Lãn Miên

Lac Việt Nghĩa Là Nước Việt (6)

1 bài viết trong chủ đề này

QT Tơi-Rỡi để tạo ngôn từ cho thấy: Ổ=Hộ=Hệ=Họ=To=Tổ=Tộc. Đông người sinh sống tập trung ở một vùng đất thì vùng đó gọi là “Đất đông Hộ” = Đô, như QT Lướt để tạo ngôn từ cho thấy. Những đất tập trung đông người là Đô 都 = Chỗ = Chạ = Chợ = =Chỉ 址 = Thị 市(Hán ngữ mượn chữ Thị 市 để gọi cái Chợ) là nơi để người ta Giao lưu trao đổi Giữa người với người, là Chỗ Trao = Chỉ Giao (Chỉ Giao 址 交 viết theo ngữ pháp Hán thì là Giao Chỉ 交 址). Từ nguyên của Giao 交 là một từ cổ xưa hơn nữa từ thời nguyên thủy, chỉ động tác giao hợp của sinh thực khí đực và cái (như hình vẽ của giáp cốt văn), đó là từ Lẹo (như hai con bướm tằm hay hai con chó đang Lẹo nhau).

Lẹo=Đéo=Chéo=Chập=Vập=Vào=Trao=Giao=Giữa=Gian=Dâm=Giấm ( dương thực khí khi đã vào bên trong âm thực khí thì nó giao cái dịch nó tiết ra cho trứng để giấm trứng cho đến khi trứng nở, như giấm trái cây hườm vài ngày cho đến khi nó chín). Từ Giao Dịch là động tác rất cụ thể của tính dục đã trừu tượng hóa lên thành từ Giao Dịch trong thương mại (chỉ có điều là viết bằng chữ Dịch 易 biểu ý khác chứ không phải là chữ Dịch 液 là nước tinh dịch). Hoạt động mua bán thường có người thứ ba chen vào Trong Giữa bên bán và bên mua, người làm Trong Giữa ấy viết bằng chữ Trung Gian 中 間 cho việc Giao Dịch. Gian 間 là Giữa nên nó ở bên trong, nên phần trong của cái nhà thì phải có nhiều Gian. Từ lướt “Đất đông Hộ” = Đô. Từ ghép Kinh Đô 京 都 là một từ viết tắt từ cái nghĩa đen là “nơi người Kinh quần cư là Đất đông Hộ”. Như vậy từ Kinh Đô là một từ thuần Việt của tiếng Kinh. Người Kinh còn tự xưng mình là Kẻ, nên làng Việt cổ nào cũng có tên đầu là Kẻ (tiếng Tày gọi Kinh là Keo), vì vậy Kinh Đô còn gọi là Kẻ Chợ, do Đô=Chỗ=Chạ=Chợ=Chỉ=Thị. Một người thì gọi là Cha, có khi còn gọi là thằng Cha, đông người thì nặng hơn nên gọi là Chạ, đi lang chạ là đi lang thang với nhiều người (chỉ gái điếm) Đô=Chợ nên chữ Đô 都 (= 者邑) viết bằng ghép chữ Cha 者 và chữ Ở 邑, đọc lướt “Cha Ở” = Chợ. Kẻ=Cả=Cha=Ta=Gia=Giả 者. Ở=Ổ=Ấp 邑. Chợ thì mới là cái từ gốc có trước, tại Chợ thì đương nhiên là có rất đông hộ bán hàng, Chợ là cái “Đất đông Hộ” nên người Việt mới lại phải lướt “Đất đông Hộ” = Đô, như vậy Đô chỉ là một cách gọi khác, có sau, hệ quả của cái Chợ là “Đất đông Hộ”. Hán nho mượn chữ Đô 都 có sẵn này của Việt nho (mà Hán phát âm 都 là “tu”). Vậy rõ ràng là muốn tìm từ nguyên của từ “tu 都” này của Hán ngữ hiện đại thì phải tìm về từ “Đô 都” của cái mà họ gọi là “cổ Hán ngữ”; muốn tìm từ nguyên của Đô 都 trong “cổ Hán ngữ” thì tìm về Tiếng Việt, đó là từ Chợ 都 ( “Cha 者 Ở 邑” = Chợ ). Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Giả 者 (như “tác giả”, “học giả”) là lướt “ Chi 之 Dã 也”= Cha; đọc chữ Ấp 邑 là lướt “Ư 於 Cấp 汲”= Ấp, nhưng Ấp nghĩa là đất Ở do vua ban, nên chữ Ấp cũng đọc là Ở. Chữ mà về sau Hán nho đọc là “tu 都” (Đô 都) vốn xưa là của người Việt, Việt nho đọc là Chợ 都, do lướt “Cha Ở” = Chợ

Share this post


Link to post
Share on other sites