Lãn Miên

Thắt Lưng Buộc Bụng

3 bài viết trong chủ đề này

Lao động cuối tuần số 43 từ 2-4.11.2012

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Thử tháo gỡ sự “vô lý ầm ầm” khi điền giải thành ngữ “thắt lưng buộc bụng”

Nguyễn Đức Dương

Mới đây. LĐCT (số 43) có giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết dài của PGS-TS Phạm Văn Tình, trong đó tác giả dành gần trọn nội dung để diễn giải thành ngữ [TN] Thắt lưng buộc bụng. Nhìn chung nhờ xác định nhanh chóng và đúng đắn thực chất ngữ học của đơn vị ngôn từ đang xét, tác giả đã diễn giải thành công TN vừa nêu. Tuy nhiên, khi thử soi sang cái được tác giả gọi là “nghĩa đen” của nó [Có lẽ nên gọi đó là “nghĩa hiển ngôn”, như nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo từng làm thì hơn] thì ông có phần hơi lướng vướng do bị tình cảnh “vô lý ầm ầm” “bủa vây”, như chính ông công khai thừa nhận, ngay cả khi đã viện tới sự giúp sức của một số cô bác cao tuổi.

Sở dĩ tác giả đã lâm vào tình cảnh ngoài ý muốn ấy, theo thiển nghĩ, chắc chỉ vì quĩ thời gian của ông quá eo hẹp, khiến ông quên không để ý tới nghĩa thứ hai của từ lưng được “Từ điển tiếng Việt” của GS Hoàng Phê ( chủ biên), một công trình biên khảo dày công vừa được Nhà Xuất bản Trí thức tặng thưởng “Giải sách hay năm 2012” nêu rõ. Giá có nhiều thì giờ hơn, chắc ông sẽ nhận thấy ngay bộ phận tiếp theo sau đây trong lời diễn giải của từ lưng: “ [Là thứ] dải bao dài bằng vải [mà phụ nữ thời xưa hay buộc ngang lưng cho đẹp] dùng làm chỗ đựng tiền; (thường dùng trong khẩu ngữ) để chỉ tiền riêng, tiền vốn (Người viết nhấn mạnh) […]). Nghĩa này của lưng hiện chúng ta còn có thể bắt gặp trong Kiều ( Chung lưng mở một ngôi hang) […] Nữa khi muôn một thế nào. Bán hùm buôn sói chắc vào lưng đâu?) hoặc trong một số áng thơ văn cổ (Mỏng lưng em cũng chẳng giàu. Nhiều miệng lấy chi cho đủ) [Nguyễn Công Trứ. Hàn nho phong vị phú].

Từ những gì vừa trình bày, chúng ta có thể đi đến nhận định: có thể giảng cụm thắt lưng và cụm buộc bụng đại để như sau:

Thắt lưng= Hạn chế các khoản tiền bạc định chi tiêu; và Buộc bụng=Hạn chế ăn uống.

Còn toàn bộ TN là: Hạn chế tới mức cao nhất cả chi tiêu lẫn ăn uống (để đồng vốn đỡ bị tham lạm trong thời buổi kinh tế hết sức ngặt nghèo).

Tình cảnh “vô lý ầm ầm” có lẽ đã được tháo gỡ xong.

Nhân đây chúng tôi xin có đôi lời với tác giả Phan Thị My (xin xem LĐCT số 38) cùng đông đảo bạn đọc chung quanh những lời góp ý của bà khi bàn về cặp tục ngữ [TNg] “Khuất mắt khôn coi” và “Khuất mắt trông coi” được chúng tôi giới thiệu trên LĐCT số 36. Chúng tôi xin thú thật là rất nhiều người đi trước, giàu kinh nghiệm hơn, khuyên tôi nên tránh trả lời bởi, theo họ, khoảng cách giữa ý kiến của đôi bên còn quá rộng. Chẳng hạn hồi còn đi học ở trường, các thầy, các cô dạy tôi đều khuyên nên chia mọi biểu thức ngôn từ cần tìm hiểu thành nhiều hợp phần nhỏ hơn (chảng hạn, âm vị thành nét khu biệt hoặc nghĩa thành nét nghĩa, v.v.) mới hy vọng đi sâu được vào thực chất của nó và phát hiện được các đặc trưng lý thú của nó. Về sau, khi ra trường, hầu như mọi cuốn sách tôi đọc đều dạy tôi điều tương tự, và những lời dạy ấy từ đó trở đi tôi đều cố làm đúng trong bất cứ trường hợp nào. Ấy thế mà tác giả bài góp ý lại khuyên tôi là “không nhất thiết phải suy xét đến tận chân tơ kẽ tóc bất kỳ một thành ngữ nào để xem nó có hợp lý không”. Ngoài ra tôi còn được dạy rằng tần suất sử dụng của của các biểu thức trong lời ăn tiếng nói chẳng phải lúc nào cũng luôn đi đôi với tính đúng đắn của biểu thức ấy, bởi lẽ “tính đúng đắn” ấy lắm khi đã bị cái được nhà ngữ học lỗi lạc F. de Saussure gọi là “từ nguyên học dân gian” làm cho sai lạc đi. Ấy thế nhưng tác giả bài góp ý lại khuyên tôi: “[…] quan trọng hơn, là xem tần số sử dụng nó trong cuộc sống, trong xã hội cao hay thấp, số lượng sử dụng nhiều hay ít mà thôi”. Sự khác biệt quá lớn ấy đã ngăn tôi viết bải trả lời; cho nên ở đây tôi muốn thưa lại cùng độc giả xa gần chỉ vài lời như vậy mà thôi để mong được thông cảm.

Lãn Miên viết:

Tôi chưa được đọc các bài thảo luận về câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” trên các số của LĐCT. Tình cờ tôi đọc LĐCT số 43 có bài trên, nên đưa lên đây. Tôi không phải người nghiên cứu ngôn ngữ nên chẳng dám lạm bàn. Tôi chỉ đưa hiểu của tôi về câu thành ngữ trên để trình bạn đọc tham khảo. Tôi giải thích câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” bằng “QT Tạo ngôn từ Việt” của Lãn Miên nêu (nhưng chưa được ai công nhận), cộng với “Qui tắc cấu trúc của câu nói Việt là Đề và Thuyết” của GS Cao Xuân Hạo (nhưng chưa được Bộ GDĐT công nhận) như sau:

Câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” nếu chỉ giải thích theo những cái vật cụ thể (nhìn sờ thấy được) là Lưng và Bụng thì sẽ chỉ ra một ý nghĩa rất phiến diện là “dè sẻn”, một phản ứng hoàn toàn bị động trước hoàn cảnh ngặt nghèo, không thuộc tư duy năng động như bổn tính vốn có của người Việt là năng động như nước, như GS Cao Xuân Huy nói: “Cái lý của người Việt là nước, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Nếu hiểu cả từ trừu tượng (không nhìn sờ thấy được) là Lưng và Bụng thì nội dung câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” là : Tùy theo hoàn cảnh mà nghĩ ra cách giải quyết, một phản ứng hoàn toàn chủ động, như tư duy thường có của người Việt. Tức câu thành ngữ đó cũng tương tự câu “Cái khó ló cái khôn”.

Câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” có hai mệnh đề như hai câu con là Thắt Lưng và Buộc Bụng.

(1) Trong câu con Thắt Lưng thì Thắt là “Đề” (Đề bao giờ cũng đặt đầu câu) và “Thuyết” cho cái đề đó là Lưng (Thắt cái gì ? Thắt cái Lưng ! ). Nhưng QT Tơi-Rỡi lại chỉ rõ: Thắt=Bắt (Tôi Thắt mõm bao lại không cho gạo đổ ra, tức tôi Bắt gạo nằm im trong bao). Lưng nghĩa là sự thiếu thốn (Đong Lưng hay đong Đầy ? ). Lưng nằm trong nôi khái niệm của một sự biến từ Âm tới Dương như từ 0 tới 1, là cái nôi:

Ung=Lủng=Lưng=Lưng-Lửng=Lừng-Lững=Lừng-Lẫy=Đầy, tương ứng là các nghĩa:

Không còn ( Ung và Lủng) - Thiếu (Lưng) – Gần đủ (Lưng-Lửng) - Đủ chững (Lừng- Lững)– Tràn (Lừng-Lẫy) – Đầy (Đầy vun có ngọn)

Vậy ý nghĩa của câu con “Thắt Lưng” là: Bắt cái thiếu thốn, tức Nắm bắt hoàn cảnh thiếu thốn.

(2) Trong câu con Buộc Bụng thì Buộc là “ Đề” và cái “Thuyết” cho cái đề đó là Bụng ( Buộc cái gì ? Buộc cái Bụng ). Theo QT Tơi- Rỡi thì Buộc=Bắt, nên có từ đôi Bắt Buộc. Bụng nghĩa là “cách giải quyết”. Người Việt nói “Tôi đang nghĩ Bụng” tức là “Tôi đang nghĩ Cách giải quyết”. Thế giới còn phải ngạc nhiên là chỉ có người Việt là nghĩ bằng bụng, khi người Việt nói câu “Bụng nó nghĩ là…” mà không hiểu cái ý: “Cách giải quyết của nó là …”. Người ta không hiểu được “Bụng” nghĩa là “Cách giải quyết” bởi do người ta không công nhận QT Lướt trong tạo từ của tiếng Việt (lướt hai tiếng hay cả một câu dài thành một từ). Bụng là kết quả của lướt cả câu “Bước vào tâm thức tận Cùng” = “Bước… Cùng” = Bụng. Theo QT Lướt thì trong cái biến này cái Tơi của từ đầu- từ Bước là “B” sẽ lướt đến chắp với cái Rỡi của từ cuối- từ Cùng là “Ung” để thành Bụng. Tại sao lại thành “dấu nặng Bụng” ? Về thanh điệu thì Lãn Miên đã chia 6 thanh điệu của tiếng Việt thành hai Nhóm là Nhóm Âm (0) gồm “không”, “ngã”,“nặng” và Nhóm Dương (1) gồm “sắc”, “hỏi”, “huyền”; chứ không chia thành hai nhóm Bằng, Trắc như người ta chia. Trong cái biến “Bước… Cùng” thì theo thanh điệu có Bước= “sắc”=1; Cùng= “huyền”=1; đương nhiên theo qui tắc toán nhị phân (hệ quả của khái niệm Âm Dương của người Việt) thì 1+1=0, nên Bụng= “nặng”=0 ( thanh điệu của nó phải là dấu nặng). Bụng là “Cách giải quyết”, nhưng là cách giải quyết kiểu Việt, tức phải “Bước vào tâm thức tận Cùng”, tức phải qua Thiền để tìm được cách giải quyết sáng suốt. Vậy Thiền cũng là một phát minh bản quyền của người Việt.

Cả câu lớn “Thắt lưng buộc bụng” thì “Đề” là Thắt Lưng và “Thuyết” cho cái đề ấy là “Buộc Bụng” (Thắt lưng thì phải làm sao ? Thắt lưng thì phải buộc bụng ). Nghĩa là “Nắm bắt hoàn cảnh thiếu thốn thì buộc phải nghĩ ra cách giải quyết sang suốt”. Đó chính là tính nhân văn, là minh triết của câu thành ngữ trên. Đó mới chính là phản ánh đúng tư duy năng động như nước của người Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo nào người Việt cũng đều nghĩ tìm ra được ra lối ra, như Nguyễn Trãi từng nói “Hào kiệt đời nào cũng có”.

Thành ngữ Việt đơn giản mà không tầm thường. Ví dụ câu “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” không phải là đơn giản mẹ khuyên con nhỏ phải biết cư xử trong bữa cơm, mà là khuyên con phải biết qui hoạch bất cứ việc gì từ việc nhỏ đến việc lớn như qui hoạch vĩ mô, hay qui hoạch hạ tầng một thành phố lớn, cốt lõi của mọi qui hoach đều phải là lấy nhu cầu lợi ích của cộng đồng người làm đầu: Trong câu “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” thì “Trông” nghĩa là trông cậy, trông cậy đáng dựa nhất là trông cậy vào trí tuệ của nhân dân [ Cho nên mới có câu chuyện ông đẽo cày lấy gỗ trong rừng, nhưng đẽo cày thì ra ngồi công khai vệ đường mà đẽo để được nhân dân chỉ vẽ cho] ; “Ăn” nghĩa là mọi nhu cầu hoạt động của Con Người; “Nồi” nghĩa là nguồn lực, gồm tài nguyên của đất nước và trí tuệ của nhân dân (Nồi=Nôi=Nước); “Ngồi” là sự yên ổn lâu dài của cả cộng đồng xã hội (Ngồi=Ngôi=Người=Tươi=Tuổi=Tuế Tuế); “Hướng” là Phong Thủy Lạc Việt ( Hướng là do lướt “Hỗ Tương” = Hướng, thanh điệu là “ngã”+ “không”= “sắc” tức 0+0=1, đúng như toán học nhị phân của người Việt. “Hướng” là Phong Thủy Lạc Việt, “Hỗ Tương” là nói sự tương tác đúng Âm Dương Ngũ Hành, nếu không có Phong Thủy Lạc Việt thì định hướng sai. Định hướng sai thì của dù có cả đống cũng dần dần đội nón ra đi kể cả của quí nhất là chất xám cũng đội nón ra đi(ví dụ lao động xuất khẩu hết hợp đồng lại trốn ở lại Hàn Quốc có đến hàng ngàn). Thành ngữ Việt đơn giản vậy mà không hề tầm thường.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Ý tưởng của bác Lãn Miên - lười đi ngủ - còn minh triết hơn nhiều mấy bài báo trên. Từ ngữ của họ thì ồn ào, có vẻ chuyên sâu, hàn lâm làm cho những thằng ngố cứ trợn mắt lên để cố tỏ ra hiểu. Nhưng cách hiểu cơ bản của họ thì lại sai bét.

“ [Là thứ] dải bao dài bằng vải [mà phụ nữ thời xưa hay buộc ngang lưng cho đẹp] dùng làm chỗ đựng tiền; (thường dùng trong khẩu ngữ) để chỉ tiền riêng, tiền vốn (Người viết nhấn mạnh)

Ngày xưa các cụ nhà ta không gọi cái đó là cái thắt lưng, mà gọi là "cái rut tượng". Bởi vậy, xem mấy bài của mấy vị đó....chán bỏ mựa.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Có lẽ phải nói thêm thế này: Ngày xưa các cụ không có khái niệm "thắt lưng" để miêu tả 'cái thắt lưng" như bây giờ Âu phục hay dùng để thắt cái lưng lại. Bởi vậy khi các quí zdị hàn nâm giải thích cái từ "Thắt lưng" thì đừng đem cái khái niệm từ bên Tây để áp đặt vào ngôn ngữ Việt. Khái niệm "thắt" dùng để chỉ chỗ hẹp lại thì gọi là thắt.

Từ ngữ thì ồn ào, đao to búa lớn, nhưng nội dung thì rỗng tuyếch, ngớ ngẩn.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites