mayngan

Bên Suối Thơ Hồng

53 bài viết trong chủ đề này

CÂU THẾ.

Họa bài THU ĐIẾU.
Của cụ Nguyễn Khuyến.

Tình nghĩa bây chừ đã hết veo.
An toàn hạ cánh vẫn còn teo.
Nhân gieo ngày ấy phải chăng tới
Quả báo năm xưa sẽ đến vèo
Thu điếu bài thơ thanh thoát hưởng.
Đoạt tù phóng sự lỗi lầm teo
Ngày xưa câu cá nay câu THẾ
Nhân cách rẻ hơn những cánh bèo
mayngan2
....

THU ĐIẾU
Tác giả: Nguyễn Khuyến

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lững, trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
...

ĐỐI ẨM

Họa bài THU ẨM
Của cụ Nguyễn Khuyến.

Biệt thự đêm về khiêu vũ te.
Tranh quyền đoạt lợi nhắm ai lòe.
Vài ly tức khí cảnh nhà toét
Mấy chén sinh tình vận nước loe.
Phố xá dân đen lòng rách nát
Hậu cung quan lớn mắt vàng hoe.
Rối tinh nội bộ say thời cuộc
Đối ẩm vài chiêu đã bét nhè.

mayngan2
...
Thu Ẩm
Tác giả: Nguyễn Khuyến
Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy
Độ năm ba chén đã say nhè

...

THỜI THẾ VỊNH
Họa bài THU VỊNH
Của cụ Nguyễn Khuyến

Cửa sắt then cài lớp ngói cao.
Nhà ai to quá thấy buồn ... hiu.
Ngẫm mình phận bé sao bò tới
Nhìn kẻ quyền cao lết gối vào
Tiếng trống bất bình động lũ đó
Hồi chuông cảnh tỉnh gõ ông nào.
Nhân đà thắng thế phe ta quyết
Đức Quốc xa xôi vẫn khó đào
mayngan2
...

Thu Vịnh
Tác giả: Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. (1)

o0o
(1) Ông Đào: tức Đào Tiềm, tự Uyên Minh, từ quan về ở ẩn đời nhà Tấn, nổi tiếng thanh cao.

 

LÀNG CỔ ĐƯỜNG LÂM.

Đường Lâm làng cổ đất hai vua.
Bản sắc cứ Đoài luyến khách du
Bố cái đại vương lưu sử sách.
Ngô Quyền hoàng đế định sơn hà.
Cổng làng Mông Phụ cây đa cỗi.
Chùa Mía Sùng Nghiêm tượng gỗ xưa
Văn miếu Sơn Tây hoài niệm cũ
Ngàn năm văn vật nước non nhà.

may ngan

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tưởng nhớ nhà cách mạng NGUYỄN AN NINH
(Họa theo bài thơ đã lưu truyền trong đồng bào Đức Hòa Hốc Môn bài thơ về Nguyễn An Ninh, thể hiện một nhân sinh quan của người cách mạngz1.gif
“Chống Thực nung sôi giọt máu hồng,
Bốn mươi bốn tuổi trãi gan trung.
Nhân dân còn mắc vòng nô lệ,
Khoa giáp màng chi miếng đỉnh chung.
Một thác Côn Sơn bia vạn cổ,
Bao lần Chuông Bể dội non sông.
Dân quyền đánh thức hồn dân tộc,
Trước có Lư Thoa (J.J. Rousseau) , sau có ông
....
Tưởng nhớ nhà chí sĩ.
NGUYỄN AN NINH

Trọn đời dâng hiến quả tim hồng.
Đất Việt rạng ngời gương tận trung.
Tìm lối tự do đền nợ nước
Chỉ đường độc lập trả thù chung.
Viết văn hun đúc lòng dân tộc
Diễn thuyết hùng hồn lời núi sông
Cái bả vinh hoa nào đếm xỉa.
Sử xanh muôn thuở vinh danh Ông.

mayngan2
...

Bài thơ cuối cùng của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh
Lê Minh Quốc
Nguyễn An Ninh (15 tháng 9 năm 1900 - 14 tháng 8 năm 1943) là nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng ở đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam.
Ông mất trong tù vào ngày 14 tháng 8 năm 1943, hai năm trước khi Việt Nam giành lại được độc lập, hưởng dương 43 tuổi.
...

Vì vậy, chiếc xe bò chở xác Nguyễn An Ninh cứ như thế, lại tiếp tục lộc cộc đi qua những con đường gập ghềnh để đến khu mộ Hàng Keo. Thấy quần áo ông quá cũ nát, một người tù đã lấy chiếc áo còn khá lành lặn của mình để thay. Và họ đã tìm thấy trong túi áo ông những dòng chữ viết nghệch ngoạc như sau:
Sống - Chết
Sống mà vô dụng, sống làm chi
Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi.
Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn
Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ
Sống sao nên phải, cho nên sống
Sống để muôn đời, sử tạc ghi.

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài
Chết đáng là người đủ mắt tai
Chết được dựng hình tên chẳng mục
Chết đưa vào sử chứ không phai
Chết đó, rõ ràng danh sống mãi
Chết đây, chỉ chết cái hình hài
Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Năm xưa cả dân tộc đều rơi lệ khi biết về mối tình trung liệt của chí sĩ Nguyễn Thái Học và Cô Giang . Họ đã hy sinh vì nền độc lập của tổ quốc.
Cụ Phan Bội Châu cũng không cầm được lòng mà sáng tác bài thơ lưu danh thiên cổ về cuộc tình này.
...

TÌNH CAO THƯỢNG.

Họa thơ CÔ KHÓC CẬU của cụ Phan Bội Châu về mối tình trung liệt của Cô Giang

Sấm nổ ngang trời vẫn thẳng lưng.
Thương người đồng chí rõ tài năng.
Lòng đau dạ xót cao xanh thấu.
Nghĩa nặng tình sâu ai sánh bằng.
Chí cả sáng soi vầng nhật nguyệt
Tình chung u uất mấy tuần trăng
Duyên vàng thôi lỡ nào ân hận.
Sông núi hồn thiêng có thấu chăng.

mayngan

 

THÁC LỜI NGUYỄN THÁI HỌC CÙNG CHỊ EM CÔ GIANG, BẮC BÀI 1 – CÔ KHÓC CẬU

Tác giả:Phan Bội Châu

Thình lình một tiếng sét ngang lưng,
Nuốt nghẹn tình tơ xiết nói năng.
Mây mịt mờ xanh trời vẫn hắc,
Giọt chan chứa đổ, bể khôn bằng.
Thân vàng đành cậu liều theo cái,
Dạ tuyết thôi em gởi với trăng.
May nữa duyên sau còn gặp gỡ,
Suối vàng cười nụ có ngày chăng?


Từ năm 1927 đến 1930, phong trào thanh niên “Việt Nam quốc dân đảng” nổi lên rầm rộ, đánh thức lòng hoạt động yêu nước của các tầng lớp xã hội và làm sôi nổi xứ Bắc, với những cuộc tổ chức bí mật, những vụ ám sát, bãi công, những cuộc khởi nghĩa máu sắt ở Yên Bái, ở Lâm Thao, ở Vĩnh Bảo. Phong trào lúc ấy có nhiều phụ nữ tham gia, đóng góp tài sức vào mọi việc hoạt động của đảng rất đắc lực. Cô Nguyễn Thị Giang, sau khi việc đảng vở lỡ và vụ đổ máu Yên Bái, vẫn mạo hiểm làm trọn nhiệm vụ liên lạc giữa đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các anh em đồng chí ẩn núp khắp nơi. Cô khéo giữ tung tích, đến nỗi mật thám Pháp lùng bắt cô ráo riết mà không sao bắt được. Trong khi ấy, cô vẫn ở quanh Hà Nội, vẫn làm việc đảng như thường.

Cho tới ngày 16 tháng sáu 1930, Thái Học lên đoạn đầu đài ở Yên Bái với 12 bạn đồng chí, cô Giang trà trộn chung quanh, lấy tâm hồn tiễn đưa đảng trưởng, rồi đáp xe lửa xuống Vĩnh Yên, rút súng lục tự tử giữa cánh đồng làng Thổ Lang, chính là quê hương Thái Học.

Cách đó không lâu, cụ Phan gởi đăng ở một tuần báo trong Sài Gòn, mấy bài thơ này. Cụ thác ra chuyện một đôi nhân tình gắn bó, nhưng chẳng may cậu trai bị nạn chết, cô gái đặt bàn thờ khóc tế bằng một bài thơ. Hồn cậu trai cũng làm thơ đáp lại, giãi bày tâm sự. Sau cô gái thác theo ý trung nhân. Người chị thương em, khóc than cảm khái. Lúc bấy giờ, ai cũng thấy rõ cụ Phan ký thác vào chuyện Thái Học và chị em cô Giang cô Bắc mà làm ra mấy bài thơ này.

Nguồn: Ba nhà chí sĩ họ Phan, Đào Văn Hội, Thư Lâm Ấn thư quán, 1957

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay