Lãn Miên

Hạ Vũ (2)

20 bài viết trong chủ đề này

Hạ Vũ

Sự ra đời của Vũ có nhiều thuyết:

1.Truyền thuyết kể rằng sau khi Cổn 鯀 chết thì Vũ 禹 mới ra đời. Cổn do lấy trộm (Trộm = Triệt = Thiết 竊 , trộm nghĩ = thiết nghĩ) đất thu tô của thượng đế để lấp hồng thủy nên bị thượng đế xử tội, lệnh cho thần Chúc Dung giết chết (theo sách 《Sơn hải kinh. Hải nội kinh 山 海 經.海 內 經》). Cổn chết ba năm mà xác không rữa nát , mổ xác Cổn ra thì lấy được Vũ sinh ra. 《山 海 經.海內 經》 : Hoàng Đế sinh Lạc Minh 駱 明, Lạc Minh sinh Bạch Mã 白 馬. Bạch Mã thị vi Cổn 鯀. … Đế lệnh Chúc Dung giết Cổn ở Vũ Giao. Cổn phục sinh Vũ)

2. Cổn 鯀 là người đàn bà, sinh ra Vũ. Sách 《Sở giản.Tử Cao biên 楚 簡.子 羔 篇 》 ghi Khổng Tử luận Vũ sinh ra do mổ ở lưng mẹ mà lấy ra, mẹ Vũ mang thai đến ba năm, Vũ sinh ra đã biết nói ngay. “ Hoàng Đế đẻ Xương Ý, Xương Ý đẻ Cao Dương thị vi Đế Chuyên Húc, Chuyên Húc đẻ Cổn, Cổn đẻ Văn Mệnh thị vi Vũ”.

3.Từ thời nhà Hán về sau, thư tịch ghi lại truyền thuyết, và cho rằng Vũ 禹 là một người đàn ông, ghi theo phả hệ dòng bố như kiểu đích tôn cha truyền con trai nối, rằng Cổn 鯀 là bố của Vũ 禹 (Tư Mã Thiên viết về sử nhà Tây Hán trong “Sử ký. Hạ bổn kỷ 史 記.夏 本 紀”: Bố của Vũ là Cổn, bố của Cổn là “đế Chuyên Húc 帝 顓 頊”, bố của Chuyên Húc là Xương Ý, bố của Xương Ý là “Hoàng đế 黃 帝”, “ Vũ giả, Hoàng đế chi huyền tôn nhi đế Chuyên Húc chi tôn dã 禹者,黃帝之玄孫而帝顓頊之孫也” - Kẻ Vũ là cháu 5 đời của Hoàng đế, còn Chuyên Húc là cháu 3 đời của Hoàng đế”

[ Đọc trong nguyên bản hành văn trên, thấy cú pháp lẫn lộn khi Hán, khi Việt. Tất cả dựa vào truyền thuyết, nhưng lại muốn qui cho ông Tổ đầu tiên là Hoàng đế, gọi theo cú pháp Hán, nhưng cháu nội đích tôn của ông ấy lại không gọi là Chuyên Húc đế mà lại gọi là “đế Chuyên Húc”, gọi theo cú pháp Việt; đến hàng mấy ngàn năm sau (theo như sử này nói Hoàng Đế là Tổ của người Hán cách nay 5000 năm), cái ông vua đang chỉ đạo viết sử này, chính ông ấy lại được gọi là Hán Vũ đế, gọi theo cú pháp Hán. Vậy chứng tỏ là sử cổ đại (truyền thuyết) trên Hán thư ghi lại là do người Hán chép lại và có xào nấu lại sử cổ đại của Việt. Cổn 鯀 được cho là bố của Vũ 禹. Vậy mà chữ Vũ 禹là chữ đơn thể, tự nó gốc gác là từ tượng hình trên giáp cốt văn, diễn tả hình người bắt rắn (Thuyết Văn đọc: lướt “Vương 王 Cụ 矩 = Vũ 禹, giải thích là loài 蟲 Trùng; Trùng=Trùn=Tròn=Trăn=Rắn (loài không có chân); nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Váng 王Chuy 矩”= = Vuy, không thành Uỷ như pinyin “Yu 禹” được). Trong khi chữ Cổn 鯀 là chữ ghép biểu ý, là kiểu chỉ có từ khi có qui tắc lục thư do soạn ra từ thời nhà Tần, chữ Cổn này gồm chữ Hệ 系( từ nguyên là Họ) và chữ Ngư 魚là cá, ám chỉ dân sông nước, giải thích là một loài cá, ( Ngư 魚 Hệ 系 thì có thể hiểu là con Cá Hô . Thuyết Văn đọc: lướt. “Cổ 古 Bổn 本” = Cổn 鯀, nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Củ 古 Pẩn 本” = Cẩn, không thành Cun như pinyin “Gun 鯀” được). Chữ Cổn 鯀phát âm Hán là “Cun” (pinyin “gun”), nó có từ nguyên chính là từ Con của Tiếng Việt mà thôi, nhưng Con ở đây là Con Mẹ hay Con Mụ, tức là một Bà, vì thời cổ đại hàng vạn năm trước ấy vẫn còn là thời mẫu hệ gọi là Thị Tộc; U=Vú=Vũ=Mụ=Mẹ=Mẫu. QT Tơi-Rỡi: Cả = Con = Quan = Quân = Cun = Khun = Khôn = Khuông = Vuông = Vua = Văn = Vũ = Vương = = Tướng = Hường = Hoàng = Voòng = Vàng = Lang = Lớn = Cổn = Cả. Pò Khun là Bố Cả hay Bố Cái. Sông Cả cũng gọi là sông Cái. Tên thường gọi trong truyền thuyết chuyện kể là “Đại Vũ” là do những cái tên Lang Vũ, Lớn Vũ, Cổn Vũ, Cả Vũ, Đà Vũ (chuyện cổ tích “ông Đùng bà Đà”), nên khi viết lại sử từ truyền thuyết dân gian, nghe tiếng Cổn Vũ thì dễ coi như bố Vũ là Cổn, hay nghe thấy tên Đà Vũ thì dễ coi như mẹ Vũ là bà Đà hay bà nữ Oa. Những từ có sau như Chu Văn Vương là ông Vua họ Chu, Chu Vũ Vương cũng là ông Vua họ Chu, Lưu Hướng là ông Vua họ Lưu, Hán Vũ Đế là ông “Đứa Vua nước Hán” hay “Đức Vương nước Hán” cũng là một. Ngôn ngữ dân gian thì nó là như vậy, dù là Vua hay Quân hay Vương hay Tướng thì cũng là Con, tức là từ đẻ cái chửa mà ra, mà lướt “Đẻ cái Chửa” = Đứa. Từ nguyên của chữ Đế là Nước, do Té = Tức = Tế = Đế = Đức = Đác = Nác = Nước. Người đứng đầu Vùng gọi là Vua hay Vương thì người đứng đầu Nước gọi là Đế hay Đức (tiếng Khơ Me gọi là Xăm Đéc). Thời Văn Lang lập Nước cách nay gần 5000 năm, đó là thời Đế Minh. Căn theo cái âm tiết, thì nguyên thủy từ Đế Minh chưa có nghĩa là Vua Sáng, nó có nghĩa là “Đức của Mẹ Kinh”, tức người đứng đầu quốc gia của người Kinh, Đầu Nước = Đầu Tức = Đức; Mẹ Kinh = Minh; chế độ là mẫu hệ; người đứng đầu nước là do cộng đồng bầu lên, là đàn bà hoặc đàn ông, thay đổi cũng là do bầu, gọi là Thiền nhượng (Thay Hiền = Thiền). Khái niệm “Sáng” khởi thủy là do từ Trời và từ Trăng. Trời = Rọi = Chói = Chiếu 照 = Triêu 朝 = Diệu 耀 (Hán ngữ phát âm khái niệm Rọi là “Rừ” viết là chữ Nhật 日; phát âm chữ Nhiệt 热 có bộ hỏa là “Rừa”, do từ lướt của tiếng Việt là “Rực Lửa” = “Rừa”, nghĩa là nóng, mà Nóng = Nắng = Dàng = Dương = “Yáng 阳” ); Trăng = Rạng = Sáng = Láng = =Lượng 亮. Rọi sáng là một câu, nhưng Sáng Soi là một từ đôi, do lướt Sáng + Sáng Rọi = Sáng Soi, lướt “Sáng Rọi” = Soi. Do người Kinh, cũng tức là người Việt, nên từ Mẹ Kinh = Minh người ta viết bằng hai chữ Việt ghép lại với nhau (để mang ý là nhiều, theo kiểu có âm có dương thì đẻ ra nhiều), hai chữ Việt đó là chữ Nhiệt 日 và chữ Nguyệt 月( QT Tơi-Rỡi: Việt = Nguyệt 月= Nhiệt = Nhật 日, để nói là dân xứ nóng, dân mặt trời), thành ra chữ Minh 明.Chữ này chẳng có tá âm "inh" gì cả mà lại gọi là Minh, vậy nó chỉ có thể là do "Mẹ Kinh" = Minh , thiết mà thôi. Do ghép như vậy nên chữ Minh 明 gồm Nhật 日và Nguyệt 月 mới đại diện cho cái nghĩa do biểu ý của chữ, nghĩa là Sáng, nó là cái khái niệm có sau từ Sáng, chỉ có nghĩa trên mặt chữ, tức là dùng chữ Minh 明 nghĩa là sáng cho ý văn học như từ minh chứng, minh bạch. Khẩu ngữ Hán ngữ chỉ dùng chữ Lượng 亮 (“liang”), khẩu ngữ Tiếng Việt chỉ dùng chữ Sáng].

Mẹ của Vũ là Nữ Hỉ 女 嬉 (theo “Ngô Việt Xuân Thu. Việt vương Vô Dư ngoại truyện 吳 越 春 秋.越 王 無 余 外 傳”, soạn giả là Triệu Hoa 趙 曄 thời Đông Hán 25-220 ) : Vũ phụ Cổn giả, đế Chuyên Húc chi hậu 禹父鯀者,帝顓頊之後 Cha Vũ là Cổn, con của đế Chuyên Húc. Cổn 鯀 lấy con gái họ Tân 莘 tên là Nữ Hỉ 女 嬉 . ( Có vùng đất thuộc Thượng Hải tên Tân 莘, cũng có vùng đất thuộc Sơn Đông tên Tân 莘).

[ Nguyên văn: “hữu Tân thị 有 莘 氏”, hữu Tân nghĩa là họ Tân, chữ Thị 氏 sau thì sách nói là do ý tôn kính đối với họ quí tộc, ví dụ như viết “hữu Hùng thị 有 熊 氏” nghĩa là "họ Hùng quí tộc". Chú ý lối ghép này là cú pháp Việt, mà chữ Hữu 有, (hoặc có thể dùng chữ Hệ 系), chỉ là tá âm cho chữ Họ, tức là dùng chữ nho đang sử dụng thời người soạn, có âm na ná để phiên dịch âm tiết Họ được viết bằng chữ khoa đẩu dùng trước đó; nếu là lối ghép cú pháp Hán thì phải viết là “Tân tính 莘 姓”, “Hùng tính 熊 姓,雄 姓”. Vì ghép là theo cú pháp Việt, nên từ nguyên lại phải đẩy lùi về đến Tiếng Việt mà tìm: “hữu Tân thị” có từ nguyên là “họ Tân chị”, tức là họ Tân, mà lấy theo họ mẹ, chứng tỏ thời đó là thời mẫu hệ, người ta lấy họ theo họ Mẹ (nhiều nhóm người Hoa ở Việt Nam đến ngày nay vẫn còn lấy họ theo họ Mẹ). Thời Hùng Vương chắc là vẫn còn dùng chế độ mẫu hệ, lấy họ theo họ Mẹ, nên người Việt có tục thờ Mẫu. Phật giáo truyền vào thì Phật một mặt giữ nguyên, mặt khác Phật còn bị Việt hoá mà hóa thân thành Phật Bà Quan Âm. Chế độ mẫu hệ có lẽ còn kéo dài đến tận thời Hai Bà Trưng, nên người Hoa Nam có tục thờ Vua Bà. Địa danh trên đất nước thì Bà nhiều hơn là Ông, đền thờ Bà Chúa thì thấy nhiều chứ đền thờ ông Hoàng Tử thì nghe hiếm. Tuy nhiên chế độ mẫu hệ nhưng Vua có thể là đàn bà hoặc đàn ông, bình đẳng chọn theo “thiền nhượng” để kén hiền tài. Tiếng Việt thì cá nhân mỗi con người là Kẻ. Kẻ = Cả = Cha = Giả 者 = Gia 家, chỉ người đàn ông. Kẻ = Mẹ = Đẻ = Đĩ = Chị = Kỹ 妓 = Thị 氏 = Thư 姐, chỉ người đàn bà. Những từ như Đĩ hay Kỹ Nữ 妓 女 cổ xưa nó chưa biến nghĩa thành nghĩa xấu, chẳng qua là về sau do xã hội qui định. Nhiều nơi người Việt vẫn gọi Mẹ là Đẻ hoặc là Chị. Từ đôi là hai từ đồng nghĩa ghép với nhau để nhấn mạnh ý. Khi chửi “Mẹ mày !”, để nhấn mạnh ý người ta còn dùng từ đôi là “Đĩ Mẹ mày !”. Chế độ mẫu hệ lấy họ Mẹ, chế độ phụ hệ lấy họ Cha, là do qui định của cộng đồng xã hội, chẳng phản ánh gì về sự tiến bộ hay thoái hóa xã hội, miễn là không cận hôn. Thông thường xã hội qui định sau năm đời thì hết cận hôn. Ở Việt Nam có họ còn qui định riêng là muôn đời cùng họ không được lấy nhau, mà vẫn được mọi người trong họ đó chấp hành nghiêm, hoặc như liền anh liền chị của quan họ Bắc Ninh dù khác họ, dù yêu nhau say đắm đến mấy vẫn chấp hành nghiêm lệ của quan họ là không được lấy nhau, vẫn coi nhau là bạn và vui mừng cho hạnh phúc riêng của nhau. Thế mới thấy cái ứng xử văn hóa “phép Vua còn thua lệ Làng” nó có uy lực đến nhường nào. Ngày nay có kẻ đến phép Quốc Tế nó còn chẳng coi là cái đinh gì, muốn chiếm biển, cướp đảo của người ta là chiếm, cho nên nó bị “mất mặt”, Hán ngữ gọi là “tiu liẻn 丟 臉”; Mất = Thất 失 (“sư”) = Tốt 卒 (“zú”) = Toi = Tiêu 消(“xieo”) = Điệu 掉 (“tieo”) = Đu = Đéo = Đểu = “丟 Tiu”; Mặt = Miện 冕 (“mien”) = Diện 面(“mian”) = Liễn 臉 = “Liẻn 臉”. ( Các phát âm có ngoặc kép trong ngoặc đơn là phát âm của Hán ngữ , không hoàn toàn thể hiện được QT Tơi-Rỡi của một nôi khái niệm, nếu đọc theo âm Việt thì nó liền một mạch theo QT Tơi-Rỡi của một nôi khái niệm, chứng tỏ chúng đều có gốc là từ Việt , có những từ được viết bằng chữ nho. Qua đó cũng thấy rõ: Muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ thì lui về “cổ Hán ngữ” mà tìm, muốn tìm từ nguyên của “cổ Hán ngữ thì lùi nữa về Tiếng Việt mà tìm, ngôn ngữ Việt là nền tảng của Hán ngữ). Đi từ Âm Dương thì cặp đối nghịch 0/1 = Mô/Một, Mô=Mất, Một=Mãi=Mai=Lai; giữ Một nguyên tắc Quốc Tế thì còn trong tương lai Mãi Mãi, chứ “mất mặt” thì Mất hẳn, bằng Mô=Vô là con số 0. Mặt, Mắt, Mũi, Môi, Mồm, Mép đều ở trên cái Mặt và làm nên cái Mặt của con người.]

Nữ Hỉ 女 嬉 đến tuổi chững (niên tráng 年 壯, chứ chưa đến tuổi chiều) rồi mà vẫn không có chửa, một hôm ở Để Sơn 砥 山 (núi toàn những hòn đá mài nhỏ) nhặt được cây ý dĩ 薏 苡, nhai nuốt vào thế là có thai, phải mổ đẻ ra Cao Mật 高 密. Nhà ở Tây Dương 西 羌, đất ấy là Thạch Nữu 石 紐. Thạch Nữu tại Thục Tây Xuyên ạ 石 紐 在 蜀 西 川 也.

Nơi sinh của Vũ thì nhiếu sách viết khác nhau. Sách “Đế Vương thế kỷ” của Hoàng Phó Bật 皇 甫 謐 thời Tây Tấn viết: Chuyên Húc 顓 頊 sinh Cổn 鯀, Cổn được Nghiêu 堯 phong làm Sùng Bá 崇 伯 [tước ưu huệ thứ ba], Cổn 鯀 lấy vợ họ Tân tên là Chí 志, thị vi Tu Kỷ 修 己 [ “Tu Kỷ” = Tý = Chí = Hỉ ]. Chí 志 lên núi ngửa mặt thấy sao bay, mà cảm hứng, rồi nuốt thần châu ý dĩ, chuyển dạ đẻ ra Vũ 禹 ở Thạch Nữu 石 紐. Sách “Sử ký. Lục quốc niên biểu tự” của Tư Mã Thiên thời Tây Hán viết Vũ sinh ở Tây Dương. Sách thời Nam Tống 《Thế thuyết tân ngữ. Ngữ ngôn biên 世 說 新 語‧語 言 篇》 viết: Vũ sinh ở Đông Di. Sách 《Tùy sào tử 隋 巢 子》 viết: Vũ lấy vợ Đồ Sơn, trị hồng thủy.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong dòng chảy văn hóa Đông phương, về lý học thì mối quan hệ giữa một dân tộc và vị quân vương đều có thể tiên tri sự hưng thịnh qua các phương pháp của học thuật cổ, bác Lãn Miên có thể giúp nhận định về các chữ:

- Đế: hoàng Đế Quang Trung...

- Vương: vua, quân vương, vua Hạ Vũ...

- Chúa: Con vua cháu chúa, vua Lê chúa Trịnh...

- Quân thần: thần tử...

Trân trọng.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong dòng chảy văn hóa Đông phương, về lý học thì mối quan hệ giữa một dân tộc và vị quân vương đều có thể tiên tri sự hưng thịnh qua các phương pháp của học thuật cổ, bác Lãn Miên có thể giúp nhận định về các chữ:

- Đế: hoàng Đế Quang Trung...

- Vương: vua, quân vương, vua Hạ Vũ...

- Chúa: Con vua cháu chúa, vua Lê chúa Trịnh...

- Quân thần: thần tử...

Trân trọng.

Hoàng Đế, Quân Vương

Hai chữ ghép Hoàng Đế (tương đương “the Empire”), dùng trong Hán ngữ phát âm là “hoáng ti”, hai chữ Hoàng 皇 và Đế 帝được “Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng” Viện Ngôn Ngữ Học NXB KHXH HN 1991 coi là “từ Hán Việt” (trang 121 và 176), nhưng kỳ thực cả hai chữ đó đều là từ gốc Việt :

Chữ Đế 帝 vốn là một trong những từ thuộc nôi khái niệm “Nước” do QT Tơi-Rỡi: Té = Tế = Túc= Tức = Đức = Đầy = Đủ = Đế = Đác = Nác = Nước, nên Đế nó có nghĩa là Nước, nhưng sắc thái của nó là Đầy Nước, tức nắm toàn bộ Nước. Vì QT Lướt: “Đầy Tế” = Đế, “Đầy Tức” = Đức, đều có nghĩa là đứng đầu Nước (“Tức” tiếng Khơ Me có nghĩa là “nước”, từ đôi Tức Nước nhấn mạnh ý là quá đầy nước, “Tức nước vỡ bờ”). Vì bản chất của Nước là “Đầy” (xu hướng nống ra mọi phía: thấm, tràn, bốc hơi, nở khi đóng băng), nên đầy nước tức là ngọn sóng, ngọn sóng tức là đầu nước, và người Việt đã gọi cái khái niệm “đứng đầu nước” ấy là Đế hay Đức, đúng như chúng hình thành bằng QT Tơi-Rỡi, bởi vậy người Việt gọi người đứng đầu Nước là Đức Vua hay Đế Vương. Từ cái hình ảnh cụ thể là “đầy nước” = ”ngọn sóng” mà hai từ Đế và Đức được dùng để chỉ người lãnh đạo cao nhất của một nước. Khi tôi giải thích nguồn gốc chữ Đế 帝, là do tôi nhìn thấy nó trong qui tắc tạo ngôn từ Việt mà tôi nêu ra là QT Tơi-Rỡi. Nhưng chính các học giả Trung Quốc lại vô tình chứng minh giùm tôi khi họ phải sao lục trong cổ thư chữ Hán những giải thích xưa. Thì đây: “Đế giả sinh vật chi chủ, vạn vật hưng ích chi tông, sinh vật sinh dục chi công vị chi đế 帝 者 生 物 之 主,萬 物 興 益之 宗,生 物 生 育 之 功 謂 之 帝 - Đế là chủ của sinh vật, là dòng đem hưng ích cho vạn vật, là công năng cho phát dục của sinh vật gọi là đế”. Vậy thì đúng người xưa đã giải thích Đế là nước, là dòng nước, nguồn gốc của sự sống. Chữ Dòng là dòng nước trong Tiếng Việt, nó là từ nguyên cho nhiều chữ khác mà trong “cổ Hán ngữ” hay trong Hán ngữ sử dụng , như Sông = Tông 宗(“zong”: dung)= Dòng = Dõng 涌(“yong”: dủng)= Giang 江(“jiang”: cheng)= Kang (tiếng Triều Châu)= Kênh. [Phát âm trong ngoặc kép là pinyin của Hán ngữ, có chú cách đọc bên cạnh. Tông 宗 là dòng, chữ Tông 宗 này còn dùng cho từ dòng họ mà “cổ Hán ngữ” vẫn ghép theo cú pháp Việt là tông tộc. Từ đôi Họ Tộc cho thấy từ Họ là dùng trước, Họ = To = Tổ 祖 = Tộc 族, Hán ngữ phát âm chữ Tổ祖 là “zủ” chữ Tộc 族 là “zú”. Dõng 涌 là dòng, chỉ riêng dòng nước bao quanh để bảo vệ thành, như kênh bao quanh thành Phiên Ngung là Dõng 涌…chứ không gọi là Hào hay Giang]

Chữ Hoàng 皇(“huáng”) có từ nguyên là chữ Lang, Lang là người lãnh đạo của một cộng đồng, do lướt “Lớn Làng” = Lang. Lang=Hoàng=Vàng=Vương=Vua=Chúa=Chủ=Chậu=Chiếu. Như vậy từ nguyên của từ Lang là từ Lớn, nên “quan Lang” cũng còn gọi là “quan Lớn”. Hoàng có nghĩa nguyên thủy là Lớn thì cũng đúng như nó là một từ trong những từ thuộc nôi khái niệm “Rộng”: Hoàng 皇 = Hoằng 宏 = Hùng 雄 = Hồng 洪, 鴻 = Rộng = Bồng = Bàng 龐 = Quảng 廣.(Trong cái nôi khái niệm có bảy chữ này, chữ Rộng ở giữa thể hiện cái gốc ngôn ngữ phương Đông là từ đất Giao Chỉ, là cái nơi Ruột, nơi chôn Rau). Từ đôi Hồng Bàng 鴻 龐 nghĩa là “rộng” của dân Tiên Rồng. Từ đôi Bàng Hoàng nghĩa là “rộng” nhưng đã biến ý thành cái rộng của tư duy không tập trung được mà bị vỡ òa rộng ra thành mơ hồ, viết bằng hai chữ Bàng Hoàng 彷 徨 khác, mang nghĩa là “ở trạng thái không giữ được chủ định”, mà Từ Điển trên (trang 29) cho là “từ Hán Việt”, do không thấy được cái từ nguyên của nó là từ “Lớn” của Tiếng Việt, mà Tiếng Việt còn có từ đôi Rộng Lớn. Người Việt xưa quan niệm ba thể Lớn nhất là Trời, Người, Đất. Do đó Trời Lớn viết là Thiên Hoàng 天 皇, Người Lớn viết là Nhân Hoàng 人 皇, Đất Lớn viết là Địa Hoàng 地 皇. Đó là khái niệm Tam Hoàng, từ nguyên của Hoàng là Lớn, nên “tam Hoàng” có nghĩa là ba cái lớn. Nhưng ba cái lớn ấy không phải tự sinh ra, mà chúng có chung một chủ tể ban đầu, tức là cái kẻ Đầu Nước của chúng. Nước ở đây đã thành là một Nước cờ, tức là một sự tương tác, tức sự xếp đặt trò chơi của tạo hóa. Kẻ Đầu Nước hay Đầu Tế đó là Đế (lướt “Đầu Tế” = Đế). Kẻ Đầu Tế đó là kẻ Nêu ra mọi sự phát triển về sau cho vũ trụ và muôn vật, nên người Việt có tục trồng cây Nêu ngày Tết, vì kẻ “Đầu Tế Nêu” chính là kẻ “Đầu Têu” ra mọi sự biến đổi trong thiên nhiên và trong xã hội hoặc trong cuộc đời mỗi con người (mà LHĐP có thể tiên đoán được). Kẻ chủ tể ấy là Đế, chính là Đế Trên, mà về sau Hán ngữ viết ngược là Thượng Đế. QT Tơi-Rỡi đã tạo ra: Trời = Trên = Lên = Then = Thiên = =Thượng, (Đế Trên = Thượng Đế); Đế = Tế = Tể, dẫn ngược lại thì thấy rõ cái phong tục cổ xưa: người ta giết con vật là Tể (Tể 宰 của từ đồ tể) để Tế (Tế 祭 = Tự 祀 = Tế 济 là hiến cho) thượng Đế 帝. Cái từ Têu (với từ Đầu Têu) rất dân dã của trẻ con người Việt thường nói, hóa ra lại cực kỳ quan trọng khi thấy ra từ nguyên của nó: do lướt “Tế Nêu” = =Têu; Tế Nêu là một cái Lễ rất trang nghiêm và thiêng liêng trong một thời khắc đầu năm ở chỗ trồng cây Nêu. Nhưng Têu lại là nguyên nhân cho mọi biến đổi hay còn gọi là họa phúc về sau. Vì theo từ nguyên, Tế là Nước nên Tế Nêu = =Nước Nêu. Nước Nêu có nghĩa là Nước là nguyên nhân của mọi sự biến trên thế giới này. Ngày xưa chiến tranh xâm lược chỉ vì muốn mở rộng Nước. Ngày nay kẻ đầu têu muốn chiếm trọn Biển Đông cũng chỉ vì Nước. Thế giới sẽ xảy ra đại chiến khi nguồn nước cạn kiệt do bị ô nhiễm, người ta tranh nhau từng giọt nước uống.

Như vậy Hoàng 皇 là Lớn, ba cái lớn nhất gọi là tam Hoàng, chủ tể của tam Hoàng là Đế, nên Đế Hoàng tức Đế Lớn , gọi theo kiểu Hán là Hoàng Đế 皇 帝 tức Thượng Đế, lại còn tôn xưng là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vì Hoàng 皇 nghĩa là Lớn nên về sau nói về người lớn đã khuất có từ Hoàng Khảo 皇 考(từ nguyên là “Lớn Khuất”) ý là người Cha đã khuất , ví dụ trong “Ly Tao《离 骚》” viết: “朕 皇 考 曰 伯 庸 – Quan hoàng khảo viết Bá Dung” nghĩa là “Cha đã khuất của Ta gọi là Bá Dung”. Âm tiết Quan 朕 này dùng phổ biến trước thời Tần trên khắp đất Trung Hoa, “quan” có nghĩa là “của Ta”, do lướt “Của Con” = Quan 朕, mà Con là đại từ nhân xưng ngôi một, Con = Cả = Ta = Ngã 我 = Ngộ 我 = Ngô 吾, chỉ có là từ gốc Việt thì mới có lướt “Của Con” = Quan mà thôi. Chứng tỏ thời trước Tần, trên khắp đất Trung Hoa, rõ ràng là cư dân nói bằng tiếng Việt, ví dụ sách “Đại vu đỉnh 《大 盂 鼎》“ viết bằng kim văn(金 文)câu:“勿 废 朕 令”- vật phế “quan” lệnh, có nghĩa là đừng có phế bỏ huấn lệnh “của ta”. Hứa Thận trong Thuyết Văn Giải Tự thì giải thích chữ Quan 朕 nghĩa là Tôi (我 也 Ngộ dã ), tất nhiên là không chính xác lắm vì Hứa Thận thời Đông Tấn, còn phát âm ấy là thời Tiên Tần, có thể đó là như chữ Quan 官 hay Quân 君,軍 đều trong nôi khái niệm Ta = Cả = Con … Cứ theo Hán sử thì: cách nay 5000 năm ông Hoàng Đế 黃 帝 đẻ ra ông Đế Viêm 帝 炎 tức Đế Thần Nông 帝 神 農, ông Đế Viêm 帝 炎đẻ ra ông Đế Chuyên Húc, ông Đế Chuyên Húc đẻ ra ông Cổn, ông Cổn đẻ ra ông Vũ là Hạ Vũ là tổ của người Hạ tức người Hoa Hạ. Nghe cứ như là một gia phả liền mạch, nhưng rõ thật là ngớ ngẩn. Lịch sử từ thời Đế Thần Nông đến thời Hạ Vũ là cả mấy ngàn năm. Thời văn minh nông nghiệp trồng trọt cách nay hàng vạn năm là thời của Đế Viêm tức Đế Thần Nông, là thời người Việt canh tác nông nghiệp trồng trọt trên mảnh đất Trung Hoa, có thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vận dụng làm nên nền Đông Y và biết làm thuốc bằng cây cỏ. Có danh y mà người đời tôn xưng là Đức Lớn = Đức Lang = Đế Vàng = Đế Hoàng viết nên cuốn sách thuốc là “Nội kinh tố vấn”, người đời sau chép lại là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Đó là cuốn sách thuốc cổ xưa nhất của người Việt, có từ thời Đế Thần Nông, của đại y sư khuyết danh sưu tầm biên soạn lại, người đó được tôn xưng là Đức Lớn = Đức Lang = Đế Hoàng. Về sau người Việt gọi các ông bà thầy thuốc là Ông Lang, Bà Lang. Quyển sách của Đức Lang ấy người đời sau chép lại là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Đừng nhầm Đức Lang = Đế Hoàng này với ông Hoàng Đế 黄 帝 mà Hán sử phong làm ông Tổ của người Hán. Chẳng qua là khi đã giành được địa vị thống trị thiên hạ rồi thì người ta xào xáo sử Việt và phải đặt ra một ông còn ngồi cả trên ngọn nguồn của cả sử Việt để làm ông Tổ của người ta. Truyền thuyết xưa kể khi trong vũ trụ và thế gian hình thành tam Hoàng rồi thì xã hội nguyên thủy lần lượt là do những người Đầu Nước tức “Đầu Tế” = Đế lãnh đạo cộng đồng, lần lượt trải qua năm Đế, nên có câu thành ngữ Tam Hoàng Ngũ Đế. Đến khi họ Triệu tiêu diệt lục quốc, thâu tóm thiên hạ vào một, kiêu ngạo vỗ ngực, chẳng Tam Hoàng với lại Ngũ Đế cái đinh gì, Ta đây mới là người đầu tiên thống nhất được cả thiên hạ “德 兼 三 皇,功 高 五 帝”(đức kiêm tam Hoàng, công cao ngũ Đế) nên tự phong là Thủy Hoàng Đế, và gọi là Tần Thủy Hoàng Đế hay Tần Thủy Hoàng. Từ thời Tần về sau hai từ Hoàng 皇 (Lớn, Lang) và Đế 帝(Đầu Nước) luôn viết gắn ghép với nhau là Hoàng Đế 皇 帝 tức Đế Lớn để chỉ vua nhưng ý là vua của các vua, còn các từ Vương 王, Quân 君 hay Quân Vương 君 王 chỉ là vua của vùng thuộc quốc tức vùng của Nước (tương đương “the King”). Nhà Tần sau khi đã diệt hết các nước của Bách Việt ở vùng Trường Giang, thì vùng Lĩnh Nam vẫn còn giữ được độc lập là nước Nam Việt, vua vẫn xưng là Đế (tức Đầu Nước, ngang hàng như Nước của nhà Tần. Đến thời Hai Bà Trưng kháng chiến chống Hán xâm lăng Lĩnh Nam, Bà xưng là Lĩnh Nam Hoàng Đế, tức là Đầu Nước Lớn Nam Ngũ Lĩnh, độc lập ngang hàng nước Hán. Những đời sau từ Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng Đế cho đến Quang Trung Hoàng Đế đều là xưng Đế hết, như từ Đế của người Việt xuất hiện trước tiên trên đất Trung Hoa cách hàng vạn năm.Thời Nguyễn Trãi viết “Từ Triệu, Đinh, Lý , Trần xây nền độc lập. Cùng Hán , Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”, tức đều xưng Đế, độc lập và ngang bằng nhau. Thời nhà Lý câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư” cũng khẳng định xưng Đế. Chỉ có hồi đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thì tôi đi khắp Hà Nội chẳng thấy đâu có bích họa hay khẩu hiệu có bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư” (?), hay là do sợ phạm húy vì hồn Lý Công Uẩn trong bộ phim “Về thành Thăng Long” đã được trùm quần áo Tàu, và ở nhà Tàu rồi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cảm ơn bác Lãn Miên

Theo chiết tự, chữ Vương là nối giữa nhất nhị tam hay thiên - địa - nhân; còn chữ Đế không rõ chiết tự mang ý nghĩa gì.

Kính.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cảm ơn bác Lãn Miên

Theo chiết tự, chữ Vương là nối giữa nhất nhị tam hay thiên - địa - nhân; còn chữ Đế không rõ chiết tự mang ý nghĩa gì.

Kính.

Đế là Nước, là Gốc của sự sống. Nếu lấy chữ Đế từ cái nôi khái niệm “Nước”, để đem sang xét nó trong cái nôi khái niệm khác như bản thân nó định nghĩa là cái nôi “Gốc của sự sống” thì ta có trong tư duy Việt theo QT Tơi –Rỡi: Đế=Rễ=Lễ=Lẽ=Lý=Kỹ=Tỉ-Mỉ=Kỳ=Cờ. Từ đời Tần trở đi thì “Hán nho không hiểu được chữ Đế” (đấy là nhận xét của học giả TQ: “Hán nho bất tri thử nghĩa: 汉 儒 不 知 此 义- Hán nho không biết nghĩa đó). Vậy thì chỉ có Việt nho trước đời Tần là hiểu được nghĩa của chữ Đế 帝. Nhưng Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, đốt sách chôn nho, nên bây giờ muốn hiểu Việt nho phải khôi phục. Còn lúc diệt xong lục quốc, Tần không hiểu chữ Đế 帝 nên xưng là Tần Thủy Hoàng Đế một cách ngạo mạn ( đức kiêm tam Hoàng, công cao ngũ Đế “德 兼 三 皇,功 高 五 帝”), đòi đứng trước cả Đế là chữ Thủy 始 (nghĩa là đầu tiên). Dù ngạo mạn tự coi mình là đầu tiên, dù mạnh tới mức diệt được cả lục quốc, nhưng do không hiểu chữ Đế 帝 mà xưng Hoàng Đế nên Tần Thủy Hoàng đoản mệnh, nhà Tần chỉ tồn tại có 24 năm. Chữ Đế 帝 là của Việt nho, trong cái nôi khái niệm “Gốc của sự sống” đã dẫn ở trên, thì các chữ nho tương ứng như sau (với phát âm khi đọc chữ nho, thể hiện trong ngoặc đơn) : Đế 帝 = Rễ 蒂(đế)= Lễ 禘(đế)= Lẽ = Lý 諦(đế)= Kỹ = Tỉ-Mỉ (đế 諦)= Kỳ 奇(kỳ)= Cờ 棋(kỳ); những từ trong Phật giáo dùng như Chân Đế 真 諦, Diệu Đế 耀 諦 (nghĩa là cái Lý kỳ diệu duy nhất đúng chiếu rọi). Cái gốc của sự sống thì đúng là nó kỳ diệu, nó rất tỉ mỉ tức không còn kẽ hở nào để có thể “lách pháp luật” được, nhưng nó là một cuộc cờ tức đã an bài sẵn hay là “lập trình sẵn” cái thế tương tác của nhiều tố mà chúng đòi hỏi phải ở trạng thái cân bằng mới phát triển ổn định được. (Cuộc cờ ấy chính là thuyết Âm Dương Ngũ Hành, là Lý thuyết thống nhất vũ trụ). Bộ rễ cây nếu bón nhiều phân đạm quá nó cũng thúi chết vì mất cân bằng dinh dưỡng. Kẻ giữ cho cân bằng (như cân bằng Âm Dương) cái gốc của sự sống chính là kẻ nắm trọn cái nôi khái niệm dẫn ở trên, là kẻ “Đầu Nước cờ” tức “Đầu Tế” = Đế 帝. Và Đế là cân bằng nhất, tức công bằng nhất. Chữ Đế 帝 vốn xưa trên giáp cốt văn là một hình vẽ tuyệt đối cân bằng phải trái, sau đến vẽ thành kim văn , triện văn cũng hoàn toàn cân bằng, rồi đến lệ thư, khải thư, hành thư và tống thư như đang dùng đều là con chữ cân bằng hai nửa chia dọc (như là Âm Dương cân bằng). Chữ Đế 帝 nếu tháo tung ra sẽ được trên là chữ Lập 立 cũng rất cân bằng hai nửa phải trái, dưới là chữ Cân 巾 cũng rất cân bằng phải trái (chữ Cân 巾 này sau lấy ký âm cho chữ Khăn). Đế là công bằng nhất, Đế lại là Nước, Nước cân bằng (phép Nước công bằng) thì Nước đứng được(chữ Lập), còn không thì trước sau gì Nước cũng đổ (để Nước vào chỗ dốc thử xem Nước có còn không ?). Đế là Nước, bản chất của Nước là Trong 中 , chữ Trong 中tượng hình nãy cũng rất Cân 巾 Bằng 平 (Trong 中 như nước nguyên chất là công bằng nhất, nước biển hòa như vậy mà vẫn chỗ mặn chỗ nhạt). Sau người ta viết thành chữ Trọng 仲 là trọng tài, và cũng đọc chữ Trong 中là Trung 中 nghĩa là ở giữa (“Tôi là người Giữa tôi chữa đôi bên”, nhưng Chỗ Giữa trong Hán thư lại viết ngược bằng hai chữ Giao Chỉ 交 址 đấy, bởi vậy dân Giao Chỉ 交 址 đâu có bao giờ cực đoan) , ở nhiều văn bản của “cổ Hán ngữ” còn phải đọc chữ Trung 中 là Trũng để hợp ngữ cảnh của nó trong bài viết, là “nước chảy chỗ Trũng” như đang diễn tả, chứ không thể đọc là nước chảy chỗ Trung hay nước chảy chỗ Trong được, chữ Trung 中 nó là chữ của Việt nho, về sau gọi là Hán tự. Theo thuyết ADNH thì Trời và Đất đều do một sinh ra, cái chung của Trời và Đất là Giới 界 mà Hán nho chia ra Thượng Giới 上 界 và Hạ Giới 下 界, chữ Giới 界 này cũng rất cân bằng, âm tiết “giới” là chỉ cái “Nơi”, cũng là do NÔI mà ra: NÔI = Nơi = Giới 界; NÔI = Trồi = Trời = Giời = Giới 界; NÔI = Bồi = Đồi = Đất = Dật (nghĩa là đầy) = Giới 界. Vì Giới 界 là Nơi ( “Thượng Giới 上 界” chính là Nước Trên và “Hạ Giới 下 界” chính là Nước Dưới, do NÔI=Nước=Nơi) nên Giới = Đới 带 = Đái 带 = Đế 帝, như vậy Đế là nước, Đế cũng là Nơi, cũng logis ấy của Việt: Nước là nước, Nước cũng là Nơi quần cư của người Việt. Chữ Đái 带 cũng rất cân bằng, nó là tiền thân của chữ Đế 帝(chỉ sửa trên một chút, còn bên dưới vẫn là chữ Cân 巾). Tiếng Quảng Đông phát âm chữ Đế 帝 là “Đái” (Tiếng Việt thì “té nước” hay “té đái” cũng đều ra nhiều nước hết). Đục thì đục mà trong thì trong, cũng như tục thì tục mà thanh thì thanh. Đế = Đới 带 = Cở i解, Đế = Đái 带 = Giải 解. Cuộc cờ thế gian chỉ có Đế 帝 mới cởi giải được mà thôi. Nhân loại có thể cởi giải được nếu nắm hiểu được cái Lý 諦 của Đế 帝, đó là Chân Đế 真 諦,là Diệu Đế 耀 諦,đó là cái Lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cảm ơn bác Lãn Miên.

Thật tuyệt vời ngôn ngữ Việt qua phân tích chi tiết của bác về chữ Đế, theo em là hoàn toàn chính xác.

Có một bí ẩn cần giải mã đó là bàn cờ tướng, trong đó hai bên có quân tướng khác nhau, sĩ khác nhau, tượng khác nhau... nói chung cờ Đỏ được thêm vào một sọc giống hình vũ khí là cái Qua như hình người trên trống đồng cầm Qua đang đọc văn tế.

Một số nhà nghiên cứu thì chữ VIỆT nghĩa là vượt, vượt qua... như vậy, nếu kết hợp cái Qua thì nghĩa này có vẻ đúng. Vượt qua nghĩa là Chiến thắng số phận mặc dù Định mệnh là có thật. Vấn đề này kỳ lạ giống như sắc sắc không không vậy.

Bộ cờ tướng luôn là quân màu xanh nõn chuối và quân màu đỏ.

Bí ẩn này chắc cần "ra chiêu" của bác Lãn Miên rồi.

Posted Image

Kính.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cảm ơn bác Lãn Miên.

Thật tuyệt vời ngôn ngữ Việt qua phân tích chi tiết của bác về chữ Đế, theo em là hoàn toàn chính xác.

Có một bí ẩn cần giải mã đó là bàn cờ tướng, trong đó hai bên có quân tướng khác nhau, sĩ khác nhau, tượng khác nhau... nói chung cờ Đỏ được thêm vào một sọc giống hình vũ khí là cái Qua như hình người trên trống đồng cầm Qua đang đọc văn tế.

Một số nhà nghiên cứu thì chữ VIỆT nghĩa là vượt, vượt qua... như vậy, nếu kết hợp cái Qua thì nghĩa này có vẻ đúng. Vượt qua nghĩa là Chiến thắng số phận mặc dù Định mệnh là có thật. Vấn đề này kỳ lạ giống như sắc sắc không không vậy.

Bộ cờ tướng luôn là quân màu xanh nõn chuối và quân màu đỏ.

Bí ẩn này chắc cần "ra chiêu" của bác Lãn Miên rồi.

Posted Image

Kính.

Chữ Tượng 象 theo Thuyết Văn viết: chữ tượng hình loài thú bốn chân, trên giáp cốt văn, đọc : lướt “Từ 徐 Vũ 雨” = Tu (tiếng Tày thì “Tu” nghĩa là con vật), giải thích: trường tỵ nha, Nam Việt đại súc, …nhất nhũ 長 鼻 牙,南 越 大 獸 ,…一乳– loài thú lớn của Nam Việt có mũi và nanh dài,…một nhũ. Ở đây chữ Nhũ 乳 với âm tiết “nhũ” như là cái nhũ đá rủ trong hang, ý nói là nói cái vòi của con voi. Vậy có thể hiểu con vật đại súc mà chỉ Nam Việt mới có này , Thuyết Văn muốn giải thích là con Tu mà có đặc điểm Tu = Nhũ = Rủ = Vú = Vòi = Voi. Nghĩa là tên gọi nó là con Voi, như hình vẽ giáp cốt văn. Nó là đại súc nhưng đã được người Việt thuần hóa, hiền lành sống với người, Lành=Lương, và lướt con “Tu Lương” = Tượng, thành ra một chữ Tượng 象 mà có hai cách gọi, là con Voi hoặc con Tượng. Con Tượng 象 là loài thú lớn nhất trong muôn loài, nên cá nhân lớn nhất trong muôn quân thì gọi là Tướng 將, và lại lướt “To Tướng” = Tượng, nên chữ Tượng cũng còn mang nghĩa là Lớn, như xoài tượng là xoài lớn trái, và sự an bài không nhìn thấy, rất khó hình dung, của tạo hóa hay của tư duy đều được coi là cái Lớn, nên cũng gọi là Tượng 象, như khí tượng, trừu tượng, tưởng tượng. Chữ Tượng 象 vốn là cái hình vẽ, chỉ cụ thể con Voi, đã được mượn và nâng ý lên để gọi cái tư duy là Tượng 象, và cái tác phẩm nghệ thuật để cho nhập vong để thờ trong đền chùa cũng gọi là Tượng 像. Theo QT Nhóm thanh điệu định hướng khái niệm thì Tượng là tư duy tĩnh tại, hướng trong; đương nhiên Tưởng sẽ là tư duy hành động, hướng ngoài của từ đôi đối Tượng//Tưởng. Ta gọi là Cờ Tướng, là để nhấn cái ý hành động, sự năng động, quyết đoán của người chỉ huy là quyết định thắng lợi của cuộc cờ. Nhưng người xưa viết bằng hai chữ Tượng Kỳ 象 棋, là nhấn cái ý là cái nước đi, đã luôn được trừu tượng trong óc, cũng có thể gọi là cái âm mưu để giành chiến thắng trên chiến trường, tức là cái nôi khái niệm Nghĩ = Kỳ = Cờ = Vờ = Vờn = Vật = Quật = Quả, từ suy nghĩ (Nghĩ, Kỳ, Cờ) đến chiến thuật (Vờ, Vờn) đến hành động dứt khoát (Vật, Quật) đế đạt thành công (Quả). Do cờ tướng là có xuất xứ từ phương Nam, tương truyền là có từ thời Thần Nông, nên chỗ ranh hai bên trên bàn cờ gọi là Sở Hà 楚 河- Hán Giới 漢 界.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Do cờ tướng là có xuất xứ từ phương Nam, tương truyền là có từ thời Thần Nông, nên chỗ ranh hai bên trên bàn cờ gọi là Sở Hà 楚 河- Hán Giới 漢 界.

Theo bản đồ thời Chiến quốc, chúng ta có mối liên hệ từ "Sở hà" và ranh giới nước Sở thì rõ ràng: ranh giới bàn cờ hàm ý chỉ con sông Dương Tử (Trường Giang).

Quân đỏ chỉ phương Nam - Văn Lang và quân xanh phương Bắc - Trung Quốc.

Các sự khác nhau qua chữ Hán ghi trên quân cờ:

- Hai tướng khác nhau.

- Hai sĩ khác nhau.

- Hai tượng khác nhau.

- Hai mã khác nhau.

- Hai xe khác nhau.

Có điểm chung là quân đỏ thêm chữ như hình cái Qua.

Quân vua đỏ khác hoàn toàn quân vua xanh.

Không rõ nghĩa chữ Hán là như thế nào.

Kính.

Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quân đỏ chỉ phương Nam - Văn Lang và quân xanh phương Bắc - Trung Quốc.

Có điểm chung là quân đỏ thêm chữ như hình cái Qua.

Đó là chữ Nhân (bộ Nhân)... phải chăng là quân Nam xuất binh đều do ...Nhân Nghĩa...

"Việc nhân nghĩa, cốt ở yên dân...Quân điếu phạt trước lo trừ bạo..."

Và...khi chơi cờ, theo "nguyên tắc" cầm quân xanh luôn đi trước...

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đó là chữ Nhân (bộ Nhân)... phải chăng là quân Nam xuất binh đều do ...Nhân Nghĩa...

"Việc nhân nghĩa, cốt ở yên dân...Quân điếu phạt trước lo trừ bạo..."

Và...khi chơi cờ, theo "nguyên tắc" cầm quân xanh luôn đi trước...

Con cờ làm bằng cách tiện con gỗ hình tròn dẹt có khắc chữ là tên của “quân chủng” lên trên mặt. Có thuyết giải thích rằng do con cờ tiện bằng ngà voi nên gọi là Tượng Kỳ 象 棋, rõ là ngớ ngẩn, có con cờ làm bằng ngà voi thật thì cũng chỉ là của hiếm dùng bán cho quí tộc để moi tiền mà thôi, chữ Kỳ 棋 ghép bằng chữ Cây 木 với chữ Kỳ 其, còn cái âm tiết Kỳ hay Cờ thì từ nguyên của nó là từ Của trong Tiếng Việt, ở con cờ thì nó là “Của Nghĩ” = Kỳ, là cái tư duy, cái để đưa ra một “Cách Đi” = Kỳ (các cú đi là “Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách”), người ta còn ghép chữ Kỳ 其 với chữ Nguyệt 月 để cũng đọc là “kỳ 期” và hiểu là một Của Trăng hay một Con Trăng là một chu kỳ. Về chữ thì những chữ đơn thể thường là những chữ cổ nhất, có từ hình vẽ giáp cốt văn. Màu của chữ trên con cờ chỉ là qui định để phân biệt con cờ của hai bên mà thôi, nó không có ý nghĩa gì Nam hay Bắc, thông thường thì chia một bên là chữ màu đen, một bên là chữ màu đỏ để dễ nhìn cho nổi trên nền gỗ màu trắng hay vàng nhạt. Chỉ có điều chú ý là bên chữ màu đen bao giờ con cờ có chữ Tượng 象 đều là chữ Tượng 象 nguyên thủy từ giáp cốt văn có nghĩa là con Voi, bên chữ đen ấy các chữ con cờ đều là chữ cổ hơn, tức không có thêm thắt gì vào, chứng tỏ chúng là những chữ có trước các chữ của bên màu đỏ. Thời nước Sở còn mạnh, bình định hết các nước Việt phía Nam (bình định là vỗ yên chứ Vua Sở vẫn giữ nguyên đền thờ miếu mạo của các nước Việt và dùng quí tộc Việt làm quan), chiếm cả Trung Nguyên và rất nhiều tỉnh, rồi mới đến thời khá dài gọi là thời “Hán Sở tranh hùng”, trước khi Sở bị Tần diệt. Ta có thể tạm coi trên bàn cờ tướng là con cờ bên Sở viết chữ màu đen, con cờ bên Hán viết bằng chữ màu đỏ; sẽ thấy chữ khác nhau: Bên Sở con Tướng viết chữ Tướng 將, bên Hán con ấy lại viết bằng chữ Soái 帥; bên Sở con “quân chủng” Tượng viết bằng chữ Tượng 象, bên Hán con ấy lại viết bằng chữ Tương 相 (là chữ cùng đồng âm “xieng” như Hán gọi, nhưng nơi Hán không có Voi, đương nhiên là đánh trận không có “quân chủng” Voi, nên thay bằng chữ Tương 相 đồng âm với Tượng, chứ không phải là Voi, để làm con tương đương, cũng mang nghĩa Tương 相 là tương đương. ( Nếu phát âm Hán ngữ mà lướt như Thuyết Văn hướng dẫn thì không thể ra được “xieng” là Tượng, chẳng qua là bắt chước phát âm “tượng” của Tiếng Việt mà phát âm lơ lớ là “xieng” mà thôi. Hán ngữ lướt hai chữ Từ 徐 Vũ 雨 sẽ thành là “Xúy 徐 Uỷ 雨” = Xủy, chứ không thể thành “Tu” , nghĩa là “con vật”, như tiếng Tày hay tiếng Quảng Đông, được. Nêu lại phần này để thấy rằng thời viết ra “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận đời Đông Tấn cách nay 2000 năm, ở Trung Nguyên cư dân vẫn còn nói là nói Tiếng Việt). Bên Sở con Sĩ viết bằng chữ Sĩ士, nhưng bên Hán chữ Sĩ 仕có thêm bộ nhân亻 đứng (các chữ Mã 傌, Xa 俥 cũng vậy, có thêm nhân đứng). Bên Sở chữ Pháo 砲là bộ thạch 石, bên Hán chữ Pháo 炮 lại là bộ hỏa 火. Bên Sở là con Tốt 卒, còn bên Hán là con Binh 兵. Con Tốt vì nó là của bên Ta, và bản chất của nó là “tốt” thật, chữ Binh 兵 thì là của bên thường hay phá “bĩnh”. Con Tốt 卒 là đông nhất nhưng cấp thấp nhất, tuy vậy “gặp thời một Tốt 卒 cũng thành công” vì Tốt 卒 là Lính, mà Lính là do cái Linh 靈 ở trong, nên rất biết tự chủ và độc lập sáng tạo. Tu Lình là con khỉ (tiếng Tày) nhưng Tên Lính là con người chân chính.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cờ tướng (chữ Hán gọi là 象棋, phiên âm Hán Việt là Tượng Kỳ tức "cờ voi"), hay còn gọi là cờ Trung Quốc vì nó được cho là có nguồn gốc Trung Quốc (nhưng theo phương Tây thì nó có nguồn gốc từ Ấn Độ), là một trò chơi trí tuệ dành cho hai người, là loại cờ được chơi phổ biến nhất thế giới cùng với cờ vua.

Tại Trung Quốc, cờ tướng được biết đến từ thế kỷ thứ 4 TCN.

Giới thiệu

Mục đích của ván cờ

Ván cờ được tiến hành giữa hai người, một người cầm quân Trắng (hay Đỏ), một người cầm quân Đen (hay Xanh lá cây). Mục đích của mỗi người là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng luật để chiếu bí hay bắt Tướng (hay Soái, hoặc Suý) của đối phương và giành thắng lợi.

Bàn cờ và quân cờ

Tướng, Sỹ và Cửu cung Bàn cờ là một hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 90 điểm hợp thành. Một khoảng trống gọi là sông (hay hà) nằm ngang giữa bàn cờ, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau. Mỗi bên có một cung Tướng hình vuông (Cửu cung) do 4 ô hợp thành tại các đường dọc 4, 5, 6 kể từ đường ngang cuối của mỗi bên, trong 4 ô này có vẽ hai đường chéo xuyên qua.

Theo quy ước, khi bàn cờ được quan sát chính diện, phía dưới sẽ là quân Trắng (hoặc Đỏ), phía trên sẽ là quân Đen. Các đường dọc bên Trắng (Đỏ) được đánh số từ 1 đến 9 từ phải qua trái. Các đường dọc bên Đen được đánh số từ 9 tới 1 từ phải qua trái.

Ranh giới giữa hai bên là "sông" (hà). Con sông này có tên là "Sở hà Hán giới" (楚河漢界)- con sông định ra biên giới giữa nước Sởnước Hán. Theo lịch sử Trung Hoa cổ thì khởi nghiệp nhà Hán, Lưu Bang có cuộc chiến liên miên với Sở vương là Hạng Vũ. Cuộc chiến giữa hai bên làm trăm họ lầm than. Hạng Vũ bèn nói với Hán vương: "Mấy năm nay thiên hạ khốn khổ chỉ vì hai chúng ta. Bây giờ quyết một trận sống mái để khỏi làm khổ thiên hạ nữa". Hán vương trả lời: "Ta chỉ đấu trí chứ không thèm đấu sức". Hai bên giáp mặt nhau ở khe Quảng Vũ. Hán vương bèn kể 10 tội lớn của Hạng vương, Hạng vương tức giận dùng nỏ bắn trúng Hán vương, Hán vương đeo tên chạy vào Thành Cao. Hai bên giữ vững đất của mình. Mãi đến khi thấy không còn đủ lực lượng để triệt hạ lẫn nhau, hai bên mới chịu giao ước chia đôi thiên hạ: từ Hồng Câu về Tây thuộc Hán, từ Hồng Câu về Đông thuộc Sở. Từ điển tích này, người ta hình dung bàn cờ tướng như hai quốc gia Hán và Sở, coi ranh giới là một dòng sông. Cho tới nay, trên các bàn cờ tướng, ở khoảng "hà" nằm chính giữa, chia đôi bàn cờ, người ta thường ghi "Sở hà Hán giới" (bằng chữ Hán) là vì như vậy.

Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có đủ 32 quân, chia đều cho mỗi bên gồm 16 quân Trắng (Đỏ) và 16 quân Đen, gồm 7 loại quân. Tuy tên quân cờ của mỗi bên có thể viết khác nhau (ký hiệu theo chữ Hán) nhưng giá trị và cách đi quân của chúng lại giống nhau hoàn toàn. Bảy loại quân có ký hiệu và số lượng cho mỗi bên như sau:

Quân Kí hiệu Số lượng Tướng Posted Image 1 Sỹ Posted Image 2 Tượng Posted Image 2 Xe Posted Image 2 Pháo Posted Image 2 Mã Posted Image 2 Tốt Posted Image 5

Lịch sử

Đây loại cờ có từ khoảng thế kỷ 7. Cờ tướng được bắt nguồn từ Saturanga, một loại cờ cổ được phát minh ở Ấn Độ từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 6 (trước cờ tướng khoảng 200 năm). Chính Saturanga được phát minh từ Ấn Độ, sau đó đi về phía tây, trở thành cờ vua và đi về phía Đông trở thành cờ tướng. Người Trung Quốc cũng đã thừa nhận điều này.

Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất là quân Pháo được bổ sung từ thời nhà Đường (sau năm 618), là quân cờ ra đời muộn nhất trong bàn cờ tướng, bởi cho tới thời đó, con người mới tìm ra vũ khí pháo để sử dụng trong chiến tranh.

Tuy nhiên, người Trung Hoa đã cải tiến bàn cờ Saturanga như sau:

  • Họ không dùng "ô", không dùng hai màu để phân biệt ô, mà họ chuyển sang dùng "đường" để đặt quân và đi quân. Chỉ với động tác này, họ đã tăng thêm số điểm đi quân từ 64 của Saturanga lên 81.
  • Đã là hai quốc gia đối kháng thì phải có biên giới rõ ràng, từ đó, họ đặt ra "hà", tức là sông. Khi "hà" xuất hiện trên bàn cờ, 18 điểm đặt quân nữa được tăng thêm. Như vậy, bàn cờ tướng bây giờ đã là 90 điểm so với 64, đó là một sự mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, diện tích chung của bàn cờ hầu như không tăng mấy (chỉ tăng thêm 8 ô) so với số điểm tăng lên tới 1 phần 3.
  • Đã là quốc gia thì phải có cung cấm (宮) và không thể đi khắp bàn cờ như kiểu trò chơi Saturanga được. Thế là "Cửu cung" đã được tạo ra. Điều này thể hiện tư duy phương Đông hết sức rõ ràng.
  • Bàn cờ Saturanga có hình dáng quân cờ là những hình khối, nhưng cờ Tướng thì quân nào trông cũng giống quân nào, chỉ có mỗi tên là khác nhau, lại được viết bằng chữ Hán. Đây có thể là lý do khiến cờ tướng không được phổ biến bằng cờ vua, chỉ cần liếc qua là có thể nhận ra đâu là Vua, đâu là Hoàng hậu, kỵ sỹ, v.v. Tuy nhiên, đối với người Trung Hoa thì việc thuộc mặt cờ này là không có vấn đề gì khó khăn. Có lẽ việc cải tiến này cũng một phần là do điều kiện kinh tế bấy giờ chưa sản xuất được bộ cờ có hình khối phức tạp như cờ vua. Cờ tướng không phải là một trò chơi sang trọng, muốn tạo ra một bàn cờ tướng cực kỳ đơn giản, chỉ cần lấy que vạch xuống nền đất cũng xong, còn cờ vua thì mất công hơn nhiều khi phải tạo ra các ô đen/trắng xen kẽ nhau.

    Gần đây ngày càng có nhiều ý kiến đề nghị cải cách hình dáng các quân cờ tướng và trên thực tế người ta đã đưa những phác thảo của những bộ quân mới bằng hình tượng thay cho chữ viết, nhất là khi cờ tướng được chơi ở những nước không sử dụng tiếng Trung Quốc.

  • Với sự thay đổi bố cục bàn cờ, người Trung Hoa đã phải có những điều chỉnh để lấy lại sự cân bằng cho bàn cờ. Đó chính là những ngoại lệ mà người chơi phải tự nhớ. (Xem thêm phần Mã, Tướng).
Xuất xứ tên gọi

Bàn cờ tướng thật sự là một trận địa sinh động, có tầng có lớp và thật hoàn hảo: đủ các binh chủng trên chiến trường, công có, thủ có, các quân được chia thành ba lớp xen kẽ hài hoà. Lại còn có cả sông, cung cấm. Hình tượng quốc gia hoàn chỉnh, có vua tôi, có 5 binh chủng, có quan ở nhà, quân ra trận v.v..., vừa có ý nghĩa, vừa mang sắc thái phương Đông rõ nét, vì vậy người Trung Hoa đặt tên cho cờ này là Tượng kỳ (象棋) với ý nghĩa cờ hình tượng (theo chữ Hán) chứ không phải vì có quân voi trên bàn cờ .

Cũng có một số tài liệu lý giải rằng, vì Trung Hoa không có voi, khi tiếp nhận Saturanga thấy trong các quan có quân voi lạ nên người Trung Hoa bèn gọi là "tượng kỳ" để kỷ niệm một loại cờ lạ có con voi. Như thế có người suy ra "tượng kỳ" có nghĩa là cờ voi.

Tại Việt Nam thì từ xưa tới nay vẫn gọi là cờ tướng chứ không ai gọi là cờ tượng cả. Tướng cầm đầu thì phải gọi là cờ tướng. Đó cũng là nét hay của ngôn ngữ Việt, dễ gần gũi, dễ hiểu. Khi cờ vua du nhập vào Trung Quốc, họ gọi nó bằng cái tên rất dài là "Quốc tế tượng kỳ" (cờ voi thế giới) và cho đến nay họ vẫn gọi như vậy, trong khi người Việt chỉ gọi một tên ngắn gọn lại là cờ vua.

Nguyên tắc chơi

Một thanh niên Việt chơi cờ tướng trên một bàn cờ khổng lồ tại một hội chợ Tết Ở Việt Nam thì từ xưa tới nay vẫn gọi là cờ tướng chứ không ai gọi là cờ tượng cả. Tướng cầm đầu thì phải gọi là cờ tướng. Đó cũng là nét hay của ngôn ngữ Việt, dễ gần gũi, dễ hiểu. Khi cờ vua du nhập vào Trung Quốc, họ gọi nó bằng cái tên rất dài là "Quốc tế tượng kỳ" (cờ voi thế giới) và cho đến nay họ vẫn gọi như vậy, trong khi người Việt chỉ gọi một tên ngắn gọn lại là cờ vua.

Các quân cờ

Tướng

Posted Image

Tướng (hay Soái) Ở Trung Hoa, vua là thiên tử (con trời), do vậy, nếu nhắc tới vua thì phải tôn kính, sùng bái. Bất cứ một hành động, một câu nói nào hớ hênh đối với vua đều bị ghép vào tội "khi quân" và bị xử trảm. Có quân vua trên bàn cờ Saturanga là bình thường, nhưng sang tới Trung Hoa thì không thể được. Các quan lại trong triều đình không thể cam lòng nhìn đám dân quê cứ réo lên tên vua ầm chiếu, rượt đuổi, khi đã hãm được thành thì lại cầm một quân, có khi chỉ là một quân tốt quèn, đạp lên đầu vua đánh chát, rồi hét lên "giết!" một cách hả hê. Biết đâu lại chẳng có kẻ lợi dụng trò chơi này để bày tỏ sự bất phục của mình với vương triều. Các nhà cải cách đã cải tên từ "vua" thành "tướng" hay "soái" cho quân này, với lời giải thích: Tướng hay soái là chỉ huy cao nhất, quan trọng nhất; bên nào giết được tướng hay soái thì hiển nhiên thừa thắng trận, đâu cần tới lượt vua. Cách cải cách tên này đã giải thoát một trong những vấn đề tế nhị và phức tạp nhất về mặt ý thức hệ, và chỉ có như thế trò chơi Saturanga mới được chấp nhận. Tuy nhiên, đó chỉ là cách thay đổi tên, thay đổi bề ngoài, hình thức mà thôi, chứ quân cờ này thực chất vẫn là vua. Vì tướng thì phải xông pha trận mạc, không thể ru rú trong cung, có hai Tượng và Sỹ kè kè bên cạnh bảo vệ. Cách đổi tên chỉ là một mẹo vặt để giữ sỹ diện cho vua mà thôi.

Tướng được chốt chặt trong cung và có tới 2 Sỹ và Tượng canh gác hai bên. Khi lâm nguy, tất cả sẵn sàng xả thân "hộ giá". Chính điều này làm cho quân địch dù có liều chết lăn xả vào cũng không chắc đã thắng được. Như thế muốn thắng một ván cờ cũng rất khó khăn, cơ may hoà cờ là rất lớn. Từ một thực tế như vậy, luật "lộ mặt Tướng" được thiết lập: một bên Tướng đã chiếm được một lộ rồi mà Tướng bên kia thò mặt ra lộ ấy là bị thua ngay lập tức, dù hai Tướng ở cách xa nhau muôn trùng. Chính điều này làm cho sự việc trở nên rất khó giải thích bởi cả Saturanga cũng như cờ vua đều không có tuyệt chiêu này. Thực ra đây chỉ là một quy định đơn thuần mang tính kỹ thuật nhằm cứu vãn cho sự ỳ ạch của cờ tướng, cho sự quá kín mít của Cửu cung. Việc Tướng chiếm lộ thông chính là việc phong luôn cho Tướng vai trò kép "Xa và Tướng". Xe là quân cực mạnh, do đó chiến thắng sẽ dễ dàng hơn.

Do có luật "lộ mặt Tướng" nên sẽ có hệ quả: Tướng bên này mặc nhiên chiếm luôn một phần ba diện tích Cửu cung của đối phương, khiến đất nương thân của đối phương bị thu hẹp đáng kể. Đó là chưa nói nếu Tướng chiếm được lộ giữa thì Tướng của đối phương mất tới hai phần ba cung cấm của mình, nghỉa là chỉ còn vỏn vẹn có 3 điểm dể di chuyển. Lúc đó đối phương chỉ còn 1 quân cũng có thể tóm gọn được dù rằng đang ở ngay trong cung cấm của mình. Trong khi cờ tướng khi Tướng mất hết đường chạy thì thua chứ không hoà như trong cờ vua. Vì vậy, tỷ số thắng thua ở cờ tướng sau khi có ngoại lệ này đã tăng vọt, chấm dứt tình trạng hoà cờ trì trệ như từ trước đến nay.

Tướng chỉ được đi ngang hay đi dọc từng bước một trong phạm vi cung tướng.Tính theo khả năng chiến đấu thì Tướng là quân yếu nhất do chỉ đi nước một và bị giới hạn trong cung. Tuy nhiên trong nhiều tình huống, đặc biệt khi cờ tàn đòn "lộ mặt tướng" lại tỏ ra rất hiểm và mạnh. Lúc này Tướng mạnh ngang với Xa.

Posted Image Posted Image Sỹ Trong cờ vua, quân cố vấn được đổi thành quân Hoàng hậu, nhưng ở Trung Hoa, phụ nữ không được tham gia chính sự nên không thể có mặt bên cạnh vua trong bàn cờ được. Trong cờ tướng, quân Sỹ có vai trò "hộ giá" cho Tướng (hoặc Soái). Chúng đứng ngay sát cạnh Tướng, chỉ đi từng bước một và đi theo đường chéo trong Cửu cung. Như vậy, chúng chỉ di chuyển và đứng tại 5 điểm và được coi là quân cờ yếu nhất vì bị hạn chế nước đi. Sỹ có chức năng trong việc bảo vệ Tướng, mất Sỹ được cho là nguy hiểm khi đối phương còn đủ 2 Xe hoặc dùng Xe Mã Tốt tấn công. Bỏ Pháo ăn Sỹ rồi dùng 2 Xe tấn công là đòn chiến thuật thường thấy.

Trong tàn cuộc, Sỹ thường được đưa lên cao để làm ngòi cho Pháo tấn công.

Tượng (Tịnh, Bồ)

Posted Image Tượng/ Tịnh Quân Tượng đứng bên cạnh quân Sỹ và tương đương với Tượng trong cờ vua. Quân này đi theo đường chéo của hình vuông gồm 2 ô cờ. Chúng không được qua sông, chúng có nhiệm vụ ở lại bên này sông để bảo vệ vua. Chỉ có 7 điểm mà Tượng có thể di chuyển tới và đứng ở đó.

Tượng sẽ không di chuyển được đến vị trí đã nêu nếu có 1 quân đặt tại vị trí giữa của hình vuông 2 ô. Khi đó ta gọi là Tượng bị cản và vị trí cản được gọi là "mắt Tượng".

Tượng được tính là mạnh hơn Sĩ một chút. Khả năng phòng thủ của Tượng cũng được tính nhỉnh hơn. Nói chung mất Tượng cờ dễ nguy hơn mất Sĩ.

Xa (Xe)

Posted Image Xe Quân Xe đi và ăn theo một đường thẳng đứng hoặc ngang giống hệt quân Xe trong cờ vua. Chúng bắt đầu nước đi từ phía góc của bàn cờ, chúng được coi là quân cờ mạnh nhất trong cờ tướng.

Pháo

Posted Image Pháo Quân Pháo đi giống quân Xe, theo chiều thẳng đứng hoặc ngang, nhưng ăn quân bằng cách nhảy qua 1 quân cờ khác. Hãy tưởng tượng Cửu cung với thành cao hào sâu, có lực lượng bảo vệ canh gác ngày đêm, Tướng thì chẳng bao giờ ra khỏi cung, lấy cách gì mà đột phá vào đây. Xe tuy thông suốt như thế nhưng nếu có quân đứng chặn đường thì cũng phải dừng lại. Nhưng với Pháo thì bất chấp tất cả. Pháo có thể kéo tới tận góc mà nã đạn cầu vồng vào trong cấm cung tiêu diệt Tướng. Pháo có thể kéo hẳn về cung mình dùng chính Sỹ cuả mình làm ngòi để chiếu hết tướng đối phương. Quân Pháo có quyền lực mạnh ở lúc bắt đầu, lúc bàn cờ còn nhiều quân, nhưng quyền lực đó giảm dần về sau. Trên thực tế thì có tới 70% khai cuộc là dùng Pháo. Đơn giản và thô lỗ nhất là nã ngay Pháo tiêu diệt Mã đối phương (người chơi như thế gọi là hiếu sát). Còn thông thường là hai bên cùng kéo pháo vào lộ giữa, gọi là đương đầu Pháo. Kéo Pháo cùng bên gọi là trận Thuận Pháo, kéo Pháo vào ngược bên nhau gọi là trận Nghịch Pháo (hay Liệt Pháo).

Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí là quân Pháo được bổ sung từ thời nhà Đường. Đây là quân cờ ra đời muộn nhất trên bàn cờ tướng vì tới thời đó, pháo được sử dụng trong chiến tranh với hình thức là một loại máy dùng để bắn những viên đá to. Bấy giờ, từ Pháo trong chữ Hán được viết với bộ "thạch", nghĩa là đá. Cho đến đời nhà Tống, khi loại pháo mới mang thuốc nổ được phát minh thì quân Pháo đã được viết lại với bộ "hỏa".

Kể từ khi xuất hiện Pháo, bàn cờ tướng trở nên cực kỳ sôi động, khói lửa mịt mù từ đầu tới cuối trận với biết bao nhiêu đòn Pháo vô cùng hiểm hóc. Chính cặp Pháo này đã nâng cờ tướng lên một tầm cao hoàn toàn mới, khiến cho cờ tướng trở nên cực kỳ độc đáo, tách rời bỏ hoàn toàn bóng dáng của trò Saturanga. Người châu Âu, châu Mỹ cũng có Pháo nhưng họ không nghĩ tới và không đưa được Pháo vào bàn cờ, muốn có được nó thì phải thay đổi hoàn toàn cấu trúc của bàn cờ. Nếu cờ vua vẫn để nguyên 64 ô đen trắng thì Pháo đặt vào đâu được. Đặt vào có khi lại bị vào trường hợp "quân mình bắn quân ta". Có thể nói pháo là quân cờ lợi hại nhất trong cờ tướng.

Posted Image Mã Với bàn cờ được cải tiến như hiện nay, đất rộng và có vô số đường để tung hoành, Mã sẽ phi nước đại trên khắp bàn cờ. Sự thái quá của Mã như thế sẽ làm cho việc tiêu diệt quân trở nên quá nhanh, công mạnh hơn thủ, và nhất là Tướng sẽ bị uy hiếp nặng nề nếu hai Mã đối phương sang được trận địa bên này. Mã trong cờ vua không bị luật cản bởi bàn cờ vua chật hẹp, các Tốt của cờ vua móc xích nhau cản trở rất lớn nên việc tung hoành của Mã so với bàn cờ tướng là khó khăn hơn nhiều. Nếu không có ngoại lệ để giảm bớt đà của Mã trong bàn cờ tướng thì các đòn đánh thâm hậu dễ bị phá sản và vai trò của các quân sẽ bị mất cân đối. Từ khi có luật cản Mã, cờ trở nên ôn hoà, sâu sắc và mưu mẹo phải cao hơn, nghệ thuật dùng quân để "cản Mã" cũng tinh vi hơn, khiến cho Mã dù đã "ngọa tào" hay "song Mã ẩm tuyền" cũng không dễ gì bắt được Tướng đối phương nếu bất ngờ bị một quân khác chèn vào "chân".

Nước đi và nước cản của Mã Những đòn nhằm vào tướng như thế nếu ở cờ vua thì vua hết đường cựa nhưng ở cờ tướng thì vua hoàn toàn có thể rút Xe hoặc Pháo từ trận địa xa phía bên kia về để cứu nguy nhờ phép cản Mã tài tình. Nếu ở Pháo có nguyên tắc mà không người chơi cờ nào không thuộc là "cờ tàn Pháo hoàn" với vai trò hỗ trợ Pháo của Sỹ là vô cùng quan trọng thì đối với Mã ở cờ tàn là việc tích cực ào lên tấn công. Khi đó những nước chống đỡ của đối phương phụ thuộc rất nhiều vào vị trí làm thế nào để cản được chân Mã hơn là làm thế nào để tiêu diệt được Mã, bởi bàn cờ lúc này rất trống trải, Mã tha hồ tung hoành. Quân mã đại diện cho đơn vị lính kị binh, đó là sự mô phỏng hình tượng kị binh cầm giáo đâm xiên kẻ thù. Chính vì phải dùng tốc độ thì sát thương mới cao nên để hạn chế kị binh hay bắt chết mã chỉ có cách là chèn chân tương ứng với "cản mã" như ở trên. Đó là sự thâm thúy của người Trung Hoa so với phương Tây dù rằng việc sử dụng kị binh phương tây nắm rất rõ.

Tốt (Binh, Chốt)

Posted Image Tốt (hoặc Binh) Binh pháp của Trung Hoa không giống như của Ấn Độ. Trên nền tảng quân sự của mình, người Trung Hoa đã sáng tạo ra cách bày quân như sau: Thứ nhất, lính tráng phải ra nơi biên ải để giữ gìn đất nước. Như vậy, sát với sông, người ta cắt cử 5 quân Tốt cách đều nhau để giữ tuyến đầu. Hình tượng 5 con tốt tượng trưng cho đơn vị quân đội nhỏ nhất ngày xưa là 1 đội gồm 5 người lính, họ sử dụng 5 loại binh khí khác nhau. Trận chiến bây giờ không nằm ở hai hàng dưới nữa mà đã được đẩy lên rất cao phía trên. Việc các quân Tốt chỉ có số lượng như vậy đã tránh được chuyện "bịt đường" như ở cờ vua, tạo sẵn ra 4 đường mở cho các quân bên dưới có thể năng động xông lên, thậm chí tấn công được ngay chứ không bị bó chân ngay từ đầu như ở cờ vua. Cách bố trí 5 quân Tốt này là phương án tối ưu cho cấu trúc của bàn cờ, vì nếu là 4 hay 6 thì khó đặt ở bàn cờ cho cân đối. Quân Tốt ở đây tương tự như quân Tốt ở cờ vua, chúng đi thẳng theo chiều đứng và có thể ăn quân từng bước một. Khi Tốt qua được sông, chúng có thể đi và ăn theo chiều ngang. Không giống như trong cờ vua, chúng không có luật phong Hậu, hay Xe,... khi đi đến hết bàn cờ, lúc này, chúng được gọi là Tốt lụt. Việc mất mát một vài Tốt ngay từ đầu cũng được xem như việc thí quân trong cờ vua

Cách ghi nước đi

Trong các thế cờ, để ghi lại vị trí và sự dịch chuyển quân cờ, người ta thường ghi lại các nước đi như sau:

  • Dấu chấm (.) là tiến
  • Dấu gạch ngang (–) là đi ngang (bình)
  • Dấu gạch chéo (/) là lùi (thoái)
Mỗi nước được ghi theo thứ tự: số thứ tự nước đi, tên quân cờ, vị trí và sự dịch chuyển quân cờ. Ví dụ, nước đầu, Đỏ đi Pháo 2 bình 5, bên Đen mã 8 tiến 7 thì ghi:

  • P2-5 M8.7
Nước thứ hai, Đỏ đưa Pháo ở cột 8 lùi 1 bước, Đen đưa Tốt cột 7 lên một bước.

  • P8/1 B7.1
Nếu Pháo (hay Mã, Xa) nằm trên một đường thì ghi Pt là Pháo trước, Ps là Pháo sau.

Nếu có 3 Tốt nằm trên cùng một cột thì ký hiệu Bt (Binh trước), Bg (Binh giữa), Bs (Binh sau).

Các giai đoạn của một ván cờ

Người ta thường chia ván cờ ra làm ba giai đoạn: khai cuộc, trung cuộctàn cuộc.

Khai cuộc

Thường khai cuộc được tính trong khoảng 5-12 nước đầu tiên. Các nghiên cứu mới cho biết khai cuộc đóng góp rất quan trọng vào khả năng thắng của một ván cờ. Khai cuộc có thể đóng góp đến 40% trong khi trung cuộc và tàn cuộc đóng góp 30% mỗi giai đoạn. Có rất nhiều dạng khai cuộc khác nhau, nhưng nói chung, có 2 loại chính: khai cuộc Pháo đầu và khai cuộc không Pháo đầu.

Khai cuộc Trung Pháo

Tên của các khai cuộc được đặt tuỳ theo cách đi của bên đi sau, chỉ nêu vài loại chính:

  • Thuận Pháo
  • Nghịch Pháo (Liệt Pháo)
  • Bán đồ Liệt Pháo
  • Pháo đầu đối Bình phong Mã
  • Pháo đầu đối Phản cung Mã
  • Pháo đầu đối Đơn đề Mã
  • Pháo đầu đối Phi Tượng
  • Pháo đầu đối Uyên ương Pháo
  • Pháo đầu đối Quy bối Pháo
Khai cuộc không Trung Pháo

  • Tiến Tốt (Tiên nhân chỉ lộ)
  • Khởi Mã cuộc
  • Phi Tượng cuộc
  • Quá cung Pháo
  • Sĩ Giác Pháo
  • Quá cung Liễm Pháo
Trung cuộc

Khai cuộc và tàn cuộc do có vị trí và số lượng quân cờ có thể quy chung về một số dạng chính nên người ta đã nghiên cứu và tổng kết được các dạng như trên. Còn ở trung cuộc, thế cờ lúc này theo kiểu "trăm hoa đua nở" nên chủ yếu vận dụng các chiến thuật cơ bản như:

  • Bắt đôi: cùng một lúc đuổi bắt hai quân.
  • Nội kích: đánh từ phía trong.
  • Kích thẳng vào Tướng.
  • Chiếu tướng bắt quân.
  • Điệu hổ ly sơn: làm cho một quân hay Tướng phải rời vị trí của nó.
  • Dẫn dụ: đây là đòn thu hút quân đối phương đến vị trí dễ bị công kích hoặc bị vây hãm, sau đó kết hợp với chiến thuật bịt chắn lối đi, đường rút của đối phương.
  • Tạo ách tắc: dùng chiến thuật thí quân để gây ách tắc, hết đường cựa của đối phương.
  • Ngăn trở, chia cắt: đòn này thường dùng cách thí quân để làm sự liên lạc giữa các quân bị cắt đứt.
  • Khống chế: chiến thuật này ngằm ngăn trở tầm hoạt động và sự cơ động của đối phương.
  • Dịch chuyển: chiến thuật này chú ý đến sự linh hoạt của các quân.
  • Bao vây.
  • Trợ sức: các quân trợ sức cho nhau để cùng chiếu.
  • Vu hồi: đánh vòng từ phía sau.
  • Qua lại: chiến thuật này dùng để thủ thế hay công sát.
  • Quấy nhiễu.
  • Nước lơ lửng: đi một "nước vô thưởng vô phạt" để nhường nước cho đối phương, khiến đối phương phải đi một nước "tự sát".
  • Giam quân: khi một bên đang trong tình thế nguy hiểm, nhưng sử dụng một nước khéo léo giam quân mạnh của đối phương (có thể dùng cách thí quân), sau đó dùng các quân còn lại để gỡ bí.
  • Vừa đỡ vừa chiếu lại.
  • Vừa đỡ vừa trả đòn.
Tàn cuộc

Tàn cuộc là giai đoạn tổng số quân cờ, đặc biệt là quân tấn công (Xe, Pháo, Mã, Tốt) cả hai bên còn rất ít.

  • Xe chống Sĩ Tượng toàn
  • Xe Tốt chống Sĩ Tượng toàn
  • Mã Tốt chống Sĩ Tượng toàn
  • Đơn Mã chống Tướng
  • Đơn Tốt bắt Tướng
  • Đơn Mã thắng Tướng
  • Đơn Xe thắng song Tượng
  • Xe và Tốt lụt thắng đơn Xe
  • Đơn Xe thắng đơn Tướng
  • Tốt chống Tướng
  • Tam tử quy biên
Chơi cờ tướng đòi hỏi điều gì?

Cũng giống như với cờ vua, cờ tướng đòi hỏi người chơi phải có tư duy chiến thuật, chiến lược tốt mới có thể giành thắng lợi

Trong cớ tướng khả năng đi ít hơn trong cờ vua. Lý do: bộ Tướng, Sĩ, Tượng không có nhiều khả năng đi, chỉ đi trong ô vuông cho trước. Con Tốt cũng không thể biến thành con khác, con Mã lại bị cản. Trong cờ vua thì không có những ràng buộc này. Vì vậy cờ vua biến hóa phức tạp hơn, đòi hỏi người phải co sự tư duy và sáng tạo cao.

Các hình thức chơi cờ tướng khác

Cờ thế

Chơi cờ thế là hình thức chơi cờ mà bàn cờ lúc ban đầu đã có sẵn các thế cờ, quân cờ đang ở các vị trí như trong một ván cờ dang dở, mức độ thế cờ từ dễ đến khó và người chơi phải thắng được sau một số nước đi được yêu cầu từ trước. Cờ thế hay được thấy ở các lễ hội dân gian.

Cờ bỏi

Cờ bỏi cũng là một hình thức đánh cờ tướng, nhưng quân cờ là những thẻ gỗ sơn son thếp vàng, có cán dài chừng 1 m, tên quân cờ được viết ở hai mặt, cắm vào các ô đã định sẵn trên sân. Người đánh phải tự nhấc quân cờ để đi, trước khi đi quân, phải có hiệu lệnh bằng trống bỏi. Từng đôi một vào thi đấu ở sân cờ. Thực chất đây là một bàn cờ lớn và nhiều người có thể cùng xem được.

Cờ người

Trong các lễ hội dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, cờ người là một trong những cuộc thi đấu thu hút được rất nhiều người đến xem và cổ vũ. Thông thường, nơi diễn ra trận cờ người là sân đình của làng. Quân cờ là những nam thanh nữ tú được làng kén chọn, vừa phải đẹp người, vừa phải đẹp nết. Tướng được phục trang như sau: đội mũ tướng, soái, mặc triều phục bá quan văn võ, chân đi hài thêu, lọng che. Sĩ đội mũ cánh chuồn có tua vàng. Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểu tượng quân cờ được trạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đội nam mặc áo đỏ, đội nữ mặc áo vàng với thắt lưng theo lối xưa.

Trước khi vào vị trí của mỗi người trên sân cờ, cả đội cờ múa theo tiếng trống, đàn, phách. Sau khi quân cờ đã vào các vị trí, một hồi trống dài nổi lên, hai đấu thủ cờ mặc áo dài, khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính, mỗi người cầm một cây cờ đuôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh. Quanh sân, hàng trong thì khán giả ngồi, hàng ngoài đứng, chăm chú thưởng thức ván cờ và bàn tán râm ran. Khi cờ đến hồi gay cấn, cả sân xôn xao, một nước xuất thần, cả sân đều ồ lên khoái trá. Nếu quân cờ nào đó đi hơi chậm là có tiếng trống bỏi lanh canh vui tai nhắc nhở "cắc...tom tom". Bên lề sân có một cái trống to thỉnh thoảng được gióng lên một hồi điểm cho những nước đi. Khi Tướng bị chiếu, tiếng trống dồn dập, đám đông lại càng đông hơn, đã náo nhiệt lại càng náo nhiệt thêm. Đặc biệt hơn trong một số lễ hội, thỉnh thoảng người ta còn đọc những lời thơ ứng khẩu bình những nước đi trong sân trên chiếc loa ở sân.

Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ vinh cuộc cờ người, có những câu sau:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.Hẹn rằng đấu trí mà chơi,Cấm ngoại thủy không ai được biết. ..... Khi vui nước nước non non,Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

Cờ tưởng (Cờ mù)

Cờ tưởng là hình thức đánh cờ bằng trí tưởng tượng, không nhìn bàn cờ thật. Kiểu chơi này thường đòi hỏi người chơi phải có trình độ cao, nhớ được các nước đi, thế cờ hiện tại. Quốc tế đại sư Liễu Đại Hoa của Trung Quốc hiện đang giữ kỷ lục thế giới về cờ tưởng.

Cờ một thế trận

Cờ một thế trận là trong ván cờ, chỉ được chơi một thế trận như: Thuận Pháo,... Các ván cờ thường khởi đầu với những chiêu thức cũ, nhưng sau đó là rất nhiều phương án khác đa dạng độc đáo, biến hoá kỳ ảo. Giải cờ này hay được tổ chức tại Trung Quốc.

Cờ chấp

  • Chấp quân: Quân bị chấp sẽ được bỏ ra ngoài bàn cờ ngay từ đầu. Thường là chấp Xe, Pháo, 2 Mã và 1 Mã.
  • Chấp nước đi: Người được chấp sẽ được đi một vài nước trước, rồi mới đến lượt người chấp. Quân đi trước sẽ không được ăn quân hoặc qua sông. Thường là chấp 1-2-3 nước đi trước. Từ chuyên dùng gọi là chấp 1-2-3 tiên.
Trên thực tế có thể phối hợp cả 2 loại chấp trên, như chấp Mã và đi trước 2 nước (Mã 2 tiên).

Cờ úp

Được chơi nhiều gần đây ở Việt Nam. Các quân cờ trừ tướng được che khuất bằng cách dùng một cái nắp nhựa úp lên. Kiểu chơi này đòi hỏi người chơi phải nhớ quân tốt hơn. Một biến thể nữa là xáo trộn các quân và đặt chúng ở vị trí ngẫu nhiên nhưng có lẽ kiểu chơi này đã đi quá xa và không nên coi là cờ tướng. Một số biến thể khác nửa bao gồm Cờ Rồng, Cờ Xáo Trộn và Cờ Úp... có thể được tham khảo và chơi trực tuyến tại trang Cờ Tướng Trực Tuyến VietSon

Cờ Tam quốc

Thành ngữ trong cờ tướng

  • Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách.
  • Cờ tàn, Pháo hoàn.
  • Khuyết Sỹ kỵ song Xa.
  • Khuyết Tượng kỵ Pháo.
  • Khuyết Sĩ kỵ Mã.
  • Nhất Sỹ chòi góc, cóc sợ Mã công.
  • Tốt nhập cung Tướng khốn cùng.
  • Mã nhập cung Tướng khốn cùng (hay Mã nhập cung Tướng lùng bùng).
  • Xe mười Pháo bảy Mã ba.
  • Nhất Xe sát vạn.
  • Cờ bí dí Tốt.
  • Nhất chiếu nhất cách (đi một nước khác sau mỗi lần chiếu, cầu hòa)
  • Được thế bỏ Xe cũng tốt, mất tiên khí tử toi công.
  • Nhất tốt độ hà, bán xa chi lực (một Tốt sang sông có sức mạnh bằng nửa Xe).
  • Pháo đầu Xuất tướng Xe đâm thọc.
  • Pháo đầu, Mã đội, xe lên hà.
  • Pháo giáp Mã
  • Mất xe không bằng què Tượng
  • Hạ thủ bất hoàn.
Các câu đối và thơ về cờ tướng

Trải Hạ Thu Đông gặp tiết Xuân về càng phấn chấnSo Cầm Thi Họa thêm bàn Cờ nữa mới thanh cao. Tiểu liệt, Đại liệt giao tranh kịch liệtBình xa, Hoành xa chiến lược cao xa. ...Phải nhìn cho rộng suy cho kỹKiên quyết không ngừng thế tấn công ......

Lạc nước hai Xe đành bỏ phíGặp thời một Tốt cũng thành công.... .....

Tấn công phòng thủ không sơ hởĐại tướng anh hùng mới xứng danh(Trích bài "Học đánh cờ" trong tập

"Nhật ký trong tù" của Hồ Chí Minh) Thắt lưng hoa lý mắt câu huyềnSỹ Tượng gươm trần gác mỗi bênEm làm bà Tướng lòng anh đóAnh nguyện xin làm phận Tốt đen.(Bài "Hội cờ người" của N.V.C) Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựaThiếp vội vàng vén phứa tịnh lên(Thơ Hồ Xuân Hương) mã cầm cô sĩ

Quan kỳ bất ngữ chân quân tửTiến thủ vô hồi đại trượng phu

Kỷ lục cờ tướng

  • Chơi cờ tưởng: Ngày 25 tháng 2 năm 1995, Đại kỳ sư Trung Quốc Liễu Đại Hoa đã bịt mắt, đánh cờ tưởng (tức là đánh cờ tướng nhưng không cần nhìn bàn cờ) với 19 kỳ thủ có đẳng cấp. Kết quả, sau 7 giờ 20 phút, ông đã thắng 9, hoà 8 và chỉ thua 2 ván.
  • Chơi cờ đồng loạt: Ngày 30 tháng 5 năm 1996, Từ Thiên Hồng, danh thủ cờ tướng Trung Quốc, một mình đấu cùng lúc với 100 đối thủ. Cuộc đấu cờ dài 9 giờ 28 phút với kết quả: ông thắng 83 ván, hoà 16 ván và thua 1 ván.
Các giai thoại về cờ tướng

Thua cờ mất núi Hoa Sơn Giai thoại này chắc nhiều người biết, hôm nay tình cờ nhặt được biên bản chép luôn cho bạn nào chưa xem thưởng thức nhé.

Sử Trung Quốc chép cách đây hơn 1000 năm sau nhà Đường, vào thời "Ngũ Đại Thập Quốc", xã hội loạn lạc, xuất hiện nhân vật là Triệu Khuông Dẫn ra tay dẹp nhà Hậu Chu, thống lĩnh thiên hạ, lập nên triều Tống. Nên còn được hậu thế gọi là Tống Thái Tổ.

Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn

Posted Image

Triệu Khuông Dẫn không những văn võ song toàn, tinh thông thập bát ban kể cả kỳ nghệ cũng vào hàng cao thâm. Từ hồi còn trẻ đã tòng quân chinh chiến, bôn tẩu giang hồ, được dịp tiếp nhiều cao thủ khắp nơi nên sức cờ lên nhanh, thắng nhiều hơn thua, Triệu đâm kiêu ngạo, tự xem mình là đệ nhất thiên hạ. Nên nghe ở đâu có cao thủ là tìm đến thách đấu cho bằng được.

Có lần hành quân qua Thiểm Tây nghe tiếng ở núi Hoa Sơn có ẩn sĩ tên là Trần Đoàn cờ cao cũng không thua gì núi, bèn tức tốc tìm đến khiêu chiến. Mới đầu thấy Triệu chỉ là một tay lính quèn vô danh nên Trần đạo nhân không thèm tiếp, Triệu bèn hăng máu đòi độ cả quả núi Hoa Sơn! Trần Đoàn bèn đổi ý, định sẽ dạy cho kẻ hiếu thắng một bài học. Và cuối cùng đạo sĩ đã thành công, kích bại Triệu bằng một đòn phối hợp sát cục rất ngoạn mục.

Sau này khi Triệu Khuông Dẫn đoạt tiên cơ lên ngôi hoàng đế, Trần Đoàn nghe tin bèn đánh tiếng đòi nợ cũ. Không ngờ dù đã nắm cả thiên hạ nhưng Triệu vẫn giữ lời, không những giao cho Trần Đoàn núi Hoa Sơn mà còn miễn thuế cả năm.

Quay trở lại ván cờ, ngàn năm sau xem lại vẫn rất lý thú và đáng học hỏi. Triệu đi tiên, xuất quân thận trọng bằng trận Tiên nhân chỉ lộ. Hai bên gằm ghè nhau khai cục, rồi sau khi đổi một xe xong thì bắt đầu thi triển võ công, kiếm đao giao nhau loang loáng, mỗi bên cùng dụng xe pháo mã công một cánh, thắng thua chỉ hơn nhau sợi tóc. Cuối cùng Trần đạo sĩ thất thế, sắp thua, nhận thấy Triệu bản tính nôn nóng, thiếu kiên nhẫn, bèn vận chiêu tâm lý chiến, luôn miệng khích bác đối thủ bằng lời. Quả nhiên Triệu bị khích tướng đâm nổi nóng, trong thế thắng lại đi vội sót nước để đối thủ tung đòn phản, thua ngược. Sau đây là diễn biến ván cờ theo sách chép lại.

Triệu Khuông Dẫn tiên bại Trần Đoàn

Sau này người ta phân tích lẽ ra ở nước 46 thay vì X5/1 vội chiếu ăn quân mà Triệu bình tĩnh phục nước nguội P9/1 thì chắc thắng (vì hậu buộc phải tránh bí 47... Tg5-6 thì tiên có nước 48. X5-4 chiếu ăn xe). Bởi thế giai thoại này thường được người đời đem ra làm bài học về đức tính kiên nhẫn, trầm tĩnh khi đối địch cũng như trong đối nhân xử thế: "tam tư nhi hậu hành", làm gì cũng phải suy nghĩ cho thật chín. Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

iai thoại này tôi có đọc qua rồi.Theo tôi biết là ông Trần Đoàn là một người tu tiên đã đắc đạo nên luyện được phép nằm mộng thấy được tương lai.Do ông Trần Đoàn biết được ông Triệu Khuông Dẫn sẽ là Tống Thái Tổ sau này và ngày hôm đó sẽ đi ngang qua núi Hoa Sơn nên ông ta đã bày kế cá cược để giành lấy núi Hoa Sơn cho mình.Lúc đó Triệu Khuông Dẫn còn là tên lang bạt kỳ hồ nên đâu đủ tư cách để đem núi Hoa Sơn ra mà cá cược!Cái chính là do mưu kế cuả ông Trần Đoàn.Sau khi đánh mấy ván cờ ăn họ Triệu cháy túi,vì cay cú nên họ Triệu đòi vay bạc ông Trần Đoàn để đánh tiếp và thế là đã sập bẫy.Ông Trần Đoàn đã nói như thế này:"ta cho người vay rồi biết người ở đâu mà đòi,thôi thì nếu ngươi thua thì hãy bán cho ta ngọn núi Hoa Sơn này bằng với số bạc đã vay cuả ta".Lúc đó họ Triệu đang cay cú ăn thua nên đồng ý liền và họ đánh một ván quyết định với tất cả số bạc vừa vay.Ván này diễn ra rất gay cấn như trong truyền thuyết và kết quả là Triệu Khuông Dẫn đã bị bại.Ông Trần Đoàn sau khi thắng liền buộc Triệu Khuông Dẫn khắc lên tảng đá khế ước bán núi Hoa Sơn cho mình và họ Triệu liền thực hiện nhưng trong lòng vẫn cười thầm vì lúc đó họ Triệu đâu biết sau này mình sẽ là vua.

Triệu Khuông Dẫn nắm cờ Đỏ thua do nước PHÁO.

Posted Image

để lên đến chỗ này đánh cờ cho yên tĩnh và nhất là tránh dư luận, họ đã lôi nhau đi hết một ngày đường núi, lúc thì đi trên mỏm đá

Posted Image

Tôi sẽ phân tích sau.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Màu đỏ - Hỏa - là màu của phương Nam. Màu xanh biển - Thủy - là màu của Phương Bắc. Sở hà Hán giới nghĩa là sông biên giới nước Sở - chính là sông Dương tử là địa giới của Hán tộc. Câu này thì nghĩa đen xì chẳng bóng gió gì cả. Có nghĩa là nó xác định thẳng thắn luôn: Một thời huy hoàng của Việt sử bên bờ nam Dương tử.

Trong "Tìm về cội nguồn kinh Dịch" - phụ mục: Quân Tượng trên bàn cờ tướng" tôi đã xác định: Cờ tướng của Việt tộc.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - Phụ chương

Thứ bảy 21/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Có không ít những nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ Việt Nam phần lớn có xuất xứ từ ngôn ngữ Hán. Có nhà nghiên cứu thống kê được khoảng 30.000 từ tiếng Việt liên hệ với từ Hán Việt; thậm chí có những từ rất thông dụng mà có thể nói rằng: khi đến tuổi yêu đương, người ta không cần phải có tư duy ngôn ngữ cũng có thể có quan niệm về nó, cũng có sự liên hệ với từ Hán Việt. Chính sự liên hệ quá nhiều này đã chứng tỏ tính phi lý – nếu ai đó có quan niệm cho rằng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam có nguồn gốc từ ngôn ngữ và văn hóa Hán. Bởi vì – (chính vì sự liên hệ quá nhiều đó) – chúng ta đặt vấn đề ngược lại: nếu như không có sự liên hệ về ngôn ngữ thì người Việt nói như thế nào? Những sự liên hệ về ngôn ngữ nói trên có thể do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng trên xảy ra trong quá trình phát triển tự nhiên của những hiện tượng xã hội trong thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm (đây không phải là con số để đọc trong một giây), đã làm xuất hiện những khái niệm mới khi trung tâm của nền văn minh và sự phát triển thuộc về Hoa Hạ. nhưng nếu từ đó liên hệ đến vấn đề nguồn gốc văn hóa thì rõ ràng là một điều phi lý. Bây giờ chúng ta bắt đầu từ quân Tượng trên bàn cờ tướng.

Trong văn học dân gian Việt Nam còn lưu truyền một câu truyện mà hầu hết người Việt Nam đều biết; đó là truyện “Hồn Trương Ba, xương da anh hàng thịt”. Câu truyện kể lại rằng:

Ngày xưa có anh Trương Ba rất giỏi đánh cờ tướng. Có một lần anh dồn đối phương vào thế bí rồi hãnh diện nói rằng: “Thế cờ này, đến Đế Thích cũng không gỡ nổi”. Không ngờ Đế Thích hiện ra thật và chỉ vài nước cờ là Trương Ba đang thắng hóa thua. Anh thờ Đế Thích làm thầy dạy cờ mình. Đế Thích cho anh mấy nén nhang (hương) để khi cần thắp lên gọi Ngài. Nhưng Trương Ba chết đột ngột. Vợ anh thắp hương thờ chồng, trong đó có mấy nén hương của Đế Thích cho. Đế Thích hiện lên. Vợ Trương Ba cầu xin Đế Thích làm cho chồng sống lại. Nhưng Trương Ba chết đã lâu, xác đã nát; nên Đế Thích mượn xác ông hàng thịt mới chết để nhập hồn Trương Ba vào. Như vậy, xác của anh hàng thịt, hồn của anh Trương Ba. Vợ anh hàng thịt và vợ anh Trương Ba kiện nhau ra cửa quan để giành chồng. Quan bắt một con lợn cho người sống lại làm thử, thì người này tỏ ra lúng túng. Quan cho chơi cờ, thì người này tỏ ra cao thủ. Quan xử người sống lại chính là Trương Ba.

Câu chuyện này hàm chứa mật ngữ của ông cha để lại với ý nghĩa sâu xa, cho biết nguồn gốc đích thực của nền văn hóa Đông phương bị khuất lấp bởi một hình thức khác. Ý nghĩa gần gũi của mật ngữ trong câu chuyện này là: nguồn gốc của cờ tướng xuất phát từ một nền văn minh khác du nhập vào Văn Lang, qua Văn Lang truyền sang văn minh Hán. Hiện tượng và là một bằng chứng cho vấn đề này chính là quân “Tượng” trong bàn cờ tướng. Trong quân sự, kể từ khi binh pháp Tôn Tử xuất hiện cho đến ngày hôm nay, người Hoa Hạ chưa bao giờ sử dụng voi trong chiến đấu. Vậy nguyên nhân nào để có con Tượng (voi) trong bàn cờ tướng? Việc sử dụng voi trong chiến đấu chỉ có ở Việt Nam, Ấn Độ và một số nước gần gũi ở Đông Nam Á. Từ hiện tượng này, liên hệ đến chữ “Tượng” trong “Tứ tượng” của kinh Dịch, cho chúng ta thấy một yếu tố về ngôn ngữ chứng tỏ rằng: ngay từ nguyên lý khởi nguyên của hệ thống của vũ trụ quan Đông phương đã gắn liền với nền văn minh Lạc Việt. Khi chữ “Tượng” trong “Tứ tượng” được vay mượn từ “Tượng“ với nghĩa Việt là “con voi”; một con vật mà chắc chắn rằng người Hoa Hạ chỉ nghe nói đến, hoặc biết đến khi tiếp xúc với văn minh Lạc Việt – lần đầu tiên, có lẽ là cuộc chiến của Mã Viện với Hai Bà Trưng.

Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Bí ẩn của Bát quái do một số nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại thực hiện, “Nhân dân Quảng Tây xuất bản xã” xuất bản năm 1993, tác giả Vương Ngọc Đức – Diêu Vĩ Quân – Tăng Lôi Quang (Nxb VHTT – 1996, người dịch Trần Đình Hiến, trang 61):

Tượng là thuật ngữ thường gặp trong học thuyết bát quái. “Tượng” vốn là tên một con thú, mượn mang ý nghĩa tượng trưng: hiện tượng, hình tượng.

Posted Image Như vậy đã quá rõ, nếu Lão tử cưỡi trâu – một con vật vốn chỉ có ở miền Nam sông Dương Tử – chưa thể là một bằng chứng xác đáng cho vấn đề nguồn gốc văn hóa phương Nam của Đạo đức kinh, vì chỉ có một mình ông ta cưỡi trâu. Nhưng đây lại là con “Voi” mà tên nó được mượn để thay thế một thuật ngữ quan trọng, sử dụng phổ biến cho một học thuyết vũ trụ quan có tính nền tảng của văn hóa Đông phương cổ. Trong đời sống sinh hoạt của xã hội Trung Hoa cổ, voi không hề là một con vật gần gũi; toàn bộ cổ thư trước Tần chưa hề thấy có “Voi”, ngoại trừ chính kinh Dịch. Việc mượn một danh từ chỉ con vật mà người ta không biết, hoặc không thuộc hình ảnh phổ biến trong xã hội, nhằm diễn đạt một cái mà cho đến bây giờ cũng chẳng hiểu là cái gì (Tứ tượng) thì thật là một điều phi lý cho bất cứ một phương pháp luận nào. Đây là một hiện tượng bổ sung cho những vấn đề được minh chứng trong sách này, chứng tỏ kinh Dịch có nguồn gốc Lạc Việt bị Hán hóa và người ta đã hiểu sai lịch sử với nguồn gốc của nó.

Trong văn hóa dân gian Trung Quốc, hình ảnh con voi cũng là một biểu tượng của điềm lành. Cùng với sự giải mã một số truyện thần thoại được coi là của Trung Hoa ở trên, cho chúng ta một sự tin tưởng về một nền văn minh Văn Lang vĩ đại đã một thời bao trùm lên miền Nam sông Dương Tử.

Đánh cờ người

Posted on 12 Tháng Sáu, 2011 by mucdong Bổ xung vài ý

Posted Image Tuyệt phẩm ” Mùa Xuân Vĩnh cửu ” của Rodin

Hồ Xuân Hương

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,

Ðét đồn lên đánh cuộc cờ người.

Hẹn rằng đấu trí mà chơi,

Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.

Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,

Ðể đôi ta quyết liệt một phen.

Quân thiếp trắng, quân chàng đen,

Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.

Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,

Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.

Hai xe hà, chàng gác hai bên,

Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.

Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,

Ðem tốt đầu dú dí vô cung,

Thiếp đang mắc nước xe lồng,

Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.

Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,

Thua thì thua quyết níu lấy con.

Khi vui nước nước non non,

Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

=================================

Bàn cờ tướng của nền văn minh Việt sử chỉ có 32 con. Dấu ấn Việt sử trên bàn cơ này chính là con Tượng .

Bàn cờ có 32 quân. Đây chính là 32 cặp quẻ Dịch phân Âm Dương (Xem “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch ” ) – mỗi bên 16 quân. 64 ô trên bàn cờ chính là tượng của 64 quẻ Dịch. 8 ô ẩn ngăn cách chính là tượng sông giữa hai bên và chính là tượng của Bát quái Hâu thiên. Quân cờ động thuộc Âm, nên có hình tượng là Dương tròn. Bàn cờ tĩnh thuộc Dương nên có hình tượng Âm chữ nhật (Vuông), theo nguyên lý trong Dương có Âm và ngược lại. Sự thiên biến vạn hóa trên bàn cờ chính là sự thể hiện tương tác Âm Dương. Gọi là cờ Người chính là bàn cờ nhân thế mà Lý Dịch thể hiện.

Lạc nước hai xe đành bỏ xó.

Gặp thời một tốt cũng thành công (*).

Chơi cờ này suy cho cùng, nếu không tính các nước đi củ chuối – hoãn, đi lại – thì không quá 32 nước đi bàn cờ kết thúc. Những nước đi của bàn cờ này thiên biến vạn hóa. Những cao thủ cờ Việt chơi loại cờ này thậm chí không cần nhìn vào bàn cờ, mà chỉ tưởng tượng ra bàn cờ. Họ vừa đi đường vừa đấu cờ mồm. Vậy mà cũng kẻ thắng người thua. Thật là một trí nhớ siêu Việt.

Hồi còn trẻ, Thiên Sứ tui đã hân hạnh đấu cờ với một cao thủ cờ Người. Tôi ngồi trước bàn cờ, mắt chăm chăm nhìn vào các quân cờ. Còn cao thủ kia thì ngồi ngoài sân nhìn trời, nhìn đất phán nước đi và Thiên Sứ tôi cầm quân cờ đi theo lời của họ. “ Xe năm tiến sáu! “; “ Tốt bảy bình trái một “……Vậy mà chơi ngót chục ván Thiên Sứ tui thua cả chục.

Cờ Người thiên biến vạn hóa, cứ tưởng chứng không hề có tính quy luật nào cho hàng vạn nước đi. Ấy vậy mà nó đã được lập trình đề người chơi với máy. Không chỉ cờ Người, mà có thể nói ngay cả cửa Vua cũng đều được lập trình tất cả. Những cao thủ cở Vua thế giới thắng được Robo cờ cũng vinh dự lắm. Lập trình được các nước đi của cờ cho thấy tính quy luật của các phương pháp chơi cờ thiên biến vạn hóa này. Không có tính quy luật thì không thể lập trình được. Có phải không các nhà lập trình tài ba trên thế giới?!

Bởi vậy, từ ngàn xưa, những cao thủ cờ chỉ cần qua vài nước đi là đã biết kết cục thắng bại. Kẻ dốt thì hăm hở tìm cách ăn quân của đối thủ tính không qúa ba nước. Cao thủ thì tính đến bảy nước. Đại cao thủ thì chỉ cần đối phương đi không quá bảy nước đã kết luận kết cục của bàn cờ và phân thắng bại.

Ấy là cái thời cách đây hơn 30 năm trước. Bây giờ – nhờ tiến bộ của “ pha học, kỹ thụt “ – người ta lập trình được cả cho tư duy bác học. Robo Bác học có khả năng tổng hợp các dữ liệu chuyên ngành và đưa ra một giả thuyết chuyên môn…Thế mới kinh! Nhưng cũng không nằm ngoài lời Tiên Tri của tớ (Hình như là “ Lời Tiên Tri 2009 ” thì phải. Đại ý lời tiên tri này là: Sẽ xuất hiện những robo ngày càng giống người làm con người phải suy nghĩ lại mình : “ Con người là gì? Đi từ đâu tới “ ).

Đến đây, một hiện tượng để phân tích như sau:

Khi một người từ mới biết chơi cở đến Đại cao thủ đều tưởng rằng mình được tự do lựa chon nước cờ của mình trong hàng vạn nước có thể và tưởng rằng chính mình đã quyết định cho hành vi của mình…..ít nhất trên bàn cờ Người…. Nhưng nó đã được lập trình để đối phó với tư duy tưởng chừng bất định và hỗn độn ấy và kết thúc một bàn cờ theo chương trình đã lập sẵn với con người. Như vậy, suy luận rộng ra, thì chính tư duy của con người là một phương trình vĩ đại nhất có thể quy nạp, có tính quy luật trên bàn cờ nhân thế. Đó là lý do mà những phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương – về mặt lý thuyết – có thể tiên tri được mọi hành vi của con người.

Bởi vậy, nếu nói về phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương thì đấy chính là công thức mô tả qui luật vũ trụ. Một sự lập trình vĩ đại tổng hợp của quy luật vũ trụ của một lý thuyết thống nhất. Mấy cái trình của ” Pha học, kỹ thụt hại điện ” chẳng là cái đinh gì!

Bàn cờ nhân thế này không nằm ngoài quy luật của vũ trụ, có thể tiên tri.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Qua phân tích ngôn ngữ của bác Lãn Miên và tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, chúng ta sẽ có những nhận xét sau:

- Bàn cờ 9 x 9 ô vuông: thể hiện sự huyền vi của lẽ biến dịch của Huyền Không phi tinh:

Cửu cửu Càn Khôn dĩ định,

Thanh minh thời tiết hoa tàn (Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm).

- Con cờ tròn, ô cờ vuông với vạn vật như ngựa, người...: lý âm dương ngũ hành.

- ô Tướng là cửu cung - trung cung.

- Sông ranh giới là sông Dương Tử: Sở giang - Hán giới. Tác giả đã biết người đời sau sẽ phân vân điểm này nên dùng quân Tượng cờ đỏ mang chữ Tương (tương đương) - chỉ ra con sông Tương thuộc Trường Sa.

- Điển cố Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn thua cờ Hi Di Trần Đoàn tiên sinh: mất núi Hoa Sơn kết hợp với quân Pháo (thời Tống đã có pháo nhưng chưa ngon, có máy bắn đá nên quân đen Pháo bộ thạch) thể hiện nhà Tống vào tay nhà Nguyên. Nhà Nguyên cũng đã sử dụng pháo trong chiến tranh, điều này ghi rõ trong sử chiến tranh Nguyên Mông - Nhật Bản nhưng lại không ghi rõ trong sử Việt.

- Bàn cờ chủ chốt là quân Tướng - xanh và Soái - đỏ: Phương Nam luôn là chủ soái trong quân đội còn phương Bắc là tướng thống lĩnh, điều này chỉ ra chiến tranh phi nghĩa phương Nam luôn chiến thắng. Bàn cờ không dùng quân Vua vì người làm vua là do Trời sắp đặt: đây là câu chuyện vua cờ Đế Thích = ông Trời. Bên cạnh là các mưu Sĩ.

- Quân phương Nam cầm chữ Nhân: lấy nhân nghĩa là đầu là kẻ luôn chiến thắng, áp dụng binh pháp Khương Thái Công:

Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo (Nguyễn Trãi).

- Chữ Nhân cũng là hình cái Qua - binh khí đặc biệt dùng để chặt chân ngựa, phá trận liên hoàn mã mạnh mẽ của phương Bắc.

Posted Image

- Việt và Qua chính là vượt qua - vượt qua cái gì? Cao nhất chính là Số Phận.

- Quân đỏ quân Binh và quân xanh quân Tốt: Binh là lính quân đội chuyên nghiệp, được rèn luyện binh pháp còn Tốt chỉ mang ý nghĩa thí quân mà thôi, bị ép buộc.

- Cờ màu xanh vì Bắc Dương Tử thuộc phân dã Đông Bắc.

Như vậy, quá rõ là cờ tướng thuộc Việt và được sáng tạo thời Tống - Nguyên Mông.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cờ màu xanh vì Bắc Dương Tử thuộc phân dã Đông Bắc.

Theo bác Lãn Miên thì quân đen, xanh và theo Thiên Sứ thì quân xanh mực (hành thủy - phương Bắc) còn quân đỏ phương Nam, mặc khác theo tôi lại là quân xanh lá cây - có lẽ mọi người đọc sẽ cho rằng có mang tính bảo thủ cá nhân, tuy nhiên mọi cái đều mang cái lý do của nó.

- Tần Thủy Hoàng nhận hành Thủy là biểu tượng, nên cờ lấy sắc đen chủ đạo.

- Lưu Bang thắng Hạng Võ lập ra nhà Hán, nghĩa là tiếp nối hành Thủy chính là hành Mộc.

- Nhưng ý chính là bàn cờ người do Trời sắp đặt theo lẽ dịch, Huyền không phi tinh cho nên xác định phân dã là hướng Đông Bắc của Bắc Dương Tử.

- Hành Mộc luôn sinh Hỏa cho nên chiến tranh Bắc tấn công Nam luôn chỉ làm phương Nam sáng rực lên mà thôi: lịch sử đã chứng minh.

- Phương Nam đã dùng pháo trung chiến trận, Pháo đã trở thành quốc hồn quốc túy của nước Việt.

Quân xanh - đỏ được xác nhận trong truyện Hán Sở tranh hùng (khuyết danh) khi Tần Thủy Hoàng mơ đứa bé mặc áo xanh bị đứa bé mặc áo đỏ đánh chết, ôm lấy mặt trời chạy về phương Nam: cho nên tác giả truyện này chính là người sáng tác bàn cờ tướng.

Con Sông Tương chảy vào Hồ Động Đình:

Tương Giang hay Trường tương tư

Một trong những bài thơ Đường nói về tình yêu được nhiều người nhắc đến bây giờ phải nói là 2 đoạn bài này.

Trong Tình sử có chép như sau: "Vào triều nhà Chu 周 đời Ngũ Quý 五季, có người con gái của Lương Tiêu Hồ 梁瀟湖 tên Ý Nương 意娘, cùng với Lý Sinh 李生 là họ hàng con cô con cậu. Lý Sinh thường qua lại rất nhiều. Nhân ngày trung thu ngắm trăng, ngầm hẹn ước với Ý Nương, lưu luyến không rời. Sự việc lâu ngày lộ ra, Tiêu Hồ nổi giận, ngăn cấm hai người gặp nhau. Gặp ngày trời thu, Ý Nương viết bài thơ này."

人道湘江深,

未抵相思畔。

江深終有底,

相思無邊岸

我在湘江頭,

君在湘江尾。

相思不相見,

同飲湘江水

Lương Ý Nương

Nhân đạo Tương giang thâm

Vị để tương tư bạn

Giang thâm chung hữu để

Tương tư vô biên ngạn

Ngã tại Tương giang đầu,

Quân tại Tương giang vĩ.

Tương tư bất tương kiến,

Đồng ẩm Tương giang thuỷ.

Lương Ý Nương

Dịch:

Nhân đạo Tương giang thâm : người bảo Tương giang sâu

Vị để tương tư bạn: Sao bằng lòng riêng tưởng

Giang thâm chung hữu để: Sông sâu còn có đáy

Tương tư vô biên ngạn : Nỗi nhớ chẳng bến bờ

Ngã tại Tương giang đầu: Thiếp ở đầu sông Tương

Quân tại Tương giang vĩ: Chàng ở cuối sông Tương

Tương tư bất tương kiến: Nhớ nhau mà chẳng thấy

Đồng ẩm Tương giang thuỷ : Cùng uống chung một dòng

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nam Tào - Bắc Đẩu

Thời xưa, nhà nọ sinh được một bé trai kháu khỉnh, mặt mũi sáng sủa, đặt tên là Bành Nhi. Có một vị thầy bói đi qua thấy chú bé liền thất kinh nói rằng: "Tội nghiệp, thằng bé đĩnh ngộ thế mà 10 tuổi đã phải chết!" Cha mẹ cậu bé hoảng hốt, xin thầy cứu giúp. Thầy liền bảo cha mẹ cậu bé phải làm theo đúng các bước ông chỉ dẫn.

Sáng hôm sau, Bành Nhi bèn bưng một mâm đào vừa to vừa ngon lên núi, tới nơi thầy bói dặn, thì thấy ở nơi đó suối chảy, hạc bay, mây vờn tùng bách, trên một tảng đá phẳng có hai ông tiên đang ngồi đánh cờ tướng. Bành Nhi rón rén lại gần, nhẹ nhàng đặt mâm đào xuống rồi vòng tay ngồi đợi. Hai ông tiên mải đánh cờ, thấy có đào ngon bèn cứ thế cầm lên, vừa đánh cờ vừa thưởng thức đào.

Khi đánh xong ván cờ, hai vị thần mới phát hiện ra chú bé dâng đào lấy làm thích lắm, bèn hỏi chuyện. Bành Nhi bèn kể hết mọi chuyện của cậu. Té ra hai vị tiên đó là Nam TàoBắc Đẩu, giữ sổ sinh tử trên Thiên đình. Giở sổ ra, hai ông thấy số tuổi của Bành Nhi đến số 10 là hết. Cả hai bèn bàn nhau thêm một nét phẩy lên trên chữ "thập", biến chữ "thập" (十) thành chữ "thiên" (千, hay nghìn). Thế là Bành Nhi được sống đến nghìn tuổi. Từ sự tích này mới có câu "Sống lâu như ông Bành Tổ".

Theo một truyền thuyết khác Bành Tổ mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ. Lên ba tuổi thì mẹ cũng qua đời. Từ đó Bành Khang lớn lên trong cảnh lang thang.

Một hôm Bành Khang nấu một nồi canh gà rừng dâng lên Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng ưng ý, và để trọng thưởng liền bảo: "Nhà ngươi đếm xem trên mình gà rừng có bao nhiều sợi lông màu sắc rực rỡ, thì nhà ngươi sông được bấy nhiêu tuổi". Bành Khang tìm lại đống lông gà, đếm được 800 sợi. Bành Tổ đã lẳng lặng trốn đến một vùng hẻo lánh phía tây nước Lưu Sa(?), để lẩn tránh sự dò hỏi của mọi người về bí quyết sống lâu, sống nốt quảng đời còn lại của mình.

Chung Vô Diệm

Trong sử thi phương Đông, một “cuộc độ” có thể được xem là giữ kỷ lục thế giới suốt… hơn 23 thế kỷ về quy mô giá trị là trận kỳ bàn (đánh cờ) tại Vọng giang lầu giữa Vương hậu nước Tề Chung Vô Diệm và Thừa tướng Hầu Anh nước Sở, vốn là một con khỉ nổi tiếng cao cờ. Vật được bảo chứng đem ra “chung độ” là cả... giang sơn của mỗi nước. Nhờ biết dùng mẹo bỏ quả hồng trong tay áo làm cho Thừa tướng khỉ trông thấy thèm rỏ dãi, chểnh mảng nước cờ, Chung hậu đã thắng tiếp hai ván. Nhưng vua quan nước Sở lật lọng chơi bài “xù độ” lại còn bày kế mai phục định hãm hại vợ chồng Tề Tuyên Vương. Vô Diệm nổi giận đã chém kỳ thủ nhà khỉ đứt làm đôi rồi vừa cõng chồng vừa vung gươm mở đường thoát thân. Hai bên tiếp tục giải quyết thắng thua bằng một trận hỗn chiến với hàng vạn binh tướng thây phơi đầy nội, máu chảy thành sông. Kết cục, nước Sở đại bại phải dâng biểu xin làm cống thần, nhường nước Tề ở địa vị thượng quốc.

Theo truyền thuyết thì chúng ta nhận định đó là sự đối đầu của Thủy - Hỏa tương ứng quân Xanh mực và quân Đỏ là chuẩn nhất.

Sau khi khi lại phân dã thì không hợp lý. Truyện Chung Vô Diệm cũng không thấy tên tác giả, khuyết danh.

Con sông Tương ở Hồ Động Đình cũng được lấy tên đặt cho 1 con sông ở Việt Nam là sông Tiêu Tương.

Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

Qua điển cố Chung Vô Diệm chém Hầu Anh do Hầu anh (với Tâm xem như con khỉ - mã ý Tâm viên) thèm trái đào tiên (Tây vương Mẫu), chúng ta thấy ẩn nghĩa cuộc chiến sinh tử là cái Tâm của con người và sự trường sinh.

Âm Dương hay Thủy Hỏa là Chung Vô Diệm - Hạ Hầu Anh,

Như vậy, quân cờ trên bàn cờ một lần nữa cho ta kết luận vẫn là màu Xanh lá cây và màu Đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự Hóa chứ không phải sự Tử.

Hạ Hầu Anh bị chết nhưng cũng không được trái đào tiên trường sinh chỉ ra sống Đời Đạo song hành, âm luôn thắng dương hay vô hình thắng hữu hình.

Từ nhỏ, chúng ta thấy quân cờ xanh lá cây là được sử dụng phổ biến nhất.

Việc giải bàn cờ tướng rất phức tạp: Chung Vô Diệm - Hán Sở tranh hùng - binh pháp Khương Thái Công - lịch sử vũ khí chiến trạnh... rất tổng quát mới hiểu ý tác giả. Dĩ nhiên, Tượng kỳ được phát triển từ môn cờ trước đấy là Lục Bác.

Share this post


Link to post
Share on other sites

(Quyền thiên dị) – Tiết tử

07 Thứ Bảy Tháng 4 2012

Edit: Tiểu Điền Điền

Vào khoảng thời gian không rõ, ước chừng là năm Đại Tống, trên trời bỗng có ngôi sao bay thẳng xuống, sấm điên cuồng cuồn cuộn trong không trung cùng với mưa lớn ba ngày không dứt.

Trên trời dưới đất, người phàm hay thần tiên chẳng ai ngờ rằng, viên ngọc Khóa Yêu tháp trên núi Côn Lôn đột nhiên nứt ra, phóng thích tà ma, nhân gian điên đảo, thông qua cánh cửa Ma giới mà vô cớ phá phách. Ma tộc tuy có một người đứng đầu bị giam giữ chưa thể hoành hoành, nhưng vẫn rục rịch không yên.

Thế gian nguy ngập, tuy rằng pháp sư cùng thần tiên hợp lực, nhưng lực lượng yêu ma vẫn ngày càng tăng, cái gọi “đạo cao một thước, ma cao một trượng” chính là đây. Chúng sinh trong thế gian, chỉ mong tiên nhân mau mau trùng tu Côn Lôn bắt lại yêu quái, để cuộc sống người người bình an.

Tuy nhiên, muốn khôi phục linh châu chấn tháp há đễ dàng được như vậy? Chúng sinh rối loạn, thần nhân cũng lo âu, liền lập tức phái bảy vị tinh quân giải tai ách xuống hạ giới, giả làm phàm nhân tìm lại linh châu chấn tháp.

Trên ba mươi ba tầng mây, điện Lăng Tiêu – nơi ở của các vị thần tiên.

Sương mù mông lung. lượn lờ mờ mịt. Sâu trong nơi hỗn độn đó, dần dần hiện ra vườn hoa tuyệt đẹp vô cùng, những bông hoa lê bay quanh co trong không trung chẳng khác nào bông tuyết đang rơi.

Hương của hoa lê quả thật làm mê hồn người.

Ngẫu nhiên truyền nghe thấy một hai âm hí khúc của Liên Hoa Lạc giòn vang, hoặc đôi khi lại là tiếng cười khẽ.

Những bông tuyết vẫn phất phơ bay theo gió, tại khung cảnh đó vị thần tiên nào lại có nhã hứng tại đây đánh cờ?

Giữa không gian tràn ngập hoa lê, dần dần hiện ra hai thân ảnh một thanh (xanh) một lam (xanh lam).

Thân ảnh màu lam là một thanh niên có ngũ quan thanh tú, đáng tiếc trên mặt lại buồn bực không thôi, đôi lông mày trước mặt nhăn lại, đôi mắt nhìn chăm chăm vào bàn cờ trước mặt. Trên bàn cờ là thế cờ lục bác, gọi là lục bác bởi thế cờ tạo từ năm chữ “tản” và một chữ “kiêu”, “kiêu” có thể ăn “tản”, khi chơi cờ, kỳ thủ hai bên đều lấy kiêu vi bách (muốn có được chữ kiêu), tiêu diệt “tản” tự, nhưng “tản” lại có thể điều binh khiển tướng tìm cơ hội giết “kiêu”, thắng thua là dựa vào việc diệt “kiêu” mà định.

Thân ảnh còn lại cũng là một nam tử, cả người toát lên khí chất tiên nhân, giống như một thanh niên chính trực vô tư, ánh mắt tràn ngập khí độ ung dung, người dựa vào thân cây, hai tay khoanh trước ngực. tươi cười không có chút gì gấp gáp. Nhưng tỉ mỉ quan sát thế cờ trước mặt liền thấy một quân cờ đen đang bị một quân cờ trắng “kiêu” ép đến tuyệt địa, quân “tản” đứng bên ngoài, quân trắng “tản” vừa đến gần sẽ bị quân đen “kiêu” ăn mất, quân trắng “kiêu” đứng một mình, thế cờ cự sát. Giờ đây chỉ có thể nghe thấy tiếng gió thổi qua tán cây xào xạc.

Thật khó trách thanh niên trầm tư suy nghĩ, bởi vẫn không nghĩ ra biện pháp phá trận.

Cuối cùng, hắn bất đắc dĩ thất vọng hạ bả vai xuống, ngẩng đầu nhìn nam tử đối diện nói: ”Thường nghe thấy Thiên Quyền tinh quân vốn có tấm lòng nhân hậu, chính là một tiên nhân mẫu mực….Nếu ai có cùng ngươi chơi ván cờ mà thua, nhất định sẽ không có ý nghĩ ngờ vực gì.”

Namtử cười đáp lời: “ Ván cờ thắng hay bại, bất quá chỉ là trò chơi, ti mệnh tinh quân đừng quá để ý.”

“Nếu ngươi thua liên tiếp năm trăm năm, liền biết để ý thôi.” Thanh niên nhỏ giọng nói thầm.

Nam tử cũng không phải không nghe thấy, nhưng chỉ cười không nói. Đã thua ròng rã năm trăm năm nhưng cứ luôn quay về khiêu chiến, cũng chỉ vị sao Nam Đẩu ti mệnh tinh quân này mới có sự bền lòng như vậy. Đáng tiếc nghị lực thì có đủ, nhưng năng lực thì….thật khó nói.

Thanh niên đưa tay hạ quân cờ xuống, đang định chiếm thêm vùng nữa, bỗng nhiên nghe được có tiếng chuông vàng ngân vang từ bầu trời, đạp gió mà tới. Hai người thần sắc trên mặt trầm xuống, vội vàng đứng dậy ngẩng đầu lên, liền thấy ngay một đám mây lơ lửng trên không, một tiên đồng chân trần đang chầm chậm bước xuống. Mắt cá chân đeo một chuỗi kim vàng tinh xảo sáng bóng, mỗi khi bước thêm một bước, tiếng chuông lại vang lên, nghe rất vui tai.

Nam tử nhận ra được đứa trẻ này, đúng là tiểu tiên đồng xưa nay có nhiệm vụ truyền lệnh của Đế quân, bèn hỏi: “ Không biết Đế quân có gì sai phái?”

Tiên đồng chân trần cười tinh nghịch, đôi tay bạch ngọc khẽ phất, đột nhiên trong không trung một cuốn hoàng kim lệnh trải ra. Thanh âm mặc dù non nớt, lại vô hình ẩn chứa uy nghi: “Khóa yêu tháp phá, yêu tà tẫn thích, vi bảo thiên hạ thương sinh linh, tư lệnh bảy huyền giải ách tinh quân hạ phàm, mịch linh châu, tố bảo tháp.” (Khóa Yêu Tháp bị phá, yêu ma được phóng thích, để bảo vệ thiên ha cùng chúng sinh linh, lệnh cho bảy vị tinh quân giải tai ách lập tức hạ phàm, tìm linh châu, chấn bảo tháp.)

Nam tử nghe vây, đôi mày khẽ nâng: “Sợ là không dừng ở đó đi?”

Tiên đồng cười khanh khách: “Thiên Quyền tinh quân quả nhiên lợi hại, Đế quân phân phó, nhân gian chịu sự nhiễu loạn của yêu quái không tránh khỏi kinh hách, bảy vị tinh quân nhớ không lấy chân thân xuống trần gian.”

Chỉ chờ tiên đồng thu pháp rời đi, thanh nhiên nhịn không được đi lên nửa bước, khuỷu tay huých vào bả vai nam tử, cười cười vẻ lưu manh nói: “Này cũng không phải vệc gì nhàn hạ a!”

Nam tử mỉm cười gạt cánh tay đang làm càn của thanh niên xuống: “ Tuy việc này không khó, nhưng cũng thật sự phiền toái. Chiếu theo quy định mà làm, tất phải đi đầu thai. Nếu như vây, muốn tự do ra ngoài cũng phải mười tuổi trở lên, huống chi việc này là đi tìm châu, phải rời nhà thường xuyên không khỏi làm phàm thế phụ mẫu lo lắng, thật sự không ổn.”

“Ngươi nghĩ thật chu đáo…” Thanh niên nghĩ nghĩ. “Nếu không như vậy đi, tìm một cỗ thi thể nào đó mà nhập vào có được không?”

“Không thể như thế, Tá Thi Hoàn Hồn là trái với đạo trời, huống chi hiện giờ yêu ma đầy rẫy, nếu giờ ngay cả tiên gia cũng theo tà đạo, chẳng phải là thiên hạ đại loạn sao?”

Thanh niên có chút không kiên nhẫn: ”Thế này không được thế kia cũng không được. Hừ! Vậy ngươi chỉ cần đi mượn thân thể một ai đó dùng tạm là được rồi.”

Hắn bất quá chỉ là trong lúc tức giận nói thế, ai ngờ lại nghe nam tử kia nói: “Thật là một ý kiến hay!”

Thanh niên mắt trợn trắng : “Ai chịu cho ngươi mượn a?”

Nam tử cũng không nghĩ đến việc đó, mở ra bàn tay, tỉ mỉ tính toán: “Không thể chọn người lương thiện, cũng không nên chọn người cha mẹ vẫn còn, nhưng nếu là kẻ đại gian đại ác, lại có thêm chút quyền lực địa vị, như vậy mới dễ dàng hành sư.”

“Được rồi!” Thanh niên đập hai tay vào nhau, cũng không biết chính mình năm trăm năm qua đã luyện được tính nhẫn nại sao đối với nam nhân này thoáng chốc đã biến thành sương khói, thật sự là phiền :”Ta giúp ngươi tìm đi!”

Nam tử coi như sớm biết được hắn sẽ ra tay giúp đỡ, cười cười gật đầu :”Một khi đã như vậy, trước xin mượn hồ lô bắt giữ yêu quái của tinh quân để dùng, tạm lưu hồn phách kia tầm mấy năm. Ta biết hồ lô kia của ngươi ẩn chứa “Hoàng lương nhất mộng”, hồn phách ở trong đó chỉ như người say rượu nằm mơ, hết thảy bình thường. Đợi ngày đại sự thành công, đưa hắn trở lại như cũ là được.”

“Ngươi sớm đã có quyết định này có phải không?”

Thanh niên nhe răng trợn mắt, đáng tiếc khuôn mặt đó đối với nam tử hoàn toàn không có hiệu quả gì, bất đắc dĩ, đành phải thở dài lấy từ trong tay áo một hồ lô màu tím: ”Ngươi nhớ kĩ cho ta, trở về ngươi chắc chắn phải thua ta một ván.”

Nam tử chỉ cười một tiếng: “Thắng bại đều dựa vào bản thân, nếu ta nhường cho ngươi thắng, vậy năm trăm năm qua không phải là đã lãng phí hết công sức sao?”

Thanh niên nghe vậy sửng sốt, tuy quen biết nam nhân này đã được vạn năm, lại vẫn thường bị bề ngoài tao nhã của nam nhân này lừa. Hắn có thể dễ dàng nhìn thấu lòng người, bất tri bất giác dẫn dắt người ta. Tuy là bại bởi hắn, nhưng lòng vẫn cam tâm tình nguyện, thậm chí dần dần còn sinh ra một loại kiến thức, đó là trong thắng thua có thể nhận thức rõ được chính mình. Vì vậy, thế cục bàn cờ qua năm trăm năm, chỉ còn lại sự hưởng thụ quá trình chơi cờ, không để tâm đến thắng thua nữa.

“Được rồi, ta nói ngươi!” Hắn quơ quơ hồ lô: “Chúng ta đi đô thành của Hoàng Đế nhân gian.”

“Đi vào trong đó làm gì?”

Thanh niên lại trợn mắt: “Không phải ngươi muốn người quyền cao chức trọng, đại gian đại ác sao? Dưới chân Thiên tử đang có một kẻ thích hợp đấy!”

Lịch sử cờ tướng

Nguồn gốc cờ tướng là vấn đề rất thú vị, hiện nay vẫn còn đang tranh luận và tiếp tục được tìm tòi, khảo cứu. Ai là người phát minh? Dân tộc nào là ông tổ của cờ tướng? Trung quốc hay Ấn độ ?

data:image/jpeg;base64,/9j/4AAQSkZJRgABAQAAAQABAAD/2wCEAAkGBhQSERQUExQWFRUUFBQVGBUXFRgVFxQVFxQXFxYZFBUXHCYeFxkjGRcVHy8gIycqLCwsGB8xNTAqNSYrLCkBCQoKDgwOGg8PGCkfHyQsLCwpKSwsLCkpLCwsKSwpLCwsKSwpLCkpKSwpLCksLCwpKSwpLCwpLCwpLCkpLCwpLP/AABEIANYA6wMBIgACEQEDEQH/xAAcAAAABwEBAAAAAAAAAAAAAAAAAQIEBQYHAwj/xABIEAACAQIEAwUFBQUECAYDAAABAhEAAwQSITEFQVEGEyJhcQcygZGhFEJSscEjM2Jy8IKi0eEkQ1N0kqOywhUWlLPS8Rdjc//EABoBAAIDAQEAAAAAAAAAAAAAAAABAgMEBQb/xAAsEQACAgIBAgQFBAMAAAAAAAAAAQIRAyESBDFBUWHwBRMicYEUI1KhJDKx/9oADAMBAAIRAxEAPwDXbi0WI29Cv/UKWDXPFCVP9bVk4mls6haOKVFJmjigsQaVhV96fxGPkP1mkzXS02/rU8fcjM7RSaMGiG9aCsAWlgUYoiaCIKI0dEaCQkb0s0kUpWBGnpQIBopoMaSrj5UrQCqCikm4NPPbzoy1FoLOlJJpOeiLUWKwjRgUU0JosLOgoUQNGKYxLUAaK4w5mKKgYCaSRShRGkByaio2aizVFghhjO0OGsuLd7EWbbnZHuojGdvCxnWoLtRgjfdLp7wphrveILZJDXEVk8QWTo5YERrG8SKkOI9kMJc+0XbmHtXLlySXdAzaWlChWO0ZREV245x6xw/D23xLMEBRCyoXOYgsWYLrGjEmOdRUaG5WS2GzZFzwWyrmI08UDNp6zXRq54LFLdRLiHMjqGVhsykSCPhXVxUGiaOLNS8PsfUn60k0vD7a9TSxrYS7DDj+LZLRCGLlwi2h3ylgZaOeVQ7f2aibBcAqt8KW0K5VMaQSgBBVttSW2660O0V5buJt2if3Vs3WWSJN0m2gIHvCEumD5daWnDcPlyulsCNF7tCDpz0qrNOTnUWWQilC2iQ4FiCC9piCVh1gFRkYxABJ2YHn94VMAVUuGcNW1jrLKWVTYvp3ZdigOaw4KqScsZWEDTUVb5rThdwVlE9MItSaNhRAVaROeIuZQDsJAJ6DrTdb4AIDbu2umvh67D9afAUcVRPHKTtSr39yyMkl2I69ijlkNH7LPy96g12GYho8aCNIMgCpArSctVPBO75f99fX1/oOa8iPDSVGbXvbg5SNHA+lD7Ucs5t0fpqymB8fKpDLQKVFdNKKdS96Xn6f2J5E/D3sZrfkxmg+GBp4gQCf126UgXmIGupDSNPDAP5HT409y0MtT+VL+Xu/v+CPNeQwOIhfe/1YI235x1rob5111DKAOoMfPc/KnWWjy0lhn/L3v190PmvIa2bxzDxTLOI05TG1KwmIJEswgKCdVgHmdNY9ac5KTbwwHOdI1jb4DyprFNNb969SSkmuw0xL/vNeduAT5r+tOLFzMN5M6jTwnppXc0VWQxOM+V/j8t+fqDkmqoSBRGlGktV5AQVrmTXVjSCoqLBM5XHkletxPkFDH8iPjS8XqrTBGWI3EtoNOe4qIxz3GzXLTAMqKbcgFXa6o0Yf2QZ85pxwtHFmwLji6zQzOBAbQuCBJ0nIBSBIlLNoKAqgAKAAByAEAfKgTRzSM1VMsQVzypaNI9a5XDS7RJFOHcUimXeG3L3EMS2fwLbQC0yyhZfDLDMuYmLkAmNfjU1YxNvIQ1mMukGwADEA5RqDvyJHSlLdC3rmUggqTI11UywJ5kZhpPPzqOv8avkMww7x4Sgm2zOJkfeAQ6D3joKm0gj2FcFwoOKt3F8Fvu7uS2ucIxJQFsjovdkDMPDo0zyq3ioThmK71hcHum2sTv4tdR6VLzUo9iEls6E0VFQipCFA0c0kChQAqhSZoUAKIoUmaUDQKgEUUUdETQOgSKTmoRRrQFBijJopojQJBTQojQoGA0k0IpJoGBjXOaWaQVpWBQMJ7QcItkJmu5lkD9kTAC92u25CR8TTDG+1CwiW1RGYW7ISXZbSzCiTqWGg/DzrNrOEt6AqoJMCQehPOeQPKnVm2N0QImsvlyhQZAnqSYAjfr1rsat9jR/Z92+a6MScTeQWbfcm2WkEd4bngVmJa6PCsEyxJqVxHtJsw5tqTlOWX8Et0ye90Osb1jiYJ7zNLeITNwrkOXKrAFmllnNI2M5galcNwmFW2zlpDZmADjLrEljoBqNiSelVTlRqwYXJ7VlkxXbzHXWOR1RNCDbthTHQm4W89dI86h+KY3EXdbmKvjoEvOgG24B8R36b1yZRZUKuw0Gs/CunD+EPiHCmVBnXKzAREyVBjcab68qw/NnKWju/pMOLHc0WDsXxBe97pBdaxkDF2Kn7NdcsLmUrvaaN4JU76V0dccmJXMoFkMVF02+8uW7XMIVEljGxXnVg7HdkbeFzkhHdxlLAbIIyoAw0HOKb8c7TZRdSyj3GQEAgaEiR4SW1iGO3oDXQU1xtnnZY1yqJWsb2tu57VzD3e7VFZEs5T4QpABvk6XM0SVAGWNDJq6dnPaLavEJfAs3DABmbbn+FjqpP4W9ATWN2cU87fX9Dr+dOLWJBJmAdiJg/EETWWWfIpWux2MPw/DkhTdS8z0fRBazXsX2/S3FjEXFVIAS4xjKfwux5dDWkWrwYBlIZTqCDII8jW7HkU42jj58MsM+MhQNANRgUYFWFIVGKBohQIM0BRCjoAOiihNAtQIPLQoppJagAzSRTLiHFAgMFZXfMSFWSNyAdfL8qi+C9oe9uXP21q7bDZBkUo9lwQMlwFmkGdG06QZBqLkk6JcXVlhNAUU0qakII1zJo2pMUDCzUnOaVFJIqLAx/hPZq09pney4RAzaXmUNlUkKCSoJJG0n/ABgLS2bto3rFpsMLSKxVzBe3mKi4zmc6hlgk6iBy2sVjGqtsW7q94inOqkkQ+VlmV12Yj41WzwubV5x+8RcTba0HLm2nc3lFvvCSxQlrbDNzg6EkVFbQk62hmUCzbbMruoJVAQJEGVYgQxyxqeQ1qx4pwoAB1C6nqdfjtHxmorBZSqyJu20tEZmkrmhEaTo0HM3oBzNdsTcn5j5kxXP6iVaPRfDMSd5H4Etwbs22IAul1QZtAysxZeoyspWeuu8DzunD+Fqi5QxMDQLnVQPRmNcuBJ+xtEDQ20O3VQf1pzisaFfKdJBHIa5c35flWFTcnxRXnm3JtsZ3cU2cFmeCvd5Q5VGIIaYkDXMASennSHvhAZVVct7rGMqxoTEkeQpN58oGYoTLe7tvI1nXQx8qViCXdPCzaQT3ZJOXbXbbrrWmlxruYlybtFa7Sdm/Cb9u3GpZ0QgyNzctR728lY11I1GtWuIwEgd4sAgwG08v8q0vFuza5spk/wAKyNwI0+FQXEOCWZXuiylnAOUZ0YkiTk2RtzC6akkU5cUkben6iUG4yX5KhYxLAaW8oncgIPjP+dWrsH2pfAtkYf6PceSsXB3MjVrWYDMkwSqiNSR0qc4T2btW/EVzNHv3SDHmqAAKfMAetSFzCd4P2Yt5ZnNcSQ8cl00U/i+XWoQ6hQl9JLqZrKqki9YfEK6hlIZWAIIMggiQQRvXSaqvDuN2sHbt2LmVPeyAPMqDJ0YAmMwqxYbGpcnIwMGCNiD5g67a114ZIzWmcGUHFjiaOKSBSjVhASKE0kUc0Aw6I0VCaAATUH2h4wttH8RhR4gkl2MSEUL4sxGumsetTTms/wCNIQ129YR2No3GP7RWXP8Ae8MllaNNQdBtUJvROCTeyGwODLMblrELqxc2c5a2rtAkA+NWAEazuYFMbuFJZkCNhrl2bdzIQoa47r3dy2UgMWHeDMMpaQGAiQ5xfbTDKyjFJ3bsocHK2x0PiVWXcHXSl9msVbx3EVVCHRFW8/vNAtOvdiHA8Xed2Q0HQN5Gs3BtmrnGMS28Pw2ItXDfNu47MAHXMPECy+JhuzgCBMKokAbk2+aQKVWtKjG3bCNEaM0g0wCmkk0cUdJjMZFsXACuoMQRsZ2gnrpTAcJLpecXCU7xmdRIBXur2TbfxFD00NSd7FSDImdNROnmDyrna4jBuWnBAuoxBAjK+RoLDocwG1VdkEVbK/hBBjLlhoB6oFuFVOp2YHf/AArvPi+INOcTgsrA6eInYf8A9IJ8yD9KZNcyhieWb5ATXNzbkeq6BccDNPwuOW1h7YHiYW0GVd9EG/TbnTfDq7W81yFuM7sG94AGQLf8MIAJFNuyl1Th1TTMgIcHf3j4vMHkfhuKkkxNsZlLGdSBB2j6VQvpk0cxpP6hmcB7rNqTEACVB/m+u1EGkqXW67LGQhpGhnX8WsV0u40rp3hdQRClcpGo1Dczz1GtJ760QP2piAGlWzHY8tP0p209MkqrZ1sBy0XOY92PCRz0HPzFNktgZl3IdCsH/wDYoEH4kVzucVznJbDsq/cTVmPLOZyr5BmFOEwFxkIIt2gSDB/bMwBBh4KqvQgFgR61bDBOfcpnmjHsSdvCA7ofQkkfLY09nTbSoixhHUR9ouc91ttz2WU0GwgztvTi3YXQsC55Fjm18hsPgBUX0OReJFdTF90d5R2lcpZR7wOqg9DS7PDj+8lVjTvD4rpiYytoBvz03rmrMTAE6GEEz66U8xOGxPdKEVc5OoL5SARzOQ8+moq7p+nnGX1dirLki1oc4btNbUEYhxacZvC+jFV+8ABqu2o613TtThyP3n9xx/21F8R4ddUGAGC5iMpObaRIA8uW5O0TTXiWFNmyHdmcyBAXxSeuUDoeVdPZjonP/MuH270D1Vl/MUr/AMw4f/bJ84/OoS3w67AIBIIB8xImCNwaTcVwYIYetOx8SxWOM2X9y7bb0dT+tO887VUAwO/+Nc7llWOqieR90j4iDRYuLLdic2Qld4/qPOq2nGVuYe9kJDIrZl1DKYbkfMHWuYuXFgi5c0jQtnH9+aieDcUuXGxGZRKlkKkmYLFgBsAOk1CWyUdaIXtT2MW6bZvErCqPdz/EtoBJPTpUPhMbb4Ziu88b3e57pFGUHuzBUlSDCyBqd9YiKv3GuPXHXucMk3mDSXEpZG2e7BMgmQF+8QeQJFdsezS0B3t67dvO0MzswBZjEnQajTryHSktLYnG3ouHYftRcxqXGuolshlKIs6WyI1Zj4yHVxIA5aVaSazK32XsWnW5ZXu7qMGS6rFnDZArTmmVK6FdiNKuXBeOm7mt3AFvJqQPddNhctzrlmQQdVYEagqWmpWDg13JmaKa5h6MNUiIZpM0JpBekwM/X2T3XP7fHvA2Fmytr5lmamON4CLWVPFKteTMxlmQXmylj1y6zWplqrHaPDeIEazm0GhJI05fGeQmq5rRdipPZnWKZiGzI4IIgnLlbRpyZdeR1PpUPftEqQN2UqOeryB/1VMdp7eS8EDSCjXI6EiB9Fam3Cbee/kysxCyFAMFnlBmce4oQXJPnprXOmv3L8j0OGXy+lb8+xLN2Sv3EtYi1eNrEqkhNMgVoJtkjUnqTIJ5QAA6fiONAsp3du7iLhdWsC3ldFUEl1ulwjjQbHnEU8w/CFZywctdGpcEg9PDB0UGRA0FduOpmw4zyWs3FfMNIWctyY/gY+sCKhHM5T2rOTOHGOnRH8K7QqWGdltySgzK9vM6nKwBuDIxBBEqTqIp8cML1wqFyqpGdgYMkTkUjYkEMSNgQBqdI7D50u2e8fPh8KzXbVpwAkZWBnw5pUm4IMgQDFWfBnNbttszqLhj8dzxtv5t9K2Y4RlJyM0m0kkNr2Nt4eye7ywpyZUEgPvlIQGD8J9aUtm/ctoSy2nmXyjvBl1gAsVgxEkzzrnfFvC27jhUtyxZm5FzzImTvsDT/hfE8qg3LeedQ6tmEESPAYrVdFdDPhll7aKl+6Ljsxh8vdiCYA6QOvmKmMRwW5kbKyi5pA8RWJ1kgTMc4p0Mbh7xVmCZk1UMozof4ZGnLanlzEhTqVVfxT/Qp0hNsgsHgLyYoF0fKLRJdboFkNHiFuzmLlpEQVjUkETFSdrtRYNtrpY27anKS6MsmJ0ka6dNtZ2NSQH/AN0x4u1oITeUOgg5SneEmYGVNSTJp1RWSK3AQCNQQCCOYOtccaxFtioBIBMHSfjTS/xu1aFrOSjXQMqsIPLRvwxIHxrhfxV0gAMAQRrsCBvOWco86Gx1Z3wPDSjvdZnJfXLnlLa75UUQDHWJNDA8Zt31LWmkBspLIRqOk77ilWrlyBqDpuRImN1KkHfrVQ7U8bZrtuyujLaF66knwq9wKMhGhYBbgnXL6xQmmPi0WDFcVw4vd1kDEau4IyoAdczEgCOdczdwrEhGcECdEua6x4JWH/szVRxd229xe5GS4UUZiC+REYBsik5VMMdY6EzU1/4qttYTUkAFiZY+p6VW5otjBi8bjbaTFwyusFBm9MszPlULna7+0yPbdgEUAG2bpZvCrTDeZMDLrBNO+DYpXzuohmuPmbctDEDXkI5U/wAbhTCXBvbuq+2sAFWGvPKzR5xSsOPiHwrg62R3IkszZnYsWJLasfEZAGuk6aVMYu+D4NAig+ECCIECOhEGkW8QhVG94MpHk0agg/H5Cmt64FY5JggADnrG56U26QLbI12g67k/D+tqJcSVdXHvKSR0aRDKT0YafBTyFHeOYCfQ/X/OuJ6/L15VT2ZfVrZc8HiluIHXYifMHYg+YMj4V3FU/gvFxYuG258D5TJ2RiIBPQE6E8oB6mrcTWmLtGOSpipopoppNNiF4hyFYgSQCQOpAkCs24nxVzdsosZrxNxrh0VCpykBQQTLLlAnTn0Nl7RF7yX7TXWsoy5Ithc+UggtnYeGddtqzziV7B2nsrbU3ThwuHUm4baLkbPAIWLt6QDAESp1BFReyVsZcYVu/AYz4UA02Gd9PhMVK9l8Jdu3b/d+AP3SNdIBgKGYhBzY95z0A1qN48QcW8bDJ9bavH9+rV2JuhLNxjsbxnyGS2s/SuVldNnopr/Hil5k3heH27XhliYBzMxJ/DpA8Ow0ECmWMx7WmK3lDpupUlGy9CQYMbHr8ac4i5KG5uVGo2gZgfWANabcXxHfWnCqe8QF1mMpZY8M7eISPjWaLldoxTUapkbi/s9/vLFoFc6EZWBBto6lGymYKDNOm3MU27CdpRds/ZrjAYnCjunWZzrbJQOvNogA89jzp7hLAyhl2O38BPIc412rPu0OC/07FMrtbdHa4lxCQVbJZLiR5v8AXzrpdLl5SaMeeHBJmtOywdiDrBEg+oNDvJrO+Fe0m5bCrjLckqrC6gALoxIDlRpupnarfwztLh8RpavIx/CTlcf2Gg1tM6aJRlB3kx11rnesq4hhIGoBAIHwNK11oxc+dJonZIWuPXF97K48vCf1ptimsX+9i5dw167AN4Es6gRohecixOg01nc1wa5SAeYo2iLii14bDIUtqSt4oBDuFZifxaDQnyFNuKcTto9u05cNcIjLrzjWd/SDVeVoOxHmDB+mlPrHF3UaPmjk/wCho5C4+RYUwgHNjHUkfQaVTfaLwhu67+1INkkkDUG04i6GG5Ewx9CRrU2vaiPftt6jUVz4nx0MqGzdywwJUpJcfh8p2p6ZGpFA4TcVk8fjWZDg+6euYaqYiRUjfw7aMSSvJ13H8y7H1p1iEt377JctsLmUMHRQiprpFxYl/XTfzqFuvew10hnd1I0IUkMOsqpg9VYelQcLLFOiUwqZDmUe9JLLsx6unM+e/nUh35hjrIB2MgwPoKheHcTe4YNi4APvBMo+IaB8qkrN8NIBEgajZviOVQpplnJNaJjDOFVYAIVVWOX4jJ9aS1yd9ZOp+f03+dN8LdBQbwVBjeZA1rsiMwiIH9czQwikcWtkzAmf60pqlzNkI2IB+dTOTKo9Z/KqlwN5toSdZcf32I+hAqMlone6JLitrVXAmPCeejbT5Tp6Gpvs3xeT3DTKqWtkmcyAgMv8ySo81KnWDUBi8enedwxOZ7bNAGwBAXMfukmY65G6VGY/ihspbuKJupicPkGhJdrnduqjnmtNdXT8VSi2mVzVo1HNSZoyKLLWgzWUH2lcQxNgZ7GXVszuVDlFECyoQzCMxIZo0+M1XsZw91aziMiMA6u5cFQO9mWUAHuxJ313161pvaXhFu7aZ2gPaR2R5YZSFnxZSMySBIPTrWa9leJG1GIZYa7Za+NwGti2AWQSQsMCpA01HWoSS7klbdETir+bEO0DVn0Go0IUQTBIhREjard2KQNZug6jvj9UQ/rVJw6n7xkwAT1Man51euxEdw8b96Z9cifpXCzyvkz1ubHwwwRYmtDkIB0PnpH5VXfs5K7k5DlYRmIynL4Ry5mrGz1H93DuR+KfUMAZ+c1RiycWczLj5KhvhVElYI2iQQayrtTj+5xmMtNsbhI/td3c/L+tK1vGNlZGnfw/HcT9RWXe1fApbxaXBMX7ckAx40OUtzmVK/Kuj0c7m9dzF1Magl5FTN3M1rMCQLa29DGgJ0AjofSud+4hyhRBXUt97QRBAgAgjf6134XwHE4kObFtrgtRmggFZk6SQTsdq6Yc37Qe0EuIzAFl7tg5CnMJBHujXlXUtGCn3HPDu2eKsgBMRcKg+60OP+YD9CKtGD9qr/6y0rADVlJQ/I5l+oqiNczaOymckMsaAmGkADYawa5Ya6VaVMZSdRoT0oC2bDwzt/hrw/1gPTKG+iMZ+AqTt9r8Kw/fKkf7VXsn/mqBWYcRx6X7Kl7SFlUMXCqHaRkhmiYGUEb6sagbtyMgzZZBkgtpBI2B1mDSJcmb1b4jbceC5bYnpcQ6/A0/AAgEct9d+ted7eIYxqfj+kgzS/tLCJO+mkSSZjKMv9aUIOTN6w+KZiwa2VAMDUHP56THx602w2GuE3O8KakhMgyFVPIkjesSaz4gc14CRLEjw82lANSFDGOcV0uuC9wJcd1QkqWIzMAYByjbrA5UxcjYeGNeUk3mCKCQEzBif4i8x10ilXuM4a2xZryKW3m4GjrCgmscx7BFGrM5EkHQAHbbU894HSaZLdkHcHceGQRzk0ByNa4j7RcOmltXukdBlHzIn6VUOK9v71x1yKtlZ0YANc/4m2HlFVG4GQhp3AIjTfUbU+7NYB8TirVtf9orE9EQ5mJ9APyoC2bpwh2NiyY0NpdYM+6JBj0p9m2J0ExudDynyqN4YYXSfCXUa6LqSvh9GGtP+9k6a/HTUcvptVLNMex0xN0BHJ+6jkDqQhI+FUPB49rJPhLKAGjrKKFVB1Lg6+YG9WfiV8KtxgI/ZZeWpLkfTMao/a2xdDWFS4ES5YZWOUkqbbmCSDKgreAzR4Ymir0J62ccB2sJxTDIWzkqbo1GeNYAEBdMo12+dTWDsucfYvs2bJcQJbChEXO4R3YsfE4tltfkK48G4KbFpEmFPiVio8XIkH9R0peMwzvcVVvFCA77ZhKr4J1Gzsjf2TUN8tEvp4bs12gajuz3Ghi8LZxCgqLqBsrCCDsfhIMHmIPOpCa1GShWKw63EZHAZHUqynZlIIIPlGlZFxPFL9kVUByd4bFo/isWmlHWAPA6Kmn8cbVr7Cd6xrtBdGdLahQtpSBk2hiGUef7IWfrVHUS4wbN/wAPx/MzxRF200O8aaxoJ2k7Crn2GU91dkQDe0PX9nbn61G9ksILjOrCVCgsDzkOoB+p/sirRwjAdxbNvNIzsy6QYaPe6nzrhZXFKj0PVZuTePyY9u7UwvuVdWCkgiGA30O8fe3Og1jrtTy5TXEaBD/GB/xSv5kVmg6kYZLQq2VcQYKk/Ij8jWb+2axD4QdVvD626077Or6mQ3UGCfXr8azn2x2yLmBBJM98PP3rNdLpJfu19zD1P+hOezzhy2cBaZAJur3jk7sx/QDQVbLDZuQI+npUL2L4aPsGFJJINi22XYCVB5anfrVltoANABVGab+ZJ34luKK4LRTe0HsswuIAayFwz/wIDbYfxW5Go6iKzjtP7P8AEYEF2i5ZzBe9Ux72wZCZUzpzFb0DVM9rVtjw5sv3btp2H8IMSfKSD8K1dL1GSUlF7Rlz4YpOSMdXiAK5dAIUHqYZm/WKZuefUSfLVv6+Fc4M/GN+vryrTfZH2Xs4rE3nvoHXDpZKp9zO2ceIR4vdDQeZrr0c8zxb2gg6KCB6czPqaVesujkMrTlkAqVMMJDEGD5zXoy57MeHtiDiDYGctmK5mFov+I2py76xtPKn3aPsPg8dBxFoMy6LcBKOB0zKRI12MinQHmNr5IgghRE7lS4BEnzg/nXVFU5I0aGzDWN/CB6jea9E/wD4s4bkyfZVIA3z3MxPUsGnN57064Z2AwNgOLeHTxqUYvmusUYQVzXCTHkKKCzzXiCXZiTq084+PmBXS0BBLHUKEVdzmOk+Q2+Qr0MfZvgLdm6i4dSHliXJchgNMrMSVA6Csv8AYlhQ+OzMAcuHuNBEyxa0AfhJ+dKhlR4twe9YtWu9TKLq94hMg5JKgEHbXXr4hVh9lWMsWr903nRGa2q2yxAkljnAJ5wFrYPaB2ct4rB3Zthrlu27WjqGVgJABGpGm2xrFOD8DPc5hYW4WY63MwRVjw8tSY3oY4s1fBXVBbKysGafCQYhQOXpNPTiutZnieylkNau5DaUiGNslShMQSU3A69D5Va+AYN7VnK99sRJJVmIYBeSq2pYeZJ+FQpF6exzxp9vQ6gdXWJ9NfnUV2qwjXLFlrZIuC+AoVgpbNbfQTodQpykgHKASN6c8cbxII3VvmHt/wDyFM7V/wC04rT9zgWO0ftMSVg89ramPUmo+NkmrVA4VxjR7b2SHW2DscolozoeRkaqYJ2MRTTi2MZQ7ggEqtq2OYZpkjqNjPIJUzjJBVgDDaNHxgn4afKolsMl28IMooJbkoQmcnQgxPkNNAdYXcrQ0uMaZc/ZnxBbmCVAT+xOUAj/AFdxRetR5BLgX+xVrzVQvZej3WxeL1Wzea3asrAEpYDIWgbSTHwNX2tRkOHFlJtEKY1Sf5c4zAHlIkT51kHEc7Peu5PCbxXMSEQSxS0upkmFC+FTqIrZsTZzqVmJ57wQQQY56is84f2BLY1nuWWS0j3r5i9CX8S97Optqh/dZBlIcAiQNdSap41PTNGDqJYG5Q7nfgPDns24bKXZmzFfdAViqiTqdNZjnUl3DTOeJ5QCP8agO1GMxmE4e1641mwyhVVUJvvcdhlGrBFTWWOj6KazBPaFj5H+kMdQYypB8j4dvKuVLoJybekbP1q8bZtj3WXdZHVdf7u/ymivMLttlUiTqD+FgZUkbiGAqL7LcYvYiwLly0ZAUk2yDmDLIYW/eHPQTtUnaxFu6SFZWK7jZlPmp8QNYZ9PPG9ovjmjNaZ1wF5yBnGVx7wGonqDzU7iqF7Zn8eBP+8fnYq/rh41JIjmf86zX2v3Zv4SDIFu4ZEb51n8q19Em8t/co6ppQNC7Iv/AKBhP92sf+0tS4aq/wBkLF18BhClk6YeyAz3hbRoQCRkDt81FWO3wF2/e3AF/BaBUnqGvMSxH8oQ+dTl0eSc2yC6mMYpEbxK9fNq99kVXu21aC3u5wPcXk1zy2HM6isg7Pccv3RdtXrruLk5ldiQxMg5lO28Ry+FeiLFhUUKgCqogKBAAHQDash9rXAUw+Jw1/DoLb3zd7wg5UdlNsjyDsGc+eWulhwRxKkYsuV5O5lGOw/d3bi8kZh8jFekfZv2SGAwaq2t67F2638RAhR5KIHmZPOvP/EsOWv4mYBCFj6gWp+cz8a1f2ae0tDaGGxtxbb2k8F52hbltRs7Ns6gc9wOoNXlRqZNACko4IBBkEAgjYg6gj4UqmAqiiiJoUAMeNG59nu90oa53b5ATALZTAJrF/Yphn+3MVHhSwwc+TFMgPQkj6Gt2qKxZsYGxduraCqJdltIAzsTyA3Yk/WmBHcf4+oudznAhJfxAEljCJ8QGMDXbrVQ4t2gtWWRLiXES54VuG2y2wZgCWiPlVhtWe+vpedQjkhgi6RzHeEAZ38I1O2w85nifCUv22R1DK4gqw0PMT8Y+tUzLoujP7+KyFJE22ZlMT4TAKERpEBvpSOEL3GIv2x7txu8jkpn3ljaQwnlz5VFYnhTYfEW7KEth73fPbQ6tZe2pBUE6934hvz09XWOYsLbTqVQEzE5bgBBPmsikiT8yQ7Q5yFyEBhnCs2yktaJJ6xlJjnFdeE4RLNlbSHRZJY7sx1Zm6kmmnGLk9wTrmuld9psXH/NPrXW63gMGBuWOgCjcVXJ+BdFK7HV3GSpI5yF9OtV7j1tzbFu2york94Z8ZURmAERrrr5RzoYjtDbQK2YJaMzcYavpoLKDU8/EfgOdRjfasWClq21myxhr1wRcdDAIRfug+UzG9ShB3bI5ckeyNg7D2lXh2ECiFNhGAO8P49ep8VTeaszu8TbA4c3rd51tWUAWy5z23Kwq2wGkoTEAoRlmSCBFaJg8SLltLigw6q4kQYYAiQdRvV9mTsPK537wVSzEAKCSTsAN66BaBSdDqOh1piML9s/E8Vcuolyy9rDqS1rNl/amIZ2KsQp5BDBAmRJgU7gXZbFYlh3Fi4xEGcuUa7HMxAj0mvTGL4LZuKVdAykyVJYiZ3GvhPmIrpZwqIIRQo20H50AV/sv2XGEUEkm4baIxnwwslQIiYJOp6nqalsVwmzfg3rSOQdCygsvLwtuPnTujDUVYrG9ngmHU6WLU9e7Un5kTWN+2gseIKGPhTC22QAaAFrhbTzZT8hW4q1Q3aHsVhccyPiELNbEAq5WVJkqwGjL5HqetHFDti+xWAezw/C27hBdbKAxsJEgTzgED4VMk0FEAAbAADyA2oBppgCm2O4fbvLkuoHU7qRIPqp0PxpxQzUgPOvbjCJY4ljktqFRbQUKAAP3Fk7DTerJwf2a4hr6hlCKQzG8pV1USSMgMMXMiAVUaE6gCYT2lkf+K43TeyAP/Tpr9K9AYZpRP5V/IUCaGfBeGixbFtA6ouih2DHmTl1OVZOi7DkANKfzQNCgYYNFmoE0maYCpqC7YYnJaBGpzrlU7F/uf3iutTReqhx7E97icu6WI+N5h/2qfm3lUXocdugheKAN7xQAxzYgfrFLPG3vAyzYdSNFGXOWJgL3hkBjpsBr1rnyqNxfDlvZQxZSrB1KtlIYdOUxPppVVmhwtHO3wtsMxtO7XCfErvqSH0dVPQOpMfxiorEYAt4QInvAPIxI+td+2vGGwqLmc38gFy3c0zgFwrJeK6QykgGJkA7gUOKcTFrDvf1GVC6yNSzQEBB3MkVHaY4u4kHx7Fllwq2zD5mxAMZlCi2wTP0Bkx5KagO0OMe2VF1WuXIDjMP2S6kKFSYECdtdpJp7exP2fh+d2PfXUthSdGnKqiIiFVBtttOpqvYX7RdDNbS/cUEBjbR3VSdgxXQH1qxIqlIRhu1FxLou93ZdxsXVmj+WW0+FSt3t5xC4CBKg/7Oxr8yCarl28+d88hgCIbQqQRpB1BFdLfEHaFGckwAASZOwAHrUissfZNnfiOFONLPaF3UXjKKzK2SUmFBcpyivQ+n9GvLpt3cO2W/ZZS6nw3FZCyNKzlMHcHXcEV6M7JYtr2Bw115zvYts3mSok/Hf40xE/NEWoA0gnXamAZNcyaNmpM0AGFomShNHTsQhSdIpxaPWuMUYp2FHcmkk0hBSiaQwBqMiiFHNIDz/wBssDdfjN6ydXvXAiSJzW7qhUMfhVTr/Ia3zBYbu7aWwSQiKknc5QFk+sV0yjnuNvL0ozQAZNETRUTtQAZNJowdKSTTAj+M8R7iy9yJKjwj8TnRF+LECqnw+3lUAtmbdm/E51Yn1M1IdrMXmu27Q+4O9bpmMrbH/UflUfhSARVWSXgX4o+I4utp6Uwxl8rl85p1duaac6h+I3pYAHYD/Oqu7LpaVEp2i4dbxGACEBQ11AwA3i6rx8V/Oq92om6e7AGS3DEbhrhU92un3VBzR1KdKcXr94uqk2+5twwXxS1zKVl45BSNBuY2pr9hK3LnjzHvLksdJOeNuWgAjpVhSk6Kjh+E3cZxFcOt1LTIqKhuHZQiZgiwczkEtl5xvtU52C7EWmxmKwmKds1kAqtq8UDZXKsWC76ZDEyAwphe4NavcYFi+blsXQiB7Z8SXe7HcMAQZUhVBHIk6+GrrhexHEcG73MNi8Pde5AZsRZIuMoAADXAGLe6OdWoobMp7bcOTDY7E2rYIS3cIUMSxjKCJJ1O/wBasGG7E5eK2cNYu3lZUt3HuhMzYe4bRdvEAoKh8oB0BzRuKje2lvEDiLHEtY78myXNue6U+ELnkSIAGbTatB47guODD3rlzG2FtpbZz9nDZ2AWQFItgieoIoAovaezi8VxFcLcupiL9sjDLctiM3iLEvGmZc3i6ZSJMTW/YDh4tWrdpfdtoiD0VQo/Ksx9h/BrbLfxbeK6tzulJ1yAqruR5tmgnoPM1q2agBzSZoUKAEE0KFCgAUJoUKADApQWhQqSAM0dChSQBE0U0dCkAJoTR0KACmkE60KFAClNRvaDGtbsnJo7sttSdQrOYzEc4kmOoFChUhIqV3h5Jm5ce4x3JOXNpzFvKD8qbng4GtqLb9VGh8nA94fWjoVmfc1xWhrgcaWLK26kqekjeDzFIvWZcebfTnRUKGtj8g8UD4v5v8KbW3y3MSW8QR80cyPAY9daFChEJF94D2ctotm9ctWvtItBDdEsYljAZgDsYzRJqeyTQoVpMpSeO+yvDYrGfaXLANBuWl0F1hoCW3WRoY3gbc7fbsqihVACqAoUbBQIAHlAihQpMYVvDqmiqqgmYVQon0AoyKOhSGf/2Q==

Hiện nay có 2 giả thuyết chính về nguồn gốc cờ tướng :

1. Cờ tướng do cờ Lục bác phát triển mà thành. Cờ Lục bác du nhập vào Ấn độ, phát triển thành Saturanga. Saturanga sao đó lại du nhập ngược vào Trung quốc, kết hợp với cờ tướng đang có để trờ thành cớ tướng ngày nay.

2. Cờ tướng là do Saturanga, một phát minh của người Ấn độ, du nhập vào Trung quốc phát triển mà thành, không liên quan gì đến cờ Lục bác.

Giả thuyết 1 được sự ủng hộ chủ yếu là từ các trang web của Trung quốc trong đó có wikipedia (tiếng Trung).Theo giả thuyết này thì cờ tướng đã có ở Trung quốc rất lâu trước khi người Ấn có Saturanga. Trong các tác phẩm từ thời Chiến quốc như “ Thuyết Uyển” và “Chiêu hồn-Sở từ” đã có nhắc đến cờ tướng (mà người Trung quốc vẫn gọi là Tượng kỳ). Giả thuyết 2 được các học giả phương Tây và cả trang wikipedia (tiếng Việt) ủng hộ. Để làm rõ giả thuyết nào đáng tin hơn, hãy xem bàn cờ Saturanga

Cách đi cờ như sau :

-Tốt : mỗi lần di chuyển chỉ tấn 1 ô về phía trước, đi thẳng nhưng ăn chéo như cờ vua. Chỉ luôn luôn tấn 1 ô, không bao giờ nhảy 2 ô, vì vậy không có việc ăn tốt qua đường, cũng không có chuyện phong cấp.

- Vua, Xe và Mã có cách di chuyển hoàn toàn giống như cờ vua (mã không bị cản)

- Sĩ : Mỗi lần có 4 vị trí để di chuyển , đi tới ô chéo góc liền kề (giống như cờ tướng)

- Tượng : Đi giống như sĩ nhưng dài gấp đôi (giống như cờ tướng nhưng không bị cản)

Cũng xin lưu ý rằng vị trí ban đầu của các quân cờ không hoàn toàn giống như cờ vua vì 2 quân Vua đặt chéo nhau, không cùng 1 cột.

Rõ ràng cờ Saturanga có một số điểm giống cờ vua và một số điểm giống cờ tướng. Điều này cũng dễ hiểu ví chính bàn cờ Saturanga khi du nhập sang phương Tây thì trở thành cờ vua, còn du nhập vào Trung quốc thì trở thành cờ tướng.

Người Trung quốc đã có những cải tiến làm thay đổi gần như hoàn toàn bàn cờ.

Cải tiến đầu tiên và cũng quan trọng nhất là vị trí đặt quân cờ : đặt ở giao điểm các đường chứ không đặt trên ô, quân di chuyển trên đường chứ không nhảy từ ô này sang ô khác. Chỉ với động tác này, bàn cờ tăng thêm số điểm đặt quân từ 64 của Saturanga lên 81, số quân ở hàng cuối từ 8 tăng lên 9. Vua giờ đây đã có thể ở ngay trục giữa và rất dễ dàng nhận thấy quân thêm vào bên phải vua chỉ có thể là 1 con sĩ, có vậy mới đảm bảo sự cân đối của bàn cờ.

Sau đó là phải vẽ đường cho quân Sĩ, chữ X trước mặt Vua được thêm vào và thế là ta có cửu cung.

Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất là quân Pháo được bổ sung từ cuối thời nhà Đường (618-907), là quân cờ ra đời muộn nhất trong bàn cờ tướng. Nhiều người cho rằng quân Pháo xuất hiện muộn là do ngày xưa không có pháo binh. Sự thật hoàn toàn không phải vậy. Pháo binh xuất hiện rất sớm trong chiến tranh thời xưa. Vấn đề là muốn đưa Pháo vào bàn cờ thì bàn cờ đó phải đủ rộng . Bàn cờ 64 ô nếu muốn thêm quân Pháo thì cũng không biết phải đặt ở đâu khi quân 2 bên đông nghẹt như lô cốt thời nay! Bàn cờ tướng có chỗ đặt quân Pháo là nhờ số điểm đặt quân nhiều hơn (81 so 64). Xin nói thêm là bàn cờ Saturanga khi du nhập vào Thái Lan đã phát triển thành makruk, sang Nhật phát triển thành shogi. Hai loại cờ này đều không có quân Pháo chỉ vì đặt quân trên ô. Chỉ có bàn cờ janggi của Hàn quốc là có quân Pháo vì loại cờ này xuất thân từ cờ tướng sau khi cải tiến của Trung quốc, cũng đặt quân trên đường.

Người Trung quốc khi ấy phải mất nhiều thời gian loay hoay tìm vị trí cho quân Pháo này và cuối cùng cũng tìm được vị trí lý tưởng cho quân Pháo như chúng ta thấy trên bàn cờ ngày nay. Tuy nhiên, để có vị trí này thì hàng chốt phải đẩy rất xa lên phía trước. Kết quả là không đấu thủ nào dám tấn chốt vì chỉ cần tiến lên 1 bước thì sẽ bị chốt đối phương ăn mất ! Thế là Sở hà Hán giới ra đời, tạo thêm không gian ngăn cách 2 bên. Khi "hà" xuất hiện trên bàn cờ, 9 điểm đặt quân nữa được tăng thêm. Như vậy, bàn cờ tướng bây giờ đã có 90 điểm so với 64, đó là một sự mở rộng đáng kể. Diện tích chung của bàn cờ hầu như không tăng mấy (chỉ tăng thêm 8 ô) nhưng số điểm tăng thêm được 1 phần 3.

Quân cờ trong cờ tướng cũng được cách tân.Theo các tài liệu lịch sử, cờ tướng ở thời Đường được gọi là Tượng hý (du hý - trò chơi) có đặc điểm là quân cờ lập thể, bàn cờ có 64 ô vuông xen kẽ hai màu trắng đen, giống hệt bàn cờ vua hiện nay. Loại bàn cờ này đã được để lại trên các bức tranh dệt "Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ" cũng như trên các vật dụng bằng sứ thời Đường.Thế nhưng sang thời Tống (960-1279) thì quân cờ trở nên dẹt và phẳng, trên có ghi chữ như quân cờ tướng ngày nay. Phải chăng đây là sự “cải lùi” ? Yếu tố kinh tế là một giả thuyết tuy dễ thuyết phục nhiều người nhưng chấp nhận giả thuyết này khác nào cho rằng người dân thời Tống nghèo hơn (hay tiết kiệm hơn) người dân thời Đường? Sự thật chẳng qua là khi người ta chấp nhận thay đổi vị trí đặt quân thì cũng dễ dàng chấp nhận những thay đổi khác như hình dạng quân cờ. Còn một lý do khác có thể thấy khi hình dung bàn cờ vua ngày nay: Nếu quân cờ đặt trên ô thì quân cờ không thể che hết ô, nhưng nếu đặt trên đường thì quân cờ có thể che hết đường, nghĩa là sẽ khó quan sát hơn.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Saturanga là tiền thân của cờ tướng và cả cờ vua ngày nay. Bàn cờ tường ngày nay là sự phát triển từ,và chỉ từ Saturanga, không liên quan đến 1 loại cờ nào khác.Khi người dân Trung quốc tiếp xúc với bàn cờ Saturanga, họ đã nhận ra sự ưu việt của loại cờ này so với cờ tướng hiện có lúc đó. Kết quả là hàng ngoại lấn lướt hàng nội, chiếm hết “thị phần”, thậm chí chiếm luôn cả “ thương hiệu”. Chuyện này không phải chỉ có ở bộ môn cờ. Bàn cờ tướng đã có ở Trung quốc từ trước khi Saturanga du nhập đã bị thất truyền, không còn ai chơi nữa .Tóm lại, giả thuyết 2 đáng tin cậy hơn.

Hóa ra bàn cờ tướng mà chúng ta vẫn chơi ngày nay là sản phẩm trí tuệ của hàng vạn người, thuộc nhiều thế hệ, nhiều dân tộc và phải mất hàng ngàn năm mới định hình. Cũng là kỳ công !

Posted ImageChu Phưởng [周昉] (~730 – 800, đời Đường), Cung nữ chơi cờ (Nội nhân song lục đồ [内人雙陸圖]) mực nho, màu trên lụa, 30.5 x 61.9 cm, Freer Gallery of Art, Washington.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chữ Nhân được tác giả sáng tác cờ tướng lấy trong Binh pháp Khương Thái Công:

" Quân chính nghĩa thì sức chiến đấu rất mạnh - Quân phi nghĩa thì sức chiến đầu rệu rã".

Trong quá trình giải mã, có liên quan đến Khương Thái Công, kính nhờ bác Lãn Miên biên dịch sơ phác giúp bài tiên tri, do không biết tiếng Hoa Hạ (không hàm nghĩa phải chính xác nhiều):

Càn Khôn Vạn Niên Ca của Khương Thái Công

.

Hán Việt

1.太極未判昏已過。 1 Thái Cực Vị Phán Hôn Dĩ Quá.

2.風後女媧石上坐。 2 Phong Hậu Nữ Oa Thạch Thượng Tọa.

3.三皇五帝己派相。 3 Tam Hoàng Ngũ Đế Kỷ Phái Tương.

4.承宗流源應不錯。 4 Thừa Tông Lưu Nguyên ứng Bất Thác.

5.而今天下一統周。 5 Nhi Kim Thiên Hạ Nhất Thống Chu.

6.禮樂文章八百穐。 6 Lễ Nhạc Văn Chương Bát Bách 穐.

7.串去中直傳天下。 7 Xuyến Khứ Trung Trực Truyền Thiên Hạ.

8.卻是春禾換日頭。 8 Khước Thị Xuân Hòa Hoán Nhật Đầu.

9.天下由來不固久。 9 Thiên Hạ Do Lai Bất Cố Cửu.

10.二十年閒不能守。 10 Nhị Thập Niên Nhàn Bất Năng Thủ.

11.卯坐金頭帶直刀。 11 Mão Tọa Kim Đầu Đái Trực Đao.

12.削儘天下木羊首。 12 Tước Tẫn Thiên Hạ Mộc Dương Thủ.

13.一土臨朝更不祥。 13 Nhất Thổ Lâm Triêu Canh Bất Tường.

14.改年換國篡平床。 14 Cải Niên Hoán Quốc Soán Bình Sàng.

15.泉中湧齣光華主。 15 Tuyền Trung Dũng Xích Quang Hoa Chủ.

16.興覆江山又久長。 16 Hưng Phúc Giang San Hựu Cửu Trường.

17.四百年來更世界。 17 Tứ Bách Niên Lai Canh Thế Giới.

18.日上一曲懷毒害。 18 Nhật Thượng Nhất Khúc Hoài Độc Hại.

19.一枝流落去西川。 19 Nhất Chi Lưu Lạc Khứ Tây Xuyên.

20.三分社稷傳兩代。 20 Tam Phân Xã Tắc Truyền Lưỡng Đại.

21.四十年來又一變。 21 Tứ Thập Niên Lai Hựu Nhất Biến.

22.相傳馬上同無半。 22 Tương Truyền Mã Thượng Đồng Vô Bán.

23.兩頭點火上長安。 23 Lưỡng Đầu Điểm Hỏa Thượng Trường An.

24.委鬼山河通一佔。 24 ủy Quỷ San Hà Thông Nhất Chiêm.

25.山河既屬普無頭。 25 San Hà Kí Chúc Phổ Vô Đầu.

26.離亂中分數十穐。 26 Li Loạn Trung Phân Số Thập 穐.

27.子中一硃不能保。 27 Tý Trung Nhất Chu Bất Năng Bảo.

28.江東覆立作皇洲。 28 Giang Đông Phúc Lập Tác Hoàng Châu.

29.相傳一百五十載。 29 Tương Truyền Nhất Bách Ngũ Thập Tái.

30.釗到兔儿平四海。 30 Chiêu Đáo Thố Nhân Bình Tứ Hải.

31.天命當頭六十年。 31 Thiên Mệnh Đương Đầu Lục Thập Niên.

32.肅頭蓋草生好歹。 32 Túc Đầu Cái Thảo Sinh Hảo Đãi.

33.都無真主管江山。 33 Đô Vô Chân Chủ Quản Giang San.

34.一百年前擾幾番。 34 Nhất Bách Niên Tiền Nhiễu Ki Phiên.

35.耳東入國人離亂。 35 Nhĩ Đông Nhập Quốc Nhân Li Loạn.

36.南隔長安北隔關。 36 Nam Cách Trường An Bắc Cách Quan.

37.水龍木易承天命。 37 Thủy Long Mộc Dịch Thừa Thiên Mệnh.

38.方得江山歸一定。 38 Phương Đắc Giang San Quy Nhất Định.

39.五六年來又不祥。 39 Ngũ Lục Niên Lai Hựu Bất Tường.

40.此時天下又紛爭。 40 Thử Thời Thiên Hạ Hựu Phân Tranh.

41.木下男儿火年起。 41 Mộc Hạ Nam Nhân Hỏa Niên Khởi.

42.一掃煙塵木易已。 42 Nhất Tảo Yên Trần Mộc Dịch Dĩ.

43.高祖世界百餘年。 43 Cao Tổ Thế Giới Bách Dư Niên.

44.雖見幹戈不傷體。 44 Tuy Kiến Cán Qua Bất Thương Thể.

45.子繼孫承三百春。 45 Tý Kế Tôn Thừa Tam Bách Xuân.

46.又遭離亂似瓜分。 46 Hựu Tao Li Loạn Tự Qua Phân.

47.五十年來二三往。 47 Ngũ Thập Niên Lai Nhị Tam Vãng.

48.不真不假亂為君。 48 Bất Chân Bất Giả Loạn Vi Quân.

49.金豬此木為皇帝。 49 Kim Trư Thử Mộc Vi Hoàng Đế.

50.未經十載遭更易。 50 Vị Kinh Thập Tái Tao Canh Dịch.

51.肖郎走齣在金猴。 51 Tiếu Lang Tẩu Xích Tại Kim Hầu.

52.穩穩清平傳幾世。 52 ổn ổn Thanh Bình Truyền Ki Thế.

53.一汴二杭事不巧。 53 Nhất Biện Nhị Hàng Sự Bất Xảo.

54.卻被鬍人通佔了。 54 Khước Bị Hồ Nhân Thông Chiêm Liễu.

55.三百年來棉木終。 55 Tam Bách Niên Lai Miên Mộc Chung.

56.三閭海內去潛蹤。 56 Tam Lư Hải Nội Khứ Tiềm Tung.

57.一兀為君八十載。 57 Nhất Ngột Vi Quân Bát Thập Tái.

58.淮南忽見紅光起。 58 Hoài Nam Hốt Kiến Hồng Quang Khởi.

59.八雙牛來力量大。 59 Bát Song Ngưu Lai Lực Lượng Đại.

60.日月同行照天下。 60 Nhật Nguyệt Đồng Hành Chiếu Thiên Hạ.

61.土猴一兀自消除。 61 Thổ Hầu Nhất Ngột Tự Tiêu Trừ.

62.四海衣冠新綵畫。 62 Tứ Hải Y Quan Tân Thải Họa.

63.三百年來事不順。 63 Tam Bách Niên Lai Sự Bất Thuận.

64.虎頭帶土何鬚問。 64 Hổ Đầu Đái Thổ Hà Tu Vấn.

65.十八孩儿跳齣來。 65 Thập Bát Hài Nhân Khiêu Xích Lai.

66.蒼生方得囌危睏。 66 Thương Sinh Phương Đắc Tô Nguy Khốn.

67.相繼春穐二百餘。 67 Tương Kế Xuân 穐 Nhị Bách Dư.

68.五湖雲擾又風顛。 68 Ngũ Hồ Vân Nhiễu Hựu Phong Điên.

69.人丁口取江南地。 69 Nhân Đinh Khẩu Thủ Giang Nam Địa.

70.京國重新又一遷。 70 Kinh Quốc Trọng Tân Hựu Nhất Thiên.

71.兩分疆界各保守。 71 Lưỡng Phân Cương Giới Các Bảo Thủ.

72.更得相安一百九。 72 Canh Đắc Tương An Nhất Bách Cửu.

73.那時走齣草田來。 73 Na Thời Tẩu Xích Thảo Điền Lai.

74.手執金龍步玉□。 74 Thủ Chấp Kim Long Bộ Ngọc □.

75.清平海內中華定。 75 Thanh Bình Hải Nội Trung Hoa Định.

76.南北同歸一統排。 76 Nam Bắc Đồng Quy Nhất Thống Bài.

77.誰知不許乾坤久。 77 Thùy Tri Bất Hứa Kiền Khôn Cửu.

78.一百年來天上口。 78 Nhất Bách Niên Lai Thiên Thượng Khẩu.

79.木邊一兔走將來。 79 Mộc Biên Nhất Thố Tẩu Tướng Lai.

80.自在為君不動手。 80 Tự Tại Vi Quân Bất Động Thủ.

81.又為棉木定山河。 81 Hựu Vi Miên Mộc Định San Hà.

82.四海無波二百九。 82 Tứ Hải Vô Ba Nhị Bách Cửu.

83.王上有人雞上火。 83 Vương Thượng Hữu Nhân Kê Thượng Hỏa.

84.一番更變不鬚說。 84 Nhất Phiên Canh Biến Bất Tu Thuyết.

85.此時建國又一人。 85 Thử Thời Kiến Quốc Hựu Nhất Nhân.

86.君正臣賢乘輔拔。 86 Quân Chính Thần Hiền Thừa Phụ Bạt.

87.平定四海息幹戈。 87 Bình Định Tứ Hải Tức Cán Qua.

88.二百年來為社稷。 88 Nhị Bách Niên Lai Vi Xã Tắc.

89.二百五十年中好。 89 Nhị Bách Ngũ Thập Niên Trung Hảo.

90.江南走齣釗頭卯。 90 Giang Nam Tẩu Xích Chiêu Đầu Mão.

91.大好山河又二分。 91 Đại Hảo San Hà Hựu Nhị Phân.

92.幸不全亡莫嫌小。 92 Hạnh Bất Toàn Vong Mạc Hiềm Tiểu.

93.兩人相見百忙中。 93 Lưỡng Nhân Tương Kiến Bách Mang Trung.

94.治世能人一張弓。 94 Trị Thế Năng Nhân Nhất Trương Cung.

95.江南江北各平定。 95 Giang Nam Giang Bắc Các Bình Định.

96.一統山河四海同。 96 Nhất Thống San Hà Tứ Hải Đồng.

97.二百年來為正主。 97 Nhị Bách Niên Lai Vi Chính Chủ.

98.一渡顛危猴上水。 98 Nhất Độ Điên Nguy Hầu Thượng Thủy.

99.别枝花開果儿紅。 99 Biệt Chi Hoa Khai Quả Nhân Hồng.

100.覆取江山如舊許。 100 Phúc Thủ Giang San Như Cựu Hứa.

101.二百年來衰氣運。 101 Nhị Bách Niên Lai Suy Khí Vận.

102.任君保重成何濟。 102 Nhậm Quân Bảo Trọng Thành Hà Tế.

103.水邊田上米郎來。 103 Thủy Biên Điền Thượng Mễ Lang Lai.

104.直入長安加整頓。 104 Trực Nhập Trường An Gia Chỉnh Đốn.

105.行仁行義立乾坤。 105 Hành Nhân Hành Nghĩa Lập Kiền Khôn.

106.子子孫孫三十世。 106 Tử Tử Tôn Tôn Tam Thập Thế.

107.我今只算萬年終。 107 Ngã Kim Chỉ Toán Vạn Niên Chung.

108.剝覆循環理無窮。 108 Bác Phúc Tuần Hoàn Lý Vô Cùng.

109.知音君子詳此數。 109 Tri Âm Quân Tử Tường Thử Số.

110.今古存亡一貫通。 110 Kim Cổ Tồn Vong Nhất Quán Thông.

Trân trọng.

Share this post


Link to post
Share on other sites