Lãn Miên

Ví Dụ Về Mượn Chữ Nho Để Ký Âm Từ Lướt

1 bài viết trong chủ đề này

Ví dụ về mượn chữ nho để ký âm từ lướt

Hán ngữ hiện đại gọi cái nền thùng xe là cái Xa Để Bản 车 底 板 (Ván Đáy Xe), chứ không gọi là cái Dư 舆, như trong từ điển Hán Việt có chữ Dư 舆, giải thích nghĩa là “sàn xe để chở đồ”.

QT Lướt để lướt hai tiếng hay cả câu dài thành một từ, từ cổ xưa đã được nhà nho dùng để tạo ra từ đơn âm nhằm tiết kiệm cho việc viết, chỉ phải viết bằng một chữ. Những chữ “đặt ra” kiểu này của nhà nho không có trong khẩu ngữ Hán ngữ, chỉ có trong từ ghép do đã được dùng từ xưa trong “cổ Hán ngữ” (tức ngôn từ phát âm theo Việt mà cú pháp đã bị đổi ngược theo Hán), nếu tách khỏi từ ghép, chỉ phát âm đơn lập riêng nó thì người Hán sẽ không hiểu (phải hỏi là nó có ở từ ghép nào? Vì có nhiều chữ đồng âm dị nghĩa với nó). Ví dụ phát âm riêng “Dư” thì người ta phải hỏi là “Dư” của từ ghép “Dư Luận” hay là “Dư” của từ ghép “Thừa Dư” (là hai chữ “dư” viết biểu ý khác nhau) mới xác định được là chữ “Dư” nào mà họ đã từng học. Chữ Dư 舆 vốn để chỉ cái nền đất, vì khi làm nhà thì người ta phải dùng đất đắp cho cao hơn mặt đất vốn có gọi là “tôn nền”, cái nền ấy thành một chỗ đất “dư” nhân tạo, âm “dư” này viết bằng chữ “Dư” thừa, vì nó rõ ràng nó “thừa” hơn so với mặt đất xung quanh nó, tức nó Bự hơn (Dư = Bự = Bụ = Nhú = Nhô), cái nền đất gọi là Dư ấy nó Nhô cao hơn mặt đất xung quanh nó. Mặt khác Bự = Bạt nên chữ nho Bạt có nghĩa là “nâng cho cao hơn”, Hán ngữ dùng từ ghép Đề Bạt có nghĩa là “Nâng Cấp” trong việc phong quan chức. Tiếng Việt còn gọi cái chức “quan cao hơn” là “quan bự” (đến đứa con nít còn biết dùng từ “quan bự”). Hán ngữ còn dùng từ ghép (rất khoa học về mặt ngôn từ) là từ ghép Hải Bạt để chỉ chỗ “nhô cao hơn mặt nước biển”, ví dụ nói “Vị trí có Hải Bạt 400 mét” tức là “Vị trí có bình độ nhô cao hơn mặt nước biển 400 mét”. Người Việt đã quên mất từ Dư cổ xưa của chính mình, chỉ cái nền đất đắp, và cái QT Tơi-Rỡi là sự diễn biến âm của nó, đó là Dư = Bự = Bụ = Nhú = Nhô, nên ngày xưa dùng từ Hải Bạt của Hán ngữ. Thời hiện đại thấy dùng vậy thì “bị Hán hóa quá”, không “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên lại phải dùng khái niệm “nhô cao hơn so với mặt nước biển” và đến bây giờ vẫn dùng như vậy. Ví dụ câu “Vị trí đó có bình độ nhô cao hơn so với mặt nước biển 400 mét”. Nhưng “nhô cao hơn so với mặt nước biển” là một câu chứ không phải là một từ, như từ ghép Hải Bạt của Hán ngữ dùng. Nếu công nhận rằng trong Tiếng Việt vốn có QT Lướt cả câu để tạo thành một từ mới ( như Hứa Thận đã vận dụng , ông gọi Lướt là “Thiết” vì Lướt = Lướt-Thướt = Thiết, cách nay 2000 năm, khi ông viết ra cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn “Thuyết Văn Giải Tự) thì câu “Nhô cao hơn mặt nước biển” sẽ được lướt thành “Nhô cao hơn mặt nước Biển” = “Nhô… Biển” = Nhiển. Từ Nhiển là một từ mới, cái âm “nhiển” là có sẵn trong Tiếng Việt nhưng chưa được dùng, thì nay lấy ra dùng, phong phú thêm một từ mới mà thực ra là nó vốn ẩn sẵn bên trong cũ). Từ điển sẽ giải thích từ Nhiển: là từ do lướt cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển”, câu này theo QT Lướt thì cái Tơi của từ đầu câu - từ Nhô là “Nh” đã lướt đến chắp với cái Rỡi của từ cuối câu – từ Biển là “iển” để thành từ Nhiển, nghĩa của nó là “nhô cao hơn so với mặt nước biển”, mà về thanh điệu thì vẫn đúng luật ( Thanh điệu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm 0; “sắc”, “hỏi”, “huyền” thuộc nhóm 1): Nhô + Biển = Nhiển = 0 +1 = 1. ( Dùng từ Nhiển chỉ là ý của Lãn Miên nêu, còn làm hay không là do các nhà ngôn ngữ học quyền uy quyết định). Nhưng khi đã có từ Nhiển (tương đương từ Hải Bạt trong Hán ngữ dùng) thì câu “Vị trí đó có bình độ Nhô cao hơn so với mặt nước Biển 400 mét” sẽ được thay bằng câu “Vị trí đó có bình độ Nhiển 400 mét”. Trong câu này vì có từ mới là “Nhiển” thay cho cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển” nên đã tiết kiệm được động tác gõ phím là chỉ có 7 gõ thay cho 28 gõ, tiết kiệm thời gian được 4 lần. Từ Dư lúc đầu chỉ là chỉ cái chỗ đất tôn “dư” lên để làm nền nhà cho cao hơn mặt đất vốn có , đã diễn biến để có “Dư Trải” = Dải và “Dải nối tiếp Trải” = Dãy, để có các từ trong tiếng Việt là Dải núi và Dãy núi. Về sau người ta mượn ý từ Dư đó để chỉ cái nền thùng xe, viết là chữ Dư 舆. Rồi lại mượn tiếp cái âm “dư” của chữ Dư 舆 để ký âm từ lướt (mà chỉ trên nền tiếng Việt mới thấy ra điều đó) , đó là khi lướt hai từ Dân và Cư, lướt “Dân Cư” = Dư (Nếu dùng phát âm của Hán ngữ hiện đại mà “thiết” thì là “ Mín Chuy” = Muy, là một âm tiết không có trong Hán ngữ, vì Hán ngữ phát âm chữ Dư 舆 là “Uý”). Chữ Dư = Dân Cư này đương nhiên chỉ là có sau, do vận dụng QT Lướt để tạo từ, và đã mượn âm (đương nhiên phải cả chữ) của chữ Dư 舆 để cho nó một nghĩa khác là “công chúng” (đúng như ý lướt “Dân Cư”). Nguyên gốc chữ Dư 舆 có nghĩa là Đất, do Dư = Dải = Dãy = Giát, trong tiếng Việt có từ Dải Đất, Dãy Núi. (Bởi vậy có các từ ghép như Dư Đồ 舆 图, Địa Dư có nghĩa là đất bằng và đất nhô cao, mở rộng thành môn học “Địa Dư” là học về đất đai và dân cư theo hướng kinh tế học). Vì Dư = Giát nên chữ Dư còn dùng để chỉ cái nền để ngồi như Giát giường, Giát xe, bộ Giát= bộ Vạt (làm bằng gỗ lim hay gỗ gụ quí trong nhà để nằm nghỉ ngơi). Vì mượn âm “dư” của chữ Dư 舆 để ký âm từ lướt “Dân Cư” = Dư (nghĩa là “công chúng” nhưng biểu ý chữ Dư 舆 thì chẳng có dính líu gì nghĩa công chúng cả, chỉ có hiểu như Việt đã lướt thì là cái âm tiết “dân cư” mới có nghĩa là công chúng). Bởi vậy Hán tự mới có từ ghép Dư Luận 舆 论 nghĩa là lời bình của công chúng (Lời=Luận). Vậy chữ Dư là một từ Việt, còn chữ Dư Luận là một từ Việt-Hán vì nó được ghép ngược theo cú pháp Hán (ghép theo Việt thì là Luận Dư tức “Lời của Dân Cư”). Về cấu tạo thì chữ Dư 舆 thì bên trong phía trên có chữ Xe 车 đặt chèn trong chữ Hưng 兴 mà Hưng = Hứng = Đựng (khi tôn nền làm nhà thì người Việt dùng xe cút kít chở đất đến đựng vào chỗ chỉ định đặt nền nhà), nên chữ Dư về sau còn dùng để chỉ cái Giát xe tức cái nền thùng xe (trong ngữ cảnh này người ta sẽ đọc chữ Dư 舆 là "Giát" ). Chữ Xe 车 có nghĩa là “đưa ra” tức làm ra, như từ Xe Sợi nghĩa là kéo ra sợi. Vì Nôi khái niệm chung của Xe là “đưa ra”, tức cái Nôi : Té = Xe = Xé = Xẻ = Xê = Xa = Tả = Xả = Xổ = Thổ = Thồ = Thở = Chở, đều có nghĩa là đưa ra hay đưa đi. Từ cái Nôi khái niệm này mà có từ đôi dùng làm từ chuyên môn chỉ một loại bệnh là bệnh Thổ Tả. 吐 泻. Đọc là Thổ Tả 吐 泻là khi viết bằng chữ nho. Khi chưa có chữ nho thì người ta viết bằng chữ khoa đẩu, đó là chữ Té Re (Té Re = Nước Ra = Thổ Tả 吐 泻). Té = Tức = Đức = Đác = Nác = Nước. Nước luôn luôn làm cái việc của nó là Nở = Nống tức “đưa ra”: thấm, lan tràn, bốc hơi, nở tăng thể tích khi đóng băng. (Tiếng Quảng Châu đọc chữ Xa 车 và chữ Tả 泻 đều là “Xe”, vì Té = Xe). Có nghĩa là người Việt cổ đại biết đi bằng Xe nước – Xuồng = Xe Luồng, đường sông, trước khi biết đi Xe đường bộ). Hai chữ Dư 舆 và Xa 车 nêu trên, từ điển “Yếu tố Hán-Việt thông dụng” của Viện Ngôn Ngữ (NXB KHXH Hà Nội 1991) đều cho là từ gốc Hán.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites