Lãn Miên

Tìm Từ Nguyên (2)

1 bài viết trong chủ đề này

[5] QT Nhóm thanh điệu định hướng ý nghĩa cho từ: Xét về 6 thanh điệu của tiếng Việt, tôi chia ra hai Nhóm:

-Nhóm 0 = Âm, gồm: “Không” – “Ngã” – “Nặng”, định hướng ý cho Trong, cũng gọi là “tư duy tĩnh tại”

-Nhóm 1 = Dương, gồm : “Sắc – “Hỏi” – “Huyền”, định hướng ý cho Ngoài, cũng gọi là “tư duy hành động”

QT Nhóm thanh điệu tạo ra được từ đôi đối là hai tiếng đồng nghĩa nhưng đối nhau về Nhóm thanh điệu, viết có hai xẹt giữa hai tiếng. Ví dụ: Như trên [3] nêu hai từ là Cùng và Đồng. Trong tư duy là từ đôi đối Cung//Cùng vì lướt “Của Chung”=Cung, lướt “Của Chung”=Cùng, nên có từ đôi đối Cung//Cùng. Cái tử cung cũng là của chung của tất cả các con cùng một mẹ, cái cung điện cũng là của chung, cái cung đình cũng là của chung, đó là tư duy Việt cổ đại. Trong tư duy là từ đôi đối Đông//Đồng, vì lướt “Đúng Giống”=Đông, lướt “Đúng Giống”=Đồng, nên có từ đôi đối Đông//Đồng. Một ruộng lúa phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông, một bầy vịt phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông.

Như vậy nêu thành qui tắc “Nhóm thanh điệu định hướng cho ý nghĩa của từ” . Và theo qui tắc này sẽ thấy là mỗi âm tiết của tiếng Việt tạo ra ít nhất là ba từ đồng nghĩa nhưng sắc thái khác nhau, mà ở Hán ngữ chỉ có tương ứng bằng một từ. Ví dụ: Tiếng Việt có ba từ không đồng sắc thái nhau là Qụi = Qùi = Qụi//Qùi ( Hán chỉ dùng một từ Qụi 跪 “quây”). [ Giải thích thêm là thời cổ đại của văn minh lúa nước, người Việt lấy vỏ loài nhuyễn thể sống ở Bãi Bùn Bồi gọi là vỏ Bối 貝 để làm tiền trao đổi gọi là đồng Bạc (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt), vì màu nó trắng, về sau trao đổi làm bằng Bạc kim loại vì màu nó cũng trắng như Bối , khi ấy người Việt không dùng vỏ Bối để trao đổi nữa mà dùng nó để nung Vôi . Bối=Bạc=Báu=Bảo 寶 nên mới có từ đôi Bảo Bối 寶 貝 và coi cái Báu nhất trong căn nhà sàn là cái Bếp ở giữa sàn nhà. Bếp làm bằng ba cục đất sét nặn được coi là cái thân thuộc nhất với gia đình nên gọi ba cục đó là cái Ruột Báu, lướt “Ruột Báu” = Rau, nên gọi là ba ông Đầu Rau. Vỏ trấu của hạt thóc dùng để đun giữ lửa cho Bếp đỏ suốt ngày đêm, gọi là vỏ Bổi. Thịt ưa ăn nhất là thịt Rùa, để còn lấy mu Rùa dành để khắc chữ. Con Rùa động tác nó chậm chạp nên động tác ấy cũng thành tên gọi nó: Rùa = Rù-Rà = Rù-Rì = Qui 龜 = Qúi 貴 . Bởi vậy từ cái Bếp Việt mà sau bữa nhậu hàng ngày còn thu nhặt lại được hai cái giá trị từ hai con Qui 龜 Bối 貝 là hai cái Qúi 貴 Báu 寶 là Mu Rùa để viết chữ và vỏ Bối để làm đồng Bạc trao đổi (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt). Vì Rùa đối với người Việt là quí báu như vậy nên người Viêt yêu thương nhất nó “Thương thay thân phận con Rùa, ở đền đội hạc lên chùa đội bia”, tôn Rùa là thần Kim Qui . Đến thời đồ đồng mới làm ra đồng Tiền (Campuchia gọi là đồng Riên)]. Tiếng Việt có ba từ không đồng sắc thái nhau Ngoại= Ngoài = Ngoại//Ngoài (Hán chỉ dùng một từ Ngoại 外“wài”). Trung=Trúng=Trung//Trúng (Hán chỉ dùng một từ Trung 中 “trung”). Trong=Tróng=Trong//Tróng (Hán chỉ dùng một từ Trung 中 “trung”). Trụng=Trùng = Trụng//Trùng (Hán chỉ dùng một từ Trùng 重 “súng”). Thệ=Thề=Thệ//Thề (Hán chỉ dùng một từ Thệ 誓 “sừ”).

Thệ=Thế=Thệ//Thế ( Hán có dùng cả hai từ Thệ 逝 và Thế 世 nhưng phát âm đều là “sừ” không phân biệt Nhóm thanh điệu , nếu chịu khó khi tìm từ nguyên lùi về đến “cổ Hán ngữ” rồi lui nữa đến Tiếng Việt sẽ có được phát âm đúng Thệ//Thế. Đây là hai từ đối về Nhóm thanh điệu nhưng đồng nghĩa trong khái niệm “trôi đi theo thời gian cho đến mất”, vì vậy chúng là từ đôi đối: Thệ 逝 nghĩa là trôi mất, chữ có bộ thủ “đi 辶”, như trong câu “ Cổn cổn Trường Giang đông thệ du thủy 滾 滾 長 江 東 逝 游 水” (Cuồn cuộn Trường Giang nước cuốn trôi đi về phía đông). Thế 世 là một đời, cũng là một sự trôi đi cho đến mất, có từ ghép “thế hệ”.

Hãy xem nôi khái niệm “sự trôi đi cho đến mất”( chú ý mẫu số chung của chúng là sự trôi đi cho đến hết sự tồn tại của nó, còn khoảng thời mà nó trôi qua dài ngắn không kể): Blơi = Trời = Thời = Thì = Đi = Đời = Đại = Thái= Thế = Kế = Kiếp = Khiếp = Khuất = Khứ . Trong cái nôi khái niệm này, Hán ngữ hiện đại dùng (phát âm có ngoặc kép trong ngoặc đơn) các từ: Khứ 去 (“xùy”) với nghĩa là “đi”; Khiếp 怯( “xìa”) trong từ ghép Khiếp Đảm 怯 胆 nghĩa là quá trình đánh mất đi cái sự gan dạ, Khiếp Đảm là từ Tiếng Việt, ghép theo kiểu Việt, Gan = Đản = Đởm = Đảm, còn từ Khiếp Nhược 怯 懦là ghép tắt hai từ Khiếp Đảm và Nhút Nhát, đều là từ của Việt, Hán ngữ hiện đại hầu như rất ít dùng, họ gọi là từ của “cổ Hán ngữ”; khi sợ, người Việt thường hay thán tắt bằng một từ “Khiếp!” (từ đôi đối trong tư duy từ “tĩnh tại” sang “hành động” là Than//Thán, cũng như Van Vãn//Vân Vấn, van vãn hoặc than vãn là trong tâm đang lo mà chưa hiểu gì, nhưng nhảy sang Vấn là đã nói ra do sợ mà chưa biết nguyên nhân vì sao, nên thán là “Khiếp!” , Hiệp=Hợp trong từ ghép giao hợp thì quá đẹp vì nó là trong tâm, hiệp thông nhau, nhưng để nhảy sang hành động ăn Hiếp, như trích ở từ đối Hiệp/Hiếp, thì người ta Khiếp Nhược là phải thôi); Kế 繼(“chì”) là trôi đi, từ ghép kế tục là tiếp tục cho cái đã bị trôi đi , Thế 世 (“sừ”) là đời người, cũng là một sự trôi đi cho đến mất; Thái 太(“thài”) là sự trôi đi cho đến mất khỏi cái ranh giới của nó, như từ đôi Thái Quá, thái âm thành dương, thái dương thành âm; Đại 代( “tài”) là đời người, Tiếng Việt có từ đôi Đời Kiếp là nhiều đời và láy “đời đời kiếp kiếp”, Tiếng Hán có từ đôi Thế Đại là nhiều đời và láy “thế thế đại đại” (“sừ sừ tài tài”); Thì 時( “sứ”) nghĩa là giờ, giờ là một khoảng thời trôi đi, lấy một thời điểm làm mốc (điểm mốc ấy Tiếng Hán gọi là Thì 時 “sứ” hoặc gọi là Điểm 點 “tiẻn”) đại diện cho khoảng đó khi chia ngày thành 12 giờ. Tiếng Việt gọi cái điểm mốc đó là của khoảng “Giữa Chờ” = Giờ (do QT Lướt), bởi cái điểm mốc đó phải chờ cho thời trôi đi để tiếp đến điểm mốc tiếp theo . Tiếng Việt gọi cái sự trôi đi của Trời là Thời, cái đó nó cứ vậy trôi đi mãi mà không có trôi ngược lại, cho nên gọi là Thời Mãi, mà QT Lướt là lướt “Thời Mãi” = Thai (tiếng Anh chẳng phát âm là “thai” và viết là “Time” đấy thôi, thì thử hỏi từ nguyên của nó không là gốc Việt thì gốc ở đâu?, chưa kể Tiếng Việt có Nỏ=0 thì Tiếng Anh phát âm là “Nâu”=0 và viết là “No”, Tiếng Việt có Cắt = Ngắt = Xắt = Vặt = Chặt =… thì Tiếng Anh phát âm là “Cắt” và viết là “Cut”. Phiên âm Latin thì chỉ có chữ Quốc Ngữ là viết sao đọc vậy, hay nhất và dễ học nhất thế giới, nên đem phổ biến toàn cầu để giúp giữ gìn các phương ngữ của nhân loại) . Thời Mãi (Tiếng Việt thường chỉ gọi tắt là Thời) thì Hán ngữ hiện đại dùng hai chữ Thời Gian 时 间(“sứ chen” viết phiên âm là “shi jian”) là do lấy hai chữ có sẵn để phiên âm cái âm tiết Ti-me . Việt Nam thì cứ bưng nguyên của Hán tự về dùng ( do một nghìn năm tư tưởng “Bụt chùa nhà không thiêng”), nên cũng gọi là Thời Gian, nên mới bị trùng âm, vì cái Thời Gian nghĩa đối nghịch với cái Thời Thật. Và cái bọn Gian mới ngồi tính bằng đầu ngón tay “18 thời Hùng Vương kéo dài 3000 năm trước công nguyên là của 18 ông vua cha truyền con nối, vậy mỗi ông sống hơn 166 tuổi” 【Cái chuyện bưng nguyên của người ta về dùng thì TQ cũng bị mắc lỡm ở cái từ Quản Lý, do bưng nguyên của người Nhật dùng hai chữ kanji (hán tự) để dịch nghĩa cái từ management là hai chữ Quản Lý 管 理 (Nhật phát âm là “Can Ri” nhưng kết cấu ấy theo ngữ pháp Nhật có nghĩa là “lấy cái lý mà quản”), bưng nguyên xi Quản Lý 管 理 thì theo ngữ pháp Tiếng TQ hay Tiếng VN đều có nghĩa là “quản cái lý” thì thành sai, làm sao quản được cái lý, chỉ có dùng cái lý mà quản thì mới trôi chảy công việc (đây là phát hiện của tiến sĩ kinh tế học Khương Nhữ Tường ở Bắc Kinh). Chỉ riêng căn cứ vào cách phát âm của người Nhật là: mọi “từ Hán-Việt” có phát âm là “L” đều được họ phát âm là “R” như Lý 理 là “ri”, Lễ 禮 cũng là “ri” mới thấy tính lịch sử có cội rễ gốc Nam Á trong ngôn ngữ. Cái Tơi “R” chắc chắn là có trước Tơi “L”, như trong tiếng Việt: Prăm = Răm = Lắm = Lăm = Năm = 5, Rạng = Sáng = Láng = Lảng 朗 =Lượng 亮, Ruột=Rà=Lã=Lòng=Lõi=Nòi=Nôi=Tôi=Tâm 心 (Lã là quen thuộc vì nó là nước, nước lã uống hàng ngày, ngược với Lã là Lạ, Lạ=Da=Dị là thứ ngoài nên ngày nay mới có từ “nước lạ” để gọi nước ngoài), Rày=Lày=Nay. Không phải như một số học giả giải thích là “người Nhật là người TQ lục địa ra đảo đó vào thời nhà Đường”, mà người Nhật chính là dân bản địa đã ở đó hàng chục vạn năm trước, di chỉ đồ gốm của họ có cách nay một vạn năm. R=L cũng rõ trong Tiếng Việt là có Rễ cây cụ thể là cái đầu tiên cho Cây có “nhân cách” mà lớn lên có ích cho cuộc sống, rồi mới có Lễ, nghĩa trừu tượng, là cái đầu tiên cho Con có nhân cách mà lớn lên thành người, “ Cây” và “Con”, Tiếng Nhật phát âm là “Ki” nghĩa là Cây và “Kô-Đô-Mô” nghĩa là Con khi viết bằng chữ ký âm Hiragana,còn nếu viết bằng chữ Kanji một chữ Tử 子 thì họ đọc là Kô. Chữ “ Ki” họ viết bằng một chữ ghi âm vận “ki” (chữ Hiragana) hoặc viết bằng chữ Mọc 木 (chữ kanji), mà chữ Mọc 木 của Việt nho này có ngữ cảnh thì họ đọc là “ki” có ngữ cảnh khác thì họ đọc là “mô-kư” tức là “một cây” của Tiếng Việt. Chữ “Kô-Đô-Mô” nghĩa là Con thì nhìn thấy ngay từ nguyên của Kô là “Con”, từ nguyên của Kô-Đô là “con đỏ” = dân đen, cũng là Con, từ nguyên của Mô là “Mọi” cũng là Con, vì Mọi=Người, các từ đôi Mọi Người = Nhân Dân đều nghĩa là nhiều người. Rễ=Lễ chỉ là từ một tư duy cụ thể lên thành tư duy trừu tượng. Cái động tác cụ thể của dân nông nghiệp trồng trọt là Té Rễ hay Tè Rễ là tưới nước cho cây lớn, mong sự no đủ, thành ra cái trừu tượng thiêng liêng là Tế Lễ cầu trời mưa cho được mùa. Lễ Té Nước thì Tiếng Lào gọi là “Bun Hốt Nặm”, vì Lễ=Bệ=Bùa=“Bun”, Té=Tưới=Tát=Tặt=Hắt=“Hốt”=Ngột=Ngộp=Ngập, Nước=Nam=“Nặm”】. Trong nôi khái niệm Blơi = Trời = Thời = Thì = Đi = Đời = Đại = Thái= Thế = Kế = Kiếp = Khiếp = Khuất = Khứ vừa nêu trên, nếu lấy những từ được dùng trong Tiếng Hán mà xếp lại, theo phát âm của Hán, là: Xùy, Xìa, Sừ, Thài, Tài, Sứ thì chưa xếp được đúng như QT Tơi-Rỡi. Còn để truy tra từ nguyên thì cứ việc là từ Hán ngữ hiện đại lùi về “cổ Hán ngữ” rồi lui tiếp về Tiếng Việt, lui nữa đến ngôn ngữ đa âm tiết là đúng trình tự ngược về cội nguồn của ngôn ngữ. Chẳng riêng gì các từ trong nôi khái niệm “sự trôi đi cho đến mất” này là cứ truy từ nguyên thì cuối cùng là về đến Trời, mà mọi nôi khái niệm khác khi truy từ nguyên đều về đến Trời, vì theo QT Tơi-Rỡi có: Trời=Trồi=NÔI, mà NÔI thì ra Nói là sẽ ra mọi khái niệm, tư duy của con người là do Trời phú cho, tục ngữ “Cha mẹ sinh con , trời sinh tính”, người xưa giải thích về sự hình thành vũ trụ là “Khí trong nhẹ nổi thành Thiên, khí trọc nặng lắng đọng nên Địa mà” . Blơi = Trời = Tròn = Trên = Trồi = Nổi = Nắng = Dàng = Dương 陽 = Thượng 上 = Thiên 天 = Viên 圓 = Then = Lên = Lời = =Blơi. Về từ mặt vựng mà nói thì cái lý Việt nó là như thế đấy. (Đơn giản thì là vì con người tiền sử: dân nông nghiệp trồng trọt họ phải động tay động chân nhiều hơn, “Trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm, trông cho chân cứng, đá mềm, trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng, Coi sóc hết thảy côn trùng, trên cây, dưới đất, mới mong được mùa” cho nên từ vựng của họ có phong phú hơn. Dân du mục khỏe re hơn, rong ruổi theo bầy cừu, thả hồn nghe gió thổi vi vu trên đồng cỏ, ít phải giao tiếp với người khác, cho nên họ cũng chẳng cần phải có nhiều từ, từ vựng của họ không thể nhiều hơn được).

Share this post


Link to post
Share on other sites