wildlavender

Trao Đổi Phật Pháp

27 bài viết trong chủ đề này

Lời ngỏ

Vừa qua ở topic Thần Chú Giải Thoát có 1 số tranh luận nhưng dần đi quá xa và mất định hướng ban đầu dù hết sức tôn trọng tinh thần trao đổi giáo lý của Quí Vị, Wild vẫn cảm nhận được 1 số bài viết mang tính công kích! Hạnh nguyện chuyển tải Thần chú Giải Thoát của Wild hoàn toàn phi lợi nhuận thế mà Giang2 vẫn có lời lẽ bất lợi Ví "Nếu sơ ý nghe theo những lời nói thiếu thận trọng".
Người tự cho là hàng thượng căn thì chắc rằng trí huệ đã khai mở. Trí huệ đã khai mở thì phải nhìn thấy rằng căn cơ của chúng sanh trong thời này hạ liệt lắm!

Người chân chánh tu hành phải biết "Tùy hỷ công đức", học tính tán thán người phát tâm làm đạo mới tốt, đừng nên nói những lời sơ suất, kém đức hòa kính, vừa tổn hại âm đức của mình vừa gây xáo trộn không ít cho công cuộc cứu người hữu duyên.


Nhưng trên tinh thần tự do tín ngưỡng, Wild xin ý kiến Quản Trị Diễn Đàn mang tất cả bài viết đó sang đây nhằm tạo điều kiện cho Quí Vị và không ảnh hưởng nhiều mặt đến các thành viên có tín tâm.
Dù sao Topic TCGT vẫn mang lại lợi lạc và chỗ dựa cho chúng sinh hữu tình thì việc phát triển vẫn được ủng hộ và cần được tôn trọng nhất định!


Nam Mô sám hối Hội Thượng Phật Bồ Tát!
4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Lễ xả nghiệp - xuất gia

Một tục lệ cổ xưa Của dòng họ Thích Ca ở Nepal

Posted Image

Members of the Sakya family on a visit to Lhasa

Sau khi vua Vidudabha tiêu diệt dòng họ Thích Ca (Sakya), những người sống sót và hậu duệ của dòng họ Sakya tại Nepal vẫn theo Phật giáo. Trong thời gian công tác tại Kathmandu, Nepal, tác giả Nguyễn Phú (pháp danh Phước Quý) đã kết thân với nhiều người trong dòng tộc Thích Ca và được tham dự lễ xuất gia, một phong tục cổ truyền của dòng họ Sakya. Xin giới thiệu về lễ Chauda Karma của hậu duệ dòng họ Thích ngay trên quê hương Đức Phật.

Vốn biết tôi đang quan tâm tìm hiểu phong tục và đời sống văn hóa Nepal nên trước đây một tháng, gia đình ông Kiran Sakya đã mời tôi dự một ngày lễ theo tục lệ cổ truyền của gia tộc. Tôi không ngờ mình có may mắn được dự khán một tục lệ của một dòng họ cổ xưa và nổi tiếng nhất thế giới: dòng họ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni Buddha). Cổ xưa vì họ Sakya chỉ tính từ Đức Phật Thích Ca cũng đã được trên hai mươi lăm thế kỷ. Còn nổi tiếng thì hầu như thế giới đều biết đến dòng họ này qua một nhân vật lịch sử vĩ đại: ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI.

Patan là thành phố cổ nhất của Nepal, cũng là thành phố có nhiều người họ Sakya sinh sống. Nơi đây cũng là thành phố có nhiều gia đình theo Phật giáo nhất trong Vương quốc Hindu giáo Nepal. Ta có thể thấy cờ Phật giáo dày đặc trên các nóc nhà, trong các lễ hội của Patan. Tại đây còn có bốn ngôi tháp (stupa) ở bốn góc của thành phố tương truyền được dựng lên bởi Đại đế Phật tử Ashoka (A Dục vương) khi ngài hành hương đến đây và gả một công chúa của mình cho vị vua theo Phật giáo của Patan.

Tôi hình như là người nước ngoài đầu tiên được biết đến tục lệ này. Ngày lễ này được gọi là “Chauda Karma Puja” - tạm giải thích là ngày lễ Xả nghiệp, xả bỏ nghiệp báo trong quá khứ hoặc đơn giản hơn là lễ Xuất gia. Tục lệ này dành cho tất cả các bé trai từ bốn đến năm tuổi của họ Sakya. Ngày làm lễ được các tu sĩ chọn nhằm vào ngày tốt nhất trong tháng sinh của Đức Phật. Năm nay, 2550- Phật lịch / 2063-Nepal / 2006-dương lịch, ngày được chọn nhằm ngày 30-4 dương lịch. Trong lễ Chauda Karma này có tất cả hai mươi hai bé trai được xuất gia.

Trước đó một tháng, các gia đình phải đăng ký danh sách, sắm sửa lễ vật, trang phục cho các chú bé. Nghi lễ được diễn ra ở ngôi đền danh tiếng Golden Temple của thành phố cổ Patan (tên chính thức của ngôi đền là Hiranya Varna Mahavihar). Ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XII bởi Quốc vương Bhaskar Verma (thời kỳ Phật giáo hưng thịnh trước khi Hindu trở thành tôn giáo chính của Nepal). Golden Temple là một kiệt tác về kiến trúc và nghệ thuật gò đúc kim loại của Nepal. Toàn mặt vách chính (10 x 5m), ngôi đền Quan Âm và tất cả các mái cũng như tượng, phù điêu đều làm bằng đồng thau thật tinh xảo. Riêng khung cửa chính của gian thờ tượng Phật Thích Ca Vàng (Golden Sakya Muni) được làm bằng bạc ròng (những khung cửa bằng bạc chỉ dành cho những nơi cúng tế của các vị vua Nepal - Pashupatinath ngôi đền thiêng liêng nhất của Hindu giáo Nepal mà Nhà vua Nepal hay cúng tế hiện nay cũng có những khung cửa bằng bạc).

Tôi đến Golden Temple lúc 9 giờ sáng, ở lối vào một vị trong Ban tổ chức trân trọng buộc vào cổ cha mẹ của các chú bé những dây lụa - cha: màu xanh, mẹ: màu vàng. Trong khuôn viên không lớn lắm của ngôi đền, thân nhân của các chú bé đứng ở khắp các hành lang trò chuyện vui vẻ. Tôi tìm gia đình ông Kiran và được dẫn lên lầu. Nơi đó trong một gian phòng kín, lần lượt từng chú bé được các tu sĩ làm các nghi thức lễ đầu tiên. Chừng một tiếng đồng hồ sau, chú bé cuối cùng được đưa xuống sân đền.

Các chú bé được sắp ngồi thứ tự theo chiều kim đồng hồ vòng quanh sân đền. Các bà mẹ lúc nào cũng túc trực bên con, vẻ mặt rạng rỡ, hân hoan. Sau khi vị chủ lễ đọc kinh và làm các nghi thức, những người phụ lễ đi vòng quanh xức dầu lên đỉnh đầu các chú bé. Kế tiếp họ bắt đầu cạo tóc của các em. Tóc được cạo nhẵn chỉ chừa lại một lọn nhỏ chừng ngón tay út. Sau đó các em được cởi bỏ hết tất cả quần áo cũ trên người, xối nước cho sạch tóc vụn và choàng một tấm khăn mới tinh lên người. Các chú được đưa trở lên gian phòng kín để thực hiện các nghi lễ đặc biệt. Tại đây chỏm tóc cuối cùng được vị tu sĩ cắt bỏ và đeo vào đầu các em một vòng đan bằng các dây màu xanh ở giữa trán đính ba hình bầu dục bằng bông gồm ba màu theo ba vòng nhỏ dần vào trong: trắng-xanh-đỏ.

Một nhóm bốn vị trưởng lão cao niên nhất của dòng họ Sakya (từ 80 đến trên 90 tuổi) làm tiếp nghi thức ban phước cho các em tại sân đền. Dưới chiếc lọng ngũ sắc, bốn vị trưởng lão đầu đội bốn chiếc mũ miện của vương tộc Sakya trang trí các họa tiết bằng bạc và đồng, đứng ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc nhận các lọ nhỏ bằng đồng trong có nước và lá thơm từ các bà mẹ. Lần lượt từng em bước vào giữa. Vị chủ lễ xướng bài tụng ngắn. Các vị trưởng lão dùng tay phải rảy nước và cùng đặt tay lên đỉnh đầu các em để ban phước. Vị chủ lễ dùng một chiếc vỏ ốc to, cũ kỹ, có xoắn ngược chiều kim đồng hồ (biểu tượng vương quyền thời cổ tại Ấn Độ) tưới nước lên đỉnh đầu các em. Có em bị dội nước lạnh đột ngột khóc ré lên.

Một lần nữa các chú bé lại được đưa lên gian phòng kín. Lần này các chú được làm nghi thức quan trọng nhất của ngày lễ: nghi thức xuất gia. Nghi thức này kéo dài chừng hơn một tiếng đồng hồ. Các bé trai Sakya sau khi xuất gia được vẽ một Mandalamàu vàng trên đầu, mặc y màu vàng và nhận tích trượng, bình bát bằng đồng từ các tu sĩ. Các chú xúng xính trong chiếc y vàng, choàng từ vai trái xuống một dải lụa đính hai lá cờ Phật giáo, tay phải cầm bình bát đựng gạo, tay trái cầm tích trượng lần lượt trở xuống sân đền.

Phải chờ đợi đến tận 3 giờ chiều, các nghi thức mới bắt đầu tiếp tục. Theo quy định, cho đến nghi thức cuối cùng các chú không được ăn, phụ huynh chỉ được cho các chú uống sữa hoặc nước trái cây. Chờ đợi lâu quá, có chú ngủ ngon lành trong vòng tay mẹ trông thật đáng yêu.

Vị chủ lễ tiếp tục tiến hành cuộc lễ. Ông ngồi xếp bằng trước một bàn thờ, đọc những bài kinh bằng tiếng Phạn và xướng những nghi thức bằng tiếng Nepal để các phụ huynh hướng dẫn các em làm theo. Những nắm gạo, cánh hoa, thực phẩm, nước… lần lượt được vãi tung ra sân đền. Có những chú chim bồ câu dạn dĩ sà xuống ngay bên cạnh các chú bé nhặt những hạt gạo trắng ngần. Sau những bài kinh dài, vị chủ lễ cùng người phụ lễ mang những đôi guốc nhỏ bằng đồng cũ kỹ ra. Họ vẽ trên nền đá xanh của sân đền bảy hình hoa sen, đặt vào giữa mỗi hoa sen một hạt cau tròn trĩnh cùng với chút thực phẩm tượng trưng cho địa cầu. Lần lượt từng em sẽ mang đôi guốc đồng ấy bước bảy bước trên những hoa sen làm vỡ vụn những hạt cau trong khi vị chủ lễ đọcthần chú. Nghi thức này lặp lại tích Đức Phật Thích Ca khi vừa Đản sanh đã bước đi bảy bước làm chấn động địa cầu và thiên giới. Sau khi đi trên các hoa sen, các Sakya vừa xuất gia được đưa vào gian thờ chính để làm lễ trước Phật Thích Ca Mâu Ni với tích tượng và bình bát như là lễ ra mắt.

Sau nghi thức xuất gia, các Sakya nhỏ tuổi được đưa đi vòng quanh các con phố của thành phố cổ sau các vị trưởng lão của họ tộc Thích Ca để trình diện mọi người theo như phong tục. Trở lại Golden Temple, một nghi thức nữa diễn ra trước cổng vào ngôi đền. Hương hoa, đèn, lễ vật, một Mandala được bày trên mặt đất để vị chủ lễ cúng tụng. Sau đó các chú bé được bước vào đền. Cuối cùng, sau một khoá lễ ngắn nữa, các em mới được thọ thực trong bình bát theo giới luật từ thời Đức Phật.

Các Sakya này sẽ ăn chay và mặc y vàng suốt ba ngày tiếp theo. Đến chiều ngày thứ tư, phụ huynh đưa các em trở lại Golden Temple. Với một nghi lễ trang trọng, các em được xả bỏ nghiệp báo quá khứ, thay đổi chiếc y vàng bằng toàn bộ quần áo, giày dép, mũ nón mới.

Tục lệ cổ xưa này của gia tộc Sakya hầu như ít người ngoài họ nào được biết. Tôi đã thường cầu nguyện chư Phật hộ trì cho tâm nguyện nghiên cứu về gia tộc Sakya, có lẽ vì thế nên có được may mắn này chăng? Liên hệ với những chi tiết trong lịch sử, tục lệ này có lẽ xuất phát từ sự ngưỡng mộ và tôn vinh một vĩ nhân của gia tộc Sakya: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngoài ra, có lẽ còn để trả nghiệp trong quá khứ về việc rải thuốc độc xuống sông đưa đến hậu quả Vidudabha (Tần Bà Lưu Ly) tàn sát dòng họ và tiêu diệt vương quốc Sakya. Vì thế, những hậu duệ của gia tộc Sakya, sau biến cố ấy (hơn 2.400 năm trước) không bao giờ rời xa Phật giáo - nơi họ tìm thấy an lạc trong đời này và những đời sau.

Theo: Giác Ngộ

1

Công Minh

So Sánh Sự Sai Biệt Giữa Đại Thừa Và Tiểu Thừa

(Đại thừa gồm Tối Thượng Thừa, Tiểu Thừa gồm Trung Thừa)

1/ Điểm xuất phát chẳng đồng:

a/ Tiểu thừa: Bắt nguồn từ nhân sinh quan đắm khổ, nghiệp cảm duyên khởi, nhàm chán phiền não mà cầu nơi thanh tịnh.

b/ Đại thừa: Từ nhân sinh quan từ bi, chân như tỏa ra, lấy hóa tha tự tại làm chí nghiệp.

2/ Hành vi chẳng đồng:

a/ Tiểu thừa: Tự lợi tự độ, chỉ được giải thoát theo tiêu cực, tức là lấy đoạn dứt phiền não làm Niết Bàn và mục tiêu cuối cùng.

b/ Đại thừa: Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm hành vi, đắc đại tự tại làm tư tưởng chung cuộc.

3/ Cảnh giới chẳng đồng:

a/ Tiểu thừa: Ngừng nơi hiện tượng giới.

b/ Đại thừa: Vào nơi thật tại giới.

4/ Phương pháp chẳng đồng:

a/ Tiểu thừa: Dứt lục căn, đoạn nhất niệm vô minh, vào nơi đoạn diệt, chủ nghĩa cấm dục.

b/ Đại thừa: Phá vô thủy vô minh, kiến Phật tánh, chủ nghĩa tự tại, chủ nghĩa thật tại (tức Chơn Như), Sắc tâm và pháp thể đều tồn tại vĩnh viễn.

5/ Lý luận chẳng đồng:

a/ Tiểu thừa: Tầm khảo sát ngưng nơi hiện tượng và cho rằng chủ khách thực tế tồn tại, là nhị nguyên luận, ngoài ra dùng chủ nghĩa cảm giác phủ định những thật tại ngoài cảm giác.

b/ Đại thừa: Siêu việt phạm vi nhận thức của bộ não, sự cùng tột của thật tại với hiện tượng giới chẳng khác, chủ khách như một, chơn vọng hiệp nhất, là nhất nguyên luận, là thật tại luận siêu việt Hình nhi Thượng.

Nguồn : http://www.tosuthien.com

Thiên Đồng

Quote

So Sánh Sự Sai Biệt Giữa Đại Thừa Và Tiểu Thừa

(Đại thừa gồm Tối Thượng Thừa, Tiểu Thừa gồm Trung Thừa)

Vẫn là nhị nguyên.

Cảm Tri Học Thuật Chuyên Tinh

Ứng Biến Huyền Cơ Ảo Diệu

Um Many Padme Hum, Um Many Padme Hum, Um Many Padme Hum.

Công Minh Posted Image

Các bộ phái chính Phật giáo ngày nay

Theravada

Theravada còn gọi là Phật giáo Nguyên thuỷ, hay Phật giáo Nam tông, mà các nhà Đại thừa thường gọi với tâm phân biệt và kỳ thị là Phật giáo Tiểu thừa. Tông phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Đức Phật Thích Ca viên tịch. Chữ Theravada có nghĩa là "Bộ phái kết tập kinh điển bởi các Bậc Trưởng lão" (Theo kinh điển, lần kết tập Tam tạng này chỉ có sự tham gia của của các Bậc A ra hán mà thôi, không có sự tham dự của các vị Tỳ kheo phàm nhân), do đó nhiều sách còn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ, hay còn gọi là Phái Bảo Thủ, Phái Nam Tông, Phái Nguyên Thủy, nghĩa là có chủ trương thống nhất là hoàn toàn tôn trọng và bảo toàn tất cả những lời dạy uyên nguyên của Đức Phật Thích Ca, không thêm và cũng không bớt những gì mà Đức Phật đã thuyết giảng trong Tam tạng kinh điển bằng ngôn ngữ Pàli. Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ 3, hội đồng tham gia kết tập Tam tạng đã công nhận Bộ phái với tên gọi là Trưởng lão bộ. Sau đó, người con trai của vua Asoka (A Dục vương) là Mahinda đã xuất gia cùng với một người em gái, sau đó cả hai đã vâng lời ý nguyện của vua cha, đã cùng với một phái bộ hùng hậu đem tất cả Tam tạng kinh điển đến truyền bá ở vương quốc Tích Lan. Vào thời kỳ đó, Phật giáo Theravada đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của Đức vua và dân chúng xứ quốc đảo sư tử nên đã có thời kỳ hưng thịnh rực rỡ như chưa từng thấy. Tam tạng kinh điển bằng tiếng Tích Lan sau đó đã được chuyển dịch lại sang tiếng Pàli và các tạng kinh này đã được Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) duy trì và sử dụng cho đến tận ngày nay.

(Tiếng Pali còn gọi là tiếng Nam Phạn để phân biệt với tiếng Sanskrit Bắc Phạn là ngôn ngữ mà Đức Phật Thích Ca dùng để thuyết pháp giảng đạo).

Các bộ kinh chính của Theravada là Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikàya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikàya), Tiểu Bộ Kinh (Khudaka Nikàya).

Chính xứ Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) là nơi bảo tồn được truyền thống của Theravada mặc dù đạo Phật tại đó là một kế thừa từ trung tâm Ấn Độ. Phật giáo ở Ấn Độ đã bị suy tàn và biến mất từ cuối thế kỉ thứ 11 do việc lan tràn của Hồi giáo và Ấn Độ giáo.

[sửa]

Mahayana

Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa. Từ thế kỉ thứ 1 TCN các tư tưởng Đại thừa đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay Đại thừa, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma pundarika sutra). Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phép tắc ràng buộc của Theravada.

Đến thế kỉ thứ 3 khái niệm Mahayana mới được xác định rõ ràng qua các trước tác của bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung Quán Luận), chứng minh tính không của vạn vật. Các ý này đã được Long Thọ khai triển dựa trên khái niệm "Vô ngã" và "Duyên sinh" đã có từ trong các kinh điển Pali.

Vài đặc điểm chính của Mahyana bao gồm:

Nhấn mạnh đặc điểm vị tha và giác ngộ để trở thành bồ tát hay thành phật mà độ cho chúng sinh thành phật. Từ bi và trí huệ trở thành hai điểm song song tồn tại và hỗ trợ nhau.

Bồ tát đạo (Bodhisattva path): bao gồm việc thực hiện rốt ráo các đức tính bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ.

Nhiều hình ảnh phật ngoài Phật Thích Ca cũng đã được nêu lên và các vị phật này thị hiện ở nhiều nơi trong nhiều dạng khác nhau. Chẳng hạn như Phật A Di Đà (Amitabha).

Như là sự phát triển của các tư tưởng có sẵn trong Phật giáo, Mahayana cho rằng Phật hiện hữu 3 ứng thân: hoá thân, pháp thân và báo thân.

Triết học về tính không (shunyata) của vạn vật.

Các kinh điển chính bao gồm: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma Pundarika Sutra), Kinh Kim Cang (Vajara Sutra), Kinh Bát Nhã (Prajnà), Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahàparinirvàna-sùtra), Kinh Lăng Nghiêm (Suramgama-sùtra), Kinh Viên Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Mahàprajnàpàramità-hridaya-sùtra), Kinh Duy Ma Cật (Vimalakirti Sutra), Kinh A Di Đà (Amitabha Sutra), v.v.

Sự hình thành tư tưởng Đại thừa là một thể hiện của đặc tính mềm dẻo sáng tạo trong đạo Phật của các vị đạo sư để giúp cho tư tưởng Phật giáo được phổ biến một cách thích hợp hơn với thời đại. Chính vì các ưu điểm của mình mà Mahayana tồn tại và có số người tu học cao nhất.

Bên trong Đại thừa, lại có các trường phái khác như là Madhymaka, Yogacara.

Vajrayana

Varayjana còn có tên gọi là Tantra, Mật tông, Kim cương thừa. Khác với các bộ phái khác, Mật tông thường có khuynh hướng giữ bí mật các thông tin nên khó xác định được chính xác thời điểm ra đời của tông này. Nó xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ 6, hay chắc chắn hơn là thế kỉ thứ 7. Phái này chia sẻ chung nhiều tư tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành. Các truyền giảng được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩy nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giác ngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện. Trong Mật tông, việc tu tập không thể tự tiến hành theo sách vở mà phải có một đạo sư đã giác ngộ gọi là "guru" để chỉ dẫn thực hành. (Chữ guru này nay đã trở thành phổ biến trong Anh ngữ và có nghĩa là người thấu triệt toàn bộ một việc gì đó).

Mật tông có rất nhiều phương tiện trong đó bao gồm cả những kỹ thuật được nhiều người biết đến là

Mandala: Mật tông cho rằng có sự tương đương giữa bản thể người và vũ trụ. Đó là hệ thống đại vũ trụ (macrocosm) và hệ thống tiểu vũ trụ (microcosm). Về hình thức thì mandala là các đồ hình nghệ thuật bao gồm các hoa văn tròn hay vuông đồng tâm đuợc làm hoàn toàn bằng tay với cát màu do nhiều người họp lại và tiến hành trong vài ngày. Về ý nghĩa thì các vòng hoa văn là các hành trình tinh thần và sự quan sát hoàn tất các hành trình làm thức tỉnh các năng lực tinh thần đang bị chôn sâu trong tàng thức của hành giả. Mandala được xem là nghệ thuật độc đáo của Phật giáo.

Mantra: Đây là các chú (hay thần chú). Nội dung trong các chú được viết nguyên gốc tiếng Phạn (Sanskrit) được tin là có chứa đầy đặc các ý nghĩa thâm sâu và năng lực huyền diệu. Chúng có thể được đọc, minh họa hình, hay viết ra. Thần chú nổi tiếng nhất là "Om Mani Padme Hum". Theo Mật tông, mantra sẽ hiệu nghiệm nếu như hành giả theo đúng các qui luật của nó.

Mudra: Là các thủ ấn (hay nôm na là "bắt ấn"). Thủ ấn được coi là một biểu tượng cho phật hay bồ tát. Số lượng thủ ấn là không đếm được vì nó ứng với số lượng phật hay bồ tát. Thủ ấn không chỉ là biểu tượng mà còn có khả năng phát huy năng lực tinh thần. Tuy nhiên, muốn tiến hành một thủ ấn thì phải đồng bộ quá trình này với tâm.

Các pháp môn hành trì khác ít được biết đến hơn là Chân ngôn, Thần thể, Đại thủ ấn, Ngũ Trí Như Lai, Kim cương chử và Kiền trùy.

Khối lượng kinh điển Mật tông rất khổng lồ chưa được biết hết. Trong đó cần kể đến đại Nhật, Kim Cang Đảnh, Tô tất địa, Du ký, Yếu lược niêm tụng,...

Mật tông được chia làm hai nhánh Tả phái và Hữu phái. Riêng Mật tông Tả phái phát triển nhiều quan điểm dị biệt trong đó đáng lưu ý là việc phái này sùng bái các Sakti, các nữ thần về tính dục (theo Edward Conze).

Nếu như Đại thừa có nhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thực nghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo.

(theo wikipedia.org)

giang2

Chào mọi người

(Trích) :"Gởi các bạn Viết những gì mà chứng tỏ Chánh Trí và Chánh Tri Kiến của bạn khiến kẻ này thật vô cùng ngưỡng mộ và cảm thấy xấu hổ trước sự Uyên bác và nhiệt tình hướng những kẻ ngu như chúng tôi vào Chánh Đạo! Thật là tuyệt vời!Chân thành cảm ơn bạn!

Dưới đây xin trả lời những gì mà bạn đã đặt vấn đề:

Trước hết, bạn trích dẫn ' Những khai thị của Đức Liên Hoa Sanh về con đườngĐại Toàn Thiện' xin hỏi bạn đã đọc!" Giáo Huấn Dakini'" của Ngàichưa?

Xin trích vài dòng tặng cho bạn:

"Trong tương lai, khi thời đại đen tối của suy đồi xảy đến, một số kẻ Tuyên bố là người theo Chánh Pháp sẽ mong muốn được dạy người khác mà không được sự cho phép. Tự họ không thực hành mà hướng dẫn người khác về Thiền , tự họ không giải thoát mà lại đòi ban Giáo Huấn giải thoát. Không bỏ tính vị kỷ,họ lại dạy người khác buông bỏ sự trói buộc của tham luyến . Không hiểu biết chút nào về hành động thiện hay ác của mình, họ diễn dãi dông dài về thiện hay ác, tà hay Chánh một cách thông suốt. Bản thân họ không ổn định lại đi Tuyên bố làm lợi ích cho người khác. Ta nghĩ sẽ có nhiều người nhân danh Giáo Pháp làm điều giả đạo đức, gạt gẫm và lừa dối"

Cảm ơn thầy, tôi chính là người chưa bỏ tính vị kỷ, chưa hiểu biết về thiện ác, tà chánh, nhưng xin thầy xem lại ai đã, đang và sẽ nhân danh Giáo pháp… vậy, thưa thầy.

Tôi đang học hỏi và chỉ nêu lại những lời Phật dạy chứ không làm gì cả.

Bạn trích dẫn những lời dạy củaĐấng Liên Hoa Sanh khai thị cho Đức Bà Yeshe Tsogyal trong chương "Kho báuNgọc quý để xua tan chướng ngại" thế bạn quên đọc chương " Không cósự xung đột giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa " à? Hay bạn quên không đọc hoặc bỏqua không Cần đọc ? Xin trích vài câu trong đó nhờ Chánh Trí của bạn sáng soidùm:

"Không có đức tin và lòng sùng mộ, người ta không thể nhận tinh tuý củanhững lời dạy khẩu truyền . Thế nên hãy Tôn thờ và Phụng sự dòng truyền thừacác Đạo Sư với niềm tin, sùng mộ và tin cậy

Chính vị Thầy là người chỉ cho con về Phật tánh hiện diện nơi chính con . Thếnên điều quan trọng là thỉnh cầu lời khai Thị từ một vị thầy của dòng trực chỉrồi đem nó vào thực hành

Con không nhận được những sự ban Phước khi con để thân khẩu ý con trong tìnhtrạng Bình thường. Thế nên điều quan trọng là TẬP TRUNG THÂN KHẨU Ý VÀO HIỆNTHÂN CỦA HOÁ THẦN BỔN TÔN,THẦN CHÚ VÀ TRẠNG THÁI BỔN NHIÊN VƯỢT KHỎI ÝNIỆM"

Thưa bạn, hay là những lời dạy này của Đạo Bon? Và người có Chánh Trí như bạnbiết phân biệt được đâu là Đạo Bon đâu là Đạo Phật trong cùng một chương củamột quyển Khai Thị của cùng một người giảng khiến kẻ hèn ngu dốt này mở mắtthán phục! !!

Sáng và chiều cử hành sự Tịnh HOÁ bảy phần và chớ xao lãng dâng các bánh cúnghằng ngày cùng các phẩm vật. Sám hối lỗi lầm với THẦN CHÚ MỘT TRĂM ÂM. Hãy cẩnthận với nhân quả."

Đây là những lời dạy dành cho những người có xuất xứ từ đạo Bon, dùng để chuyển hóa tà kiến của họ thành chánh kiến nhờ vào TRẠNG THÁI BỔN NHIÊN VƯỢT KHỎI Ý NIỆM mà họ sẽ đạt được khi thực hành chánh định (chứ không phải thần chú ), và tất nhiên lời dạy này không phù hợp với những người không mê tín.

Và bạn chỉ trích dẫn phần giữa của chương mà quên phần tiếp theo sau đó à? Xingởi thêm những phần thiếu sót chứ như thế này người ngu như tôi sẽ bị cho làkhông nghiêm túc trong trích dẫn:

Bạn trích dẫn Kinh Phật nói :" hoặc có kẻ Sa môn Phạm Chí trì một câu chú, hai câu chú, trăm câu chú... để tôi thoát khổ" . Xin hỏi bạn biết Sa mônPhạm Chí là ai không? Kẻ ngu như tôi cũng biết đó là những tu sĩ cao cấp của BàLa Môn Giáo , vì họ chấp vào các Thần thế gian sáng tạo ra Hindu giáo như :Shiva, Vishnu, Brahma....Đức Thế Tôn nói về các tu sĩ theo Tôn giáo đó khôngphải nói về các người trì chú Mật tông Đại thừa thưa bạn!

Vào thời của Đức Phật, chưa có Mật tông và Đại thừa, thưa thầy, nhưng như vậy cũng đủ để hiểu ý của Đức Phật muốn dạy điều gì rồi .

Và Đây là lời của Đức Liên Hoa Sanh cũng trong tác phẩm bạn trích dẫn: "Là một mantrika-người trì chân ngôn không có nghĩa là lẩm bẩm các thần chú màcó nghĩa là đạt đến giác ngộ nhanh chóng qua con đường hợp nhất của phương tiệnvà Trí Huệ " . Xin hỏi bạn con đường hợp nhất này là con đường nào?

Nếu không có truyền thống đạo Bon thì lấy gì để hợp nhất, thưa thầy. Để thực hành lời dạy này người Việt phải học cách mê tín trước đã !

Đức Bà Yeshe Tsogyal hỏi Đạo Sư :"Thiền định và Trì chú cái nào quan trọng hơn trong thực hành hằng ngày?

Đạo Sư trả lời: Đối với sự hoàn thành tối thượng của Đại Ấn, khi tâm thức conmềm dẻo dễ sử dụng, sự tập trung của con sẽ mềm dẻo dễ sử dụng, và bấy giờ thựcsự con sẽ gặp hình thể BỔN Tôn. Bằng cách nhận biết rằng BỔN Tôn là tâm thức ,Phật tánh của chính con, lúc bấy giờ ba thân Phật sẽ Hiển lộ trong con.

Đối với sự hoàn thành những thành tựu thông thường , những hoạt động vô số nhưlàm Bình an, tăng ích, kính mến, hàng phục v, v thì những thần chú là quantrọng nhất. Do đó hãy hoàn thành đủ biến số trì tụng. Dù con có thành tựu cáigì đi chăng nữa, con cũng phải Kiên trì trong trì chú, hãy rất Kiên trì"

Những lời dạy này của Ngài chắc là của Đạo Bon bạn nhỉ?

Ngaỳ xưa,Đức Phật đã từ bỏ sự hoàn thành những thành tựu thông thường và chọn sự hoàn thành giác ngộ tối thượng,nhưng với những ai không từ bỏ được truyền thống …

Thật quá rõ rồi, thưa thầy, đó chính là điều kiện phải hợp nhất với dụng tâm của Đạo sư.

Mà vấn đề trên diễn đàn nói về lợi ích của Thần chú vàsự tiêu nghiệp qua Đức tin vào lời chân ngôn chư Phật nên bạn đưa Thiền địnhvào lạc đề rồi !!.

Không lạc đề đâu, thưa thầy, vẫn là vấn đề Thần chú và tiêu nghiệp.

Đức Phật chứng ngộ tuyệt vời tại Bồ đề Đạotràng như thế cùng với bao nhiêu Arahat - A La Hán thần thông Quảng đại bay vèovèo như chim, biến HOÁ vô biên đến nỗi chư Thiên phải cung kính theo hầu mà saodân tộc Ấn bị Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát, Anh quốc xâu xé đô hộ,Phật giáo Ấnđộ tan tành, đến nay toàn cõi Ấn độ tín đồ Phật giáo dưới 0,1 phần trăm. Phảinhờ Phật giáo Tích lan và Tây Tạng truyền sang lại nếu không thì đã vắng bónghơn 1500 năm rồi.

Như vậy có nghĩa là năng lực của Đức Phật không bằng những thần chú do những Không hành nam hoặc nữ sáng tạo ra phải không thầy, xin thầy đừng nói rằng những thần chú này cũng do Phật để lại.

Tôi thì hiểu nôm na theo như nhà quê là:Chánh là đúng đắn, tri là biết, kiến là thấy, Trí là Trí tuệ .Nghĩa là thấybiết đúng đắn, có Trí tuệ đúng đắn. Những gì mình không biết , không thấy thìkhông được nói bậy, nói sai.

Xin thầy đừng khiêm tốn, Phật dạy như vầy, thưa thầy

- Và này các tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các tỷ kheo, chính là tri về khổ,tri về khổ tập, tri về khổ diệt, tri về con đường đưa tới khổ diệt. Này các tỷ kheo, đây gọi là Chánh tri kiến

Xin hỏi bạn,Phật giáo của dân tộc Việt Namgần hai ngàn năm nay hễ ai theo truyền thống Đại Thừa đều tin vào chư Phật, chưBồ tát, La Hán và tin vào thần chú Đại Bi, Chuẩn Đề, Lăng Nghiêm,Lục Tự và vôsố các thần chú khác, thế là họ tin sai à? Không có Chánh Tri Kiến à?

Đúng hay sai không phụ thuộc vào số đông và truyền thống, thưa thầy. đó là lý do Giáo Pháp của Đức Phật ra đời

Tôi khuyên bạn nên nói những lời này vớicác bậc Tôn Túc Trưởng lão trong giáo hội tốt hơn là nói trên diễn đàn củanhững người mới tin hay mới biết vào Phật Pháp này

Đây chính là mục đích của chuyên mục này, những người mới tin, mới biết càng cần phải xác minh thật chính xác để khỏi rơi vào tà kiến , và tất nhiên rất cần ý kiến của tất cả các bậc Tôn Túc Trưởng lão trên toàn thế giới.

Bạn biết gì về Đại thừa, về Mật tông? Đã theo học hay tìm hiểu cặn kẻ chưa haychỉ đọc qua vài quyển sách, tờ báo rồi chụp mũ như vậy? Kẻ có tri kiến đúng đắnlà phải đến tận nơi, truy tìm cặn kẽ, ngọn ngành tường tận, học hỏi đến nơi đếnchốn rồi mới phát biểu ý kiến. Nếu không sẽ tự chuốc lấy quả báo

Lịch sử Phật giáo mấy ngàn năm nay, Tiểu Thừa và Đại Thừa đều Hoà hợp như nướcvới sữa vì thế mới tồn tại song hành cho đến tận hôm nay và mai sau. Dẫu cókhác nhau về tông chỉ và phương Pháp tu tập nhưng đều kính trọng nhau vì mỗichúng sanh có căn cơ riêng. Nếu bạn thích Pháp môn và dòng phái hay sở trườngcủa bạn, bạn hãy triệt để thực hành giáo Pháp bạn có trong tay và hãy mở lòngkính trọng đến các dòng phái khác của Đức Phật, tránh tình trạng cực đoan bèphái. Nếu Trí tuệ siêu Việt, nên nghiên cứu thêm Phật giáo các nước khác như: Sikkim , Nepal, Butan,Tây tạng, Nhật, Hàn,Trung Quốc, v, v đều là những nước tu theo Đại Thừa và Mật chú. Khi đã học hỏitường tận, lúc đó phê phán hay Bình luận chưa muộn

Thưa thầy, không nên học hỏi thật nhiều chỉ để phê phán hay bình luận, mà nên tranh luận thật nhiều để được học hỏi.

Tôi và Toàn thể tín đồ Phật giáo Đại Thừa tại Việt Nam và các nước trên chân thành cámơn lời chỉ dẫn của bạn. Nếu bạn cho chúng tôi không có Chánh Tri Kiến và ChánhTrí cũng được , chúng tôi có nghiệp của chúng tôi không Cần và không phiền bạnxen vào.

Cái nghiệp cảnh chẳng phải của riêng ai, thưa thầy, tất cả đều là duyên hợp

Bạn cứ tu Pháp Thiền Định của bạn cho nhanhđạt giải thoát như Đức Phật hoặc ít ra là Đắc Alahan quả đi nhé để chúng tôiđảnh lễ, lúc đó bảo gì tôi cũng làm!

Thầy sai rồi, Chánh ngữ của Đức Phật dẫu nói ra từ miệng kẻ ác cũng nên vâng làm, lời tà ngữ dẫu nói từ miệng thánh cũng xin đừng nghe theo

Chúc thầy luôn an lạc.

wildlavender Posted Image

Posted Imagegiang2, on 31 Tháng mười 2012 - 01:20 AM, said:

Vài lời đến các vị Thiên tri thức

Tham dục càng nhiều, nghiệp lực càng mạnh, như dây cung càng kéo căng thì tên bay càng xa. Với cái tâm luôn tham sống sợ chết , tham sướng sợ khổ mà mong được này nọ thì chỉ càng làm cho nghiệp lực thêm mạnh.

Tạo cho người khác một cái tâm tham đắm luyến ái thế gian,tin vào tà kiến là làm cho vô minh tăng trưởng, là đẩy sâu người ta vào luân hồi sanh tử, sao có thể gọi là hành thiện được, ngược lại, đó là một việc làm vô cùng nguy hiểm.

Như Đức Phật đã dạy: Nếu đem tâm sanh diệt, tham cầu phước báo… mà mong được quả Vô thượng Bồ Đề thì không thể có...

“…..hoặc có Sa môn Phạm chí, hoặc trì một câu chú, hai câu chú, ba câu chú, bốn câu chú, nhiều câu chú,trăm nghìn câu chú để mong cho tôi thoát khỏi khổ đau, như thế là đi tìm sự khổ, huân tập sự khổ, dẫn đến sự khổ mà cho là hết khổ, trường hợp này không thể xảy ra.”

Lời dạy của Đức Phật luôn luôn có thể lý giải và minh chứng một cách rõ ràng, không mờ ám không áp đặt, đó là lý do chúng ta chọn đạo Phật mà không chọn những tôn giáo khác.

Mật tông là quốc giáo của Tây tạng, toàn dân Tây tạng hơn nghìn năm nay đã trì tụng vô lượng thần chú tối thượng với không biết bao nhiêu linh phù treo dán khắp núi sông.

Mong sao những thần chú kia có thể giúp đất nước Tây tạng thoát khỏi nghiệp xâm lăng, đàn áp và diệt vong, mong sao những linh phù kia có thể giúp ngươi dân Tây tạng thoát khỏi cái nghiệp nghèo khổ, bệnh tật và lưu vong.

Chúng ta ai cũng muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp, nhưng phải lấy trí tuệ làm nền tảng thì hành động mới có hiệu quả, bởi lẽ thiện và ác chỉ là hai mặt của một bản ngã hư vọng.

Như vậy nếu quý vị cứ cố chấp hành động thì không nên nhân danh Phật pháp, nếu không coi như quý vị đang đẩy Chánh pháp đến chỗ diệt vong.

“Hãy suy nghĩ cho kỹ,Mãlunkyaputta, về những gì Ta đã dạy và những gì mà Ta không dạy. Những gì mà Ta không dạy?

Ta không dạy là thế giới này sẽ tồn tại vĩnh viễn. Ta không dạy là thế giới này sẽ không tồn tại vĩnh viễn. Ta không dạy thế giới này là hữu biên. Ta không dạy thế giới này là vô biên. Ta không dạy linh hồn và thân này là một. Ta không dạy linh hồn và thân này là riêng biệt. Ta không dạy rằng một người đã được giải thoát sẽ tồn tại sau khi chết. Ta không dạy người đó sẽ không tồn tại sau khi chết.Ta không dạy rằng người đó vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết. Ta khôngdạy là người đó không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết. “

Tại sao, Ta không dạy những điều này Mãlunkyaputta? Bởi vì tất cả những thứ này đều vô ích, chúng chẳng liên quan gì đến Chánh pháp, chúng chẳng đưa tới sự yếm ly (nibbidã), không đưa đến sự ly tham, đoạn diệt, thắng trí, giác ngộ và đưa đến Niết-bàn. Đó là lý do tại sao Ta đã không dạy những điều này.

“Và này những gì ta đã dạy, Mãlunyaputta? Ta đã dạy sự thật của khổ, rằng khổ có nguồn gốc của nó, rằng khổ có thể diệt tận và rằng có con đường đưa tới sự chấm dứt khổ. Tại sao Ta dạy những điều này Mãlunkyaputta? Bởi vì chúng có ích,chúng liên quan đến Chánh pháp, chúng đưa đến sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và dẫn đến Niết – bàn. Đó là lý do tại sao Ta đã dạy tất cả những điều này.

Vì vậy, Mãlunkyaputta,hãy xem xét cẩn thận những gì Ta đã dạy và những gì Ta không dạy”. Đức Phật nói. (Kinh M. N. số 63)

…..

-“Chánh Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh Pháp thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí tự mình giác hiểu. Một vị giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Đạo sư đầy đủ đức tánh như vậy,chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.

- “Đây là thiện”, “đây là bất thiện” đã được Thế Tôn khéo giải thích. “Đây là tội”, “đây không tội”, “đây cần phải tuân theo”, “đây cần phải tránh né”, “đây là hạ liệt”,”đây là cao thượng”, “đây là đen trắng đồng đẳng” được Thế Tôn khéo léo giải thích. Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị Đạo sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn”.

………………….

Nếu quý vị là hành giả Mật tông thì nên xem lại

Đây là lời khai thị của Đức Liên HoaSanh về con đườngĐại toàn thiện

“…Người nào không chịu nổi sự xúc chạm của một đốm lửa vào lúc này mà hy vọng có thể chịu đựng ở các địa ngục nóng, là một kẻ điên rồ ! Người nào không chịu nổi một đêm đông lạnh mà hy vọng có thể trải qua các địa ngục lạnh là một kẻ điên rồ ! Người nào không chịu nổi chỉ ba ngày nhịn đói và khát mà hy vọng có thể chịu đựng sự khốn khổ của ngạ quỷ là điên rồ !Không thể chịu nổi sự khó nhọc phải mang một món hàng dầu một lúc ngắn, mà người ta hy vọng có thể chịu đựng sự khốn khổ của một con vật chở nặng là điên rồ !

Khi thân thể con gặp bệnh nặng, hãy nghĩ : “Đây là một cây roi để điều khiển tôi tiến lên trên đường giác ngộ. Đây là chỗ nương nhờ dẫn tôi đi trên đường.” Thân thể tạm thời này đến lúc nào đó sẽ bị để lại như một xác chết tầm thường. Không có cách nào tránh điều đó ! Khi bám vào hỗn hợp của thịt và máu này như là tự ngã,hãy nghĩ rằng : “Đây là một con ma xấu xa vào trong lòng tôi.” Không lơi lỏng,hãy làm bất cứ điều gì con có thể để trục xuất con ma xấu xa đó. Các kinh nghiệm của cuộc đời này đều không có tự tánh, như mộng như ảo. Hãy giữ điều ấy trong tâm !

Con và tất cả các người khác đều bị mê lầm do không nhận ra cái vốn không có tự tánh. Sự mê lầm này phải được hoàn trả lại tức thời vào pháp tánh. Hãy giữ trong tâm điều ấy ! Chớ làm điều gì sẽ đưa con đi lang thang không ngừng nghỉ trong sanh tử và sẽ chồng chất sự khổ đau không thể chịu đựng. Hãy bỏ mọi hoạt động khác và nỗ lực chỉ trong sự thực hành Pháp nó sẽ cho phép con thành tựu giác ngộ không gì sánh. Đây là điều rất quan trọng ! Vì đối với sự thực hành Pháp, “đã thực hành” thì chưa đủ. Con phải áp dụng các lời chỉ dạy sâu xa một cách đúng đắn. Hãy nhớ điều ấy !

……………….

Những hành giả các thế hệ tương lai sẽ không nghe theo lời chỉ dạy của ta. Họ sẽ đặt niềm tin của họ vào bói toán và bùa chú và sẽ thất vọng ! Hãy nhớ điều ấy !

………………………………………..

Và đây là Pháp mà Đức Liên Hoa Sanh đã dạy

Trước hết, trong một nơi kín đáo, ngồi tư thế khoanh chân kiết già trên một tọa cụ thoải mái, để hai tay ngang nhau, dựng thẳng xương sống. Nếu thân con duy trì trong trạng thái bổn nguyên của nó, thiền định xảy đến tự nhiên. Không thực hiện tư thế thân thể đúng, thiền định sẽ không xảy ra.

Tiếp theo, đối với cái nhìn, chớ nhắm mắt, chớp mắt hay nhìn qua bên. Hãy nhìn thẳng không lay động vào trước mặt. Khi cái thấy của mắt và tâm thức chia nhau một bản tánh đơn nhất, bấy giờ thiền định xảy ra tự nhiên. Không có cái nhìn đúng, thiền định không xảy ra.

Điểm then chốt của tâm là thế này: chớ để trạng thái bổn nhiên của tâm bình thường theo đuổi các dạng thức quen thuộc ở quá khứ, chớ để nó nhìn về các hoạt động phiền não ở tương lai, và chớ để nó tạo tác thứ gì bằng danh tướng ý niệm trong trạng thái hiện tại của con. Qua sự an trụ tỉnh thức trong cách thế tự nhiên của nó, thiền định xảy ra tự nhiên. Nếu con phóng tưởng hay tán tâm, thiền định không xảy ra.

Khi trong cách này con để cho ba cửa ở yên trong trạng thái tự nhiên của chúng, mọi vọng niệm thô và tế lắng xuống và tâm con yên ổn thả lỏng trong chính nó. Đây gọi là samatha, chỉ. (Khi tâm con)không chướng ngại, vô trụ, và trần trụi trong sự tỉnh giác tự nhiên (đây gọi làvipashyana, quán).(10) Khi cả hai trong một khoảnh khắc thức giác, an trụ trong sáng một cách sống động như là một thực thể không thể phân chia, đó gọi là chỉ không lìa quán. Hiểu biết theo danh tướng ý niệm là khi con giữ ý thức như một mục tiêu. Kinh nghiệm là khi con khám phá tính vô trụ của nó, và chứng ngộ xảy ra khi các trạng thái này của tâm an trụ trong sáng một cách sống động như là yếu tính của sự thiền định của con. Cái ấy không có một khác biệt nào với sựchứng ngộ của chư Phật ba đời. Nó không phải là một sự tạo tác đặt căn bản trên lời dạy sâu xa của vị thầy, cũng không phải là kết quả của trí thông minh sắc bén của một đệ tử. Đó gọi là đạt đến trạng thái bổn nhiên của nền tảng.

Khi tham thiền như thế, ba kinh nghiệm về lạc,trong sáng và vô niệm sẽ hiện bày.

Tâm thức tự do khỏi tưởng gọi là vô niệm và có ba loại. ‘Không có niệm thiện’ nghĩa là tự do khỏi sự bám níu vào người tham thiền và đối tượng được tham thiền. ‘Không có niệm ác’ là sự cắt đứt dòng tư tưởng thô và tế. ‘Không có niệm trung tính’ là sự nhận ra khuôn mặt bổn nhiên của tánh Giác như là không chỗ trụ.

Trong trạng thái vô niệm này, sự trong sáng là sự sáng rỡ không bị che chướng và trần trụi của tánh Giác. Có ba loại trong sáng. ‘Trong sáng tự nhiên’ là trạng thái tự do khỏi một đối tượng. ‘Trong sáng bổn nguyên’ không xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất thời. ‘Trong sáng bổn nhiên’ thì không do ai tạo ra được.

Có bốn loại lạc. ‘Cảm giác phúc lạc’ là tự do khỏi các điều kiện đối nghịch của không hòa điệu. ‘Lạc vô niệm’ là tự do khỏi sự đau khổ của ý niệm danh tướng. ‘Lạc bất nhị’ là tự do khỏi sự bám níu sự trụ tướng nhị nguyên. ‘Lạc vô điều kiện’ là tự do khỏi nguyên nhân và điều kiện.

Khi các loại kinh nghiệm này sanh khởi, con cần ba thứ xả ly : xả ly lạc là giống như một người điên ; xả ly sự trong sáng là giống như giấc mơ của một trẻ nhỏ ; và xả ly vô niệm là giống như một thiền giả đã hoàn thành sự tu hành thiền định của mình. Khi con có các thứ này, con thoát khỏi các khuyết điểm của thiền định.

Nếu con bị hấp dẫn và bám níu vào ba kinh nghiệm này, con lạc vào ba cõi. Khi bám níu vào lạc, con sẽ lạc vào dục giới ;khi bám vào sự trong sáng con sẽ lạc vào sắc giới ; và khi bám vào vô niệm con sẽ lạc vào vô sắc giới.

Dầu cho con nghĩ rằng con không dính cũng không bám vào chúng, con cũng còn một sự dính chấp vi tế bên trong. Để cắt đứt cái bẫy này, có chín trạng thái định liên tiếp nhau, khởi đầu bằng bốn thiền để xa lìa tư tưởng tham ái. Sơ thiền là thoát khỏi ý tưởng về người tri giác và cái được tri giác, nhưng vẫn còn nằm trong sự phân biệt một đối tượng và hành động tham thiền. Nhị thiền là thoát khỏi ý tưởng và phân biệt, trong khi còn trụ vào sự thưởng thức mùi vị vui sướng của định. Tam thiền là đạt đến tâm không động,nhưng còn hơi thở vào và hơi thở ra. Định của tứ thiền hoàn toàn thoát khỏi tư tưởng ý niệm với sự tri giác trong sáng không bị che chướng.

Bốn thiền vô sắc tẩy trừ tư tưởng ý niệm về sắc giới. Trụ vào ý tưởng “tất cả hiện tượng đều như hư không,” con lạc vào Không Vô Biên Xứ. Trụ vào ý tưởng “thức là vô cùng và không phương hướng,” con lạc vào Thức Vô Biên Xứ. Trụ vào ý tưởng “Cái Biết trong sáng là không hiện diện,không vắng mặt, và không thể tạo thành một đối tượng của tri thức,” con lạc vào Không Hiện Diện Cũng Không Vắng Mặt (Vô sở hữu xứ). Trụ vào ý tưởng “Tâm này không nhờ vào một thực thể nào ; nó là vô hữu và trống không,” con lạc vào cõi tri giác về Không Có Gì Tất Cả. Các trạng thái này còn có sự nhiễm ô vi tế của ý niệm danh tướng, sự hấp dẫn thuộc về tâm thức và các kinh nghiệm của tâm nhị nguyên.

Diệt Thọ Tưởng Định xa lìa các ý niệm về các trạng thái này. Sự dừng bặt thuộc về phân tích là sự dừng dứt của sự dấn thân của sáu thức vào các đối tượng của chúng, nó gồm cả sự cắt đứt hoạt động của hơi thở và tâm nhị nguyên. Sự dừng bặt thuộc về không phân tích là đi đến tự tánh của con. Đó là sự thản nhiên tối hậu.

Trong chín cấp bậc định này, bốn trạng thái thiền là “chỉ sanh ra quán.” Như thế, định của bốn thiền này là hòa hợp với tự tánh và là cái trổi vượt nhất trong mọi loại định thuộc về thế gian.

Bốn thiền vô sắc là các bẫy của định. Diệt thọ tưởng định là cái định bình an của bậc Thanh Văn.

Bằng sự hiểu biết những trạng thái này, con có thể phân biệt các loại định khác nhau, xóa tan các chướng ngại trong thực hành thiền định và không đi lạc.

Năm con đường bao gồm trong ba. Cắt đứt các bẫy này và thực hành một thiền định không khuyết điểm, con an trụ thanh tĩnh và sống động trong phúc lạc, trong sáng và vô niệm suốt trạng thái thiền định.(11)Trong trạng thái sau-thiền-định, các hình tướng khởi lên không ngăn chướng và đều vô tự tánh như một giấc mộng hay ảo huyễn. Con biết được bản tánh của nhân và quả, làm đầy tràn công đức, đạt được “hơi ấm của định,” và như thế hoàn thành con đường tích lũy.

Thực hành như thế một thời gian dài, con thấy được một cách hiện thực, bản tánh vô trụ và tự chiếu hiện diện nơi con. Nhận ra bản lai diện mục của con là con đường của cái thấy. Kinh nghiệm các tướng, trí huệ và tánh Không là vô sở trụ và tự thông tỏ, tức là con thấy trực tiếp bản tánh bổn nhiên không tùy thuộc điều kiện. Sự ngăn che của phiền não bị phá hủy tận gốc rễ. Chứng ngộ rằng nhân và quả đều trống không, sanh tử không có hiệu hữu chắc thật. Đây gọi là địa đầu tiên, Hoan Hỷ địa. Trạng thái thiền định không lìa rời Phật tánh và mọi sự sau-thiền-định sanh khởi như huyễn ảo.

Quen dần với trạng thái này và hộ trì nó một cách vững chắc, mọi hiện tượng trở nên bất nhị. Hãy nhận biết chúng như là tự tâm hiện, các hình tướng và tâm hòa trộn thành một. Khi tánh Không sanh khởi như nhân và quả, con chứng ngộ duyên sanh. Suốt trạng thái thiền định mọi hiện tượng là không chỗ trụ và hiện diện như tinh chất của tánh Giác. Sự hiện diện nhẹ nhàng của các hình tướng bên ngoài trong thời gian sau-thiền-định là con đường của sự tu tập.

Duy trì điều ấy một thời gian dài, con chứng ngộ rằng sanh tử và Niết bàn là bất nhị, vượt khỏi sanh và diệt, là vô trụ xứ và tự thông tỏ không trộn lẫn nhiễm ô và rốt ráo toàn thiện. Sự che chướng trí huệ hoàn toàn biến mất, và vào khoảnh khắc tất cả mọi sự hiện ra như tánh giác bổn nguyên là con đường thành tựu, tức là trạng thái Phật tánh.”

Bất kể các giáo lý Đại Toàn Thiện có thể sâu bao nhiêu, rộng bao nhiêu,trùm khắp bao nhiêu, thì tất cả chúng đều gồm trong điều này : Chớ thiền định về hay khởi tạo một thứ gì dầu nhỏ như vi trần và chớ phóng dật dầu cho một sát na.

Chớ có truyền dạy một cái thấy mà bạn chưa chứng đắc ! Vì cái thấy thì vắng dứt mọi sự thấy, nên bản chất của tâm là một sự mở rộng bao la của tánh Không. Vì thiền là không thiền, hãy buông thả cho kinh nghiệm của mình tự do thoát khỏi mọi ngưng trụ. Vì đức hạnh là vô hành, nó chính là tánh bổn nhiên không tạo tác. Vì quả thì không bỏ mặc hay hoàn thành, nó là Pháp thân của Đại Lạc. Bốn câu này là lời từ trái tim ta. Ngược lại với chúng bạn không thể nào khám phá bản tánh của Ati Yoga.

Có được thân người là cực kỳ khó, thế nên thật là ngu mê không hiểu biết Pháp một khi đã tìm được nó. Chỉ có Pháp mới cứu được bạn ; mọi thứ khác đều là sự lừa dối của thế gian.

Khi gặp bất hạnh, nếu không đặt lòng tin vào Tam Bảo mà lại cầu viện đến các nghi thức bùa chú và nương nhờ vào các hồn linh thế tục, đó là dấu hiệu rằng con đã khởi sanh tà kiến về giáo lý Đại thừa. Chớ lúng túng với lời dạy của đức Phật !

……………………

Đức Liên Hoa Sanh cũng chỉ dạy phương pháp duy nhất để giác ngộ là Thiền định.

Nhưng với bản chất cố chấp mù quáng của những người theo đạo Bon truyền thống, các dệ tử thế hệ sau của Ngài đã lạc hướng theo nghi lễ bùa chú và xa rời Chánh pháp. Quả đúng như dự báo của Ngài từ trước. Do đó chúng ta không có lý do gì để tin một cách mù quáng vào những kinh sách phát triển của Mật tông mà bỏ quên những lời dạy minh xác và thiết thực của Đức Phật, huống nữa đó lại là những điều hoàn toàn mâu thuẩn với tông chỉ của Giáo pháp, chẳng lẽ Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác lại không đủ trí tuệ để cho Giáo pháp của mình tự mâu thuẩn lẫn nhau như vậy?

Cho dù chúng ta có nhiệt tâm và nôn nóng hành thiện để độ sanh thì trước hết chúng ta cần phải có Chánh định và Chánh trí, thấu suốt nhân quả thì mới có thể hành động đúng được.

thân chào.

Để rộng đường giáo pháp không phân biệt tư tưởng thành viên tham gia, cá nhân tôi 1 lần nữa thỉnh ý Thầy, đến hôm nay tôi nhận được Thư Phúc Đáp của Thầy, Xin chuyển tải nguyên văn bức thư của Thầy đến các thành viên hữu ý mong cầu lĩnh hội.

Quote

Gởi các bạn

Viết những gì mà chứng tỏ Chánh Trí và Chánh Tri Kiến của bạn khiến kẻ này thật vô cùng ngưỡng mộ và cảm thấy xấu hổ trước sự Uyên bác và nhiệt tình hướng những kẻ ngu như chúng tôi vào Chánh Đạo! Thật là tuyệt vời!Chân thành cảm ơn bạn!

Dưới đây xin trả lời những gì mà bạn đã đặt vấn đề:

Trước hết, bạn trích dẫn ' Những khai thị của Đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại Toàn Thiện' xin hỏi bạn đã đọc!" Giáo Huấn Dakini'" của Ngài chưa?

Xin trích vài dòng tặng cho bạn:

"Trong tương lai, khi thời đại đen tối của suy đồi xảy đến, một số kẻ Tuyên bố là người theo Chánh Pháp sẽ mong muốn được dạy người khác mà không được sự cho phép. Tự họ không thực hành mà hướng dẫn người khác về Thiền , tự họ không giải thoát mà lại đòi ban Giáo Huấn giải thoát. Không bỏ tính vị kỷ, họ lại dạy người khác buông bỏ sự trói buộc của tham luyến . Không hiểu biết chút nào về hành động thiện hay ác của mình, họ diễn dãi dông dài về thiện hay ác, tà hay Chánh một cách thông suốt. Bản thân họ không ổn định lại đi Tuyên bố làm lợi ích cho người khác. Ta nghĩ sẽ có nhiều người nhân danh Giáo Pháp làm điều giả đạo đức, gạt gẫm và lừa dối"

Bạn trích dẫn những lời dạy của Đấng Liên Hoa Sanh khai thị cho Đức Bà Yeshe Tsogyal trong chương "Kho báu Ngọc quý để xua tan chướng ngại" thế bạn quên đọc chương " Không có sự xung đột giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa " à? Hay bạn quên không đọc hoặc bỏ qua không Cần đọc ? Xin trích vài câu trong đó nhờ Chánh Trí của bạn sáng soi dùm:

"Không có đức tin và lòng sùng mộ, người ta không thể nhận tinh tuý của những lời dạy khẩu truyền . Thế nên hãy Tôn thờ và Phụng sự dòng truyền thừa các Đạo Sư với niềm tin, sùng mộ và tin cậy

Chính vị Thầy là người chỉ cho con về Phật tánh hiện diện nơi chính con . Thế nên điều quan trọng là thỉnh cầu lời khai Thị từ một vị thầy của dòng trực chỉ rồi đem nó vào thực hành

Con không nhận được những sự ban Phước khi con để thân khẩu ý con trong tình trạng Bình thường. Thế nên điều quan trọng là TẬP TRUNG THÂN KHẨU Ý VÀO HIỆN THÂN CỦA HOÁ THẦN BỔN TÔN,THẦN CHÚ VÀ TRẠNG THÁI BỔN NHIÊN VƯỢT KHỎI Ý NIỆM"

Thưa bạn, hay là những lời dạy này của Đạo Bon? Và người có Chánh Trí như bạn biết phân biệt được đâu là Đạo Bon đâu là Đạo Phật trong cùng một chương của một quyển Khai Thị của cùng một người giảng khiến kẻ hèn ngu dốt này mở mắt thán phục! !!

Và bạn chỉ trích dẫn phần giữa của chương mà quên phần tiếp theo sau đó à? Xin gởi thêm những phần thiếu sót chứ như thế này người ngu như tôi sẽ bị cho là không nghiêm túc trong trích dẫn:

" Kinh nghiệm rằng các tướng , trí tuệ và tánh Không là vô sở trụ và thông tỏ, tức là con thấy trực tiếp bản tánh bổn nhiên không tuỳ thuộc điều kiện. Sự ngăn che của phiền não bị phá huỷ tận gốc và con chứng ngộ rằng nhân và quả đều không, sanh tử không có hiện hữu chắc thật . Đây gọi là Địa đầu tiên Hoan Hỷ địa. Trạng thái thiền định không rời Phật tánh và mọi sự sau thiền định sanh khởi như huyễn....

Sáng và chiều cử hành sự Tịnh HOÁ bảy phần và chớ xao lãng dâng các bánh cúng hằng ngày cùng các phẩm vật. Sám hối lỗi lầm với THẦN CHÚ MỘT TRĂM ÂM. Hãy cẩn thận với nhân quả."

Ngài dạy rõ ràng từ thấp đến cao mà bạn trích dẫn phần của Thanh Văn rồi phỉ báng Mật chú ngay trong một chương . Thật là Chánh Trí!

Bạn trích dẫn Kinh Phật nói :" hoặc có kẻ Sa môn Phạm Chí trì một câu chú , hai câu chú, trăm câu chú... để tôi thoát khổ" . Xin hỏi bạn biết Sa môn Phạm Chí là ai không? Kẻ ngu như tôi cũng biết đó là những tu sĩ cao cấp của Bà La Môn Giáo , vì họ chấp vào các Thần thế gian sáng tạo ra Hindu giáo như : Shiva, Vishnu, Brahma....Đức Thế Tôn nói về các tu sĩ theo Tôn giáo đó không phải nói về các người trì chú Mật tông Đại thừa thưa bạn!

Và Đây là lời của Đức Liên Hoa Sanh cũng trong tác phẩm bạn trích dẫn: " Là một mantrika-người trì chân ngôn không có nghĩa là lẩm bẩm các thần chú mà có nghĩa là đạt đến giác ngộ nhanh chóng qua con đường hợp nhất của phương tiện và Trí Huệ " . Xin hỏi bạn con đường hợp nhất này là con đường nào?

Đức Bà Yeshe Tsogyal hỏi Đạo Sư :" Thiền định và Trì chú cái nào quan trọng hơn trong thực hành hằng ngày?

Đạo Sư trả lời: Đối với sự hoàn thành tối thượng của Đại Ấn, khi tâm thức con mềm dẻo dễ sử dụng, sự tập trung của con sẽ mềm dẻo dễ sử dụng, và bấy giờ thực sự con sẽ gặp hình thể BỔN Tôn. Bằng cách nhận biết rằng BỔN Tôn là tâm thức , Phật tánh của chính con, lúc bấy giờ ba thân Phật sẽ Hiển lộ trong con.

Đối với sự hoàn thành những thành tựu thông thường , những hoạt động vô số như làm Bình an, tăng ích, kính mến, hàng phục v, v thì những thần chú là quan trọng nhất. Do đó hãy hoàn thành đủ biến số trì tụng. Dù con có thành tựu cái gì đi chăng nữa, con cũng phải Kiên trì trong trì chú, hãy rất Kiên trì"

Những lời dạy này của Ngài chắc là của Đạo Bon bạn nhỉ?

Mà vấn đề trên diễn đàn nói về lợi ích của Thần chú và sự tiêu nghiệp qua Đức tin vào lời chân ngôn chư Phật nên bạn đưa Thiền định vào lạc đề rồi !!. Mà đưa bạn nên đưa đầy đủ nhé.! Nhưng tôi cũng không nói thêm về thiền định nữa đâu vì có nhiều trường phái Tiểu, Đại thừa. Trình độ tôi thấp kém nói ra thành tranh chấp trường phái sẽ có tội với Phật Pháp , có lỗi với Giáo Hội, với các tín đồ Phật tử và những người các Tôn giáo khác xem vào Trang web này chê cười Toàn thể Phật giáo!( Nếu Cần bạn Liên hệ thẳng với tôi để tránh những vấn đề tế nhị!)

Là người có Chánh Trí về Nghiệp và Nhân Quả mà khi bạn nói câu: Mật tông là Quốc giáo của Tây tạng ... Mong sao cho những thần chú kia có thể giúp nước Tây tạng thoát khỏi nghiệp xâm lăng, đàn áp mong sao những Linh Phù kia có thể giúp cho những người Tây Tạng thoát khỏi đói nghèo, bệnh khổ và lưu vong" làm tôi cảm động quá! Không hiểu là mong cầu thật tâm hay miệt Thị đây. Nhưng vì bạn có Chánh Trí nên tôi nghĩ là thật và xin hỏi bạn lại một câu tương tự:

Đức Phật chứng ngộ tuyệt vời tại Bồ đề Đạo tràng như thế cùng với bao nhiêu Arahat - A La Hán thần thông Quảng đại bay vèo vèo như chim, biến HOÁ vô biên đến nỗi chư Thiên phải cung kính theo hầu mà sao dân tộc Ấn bị Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát, Anh quốc xâu xé đô hộ,Phật giáo Ấn độ tan tành, đến nay toàn cõi Ấn độ tín đồ Phật giáo dưới 0,1 phần trăm. Phải nhờ Phật giáo Tích lan và Tây Tạng truyền sang lại nếu không thì đã vắng bóng hơn 1500 năm rồi. Tôi nghĩ bạn nên mong cho Phật giáo Ấn độ đi vì nó thiết thực và gần gũi bạn hơn, đừng mong cho cái dân tộc theo Đại thừa Mật tông làm gì vì nghiệp của họ mà, không Cần bạn tử tế thế đâu ạ! Bạn cũng Cần nên nhớ lại lịch sử nước Thổ Phồn ( Tây Tạng ngày xưa) đánh chiếm Trung Quốc vào thời Đường nữa nhé! Và vì sao mà công chúa Văn Thành mang tượng Phật Thích Ca đến La sa nhé!

Bạn nói nên có Chánh Tri Kiến, Chánh Trí để đừng đưa Phật giáo đến chỗ diệt vong. Tôi thấy bạn lẩn thẩn quá. Tôi thì hiểu nôm na theo như nhà quê là: Chánh là đúng đắn, tri là biết, kiến là thấy, Trí là Trí tuệ .Nghĩa là thấy biết đúng đắn, có Trí tuệ đúng đắn. Những gì mình không biết , không thấy thì không được nói bậy, nói sai. Xin hỏi bạn,Phật giáo của dân tộc Việt Nam gần hai ngàn năm nay hễ ai theo truyền thống Đại Thừa đều tin vào chư Phật, chư Bồ tát, La Hán và tin vào thần chú Đại Bi, Chuẩn Đề, Lăng Nghiêm,Lục Tự và vô số các thần chú khác, thế là họ tin sai à? Không có Chánh Tri Kiến à? Tôi khuyên bạn nên nói những lời này với các bậc Tôn Túc Trưởng lão trong giáo hội tốt hơn là nói trên diễn đàn của những người mới tin hay mới biết vào Phật Pháp này

Bạn biết gì về Đại thừa, về Mật tông? Đã theo học hay tìm hiểu cặn kẻ chưa hay chỉ đọc qua vài quyển sách, tờ báo rồi chụp mũ như vậy? Kẻ có tri kiến đúng đắn là phải đến tận nơi, truy tìm cặn kẽ, ngọn ngành tường tận, học hỏi đến nơi đến chốn rồi mới phát biểu ý kiến. Nếu không sẽ tự chuốc lấy quả báo

Lịch sử Phật giáo mấy ngàn năm nay, Tiểu Thừa và Đại Thừa đều Hoà hợp như nước với sữa vì thế mới tồn tại song hành cho đến tận hôm nay và mai sau. Dẫu có khác nhau về tông chỉ và phương Pháp tu tập nhưng đều kính trọng nhau vì mỗi chúng sanh có căn cơ riêng. Nếu bạn thích Pháp môn và dòng phái hay sở trường của bạn, bạn hãy triệt để thực hành giáo Pháp bạn có trong tay và hãy mở lòng kính trọng đến các dòng phái khác của Đức Phật, tránh tình trạng cực đoan bè phái. Nếu Trí tuệ siêu Việt, nên nghiên cứu thêm Phật giáo các nước khác như: Sikkim , Nepal, Butan,Tây tạng, Nhật, Hàn, Trung Quốc, v, v đều là những nước tu theo Đại Thừa và Mật chú. Khi đã học hỏi tường tận, lúc đó phê phán hay Bình luận chưa muộn

Tôi và Toàn thể tín đồ Phật giáo Đại Thừa tại Việt Nam và các nước trên chân thành cám ơn lời chỉ dẫn của bạn. Nếu bạn cho chúng tôi không có Chánh Tri Kiến và Chánh Trí cũng được , chúng tôi có nghiệp của chúng tôi không Cần và không phiền bạn xen vào. Bạn cứ tu Pháp Thiền Định của bạn cho nhanh đạt giải thoát như Đức Phật hoặc ít ra là Đắc Alahan quả đi nhé để chúng tôi đảnh lễ, lúc đó bảo gì tôi cũng làm!

Chào bạn !

Giới Định Tuệ

Công Minh

Kính thưa quý Thầy cùng các bậc trưởng thượng, các bạn thành viên website.

Vậy là trang Thần Chú của chị Wild được được sự quan tâm của những bậc Thầy và các thiện tri thức qua những lời chỉ dạy vàng ngọc. Tuy nhiên qua đọc bài trao đổi qua lại của quý thầy qúi vị, Công Minh xin được góp vài ý kiến:Phật giáo bản chất vốn hòa bình và mong muốn đem lại hòa bình cho nhân loại. Trong tu học giữa Thầy – Trò; Bạn đạo đồng ý là phải có có sự góp ý, tranh luận, phản biện ...nhưng nên mang tính xây dựng không nên mang tích đả phá, chiến đấu.

Qua bài trên, Công Minh thấy chị Wild đây cũng vì muốn mang sức mọn “vận chuyển” chút lợi lạc từ những năng lượng an lành của Đạo Pháp đến cho chúng sanh bằng việc gửi tặng Thần Chú cho mọi người vận dụng , chứ đâu có thuyết giảng hay xui thúc mọi người về tư tưởng, học thuật tà vay.

Vậy mà thành viên giang2 đã có lời nặng, mang tính chiến đấu rất cao.

Vẫn biết trong 3 truyền thống Phật giáo phổ biến hiện nay : Nguyên Thủy – Đại Thừa và Kim Cương Thừa, có những nét dị đồng về hình thức , phương pháp, nội dung nhưng tư tưởng căn bản không khác về tính : giác ngộ và giải thoát. Tất cả kinh điển của 3 Thừa đều chung một ghi nhận là : Đức Phật trong 45 năm thuyết pháp độ đời Ngài để lại cho thế gian ba tạng kinh gọi là Tam Tạng. Trong đó có tám mươi bốn ngàn pháp môn.“ Đức Phật trong 45 năm thuyết pháp độ đời Ngài để lại cho thế gian ba tạng kinh gọi là Tam Tạng. Trong đó có tám mươi bốn ngàn pháp môn. Hiện nay ít có người học hết hay đọc hết thì làm sao có người giải rõ được lợi ích của Tam Tạng. ? Rất tiếc bao nhiêu tinh hoa thâm thúy của đấng Giác Ngộ bị cất sâu vào một nơi,cũng như thuốc hay, thuốc quý có sẵn mà người đời không biết sử dụng” – Trích Tìm Hiểu Phật Giáo ( MAHÃ THONGKHAM MEDHIVONGS – Thượng tọa Minh Đức Triều Tâm Ảnh hiệu đính và nhuận sắc )

Giả sử 84.000 pháp môn được hiển lộ hết ra thì chắc mấy ai dụng theo được hết các pháp môn ấy, mà có lẽ chẳng cần phải dụng hết 84.000 pháp vì chỉ cần chuyên cần một pháp thì rồi cũng có ngày thành đạt. Đức Phật bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác , Ngài biết chúng sinh nhiều thể, trở ngại nhiều dạng nên ban cho số lượng như vật để tùy Cơ và Duyên.Cả hai Tiểu thừa và Đại thừa đều bắt nguồn từ vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp và tư tưởng.Xưa thường nói có mâu thuẫn giữa Tiểu Thừa với Đại Thừa. Nhưng nay đã có quan điểm Tiểu Đại Thừa không xung đột. Vậy chả nhẽ ta nay đi tàu ngầm rồi đi chê máy bay không phải là phương tiện vận chuyển!? Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa trong lần thứ 2 sang thăm Việt nam, tại chùa Phổ Quang ( tp.HCM) Ngài có bài pháp, trong đó Ngài ca ngợi tất cả các Thừa, có một ý mà bản thân Công Minh lấy làm tôn chỉ - đại ý là : “ Người Phật tử theo truyền thống Kim Cương Thừa phải học giáo lý của Tiểu Thừa - sa. Hīnayāna, thực hành theo Đại Thừa – sa. Mahāyāna và tu tập theo Kim Cương Thừa - sa. Vajrayāna ”

( Kính thưa những hành giả sơ cở, nếu ai đọc bài này có quan tâm xin vào đường dẫn dười đây để tham khảo về các tông phái trong Phật giáo ): các tông phái phật giáo

Trước đây tình hình tu học của Đạo Phật tại Việt Nam theo hai trường tông chính là Tiểu thừa và Đại thừa, Kim cang thừa không chính thức một số qúy thầy tu Mật tông thì theo truyền thống Đông Mật. Những năm gần đây Việt Nam đã có phương pháp tu Kim cang thừa chính thống. Với những nội dung tác giả giang2 truyền tải, thì thành viên đây là hành giả theo tiểu thừa ( Nam Tông ) và xem ra với cách đặt vần đề từ tốn, các dẫn đắt từ kinh điển Nguyên Thủy, tác giả giang2 có chủ ý khinh thường, đả phá Kim Cương Thừa mà xa hơn là Đại thừa thì đúng hơn là sự trao đổi, truyền tải những tư tưởng, kiến thức giá trị của Đạo Pháp.

“Mong sao những thần chú kia có thể giúp đất nước Tây tạng thoát khỏi nghiệp xâm lăng, đàn áp và diệt vong, mong sao những linh phù kia có thể giúp ngươi dân Tây tạng thoát khỏi cái nghiệp nghèo khổ, bệnh tật và lưu vong” giang2

Những lời trên đây ý như là bất kính đến Mật Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma hơn là lời thành ý , bời nếu nói như vậy thì : Đạo Phật sẽ là phi lý và vô ích - do lịch sử phát triển và tồn tại của dòng họ Sakyã, của Phật giáo tại Ấn Độ, NêPal… và hoàn cảnh cuộc sống của người dân cũng tại những nơi đó hiện nay. ( Những ai quan tâm có thể tìm đọc những tác phẩm của Hòa Thượng Thích Huyền Diệu về vùng Đất Phật để hiểu thêm về lịch sử phát triển, điều kiện cuộc sống của đất nước con người nơi đây.)

Không xúi người khác làm bậy, suy nghĩ thực hành để giác ngộ và giài thoát, đem lợi lạc đến bản thân và chúng sinh. Thiết nghĩ các tông phái Phật Giáo như các ngón tay trên một bàn tay hay như các đầu chi trên một cơ thể, ngón ngắn - ngón dài; ngón cong - ngón thẳng; ngón trên - ngón dưới …. Dù hình hài thế nào vẫn là ngón chi thuộc về chi và một thân thể. Chia rẽ phân biệt khinh khi chẳng khác nào ngón cái bấm đau ngón trỏ hay tự cấu vào chân mình. Mà xa xôi hơn biết đâu đây là hành vi cố tình hủy hoại thân thể một cách khéo léo. Với cách đặt vấn đề và những chứng minh mang tính thiếu “thiện cảm” đối với Kim Cang Thừa của tác giả giang2, Công Minh e rằng chuyên mục sẽ nhận lại những phản hồi căng thẳng của những hành giả Mật Tông trên toàn thế giới.

Vì vậy xin chị Wild hết sức lưu ý, bình tâm, khách quan và kiên định

giang2

Phước báu cho những ai đọc được kinh này

Kinh Tăng Chi Bộ

Anguttara Nikàya

Hòa Thượng Thích MinhChâu dịch

CHƯƠNG HAI

HAI PHÁP

III. PHẨM NGƯỜI NGU

1-10

1. - Này cácTỷ-kheo, có hai loại người ngu này. Thế nào là hai ? Người có phạm tội nhưngkhông thấy có phạm tội, và người không chấp nhận người khác như pháp phát lộtội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này.

Này các Tỷ-kheo,có hai loại người có trí. Thế nào là hai ? Người có phạm tội là thấy có phạmtội, và người chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này cácTỷ-kheo, có hai loại người có trí này.

2. Này cácTỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai ? Người độc ácvới tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có haihạng người này xuyên tạc Như Lai.

3. Này cácTỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai ? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõNhư Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo,có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.

4. Này cácTỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai ? Ngườinêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai có nói, có thuyết, và người nêu rõNhư Lai không nói, không thuyết là Như Lai không nói, không thuyết. Này cácTỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai.

5. Hai hạngngười này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai ? Người nêu rõkinh cần phải giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đãđược giải nghĩ là kinh cần phải giải nghĩa. Hai hạng người này, này cácTỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai.

6. Hai hạngngười này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai ? Người nêurõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa, và người nêu rõ kinhđã được giải nghĩ là kinh đã được giải nghĩa. Hai hạng người này, này cácTỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai.

7. Với người cóhành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi : địangục hay bàng sanh. Với người không có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, mộttrong hai sanh thú được chờ đợi : chư Thiên hay loài Người.

8. Với người cótà kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi : địa ngục hayloại bàng sanh.

Với người cóchánh kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi : chư Thiênhay loài Người.

Người theo ácgiới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận : địa ngục hay loài bàng sanh. Ngườiđầy đủ thiện giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận : chư Thiên hay loàiNgười.

9. Do quán thấyhai lợi ích, này các Tỷ-kheo, Ta đi đến các ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xavắng. Thế nào là hai ? Thấy tự mình hiện tại lạc trú, và có lòng thương tưởngđến chúng sanh về sau. Do quán thấy hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, nên Ta điđến các ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng.

10. Có hai phápnày, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai ? Chỉ và quán. Chỉđược tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì ? Tâm được tu tập. Tâm được tutập, chờ đợi lợi ích gì ? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập,này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì ? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợilợi ích gì ? Cái gì thuộc về vô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, nàycác Tỷ-kheo, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ khôngđược tu tập. Do vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệgiải thoát.

Công Minh

Cập nhật lúc 03 Tháng mười một 2012 - 01:59 AM

Thưa chị Wild, thành viên diễn đàn

Tình hình thế này thì đúng là không ổn rồi.

Công Minh theo lời dậy của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa 12 : “ Người Phật tử theo truyền thống Kim Cương Thừa phải học giáo lý của Tiểu Thừa - sa. Hīnayāna, thực hành theo Đại Thừa – sa. Mahāyāna và tu tập theo Kim Cương Thừa - sa. Vajrayāna ” Nên kính ngưỡng tất cả các thừa Phật Giáo.

Tuy nhiên, với những ý kiến của thành viên giang2, đối chiếu với những bài dẫn trên từ các trang phật giáo khác, thì tiễn biến này không khác gì chuẩn bị cho một cuộc “thánh chiến” trong lòng Phật giáo. Nghĩa là lại lặp lại tranh luận của Tiểu Thừa với Đại thừa, đã từng xảy ra từ hàng ngàn năm trước đây.

************

Kính ngưỡng bạch Chư Tôn Túc Hòa thượng, Thượng Tọa, Đại Đức tăng ni, kính thưa các bậc thiện tri thức, huynh tỉ trưởng thượng…. đã ghé thăm trang tin này …. dưới đây con xin qúy Thầy đại xá cho con được trình bày vài kiến thức thô lậu với hàng sơ cơ như con, xin quý Thầy hoan hỉ.

Thưa các bạn

Nôm na theo kiểu đời thường để phân định :

a/ Phật giáo Nam tông : Tự lợi tự độ - Tự lực, Tự tu, tự chịu, tự hưởng . Ai có nghiệp thì tự chịu, không có gì làm thay đổi được ngoài mình ( ví dụ : bị tội kêu án tù ngồi 12 tháng thì phải ngồi đủ 12 tháng, không có việc xem xét nhân thân để giảm án hay khi thụ án được hưởng khoan hồng )

Thế nên không có vị nào cứu độ như Bồ Tàt bên Bắc Tông, không có các phương pháp Tha lực.

Chùa Phật giáo Nam truyền : không có thờ hình tượng các vị Bồ Tát, nghĩa là không có Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn; không có Địa Tạng Bồ Tát cứu vớt địa ngục trầm luân…… nhưng có tôn thờ các vị Thánh Tăng như : Bậc Tài Lộc Đệ Nhất Thánh Tăng SiVali ( hiện nay ờ Việt Nam cũng có nhiều chùa, phật tử tại gia thờ Thánh Tăng SiVali )

(- Ủa, không cần tha lực đi cầu Ngài SiVali cho tiền tài là sao nhỉ ? ngộ ha ! )

b/ Phật giáo Bắc Tông ( Đại thừa ) và Kim Cương Thừa : Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm hành vi. Nên có hạnh Bồ Đề, Bồ Tát Đạo có các vị Bồ Tát cứu độ thế nhân. Ngoài Phật Thích Ca còn có nhiều vị cổ Phật ( Tỳ Lư Già Na ; Ngũ Trí NHư Lai …. ) và các vị hiện Phật ( A Di Đà Phật – Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai …)

Vì thế nên với Phật giáo Đại thừa khi chúng sinh có khổ, có nạn thì có nơi nương tựa, chẳng may nghiệp nạn đến nặng nề thì có phương pháp

“ giảm nhẹ thiên tai ” như Cầu An, Đảo bệnh hay Cầu siêu, Bạt độ …..

Đã làm gì đó thì phải có phương tiện và phương pháp, Phật giáo Đại thừa ngoài Tam Tạng kinh điển còn sử dụng Ấn - Chú – Phù ….. làm “ công cụ hỗ trợ” hoặc “ trạm thu phát sóng” cho năng lượng của đấng tối cao.

Tất cả những điều đó không ngoài tinh thần tự độ độ tha ,

Nhưng cái đích lớn nhất của Đại Thừa vẫn là Giác Ngộ và Gỉai Thoát. Nên Đại thừa chân chính không kéo con người mê đắm vào Thần thông , quyền năng …. mà chỉ xác định đó là phương tiện trên con đường Giác Ngộ và Gỉai Thoát.

Việc lý tưởng hóa những “ phương pháp” đó ở đâu đầy là của ai đấy, cá nhân đấy chứ không phải của tông phái.

Như vậy qua những bài của thành viên giang2, nôm na hiểu ý tác giả muốn truyền tải ý sâu xa rằng : Tóm lại chả thay đổi được gì đừng có mà mơ !!!

“ mình là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, không có ngoại lực nào có thể làm thay đổi nghiệp của mình được “

Và như vậy thì xin thưa quý vị quan tâm :

- Quý vị bị bệnh ốm, quý vị hãy ráng đi đừng đến bác sĩ làm gì vì căn bệnh đang phát của quý vị chính là một dạng trả nghiệp đấy. Quý vị nào bản thân và thân nhân chẵng may phát bệnh ung thư, thôi chịu ráng rồi chết đi đừng mong cầu cải thiện gì nữa. Hay thấy đứa bé chết sắp chết đuối thì kệ nó, nghiệp của nó nó phải trả, đụng đến làm gì. Vì theo lời quý ngài giang2 đây : không có ngoại lực nào có thể làm thay đổi nghiệp của mình được (1)

- Đầu năm quý thầy, quý vị đừng thiết đàn Dược Sư để cầu An Bình , cuối năm khỏi lễ Di Đà; lúc xa cơ thất thế họan nạn dọc đường, trên biển thì ráng mà chịu đi, không có ai là Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn đâu mà van vái . Và dĩ nhiên, trong chùa sẽ không phải thờ các bậc bồ tát. Vị tượng tay hình thái người nữ, tay cầm tịnh bình, tay nhành dương liễu, toàn thân một màu trắng tinh khiết, đứng trước cửa chùa mà nhiều quý bà quý cô gọi tha thiết là Mệ Hiền là …..không cần đâu, Quý vị có thể vào một số bệnh viện đề nghị họ dẹp bỏ các điểm thờ phụng tượng một vị có hình tướng như diễn tả ở trên, xung quanh có treo các biển ghi nhớ tạ ơn Ngài. Vì rất có thể theo quý ngài giang2 đây là không có những vị đó đâu, là mê tín dị đoan không chừng.

Theo tư tưởng của ngài giang2 thì không có Kinh Pháp Hoa, không có phẩm Phổ Môn. Hay câu chuyện sau đây, đăng trên báo Giác Ngộ sẽ là câu chuyện ba xạo, theo quan điểm của quý ngài giang2

Niệm danh Bồ-tát cứu khổ nạn : Giac ngo

- Các vị không cần phải in ấn : Bạch Y Thần Chú ; Chú Đại Bi hay Dược Sư Quàn Đảnh Chân Ngôn để ấn tống làm gì cho tốn kém, mà cũng không cần trì tụng những thần chú đó nữa vì làm gì có hiệu lực giúp quý vị điều gì đó tốt hơn mà tốn công, tốn của . Vì theo ngài giang2 đây làm gì có thần chú của Phật của Bồ Tát mà trì niệm.

- Xa hơn nữa quý vị có thể kiến nghị đến một số quốc gia Phương Tây như cụ thể là Mỹ, Pháp, Đức và Liên hiệp quốc hay hội đồng bảo an liên hiệp quốc có động thái ngăn cản những hoạt động của Đức Đạt Lai Lạt Ma, vì Ngài là trưởng dòng Gelug ( một dòng lớn của Mật Tông Tây Tạng) là không phải Phật Giáo chính thống đâu, quan hệ với Ngài e không chính tắc mà lại còn mất tình cảm với Trung Quốc. Đồng thời xem xét lại Vạn Phật Thánh Thành trụ xứ của hòa thượng Tuyên Hóa , làm gì có thần chú với thần thông mà hòa thượng giảng Chú Đại Bi có thể dừng mưa, cứu mạng người, làm gì có Bồ Tát mà thuyền viên Việt Nam khi gặp nạn trên biển cầu nguyện thì lại nhận được những gia hộ kỳ lạ. Kể cả việc Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, mặc dù pháp môn thiền cuả Ngài là “Thiền trong giây phút hiện tại” nhưng làm gì có năng lượng tình thương của Bồ Tát Quan Thế Âm mà Ngài khuyên Phật tử chuyển tải đến người thân của mình cùng đồng loại, trước và sau thời khóa thiền.

- Gần hơn thì xin thưa các vị thầy lý học ( Phong thủy, tử bình , tứ trụ, bát tự hà lạc và cả thầy cúng ….) như thầy Thiên Sứ, Thiên Đồng, Thiên Luân, Thiên Anh, Hạt Gạo Làng …..ở diễn đàn này cũng như các thầy ở diễn đàn khác và cả những thầy không xuất hiện trên diễn đàn …… các vị nên giải nghệ đi, làm quái gì có phong thủy xoay chuyển thời vận, ngũ hành can thiệp số phận, hay vận hà lạc mà đối xử đời người, cần gì các vị phải lên quẻ bấm, tay , dò chân , ngắm trăng nhìn mặt trời để đoán động đất sóng thần, xem mưa bão. Chả giải quyết được gì đâu, bởi nhà cửa gia đình quý vị lộn xộn, công việc làm ăn bết bát, người đời đối xử bất công, con cái hư hỏng bất hiếu, vợ chồng lục đục bất hòa, thậm chí các vị chết đến nơi rồi là đó là do cái nghiệp của quý vị cả thôi.

“ mình là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, không có ngoại lực nào có thể làm thay đổi nghiệp của mình được “ – Ráng đi.

Xin thưa cho rõ kẻo các vị lại chửi tôi te tua , Đức Phật và Phật Giáo vẫn xác nhận những thuật toán đó của “Đời” ạ. – nhưng cư xử với những thuật toán này thì có quan điểm và tư tưởng riêng . Vần đề này dài không trao đổi ở đây được, ai có nhu cầu tìm đọc : Liễu Phàm Tứ Huấn để thêm thông tin suy luận. – Tất lẽ dĩ ngẫu tư tưởng và nội dung Liễu Phàm Tứ Huấn đương nhiên nằm trong tư tưởng Đại thừa

***

Một tin mới : từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số công bố vào năm 2010 đã cho thấy số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm đến mức chưa từng thấy: 6.802.318 người trên 95.000.000.000 dân (6,8 triệu/ 95 triệu ), chiếm 7,92% dân số! . Xin

Xem thêm bài ở đây : So luong Phat tu

Và với cách chứng minh vấn đề của thành viên giang2, có thể số lượng Phật tử tại Việt Nam chỉ còn vài phần trăm so với : 6.802.318

Và rồi số lượng này sẽ chả phát triển là bao, khi so tỉ lệ với mức tăng dân số trong những năm tới đây. Là vì : Những quan điểm về Đạo Pháp như thành viên giang2 trên đây đưa ra dễ làm thối chuyển tâm hướng đạo Phật của chúng sinh. ( vì e rằng được bao nhiêu tín đồ đạo Phật ở Việt Nam và Đông Á là cho là : Họ theo Phật giáo không cần đến tha lực )

Như nhận định của bác Chấn Nguyên rất có thể thành viên giang2 là một tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy, mà đúng như vậy thì :

Công Minh con xin bạch thầy ! tình trạng giáo đoàn như vậy mà thầy lại khơi gợi những mâu thuẫn con con đó ra,để làm sút giảm lòng tin vào giáo pháp của Đức Như Lai, chúng con hàng Phật tử thấy tủi lắm.

Quý thầy có biết chúng con ( trong nam) phải vận bao trí để gỉai thích cho hàng em út từ ngoài bắc vào không được khinh xuất, bất kính – vì các em thắc mắc tại sao bữa ăn chùa Nam tông quý thầy ăn thịt, còn chùa Bắc phái thuần chay. Tại sao chùa Nguyên Thủy thờ có mỗi vị tượng còn chùa ngoài bắc chúng em thờ nhiều tượng lắm. Hay mấy ông thầy Nam tông không phải là đạo phật ??? Không phải đâu các em ơi, quý Thầy là hàng tu sĩ Phật giáo hết thảy, nhưng do ……. Chúng ta đều phải kính ngưỡng, cúng dường……..

Phương tiện thầy ơi!

Công Minh nhớ lời dạy của Thầy Thích Trí Không ( một bậc Lama Kim Cang thừa của Việt Nam hiện nay ) giảng tại chùa Lâm Huê :

“ Các bạn tu học theo KCT đừng vọng tưởng, chú trọng đến thần thông. Đừng tưởng tu học KCT để đi mây về gió, để biến hóa nọ kia như tôn ngộ không. Thần thông là chuyện nhỏ, cái cơ bản và quan trọng là giác ngộ và giải thoát, cứu độ chúng sanh theo tinh thần Bồ Tát đạo …..”

Còn nếu thành viên giang2 cũng là hàng Phật tử

Nhưng theo đường lối Nguyên Thủy, thì xin bạn cứ vững tâm tu tập theo tín tâm của mình. Còn việc bạn cổ súy và vận động tín đồ qua mạng, thì bạn hoàn toàn có thể đề nghị diễn đàn và trung tâm cho bạn một mở một Topic về Phật giáo Nguyên Thủy.

Đừng xen vào công kích đồng đạo . Gây mất lòng tin vào Tam Bảo của biết bao hàng sơ cơ.

Đừng thô thiển tước đi những bức tượng Bồ Tát ở nhiều ngôi chùa trên đất Việt nói riêng và thế giới nói chung, cũng những niềm tin cậy của chúng tôi đến quý Ngài trong cuộc sống đa đoan này.

Còn nếu là ngoại đạo :

Thì đừng gây chia rẽ hay phá hoại Phật giáo bằng chiếc áo khoác như vậy.

Và như thế

Bạn nói : Thầy sai rồi .

Thì tôi nói : Bạn bậy quá !

****

Để chuyên mục này được ổn định theo đúng phương châm của chị Wild, nên đề nghị ban điều hành diễn đàn chuyển ý kiến của bác giang2 vào một topic mở riêng cho bác ấy về Phật Giáo Nam Tông, để bác giang2 tiếp tục trao đổi kinh nghiệm, học thuật và giáo lý Nam truyền.

Các bạn học đạo sơ cơ cũng nên tìm đọc các bộ kinh của Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, Cư sĩ Phạm Kim Khánh dịch, sách của ngài Hộ Pháp, Sách của đại đức Thiện Minh …….để hiểu thêm về giáo lý nguyên thủy.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát

Nam mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát Ma Há Tát tác đai chứng minh

Công Minh

Công Minh

Cập nhật lúc 03 Tháng mười một 2012 - 02:07 AM

Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bậc Bồ Tát

Sáng Rực Khắp Bốn Phương

PHẠM CÔNG THIỆN

TRÍCH CHƯƠNG 3 :

BỐN ĐIỀU LÀM LÙI MẤT

TRÍ HUỆ CỦA BỒ TÁT

“ Vào ngày ấy, Đức Thế Tôn dạy bảo Trưởng Lão Mahakasyapa (Ma Ha Ca Diếp) rằng:

- Này Đại Ca Diếp! Có bốn điều khiến cho trí huệ của một Bồ Tát bị sút giảm hoặc bị đánh mất. Bốn điều này là bốn điều gì? Đây là bốn điều làm thối thất, làm lùi mất đi trí huệ của một Bồ Tát:

1. Không tôn kính Phật Pháp và không kính trọng những vị Pháp sư, những bậc thầy dạy Phật Pháp;

2. Giữ lại Phật Pháp thâm sâu bí ẩn mà mình đã thụ lãnh và không chịu khai mở cho người khác một cách trọn vẹn;

3. Làm chướng ngại tinh thần những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách gây tạo những nhân duyên lý lẽ làm cho họ hoang mang nản lòng;

4. Có lòng tự cao, tự đại, kiêu ngạo, ngạo mạn, và khinh thường những kẻ khác hay miệt thị những kẻ khác.

Đó là bốn pháp làm thối thất lùi mất trí huệ của Bồ Tát”.

****

Con người bình thường không thể nào so sánh được với bậc Bồ Tát; chỉ có những kẻ phi thường xuất chúng mới tiến lên gần gũi đôi chút với trí huệ Bồ Tát. Nhưng trí huệ của Bồ Tát cũng được thể hiện trong nhiều cấp bậc khác nhau từ địa thứ nhất (hoan hỷ địa) cho đến địa thứ mười (pháp vân địa). Những bậc Bồ Tát còn ở những giai đoạn thấp phải thường trực thức tỉnh, giữ gìn tâm thức trong sáng và trong sạch trọn vẹn để khỏi phải đánh mất trí huệ phi thường của mình. Đức Phật đã chỉ dạy bốn điều vô cùng quan trọng cho tất cả chúng ta, mỗi khi chúng ta muốn dấn bước vào con đường Bồ Tát Hạnh, chỉ khi nào lên tới bất động địa (địa thứ tám) thì mới hẳn là bất thối chuyển. Phải tu chứng bao nhiêu kiếp khó khăn mới may ra được lên địa đầu tiên thứ nhất (hoan hỷ địa). Tất nhiên, khi đã là bậc Bồ Tát ở sơ địa, ở địa thứ nhất (hoan hỷ địa), bốn pháp làm thối thất trí huệ không hẳn không còn tác động một cách vi tế, âm thầm lặng lẽ, khó nhận thấy dễ dàng.

Do đó, đức Phật đã dạy bảo Bồ Tát ngay từ đầu bốn điều cực trọng:

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình không kính trọng Phật Pháp và không kính trọng sư phụ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình cố tình giữ giấu đạo lý bí ẩn thâm sâu mà mình đã được và không chịu mở bày, truyền đạt, giảng giải cho kẻ khác để đem lợi phúc cho họ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình gây chướng ngại cho những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách cho họ những lý do duyên cớ để họ chán nản, thoái chí thất vọng trong việc hành đạo.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình nỗi lên lòng kiêu mạn, kiêu ngạo và kiêu hãnh, tự cao, tự phụ, khinh thường kẻ khác, không biết quý trọng kẻ khác.

Thế nào là không kính trọng Phất Pháp?

Có nhiều dạng thái dễ nhận thấy, nhưng có nhiều hình thái khác rất khó nhận ra, nhưng rất nguy hiểm, như những trường hợp sau đây:

Bên ngoài lộ vẻ kính trọng Phật Pháp, nhưng bên trong tận đáy lòng thì vẫn dửng dưng thờ ơ;

Tách rời Phật Pháp với bản thân, với tâm thức của mình; có thái độ nhị tướng (phân ra hai thực thể tách biệt với nhau), một bên là Phật Pháp và một bên là bản thân tâm thức của mình;

Coi Phật Pháp như một môn ở trường ốc để biến thành đề tài hý luận, để khoa trương sở học “uyên bác” của mình;

Không thực hành Phật Pháp, không tu hành Phật Pháp vẫn là hình thức rõ rệt nhất về việc bất tôn trọng Phật Pháp; tuy là hình thức rõ rệt nhất nhưng vẫn khó nhận ra nhất, vì sự tu hành chỉ được thể hiện trong chiều kín đáo nhất và sâu thẳm bí mật nhất của tâm thức mình.

Thế nào là không kính trọng Pháp sư?

Tất cả những thầy dạy Phật Pháp đều là những Pháp sư của mình, dù có vị chỉ dạy một chữ duy nhất thôi hay chỉ dạy bằng cách mỉm cười hay bằng một cái nhìn đầy từ bi hay bằng sự im lặng liên tục từ năm này qua năm khác.

Kính trọng Sư phụ là luôn luôn nhìn Sư phụ với cái nhìn trong sạch (chữ Tây Tạng gọi là “dag snang” mà người Anh Mỹ dịch là “pure vision”, “pure perception”, tức là coi tất cả chúng sinh đều là trong sạch, hoàn thiện tự bản lai nguyên ủy).

Trong Kinh Ứng Hiện Về Tịnh Kiến (Dag snang sprul pa’i legs bam) Bồ Tát Thánh Tăng Shabkar của Phật giáo Tây Tạng đã giải thích về việc cần phải khai triển cái nhìn trong sạch trong việc tin tưởng và tôn trọng kính ngưỡng tất cả những bậc Đạo sư, dù có những bậc Đạo sư không từ bỏ ngũ dục và đã sử dụng ngũ dục như là sự trang nghiêm cho mật hạnh của họ. Mình không là Phật và không được có cái nhìn dơ bẩn về những bậc Đạo sư thọ hưởng ngũ dục này và phải luôn kính trọng hoàn toàn tất cả bậc Đạo sư, không phân biệt gì cả. (Tất nhiên, khi mới bắt đầu học đạo thì cần phải biết phân biệt đâu là minh sư, đâu là tà sư, nhưng sau khi đã tu hành sâu rộng hơn thì tất cả mọi sự đều là cảnh hoạt hiện huyễn ảo của Đạo sư và tất cả hoàn cảnh xấu tốt đều trở thành bậc Thầy dạy đạo cho chính bản thân, cho chính tâm thức lưu chuyển vô tận của mình).

Tuy nhiên, một Đạo sư chân chính không bao giờ vướng kẹt vào ngũ dục, không bao giờ nô lệ vào sắc, thanh, hương vị và xúc. Một Đạo sư đúng nghĩa chẳng bao giờ bị trói buộc bởi tiền tài, danh vọng, sắc dục, ăn uống và ngủ nghĩ. Một Đạo sư đáng kính không bao giờ chỉ trích tấn công những Đạo sư khác một cách trực tiếp, một cách gián tiếp hay một cách mỉa mai ám muội.

Một trong những điểm nổi bật nhất dễ nhận thấy nơi một Đạo sư là lòng từ bi tự nhiên, tự phát và không có tính cách thảm kịch theo điệu tình cảm thường nhân.

Điểm sáng rực nhất ở một Đạo sư là sự khiêm tốn lạ lùng nhất và lòng kiên nhẫn phi thường nhất, đồng thời thể hiện sự đồng nhất dị thường siêu việt giữa Phật Pháp và Pháp sư. Không bao giờ có sự dị biệt hay tách rời mảy may giữa Phật Pháp và người dạy Phật Pháp. Mỗi một cử chỉ của bậc Thầy làm sống lại tất cả cử chỉ của chu Phật và chư Đại Bồ Tát. Mỗi một bậc Thầy là một vị Phật di động tự tại giữa sinh tử luân hồi. Do đó, kính trọng Phật Pháp cũng đồng nghĩa với việc kính trọng những vị Pháp sư, và kính trọng những vị Pháp sư cũng chính là tôn trọng Phật Pháp.

Điều thứ hai nêu ra ở trên: “nhận thọ giáo pháp thâm sâu bí ẩn mà chẳng nói hết cho những kẻ khác biết tới để tu hành”, “ôm lại những pháp môn thâm sâu bí ẩn mà mình đã lãnh thọ và không chịu khai mở truyền lại cho người khác một cách trọn vẹn”, điều này không có nghĩa rằng lúc nào cũng cần phải rao giảng, lúc nào cũng giảng nghĩa Phật Pháp, vì tất cả đều tùy thuộc vào thời, vào tiết, vào nhân và vào duyên. Phải có đủ bốn yếu tô hiện diện đồng lúc (thời, tiết, nhân và duyên) thì mới khai mở được trọn vẹn bất cứ việc gì trên đời này; hơn nữa, tùy thuộc vào căn cơ và tập khí từng người mà sự tương giao liên hệ mới được thiết lập một cách hữu hiệu tốt đẹp. Điều thứ hai ở đây chỉ nói lên lòng Bố Thí bao la của bậc Bồ Tát, và tất nhiên sự Bố Thí lớn lao nhất là Bố Thí Phật Pháp, bố thí hiến dâng tất cả giáo lý pháp môn của Phật Pháp toàn diện cho tất cả chúng sinh, vì lợi phúc hưng thịnh vô tận cho tất cả chúng sinh để long thịnh Phật chủng.

Điều thứ ba: “Làm chướng nạn cho những người ưa thích tu hành vì nói ra những lý lẽ giải thích khả dĩ gây ra sự chán nản thất vọng cho việc tu hành của họ”, “làm chướng ngại tinh thần những kẻ vốn vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách bày biện những duyên cớ lý do khiến cho họ hoang mang nản chí…”

Xin cử ra đây một trường hợp thường xảy ra: có những bậc chân tu lại bị trói buộc vào “chủ nghĩa khoa học vạn năng” (scientism) hoặc bị ảnh hưởng bởi một cách nông cạn bởi thuyết “triệt tiêu thần thoại” (demythologization) hay “phá hủy huyền thoại” theo điệu thần học Tin Lành của nhà thần học Rudolf Bultmann (gọi là “Ent-mythologisierung” trong Đức ngữ mà người Anh Mỹ gọi là “dethologizing” hay “religion without myth”, “tôn giáo không cần thần thoại”, loại bỏ huyền thoại”), họ liền đề nghị một thứ đạo Phật không còn thần thoại hay linh thoại gì cả. Họ đả kích những lời lẽ trong kinh Phật có liên hệ tới những điều khó hiểu như việc đức Phật sinh ở nách hay hông của hoàng hậu mẫu thân hay như 32 tướng của đức Phật, và họ tự cho rằng “ người đời sau tự ý bày đặt thêm vào những điều thần thoại như việc đức Phật hiện thân làm con voi trắng sáu ngà vào thai mẹ , đức Phật từ hông của mẹ mà nhập thai, 32 tướng tốt của đức Phật, vân vân, nghĩa là người đời sau làm interpolation, vân vân…”

Dù với thiện chí cao cả nào đi nữa trong việc “canh tân” hay “hiện đại hóa” giáo lý Phật Giáo, những việc làm vừa nêu ra ở trên của những bậc chân tu (hay những bậc “thiền sư hiện đại”) đều vô tình phô bày ra những hiện trạng quái lạ sau đây:

Gây ra nỗi hoang mang, lòng bối rối ngờ vực hoài nghi trong tinh thần yếu đuối của những Phật tử thuần thành chất phác. Khiến cho họ trọng vọng những tiêu chuẩn nhất thời của những khoa học hữu hạn thuộc phạm vi thế tục, hơn là sống hồn nhiên trọn vẹn vào trong cõi bí mật linh thiêng của thế giới tâm linh.

Ngờ vực hoài nghi là điều rất tốt để tránh khỏi tất cả mê tín dị đoan, nhưng có khả năng biết ngờ vực, biết hoài nghi đúng chỗ là điều vô cùng khó khăn, không dễ thực hiện được, nếu chúng ta không ý thức được trọn vẹn giới hạn của ngôn ngữ, của lý trí và của sự hiểu biết.

Hơn nữa, sau đây là đôi điều đáng lưu ý:

Không phải tất cả những thần thoại đều là “hoang đường” hay đều là “huyền thoại”, mỗi một thần thoại đều chứa đựng những ý nghĩa bí ẩn siêu việt vô cùng phong phú khả dĩ nuôi dưỡng chiều tâm linh sâu thẳm nhất của linh thức con người (tất cả sự nghiệp khảo cứu của Joseph Campbell đều nói lên điều đáng nói này);

Đối với Phật Pháp, tất cả đều giống như mộng, huyễn, bào, ảnh, vân vân và tất cả đều nằm trong tinh thần “bản lai vô nhất vật” của Lục Tổ Huệ Năng, do đó, không thể lấy tiêu chuẩn và lý do từ những “cái có thực” để giải trừ những “cái không có thực”, khi tất cả những gì người ta cho rằng “có thực” đều bị Phật Pháp phủ nhận rằng tất cả những cái ấy đều không có thực. Vì ngay đến cả bản thân của con người chỉ là sự giả hợp của ngũ uẩn, tức là sự giả hợp của năm loại “thần thoại” khủng khiếp nhất: “thần thoại” do sắc tạo ra, “thần thoại” do thọ tạo ra, dotưởng, hành, và thức tạo ra; “thần thoại” do năm uẩn tạo ra đồng lúc. Và chính những danh từ như sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là những “giả danh” hay “những thần thoại”, “những huyễn thoại” của ngôn ngữ vọng niệm và của vọng tưởng.

Không thể áp dụng phương pháp thần học Tin Lành hay thần học Thiên Chúa Giáo vào trong lãnh vực Phật Giáo, vì một lý do dễ hiểu nhất là thần học đặt trọng tâm vào cái Hữu (viết hoa) và cái hữu (viết thường) đang khi Phật giáo đã phủ nhận hữu và phủ nhận vô từ bước đầu, mặc dù do lòng Đại Bi mà không bao giờ bỏ quên tục đế hay thế đế, thế mà vẫn vô ngại chứng nhập đệ nhất nghĩa đế (Trí Tuệ Khôn Tính, Trí Tuệ Bát Nhã vô tự tính) và đồng hóa thuyết duyên khởi với Không Tính siêu việt. Vào lúc cuối đời, nhà thần học Tin Lành Paul Tillich đã muốn áp dụng cái nhìn của Phật giáo vào nên thần học của mình, sau khi ông đã được gặp gỡ thảo luận với những thiền sư Nhật Bản, đang khi ấy, những thiền sư của Việt Nam lại làm chuyện ngược và lạ lùng: áp dụng Thần Học Tin Lành vào Phật Giáo!

“Do duyên cớ gì mà Đức Phật hiện thân tợ bạch tượng sàu ngà vào thai mẹ?”,

“Do duyên cớ gì Bồ tát từ hông của mẹ mà nhập thai”, vân vân, đều được giải đáp cặn kẽ một cách viên thông trong kinh Đại Thừa Phương Tiện Hội (Kinh 38, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 310, trang 594-607), chúng ta chỉ cần tụng đọc lại đầy đủ kinh luận thích ứng thì tránh được cái tội đổ oan cho “người sau bày đặt thêm thắt vào” (“interpolation”).

Còn riêng về 32 tướng của Đức Phật thì cần đọc tụng lại Tổ Sư Long Thọ (Nagarjuna) nơi luậnRājaparikathā-ratnamāla (đoạn thi kệ thứ 176 cho đến đoạn thi kệ thứ 200). Nơi những đoạn thi kệ này, Tổ sư Long Thọ đã giải thích những nhân duyên nào lại tạo ra 32 tướng của Chuyển Luân Thánh Vương và của chư Phật. Đồng thời ngài cũa cho ta thấy được ý nghĩa siêu việt diệu tướng của 32 tướng của tất cả chư Phật.

Tất cả kinh điến Phật giáo đều liệt kê 32 tướng của chư Phật, nhưng vì sợ chấp tướng và hiểu sai ý nghĩa “vô tướng” trong Phật Giáo; vì hiểu sai câu kinh “Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng” hoặc mấy câu kinh “Như Lai thuyết tam thập nhị tướng tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng” của Kinh Kim Cương Bát Nhã; vì chỉ giữ lại “tức phi” và “tức nhị phi” mà không đồng lúc giữ lại luôn “thị danh”; hoặc vừa giữ vừa bỏ đồng lúc; hoặc chỉ nhấn mạnh “sắc bất dị không” mà bỏ quên “không bất dị sắc” cho nên các nhà thiền sư hiện đại lại thoải mái hoạt hiện thái độ “tẩy trừ thần thoại” (demythologizing) theo điệu thần học Tin Lành Rudolf Bultmann vào lòng kinh điển Phật Giáo! Đây là điều ngộ nghĩnh, rất tức cười, nhưng chúng ta không nên cười, chỉ cần mỉm cười nhẹ nhàng, vì không nên bao giờ bỏ quên điều thứ tư mà đức Phật đã dạy chúng ta: “Kiêu mạn tự cao và khinh thường kẻ khác là điều thứ tư làm cho thối thất trí huệ Bồ Tát.”

Chúng ta thường lầm lẫn ý nghĩa đích thực của sự phê bình với thái độ chỉ trích hạ thấp người khác. Phê bình đúng nghĩa là để cho ánh sáng được là ánh sáng và để cho bóng tối được là bóng tối, dù không thể làm cái việc “để cho…” thì chỉ tỏ cho kẻ khác nhìn thấy đâu là sáng và đâu là tối, đâu là trưa, đâu là chiều và hoàng hôn, vân vân. Có những thế lực vô minh mà mình không thể đồng lõa được. Cần nói lên những điều cần nói với tất cả khiêm tốn và khiêm hạ đúng mức, và không giả vờ khiêm tốn để tự cao kiêu mạn một cách vi tế kín đáo. Một người bình thường chỉ im lặng cho lắng xuống tận đáy lòng chừng vài ba phút thì đủ thấy tất cả sự tối tăm lù mù của tâm thức mình và không thể nào tự dám lường gạt với dáng điệu kiêu căng ngạo mạn hay dám khinh thường bất cứ ai trên đời này. Trí huệ của Bồ Tát sẽ tắt ngay lập tức nếu Bồ Tát móng lên một ý tưởng mảy may khinh thường bất cứ chúng sinh nào.

Khinh thường người khác chính là tự khinh thường mình, vì mình là tất cả người khác, tất cả chúng sinh khác. Kiêu mạn và tự cao chỉ là ảo ảnh của mình về vị thế “độc lập” của tự thể: Phật giáo phá vỡ những cái gọi là “độc lập” của “tự thể”, của “bản thể” và của “hữu thể”. Tất cả những cái gọi là “thể” đều là giả danh, đều không có “tự tính”. Bồ Tát còn phiền não lay động từ “bản thể” và “tha thể” thì liền đánh mất Trí Huệ siêu thể và bị trói buộc vào nhị tướng (tướng phân hai).

Trích : Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Bậc Bồ Tát Sáng Rực Khắp Bốn Phương (TG Phạm Công Thiện )

Quý hành giả nào quan tâm tìm đọc tác phầm này rất hay.

Công Minh

Cập nhật lúc 02 Tháng mười một 2012 - 11:55 PM

ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA PHÁI NÀO CAO SIÊU HƠN ?

Trần Thanh hỏi, Thích Giác Hoàng trả lời

********

Nguyên văn câu hỏi:

1) Tại sao một số kinh điển Đại Thừa lại không nằm trong Tam Tạng (Tripitaka), mặc dù chúng cũng là lời của Phật (như thị ngã văn), như Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, v.v…?

2) Sự chia rẽ giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào? Sao bên nào cũng tự nhận là đi đúng đường và cao siêu hơn? Và tại sao Phật từng nói trong Kinh Pháp Hoa, Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là hàng thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Phật đã xếp hạng giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa vẫn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy?

Xin đa tạ quý Thầy và đạo hữu.

Trần Thanh.

*************

Phật tử Trần Thanh mến,

Trước nhất, HTPH chân thành gởi lời tán thán tinh thần học hỏi của Phật tử. GH chân thành cảm ơn Phật tử đã đặt vấn đề, nhân đó mà vài quan điểm nhỏ của người viết được trình bày.

Bài viết phía dưới khá chi tiết, người viết xin tóm tắt lại vài ý chính:

1) Kinh điển Đại Thừa chắc chắn có mặt trong Tam Tạng (Tripiṭaka) dù ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên hoặc Tây Tạng.

2) Sự chia rẽ giữa Đại thừa và Tiểu thừa trên bình diện tư tuởng khá mạnh, thậm chí có một số Kinh được xếp vào lời Phật thuyết của Đại thừa hoặc trong sử của Nam truyền vẫn còn mang dấu tích chê bai, đả kích lẫn nhau. Nhưng trên bình diện sinh hoạt vào những giai đoạn sau, sự căng thẳng của hai truyền thống đã giảm lần, tiến tới có những điểm chung và tu học chung trong cùng một khu vực.

3) Truyền thống nào cũng đi đúng đường và cao siêu cả, nếu các vị thực hành đúng theo lời Phật dạy. Ngược lại, bên nào cũng đi không đúng đường vì không giữ giới và không thực hành những lời Phật dạy.

4) Căn cơ chúng sanh bất đồng. Trong truyền thống Đại thừa vẫn có người vô trí và trong Thượng Toạ Bộ vẫn có những bậc lợi căn, không thể nào nói Đại thừa là căn cơ cao, còn bên Thượng Toạ Bộ là hạng chúng sanh có căn cơ thấp kém.

Điều cốt yếu trong khi học hỏi giáo pháp là “y nghĩa bất y ngữ”, nghĩa là nên hiểu cốt tuỷ, tinh thần của giáo pháp mà tu tập, không nên chấp trước trên ngôn ngữ văn tự. Tu hành cao siêu hay thoái đọa không phải do tu theo Đại thừa hay Tiểu thừa, mà chính yếu là do gột rửa những cặn bã trong tâm hay không.

Chúc Phật tử Trần Thanh an vui và tinh tấn hơn nữa.

Sau đây là bài viết chi tiết:

1) Một số Kinh điển Đại Thừa không nằm trong Tam Tạng (Tipiṭaka)?

Sau Đức Phật nhập niết-bàn khoảng 100 năm, Phật giáo đã bắt đầu có sự phân phái rõ rệt. Đặc biệt, kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ 2 đánh dấu sự ra đời của 2 bộ phái lớn, đó là: Theravāda (Thượng Toạ Bộ) và Mahāsaṅghika (Đại Chúng Bộ). Hầu hết các học giả uyên bác trong lĩnh Phật học đều công nhận rằng, đến thế kỷ thứ nhất trước TL từ hai bộ phái chính này, đã phân hoá thành 18 mạc phái khác nữa, cuối cùng thành 20 bộ phái. Vào giai đoạn cuối thế kỷ thứ I TL, triều đại Kaniṣka (78-101 TL), Phật giáo Đại Thừa được hưng khởi là nhờ công của Ngài Par’sva (Hiếp Tôn Giả), A’svaghosa (Mã Minh), và Vasumitra (Thế Hữu) và một số vị khác. Câu chuyện Mahāyāna và Hīnayāna bắt đầu từ đây một cách rõ rệt. Cả hai hệ thống này đều có những kinh điển đặc thù riêng tuỳ theo tư tuởng của trường phái đó đặt nặng. Tam tạng của Mahāyāna được viết bằng chữ Sanskrit, được gọi là Tripiṭaka và Tam tạng của Theravāda được viết bằng văn hệ Pāli, gọi là Tipiṭaka.

Do đó, nếu ta tìm các Kinh điển thuộc hệ Đại Thừa trong Tam tạng của Phật giáo Theravāda thì không thể có được. Ví dụ, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Niết-bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Đại Bửu Tích, v.v… thì không thể nào tìm thấy trong danh mục của hệ thống kinh điển Phật giáo Theravāda. Nhưng các Kinh này, chúng ta có thể rất dễ dàng tìm thấy trong các danh mục Kinh điển Đại Thừa nói chung hoặc trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh[1] của Trung Quốc, Nhật Bản và Tam Tạng Kinh điển của Phật giáo Tây Tạng nói riêng.

Rất tiếc là hệ thống Kinh điển Sanskrit tại Ấn Độ ngày nay không còn giữ nguyên vẹn, chỉ còn lại rất ít, nói đúng hơn chỉ là những mảnh vụn của Tam Tạng, vì chính sách xoá sạch Phật giáo ra khỏi cái nôi của Ấn Độ của Hồi giáo cực đoan vào đầu thế kỷ thứ XIII dưới mọi hình thức. Nhưng cũng rất may mắn, các Kinh, Luật, Luận Sanskit này đã được dịch sang tiếng Hoa rất sớm, kéo dài từ hậu bán thế kỷ thứ II cho tới thế kỷ XIII. Do đó, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong thư mục kinh điển Đại Thừa trong Hán tạng. Dựa vào cuốn A Catologue of the Buddhist Tripitaka của Bunyiu Nanjio, được Lokesh Chandra bổ sung và hiệu đính[2] chúng ta sẽ thấy rất rõ hệ thống Kinh điển Đại Thừa Phật giáo như thế nào, ngay cả hệ thống A-hàm và các luận sớ cũng như các tác phẩm gốc vốn bằng Hán văn do các học giả, các nhà nghiên cứu đời sau viết. Các Kinh Pháp Hoa, Niết-bàn, Bảo Tích, Bát-nhã, v.v… trong hệ thống Tripiṭaka của Đại Thừa không những có mặt mà còn có một vị trí đặc biệt trong hệ thống Phật giáo Đại thừa nữa.

Một điểm cần lưu ý ở đây, chúng ta rất khó xác định Kinh điển do chính Đức Phật thuyết hay không chỉ vì mở màn Kinh bằng câu rất quen thuộc “như thị ngã văn” (tôi nghe như vầy). Vì việc biên tập kinh điển dưới dạng văn bản viết diễn ra rất muộn. Theo học giả rất nổi tiếng trong giới Phật học, giáo sư Sử học Étienne Lamotte đã trình bày trong tác phẩm nổi tiếng của ông,[3] Kinh điển của Thượng Toạ Bộ viết bằng ngôn ngữ Pāḷi đã được biên tập sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ 3, dưới sự bảo trợ của Đại Đế A‘soka tại Pāṭaliputra (nay là thủ phủ Patna thuộc bang Bihar).[4] Còn Kinh điển của Mahāyāna được viết bằng Sanskrit và một phần bằng tiếng Prakrit được biên tập 200 năm trước CN và bắt đầu phát triển sau kỳ kiết tập kinh điển lần thứ IV, nghĩa là khoảng thế kỷ I TL. Như vậy, làm sao bảo đảm được tính chất nguyên thuỷ của lời dạy Đức Phật sau một thời gian quá dài dưới dạng truyền khẩu và qua ký ức của con người. Qua quá trình nghiên cứu, chúng ta có thể phát hiện một số đoạn không được mạch lạc trong Kinh. Các học giả dựa trên phân tích văn bản học, họ cũng khám phá ra có một số đoạn nghi ngờ có thể là không phải cho chính Đức Phật thuyết và nó có thể phù hợp trong một số đoạn Kinh khác, chứ không thể trong đoạn kinh đó.[5]

Trong hệ thống luận thư của Phật giáo Theravāda, ngoại trừ bộ luận Kathāvatthu (Những Điểm Dị Biệt) của Ngài Moggaliputta Tissa, còn sáu bộ luận không có tác giả, cũng thường được nhiều vị Theravāda khăng khăng cho rằng các Luận này do chính Đức Phật thuyết. Nhưng trong thực tế các vấn đề phân tích, chia chẻ các trạng thái tâm, tâm sở, sắc pháp, Niết-bàn chúng ta có thể đoan chắc rằng ngôn ngữ và bố cục của các luận phẩm đó không do chính Đức Phật trình bày. Thế nhưng vì để tạo niềm tin cho người đọc, các nhà viết luận còn cho rằng đây là giáo pháp cao siêu, vi diệu (Abhi) được Đức Phật nói cho thế giới chư thiên cõi trời Ðao-lợi (Tāvatiṃsa) suốt 3 tháng an cư mùa mưa thứ 7 sau khi Ngài giác ngộ. Mẫu hậu của Ngài là Māyā cũng từ cõi trời Đâu-suất (Tusita) đến đây học pháp, nên thông thường trong nhiều sách viết là Vi Diệu Pháp được nói cho mẫu hậu Māyā. Truyền thuyết nói rằng mỗi ngày Đức Phật xuống Bắc Câu-lô Châu (Uttarakuru) dưới gốc cây bên bờ hồ Anottara thọ thực, trong khi đó tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) đang chờ để dâng nước cho Đức Thế Tôn. Thế là Vi Diệu Pháp này được truyền lại cho tôn giả Xá-lợi-phất, rồi tôn giả Xá-lợi-phất truyền cho học trò của mình. Các vị còn đưa ra quan kiến của những nhà luận giải Tam Tạng nổi tiếng thời xưa như Ngài Buddhaghosa sống vào khoảng thế kỷ thứ IV-V TL chẳng hạn, để bảo vệ quan kiến của mình. Nhưng khi đi sâu văn bản, chúng ta có thể đi đến kết luận mà không sợ sai lầm là các luận phẩm này là do công của các nhà đa văn, tinh thông Kinh tạng đã sớ giải, chia chẻ vấn đề tỉ mỉ hơn và sắp xếp chúng dưới một dạng có hệ thống mà thôi.

Cũng theo mô típ trên, trong hệ thống 7 Luận thư của Hữu Bộ (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, Sarvāstivāda) có một vài luận phẩm cũng cho rằng chính do tôn giả Xá-lợi-phất hoặc những đại đệ tử của Đức Phật biên tập, nhằm củng cố duy trì lời dạy cao minh của Đức Thế Tôn. Rõ ràng, quan điểm của Thervavāda và của Sarvāstivāda không phải ai cũng chấp nhận được. Vào thời kỳ nó ra đời, đã có nhiều Tăng Sư không đồng ý với ý trên, chủ trương lấy kinh Phật làm chỗ nương tựa, làm y cứ cho việc tu học của mình, nên mới tạo ra phái Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika).

Còn phía bên Thượng Toạ Bộ lại thẳng thừng cho rằng Kinh điển của Phật giáo Đại Thừa là nguỵ tạo, không phải lời của Phật thuyết, đôi chỗ còn nặng nề cho rằng đó là tà ma ngoại đạo. Vấn đề này là một vấn đề cần lưu tâm khi nghiên cứu dòng văn học Phật giáo Mahāyāna, và các nhà nghiên cứu Phật học Theravāda đã thường gọi những loại kinh điển như vậy là “ngụy tác” (apocrypha). Cách đây không lâu, một vài học giả ra sức nghiên cứu về những kinh điển có thể bị nghi ngờ là do đời sau thêm vào trong hệ thống văn học Phật giáo Trung Quốc và họ cho các Kinh này là Kinh nguỵ tác.[6] Do đó, câu “như thị ngã văn” trong Hán tạng hoặc câu “Evaṃ me sutaṃ” (tôi nghe như vầy) trong Pāḷi tạng không thể là tiêu chí xác định đó là kinh do chính Đức Phật thuyết.

Theo thiển ý của người viết, mặc dầu chúng ta có thể dễ dàng chỉ ra một số kinh điển không phải do chính kim khẩu của Đức Phật tuyên thuyết, nhưng điều đó chỉ có giá trị cho việc khẳng định lại kinh điển nào ra đời sớm nhất và được tin là tư tưởng, ngôn ngữ và cách trình bày là của chính Đức Phật. Đứng trên phương diện tu tập, chúng ta có thể chấp nhận những gì theo lý trí của chúng ta cho là chân lý, có giá trị đến đời sống tu tập tâm linh thì chúng ta sẵn sàng mở rộng lòng để đón nhận, và những gì lý trí chúng ta nhận thấy là không hợp lý, không đem lại lợi ích cho mình, cho người thì chúng ta không vội tin và không nên chấp nhận. Thái độ này rất tương hợp với lời dạy rất nổi tiếng, có thể được xem như kim chỉ nam để đọc kinh Phật, được ghi lại trong Tăng Chi Bộ (Tập I, Phẩm Lớn, 65, ĐTKVN, tr.338), xin trích lại nguyên văn như sau:

Này các Kālāma, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo Sư của mình. Nhưng này các Kàlàma, khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là bất thiện, các pháp này có tội; các pháp này bị người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàma, hãy từ bỏ chúng!”

Kinh Thanh Tịnh (số 18) trong Trường Bộ ghi rằng: “Một thời, Thế Tôn trú giữa giòng tộc Sakya (Thích ca) trong vườn xoài của một gia đình Thích ca tên là Vedhannà.”

“Lúc bấy giờ, Nigantha Nāthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí bằng miệng - "Ngươi không biết pháp luật này, ta biết pháp luật này. Sao Ngươi có thể biết pháp luật này? Ngươi theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói của ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Điều đáng nói trước, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói trước. Điều Ngươi quan niệm trình bày, đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được." Hình như các đệ tử của Nigantha Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các vị Nigantha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Đẳng Giác tuyên thuyết, pháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.”

.... ……………

Thế rồi vấn đề đưa lên Đức Thế Tôn. Ngài đã dạy rất kỹ nên xử sự như thế nào. Có lẽ đây là bài kinh tiêu biểu nhất trong Tam Tạng kể cả hai hệ thống Tam Tạng Nam Truyền và Bắc Truyền mà Đức Phật đã ân cần dạy chư Tỳ-kheo phải nên xử sự thế nào trước tình trạng mỗi người thọ trì giáo pháp một kiểu khi bậc Đạo Sư không có mặt hoặc đã tạ thế.

“Này Cunda, các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng "Vị Đại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc", các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:

"Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?" Nếu vị ấy trả lời: "Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia", các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.

Bài kinh Thanh Tịnh này trình bày vấn đề trên vô cùng chi tiết. Mỗi Tăng Ni và Phật tử có lẽ nên đọc bài kinh này ít nhất một lần trong đời để tự rút ra bài học cho chính mình.

2) Sự phân chia của Tiểu Thừa và Đại Thừa trầm trọng ở mức độ nào?

Phật giáo đã diễn ra khá mạnh tại Ấn Độ thời tiền bán thế kỷ thứ nhất trở về sau. Điều này dẫn đến các bộ phái co cụm lại và hưng thịnh ở những địa hạt khác nhau, không còn tinh thần hoà hợp thống nhất “như nước với sữa” như thời Phật còn tại thế, ví dụ như Theravāda thì giáo hoá tập trung ở khu Maghadha (Ma-kiệt đà), nay thuộc Bang Bihar và một số vùng lân cận. Mahāsaṁghika (Đại Chúng Bộ), bộ phái tổ tiên của Đại thừa thì trú tại phía Bắc Ấn, một trong những trung tâm học thuật thời bấy giờ, đó là các vùng thuộc Afghanistan và Parkistan ngày nay.[7] Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận dạng các tư tuởng trong các bộ Kinh như Pháp Hoa, rõ nhất là Kinh Duy-ma-cật. Trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử của Phật là tôn giả Xá-lợi-phất mà còn thấp kém hơn cả một vị vua cõi trời. Cả thập đại đệ tử của Đức Phật đều phải chạy dài không dám đi thăm bịnh cư sĩ Bồ-tát Duy-ma !

Mặc dầu vậy, theo Phật Quốc Ký của Ngài Pháp Hiển để lại mà HT. Minh Châu đã tham khảo và viết tác phẩm: Fa-Hsien, the Unasssuming Pilgrim,[8] chúng ta có thể dựa vào một vài đoạn trong tài liệu này để đoán thêm tình trạng phân chia hay hoà hợp của Đại thừa và Tiểu thừa như thế nào. Ngài Pháp Hiển ghi rằng tại Ma-kiệt-đà trong thành Ba-liên-phất: “cạnh tháp Vua A-dục có một ngôi chùa Đại thừa rất tráng lệ. Lại còn có một ngôi chùa Tiểu thừa. Trong cả hai ngôi chùa có từ 600-700 tu sĩ….” (tr.75). Đến thế kỷ thứ VII TL, sau Ngài Pháp Hiển khoảng 200 năm, ngài Huyền Tráng đã du hành qua Ấn để tham học Kinh Luận và đặc biệt là Du-dà-sư-địa Luận và chiêm bái Phật tích, trong cuốn Đại Đường Tây Vức Ký của ngài có tường thuật lại tại Surath có khoảng 50 tu viện, trên 3000 tăng sĩ sống ở khu vực đó. Phần lớn là các vị theo Đại thừa ….các vị theo các bộ phái khác cũng sống chung với nhau.[9] Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, mặc dầu có những chủ trương dị biệt trong cách tiếp cận lời Phật dạy, nhưng các vị trong cả hai hệ thống Hīnayāna và Mahāyāna sống tương đối hoà hợp với nhau, chứ không có dùng thế loại trừ như một sự phân chia các tông phái ở một số nước Phật giáo sau này.

Chúng ta cũng nên lưu ý là từ “Tiểu Thừa” (Hīnayāna) và Đại Thừa (Mahāyāna) không hề tìm thấy trong năm bộ Nikāya của Thượng Toạ Bộ và trong các bộ[10] A-hàm (Āgama) theo trường phái Sarvāstivāda (Nhất Thiết Hữu Bộ) hoặc của Dharmaguptaka (Pháp Tạng Bộ // Đàm-vô-đức Bộ). Lại nữa, chúng ta có thể thấy rất rõ ràng, không thể có một bộ phái nào, dù chủ trương hay cổ xuý một học thuyết nào, giả như là “dỏm” đi nữa, cũng không tự nhận mình là “Tiểu Thừa”, là cỗ xe nhỏ bao giờ.[11] Chúng ta có thể thấy trong lịch sử các bộ phái, không có bộ phái nào có danh hiệu “Hīnayāna” trong 10 bộ phái chi nhánh của Theravāda hoặc 8 bộ phái của Đại Chúng Bộ cả.

Theo công trình nghiên cứu của HT. Piyadassi, thì “danh từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được biết đến vào khoảng thế kỷ thứ I trước CN, xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.”[12] Hoà Thuợng cũng nhấn mạnh đến khái niệm “thừa” không hề tìm thấy trong Tạng Pāḷi. Trong một bài trả lời ngắn trên diễn đàn alt.religion.buddhism.theravada, ông Kare A. Lie đã nói rằng từ “Hīnayāna” (tiểu thừa) để chỉ cho một trong những trường phái có ảnh hưởng mạnh nhất thời bấy giờ là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda), vì Thượng Toạ Bộ đã “di trú” qua Tích Lan rồi.[13] Dĩ nhiên, theo thiển ý của người viết, không nhất thiết danh từ này để chỉ cho Thượng Toạ Bộ, mà để chỉ chung cho tất cả trường phái không theo Đại Thừa, ngay cả các bộ phái của nó. Và một điều không thể chối cãi, sau khi các bộ phái lần lần biến mất khỏi Ấn Độ, chỉ còn lại Thượng Toạ Bộ (Theravāda) ở một vài nước như Tích, Miến, Thái, Lào và Campuchia, đặc biệt mạnh nhất ở Tích Lan vào những thế kỷ thứ V-VIII, thì danh từ “Tiểu Thừa” vẫn còn được các nhà khảo cứu, các nhà chép sử tiếp tục sử dụng để gán vào. Cách dùng từ thiếu tế nhị này, nếu không muốn nói là không đúng, kéo dài trên dưới 2000 năm trong truyền thống Mahāyāna, nó ảnh hưởng sâu rộng đến cả giới học Phật tri thức và ngay cả quần chúng bình dân ngày nay. HT. Thích Minh Châu, ngay trong lời giới thiệu về dịch phẩm Đại Thừa và sự Liên Hệ với Tiểu Thừa[14] của mình, HT. đã nhấn mạnh đến sự nguy hiểm khi chúng ta tiếp tục dùng những từ “Tiểu Thừa” và “Đại Thừa” để chống báng lẫn nhau và không có tinh thần rộng mở để tiếp nhận những tinh hoa của cả hai hệ thống. Người viết xin trích lại nguyên văn như sau:

Thái độ của một số Phật tử Ðại thừa ngược lại xem những gì Tiểu thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận ba tạng Pāli, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh hoa tốt đẹp nhất và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy. Và làm vậy chúng ta mắc mưu các nhà Bà-la-môn giáo đã khôn khéo loại bỏ ra ngoài Phật giáo những tinh ba của lời Phật dạy, bằng cách gán cho danh từ "Tiểu thừa." Nông nổi và ngây thơ, vì thật sự danh từ Tiểu thừa và Ðại thừa không được tìm trong Tam tạng Pāḷi và bốn bộ A Hàm và chỉ là những danh từ được tạo ra về sau. Hơn nữa, tìm hiểu quá trình lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta chỉ có thể hiểu được tư tưởng Ðại thừa sau khi chúng ta tìm hiểu được tư tưởng nguyên thủy. Loại bỏ tư tưởng nguyên thủy để tìm hiểu tư tưởng Ðại thừa cũng như thả mồi bắt bóng, và bắt bóng ở đây là bắt bóng tà ma ngoại đạo, mới thật sự nguy hiểm hơn. Các nhà gọi là Ðại thừa cần phải xác nhận một sự thật lịch sử, là các nước Tiểu thừa chống giữ sự xâm nhập của ngoại đạo tà giáo kiên trì và hữu hiệu hơn các nước Ðại thừa. Lý do chính là tư tưởng Ðại thừa và tà giáo ngoại đạo nhiều khi cách xa chỉ có gang tấc, và nhiều nhà tự cho là Ðại thừa lại sẵn sàng bước qua biên giới ấy.

Theo người viết, đọc suốt tiến trình lịch sử từ thời Phật còn tại thế, cho đến những năm tháng về sau, thì sự phân phái và sự chia rẽ giữa hai truyền thống lớn của Phật giáo lúc đó gần như là một sự kiện tất yếu phải xảy ra, một sự kiện đáng tiếc, nhưng không thể nào tránh khỏi! Sự chia rẽ Tăng đoàn đã có mầm mống ngay từ khi Đức Phật còn tại thế qua sự kiện Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) đòi thay Phật lãnh đạo Tăng đoàn và chế năm điều luật thái quá vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, cũng như kích động Tăng chúng đi theo đường hướng của ông. Tiếp theo là “thập sự phi pháp” của nhóm Tỳ-kheo tại Vajjī (Bạt-kỳ). Lại nữa, một sự kiện “đóng góp” không nhỏ cho sự phân phái mãnh liệt đó là “ngũ sự” của Mahādeva, mà sách sử Hán ngữ thường mệnh danh là “ngũ sự Đại Thiên”, cộng thêm các vấn đề thuộc học thuyết phát sanh khác nhau của mỗi bộ phái tạo nên sự bất đồng càng ngày càng mạnh hơn.

Trở lại vấn đề “Tiểu Thừa” và “Đại Thừa”, cách đây trên 50 năm, ngày 25-5-1950, một sự kiện đáng ghi nhớ trong trang sử Phật giáo thế giới, 127 đại biểu đại diện cho Phật giáo của 29 nước đã tổ chức và thành lập hội “The World Fellowship of Buddhists” (Hội Thân Hữu Phật Giáo Thế Giới). Một trong những sự kiện nổi bậc của Đại hội này là thống nhất không dùng chữ Hīnayāna (Tiểu Thừa) và bắt đầu sử dụng chữ Theravāda (Thượng Toạ Bộ).[15] Vậy, nếu ngày nay chúng ta tiếp tục sử dụng từ Hīnayāna cho các vị tu tập theo đường lối của các vị Theravāda chủ trương với dụng ý là để xem nhẹ các giá trị đặc thù của Theravāda thì không nên! Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng từ Hīnayāna này theo văn bản sử học của thời kỳ xa xưa, như một sự thật khách quan khi đánh giá lại vấn đề và từ ngữ của thời ấy sử dụng, thì lại đúng với tinh thần học thuật.

Ngày nay, nhiều học giả có khuynh hướng dùng từ “Bắc tông” hay “Bắc truyền Phật giáo” (Northern Buddhism) hoặc dùng từ “Phật giáo thời kỳ sau” / “Hậu Kỳ Phật giáo” (Later Buddhism) để chỉ cho Đại Thừa. “Nam Tông” hoặc “Nam phương Phật giáo” (Southern Buddhism) hoặc “Phật giáo thời kỳ đầu” (Early Buddhism) để chỉ cho Phật giáo theo truyền thống Theravāda. Như vậy để tránh việc hiểu lầm do ngôn ngữ gây ra, mà cũng đúng với lộ trình truyền bá giáo pháp của cả hai hệ thống trên đến các nước khác thời bấy giờ.

3) Sao bên nào cũng tự nhận đi đúng đường và cao siêu hơn?

Vì để tôn vinh một lý tưởng nào mà mình bỏ cả cuộc đời theo đuổi, và để gây ấn tượng và niềm tin cho người đọc, nên trong một số Kinh Đại Thừa thường nói là “Kinh này là Vua trong các Kinh”, “là pháp tối thượng thừa”, “là đệ nhất nghĩa đế.” Dĩ nhiên, nếu giáo lý của Đức Phật được vận dụng một cách đúng đắn, dầu là hệ A-hàm, hệ Bát-nhã, Phương Quảng, Hoa Nghiêm, Niết-bàn chắc chắn sẽ đem lại lợi ích lớn cho mình và cho người, cho nhân quần xã hội thì kinh nào cũng tối thượng thừa cả. Xét về giáo nghĩa, chúng ta có thể thấy điểm dị biệt về tư tuởng và các cách lý giải lời Phật của các bộ phái tuy có, nhưng về pháp môn tu tập căn bản thì không khác. HT. Thích Minh Châu trong lời giới thiệu trong bản dịch vừa đề cập ở trên, nói rằng:

Ðọc kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo, chúng ta sẽ thấy các luận sư không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật sự trung thành giáo nghĩa nguyên thủy của đức Từ Phụ. Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng nhất, thật sự nguyên thủy trong sự cố gắng trung thành của các nhà luận sư.

Chúng ta có thể lấy ngay ảnh dụ trong Kinh Pháp Hoa, phẩm “Dược Thảo Dụ”, Đức Phật đã ví giáo pháp của Ngài giống như một trận mưa rào tuỳ theo từng hạng cây cỏ mà hấp thụ khác nhau, chứ không hề phân biệt trận mưa rào này cốt để cho các loại cây cao, bóng cả hấp thụ; hay trận mưa rào này để cho các loài cỏ, bụi rậm thấp kém hấp thụ! Biển cả chỉ có một vị, đó là vị mặn; giáo Pháp cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Giáo pháp thì không có tiểu-đại, chỉ có người tiểu-đại mà thôi!

4) Đức Phật đã xếp hạng giữa hai phái: Đại Thừa và Tiểu Thừa qua Kinh Pháp Hoa?

Như Đạo Hữu đã trích ý rải rác từ các phẩm của Kinh Pháp Hoa, cho rằng Đại Thừa là hạt giống rắn chắc, khác với Tiểu Thừa là trình độ thấp thỏi, trình độ kém, như vậy Đức Phật đã xếp hạng trình độ giữa hai phái, vậy mà Tiểu Thừa còn tự nhận là Nguyên Thuỷ đúng lời Phật dạy? Người viết xin trình bày sau:

Mặc dù, Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh có lẽ phổ biến và được các nhà sớ giải, chú thích nhiều nhất, và đã từng trở thành một trào lưu tu học chính của Trung Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nhật Bản, Triều Tiên, cũng như Việt Nam gần đây. Tuy nhiên, xét về phương diện ra đời của Kinh sớm nhất là vào thế kỷ thứ I TL, sau kỳ kiết tập kinh điển lần IV dưới sự ủng hộ của đại đế Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka).[16] Bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh được HT. Thích Trí Tịnh dịch sang Việt ngữ mà lâu nay chúng ta thường trì tụng xuất phát từ bản chữ Hán được ngài Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) dịch từ nguyên tác Sanskrit Saddharmapuṇḍarīka sūtra sang tiếng Hoa thuộc thời Diêu Tần (384- 417 TL). Bản Sanskrit này là bản hoàn hảo nhất trong các bản mà các học giả sau này đã phát hiện và đã được chọn làm Kinh tiêu chuẩn cho Thiên Thai Tông. Trước thời ngài Kumārajīva cũng có một dịch phẩm mang tựa đề Tát-đàm-phân-đà-lợi Kinh do phiên âm từ chữ Saddharmapuṇḍarīka sūtra, bản dịch này dịch không hoàn hảo hai phẩm “Hiện Bảo Tháp” và “Đề-bà-đạt-đa.” Đọc tiếp phần trình bày vắn tắt các ấn bản của Kinh Pháp Hoa trong A Catalogue of the Buddhist Tripitaka của Bunjiu Nanjio, chúng ta sẽ thấy tất cả là có tới 6 bản dịch Kinh Pháp Hoa, với các tựa đề khác nhau, và nội dung không nhất quán, không phải bản tiếng Hoa mà ngay cả bản Sanskrit. Cho tới ngày nay các bản dịch này cũng còn được lưu giữ nguyên vẹn trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh và được phổ biến rộng rãi dưới dạng CD ROM.[17] Một bản dịch khác của Saddharmapuṇḍarīka sūtra là Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa với phẩm phụ), chỉ có 27 phẩm, vì phẩm “Hiện Bảo Tháp” (số 11) và “Đề-bà-đạt-đa” (số 12) được gộp thành một. Về điểm này, thì bản dịch lại chính xác với bản Sanskrit mà mục lục các Kinh của Hodgson (Catalogue of Hodgson Manuscript) trình bày. Cũng theo tư liệu trên, có ít nhất 2 ấn bản Sanskrit được phát hiện, một bản thì giống với bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập. Bản thứ hai, thì tương đồng với bản dịch Chánh Pháp Hoa Kinh, nhưng trong bản này lại thiếu phẩm “Diệu Âm Bồ-tát.” Nhưng bản Sanskrit đầu, phẩm “Dược Thảo Dụ” lại thiếu cả nửa phẩm “Dược Thảo Dụ” trong ấn bản Sanskrit sau, và nhiều đoạn thiếu-dư trong cả hai ấn bản, chưa kể tới trật tự phẩm của cả hai bản Sanskrit và các bản dịch. Chuyện thiếu dư trong các bản tiếng Hoa và Sanskrit được các nhà nghiên cứu Kinh Pháp Hoa sẽ đi chuyên sâu hơn. Trong phần “Lịch Sử Thành Lập” của công trình nghiên cứu Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa của TT. Thích Chơn Thiện, theo Junjiro Takakusu, ông đã phát hiện bản dịch mà Ngài Cưu-ma-la-thập dịch sang Hoa văn lúc đầu cũng chỉ 27 phẩm, sau này đệ tử của Ngài là Pháp Hiền đưa thêm phẩm Đề-bà-đạt-đa, cũng như một số ý kiến cho rằng phẩm Tựa có thể do một nhà Sư Trung Hoa sáng tác với lối hành văn rất nhuyễn tóm tắt toàn bộ 27 phẩm kia. Đi sâu vấn đề này đòi hỏi kiến thức chuyên môn và mất nhiều thời giờ hơn.

Do đó, chúng ta không thể nào phủ nhận lịch sử, và có thể khẳng định lại một lần nữa, việc biên tập Kinh Pháp Hoa ra đời tương đối muộn và chắc chắn là do các nhà tư tưởng Đại Thừa thời bấy giờ biên tập. Về phần lợi ích của việc thọ trì Kinh Pháp Hoa hay giá trị thực tiễn của bộ Kinh, không phải mục đích nhắm đến bài viết này, nên người viết không trình bày.

Một vấn đề nữa, đó là vấn đề Niết-bàn (Nirvāṇa) cho rằng Tiểu thừa không có niết-bàn. HT. Thích Trí Quang, trong phần “Ghi Sau Khi Duyệt Pháp Hoa” của bản dịch Kinh Hoa Sen Chánh Pháp cũng cho rằng tư tưởng “Pháp Hoa công nhận tiểu thừa nhưng không công nhận tiểu thừa có Niết-bàn.” Trong khi đó, Đức Phật đã xác định và tán dương không biết bao nhiều lần trong hệ thống Nikāya và Āgama là các vị A-la-hán là các vị đã cắt đứt dòng chảy ái nhiễm của mọi cảnh giới (dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu), là vị “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc làm đã xong, không còn trở lui đời sống này nữa”, các vị này mới thật sự đạt đến mục tiêu của đời sống phạm hạnh.

Lại nữa, mặc dầu nhiều nơi trong Kinh Pháp Hoa không ca ngợi công hạnh của các vị A-la-hán, nhưng có lẽ cũng để hoà giải mối tranh chấp của các bộ phái, vì tư tuởng “Tam Thừa quy nhất”, đã xuất hiện. Giả như Đức Phật có nói Tam Thừa đi nữa cũng là phương tiện quyền giáo để dẫn dụ đến Nhất Phật thừa. Đó là điểm hay của Kinh Pháp Hoa, mà người viết thường tâm đắc.

Đến đây, quý vị lại có thể đặt vấn đề, như vậy câu “như thị ngã văn” trong Kinh điển Đại Thừa, cụ thể như Kinh Pháp Hoa, là ngoa mà lại cho là lời của Tôn giả Ānanda thuật lại, như vậy có trái với giới thứ tư của Đức Phật dạy cho hàng Phật tử không? Đây, xin đưa ra cách lý giải khác mang tính hoà giải khá hay của Thượng Toạ Chơn Thiện, cho người đọc sự thông cảm và thấy tinh thần vì mục đích truyền bá Phật Pháp của các bậc Tổ Sư hơn là vì tên tuổi của mình: “Do vì lời kinh phù hợp với giáo lý truyền thống nên có thể được xem là do Phật thuyết. Chư Tổ không dám nhận lãnh trách nhiệm chuyển bánh xe Pháp. Vả lại, bảo Kinh do Đức Phật dạy sẽ khơi dậy được niềm tin Pháp sâu xa trong tâm người học hỏi và tu tập kinh hơn. Do nhằm xây dựng niềm tin Pháp ấy cho đời, nên Kinh Đại Thừa được chư Tổ kiết tập dưới hình thức Phật thuyết” (Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa, Lời Tựa).

Trở lại vấn đề mà Phật tử đưa ra, sao mà các vị Theravāda lại tự nhận mình là Nguyên Thuỷ đúng với lời Phật dạy? Thật ra, chữ Nguyên Thuỷ vốn xuất phát từ chữ Theravāda, mà chữ này vốn có nghĩa là bộ phái của những vị trưởng lão (Thera: nghĩa là lớn, trưởng lão; vāda vốn có nghĩa là lời dạy, được dịch thoát là bộ phái, trường phái hoặc là học thuyết), như vậy, đúng ra chữ này nên được dịch là học thuyết của những vị Trưởng Lão, hoặc là chủ trương của những vị Trưởng Lão, và để cho gãy gọn, mang tính học thuyết thì ta nên dịch là bộ phái của các vị Trưởng Lão hoặc như cách dịch của các dịch giả Trung Quốc dịch là “Thượng Toạ Bộ.” Điều này có thể được kiểm chứng qua các nguyên tác bằng chữ Hán. Dựa vào các tiêu đề trong Hán tạng và các tác phẩm đã được đọc, chưa hề thấy tác phẩm nào có liên hệ đến chữ “Nguyên Thuỷ” cả, mà phần lớn được dịch là “Thượng Toạ”, cụ thể là Dị Bộ Tông Luân Luận (đã được HT. Thích Trí Quang dịch sang tiếng Việt). Còn một số bản kinh luật, luận khác của Theravāda hoặc của các bộ phái của Theravāda cũng như ngay cả các ký sự của các Ngài chiêm bái như Pháp Hiển, Huyền Tráng và Nghĩa Tịnh đều dùng chữ “Tiểu thừa” để chỉ cho các bộ phái thuộc Theravāda hoặc của Mahāsamghika.

Bộ phái Theravāda này cũng còn có cách viết khác là: Sthaviravāda (theo Sanskrit) hoặc tên khác là Vibhajavāda (theo Pāḷi), có nghĩa là Phân Tích Bộ (bộ phái chủ trương các học thuyết cần phải phân tích trên lý trí). Như đã đề cập trên, các nhà Đại Thừa đã cho tất cả các học thuyết, chủ trương khác với đường lối chủ trương của mình là “tiểu thừa”, và điều này đã gây mâu thuẫn không ít trên dưới 2000 năm rồi. Thuật ngữ “Nguyên Thuỷ” bằng tiếng việt và tiếng Anh xuất hiện cũng không sớm. Vào cuối thế kỷ XIX, các dịch giả của hội “Pali Text Society” (Hội Kinh Điển Pāḷi) đã dịch chữ Theravāda thành chữ “Early Budddhism”, vốn có nghĩa là Phật giáo thời kỳ đầu, hoặc các nhà viết sử thường chép trường phái này là: “the most orthodox school of Buddhism” (trường phái Phật giáo chính thống nhất). Các Kinh điển Pāḷi dịch thành “Early Buddhist Manuscripts / Texts / Canon” (Kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu). Dĩ nhiên, cũng có những trường hợp cá biệt, như Bà I. B. Horner, cũng là một dịch giả nổi tiếng, đóng góp rất lớn vào công trình dịch thuật kinh điển Pāli sang tiếng Anh, dịch chữ Theravāda thành “Primitive Buddhism”[18] (Phật giáo Nguyên Thuỷ), nhưng các học giả hầu như không sử dụng từ của Bà. Còn một số vị khác, thỉnh thoảng dịch chữ Theravāda thành “trường phái của những người bảo thủ” (conservative School), nhưng nghĩa này cũng không sát và không được các nhà nghiên cứu sử dụng.

Có lẽ cũng nên đề cập ở đây, ai là người sử dụng chữ “nguyên thuỷ” đầu tiên trong quá trình dịch thuật hay trước tác trong giới học thuật Việt Nam, xin chờ một bài khảo cứu có giá trị của các nhà nghiên cứu khác. Tuy nhiên, ở mức độ sơ bộ, chúng ta không thể kể đến công của dịch phẩm của HT. Quảng Độ: Nguyên Thuỷ Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken (người Nhật), rất tiếc là bản dịch không đề rõ Kimura Taiken viết vào năm nào để truy nguyên ông đã sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ cho Theravāda và Tiểu Thừa (Hīnayāna) để chỉ cho các bộ phái của Theravāda.

Theo thông tin của cư sĩ Bình Anson cung cấp, đến năm 1957 khi Giáo Hội Tăng-già Phật giáo Nguyên Thuỷ được thành lập, thì chữ “Nguyên Thuỷ” đã được ra đời, hoặc có thể sớm hơn nữa. Người viết nghĩ rằng, chính vì lý do này mà các học giả Việt Nam mạnh dạn sử dụng chữ “Nguyên Thuỷ” để chỉ cho bộ phái Theravāda, chứ trên thật tế, cuộc sống xã hội và môi trường tự nhiên thay đổi từng sát-na, làm sao con người hiện nay giữ đúng được cả nội dung và hình thức giáo pháp như thời Phật còn tại thế cách nay hơn 2500 năm. Nếu ai có cố gắng hết sức mình, cũng chỉ giữ được phần nào tinh hoa của giáo pháp mà thôi. Điều này chúng ta có thể phát hiện một cách dễ dàng qua cách hành trì và tiếp cận Kinh, Luật và Luận của 3 nước Phật giáo Theravāda mạnh nhất, đó là: Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan.

Một câu trả lời mang tính gợi ý cho các vấn đề mà quý Phật tử đã đặt ra, như vậy có lẽ đã quá dài, và hơi dư nữa là khác. Nên người viết ngưng tại đây. Trước khi kết thúc, người viết xin thưa là những gì được trình bày với mục đích khiêm tốn là đưa ra vài quan điểm nhỏ của mình, hy vọng nó sẽ bổ túc phần nào mà Phật tử có thể cần thiết, chứ không hề dụng tâm chê khen kinh điển hoặc các bộ phái và các bậc hữu công tiền bối đối với hai dòng văn học Phật giáo lớn. Và để trình bày quan điểm của người viết về thái độ khi tiếp cận giáo pháp như thế nào, xin trân trọng giới thiệu bài viết “Thái Ðộ Cần Có Khi Ðọc Kinh Phật” của HT. Thiện Siêu, như là lời kết của người viết xin gởi đến độc giả. Kính mong các bậc thiện tri thức tường tri.

Để cung cấp thêm các bài viết có chủ để liên hệ về Tiểu Thừa và Đại Thừa, xin giới thiệu bài “Đạo Phật Nguyên Thuỷ và Đạo Phật Đại Thừa”, nguyên tác của HT. Walpola Rahula, được Sư Thiện Minh dịch; bài viết “Mahayana và Theravada: Cùng Một Cỗ Xe” của cư sĩ Binh Anson; hoặc Theravada and Mahayana với tiêu đề nhỏ là Basic Points Unifying the Theravada and the Mahayana (Các Điểm Căn Bản Đồng Nhất Giữa Theravāda và Mahāyāna) của HT. W. Rahula. Cả ba đều được đăng trong trang nhà Buddhasasana.

Thân chúc Phật tử thân tâm thường an lạc, đạo tâm bất thối đối với chánh pháp, và ngọn đèn chánh pháp mỗi ngày mỗi rực sáng trong lòng của quý Phật tử và của tất cả chúng sanh.

Nam-mô Hoan Hỷ Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên Sứ

Đức Phật đã nói: 'Học thuyết của Như Lai chỉ có một vị. Đó là vị giải thoát"Sự cao siêu được coi là của phái này, phái kia chẳng qua chí là chấp của các vị tăng sĩ mà thôi.

Thiên Sứ

Đồng ý với ý kiến của Công Minh. Bạn Giang 2, nên mở một topic riêng. Trong vòng năm ngày, bạn có thể chép những bài mà bạn đưa vào đây sang topic của mình. Nếu bạn thật sự tâm đắc với những điều mà bạn cho là chân lý và muốn chia sẻ với mọi người.Còn sau năm ngày, bạn Giang2 không thực hiện được thì tùy chị W xử lý.

giang2

Posted ImageThiên Sứ, on 03 Tháng mười một 2012 - 04:20 PM, said:

Đồng ý với ý kiến của Công Minh. Bạn Giang 2, nên mở một topic riêng. Trong vòng năm ngày, bạn có thể chép những bài mà bạn đưa vào đây sang topic của mình. Nếu bạn thật sự tâm đắc với những điều mà bạn cho là chân lý và muốn chia sẻ với mọi người.

Còn sau năm ngày, bạn Giang2 không thực hiện được thì tùy chị W xử lý.

Tôi xin đượ cnói lời cuối cùng trong chuyên mục này

Trước hết tôi không phải là tu sĩ, không chủ trương theo Nam tông, Bắc tông, chưa mộtlần đề cập đến tiểu, đại thừa, tôi chỉ quan tâm đến Chánh pháp. Hãy xem nhữnggì tôi viết như lượm từ sọt rác. Xin quý vị đừng quan tâm đến cái tôi, cáitông, tiểu, đại mà hãy quan tâm đến Chánh pháp

a/ Phật giáo Nam tông : Tự lợi tự độ - Tự lực,Tự tu, tự chịu, tự hưởng . Ai có nghiệp thì tự chịu, không có gì làm thay đổiđược ngoài mình ( ví dụ : bị tội kêu án tù ngồi 12 tháng thì phải ngồi đủ 12tháng, không có việc xem xét nhân thân để giảm án hay khi thụ án được hưởngkhoan hồng )

Thế nên không có vị nào cứu độ như Bồ Tàt bênBắc Tông, không có các phương pháp Tha lực.

Chùa Phật giáo Nam truyền : không có thờ hìnhtượng các vị Bồ Tát, nghĩa là không có Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn; không cóĐịa Tạng Bồ Tát cứu vớt địa ngục trầm luân…… nhưng có tôn thờ các vị Thánh Tăngnhư : Bậc Tài Lộc Đệ Nhất Thánh Tăng SiVali ( hiện nay ờ Việt Nam cũng có nhiềuchùa, phật tử tại gia thờ Thánh Tăng SiVali )

(- Ủa, không cần tha lựcđi cầu Ngài SiVali cho tiền tài là sao nhỉ ? ngộ ha ! )

b/ Phật giáo Bắc Tông ( Đại thừa ) và Kim CươngThừa : Tự độ độ tha, lấy hoạt động tích cực làm hành vi. Nên có hạnh Bồ Đề, BồTát Đạo có các vị Bồ Tát cứu độ thế nhân. Ngoài Phật Thích Ca còn có nhiều vịcổ Phật ( Tỳ Lư Già Na ; Ngũ Trí NHư Lai …. ) và các vị hiện Phật ( A Di ĐàPhật – Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai …)

Vì thế nên với Phật giáo Đại thừa khi chúng sinhcó khổ, có nạn thì có nơi nương tựa, chẳng may nghiệp nạn đến nặng nề thì cóphương pháp

“ giảm nhẹ thiên tai ” như Cầu An, Đảo bệnh hayCầu siêu, Bạt độ …..

Đã làm gì đó thì phải có phương tiện và phươngpháp, Phật giáo Đại thừa ngoài Tam Tạng kinh điển còn sử dụng Ấn - Chú – Phù….. làm “ công cụ hỗ trợ” hoặc “ trạm thu phát sóng” cho năng lượng của đấngtối cao.

Tất cả những điều đó không ngoài tinh thần tự độđộ tha ,” Tôi cho rằng đó là quan điểm của một kẻ không hiểu biết, bởi tất cả các đệ tử của Đức Phật nếu đã giácngộ thì luôn thấu rõ lý vô ngã, không còn thấy có mình có người, luôn sáng suốt thấy rõ việc gì đã làm xong, việc gì cần phải làm cho lợi ích của chúng sanh.

“-Quý vịbị bệnh ốm, quý vị hãy ráng đi đừng đến bác sĩ làm gì vì căn bệnh đang phát củaquý vị chính là một dạng trả nghiệp đấy. Quý vị nào bản thân và thân nhân chẵngmay phát bệnh ung thư, thôi chịu ráng rồi chết đi đừng mong cầu cải thiện gì nữa. Hay thấy đứa bé chết sắp chết đuối thì kệ nó, nghiệp của nó nó phải trả,đụng đến làm gì. Vì theo lời quý ngài giang2 đây : không có ngoại lực nào cóthể làm thay đổi nghiệp của mình được (1)

- Đầu năm quý thầy, quý vị đừng thiết đàn DượcSư để cầu An Bình , cuối năm khỏi lễ Di Đà; lúc xa cơ thất thế họan nạn dọcđường, trên biển thì ráng mà chịu đi, không có ai là Quán Thế Âm cứu khổ cứunạn đâu mà van vái . Và dĩ nhiên, trong chùa sẽ không phải thờ các bậc bồ tát.Vị tượng tay hình thái người nữ, tay cầm tịnh bình, tay nhành dương liễu, toànthân một màu trắng tinh khiết, đứng trước cửa chùa mà nhiều quý bà quý cô gọitha thiết là Mệ Hiền là …..không cần đâu, Quý vị có thể vào một số bệnh viện đềnghị họ dẹp bỏ các điểm thờ phụng tượng một vị có hình tướng như diễn tả ởtrên, xung quanh có treo các biển ghi nhớ tạ ơn Ngài. Vì rất có thể theo quýngài giang2 đây là không có những vị đó đâu, là mê tín dị đoan không chừng. “…

Người nào có quan điểm như trên nghĩa là chưa hiểu biết về nghiệp.

Với cái thiển trí như tôi cũng hiểu rằng,<Một người đang bệnh nặng bỗng dưng gặp được một thầy lang giỏi chữa chohết bệnh hoặc gặp phải thầy lang dỏm làm cho tiêu mạng hoặc gặp được thầy phongthủy giỏi giúp cho khỏe mạnh hoăc gặp cao tăng, hoặc thầy phù thủy …Người đó được thoát nạn không phải do người khác giúp cho tiêu nghiệp,mà tất cả đều là tiếntrình của nghiệp ( biệt nghiệp và cộng nghiệp), không có cái nghiệp nào bị tiêucả, không có tha lực nào tham gia vào ngoại trừ sự chi phối của nghiệp lực.Quá khứ đã là hiện tại, thực tại là tiến trình của nghiệp, là kết quảcủa giây phút trước nó, là nhân của thực tại tiếp theo, không có cái gọi lànghiệp của triệu năm trước (chỉ là sự lừa đảo).Chắc quý vị sẽ đặt vấn đề : nếu tất cả đều do nghiệp lực thì đâu là con đường giải thoát ? Điều này thì quý vị nên học hỏi từ Chánhpháp.

THẦN THÔNG KHÔNG QUA NGHIỆP LỰC

Thần thông của Mục-kiền-liên trong hàng đệ tử Phật không ai sánh bằng, phàm làm việc gì Ngài vận dụng thần thông đều thành tựu.

Thần thông rất tiện cho việc tiếp dẫn chúng sanh,nhưng thần thông không thể trái ngược phép tắc nhân quả, không thể thắng nghiệplực, không thể giải thoát sanh tử phiền não, đó là sự thật.

Khi thành Ca-tỳ-la bị vua Lưu Ly nước Kiều-tát-la(Kosala) xâm lược. Ban đầu đức Thế Tôn cũng động lòng ái quốc tìm cách giảicứu, ba phen ngồi chận đường cản trở đại quân của vua Lưu Ly. Tuy vua Lưu Lymỗi lần gặp Phật, mỗi lần lui binh nhưng lòng thù hận muốn báo thù và xâm lượckhông dứt được. Đức Phật biết sự báo ứng của nhân quả, muốn đểcho nó tự kết thúc nên sau đó đành để cho vua Lưu Ly tự do đi.

Thật là thần thông của Mục-kiền-liên không thểgiải được hết sạch nghiệp báo. Tôn giả biết đại quân của vua Lưu Ly bao vâythành Ca-tỳ-la, và rất kích động đến bạch Phật:

- Thưa Thế Tôn! Thành Ca-tỳ-la bị vua Lưu Ly xâmlược, chúng con cần phải tận lực để bảo cứu nhân dân trong thành.

Đức Phật nhìn Tôn giả giây lâu rồi từ hòa nói:

- Mục-kiền-liên! Dòng Thích-ca chịu quả báo củatội nghiệp nhiều kiếp đã qua. Đó là cộng nghiệp chiêu cảm, ông không thể chịuthay cho họ. Họ chẳng chịu sám hối, một bề kiêu mạn, không sửa đổi, nhà cửa mụcnát thì đến ngày sụp đổ thôi!

Mục-kiền-liên nghe Phật nói, tuy biết đó là sựthật, nhưng nghĩ đến thần thông quảng đại của mình, muốn dùng để cứu nạn dânchúng trong thành.

Vua Lưu Ly dùng trăm vạn đại quân vây khốn Ca-tỳ-la, một giọt nước cũng không lọt, người ta làm sao đi lại. Chỉ cóMục-kiền-liên vận thần thông nương hư không bay vào thành. Tôn giả vào thành rồi, chọn năm trăm người ưu tú trong dòng Thích-ca thâu nhiếp vào trong bìnhbát, và bay ra. Đến một nơi an ổn, Ngài mở nắp bát tính thả năm trăm người ấyra, chẳng dè không thấy gì cả. Một phen nhìn xuống thất kinh hồn vía, năm trămngười trong bát đều hóa thành máu cả.

Đến lúc này Tôn giả mới biết lời Phật nói không sai, phép tắc nhân quả chẳng thể làm ngược lại, dầu kể là thần thông cũng khôngqua nghiệp lực. Các bạn hãy so sánh năng lực của mộtĐức Phật còn tại thế với những cái linh phù bằng giấy thì sẽ hiểu.Một tỷ người gọi là Phật tử mà hiểu sai Phật, khuyếch trương tà kiến, không bằng chỉ một người thôi sống đúng Chánhpháp, duy trì được Chánh pháp.Xin cạn lời tại đây.

Thiên Sứ

Rất tiếc. đây là topic của chị W để khuyếch trương Phật pháp qua thần chú giải thoát , chứ không phải bình luận về Phật pháp

Nếu đây là topic mà anh Giang2 mở ra để bàn về Phật pháp thì tôi có thể nói thế này:

Đoạn trích dẫn thể hiện bằng màu xanh ở trên chính là sự mâu thuẫn lớn nhất trong Phật pháp theo cái nhìn của tôi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cây Cầu Phúc Đức

Ngày xưa, có một chàng trai chuyên sống bằng nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được lúc không, có lúc ít lúc nhiều, nhưng trong nhà chẳng bao giờ có của để dành. Hai mẹ con chàng thường phải chịu bữa ăn, bữa nhịn. Cuộc sống vô cùng nghèo khổ khó khăn.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng kể lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng xưa kia.

Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món đáng bạc chục, bạc trăm, nhưng bị cường hào chèn ép bắt phải cúng nạp cho chúng mới được yên thân, nên khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì.

Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên đến xóm dưới, mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã gần hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi đầu.

Nghe mẹ kể lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình chàng không khỏi thấy ngán ngẩm.

Chẳng bao lâu sau, mẹ chàng ngã bệnh, nhà lại không có gì để ăn. Nghe có ông thầy đồ xóm bên được học trò biếu nhiều thức ngon lành, chàng liền đến rình nhà, định ăn trộm cái miếng giò lợn treo trên gác bếp. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: "Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương"[1]. Chàng bụng bảo dạ: "Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho ta"? Rồi tự đáp: "Phải, quả thật đúng như vậy". Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ nay bỏ nghề ăn trộm.

Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi mang ra chợ bán. Công việc thật là vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi mới kiếm được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy yên tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: "Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến kia!". Cái tiếng "ba đời ăn trộm" làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: "Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức họa may mới xóa được mấy tiếng đó".

Một ngày mùa hạ, trời mưa to nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói:

- Đó là một điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở...

Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà, tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu!

Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; chiều ra sức chuyển gỗ; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ.

Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm đói quá chàng nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh.

Giữa lúc ấy có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sõng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng bắc cầu làm phúc đang làm thì vì mệt quá mà lăn ra ngất đi... Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống. Được một lúc, chàng bắc cầu tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan võ nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng! Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không?

Chàng bắc cầu vui mừng nói:

- Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn!

Hai người bèn kể cho nhau biết tên tuổi, quê quán rồi kết làm anh em, viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi, được nhận là anh. Chàng bắc cầu nói:

- Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền.

Viên quan võ thân mật bảo chàng:

- Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào?

Chàng bắc cầu nói:

- Nếu vậy thì còn gì hay hơn!

Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng cầu.

Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Ngọc Hoàng ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi.

Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa.

Lại nói đến chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững. Cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng:

- Nhà ngươi chớ sợ, ta là thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy.

Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà.

Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi:

- Mẹ ơi! Anh ơi! Em đây mà! Em hãy còn sống trở về nhà đây! Mau mau mở cửa!

Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh, lật đật xuống giường. Vợ chồng viên quan võ cũng chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa.

Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng.

Từ đấy mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn.

ít lâu sau, vợ viên quan võ có chửa, đến tháng đến ngày chị sinh hạ được một con trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Còn chàng bắc cầu ít lâu sau cũng lấy vợ có con và sống sung sướng đến già.

[1]Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương : Ý nói nhà làm nhiều việc thiện sẽ được tiếng thơm và cái phúc về sau, còn nếu làm nhiều việc trái lương tâm ắt gặp phải tai họa muôn đời.
==========
Bỏ công và bỏ của, cái nào cũng làm nên được cái cầu phúc đức cả. Bàn chi công hơn hay của hơn?
Thiên Đồng
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong những truyền thuyết liên quan đến Phật giáo và gần như trở thành chính thống trong văn hóa Phật giáo, chính là đoạn mô tả dòng họ Thích Ca bị vua Lưu Ly tiêu diệt. Và đức Phật cùng các chư Phật đã không thể cửu dòng họ Thích.

Theo tôi đây là một mâu thuẫn lớn nhất trong văn hóa Phật giáo. Nếu như có một đề nghị nào với các vị Thiền Sư cao cấp nhất của Phật giáo có quyền năng hóa giải thì tôi đề nghị loại bỏ truyền thuyết này ra khỏi văn hóa Phật giáo. Lập luận của tôi như sau:

1/ Trước hết, truyền thuyết này rõ ràng không phải là kinh Phật chính thống. Tất cả kính Phật chính thống - đều bắt đầu phải bắt đầu bằng câu " Tôi từng nghe...." (Như thị ngã văn...). Truyền thuyết này mô tả một sự kiện đức Phật đã nhập Niết bàn sau vài trăm năm. Đó là bằng chứng thể hiện nội dung này không thể do Đức Phật truyền giảng.

Trong một tạng kinh - tôi quên mất tên - Đức Phật đã nói - Đại ý: "Sau này khi ta mất đi, sẽ có những kẻ nói giống như ta, nhưng không phải ý của ta. Nhưng nó xuyên tạc chân lý của ta và có tính phá hoại Phật Pháp. Đó là Ma Ba Tuần ".

Truyền thuyết nói trên không phải trong tạng kinh chính thống của Phật pháp - như tôi phân tích ở trên và điều này quá rõ ràng. Bởi vậy phủ nhận nội dung của truyền thuyết này trong văn hóa Phật giáo, tôi không xúc phạm đến Phật pháp.

Nhân đây tôi nói thêm để so sánh - vì web của chúng ta nghiên cứu về cổ văn hóa sử - rằng: Tôi nhận thấy sự tương đồng về việc lưu truyền những truyền thuyết lịch sử về Thời Hùng Vương với phương pháp lưu truyền văn bản chính thống của Phật pháp có nhiều điểm tương đồng. Đó là, những truyền thuyết lịch sử chính thống về thời Hùng Vương bao giờ cũng bắt đầu bằng câu "Vào thời Hùng Vương thứ....", nhằm xác định không gian, thời gian; thì các tạng kinh chính thống của Phật Pháp bao giờ cũng bắt đầu bằng câu "Tôi từng nghe....".

Sư tương đồng về phương pháp lưu truyền những giá trị chính thống trong cổ sử Việt và Kinh Phật đã chứng tỏ dấu ấn của sự hội nhập văn hóa giữa nền văn hiến Việt và Phật Pháp . Thời Hùng Vương sụp đổ vào năm 258 BC thì tất yếu Phật pháp phải giao lưu và được truyền bá trong xã hội Văn Lang ở Nam Dương tử từ rất lâu trước đó. Đây cũng là dấu ấn hóa thạch phi vật thể xác định Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam rất lâu. Điều này cũng làm sáng tỏ thêm về một tồn nghi trong lịch sử phát triển Phật giáo liên quan đến văn hiến Việt về một đất nước Vàng bí ẩn được ghi nhận trong công cuộc xiển dương Phật pháp ở những quốc gia gần gũi.

Sự hòa nhập giữa hai tư tưởng minh triết Đông phương thuộc về văn hiến Việt là Đạo giáo và Phật pháp còn để lại rất nhiều ở các đình , chùa, đền miếu trong xã hội Việt Nam hiện nay, mà tôi nhận thấy trong những cuộc tham quan, du ngoạn ở các đinh chùa cổ Việt Nam. Nhưng đây thuộc về một đề tài khác không nằm trong topic này. Chúng ta sẽ bàn sau.

2/

BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Ba Luồng Ánh Sáng Trắng

Trong quá khứ có một người sống tại một vùng núi non hẻo lánh, nên từ nhỏ không hề được giáo dục, chưa từng nghe Phật pháp, chỉ biết cần kiệm làm bổn phận cho qua kiếp con người. Bởi vì phước báo quá ít ỏi nên cho đến già mà vẫn còn nghèo nàn cùng khổ.

Khi đã 60 tuổi, sau nửa năm bệnh hoạn, ông tiều tụy yếu ớt hẳn, biết sẽ không còn sống lâu trên đời nên gọi hai đứa con đến bên giường bệnh cho ông dặn dò lần cuối. Ông bảo đứa con trưởng rằng:

– Em con còn nhỏ lắm, con thì đã biết làm việc rồi, con phải cẩn thận chăm lo cho em, con phải giữ trách nhiệm của người anh cả.

Vài ngày sau, ông rời bỏ nhân thế khổ đau, khiến hai đứa con buồn khóc thảm thiết.

Ba năm sau, người anh cưới một thiếu nữ sống cùng thôn làm vợ. Cô này là người không có giáo dục, lại tâm địa độc ác không biết đến tình nghĩa huynh đệ. Thấy chồng hậu đãi em, cô không bằng lòng. Cô thường nói với chồng rằng:

– Hay là chúng ta cho nó một vài thứ trong nhà rồi bảo nó tự lập kế mưu sinh. Hiện giờ còn nhỏ nó sẽ không làm gì khác được chứ mai mốt nó lớn lên thì phiền lắm, anh muốn đuổi nó đi, chưa chắc nó đã chịu đi!

Nhưng người anh vẫn còn cái tình nghĩa chất phác của người miền núi, lại còn nhớ rõ lời di chúc của cha nên mỗi khi nghe vợ nói thì bịt tai lắc đầu quầy quậy.

Tục ngữ nói rất đúng, gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Sống cả ngày gần một người vợ tâm địa xấu xa, cứ thừa mọi dịp nói đi nói lại mãi những lời độc ác, dần dà người anh bị huân tập, làm sao không biến thành ác độc? Lời nói giả dối mà cứ lặp đi lặp lại mãi cũng trở thành chân thật. Cuối cùng người anh cũng giống như vợ, bắt đầu ghét bỏ người em.

Một hôm, người anh nghe lời vợ, đem người em tới nghĩa địa rất xa thành phố. Đó là một nơi rất ghê rợn, vì theo tập tục Ấn Độ, người chết đi thì đem tử thi vứt vào đấy cho chim chóc thú vật tới mổ rỉa mà ăn.

Nghĩa địa rất u ám, xương trắng ngổn ngang, luôn luôn có tiếng chim kêu thê lương như tiếng quỷ khóc trong địa ngục. Vào bên trong thì cái khí âm u của nghĩa địa làm cho người ta lạnh run lên. Vào sâu bên trong nữa có một ngọn cây cao đến tận từng mây, cành lá chằng chịt che trùm cả khe núi. Người anh lấy một sợi dây thừng mang theo, trói thúc người em lại rồi treo lên một cành cây to, vừa trói vừa bảo em:

– Không phải anh tàn nhẫn, nhưng nói thật em làm cho anh phiền lo nhiều quá. Em hãy ở đây suy nghĩ cho kỹ anh nói có đúng không, vài bữa nữa anh tới đón em về.

Nói xong, người anh quay đầu chạy mau trở về nhà, không màng tới tiếng kêu van xin bi thảm của em. Thật ra người anh rất mâu thuẫn, lòng thương em rất mực đã bị bà vợ dùng giọng nói nét mặt nghiêm khắc đàn áp xuống. Anh ta rất đau khổ nhưng không đủ sức chống lại vợ.

“Thôi, để cho nó đánh cuộc với định mệnh xem sao! Nếu nó thoát được miệng hổ lang thì đó là nó có phúc báo, còn nếu không thì coi như là số của nó đã định như vậy. Ta đối với nó như thế đã là từ bi lắm rồi, thay vì nghe lời vợ cầm dao giết nó!” Trên đường về, ngươi anh nghĩ như thế để tự trấn an mình.

Trời dần dần tối. Trong màn đêm đen kịt, tiếng chim kêu thảm khốc càng ngày càng to. Rồi lại có thêm những âm thanh kỳ quái hỗn tạp cũng vọng lại, như báo hiệu yêu quỷ sắp hiện hình. Đêm sâu dần, hổ, báo, sư tử, chó sói cũng lục tục kéo đến, rống lên từng hồi như muốn hớp hết hồn phách của người ta. Những tia mắt xanh lè, tham lam hung ác đổ dồn về phía gốc cây cổ thụ. Trên cây, người em cố hết sức giãy giụa khóc la:

– Cứu tôi với! Trời ơi! Thần thánh ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!...

Nó la hét như một người điên cho đến nỗi máu tươi từ trong miệng trào ra.

Ngay lúc ấy, tại thành Vương Xá xa xôi, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang trụ trong Kim Cương Tam Muội. Ngài nghe tiếng kêu cầu của đứa trẻ đáng thương, và nhìn thấy rõ tình cảnh nguy ngập mà nó đang lâm phải, nên Ngài dùng thần lực phóng ra một luồng ánh sáng từ giữa hai lông mày.

Trong nghĩa địa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng trắng kỳ dị chiếu tới khiến khe núi u ám rợn người ấy chợt rực sáng lên. Những con dã thú hung hăng bị luồng ánh sáng trắng chiếu tới, lùi dần từng bước, từng bước, có con quay mình chạy chí tử.

Lại có một luồng ánh sáng màu trắng khác mạnh mẽ hơn chiếu thẳng tới sợi dây thừng trên người đứa em. Như thể bị chạm phải một ngọn lửa mạnh hay một lưỡi dao bén, sợi dây kêu lên răng rắc và đứt đoạn từng khúc một.

Tiếp theo lại có một luồng ánh sáng trắng thứ ba, dịu dàng chiếu lên thân đứa em. Nó như bị tê liệt rơi xuống đất, đau đớn nhức nhối ngất lịm đi. Bỗng nó cảm thấy như có người đang nhẹ nhàng vỗ về khiến cho nó cảm thấy thư thái lạ kỳ.

– Con thật là đáng thương!

Một giọng nói dịu dàng từ ái vang lên bên tai. Nó tỉnh lại và có một cảm giác lạ lùng khiến bao nhiêu đau đớn trong người tan biến hết. Ngẩng đầu lên nhìn, nó thấy một người cao lớn trang nghiêm đang đứng trước mặt nó, người ấy lại hiền từ nhìn nó mỉm cười. Kinh ngạc quá độ, nó ấp úng không biết phải nói gì:

– Ngài là... ngài là...

– Ta là Phật!

– A! Ngài là Phật tổ đó sao! Con thấy Ngài thật rất uy nghi khả kính. Con nguyện sau này sẽ làm Phật giống như Ngài để cứu mình và cứu người!

Đứa bé liền phủ phục năm vóc xuống đất lễ lạy. Đức Phật cho nó quy y và đưa nó về thành Vương Xá.

Từ đó, người em sống trong tăng đoàn, cùng chúng đệ tử của đức Phật tu hành, nghe kinh thính Pháp, không lâu sau thì chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn.

Người em chứng đạo rồi nhớ đến anh mình, liền đến trước đức Phật bạch rằng:

– Bạch Thế Tôn! Anh con tuy đã có lòng ám hại con, nhưng nhờ thế mà con được gặp Phật và được Phật cứu độ. Như vậy, thành tựu hôm nay của con là nhờ anh con mà có. Nay con muốn về hóa độ anh ấy, nên con xin phép Thế Tôn cho con vắng mặt một thời gian.

– Rất tốt! Ta rất ngợi khen suy nghĩ đó của con.

Người em bèn dùng thần thông bay về nhà của anh. Bà chị dâu thấy được, vội vàng chạy vào nhà trốn. Bà tưởng rằng người em bị hại nhưng không chết nên nay trở về báo thù. Nhưng người em đã gọi lớn:

– Anh chị ơi, anh chị không cần chạy trốn. Em không oán hận anh chị chút nào mà còn muốn tạ ơn anh chị nữa. Nhờ anh chị mà em gặp được ân sư là đức Phật, chứng được quả vị, thoát khỏi sinh tử. Em đặc biệt trở về đây để cám ơn anh chị.

Em cũng hy vọng anh chị có thể tu học Phật pháp để sớm thoát khổ. Tài sản, của cải cho đến tính mệnh của chúng ta trên thế giới này đều là vô thường, nếu làm đủ cách để truy cầu chúng thì dẫu có được đi nữa, cũng có ngày chúng sẽ bỏ chúng ta mà đi. Anh chị nghĩ kỹ xem, có gì thật sự thuộc về chúng ta đâu? Hãy bỏ chúng đi, lấy cái tâm tưởng và tinh lực để truy cầu chúng dành cho việc truy cầu Phật pháp, vì đó mới là kho tàng chân chính. Kho tàng này mới thật sự vĩnh cửu không bao giờ mất, đem lại cho chúng ta gia tài bảo vật và cả niềm an vui nữa.

Những lời nói ấy làm cho vợ chồng người anh như bừng tỉnh mộng, nhất là lòng khoan dung độ lượng của người em, đã không oán trách lỗi lầm xưa mà còn lo nghĩ tới niềm phúc lạc của họ nữa. Đó chính là sức mạnh đã giúp họ có can đảm sám hối tội đã làm.

Chỉnh đốn việc gia đình nhà cửa xong xuôi, cả ba cùng sánh vai nhau tiến về hướng tinh xá Trúc Lâm. Và từ đó họ trở thành những đệ tử tinh chuyên nhất của Phật-đà.

Truyện cổ Phật giáo

Diệu Hạnh Giao Trinh dịch

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong nghĩa địa, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng trắng kỳ dị chiếu tới khiến khe núi u ám rợn người ấy chợt rực sáng lên. Những con dã thú hung hăng bị luồng ánh sáng trắng chiếu tới, lùi dần từng bước, từng bước, có con quay mình chạy chí tử.

Lại có một luồng ánh sáng màu trắng khác mạnh mẽ hơn chiếu thẳng tới sợi dây thừng trên người đứa em. Như thể bị chạm phải một ngọn lửa mạnh hay một lưỡi dao bén, sợi dây kêu lên răng rắc và đứt đoạn từng khúc một.

Tiếp theo lại có một luồng ánh sáng trắng thứ ba, dịu dàng chiếu lên thân đứa em. Nó như bị tê liệt rơi xuống đất, đau đớn nhức nhối ngất lịm đi. Bỗng nó cảm thấy như có người đang nhẹ nhàng vỗ về khiến cho nó cảm thấy thư thái lạ kỳ.

– Con thật là đáng thương!

Luồng sáng thứ nhất phá bỏ u tối chướng ngại ngoại cảnh gọi trần thức.

Luồng sáng thứ hai chặt đứt mọi ràng buột của tự thân do nhản nhĩ tỷ thiệt thân ý là căn nguyên.

Luồng sáng thứ ba là sự cạo gọt, và đốn chặt cái tôi, tự ngã.

Vài lời lạm bàn, xin chỉ dạy thêm.

Thiên Đồng

Share this post


Link to post
Share on other sites

@Thiên Đồng: Mình thấy bài viết bạn vừa đăng đâu có liên quan gì tới chủ đề đâu ạ ?

Về bài viết này, 2 nhà sư này thi thoảng có tham gia 1 số Phật sự. Tuy nhiên, là người học Phật ai cũng hiểu " Làm Phật Sự mà không tinh tấn đọc giáo lý" thì những chuyện sai lầm rất dễ xảy ra ...

NHÀ SƯ cũng chỉ là 1 người như các bạn, chỉ khác là họ biết tu hành, mong được giải thoát khỏi phiền não, sinh tử luân hồi.

Chuyện này, có ra chỉ cần Giáo Hội quan tâm, chỉ bảo về sự thiếu hiểu biết về giới luật của 1 người Tu. về phía người dân,xã hội không có lý gì để chê bai, phỉ báng 2 nhà sư cả ! BỞI VÌ HỌ ĐƠN GIẢN CHỈ LÀ 1 NHÀ SƯ CHỨ KHÔNG PHẢI 1 VỊ CAO TĂNG HIỂU ĐẠO ....

Phật Pháp xưa đến nay như thế nào thì bất cứ ai tu tập theo đều hiểu !

Và đương nhiên, 1 kẻ còn đang tu thì sẽ còn mắc sai lầm ! ....

Tôi thấy, xã hội nhiều lúc quá chú trọng vào từ ngữ mà không chú trọng vào bản chất sự việc ! Nếu như đó là 2 nhà sư uy tín, đức hạnh thì rất đáng lên án ... nhưng ngược lại, họ cũng chỉ đơn thuần như các bạn, 1 nhà sư có thể từng là 1 tên tướng cướp, 1 kẻ giết người ... khi họ mới bước vào đường tu, chưa hiểu Giáo Lý thì chuyện phạm Giới Luật là rất dễ xảy ra !

SƯ VÀ CAO TĂNG KHÁC NHAU Ở THỜI GIAN ĐẠO HẠNH TU HÀNH. NHƯNG ĐÃ KHOÁC ÁO NHÀ PHẬT THÌ PHẢI TUÂN THỦ GIỚI LUẬT VÀ ĐÂY LÀ GIÁO LÝ ĐƠN GIẢN AI CŨNG PHẢI BIẾT. KHÔNG CÓ SỰ KHÁC BIỆT NÀO Ở ĐÂY CẢ. RẤT PHẢN CẢM KHI THẤY NHỮNG TẤM HÌNH ĐÓ. BÊN CẠNH ĐÓ, BÀI VIẾT ANH THIÊN ĐỒNG ĐƯA LÊN CHƯA ĐỦ. NHÀ SƯ ĐÃ CÓ PHÁT BIỂU NHƯ THẾ NÀY: KHI ĐI NGANG QUA CÔNG VIÊN, THẤY ĐÔI TÌNH NHÂN HÔN NHAU NHÀ SƯ RẤT THÈM. BÓ TAY VỚI SƯ NÀY. Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

@Như Thông:

Bạn có thể dẫn chứng hộ mình bài báo nào viết về sự việc này có trích dẫn câu " KHI ĐI NGANG QUA CÔNG VIÊN, THẤY ĐÔI TÌNH NHÂN HÔN NHAU NHÀ SƯ RẤT THÈM " ?

Thứ 1: Bạn ăn nói như vậy đã thể hiện bạn thiếu tư cách thế nào rồi.

Thứ 2: Bạn nói " Sư và Cao Tăng khác nhau ở thời gian Đạo Hạnh tu hành " ... Bạn có nghe Phật từng nói " Tất cả chúng sanh là Phật tương lai " ... Vậy chính tôi, bạn và tất cả những ai đang sống trên cõi đời này đều sẽ sớm thành 1 Cao Tăng ! Cũng chỉ là thời gian mà thôi ...

Thứ 3: Đúng vậy, khi đã quyết định xuất gia tu hành thì cần phải chấp hành nghiêm giới luật. Thế nhưng, người Xuất Gia không phải ai cũng vì lý tưởng xuất thế gian, có người tìm đến cửa Chùa vì họ muốn tìm cảm giác bình yên giữa cuộc sống, hay đơn giản cũng có 1 bộ phận vì lười nhác ... Nơi nào có Phật thì nơi đó sẽ có Ma !

Giới Luật đưa ra là để khuyên răn và để cho các vị tăng nương theo ... và để thực hành nghiêm đúng giới Luật đòi hỏi 1 thời gian Kung Fu tu hành rất dài !

Như trên mình đã nói " nhà sư " cũng chỉ là 1 khái niệm giữa thế gian ! Thực tế chính bản thân ta cũng là 1 người đang tu, ta tu giữa cuộc đời. Còn các Nhà sư họ tu hành ráo riết hơn mà thôi, họ quyết tâm hơn.

Có rất nhiều người sống giữa cuộc đời Phẩm Hạnh cao hơn 1 số nhà sư trong Chùa rất nhiều. Bởi vì nhà sư vốn cũng chỉ là 1 kẻ bình thường như bao con người mà thôi ... chữ TU ở đây ... chẳng qua do cái tâm phân biệt nên ta mới thấy nó khác ....

@@: Nhìn vào chữ ký của bạn. Rồi đọc bài comment của bạn, tôi thấy bạn tự đánh mất đi phẩm giá, tư cách của 1 con người là bạn !

Edited by sachhiem.net

Share this post


Link to post
Share on other sites

@Như Thông:

Bạn có thể dẫn chứng hộ mình bài báo nào viết về sự việc này có trích dẫn câu " KHI ĐI NGANG QUA CÔNG VIÊN, THẤY ĐÔI TÌNH NHÂN HÔN NHAU NHÀ SƯ RẤT THÈM " ?

Link đây: http://www.webtretho...-thay-1442606/. Nó nằm ngay dòng cuối.

Thứ 1: Bạn ăn nói như vậy đã thể hiện bạn thiếu tư cách thế nào rồi.

Nên xét lại lời nói của mình khi nói người khác thiếu tư cách nhé.

Thứ 2: Bạn nói " Sư và Cao Tăng khác nhau ở thời gian Đạo Hạnh tu hành " ... Bạn có nghe Phật từng nói " Tất cả chúng sanh là Phật tương lai " ... Vậy chính tôi, bạn và tất cả những ai đang sống trên cõi đời này đều sẽ sớm thành 1 Cao Tăng ! Cũng chỉ là thời gian mà thôi ...

Phật thuyết như vậy không sai. Bước vào con đường tu tập Phật pháp, khi cạo đầu, quy y tam bảo thì người ta mới kêu là sư. Sau này một thời gian tu hành, thử thách, .... thì mới gọi là cao tăng. Không lẽ mới vào tu thì kêu là cao tăng ? Phật thuyết tất cả chúng là Phật tương lai nhưng phải tu theo Phật, học giáo lý của Phật chứ bây giờ bạn và tôi chỉ mới là chủng tử của Như Lai mà thôi. Còn bạn muốn thành Cao tăng là quyền của bạn. Tôi không muốn thành Cao tăng. Posted Image

Thứ 3: Đúng vậy, khi đã quyết định xuất gia tu hành thì cần phải chấp hành nghiêm giới luật. Thế nhưng, người Xuất Gia không phải ai cũng vì lý tưởng xuất thế gian, có người tìm đến cửa Chùa vì họ muốn tìm cảm giác bình yên giữa cuộc sống, hay đơn giản cũng có 1 bộ phận vì lười nhác ... Nơi nào có Phật thì nơi đó sẽ có Ma !

Giới Luật đưa ra là để khuyên răn và để cho các vị tăng nương theo ... và để thực hành nghiêm đúng giới Luật đòi hỏi 1 thời gian Kung Fu tu hành rất dài !

Như trên mình đã nói " nhà sư " cũng chỉ là 1 khái niệm giữa thế gian ! Thực tế chính bản thân ta cũng là 1 người đang tu, ta tu giữa cuộc đời. Còn các Nhà sư họ tu hành ráo riết hơn mà thôi, họ quyết tâm hơn.

Có rất nhiều người sống giữa cuộc đời Phẩm Hạnh cao hơn 1 số nhà sư trong Chùa rất nhiều. Bởi vì nhà sư vốn cũng chỉ là 1 kẻ bình thường như bao con người mà thôi ... chữ TU ở đây ... chẳng qua do cái tâm phân biệt nên ta mới thấy nó khác ....

Tu là tu, không tu là không tu. Phải phân biệt rõ rằng. Không lẽ nhà sư đi xe xì po hay mặc áo ba lỗ. Posted Image

@@: Nhìn vào chữ ký của bạn. Rồi đọc bài comment của bạn, tôi thấy bạn tự đánh mất đi phẩm giá, tư cách của 1 con người là bạn !

Không bình luận. Kệ bạn. Tôi không quan tâm. Posted Image

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

@Như Thông: Vâng tôi xin lỗi vì ý thứ 1 tôi nói hơi nặng lời vì đôi chút hiểu lầm ý của bạn - đây là điểm tôi còn yếu kém ! Mong bạn hoan hỷ !

Còn 2 ý còn lại mình cũng không tranh luận nữa, vì kết quả cuối cùng cũng sẽ không đi tới đâu cả !

Chúc bạn an lạc !

Edited by sachhiem.net

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

Xin chào chú Thiên Sứ, chào ACE cô bác trên diễn đàn!

Vì thấy có mấy lời cần nói nên mạo muội gõ vài dòng, nếu có thất lễ xin mọi người lượng thứ.

Bác giang2 trích kinh Phật và lý lẽ rất hay, vậy không biết bác có nghĩ câu nói của Phật mà bác đã trích không nhỉ: "... một bề kiêu mạn, không sửa đổi, nhà mục nát thì đến ngày sụp đổ thôi!". vì chưa quen việc trích dẫn nên phải gõ lại, xin mọi người lượng thứ và xem lại cho chính xác (đã một lần trích dẫn không thành, thành ra để quản trị viên 10 khó xử - xin bỏ quá cho.

Edited by caibang

Share this post


Link to post
Share on other sites

QTV03 có ý kiến !

Lần thứ 2 QTV03 nhắc nhở Thiên Đồng vi phạm, nội dung : Lần thứ nhất Bạn đưa bài không đúng chủ đề (gây tranh cãi không đáng có) Bài của bạn chỉ nên đưa vào Topic giải trí, còn ở đây chủ đề Trao đổi Phật Pháp rành rành ra như thế những bài dạng này chỉ gây sốc cho người đọc và tạo luồng tranh luận vô bổ.

Đến giờ phút này Bạn lại đưa tiếp bài thứ 2. Bạn hình dung xem bài của Bạn về chủ đề này có tác dụng tốt cho Topic trên đây không? Hy vọng bài viết của bạn bị cho vào thùng rác lần 2 có thể giúp bạn ý thức tốt hơn về cách xử lý của chúng tôi!

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Luật Nghiệp Quả và Tướng Diện

Trên thế gian nầy không một ai lại muốn mình xấu xí bao giờ, vì thế nếu có người sinh ra với dáng hình xinh đẹp thì hạnh phúc vui tươi còn kẻ khác có tướng mạo xấu xa thì lo âu buồn rầu. Thêm nữa, người có gương mặt khả ái thì dễ dàng thành công hơn trong vấn đề giao tế xã hội. Cũng vì tầm quan trọng về sắc đẹp nên hàng năm cộng đồng Việt Nam khắp mọi nơi thường tổ chức tuyển chọn hoa khôi để hãnh diện cho cộng đồng. Phái nữ thì thế còn phía nam phái thì cũng không khác biệt bao nhiêu, chúng ta thấy những tài tử nổi tiếng như Tom Cruise, Lý Tiểu Long, Trần Quang… thì người nào cũng thuộc hạng handsome boy cả.

Ngày Đức Phật còn tại thế, hoàng hậu Mallika có hỏi Đức Phật về nguyên nhân nào để được sanh ra đẹp xấu. Đức Phật trả lời rằng:” Người có tâm nhu hòa, nhẫn nhục sẽ được đẹp đẽ và kẻ có tâm sân hận sẽ chịu xấu xí”Theo quan niệm của Đức Phật thì nét đẹp được tạo nên từ một tâm lý đạo đức lúc nào cũng có giá trị hơn là chỉ có cái đẹp bên ngoài mà không có một giá trị đạo đức bên trong. Dựa theo Luật Nghiệp Quả thì chúng ta có thể gây ra nhiều nghiệp nhân khác nhau để cuối cùng nhận được một quả báo xinh đẹp. Nhưng sắc đẹp nầy chưa chắc là một nét đẹp chân thật, hiền hòa. Trong lịch sử nhân loại từ Đông qua Tây chúng ta thấy rất nhiều những người đàn bà tuyệt đẹp với nhiều thủ đoạn độc ác để chiếm đoạt quyền hành và gây sóng gió khắp nơi. Cái phước xinh đẹp được gây từ nhiều nhân tốt mà thiếu mất cái nhân đạo đức chân thật, vì vậy từ nơi cái phước xinh đẹp họ đạt được đỉnh vinh quang mà cũng gieo rắc đau khổ cho nhiều người khác Vì sự giả dối, tạm bợ và không bền chắc của sắc đẹp nên Đức Phật luôn luôn khuyên chúng sinh nên vun bồi cái đạo đức bên trong thì nó sẽ là nên móng căn bản cho sắc đẹp bên ngoài và đây mới chính thật là một sắc đẹp nhận hậu và bền vững.

Mỹ nhân trên thế gian nầy thì có đủ hạng. Có nét đẹp gây nên sự quý mến kính trọng trong sạch và cũng có nét đẹp gây nên sự ham muốn chiếm đoạt thấp hèn. Đôi khi chúng ta thấy có nét đẹp bày tỏ sự cao thượng từ tốn thì ngược lại cũng có nét đẹp lộ ra sự kiêu hãnh tự phụ. Có cô thì đẹp kín đáo và cũng có cô thì đẹp lẳng lơ. Phật dạy sở dĩ có sự khác nhau giữa các nét đẹp như thế bởi vì mỗi người đã gieo cho mình trong tiền kiếp những nghiệp nhân khác nhau. Nếu tự mình khéo gieo nhân, thì người ấy cũng có thể tạo cho mình một quả báo để có diện mạo đẹp đẽ về sau, nhưng nét đẹp đó không liên quan gì tới đạo đức. Do đó họ có thể là tuyệt thế mỹ nhân nhưng họ vẫn có thể là người ác. Gần đây nhiều bác sĩ tâm lý học đã đưa ra nhận xét là một người càng chú trọng tới việc trang điểm cá nhân nhiều chừng nào thì tâm địa càng hẹp hòi chừng ấy. Còn người đứng đắn là người chỉnh tề, vừa phải và không se xua chưng diện quá đáng. Sau cùng họ kết luận rằng một người có đôi mắt lẳng lơ cũng là người có tính tình độc ác hung dữ. Vì thế thói lẳng lơ hoa nguyệt với tính hung ác thường đi chung với nhau.Đối với quan niệm của Đông phương thì chữ đẹp thường đi đôi với chữ duyên lý do là dầu cho người đó có đẹp cách mấy thì sắc đẹp đó chỉ có thể thu hút kẻ khác những lúc ban đầu nhưng không giữ được tình cảm lâu bền vì không có duyên. Chữ duyên nói lên cái gì ẩn dấu kín đáo bên trong mà làm cho người khác phải xiêu lòng vì thế người có duyên mới là người giữ được tình cảm tốt của người khác một cách bền bĩ lâu dài.Người có duyên hiểu theo tinh thần đạo Phật là người đã từng kiên trì giữ giới hạnh, sắc son chung thủy với bạn đời, tín nghĩa với bạn bè, hiếu để với cha mẹ, trung hậu với chủ nhân và luôn cúng dường bố thí…

Chính những cái phước duyên nầy đã kết tập để tạo cho họ một cái duyên ở đời sau làm cho mọi người quý mến họ mãi mãi. Do đó hầu hết các mệnh phụ phu nhân đều thuộc về hạng người có duyên nầy, còn các kỷ nữ thì phần lớn thuộc về loại đẹp mà vô duyên.Nếu có những người tính tình hay thay đổi, lòng dạ không thủy chung, hiếu để chẳng tròn, chữ tín không giữ ngay cả phát tâm làm phước rồi bỏ cuộc nửa chừng sẽ cảm nhận quả báo vô duyên ở đời sau. Vì vậy dù sắc đẹp lộng lẫy đi chăng nữa, họ cũng chỉ chiếm đoạt được cảm tình của người khác trong thời gian ngắn mà thôi.

Cái duyên nó thường tiềm ẩn bên trong ánh mắt, làn da và phảng phất qua tiếng nói giọng cười vì vậy người vừa đẹp mà có duyên thì dĩ nhiên vừa được cảm tình của người mà còn được người quý mến.Nói chung con người tạo nghiệp trong quá khứ thì hiện tại những chủng tử của nghiệp báo sẽ tác tạo cái hình dáng của người đó dựa theo những quả báo của họ. Chẳng hạn một người trong quá khứ từng làm nhiều điều phước thiện như bố thí, giúp đỡ người nghèo khổ, ban niềm vui hạnh phúc cho kẻ khác do đó khi qua kiếp nầy thì người đó sẽ trở thành một kẻ giàu sang sung sướng. Luật Ngiệp Báo không dừng lại ở đây mà còn an bài thêm cho họ một gương mặt vui tươi, bình tĩnh, miệng cười duyên dáng, dáng điệu khoan thai và sắc da tươi mát.

Trong thế gian, các nhà xem tướng số đã căn cứ vào hình tướng và sắc diện để đánh giá cuộc đời của một người. Chẳng hạn như người có tai to thì đại thọ còn kẻ có tai dày là sung mãn về tài vật. Người có răng trong đẹp là phú quý còn kẻ có lông mày gần mắt là hẹp hòi. Kẻ có trán rộng là vinh hiển sớm còn người có mũi to đầy kín là tạo được sự nghiệp kết xù. Sự hiểu biết và chính xác của các nhà tướng số chẳng qua là khả năng nhìn kỹ vào sắc diện và thần tướng của con người mà thôi. Thí dụ nhà tướng số nói năm nay anh sẽ bị tai nạn, xui xẻo, nhưng nếu cố làm điều thiện có thể tai qua nạn khỏi. Khi trông thấy thân chủ có sắc diện bất thường, con người nóng nảy, mặt mày không nhân hậu thì trước sau cũng xảy ra tai họa mà thôi. Nhưng sau một năm mà không thấy chuyện gì xảy ra thì nhà tướng số nói nhờ tu phước nên tai họa biến mất. Như thế thì đàng nào nhà tướng số cũng nói đúng cả. Vì tướng mạo là biểu hiện của nghiệp do đó nếu nghiệp thay đổi thì tướng mạo chắc chắn sẽ đổi theo.

Ngày xưa có vị đại sư khi nhìn thấy những vầng đen trên trán của một đệ tử thì đoán rằng vận mệnh của người học trò nầy không thọ quá ba tháng nên cho phép người đệ tử được về quê thăm cha mẹ. Trên đường đi người đệ tử thấy một đàn kiến lớn sắp bị chết đuối ở bờ sông. Cậu ta bèn nhảy xuống sông dùng những khúc cây lớn để vớt từng nhóm kiến và sau đó đặt chúng lên bờ cho chạy đi. Sau khi về thăm và ở lại với cha mẹ ba tháng thì người đệ tử trở lại cửa thiền. Khi thấy người đệ tử còn sống trở về làm cho vị đại sư hết sức ngạc nhiên. Ngài quan sát tướng diện của cậu bé thì thấy những vầng đen trên trán đã biến mất không còn nữa và được thay bằng một làn da hồng hào tươi mát. Vị hòa thượng hỏi rõ ngọn ngành thì mới biết nghiệp thiện mà người đệ tử tạo ra đã cải đổi vận mệnh và thần tướng của người đệ tử nầy.

Một câu chuyện khác là có anh bán than nghèo khổ lang thang được thầy tướng số cho biết là tương lai sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. Ngày kia anh bán than gặp một thiếu nữ đang ngồi khóc nức nở bên bờ giếng. Hỏi ra mới biết là cô đem vàng đi chuộc tội oan cho cha, nhưng chẳng may khi múc nước để uống thì cô đã đánh rơi túi vàng xuống giếng. Cô không dám xuống vì dưới giếng người ta nói có con rắn lớn rất hung dữ. Vì quá tuyệt vọng thiếu nữ muốn quyên sinh. Nghe xong anh bán than tự nghĩ trước sau mình cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được túi vàng cho cô gái. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế. Khi gặp lại, nhà tướng số rất đổi kinh ngạc nói với người bán than là tướng chết đói của ông ta đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ huy hoàng.Thật vậy, vì mang ơn cứu gia đình nên thiếu nữ đem anh bán than về dạy dỗ và kết nghĩa vợ chồng. Sau đó vì muốn tiến thân, cha thiếu nữ gởi gấm chàng bán than sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Trên bước đường tiến thân, anh bán than ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn. Nhưng vừa mới gặp, nhà tướng số lại bảo tướng chết đói lại hiện trở lại làm anh bán than tức giận bỏ đi.Sau khi được làm quan, anh bán than đã đánh mất nhân cách, chỉ lo cưỡng bức các cô gái đẹp nên bị triều đình hạ lịnh bắt về kinh trị tội. Quá sợ hãi, anh trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một tảng đá. Người vợ đau khổ tìm chồng trông thấy xác chết cũng gục chết theo. Khi liều mình để cứu người khác là sự bố thí nội tài rộng lớn. Cái phước đức đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh để giúp cho anh bán than được công danh vinh hiển. Nhưng rồi, tư cách tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại.

Như vậy, tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cứng ngắc cố định. Nếu nghiệp thay đổi thì tướng mạo cũng đổi thay. Do đó hằng ngày nếu chúng ta luôn thực tập môn bố thí từ nội tài đến ngoại tài để cứu giúp mọi người thì chắc chắn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp viên mãn.

Nếu nghiệp đã in dấu lên diện mạo của một người thì nghiệp cũng in dấu lên thời điểm ra đời của người đó. Dựa vào ngày giờ năm sinh của một người mà môn tử vi được xuất hiện. Thật vậy vào cuối đời nhà Đường bên Tàu có ông Trần Đoàn đã khám phá ra phương pháp lập một lá số tử vi dựa vào ngày giờ năm sinh của một người. Nhân lúc chạy loạn ông có gặp một ngườì đàn bà đang gánh hai đứa con nhỏ trong cái thúng. Thấy tướng diện khác thường của hai đứa bé, ông bèn hỏi về ngày và năm sinh của chúng để gieo một quẻ thì lá tử vi của chúng rơi vào mạng đế vương. Ông nói với mẹ của chúng là thằng bé sau nầy sẽ được làm vua và nếu được thế thì ông chỉ xin vùng núi Hoa Sơn nầy. Bà mẹ bán tín bán nghi nhưng cũng xé miếng vải đưa ông ta để làm tin. Quả thật về sau, hai đứa bé nầy tức là Triệu Công Dẩn và em là Triệu Công Nghĩa, trở thành vua và khởi nguyên cho nhà Tống.Y như lời nguyện, nhà vua phong tặng cho Trần Đoàn vùng núi Hoa Sơn và từ đó ông ta nổi tiếng với danh hiệu là Hi Di Lão Tổ. Có hơn 100 ngôi sao sắp xếp quanh 12 cung và sự phối hợp của các ngôi sao nói lên tính chất đặc biệt của mỗi cá nhân. Thí dụ nếu sao Thiên Quý đóng tại cung Sửu, Mùi thì người đó sẽ là anh hùng trong thiên hạ…Nhưng nếu nhìn kỹ lại thì tử vi chỉ chú trọng vào quả báo mà không để ý đến nghiệp nhân, bởi vì một khi quả báo hiện diện tức là nghiệp nhân đã có mặt rồi. Nếu lá số tử vi nói rằng người đó giàu sang thì có nghĩa là người nầy đã từng bố thí rất nhiều trong quá khứ. Còn nếu lá tử vi nói rằng anh kia sẽ gặp thất bại thì anh đó có tính xấu, hẹp hòi và ít kiên nhẫn. Thật ra ngày nay khoa tử vi không còn được xem là khoa học huyền bí nữa vì nó không thể giải thích từng trường hợp của mỗi người một cách suông sẻ và hợp lý. Thí dụ trên thế giới hiện giờ có trên 6 tỷ người, mà nếu dựa vào một ngày giờ năm sanh nhất định thì có được 512,000 lá số tử vi cho tất cả mọi người. Nếu sinh cùng giờ thìn, năm thìn thì có biết bao người trùng lá tử vi, nhưng có người thì sung sướng sao có kẻ lại khổ đau thì lá tử vi nầy đâu còn đúng được. Để giải thích sự sai lệch nầy, các nhà tử vi lý luận rằng ngoài ngày giờ năm sanh, lá tử vi còn tùy thuộc vào phước đức của họ và gia đình của họ. Thế thì nói đi nói lại thì mọi sự tiên đoán của tử vi cũng chỉ dựa vào Luật Nghiệp Quả của nhà Phật mà thôi.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Lời ngỏ

trao đổi giáo lý..

Cháu xem cách đặt tên cho chủ đề "Trao đổi Phật và Pháp" của Cô Wildlavender thì cảm thấy cần phát biểu ạ.

Trao Đổi Phật...ngữ này cháu thấy nếu suy luận ra thì có vẻ khó rõ được nghĩa. Có lẽ chỉ cần thay đổi một chút thế này thì thấy sẽ hợp lý hơn ạ: Trao đổi Phật & Pháp thay đổi thành Trao đổi Pháp & Phật => Trao đổi giáo lý Phật, hoặc "Kiến giải Phật Pháp"

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cháu xem cách đặt tên cho chủ đề "Trao đổi Phật và Pháp" của Cô Wildlavender thì cảm thấy cần phát biểu ạ.

Trao Đổi Phật...ngữ này cháu thấy nếu suy luận ra thì có vẻ khó rõ được nghĩa. Có lẽ chỉ cần thay đổi một chút thế này thì thấy sẽ hợp lý hơn ạ: Trao đổi Phật & Pháp thay đổi thành Trao đổi Pháp & Phật => Trao đổi giáo lý Phật, hoặc "Kiến giải Phật Pháp"

Cô cám ơn về sự đóng góp của Rubi nhé ! Đã đổi tiêu đề vì tính chuẩn xác !

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cô cám ơn về sự đóng góp của Rubi nhé ! Đã đổi tiêu đề vì tính chuẩn xác !

Tiêu đề Trao đổi Phật & Pháp, cháu muốn góp ý về cách đặt tên đó và xác định là thay đổi làm sao có được cái tiêu đề phù hợp nhưng lại không được quá khác so với tiêu đề ban đầu.

Theo cách thức đó, Trao Đổi Phật & Pháp có thể thay đổi là Trao đổi giáo lý Phật. Còn cháu viết Trao đổi Pháp & Phật, thì đây chỉ là một bước trung gian giải thích cách thức thay đổi thôi ạ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Để tiêu trừ tai họa và sống thọ theo nhà Phật

Làm thiện tránh ác là biện pháp tốt nhất tiêu trừ tai họa để được sống thọ. Bí quyết tiêu trừ tai họa và sống thọ nằm ở nơi sự thành tâm sám hối và phát nguyện hành thiện của chính mình.

Lý luận nhân quả của Phật giáo nói lên sự quân bình của lực lượng tự nhiên. Tai họa xảy ra hay là thành đạt hạnh phúc đều là nhân quả báo ứng.

Gieo nhân lành thì được quả lành, được phú quý và sống lâu. Gieo nhân ác thì chịu quả ác, gặp tai nạn và bệnh tật.

Do vậy theo quan điểm của Phật pháp, làm thiện tránh ác chính là biện pháp tốt nhất để trừ tai họa và sống trường thọ.

Nguyên lý tiêu trừ tai họa, sống thọ là nơi sám hối, phát nguyện. Quả báo đến thì phải chịu, thế nhưng khi phát tâm sám hối và phát nguyện, thì quả báo chưa sinh khởi có thể biến chuyển.

Cũng giống như kẻ phạm tội, khi đem ra phán xử, mà biết nhận tội và ăn năn hối lỗi, chịu hợp tác với quan tòa, thì khi luận tội cũng sẽ được hưởng lượng khoan hồng.

Ngày xưa có chuyện lập công chuộc tội. Ngày nay có lệ giảm tội mà không bắt giam, không khởi tố hoặc tiến hành hòa giải ngoài phạm vi của tòa án. Đây là những thí dụ tuy có nhân phạm tội, nhưng quả chịu tội được chuyển biến.

Người cầu xin được tiêu trừ tai họa, sống thọ, không được một mặt cầu xin, một mặt cứ tiếp tục làm ác, mà phải sám hối, làm các Phật sự như tụng kinh lễ bái, bố thí cúng dường.

Tức là dùng Phật pháp mở đường cho các oan gia trước đây của mình được lìa thoát cõi khổ, không còn hạch sách đòi nợ cũ nữa. Lại nhờ sức mạnh của phát nguyện mà nhân ác đã gieo được cải biến.

Trái lại nếu cứ tiếp tục làm ác thì sẽ phù hợp với nhân ác đã gieo, tội ác càng chồng chất. Nếu bỏ ác làm lành thì có thể hạn chế những nhân tố ác đã làm và nhờ đó tránh khỏi tai họa.

Vì vậy, phát nguyện, học Phật làm điều thiện có thể làm thay đổi vận mệnh tương lai. Đương nhiên, ở đây, còn có sức mạnh bất khả tư nghị của Phật pháp nữa.

Trong kinh có nói, người quy y Tam Bảo sẽ được sự gia hộ của 25 vị đại thiện thần. Người làm lễ cầu tiêu tai họa và sống thọ, nếu đã quy y Tam Bảo thì cũng được sự gia hộ như vậy.

Từ vô thỉ đến nay, nhân quả thiện ác xoay vòng mãi không thôi, cực kỳ phức tạp, ân oán chằng chịt đan xen. Người nào mắc nợ người nào, chúng sinh nói chung và cả đến bậc A La Hán nữa, cũng đều rất khó làm sáng tỏ vấn đề này.

Nhờ sức mạnh Phật pháp và sự gia hộ của các vị thần hộ pháp, có thể tránh được những quả báo đáng lẽ phải chịu.

Cũng như người giàu có không đòi những món nợ nhỏ đối với kẻ nghèo khổ. Nỗi oan gia ngày trước, nếu được siêu sinh thoát khổ rồi, thì nỗi oan ức và lòng giận cũng sẽ được giải trừ, không còn lấy oán báo oán nữa.

Đó chính là đạo lý của việc tiêu trừ tai họa và cầu trường thọ.

HT. Thích Thánh Nghiêm

chuaphuclam.vn

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cười là bố thí.

Thích Hải Tín

Đầu xuân lên chùa thấy Đức Di Lặc cười, ta cũng cười. Có mấy ai nghĩ rằng cười được với nhau cũng là một cách bố thí. Vậy cười cũng có thể bố thí sao? Nghĩ kỹ lại thấy rất đúng, cười được với nhau là cho nhau tin yêu, hoan hỷ và cảm thông, đó cũng là bố thí.

Nói đến bố thí, chúng ta thường biết có tài thí như bố thí tiền tài, của cải vật thực; pháp thí là đem lời hay lẽ phải, chân lý đúng đắn, những lời dạy quý báu khuyên bảo người khác, giảng kinh thuyết pháp, in ấn kinh sách; và vô úy thí là an ủi, làm cho người khác không sợ hãi, tăng thêm dũng khí, niềm tin… Như vậy trong ba pháp bố thí ấy, nở một nụ cười thuộc loại vô úy thí. Ví dụ như, người đi khám bệnh, sau khi khám xong chỉ cần bác sĩ nở nụ cười sẽ khiến cho trạng thái tâm lý lo sợ hồi hộp của bệnh nhân tan biến ngay. Nếu bác sĩ mỉm cười an ủi khích lệ, chắc chắn hiệu quả trị liệu sẽ hoàn toàn khác. Tâm lý học hiện đại cho rằng, trạng thái tâm lý có thể cảm hóa người khác. Có một câu chuyện như sau: Có một thợ làm tóc đi mua đồ, gặp phải gương mặt lạnh của người bán hàng, cả ngày trạng thái tình cảm của người thợ làm tóc không tốt cho nên ảnh hưởng đến kết quả làm việc cũng không tốt. Cuối ngày người thợ làm tóc làm mặt cho một người khách, do trạng thái tình cảm không tốt nên làm trầy mặt người khách, sau khi tranh cãi, nhìn lại người khách xui xẻo kia lại chính là người bán hàng mặt lạnh lúc sáng. Mỗi người đều có kinh nghiệm như vầy: Dù một câu tranh cãi cũng khiến mình mấy ngày không vui, thậm chí trút giận lên người khác hoặc đồng sự; một nụ cười luôn luôn khiến mình cảm thấy an vui, những người xung quanh cũng cảm thấy thân thiện, hiệu quả công việc cũng từ đó mà được nâng cao. Ðây chính là sức hấp dẫn kỳ lạ của nụ cười, chúng ta không thể xem thường nó.

Có một số đệ tử xuất gia của Phật cho rằng phải giữ nét mặt cho nghiêm, làm gì cũng không dám mỉm miệng cười, nếu cười e rằng mất oai nghi, do vậy giữ nét mặt nghiêm đến nỗi gần như lạnh nhạt, khiến mọi người "kính nhi viễn chi", như vậy là người có oai nghi. Mỉm cười là mất oai nghi sao?! Thiền tông có một giai thoại: Một bà lão đã cúng dường một thiền tăng hơn 20 năm rồi, hôm nọ bà lão có ý để một cô gái tuổi thanh xuân xinh đẹp đến thân cận cúng dường, thiền tăng không chút động lòng còn nói “khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí” (cây khô bên núi lạnh, ba đông không mảnh tình). Sau khi biết được, bà lão giận dữ nói rằng: “Tôi cúng dường 20 năm chỉ nuôi một tục hán!”. Thế là bà đuổi đi và đốt luôn am cỏ.

Thiền là sinh động hoạt bát, tràn đầy sức sống thiền vị, vị thiền tăng kia không hiểu ý này, tuy tu nhiều năm nhưng chưa đạt được thiền vị chân chánh, đành phải cuốn gói ra đi. Có người cho rằng Phật giáo là tôn giáo của niềm vui, tôn giáo của niềm hoan hỷ và đệ tử của Phật là những người hoan hỷ trên thế giới. Đó là một sự thật, pháp hỷ không những tồn tại ở nội tâm mà cũng hiện ra ở bên ngoài, một nụ cười hàm tiếu, một câu nói nhẹ nhàng cũng khiến cho chúng sanh thấm nhuần pháp hỷ thiền duyệt, đây chẳng phải lúc nào cũng thực hành pháp bố thí một cách thiết thực đó sao! Ðức Phật dạy rằng: “Hoan hỷ là nguồn gốc mở mang trí tuệ của những người giác ngộ”.

Có người sẽ nói, ôi mỉm miệng cười ai mà không làm được, chuyện nhỏ sao gọi là pháp bố thí? Kỳ thực, cái gọi là “mỉm cười” của đa số mọi người chỉ là sự vận động của bắp thịt trên gương mặt, hoàn toàn không phải phát xuất từ nội tâm, đương nhiên không có sức cảm hóa người khác một cách sâu sắc. Khi có niềm hoan hỷ từ nội tâm thì nụ cười hàm tiếu sẽ hiện ra. Tất cả chúng ta đều có thể nghiệm như vầy, mỗi khi chúng ta có nhân duyên thân cận những vị cao tăng hoặc chư vị thiền giả, điều đầu tiên chúng ta nhận thấy đó là nét mặt từ hòa, nụ cười của những vị ấy sẽ khiến cho chúng ta không thể quên, giống như thắp lên một ngọn đèn sáng trong tâm linh của chúng ta. Khi nụ cười của chúng ta tràn đầy pháp hỷ thiền vị, cũng có thể thắp lên ngọn đèn tâm linh cho những người khác, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc, an lạc.

Một người dù mọi lúc mọi nơi dùng nụ cười chân thành để đối đãi với mọi người, cảm hóa mọi người, đó cũng chính là sự hiển lộ của Phật tánh, bắt đầu giác ngộ, chính là phát Bồ đề tâm. Ðặc biệt là hàng đệ tử của Phật cần dùng nụ cười hàm tiếu tràn đầy niềm hoan hỷ thiền vị thông qua lời nói và việc làm để ảnh hưởng những người xung quanh, khiến cho mọi người có duyên thân cận với giáo pháp, quy y Tam bảo, dần dần đi vào con đường giải thoát an vui hạnh phúc.

Chúng ta kính ngưỡng Bồ tát Di Lặc không chỉ vì gương mặt Ngài lúc nào cũng mang một nụ cười hoan hỷ, đem lại cho mọi người một niềm tin, an lạc. Chúng ta nên học hạnh Bồ tát để nụ cười hoan hỷ phát xuất từ nội tâm của chúng ta tưới ướt ruộng tâm gần như khô cạn của con người trên thế giới. Như vậy cười là một pháp bố thí. Bố thí là một pháp trong Tứ nhiếp pháp, là một pháp trong Lục độ vạn hạnh của Phật giáo. Bất cứ ai cũng có thể thực hành, để đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm an lạc cho chính mình và tất cả mọi người.

---o0o---

Nguồn: Báo Giác Ngộ

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nghiệp Sát Hại

Trong thế gian nầy thì quan niệm về thưởng phạt của thiện ác thay đổi tùy theo địa phương, hoàn cảnh xã hội, khoảng cách thời gian và giá trị đạo đức…Vì tất cả đều mang tính cách tương đối bởi vì cùng một hành động mà có người cho là đúng còn kẻ khác nói là sai. Những người lãnh đạo chánh quyền luôn luôn cố gắng tìm sự công bằng cho xã hội, nhưng thật ra từ xưa tới nay cái công bình do con người tạo ra bằng những khuôn mẫu pháp luật chỉ đạt được kết quả giới hạn mà thôi. Chẳng hạn như có một bộ lạc bán khai có tục lệ giết một trinh nữ mỗi năm để làm lễ tế thần. Mặc dù cô gái được chọn cũng cảm thấy vinh dự về sự hy sinh của mình và đối với họ hành động nầy là thiện trong khi những dân tộc khác thì cho hành động nầy là man rợ, độc ác. Một ví dụ khác là chúng ta rầy la con cái để chúng siêng năng học tập. Hành động nầy mới thấy thì có vẻ bất thiện, nhưng về sau nếu con của chúng ta trở thành người tốt thì việc làm của chúng ta ngày nay là việc thiện.

Có một câu chuyện thần thoại nói về sự phân biệt giữa thiện và ác. Lúc đó có hai ông tiên, một già, một trẻ xuống trần thăm dân cho biết sự tình: Địa điểm đầu tiên mà hai vị đi tới là một dinh thự nguy nga lộng lẫy để xin ngủ qua đêm. Nhà thì rộng mà chủ nhà chỉ cho tá túc ở dưới basement lạnh lẽo. Trên đường xuống nơi tạm nghỉ, vị tiên già thấy một lỗ trống trên tường nên dùng phép để lấp lại. Đêm kế tiếp, hai vị ghé căn nhà của một cặp vợ chồng nghèo sanh sống nhờ vào một con bò và khu vườn nhỏ. Cặp vợ chồng này tiếp đãi hai vị tiên nồng hậu. Hai vị tiên được mời ăn uống và họ nhường cái gường của mình cho hai vị tiên ngủ. Sáng hôm sau, khi mọi người thức giấc thì thấy con bò bị chết. Cặp vợ chồng khóc nức nở nhưng chẳng than Trời oán Phật chi cả. Thế rồi hai vị tiên ghé một sòng bài để giải trí. Trong sòng bạc có một người đang say mê đánh bài. Lúc đó anh ta thắng liên tục với đống tiền rất to trước mặt. Vị tiên già tới gần và vô tình đụng vào ly rượu trên bàn người đánh bài làm ly rượu rớt xuống đất bể tan. Người đánh bài tức giận mắng chửi vị tiên già rồi ôm đống tiền bỏ đi và phàn nàn rằng:”Mình đang thắng mà tới phá phách làm cho người ta xui”. Khi về đến thiên giới, vị tiên trẻ nói với vị tiên già bằng một giọng bực bội rằng:” Tôi chẳng hiểu đầu óc của anh dạo nầy làm sao ấy. Tưởng đi với anh để học được chuyện khôn ngoan, đạo đức nào ngờ thấy toàn là những chuyện trái tai gai mắt không à. Tại sao anh lại giúp tên nhà giàu bần tiện đối xử bạc đãi với anh em mình? Hắn cho anh em mình ngủ dưới hầm lạnh lẽo mà anh lại lấp lỗ tường dùm cho hắn? Còn cặp vợ chồng kia thì họ rất tử tế với mình mà anh không dùng quyền phép cứu con bò để họ làm kế sinh nhai? Còn chuyện người đánh bài đang thắng có đụng chạm gì tới anh đâu mà anh lại hất ly rượu của ông ta xuống đất? Vậy là thế nào?

Vị tiên già từ tốn và hiền hòa đáp:”Thấy vậy mà không phải vậy đâu chú ạ”. Sự thật là như thế nầy: Thứ nhất, vì ông nhà giàu mà ích kỷ không biết thương người, không muốn tạo thêm phước đức nên mặc dầu có đống vàng ở trong nhà mà cũng không hưởng được. Bởi vì trong lỗ hổng có giấu vàng mà hắn không tạo phước nên ta lấp lại cho hắn không thấy thì hắn không hưởng được. Như vậy phước đức chính là kho vàng trong nhà của mình đó mà không thấy. Chuyện thứ hai lúc ta đang ngủ trên giường của cặp vợ chồng nghèo khổ kia, ta thấy thần chết tới lấy mạng của người vợ nên ta đã cho thần chết con bò để thế mạng cho người vợ. Còn chuyện người đánh bài, vì cờ bạc mà ông ta vay mượn nhiều người làm cho vợ con đói khổ chẳng có tiền mua thức ăn. Ta thấy anh ta sắp thua trở lại nên làm cho anh ta “xui” để anh ta đem tiền về đưa cho vợ mua thực phẩm cho gia đình và trang trải nợ nần.

Tuy con người có quan niệm khác nhau về sự thưởng phạt của thiện ác, nhưng Luật Nghiệp Báo thì lúc nào cũng đại diện cho sự công bình tuyệt đối vì đó là sự thưởng phạt công minh và không bị biến thiên theo hoàn cảnh. Thật vậy, những gì một người làm cho kẻ khác dựa theo luật Nghiệp Báo thì nó sẽ đền bù trở lại cho họ một cách công bình, chắc chắn và hợp lý.

Một thí dụ là có một tay buôn bán ma túy số lượng lớn bị bắt và bị kết án chung thân. Nói theo luật pháp thì hắn ta đã nhận lấy hậu quả của tội lỗi mình một cách thích đáng, nhưng còn Luật Nghiệp Báo sẽ đối xử với hắn ta ra sao? Sau khi chết hắn sẽ tái sinh vào một gia đình mà cha mẹ là những kẻ nghiện ngập ma túy nằm trong đường dây buôn lậu của hắn ta từ kiếp trước. Sau đó cha mẹ hắn ta phạm tội rồi bị tống giam và hắn ta bỗng nhiên trở thành kẻ lêu lỏng rồi biến thành người nghiện ma túy. Hắn cần tiền để thỏa mãn tính nghiện ngập nên đi cướp bóc và bị bắn chết. Tuy vậy cái nghiệp ma túy của hắn chưa hoàn toàn chấm dứt, nên nhiều đời sau hắn ta lại tiếp tục tái sinh vào những gia đình có người nghiện ngập. Cái sa đọa đau thương mà hắn đã gieo rắc cho kẻ khác đã trở thành cái màng nhện quấn lấy hắn ta trong nhiều kiếp luân hồi.

Thí dụ trên cho thấy cái bản án của luật pháp dành cho kẻ phạm tội không phản ảnh trung thực được cái quả báo của Luật Nghiệp Báo. Rõ ràng Luật Nghiệp Báo chứng tỏ rằng kẻ vào tù chưa phải là đã trả xong nợ cũ bởi vì luật pháp xã hội của con người chỉ là một khía cạnh nhỏ mà Luật Nghiệp Báo mới thật sự biểu hiện một cách khách quan cho ân oán phân minh.

Chính Luật Nghiệp Báo rất phù hợp với lương tâm của con người nên không nhất thiết chúng ta là người Phật tử mới thấy nó hợp lý mà ngay cả những người không có khuynh hướng tín ngưỡng cũng chấp nhận sự thật của chân lý nầy. Họ tin rằng có một sự công bình mầu nhiệm chi phối đời sống của con người để người tốt sẽ hưởng được nhiều may mắn và kẻ ác tất nhiên phải gánh chịu nhiều tai vạ.

Mặc dầu Phật có dạy đời là biển khổ, nhưng trong nhân gian ai ai cũng cố bám vào sự sống. Có những người nghèo khổ, sống lây lất ở hè phố qua ngày không có mái nhà để che thân, còn kẻ khác thì vướng bệnh hiểm nghèo mà họ vẫn xem sự sống là một cái gì thật vô cùng quý giá. Thế nên hành vi tước đoạt mạng sống của kẻ khác được xem là sa vào một tội ác nghiêm trọng.

Nếu một kẻ giết người thì đối với luật pháp xã hội đôi khi có thể chỉ lãnh khoảng mười năm đến hai, ba mươi năm tù, nhưng Luật Nghiệp Báo sẽ quyết định về tương lai của hắn ta một cách công bình và hợp lý. Nếu trong khi bị giết mà nạn nhân khởi niệm căm thù và muốn trả oán thì những tư tưởng đó sẽ biến thành hành động cho đời sau và do đó chắc chắn người nạn nhân nầy sẽ trở thành thủ phạm ở đời sau. Một lần nữa Ý Nghiệp đời nầy sẽ chuyển thành Thân Nghiệp cho đời kế tiếp. Tuy nhiên có những trường hợp mà nạn nhân không có ý niệm trả thù bởi vì lúc đó họ chỉ chú tâm nghĩ đến người thân, tiền tài của cải …hoặc có thể họ đạt được hạnh nhẫn nhục cao độ thì đời sau thủ phạm sẽ bị giết bởi một người khác hoặc có thể họ bị một tai nạn như lật xe, rớt máy bay, bị sét đánh…

Nếu có kẻ đã giết người quá nhiều thì quả báo dành cho họ là thường xuyên bị giết hại ở nhiều kiếp về sau. Tệ hại là có thể bị hãm hại khi còn ở trong bụng mẹ nhiều lần. Đây là ứng dụng vào những vụ phá thai. Thêm nữa, khi giết người chồng có nghĩa là người vợ và những đứa con sẽ bơ vơ, côi cút và nghèo khổ do đó cái quả báo dành cho tên sát nhân là đời đời sinh ra bị bỏ rơi, nghèo khổ, lang thang và dốt nát. Đó là chưa kể khi giết một người tức làm đổ vỡ những sự nghiệp của người đó đang cố gắng xây dựng thì quả báo dành cho tên sát nhân là thường xuyên gặp thất bại ở đời sau. Chưa hết, một người bị giết sẽ làm cho nhiều người thân đau khổ thì cái quả báo dành cho tên sát nhân là thường xuyên rơi vào tâm trạng tuyệt vọng đau khổ giống như những kẻ bị bệnh hoang tưởng tâm thần.

Tuy nhiên không phải hễ giết người là phải hứng chịu lấy quả báo như nhau. Việc thọ nhận quả báo vẫn còn tùy thuộc rất nhiều tùy theo giá trị và hoàn cảnh của người bị giết. Chẳng hạn như người bị giết là một công dân lương thiện làm được rất nhiều lợi ích cho xã hội hay là một vĩ nhân thánh thiện như thánh Gandhi, người đã từng đem lợi ích lớn lao cho nhân loại thì quả báo mà thủ phạm phải trả là cực kỳ đau khổ. Hắn sẽ bị đày đọa hành hạ ở vô số kiếp, có khi làm súc vật bị đánh đập giết hại và có khi làm người bần tiện khốn cùng bị giết chết.

Ngược lại nhân viên cảnh sát trong lúc đang thi hành nhiệm vụ đã bắn chết một tên cướp nhà băng nguy hiểm đang gây án. Tên cướp nầy đã từng giết người cướp của gây kinh hoàng cho mọi người thì tội giết người trong trường hợp nầy không đáng kể. Chẳng những thế khi không còn tên cướp thì xã hội sẽ được bình yên hạnh phúc vì thế anh cảnh sát sẽ hưởng thêm một số phước đức. Đây chính là sự công bình của Luật Nghiệp Quả.

Là người Việt Nam thì không ai quên được cuộc chiến kéo dài bao năm trên đất nước khổ đau nầy. Nếu người chiến sĩ chiến đấu ở tuyến đầu để bảo vệ sự an bình cho người dân ở hậu phương thì việc bắn giết là điều không thể tránh. Nhưng cái tội đó có thể được bù đắp bởi công lao đã giữ gìn cho sự yên ổn của rất nhiều lương dân ở sau chiến tuyến. Chỉ khi nào người chiến sĩ nằm trong quân đội đi xâm lăng nước khác thì lúc đó tội của anh ta mới lớn.

Sát hại con người thì như thế còn sát hại thú vật thì Luật Nghiệp Quả định đoạt như thế nào?

Khi giết một con vật thì nghiễm nhiên chúng ta đã tước đoạt sự sống của nó, do đó chính mình đã tạo nên nghiệp rồi. Nhưng tùy theo giá trị của con vật mà có sự phân biệt nặng nhẹ giữa tội và phước.

Khi con người nuôi súc vật để lấy thịt như bò, heo, gà, vịt…thì cái phước nhỏ ở đây là cung cấp thực phẩm cho nhân loại, nhưng cái tội lớn là giết hại biết bao mạng sống của con vật. Thêm nữa, con người càng ăn thịt thì họ sẽ sinh ra nhiều bịnh tật như đau tim, ung thư, nhiễm thú tính…vì thế họ đã gây ra một số tội nghiệp nữa rồi. Một cái phước nhỏ mà phải đổi lấy bao cái tội lớn thì Nghiệp Báo của họ sẽ khủng khiếp về sau.Trong xã hội hiện nay, chúng ta đôi khi nghe có người làm nghề giết thịt như mổ bò, heo, gà, vịt…Đến khi gần chết họ bỗng trở bệnh kêu la rên xiết như heo và thấy ảo ảnh có vô số thú vật đến cắn xé, đòi mạng. Ngay cả con cháu đứng kế bên đâu có thấy gì mà họ cứ gào thét. Thật là bi thảm. Khi mạng chung để chuyển qua kiếp sau thì chắc chắn họ phải đọa làm thú để chịu cảnh đau đớn khi bị mổ giết. Dù chỉ hành nghề trong một đời, mà đã giết hại quá nhiều thú vật nên họ phải đọa làm thú liên tiếp nhiều kiếp về sau để trả cho hết oan trái ngày xưa. Thân người mà phải đọa làm thú thì thật là thê thảm.

Vậy còn có những trường hợp nào khác mà con người sẽ bị đọa làm thú vật ở kiếp sau? Thông thường những kẻ nào tạo những nghiệp thấp hèn, đê tiện làm mất nhân phẩm và giá trị sẽ bị đọa làm thân thú vật ở đời sau để gánh chịu sự khinh rẻ, coi thường.

Trước hết là phạm vào tà dâm, loạn luân và phá vỡ luân thường đạo lý của xã hội loài người. Nếu con người không thể kìm chế dục vọng của mình, tà dâm không tiết độ thì rõ ràng hạnh nghiệp tương đương với dục vọng của loài thú rồi.

Có người đời trước thọ nhận rất nhiều tài vật của người khác một cách bất chính như trộm cướp, giật nợ hoặc tu sĩ nhận cúng dường nhưng không giới hạnh cộng thêm với tư cách ích kỷ hèn kém thì kiếp sau họ sẽ bị đọa làm các loài lao động như trâu, bò, ngựa…để trả nợ. Còn nếu họ chỉ mắc nợ tài vật mà có tư cách tốt thì đời sau vẫn được làm người nhưng phải lao động quần quật để trả nợ. Do đó chỉ những tài sản được tạo nên từ công lao của mình một cách chân chính, dù ít hay nhiều, thì mới thật là thành quả đền bù của cuộc sống và sẽ không lo sợ trả nợ về sau. Đây mới là sự công bình thật sự trong cuộc đời.

Có người lòng dạ thật ích kỷ đã biến thành hành vi tranh giành cấu xé đồng loại không thương tiếc thì cũng giống như loài thú. Nhiều người vì quá ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, không ngại dùng mọi thủ đoạn hiểm độc để bức hại kẻ khác để thủ lợi cho mình thì tư cách nầy chẳng khác chi loài thú chỉ biết sống theo bản năng ích kỷ, tranh giành. Hành vi giống thú thì quả báo đọa làm thú là điều không tránh khỏi

Khi nóng giận, có người hay chửi mắng kẻ khác là trâu, bò, chó, heo…Lời nói ác độc nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong suốt cuộc đời sẽ đủ sức kết thành quả báo để đọa họ làm thân thú vật ở đời sau. Do đó ngậm máu phun người dơ miệng mình là như vậy.

Chó thì có chó Tây, chó Mỹ và chó Việt. Trong khi phần lớn chó Mỹ được cưng chiều, sung sướng còn chó Ta thì đói khổ mà còn bị con người làm thịt. Tại sao có sự bất bình đẳng nầy? Quả báo nầy có hai nguyên nhân, một là khi còn làm người ở đời trước thì nó có nhiều ân nghĩa với người chủ và đã giúp đở người chủ đắc lực mặc dầu nó đã gây ra một số nghiệp bỉ ổi, mất nhân phẩm. Do nghiệp kém nhân cách, nó phải đọa làm chó, nhưng do ân nghĩa lớn lao với chủ ngày xưa nên nó được cưng chiều như vậy.

Có người nói rằng cây cỏ, rau quả cũng có sự sống thì người ăn chay có mang tội sát sanh hay không?

Khi cắt một ngon rau tức là chúng ta đã xâm phạm đến đời sống của sinh vật thì việc tạo nghiệp là hiển nhiên có nhưng rất nhỏ. Khoa học ngày nay chứng minh rằng thực vật cũng có phản ứng tâm linh, nhưng những phản ứng về khả năng sinh tồn nầy quá thô thiển và đơn giản cho nên nói chung cây cỏ không có những dấu hiệu đau đớn khi chúng ta cắt cây, tỉa cành hay hái quả. Nếu một người suốt đời ăn chay, tiêu thụ rất nhiều rau quả thì cái cộng nghiệp nầy cũng không phải nhỏ, nhưng việc tu hành khiến họ làm rất nhiều điều phước thiện, giáo hóa để tăng trưởng đạo đức cho kẻ khác thì những cái phước nầy sẽ quá dư để bù lại cái tội kia.

Vào năm 1966, ông Backster, nhà bác học đã chế ra bộ máy điện tử để đo lường nói dối, đã làm một cuộc thí nghiệm chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây cối để ý canh chừng nhau. Khi có một động vật chẳng hạn như con nhện tới gần tạo mối nguy hiểm thì cây cỏ quay sang canh chừng con nhện. Ngoài ra, cây cỏ còn có trí nhớ để nhận biết những chuyện phá hoại chúng và chúng còn biết thương yêu người chăm sóc và biết sung sướng khi người đó trở về

Cây càng lớn và lâu năm thì năng lực tâm linh càng mạnh. Ở Việt Nam có những cây đại thọ mọc ở sau đình. Khi có người muốn đốn nó thì phản ứng tâm linh của cây đủ sức làm cho người kia mang bệnh mà chết, nhưng người dân không hiểu thì cho rằng động đến thần linh ở trên cây là tuyệt mạng. Như vậy đốn cây là tạo nghiệp còn việc trồng cây, bảo vệ rừng là một phước lớn.

Ánh Đạo Vàng

Share this post


Link to post
Share on other sites

Luân Hồi (Wheel of Life)(Reincarnation)

Đã là con người thì ai lại không quan tâm đến chuyện tử sanh. Người giàu sang, quyền quý thì họ muốn được sống thật lâu để tận hưởng những lạc thú trên đời, còn kẻ cùng đinh thì càng từ chối hội ngộ với diêm vương. Nhắc lại chuyện xưa, vua Tần Thủy Hoàng vì muốn kéo dài sự hưởng thụ ngôi cao tột thế của mình, nên sai không biết bao nhiêu người tâm phúc đi tìm thuốc trường sinh bất tử, nhưng ông ta có thoát khỏi bàn tay lông lá của tử thần không? Bởi thế, kể từ khi khai thiên lập địa đến giờ, từ thiên tử đến chí dân, từ giàu sang đến rách rưới, ai ai cũng không qua khỏi cửa tử cả. Vì thế mới có câu:”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử”. Thật vậy, có sanh tất phải có diệt.

Nhưng thế nào là chết?

Theo dấu hiệu thông thường của cái chết là khi chấm dứt hơi thở và tim ngừng đập. Còn theo Phật giáo thì chỉ gọi là chết khi nào thần thức (linh hồn) chính thức lìa khỏi thân xác mà thôi. Thần thức thì có hai phần: phần thô và phần tinh tế. Khi hơi thở dứt và tim ngừng đập, thì phần thô của thần thức đã tan mất. Tuy nhiên, phần tinh tế của tâm thức vẫn còn lưu lại trong xác thân của người chết trong một thời gian dài hơn. Có những trường hợp nó lưu lại trong thân xác ba, bốn ngày hoặc là cả tuần lễ nữa. Trong thời gian thần thức còn lưu lại trong thân xác thì thi hài không bốc mùi hoặc thối rữa. Nhưng trong kinh điển Phật giáo đều khuyến khích là chúng ta cố gắng đừng đụng tới thi hài tối thiểu là sau 8 tiếng đồng hồ kể từ khi tắt thở để thần thức có cơ hội thoát ra một cách bình yên. Khi người đang hấp hối, thì phải tránh gieo cho họ những trạng thái bi ai, luyến ái, hay giận hờn. Bởi vì nếu họ không an tâm mà nhắm mắt thì ảnh hưởng rất lớn cho việc đầu thai hoặc vãng sanh của họ. Tuyệt đối không nên khóc lóc hay bi lụy mà chỉ nên niệm Phật, hoặc tụng kinh Địa Tạng hay kinh A Di Đà cho họ sớm được siêu thoát. (Xin đọc thêm trong phần Pháp tu Tịnh độ).

Khi nói về cái chết, Đức Phật đã nói rằng:

- Hễ có hơi thở ra mà không thở vào là chết.

Chính Đức Phật đã khẳng định cái chết đến với mọi người thật dễ dàng vì đời người quá ngắn ngủi mong manh. Vì thế cái chết luôn luôn như chực chờ bên ngoài, bên trong cơ thể và ở ngay trong mỗi con người chúng ta từng giây từng phút.

Theo Phật giáo thì có ba trường hợp đáng lưu ý về sự chết của con người:

1) Sammattimarana: Đây là sự chết thông thường của con người, đó là tim ngừng đập và sự ngừng thở hoàn toàn.

2) Samucchedamarana: Chết và không còn tái sinh. Khi những bậc tu hành đắc đạo hay niệm Phật đến chỗ tam muội (Nhất tâm bất loạn) thì được vãng sanh vào cõi Thánh hay vào cõi bất sinh bất diệt.

3) Khanakamarana: Chết trong một Sát na (một giây). Đây là cái chết đặc biệt trong tâm tức là sự chấm dứt tư tưởng của dòng tâm thức. Chẳng hạn khi tâm đang suy nghĩ về một vấn đề gì rồi dứt bỏ, chấm dứt, không suy nghĩ đến vấn đề đó nữa thì đây là trạng thái của tâm diệt.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết:

1. Kãlamarana: Khi thọ mạng hết khiến con người sinh bệnh rồi chết.

2. Ãyukhayena: Chết do tuổi thọ đã hết.

3. Kammak-Hayena: Chết vì nghiệp báo ở kiếp nầy đã trả xong.

4. Ãyukammakhayena: Chết do tuổi thọ và nghiệp quả đã hết.

5. Upaccheda-marana: Chết vì nghiệp quả quá nặng tác động vào.

6. Akãlamarana: Chết bất đắc kỳ tử khi đoạn nghiệp của một người phát sinh quá mạnh.

Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chết? hoặc là người chết sẽ đi về đâu? từ những thắc mắc đó mà trong nhân gian đã nẩy sinh ra vô số tôn giáo.

Có tôn giáo nói rằng, loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, cát bụi sẽ trở về với cát bụi, chết là hết. Nhưng có những tôn giáo khác lại không đồng ý với tôn giáo trên và nói rằng: loài người chết đi, nhưng linh hồn vẫn vỉnh viễn còn lại, hoặc lên thiên đàng để mãi mãi hưởng những khoái lạc, an vui, hay xuống địa ngục lãnh án cực hình thê thảm.

Vậy ta nên tin theo triết lý nào?

Theo giáo lý nhà Phật thì hai triết lý trên không giải thích được cái gì cả bởi vì nó chỉ là những định đề đơn giản, không hợp lý và không thực tế. Tại sao? Nếu quan niệm rằng sau khi chết muốn được lên Thiên Đàng hay bị đọa vào Địa Ngục thì thần thức (linh hồn) phải đổi thay toàn diện. Đó là nếu muốn được lên Thiên Đàng thì thần thức bây giờ sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện như một vị thiên thần. Ngược lại khi chết thần thức mất hết tính tốt để trở nên xấu xa mà biến thành một thứ ma quỷ và bị đẩy vào Địa Ngục. Điều nầy vô lý vì bất cứ sự tiến hóa nào cũng phải diễn biến từ từ chớ không thể nào đột ngột được và một điều chắc chắn là không một ai toàn thiện hay toàn ác trên thế gian nầy cả. Trong mỗi chúng ta đều có đầy đủ chủng tử thiện ác hoặc là do chúng ta tạo ra trong đời nầy hoặc là do những đời trong quá khứ mang đến. Nếu có những người trong đời nầy biết tu tâm dưỡng tánh nên có rất nhiều chủng tử thiện nhưng những chủng tử thiện ác đã tạo ra trong đời quá khứ họ vẫn phải đeo mang.

Sự chết chỉ là giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vì thế không có việc quỷ sứ hành hạ tội nhân hoặc thiên thần có cánh bay vèo vèo như những loài chuồn chuồn châu chấu.

Phật giáo gọi chữ linh hồn của những tôn giáo khác là thần thức và thần thức thì vốn như hư không và không có hình tướng. Khi còn sống, con người hằng ngày đã tạo nên rất nhiều nghiệp báo. Những nghiệp tốt thì gọi là thiện nghiệp còn nghiệp dử thì gọi là ác nghiệp và những thiện nghiệp cũng ác nghiệp nầy được gọi chung là nghiệp thức. Tất cả những nghiệp thức mà chúng ta tạo ra trong đời nầy sẽ được ghi nhận lại bởi một hệ khác là Mạt-Na thức. Sau đó, tất cả những nghiệp thức được chuyển qua và giữ lại ở A-Lại- Da thức. Những chủng tử (cái mầm) của nghiệp thức một khi đã được dồn chứa trong A-Lại-Da thức, thì chúng sẽ tồn tại từ đời nầy sang đời khác cho đến khi gom góp đủ nhân duyên thì chúng sẽ phát sanh. Đến lúc thân chết, thì thần thức phải đi theo nghiệp báo mà biến hóa đổi đời để mang lấy thân khác. Khi đã sang đời khác lại phải chịu ở trong bào thai, tất nhiên mọi sự thấy biết cũng đều khác hết nên không còn nhớ đến những việc cũ nữa.

Nhưng tại sao chúng ta không nhớ đến việc đời trước? Để trả lời Đức Phật dạy rằng:

“ Cũng ví như người thợ đúc, khi ông nấu đá quặng để luyện thành sắt, khi thành sắt rồi lại chế thành đồ dùng. Vậy khi đã thành đồ dùng rồi, có thể làm cho nó trở lại thành đá quặng nữa chăng?

Thần thức dời chuyển ở trong thân Trung Ấm (khoảng thời gian vừa chết cho đến khi đi đầu thai sang kiếp khác, thường thường thì khoảng 49 ngày) cũng như đá quặng nấu thành sắt, từ Trung Ấm chuyển sang thân khác, cũng như sắt đã chế thành đồ, hình cũ tiêu đi thể chất đổi khác. Vậy cái thần thức lúc đó thay đổi rồi, không còn nhớ những việc trước nữa. Tại sao thế? Bởi vì phải theo với nghiệp thiện ác của mình đã tạo lập như thế nào, thì thần thức sẽ lại theo nó để hưởng thụ lấy quả báo (tội hay phước) biến hóa đổi đời cũng như đá chuyển thành sắt vậy.

Vì thế, nếu trong đời này chúng ta làm những việc ác đức, thì lúc chết đi thần thức sẽ phải sa vào làm kiếp súc sanh, hay địa ngục. Nói một cách khác, khi ta chết, không có nghĩa là hết, cũng không có nghĩa là sẽ lên trên hoặc xuống dưới chỉ một lần, mà chúng ta phải quay lộn trong cảnh sanh tử luân hồi. Nên nhớ tất cả những chủng tử của nghiệp thức dồn chứa trong A-Lại-Da thức thì bất biến. Nói một cách một khi chúng ta gây ra một nghiệp nào thì nó sẽ ở mãi trong A-Lại-Da (Tàng thức) từ đời nầy đến đời khác không mất. Khi gặp nhân duyên thì chủng tử sẽ phát sinh để tạo thành quả báo và nó là kết quả của cái vui hay cái buồn của con người trong đời nầy. Chủng tử ví cũng như cái mầm, hột giống. Một khi cái mầm hay hột giống (cái nhân) gặp mưa, gặp đất tốt tức là nhân duyên thì cái mầm sẽ nẩy chồi, sanh rễ rồi thành cây thành quả. Do đó nếu nghiệp mà không có nhân duyên thì nghiệp sẽ không bao giờ thành quả. Vì thế người tu Phật không nên gây ra thêm nhân duyên bất thiện để kết với nghiệp ác trong quá khứ mà thành quả báo dữ làm cho mình đau khổ.

Thế nào là luân hồi?

Luân là bánh xe, Hồi là xoay tròn. Đức Phật đã dùng hình ảnh bánh xe quay tròn để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mọi chúng sanh trong cõi lục đạo. Khi thì đầu thai ở cõi nầy, khi ở cõi khác, luôn luôn tiếp nối sanh tử, tử sanh không ngừng, như bánh xe lăn.

Luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng, nên chúng ta cứ tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng chi phối lẫn nhau.

Sau đây là lục đạo luân hồi mà chúng sinh có thể nhập vào tùy theo nghiệp nhân mà mình tạo:

1) Địa ngục (nơi chịu cảnh khổ): khi sanh tiền chúng ta tạo ra lắm điều sân hận, độc ác thì khi chết phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều đau khổ.

2) Ngạ quỷ (quỷ đói): khi sống thì quá tham lam, bỏn sẻn, không biết bố thí, chẳng những không giúp đở người khốn khổ mà còn lập mưu sâu, kế độc để cướp đoạt của người. Khi chết sẽ luân hồi làm ngạ quỷ.

3) Súc sanh: lúc sống thì si mê sa đọa theo thất tình, lục dục, tửu sắc, khi chết luân hồi làm súc sanh.

4) A-tu-la (cõi Thần): những người nầy khi sống gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cương trực mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh hung ác vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, khi chết luân hồi vào cõi A-tu-la. Cõi nầy thì vui sướng cũng có mà đau khổ cũng nhiều.

5) Loài người: chỉ cần giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không dối trá, không rượu chè say sưa, thì đời sau trở lại làm người.

6) Cõi trời: bỏ mười điều ác để tạo mười điều thiện thì sẽ luân hồi vào cõi trời, nhưng cõi trời này vẫn còn ở trong vòng phàm tục có nghĩa là vẫn còn chịu cảnh luân hồi sanh tử về sau.

Khi chết thần thức thoát ra khỏi thân xác và chuyển qua một thế giới trung gian (cõi trung giới) trong thời gian từ một đến bảy tuần lễ. Họ trút bỏ thân xác sắc uẩn nặng nề và sự sống tiếp tục bằng cách mang một thân không có xác thịt mà chỉ bằng tư tưởng được gọi là Thân Trung Ấm. Mỗi cảnh giới trong lục đạo được cấu tạo bằng những nguyên tử mà có những tần số rung động (Vibration) khác nhau. Tùy theo nghiệp thức mà nghiệp lực chi phối Thân Trung Ấm có được những rung động tương ứng. Nếu người tạo nhiều nghiệp dữ thì sẽ có tần số rung động thấp, ngược lại người tu hành thanh cao thì có tần rung động rất cao. Sự rung động của Thân Trung Ấm sẽ tương ứng với cảnh giới tần số rung động của một trong sáu cõi luân hồi. Đây chính là “đồng thanh tương ứng” vậy. Thí dụ như trong cõi địa ngục có tần số rung động nặng nề, u ám nhất tương xứng với những vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người giết hại súc vật, những cặn bả trong xã hội, những kẻ có tư tưởng xấu đầy thú tánh…Ngược lại một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ thức tỉnh và tái sinh vào một cảnh giới an lành, tự tại.

Cử Chỉ Của Người Sắp Chết

Đức Phật dạy rằng thân xác tức là sắc uẩn của con người là do tứ đại kết hợp:

v Đất là địa tức là thành phần chính tạo nên xương, thịt, bắp thịt, gân, mô, chất sụn hay mô sụn…

v Nước là Thủy chính là thành phần cấu tạo nên chất nhờn như đàm, nước miếng, tinh khí, máu huyết, mồ hôi…

v Gió thuộc Phong tạo nên hơi thở, sinh khí.

v Lửa là Hỏa là phần tạo nên thân nhiệt, sức nóng của cơ thể và cũng là nguồn năng lượng tiềm tàng phát sinh khi toàn bộ cơ thể hay một phần cơ thể hoạt động.

Khi người sắp chết thì tứ đại lần lượt lìa ra khỏi xác thân vì thế thịt, gân, xương trở thành các chất bắt đầu tự hủy hoại từ trong lẫn ngoài. Kế đến là các chất lỏng bắt đầu cô đặc dần dần và máu tụ về một nơi nên lúc đó tim vẫn còn thoi thóp và hơi thở dần dần giảm thiểu rồi dứt hẳn. Quả tim đập một cách yếu ớt và lúc nầy Hỏa vẫn còn lưu chuyển nên ngực còn hơi ấm để rồi tách dần khỏi thể xác khiến cơ thể lạnh dần và da tái mét hay tím ngắt vì đã mất máu và năng lượng nhiệt.

Thông thường mỗi người trước khi trút hơi thở cuối cùng có những cử chỉ đặc biệt, nhưng tựu trung cũng nằm trong bốn trạng thái sau đây

1) Hốt hoảng, lo sợ và tiếc nuối làm chân tay run rẩy, chới với và ngơ ngác..

2) Đau đớn, khổ sở với nét mặt nhăn nhúm, dáng mặt xanh xám nhợt nhạt, mắt trợn trừng, tay chân co quắp, co giật và quằn quại…

3) Thâm trầm, lặng lẽ, buông xuôi…

4) Bình thản với những cử chỉ tự nhiên. Sắp dặt, dặn dò, khuyên nhủ người thân mọi việc như đang chuẩn bị cho chuyến đi xa rồi sau đó mới từ từ nhắm mắt.

Dựa theo Phật giáo thì có 10 hiện tượng lành mà người sắp chết sẽ về cõi Thánh hay được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc.

1. Đối với những người bình tĩnh, sáng suốt, không hốt hoảng hay bấn loạn tinh thần.

2. Biết trước mình sẽ chết nên rất bình thản và tự nhiên chờ đợi.

3. Họ chuẩn bị mọi việc trước khi ra đi và tắm rửa sạch sẻ, thay quần áo mới và căn dặn người thân như không có gì đáng sợ cả.

4. Tự nhiên có mùi thơm của hương, hoa tỏa ra quanh người sắp chết.

5. Tự nhiên như có âm thanh xa vắng mênh mông khác với âm thanh thông thường của thế gian.

6. Tự nhiên có vầng sáng chiếu vào thân thể người sắp chết.

7. Tự nói ra bài thơ, bài kệ, hay lời giáo huấn có tính cách Pháp thoại cho đại chúng.

8. Tự nhiện đọc kinh hay niệm Phật.

9. Ngồi ngay thẳng, xếp bằng, chấp tay trước ngực rồi nhắm mắt và trút hơi thở cuối cùng giống như Lục Tổ Huệ Năng tại chùa Nam Hoa, Quảng Đông.

10. Niệm Phật Tam Muội mong về cõi Tịnh độ Phật A Di Đà.

Nếu có chúng sinh nào đạt được phần lớn hay tất cả những điều ở trên thì chắc chắn thoát khỏi sinh tử Luân hồi hay được vãng sanh về cõi Tịnh độ.

Nhắc lại khi con người sắp chết thì mỗi người có các hiện tượng khác nhau bởi vì tất cả đều do nghiệp nhân lành hay dữ của họ gây ra từ trước mà cảm nhận được. Cho nên khi sắp lìa đời thì nghiệp nhân ấy phát khởi, sôi nổi trong tâm thức. Nghiệp nào mạnh thì sẽ bị lôi vào cảnh giới tương đương với nó để thọ báo. Thí dụ như nghiệp lành mạnh thì sẽ hiện ra cảnh giới sung sướng. Ngược lại nghiệp hung dữ ác độc thì hiện ra cảnh giới đau khổ xấu xa.

Nếu có chúng sinh sắp bị đọa vào địa ngục thì nghiệp duyên sẽ khiến họ có những hiện tượng như sau:

§ Gặp con cái, bà con họ hàng nhìn kẻ chết bằng cặp mắt hung dữ ghét bỏ.

§ Người chết đưa hai tay lên mà rờ mò giữa hư không.

§ Cho dù có bậc Thiện-Tri-Thức chỉ bảo, họ cũng không chịu tùy thuận.

§ Kẻ chết kêu gào than khóc.

§ Đi đại tiện và tiểu tiện mà vẫn không hay biết gì.

§ Nhắm nghiền đôi mắt không mở.

§ Thường hay che úp mặt mày.

§ Nằm nghiêng mà ăn uống.

§ Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám.

§ Gót chân đầu gối luôn luôn run rẩy.

§ Sống mũi xiên xẹo.

§ Mắt bên trái hay động đậy tức là máy mắt.

§ Hai mắt đỏ ngầu.

§ Úp mặt mà nằm.

§ Thân hình co rút và tay bên trái chấm xuống đất mà nằm.

Nếu có chúng sinh bị lôi vào trong ngạ quỷ thì cũng có những dấu hiệu như sau:

¨ Ưa liếm môi miếng.

¨ Thân nóng như lửa.

¨ Thường lo đói khát và hay nói đến việc ăn uống.

¨ Mắt thường trừng lên mà không chịu nhắm.

¨ Hai mắt khô khan như mắt chim gỗ.

¨ Không có tiểu tiện nhưng đại tiện thì nhiều.

¨ Đầu gối bên phải lạnh trước.

¨ Tay bên phải thường nắm lại tức là biểu hiệu ôm lòng bỏn sẻn.

Nếu có chúng sinh bị lôi vào loài súc vật thì cũng có những hiện tượng như sau:

· Yêu mếm vợ con, đắm đuối không bỏ.

· Ngón tay và ngón chân co quắp.

· Khắp trong thân mình toát ra mồ hôi.

· Tiếng nói ra khò khè.

· Miệng thường ngậm đồ ăn.

Nếu có chúng sinh được tái sinh làm người thì trước khi chết có những hiện tượng như sau:

o Đến khi chết hay khởi niệm lành tức là lòng dạ dịu dàng, phước đức, vui vẻ và vô tư.

o Thân không đau khổ.

o Chăm lòng nhớ nghĩ cha mẹ.

o Con cái đều đem lòng thương mến và gần gũi.

o Tai thường muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bè bạn..

o Đối với việc lành hay việc dữ lòng không lầm loạn.

o Tâm tính chính trực, không dua nịnh.

o Rõ biết bà con bạn bè giúp đỡ cho mình.

o Thấy bà con chăm sóc sinh lòng vui mừng.

o Di chúc việc nhà, phân chia tiền của.

o Sinh lòng tịnh tính, thỉnh Phật, Pháp, Tăng để quy y.

Nếu có chúng sinh được sanh lên cõi an lạc cũng có những hiện tượng sau:

¨ Khởi lòng thương mến.

¨ Phát khởi tiện niệm.

¨ Lòng thường vui vẻ.

¨ Chánh niệm được rõ ràng.

¨ Không có những điều hôi hám.

¨ Sống mũi không xiên xẹo.

¨ Lòng không giận dữ.

¨ Lòng không lưu luyến của cải vợ con quyến thuộc.

¨ Mắt được trong sáng.

¨ Ngửa mặt lên mĩm cười mà nghĩ tưởng thiên cung đến rước họ.

Không nhất thiết tất cả những điều ghi nhận trên đây nhất nhất phải hiển hiện, nhưng chỉ có những điều kiện quan trọng sẽ được hiển hiện mà thôi.

Có thể quan sát các cảm giác trên gương mặt và thân xác của người chết để biết nơi thoát ra của thần thức.

1. Nếu người sắp chết mà chết tự nhiên, bình tĩnh, sáng suốt và căn dặn mọi điều với con cháu hay bình thản giã từ thân nhân thì thần thức sẽ thoát ra từ ngực.

2. Nếu người sắp chết từ từ nhắm mắt lìa đời một cách êm ái nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ bình thường thì thần thức sẽ thoát ra từ trán hay ngực.

3. Nếu trái lại, cơ thể tím ngắt, xạm đen, xanh xám với tiếng rên rỉ, mặt nhăn nhó, quằn quại thân mình thì thần thức chắc chắn sẽ rời khỏi thể xác bằng ngả bàn chân.

4. Khi người sắp chết tỏ vẻ nuối tiếc, nét mặt khổ đau, kêu than đau đớn, kêu khát nước, đòi ăn, vật vã thì lúc đó thần thức đang chuyển xuống bụng hay đầu gối để tách rời khỏi thể xác.

Vì thế khi rờ nhẹ trên người của người mới chết thì cũng có thể đoán biết thần thức của người chết sẽ đi về đâu:

1) Nếu người sắp chết mà toàn thân từ từ lạnh ngắt mà đôi mắt vẫn còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra nơi đôi mắt và người đó sẽ thọ sanh về cõi Thánh hiền.

2) Nếu người chết mà toàn thân lạnh ngắt chỉ có đỉnh đầu còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra ở đỉnh đầu và người nầy chắc chắn sẽ sanh về một trong những cỏi Trời để hưởng phước lạc.

3) Nếu người mới chết mà toàn thân lạnh ngắt nhưng ngực còn nóng thì thần thức sẽ thọ sanh vào làm người trở lại. Nên nhớ khi tái sinh thì nghiệp lực cùng với nhân duyên mới có thể sẽ đưa họ đầu thai vào những giống dân khác với giống dân trước khi họ chết. Thí dụ khi sống thì họ là người Tàu, nhưng lúc tái sinh lại trở thành người Ấn độ.

4) Nếu người chết khắp nơi đều lạnh ngắt mà bụng vẫn còn nóng thì thần thức sẽ sinh vào loài ngạ quỷ.

5) Nếu người mới chết toàn thân đều lạnh ngắt mà chỉ còn hai đầu gối là nóng thì chắc chắn thần thức sẽ sinh vào loài súc sanh.

6) Nếu người mới chết toàn thân lạnh ngắt mà hai bàn chân còn nóng thì thần thức sẽ bị đọa vào địa ngục.

Theo Phật giáo thì tùy theo hơi ấm tụ ở nơi đâu mà có thể biết thần thức được chuyển vào cõi tốt lành thanh thoát hay cõi địa ngục tối tăm. Hơi ấm càng đưa xuống phần dưới cơ thể thì càng xấu. Nói chung hơi ấm mà tụ ở bàn chân, ở đầu gối, ở bụng là xấu. Ngược lại, hơi ấm tập trung ở trán và đầu của người sắp chết là tốt. Khi gặp trường hợp trán và đầu của người sắp chết lạnh trước tiên thì thân nhân hay người đang có mặt phải dùng hai bàn tay để chuyển động như cố ý dồn đẩy hơi ấm vào đầu và trán người sắp chết cho đến khi đầu và trán có chút hơi ấm thì thôi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đừng làm gì cả

tác giả: Osho
dịch: Ngô Trung Việt

"...Câu hỏi thứ sáu:
Thưa Thầy kính yêu,
Tôi ngồi im lặng không làm gì, và cỏ dại đang mọc khắp quanh tôi.


Roderick, cỏ dại là thiêng liêng. Đừng gọi chúng là cỏ dại. Chúng cũng tâm linh như chư phật. Chúng cùng chia sẻ Thượng đế nhiều như hoa hồng. Bỏ con người khỏi trái đất - sẽ có khác biệt gì giữa cỏ dại và hoa hồng không? Tất cả những phân biệt này đều do tâm trí tạo ra.

Bạn không thực sự ngồi im lặng đâu; bằng không, ai đang nói với bạn cỏ dại đang mọc? Tâm trí bạn vẫn vận hành, thì thào mọi thứ cho bạn. Nó là tâm trí của bạn đấy! Nếu bạn thực sự im lặng thì không có tâm trí đâu - thế thì dù cỏ dại mọc hay hoa hồng mọc tất cả đều như nhau với bạn. Khác biệt gì có đó? Bạn không thể tận hưởng được cỏ dại sao? Chúng là người đẹp đấy! Nhìn cỏ dại lay động, nhảy múa trong gió, trong ánh mặt trời.... Bạn nghĩ cái gì thiếu trong chúng mà hoa hồng có? Chẳng cái gì thiếu cả. Đây chỉ là ý tưởng, và ý tưởng thay đổi. Có thể một ngày nào đó hoa hồng có thể hết thời thượng, cỏ dại có thể trở thành một thứ "vào trong nhà."

Một trăm năm trước không ai đã bao giờ nghĩ rằng xương rồng sẽ được mọi người yêu thích, nhưng bây giờ xương rồng "vào trong" và hoa hồng "ra ngoài." Nói về hoa hồng có vẻ nệ cổ, có vẻ chính thống, theo tục lệ; nói về xương rồng là tiên tiến, nó chứng tỏ rằng bạn là hiện đại, đương đại.

Mọi người đang để xương rồng trong phòng ngủ - xương rồng nguy hiểm, xương rồng đầu độc, nó có thể giết chết bạn! Nhưng chúng đã thành thời thượng, và một khi cái gì đó đi vào thời thượng thì có nhiều kẻ ngu bắt đầu tán thưởng nó.Mọi người đơn giản cứ chạy theo bất kì cái gì được làm thành thời thượng bởi vài người láu cá và tinh ranh. Mới một trăm năm trước không ai thích tranh của Picasso, còn bây giờ Picasso là nghệ sĩ vĩ đại nhất - không chỉ của thế kỉ này mà của toàn thể lịch sử. Điều gì đã xảy ra? Chỉ kiểu mốt đã thay đổi. Mọi người phát mệt về thứ này; họ cứ chuyển sang cực đoan đối lập.

Roderick, không có gì sai trong cỏ dại cả! Không có gì sai trong bất kì cái gì. Ý tưởng về đúng và sai nghĩa là tâm trí có đó. Bạn không ngồi im lặng đâu và bạn không ngồi mà không làm gì. Bạn đang khu biệt, và đó là hành động. Bạn đang dán nhãn, và đó là suy nghĩ. Và bạn đang phán xét.

Vứt mọi phán xét đi, mọi việc dán nhãn, mọi khu biệt... và chỉ quan sát cỏ dại mọc. Vậy thì sao - cứ để chúng mọc! Khi bạn không có tâm trí chút nào, bạn cũng là cỏ dại; cho nên cỏ dại mọc khắp quanh bạn, đó không phải là cái gì đó kì lạ - cỏ dại bao quanh cỏ dại! Tận hưởng đi!

Có lần một Thiền sư được vua yêu cầu - vì thầy là hoạ sĩ lớn - vẽ bức tranh trúc.
Thầy nói,
"Sẽ mất thời gian đấy."
"Bao lâu?" vua hỏi.
Thầy nói,
"Khó nói được, nhưng ít nhất cũng phải hai hay ba năm."
Vua nói,
"Ông có điên hay cái gì không? Ông là hoạ sĩ lớn nhất. Ta nghĩ ông có thể vẽ nó ngay bây giờ!"

Thầy nói,
"Chả thành vấn đề, vẽ trúc không phải là vấn đề - nhưng trước hết ta phải là trúc đã; bằng không làm sao ta biết trúc là gì? Ta muốn biết trúc từ bên trong! Cho nên ta sẽ phải đi và sống trong rừng trúc. Bây giờ, người ta chưa bao giờ biết điều đó sẽ mất bao lâu. Chừng nào ta chưa biết trúc từ bên trong ta không thể vẽ nó được. Đó đã từng là thực hành cả đời ta: ta vẽ chỉ cái ta đã biết cốt lõi sâu nhất của nó."

Vua nói,
"Thôi được, ta sẽ đợi."
Một năm trôi qua. Ông ấy phái vài người tới xem điều gì xảy ra, liệu người này còn sống hay chết rồi. Họ quay về và nói,
"Người này vẫn sống, nhưng chúng tôi nghĩ rằng người này không còn là người nữa - người này là trúc rồi! Người này lay động cùng trúc trong gió. Chúng tôi đi qua bên cạnh ông ấy; ông ấy chẳng chú ý gì.
Chúng tôi nói, 'Xin chào!' Người này không nghe. Chúng tôi muốn nói với người này. Chúng tôi đã nhìn vào mắt ông ta - chúng trống rỗng tới mức chúng tôi trở nên hoảng sợ; hoặc là người này đã điên hay cái gì đó đã xảy ra. Và người này có thể làm bất kì cái gì, cho nên chúng tôi trốn mất. Người này có thể giết hay, ai mà biết được? - người này có thể nhảy lên chúng tôi! Người này không còn là cùng người trước nữa."Đích thân nhà vua tới xem, và thầy đang lay động trong gió, trong mặt trời.

Và vua hỏi, "Thưa ngài, bức tranh của tôi thì sao?"

Thầy không trả lời.

Sau ba năm thầy xuất hiện ở triều đình và thầy nói, "Bây giờ đem vải vẽ và thuốc mầu lại đây, ta đã sẵn sàng. Và tại sao bệ hạ là người quấy rối ta lặp đi lặp lại thế? Nếu bệ hạ mà không quấy rối ta, ta chắc đã tới sớm hơn chút ít rồi. Những kẻ ngu này từ triều đình bệ hạ, họ nói mọi thứ với ta. Họ nói, 'Xin chào!' Bệ hạ có nói chào với trúc không? Họ làm rối loạn toàn thể sự việc. Phải mất nhiều tháng ta mới thu lại được lắng đọng trong việc là trúc và quên rằng ta là người. Và thế rồi bệ hạ tới và bệ hạ nói, 'Thưa ngài.' Đó có phải là cách nói với cây trúc không? 'Khi nào ngài sẽ vẽ?' Có ai đã bao giờ nghe thấy trúc vẽ không? Bệ hạ là kẻ ngu, bệ hạ bị bao quanh toàn kẻ ngu! Ta đã bảo bệ hạ rằng ta sẽ tới bất kì khi nào ta sẵn sàng."

Vải vẽ được đưa tới, chổi vẽ và mầu, và trong vài giây thầy đã vẽ xong trúc. Và người ta nói rằng nhà vua khóc vì vui sướng. Ông ấy chưa bao giờ thấy bức tranh như vậy: nó sống động thế! Nó không phải là bức tranh thường. Nó không là từ bên ngoài, nó là từ chính trúc - cứ dường như trúc đã mọc ra trên vải vẽ, không được vẽ ra.

Roderick, ngồi im lặng không làm gì, và để mọi sự xảy ra - bất kì cái gì đang xảy ra. Nếu cỏ dại mọc, để chúng mọc. Chúng có quyền mọc nhiều như bạn có quyền trưởng thành. Và nếu bạn cho phép mọi thứ mà không có phán xét, nếu bạn vô phán xét, bạn sẽ trưởng thành tới cực đỉnh của vui vẻ và phúc lành mà bạn không thể nào hình dung ra được ngay bây giờ...."

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đức Di Lặc và ý nghĩa sáu đứa bé


Mỗi mùa Xuân đến, mọi người đều in thiệp chúc Tết nhau. Trong nhà chùa nói chung, nhất là Phật giáo Bắc tông, hầu hết đều chúc nhau một mùa Xuân Di-lặc. Như vậy đức Phật Di-lặc có liên hệ gì đến mùa Xuân, mà chúng ta cầu chúc nhau như thế. Có nhiều người cho rằng ngày mồng một Tết là ngày vía đản sanh của đức Di-lặc. Tôi chưa biết đó là ngày đản sanh của Hóa thân nào, vào thời đại nào.


Posted Image

Bởi vì lịch sử của Bồ-tát ứng thân vô lượng, làm sao chúng ta căn cứ một bề, lấy đó làm tiêu chuẩn. Chúng tôi chỉ biết một điều thật là quan trọng trên danh nghĩa Di-lặc mà chúng ta thường tụng thường nguyện.

Khi chúng ta tụng: Nam-mô Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật, đó là thể theo lời huyền ký của đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni rằng, sau khi Bồ-tát Di-lặc sanh lên cung trời Đâu-suất mãn công hạnh, sẽ đến thế giới Ta-bà này thuyết giảng. Lúc tuổi thọ con người giảm tột cùng chỉ còn mười tuổi, rồi do nhờ phát tâm tu hành, gìn giữ Thập thiện, tuổi thọ tăng lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, chừng đó đức Phật Di-lặc ra đời. Như vậy thời gian Ngài ra đời còn xa lắm. Tôi đã từng nói mỗi đức Phật ra đời không làm việc trùng lập nhau. Bao giờ giáo lý của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, danh từ Tam Bảo không còn được biết tới nữa thì đức Phật Di-lặc mới ra đời.

Đức Phật Thích-ca được gọi là Ta-bà giáo chủ, là vị Giáo chủ trong cõi Ta-bà này. Còn đức Phật Di-lặc sẽ thành đạo dưới cội Long Hoa, cho nên được gọi là Long Hoa giáo chủ. Tuy thời gian Ngài ra đời còn lâu xa, nhưng chúng ta tin rằng tương lai sẽ có Phật ra đời. Đức Phật ra đời, đó là một diễm phúc cho chúng sanh, là ngọn đuốc sáng cho nhân loại. Vì vậy khi nghĩ đến đức Phật ra đời, chúng ta cảm thấy cả một nguồn hạnh phúc an lành. Ngày mồng một Tết là ngày vía đức Phật Di-lặc, cũng là ngày hứa hẹn hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc bằng cách giải thoát khổ đau, ra khỏi luân hồi, chớ không phải hạnh phúc trong ngũ dục tầm thường. Đầu năm Tăng Ni cùng Phật tử lễ vía đức Phật Di-lặc, Ngài là hình ảnh bên ngoài mà cũng là sự hứa hẹn ở nội tâm chúng ta. Nhớ đến đức Phật sẽ thành, chúng ta cũng nhớ luôn mai kia mình sẽ thành Phật. Vì vậy chúng ta không chỉ lạy đức Phật với lòng thành kính, mà còn cầu chúc cho nhau một mùa Xuân hứa hẹn sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa thâm sâu của ngày vía đức Phật Di-lặc.

Bây giờ chúng ta đi vào ý nghĩa hình tượng của Ngài. Chắc rằng chúng ta ai cũng từng thấy hình tượng đức Di-lặc ở các ngôi chùa. Có khi người ta thờ Ngài với vẻ mập mạp, cười toe toét; có chỗ khác cũng thờ hình tượng như vậy mà có sáu đứa nhỏ: đứa thì chọc ngón tay vô rún, đứa thì móc lỗ mũi, đứa thì móc miệng, đứa thì dùi lỗ tai v.v... mà Ngài cứ vui cười không phiền, không chướng ngại gì hết.

Tại sao như vậy? Hình ảnh đó nói lên cái gì? Điều này rất thiết yếu, chúng ta nên chú tâm như trong kinh Lăng Nghiêm, có đoạn mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm tuyên bố cho ngài A-nan và đại chúng: “Khiến ông phải luân hồi sanh tử, chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật gì khác; khiến ông chóng chứng Vô thượng Bồ-đề, cũng chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật gì khác.” Như vậy cội gốc sanh tử cũng là sáu căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của chúng ta. Như vậy con đường trở về giác ngộ hay con đường sanh tử luân hồi là một hay hai? Sanh tử luân hồi cũng đi con đường đó mà Bồ-đề Niết-bàn cũng đi con đường đó, có khác nhau. Người thì đi theo chiều thuận gọi là thuận lưu, người đi theo chiều nghịch, gọi là nghịch lưu. Đi theo chiều thuận là sanh tử luân hồi, đi theo chiều nghịch là giải thoát sanh tử. Như vậy thì không có hai đường. Ví dụ chúng ta về Sài Gòn, cũng đi trên đường Vũng Tàu - Sài Gòn. Sài Gòn - Vũng Tàu cũng đi đường đó. Nhưng nói về Sài Gòn là đi trở về, nói đi Vũng Tàu là đi trở ngược ra. Chỉ khác một người đi trở ra, một người đi trở vô thôi. Khác nhau ở chỗ đó. Đường thì một mà hai người đi nghịch hoặc thuận chiều, kết quả sẽ có hai ngả khác nhau, và hai địa điểm khác nhau. Cũng như vậy, nếu sáu căn của chúng ta nếu ta thuận chiều với nó, đó là chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta đi ngược chiều với nó là chúng ta trở về Niết-bàn, Bồ-đề, giải thoát v.v... Nếu sáu căn đi theo sáu trần gọi là thuận lưu, đi theo chiều luân hồi. Nếu sáu căn không chạy theo sáu trần, không nhiễm, không dính, không mắc, đó là người trở về Bồ-đề Niết-bàn không đâu xa lạ. Như vậy để thấy rõ con đường tu tuy có rất nhiều, nhưng sự tu căn bản chỉ đừng cho sáu căn chạy theo sáu trần bên ngoài. Đức Phật Di-lặc là một vị Phật sẽ thành ở ngày mai do Ngài tu hạnh gì? Chính hình ảnh đó là câu trả lời cụ thể nhất. Mỗi đứa bé soi lỗ tai móc lỗ mũi của Ngài mà Ngài vẫn cười không tỏ vẻ bực dọc, không tỏ vẻ chướng ngại buồn bã. Vì vậy Ngài sẽ thành Phật chắc chắn.

Còn chúng ta thì sao? Nếu ai móc lỗ tai mình thì không đánh cũng đá, không đập cũng la; móc lỗ mũi mình cũng thế... Như vậy đối sáu căn, có ai động tới thì chúng ta không chịu nổi. Chỗ không chịu nổi đó làm chướng ngại chúng ta. Sáu đứa bé gọi là lục tặc, tức là sáu đứa cướp phá phách. Nhưng thật tình chúng có phá mình hay không? Nếu bị móc lỗ tai mà mình không cảm thấy khó chịu lại thấy đã ngứa thêm thì không bị chướng ngại. Hiện tại hầu hết chúng ta đều bị chướng ngại bởi những lời nói bên ngoài. Nếu những lời chửi mắng gièm pha, nguyền rủa tới lỗ tai, mà mình coi như gió thổi lá dương cành liễu cho nó nương theo gió đi đâu thì đi, đừng vướng mắc tự nhiên mình an lành tự tại. Nếu thấy đó là lời nói thù hằn, mỉa mai sâu độc mà mình bực bội tức tối, ghi nhận nó vào với những tâm niệm hận thù, đen tối thì nó sẽ thành giặc cướp làm tan hoang của báu nhà mình. Tai nghe những tiếng khen chê hoặc là chửi bới đề cao v.v... mình cũng xem thường, vì tiếng nói không thật. Chính bản thân mình còn không thật, huống là tiếng nói bên ngoài. Tâm không động đó là mình đã thắng đứa bé móc lỗ tai rồi.

Khi con mắt thấy tất cả hình ảnh phía trước, có đẹp có xấu, dù hình ảnh nào mình cũng dửng dưng không lay động không dính mắc, như vậy bao nhiêu hình ảnh dàn trải tràn trề trước mắt, mình cũng vẫn an lành tự tại. Ngược lại khi thấy một hình ảnh, mình liền cho là đẹp là xấu, đẹp thì sợ mất, xấu thì sanh tâm bực tức, thế là hình ảnh nào cũng gây phiền não hết, không có hình ảnh nào là an vui tự tại. Sự thật những hình ảnh đó có phải là phiền não không? Phiền não là tự ai? Gốc tại mình. Nếu thấy nó mà không luyến ái, không ghét bỏ, thì nó vẫn là nó. Có lỗi lầm gì đâu! Lỗi lầm là chính lòng luyến ái, lòng sân hận của mình chớ không phải hình ảnh có lỗi lầm. Khi chứa chấp sân hận, chứa chấp luyến ái, thì của báu nhà mình bị cướp mất. Con mắt đem những hình ảnh vào để cướp mất của báu nhà mình, đó là cái chướng biểu trưng qua hình ảnh đứa bé móc mắt. Còn nếu ngược lại mình không mắc kẹt, hình ảnh là hình ảnh, mình vẫn an nhiên, thì đứa bé ấy có làm gì thì làm, mình vẫn an ổn.

Lỗ mũi cũng thế, ngửi mùi hôi mùi thơm đừng mắc kẹt, coi như khói như gió vừa qua mũi rồi mất, không có gì thật, thì có gì làm cho mình nhiễm, tự nhiên trong lòng được tự tại. Ngược lại, tại chúng ta si mê, cho nên mùi thơm đến thì thích, mùi hôi đến thì bực. Do đó tự mình đem giặc vào cướp của báu nhà mình, tự làm chướng ngại.

Như lưỡi chúng ta nếm những vị cay, đắng, mặn, ngọt; cái nào hợp thì thích, cái nào không hợp thì không thích. Vì vậy mà chúng ta chạy tìm kiếm, khổ từ năm này sang năm khác. Mỗi khi lên mâm cơm, thấy món gì mình cảm nghĩ là hợp với lưỡi của mình thì vui, món gì không hợp thì bực. Vui và bực đó làm mình phải chướng, rồi nói lời thô ác làm cho người chung quanh không vui. Vì lẽ đó chúng ta tập cho lưỡi mình đừng tham đắm vị. Tất cả cái ngon cái dở chẳng qua là tạm mà thôi, cốt sao cho mình được an ổn tu hành là quí. Như vậy chúng ta thắng được các thứ vị, tức là đã thắng đứa bé móc miệng rồi.

Tôi đã đơn cử các căn như mắt tai mũi lưỡi để thấy chúng ta tu là phải tu ngay tại sáu căn của mình, đó là các cơ quan hằng tiếp xúc với những hoàn cảnh thuận tiện làm cho mình ưa, những hoàn cảnh trái ngược làm cho mình giận. Tuy nói sáu căn chớ thật tình có năm căn quan trọng, tức là mắt tai mũi lưỡi thân, năm cửa đón tiếp bên ngoài. Mỗi khi năm căn tiếp xúc với năm trần thì ý theo đó phân biệt để thương ghét buồn giận. Vì vậy, ngay năm căn kia mà chúng ta đón nhận đúng pháp thì căn thứ sáu (ý căn) không còn trở ngại nữa. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà chúng ta mắc kẹt, nhiễm theo thì gọi là sáu đứa cướp, bởi vì kho báu nhà mình bị chúng cướp đi. Cướp bằng cách nào? Ví dụ lỗ tai nghe tiếng rồi phân biệt tiếng khen tiếng chê, sanh buồn sanh mừng là bị mất của. Của đó giặc mang đi đường nào và lấy ở đâu? Nói suông thì khó biết. Cần phải biết của mình ở đâu và dấu vết giặc mang đi đường nào, mới có thể giữ của được.

Sự thật nó không mang đi đâu, đó chỉ là hình ảnh tượng trưng thôi. Nhưng chúng ta thường nghĩ khi có lấy tức là có mang đi, không ngờ nếu thật tình nó mang đi thì sau này dù có giữ cũng là giữ cái kho không còn của đâu mà giữ. Vì vậy phải biết rõ ràng là tuy nói nó cướp của mình, nhưng không cướp gì hết. Chỉ do năm căn tiếp xúc bên ngoài, rồi tâm mình xao xuyến hoặc buồn hoặc giận. Đó là những đám mây đen nổi dậy che lấp mặt trời trí tuệ của mình, gọi là đã cướp. Khi nào nghe những tiếng khen chê mà trong lòng không xao động, những đám mây đen không nổi dậy, thì mặt trời trí tuệ của chúng ta vẫn sáng rực, gọi là giữ được của báu.

Khi trí tuệ chúng ta hằng sáng tỏ, lúc đó gọi là giàu. Còn nếu phút giây nào trí tuệ bị mờ tối không còn phát hiện nữa gọi là mất của báu, ta nghèo đi. Cái nghèo đó là cái nghèo tạm thời, nhưng cũng có thể là nghèo muôn kiếp. Nếu giờ phút nào bị mây phiền não che khuất thì chúng ta mất trí tuệ, nhưng khi nào chúng ta dẹp tan những đám mây đó, thì mặt trời trí tuệ sáng trở lại gọi là nghèo tạm thời. Còn cứ nuôi dưỡng những đám mây đen, hết đám này tới đám khác, dù có mặt trời trí tuệ mà cả đời vẫn sống trong đen tối. Đời này đen tối, đời sau đen tối, cứ tiếp nối như thế mãi thì không bao giờ hết nghèo. Thế nên người biết tu và không biết tu khác nhau tại chỗ đó. Dù chúng ta cũng bị cướp của báu, cũng bị mây đen che lấp mặt trời trí tuệ, nhưng chúng ta tin rằng chỉ bị che trong một phút một giây, rồi sẽ sáng lại.

Vì vậy ý nghĩa Đương lai hạ sanh của đức Phật Di-lặc là một ý nghĩa hứa hẹn trong tâm chúng ta, chúng ta sẽ sáng ra ở ngày mai chớ không tối mãi. Đó phải là cái hứa hẹn thật sự chớ không phải hứa hẹn suông, hứa hẹn rỗng. Có người cũng hứa hẹn, nhưng hứa hẹn suông, nghĩa là cũng có hình thức người tu, đi chùa lễ Phật, nhưng cứ chất chứa bao nhiêu phiền não. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, cứ như thế mà dồn hết vào trong lòng. Lo kiếm những món ngon, lo chứa những mùi thơm, lo chứa những hình tướng đẹp v.v... cả ngày cứ xao xuyến lo buồn làm khuất đi mặt trời trí tuệ sáng ngời, cho nên phải chịu khổ đen tối. Còn người biết tu, khi trí tuệ bị che khuất thì hối hận, ăn năn cố làm cho tan đám mây mờ, và nguyện làm sao đừng để mặt trời trí tuệ bị che khuất phút giây nào hết. Đó là hứa hẹn thật, hứa hẹn của người biết tu, chớ không phải hứa hẹn suông.

Chính chỗ thiết yếu đó mà đức Phật Di-lặc được gọi là con người hạnh phúc, con người hạnh phúc thường mập mạp vui tươi. Cái mập mạp vui tươi đó là nhờ trong lòng không có những đám mây phiền não che lấp mặt trời trí tuệ, mà dù sáu đứa giặc có móc tai, móc mũi v.v... Ngài vẫn thấy như không. Còn chúng ta thấy chướng nên trán nhăn, mày cau, mắt đỏ, gương mặt đau khổ. Cái khổ đó chính vì mình không chịu nổi sáu đứa giặc phá phách nên tự nhiên sanh ra bực dọc, khó chịu. Nếu nó phá phách mà mình không thấy chướng, thì cái phá đó trở thành đùa vui với nhau. Chúng ta không ai chẳng có sáu đứa giặc, sáu đứa cướp đó nhưng nó thành giặc hay bạn là chính tại mình. Thế nên biết tu nơi sáu căn rồi tự nhiên được an lành tự tại. Dù chưa thành Phật, hiện đời ta cũng hạnh phúc tràn trề. Ngày nào tháng nào cũng đều là ngày tháng vui tươi, năm nào cũng là năm đẹp đẽ. Vì vậy mà chúng ta hay chúc nhau một mùa Xuân viên miễn.

Đó là mùa Xuân Di-lặc, mùa Xuân hạnh phúc, mùa Xuân mà trong lòng không phiền muộn lo âu. Còn lo âu, còn phiền muộn thì chưa phải là hạnh phúc. Cho nên nhớ đến đức Phật Di-lặc, nhớ đến sáu đứa bé móc tai, móc mũi của Ngài, chúng ta nên hằng giờ hằng phút kiểm điểm lại mình, thử xem giặc có cướp của mình hay không. Nếu chúng ta cứ nuôi dưỡng sáu đứa giặc khiến chúng luôn cướp của mình, thì dù có khao khát nguyện cầu thành Phật mấy đi nữa, quả Phật cũng còn xa lơ xa lắc. Trái lại nếu chúng ta ở mọi trường hợp, đi đứng nằm ngồi, tiếp duyên đối cảnh, đều sống đúng với tinh thần của đức Phật Di-lặc thì tôi tin rằng dù không cầu được an vui, tự nhiên cũng được an vui, không cầu thành Phật, tự nhiên cũng thành Phật.

Tóm lại chỗ tu thiết yếu là biết trở về mình, chính là đừng để cho sáu căn dẫn giặc vào, gọi là nghịch lưu. Nghịch lưu tức là trở về Tánh giác. Còn nếu luôn luôn bị sáu căn dẫn giặc về cướp mất của báu nhà mình gọi là thuận lưu, tức là thuận theo chiều sanh tử. Do đó, hôm nay nhân ngày vía đức Phật Di-lặc và cũng là ngày Tết Nguyên Đán, tôi cầu chúc cho tất cả quí vị Tăng Ni, cư sĩ nam nữ đều trở về nguồn giác của mình. Nguyện cầu cho tất cả quí vị kể từ ngày mồng một Tết này cho đến trọn năm và cho đến suốt đời đều luôn luôn là “bối trần hiệp giác”.

Trích từ sách: Xuân trong cửa thiền

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted Image

Biểu tượng của văn minh Nam Dương tử đấy!

Tác giả bài này tuy là thiện trí thức, nhưng không phải người ngđược chân lý.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đức Di Lặc và ý nghĩa sáu đứa bé

Posted Image

Thiên Bồng mỏi mắt cũng không tìm ra...chú thứ sáu...

Hay tại chú Sáu này tượng trưng cho "Ý Nghiệp" nên "chú"...núp đi rồi...

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay