Thiên Đồng

Những Chuyện Huyền Nhiệm Trên Hy Mã Lạp Sơn

1 bài viết trong chủ đề này

NHỮNG CHUYỆN HUYỀN NHIỆM TRÊN HY MÃ LẠP SƠN (1)

THINH QUANG

TÔN GIÁO VÀ THỊ TỘC RA ĐỜI SAU MỘT THỜI GIAN DÀI KỂ TỪ KHI LOÀI NGƯỜI XUẤT HIỆN.. Lúc bấy giờ con người sống thành từng bầy, lấy đá làm thành những công cụ lao động, đào bới, trồng trọt, chặt phá...săn bắt thú rừng, hái lượm hoa quả v.v... Con người của thời cổ đại còn có hình thù như các loài vượn, tiếng nói còn đơn giản để truyền tin cho nhau... Nhưng rồi... là một loài vốn tối linh hơn muôn vật, dần dà qua những hoạt động vì nhu cầu cần thiết, tự cải biến và từ từ hoàn thiện. Trí thông minh phát triển, con người biết tìm ra lửa. Từ đó nền văn minh "lửa"xuất hiện; loài người bắt đầu ăn đồ chín, biết sưởi ấm mùa đông, biết sử dụng lửa để chống trả hay đề phòng thú dữ...

Kể từ đó tính đến ngày nay đã từ ba đến bốn chục ngàn năm dẫn đến sáu ngàn năm... trải qua một quá trình lắm chông gai khắc khổ,trí tuệ mở mang hơn, nhìn lên tận trên mây xanh biết đó là trời, nhìn xuống nơi mình đang đứng biết đây là đất, chung quanh là núi non trùng điệp,xa xa là sông ngòi,xa hơn nữa là bể cả mênh mông... Những hiện tượng sóng gào, gió thét, những tảng đá ven đường v.v... tất cả những thứ đó là các thần linh được Đấng Tối Cao sai xuống ngự trị trần gian kiểm soát các hành động của con người dưới thế, thay uy trời mà thưởng phạt phân minh: Người làm điều thiện thì khen thưởng chỉ cho con đường về Cội Phúc, kẻ làm điều ác thì đưa vào Địa Ngục...

Cũng kể từ đó loài người sống theo tổ chức thị tộc: Biết quan hệ huyết thống, chống lại quan hệ tạp hôn... nương tựa lẫn nhau mà sống. Trí tuệ dần dà phát triển, tận dụng sức lao động, phát triển trí thông minh... Tôn Giáo và Nghệ Thuật cũng đồng thời xuất hiện đem lại những thành tựu nhất định. Chính sự chuyển biến sang xã hội thị tộc cùng một lúc hình thành con người Homo Sapiens, đó là con người hiện đại hay nói khác là con người khôn ngoan tân cổ...

Rồi 400 năm Tr.CN trên dòng lưu vực sông Nil của xứ sở Ai Cập, một Nhà Nước sơ khai... hình thành có vị vua Pharaon đầu tiên ra đời... Cũng 4000 Tr CN, các thành thị bắt đầu mọc ra ở đồng bằng Tigre và Euphrate... giống người Urbaidians ở Lưỡng Hà xuất hiện... Rồi 3000 đến 2000 Tr.CN sự phát triển được xem là thịnh đạt vào giai đoạn Cổ vương quốc ở Ai Cập, nơi được xem là rất thịnh đạt về mọi mặt, nhất là về mặt nghệ thuật và cấu trúc cho mãi đến thế kỷ 21 con người mới bắt đầu đi vào vũ trụ chuẩn bị cho một cuộc ngự trị không gian vẫn còn chưa biết người Ai Cập cổ xưa làm thế nào mà xây được Kim Tự Tháp - một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại?!

Từ năm 3000 đến 1900 Tr.CN nền văn minh lưu vực Indus phát triển ngoài sức tưởng tượng của con người, nhiều phố phường xuất hiện như Harappa và Mohenjo - Daeo... đầy đủ tiện nghi... trong đời sống... Đến khoảng 2800 Tr.CN khai sáng ra nền văn minh Minoan đặt theo tên một vì vua huyền thoại... Rồi qua những năm tháng dài theo tuần tự từ Sargon Đại Đế bắt đầu thực hiện chủ nghĩa thực dân chinh phục người Summer, lập nên một đất nước Akkad-Summer cường thịnh...

Nhà Hạ cũng xuất hiện từ dạo ấy. Đây là triều đại đầu tiên của lịch sử Trung Hoa v.v... Sau đó là người Hebreux tức người Do Thái bây giờ có ông vua đầu tiên xâm nhập vào đất Canaan. Kế đến quốc gia Palestine được dựng lên song song với đạo Do Thái hình thành...

Một Thế Vận Hội đầu tiên vào năm 776 Tr.CN tổ chức tại Hy Lạp, bắt nguồn từ sự thi đua nhau rèn luyện thân thể để mong đạt được chức vô địch...Tổ chức này bốn năm một lần thi thố, đầu tiên là tại Olempia tức Olympic ngày nay.

Tóm lại kể từ thời Bàn Cổ mở mang, đời Tam Hoàng cai trị đến đời Ngũ Đế định ra nhân luân và sau đó thì đến năm châu, bốn bể con người sinh sôi nẩy nở, từ chỗ mờ mịt hỗn mang đến khi con người cảm thấy được cái thiện và cái ác mà tự áp đặt đến tính tu trì, kể từ đó mới sinh ra "đạo lớn".

Thời Tùy Đường đúng là thời điểm Phật Giáo tại đất nước Trung Hoa, được đánh giá là thời kỳ cực thịnh. Thời Tùy đã có đến 5.000 ngôi chùa, ngót cả 2.000 bộ kinh được chuyển dịch ra từ chữ Phạn tính ra có đến năm, sáu ngàn quyển...

Đến thời Đường đã có hơn 40.000 ngôi chùa, tăng ni gần cả ba trăm. Tính chùa Phật không thôi, đã có đến hơn nghìn vạn khoảnh đất, số lượng chú tiểu đạt đến con số 150.000... Kinh Phật tính ra ước khoảng 67.000, riêng đời Đường dịch hơn 400 bộ, hơn 200 quyển... Trong thời gian từ Tùy đến Đường, có đến tám tông phái, đó là:

1. Thiên Thai tông do Trí Khải cầm đầu.
2. Tam Luận tông do Cát Tạng sáng lập.
3. Duy Thức tông do Huyền Trang lập ra được đặc biệt chú ý.
4. Luật Tông do Đạo Tuyên sáng lập.
5. Hiền Thủ tông do Pháp Tạng.
6.Thiền Tông do Đạt Ma sáng lập.
7. Tịnh Độ Tông do Đạo Xước và Thiện Đạo dựng lên.
8. Mật Tông do ba vị Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không... Ba vị Hòa Thượng này là người bên Ấn Độ được người đời lúc bấy giờ gọi là "Khai Nguyên Tam Đạo Sư".

Như trên đã nói một trong các vị cao tăng tiếng tăm lẫy lừng đời Đường là Huyền Trang được mọi người cho là một nhà tu hành đáng ca tụng và nhắc nhở đến nhất.

Phật giáo được truyền vào TÂY TẠNG từ đời nhà Đường. Qua một quá trình lâu dài, Phật giáo tại đây hình thành một "tôn giáo tín ngưỡng riêng của toàn dân Tây Tạng!" Tín ngưỡng đặc biệt cho Tây Tạng lại được chia ra bốn giáo phái. Đó là:

a. Minh Ma phái tục xưng là Hồng giáo.
b. Tát Già phái, tục xưng là Hoa giáo.
c. Hạt Cử phái tục xưng Bạch giáo.
d. Cách Lỗ phái tục xưng Hoàng giáo.

Trong bốn phái này, về sau kể từ đời Minh Thanh mãi đến nay phái Hoàng giáo chiếm địa vị tối cao nắm giữ vai trò chính thống. Như ta thấy các vị Đạt Lai, các Ban Thiền đều thuộc về phái Hoàng giáo này.

Chuyện gì xảy ra nơi Hy Mã Lạp Sơn - nơi dẫy đầy những chuyện huyền bí mầu nhiệm này?!

CHƯƠNG I

BÍ MẬT NƠI CỔ HIỀN THẠCH ĐỘNG


Một chiều đầu xuân khí trời thật ấm. Cảnh vật hoàn toàn yên tĩnh. Từng cụm mây lơ lửng bay trên các rặng cây xanh đen và luôn cả mấy ngọn Tuyết Sơn trắng xóa nằm đối diện với ngọn Phổ Đà La lúc nào trông cũng có vẻ hiền hòa trầm lặng...

Càng về chiều sắc trời càng sậm lại. Một màu vàng ối trải dài lên các dãy phố của thành Lạt Sa nằm khép mình giữa lòng thung lũng. Bên dưới chân đồi đoàn khách thương Ấn Độ hối hả đi về hướng Tây Môn của thành Bát Nhã. Cùng lúc đoàn người hành hương nối đuôi nhau rảo bước vòng theo con lộ Linh Cơ ngoằn ngoèo, xương xẩu. Từ đỉnh cao nhìn xuống trông như thể con khủng long đang cuộn mình quanh sườn núi.

Dòng sông Châu lặng lờ chảy xuôi theo những lượn sóng lăn tăn như muôn ngàn con rắn lửa đang chập chờn uốn lượn. Thành Lạt Sa thấp thoáng các ánh đèn thắp bằng dầu bơ sản xuất từ mỡ bò, trông hệt như các ngôi sao le lói sáng tận trên nền trời xa tít góp phần trầm buồn cho cảnh trí chiều hôm...

Màn đêm từ từ buông xuống. Hàng ngàn ánh nến xuyên qua các khung cửa của ngôi đền tận đỉnh Phổ Đà La rực lên như cả một rừng hoa đăng lấp lánh. Bên trong đền thấp thoáng các nhà sư đang làm công quả. Đâu đó trên vòm trời một cánh sao băng vụt lóe lên tia sáng xanh lè trước khi sa xuống mặt địa cầu trông như đám bụi mờ tàn rụi...

Chúng tôi sững sờ nhìn cái huyền diệu của trời đất nơi dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ. Tiếng hú của gió, tiếng kêu nỉ non của côn trùng, tiếng kèn đồng thu không gần như lạc giọng hòa lẫn với tiếng cầu kinh nghe như một điệp khúc trầm buồn vọng lại từ mải dưới tận chân đồi.

- Lỗ San ơi! Đêm nay trời đẹp lắm!

Rồi cũng với giọng hiền hòa ấy hướng về phía chú Chécour lặp lại:

- Có phải thế không Abdul Chécour ? Đêm nay trời đẹp lắm!

Chúng tôi chỉ lặng lẽ cúi đầu để tỏ lòng tôn kính. Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống rồi đưa tay chỉ lên vòm trời lấp lánh đầy sao.

- Các chú có bao giờ nghĩ rằng mình chẳng khác nào những ngôi sao trên nền trời tím sẩm kia không?

Tôi ngẩn người ra suy nghĩ. Làm sao mà con người so sánh với các vì tinh tú tuyệt vời kia được? Cho dù có khôi ngô tuấn tú, đầu trán bóng loáng và mặt mày sáng rực tợ mảnh trăng rằm như Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đi nữa, thì đã vị tất so sánh kịp, huống hồ là đối với hạng người tầm thường như chúng tôi còn vướng đầy nghiệp chướng!

Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của tôi, Ngài bất giác phì cười:

- Các lời ta vừa nói đó chú hãy hiểu theo "từ" mà không nên hiểu theo cái "nghĩa" thông thường của nó. Vạn vật trên cõi đời này không phải nhìn thấy thể nào là y như vậy được. Thực ra lắm lúc nó bắt buộc ta phải đi ra ngoài ý tưởng của mình. Giả dụ như chú viết hàng chữ "ÔM MA NI PHÁT MÊ HỒNG" thật lớn, bao trùm cả cái thung lũng Lạt Sa này thì chắc chắn dòng chữ vĩ đại vô cùng đó cũng chỉ có mỗi mình chú biết mà thôi chứ chẳng ai hiểu chú đã viết những gì ?!

Đến đây Ngài ngưng lại trong giây lát rồi mỉm cười tiếp:

- Khó hiểu ư ? Không! Chẳng có gì khó hiểu cả. Nó rất đơn giản. Bởi vì chú viết hàng chữ này quá lớn ngoài cả tầm mắt của con người. Tuy nhiên cái to lớn đó nó chẳng thấm thía gì so với các vì sao giữa vòm trời tím sẫm kia! Vì vậy mà chúng ta không thể nào nhận định được sự kết hợp của nó ra làm sao nữa!

- Kết hợp? Tôi khẽ kêu lên. Thế nào là kết hợp? Kết hợp ra sao? Tôi vừa chăm chú nghe vừa đăm chiêu suy nghĩ về vấn đề kết hợp của các vì sao trên trời. Sự kết hợp ấy mang ý nghĩa gì? Hay nó cũng chẳng là gì cả?!

- Lỗ San ạ! Thầy tôi tiếp tục giảng giải, bây giờ chú thử tưởng tượng cái thân hình của chú được ban cho đó, nó đang trong tình trạng co rút nhỏ dần đến độ như hạt cát chắc chắn là lúc ấy chẳng ai nhận ra được chú. Rồi chú cứ tiếp tục tưởng tượng nó nhỏ hơn - nhỏ đến nỗi cái hạt cát "hóa thân" chú lúc ban đầu lại trở thành là thế giới của nó. Vậy thử hỏi lúc ấy chú có trông thấy được sự hiện diện của ta chăng?

Không đợi tôi đáp lại, Ngài tiếp tục giảng giải thêm về sự kiện này :

- Giả dụ cho chú bảo rằng không đi nữa, thì liệu lúc ấy chú nhận thấy được những sự kiện gì đã diễn ra trước mắt chú ?

"Nhận thấy những sự kiện gì?" Chúng tôi chẳng biết phải trả lời ra làm sao mà chỉ đưa mắt nhìn nhau mồm há hốc hệt như hình ảnh của con cá nghểnh đầu ra khỏi mặt nước. Mọi cảm nghĩ của chúng tôi lúc bây giờ như thể bị tê liệt hẳn.

- Lỗ San! Cái mà chú sẽ trông thấy đó là cả một thế giới như chùm nho sai quả, tản mác bay quanh bóng tối. Lúc đó chú sẽ nhìn rõ từng tế bào nơi cơ thể của ta trông chẳng khác nào như những vũ trụ riêng biệt sống cách xa nhau với từng khoảnh cách mênh mông. Chú sẽ thấy thế giới này xoay chung quanh những thế giới khác Chú sẽ được chiêm ngưỡng biết bao nhiêu Mặt Trời mà Mặt Trời nào cũng là trung tâm Thái Dương Hệ có hằng hà sa số các vũ trụ khác nhau trong cái mênh mông vô cùng của Trời Đất.

Tôi cảm thấy bàng hoàng và đầu óc như thể bị vỡ tung ra vì đã phải vận dụng quá sức tưởng tượng của mình để cố hiểu cho được những lời Đức Lạt Ma thuyết giảng.

- Lỗ San à! Sự cố gắng của chú đã làm cho ta cảm thấy thích thú. Ta sẽ đáp lại bằng cách nói lên tất cả những gì chú muốn biết đêm nay.

Nói đến đây Ngài tựa lưng vào bờ tường đá yên lặng trong phút giây đoạn nhìn tôi khẽ bảo:

- Lỗ San! hãy nhìn vào cái áo của chú đang mặc và hãy lấy tay sờ vào nó.

Tôi vội vã làm theo với điệu bộ của một thằng khùng khi nhìn thấy áo quần mình đang mặc bị rách tả tơi!

- Bộ y phục chú đang mặc đó là là vải. - Đức Lạt Ma nói chú khó lòng phóng qua lớp áo mỏng ấy để nhìn thấy những gì ở phía bên kia được. Song le, nếu chú quan sát nó qua làn kính hiển vi và khuếch đại thêm mười lần hơn thì sẽ thấy đó là những sợi lông cừu chứ không còn là những đường tơ nhỏ mứt. Ánh sáng sẽ len lỏi một cách dễ dàng qua từng khe hở. Nhưng nếu chú lại phóng đại gấp triệu lần hơn nữa, chắc chắn là chú không khỏi bối rối trước những sợi lông cừu "lớn quá cỡ"chồng chất lên nhau, tạo cho chú có cảm tưởng khó lòng mà vượt qua nổi. Thực ra không phải vậy. Chú đừng lo . Mọi việc xảy ra trong cõi đời đều có thừa trừ. Cái khối lông cừu vĩ đại ấy lúc bấy giờ có lắm kẽ rộng thênh thang. Rộng đến nỗi ta có thể cưỡi ngựa băng qua một cách dễ dàng mà chẳng thấy một chút nào khó khăn cả...

Thầy tôi có lý. Tôi sửa lại tư thế ngồi thật ngay ngắn và luôn luôn biểu lộ sự đồng tình của mình bằng đôi mắt dán chặt vào người.

-Thưa thầy! Tôi bất thần lên tiếng hỏi. Có điều con thắc mắc phải chăng ngoài đời sống trên mặt Địa cầu này, còn hằng hà đời sống khác nằm rải rác trong khoảng không gian vô cùng vô tận kia ?

- Thì ra chú chẳng khác nào như ông Abdul Chécour của chú. Ngày xưa chính ta cũng nghĩ như các chú vậy. Ta cũng nghĩ có những đời sống khác ngoài đời sống này...

Nói đến đây Ngài đổi sang giọng thật nhỏ nhẹ tiếp :

- Lỗ San à! Hãy ngồi lại cho thật ngay ngắn và hãy để cho tâm tư mình thật thoải mái. Ta sẽ trình bày cho chú nghe về cái "kiến thức siêu việt" của người xưa mà ta cùng các Bậc Chân Sư khám phá được nơi "Cổ Hiền Thạch Động".

- Cổ Hiền Thạch Động ? Tôi thảng thốt kêu lên .

Lòng hiếu kỳ thúc đẩy tôi muốn được nghe ngay cái gì bí mật bị chôn vùi trong lòng Thạch Cốc đã hàng bao nhiêu thế kỷ kia!

- Thưa thầy! Chúng con nóng lòng muốn biết những gì ẩn giấu bên trong lòng Cốc Đá?!

- Được ! Người mỉm cười gật đầu đáp lại. Ta sẽ kể tất cả cho chú nghe. Tuy nhiên trước khi đi sâu vào từng chi tiết bí mật đó chú cần phải am tường về đời sống của tiền nhân trong thời kỳ châu Atlantic (Ất Lân Tíc) còn hiện hữu trên mặt Địa cầu này!

Nói đến đây Ngài đưa mắt nhìn về tận phương trời xa thẳm dường như muốn sắp xếp câu chuyện cho có thứ lớp trước khi thuật lại. Với tôi thì đây là dịp may hiếm có sẽ được nghe tất cả mọi bí mật ẩn tàng bên trong lòng Thạch Cốc bao gồm cả một kho tàng về "nền văn hóa kiến thiết siêu linh" mà xưa nay mọi người đều muốn biết.

NHỮNG ĐẤNG THÔNG MINH SIÊU VIỆT


Đêm càng về khuya bầu trời càng yên tĩnh. Xa xa tiếng chó sủa từ làng xa vọng lại, tạo cho cảnh tượng về đêm nơi dãy Hy Mã Lạp Sơn đượm thêm màu huyền hoặc! Trên vòm trời vầng trăng non chênh chếch bóng. Mấy lá phướn treo trên các cột trụ được dựng lên trước sân đền rủ xuống phơ phất bay theo từng cơn gió thoảng. Sự yên lặng hoàn toàn chế ngự cảnh núi rừng, ngoại trừ tiếng côn trùng rả rích tấu lên như một điệu nhạc trầm buồn não nuột...

Tiếng cọt kẹt của chiếc luân xa bằng gỗ của nhà Sư Già đang công phu đâu đó quay bánh xe lăn để cầu nguyện Phật gia hộ cho mình, làm mất đi cảnh tịch mịch của núi rừng. Chẳng ai trong chúng tôi nói gì song mọi người đều biết nhà sư đó chưa thấu triệt cái "lý chân như" của đạo Phật như thế nào!

Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt đưa mắt nhìn như ngầm bảo cho biết là Ngài đã đọc được tư tưởng tôi đang nghĩ gì về tiếng cọt kẹt của chiếc luân xa kia.

- Tùy theo chúng sinh, Lỗ San à! Và cũng còn tùy theo đức tin và cả hoàn cảnh căn cơ nữa. Các chú không nên quá khắt khe với bất cứ ai còn quá cách xa với mình trên con đường "đạo". Bất cứ các cung cách lễ nghi hoặc các phương pháp tụng niệm nào cũng đều được xem là một vấn đề trọng yếu. Nó là niềm an ủi vô biên và cũng là phương tiện cần thiết phải có cho những kẻ tu hành. Chẳng khác nào như những người què quặt không thể bỏ nạng để đi bằng chính hai chân tàn phế của mình.

Thầy tôi cũng giải thích về vấn đề "Lý Trí và Bản Tính" của con người cho chúng tôi nghe. Càng lúc tôi càng cảm thấy gần gũi với thầy tôi hơn. Chính Người mới cho tôi sự hiểu biết và thương yêu mình thực sự. Tôi chăm chú nghe và thấy hứng khởi một cách lạ lùng. Chú Sa Quốc cũng chẳng khác gì tôi. Chú cũng chăm chú lắng nghe từng lời của Đức Lạt Ma giảng giải. Chú lớn hơn tôi rất nhiều và vốn có bản chất hiền hòa, riêng đối với tôi chú hệt như người từ mẫu, chăm sóc và thỏ thẻ hỏi han tôi từng ly từng tí.

- Lỗ San! Thế nào hả cháu? Có khỏe lắm không?

Mỗi lần như vậy hoặc tôi siết chặt lấy tay chú hoặc tôi gật đầu lễ phép tỏ bày sự biết ơn sâu xa của mình đối với chú. Trong lúc đó Ngài Lạt Ma đảo mắt nhìn quanh một vòng rồi tiếp tục giảng giải:

- "Ta nghĩ rằng các chú nôn nóng muốn biết sự cấu tạo của một vật thể ở cõi thế gian này làm sao mà có, do đâu mà ra? Thật ra, nó nằm trong "Nhất Động Nhất Tĩnh", theo qui luật âm dương của Tạo Hóa tạo thành. Mọi sinh vật trong vũ trụ bao la này đều có cùng một qui luật như vậy. Dãy Hy Mã Lạp Sơn trùng trùng điệp điệp với hàng bao nhiêu ngọn núi chọc trời cũng không ngoài sự cấu tạo của các tế bào góp lại, mà trong đó mỗi tế bào có sự luân chuyển riêng biệt của nó. Có nghĩa là nó có tính độc lập không cái nào va chạm cái nào. Chúng nâng đỡ lẫn nhau, chẳng khác nào vầng Thái Dương của chúng ta hiện hữu có nhiều hành tinh quay chung quanh và cùng đi theo một qui luật nhất định, chẳng bao giờ va chạm nhau được.

Đến đây, Ngài bỗng im bặt rồi hướng mắt nhìn tôi như để tìm hiểu tôi có thấu triệt được những lời lẽ Người giảng giải đó không? Đọc được ý tưởng của Người, tôi khẽ mỉm cười như ngầm bảo: "Thưa thầy! Con đã hiểu thật rõ ràng rồi. Xin thầy tiếp tục giảng giải. Con thật vô cùng thích thú và đang lắng nghe đây."

Trong lúc đang say sưa nghe lời giảng giải của Người thì bất giác tôi giật nẩy mình khi nhìn thấy một linh ảnh (bóng ma) đang chập chờn ẩn hiện trên một mỏm đá trắng nằm ven sườn núi kế cận. Linh ảnh không có một hình dáng nhất định mà thoạt ngắn thoạt dài đang quay cuồng dưới ánh trăng mờ ảo...Tôi trân trối nhìn quên cả mọi sự vật diễn biến chung quanh mình. Như nhận thấy được nỗi kinh ngạc của tôi đối với linh ảnh lạ lùng ấy, Ngài bèn xoay ngay sang đề tài này, cố ý giảng giải giúp tôi hiểu biết thêm về khía cạnh "Vật Thể của Linh Hồn".

- Lỗ San! Đối với chú thì cái bóng dáng ma quái ấy thật là lạ lùng mà cũng thật là khó hiểu. Nhưng đối với ta thì khác. Ta nhờ "Đắc Thần Thông" nên đã từng tiếp xúc với họ nhiều lần bên trong "Mật Tẩm". Chú đừng lấy đó làm điều quái gở. Các linh hồn đó đều là những con người như chúng ta đã sống và đã từ giã thế giới này để đi vào một thế giới khác. Thế giới đó do phân tử cấu tạo có khoảng cách thật xa nhau. Nhờ vậy mà tất cả các linh hồn đều có thể xuyên qua bất cứ bức tường nào cho dù dày đặc đến đâu cũng không hề bị vướng vấp hay trở ngại.

- Thưa thầy, con được nghe khi một linh hồn lướt cạnh ta khiến cho thân hình mình cảm thấy nhột nhạt khó chịu, chẳng biết có đúng như vậy chăng? Xin thầy giảng giải.

- Mỗi tế bào là một Thái dương hệ. - Thầy tôi đáp lại. - Và cho dù tế bào ấy lớn hay nhỏ cũng đều có điện năng bao phủ cả. Điện năng này không như điện lực của loài người chúng ta thường sử dụng mà nó thuộc về loại "điện năng siêu tầng" thập phần tinh vi. Từ luồng điện của các ngôi sao đổi ngôi trong màn đêm đen tối, đến những ánh hào quang rực chiếu lên vòm trời tím sẫm ở miền Bắc cực quanh năm lạnh buốt thấu xương đều do ở sự rung động mà phát xuất. Điều mà chú vừa hỏi tại sao khi có một linh hồn lướt ngang bên cạnh khiến ta có cảm giác nhột nhạt khó chịu cũng không ngoài cái nguyên lý này. Chẳng qua do sự đụng chạm của linh hồn với ánh hào quang của chính mình bao quanh cơ thể.

- Thế thì - tôi ngắt lời - thưa thầy, ánh hào quang bao quanh người chúng ta nhìn thấy đó có phải là điện năng không?

- Đúng vậy! Nhiều nước trên thế giới dùng dây kim loại để chuyển điện lực có tần số cao bắc ngang lưng trời đều phát ra ánh hào quang cả. Hầu hết các kỹ sư chuyên về điện lực cũng xác nhận như vây. Đó là một thứ hào quang màu xanh nhạt thường phát hiện vào những đêm tối trời hoặc các đêm có lắm sương mù bao phủ. Hào quang lúc nào cũng có sự rung chuyển bởi một nguồn điện năng của nó. Có điều ta có thể nhìn thấy ánh hào quang ấy hay không thì còn tùy thuộc vào nhân lực của mỗi người.

Nói đến đây thầy tôi có vẻ như trầm ngâm suy tư điều gì, mãi giây lâu sau khi nhìn thẳng vào tôi, Người dõng dạc nói:

- Rồi một ngày nào đây con sẽ được đưa sang Trùng Khánh theo học ngành y khoa. Ta nghĩ tằng lúc ấy con sẽ có dịp dùng các dụng cụ đo lường và phác họa các luồng điện năng trong các hệ thống não bộ của con người.

Đến đây thì chú Sa Quốc lên tiếng hỏi:

- Thưa thầy, nếu nói như vậy thì chẳng hóa ra đời sống của con người bị ràng buộc giữa "điện năng và sự chuyển động" sao?

Người vừa cười vừa đáp lại:

- Đúng vậy, Sa Quốc ạ! Không thể nào có điện năng mà chẳng có sự rung chuyển bao giờ ? Ví dụ có một nhạc khí như phong cầm chẳng hạn, với những tiếng tơ rung chuyển phát ra những âm thinh dài lê thê tưởng chừng như bất tận vi vút trên từng cung "bát âm" nối tiếp triền miên vẳng vọng đến tận một chốn vô cùng nào đó mà không bao giờ dứt được. Còn những âm thinh tiếp nối theo sau đó tuần tự thể hiện cho từng tiếng động chỉ vào nhân sinh quan, hoặc cho tình cảm, cho ý thức hoặc hướng vào một mục đích nào đó và hằng hà sa số các âm thinh hiện diện trên vũ trụ này mà ta không thể nào thu nhận được. Ví như tai của một con người chỉ có thể nghe được giọng trầm nhưng loài chó thì nghe được cả âm thinh nổi. Loài chó rất thính tai, nó phát hiện dễ dàng các âm thinh cao mà điều này thì chẳng bao giờ con người chúng ta có được.

- Nhưng, nếu ta muốn, liệu có được chăng?

- Được. Tuy nhiên ta cần phải luyện khoa "Thiên Nhĩ Thông". Nếu ta luyện được thì chuyện nghe tiếng nói của các vị thần linh nơi cõi "Siêu Thinh Giới" sẽ trở thành vô cùng dễ dàng.

Sau khi dứt lời giảng giải này, Đức Lạt Ma nhìn chúng tôi nói:

- Đêm nay các chú phải thức khuya hơn một chút để được biết những gì các chú lâu nay muốn biết. Ngày mai, các chú được nghỉ bù để lấy lại sức...

Nhắm nghiền mắt lại để dưỡng thần, giây lâu sau đó, thầy tôi bắt đầu lên tiếng kể tiếp:

- Từ ngày được thăm nơi Cổ Hiền Thạch Động và được sử dụng những dụng cụ lạ lùng nơi đó, ta đã nhìn tận mắt nhiều chuyện lắm lúc khó tin nhưng...lại là sự thật. - Thầy tôi nói như vậy - Từ xưa nay chúng ta cứ nghĩ rằng con người có khối óc thông minh hơn tất cả mọi sinh vật trên trái đất này, nhưng thật ra trước hiện tượng mà chính mắt ta nhìn thấy, có những sinh vật nhỏ hơn cả những vi khuẩn li ti không hình thù vóc dáng còn vượt xa hơn nhân loại hiện hữu và đó mới chính là những đấng "Thông Minh Siêu Việt". Họ biết sử dụng các dụng cụ siêu tinh vi ngoài cả sức tưởng tượng của loài người.

Bất giác chúng tôi không ai bảo ai đều im lặng khi Thầy tôi đưa tay chỉ về phía một nhà sư đăng đi thong dong dưới ánh trăng mờ ảo... Nhà sư này vừa đi vừa nghêu ngao ca tụng cái đẹp của đất trời:
- "Ôi! Đêm nay trời đẹp làm sao! Cảnh vật thật tuyệt vời! Nhưng tiếc thay ta không đủ lời để ca tụng, không đủ tiếng để tung hô mà cũng không đủ những danh từ hoa mỹ để ghi vào từng câu trong thi phú... Này! Vũ trụ kia ơi! Tạo hóa sao mà khéo tay lắm vậy!"

- "Vâng! Đạo hữu kia, lời Người nói đúng."

Giọng thánh thót của một nhà sư khác từ đâu đó bất thần xuất hiện lặp lại và tán tụng thêm ra: "Ôi! đẹp làm sao các vì tinh tú ấy! Nó lấp la lấp lánh tợ như những hạt kim cương rực tỏa giữa vòm trời... Nhưng hỡi ai kia! Ta muốn hỏi người hàng triệu triệu ngôi sao giữa màn trời tím sẫm đó có bao nhiêu thế giới như ta ở cõi thế gian này?!"

Ngừng lại trong giây lát, nhà sư này bỗng lại cất tiếng cười vang:

- "Ta cũng hỏi đời sống của chúng ta sinh ra với mục đích gì? Phải chăng ta sinh ra là để ca tụng cái đẹp của đất trời hay là để hận thù chém giết nhau đời đời kiếp kiếp giữa cuộc đời dẫy đầy sự ô trọc này?!"

Nhà sư lúc ban đầu mà thầy tôi chỉ đến, tên là Lão Bái hét lớn lên dường như muốn trút tất cả sự phẫn nộ của mình:

- "Ôi! cái người đạo hữu kia ơi! Người quả thật bậy bạ... thật bổ báng! Câu hỏi của lão nghe thật buồn cười. Lão há chẳng nhớ lời thầy dạy dỗ đó sao? Chỉ có con người ở thế giới này mới mang hình ảnh của thì làm sao có một sinh vật nào khác mang hình hài như chúng ta được nữa?! Ôi, cái lão già kia ơi! Lời nói của lão sao mà hoàn toàn vô lý vậy?!"

Thầy tôi mỉm cười nhún vai tỏ ý không tán thành lý luận của cả hai nhà sư kia đoạn cất tiếng bảo với chúng tôi:

- Có thể cả hai đều lầm lẫn.

Và như để thấm giọng, thầy tôi chậm rãi nhấm thêm chung trà đoạn nhìn tôi giây lát rồi trở lại câu chuyện "Những bí mật ẩn tàng bên trong lòng Thạch Động" của "nền văn hóa kiến thiết siêu linh" mà Người đã bảo sẽ nói lên tất cả sự bí mật của nó theo như lời Người đã hứa:

- Hẳn các chú muốn được biết một câu chuyện được ghi lại trong tập Kinh sách mà ta đã hứa. Đó là một câu chuyện nói lên những sự kiện thật lạ lùng xảy ra tại căn phòng thí nghiệm có dàn kính hiển vi tối tân bậc nhất đặt dưới quyền cai quản của hai nhà bác học. Một hôm, một trong hai nhà bác học này bỗng reo lên:

- "Tại sao lại có chuyện lạ lùng như thế này? Anh Trần ơi! Lại đây mà nhìn xem một sự kiện kỳ quái diễn ra dưới lăng kính hiển vi này".

Và khi nhà bác học họ Trần kia nhìn thấy một cảnh tượng khác thường hiện ra trước mắt mình cũng phải kêu lên:

- Trời ơi! Đúng, đây phải chăng là hình ảnh của một vũ trụ nằm trong ống kính.

Rồi như một nhà diễn giả thuyết trình về hình ảnh lạ lùng kia về hiện tượng này:

- "Này đây là hình ảnh của một mặt trời rực đỏ...và kia là những hành tinh đang luân chuyển xoay quanh nó...Tất cả đều không đứng yên một chỗ ngoài cái mặt nhật như một lò than hồng rực cháy kia, chúng luôn luôn biến hóa ra muôn hình vạn trạng mà con mắt của thế nhân không thể nào nhận thấy!

Rồi một trong hai nhà bác học kia nói: "Ước gì ta có được những dụng cụ khuếch đại những hình ảnh bé nhỏ kia để tìm xem liệu trong cái thế giới li ti ấy có đời sống nào khác nữa hay không?".

"Không ! Không thể nào có được. Có thể chúng ta bị ảo giác đánh lừa mất rồi". Nhà bác học kia đáp lại " Ông anh không nhớ sao? Chúng ta đã từng được giảng giải qua một giảng sư khoa học rằng là chỉ có loài người trên dương thế này mang hình ảnh của Người mà thôi, ngoài ra không còn một sinh vật nào dù có ở bất cứ một thiên thể trong hàng ngàn triệu thiên thể trong vòm trời bao la này...".

Nói đến đây, thầy tôi đưa mắt nhìn lên các vì sao đang lấp lánh giữa vòm trời tím sẫm, rồi từ từ dưa tay vào túi áo móc ra cái hộp đựng quẹt lửa mua từ Ấn Độ, lấy ra một que diêm đưa cao lên về phía chúng tôi nói :

- Lỗ San! Hãy xem đây! Ta sẽ trình bày cho chú thấy sự cấu tạo của vũ trụ (creation) như thế nào?

Dứt lời, thầy tôi đặt ngay đầu que diêm vào mặt của cái hộp có hóa chất bật lên cháy thành ngọn lửa, cũng ngay sau đó Người thổi tắt đi đoạn mỉm cười nhìn chúng tôi nói:

- Các chú biết đó là thế nào không ?

Và không đợi chúng tôi suy nghĩ đáp lại, thầy tôi tiếp tục giảng giải:

- Đó là "Tạo thành và Hủy diệt". Khi ngọn lửa đang cháy là có cả ngàn phân tử kết tụ lại. Mỗi phân tử là một thế giới riêng biệt không đụng chạm đến nhau. Rồi các phân tử ấy lại kết tụ trở lại để hình thành ra vũ trụ.

- Vậy thì thưa thầy, mỗi thế giới đều có sự sống bên trong, nó tuần hoàn và tăng trưởng để rồi đến một giai đoạn nào đó đúng với chu kỳ của nó, tất cả đều phải đi vào con đường hủy diệt như que diêm và hộp quẹt của thầy mang ra ví dụ đó sao?

- Đúng! - Thầy tôi cười, trông có vẻ hài lòng về câu hỏi này

- Sự sống nơi nào có sinh vật như hành tinh của chúng ta đều phải theo quy luật của trời đất, có nghĩa là phải làm nhiệm vụ phát triển giống nòi từ đời này sang đời khác. Các sinh vật có thể tồn tại đến hàng triệu triệu năm, nhưng không có nghĩa là vĩnh viễn, mà tất cả, cuối cùng rồi cũng phải tàn tạ, tan biến trong cái vô cùng mênh mông của vũ trụ!

Tôi tò mò hỏi:

- Thầy có thể cho chúng con biết cái mối đầu của vũ trụ không ?

Nhìn tôi trong phút giây, thầy tôi giải thích:

- Cứ theo Kinh sách thì Vũ trụ nguyên thủy vốn không đồng đều. Ví như ở những địa điểm cường độ bức xạ thì cao hơn, tất nhiên mật độ vật chất và từ trường hấp dẫn cũng tăng theo. Cũng theo Kinh sách cách đây 16 tỷ năm giữa cái cái mênh mông trời đất còn trong cảnh hỗn mang đó bỗng phát ra một tiếng nổ làm long lở cả vòm trời, tạo thành những đám mây mù nguyên thủy . Tiếng nổ kinh hồn khiếp vía đó biểu trưng cho ngày khai sinh ra Vũ trụ. Nhật, Nguyệt xuất phát ra từ đó mà Mặt Trời là mầm mống của Thiên hà. Các đám mây dần dà phân tán ra nhiều mảnh tạo nên những ngôi sao mà các chú đang nhìn thấy chúng lấp lánh trên nền trời xa xăm và tím sẫm kia. Thực tế cho ta thấy sự sự cấu tạo ra những Thiên hà là một quá trình vô cùng phức tạp . Tiếc thay ta không có đủ thời giờ để giải thích một cách cặn kẽ được. Sư tổ đã từng giảng giải cho ta biết chẳng phải duy chỉ có thế giới này, mà nó còn có lắm cõi sống khác nữa. Tưởng tất cả chúng ta cũng nên nhớ rằng mỗi hạt nhân là một bầu trời thế giới. Hạt nhân nào cũng được xem là một cơ bản . Đó là lý luận chung chung, còn riêng phần Sư Tổ lại cho rằng chỉ có điện tử và quang tử mới thực sự mang tính chất đơn thuần biệt lập. Như ngày nay ta thấy các hạt nhân Proton, Electron, Neutron v.v.. là những nguyên tử và phân tử có khả năng hấp thụ đồng thời phát bức xạ ra một đám khí nguyên tử... Cứ mỗi hạt tách ra thành một vũ trụ. Như vậy, ta có thể cả quyết cho rằng vũ trụ chẳng phải một, cũng không hai hoặc ba, bốn, năm, sáu... mà là hằng hà sa số... Tóm lại, việc tìm hiểu sự hình thành của Thiên hà vẫn còn đang là một vấn đề thời sự...

Tôi thắc mắc hỏi :

- Vậy, thưa thầy Vũ trụ nguyên thủy như thế nào? Con còn chưa rõ!

- Nó thật vô cùng! Tuy nhiên ta có thể nói đại khái để chú tường tận một phần nào, đợi đến khi nào chú theo học các bậc cao hơn sẽ thấy các sự việc xảy ra trong thời kỳ Vũ trụ còn nằm trong trạng thái hỗn mang huyền nhiệm như thế nào. Ví như thuyết Vũ trụ nổ bắt đầu từ một điểm kỳ dị. Sở dĩ dùng cái danh từ "kỳ dị" bởi nó nó bắt đầu từ một điểm mà không có một danh từ nào hơn từ "huyền nhiệm"! Nói đến cái mối đầu của Vũ trụ thì chẳng một ai không nghĩ đến sự già nua của nó! Muốn biết tuổi của Vũ trụ phải đi ngược lại thời gian cho đến điểm kỳ dị lúc mà tuổi và bán kính của Vũ trụ là số Zero và từ con số Zerô này người ta lấy đó làm mốc. Danh từ mà chúng ta ngày nay thường dùng cho "cái nghĩa của mốc thời gian" chỉ vào khoảng thời gian và không gian nào đó. (Tại điểm này những định luật của toán học vật lý cũng như thuyết tương đối rộng không thể áp dụng được)*

- Còn, thưa thầy con muốn được rõ hơn những giây phút đầu tiên trong vụ nổ đó!

Thầy tôi nhìn tôi đăm đăm, được một lúc Người bắt đầu cho tôi được một phần thỏa mãn về sự tò mò đối với câu hỏi này:

- Kinh sách nói: "Sau vụ nổ, Vũ trụ sẽ giản nở ra và tất nhiên là nhiệt độ sẽ được giảm dần". Chỉ trong vòng ba phút cũng đã quá đủ rồi. Vũ trụ tiến hóa rất nhanh với nhiều sự kiện không giống nhau, có nghĩa nó biến hóa một cách phi thường. Tuy nhiên, chú nên biết rằng nếu Vũ trụ lúc bấy giờ chỉ đánh đổi đi một chút, chỉ một chút thôi nha, thì cả cái Vũ trụ bao la này đã đổi khác hẳn hơn cái Vũ trụ mà chúng ta đang ở đây, có nghĩa là chúng ta đã không có sự hiện diện trên hành tinh này.

- Thưa thầy, - tôi hỏi - vậy thì mỗi thế giới đều có sự sống bên trong và cùng chung một định luật như thế giới của chúng ta hiện hữu ?

Thầy tôi gật đầu:

- Như ta đã dẫn chứng, khi ngọn lửa được bật cháy lên thành lửa ngọn tức là nói lên sự "Tạo Thành". Và ngược lại, lúc ngọn lửa bị thổi tắt đi thì đó là sự "Hủy Diệt". Tất cả đều như nhau, chẳng ai có thể tránh thoát được định luật .

Sau lời giảng giải này, thầy tôi đứng lên hẹn sẽ gặp lại vào một đêm đẹp trời khác rồi lách mình mất hút bên sau bờ đá. Vầng trăng trên vòm trời trông có vẻ u buồn trải dài lên khắp sơn khê một màu vẩn đục như váng sữa...

Càng về đêm gió càng lộng. Tôi cùng chú Chécour đi về hướng cầu thang lần mò xuống dưới hầm chùa tìm nơi ngủ tạm qua đêm. Tuy đã cẩn thận lần đi từng bước song vẫn không tránh khỏi bị sẩy chân trượt ngã khi vô ý giẫm lên bãi dầu "bơ" bê bết làm trơn trợt cả các bậc cầu thang . Lúc bấy giờ tôi chẳng khác nào như cái bị bông rơi đánh bịch xuống tận chân cầu khiến chú Chécour hốt hoảng la lên bai bải làm kinh động cả khu hầm giữa lúc mọi người đang say ngủ phải giật mình càu nhàu.

- Lỗ San! Lỗ San ơi! Có sao không ?

Tuy bị đau thấu xương, tôi vẫn cố trấn an gắng gượng đáp:

- Không sao cả chú à! Chỉ hơi ê một chút thôi.

Vừa dứt lời, có bàn tay của ai nắm chặt vào cổ tôi xô mạnh về phía trước làm tôi chúi mũi xuýt chút nữa đâm người vào cây cột đá được dựng lên giữa khu hầm. Thế là tôi cùng chú Chécour quờ quạng nắm lấy tay nhau chạy thục mạng về phía bên trong hầm chùa để lẩn tránh. Chạy quanh co một lúc, cuối cùng cũng tìm ra được phiến đá phẳng lì khá rộng bèn chia nhau nằm ngủ qua đêm. Vừa đặt lưng xuống, tôi đã thiếp ngay đi không còn biết trời trăng gì nữa. Mãi đến khi mặt trời lên quá con sào tôi mới giật mình tỉnh dậy song đôi mắt vẫn còn dính chặt vào nhau. Trong lúc ấy bên tai tôi nghe văng vẳng có tiếng quát tháo ầm ĩ của một chú tiểu:

- Dậy đi! Nhanh lên...ông bạn nhóc con ơi!

Tôi giật mình và cố mở mắt ra nhìn. Thì ra đứng trước mặt tôi là một chú tiểu mập ú na ú nần mà chúng tôi thường gọi đùa bằng cái ngạo danh con lợn ỉ. Có thể chú muốn giương cao uy danh mình nên khi tôi vừa lo mò đứng dậy chú tiểu này lấy chân thốc mạnh vào mông tôi quát lên hối thúc:

- Thượng tọa Trụ trì cho gọi anh đấy... Không phải chơi đâu. Đi nhanh lên kẻo trễ bị ăn đòn đấy...

Nghe đến tên Thượng tọa Trụ trì tôi hơi ớn nên vội xốc lại áo quần cho chỉnh tề, chúc sức khỏe chú Chécour rồi phóng nhanh ra cửa chạy bán sống bán chết. Lúc bấy giờ dạ dày tôi bắt đầu cồn cào khó chịu, vừa đi vừa lẩm bẩm :

- Làm sao mà cứ gọi người ta vào ngay giờ ăn thế này? Đói muốn chết được đây...

Tuy vậy, tôi vẫn cắm đầu chạy dọc theo hành lang vòng quanh theo các bờ tường dài của chùa làm cho các vị Sư Già đang đứng rải rác đâu đó vội né sang bên để tránh khỏi bị đâm nhằm, trên mặt họ hiện ra vẻ bất bình.

May mắn thay! Tôi đến văn phòng cũng vừa kịp đúng giờ. Trong khi đó vị Thượng tọa Trụ trì đang xem xét hồ sơ một cách khá chăm chú và như đã biết có sự hiện diện của tôi, Ngài ngẩng mặt lên nhìn tôi cười:

- À! Thì ra cái chú nhóc con đã ngã xuống chân cầu làm cho bao nhiêu người náo loạn cả lên đêm rồi...

Nói đến đây Ngài ngưng lại chăm chú nhìn tôi đoạn vừa cười vừa tỏ lời khen tặng :

- Chú nhóc con ơi! Chú học khá lắm...Trình độ Vật Lý học của chú được ghi nhận là xuất sắc nhất. Học bạ ghi chú thuộc vào hạng ưu. Bởi thế ta phải đặc biệt giao chú lại cho Đức Lạt Ma Minh Dà Đông Đạt. Ngài sẽ nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt chú trên đường học vấn. Đây là ân huệ tối hậu đặc biệt Ngài sẽ dành riêng cho chú. Ta hy vọng chú sẽ xứng đáng với lòng ưu ái của Ngài...

Nói đến đây vị Trụ trì nheo mắt nhìn tôi vừa khôi hài vừa tỏ vẻ trìu mến:

- Xong rồi! Bây giờ chú về gặp ngay Minh sư của chú đi! Chúc chú thành công...

Dứt lời Ngài mỉm cười với tôi lần nữa như thể tiễn đưa lần cuối với đứa học trò ngoan của mình và lại lẵng lặng quay đầu lại tiếp tục xem xét các hồ sơ khác. Tôi vừa rảo bước đi vừa yên lòng vì biết các lỗi vụn vặt của mình không bị ghi vào trong học bạ.

Vừa đặt chân đến văn phòng thì đã gặp ngay thầy tôi đang ngồi đợi sẵn. Có lẽ vì biết tính xấu đói của tôi nên Thầy tôi cười vui vẻ :

- Đã ăn uống đầy đủ chưa ?

- Thưa thầy, Ngài Trụ trì cho gọi trong lúc con còn chưa tỉnh ngủ hẳn, vội chạy đến ra mắt ngài và sau đó lại được lệnh bảo đi ngay đến trình diện Minh sư...nên vẫn chưa ăn uống gì cả ạ!

Nghe tôi vừa nói dứt lời, thầy tôi đã phá lên cười:

- Đi tìm thức gì ăn đi rồi trở ngay vào đây. Ta có chuyện cần...đến chú.

Rồi tiếp theo bằng lời nói bông đùa :

- Trông dáng điệu chú làm như là đã nhịn ăn mấy ngày liền rồi vậy.

Mặc dù bị cơn đói dày vò thật sự nhưng tôi cố gắng không tỏ ra cử chỉ nào có vẻ vội vàng cả mặc dù càng lúc dạ dày tôi càng cồn cào và chân tôi như không còn đứng vững được nữa. Sau khi có bữa điểm tâm thật ngon lành tôi cảm thấy tỉnh táo hẳn lại. Nhưng cũng từ giờ phút ấy tôi mới bắt đầu ưu tư cho công việc phải làm gấp bao nhiêu lần nhiều hơn như đã được thông báo trước.

Vừa trở lại văn phòng đã trông thấy thầy tôi đang ngồi loay hoay sắp xếp sách vở vào tay nải, nghe tiếng động Ngài quay lại bảo tôi:

- Chúng ta phải sang ngay ngọn Phổ Đà La (Potala) và ở lại nơi đó một tuần.

Thế là ngay sau đó chúng tôi tức tốc rời khỏi phòng.

Vừa ra đến sân nhác thấy ngay ông Sãi đứng canh chừng bên cạnh hai con tuấn mã chờ đợi chúng tôi sẵn từ lúc nào. Bất giác một nỗi buồn man mác xâm chiếm trong tâm hồn tôi khi nhìn con tuấn mã từ tay ông Sãi dắt lại trao cho. Con vật cũng nhìn lại tôi trông nó có vẻ buồn thảm hơn. Dường như nó cũng thông cảm và ái ngại hộ cho tôi sắp phải trải qua những nỗi gian lao nơi đèo heo hút gió. Lặng lẽ leo lên mình ngựa mà lòng tôi mang nặng nỗi ưu tư! Với tôi thì cái gì cũng tạm được song đối với môn cỡi ngựa thì lại còn rất kém.

Người và vật rong ruổi ven theo bờ núi tới ngọn Trắc Phổ Di, lần bước xuống dốc ngang qua con lộ Mã Nê, nhìn sang bên phải là con đường Bát Nhã. Ngồi trên lưng ngựa đi một khoảng thời gian lâu chúng tôi mới vào đến làng So. Nơi đây tạm nghỉ trong chốc lát để lấy lại sức,thầy trò tôi lại bắt đầu tiếp tục cuộc hành trình. Trải qua các dốc đá khá cao nữa mới đến ngọn Phổ Đà La. Con dốc vừa cheo leo vừa thẳng đứng, lại vừa ngoằn ngoèo hiểm trở. Nhận thấy cơ nguy bị trượt ngã lúc nào cũng có thể xảy ra, vì vậy tôi luôn luôn thận trọng từng bước.

Tuy đường sá khó khăn song khách thập phương lai vãng khá đông. Kẻ lên người xuống trông có vẻ tấp nập. Thỉnh thoảng có người dừng chân lại để vừa nghỉ mệt vừa ngoạn cảnh núi rừng. Đi thêm một chặng dài nữa thì chúng tôi đến tận đỉnh cao của ngọn Phổ Đà La. Tôi thầm cảm tạ Ơn Trên đã ban cho nhiều may mắn trong cuộc hành trình lắm gian truân này. Rời khỏi lưng ngựa nhìn xuống chân núi bất giác cảm thấy rợn cả người. Con vật như tuồng cũng thở phào ra. Trông nó có vẻ cáu kỉnh quay nhìn lại phía tôi đang đứng.

Chúng tôi lại bắt đầu đi bộ trèo hết thang dây này đến các thang dây khác bắc cheo leo ngang lưng sườn núi. Khi đến tận ngôi chùa Phổ Đà La, thầy tôi được dành riêng cho gian tịnh thất gồm khu nhà có phòng ốc Khoa học đầy nhóc các dụng cụ máy móc của nền văn minh tối cổ lưu lại. Tôi cũng được cấp cho căn phòng ở trong một khu nhà kế cận thấp hơn phòng của thầy tôi một tầng. Đứng nơi cửa sổ vọng mắt nhìn ra bên ngoài trông thấy được toàn bộ vùng Lạt Sa và cả một cánh đồng mênh mông rộng lớn. Xa xa ngôi đền Du Khang với mái vàng sáng chói làm hoa cả mắt.

Con đường Linh Cơ ngoằn ngoèo bao quanh thành Lạt Sa mỗi ngày có cả hàng ngàn thiện nam tín nữ thập phương tấp tập kéo đến để dâng hương và chiêm ngưỡng nơi có ngôi trường dạy Thần Bí Học lớn nhất thế giới. Tôi thầm tạ ơn Phật cho mình sự may mắn gặp được vị minh sư Lạt Ma Minh Đà Đông Đạt . Nếu không có định mệnh an bài thì có lẽ tôi cũng chỉ là một chú tiểu tầm thường như trăm nghìn chú tiểu khác. Có nghĩa là những chú tiểu chỉ biết cặm cụi làm việc và chui rúc ngủ dưới hầm chùa tối tăm ẩm thấp. Làm sao có diễm phúc trèo lên được tận đỉnh núi này, một nơi được xem gần như cao nhất thế giới ! Trong lúc đang nghĩ vẩn vơ thì...cả người tôi bất thần bị nhấc bổng lên cao. Tôi hốt hoảng kêu rú lên víu chặt lấy hai cánh tay hộ pháp nào đó, đôi chân tôi giẫy nẩy, mắt nhắm nghiền lại phó mặc cho toàn thể châu thân mình bị xoay tròn như con vụ.

- A! cái chú nhóc chỉ biết nghĩ có mỗi mình minh sư đã đưa lên đỉnh Phổ Đà La này mà chả cần biết đến ai nữa phải không?

Tiếng nói oang oang như xoi thủng cả màng nhĩ. Tôi giẫy nẩy kêu lên oai oái . Con người có hai cánh tay hộ pháp này cũng chẳng thèm lưu ý. Ông ta cười hô hố làm chói cả tai.

- A! chú nhóc nghĩ cái gì đó? Có phải chú nghĩ về hai cánh tay tợ như hai cái gốc cổ thụ này không?

Tôi nhận ra đó là tiếng nói của một nhà sư áo vàng. Nhà sư này vừa nói vừa cười ha hả trông có vẻ thích thú lắm. Tôi không hiểu bằng cách nào mà ông có thể đọc được tư tưởng của tôi lúc này. Nhưng rồi, tức khắc sau đó tôi cũng được trả về lại vị trí cũ một cách nhẹ nhàng. Nhà sư nhìn tôi với ánh mắt hiền hòa rồi nói:

- Này chú bé thân yêu ơi! Chúng mình đã quá quen thân nhau trong tiền kiếp. Cái kiếp mà hai chúng ta đều được liệt vào hàng kiến thức, am tường được mọi việc,thông đạt được mọi cảm nghĩ của mọi người. Chú chỉ cần ôn lại thì cái kiến thức đó sẽ trở về ngay với tiềm thức của mình. Ta sẽ giúp chú điều ấy. Hãy đến tại phòng ta và bắt tay ngay vào việc ấy.

Nhà sư nói xong liền quày quả bỏ đi, nhanh đến nỗi chỉ trong nháy mắt là mất dạng. Tôi xốc lại áo. Nhặt cái bát nằm lăn lóc ở ven sườn núi lúc bị nhà sư hổ mang đó nhấc bổng lên khiến nó rơi xuống, may mắn là chưa hề hấn gì. Thế rồi tôi lầm lũi trở về phòng đợi lệnh.

********************

Thầy tôi nói đến đây đoạn nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ:

- Lỗ San! Chú hiểu lời ta nói chứ ?

- Vâng, thưa thầy con hiểu...

- Đừng bao giờ nghĩ ngọn lửa của Vũ Trụ là một hình ảnh phi thường.Thật ra nó có một hình thù kỳ quặc ở môi trường khá hấp dẫn. Ngọn lửa vũ trụ không bao giờ bốc lên cao như chúng ta thường trông thấy những ngọn lửa hiện hữu, mà nó thu lại trông hệt như hình thù của một quả bóng rực cháy hay có thể nói đúng hơn thì đó là một quả cầu lửa. Ngọn lửa không đủ mạnh này đã tự nó vỡ thành từng phần lơ lửng bay như những quả bóng nhỏ trông hệt như những vật lạ bồng bềnh giữa khoảng không gian. Theo Kinh sách thì chính những quả bóng lửa đó hàm chứa cả một sự bí mật đòi hỏi phải là một khối óc siêu phàm mới có thể hiểu được. Đối với loài người thì ngọn lửa kỳ diệu này sẽ luôn luôn là một thứ khó hiểu. Bởi sự phức tạp không thể minh định được nó xuất phát từ đâu và ý nghĩa đích thực của nó là gì? Ngọn lửa đèn bình thường xuất hiện bởi hàng nghìn những phản ứng khác nhau, các phân tử của nó (mà ngày nay ta gọi là Hydrocarbon được hút lên thay bấc đèn bị bốc hơi và chất nhiệt của nó bị hủy hoại. Các phân tử này sản sinh ra ánh sáng luôn cả nhiệt và khí. mà theo khoa học ngày nay giải thích chúng được kết hợp lại với Oxy và Nước.)

- Thưa thầy, làm thế nào mà nó tự cháy được, nếu không có một bàn tay mầu nhiệm nào thắp sáng? Tôi lên tiếng hỏi.

- Bằng vào một sự hỗn loạn vừa phải của các phân tử không khí chung quanh khiến cho ngọn lửa bốc cháy nhanh hơn, có điều nếu bị hỗn loạn quá đáng nó lại có phản ứng ngược lại, có nghĩa là nó bị tắt ngấm ngay.

- Thưa thầy, con muốn biết cặn kẽ lý do nào nó như vậy?

- Chính Kinh sách cũng chưa khẳng định được. Đó là lý do khiến nó phải có phản ứng ngược lại. Ta nghĩ đó là bí mật của trời đất... (Tưởng chúng ta cũng nên biết rằng khi lửa cháy thì một số mảnh vỡ của Hydro-Carbon từ nhiên liệu được hút lên theo bấc đèn sẽ tạo ra các phân tử hình khuyên gọi là Polycyclic Aromatic Hydro Carbons. Một số mảnh vỡ khác thì tạo ra chất bồ hóng - tức là chất khói bị quyện lại với nhau mà ta thường thấy ở các chỗ bếp của các người dân nghèo khổ của các quốc gia nhược tiểu. Sau đó các phân tử bồ hóng này có thể bị đốt cháy hoặc bị cuốn bay ra ngoài và biến mất vào cái mênh mông vô cùng của Vũ trụ!)

- Như chúng ta biết bình thường các khí lạnh đẩy khí nóng lên cao,vì vậy mà ta thấy vị thế ngọn lửa luôn luôn có xu hướng vươn thẳng lên. Hiệu ứng này người ta gọi là "độ nổi" của ngọn lửa trong không khí.

- Nói như vậy, thì ở môi trường hấp dẫn yếu như ngọn lửa thiên nhiên đầy bí mật ấy chẳng hóa ra bị triệt tiêu sao? Tôi hỏi.

- Hoàn toàn bí mật. Kinh sách bảo chưa có ai có thể tìm hiểu được điều gì bên trong cái bí ẩn ấy, Từ xưa nay, trên mặt Địa Cầu mà ta đang ở chưa có một Kinh sách nào từ Đông sang Tây nghiên cứu được quả bóng lửa trong thời gian dài triền miên kể ngay từ cái mốc thời gian khởi đầu Vũ Trụ! (Điều này tưởng ta nên biết cứ một cú rơi theo trục dài ví như trong 30 mét, chỉ mất có vào khoảng hai giây. Ngày nay cơ quan hàng không Vũ Trụ - NASA - đã tìm ra được cách tạo ra quả bóng lửa trong một khoang kín ở chiếc tàu con thoi. Ban đầu máy tính dự đoán quả cầu lửa sẽ có kích thước rất nhỏ và chỉ tồn tại trong vòng vài phút, Tuy vậy, trên thực tế quả bóng mà cơ quan NASA tạo ra còn lớn hơn sự dự đoán đến ba lần và thời gian cháy kéo dài đến 8 phút.)

Tôi đang miên man suy nghĩ sự bí mật của quả cầu lửa thì thầy tôi lớn tiếng hỏi:

- Lỗ San ! Chú đã suy nghĩ về vấn đề đời sống sinh vật mà chúng ta đã bàn luận đêm rồi chưa?

Tôi ấp úng trả lời:

- Thưa thầy, nguyên con còn đang ngái ngủ thì bị vị Trụ Trì cho gọi đến. Sau đó thì con đến gặp thầy, rồi thì đi điểm tâm và cuối cùng quay lại đây gặp thầy lần nữa. Thật quả con không đủ thời giờ...

Không đợi tôi nói hết lời, thầy tôi mỉm cười bảo:

- Bây giờ ta tiếp tục kể câu chuyện còn dở dang của đêm qua trước khi cùng chú bàn thảo về các vấn đề khác...

Đến đây, thầy tôi ngưng lại với tay lấy một tập sách viết bằng ngoại ngữ trên giá sách để trên mặt bàn. Tôi ngạc nhiên vì đó là một tập sách viết bằng Anh ngữ và chắc chắn Người sẽ bàn cùng tôi vấn đề gì đây nữa!

Thầy tôi lật qua trang sau cùng của tập sách rồi chỉ vào hình ảnh bên trong hỏi:

- Chú có biết đây là những hình ảnh gì không?

Dán mắt vào tấm hình được in ấn trong tập sách tôi hơi ngờ ngợ và dường như có cái gì đó quen thuộc mà chưa kịp nghĩ ra. Mấy dòng chữ ghi chú bên dưới tấm hình thì tôi không thể đọc được!
- Lỗ San có thể không đọc được loại chữ này nhưng chẳng lẽ không nhận ra được bức hình trong sách đó sao ?

Thấy tôi ngơ ngác thầy tôi mỉm cười nói:

- Đó là hình ảnh của một vị linh thần...Chú nhớ lại thử xem.

Trong óc tôi bỗng lóe lên một tia sáng mường tượng "cái gì đó", song vẫn không thể xác định được "cái gì đó" là gì ? Thầy tôi đưa tay chỉ vào từng tấm hình đoạn giảng giải:

- Tuy hỏi chú như vậy song ta cũng biết là chú khó lòng nhớ rõ được. Ta nghĩ rằng chú có thể mang máng nhớ rằng là có một lần nào đó chú đã nhìn thấy họ, nhưng không thể nhớ được họ là ai và tại nơi nào. Ta có thể xác quyết là chú đã từng gặp các vị thần linh này.

Tất cả mọi đời sống như ta đã thảo luận đêm qua đều do những cọ xát có mức độ rung chuyển nhanh của vật chất phát sinh ra điện lực. Vậy thì, chắc chú thừa rõ điện lực là "đời sống của vật chất", chẳng khác nào như làn sóng bát âm. Ví như người bình thường chúng ta rung chuyển theo những âm giai trung bình chỉ nghe thấy trong một phạm vi nào đó. Nhưng đối với các "thần linh", các "linh hồn" hoặc các ma quỉ thì phát ra những âm thanh qua luồng sóng cao mà con người bình thường chúng ta nếu không được truyền pháp thì không thể nào nghe thấy được,

Nói đến đây Người nhìn tôi hỏi:

- Lỗ San ! Chú có hiểu tại vì sao không?

- Thưa thầy, có thể những linh hồn đó ở nơi thế giới vô hình!

- Đúng vậy. Đối với nhãn quan của con người không thể nghe thấy được loại âm thanh cao như vậy.

- Thưa thầy - đã có bao giờ thầy sờ vào hình bóng và nắm bắt được bóng ma nào chưa?

- Có chứ. Thầy tôi trả lời. Ta nắm được chúng chứ, nhưng những lúc như vậy ta phải nâng cao tần số tốc độ của mình ngang với tốc độ chuyển lực của linh hồn đó.

Đến đây, thầy tôi trầm ngâm suy nghĩ trong giây lát rồi nói tiếp:

- Ta sẽ nói lại vấn đề này rõ hơn trong một ngày khác.

Đến đây, Ngài đưa tay vào túi lấy ra cái chuông bạc lóng lánh khẽ rung lên vài tiếng. Một âm thanh trong trẻo vang lên. Tôi được biết là cái ngân chung này do một vị Thượng Tọa trụ trì tại một Thiền đường nổi tiếng ở Tây Tạng tặng cho Ngài. Tiếng chuông ngân nga vừa dứt liền sau đó một chú tiểu quen thuộc giữ nhiệm vụ phục dịch bưng ra một khay trà thơm ngon của xứ Ấn cùng với loại bánh ngọt nhập cảng đặc biệt không giống với bánh Tsampa thông thường mà tôi ăn hàng ngày. Loại bánh đặc biệt này dành riêng cho các vị Đạt Lai Lạt Ma cũng như cho các Đại Sư mà thôi. Đức Đạt Lai Minh Dà Đông Đạt đã từng chu du khắp nơi. Ngài có hai phép để đi, hoặc bằng Thần Pháp hoặc bằng Nhiếp Hồn.

- Mấy mươi năm về trước khi ta còn tuổi trẻ, có lần vì sắp bị trễ buổi lễ, không còn cách nào hơn là phải chạy thục mạng xuyên qua bức tường bên kia mới may ra kịp giờ đảnh lễ. Trong lúc chạy bán sống bán chết tự nhiên ta cảm thấy một sức cản nào đó như muốn chận lại. Ta ngước mặt lên nhìn, bỗng nhác thấy một nhà sư có thân hình hộ pháp chạy đâm ngang với tốc độ còn hơn cả tốc độ của ta băng băng chạy đến. Ta định đứng dừng lại để tránh, nhưng đã muộn rồi. Không còn biết làm sao nữa, đành lao thẳng vào thân hình hộ pháp của nhà sư kia. Tôi nghĩ là phen này sẽ phải xảy ra một tai nạn mà hậu quả sẽ khó thể đo lường được. Nhưng may mắn thay...cả hai chúng ta như hai luồng hơi xuyên thủng qua nhau mà chẳng bị hề hấn gì. Giữa lúc ta còn bàng hoàng thì nhà sư hộ pháp kia đã đứng lại nhe răng ra cười rồi chẳng nói chẳng rằng, nhà sư kia lại tiếp tục bỏ chạy... Ta cũng vậy. Vì giờ đảnh lễ sắp đến, ta cũng cắm cổ lao vút người như bay về hướng bờ tường trước mặt, miệng lẩm bẩm tự hỏi tại sao mình lại không dùng "Thần Pháp" mà lại chạy thục mạng như vậy?

Ngài nhoẻn miệng cười nhìn tôi:

- Chú biết không, suốt đêm hôm ấy ta không thể nào ngủ nghê được. Điều làm cho ta phải suy nghĩ là tại làm sao mình không nắm được "hồn ma"? Thế là bắt đầu từ đó ta tìm mọi cách để thực hiện cho kỳ được. Ta tự vạch lấy chương trình học và học một cách khoa học, chu đáo. Trước hết ta tìm đọc các Kinh thư và đồng thời tham khảo ý kiến và học hỏi các vị Chân tu trong lòng Thạch Cốc.

- Và thầy thành công ? Tôi nóng lòng muốn biết nên ngắt lời thầy tôi.

- Tất nhiên là ta thành công. Quả như lòng mong ước, ta thực hiện được điều này.

- Có nghĩa là thầy nắm được "hồn ma"?

- Bắt đầu từ đó ta thường xuyên giao tiếp với tất cả các linh hồn nào ta muốn gặp bằng nhiều hình thức, hoặc cùng họ đàm đạo suốt đêm, hoặc cầm nắm tay họ mà chẳng có lấy một chút khó khăn nào.

Nói đến đây thầy tôi ngưng lại trong giây lát rót thêm trà vào chung. Hương trà tỏa lên mùi thơm ngạt ngào. Người nhấp từng ngụm một, trầm ngâm như để thưởng thức hương vị của loại trà nổi tiếng xứ Ấn rồi thong thả nói:

- Như chú đã biết đời sống chỉ là một khối gồm các phân tử, như một thế giới li ti xoay quanh các mặt nhật cũng cùng loại nhỏ bé như vậy. Nhờ tốc độ cọ xát phát sinh ra một chất mà ta gọi là điện. Nếu ăn uống đúng theo phương pháp thì tốc độ trong người chúng ta được tăng trưởng. Ta không nói đến vấn đề huyền bí mà chỉ nói đến phương thức dinh dưỡng và dinh dưỡng như thế nào? Ta đã học được nhiều phương pháp trực tiếp "sờ mó" hoặc "nắm chặt" lấy hồn ma bằng cách làm cho các tế bào tăng thêm tốc độ rung chuyển. Quả thật ta đã đi đúng đường. Nhờ luyện bằng lối tích cực nên từ đó ta lần lần có được tốc độ của một con ma.

Đức Lạt Ma ngừng lại trong giây lát đốt cây nhang thơm và đợi khi cây nhang này bốc khói, Người mới quay lại nhìn tôi:

- Chú biết không? Mục đích chính của cây nhang là làm cho tăng trưởng vận động không khí khi có mùi hương của nó, kể cả vận động cho bất cứ ai ở trong khu vực đó nếu chúng ta dùng đúng loại hương của nó. Ta phải chay tịnh giữ giới trong suốt mấy tuần lễ theo phương pháp để tăng tốc độ cảm xạ. Suốt trong thời gian này phải dùng đúng loại nhang thích hợp với phòng riêng của mình đang ở. Chính nhờ loại nhang thích hợp này khiến cho tinh thần ta thoải mái. Thế rồi thời gian sau đó tự nhiên ta cảm thấy nhẹ hẳn người đi tựa hồ như không còn cái xác thân bằng xương bằng thịt này nữa...Ta thử bước đi. Thật là lạ lùng ! Cả châu thân ta như đang là là bay trên mặt đất.

Nói đến đây, đôi mắt Người nhìn ra ngoài trời đăm chiêu rồi tiếp tục nói :

- Bây giờ ta đâm ra ưu tư vì nỗi khó khăn để kèm giữ lại linh hồn mình trong cái xác thân ở cõi tạm này.

Rồi Người vui vẻ hỏi tôi:

- Chắc chú không mấy thích trai giới để sờ vào cái hồn ma như vậy phải không?

Tôi thầm nghĩ thà ăn một bữa cơm ngon lành còn hơn là đi sờ mó vào một con ma đen đủi xấu xí như Người đã thuật lại.

Cuối tuần lễ đó, cũng sau bữa ăn ngạt ngào hương vị Ấn Độ, thầy tôi lại bắt đầu kể tiếp chuyện các linh hồn:

- Đó là một buổi hoàng hôn vào tiết đông thiên trời đang hồi giá rét căm căm. Ta co ro đến chùa dưới cơn mưa phùn giá bấc. Vừa đến nơi ta liền vào ngay "Mật Tẩm" thắp thêm nén nhang thì thần khấn xin một "linh hồn" nào đó để được cùng nhau tay trong tay đàm đạo. Đang lúc dõi mắt ra ngoài song sổ đợi "linh hồn của kẻ bên kia thế giới" hiện về, thì bất thần có một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên bờ vai khiến ta giật bắn cả người lên. Đó là một bàn tay xương xẩu lạnh như đồng của một người bạn đã chết cách đây mấy tháng, trước sự chứng kiến của ta vào một đêm ngoài trời tầm tã gió mưa...

Đến đây thầy tôi bỗng phá lên cười như nhớ lại sự sợ hãi tận cùng của mình còn in sâu trong tiềm thức khi bắt gặp một bóng ma lần đầu tiên trong cuộc đời. Thầy tôi hạ thấp giọng kể tiếp:

- Lỗ San! Đó là linh hồn của một vị Lạt Ma, ông ta cười lên hô hố. Giọng cười khác hẳn lúc sinh thời, song âm hưởng vẫn còn nghe trong trẻo. Ông ấy nhìn chăm chú ta trong một thời gian khá lâu im lặng. Sau cùng cất tiếng phê phán về phương thức đi tìm hồn ma như ta chỉ thêm khó nhọc. Tại sao lại không ngồi "Thiền" để "Nhiếp Hồn" có phải dễ dàng gặp nhau không? Tất nhiên ta nghĩ là Người Chết có lý.

Đến đây, thầy tôi gật gù nói tiếp:

- Như chú đã biết, giờ thì ta có thể dùng phép "nhiếp hồn" là vị chi có thể nói chuyện với ma hoặc bất cứ những kẻ khuất mặt nào nếu ta muốn.

-Vật = Ý có nghĩa là thầy đã dùng "Thần Giao Cách cảm". Con cũng có thể áp dụng môn này. Tuy nhiên con không biết phải làm thế nào giảng giải.

Trầm ngâm trong giây lát, thầy tôi tiếp tục nói:

- Khối óc của con người khác nào cái máy thu thanh. Nó cũng như cái dụng cụ của anh chàng Masconi đã từng dùng để chuyển tin tức từ bên kia bờ đại dương. Sự hợp tác giữa các tế bào với điện năng là để cấu tạo. Thế có nghĩa là con người được cấu tạo bởi điện năng và tế bào. Trong các bộ phận thu nhận tín hiệu do óc phát ra sai khiến để hoàn tất ý định. Khi ta nghĩ làm một việc gì như muốn cử động cánh tay chẳng hạn, tức thì điện lực chuyển đến những đường gân điều khiển hành động như khối óc ra lệnh. Do đó ta thấy khi mình nghĩ gì tức là đã dùng đến điện để điều khiển bộ óc. Và từ bộ óc ra lệnh cho các hành động y hệt như cái máy phát thanh dùng điện để hoạt đ̕';ng. Các nước văn minh ở phương Tây dùng máy móc để đo điện năng phóng xạ và họ cũng phác họa các hình đồ ghi ra các loại điện gọi là Alpha, Beta, Delta hoặc Gamma tuyến. Điều này rất đúng!

Phía dưới dãy ghế hàng đầu đối diện bàn thờ Phật, một vị Đại Lai Lạt Ma trọng tuổi lưng còng đứng lên một cách khó khăn lê từng bước một đến trước các bạn đồng cấp nghiêng mình thi lễ. Lẽo đẽo theo sau là các chú tiểu đủ các màu da hai tay bưng lấy chiếc khay hình chữ nhật phủ lên vuông vải tơ điều.

Vị Đại Lai Lạt Ma trọng tuổi này lại kéo lê từng bước một đến trước mặt Đức Đạt Lai Lạt Ma cúi mình đảnh lễ, đoạn quay về phía các tăng lữ đang xếp hàng ngồi bên dưới, cất cao giọng thật thâm hậu xướng lên như thể một đạo nhân phủ dụ đám tín đồ...

- "Hãy nghe đây tiếng nói của linh hồn"! Thế gian này chỉ toàn là ảo ảnh và đời sống nơi quả Địa Cầu này âu chỉ là giấc mơ ngắn ngủi mà thôi!

- "Hãy lắng nghe đây tiếng nói của linh hồn! Cõi tạm này làm sao sánh kịp với Cõi Trường Tồn Bất Diệt?! Không! Không bao giờ!

- "Hãy lắng nghe đây tiếng nói của linh hồn! Thế giới này chỉ toàn là ảo ảnh! Đời sống trên Địa Cầu đâu có phải là trường tồn bất diệt. Âu đó chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi mà thôi!

- "Hỡi những ai kia mang bao nỗi buồn u uẩn! Hãy lắng tai nghe đây tiếng gọi của linh hồn! Tất cả những ảo ảnh rồi cũng ra đi trong cái khoảng không vô cùng thăm thẳm! Chuyện gì đâu mà phải khóc than sầu hận?

- "Hãy đốt lên đi nén nhang đầu soi sáng cho những linh hồn vất vưởng!

- " Hãy hộ trì cho họ quay về với thế giới siêu linh!"

Tiếng xướng vừa tạm lắng xuống từ bên trong hàng ngũ áo vàng một nhà sư trẻ tuổi đứng lên tiến đến đảnh lễ Đức Lạt Ma - lúc bấy giờ Ngài đang trầm ngâm dõi mắt theo làn khói hương nghi ngút... Nhà sư trẻ lại đốt nén nhang quay khắp bốn phương khấn bái đoạn cất lên giọng trầm trầm tụng niệm. Và ngay sau đó tiếng cầu kinh của các chú tiểu cũng rập ràng vang lên hòa cùng nhịp điệu.

Từ bên trong đám các tăng lữ bỗng xuất hiện Đức Lạt Ma đẫy đà trọng tuổi ra trước bực lễ đường đưa cao chiếc chuông bạc rung lên một hồi dài,rồi vừa cất cao lời tụng niệm vừa đảo mắt xuống hàng cử tọa thử xem mình có được tán thưởng hay không?

Để nhà sư này trở về chỗ cũ, Đức Lạt Ma trọng tuổi tiến đến trước mặt Giáo Chủ đảnh lễ thêm lần nữa rồi quay sang lễ trước bàn thờ. Xong đâu đó, ông ta lại cất cao lời tiếp tục tụng niệm:

-"Hãy lắng tai nghe đây tiếng gọi của linh hồn! Thế giới này chỉ là ảo ảnh! Địa Cầu là môi trường để thử thách trong cuộc sống mà thôi! Thanh lọc ngay đi các màu trược khí mà vươn lên hướng về Cội Phúc để tìm cái trọn vẹn nguyên thủy của Đất Trời!"

Tiếng tụng niệm cùng với tiếng chuông vẫn vẳng vọng từ dưới chùa lên,trong khi chú tiểu đồ trịnh trọng đốt nén nhang thứ hai rồi tiến về phía Ngài Giáo Chủ cúi rạp mình đảnh lễ...

Bốn bức tường của ngôi đại tự hình như mở rộng thêm ra và dường như nó cũng chuyển động nhịp nhàng theo từng âm điệu của câu kinh. Bất giác tôi sững sờ giương tròn xoe đôi mắt nhìn vào những hình ảnh đen đúa xấu xí một cách dị thường, đầu tóc bỏ xõa, tay chân thì như co quắp lại không biết xuất hiện từ lúc nào đang chập chờn bao quanh lấy vị Đại Lạt Ma trọng tuổi này!

- "Đó là những bóng ma của những người vừa mới chết!" - Giọng nói này bỗng từ đâu vang vọng vào tai tôi - Họ là những kẻ bình sinh chẳng chịu tu hành!

Tôi chăm chú nhìn vào những bóng ma ấy. Trông họ có vẻ lạc lõng cô đơn. Nét mặt họ hằn lên vẻ đau buồn, tủi hận! Ánh đèn chập chờn lúc tối lúc sáng bám sát vào các bóng ma đang vừa thất thểu vừa đi vừa rên rỉ kêu xin cho được hưởng ơn huyền nhiệm để cứu rỗi lấy linh hồn...

- Hãy lắng tai nghe tiếng nói của linh hồn..."

(Còn tiếp)

nguồn:http://www.vangsanh.com/
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay