Lãn Miên

Lac Việt Nghĩa Là Nước Việt (7)

1 bài viết trong chủ đề này

Khi n/c nhân chủng qua gen phải hiểu một quan niệm khoa học đầu tiên quan trọng là: “Nhiễm sắc thể Y” hàm chứa 78 gen là di truyền từ Bố, công năng chủ yếu của 78 gen này chỉ là khởi động phát dục của Nam tính để chế tạo tinh trùng, sau phát dục thì tính cách Nam, tính khí quan v.v. đều do các nhiễm sắc thể khác (có tới 2-2,5 vạn gen) quyết định, những nhiễm sắc thể này đều đến do Tổ, là sự hỗn hợp của hai bên Bố và Mẹ.

[ Ổ là cái chung nhất. Động vật đã tiến hóa từ dưới nước, đến lưỡng cư như Nòng-Nọc, rồi đến sống hẳn trên cạn, rồi mới đến thành chim biết bay. Nôi của các loài có trước chim gọi là Ổ, còn Nôi của loài chim gọi là Tổ, do lướt “Từ Ổ” = Tổ, tức đã đi từ mặt đất rồi mới biết bay thành chim. Do tổ chim thường làm trên Cây = Cao nên Tổ của chim còn được gọi là Sào 巢 và cái que giúp nối dài cánh tay để vói lên Cao cũng gọi là cây Sào. Tổ của chim gọi là Sào đã gợi ý cho người nguyên thủy làm Ổ = Chỗ = Ở = (Ư 於 = Âu 瓯 = Yêu = U = Vu 於, đều chỉ sự Ở như là trong cái để Đựng = Đường 堂) trên chạc cây cao để tránh thú dữ. Cây Sào (thủa ban đầu là một cây đơn có đẽo bậc để dễ bám mà trèo lên) có công năng đầu tiên là dùng để Trào=Trèo=Leo lên Sào mà ở (ngoài tránh thú dữ còn tránh được nước lũ Trào 潮 = Triều 潮 = Tràn lên cao), khi gặp lũ mới biết phát huy công năng thứ sinh của cây Sào là dùng để Trao=Chao==Chèo thuyền. Sào ở của người khác với Sào ở của chim là được làm Dàn=Dang=Ngang rộng ra thành một vuông bằng bặn không dốc, nên gọi lướt là “Sào Dàn” = Sàn. Thổ dân Indonexia gọi nó là “Tan-Ga”, thổ dân Việt gọi nó là “Sàn Nhà”, thổ dân Chăm gọi nó là “Thang-Giơ” và Việt nho viết bằng hai chữ “Đường Gia 堂 家” . Chữ Đường 堂 cụ thể chỉ cái nhà thiên về ý phần trong của nó, về sau Hán nho dùng chữ Đương Huynh Đệ 堂 兄 弟 để chỉ anh em cùng họ đằng nội. Từ đôi Sàn Nhà = Đường Gia là lối ghép từ đôi nguyên thủy, cái Trong có trước thì đứng trước, cái Ngoài có sau thì đứng sau. Khi người ta Dựng nhà bằng cây, tức Dựng cái để Đựng, cho con người, thì bao giờ cũng dựng cột kèo là cái trong trước, rồi mới đến làm mái và phên là cái ngoài, cái thiên ý ngoài gọi là Nhà=Da=Giỏ=Vỏ=Ván=Váy=Quây=Cót=Lót=Lều=Lán, (đều là những cái để Đựng). Thiên ý trong là Sàn=Giàn=Giường=Đường 堂 =(Trướng 帐 = Trong = Trung 中= Phùng 篷). Sau giai đoạn ở Sào làm dựa vào chạc cành có sẵn trên cây thì người nguyên thủy làm Nhà Sàn trên các cọc cắm trên nền đất. Cái Sàn để sinh hoạt trong nhà là làm bằng cách ghép Vỏ cây hoặc cật Nứ a sít lại với nhau gọi là Đan = Nan = “Tan” (trong từ “Tan- Ga” của thổ dân Indonexia) = =Sàn = Ván = Vỉ = Thỉ 屉 = Vì屉 = Vỏ = Giỏ = Giát, giống như những thanh Vì ghép sát nhau đỡ hay đựng cho ngói khi lợp mái nhà. Lúc này công cụ để bước lên Nhà Sàn không còn là một cây Sào nữa mà là cái “Thang” (trong từ “Thang-Giơ” của tiếng Chăm) làm bằng hai cây sào có những thanh ngang để tiện đặt chân bước lên, cái dụng cụ ấy gọi lướt “Thanh Ngang” = =Thang (ngày nay không còn dùng Nan hay Thanh để làm thang nữa nhưng vẫn gọi là Thang Máy). Hàng vạn năm trước khi Việt và Hán chưa gặp nhau, chưa biết nhau, thì do sinh thái phương Nam sông nước và sinh thái phương Bắc đồng cỏ đất khô là khác nhau, người Việt nguyên thủy ở Sào, người Hán nguyên thủy ở Huyệt, là nơi trên đồng cỏ mênh mông bằng phẳng có những rãnh đất khô sâu là vết nứt do động đất từ xa xưa để lại, người Hán nguyên thủy du mục trên đồng cỏ khoét vách rãnh đất khô đó thành hàm ếch làm chỗ ở tránh gió tuyết lạnh, người Việt gọi kiểu ở đó là ở Huyệt. Khi hội nhập hai nền văn hóa Nam với Bắc tại vùng đồng bằng khô Hoàng Hà, lúc đó Việt nho mới có từ đôi Sào Huyệt để nhấn mạnh chỉ chỗ ở của một tổ chức nhiều người (thiên về dùng cho bọn cướp). Gọi là Sào Huyệt 巢 穴 chứ không gọi là Huyệt Sào, vì Tiếng Việt từ Sào có trước, từ Huyệt có sau. Hán nho mượn từ đôi Sào Huyệt 巢 穴và dùng nguyên theo thứ tự ghép như vậy (nếu bạn gõ chữ Hán ngữ đúng thứ tự Sào Huyệt thì sẽ hiện lên hai chữ nho đúng thứ tự Sào Huyệt 巢 穴, còn nếu gõ Huyệt Sào thì máy tính sẽ không hiểu và không hiện lên hai chữ Huyệt Sào). Khi đang còn ở Sào 巢 người nguyên thủy cất xác chết trong hang núi cheo leo chứ chưa có tục đào Huyệt 穴 chôn xuống đất như khi đã chuyển sang sống nghề trồng trọt định cư. Huyệt cũng là cái Ổ, nhưng là Ổ chôn xác chết: Ổ=Hố=Hốc=Hang=Huyệt, “Hố chôn một thây Việt” = Huyệt. Về sau không ở Huyệt nữa thì người Hán nguyên thủy du mục làm nhà ở bằng may các tấm da cừu (về sau lại làm bằng các tấm vải bạt) thành cái lều hình chóp tròn. Việt nho gọi cái lều vải ấy bằng từ đôi theo thiên ý “Trong” là cái Trướng Phùng 帐 篷 (đây là một từ đôi của Việt nho, Hán ngữ hiện đại vẫn dùng y nguyên thứ tự từ đôi Việt này, nếu gõ ngược là Phùng Trướng thì máy sẽ không hiện hai chữ Trướng Phùng 帐 篷 này. Bởi vì từ nguyên của từ “ở Trướng Phùng” chính là từ “ở Trong Phên” của cái nhà tre Việt. Người Việt nguyên thủy đã đem cái từ ở trong nhà tre của Việt là “ở Trong Phên” để gọi cái ở trong lều vải của người Hán nguyên thủy là “ở Trướng Phùng” . Từ này có lẽ xuất hiện sau khi người Việt đã bán Vải cho người Hán, trước khi người Hán học được cách trồng bông dệt vải của kỹ thuật nông nghiệp của người Việt, vải bán theo số lượng từng Bó, từng Bó để dễ chất lên lưng Lừa hay Lạc Đà của người Hán, nên người Hán gọi vải là Bố 布. Và Bố=Bạt. Nhưng thiết kế lều vải hình chóp tròn thì là đúng bản quyền của người Hán, trước đó người Việt chưa từng nhìn thấy kiểu ở như vậy. Người Việt nguyên thủy chỉ biết Nhà Sàn (như ở di chỉ Hà Mẫu Độ thuộc Triết Giang có niên đại một vạn năm đã phục dựng nhà sàn bằng cây , có mái lá cong ) và chỉ biết “Mâu Lô 茅 廬” (lều bằng cỏ lau) mà Lưu Bị ở thủa hàn vi.]

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites