, không có bắt đầu và kết thúc).

III - 3: Tâm vũ trụ:

Với hiện tượng chuyển động cong trong vũ trụ và với quan sát mà các nhà khoa học hiện đại nhận thức được - các thiên hà chạy ngày càng xa nhau - thì tính hợp lý của các vấn đề liên quan khiến chúng ta phải thừa nhận một tâm vũ trụ. Xin xem lại hình minh họa ở trên. Sự hình thành tâm vũ trụ này sẽ giải thích cách thiên hà chạy càng nhanh và xa nhau như hiện tượng quan sát được của các nhà vật lý thiên văn hiện đại. Điều này sẽ dẫn đến một suy diện hợp lý cho rằng: Tốc độ ánh sáng không phải là tốc độ giới hạn của vũ trụ như thuyết Tương đối mà
Anbe Einstein đã quan niệm - khi mà các thiên hà trôi đến tốc độ lớn đến vô tận. Thuyết Tương đối chỉ là trường hợp riêng của Thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt. Nhưng thuyết tương đối - là một chân lý cục bộ xác định rằng:
Mọi vật thể khi chuyển động bằng tốc độ ánh sáng chỉ có thể cấu tạo dưới dạng hạt.
Ứng dụng điều này và giải thích theo thuyết Âm Dương Ngũ hành cho ta thấy sự bùng nổ và tan rã của các Thiên Hà bên ngoài vũ trụ quan sát được - Khi mà các Thiên hà đó chuyển động ngày càng nhanh và bị bùng vỡ khi đạt tới tốc độ bằng tốc độ ánh sáng.
Chính tâm vũ trụ này - giải thích và phủ nhận quan niệm sai lầm của Bicbang khi hệ quả của nó cho rằng vũ trụ co lại tạo ra hạt vật chất đậm đặc.

IV: Tốc độ giới hạn của vũ trụ.

Các nhà khoa học hiện đại với các phát minh mới nhất của họ đã chứng tỏ trên thực tế một tốc độ vũ trụ lớn hơn tốc độ ánh sáng và theo một lý thuyết đã công bố thì tốc độ vũ trụ gấp 310 lần tốc độ ánh sáng (Lý thuyết này chưa được công nhận). Thuyết Âm Dương Ngũ hành với khái niệm Thái cực, chứng tỏ tốc độ giới hạn của vũ trụ là tuyệt đối = |0|. Đây là một thực tại chỉ có tính lý thuyết và không thể kiểm chứng. Hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh trên thực tế là tốc độ vũ trụ lớn hơn tốc độ ánh sáng. Bạn đọc xem đoạn trích dẫn sau đây chứng tỏ điêu này:


"Thông tin có thể truyền nhanh hơn ánh sáng?
Dù thông tin có đi nhanh đến mấy, hệ quả của nó cũng không thể có trước nguyên nhân.
Vài năm gần đây, nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy ánh sáng truyền trong các môi trường khí siêu lạnh có vận tốc lớn hơn vận tốc truyền trong chân không. Trong khi đó lý thuyết tương đối của Einstein lại khẳng định “không có vật nào có thể chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng trong chân không”. Liệu các kết quả thực nghiệm ở trên có đáng tin cậy hay lý thuyết tương đối của Einstein đang bộc lộ các mặt hạn chế của nó?... Để giải đáp cho các câu hỏi trên, nhiều giả thuyết vật lý đã được đưa ra. Nếu các kết quả thực nghiệm trên là đáng tin cậy, thì điều này đồng nghĩa với một thực tế là “kết quả” có thể có trước “nguyên nhân”, trái với quy luật “nhân - quả” thông thường mà chúng ta đã biết. Một thí dụ đơn giản, bạn có thể đọc được tất cả những gì tôi đang viết trước khi tôi viết xong... Nó cũng có nghĩa là thông tin có thể truyền nhanh hơn ánh sáng. Bạn có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu thông tin truyền nhanh hơn vận tốc ánh sáng? Khi đó, bất kỳ thiết bị sử dụng nào (thiết bị thu - phát tín hiệu) cũng có thể bị phá hủy dễ dàng bởi một xung ánh sáng tới (do vận tốc quá lớn), gây ra sự chồng chéo và hiện tượng quá tải về thông tin… đó thực sự là một thảm hoạ đối với nhân loại! Trên thực tế, chúng ta coi ánh sáng là một chùm các hạt proton chuyển động với tốc độ thay đổi. Và chúng ta hoàn toàn có thể gán cho chuyển động của toàn bộ chùm hạt với một vận tốc nhóm. Tuy nhiên, một giả thiết có thể đặt ra là thậm chí nếu một số photon ở đầu xung chuyển động với vận tốc lớn hơn vật tốc ánh sáng (giả sử như vận tốc nhóm lớn hơn vận tốc ánh sáng), thì xung vẫn không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc truyền thông tin, nó sẽ chỉ truyền thông tin trong trường hợp tất cả các photon đều đã đến nơi. Nhưng một câu hỏi đặt ra là: Tốc độ của thông tin trong một xung là bao nhiêu? Một số nhà vật lí cho rằng tốc độ thông tin có lẽ là vận tốc nhóm, trong khi đó số khác cho rằng trong tất cả các trường hợp tốc độ truyền thông tin luôn nhỏ hơn, hoặc cùng lắm là bằng vận tốc ánh sáng. Tuy nhiên, trong thực tế phần lớn các nhà vật lí đều thừa nhận có sự khác nhau giữa vận tốc nhóm và tốc độ lan truyền thông tin. Daniel Gauthier và các cộng sự thuộc trường Đại học Duke ở Durham, North Carolina, Mỹ gần đây đã tìm ra câu trả lời chính xác cho vấn đề này. Thông qua nghiên cứu của mình, họ đã quan sát được tốc độ truyền thông tin trong môi trường, nơi mà một số photon chuyển động với vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng. Điều quan trọng mà các tác giả đã chỉ ra là việc truyền thông tin không đơn thuần chỉ là vấn đề gửi tín hiệu đi. Thông tin cần phải được mã hoá và giải mã trong quá trình truyền và nhận tin. Đơn giản như ánh sáng có thể trở nên sáng hơn (khuyếch đại cường độ) trước khi truyền, để tránh sự tổn hao năng lượng trong quá trình truyền tin. Các tác giả cũng cho rằng tốc độ truyền tin cực đại tương ứng với thời điểm sớm nhất mà chúng ta ghi nhận được thông tin đến. Quá trình ghi nhận thông tin diễn ra trong một thời gian xác định, nó phụ thuộc vào dạng của xung và lượng nhiễu nền có mặt. Trong khi đó các máy thu cần phân biệt được đâu là sự thay đổi của thông tin, của nhiễu... Thông tin thực sự mà chúng ta ghi nhận được đã phải trải qua các quá trình mã hoá, giải mã và loại nhiễu nền và vì vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian truyền tin. Mọi giả thiết vật lý đều chỉ được thừa nhận khi chúng được kiểm chứng thông qua các quan sát thực nghiệm. Thành công mà Daniel Gauthier và các cộng sự gặt hái được là bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ: “Thông tin sau khi được mã hoá ở dạng xung và truyền trong môi trường khí các nguyên tử Kali là chậm hơn so với thông tin ở dạng xung - truyền trong chân không với vận tốc ánh sáng”. Thậm chí khi vận tốc nhóm của xung vượt xa vận tốc ánh sáng, vận tốc truyền thông tin vẫn sẽ không thể vượt qua được vận tốc ánh sáng. Điều đó có nghĩa là “thông tin thực sự không thể truyền nhanh hơn ánh sáng”

Trích VnExpress/2/11/2003


Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy rằng: Tốc độ ánh sáng không phải tốc độ giới hạn của vũ trụ trên thực tế.
Theo tính hợp lý của hiện tượng khi các thiên hà chạy càng nhanh và xa nhau thì khi đạt tới tốc độ giới hạn sẽ bùng vỡ và vũ trụ sẽ có cấu trúc hạt là cấu trúc cuối cùng và là cấu trúc cơ bản của vũ trụ. Điều này vô lý. Như vậy nó sẽ không thể giải thích được "tính nhận thức" trong chính con người chúng ta từ đâu mà ra. Đây cũng là một hiện tượng thực tế. Đó cũng là "hậu quả không quan sát được mà SW. Hawking đã nói đến với thuyết Bicbang. Điều này cũng sẽ dẫn đến Thượng Đế và là sự bế tắc của khoa học.
Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ tốc độ giới hạn của vũ trụ = /0/. Tức là tính tuyệt đối.

IV - 1: Hậu quả quan sát được:

Chính tính tuyệt đối này của trạng thái khởi nguyên của vũ trụ - Thái Cực - vẫn tiếp tục tương tác với mọi trạng thái vận động vật chất và quá trình tiến hóa của nó trong lịch sử vũ trụ theo sự giải thích của thuyết Âm Dương Ngũ hành và đó chính là nguyền gốc của mọi khả năng nhận thức của chúng ta - mà Phật Giáo gọi là Tính thấy, Bản tính Chân Như. Chính sự tương tác từ - Thái Cực - với mọi sự vận động của mọi trạng thái tồn tại của vật chất, nên nó chính là "hậu quả quan sát được" hoặc chí ít cũng là có thể cảm nhận được. Chứ không như Thuyết Bicbang mà sự khởi nguy6en vũ trụcvv của thuyết này là những hậu quả không quan sát được.

IV - 2: Tính quy luật và khả năng tiên tri.
Tất cả vũ trụ đang vận động có qui luật, sau khi sự bùng nổ trở lại trạng thái ổn định. Chính tính qui luật được nhận thức này thể hiện trong thuyết Âm Dương Ngũ hành đã làm nên khả năng tiên tri của nó. Nhưng những phương pháp tiên tri là hệ quả của một lý thuyết và phải có sau lý thuyết. Thực tế hiện hữu của những lý thuyết khoa học hiện nay chứng minh điều này. Do đó, những phương pháp luận trong các phương pháp tiên tri liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ có thể xuất hiện sau khi lý thuyết này đã hoàn chỉnh.
Sự phát triển của khoa học hiện đại đặc biệt là các lý thuyết khoa học hiện đại đã hé mở cho chúng ta cánh cửa huyền bi của nền văn minh Đông Phương, mà cho đến nay, một số nhà khoa học hàng đầu đã có sự liên hệ về mặt hiện tượng (Đạo của Vật lý; đã trích dẫn). Điều này cũng chứng tỏ sự tiên tri kỳ vĩ của nền văn minh Lạc Việt qua truyện Trê Cóc. Người viết tin rằng:
Với những di sản văn hoá phi vật thể của nền văn minh Lạc Việt kết hợp với những thành tựu khoa học hiện đại trong hiện hữu và trong tương lai sẽ dẫn đến sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước.
Như vậy, với sự lý giải sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành là một bằng chứng nữa chứng tỏ giả thuyết đã chứng minh qua cổ thư còn lại:


Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh trên thực tế trong quá khứ đã tồn tại của nó.
Âm Dương là trạng thái phân biệt trong mọi sự tồn tại của vật chất và Ngũ hành chính là sự phân biệt thuộc tính của vật chất. Đây là những khái niệm không thể tách rời trong một lý thuyết hoàn chỉnh và nhất quán.

Ngũ hành là những khái niệm diễn tả thực tại vận động có thuộc tính vật chất ngay từ giai đoạn đầu hình thành vũ trụ mang tính biểu kiến. Bởi vậy, ngũ hành gồm: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ không phải là những khái niệm cụ thể – Vốn được các học giả gán ghép cho sự thô sơ trực quan cho cổ nhân – khi con người nhận thức thực tế môi trường trái đất: Thuỷ là nước, Mộc là cây. Nhưng cây, nước... vốn chỉ là hình tượng của Ngũ hành.
Nhưng vấn đề chắc chắn chưa thể dừng lại ở đây. Vì chúng ta đều thấy rằng: Từ khi con người - trong chuỗi thời gian lịch sử hiện nay đã nhận thức được - biết được trái đất quay, cho đến khi làm ra một phương tiện mà cách đây hơn 100 năm có thể coi là thần thánh là chiếc điện thoại cầm tay, thì thời gian đã là gần 500 năm với sự phát triển đều khắp của các mặt trong quan hệ xã hội. Vậy từ sự khởi nguyên vũ trụ theo cách giải thích của một học thuyết cho đến khi có một tri kiến tiên tri đến chi tiết đòi hỏi hàng ngàn năm đã trôi qua. Do đó, sự phục hồi hoàn chỉnh một học thuyết đã thất truyền không thể đơn giản. Có lẽ nó cần đến một sự cộng tác của nhiều ngành khoa học và có tính quốc tế. Hoặc chí ít cũng là sự cộng tác của nhiều nhà nghiên cứu thực sự có nhiệt tình và khả năng.
Vấn đề được tiếp tục đặt ra là:
Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Tức là nó vượt xa tri thức của nhân loại hiện đại thì nó thuộc về nền văn minh nào trong quá khứ của nhân loại?

Còn tiếp
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites