Thiên Đồng

Mối Nguy Từ Sẹo Và Sẹo Mổ

8 bài viết trong chủ đề này

ĐẶC TRỊ SẸO (Tư liệu Y Khoa)

thuannghia | 11 June, 2011 20:05

"Tất cả các loại sẹo đều có thể gây nên bệnh tật, đặc biệt là chứng đau nhức. Những vết sẹo do tai nạn, bị thương, giải phẫu, bị bỏng...và kể cả những vết sẹo từ xăm hình, đeo khuyên, hay những vết sẹo do tẩy xóa trong thẫm mỹ đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc lưu chuyển khí huyết trong kinh mạch, mà chủ yếu là gây nên sự bế tắc hay thiếu hụt khí huyết do kinh mạch bị cắt đứt, tổn thương hay gián đoạn. Việc bế tắc hay thiếu hụt khí huyết ở vùng da có sẹo ngoài việc tạo nên nguyên nhân đau nhức tại vùng đó và các vùng liên quan, còn gây nên tình trạng rối loạn chức năng các cơ quan nội tạng dẫn đến các loại bệnh tật nguy hiểm khác..."

Trên đây là một đoạn trích trong tài liệu của Hiệp Hội Quốc Tế Những Nhà Điều Trị Châm Cứu Theo Trường Phái Penzel. Là tài liệu báo cáo trong hội thảo Quốc tế về Đặc Trị Sẹo từ ngày 28/05 đến ngày 07/06 tại Hannover- Đức.



Posted Image

H1:BẠN CÓ BAO NHIÊU VẾT SẸO- "Tất cả các vết sẹo đều gây nên bệnh tật và chứng đau nhức- Vậy bạn có bao nhiêu vết sẹo" đó là nội dung tài liệu của Hiệp Hội Quốc Tế Những Nhà Điều Trị Châm Cứu. Là tiên đề để thành lập nên Viện Nghiên Cứu (Universität) về Sẹo tại Wasava - Ba Lan







Posted Image
H2: Sách về "Sẹo Học"
Lý thuyết về "Sẹo Học" vẫn đang trên đường nghiên cứu để đưa vào hệ thống Y khoa hiện đại, như một khoa mới của Y Học. Nhưng ảnh hưởng của sẹo và các phương pháp tối ưu để đặc trị sẹo đã được ứng dụng vài thập niên nay khắp Âu-Mỹ Trong đó phương pháp Đặc Trị sẹo của Trường phái châm cứu Penzel được đánh giá là một phương pháp điều trị tự nhiên (không dùng hóa dược) tối ưu nhất.

Posted Image
H3: Biểu đồ đặc trị sẹo, nguyên tắc cơ bản của điều trị sẹo theo trường phái châm cứu Penzel.
- Đường đen đậm là vết sẹo - Chữ Üwp Medirian (Über weiter Punk Medirian) có nghĩa là Huyệt vị kéo dài theo kinh mạch - Chữ Üwp Narbenachsche có nghĩa là Huyệt vị kép dài theo vết sẹo - Chữ LP là Lokal Punk tức là A thị huyệt - Chữ Raster P. Có nghĩa là huyệt quanh quẩn bên sẹo có ảnh hưởng trực tiếp đến sẹo (Lưu ý: Liệu pháp đặc trị sẹo chủ yếu dựa vào các loại huyệt này)

Posted Image
H4: Muốn điều trị vết sẹo điều đầu tiên phải xác định vết sẹo đó thuộc loại gì. Là sẹo hư hay sẹo thực. Sẹo hư có nghĩa là vết sẹo tạo nên tình trạng khí huyết thiếu hụt trong khu vực, sẹo thực có nghĩa là sẹo tạo nên tình trạng khí huyết bế tắc trong khu vực- Muốn xác định đó là sẹo hư hay sẹo thực thì phải dùng phép án ma, tức là phép day ấn để tìm hiểu. Nếu xoa day ấn vào sẹo và vùng phụ cận thấy có giác đau tức khó chịu, buốt...đó là khí huyết bị bế tắc, đó là sẹo thực. Ngược lại nếu bệnh nhân cảm thấy tê rần, hoặc không có cảm giác đó là sẹo hư do khí huyết thiếu hụt. Sự xác định sẹo hư hay thực có tính chất quyết định đến thủ pháp bổ hay tả và cũng là yếu quyết để thành công trong liệu pháp đặc trị sẹo H1 trình bày bước 1 thử cảm giác của sẹo. Đầu tiên dùng bút hay que gỗ đầu nhọn tròn vạch những đường zich zac ở vùng da không có sẹo cho bệnh nhân thu nhận cảm giác. Sau đó thử lại thủ pháp này trên vùng sẹo để hỏi cảm giác bệnh nhân như thế nào

Posted Image
H5: Bước 2, dùng bút Penzel hay đũa điều trị (Đọc thêm "về Đàn Chỉ Thần Công" ấn mạnh và kéo dọc vết sẹo, và hỏi bệnh nhân thấy cảm giác đau hay tê. Nếu đau là sẹo thực, nếu tê hoặc không có cảm giác là sẹo hư

Posted Image
H6: Bước tiếp theo là xác định vết sẹo xâm phạm đến đường kinh chính nào. Vì dụ hình 5 là vết sẹo ở vùng bụng gần rốn, vết sẹo cắt ngang qua đường kinh Thận và Vị kinh

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted Image

H7: Vết sẹo xăm hình này đã cắt ngang đường kinh Tỳ và Gan, và xâm phạm một phần sang Vị kinh. Những vết sẹo tương tự ở vị trị này thường có ảnh hưởng nhất định đến cơ quan sinh dục và lá lách và gan (Tài liệu của Viện nghiên cứu về sẹo) Posted Image

H8 Tiếp theo là xác định hướng chuyển vận của khí huyết trong kinh mạch, cụ thể ở đây là hai kinh âm, can kinh và tỳ kinh đều có hướng đi từ dưới hạ bàn lên.

Posted Image

H9. Một vết sẹo do tai nạn ở chân, gây nên tình trạng vùng chân này luôn bị tê xuội Posted Image

H10: vết sẹo này gây tổn thương khí huyết trong hai đường kinh Vị kinh và Đởm kinh Posted Image

H11. Xác định đường đi của hai đường kinh mà vết sẹo gây tổn thương

Posted Image

H12: Vì là sẹo hư (gây tê bại) nên phải dùng phương pháp bổ, có nghĩa là xác định các loại huyệt như biểu đồ hình 3 phía trên. Phương pháp bổ là đưa khí huyết đến, tức là phải kích thích các huyệt ấy ở phía trước đường kinh khi tới huyệt. Ví dụ nếu là sẹo thực thì phải thủ huyệt ở sau đường kinh để đưa khí huyết đi khỏi vùng sẹo Posted Image

H13: Đối với vết sẹo này cũng thuộc loại sẹo hư nên phải thủ huyệt vùng trước đường kinh Posted Image

H14: Thủ huyệt nơi kéo dài vết sẹo. Lưu ý trên đường kinh cách vết sẹo độ 1 thốn và hai thốn (bề ngang ngón tay tương đương 1,5 cm). Hoặc nơi kéo dài vết sẹo đều có các huyệt mới do vết sẹo tạo ra, dùng tay lần sẽ có cảm giác như có hạt tấm dưới da

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted Image

H15: Sau khi xác định các huyệt trên đường kinh, và huyệt kéo dài từ sẹo, thì ta dùng đũa điều trị, kéo miết trên vết sẹo, và hỏi cảm giác của bệnh nhân, chỗ nào đau nhất (huyệt thực), chỗ nào tê nhất (huyệt hư) đó chính là A thị huyệt của sẹo. Nếu đau thì tả, tê thì bổ huyệt đó H16: Tiếp tục xác định vùng quanh sẹo, phía gần với đường kinh đi qua đó gần nhất, có điểm nào lợn cợn dưới tay như hạt tấm không (thường cách vết sẹo 1 đến 2 thốn). Đó là huyệt Rast P. như hình 3. Huyệt này chỉ bổ, không tả. Posted Image

H17: Khi đã xác định được các huyệt cần dùng thủ pháp theo biểu đồ hình 3 xong, trước lúc kích huyệt cần phải kéo miết đường kinh trước. Nếu huyệt thực thì kéo từ sẹo theo đường kinh kéo ra ngoài khỏi hướng vết sẹo. Nếu là huyệt hư thì thì theo đường kinh kéo miết vào hướng vết sẹo

Posted Image

H18. Dùng kim châm, hay các loại thiết bị kích huyệt, kích vào các huyệt đã xác định, theo phương pháp bổ. Lưu ý: Thủ pháp này theo thuật Bổ Tả đối với huyệt thực hay hư chỉ chú trọng là phía tới hay phía đi của kinh mạch. Còn thủ huyệt chỉ dùng duy nhất một thuật Bổ mà thôi Đối với những vết sẹo gây đau nhức hay tê bại vùng phụ cận, chỉ cần 5 đến 7 lần điều trị là hết, cho dù vết sẹo đó có thể đã gây nên tình trạng đau tê hàng chục năm rồi.

Posted Image

H19 Một vết sẹo mổ ung thư phổi phía sau lưng. Vết sẹo này đã gây đau cho bệnh nhân hơn 10 năm nay, ở vùng xung quanh sẹo, chỉ cần chạm nhẹ là bệnh nhân giật thót lênvì tê buốt. Bệnh nhân rất khổ sở khi mặc áo quần và nằm ngủ

Posted Image

H20: Nữ bệnh nhân này là Büscher bạn của Giáo sư Roland Kentschke, (Giáo sư dạy tiếng Đức cho giáo viên Ngoại Ngữ Học viện Goothe ở Hà Nội- Hiện nay Giáo sư đang nghĩ phép tại Đức 6 tuần và vào ngày 14/6 này sẽ cưới vợ người Colombia. Khi gặp Giáo sư, nghe ông ta kể chuyện kẹt xe máy ở Hà Nội cười bể cả bụng. Có người bạn của Ông, một Giáo sư Ngôn ngữ học, nói về đề tài "Lý thuyết về sự Trống Rỗng- Điểm gặp nhau giữa Toán học và Thi ca". Bài nói chuyện của ông ta cực kỳ thú vị vì nói đến mối liên kết giữa Ngôn ngữ Tóan học, Thi ca và Thiền định- Có dịp tôi sẽ dịch lại)

Posted Image

H21: Kéo miết dọc vết sẹo để kiểm tra vết sẹo của bà Büscher xem thuộc loại nào

Trong đoạn video này là tôi đang trình bày phương pháp đặc trị sẹo cho bà Büscher, trước các học viên của cuộc hội thảo Quốc tế về sẹo tại Hannover (Bà Büscher bị chứng tê buốt hông sườn đã hơn 10 năm, chỉ qua 5 lần điều trị đã dứt điểm hoàn toàn 100%. Bà nói với Giáo sư Roland: "Thế giới này chỉ có một người ấy thôi"..he he..nổ phát..tự sướng) ______ Phần trên chỉ là phần dành cho bạn bè là các "cao thủ" về châm cứu tham khảo nghề nghiệp thôi. Phần này mới quan trọng cho entry này. Vì phần này là phần thực hành đặc biệt dành cho các Bà Mẹ.

Posted Image

H22: Rất ít ai biết (kể cả người của giới Y khoa) rằng, có một "tên ác quỉ" đã gây nên biết bao chứng bệnh nan y cho các bà mẹ trẻ. Đó chính là vết sẹo mổ đẻ do đẻ khó gây nên. Chính vết sẹo này là nguyên nhân gây nên hàng loạt chứng bệnh nan y ở Phụ nữ, ví dụ như đau bụng quặt quại không rõ nguyên nhân, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn hóc môn, lãnh cảm, đau thắt hông lưng v...v....Có những người đau thắt vùng bụng dưới, tìm mãi không rõ nguyên nhân, có nhiều người đã bị bác sĩ mổ phanh bụng hàng chục lần vẫn không tìm được nguyên nhân (Tôi đã gặp vài ba trường hợp này, trong đó điển hình nhất là bà Ritta Süssmut, chỉ tịch quốc hội Đức vào thờ kỳ chính phủ Helmut Kohn. Bà có hàm Giáo sư, từng có thời là Bộ trưởng Y tế, bộ trưởng bộ các vấn đề xã hội Đức. Vậy mà chứng đau bụng của bà đã được mổ ít nhất 5 lần vẫn không khỏi, khi bà đến Bệnh viện tư của Dr. Nguyễn Xuân Trang, hồi tôi còn làm việc ở đó (1991-1997). Tôi đã dùng thuật đã thông kinh mạch chỉ mấy lần là hết). Đặc biệt gần đây Giáo sư Luck (Giáo sư tiến sĩ Y khoa và một bác sĩ Phụ khoa người Áo, đưa ra thống kê có hơn 85% bệnh nhân ung thư cổ tử cung, ung thư dạ con, ung thư buồng trứng và ung thư vú đều có vết sẹo mổ để ác nghiệt này. Thống kê này đã làm kinh hoàng giới Y học hiện đại.....

Posted Image

H23: ...Nhưng đối với giới Đông Y và các nhà Sẹo học, thì điều này chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Vì vết sẹo cắt ngang qua vùng bụng dưới này, cũng đồng thời cắt ngang và làm tổn thương đến 5 đường kinh mạch cực kỳ quan trọng đi ngang vùng bụng. Đó là các kinh: Nhâm Mạch, Thận kinh, Vị kinh, Tỳ kinh và Can kinh. Việc 5 đường kinh đi ngang qua vùng bụng dưới và vùng ngực vú bị tổn thương, gây nên tình trạng bế tắc hay thiếu hụt khí huyết trong đường kinh này. Đó chính là nguyên nhân gây nên chứng đau nhức và rối loạn chức năng của các cơ quan nội tạng vùng liên quan. Vì vậy mà con số hơn 85% trăm bệnh nhân nữ bị ung thư các bộ phận sinh dục chẳng có gì đáng kinh ngạc cả

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted Image

H24: Vết sẹo tuy ác hiểm, nguy hại và ảnh hưởng của nó thật khôn lường. Nhưng biện pháp khắc phục chẳng có gì khó khăn. Thậm chí người bệnh cũng tự khác phục được. Phương pháp tôi trình bày sau đây là một phương pháp rất hiệu quả, đã qua nhiều chứng nghiệm lâm sàng và đã có báo cáo khoa học. - Đầu tiên bạn phải tự mình xác định xem đây là loại sẹo gì, là sẹo thực hay sẹo hư (Đọc phần trên). Bạn lấy ngón tay, hay đầu que đũa, kéo miết dọc vết sẹo, và chú ý xem cảm giác thế nào. Nếu thấy đau buốt là khí huyết bị bế tắc ở vùng sẹo, đó là sẹo Thực. Nếu cảm giác thấy tê buốt, hay ít có cảm giác (cảm giác trơ, nặng) thì đó là do khí huyết bị thiếu hụt, đó là sẹo Hư.

Posted Image

H24: Nếu là sẹo Hư thì bạn làm như sau: - Vạch một đường dài từ rốn băng qua sẹo xuống dưới, đó là Mạch Nhâm - Từ rốn đo ngang ra 2 ngón tay nằm ngang vạch một đường thẳng song song với mạch nhâm xuống dưới đó là Thận kinh - Từ Thận kinh đo ra thêm một ngón tay nằm ngang nữa (hoặc từ rốn ra 3 ngón) vạch một đường xuống dưới, đó là Vị kinh(vạch màu đỏ trên hình minh hoạ) - Từ Nhâm mạch, và Thận kinh bạn đo phía trên vết sẹo, dọc đường kinh lên 1 ngón tay nằm ngang, đánh dấu vào đó, rồi từ đó lại đo lên 1 ngón tay nằm ngang nữa. Đánh dấu. Ở 6 đểm đánh dấu (mỗi đường kinh có 2 dấu), bạn dán vào đó mỗi chỗ 1 hạt tiêu sọ. - Trên đường Vị kinh (màu đỏ) bạn lại đo xuống dưới vết sẹo như vậy, mỗi bên dán thêm 2 hạt. Vậy là tổng cộng bạn đã dán hết 10 hạt tiêu - Trên đường kéo dài vết sẹo ra ngoài hai bên hông, bạn lại đo như vậy, mỗi bên dán thêm 2 hạt tiêu nữa, vị chi là bạn đã dán tổng cộng hết 14 hạt tiêu - dán xong, cứ thế bạn dùng ngón tay day trên các hạt tiêu đó, mỗi hạt độ 1 phút. - Hạt tiêu có thể dùng nhiều lần * Nếu là sẹo Thực, tức là sẹo đau, bạn cũng làm như thủ thuật như vậy, nhưng trên các đường Nhâm Mạch, và Thận kinh dán xuống phía dưới vết sẹo. Trên đường Vị kinh (màu đỏ) lại dán ngược lên trên vết sẹo Liệu trình điều trị khoảng 5 đến 7 lần, mỗi ngày mỗi lần. Nếu các bạn cảm thấy khó khăn với liệu pháp này thì hãy vào đây: http://thuannghia.vn...ost/7291/291372 thực hành bài tập khí công án ma trong này cũng được. Xin các bà mẹ bị mổ đẻ chớ coi thường vết sẹo "ác quỉ" này

11.06.11

TN

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cảnh Báo Về Sẹo Ác Quỉ (Tư Liệu Y Khoa)

thuannghia | 22 March, 2013 11:52

Bắt đầu từ đầu tháng 1 đến giữa tháng 3 năm 2013. Trung tâm trị liệu đau nhức của chúng tôi nhận điều trị sẹo mổ đẻ sau khi sinh con cho 21 bệnh nhân. Tất cả những ca bệnh này đều do tôi phụ trách.

Trong 21 bệnh nhân có vết sẹo do sinh mổ này thì có 18 người đã và đang bị ung thư hoặc đã cắt các khối ung thư. 1 bệnh nhân chưa có triệu chứng gì, 2 hai bệnh nhân đã có dấu hiệu của khối ung. Trong 18 bệnh nhân đã bị khối ung thì có 5 bệnh nhân đã cắt bỏ hoàn toàn một bên vú. 3 bệnh nhân cắt bỏ buồng trứng và 4 bệnh nhân cắt bỏ dạ con. Trong 21 bệnh nhân này có 2 người mờ hẳn một bên mắt, 4 người đã và có triệu chứng của bệnh liệt mặt, 7 người mắc chứng ù tai, 9 người có cảm giác tê buốt hoặc đau nhức cánh tay, 12 người đau lưng hoặc có cảm giác bại xuội đùi và chân. Cả 21 bệnh nhân đều có dấu bệnh lý liên quan đến các triệu chứng tim mạch và rối loạn tiêu hóa, rối loạn bài tiết. Tất cả đều có hội chứng tinh thần không ổn định, thường xuyên mất ngủ, chóng mặt hồi hộp, hoảng loạn, đâu bụng thường xuyên không rõ nguyên nhân. Trong đó đã có nhiều người mổ đi mổ lại nhiều lần để tìm nguyên nhân của bệnh đau bụng quằn quại. Hầu hết họ đã bị rối loạn nội tiết giới tính và tuyến giáp trạng.

Một điều đáng lưu ý là khi thử nghiệm kiểm tra tình trạng sẹo thì có 16 người có vết sẹo đau buốt. 3 người có vết sẹo tê hoặc không còn cảm giác. 2 người có vết sẹo vừa nhức buốt vừa tê đau.

Trên đây là những bằng chứng hùng hồn nhất để chứng minh cho vấn đề tại sao giới Y Khoa Hiện Đại, gọi vết sẹo mổ do khó sinh là Sẹo Ác Quỉ.

Giáo sư Luck (Giáo sư tiến sĩ Y khoa và một bác sĩ Phụ khoa người Áo, đưa ra thống kê có hơn 85% bệnh nhân ung thư cổ tử cung, ung thư dạ con, ung thư buồng trứng và ung thư vú đều có vết sẹo mổ để ác nghiệt này. Thống kê này đã làm kinh hoàng giới Y học hiện đại. Nhưng theo kinh nghiệm trực tiếp trị liệu của tôi thì con số này còn quá khiêm tốn, mà phải nói rằng, những người có vết sẹo mổ do khó sinh có đến 90% đến 95% xác suất ung thu các bộ phận cơ thể có liên quan đến giới tính.

Nguyên nhân mà vết sẹo do mổ sinh trở thành Sẹo Ác Quỉ là vì vết sẹo này đã cắt đứt và làm tổn hại đến các kinh mạch sau: Cắt đứt ngang hoàn toàn Nhâm Mạch, Thận Kinh, Vị Kinh, và làm tổn hại trầm trọng đến Tỳ Kinh và Can Kinh. Cũng có nhiều vết sẹo dài cắt luôn Can Kinh. Nói tóm lại hầu hết các đường kinh chạy dài phía trước cơ thể đều bị tổn hại nghiêm trọng về vấn đề chuyển hóa.

Vì vậy với kinh nghiệm của một lương y có nhiều năm kinh nghiệm về đặc trị sẹo. Tôi xin cẩn trọng cảnh báo:

- Những ai có vết sẹo mổ sinh này xin hãy lưu tâm, tìm đến các chuyên viên đặc trị sẹo để được tư vấn và điều trị. Chỉ cần một sự lưu tâm nhỏ, một phương pháp đặc trị đơn giản, ít tốn kém công sức và tiền của nhưng có thể tránh cho bạn những hậu quả khôn lường, có khi nguy hiểm đến cả tính mạng.

- Tuyệt đối không bao giờ thực hiện mổ sinh theo nhu cầu Tử Vi cho đúng ngày giờ sinh tốt. Đó là một việc làm thiếu hiểu biết, thậm chí là một việc làm xuẩn ngốc về cả mặt Khoa Học lẫn Tâm Linh Huyền Bí.

22.03.13

Lương y Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa

Share this post


Link to post
Share on other sites


Những nguy cơ từ việc sinh mổ

08:40 | 27/11/2012
“Nếu đã từng sinh mổ bạn phải cẩn thận thai bám vào sẹo tử cung vì nếu rơi vào trường hợp này bạn vừa mất bé vừa phải dối diện với nguy cơ vô sinh vĩnh viễn.” Sau khi sinh mổ, nhiều chị em vẫn được nghe bác sỹ dặn “hơn 2 năm mới mang thai lại nhé”. Nhưng không ít người vì bất cẩn nên đã lỡ mang thai sớm. Nhiều người chỉ nghĩ không mang thai lại sớm vì vết mổ bên ngoài chưa liền, vì chưa hồi sức, vì phải mổ liên tiếp mà ít ai nghĩ rằng, mang thai muộn còn để tránh tình trạng thai bám vào sẹo của vết mổ. Posted Image

Nguy hiểm tới tính mạng


Con vừa được hơn năm thì chị Lê Thị Hoa, Thanh Xuân, Hà Nội đã mang thai lại vì nghĩ “sinh luôn, sau đó mới đi làm lại”. Dù lần trước đã sinh mổ, nhưng lại nghĩ bản thân vẫn rất khỏe mạnh nên chị Hoa cũng rất tự tin chờ đón đứa con này. Nhưng đến tháng thứ hai, chị thấy máu bất thường, vùng bụng đau quặn. Gia đình phải vội vàng đưa chị đi viện. Bác sỹ kiểm tra rồi chỉ định chị phải bỏ thai vì thai bám vào sẹo của vết mổ cũ. Nếu không bỏ thai sớm sẽ khó bảo toàn chức năng sinh sản và còn nguy hiểm cả tính mạng. Lúc này chị mới hiểu giá trị của việc chậm mang thai sau khi sinh mổ.
BS. Nguyễn Thị Thanh Tuyên, Khoa sản, Bệnh viện Đa Khoa Tràng An, Hà Nội cho biết: Hiện tượng thai bám ở sẹo của vết mổ lấy thai cũ là một dạng thai ngoài tử cung rất nguy hiểm. Những người đã từng mổ thai (như sinh mổ, mổ để khâu tử cung vỡ…) sẽ có sẹo ở mặt trước eo tử cung. Trong khi đó, quá trình thụ thai, trứng đã thụ tinh thường bám vào mặt trước tử cung nên có thể xảy ra hiện tượng bám ngay vào vết sẹo này.
Posted Image

Chúng chia làm hai trường hợp: Bám một phần ở sẹo hoặc cấy hoàn toàn vào trong lớp sẹo. Trong trường hợp thứ hai, các gai trong bánh nhau sẽ ăn sâu vào cơ tử cung rồi xuyên vào bàng quang, dẫn đến phải cắt cổ tử cung, hoặc dẫn tới biến chứng vỡ tử cung, gây chảy máu ồ ạt và nguy cơ đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi rất cao.

Vất vả theo điều trị


Khi phát hiện thai bám ở sẹo tử cung, bác sỹ sẽ chỉ định hủy thai. Phương pháp hủy thai này tùy thuộc vào tuổi của thai. Nhưng sau đó đều phải theo dõi sau điều trị một cách nghiêm ngặt và tốn kém. Sau khi đã lấy thai, bệnh nhân phải đều đặn khám lại, cứ 1-2 tuần một lần, liên tiếp trong 3 tháng.
Phát hiện bệnh khi tuổi thai càng lớn thì điều trị càng khó khăn, thai phụ càng gặp nhiều nguy hiểm, nguy cơ mất khả năng sinh sản càng cao. Bởi vậy để phát hiện sớm tình trạng này, bác sỹ Tuyên khuyên chị em nên khám thai định kỳ từ sớm. Khi thấy dấu hiệu đau ở vùng hạ vị, ra huyết âm đạo bất thường thì nên vào viện ngay vì nguy cơ thai bám ở sẹo tử cung rất cao. Bằng siêu âm, bác sỹ có thể biết được tình trạng thai bám vào sẹo của vết mổ cũ.

Theo Dành Cho Con
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sinh mổ có nguy cơ cao bị nhiễm trùng


Các chuyên gia sản khoa cảnh báo, việc sinh mổ đối với các sản phụ chỉ nên thực hiện trong trường hợp thật sự cần thiết, vì nguy cơ nhiễm trùng sau mổ rất cao.


Một cuộc nghiên cứu phát hiện, cứ mười trường hợp sản phụ sinh mổ thì có một trường hợp bị nhiễm trùng và cần phải lưu lại trong bệnh viện thời gian lâu hơn để điều trị. Tình trạng này không chỉ khiến các sản phụ bị đau đớn mà còn ảnh hưởng đến khả năng chăm sóc con của họ.

Các nhà khoa học khuyến cáo, chỉ có các thai phụ sinh hai, sinh ba hoặc bị cao huyết áp, đái tháo đường - những người có nguy cơ cao gây nguy hiểm tới tính mạng khi sinh thường, mới nên thực hiện việc sinh mổ.

Posted Image

Trong một cuộc nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Cơ quan Bảo vệ Sức khỏe (HPA) và Trường ĐH Hoàng gia London (Anh), đã tiến hành theo dõi 4.107 sản phụ sinh mổ từ giữa tháng tư đến tháng chín năm 2009. Họ phát hiện có tới 394 trường hợp bị nhiễm trùng, chiếm tỉ lệ 9,6%.

Tiến sĩ Catherine Wloch thuộc HPA nói: "Những sản phụ bị nhiễm trùng có khả năng bị ảnh hưởng tâm lý trong những lần sinh nở sau cũng như đến chất lượng cuộc sống. Mặc dù hầu hết các nhiễm trùng sau sinh mổ không nghiêm trọng, tuy nhiên, những ca nhiễm trùng nhẹ vẫn có thể gây đau và khó chịu cho chị em. Và việc ngăn ngừa những ca nhiễm trùng này cần phải được ưu tiên hàng đầu trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản".

Các nhà nghiên cứu khuyến cáo, các trường hợp sinh mổ chỉ nên tiến hành khi xuất hiện các nguy cơ gây hại đến sức khỏe của bà mẹ hoặc thai nhi khi sinh thường. Vì chứng nhiễm trùng không chỉ gây đau mà khi nó lan tới tử cung, các vết sẹo có thể làm tử cung bị chai cứng, khiến chị em gặp nhiều khó khăn trong việc mang thai trở lại.

Một nghiên cứu mới nhất, đã được công bố trên tạp chí International Journal of Obstertrics and Gynaechology (Anh), phát hiện rằng những sản phụ béo phì hoặc bị đái tháo đường thường đối diện với nguy cơ cao bị nhiễm trùng hơn sau sinh mổ.

BACSI.com (Theo Phụ Nữ TP.HCM)


Vỡ tử cung vì có thai tại vết mổ đẻ cũ


Các bác sĩ Bệnh viện Xanh Pôn phối hợp với Bệnh viện Phụ sản Hà Nội mổ cấp cứu thành công cho một bà mẹ bị vỡ tử cung do có thai tại vết mổ đẻ cũ.

Bệnh nhân tên Hoa, 30 tuổi, nhà ở Đông Anh (Hà Nội). Chị Hoa có tiền sử mổ đẻ trước đó 3 năm. Ngày 23/1 chị đau bụng dưới, ra máu âm đạo nên vào Bệnh viện Bắc Thăng Long khám. Ngay sau đó bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Xanh Pôn trong tình trạng đau bụng dữ dội, biểu hiện lâm sàng mất máu cấp, bắt đầu rơi vào trạng thái sốc. Siêu âm cấp cứu phát hiện chị bị chảy máu ồ ạt trong ổ bụng, nguyên nhân do vỡ tử cung vì có thai 14 tuần tại sẹo mổ đẻ cũ.

Kíp mổ cấp cứu cho chị Hoa gồm 8 bác sĩ của cả hai bệnh viện Xanh Pôn và Phụ sản Hà Nội. Ca mổ kéo dài gần 4 tiếng, truyền tới 2 lít máu, các bác sĩ phải cầm máu bằng cách thắt động mạch tử cung hai bên, khâu cầm máu tại đường vỡ để bảo tồn tử cung…


Posted Image


Mổ đẻ để lại nhiều nguy cơ cho những lần mang thai sau, như vỡ tử cung. Ảnh có tính minh họa: N.P.


Chửa tại vết mổ đẻ cũ không phải là hiếm gặp. Thống kê tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2009 có tới 24 bà mẹ mắc biến chứng này, việc điều trị rất khó khăn và phức tạp.

Ngay trong tháng 1, Khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Xanh Pôn đã phải phối hợp cùng với Bệnh viện Phụ sản Hà Nội điều trị cho 2 trường hợp có thai tại vết mổ đẻ, nguy cơ gây vỡ tử cung.

Trường hợp thứ nhất là chị Thuần, 30 tuổi, nhà ở Hải Dương. Chị Thuần từng mổ đẻ trước đó 2 năm, nay có thai trở lại được 13 tuần. Chị đến Bệnh viện Hải Dương khám với lý do đau bụng, được các bác sĩ chuyển lên Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Tại đây, siêu âm phát hiện chị có thai tại vết mổ, đe dọa vỡ tử cung nên phải xử trí cấp cứu.

Chị Thuần được truyền hóa chất nhưng không hủy được thai, bác sĩ can thiệp phá thai dưới hướng dẫn của siêu âm vẫn không hiệu quả. Nếu tiếp tục xử trí theo hướng hút thai thì nguy cơ chảy máu không cầm nổi, trường hợp phẫu thuật cũng có nguy cơ phải cắt bỏ tử cung. Trước khó khăn đó, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã hội chẩn với các bác sĩ Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Xanh Pôn và đi đến quyết định nút tắc toàn bộ các mạch máu nuôi khối thai để tiến hành hút thai an toàn sau đó.

Tiến sĩ Bùi Văn Giang, Trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Xanh Pôn, người trực tiếp làm thủ thuật can thiệp nút mạch cho biết: “Với những trường hợp có thai tại vết mổ đẻ cũ, để tránh nguy cơ chảy máu ồ ạt khi nạo buồng tử cung, tránh cho bệnh nhân một cuộc phẫu thuật cắt bỏ tử cung, thì nút mạch là giải pháp tối ưu. Kỹ thuật còn được áp dụng cho cả các trường hợp chảy máu sau đẻ, rau cài răng lược, u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung...”.

Còn theo bác sĩ Nguyễn Trí, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, người điều trị cho bệnh nhân Thuần: “Sau khi nút mạch khối thai một ngày thì bệnh nhân được hút thai, quá trình hút không gây chảy máu. Tuy nhiên, để an toàn thì sau hút bệnh nhân vẫn được chèn một bóng bơm căng ép trong buồng tử cung đề phòng chảy máu. Sau một ngày rút bóng, bệnh nhân ổn định”.

Trường hợp của chị Lê Thị Thu Hiên cũng tương tự, được các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội phối hợp với bác sĩ Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Xanh Pôn để điều trị nút mạch rồi hút thai cho bệnh nhân.

Hiện nay, việc mổ đẻ đang có xu hướng càng ngày càng bị lạm dụng. Trên thế giới, chỉ có 15% sản phụ phải mổ lấy thai theo chỉ định y khoa, trong khi ở Việt Nam tỷ lệ mổ đẻ chiếm tới 40%, cá biệt có nơi lên tới 60%. Nguyên nhân của sự lạm dụng phần lớn do sản phụ và gia đình yêu cầu với nhiều lý do như: chọn “ngày giờ tốt” sinh con; chọn ngày đặc biệt như “cửu trùng”; tin theo lời thầy bói; gia đình thấy sản phụ đau, chờ lâu nên gây áp lực để bác sĩ phải chỉ định mổ… Trước những áp lực này, trong nhiều trường hợp, bác sĩ chọn giải pháp an toàn là “mổ đẻ theo yêu cầu”.

Tuy vậy, mổ đẻ không phải là giải pháp tốt cho đứa trẻ, trong khi lại gây ra rất nhiều nguy cơ và tai biến trong, sau quá trình mổ. Vỡ tử cung trong những lần có chửa sau đó là một ví dụ điển hình.

Lời khuyên dành cho các sản phụ khi có thai là hãy lựa chọn phương pháp sinh tự nhiên. Mổ đẻ chỉ là giải pháp cuối cùng và phải có chỉ định chuyên môn của bác sĩ.

* Tên bệnh nhân đã được thay đổi

Bác sĩ Trần Văn Phúc



Share this post


Link to post
Share on other sites

Những chứng bệnh thường gặp sau sinh mổ

Sau khi mổ các bà mẹ hay lo sợ những bất thường về sức khỏe, chúng tôi xin gửi tới các bạn một số chứng bệnh thường gặp sau khi sinh mổ.

Biến cố sau sinh mổ

Mẹ sinh mổ có thể:

+ Tử vong, với tỷ lệ 4-8 trên 1.000 ca, tỷ lệ 1/1000 liên quan đến gây mê, nhiễm khuẩn nặng, băng huyết, tắc mạch huyết khối.

+ Chảy nhiều máu do khi mổ chạm phải động mạch tử cung.

+ Đờ tử cung

+ Nhiễm trùng vết mổ, có thể phải cắt tử cung thời gian hậu phẫu.

+ Tai biến phẫu thuật do phạm phải các cơ quan lân cận như ruột, bàng quang, niệu quản, gây dò bàng quang - tử cung, dò bàng quang – âm đạo.

+ Tai biến do gây mê hồi sức

+ Sẹo mổ trên thân tử cung có thể bị nứt trong thai kỳ sau, dính ruột hoặc tắc ruột.

Thai nhi có thể:

+ Bị chạm thương trong khu phẫu thuật.

+ Hít phải nước ối.

Những chứng bệnh thường gặp sau sinh mổ

Nhiễm trùng tử cung

Thời gian xuất hiện: Vài ngày sau sinh mổ.

Sắc thái da, môi, niêm mạc: Da xanh, người mệt mỏi, thiếu máu.

Nhiệt độ: Sốt

Tử cung: Co hồi chậm. Nếu chỉ viêm niêm mạc tử cung thì khi nắn vào tử cung không thấy đau. Nhưng nếu viêm lớp cơ trong thì nắn đáy tử cung thấy đau.

Sản dịch: Có mùi hôi, đôi khi lẫn cả mủ hoặc máu đỏ tươi.

Tiên lượng bệnh: Hoàn toàn có thể khỏi bằng điều trị nội khoa.

Viêm phúc mạc tiểu khung

Thời gian: Vào tuần thứ hai sau sinh mổ.

Sắc thái da, môi, niêm mạc: Da xanh, hốc hác, người mệt, ngày càng nặng hơn.

Nhiệt độ: Sốt tăng dần. Sốt có rét run. Nhiệt độ 38 – 40 độ C

Đại, tiểu tiện: Bí trung, đại tiện hoặc có hội chứng lỵ.

Tiêu hóa: Đau bụng âm ỉ hay từng cơn.

Tử cung: Tử cung vẫn mở dù đã tuần thứ hai. Nắn tử cung đau. Di động tử cung đau.

Sản dịch: Có mùi hôi.

Tiên lượng bệnh: Bệnh có thể khỏi bằng điều trị nội khoa. Song cũng có những trường hợp nặng, điều trị nội khoa không khỏi thì phải mổ cắt tử cung bán phần để loại bỏ ổ nhiễm trùng. Do đó hãy đi khám bác sĩ sớm để giảm nhẹ hậu quả.

Viêm phúc mạc toàn thể

Thời gian xuất hiện: Tuần đầu sau sinh mổ.

Sắc thái da, môi, niêm mạc: Môi khô, lưỡi bẩn, thở ra mùi hôi, thể trạng ngày càng hốc hác.

Nhiệt độ: Sốt ngày càng cao, 39-40 độ C. Rét run.

Hô hấp: Thở nhanh và nông

Tiêu hóa: Tiêu chảy, phân có mùi khắm.

Tử cung: Co hồi chậm, ấn đau, di động đau.

Sản dịch: Có mùi hôi

Tiên lượng bệnh: Nếu phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp thì còn khả quan nhưng thường là mất tử cung, mất khả năng sinh đẻ. Nếu phát hiện muộn dù có được điều trị tốt cũng khó bảo toàn tính mạng cho thai phụ.

Nhiễm trùng huyết

Thời gian xuất hiện: Xuất hiện muộn sau sinh mổ.

Sắc thái da, môi, niêm mạc: Da xanh. Môi khô, lưỡi bẩn, da, niêm mạc nhợt nhạt, có khi mê sảng. Thể trạng suy sụp nhanh.

Nhiệt độ: Sốt cao liên tục, 39 – 40 độ C.

Hô hấp: Thở nhanh.

Đại, tiểu tiện: Nước tiểu màu hồng

Tử cung: Co hồi chậm.

Sản dịch: Có mùi hôi, lẫn nhiều bạch cầu và mủ.

Tiên lượng bệnh: Tiên lượng bệnh rất xấu. Tỷ lệ tử vong cao. Nếu khỏi cũng để lại nhiều di chứng.

5 lầm tưởng về sinh mổ

+ Nếu lần đầu đẻ mổ thì các lần sau cũng phải đẻ mổ

Không hoàn toàn. Tỷ lệ mổ đẻ lần hai ở bệnh viện phụ sản Trung ương chiếm từ 70 – 80%, tức là khoảng 20% phụ nữ đẻ thường sau lần đẻ mổ. Còn theo một nghiên cứu của Anh thì tỷ lệ phụ nữ sinh thường thành công sau khi đã sinh mổ một lần đạt tới 78%.

+ Đẻ mổ an toàn cho cả mẹ và con hơn sinh thường

- Tỷ lệ phụ nữ tử vong do sinh mổ cao gấp 4 lần tử vong do sinh thường.

- Tỷ lệ phụ nữ sinh mổ mắc các bệnh nguy hiểm như nhiễm trùng hậu sản, biến chứng do gây tê… cao hơn 3,1 lần so với phụ nữ sinh thường. (Một cuộc nghiên cứu của Canada).

- Tỷ lệ máu mà phụ nữ mất trong quá trình sinh mổ cao gấp hai lần so với sinh thường.

- 4% phụ nữ sinh mổ có các biến chứng như xuất huyết, đông máu, viêm khung xương chậu, viêm phổi trong khi tỷ lệ này ở phụ nữ sinh thường thấp hơn nhiều.

- Nguy cơ trẻ tử vong sau sinh mổ cao gấp gần ba lần so với sinh thường.

- Lượng vi khuẩn có hại cho sức khỏe và hệ miễn dịch ở những đứa trẻ được sinh ra bởi quá trình mổ cao hơn lượng vi khuẩn có lợi. Ngược lại, những đứa trẻ được sinh ra qua đường âm đạo lại có lượng vi khuẩn có hại cho sức khỏe và hệ miễn dịch thấp và lượng vi khuẩn có lợi cao.

- Tỷ lệ phụ nữ phải cắt bỏ dạ con sau khi mổ đẻ nhiều lần cao gấp hai lần so với phụ nữ sinh thường.

- Nguy cơ biến chứng tăng theo số lần sinh mổ.

- Tiền sử mổ đẻ sẽ làm tăng nguy cơ có rau tiền đạo hoặc rau bong non (cả hai trường hợp này đều là nguyên nhân chính dẫn đến tổn thương và tử vong ở trẻ) trong khi sinh thường không có nguy cơ này. Càng sinh mổ nhiều lần thì nguy cơ này càng càng tăng cao.

- Sinh mổ làm cho những phụ nữ béo phì và con của họ có nguy cơ bị tổn thương cao hơn so với sinh thường.

- 4/1000 phụ nữ sinh mổ có thai chết lưu trong khi chỉ có 2/1000 phụ nữ sinh thường gặp phải trường hợp này.

+ Đẻ mổ chỉ tối đa được ba lần

Không hoàn toàn. Thực tế có nhiều phụ nữ đẻ trên ba lần.

+ Đẻ mổ không đau

Hai tuần sau khi sinh mổ phụ nữ thường không hoạt động được bình thường trong khi phụ nữ sinh thường chỉ cần hai ngày là có thể chăm con hoàn toàn.

+ Những em bé đẻ mổ sẽ thông minh hơn đẻ thường

Không có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này.

Chăm sóc sau sinh mổ

Chế độ ăn giàu dưỡng chất

Sau khi sinh mổ, sản phụ mất một lượng máu khá lớn nên lúc này cơ thể người mẹ rất cần được bổ sung kịp thời các dưỡng chất để phục hồi. Mặt khác, các dưỡng chất mà cơ thể mẹ hấp thụ qua các bữa ăn hàng ngày sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng sữa của người mẹ. Do đó một chế độ ăn giàu dinh dưỡng là điều quyết định đến sức khỏe của bà mẹ và em bé lúc này. Để có được chế độ ăn hợp lý, tốt nhất bạn nên ăn đa dạng các loại thực phẩm:

+ Nhóm thực phẩm giàu đạm và sắt sẽ giúp mau lành vết mổ và phòng chống thiếu máu, thiếu sắt. Thực phẩm đầu bảng trong nhóm này là thịt lợn, thịt bò, thịt gà, cá, trứng…

+ Nhóm thực phẩm chứa nhiều vitamin C giúp tăng cường sức đề kháng và nhiều chất xơ chống táo bón. Các thực phẩm nhóm này rất đa dạng như rau ngót, rau muống, súp lơ, chân vịt, cam, quýt, đu đủ, nho…

+ Nhóm thực phẩm giàu canxi giúp răng và xương của hai mẹ chắc khỏe hơn. Tiêu biểu nhất trong nhóm này là sữa, phômai, các chế phẩm của sữa hay hải sản như tôm, cua… Ngoài đồ ăn, bạn nên uống nhiều nước để tạo sữa cho bé bú.

Tuy nhiên, bà mẹ sinh mổ cần tuân thủ một số nguyên tắc ăn uống trong những ngày đầu sau phẫu thuật như sau:

- Ngày đầu sau mổ: Nên dùng đồ ăn nhẹ như nước cháo, cháo loãng hoặc uống oresol.

- Ngày thứ hai: Nếu đã trung tiện được thì bạn co thể ăn cơm, uống nước như bình thường. Tuy nhiên, sau khi mổ đẻ, ruột bị kích thích, dạ dày bị ức chế, sự hoạt động của ruột giảm nên việc ăn nhiều sẽ khiến tiêu hóa khó khăn, tích tụ lâu, dẫn tới táo bón và tăng thêm khí trong ruột, khiến bạn bị đầy hơi, không có lợi cho việc hồi phục sức khỏe.

Một số thực phẩm mẹ sinh mổ cần hạn chế là thực phẩm có tính chất kích thích như hành, tỏi, ớt, rượu, bia, cà phê, thuốc lá và những thực phẩm khiến bạn dị ứng. Không nên ăn quá sớm những thức ăn tanh như cá, ốc bởi chúng sẽ ức chế sự ngưng tụ của máu, không có lợi cho việc đông máu sau khi mổ, khiến vết thương lâu lành.

Vận động nhẹ nhàng

Khoảng 24 giờ sau khi sinh mổ, bạn có thể trở dậy nhẹ nhàng. Lúc đầu bạn có thể cảm thấy khó khăn khi đứng dậy hay di chuyển do chạm vào vết thương. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, bạn nên ngồi dậy sớm để thông sản dịch, chống bế sản dịch, chống tắc ruột do dính ruột sau mổ. Bạn có thể bắt đầu bằng việc di chuyển xung quanh giường để duy trì tuần hoàn cho đôi chân, chống nghẽn mạch máu. Có điều mọi vận động của bạn nên hết sức nhẹ nhàng để không làm ảnh hưởng đến vết thương. Và nếu bạn muốn tập thể dục thì hãy đợi đến ít nhất sáu tuần sau sinh mới bắt đầu bằng những bài tập đơn giản như đi bộ, những bài tập chân tay nhẹ nhàng.

Cho trẻ bú càng sớm càng tốt

Ngay khi có thể, hãy cho con bú. Bú sớm vừa có tác dụng kích thích tiết sữa vừa co hồi tử cung tốt, vừa tống được sản dịch ra sau mổ, vừa cung cấp miễn dịch cho trẻ sơ sinh trong 5 tuần đầu của cuộc sống. Với những người sinh mổ, việc cho con bú trong những ngày đầu sau sinh thực sự khó khăn vì những cơn đau do vết mổ gây ra. Lúc này, bạn cần sự trợ giúp của người thân.

Nằm nghiêng về một bên mà bạn cảm thấy dễ chịu nhất. Bế bé ở một bên tay bạn cảm thấy thoải mái nhất. Nếu có thể ngồi dậy cho bé bú, bạn cũng nên chú ý để đầu bé hướng tới bầu vú và những cử động chân tay bé không chạm vào vết mổ.

Chăm sóc vết khâu

Khi vết thương bắt đầu lên da non, bạn cót hể xoa bóp thường xuyên các loại kem chỉ định giúp nhanh chóng liền da. Tránh phơi nắng vết sẹo nhiều giờ (khi đi tắm biển) trong vòng một năm sau khi sinh mổ. Vùng vết khâu rất nhạy cảm trong năm tháng đầu, do vậy càng chăm thực hiện các bài tập thích hợp, vết thương càng chóng khỏi.

Một số bài tập giúp kích thích lưu thông máu trong tuần đầu sau mổ

+ Ngồi trên giường, hai chân luân phiên duỗi thẳng rồi lại gập lại, sau đó tập đồng thời cả hai chân, khoảng 20 lần.

+ Nằm duỗi trên giường, xoạc hai chân ra và làm 10 lần động tác quay mắt cá chân theo chiều kim đồng hồ rồi quay chiều ngược lại.

+ Nằm duỗi thẳng trên giường, ép phần sau của đầu gối vào một cái nệm rồi lại thả lỏng (20 lần). Bài tập này có thể áp dụng cho đùi.

+ Nằm duỗi thẳng trên giường, đưa hai đầu gối lên gần ngực (bàn chân trượt nhẹ trên đệm để nâng cao chân nhẹ nhàng), sau đó cuộn phần xương chậu bằng cách nâng cao mông. Giữ tư thế này trong 4 giây rồi thả lỏng dần trong khi để chân trượt nhẹ trên đệm.

+ Khi chỉ khâu đã được cắt, nằm duỗi thẳng lưng, đưa dần đầu gối lên gần ngực sau đó từ từ thả lỏng đầu gối về vị trí cũ.

http://www.baomoi.com

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay