Lãn Miên

Tiếng Việt

299 bài viết trong chủ đề này

Tiếng Việt

1. Các Qui Tắc tạo Từ của Tiếng Việt (viết tắt là QT)

Cái Nền để nghiên cứu lời Nói của giống Nòi là cái Nôi khái niệm. Thủa bé , một lần đọc báo thấy nêu một nhà nghiên cứu ngôn ngữ người Pháp (thời thuộc địa) nhận xét rằng: “Tiếng Việt là mẹ của các ngôn ngữ trên thế giới”, và đưa ra nhiều ví dụ. Như trường hợp giục phu kéo xe tay đi nhanh, người Việt lệnh “Mau lên!”, người Madagatsca ở Ấn Độ dương lại lệnh “Gao len!”(hay là muốn nói “gâu” lẹ! ?). Qui tắc tạo từ của tiếng Việt (QT) trình bày bằng 5 mục dưới đây:

1/ NÔI khái niệm:

Đặt tên là NÔI vì:

1.NÔI=Nôi. Nôi là vật dụng để đặt đứa trẻ sơ sinh nằm nghe mẹ ru mà biết nói.

2.NÔI là cái Ổ (chữ Ô ở giữa) sinh ra ngôn từ tính Âm (N-Negative) và ngôn từ tính Dương (I-Innegative), (theo đúng “Nam tả, Nữ hữu”)

3.NÔI=Hội=Hột=Một. Nôi là một hột giống sinh ra muôn vàn hột giống khác (Tất cả đều trong Một. Một=1 là Dương. Dương sinh ra Âm; Dương có trước, Âm có sau). Hội=Hột=Một: Một hột cây hội tụ tất cả các gen của một loài cây.

4.NÔI=Nở. NÔI là NÔI mẹ ắt nở ra muôn vàn Nôi con. Nôi con sinh ra nhiều từ sắc thái khác nhau nhưng ý nghĩa của chúng là cùng nôi khái niệm. Chính là NÔI đã làm ra QT Nở.

5.NÔI=Nở=Vỡ=Vỏ=Vo. Quá trình nảy mầm của hột giống là Nở cho Vỡ cái Vỏ (Vỏ=Giỏ=Da, bọc ngoài mầm hột) để vỏ ấy bị Vo (tự tiêu rã) mất. Chính là NÔI đã làm ra QT Vo.

6.NÔI=Nối=Lối=Lướt. NÔI đã sinh ra lối (cách thức, đường lối) nối cái phụ âm đầu hay cái vắng phụ âm đầu của từ đầu câu với cái âm vận của từ cuối câu thành một từ mới. Chính là NÔI đã làm ra QT Lướt.

7.NÔI=Nõn=Nộn=Lồn=Lời=Rỡi (“Ruột Lời”=Rỡi). NÔI=Cội=Cọc=Tóc=Tay=Tơi (“Tay Lời”=Tơi). Tơi là cái áo của lời. Bản thân Tơi không làm nên lời, cũng như bản thân áo không làm nên người. Lời=Ngời (sáng)=Người. Một lời nói ra thể hiện một cái sáng của con người (“Văn là người”. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh=Mình). Rỡi thuộc âm vì nó là cái Vần, nó có công tạo ra lời lớn hơn công của Tơi (Âm=Vâm=Vần). Tơi thuộc dương vì nó là cái áo, giúp một phần vào tạo ra lời (Dương=Giúp, vì “Dương nằm Úp”=Giúp, nên trai bao giờ cũng giúp đỡ gái). (Tiếng Tây còn gọi thân mật là “Cái áo của em ơi!”, nhưng khi chồng nát rượu, bà vợ đá cho một cú lăn cù xuống cầu thang gỗ, khuất mắt. Hàng xóm cùng tầng nghe động, sang hỏi có gì mà ồn chuyện vậy, bà vợ trả lời tỉnh queo: “ Xin lỗi ạ, tôi lỡ tay làm rớt cái áo ấy mà”). Chính là NÔI đã làm ra QT Tơi-Rỡi.

2/ QT Vo:

Là vò rụng đầu rụng đuôi một từ đa âm tiết, còn lại cái lõi thành từ đơn âm tiết. VD: Ha-Na-Xư ( tiếng Nhật nghĩa là nói), rụng còn lõi Na (tiếng Việt nghĩa là nói). Pnom (tiếng Khơ Me nghĩa là núi), rụng còn Non (tiếng Việt nghĩa là núi. Đến m dài còn bị vò rụng đuôi còn n ngắn). Blơi (tiếng Mường nghĩa là trời), rụng còn Lời=Trời (Mà lời là do trời cho thật, những loài sống ngầm dưới đất như loài giun, không hưởng trời nên không có tiếng kêu). Vo còn dẫn tới hậu quả là Vo cả câu. VD: “vuông Chữ Nho nhỏ” vo rụng đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” thành còn cái lõi là Chữ Nho. “Trong ấy” vo thành Trỏng. “Bên ấy” vo thành Bển. “Anh ấy” vo thành Ảnh.

3/QT Nở:

Một từ trong NÔI sẽ nở ra hai từ, một từ là tính âm (0) và một từ là tính dương (1). VD: Từ Mỗi nở ra từ Mô (0) và từ Một (1). Từ In nở ra từ Uống (0) và từ Ăn (1). Từ Túc nở ra từ Tấn (0) và từ Tay (1). Nguyên tắc là hai từ mới phải cùng Tơi (hay cùng Vắng Tơi) với từ cũ.

4/ QT Lướt:

1.Lướt hai từ: Lướt để chắp Tơi của từ đầu với Rỡi của từ sau thành từ mới có ý nghĩa logic với ý nghĩa tạo bởi hai từ trên. VD: “Hai Yêu”=Hiếu (Hai thế hệ già và trẻ phải yêu thương nhau. Nho viết bằng chữ Lão ở trên và chữ Con ở dưới, thành chữ Hiếu).

2.Lướt cả câu: Lướt để chắp Tơi của từ đầu câu với Rỡi của từ cuối câu thành từ mới có ý nghĩa logic với nội dung của câu. VD: “Làm gia công cho lưỡi cưa cùn sắc lại như Mới”=Lỡi (thợ Lỡi, máy Lỡi).

3.Lướt từ lặp: Thành từ mới có ý nghĩa như mục đích của từ lặp là nhấn ý “nhiều”, nhưng thanh điệu thì là tổng phép cộng số học nhị phân của hai từ đồng âm đồng nghĩa trên. Ví dụ “Chung Chung”=Chúng, 0+0=1 (Nhiều cái chung ở một nơi thành đông là Chúng: Chúng tao, Chúng mày, Chúng nó, “Chúng Qua”=Choa). “Quân Quân”=Quần, 0+0=1 (ghép thành từ đôi Quần Chúng, chỉ số đông người). “Đông Đông” lúa = Đồng lúa. “Mai Mai”=Mải, 0+0=1. “Mải Mải”=Mãi, 1+1=0. (“Lâu Mãi”=Lai, là tương lai). Sáu thanh điệu của tiếng Việt chia ra hai nhóm: Nhóm âm (0) gồm “không”, “ngã”, “nặng”. Nhóm dương (1) gồm “sắc”, “hỏi”, “huyền”.

4.Lướt Lủn hai từ: Từ đầu giữ nguyên và lướt tới lấy dấu thanh điệu của từ sau thay cho thanh điệu của mình. VD: “Việt Nói” = “Viết sắc Viết”=Viết (Viết= Van=Văng=Vân=Vân Vân=Và=Na=Nói=Nài, dần dần Viết chuyển sắc thái là “nói bằng văn bản” rồi dùng đại diện cây Viết). “Bụt Nói”= “Bụt sắc Bút”=Bút (tháp Bút ý là ở đó ngự lời của Bụt, sau Bút dùng đại diện cho cây viết, gọi là cái Bút. Bút dùng để “Pút”- post lên, và “Pút Lên”=Pen, tiếng Anh). Lướt Lủn tức là lướt cụt lủn hai từ (“Lời ngắn Ngủn”=Lủn)

5.Lướt Lỏn hai từ: Từ đầu lướt tới lấy Tơi của từ sau ghép vào Rỡi của mình thành từ mới có Rỡi mới. VD: “Hai Mươi”=Hăm. “Ba Mươi”=Băm. “Nghỉ Một” tí = Nghỉm tí. Lướt Lỏn tức là lướt gọn lỏn hai từ thành một từ (“Lời nói Gọn”=Lỏn).

5/ QT Tơi-Rỡi:

Thay Tơi hay Rỡi của một từ đều tạo ra từ mới cùng nôi khái niệm với chính từ đó. VD: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn=Vấn=Vân= Vân Vân = Ngân Nga = Thả= Thỏ Thẻ = Thưa =Thốt =Thuyết =Thoại = =The Thot = Thi Thâm =Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn=Ngỏ=Ngả=Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác = Cáo = =Quảng=Giảng.

Kết luận: Từ Điển mà giải thích như nôi khái niệm về “nói” vừa nêu trên thì còn ai kêu ca hay van nài gì nữa? Mắc mớ gì cứ thấy từ nào có viết bằng chữ nho thì giải thích đó là “từ gốc Hán”, “từ Hán Việt”. (Hán ngữ “Shuo” nghĩa là nói, “Yu Yan” nghĩa là ngôn ngữ, “Yáo Lán” nghĩa là cái nôi, “Jiang” nghĩa là giảng). Ngỏ là từ có sắc thái rất lịch sự, Ngỏ lời hay thư Ngỏ là yêu cầu phải có trả lời, nếu không trả lời là bất lịch sự, như “Ngỏ lời xin cưới”. Ngỏ = Thỏ Thẻ = Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”= Thuyết. Tiếng=Thiêng=Thanh. Sáng=Láng=Linh. Dân tộc ta có Tiếng nói là mượt mà và con người là Sáng Dạ, đó là cái thiêng liêng nhất. Câu đối trong đền Ngọc Sơn ở Hồ Gươm Hà Nội: “Sơn Bất Tại Cao, Hữu Tiên Tắc Thanh. Thủy Bất Tại Thâm, Hữu Long Tắc Linh”. Nổi Tiếng và Sáng là Thanh Linh = Thiêng Liêng. Thiêng Liêng vì trong Ta có cả “Sáng Âm”= Sấm, là khả năng tiên tri. Có khả năng tiên tri là do biết bói quẻ: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, của người Việt. Câu Sấm: “Song Ngư liền địa, Nghi Lộc phát vương”. Nghi Lộc là Ngộc Ly. “Người Gốc” = Ngộc. Ly là Lửa. Người=Ngời=Ngọc=Ngộc. Trời=Trưa=Lửa. “Dân Lửa” = Giữa. Giữa Chỗ = Giao Chỉ = Giao Chứa = Gieo Chữ. Giao=Gieo (gieo lúa là giao hột lúa cho đất). Chỗ là vị trí bất động, tức “Chẳng Đi”=Chỉ止. Chứa=Chữ=Trữ=Tự字=Tự嗣 (Chứa=Chữ=Tự 字nghĩa là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣nghĩa là nối dòng huyết thống. Có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc. Tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né” nghĩa là “Nó - Na Ná - Giống Đấy Nhé”) . “Kinh Gieo” = Keo. Dân Kinh = Cần Keo (tiếng Tày Thái). “Dân Kinh” = Dinh=Dính. Keo Dính = Keo Dán = Keo Gắn. Gắn=Đặn(Đầy Đặn)=Đám=Đàn=Đoàn. Gắn Keo = Gắn Kết = Đoàn Kết.

Trong Mình của người Việt có hai cái Sáng. Một cái Sáng là cái “Ta Dương”=Tướng, là cái thể hiện ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt, đó chính là cái “Sáng Mắt”=Sắt. Một cái Sáng là cái “Ta Âm”=Tâm, là cái sáng bên trong không thể hiện ra ngoài, không thể nhìn thấy được, Tâm=Tấm=Tỏng=Lòng=Trong (biết “Tường tận trong Lòng”=Tỏng), đó chính là cái “Sáng Lòng”=Sóng=Son (sóng ở đây là cái sóng ánh sáng, nó là vi ba, bước sóng cực nhỏ, nên gọi là “Sóng Con”=Son). Rõ ràng từ Sắt Son là một cấu trúc Dương (Sắt) Âm (Son) cân bằng, bởi vậy nó rất bền vững, không bao giờ thay đổi. Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH HN 1977 , trang 675, giải thích Sắt Son: Thủy chung trước sau như một trong tình yêu, vd “Nào lời non nước, nào lời sắt son”. Giải thích như vậy mới chỉ là giải thích một ứng dụng của từ Sắt Son trong một lĩnh vực cụ thể là tình yêu, chưa phải là giải thích bổn nghĩa của từ Sắt Son ở nguyên do của nó.

Cái Sáng của người Việt lại là do Trời cho bằng chính cái ánh sáng của Trời (và Trời chỉ chọn Người để cho chứ không cho các loài khác): Trời=Ngời=Người= “Người có Óc”=Ngọc (“Ngọc chưa mài chưa thành quí. Người chưa học chưa tri lý”). Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật đều là ánh sáng của Trời, phần Nguyệt thì Trời đem cho Trăng, Nguyệt thành ánh sáng của Trăng, nhưng vẫn là của Trời. Vậy chính xác thì Trời mới chính là kẻ “đã cho ta Sáng Mắt, Sáng Lòng”. Bởi vậy người Việt Sắt Son nhất là Sắt Son với Trời, luôn biết nói “Nhờ Trời”, “Ơn Trời” và kêu “Trời Ơi”. Bởi vì:

1. Trời đã cho Ta cái tên bằng ánh sáng của Trời: Trời=Ngời=Người (=Ngài=Ai= “Thể Ai”=Thai)

2. Trời đã cho Ta cái khả năng tư duy: Trời=Ngời=Nghĩ (=Ý=Chí=Trí=Tri=Bì=Biết=Biệt)

3. Trời đã cho Ta cái khả năng thị giác: Trời=Ngời=Ngắm (=Nhằm=Nhòm=Nom=Dòm=Nhòm=Nhìn=Nhãn=Khán=Khám)

4. Trời đã cho Ta cái khả năng thính giác: Trời=Ngời=Nghe (=Ngóng=Thông=Thính)

5. Trời đã cho Ta cái khả năng khứu giác: Trời=Ngời=Ngửi (=Khui=Khứu)

6. Trời đã cho Ta cái khả năng xúc giác: Trời=Ngời=Ngậm (=Cầm=Chạm=Nắm=Nã=Xoa=Xát=Sát=Sờ)

7. Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm

Tên riêng của mỗi cá nhân cũng là cái sáng, của Trời cho, gián tiếp qua ánh sáng của con Đom Đóm. Trẻ con rất thích bắt Đom Đóm chơi. Đom Đóm=Tóm=Tên=Tánh=Danh (ra đời mới thành Tên hay lớn lên làm ăn đã thành Danh đều bị Tóm vào “sổ hộ khẩu” và vào sổ Nam Tào tất). Tên gọi những nơi cần quảng cáo cũng đều xuất xứ từ cái sáng của con Đom Đóm: Đom Đóm=Điểm=Điếm=Tiệm=Tên.

Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm. Ngoài các khả năng của 5 giác quan (thường gọi là Ngũ quan) là của Trời cho. Trời còn cho thêm giác quan thứ Sáu (nó ở rất Sâu và tồn tại rất Lâu theo con người, kể cả khi xác đã trả về đất chỉ còn lại cái hồn, giác quan thứ Sáu đó vẫn còn. Sáu=Sâu=Lâu=Lục=Lão=Luôn Luôn= “Lâu Mãi”=Lai, tức đến các “Kế Tiếp”=Kiếp sau vẫn còn). Giác quan thứ 6 đó là cũng từ cái Sáng của Trời (“Sáng danh Chúa ở côi Lời”): Trời =Ngời=Sới=Sấm (lời Sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều câu còn ứng nghiệm vào 500 năm sau). Sấm là cái “Sáng Âm”=Sấm. Sới là chỉ địa điểm, là cái “Sáng Nơi”=Sới, địa điểm đó phải chọn theo PTLV, là nơi Sáng tức nơi Linh, gọi là Địa Linh (như nơi đặt mồ mả, nơi xây Sới võ, nơi xây công trình v. v. Sới phải phù hợp với cái Sáng Âm thì mới phát huy được cái “Sáng Tới”=Sới (“Âm phù Dương trợ”). Chúa Nguyễn Hoàng đã nghe theo Sấm của Trạng Trình mà chọn được Sới là nơi “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, biết đường đi “Ta theo hướng Mới”=Tới, đó là cái “Tới Dương”=Tương nên được “Lâu Mãi”=Lai. (Tương Lai là từ hoàn toàn thuần Việt). Tương Lai kể cũng quan trọng thật, nhưng Hạnh Phúc là cái xài liền, không phải là chờ đợi đến tương lai mới được hưởng. “Dân dĩ Thực vi Thiên”, cái “Thật Đức”=Thực là cái Thực có trên thực tế, và là Thực là đủ ăn (“Thức Thức”=Thực, 1+1=0, các thức để “ăn” đây bao gồm cả ăn uống, ăn mặc, ăn học, ăn ở, ăn làm, ăn nằm), mới là cái dân cần “Thấy đầu Tiên”=Thiên. Nguyên hai câu là “Nhân dĩ Hòa vi Qúi. Dân dĩ Thực vi Thiên” nó có hai nghĩa cho cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, vì Hòa là lúa, Hòa lại là Hòa Hiếu; Thực là nhiều Thức, Thực lại là sự Thực, mà sự thực thì chỉ có “Thật Đức”=Thực, xã hội đạo đức giả thì không thể có sự thực. Quán nhậu treo hai câu trên chỉ mong người ta hiểu phiến diện có một nghĩa là ăn nhậu sướng bằng Trời-Thiên. Chữ nho Hòa 和 là cây Lúa 禾 và Mình 口,“Em xinh là xinh như cây lúa” (lời hát chèo), cũng lấy chữ Hòa 和 ấy ghép với chữ “Hai Yêu”=Hiếu 孝 thành từ ghép Hòa Hiếu 和 孝 cho cả hai nghĩa: yêu tôn trọng thiên nhiên (Mình 口yêu cây Lúa 禾 và cây lúa yêu mình, như Hiếu 孝: thế hệ Lão 老 yêu thế hệ Con 子, và thế hệ con yêu thế hệ lão, chữ Con 子 đặt ở dưới có nghĩa là con phải gánh vác di sản và đề cao truyền thống mà thế hệ Lão 老 để lại). Rõ ràng dân trồng lúa (nền văn minh lúa nước) là dân Hiền Lành nhất trên đời này. Nhưng đừng thấy người ta Hiền Lành mà tới hiếp đoạt của người ta, sẽ bị người ta Hành Liền, cái hàm ý này chỉ có trong ngôn từ rất mượt mà của Tiếng Việt mà thôi. (Vụ án “Máu thắm đồng Nọc Nạn” ,năm 1928 ,tòa án thuộc địa cùng luật sư người Pháp đã xử cho những người nông dân trồng lúa Hiền Lành đã phải vùng lên Hành Liền, khi bọn cường hào tới hiếp đoạt ruộng đất mà họ đã bỏ công khai phá, được trắng án như tòa tuyên: “vô tội”). Cho nên người đời trên thế giới rất biết tôn trọng người dân Việt vốn Hiền Lành. Ngôn từ Việt đã hàm ý rõ tất cả rồi, không hề nói dóc. Tìm bao giờ cho thấy Hạnh Phúc?. Đơn giản, phải tìm nhiều. Tìm nhiều thì “Hạnh Hạnh”= Hành, 0+0=1; “Phúc Phúc”= Phục, 1+1=0, tìm nhiều để đến được Hạnh Phúc là phải Hành Phục. Hạnh Phúc theo dấu thanh điệu là 0+1 (là cân bằng âm dương, cho kết quả là 0+1=1 là kết quả tích cực). Hành Phục theo dấu thanh điệu là 1+0=1 (là cân bằng dương âm, cho kết quả là 1+0=1 là kết quả tích cực). Hành Phục có nghĩa đen là “làm lại như cũ” (phục hồi), quay lại sống tôn trọng thiên nhiên (như Cụ Sáu = Cụ Lâu = Cụ Lão=Tử Lão=Lão Tử từng nói), nghĩa bóng là Phục Thiện (theo dấu thanh điệu là 0+0=1 là kết quả tích cực). Điều Hành Phục để luôn có Hạnh Phúc, người nông dân Việt đã biết từ thời cổ đại. Chính họ nói: “ Hiền như Đất. Thật như Ruộng”. Cho nên ăn hoa màu được hạnh phúc rồi là họ lo ngay Hành Phục lại sức khỏe cho đất: Cày phơi ải để làm tiệt trùng ( làm “Tới Diệt”=Tiệt. Cũng như “Hố chôn xác Chết”=Huyệt, “Tới Chót”=Tót, “Tới Hết”=Tuyệt, Tót Vời=Tuyệt Vời, Vời=Vợi=Viễn), rồi bón phân hữu cơ trả lại các vi lượng cho đất. Đất nó “Hiền Thiệt!” nên đối xử với nó lại phải “Hiệt Thiền” . Hiệt là “Hồn Việt”=Hiệt. Chữ Hiệt 黠 là “chất xám”( chữ Đen=Hoẻn=Hắc 黑) và “lòng tốt” (chữ Tốt= Cốt= “Cốt Đạt”=Cát 吉). Từ “chất xám” ngày nay giới khoa học nông nghiệp gọi bằng từ đại diện là “biện pháp khoa học kỹ thuật”, còn từ “lòng tốt” thì phải chịu tiếng Việt, không lấy từ gì làm đại diện nổi. Thiền là “Thật Hiền”=Thiền. Vì đất “Hiền Thiệt!” nên đối xử với đất phải “Hiệt Thiền”, tức phải có ánh sáng KHKT và tấm lòng “Thật Hiền”=Thiền ( theo thanh điệu thì cũng cân bằng âm dương 0+1=1 là kết quả tích cực) đối với mọi việc đụng tới đất: canh tác, khai khoáng, thủy điện v.v. Cứ thế tích cực Phục Thiện nhiều thì sẽ đạt Phúc Thiền, 1+1=0, là cái Tâm trống rỗng, lúc đó đạt được tót đỉnh của Phúc.

QT Tơi-Rỡi đã cho ra một nôi khái niệm về “nói”: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn= =Vấn= Vân=Vân Vân=Ngân Nga=Thả=Thỏ Thẻ =Thưa=Thốt =Thuyết =Thoại =The Thot=Thi Thâm=Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn= =Ngỏ=Ngả =Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác=Cáo=Quảng=Giảng.

Ngỏ mang sắc thái lịch sự: Ngỏ=Thỏ Thẻ=Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”=Thuyết. “Thốt Noái”=Thoại. Nói nghĩa là Nêu ra bằng lời. Viết nghĩa là Nêu ra bằng chữ. Tiếng Việt đơn giản là cái do người “Kinh Nêu”=Kêu, và “Việt Nói”= “Việt sắc Viết”=Viết. Theo nôi khái niệm về “nói” ở trên mà hiểu thì Tiếng là “Tự người việt đưa ra lời từ Miệng”= “Tự một âm phát ra có ý nghĩa Riêng”= Tiếng. Tiếng của người Việt, gọi là Tiếng Việt. Ngôn Ngữ Việt là Nói Nói (của) Việt. Việt Ngữ là Việt Nói, tất cả các từ ghép trên đều đúng văn phạm Việt, và không có từ nào gọi là “từ Hán Việt”. Hán ngữ (còn gọi là tiếng Quan Thoại) thì “Shuo” nghĩa là nói. Từ “Shuo” không có trong nôi khái niệm về “nói” ở trên.

Con người là Âm/Dương=Đất/Trời= “Tất/Cả”= “Tạo/Hóa”=Ta. Cái do Đất làm và cái làm cho người ở Đất thì gọi là Tạo. Cái do Trời làm và cái làm cho vong ở trên Trời thì gọi là Hóa. Hai yếu tố âm dương trong Ta là hai cái Minh nên Ta là “Kẻ Mình”=Mình= “Minh Minh”=0+0=1= =“Một Kinh”=Mình. Hai cái Minh đó là Sáng và Dạ nên ta có tên là Sáng Dạ. Theo sinh lý học thì Sáng thuộc Dương, gọi là “Sáng Dương”=Sướng; Dạ thuộc Âm, gọi là “Dạ Âm”=Dâm. Về sinh lý thì Sướng và Dâm đều là sướng cả. Vì Ta là Minh, là Sáng nên bản chất nó là trong trẻo. Cái trong trẻo đó trong Ta dù là thuộc dương hay thuộc âm đều là khởi nguồn cho óc tưởng tượng: “Minh Dương”= Mường (mường tượng được ra những cái chưa từng có); “Minh Âm”= Mầm (mầm mộng được ra những cái chưa từng có).

Một từ của tiếng Việt cũng có cấu tạo bằng hai cái minh, thuộc dương và thuộc âm, y như cấu tạo của một con người. Vì bản chất là Sáng nên nó cũng là trong trẻo (“Giọng nói trong trẻo”, “Trong như tiếng hạc bay qua”). Hai nửa mang bản chất Sáng dương và Sáng âm đó của một từ chính là cái Tơi và cái Rỡi của từ. Cấu tạo của từ là Tơi-Rỡi (Cái Vắng Tơi cũng giá trị như là Tơi. Vắng Tơi không có nghĩa là không, mà nó vẫn là có, vì đây là khái niệm của ngôn ngữ, không phải là khái niệm vật chất: cái “lỗ trống” vẫn là có vì vẫn đếm được có bao nhiêu lỗ trống, không như vật chất thì lỗ trống là không có gì). Cấu trúc Tơi-Rỡi của từ là cấu trúc Dương-Âm theo cấu trúc của vũ trụ, vì Lời cũng chính là cái sáng của Trời cho (Trời=Ngời=Lời). “Tay của Lời”= “Tay Lời”= Tơi. “Ruột của Lời”= “Ruột Lời”= Rỡi. Trước kia, khi nghiên cứu tiếng Việt, người ta đứng trên nền của ngôn ngữ phương Tây mà người ta đã học để nghiên cứu, nên họ gọi Tơi là “phụ âm đầu” nhưng lại quên mất còn có cái “vắng phụ âm đầu” (Mô=Vô=0, Chăng=Chẳng=0, lướt từ đôi “Vô Chẳng”= Vắng); họ gọi Rỡi là “âm vận”. Lời là cái ý nghĩa nhờ “Lưỡi đưa tiếng từ miệng ra ngoài Trời”= Lời, nó trong trẻo bởi bản chất nó là sáng: Trời=Ngời=Lời. Tơi= “Tay của Lời” là Nòng thì như cái Nòng súng, còn Rỡi= “Ruột của Lời” là Nọc thì như viên đạn (cái Nọc của con ong hay của con rắn chính là viên đạn của nó vậy). Cấu trúc một từ là Tơi-Rỡi chính là cấu trúc Nòng-Nọc (bởi chữ ký âm thời tiền sử cổ xưa gọi là chữ Nòng-Nọc, mỗi chữ cái đều có nét ngoằn nghoèo như con nòng-nọc). Tiếng Hán “Khoa Đẩu” nghĩa là con nòng-nọc, về sau Hán thư dịch theo nghĩa mà gọi chữ Nòng Nọc là “Khoa Đẩu tự”. Con Nòng-Nọc là ấu trùng đang sống trong Nôi nước, từ Nòng-Nọc là một từ dính, nên có gạch nối ở giữa, và tuyệt đối không được đảo là nọc nòng, vì như vậy sẽ không còn hiểu là con gì nữa. Cái Tế của từ dính Nòng-Nọc chính là cái tế bào Nòi. Theo QT Nở thì Nòi tách đôi thành Nòng/Nọc. Nhưng Nòng-Nọc muốn “nở” thì trước hết nó phải dùng QT Vo mà vò cho rụng đuôi đi đã. Vậy là “Cắt N của nòng và N của Nọc”= “Cắt…Nọc”= Cóc (rất logic: nó đồng thời còn phải dùng cả QT Lướt). Cóc gắn bó với người nông dân trên ruộng từ thủa ban đầu của nền nông nghiệp trồng trọt cách nay hàng vạn năm. Con Cóc nó “Thật Hiền”= Thiền, đó là một tên khác của con Cóc, sau Thiền phiên thiết ra gọi là con Thiềm Thừ (Thiềm=Thêm là tên thêm, Thừ=Thứ=Chư, là cái tên thứ hai). Một cái Nòi thì theo QT Nở mà ra Nòng (1) và Nọc (0); một cái Cồi thì theo QT Nở mà ra Có (1) và Cóc(0), cặp đối 1/0=Có/Cóc = Cộc/Cái = Đực/Đẻ. Cóc=0, số Không là tuyệt đỉnh của trí tuệ, là cái vòng luân hồi. Tên con Cóc ám chỉ đúng như vậy: “Có Óc”= Cóc (“Con Cóc là cậu ông Trời”. “Thầy đồ Cóc”) . Lời là ý nghĩa của một Từ. Từ gồm Tơi-Rỡi, bản chất lời là trong trẻo do Tơi-Rỡi mang bản chất trong trẻo: Tơi thuộc Dương, nên có từ đôi “Tơi Dương”=Tường. Rỡi thuộc Âm nên có từ đôi “Rỡi Âm”=Râm(mát mẻ)=Rõ=Tỏ=Tường, do vậy ý nghĩa của Từ (tức Lời) là Tỏ Tường = Rõ Ràng=Rạng=Sáng, tức như bản chất nó là trong trẻo. (Tường=Ràng cũng giống như Đương=Đang, Đường=Đàng, Giường=Sàng). Lời là do Trời cho, đương nhiên Tơi-Rỡi cũng là do Trời cho: Tơi=Tống=Nòng=Nắng=Nường=Dương. Rỡi=Rốn=Nõn=Nọc=Nước=Nậm=Âm (nọc ong, nọc rắn đều là chất nước độc để tiêm vào thịt đối thủ). Kết cấu Dương-Âm là: Dương/Âm= Tơi/Rỡi = Nường/ Nõn = Nắng/Nước (là kết cấu của vũ trụ,là của Trời cho. Ở đất thì kết cấu phồn thực là ngược lại, là cặp Nõn/Nường, ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Một Tiếng gồm Tơi-Rỡi = Nắng-Nước thì nó trong trẻo là phải thôi. Tiếng=Thiêng=Thương=Trường=Đương(để mà đương đầu)= Đùng Đùng=Súng, thì đúng Tiếng=Từ=Lời là khẩu súng Trời cho (chữ Thương 搶 nghĩa là cây súng trường, rồi thương trường cũng là súng trường vậy, nên người ta nói “thương trường là chiến trường” ?, nói vậy chẳng qua là do giọng hiếu chiến, tỷ như “cuộc vận động trồng cây gây rừng” thì người ta còn tương lên báo là “chiến dịch trồng cây gây rừng”. Thương trường không phải là chiến trường, bởi trên thương trường chỉ có “súng xịt nước”, sẽ thấy tiếp sau). Viên đạn do nòng súng tống ra mới là cái để đạt mục đích, còn cây súng chỉ đứng tại chỗ. Tơi=Tời=Tải=Tống=Nòng=Nắng (phải dùng lửa mới đúc được nòng súng). Rỡi=Râm=Rốn=Nõn=Nọc=Nước (viên đạn này là bằng nước mà lại còn râm mát). Đúng là Trời cho cái Tiếng=Thiêng chỉ là một cây súng xịt nước (lễ hội xịt nước của người Lào và người Thái Lan). Trời cho tiếng Việt chứa hàm ý như vậy thì đúng là Trời muốn qua tiếng Việt mà dạy cho loài người phải biết đối thoại chứ không dùng bạo lực. Nhưng đối thoại thì vẫn có Tơi=Tường=Tướng (là “nói tướng lên” tức to tiếng, nói thẳng) và Rỡi=Râm (là “nói mát nói mẻ”, nhiều khi giọng còn chua cay). Dẫu sao thì vẫn chỉ là đối thoại chứ không dùng bạo lực. Ngôn từ Việt đã chỉ ra Tất Cả. 5000 năm trước mà thế giới biết học chữ Nòng-Nọc và tiếng Việt để hiểu được văn hiến của Văn Lang Lạc Việt thì thế giới đã đại đồng từ lâu rồi chứ còn ai sản xuất vũ khí làm gì . (Hiếu với Thiên hạ gọi là “Hiếu Thiên” = Hiến. Thời tiền sử chỉ có Văn Lang mới có văn hiến).

Đất/Trời=Tất/Cả=Tạo/Hóa=Ta. Người Kinh tự xưng “Ta” (ngôi Một) và tự xưng “Một Kinh” = Mình (ngôi Một), “Mình Hai” = ”Mình Hay” = Mày (ngôi Hai). Khẳng định ngôi hai là “Mày Chứ” = Mừ (Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái). Chứ=Chư=Thứ (là dòng thứ, con thứ, dòng hai, sau dòng đầu). Trong các dòng Thứ = dòng Chư (tức dòng hai) xếp thứ tự lại có một dòng “Hai Đầu” = Hầu. Đây chính là tước Hầu thời nhà Chu phong đất. Chư Hầu = =Thứ Hai. Các tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam chính là Rộng (rộng đất nhất), Hai, Ba, Tư, Năm. Vậy thời nhà Chu toàn dân nói tiếng Việt.

Đất/Trời=Tất/Cả=Ta. Đất và Trời (đều là thiên thể) xa nhau nhất mà cũng là gần nhau nhất (chưa thấy tốc độ nào nhanh hơn tốc độ ánh sáng, mà cái Sáng lại là do trời cho Ta). Chính Ta (con người) là cầu nối Đất và Trời (“đứng giữa đất trời”), hễ sáng là Trời Đất nối liền nhau ngay bằng chính “Ta Kia” = =Tia (sáng) chứ không phải bằng loài vật nào khác. Ngôn ngữ thì Tiếng chính là cái Sáng vì Tiếng=Từ=Tơi+Rỡi. Do “Ruột Thiêng” = Riêng của Ta, mà loài vật không thể có, Ta có cái độc đáo hơn loài vật là có cái “Ta Riêng” = Tiếng. Do Tiếng là cái Sáng (tiếng trong trẻo) nên Tơi và Rỡi cũng đều là cái Sáng. “Tơi Rỡi”=Tời=Tải, là nó tải cái Lời (ý nghĩa của tiếng) đi ra. “Rỡi Tơi”=Rời=Rạng=Sáng=Láng=Linh=Lìa=Ly=Lửa=Lả=Hỏa=Hồn. Kẻ Sống=Kẻ Sáng luôn có Hồn, nhưng Hồn không dính cứng ở cơ thể sống, mà linh hoạt, lúc đi ra là tải Lời (có khi Hồn còn đi lạc, phải hú Hồn về). Hồn còn chuyển tải cái Sáng sang người khác (Sáng=Sang=Hàng=Hướng=Hành, hàng dọc là hướng sang dọc, hàng ngang là hướng sang ngang; hành là thi hành; “Thấy Đi”=Thi; cái Sáng làm chức năng của nó bằng cái Thấy). Cụ Trưởng Cần chỉ dùng lời của Cụ (nghe được) và cái ý nghĩ của Cụ (ẩn kín) mà chữa được bệnh nan y cho người khác, bởi Cụ đã dùng cái Thấy.

“Tất Cả”=Ta, từ người Kinh xưng (ngôi Một), tức Ta là một người Kinh, là một con người. Từ đôi Người Ta có nghĩa là nhiều người (“Người ta nói thế” tức “Nhiều người nói thế”, đó là một cái thông điệp do nhiều người cùng phát như vậy, mà bản chất là cái Sáng của chúng nó nói ra, tức của “Hồn chúng Nó” = =Họ nói ra, tức “Họ nói thế”. Như vậy khi đã nói đến Họ của “Ta Gốc”=Tộc là nói Họ Tộc . “Người Kinh họ nói thế” bởi họ còn “nhớ như In” (tiếng Kinh thì In là từ chung cho Ăn hay Uống, ăn uống là cái bản năng của Con, hễ khát nhớ uống, hễ đói nhớ ăn, cho nên mới có thành ngữ “Nhớ như In”). Người “Kinh họ nói là In” = Kin (tiếng Tày-Thái thì Kin là từ chung chỉ ý ăn hay uống, đến nay vẫn dùng chung như vậy, kể cả bên Thái Lan). Vậy thì đúng là Kinh đã Gieo tiếng. Tiếng là do “Kinh Gieo” = Keo. Tiếng Tày-Thái gọi “Dân Kinh” là “Cần Keo”. Kinh là dòng Rồng (Lạc Long), Thái là dòng Tiên (Âu Cơ).Ta=Giả nên nho viết chữ Giả 者 gồm Tia Sáng nối Đất 土 (đại diện bằng cái sáng của Đất là “Thấy Ổ”= Thổ, chữ Thổ 土) với Trời 日 (đại diện bằng cái sáng của Trời là chữ Nhật日), đúng như Ta=Tất Cả.

Ta và Mình đều là ngôi Một, chỉ số đông thì dùng Chúng Ta hay chúng Mình, nhân Dân chúng Ta thì nói tắt là Dân Ta. Còn khi đứng riêng thì Dân hay Ta đều là chỉ một người, dùng từ đôi để nhấn ý cho trịnh trọng thì “Dân Ta” = Gia (chỉ một người), nhấn cho thêm trịnh trọng nữa thì “Gia Gia” = Giả, 0+0=1(chỉ một người). Do khẳng định Ta không phải là loài nào khác mà là “Ta Kia” = Tia, phản ánh đúng Ta là cái Tia sáng nối Trời với Đất. Do vậy chữ nho viết biểu ý cái tia sáng ( Tia=Phía=Phẩy) bằng một nét phẩy xiên từ phải sang trái (ý là mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (ya là từ trời xuống đất). Chữ Việt bộ mễ nhiều người cứ thắc mắc còn một gạch xiên trên đầu là ý gì. Đỗ Thành (blog Nhạn Nam Phi) đã giải thích đó là tia sáng, bộ phận của chữ Thái 采 nghĩa là ánh sáng (còn viết Thái 彩). Chữ Việt 粤 gồm chữ Thái 采, bọc bằng chữ Vuông 口=Vành Vạnh=Mảnh=Mình= “Một Kinh”, dưới có hình cái Cày. Cày là cái công cụ quan trọng thứ Hai sau bàn Tay của dân nông nghiệp lúa nước. Nếu Một là cái phát hiện cũ thì cái phát hiện thứ hai đương nhiên phải là Hay hơn (“Hai đánh Một không chột cũng què”). Cho nên cái công cụ “Kinh Hay” = Cày (tiếng Kinh gọi cái cày là Cày); cái công cụ “Thái Hay” = =Thay (tiếng Thái gọi cái cày là Thay, nó cũng đồng với từ Thay của tiếng Kinh, nghĩa là thay cho sức của bàn tay cuốc đất). Cái Hay là cái văn minh, vì nó mới hơn cái cũ là cái một. “Thấy Hay” = Thay, nên người Việt rất nhạy với cái mới, Thay đời xe máy, ô tô, điện thoại di động như Thay áo. Bởi cái Mới là Hay, nên có “Mới Hay” = May. Người Việt hễ Thấy Hay là “Thấy Hay” = Thay liền, là làm Mới Liền = Mô Đên. Ta=Giả, nên chữ Giả 者 nho viết biểu ý gồm tia sáng nối Đất 土(chữ Thổ 土. Ổ=Tổ=Thổ) với Trời 日(chữ Nhật 日), đúng như Ta = Tất Cả.

2. Con người là một tiểu vũ trụ

Người Việt khi bắt đầu khai thác bề mặt Trái Đất để làm lúa nước bằng những mảnh Ruộng=Vuông (cách nay vạn năm , như di tích hột lúa ở Hòa Bình VN và ở Hà Mẫu Độ, Triết Giang TQ), người Việt đã đứng trên mặt đất mà nhìn để hiểu rằng cái kết cấu Âm/Dương là Đất/ Trời = Tất/ Cả = Tạo /Hóa = Ta (= Ngã 我 = Ngộ 我). Để làm được nông nghiệp trồng trọt, Ta phải nghiên cứu thiên văn, chủ yếu bằng con mắt quan sát (ngày nay vẫn còn phải dùng kính viễn vọng). Quan sát bằng mắt nên cái bầu trời như cái Vòm Ủ, gọi là “Vòm Ủ”= Vũ (nghĩa là không gian). Sau nho viết chữ Vũ bằng bộ thủ “Mái Hiên”= Miên 宀và bộ thủ Ư 于 thành chữ Vũ 宇 (Ủ = Ở = Ư 于 = U =Vu 于 = Du 游 = Do 由 - sự Ủ cũng là một sự chuyển động như lên men vậy). Cái “Trời Ủ” = Trụ (nghĩa là thời gian - ấn định bằng mặt trời) viết bằng bộ thủ Miên 宀 và bộ thủ Do 由 thành chữ Trụ 宙. Đứng ở vị trí Vũ Trụ mà nhìn xuống thì kết cấu Dương/Âm là Cả/Tất = Còn/ Khuất = Càn /Khôn. Gọi là Càn /Khôn vì quan sát vũ trụ bằng mắt, thấy có những thiên thể thì mắt người nhìn thấy “Có luôn luôn và trong trạng thái chuyển động Tròn” = Còn= “Còn miên Man” = Càn. Có những thiên thể là “Không thể nhìn thấy toàn bộ được bằng Mắt” = Khuất = “Khuất luôn Luôn” = Khôn. Ghép lại, từ Càn Khôn dùng chỉ chung vũ trụ. Càn dùng riêng thì ám chỉ Mặt Trời (mắt thường nhìn thấy toàn bộ mặt trời và cái cảm giác chuyển động tròn của nó trong ngày và đêm). Khôn dùng riêng ám chỉ Trái Đất, con người đứng trên mặt đất nhưng không thể nhìn thấy toàn bộ Trái Đất (vì thời cổ đại chưa có tàu vũ trụ) nên vẫn coi Đất là Khuất. Chỉ vài từ gốc của tiếng Việt nêu trên, vẫn dùng nguyên vẹn trong tiếng Kinh ngày nay, đủ để chứng minh rằng: Âm Dương, Bát Quái, Kinh Dịch là của người Việt.

Đông Y cổ đại, Y học hiện đại, Khoa học nghiên cứu tiềm năng con người đều kết luận rằng con người là một vũ trụ thu nhỏ. Vậy mà kết luận trên lại hiển hiện tự nhiên trong ngôn từ Việt ở ngôn xưng của dân tộc Kinh: Dương / Âm = Còn / Khuất = Càn / Khôn = Trời / Đất = Tròn Vuông = Trọn Vẹn = Hoàn Toàn = Cả Tất. Đó là kết cấu theo vũ trụ, dương trước âm sau, dương sinh ra âm. Con người sinh ra ở Đất, do vậy kết cấu theo con người thì phải ngược lại, viết âm trước dương sau, “Sinh ra ở giữa Đất Trời”, bởi vậy người Việt gọi “thuyết Âm Dương”, Hán ngữ giữ nguyên kết cấu đó là Yin Yang. Kết cấu theo vũ trụ thì gọi là Trời Đất, mà kết cấu theo con người thì gọi là Đất Trời, và Đất Trời = Tất Cả. Tất Cả có nghĩa là vũ trụ, cái vũ trụ ấy cô đặc thành một con người, đó là “Tất Cả” = Ta. Ta là ngôn xưng của tiếng Kinh chỉ Mình = “Một Kinh”. Ta=Tui=Tôi=Tao= Cao (tiếng Vân Kiều)=Cau (tiếng Philippin) = =Coong(tiếng Khơ Me)= Cò (tiếng Thái) =Con=Qua=Cán 干 = Quan 官 = Quân 軍 = Quân 君,đều là ngôn xưng ngôi một. Một hướng phát triển khác của ngôn xưng Ta của người Kinh là: Ta=Nhà= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我 (tiếng Việt Đông).

Chứng minh vũ trụ đã cô đặc thành một con người chỉ cần dùng có bốn từ tiếng Kinh của ngôi xưng thứ nhất: (1) KẺ, là chỉ con người, (dùng que cứng kẻ một Kẻ – là tượng trưng tính dương hay đàn ông, kẻ hai Kẻ – – nối cách nhau là tượng trưng tính âm hay đàn bà), từ Kẻ về sau phiên thiết thành hai âm tiết là Cơ Thể, trả lại như cũ, tức lướt thì “Cơ Thể”= Kẻ. (2) KINH = “Kẻ Minh”, Minh nghĩa là sáng: Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh. (3) MÌNH = “Một Kinh”, một Kinh tức một Kẻ thuộc dân tộc Kinh, thành từ tự xưng là “Một Kinh” = Mình. Trong một kẻ, là một con người, có hai cái Sáng (trí tuệ) , tức hai cái Minh, cân bằng nhau, là Minh dương và Minh âm, “Cân bằng hai cái Minh” = Kinh. Vì có hai Minh nên “Minh Minh” = Mình, 0+0=1, tự xưng là Mình. (4) TA = “Tất Cả”. Vũ trụ chỉ có dương và âm mà vũ trụ sinh ra tất cả. Trong con người có âm và dương nên con người là tất cả, được thu nhỏ lại, “Tất Cả”= Ta, tự xưng là Ta (Ta=Ngã=Ngộ). Hai từ tự xưng ghép lại thành từ đôi thì cũng như hai cái sáng ghép lại thì thành tố chất càng sáng: Mình Ta, nói lái là Mà Tinh; Ta Mình, nói lái là Tinh Mà. Nhưng trong nội tại nó luôn có mâu thuẫn: Mình Ta, nói lái là Tà/Minh; Ta Mình, nói lái là Minh/Tà. Giống như tương tác trong vũ trụ cho ra những kết quả Minh và Tà. Tương tác trong cơ thể cũng cho ra những kết quả Minh và Tà.

Hán thư viết rằng: “Cái tên Việt và Bách Việt xuất hiện vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc”. Nhưng thời Xuân Thu có 7 nước, đến thời Chiến Quốc đã thành 140 nước. Nước nào cũng có Kinh Đô riêng. Mà Kinh Đô tức là nơi người Kinh “Đông Hộ”. “Đông Hộ” = Đô. Chữ Đô 都, nghĩa biểu ý của nó là chữ: Ta 者(ở thành) Ấp 阝. Chữ Ta 者 viết biểu ý là một Tia sáng (nét Tia=Phía=Phẩy từ trên xuống dưới, hơi xiên từ phải sang trái, Phải ý là trời, Trái ý là trái đất; Tia ấy nối Đất – đại diện bằng cái sáng của đất là chữ Thổ 土, với Trời – đại diện bằng cái sáng của trời là chữ Nhật 日, thành chữ Ta=Giả 者). Ta (= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我, là những từ có sau, đều dùng để xưng “Tôi”). Ấp thì phải là “Đông Hộ”. Họ là nhiều người, “Nghe họ nói thế” tức là “Nghe nhiều người nói thế”. “Họ chung một Ổ”= Hộ (dù những người ấy không nhất thiết phải là thân thuộc của nhau). Việt mà chỉ “thời Xuân Thu mới xuất hiện”(?) thì người Kinh có từ khi nào? Tra về người thì tư liệu TQ nói: Kinh là dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc của TQ, trong lịch sử họ từ VN di cư sang vài hòn đảo thuộc Quảng Tây TQ vào thời nhà Lê, thế kỷ 17. Tư liệu VN nói: Kinh là dân tộc đa số của VN (Từ Điển Tiếng Việt nxb KHXH 1977, trang 443). Kinh là người Kinh chỉ đơn giản vậy thôi sao? Thời cổ đại cách nay 5000 năm, đã có vua thì vua nào dân nấy. Vua là Kinh Dương Vương thì dân là Dân của Kinh, hay gọi là Dân Kinh. Nhưng “Dân Kinh” = Dinh, dân ấy là dinh lũy bền vững cho vua Kinh Dương Vương. Vua là Khan thì dân là Dân của Khan, hay gọi là Dân Hãn. Nhưng “Dân Hãn” = Dãn = Dấn = Lấn = “Lấn Trước” = Lược, vì họ sống du mục, (ngô ngoài đồng của dân trồng trọt mới ra bắp non thì cả bầy ngựa của dân du mục đã ào đến gặm sạch), từ đó mà có từ xâm lấn, xâm lược. Thời Kinh Dương Vương, quan hệ xã hội là “Kinh với Dân” = Cân = Công = Đồng = Đẳng = Bằng = Bình = “Cân Bình” = Kinh (còn “Dân với Kinh” = Dinh = Dính, là dinh lũy bền vững). Về biểu ý của chữ nho thì “Cân Bình” = Kinh, nên chữ Kinh 京 viết rất cân đối theo chiều bổ dọc đôi, nó gồm ba phần là Đầu 亠, Mình 口, và Túc 小. Đầu là cái chui ra trước tiên khi con người ra đời, nó là cái Trước (về thời gian), nó có Óc ở trong Ốc sọ, nên còn gọi là “Trước Ốc” = Trốc, che ngoài Trốc có Toóc (như “vỏ ngoài của thân cây lúa” = “Toóc”, tiếng Huế). “Toóc che cho ốc sọ và Óc” = Tóc. Mình 口, viết bằng Vuông 口, tiếng Việt Đông đọc Vuông 口 là Mảnh, Mảnh=Mình. Vuông=Văn, “Văn bằng” hay “Mảnh bằng” cũng thế cả. “Mảnh thân này có sá chi” hay “Mình này có sá chi” cũng thế cả. Câu đầu trong sách dạy nhân thể học là “Cơ thể người ta gồm có ba phần: Đầu 亠, Mình 口, và Chân Tay 小”. Chân Tay có từ chung là Túc (cũng như Ăn Uống có từ chung là In = Ẩm). Túc đã theo QT Nở mà nở ra Tay và Tấn. Đứng Tấn là một thế võ đứng không động, tức “Chỉ Tấn” = Chân. Chỉ là “Chẳng Đi” = Chỉ止. Đứng “Chẳng Đi” đã cho ra từ viết bằng chữ nho là Đình Chỉ, vì người Kinh họ nói như thế. “Đứng của tiếng Kinh”= Đình 停 (dấu = ở đây thay cho “còn gọi là”). Túc=Tiểu, nên trong chữ Kinh 京 ý Túc được đại diện bằng chữ Tiểu 小, vì thực tế Tay Chân là cái nhỏ của cơ thể (Nick không có tay chân mà còn làm nên cái vĩ đại cho thế giới thấy). Mình=Mảnh=Vành Vạnh=Vuông=Văn. Chữ Kinh chỉ rõ là một cơ thể con người, đó là một Kẻ. Kẻ ấy có hai cái Minh trong trí tuệ, nên gọi là “Kẻ Minh” = =Kinh. Nó xưng là “Một Kinh”= Mình, vì trong mình nó có hai cái Minh, “Minh Minh” = Mình, 0+0=1. Minh ấy là Sáng, do Sáng = Láng (=Lượng 亮) =Linh, “Kẻ Linh” = Kinh. Hai cái Minh ấy là Minh dương và Minh âm. Minh dương là Sáng Lâu, viết biểu ý bằng cái ánh sáng gọi là Nhật 日 là của Trời và cái ánh sáng gọi là Nguyệt 月 là của Trăng (Trời đã cho ra những cái tên chỉ ánh sáng của Trời là: Trời=Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật, nó là cái còn mãi mãi), thành chữ Minh 明. Minh dương là Sáng Lâu thì lái ngược lại Minh âm là Sâu Láng = Mầu Linh (Sâu=Mầu, Láng=Linh), “Mầu và Linh” = Minh 冥, vì là âm, nên viết phải lái ngược là “Mịch 冖 Viết 曰 Lâu 六”= “Mầu Viết Linh”. Viết 曰 = Van=Vân Vân = Và = Na = Nói = Nài. Có là người Việt thì mới gọi Nói là Viết, khi lướt hai từ “Việt Nói” mà không lấy rỡi của từ sau, chỉ lấy thanh điệu của từ sau (gọi là Lướt Lủn) thì có “Việt Nói” = “Việt sắc (dấu sắc của Nói) là Viết” = Viết. Viết nghĩa là “tiếng nói chung của nhiều người Việt”, vì “Việt Việt” = Viết, 0+0=1. (Từ điển của Viện ngôn ngữ giải thích từ Việt 越 là “từ gốc Hán”, trang 476).

(Tương tự như “Giết Giết” = Diệt, 1+1=0. Diệt 滅 nghĩa là “Giết hết, làm cho không còn tồn tạị” như Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng , Viện Ngôn Ngữ học, NXB KHXH HN 1991 giải thích, trang 100. Giải thích như LM: Diệt nghĩa là Giết Sạch, do lướt lủn, tức chỉ lấy dấu nặng của từ sau nên “Giết Sạch”= “Giết nặng Diệt”= Diệt (như là đánh vần), kết quả sau cùng của Giết và Diệt đều là -Ết = Chết = Hết. Giết thì chưa chắc đã chết hết, nhưng giết nặng tay thành ra Diệt thì chết sạch sành sanh. Vậy mà từ điển trên xếp chữ Diệt 滅 là “từ gốc Hán” (vì nhìn thấy có viết bằng chữ nho), lại không thấy bố mẹ đẻ ra từ Diệt là từ Giết ( Giết của Hán ngữ là “Sha 殺”, Diệt của Hán ngữ là “Mie 滅”, Sha với Mie có logic gì với nhau bằng Giết với Diệt không? Kể cả đúng với toán học nhị phân: Giết Giết = Diệt, 1+1=0, là không còn một mống).

Nôm Na là Vuông 口 Nam 南 (= 喃)Nói = Vuông Lam Nói = Văn Lang Nói. Pạc Và là tiếng Việt Đông. Pạc Và = Bạch Nói ( Dân tộc Bạch từng rút lui về nam lập nước Đại Lý tồn tại 400 năm ở Vân Nam, đất xưa Văn Lang, sau bị Nguyên diệt. Người Bạch có phải là hậu duệ của Bách Việt không? Có học giả TQ nghiên cứu về ngôn ngữ nói: nhiều từ gốc của người Bạch giống từ gốc của dân vùng đồng lầy Vân Mộng , bắc Động Đình Hồ. Có người Bạch ở Đại Lý thì nói: dân tộc tôi không có chữ viết - hay đã bị mất? - nên chúng tôi bị mất mát rất nhiều bản sắc). Sáng=Láng=Lượng=Linh=Minh, cái “Kẻ Minh”= Kinh ấy gọi là Kinh ( chú giải của Thuyết Văn Giải Tự: “ Kinh là cái tuyệt cao của con người”- Đoạn Ngọc Tài 段 玉 裁, đời Thanh. Tuyệt cao đây không phải là cao mấy mét hay cao chức cao quyền, tuyệt cao đây là cái trí tuệ, thì đích thị nó là “Cao Minh” = “Cân Minh” = “Kẻ Minh”= Kinh. Người Kinh tự xưng là “Một Kinh”= Mình, tự gọi cơ thể mình là “Một Sáng”= Mạng, và “Mạng Sống”= Mống. VD “Nhà mày đẻ được mấy Mống rồi?”, “ Diệt cái thói xâm lược cho nó chết sạch không còn một Mống”. Trong Từ Điển Tiếng Việt đã dẫn, không có từ Mống = ”Mạng Sống” này, nhưng có từ Mống cụt, được giải thích là Mống cầu vồng cụt , VD “Mống vàng thì nắng, Mống trắng thì mưa”, trang 519, đủ thấy Từ Điển đã không biết rằng nông dân cổ đại đã lướt cái “Móng cầu Vồng”= Mống, để có từ Mống ở trường hợp này, cũng như khi hột lúa bị ướt thì nhú cái mầm sống của nó ra, nông dân cổ đại đã lướt “Mầm Sống”= Mộng, cho trường hợp đó, gọi là lúa lên mộng.

Người Kinh khi thưa thì nói Dạ! “Tôi Dạ!”= Tạ, “Tôi Rõ!”= Tỏ, “Dạ Rõ” = “Dạ Tỏ” nên Dạ ấy nghĩa là Sáng. Con người có hai cái Sáng vì vậy gọi là Sáng Dạ, chia ra Sáng đại diện sáng dương, Dạ đại diện sáng âm, nên sau nho lấy chữ Dạ đại diện cho đêm. Sáng và “Trong Sạch” = Trạch. Đầm Dạ Trạch là đầm vừa sáng vừa trong sạch. Bức hoành ở chùa Ông Bổn ( hội quán Phúc Kiến tại tp HCM) có viết bốn chữ từ phải sang trái (ý là người xưa dặn dò) là Trạch Cập Lân Phong 澤 及 鄰 封, nghĩa là đem (tấm lòng) trong sạch mà cập bến của vùng láng giềng gần. Chữ “Láng giềng Gần” = Lân 鄰. Chữ “Phát cho đất trong một vùng=Vòng” = Phong (Chữ Phong 封 gồm hai bộ Thổ 土 , ý là được nhiều đất, và bộ Thốn 寸 , ý là có đo đạc đàng hoàng, chữ Phong 封 dùng làm đại diện cho Vùng, nên còn biến ý là “vòng kín, niêm phong”. Phong là Vùng nên mỗi Phong có tục lệ riêng (“đất lề quê thói”) gọi là Phong Tục, về sau họ chỉ căn cứ vào cái âm “phong” nên dùng chữ Phong 風 nghĩa là gió để ghép từ Phong Tục, nghĩa là “tục của gió”? sai cả biểu ý . Người dương sẽ đọc từ trái sang phải là Phong Lân Cập Trạch, nghĩa là “(đến ở) vùng láng giềng gần (thì nguyện) theo kịp cái sáng”, nói lên tâm nguyện đến ở vùng láng giềng gần thì phải tích cực hướng tới cái sáng. Người Kinh tự xưng là Mình, cũng tự xưng là Ta. Ở câu ca dao “Mình về có nhớ Ta chăng. Ta về Ta nhớ hàm răng mình cười” thì biết ngay là có hai người đang nói với nhau. “Ta với Mình tuy hai mà một. Mình với Ta tuy một mà hai”, bởi mỗi người đều có ở trong Mình hai cái Minh. Ở trong Mình có cái “Ta Âm”= Tâm. Tâm Linh nghĩa là cái Tâm ấy nó cũng sáng. Ở trong Mình có cái “Ta Dương”= Tướng (Tướng=Tượng=Tạng=Dáng). Tướng là sự thể hiện trí tuệ của người trên nét mặt người đó, tức trên “Mặt Tao”= Mạo, nên còn gọi là Tướng Mạo. VD: “Anh coi giùm cái Tướng cho tôi với” hay “Anh coi giùm cho tôi cái Tướng Mạo”. Con người là Sáng Dạ, cho nên nó Sáng Giá, vì nhấn ý Dạ là “Dạ Dạ”= Giá, 0+0=1. Mà nhấn ý Sáng thì “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Sáng Giá là Sang (0) và có Giá (1) cũng là đủ cân bằng âm dương như 0 và 1. Tại sao người Kinh đã tự xưng là “Một Kinh”= Mình rồi lại còn tự xưng là Ta? Bởi người Kinh đã có nền Đông Y cổ đại, bao gồm cả thuật châm cứu, từ thời Thần Nông (Kênh Lạch = Kinh Lạc). Nền y học ấy cho rằng con người là một tiểu vũ trụ, tức con người là Tất Cả đuợc gói gọn thu nhỏ lại: “Tất Cả”=Ta (= Nhà = Ngã 我 = Gia 家 = Giả 者, là những từ xuất hiện sau).

Sự sống nhờ Nước và Không Khí. Cái NÔI khái niệm bản chất Trong Sáng = Trong Suốt của Nước (H2 O) và Không Khí chủ yếu là dưỡng khí (O 2) là: Nước=Nuột (nuột nà)=Suốt=Sáng=Sóng=Trong=Thong (thong dong) = Thấu = Thanh = Thông = =Không=Khí=Khuổi=Huổi=Hơi. Riêng Nước còn có thể sờ thấy được, Không Khí thì không thể. Nhìn vào H2O thấy ngay Nước có hai cái minh là H2 không sờ thấy được, cũng như trong dưỡng khí cũng có hai cái minh và đều không sờ thấy được, là O2. Vậy bản chất hai cái Minh trong Ta và trong Nước hay trong Không Khí là như nhau, làm ô nhiễm Nước hay Không Khí thì Ta cũng chết. Ngôn từ Việt đã chỉ rõ Tất Cả. Vậy mà hai cái Minh cân bằng nhau trong Mình lại là tên của hai tộc người là Kinh và Thái, con cháu của Rồng và Tiên (của Lạc Long Quân và Âu Cơ). “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh. Kinh tự xưng là Ta (ngôi Một). “Ta sinh ra Hai”= “Ta sinh ra Hay”= Tày (đó là dòng thứ đầu). Ta lại sinh ra dòng “Thứ Hai”= Thái. Ta sinh ra dòng “Thứ Ba”= Tha. (Thường dùng từ “tha nhân”. Hán ngữ dùng chữ Tha chỉ ngôi thứ ba, phát âm chính xác là “tha”). Xưng Ta là ngôi Một thì chính trong Ta có hai cái sáng là “Minh Sáng”= Mạng. Ta là ngôi Một thì chính Ta đã sinh ra cái “Mạng Hai”= “Mạng Hay”= Mày; khẳng định thì nói Ta đã sinh ra “Mày Chứ!”= Mừ. Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái. Vậy Tày-Thái là dòng Chứ=Chư=Thứ, so với Kinh là dòng “Kinh Ả”= Cả. Thủa tiền sử là thời mẫu hệ, Ả nghĩa là người đàn bà, tiếng Mường và tiếng bắc Trung Bộ vẫn gọi chị là Ả. (Tiếng Mường có Ả-Ún là Chị-Em, Eng-Ún là Anh-Em. Những từ trên đã QT Nở mà nở sinh đôi từ cái tế bào O, ở giữa từ Nòi của NÔI, O tiếng Trung Bộ nghĩa là cô gái “Ơi O chèo đò trên dòng sông Hương”, O nở ra Ả(1) / Ún (0) và đồng thời nở ra Anh(1)/Em(0) là hai cặp đối sinh đôi). Cái tên Kinh nghĩa là sáng: Kinh = Bình Minh. Cái tên Thái cũng nghĩa là sáng: vd câu “Hết thời bĩ cực đến ngày thái lai”. Nếu đọc báo miền Nam trước 1975 ắt gặp câu “Việt Nam và Thái Lan là hai dân tộc anh em ruột thịt”. Kinh và Thái là có trước rồi mới sinh ra Việt là con của Rồng Tiên. Chữ Việt 粤 bộ mễ đã chỉ rõ như vậy. Chữ Việt 粤 gồm bộ Vuông 口= Vành Vạnh = =Mảnh = Mình 口 = Kinh và bộ Thái 采, dưới có cái Cày. Chữ Thái 采 nghĩa là sáng, gồm Tia=Phía=Phẩy là nét phẩy xiên phải sang trái (mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (từ trời xuống đất), dưới là bộ Mễ 米, chính là các tia mặt trời trên trống đồng, mặt trời được tôn làm mẹ của dân Lửa là dân trống đồng, chính là Mẹ (Kinh)= Mế (Tày)= Mè (Lào)= Mệ (Huế)= Mễ 米, nho cũng dùng chữ Mễ 米 này ám chỉ Gạo (Kinh)= Khao (Thái) của dân lúa nước, vì mẹ là bầu sữa, là miệng nhai cơm sún cho con sơ sinh ( “Sẻ nhỏ giọt cho Ún” = Sún= Bún = Bột = Búng. Ca dao: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”). Bản thân thiên thể Mặt Trời cũng là hai cái sáng, gọi là Dương Sáng, tiếng các sắc tộc ở Tây Nguyên gọi là “Dương Sáng”= Giàng. Hán ngữ dịch ý Dương Sáng , đảo là Sáng Dương = Thái Dương, chỉ mặt trời. Ngày nay khai thác năng lượng mặt trời thì gọi là Thái Dương Năng. Nhưng Năng là cái tế bào của NÔI Việt nên tế bào Năng QT Nở mà thành Nắng (1) / Nước (0). Lưỡng Quảng xưa còn có tên là Lưỡng Việt, nói thứ ngôn ngữ gọi là Việt ngữ 粤 语 (tiếng Việt Đông, tiếng Quảng Đông, tiếng Canton), khác với tiếng Quan Thoại (tiếng Mandarin - do phiên âm chữ Mãn Thanh). Tiếng Quảng Đông , người Quảng Đông gọi là Pạc Và tức Bạch Nói (Bạch Thoại). Nhưng Bạch thì có nhiều lắm, còn gọi là bách tính tức trăm họ, “Bạch Bạch”= Bách, 0+0=1, nên Bạch Thoại cũng chỉ là một trong những ngôn ngữ hình thành do diễn biến của ngôn ngữ Bách Việt.

3. Định nghĩa người Kinh

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là của người Việt. Âm Dương là từ ghép xuôi dùng để nói về thế giới con người trên mặt đất, (“Con người đứng giữa Đất Trời”- có đất thì mới có chỗ đứng- khi nói ngang ngược thì “Vốn đã sinh ra trong Trời Đất” – ý là từ trên trời giáng thế). Nếu là nói về vũ trụ thì ghép là Dương/ Âm = Càn/ Khôn = Cả/ Tất = Còn/ Khuất = Trời/ Đất = Tròn/ Vuông = Trọn/Vẹn = Hoàn /Toàn. Con người sinh ra trên đất, nên ghép xuôi Âm/Dương = Tất/ Cả= Tạo/Hóa. Lướt thì “Tất Cả”=Ta hay “Tạo Hóa”=Ta. Người Kinh tự xưng là Ta (ý nói là đã gói gọn toàn bộ vũ trụ trong Mình). Cái Ta ấy là “Một Kinh”= Mình. Cái Ta ấy có “Ta Dương”= Tướng thì Sáng Lâu, và có cái “Ta Âm”= Tâm thì Sâu Láng. Cái Sáng Lâu là ánh sáng gọi là Nhật 日 của Trời và ánh sáng gọi là Nguyệt 月 của Trăng, ghép thành chữ Minh 明 dương. Cái Sâu Láng = “Mầu Linh”= Minh âm, viết bằng chữ lái ngược Mịch 冖 Và 曰 Lâu 六 (lái là Mầu Và Linh) thành chữ Minh 冥 âm. Hai cái Minh tức hai cái Sáng. Cái “Sáng Dương” = Sướng (là cái trí hanh thông). Cái “ Sáng Âm” = Sấm (là cái trí tuệ tiên tri). Sấm=Sới, Sới võ là nơi đấu võ bằng trí tuệ. Cái Ta ấy là “Ta Một”= Tốt (“Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa). Một Kinh = Một Cây = One Kind = O.K. Kinh Dương Vương là Tổ của Bách Việt. “Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống” ( trích Ngọc Phả Hùng Vương, lưu tại đền Hùng, Phú Thọ). Ta một, là Kinh Dương Vương thì phải đẻ ra “Thành ta Hai”= Thái. “Ta Hai”= “Ta Hay”= =Tày. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta giống cả tâm lẫn Tướng”= Mường. “Giống Kinh Dương Vương đẻ ra dòng Tao”= =Dao. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta rất Giống”= Mông. Vân vân và vân vân. Còn Bé thì Bú, Bú hết rồi thì ăn Bột, rồi mới biết Bò, rồi mới biết Bước. Lớn lên mới có thể Bước=Vược=Vượt. Kinh=Canh=Oanh. Vượt của dân canh Lửa = =“Vượt của dân oanh Liệt” = Việt (“Con hơn cha là nhà có phúc”

4. Người Kinh và chữ nho Kinh 京

Chữ nho, còn gọi là chữ vuông, là loại chữ biểu ý của người Việt, viết gom các ký tự tượng hình và tượng thanh vào trong một ô vuông mường tượng (mường tượng là hình dung ra cái vô hình, “Tướng Tướng”=Tượng,1+1=0; “Mắt nhìn thấy nội dung thể hiện qua Tướng”= Mường), tức là cho các ký tự “Về Ổ”= Vô. Và “Vô cái ô vuông mường tượng như là In”= Vin. Để vin vào biểu ý đó mà hiểu nghĩa chữ. Cụm từ “vuông Chữ Nho nhỏ” ấy đã bị QT Vo làm vò rụng mất đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” còn lại cái lõi là Chữ Nho. Chữ=Trữ 貯 =Tự 字 =Tự 嗣, một Tự 字 nghĩa là nối dòng văn hóa, một Tự 嗣 nghĩa là nối dòng huyết thống. Kinh nghĩa là “Cái đôi Minh”= Kinh, “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh, đó là “Kẻ Minh”= Kinh, là cơ thể một con người, gồm Đầu 亠 Mình 口 và Chân Tay 小, thành chữ Kinh 京. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh= “Mảnh của kẻ Minh”= Mình. Tiếng Việt Đông đọc chữ Văn 文 là Mảnh. Mảnh lại có nghĩa là một mình, “Ăn Mảnh” là ăn một mình không cho ai biết, VD: “Trình Văn Bằng làm gì, còn phải căn cứ vào năng lực thực tế chứ vin gì vào Mảnh Bằng”. Ấy vậy mà các vị hàn lâm cứ giải thích trong các Từ Điển rằng từ Văn 文 là một “từ gốc Hán”, là “từ Hán Việt”. Chẳng khác gì “Gắp (cắp) của mình bỏ sang tay người” hay là “Nối dáo cho xâm lăng văn hóa”. Cái Lõi văn hóa của một dân tộc không phải là cái “Ruột Rỗng”= Rống (“thùng rỗng kêu to”) mà là cái “Ruột Đặc”= Rặc. Xưa nay bọn ngoại xâm là bọn muốn diệt cái Rặc của một dân tộc, bọn ấy gọi là bọn “Diệt của kẻ khác cái Rặc” = Giặc. Hãy nghe câu thơ “phồn thực” của Hồ Xuân Hương: “Cọc nhổ đi rồi Lỗ bỏ không”. Và hãy lướt “Kẻ Rặc”= là cái gì, với “Lõi của giống nòi là cái nõn viết bằng chữ Nộn”= là cái gì. Lõi là cái Nõn, còn Cặc=Cương=Nường, là cặp sinh thực khí: Nõn/Nường = Âm/Dương (ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Chữ ký âm xưa là chữ Nòng/Nọc = Dương/Âm. Dùng cấu trúc theo vũ trụ là Dương/Âm, ghép ngược cấu trúc theo mặt đất là Âm/Dương, ghép theo cấu trúc vũ trụ vì chữ là do Trời cho (Hán sử gọi là Thiên Thư). Tùy tiện giải thích ngôn từ Việt thành “từ Hán Việt” có người cho rằng là để cho nó “sang”. Lại không thấy người Kinh thì mới là “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Và cái “Sáng Âm”= Sấm ( trí tuệ tiên tri, tiềm năng con người) của người Kinh mới là đem lại được bình an cho Đất Trời = Tất Cả (Cả=Còn=Tròn=Trời=Ngời=Người). Cái Ngời Ta = Sáng Tất Cả. Nâng cao dân trí mới là cái quan trọng nhất chứ không phải là đua nhau khoe cái Mảnh Bằng.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, Giáo sư Cao Xuân Hạo trong cuốn sách “Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt” của ông có nêu: Cốt lõi của cú pháp tiếng Việt là Đề và Thuyết.

Phân tích bốn từ Tiếng - Văn - Người - Việt:

(1).Tiếng = Miệng = Miếng = Mẩu= Khẩu 口 = Mầu 妙 = Trầu = Giầu = Diệu 妙, nôi khái niệm này gói trọn cái nội dung “ăn nói” (Tục ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, có lẽ đã có cách nay 5000 năm, khi người Việt có tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Tứ đối Mun/Minh, Mun = Hun = Hôn 昏 = Hoen Hoẻn = Hắc 黑, em hôn anh một cái là em đã hoen một vết son lên má anh, son Hàn Quốc bây giờ còn có màu thâm, Đen = Hoen = “Hoen Tuyền”= Huyền 玄, “Răng đen nhưng nhức hạt huyền”). Cốt chuyện thì rất Mầu vì là chuyện cổ tích (như “Thị Mầu lên chùa”), và lời kể thì rất duyên, Chuyện = Duyên 緣 = Diệu 妙 = Điệu 窕, đó là cách biểu diễn văn học.

(2,3,4).Vuông=Văn=Nhắn=Nhiệt=Nguyệt=Ngời=Người. Người Việt làm Ruộng (Vuông) , ở xứ nóng (Nhiệt), là cái Sáng (Ngời) do Trời cho (Trời=Ngời). Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh = Một Mình = Một Manh = Mảnh = Vành Vạnh = =Vuông = Văn = Nhắn = =Nhân = Dân = Cân = Canh = Kinh: Người Việt bắt đầu từ người Kinh. Ký ức của Nhân Dân từ vạn năm trước là cái Sáng = Sống =Sinh Động như cái Nhân của hột giống luôn Canh cánh trong lòng Nhắn (Nhắn=Gắn=Gen) lại cho các thế hệ sau tìm và chắp lại cho đủ cái Minh của người Kinh.

Tư duy con người đã từ Phân Tích (thời chữ ký âm Nòng Nọc) đi đến Tổng Hợp (thời chữ Vuông biểu ý: Chứa = Chữ = Trữ 貯 = =Tự 字 = Tự 嗣, trong đó Chứa=Chữ=Tự 字 là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣 là nối dòng huyết thống, cái Gen chính là điểm Tựa để di truyền nòi giống (có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc, tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né!” nghĩa là “Nó-Na Ná-Giống Đấy Nhé!”). Phân Tích đến Tổng Hợp là hết một vòng. Lại tiếp đến vòng mới bắt đầu bằng Phân Tích (chữ quốc ngữ bằng mẫu tự Latin, lịch sử lặp lại ở đỉnh cao hơn). Như ngày nay con cháu người Kinh (người Sáng), người Choang, người Thái, người Tày, người Mường, người Mông v.v. và v.v, đều là hậu duệ của Bách Việt, đang Phân Tích các ứng dụng của Âm Dương Ngũ Hành đến Kinh Dịch rồi Tổng Hợp để “Thấu Lấy”= Thấy được cái Minh của Tổ Tiên mình.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tiếng Việt

1. Các Qui Tắc tạo Từ của Tiếng Việt (viết tắt là QT)

Cái Nền để nghiên cứu lời Nói của giống Nòi là cái Nôi khái niệm. Thủa bé , một lần đọc báo thấy nêu một nhà nghiên cứu ngôn ngữ người Pháp (thời thuộc địa) nhận xét rằng: “Tiếng Việt là mẹ của các ngôn ngữ trên thế giới”, và đưa ra nhiều ví dụ. Như trường hợp giục phu kéo xe tay đi nhanh, người Việt lệnh “Mau lên!”, người Madagatsca ở Ấn Độ dương lại lệnh “Gao len!”(hay là muốn nói “gâu” lẹ! ?). Qui tắc tạo từ của tiếng Việt (QT) trình bày bằng 5 mục dưới đây:

1/ NÔI khái niệm:

Đặt tên là NÔI vì:

1.NÔI=Nôi. Nôi là vật dụng để đặt đứa trẻ sơ sinh nằm nghe mẹ ru mà biết nói.

2.NÔI là cái Ổ (chữ Ô ở giữa) sinh ra ngôn từ tính Âm (N-Negative) và ngôn từ tính Dương (I-Innegative), (theo đúng “Nam tả, Nữ hữu”)

3.NÔI=Hội=Hột=Một. Nôi là một hột giống sinh ra muôn vàn hột giống khác (Tất cả đều trong Một. Một=1 là Dương. Dương sinh ra Âm; Dương có trước, Âm có sau). Hội=Hột=Một: Một hột cây hội tụ tất cả các gen của một loài cây.

4.NÔI=Nở. NÔI là NÔI mẹ ắt nở ra muôn vàn Nôi con. Nôi con sinh ra nhiều từ sắc thái khác nhau nhưng ý nghĩa của chúng là cùng nôi khái niệm. Chính là NÔI đã làm ra QT Nở.

5.NÔI=Nở=Vỡ=Vỏ=Vo. Quá trình nảy mầm của hột giống là Nở cho Vỡ cái Vỏ (Vỏ=Giỏ=Da, bọc ngoài mầm hột) để vỏ ấy bị Vo (tự tiêu rã) mất. Chính là NÔI đã làm ra QT Vo.

6.NÔI=Nối=Lối=Lướt. NÔI đã sinh ra lối (cách thức, đường lối) nối cái phụ âm đầu hay cái vắng phụ âm đầu của từ đầu câu với cái âm vận của từ cuối câu thành một từ mới. Chính là NÔI đã làm ra QT Lướt.

7.NÔI=Nõn=Nộn=Lồn=Lời=Rỡi (“Ruột Lời”=Rỡi). NÔI=Cội=Cọc=Tóc=Tay=Tơi (“Tay Lời”=Tơi). Tơi là cái áo của lời. Bản thân Tơi không làm nên lời, cũng như bản thân áo không làm nên người. Lời=Ngời (sáng)=Người. Một lời nói ra thể hiện một cái sáng của con người (“Văn là người”. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh=Mình). Rỡi thuộc âm vì nó là cái Vần, nó có công tạo ra lời lớn hơn công của Tơi (Âm=Vâm=Vần). Tơi thuộc dương vì nó là cái áo, giúp một phần vào tạo ra lời (Dương=Giúp, vì “Dương nằm Úp”=Giúp, nên trai bao giờ cũng giúp đỡ gái). (Tiếng Tây còn gọi thân mật là “Cái áo của em ơi!”, nhưng khi chồng nát rượu, bà vợ đá cho một cú lăn cù xuống cầu thang gỗ, khuất mắt. Hàng xóm cùng tầng nghe động, sang hỏi có gì mà ồn chuyện vậy, bà vợ trả lời tỉnh queo: “ Xin lỗi ạ, tôi lỡ tay làm rớt cái áo ấy mà”). Chính là NÔI đã làm ra QT Tơi-Rỡi.

2/ QT Vo:

Là vò rụng đầu rụng đuôi một từ đa âm tiết, còn lại cái lõi thành từ đơn âm tiết. VD: Ha-Na-Xư ( tiếng Nhật nghĩa là nói), rụng còn lõi Na (tiếng Việt nghĩa là nói). Pnom (tiếng Khơ Me nghĩa là núi), rụng còn Non (tiếng Việt nghĩa là núi. Đến m dài còn bị vò rụng đuôi còn n ngắn). Blơi (tiếng Mường nghĩa là trời), rụng còn Lời=Trời (Mà lời là do trời cho thật, những loài sống ngầm dưới đất như loài giun, không hưởng trời nên không có tiếng kêu). Vo còn dẫn tới hậu quả là Vo cả câu. VD: “vuông Chữ Nho nhỏ” vo rụng đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” thành còn cái lõi là Chữ Nho. “Trong ấy” vo thành Trỏng. “Bên ấy” vo thành Bển. “Anh ấy” vo thành Ảnh.

3/QT Nở:

Một từ trong NÔI sẽ nở ra hai từ, một từ là tính âm (0) và một từ là tính dương (1). VD: Từ Mỗi nở ra từ Mô (0) và từ Một (1). Từ In nở ra từ Uống (0) và từ Ăn (1). Từ Túc nở ra từ Tấn (0) và từ Tay (1). Nguyên tắc là hai từ mới phải cùng Tơi (hay cùng Vắng Tơi) với từ cũ.

4/ QT Lướt:

1.Lướt hai từ: Lướt để chắp Tơi của từ đầu với Rỡi của từ sau thành từ mới có ý nghĩa logic với ý nghĩa tạo bởi hai từ trên. VD: “Hai Yêu”=Hiếu (Hai thế hệ già và trẻ phải yêu thương nhau. Nho viết bằng chữ Lão ở trên và chữ Con ở dưới, thành chữ Hiếu).

2.Lướt cả câu: Lướt để chắp Tơi của từ đầu câu với Rỡi của từ cuối câu thành từ mới có ý nghĩa logic với nội dung của câu. VD: “Làm gia công cho lưỡi cưa cùn sắc lại như Mới”=Lỡi (thợ Lỡi, máy Lỡi).

3.Lướt từ lặp: Thành từ mới có ý nghĩa như mục đích của từ lặp là nhấn ý “nhiều”, nhưng thanh điệu thì là tổng phép cộng số học nhị phân của hai từ đồng âm đồng nghĩa trên. Ví dụ “Chung Chung”=Chúng, 0+0=1 (Nhiều cái chung ở một nơi thành đông là Chúng: Chúng tao, Chúng mày, Chúng nó, “Chúng Qua”=Choa). “Quân Quân”=Quần, 0+0=1 (ghép thành từ đôi Quần Chúng, chỉ số đông người). “Đông Đông” lúa = Đồng lúa. “Mai Mai”=Mải, 0+0=1. “Mải Mải”=Mãi, 1+1=0. (“Lâu Mãi”=Lai, là tương lai). Sáu thanh điệu của tiếng Việt chia ra hai nhóm: Nhóm âm (0) gồm “không”, “ngã”, “nặng”. Nhóm dương (1) gồm “sắc”, “hỏi”, “huyền”.

4.Lướt Lủn hai từ: Từ đầu giữ nguyên và lướt tới lấy dấu thanh điệu của từ sau thay cho thanh điệu của mình. VD: “Việt Nói” = “Viết sắc Viết”=Viết (Viết= Van=Văng=Vân=Vân Vân=Và=Na=Nói=Nài, dần dần Viết chuyển sắc thái là “nói bằng văn bản” rồi dùng đại diện cây Viết). “Bụt Nói”= “Bụt sắc Bút”=Bút (tháp Bút ý là ở đó ngự lời của Bụt, sau Bút dùng đại diện cho cây viết, gọi là cái Bút. Bút dùng để “Pút”- post lên, và “Pút Lên”=Pen, tiếng Anh). Lướt Lủn tức là lướt cụt lủn hai từ (“Lời ngắn Ngủn”=Lủn)

5.Lướt Lỏn hai từ: Từ đầu lướt tới lấy Tơi của từ sau ghép vào Rỡi của mình thành từ mới có Rỡi mới. VD: “Hai Mươi”=Hăm. “Ba Mươi”=Băm. “Nghỉ Một” tí = Nghỉm tí. Lướt Lỏn tức là lướt gọn lỏn hai từ thành một từ (“Lời nói Gọn”=Lỏn).

5/ QT Tơi-Rỡi:

Thay Tơi hay Rỡi của một từ đều tạo ra từ mới cùng nôi khái niệm với chính từ đó. VD: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn=Vấn=Vân= Vân Vân = Ngân Nga = Thả= Thỏ Thẻ = Thưa =Thốt =Thuyết =Thoại = =The Thot = Thi Thâm =Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn=Ngỏ=Ngả=Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác = Cáo = =Quảng=Giảng.

Kết luận: Từ Điển mà giải thích như nôi khái niệm về “nói” vừa nêu trên thì còn ai kêu ca hay van nài gì nữa? Mắc mớ gì cứ thấy từ nào có viết bằng chữ nho thì giải thích đó là “từ gốc Hán”, “từ Hán Việt”. (Hán ngữ “Shuo” nghĩa là nói, “Yu Yan” nghĩa là ngôn ngữ, “Yáo Lán” nghĩa là cái nôi, “Jiang” nghĩa là giảng). Ngỏ là từ có sắc thái rất lịch sự, Ngỏ lời hay thư Ngỏ là yêu cầu phải có trả lời, nếu không trả lời là bất lịch sự, như “Ngỏ lời xin cưới”. Ngỏ = Thỏ Thẻ = Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”= Thuyết. Tiếng=Thiêng=Thanh. Sáng=Láng=Linh. Dân tộc ta có Tiếng nói là mượt mà và con người là Sáng Dạ, đó là cái thiêng liêng nhất. Câu đối trong đền Ngọc Sơn ở Hồ Gươm Hà Nội: “Sơn Bất Tại Cao, Hữu Tiên Tắc Thanh. Thủy Bất Tại Thâm, Hữu Long Tắc Linh”. Nổi Tiếng và Sáng là Thanh Linh = Thiêng Liêng. Thiêng Liêng vì trong Ta có cả “Sáng Âm”= Sấm, là khả năng tiên tri. Có khả năng tiên tri là do biết bói quẻ: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, của người Việt. Câu Sấm: “Song Ngư liền địa, Nghi Lộc phát vương”. Nghi Lộc là Ngộc Ly. “Người Gốc” = Ngộc. Ly là Lửa. Người=Ngời=Ngọc=Ngộc. Trời=Trưa=Lửa. “Dân Lửa” = Giữa. Giữa Chỗ = Giao Chỉ = Giao Chứa = Gieo Chữ. Giao=Gieo (gieo lúa là giao hột lúa cho đất). Chỗ là vị trí bất động, tức “Chẳng Đi”=Chỉ止. Chứa=Chữ=Trữ=Tự字=Tự嗣 (Chứa=Chữ=Tự 字nghĩa là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣nghĩa là nối dòng huyết thống. Có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc. Tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né” nghĩa là “Nó - Na Ná - Giống Đấy Nhé”) . “Kinh Gieo” = Keo. Dân Kinh = Cần Keo (tiếng Tày Thái). “Dân Kinh” = Dinh=Dính. Keo Dính = Keo Dán = Keo Gắn. Gắn=Đặn(Đầy Đặn)=Đám=Đàn=Đoàn. Gắn Keo = Gắn Kết = Đoàn Kết.

Trong Mình của người Việt có hai cái Sáng. Một cái Sáng là cái “Ta Dương”=Tướng, là cái thể hiện ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt, đó chính là cái “Sáng Mắt”=Sắt. Một cái Sáng là cái “Ta Âm”=Tâm, là cái sáng bên trong không thể hiện ra ngoài, không thể nhìn thấy được, Tâm=Tấm=Tỏng=Lòng=Trong (biết “Tường tận trong Lòng”=Tỏng), đó chính là cái “Sáng Lòng”=Sóng=Son (sóng ở đây là cái sóng ánh sáng, nó là vi ba, bước sóng cực nhỏ, nên gọi là “Sóng Con”=Son). Rõ ràng từ Sắt Son là một cấu trúc Dương (Sắt) Âm (Son) cân bằng, bởi vậy nó rất bền vững, không bao giờ thay đổi. Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH HN 1977 , trang 675, giải thích Sắt Son: Thủy chung trước sau như một trong tình yêu, vd “Nào lời non nước, nào lời sắt son”. Giải thích như vậy mới chỉ là giải thích một ứng dụng của từ Sắt Son trong một lĩnh vực cụ thể là tình yêu, chưa phải là giải thích bổn nghĩa của từ Sắt Son ở nguyên do của nó.

Cái Sáng của người Việt lại là do Trời cho bằng chính cái ánh sáng của Trời (và Trời chỉ chọn Người để cho chứ không cho các loài khác): Trời=Ngời=Người= “Người có Óc”=Ngọc (“Ngọc chưa mài chưa thành quí. Người chưa học chưa tri lý”). Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật đều là ánh sáng của Trời, phần Nguyệt thì Trời đem cho Trăng, Nguyệt thành ánh sáng của Trăng, nhưng vẫn là của Trời. Vậy chính xác thì Trời mới chính là kẻ “đã cho ta Sáng Mắt, Sáng Lòng”. Bởi vậy người Việt Sắt Son nhất là Sắt Son với Trời, luôn biết nói “Nhờ Trời”, “Ơn Trời” và kêu “Trời Ơi”. Bởi vì:

1. Trời đã cho Ta cái tên bằng ánh sáng của Trời: Trời=Ngời=Người (=Ngài=Ai= “Thể Ai”=Thai)

2. Trời đã cho Ta cái khả năng tư duy: Trời=Ngời=Nghĩ (=Ý=Chí=Trí=Tri=Bì=Biết=Biệt)

3. Trời đã cho Ta cái khả năng thị giác: Trời=Ngời=Ngắm (=Nhằm=Nhòm=Nom=Dòm=Nhòm=Nhìn=Nhãn=Khán=Khám)

4. Trời đã cho Ta cái khả năng thính giác: Trời=Ngời=Nghe (=Ngóng=Thông=Thính)

5. Trời đã cho Ta cái khả năng khứu giác: Trời=Ngời=Ngửi (=Khui=Khứu)

6. Trời đã cho Ta cái khả năng xúc giác: Trời=Ngời=Ngậm (=Cầm=Chạm=Nắm=Nã=Xoa=Xát=Sát=Sờ)

7. Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm

Tên riêng của mỗi cá nhân cũng là cái sáng, của Trời cho, gián tiếp qua ánh sáng của con Đom Đóm. Trẻ con rất thích bắt Đom Đóm chơi. Đom Đóm=Tóm=Tên=Tánh=Danh (ra đời mới thành Tên hay lớn lên làm ăn đã thành Danh đều bị Tóm vào “sổ hộ khẩu” và vào sổ Nam Tào tất). Tên gọi những nơi cần quảng cáo cũng đều xuất xứ từ cái sáng của con Đom Đóm: Đom Đóm=Điểm=Điếm=Tiệm=Tên.

Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm. Ngoài các khả năng của 5 giác quan (thường gọi là Ngũ quan) là của Trời cho. Trời còn cho thêm giác quan thứ Sáu (nó ở rất Sâu và tồn tại rất Lâu theo con người, kể cả khi xác đã trả về đất chỉ còn lại cái hồn, giác quan thứ Sáu đó vẫn còn. Sáu=Sâu=Lâu=Lục=Lão=Luôn Luôn= “Lâu Mãi”=Lai, tức đến các “Kế Tiếp”=Kiếp sau vẫn còn). Giác quan thứ 6 đó là cũng từ cái Sáng của Trời (“Sáng danh Chúa ở côi Lời”): Trời =Ngời=Sới=Sấm (lời Sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều câu còn ứng nghiệm vào 500 năm sau). Sấm là cái “Sáng Âm”=Sấm. Sới là chỉ địa điểm, là cái “Sáng Nơi”=Sới, địa điểm đó phải chọn theo PTLV, là nơi Sáng tức nơi Linh, gọi là Địa Linh (như nơi đặt mồ mả, nơi xây Sới võ, nơi xây công trình v. v. Sới phải phù hợp với cái Sáng Âm thì mới phát huy được cái “Sáng Tới”=Sới (“Âm phù Dương trợ”). Chúa Nguyễn Hoàng đã nghe theo Sấm của Trạng Trình mà chọn được Sới là nơi “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, biết đường đi “Ta theo hướng Mới”=Tới, đó là cái “Tới Dương”=Tương nên được “Lâu Mãi”=Lai. (Tương Lai là từ hoàn toàn thuần Việt). Tương Lai kể cũng quan trọng thật, nhưng Hạnh Phúc là cái xài liền, không phải là chờ đợi đến tương lai mới được hưởng. “Dân dĩ Thực vi Thiên”, cái “Thật Đức”=Thực là cái Thực có trên thực tế, và là Thực là đủ ăn (“Thức Thức”=Thực, 1+1=0, các thức để “ăn” đây bao gồm cả ăn uống, ăn mặc, ăn học, ăn ở, ăn làm, ăn nằm), mới là cái dân cần “Thấy đầu Tiên”=Thiên. Nguyên hai câu là “Nhân dĩ Hòa vi Qúi. Dân dĩ Thực vi Thiên” nó có hai nghĩa cho cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, vì Hòa là lúa, Hòa lại là Hòa Hiếu; Thực là nhiều Thức, Thực lại là sự Thực, mà sự thực thì chỉ có “Thật Đức”=Thực, xã hội đạo đức giả thì không thể có sự thực. Quán nhậu treo hai câu trên chỉ mong người ta hiểu phiến diện có một nghĩa là ăn nhậu sướng bằng Trời-Thiên. Chữ nho Hòa 和 là cây Lúa 禾 và Mình 口,“Em xinh là xinh như cây lúa” (lời hát chèo), cũng lấy chữ Hòa 和 ấy ghép với chữ “Hai Yêu”=Hiếu 孝 thành từ ghép Hòa Hiếu 和 孝 cho cả hai nghĩa: yêu tôn trọng thiên nhiên (Mình 口yêu cây Lúa 禾 và cây lúa yêu mình, như Hiếu 孝: thế hệ Lão 老 yêu thế hệ Con 子, và thế hệ con yêu thế hệ lão, chữ Con 子 đặt ở dưới có nghĩa là con phải gánh vác di sản và đề cao truyền thống mà thế hệ Lão 老 để lại). Rõ ràng dân trồng lúa (nền văn minh lúa nước) là dân Hiền Lành nhất trên đời này. Nhưng đừng thấy người ta Hiền Lành mà tới hiếp đoạt của người ta, sẽ bị người ta Hành Liền, cái hàm ý này chỉ có trong ngôn từ rất mượt mà của Tiếng Việt mà thôi. (Vụ án “Máu thắm đồng Nọc Nạn” ,năm 1928 ,tòa án thuộc địa cùng luật sư người Pháp đã xử cho những người nông dân trồng lúa Hiền Lành đã phải vùng lên Hành Liền, khi bọn cường hào tới hiếp đoạt ruộng đất mà họ đã bỏ công khai phá, được trắng án như tòa tuyên: “vô tội”). Cho nên người đời trên thế giới rất biết tôn trọng người dân Việt vốn Hiền Lành. Ngôn từ Việt đã hàm ý rõ tất cả rồi, không hề nói dóc. Tìm bao giờ cho thấy Hạnh Phúc?. Đơn giản, phải tìm nhiều. Tìm nhiều thì “Hạnh Hạnh”= Hành, 0+0=1; “Phúc Phúc”= Phục, 1+1=0, tìm nhiều để đến được Hạnh Phúc là phải Hành Phục. Hạnh Phúc theo dấu thanh điệu là 0+1 (là cân bằng âm dương, cho kết quả là 0+1=1 là kết quả tích cực). Hành Phục theo dấu thanh điệu là 1+0=1 (là cân bằng dương âm, cho kết quả là 1+0=1 là kết quả tích cực). Hành Phục có nghĩa đen là “làm lại như cũ” (phục hồi), quay lại sống tôn trọng thiên nhiên (như Cụ Sáu = Cụ Lâu = Cụ Lão=Tử Lão=Lão Tử từng nói), nghĩa bóng là Phục Thiện (theo dấu thanh điệu là 0+0=1 là kết quả tích cực). Điều Hành Phục để luôn có Hạnh Phúc, người nông dân Việt đã biết từ thời cổ đại. Chính họ nói: “ Hiền như Đất. Thật như Ruộng”. Cho nên ăn hoa màu được hạnh phúc rồi là họ lo ngay Hành Phục lại sức khỏe cho đất: Cày phơi ải để làm tiệt trùng ( làm “Tới Diệt”=Tiệt. Cũng như “Hố chôn xác Chết”=Huyệt, “Tới Chót”=Tót, “Tới Hết”=Tuyệt, Tót Vời=Tuyệt Vời, Vời=Vợi=Viễn), rồi bón phân hữu cơ trả lại các vi lượng cho đất. Đất nó “Hiền Thiệt!” nên đối xử với nó lại phải “Hiệt Thiền” . Hiệt là “Hồn Việt”=Hiệt. Chữ Hiệt 黠 là “chất xám”( chữ Đen=Hoẻn=Hắc 黑) và “lòng tốt” (chữ Tốt= Cốt= “Cốt Đạt”=Cát 吉). Từ “chất xám” ngày nay giới khoa học nông nghiệp gọi bằng từ đại diện là “biện pháp khoa học kỹ thuật”, còn từ “lòng tốt” thì phải chịu tiếng Việt, không lấy từ gì làm đại diện nổi. Thiền là “Thật Hiền”=Thiền. Vì đất “Hiền Thiệt!” nên đối xử với đất phải “Hiệt Thiền”, tức phải có ánh sáng KHKT và tấm lòng “Thật Hiền”=Thiền ( theo thanh điệu thì cũng cân bằng âm dương 0+1=1 là kết quả tích cực) đối với mọi việc đụng tới đất: canh tác, khai khoáng, thủy điện v.v. Cứ thế tích cực Phục Thiện nhiều thì sẽ đạt Phúc Thiền, 1+1=0, là cái Tâm trống rỗng, lúc đó đạt được tót đỉnh của Phúc.

QT Tơi-Rỡi đã cho ra một nôi khái niệm về “nói”: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn= =Vấn= Vân=Vân Vân=Ngân Nga=Thả=Thỏ Thẻ =Thưa=Thốt =Thuyết =Thoại =The Thot=Thi Thâm=Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn= =Ngỏ=Ngả =Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác=Cáo=Quảng=Giảng.

Ngỏ mang sắc thái lịch sự: Ngỏ=Thỏ Thẻ=Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”=Thuyết. “Thốt Noái”=Thoại. Nói nghĩa là Nêu ra bằng lời. Viết nghĩa là Nêu ra bằng chữ. Tiếng Việt đơn giản là cái do người “Kinh Nêu”=Kêu, và “Việt Nói”= “Việt sắc Viết”=Viết. Theo nôi khái niệm về “nói” ở trên mà hiểu thì Tiếng là “Tự người việt đưa ra lời từ Miệng”= “Tự một âm phát ra có ý nghĩa Riêng”= Tiếng. Tiếng của người Việt, gọi là Tiếng Việt. Ngôn Ngữ Việt là Nói Nói (của) Việt. Việt Ngữ là Việt Nói, tất cả các từ ghép trên đều đúng văn phạm Việt, và không có từ nào gọi là “từ Hán Việt”. Hán ngữ (còn gọi là tiếng Quan Thoại) thì “Shuo” nghĩa là nói. Từ “Shuo” không có trong nôi khái niệm về “nói” ở trên.

Con người là Âm/Dương=Đất/Trời= “Tất/Cả”= “Tạo/Hóa”=Ta. Cái do Đất làm và cái làm cho người ở Đất thì gọi là Tạo. Cái do Trời làm và cái làm cho vong ở trên Trời thì gọi là Hóa. Hai yếu tố âm dương trong Ta là hai cái Minh nên Ta là “Kẻ Mình”=Mình= “Minh Minh”=0+0=1= =“Một Kinh”=Mình. Hai cái Minh đó là Sáng và Dạ nên ta có tên là Sáng Dạ. Theo sinh lý học thì Sáng thuộc Dương, gọi là “Sáng Dương”=Sướng; Dạ thuộc Âm, gọi là “Dạ Âm”=Dâm. Về sinh lý thì Sướng và Dâm đều là sướng cả. Vì Ta là Minh, là Sáng nên bản chất nó là trong trẻo. Cái trong trẻo đó trong Ta dù là thuộc dương hay thuộc âm đều là khởi nguồn cho óc tưởng tượng: “Minh Dương”= Mường (mường tượng được ra những cái chưa từng có); “Minh Âm”= Mầm (mầm mộng được ra những cái chưa từng có).

Một từ của tiếng Việt cũng có cấu tạo bằng hai cái minh, thuộc dương và thuộc âm, y như cấu tạo của một con người. Vì bản chất là Sáng nên nó cũng là trong trẻo (“Giọng nói trong trẻo”, “Trong như tiếng hạc bay qua”). Hai nửa mang bản chất Sáng dương và Sáng âm đó của một từ chính là cái Tơi và cái Rỡi của từ. Cấu tạo của từ là Tơi-Rỡi (Cái Vắng Tơi cũng giá trị như là Tơi. Vắng Tơi không có nghĩa là không, mà nó vẫn là có, vì đây là khái niệm của ngôn ngữ, không phải là khái niệm vật chất: cái “lỗ trống” vẫn là có vì vẫn đếm được có bao nhiêu lỗ trống, không như vật chất thì lỗ trống là không có gì). Cấu trúc Tơi-Rỡi của từ là cấu trúc Dương-Âm theo cấu trúc của vũ trụ, vì Lời cũng chính là cái sáng của Trời cho (Trời=Ngời=Lời). “Tay của Lời”= “Tay Lời”= Tơi. “Ruột của Lời”= “Ruột Lời”= Rỡi. Trước kia, khi nghiên cứu tiếng Việt, người ta đứng trên nền của ngôn ngữ phương Tây mà người ta đã học để nghiên cứu, nên họ gọi Tơi là “phụ âm đầu” nhưng lại quên mất còn có cái “vắng phụ âm đầu” (Mô=Vô=0, Chăng=Chẳng=0, lướt từ đôi “Vô Chẳng”= Vắng); họ gọi Rỡi là “âm vận”. Lời là cái ý nghĩa nhờ “Lưỡi đưa tiếng từ miệng ra ngoài Trời”= Lời, nó trong trẻo bởi bản chất nó là sáng: Trời=Ngời=Lời. Tơi= “Tay của Lời” là Nòng thì như cái Nòng súng, còn Rỡi= “Ruột của Lời” là Nọc thì như viên đạn (cái Nọc của con ong hay của con rắn chính là viên đạn của nó vậy). Cấu trúc một từ là Tơi-Rỡi chính là cấu trúc Nòng-Nọc (bởi chữ ký âm thời tiền sử cổ xưa gọi là chữ Nòng-Nọc, mỗi chữ cái đều có nét ngoằn nghoèo như con nòng-nọc). Tiếng Hán “Khoa Đẩu” nghĩa là con nòng-nọc, về sau Hán thư dịch theo nghĩa mà gọi chữ Nòng Nọc là “Khoa Đẩu tự”. Con Nòng-Nọc là ấu trùng đang sống trong Nôi nước, từ Nòng-Nọc là một từ dính, nên có gạch nối ở giữa, và tuyệt đối không được đảo là nọc nòng, vì như vậy sẽ không còn hiểu là con gì nữa. Cái Tế của từ dính Nòng-Nọc chính là cái tế bào Nòi. Theo QT Nở thì Nòi tách đôi thành Nòng/Nọc. Nhưng Nòng-Nọc muốn “nở” thì trước hết nó phải dùng QT Vo mà vò cho rụng đuôi đi đã. Vậy là “Cắt N của nòng và N của Nọc”= “Cắt…Nọc”= Cóc (rất logic: nó đồng thời còn phải dùng cả QT Lướt). Cóc gắn bó với người nông dân trên ruộng từ thủa ban đầu của nền nông nghiệp trồng trọt cách nay hàng vạn năm. Con Cóc nó “Thật Hiền”= Thiền, đó là một tên khác của con Cóc, sau Thiền phiên thiết ra gọi là con Thiềm Thừ (Thiềm=Thêm là tên thêm, Thừ=Thứ=Chư, là cái tên thứ hai). Một cái Nòi thì theo QT Nở mà ra Nòng (1) và Nọc (0); một cái Cồi thì theo QT Nở mà ra Có (1) và Cóc(0), cặp đối 1/0=Có/Cóc = Cộc/Cái = Đực/Đẻ. Cóc=0, số Không là tuyệt đỉnh của trí tuệ, là cái vòng luân hồi. Tên con Cóc ám chỉ đúng như vậy: “Có Óc”= Cóc (“Con Cóc là cậu ông Trời”. “Thầy đồ Cóc”) . Lời là ý nghĩa của một Từ. Từ gồm Tơi-Rỡi, bản chất lời là trong trẻo do Tơi-Rỡi mang bản chất trong trẻo: Tơi thuộc Dương, nên có từ đôi “Tơi Dương”=Tường. Rỡi thuộc Âm nên có từ đôi “Rỡi Âm”=Râm(mát mẻ)=Rõ=Tỏ=Tường, do vậy ý nghĩa của Từ (tức Lời) là Tỏ Tường = Rõ Ràng=Rạng=Sáng, tức như bản chất nó là trong trẻo. (Tường=Ràng cũng giống như Đương=Đang, Đường=Đàng, Giường=Sàng). Lời là do Trời cho, đương nhiên Tơi-Rỡi cũng là do Trời cho: Tơi=Tống=Nòng=Nắng=Nường=Dương. Rỡi=Rốn=Nõn=Nọc=Nước=Nậm=Âm (nọc ong, nọc rắn đều là chất nước độc để tiêm vào thịt đối thủ). Kết cấu Dương-Âm là: Dương/Âm= Tơi/Rỡi = Nường/ Nõn = Nắng/Nước (là kết cấu của vũ trụ,là của Trời cho. Ở đất thì kết cấu phồn thực là ngược lại, là cặp Nõn/Nường, ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Một Tiếng gồm Tơi-Rỡi = Nắng-Nước thì nó trong trẻo là phải thôi. Tiếng=Thiêng=Thương=Trường=Đương(để mà đương đầu)= Đùng Đùng=Súng, thì đúng Tiếng=Từ=Lời là khẩu súng Trời cho (chữ Thương 搶 nghĩa là cây súng trường, rồi thương trường cũng là súng trường vậy, nên người ta nói “thương trường là chiến trường” ?, nói vậy chẳng qua là do giọng hiếu chiến, tỷ như “cuộc vận động trồng cây gây rừng” thì người ta còn tương lên báo là “chiến dịch trồng cây gây rừng”. Thương trường không phải là chiến trường, bởi trên thương trường chỉ có “súng xịt nước”, sẽ thấy tiếp sau). Viên đạn do nòng súng tống ra mới là cái để đạt mục đích, còn cây súng chỉ đứng tại chỗ. Tơi=Tời=Tải=Tống=Nòng=Nắng (phải dùng lửa mới đúc được nòng súng). Rỡi=Râm=Rốn=Nõn=Nọc=Nước (viên đạn này là bằng nước mà lại còn râm mát). Đúng là Trời cho cái Tiếng=Thiêng chỉ là một cây súng xịt nước (lễ hội xịt nước của người Lào và người Thái Lan). Trời cho tiếng Việt chứa hàm ý như vậy thì đúng là Trời muốn qua tiếng Việt mà dạy cho loài người phải biết đối thoại chứ không dùng bạo lực. Nhưng đối thoại thì vẫn có Tơi=Tường=Tướng (là “nói tướng lên” tức to tiếng, nói thẳng) và Rỡi=Râm (là “nói mát nói mẻ”, nhiều khi giọng còn chua cay). Dẫu sao thì vẫn chỉ là đối thoại chứ không dùng bạo lực. Ngôn từ Việt đã chỉ ra Tất Cả. 5000 năm trước mà thế giới biết học chữ Nòng-Nọc và tiếng Việt để hiểu được văn hiến của Văn Lang Lạc Việt thì thế giới đã đại đồng từ lâu rồi chứ còn ai sản xuất vũ khí làm gì . (Hiếu với Thiên hạ gọi là “Hiếu Thiên” = Hiến. Thời tiền sử chỉ có Văn Lang mới có văn hiến).

Đất/Trời=Tất/Cả=Tạo/Hóa=Ta. Người Kinh tự xưng “Ta” (ngôi Một) và tự xưng “Một Kinh” = Mình (ngôi Một), “Mình Hai” = ”Mình Hay” = Mày (ngôi Hai). Khẳng định ngôi hai là “Mày Chứ” = Mừ (Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái). Chứ=Chư=Thứ (là dòng thứ, con thứ, dòng hai, sau dòng đầu). Trong các dòng Thứ = dòng Chư (tức dòng hai) xếp thứ tự lại có một dòng “Hai Đầu” = Hầu. Đây chính là tước Hầu thời nhà Chu phong đất. Chư Hầu = =Thứ Hai. Các tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam chính là Rộng (rộng đất nhất), Hai, Ba, Tư, Năm. Vậy thời nhà Chu toàn dân nói tiếng Việt.

Đất/Trời=Tất/Cả=Ta. Đất và Trời (đều là thiên thể) xa nhau nhất mà cũng là gần nhau nhất (chưa thấy tốc độ nào nhanh hơn tốc độ ánh sáng, mà cái Sáng lại là do trời cho Ta). Chính Ta (con người) là cầu nối Đất và Trời (“đứng giữa đất trời”), hễ sáng là Trời Đất nối liền nhau ngay bằng chính “Ta Kia” = =Tia (sáng) chứ không phải bằng loài vật nào khác. Ngôn ngữ thì Tiếng chính là cái Sáng vì Tiếng=Từ=Tơi+Rỡi. Do “Ruột Thiêng” = Riêng của Ta, mà loài vật không thể có, Ta có cái độc đáo hơn loài vật là có cái “Ta Riêng” = Tiếng. Do Tiếng là cái Sáng (tiếng trong trẻo) nên Tơi và Rỡi cũng đều là cái Sáng. “Tơi Rỡi”=Tời=Tải, là nó tải cái Lời (ý nghĩa của tiếng) đi ra. “Rỡi Tơi”=Rời=Rạng=Sáng=Láng=Linh=Lìa=Ly=Lửa=Lả=Hỏa=Hồn. Kẻ Sống=Kẻ Sáng luôn có Hồn, nhưng Hồn không dính cứng ở cơ thể sống, mà linh hoạt, lúc đi ra là tải Lời (có khi Hồn còn đi lạc, phải hú Hồn về). Hồn còn chuyển tải cái Sáng sang người khác (Sáng=Sang=Hàng=Hướng=Hành, hàng dọc là hướng sang dọc, hàng ngang là hướng sang ngang; hành là thi hành; “Thấy Đi”=Thi; cái Sáng làm chức năng của nó bằng cái Thấy). Cụ Trưởng Cần chỉ dùng lời của Cụ (nghe được) và cái ý nghĩ của Cụ (ẩn kín) mà chữa được bệnh nan y cho người khác, bởi Cụ đã dùng cái Thấy.

“Tất Cả”=Ta, từ người Kinh xưng (ngôi Một), tức Ta là một người Kinh, là một con người. Từ đôi Người Ta có nghĩa là nhiều người (“Người ta nói thế” tức “Nhiều người nói thế”, đó là một cái thông điệp do nhiều người cùng phát như vậy, mà bản chất là cái Sáng của chúng nó nói ra, tức của “Hồn chúng Nó” = =Họ nói ra, tức “Họ nói thế”. Như vậy khi đã nói đến Họ của “Ta Gốc”=Tộc là nói Họ Tộc . “Người Kinh họ nói thế” bởi họ còn “nhớ như In” (tiếng Kinh thì In là từ chung cho Ăn hay Uống, ăn uống là cái bản năng của Con, hễ khát nhớ uống, hễ đói nhớ ăn, cho nên mới có thành ngữ “Nhớ như In”). Người “Kinh họ nói là In” = Kin (tiếng Tày-Thái thì Kin là từ chung chỉ ý ăn hay uống, đến nay vẫn dùng chung như vậy, kể cả bên Thái Lan). Vậy thì đúng là Kinh đã Gieo tiếng. Tiếng là do “Kinh Gieo” = Keo. Tiếng Tày-Thái gọi “Dân Kinh” là “Cần Keo”. Kinh là dòng Rồng (Lạc Long), Thái là dòng Tiên (Âu Cơ).Ta=Giả nên nho viết chữ Giả 者 gồm Tia Sáng nối Đất 土 (đại diện bằng cái sáng của Đất là “Thấy Ổ”= Thổ, chữ Thổ 土) với Trời 日 (đại diện bằng cái sáng của Trời là chữ Nhật日), đúng như Ta=Tất Cả.

Ta và Mình đều là ngôi Một, chỉ số đông thì dùng Chúng Ta hay chúng Mình, nhân Dân chúng Ta thì nói tắt là Dân Ta. Còn khi đứng riêng thì Dân hay Ta đều là chỉ một người, dùng từ đôi để nhấn ý cho trịnh trọng thì “Dân Ta” = Gia (chỉ một người), nhấn cho thêm trịnh trọng nữa thì “Gia Gia” = Giả, 0+0=1(chỉ một người). Do khẳng định Ta không phải là loài nào khác mà là “Ta Kia” = Tia, phản ánh đúng Ta là cái Tia sáng nối Trời với Đất. Do vậy chữ nho viết biểu ý cái tia sáng ( Tia=Phía=Phẩy) bằng một nét phẩy xiên từ phải sang trái (ý là mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (ya là từ trời xuống đất). Chữ Việt bộ mễ nhiều người cứ thắc mắc còn một gạch xiên trên đầu là ý gì. Đỗ Thành (blog Nhạn Nam Phi) đã giải thích đó là tia sáng, bộ phận của chữ Thái 采 nghĩa là ánh sáng (còn viết Thái 彩). Chữ Việt 粤 gồm chữ Thái 采, bọc bằng chữ Vuông 口=Vành Vạnh=Mảnh=Mình= “Một Kinh”, dưới có hình cái Cày. Cày là cái công cụ quan trọng thứ Hai sau bàn Tay của dân nông nghiệp lúa nước. Nếu Một là cái phát hiện cũ thì cái phát hiện thứ hai đương nhiên phải là Hay hơn (“Hai đánh Một không chột cũng què”). Cho nên cái công cụ “Kinh Hay” = Cày (tiếng Kinh gọi cái cày là Cày); cái công cụ “Thái Hay” = =Thay (tiếng Thái gọi cái cày là Thay, nó cũng đồng với từ Thay của tiếng Kinh, nghĩa là thay cho sức của bàn tay cuốc đất). Cái Hay là cái văn minh, vì nó mới hơn cái cũ là cái một. “Thấy Hay” = Thay, nên người Việt rất nhạy với cái mới, Thay đời xe máy, ô tô, điện thoại di động như Thay áo. Bởi cái Mới là Hay, nên có “Mới Hay” = May. Người Việt hễ Thấy Hay là “Thấy Hay” = Thay liền, là làm Mới Liền = Mô Đên. Ta=Giả, nên chữ Giả 者 nho viết biểu ý gồm tia sáng nối Đất 土(chữ Thổ 土. Ổ=Tổ=Thổ) với Trời 日(chữ Nhật 日), đúng như Ta = Tất Cả.

2. Con người là một tiểu vũ trụ

Người Việt khi bắt đầu khai thác bề mặt Trái Đất để làm lúa nước bằng những mảnh Ruộng=Vuông (cách nay vạn năm , như di tích hột lúa ở Hòa Bình VN và ở Hà Mẫu Độ, Triết Giang TQ), người Việt đã đứng trên mặt đất mà nhìn để hiểu rằng cái kết cấu Âm/Dương là Đất/ Trời = Tất/ Cả = Tạo /Hóa = Ta (= Ngã 我 = Ngộ 我). Để làm được nông nghiệp trồng trọt, Ta phải nghiên cứu thiên văn, chủ yếu bằng con mắt quan sát (ngày nay vẫn còn phải dùng kính viễn vọng). Quan sát bằng mắt nên cái bầu trời như cái Vòm Ủ, gọi là “Vòm Ủ”= Vũ (nghĩa là không gian). Sau nho viết chữ Vũ bằng bộ thủ “Mái Hiên”= Miên 宀và bộ thủ Ư 于 thành chữ Vũ 宇 (Ủ = Ở = Ư 于 = U =Vu 于 = Du 游 = Do 由 - sự Ủ cũng là một sự chuyển động như lên men vậy). Cái “Trời Ủ” = Trụ (nghĩa là thời gian - ấn định bằng mặt trời) viết bằng bộ thủ Miên 宀 và bộ thủ Do 由 thành chữ Trụ 宙. Đứng ở vị trí Vũ Trụ mà nhìn xuống thì kết cấu Dương/Âm là Cả/Tất = Còn/ Khuất = Càn /Khôn. Gọi là Càn /Khôn vì quan sát vũ trụ bằng mắt, thấy có những thiên thể thì mắt người nhìn thấy “Có luôn luôn và trong trạng thái chuyển động Tròn” = Còn= “Còn miên Man” = Càn. Có những thiên thể là “Không thể nhìn thấy toàn bộ được bằng Mắt” = Khuất = “Khuất luôn Luôn” = Khôn. Ghép lại, từ Càn Khôn dùng chỉ chung vũ trụ. Càn dùng riêng thì ám chỉ Mặt Trời (mắt thường nhìn thấy toàn bộ mặt trời và cái cảm giác chuyển động tròn của nó trong ngày và đêm). Khôn dùng riêng ám chỉ Trái Đất, con người đứng trên mặt đất nhưng không thể nhìn thấy toàn bộ Trái Đất (vì thời cổ đại chưa có tàu vũ trụ) nên vẫn coi Đất là Khuất. Chỉ vài từ gốc của tiếng Việt nêu trên, vẫn dùng nguyên vẹn trong tiếng Kinh ngày nay, đủ để chứng minh rằng: Âm Dương, Bát Quái, Kinh Dịch là của người Việt.

Đông Y cổ đại, Y học hiện đại, Khoa học nghiên cứu tiềm năng con người đều kết luận rằng con người là một vũ trụ thu nhỏ. Vậy mà kết luận trên lại hiển hiện tự nhiên trong ngôn từ Việt ở ngôn xưng của dân tộc Kinh: Dương / Âm = Còn / Khuất = Càn / Khôn = Trời / Đất = Tròn Vuông = Trọn Vẹn = Hoàn Toàn = Cả Tất. Đó là kết cấu theo vũ trụ, dương trước âm sau, dương sinh ra âm. Con người sinh ra ở Đất, do vậy kết cấu theo con người thì phải ngược lại, viết âm trước dương sau, “Sinh ra ở giữa Đất Trời”, bởi vậy người Việt gọi “thuyết Âm Dương”, Hán ngữ giữ nguyên kết cấu đó là Yin Yang. Kết cấu theo vũ trụ thì gọi là Trời Đất, mà kết cấu theo con người thì gọi là Đất Trời, và Đất Trời = Tất Cả. Tất Cả có nghĩa là vũ trụ, cái vũ trụ ấy cô đặc thành một con người, đó là “Tất Cả” = Ta. Ta là ngôn xưng của tiếng Kinh chỉ Mình = “Một Kinh”. Ta=Tui=Tôi=Tao= Cao (tiếng Vân Kiều)=Cau (tiếng Philippin) = =Coong(tiếng Khơ Me)= Cò (tiếng Thái) =Con=Qua=Cán 干 = Quan 官 = Quân 軍 = Quân 君,đều là ngôn xưng ngôi một. Một hướng phát triển khác của ngôn xưng Ta của người Kinh là: Ta=Nhà= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我 (tiếng Việt Đông).

Chứng minh vũ trụ đã cô đặc thành một con người chỉ cần dùng có bốn từ tiếng Kinh của ngôi xưng thứ nhất: (1) KẺ, là chỉ con người, (dùng que cứng kẻ một Kẻ – là tượng trưng tính dương hay đàn ông, kẻ hai Kẻ – – nối cách nhau là tượng trưng tính âm hay đàn bà), từ Kẻ về sau phiên thiết thành hai âm tiết là Cơ Thể, trả lại như cũ, tức lướt thì “Cơ Thể”= Kẻ. (2) KINH = “Kẻ Minh”, Minh nghĩa là sáng: Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh. (3) MÌNH = “Một Kinh”, một Kinh tức một Kẻ thuộc dân tộc Kinh, thành từ tự xưng là “Một Kinh” = Mình. Trong một kẻ, là một con người, có hai cái Sáng (trí tuệ) , tức hai cái Minh, cân bằng nhau, là Minh dương và Minh âm, “Cân bằng hai cái Minh” = Kinh. Vì có hai Minh nên “Minh Minh” = Mình, 0+0=1, tự xưng là Mình. (4) TA = “Tất Cả”. Vũ trụ chỉ có dương và âm mà vũ trụ sinh ra tất cả. Trong con người có âm và dương nên con người là tất cả, được thu nhỏ lại, “Tất Cả”= Ta, tự xưng là Ta (Ta=Ngã=Ngộ). Hai từ tự xưng ghép lại thành từ đôi thì cũng như hai cái sáng ghép lại thì thành tố chất càng sáng: Mình Ta, nói lái là Mà Tinh; Ta Mình, nói lái là Tinh Mà. Nhưng trong nội tại nó luôn có mâu thuẫn: Mình Ta, nói lái là Tà/Minh; Ta Mình, nói lái là Minh/Tà. Giống như tương tác trong vũ trụ cho ra những kết quả Minh và Tà. Tương tác trong cơ thể cũng cho ra những kết quả Minh và Tà.

Hán thư viết rằng: “Cái tên Việt và Bách Việt xuất hiện vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc”. Nhưng thời Xuân Thu có 7 nước, đến thời Chiến Quốc đã thành 140 nước. Nước nào cũng có Kinh Đô riêng. Mà Kinh Đô tức là nơi người Kinh “Đông Hộ”. “Đông Hộ” = Đô. Chữ Đô 都, nghĩa biểu ý của nó là chữ: Ta 者(ở thành) Ấp 阝. Chữ Ta 者 viết biểu ý là một Tia sáng (nét Tia=Phía=Phẩy từ trên xuống dưới, hơi xiên từ phải sang trái, Phải ý là trời, Trái ý là trái đất; Tia ấy nối Đất – đại diện bằng cái sáng của đất là chữ Thổ 土, với Trời – đại diện bằng cái sáng của trời là chữ Nhật 日, thành chữ Ta=Giả 者). Ta (= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我, là những từ có sau, đều dùng để xưng “Tôi”). Ấp thì phải là “Đông Hộ”. Họ là nhiều người, “Nghe họ nói thế” tức là “Nghe nhiều người nói thế”. “Họ chung một Ổ”= Hộ (dù những người ấy không nhất thiết phải là thân thuộc của nhau). Việt mà chỉ “thời Xuân Thu mới xuất hiện”(?) thì người Kinh có từ khi nào? Tra về người thì tư liệu TQ nói: Kinh là dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc của TQ, trong lịch sử họ từ VN di cư sang vài hòn đảo thuộc Quảng Tây TQ vào thời nhà Lê, thế kỷ 17. Tư liệu VN nói: Kinh là dân tộc đa số của VN (Từ Điển Tiếng Việt nxb KHXH 1977, trang 443). Kinh là người Kinh chỉ đơn giản vậy thôi sao? Thời cổ đại cách nay 5000 năm, đã có vua thì vua nào dân nấy. Vua là Kinh Dương Vương thì dân là Dân của Kinh, hay gọi là Dân Kinh. Nhưng “Dân Kinh” = Dinh, dân ấy là dinh lũy bền vững cho vua Kinh Dương Vương. Vua là Khan thì dân là Dân của Khan, hay gọi là Dân Hãn. Nhưng “Dân Hãn” = Dãn = Dấn = Lấn = “Lấn Trước” = Lược, vì họ sống du mục, (ngô ngoài đồng của dân trồng trọt mới ra bắp non thì cả bầy ngựa của dân du mục đã ào đến gặm sạch), từ đó mà có từ xâm lấn, xâm lược. Thời Kinh Dương Vương, quan hệ xã hội là “Kinh với Dân” = Cân = Công = Đồng = Đẳng = Bằng = Bình = “Cân Bình” = Kinh (còn “Dân với Kinh” = Dinh = Dính, là dinh lũy bền vững). Về biểu ý của chữ nho thì “Cân Bình” = Kinh, nên chữ Kinh 京 viết rất cân đối theo chiều bổ dọc đôi, nó gồm ba phần là Đầu 亠, Mình 口, và Túc 小. Đầu là cái chui ra trước tiên khi con người ra đời, nó là cái Trước (về thời gian), nó có Óc ở trong Ốc sọ, nên còn gọi là “Trước Ốc” = Trốc, che ngoài Trốc có Toóc (như “vỏ ngoài của thân cây lúa” = “Toóc”, tiếng Huế). “Toóc che cho ốc sọ và Óc” = Tóc. Mình 口, viết bằng Vuông 口, tiếng Việt Đông đọc Vuông 口 là Mảnh, Mảnh=Mình. Vuông=Văn, “Văn bằng” hay “Mảnh bằng” cũng thế cả. “Mảnh thân này có sá chi” hay “Mình này có sá chi” cũng thế cả. Câu đầu trong sách dạy nhân thể học là “Cơ thể người ta gồm có ba phần: Đầu 亠, Mình 口, và Chân Tay 小”. Chân Tay có từ chung là Túc (cũng như Ăn Uống có từ chung là In = Ẩm). Túc đã theo QT Nở mà nở ra Tay và Tấn. Đứng Tấn là một thế võ đứng không động, tức “Chỉ Tấn” = Chân. Chỉ là “Chẳng Đi” = Chỉ止. Đứng “Chẳng Đi” đã cho ra từ viết bằng chữ nho là Đình Chỉ, vì người Kinh họ nói như thế. “Đứng của tiếng Kinh”= Đình 停 (dấu = ở đây thay cho “còn gọi là”). Túc=Tiểu, nên trong chữ Kinh 京 ý Túc được đại diện bằng chữ Tiểu 小, vì thực tế Tay Chân là cái nhỏ của cơ thể (Nick không có tay chân mà còn làm nên cái vĩ đại cho thế giới thấy). Mình=Mảnh=Vành Vạnh=Vuông=Văn. Chữ Kinh chỉ rõ là một cơ thể con người, đó là một Kẻ. Kẻ ấy có hai cái Minh trong trí tuệ, nên gọi là “Kẻ Minh” = =Kinh. Nó xưng là “Một Kinh”= Mình, vì trong mình nó có hai cái Minh, “Minh Minh” = Mình, 0+0=1. Minh ấy là Sáng, do Sáng = Láng (=Lượng 亮) =Linh, “Kẻ Linh” = Kinh. Hai cái Minh ấy là Minh dương và Minh âm. Minh dương là Sáng Lâu, viết biểu ý bằng cái ánh sáng gọi là Nhật 日 là của Trời và cái ánh sáng gọi là Nguyệt 月 là của Trăng (Trời đã cho ra những cái tên chỉ ánh sáng của Trời là: Trời=Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật, nó là cái còn mãi mãi), thành chữ Minh 明. Minh dương là Sáng Lâu thì lái ngược lại Minh âm là Sâu Láng = Mầu Linh (Sâu=Mầu, Láng=Linh), “Mầu và Linh” = Minh 冥, vì là âm, nên viết phải lái ngược là “Mịch 冖 Viết 曰 Lâu 六”= “Mầu Viết Linh”. Viết 曰 = Van=Vân Vân = Và = Na = Nói = Nài. Có là người Việt thì mới gọi Nói là Viết, khi lướt hai từ “Việt Nói” mà không lấy rỡi của từ sau, chỉ lấy thanh điệu của từ sau (gọi là Lướt Lủn) thì có “Việt Nói” = “Việt sắc (dấu sắc của Nói) là Viết” = Viết. Viết nghĩa là “tiếng nói chung của nhiều người Việt”, vì “Việt Việt” = Viết, 0+0=1. (Từ điển của Viện ngôn ngữ giải thích từ Việt 越 là “từ gốc Hán”, trang 476).

(Tương tự như “Giết Giết” = Diệt, 1+1=0. Diệt 滅 nghĩa là “Giết hết, làm cho không còn tồn tạị” như Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng , Viện Ngôn Ngữ học, NXB KHXH HN 1991 giải thích, trang 100. Giải thích như LM: Diệt nghĩa là Giết Sạch, do lướt lủn, tức chỉ lấy dấu nặng của từ sau nên “Giết Sạch”= “Giết nặng Diệt”= Diệt (như là đánh vần), kết quả sau cùng của Giết và Diệt đều là -Ết = Chết = Hết. Giết thì chưa chắc đã chết hết, nhưng giết nặng tay thành ra Diệt thì chết sạch sành sanh. Vậy mà từ điển trên xếp chữ Diệt 滅 là “từ gốc Hán” (vì nhìn thấy có viết bằng chữ nho), lại không thấy bố mẹ đẻ ra từ Diệt là từ Giết ( Giết của Hán ngữ là “Sha 殺”, Diệt của Hán ngữ là “Mie 滅”, Sha với Mie có logic gì với nhau bằng Giết với Diệt không? Kể cả đúng với toán học nhị phân: Giết Giết = Diệt, 1+1=0, là không còn một mống).

Nôm Na là Vuông 口 Nam 南 (= 喃)Nói = Vuông Lam Nói = Văn Lang Nói. Pạc Và là tiếng Việt Đông. Pạc Và = Bạch Nói ( Dân tộc Bạch từng rút lui về nam lập nước Đại Lý tồn tại 400 năm ở Vân Nam, đất xưa Văn Lang, sau bị Nguyên diệt. Người Bạch có phải là hậu duệ của Bách Việt không? Có học giả TQ nghiên cứu về ngôn ngữ nói: nhiều từ gốc của người Bạch giống từ gốc của dân vùng đồng lầy Vân Mộng , bắc Động Đình Hồ. Có người Bạch ở Đại Lý thì nói: dân tộc tôi không có chữ viết - hay đã bị mất? - nên chúng tôi bị mất mát rất nhiều bản sắc). Sáng=Láng=Lượng=Linh=Minh, cái “Kẻ Minh”= Kinh ấy gọi là Kinh ( chú giải của Thuyết Văn Giải Tự: “ Kinh là cái tuyệt cao của con người”- Đoạn Ngọc Tài 段 玉 裁, đời Thanh. Tuyệt cao đây không phải là cao mấy mét hay cao chức cao quyền, tuyệt cao đây là cái trí tuệ, thì đích thị nó là “Cao Minh” = “Cân Minh” = “Kẻ Minh”= Kinh. Người Kinh tự xưng là “Một Kinh”= Mình, tự gọi cơ thể mình là “Một Sáng”= Mạng, và “Mạng Sống”= Mống. VD “Nhà mày đẻ được mấy Mống rồi?”, “ Diệt cái thói xâm lược cho nó chết sạch không còn một Mống”. Trong Từ Điển Tiếng Việt đã dẫn, không có từ Mống = ”Mạng Sống” này, nhưng có từ Mống cụt, được giải thích là Mống cầu vồng cụt , VD “Mống vàng thì nắng, Mống trắng thì mưa”, trang 519, đủ thấy Từ Điển đã không biết rằng nông dân cổ đại đã lướt cái “Móng cầu Vồng”= Mống, để có từ Mống ở trường hợp này, cũng như khi hột lúa bị ướt thì nhú cái mầm sống của nó ra, nông dân cổ đại đã lướt “Mầm Sống”= Mộng, cho trường hợp đó, gọi là lúa lên mộng.

Người Kinh khi thưa thì nói Dạ! “Tôi Dạ!”= Tạ, “Tôi Rõ!”= Tỏ, “Dạ Rõ” = “Dạ Tỏ” nên Dạ ấy nghĩa là Sáng. Con người có hai cái Sáng vì vậy gọi là Sáng Dạ, chia ra Sáng đại diện sáng dương, Dạ đại diện sáng âm, nên sau nho lấy chữ Dạ đại diện cho đêm. Sáng và “Trong Sạch” = Trạch. Đầm Dạ Trạch là đầm vừa sáng vừa trong sạch. Bức hoành ở chùa Ông Bổn ( hội quán Phúc Kiến tại tp HCM) có viết bốn chữ từ phải sang trái (ý là người xưa dặn dò) là Trạch Cập Lân Phong 澤 及 鄰 封, nghĩa là đem (tấm lòng) trong sạch mà cập bến của vùng láng giềng gần. Chữ “Láng giềng Gần” = Lân 鄰. Chữ “Phát cho đất trong một vùng=Vòng” = Phong (Chữ Phong 封 gồm hai bộ Thổ 土 , ý là được nhiều đất, và bộ Thốn 寸 , ý là có đo đạc đàng hoàng, chữ Phong 封 dùng làm đại diện cho Vùng, nên còn biến ý là “vòng kín, niêm phong”. Phong là Vùng nên mỗi Phong có tục lệ riêng (“đất lề quê thói”) gọi là Phong Tục, về sau họ chỉ căn cứ vào cái âm “phong” nên dùng chữ Phong 風 nghĩa là gió để ghép từ Phong Tục, nghĩa là “tục của gió”? sai cả biểu ý . Người dương sẽ đọc từ trái sang phải là Phong Lân Cập Trạch, nghĩa là “(đến ở) vùng láng giềng gần (thì nguyện) theo kịp cái sáng”, nói lên tâm nguyện đến ở vùng láng giềng gần thì phải tích cực hướng tới cái sáng. Người Kinh tự xưng là Mình, cũng tự xưng là Ta. Ở câu ca dao “Mình về có nhớ Ta chăng. Ta về Ta nhớ hàm răng mình cười” thì biết ngay là có hai người đang nói với nhau. “Ta với Mình tuy hai mà một. Mình với Ta tuy một mà hai”, bởi mỗi người đều có ở trong Mình hai cái Minh. Ở trong Mình có cái “Ta Âm”= Tâm. Tâm Linh nghĩa là cái Tâm ấy nó cũng sáng. Ở trong Mình có cái “Ta Dương”= Tướng (Tướng=Tượng=Tạng=Dáng). Tướng là sự thể hiện trí tuệ của người trên nét mặt người đó, tức trên “Mặt Tao”= Mạo, nên còn gọi là Tướng Mạo. VD: “Anh coi giùm cái Tướng cho tôi với” hay “Anh coi giùm cho tôi cái Tướng Mạo”. Con người là Sáng Dạ, cho nên nó Sáng Giá, vì nhấn ý Dạ là “Dạ Dạ”= Giá, 0+0=1. Mà nhấn ý Sáng thì “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Sáng Giá là Sang (0) và có Giá (1) cũng là đủ cân bằng âm dương như 0 và 1. Tại sao người Kinh đã tự xưng là “Một Kinh”= Mình rồi lại còn tự xưng là Ta? Bởi người Kinh đã có nền Đông Y cổ đại, bao gồm cả thuật châm cứu, từ thời Thần Nông (Kênh Lạch = Kinh Lạc). Nền y học ấy cho rằng con người là một tiểu vũ trụ, tức con người là Tất Cả đuợc gói gọn thu nhỏ lại: “Tất Cả”=Ta (= Nhà = Ngã 我 = Gia 家 = Giả 者, là những từ xuất hiện sau).

Sự sống nhờ Nước và Không Khí. Cái NÔI khái niệm bản chất Trong Sáng = Trong Suốt của Nước (H2 O) và Không Khí chủ yếu là dưỡng khí (O 2) là: Nước=Nuột (nuột nà)=Suốt=Sáng=Sóng=Trong=Thong (thong dong) = Thấu = Thanh = Thông = =Không=Khí=Khuổi=Huổi=Hơi. Riêng Nước còn có thể sờ thấy được, Không Khí thì không thể. Nhìn vào H2O thấy ngay Nước có hai cái minh là H2 không sờ thấy được, cũng như trong dưỡng khí cũng có hai cái minh và đều không sờ thấy được, là O2. Vậy bản chất hai cái Minh trong Ta và trong Nước hay trong Không Khí là như nhau, làm ô nhiễm Nước hay Không Khí thì Ta cũng chết. Ngôn từ Việt đã chỉ rõ Tất Cả. Vậy mà hai cái Minh cân bằng nhau trong Mình lại là tên của hai tộc người là Kinh và Thái, con cháu của Rồng và Tiên (của Lạc Long Quân và Âu Cơ). “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh. Kinh tự xưng là Ta (ngôi Một). “Ta sinh ra Hai”= “Ta sinh ra Hay”= Tày (đó là dòng thứ đầu). Ta lại sinh ra dòng “Thứ Hai”= Thái. Ta sinh ra dòng “Thứ Ba”= Tha. (Thường dùng từ “tha nhân”. Hán ngữ dùng chữ Tha chỉ ngôi thứ ba, phát âm chính xác là “tha”). Xưng Ta là ngôi Một thì chính trong Ta có hai cái sáng là “Minh Sáng”= Mạng. Ta là ngôi Một thì chính Ta đã sinh ra cái “Mạng Hai”= “Mạng Hay”= Mày; khẳng định thì nói Ta đã sinh ra “Mày Chứ!”= Mừ. Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái. Vậy Tày-Thái là dòng Chứ=Chư=Thứ, so với Kinh là dòng “Kinh Ả”= Cả. Thủa tiền sử là thời mẫu hệ, Ả nghĩa là người đàn bà, tiếng Mường và tiếng bắc Trung Bộ vẫn gọi chị là Ả. (Tiếng Mường có Ả-Ún là Chị-Em, Eng-Ún là Anh-Em. Những từ trên đã QT Nở mà nở sinh đôi từ cái tế bào O, ở giữa từ Nòi của NÔI, O tiếng Trung Bộ nghĩa là cô gái “Ơi O chèo đò trên dòng sông Hương”, O nở ra Ả(1) / Ún (0) và đồng thời nở ra Anh(1)/Em(0) là hai cặp đối sinh đôi). Cái tên Kinh nghĩa là sáng: Kinh = Bình Minh. Cái tên Thái cũng nghĩa là sáng: vd câu “Hết thời bĩ cực đến ngày thái lai”. Nếu đọc báo miền Nam trước 1975 ắt gặp câu “Việt Nam và Thái Lan là hai dân tộc anh em ruột thịt”. Kinh và Thái là có trước rồi mới sinh ra Việt là con của Rồng Tiên. Chữ Việt 粤 bộ mễ đã chỉ rõ như vậy. Chữ Việt 粤 gồm bộ Vuông 口= Vành Vạnh = =Mảnh = Mình 口 = Kinh và bộ Thái 采, dưới có cái Cày. Chữ Thái 采 nghĩa là sáng, gồm Tia=Phía=Phẩy là nét phẩy xiên phải sang trái (mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (từ trời xuống đất), dưới là bộ Mễ 米, chính là các tia mặt trời trên trống đồng, mặt trời được tôn làm mẹ của dân Lửa là dân trống đồng, chính là Mẹ (Kinh)= Mế (Tày)= Mè (Lào)= Mệ (Huế)= Mễ 米, nho cũng dùng chữ Mễ 米 này ám chỉ Gạo (Kinh)= Khao (Thái) của dân lúa nước, vì mẹ là bầu sữa, là miệng nhai cơm sún cho con sơ sinh ( “Sẻ nhỏ giọt cho Ún” = Sún= Bún = Bột = Búng. Ca dao: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”). Bản thân thiên thể Mặt Trời cũng là hai cái sáng, gọi là Dương Sáng, tiếng các sắc tộc ở Tây Nguyên gọi là “Dương Sáng”= Giàng. Hán ngữ dịch ý Dương Sáng , đảo là Sáng Dương = Thái Dương, chỉ mặt trời. Ngày nay khai thác năng lượng mặt trời thì gọi là Thái Dương Năng. Nhưng Năng là cái tế bào của NÔI Việt nên tế bào Năng QT Nở mà thành Nắng (1) / Nước (0). Lưỡng Quảng xưa còn có tên là Lưỡng Việt, nói thứ ngôn ngữ gọi là Việt ngữ 粤 语 (tiếng Việt Đông, tiếng Quảng Đông, tiếng Canton), khác với tiếng Quan Thoại (tiếng Mandarin - do phiên âm chữ Mãn Thanh). Tiếng Quảng Đông , người Quảng Đông gọi là Pạc Và tức Bạch Nói (Bạch Thoại). Nhưng Bạch thì có nhiều lắm, còn gọi là bách tính tức trăm họ, “Bạch Bạch”= Bách, 0+0=1, nên Bạch Thoại cũng chỉ là một trong những ngôn ngữ hình thành do diễn biến của ngôn ngữ Bách Việt.

3. Định nghĩa người Kinh

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là của người Việt. Âm Dương là từ ghép xuôi dùng để nói về thế giới con người trên mặt đất, (“Con người đứng giữa Đất Trời”- có đất thì mới có chỗ đứng- khi nói ngang ngược thì “Vốn đã sinh ra trong Trời Đất” – ý là từ trên trời giáng thế). Nếu là nói về vũ trụ thì ghép là Dương/ Âm = Càn/ Khôn = Cả/ Tất = Còn/ Khuất = Trời/ Đất = Tròn/ Vuông = Trọn/Vẹn = Hoàn /Toàn. Con người sinh ra trên đất, nên ghép xuôi Âm/Dương = Tất/ Cả= Tạo/Hóa. Lướt thì “Tất Cả”=Ta hay “Tạo Hóa”=Ta. Người Kinh tự xưng là Ta (ý nói là đã gói gọn toàn bộ vũ trụ trong Mình). Cái Ta ấy là “Một Kinh”= Mình. Cái Ta ấy có “Ta Dương”= Tướng thì Sáng Lâu, và có cái “Ta Âm”= Tâm thì Sâu Láng. Cái Sáng Lâu là ánh sáng gọi là Nhật 日 của Trời và ánh sáng gọi là Nguyệt 月 của Trăng, ghép thành chữ Minh 明 dương. Cái Sâu Láng = “Mầu Linh”= Minh âm, viết bằng chữ lái ngược Mịch 冖 Và 曰 Lâu 六 (lái là Mầu Và Linh) thành chữ Minh 冥 âm. Hai cái Minh tức hai cái Sáng. Cái “Sáng Dương” = Sướng (là cái trí hanh thông). Cái “ Sáng Âm” = Sấm (là cái trí tuệ tiên tri). Sấm=Sới, Sới võ là nơi đấu võ bằng trí tuệ. Cái Ta ấy là “Ta Một”= Tốt (“Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa). Một Kinh = Một Cây = One Kind = O.K. Kinh Dương Vương là Tổ của Bách Việt. “Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống” ( trích Ngọc Phả Hùng Vương, lưu tại đền Hùng, Phú Thọ). Ta một, là Kinh Dương Vương thì phải đẻ ra “Thành ta Hai”= Thái. “Ta Hai”= “Ta Hay”= =Tày. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta giống cả tâm lẫn Tướng”= Mường. “Giống Kinh Dương Vương đẻ ra dòng Tao”= =Dao. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta rất Giống”= Mông. Vân vân và vân vân. Còn Bé thì Bú, Bú hết rồi thì ăn Bột, rồi mới biết Bò, rồi mới biết Bước. Lớn lên mới có thể Bước=Vược=Vượt. Kinh=Canh=Oanh. Vượt của dân canh Lửa = =“Vượt của dân oanh Liệt” = Việt (“Con hơn cha là nhà có phúc”

4. Người Kinh và chữ nho Kinh 京

Chữ nho, còn gọi là chữ vuông, là loại chữ biểu ý của người Việt, viết gom các ký tự tượng hình và tượng thanh vào trong một ô vuông mường tượng (mường tượng là hình dung ra cái vô hình, “Tướng Tướng”=Tượng,1+1=0; “Mắt nhìn thấy nội dung thể hiện qua Tướng”= Mường), tức là cho các ký tự “Về Ổ”= Vô. Và “Vô cái ô vuông mường tượng như là In”= Vin. Để vin vào biểu ý đó mà hiểu nghĩa chữ. Cụm từ “vuông Chữ Nho nhỏ” ấy đã bị QT Vo làm vò rụng mất đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” còn lại cái lõi là Chữ Nho. Chữ=Trữ 貯 =Tự 字 =Tự 嗣, một Tự 字 nghĩa là nối dòng văn hóa, một Tự 嗣 nghĩa là nối dòng huyết thống. Kinh nghĩa là “Cái đôi Minh”= Kinh, “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh, đó là “Kẻ Minh”= Kinh, là cơ thể một con người, gồm Đầu 亠 Mình 口 và Chân Tay 小, thành chữ Kinh 京. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh= “Mảnh của kẻ Minh”= Mình. Tiếng Việt Đông đọc chữ Văn 文 là Mảnh. Mảnh lại có nghĩa là một mình, “Ăn Mảnh” là ăn một mình không cho ai biết, VD: “Trình Văn Bằng làm gì, còn phải căn cứ vào năng lực thực tế chứ vin gì vào Mảnh Bằng”. Ấy vậy mà các vị hàn lâm cứ giải thích trong các Từ Điển rằng từ Văn 文 là một “từ gốc Hán”, là “từ Hán Việt”. Chẳng khác gì “Gắp (cắp) của mình bỏ sang tay người” hay là “Nối dáo cho xâm lăng văn hóa”. Cái Lõi văn hóa của một dân tộc không phải là cái “Ruột Rỗng”= Rống (“thùng rỗng kêu to”) mà là cái “Ruột Đặc”= Rặc. Xưa nay bọn ngoại xâm là bọn muốn diệt cái Rặc của một dân tộc, bọn ấy gọi là bọn “Diệt của kẻ khác cái Rặc” = Giặc. Hãy nghe câu thơ “phồn thực” của Hồ Xuân Hương: “Cọc nhổ đi rồi Lỗ bỏ không”. Và hãy lướt “Kẻ Rặc”= là cái gì, với “Lõi của giống nòi là cái nõn viết bằng chữ Nộn”= là cái gì. Lõi là cái Nõn, còn Cặc=Cương=Nường, là cặp sinh thực khí: Nõn/Nường = Âm/Dương (ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Chữ ký âm xưa là chữ Nòng/Nọc = Dương/Âm. Dùng cấu trúc theo vũ trụ là Dương/Âm, ghép ngược cấu trúc theo mặt đất là Âm/Dương, ghép theo cấu trúc vũ trụ vì chữ là do Trời cho (Hán sử gọi là Thiên Thư). Tùy tiện giải thích ngôn từ Việt thành “từ Hán Việt” có người cho rằng là để cho nó “sang”. Lại không thấy người Kinh thì mới là “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Và cái “Sáng Âm”= Sấm ( trí tuệ tiên tri, tiềm năng con người) của người Kinh mới là đem lại được bình an cho Đất Trời = Tất Cả (Cả=Còn=Tròn=Trời=Ngời=Người). Cái Ngời Ta = Sáng Tất Cả. Nâng cao dân trí mới là cái quan trọng nhất chứ không phải là đua nhau khoe cái Mảnh Bằng.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, Giáo sư Cao Xuân Hạo trong cuốn sách “Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt” của ông có nêu: Cốt lõi của cú pháp tiếng Việt là Đề và Thuyết.

Phân tích bốn từ Tiếng - Văn - Người - Việt:

(1).Tiếng = Miệng = Miếng = Mẩu= Khẩu 口 = Mầu 妙 = Trầu = Giầu = Diệu 妙, nôi khái niệm này gói trọn cái nội dung “ăn nói” (Tục ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, có lẽ đã có cách nay 5000 năm, khi người Việt có tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Tứ đối Mun/Minh, Mun = Hun = Hôn 昏 = Hoen Hoẻn = Hắc 黑, em hôn anh một cái là em đã hoen một vết son lên má anh, son Hàn Quốc bây giờ còn có màu thâm, Đen = Hoen = “Hoen Tuyền”= Huyền 玄, “Răng đen nhưng nhức hạt huyền”). Cốt chuyện thì rất Mầu vì là chuyện cổ tích (như “Thị Mầu lên chùa”), và lời kể thì rất duyên, Chuyện = Duyên 緣 = Diệu 妙 = Điệu 窕, đó là cách biểu diễn văn học.

(2,3,4).Vuông=Văn=Nhắn=Nhiệt=Nguyệt=Ngời=Người. Người Việt làm Ruộng (Vuông) , ở xứ nóng (Nhiệt), là cái Sáng (Ngời) do Trời cho (Trời=Ngời). Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh = Một Mình = Một Manh = Mảnh = Vành Vạnh = =Vuông = Văn = Nhắn = =Nhân = Dân = Cân = Canh = Kinh: Người Việt bắt đầu từ người Kinh. Ký ức của Nhân Dân từ vạn năm trước là cái Sáng = Sống =Sinh Động như cái Nhân của hột giống luôn Canh cánh trong lòng Nhắn (Nhắn=Gắn=Gen) lại cho các thế hệ sau tìm và chắp lại cho đủ cái Minh của người Kinh.

Tư duy con người đã từ Phân Tích (thời chữ ký âm Nòng Nọc) đi đến Tổng Hợp (thời chữ Vuông biểu ý: Chứa = Chữ = Trữ 貯 = =Tự 字 = Tự 嗣, trong đó Chứa=Chữ=Tự 字 là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣 là nối dòng huyết thống, cái Gen chính là điểm Tựa để di truyền nòi giống (có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc, tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né!” nghĩa là “Nó-Na Ná-Giống Đấy Nhé!”). Phân Tích đến Tổng Hợp là hết một vòng. Lại tiếp đến vòng mới bắt đầu bằng Phân Tích (chữ quốc ngữ bằng mẫu tự Latin, lịch sử lặp lại ở đỉnh cao hơn). Như ngày nay con cháu người Kinh (người Sáng), người Choang, người Thái, người Tày, người Mường, người Mông v.v. và v.v, đều là hậu duệ của Bách Việt, đang Phân Tích các ứng dụng của Âm Dương Ngũ Hành đến Kinh Dịch rồi Tổng Hợp để “Thấu Lấy”= Thấy được cái Minh của Tổ Tiên mình.

5. Kinh và Dịch

Kinh Dịch (Hán ngữ viết là Dịch Kinh), theo giải thích chung đơn giản nhất thì Kinh nghĩa là cuốn sách, Dịch nghĩa là biến đổi, như vậy viết là Kinh Dịch hay Dịch Kinh đều đúng cả vì là viết tắt tên đề của tác phẩm. Kinh Dịch là: Cuốn Sách (mô tả về sự) Biến Đổi. Dịch Kinh là: Biến Đổi (được mô tả trong ) Cuốn Sách.

Chữ KINH

Hán thư [ http://zh.wikipedia.org/wiki/...] viết rằng cổ đại chỉ gọi là Dịch (cũng như Thi Kinh chỉ gọi là Thi). Đời sau mới thêm chữ Kinh vào với hai hàm ý:

1/Kinh 經 để chỉ cái nghĩa nó là cuốn sách. Chữ Kinh 經 này là mượn chữ Kinh 經 vốn để chỉ sợi dọc của Thếp vải dệt (sợi ngang là Vĩ 緯, do con Thoi đưa qua đưa lại). Điều này logic, vì cuốn sách thì nội dung của nó kéo dài nhiều Tệp. Với lại xưa, sau thời viết chữ trên thẻ tre thì đến thời viết chữ trên vải và giấy (như trên trống đồng Đông Sơn có hình hai người đang cầm chày dã vỏ cây Dó là nguyên liệu Giấy và hình một người đang đọc tờ sớ căng ra từ ống quyển). Dó=Giấy=Dải=Vải đều là chất liệu từ sợi xenlulo. Dệt=Kết=Cặp=Chắp=Chức 織 là nói kỹ thuật của “Cỗ máy dệt Vải”=Cải (từ tơ làm thành tấm)=Cửi của “nghề Canh cửi” của dân Canh = dân Kinh. Từ Kinh 經 và từ Vĩ 緯 sau dùng trong từ Kinh tuyến (là đường dọc), Vĩ tuyến (là đường ngang). Các nhà hàn lâm VN ngày nay quen dùng quan thoại mà quên mất dân thoại nên giải thích Kinh Tuyến, Vĩ Tuyến là những từ gốc Hán, gọi là từ Hán Việt, là những từ khoa học kỹ thuật cao siêu. Thực ra nó chẳng có gì cao siêu, đơn giản là những từ mà nông dân người Kinh (Canh) cổ đại trồng lúa và nuôi tăm dệt tơ đặt ra mà thôi. Sợi Kinh vì nó trải dài trên khung cửi, giống như dòng Kinh trải dài trên cánh đồng. Sợi Vĩ vì nó nằm vị trí ngang như Vi con cá nằm ngang hai bên mình dọc của nó. Những sợi Kinh căng dài trên khung như con thuyền. Những sợi Vĩ cứ đưa ngang càng lúc càng nhiều sợi, đẩy thếp vải đã hoàn thành xếp lại càng lúc càng đầy lên như con “Thuyền vải đổ xuống thành Xếp”=Thếp. Sợi ngang như Vi cá đẩy Thếp vải. Cá dùng cái công cụ ngang thân mình nó làmVi=Vây=Đẩy=Chẩy=Chèo, đưa thân mình nó đi. Kinh và Lạch trên đồng lúa nước được mượn âm mà chỉ Kinh và Mạch. Cái “Máu đi như nước đi trong con Lạch”= Mạch, là cái Mạch.

2/ Kinh 京 để chỉ ý kính trọng, và cổ đại dùng chữ Kinh 京 để ghép với Dịch Kinh [ zidian.eduu.com/detail/7660.html ] . Như vậy là rõ: Kính Trọng là một từ đôi, tương đương từ lặp Kính Kính, mà lướt thì “Kính Kính”= Kinh, 1+1=0. Và chữ Kinh京 này mới là rõ cho cái “tỏ ý kính trọng”. Bởi chữ Kinh 京 này là chỉ người Kinh 京 (do người Kinh xưng là Mình= “Minh Minh”= Mình, 0+0=1) tức là Kẻ Sáng. Sáng=CHOANG=Láng=Lang=LIÊU=Lượng=MƯỜNG=Manh芒(Quang Manh = Quang Minh)=Minh=KINH=XINH-MUN=MÔN=MIÊN=MIẾN…

Sáng=Soi=Chói=Cháy =THÁI=Thay Lao (tiếng người Lào tự xưng)= LÀO= =LỰ=LÊ…của đại tộc Việt nước Văn Lang, vùng đất Quẻ Ly(vị trí trên bản đồ chia theo Dịch Học). Lướt thì “Quẻ Ly”= Qủi. Quẻ Ly tượng Lửa, bằng bốn nét kẻ, sau thành bốn nét của chữ Hỏa 火 hay bằng bốn chấm 灬.

Lửa=Lọi=Chói=Chói Chang=Sáng=Hoàng=Vàng=Văn=Vuông=Vương=Dương, đều có nghĩa là Sáng. Thái Dương = Cháy Sáng = Sáng Sáng. Văn Lang = Sáng Sáng. Văn Vương = Sáng Sáng. Văn Minh = Sáng Sáng. Theo lý âm dương thì đã là Minh thì trong nó phải là hai cái minh cân bằng nhau là Minh Minh; đã là Sáng thì trong nó phải là hai cái sáng cân bằng nhau là Sáng Sáng, vì bất kỳ kẻ nào cũng đều có hai tố âm và dương trong nó cả. “Sáng Dương” = Sướng (trí hanh thông), “Sáng Âm”= Sấm (trí tiên tri). Hồn của Kẻ Sáng = “Kẻ Minh”= Kinh cũng vậy, nó gồm hai tố là cái “Ta Dương”= =Tướng (thể hiện ra nét mặt, vân tay…) và cái “ Ta Âm”= Tâm (là trí tuệ sâu thẳm trong kín, “Sông sâu còn có kẻ dò. Lòng người thăm thẳm ai đo cho tường”). Chữ Xích 赤 nghĩa là Sáng của kim loại nóng chảy, nên có từ ghép Xích Hồng. Chữ Qủi= “Quẻ Ly” nghĩa là Sáng (của Lửa). Xích Đạo 赤 道 có nghĩa là nơi đi đầu (số dách) về độ Sáng, vì chữ Đạo 道 gồm chữ chân Đi 辶 và chữ Đầu 首. Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Qủi = Sáng Sáng. Sau Hùng Vương (Hừng Sáng) đặt tên nước là Văn Lang = =Sáng Sáng. Kẻ Kinh là “Minh Minh” = Mình, 0+0=1. Kẻ Kinh là “Sáng Sáng” = Sang, 1+1=0. Có cân bằng âm dương là Mình Sang = 1+0=1, nói lái là Màng Sinh = 1+0 =1. Và vì 1 = Dương, nên Việt có nghĩa là Dương, gọi là

“Việt Dương”=Vương=Vuông=Vàng=Sáng=Hoàng, là cái vuông Thổ màu vàng của Hà Đồ, nó nằm ở Giữa, tức là Giao Chỉ. Mình Sang = Màng Sinh = = Muốn Sống, nên dân Việt có một sức sống vô cùng mạnh mẽ.

Kinh= “Kẻ Minh”= Đẻ Minh (người làm ra cái sáng) = Đế Minh. Kinh Dương Vương = Đế Minh Sáng Sáng. Kinh = Đế Minh, cho nên “thêm chữ Kinh vào với Dịch để tỏ ý kính trọng” là phải thôi.

Chữ DỊCH

Chữ Dịch 易 theo Hán thư giải thích có nghĩa là biến đổi, như câu thành ngữ “Di phong Dịch tục”( tức là Xê=Xe=De=Di=Dịch là xê dịch cái phong tục) [ http:// zh. Wikipedia.org/wiki/…]. Vậy âm tiết Dịch là một âm tiết Việt, nghĩa của nó là biến đổi, như biến màu cũng là đổi màu, giống con Nhồng=con Dông=con Dịch, là con Tắc Kè thường tự biến đổi màu da của nó. Tên chữ con Tắc Kè là Tích Dịch 蜇 易. Tắc Kè là ghi đúng âm tiếng nó kêu mà thành tên. Giống như con chim kêu “quạ quạ” thì đặt tên cho là con Quạ , con vật hay kêu “gâu gâu” thì đặt tên cho là con Cẩu, người Tày gọi nó là tu Má (Con=Cu=Tu=Tủa=Tử) , con vật hay kêu “be be” người Tày gọi nó là tu Bẻ. Tu Bẻ = tu De = tu Dê = tu Dương = tu Dang (Hán ngữ gọi ngược là “Yang zu”). Tiếng Tày gọi con Khỉ là tu Linh. Linh=Lanh=Nhanh=Nhảnh=Nhí=Khỉ (vì nó Linh Lợi = Lanh Lẹ). Tiếng Hơ Mông thì « tu » đã thành « tủa », gọi con vượn má trắng là « tủa linh cắng ». Khi người ăn cơm thì con cẩu hay ngỗi chờ rỏ rãi để chực ăn thừa, để nó khỏi hỗn, người mắng nó « Chờ đó ! ». Đó ! là mệnh lệnh thức. Đi ! = Đó ! = Đấy ! = Đích ! = Đếx ! (tiếng Nhật). Đi ! = Đó ! = Co ! (tiếng Quảng Đông)= Cơ ! (tiếng Bắc Bộ)=Cà !( tiếng Nam Bộ)= Cơ != =Tơ ! (Hán ngữ). Mắng riết con cẩu là « Chờ Đó !» rồi thành tên gọi luôn của nó là « Chờ Đó ! »= Chó. Người Việt hay dùng từ Chó ! để chửi, kể cả chửi mình khi hỏng việc là « Chó ! thiệt ! », bởi từ mắng « Chó ! » chỉ có một nghĩa duy nhất là « Hãy đợi đấy ! » (răn đe). Khi đã thành tên cho con Cẩu là Chó rồi thì có từ đôi Chó Má (tương tự từ đôi Gà Qué, Qué=Cáy, tu Cáy là con Gà, tiếng Quảng Đông, Tày ,Thái, Lào ; ra chợ hỏi « Cáy Hề ? »= Kê ?). Tắc Kè = =Tắc De = Tích Dịch. Nhưng âm tiết Tích Dịch lại có nghĩa là Tích tụ cái sự Biến Đổi. Trong chữ Tích Dịch 蜇 易 thì , như Hán thư giải thích, « chữ Dịch 易 là chữ tượng hình, giống con vật có cái đầu to và bốn cái chân ». Chữ Dịch 易 còn đọc là Dị 易. Dị=Dễ=Rẻ, nên có từ Khinh Dị = Khinh Rẻ. Khinh là Khinh Khi tức coi thường, nên còn có từ Khi Dễ = Coi Rẻ. Thuyết Văn Giải Tự dạy cách đọc chữ Dịch 易 bằng thiết âm tiết của hai chữ “Dương 羊 Ích益”= Dịch. “Dương” là mượn âm của chữ Dương 羊 nghĩa là con dê, “Ích” là mượn âm của chữ Ích 益 là ích lợi. Thiết như vậy thì về âm là đọc đúng nhưng về ý thì chẳng logic, vì nghĩa của Dịch là biến đổi chẳng liên quan gì đến “Con dê ích lợi” cả (không logic là ở chỗ Dịch- biến đổi không phải là hệ quả của “con dê lợi ích”). Người Việt đọc bằng QT Lướt của tiếng Việt thì nó mới đúng logic: Dịch, như xê dịch, nghĩa là sự biến đổi. Từ Dịch là do lướt “Diễn Tích” = Dịch (logic là chỗ từ Dịch là hệ quả của Diễn giải cái Tích bằng các Kẻ luôn ở thế di chuyển đi từ dưới lên trên trong mỗi Quẻ, do vậy Dịch mang nghĩa là sự biến đổi). Diễn là diễn giải ý nghĩa của cái nội dung. Tích là sự Tích tụ trong nội dung của mỗi Quẻ bằng ký hiệu thông tin là 6 Kẻ. Tích tụ là Chứa đầy, mà sự Chứa ở đây là chứa trong mỗi Quẻ đủ 6 ký tự không hơn không kém, mỗi ký tự ghi bằng một Kẻ, Kẻ liền tượng dương, Kẻ đứt tượng âm. QT Tơi-Rỡi chỉ rõ: Chứa=Chữ=Trữ=Trự=Tự=Tích. Từ đôi Tích Trữ nghĩa là chứa nhiều. Con lợn chứa nhiều thức ăn vào bụng nó thì gọi là nó ”No Tích” = Ních. Ních biến ý thành nghĩa là ăn nhiều, vd : “ Ních cho lắm vào, rồi mà kêu bị đầy bụng!”. No Đủ = “No Túc” = Núc, vd: “Ăn cho lắm đồ ngọt vào cho béo núc ních thành ra đứa bị bệnh béo phì!”.

Dịch là một khoa học , gọi là môn Dịch Học. Cái tên của một khoa học mà lại xuất xứ từ cái tên con vật tắc kè thì là giải thích quả ngô nghê. Hán thư giải thích vậy chẳng qua là do chép lại giai thoại dân gian đặt ra. Dân gian khi giải thích thì thường cố ý né tránh cái thực chất (để giữ cho huyền bí), rồi liên tưởng nhưng cái gần gũi mà ngộ nghĩnh để đăt thành giai thoại giải thích cho trẻ con nó thú vị, khỏi hỏi vặn nhiều bực mình. Các học giả đời sau dựa vào giai thoại còn tô thêm cho càng ly kỳ, thậm chí vẽ họa thành tranh truyện. Ví dụ giải thích xuất xứ của tác phẩm “Thôi Bối Đồ”, rằng một đạo sĩ đang mải miết gieo bói tiên tri, ông bạn của ông ta đến đấm lưng giục về ăn cơm, thế là thành tên tác phẩm là Thôi Bối Đồ (Thôi Bối 推 背 nghĩa là đấm lưng). Thực ra thư tịch lưu lại cái tên Thôi Bối Đồ 推 背 图 là do thư lại người Hán viết, dùng chữ nho có âm na ná để tá lại cái âm gốc của Việt là Bộ Bói Đổi, mà ngữ pháp thì bị đảo theo ngữ pháp Hán, thành là Thôi Bối Đồ. Thư lại đã dùng chữ Thôi 推 tá cho âm Đổi, dùng chữ Bối 背 tá cho âm Bói, dùng chữ Đồ 图 tá cho âm Bộ. Bộ Bói Đổi là tên dân gian bộ bài gồm 64 con=quân=quẻ của Kinh Dịch, mà dân gian Việt dùng ứng dụng Kinh Dịch để coi bói, lưu hành hàng ngàn năm trước khi có nhà Đường. Đến thời nhà Đường thì bị cấm tiệt, thu giữ vào thư khố quốc gia coi như sách mật, đương nhiên không thể thu hết được trong dân, thời Đường dân vẫn còn dùng chơi coi bói. “Biết Coi”= Bói, “Bói cho biết đúng hay Sai”= Bài. 64 quẻ của Kinh Dịch không hề có đánh số thứ tự cố định, tha hồ Xóc để cho ra những tổ hợp (Tệp lớn ) khác nhau từ 64 quân đó, mà mỗi quân bài là một quẻ có các Hào luôn ở trạng thái vận động Đổi. Xóc là chọn từng quân “Xếp cho đúng Góc”= Xóc (góc ở trên La Canh = La Kinh. TVGT hướng dẫn đọc chữ Kinh 京 bằng thiết “Cử Khanh”= Canh, vậy Canh=Kinh. Một lần Xóc như vậy tạo nên được một nội dung như là một cuốn phim 64 tập tiên đoán về một lĩnh vực nào đó. Vị đạo sĩ Việt ấy đã Xóc được 63 quân vào vị trí đã chọn, tổng hợp nội dung của chúng mà tiên tri vận mệnh các vương triều Trung Hoa cho 2000 năm sau (ngày nay kiểm thực thì đúng y chóc. “Chắc Xóc”=Chóc), còn quân bài cuối cùng chưa biết xếp vào đâu, nếu không, tiên đoán còn xa hơn nữa. Ngày nay có học giả VN đã bói được một quẻ, mà nội dung của nó diễn tả đúng y số phận của đại thi hào Nguyễn Du.

Tóm lại Dịch là do lướt “Diễn Tích”= Dịch. Diễn là diễn giải sự diễn tiến (vận động đi lên của các Hào), Tích là súc Tích 6 hào trong mỗi quẻ.

Vậy Kinh Dịch là: Đế Minh Diễn Tích. Dịch Kinh là: Diễn Tích (của) Đế Minh. Vậy Đế Minh chính là tác giả của Kinh Dịch.

Kinh Dịch là của Việt, thể hiện trong tên các mệnh giá của tiền Việt:

Con Nòng (dương) và con Nọc (âm) trong Đồ Hình Âm Dương đều là hình có hai góc. Một góc hình Xóc nhọn hoắt như cái đầu đòn xóc gánh lúa vừa gặt, góc ấy rất nhỏ nhọn nên gọi là “Xóc Tí”=Xí (cờ hình tam giác có góc nhọ dài cũng gọi là cờ Xí), góc đầu kia là góc “To Ù”=Tù. Quá trình vận động lớn lên của mỗi con là từ “Xí đến Tù”=Xu để mà lớn lên, đến trọn Tù là phải biến giá trị là cái tính của nó, để lại bắt đầu quá trình mới. Chính cái vận động lớn lên của Xu , mà Xu được lấy làm tên mệnh giá hạng nhỏ là Xu của tiền Việt, với hàm ý một xu cũng phải luôn vận động, lưu thông, không nằm chết một chỗ, và có vận động thì giá trị nó mới tăng dần. Bởi vậy dân Việt mới gọi là Tiền vời hàm ý là nó là thứ phải “Tiêu Liền”= Tiền, tiếng Việt Đông là “Xài Lìn”= Xìn. Hán ngữ mượn chữ Tiền 錢, phát âm là Txén, tiêu tiền gọi là “Húa Txén”, tiêu tiền ngay gọi là “Ma Shang Húa Txén”. Có “Tiêu Liền” nó mới thành ý nghĩa của Tiền, đến ông bán kẹo kéo một chữ nhất bẻ đôi không biết mà vẫn biết khuyên người ta qua lời rao: “Cất tiền trong bị làm gì. Mua ngay kẹo kéo Bắc Kỳ mà xơi” (trích theo nhà văn Sơn Nam). Bị là cái Bị Đựng Tiền, đan bằng lác, theo chân thương lái hay theo chân hành khất đi khắp nơi. Bị = Ví = “Bị Góp”= Bóp, đều là đồ đựng tiền. Hán ngữ mượn từ Bị (bị đựng tiền) để đọc chữ Tệ (bổn nghĩa Tệ nghĩa là Tiền Đi) của tiếng Việt. Đi=Di=De=Xe=Xê. Tiền Đi = “Tiền Xê”= Tệ. Ngân hàng phải dùng nhiều tiền nên có cả hai thứ luôn phải lưu thông là “Tiêu Liền” + “Tiền Xê” = Tiền Tệ. Tiền Tệ của ngân hàng mà chôn vào BĐS đóng băng (Đê Mê 低 迷) thì đó không còn ý nghĩa là tiền nữa, nó sẽ thành Khú=Khắm=Lặm=Lộn là thành giấy lộn.Tiền Mỹ cũng xài liền: "Xu xài Liền"= Xen (CENT);ĐỒNG = ĐÔNG = ĐA = ĐÔ-LA (phiên thiết).Nên nay 21.000 vnd = 1 usd và còn tăng nữa vì đồng phải đa.

Trong quẻ Dịch có 6 Kẻ đều ở trạng thái vận động đi lên, đi lên thì mới lớn giá, đến vị trí của Kẻ kề trên nó là nó xảy biến làm Đổi vị trí (giá trị) của chính nó, tức “Hoán Tráo”= Hào, gọi theo chức năng vận động thì Kẻ gọi là Hào, mỗi quẻ Dịch có 6 Hào, đánh số thứ tự từ dưới lên trên. Chính vì chức năng vận động đi lên để làm lớn giá trị bản thân mà Hào được lấy đặt tên cho mệnh giá hạng trung của tiền Việt. Khi Hào đã lên thế trọn chỗ của Hào trên cùng của quẻ là đến chỗ trống rồi, tức “Đáo Trống”= Đồng. Đồng được lấy đặt tên cho mệnh giá lớn tiền Việt. Đồng càng vận động thì “Đồng Đồng”= Đông, đúng thuật toán 1=1=0, càng lưu thông lên nữa thì “Đông Đông”= Đống, đúng thuật toán 0+0=1, là có cả một đống tiền. Tiền Hán không có hàm ý vận động, không phải ứng dụng từ Kinh Dịch, vì Kinh Dịch là của Việt, không phải là của Hán. Tên mệnh giá tương ứng với Xu, Hào, Đồng là Fen, Mao, Yuan. Hán ngữ Fen nghĩa là chia, Mao nghĩa là lông, Yuan nghĩa là đầu tiên. Các mệnh giá này có tên không hàm ý vận động.

Kinh Dịch là của Việt, thể hiện trong Trò chơi đánh Đáo của trẻ con Việt, một bài học về tinh thần kinh doanh:

Trẻ con Việt có trò chơi đánh Đáo (còn gọi là đánh Đáo Lỗ) bằng các đồng Xu. Khi đã chọi được hết các đồng Xu rải ra vào cái lỗ trống đã khoét trên mặt đất thì lúc đó là “Đáo Trống”=Đồng. “Đáo Lỗ”=Đỗ, “Đáo Trống”=Đồng. Đồng là lúc vui nhất: mỗi đứa bên thua phải cõng một đứa bên thắng chạy một vòng (hay mấy vòng tùy giao kèo trước) quanh sân có lỗ chơi. Cái cảm giác được cõng bạn hay được bạn cõng thật là sướng, nên cả hai bên đều hò reo cười cho thỏa sướng. Tụi con gái cũng chơi chung với tụi con trai, cũng dám cõng và dám cưỡi. Từ cái Lỗ lTrống lúc đầu trống không (lỗ trắng tay), do giỏi kỹ năng “chọi” mà kết ván là tất cả Xu đã “Đáo Lỗ”=Đỗ (sướng như đi thi mà đỗ) thành ra “Đáo Trống”=Đồng (mệnh giá lớn nhất). Từ bàn tay trắng (lỗ trống=lỗ trắng tay), lại cố gắng sang keo khác “chọi” thật giỏi bằng kỹ năng của mình để thắng, Xu “Đáo Trồng”=Đồng đầy lỗ (bù được cái lỗ). Thắng liên tục thì được nhiều đồng là “Đồng Đồng”=Đông, 1=1=0; đông nữa thì “Đông Đông”=Đống, 0+0=1, là có cả đống tiền. Trò đánh Đáo một ván kết thúc rất nhanh, nhờ kỹ năng “chọi” của chúng. Kết thúc nhanh để thắng hay thua đều sướng để mà chung nhau “Đồng chạy quanh lỗ Trống”= “Đồng…Trống”= Trống Đồng (Hình tượng từng đôi cóc cõng nhau chung quanh mặt trống đồng).

Theo Dịch Học thì quá trình vận động từ góc Xí đến góc Tù (hình con Nòng hay con Nọc trên Đồ Hình Âm Dương), lớn lên đến được góc Tù rồi là phải biến sang góc Xí ngay thì mới tiếp tục đi lên để lớn. Nếu dừng lại ở góc Tù thì sẽ lấn bấn trong tù túng không thoát ra được. Thành được góc Tù là do đã qua quá trình vận động phình lên dần dần từ góc Xí, quá trình lớn lên ấy thì các tế bào lành cũng nhiều lên và các tế bào ung thư cũng nhiều lên, đến góc Tù như cái đầu to ù là lúc trạng thái hổ lốn, lúc đó phải chịu đau mà cắt bỏ hết tế bào ung thư, để cho cái đầu “To Ù”=Tù xẹp xuống thành góc Xí nhọn hoắt. Thời điểm biến ấy, đang là con Nòng với cái đầu to ù phải biến ngay sang thành con Nọc với cái Xí nhọn hoắt, nó mới có thể Xọc từ tung để mà dũng mãnh lớn lên. Đang là con Nọc với cái đầu to ù phải biến ngay sang thành con Nòng với cái Xí nhọn hoắt, nó mới có thể Nống tứ tung để mà dũng mãnh lớn lên . (Con Nòng mà “Nống Chắc”=Nắc thì đúng là có Nắc mới có Sinh=Phình=Phồng to để lớn lên).

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tiếng Việt

1. Các Qui Tắc tạo Từ của Tiếng Việt (viết tắt là QT)

Cái Nền để nghiên cứu lời Nói của giống Nòi là cái Nôi khái niệm. Thủa bé , một lần đọc báo thấy nêu một nhà nghiên cứu ngôn ngữ người Pháp (thời thuộc địa) nhận xét rằng: “Tiếng Việt là mẹ của các ngôn ngữ trên thế giới”, và đưa ra nhiều ví dụ. Như trường hợp giục phu kéo xe tay đi nhanh, người Việt lệnh “Mau lên!”, người Madagatsca ở Ấn Độ dương lại lệnh “Gao len!”(hay là muốn nói “gâu” lẹ! ?). Qui tắc tạo từ của tiếng Việt (QT) trình bày bằng 5 mục dưới đây:

1/ NÔI khái niệm:

Đặt tên là NÔI vì:

1.NÔI=Nôi. Nôi là vật dụng để đặt đứa trẻ sơ sinh nằm nghe mẹ ru mà biết nói.

2.NÔI là cái Ổ (chữ Ô ở giữa) sinh ra ngôn từ tính Âm (N-Negative) và ngôn từ tính Dương (I-Innegative), (theo đúng “Nam tả, Nữ hữu”)

3.NÔI=Hội=Hột=Một. Nôi là một hột giống sinh ra muôn vàn hột giống khác (Tất cả đều trong Một. Một=1 là Dương. Dương sinh ra Âm; Dương có trước, Âm có sau). Hội=Hột=Một: Một hột cây hội tụ tất cả các gen của một loài cây.

4.NÔI=Nở. NÔI là NÔI mẹ ắt nở ra muôn vàn Nôi con. Nôi con sinh ra nhiều từ sắc thái khác nhau nhưng ý nghĩa của chúng là cùng nôi khái niệm. Chính là NÔI đã làm ra QT Nở.

5.NÔI=Nở=Vỡ=Vỏ=Vo. Quá trình nảy mầm của hột giống là Nở cho Vỡ cái Vỏ (Vỏ=Giỏ=Da, bọc ngoài mầm hột) để vỏ ấy bị Vo (tự tiêu rã) mất. Chính là NÔI đã làm ra QT Vo.

6.NÔI=Nối=Lối=Lướt. NÔI đã sinh ra lối (cách thức, đường lối) nối cái phụ âm đầu hay cái vắng phụ âm đầu của từ đầu câu với cái âm vận của từ cuối câu thành một từ mới. Chính là NÔI đã làm ra QT Lướt.

7.NÔI=Nõn=Nộn=Lồn=Lời=Rỡi (“Ruột Lời”=Rỡi). NÔI=Cội=Cọc=Tóc=Tay=Tơi (“Tay Lời”=Tơi). Tơi là cái áo của lời. Bản thân Tơi không làm nên lời, cũng như bản thân áo không làm nên người. Lời=Ngời (sáng)=Người. Một lời nói ra thể hiện một cái sáng của con người (“Văn là người”. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh=Mình). Rỡi thuộc âm vì nó là cái Vần, nó có công tạo ra lời lớn hơn công của Tơi (Âm=Vâm=Vần). Tơi thuộc dương vì nó là cái áo, giúp một phần vào tạo ra lời (Dương=Giúp, vì “Dương nằm Úp”=Giúp, nên trai bao giờ cũng giúp đỡ gái). (Tiếng Tây còn gọi thân mật là “Cái áo của em ơi!”, nhưng khi chồng nát rượu, bà vợ đá cho một cú lăn cù xuống cầu thang gỗ, khuất mắt. Hàng xóm cùng tầng nghe động, sang hỏi có gì mà ồn chuyện vậy, bà vợ trả lời tỉnh queo: “ Xin lỗi ạ, tôi lỡ tay làm rớt cái áo ấy mà”). Chính là NÔI đã làm ra QT Tơi-Rỡi.

2/ QT Vo:

Là vò rụng đầu rụng đuôi một từ đa âm tiết, còn lại cái lõi thành từ đơn âm tiết. VD: Ha-Na-Xư ( tiếng Nhật nghĩa là nói), rụng còn lõi Na (tiếng Việt nghĩa là nói). Pnom (tiếng Khơ Me nghĩa là núi), rụng còn Non (tiếng Việt nghĩa là núi. Đến m dài còn bị vò rụng đuôi còn n ngắn). Blơi (tiếng Mường nghĩa là trời), rụng còn Lời=Trời (Mà lời là do trời cho thật, những loài sống ngầm dưới đất như loài giun, không hưởng trời nên không có tiếng kêu). Vo còn dẫn tới hậu quả là Vo cả câu. VD: “vuông Chữ Nho nhỏ” vo rụng đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” thành còn cái lõi là Chữ Nho. “Trong ấy” vo thành Trỏng. “Bên ấy” vo thành Bển. “Anh ấy” vo thành Ảnh.

3/QT Nở:

Một từ trong NÔI sẽ nở ra hai từ, một từ là tính âm (0) và một từ là tính dương (1). VD: Từ Mỗi nở ra từ Mô (0) và từ Một (1). Từ In nở ra từ Uống (0) và từ Ăn (1). Từ Túc nở ra từ Tấn (0) và từ Tay (1). Nguyên tắc là hai từ mới phải cùng Tơi (hay cùng Vắng Tơi) với từ cũ.

4/ QT Lướt:

1.Lướt hai từ: Lướt để chắp Tơi của từ đầu với Rỡi của từ sau thành từ mới có ý nghĩa logic với ý nghĩa tạo bởi hai từ trên. VD: “Hai Yêu”=Hiếu (Hai thế hệ già và trẻ phải yêu thương nhau. Nho viết bằng chữ Lão ở trên và chữ Con ở dưới, thành chữ Hiếu).

2.Lướt cả câu: Lướt để chắp Tơi của từ đầu câu với Rỡi của từ cuối câu thành từ mới có ý nghĩa logic với nội dung của câu. VD: “Làm gia công cho lưỡi cưa cùn sắc lại như Mới”=Lỡi (thợ Lỡi, máy Lỡi).

3.Lướt từ lặp: Thành từ mới có ý nghĩa như mục đích của từ lặp là nhấn ý “nhiều”, nhưng thanh điệu thì là tổng phép cộng số học nhị phân của hai từ đồng âm đồng nghĩa trên. Ví dụ “Chung Chung”=Chúng, 0+0=1 (Nhiều cái chung ở một nơi thành đông là Chúng: Chúng tao, Chúng mày, Chúng nó, “Chúng Qua”=Choa). “Quân Quân”=Quần, 0+0=1 (ghép thành từ đôi Quần Chúng, chỉ số đông người). “Đông Đông” lúa = Đồng lúa. “Mai Mai”=Mải, 0+0=1. “Mải Mải”=Mãi, 1+1=0. (“Lâu Mãi”=Lai, là tương lai). Sáu thanh điệu của tiếng Việt chia ra hai nhóm: Nhóm âm (0) gồm “không”, “ngã”, “nặng”. Nhóm dương (1) gồm “sắc”, “hỏi”, “huyền”.

4.Lướt Lủn hai từ: Từ đầu giữ nguyên và lướt tới lấy dấu thanh điệu của từ sau thay cho thanh điệu của mình. VD: “Việt Nói” = “Viết sắc Viết”=Viết (Viết= Van=Văng=Vân=Vân Vân=Và=Na=Nói=Nài, dần dần Viết chuyển sắc thái là “nói bằng văn bản” rồi dùng đại diện cây Viết). “Bụt Nói”= “Bụt sắc Bút”=Bút (tháp Bút ý là ở đó ngự lời của Bụt, sau Bút dùng đại diện cho cây viết, gọi là cái Bút. Bút dùng để “Pút”- post lên, và “Pút Lên”=Pen, tiếng Anh). Lướt Lủn tức là lướt cụt lủn hai từ (“Lời ngắn Ngủn”=Lủn)

5.Lướt Lỏn hai từ: Từ đầu lướt tới lấy Tơi của từ sau ghép vào Rỡi của mình thành từ mới có Rỡi mới. VD: “Hai Mươi”=Hăm. “Ba Mươi”=Băm. “Nghỉ Một” tí = Nghỉm tí. Lướt Lỏn tức là lướt gọn lỏn hai từ thành một từ (“Lời nói Gọn”=Lỏn).

5/ QT Tơi-Rỡi:

Thay Tơi hay Rỡi của một từ đều tạo ra từ mới cùng nôi khái niệm với chính từ đó. VD: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn=Vấn=Vân= Vân Vân = Ngân Nga = Thả= Thỏ Thẻ = Thưa =Thốt =Thuyết =Thoại = =The Thot = Thi Thâm =Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn=Ngỏ=Ngả=Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác = Cáo = =Quảng=Giảng.

Kết luận: Từ Điển mà giải thích như nôi khái niệm về “nói” vừa nêu trên thì còn ai kêu ca hay van nài gì nữa? Mắc mớ gì cứ thấy từ nào có viết bằng chữ nho thì giải thích đó là “từ gốc Hán”, “từ Hán Việt”. (Hán ngữ “Shuo” nghĩa là nói, “Yu Yan” nghĩa là ngôn ngữ, “Yáo Lán” nghĩa là cái nôi, “Jiang” nghĩa là giảng). Ngỏ là từ có sắc thái rất lịch sự, Ngỏ lời hay thư Ngỏ là yêu cầu phải có trả lời, nếu không trả lời là bất lịch sự, như “Ngỏ lời xin cưới”. Ngỏ = Thỏ Thẻ = Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”= Thuyết. Tiếng=Thiêng=Thanh. Sáng=Láng=Linh. Dân tộc ta có Tiếng nói là mượt mà và con người là Sáng Dạ, đó là cái thiêng liêng nhất. Câu đối trong đền Ngọc Sơn ở Hồ Gươm Hà Nội: “Sơn Bất Tại Cao, Hữu Tiên Tắc Thanh. Thủy Bất Tại Thâm, Hữu Long Tắc Linh”. Nổi Tiếng và Sáng là Thanh Linh = Thiêng Liêng. Thiêng Liêng vì trong Ta có cả “Sáng Âm”= Sấm, là khả năng tiên tri. Có khả năng tiên tri là do biết bói quẻ: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch, của người Việt. Câu Sấm: “Song Ngư liền địa, Nghi Lộc phát vương”. Nghi Lộc là Ngộc Ly. “Người Gốc” = Ngộc. Ly là Lửa. Người=Ngời=Ngọc=Ngộc. Trời=Trưa=Lửa. “Dân Lửa” = Giữa. Giữa Chỗ = Giao Chỉ = Giao Chứa = Gieo Chữ. Giao=Gieo (gieo lúa là giao hột lúa cho đất). Chỗ là vị trí bất động, tức “Chẳng Đi”=Chỉ止. Chứa=Chữ=Trữ=Tự字=Tự嗣 (Chứa=Chữ=Tự 字nghĩa là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣nghĩa là nối dòng huyết thống. Có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc. Tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né” nghĩa là “Nó - Na Ná - Giống Đấy Nhé”) . “Kinh Gieo” = Keo. Dân Kinh = Cần Keo (tiếng Tày Thái). “Dân Kinh” = Dinh=Dính. Keo Dính = Keo Dán = Keo Gắn. Gắn=Đặn(Đầy Đặn)=Đám=Đàn=Đoàn. Gắn Keo = Gắn Kết = Đoàn Kết.

Trong Mình của người Việt có hai cái Sáng. Một cái Sáng là cái “Ta Dương”=Tướng, là cái thể hiện ra ngoài, có thể nhìn thấy bằng mắt, đó chính là cái “Sáng Mắt”=Sắt. Một cái Sáng là cái “Ta Âm”=Tâm, là cái sáng bên trong không thể hiện ra ngoài, không thể nhìn thấy được, Tâm=Tấm=Tỏng=Lòng=Trong (biết “Tường tận trong Lòng”=Tỏng), đó chính là cái “Sáng Lòng”=Sóng=Son (sóng ở đây là cái sóng ánh sáng, nó là vi ba, bước sóng cực nhỏ, nên gọi là “Sóng Con”=Son). Rõ ràng từ Sắt Son là một cấu trúc Dương (Sắt) Âm (Son) cân bằng, bởi vậy nó rất bền vững, không bao giờ thay đổi. Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH HN 1977 , trang 675, giải thích Sắt Son: Thủy chung trước sau như một trong tình yêu, vd “Nào lời non nước, nào lời sắt son”. Giải thích như vậy mới chỉ là giải thích một ứng dụng của từ Sắt Son trong một lĩnh vực cụ thể là tình yêu, chưa phải là giải thích bổn nghĩa của từ Sắt Son ở nguyên do của nó.

Cái Sáng của người Việt lại là do Trời cho bằng chính cái ánh sáng của Trời (và Trời chỉ chọn Người để cho chứ không cho các loài khác): Trời=Ngời=Người= “Người có Óc”=Ngọc (“Ngọc chưa mài chưa thành quí. Người chưa học chưa tri lý”). Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật đều là ánh sáng của Trời, phần Nguyệt thì Trời đem cho Trăng, Nguyệt thành ánh sáng của Trăng, nhưng vẫn là của Trời. Vậy chính xác thì Trời mới chính là kẻ “đã cho ta Sáng Mắt, Sáng Lòng”. Bởi vậy người Việt Sắt Son nhất là Sắt Son với Trời, luôn biết nói “Nhờ Trời”, “Ơn Trời” và kêu “Trời Ơi”. Bởi vì:

1. Trời đã cho Ta cái tên bằng ánh sáng của Trời: Trời=Ngời=Người (=Ngài=Ai= “Thể Ai”=Thai)

2. Trời đã cho Ta cái khả năng tư duy: Trời=Ngời=Nghĩ (=Ý=Chí=Trí=Tri=Bì=Biết=Biệt)

3. Trời đã cho Ta cái khả năng thị giác: Trời=Ngời=Ngắm (=Nhằm=Nhòm=Nom=Dòm=Nhòm=Nhìn=Nhãn=Khán=Khám)

4. Trời đã cho Ta cái khả năng thính giác: Trời=Ngời=Nghe (=Ngóng=Thông=Thính)

5. Trời đã cho Ta cái khả năng khứu giác: Trời=Ngời=Ngửi (=Khui=Khứu)

6. Trời đã cho Ta cái khả năng xúc giác: Trời=Ngời=Ngậm (=Cầm=Chạm=Nắm=Nã=Xoa=Xát=Sát=Sờ)

7. Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm

Tên riêng của mỗi cá nhân cũng là cái sáng, của Trời cho, gián tiếp qua ánh sáng của con Đom Đóm. Trẻ con rất thích bắt Đom Đóm chơi. Đom Đóm=Tóm=Tên=Tánh=Danh (ra đời mới thành Tên hay lớn lên làm ăn đã thành Danh đều bị Tóm vào “sổ hộ khẩu” và vào sổ Nam Tào tất). Tên gọi những nơi cần quảng cáo cũng đều xuất xứ từ cái sáng của con Đom Đóm: Đom Đóm=Điểm=Điếm=Tiệm=Tên.

Trời đã cho Ta cái khả năng tiên tri: Trời=Ngời=Sới=Sấm. Ngoài các khả năng của 5 giác quan (thường gọi là Ngũ quan) là của Trời cho. Trời còn cho thêm giác quan thứ Sáu (nó ở rất Sâu và tồn tại rất Lâu theo con người, kể cả khi xác đã trả về đất chỉ còn lại cái hồn, giác quan thứ Sáu đó vẫn còn. Sáu=Sâu=Lâu=Lục=Lão=Luôn Luôn= “Lâu Mãi”=Lai, tức đến các “Kế Tiếp”=Kiếp sau vẫn còn). Giác quan thứ 6 đó là cũng từ cái Sáng của Trời (“Sáng danh Chúa ở côi Lời”): Trời =Ngời=Sới=Sấm (lời Sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhiều câu còn ứng nghiệm vào 500 năm sau). Sấm là cái “Sáng Âm”=Sấm. Sới là chỉ địa điểm, là cái “Sáng Nơi”=Sới, địa điểm đó phải chọn theo PTLV, là nơi Sáng tức nơi Linh, gọi là Địa Linh (như nơi đặt mồ mả, nơi xây Sới võ, nơi xây công trình v. v. Sới phải phù hợp với cái Sáng Âm thì mới phát huy được cái “Sáng Tới”=Sới (“Âm phù Dương trợ”). Chúa Nguyễn Hoàng đã nghe theo Sấm của Trạng Trình mà chọn được Sới là nơi “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, biết đường đi “Ta theo hướng Mới”=Tới, đó là cái “Tới Dương”=Tương nên được “Lâu Mãi”=Lai. (Tương Lai là từ hoàn toàn thuần Việt). Tương Lai kể cũng quan trọng thật, nhưng Hạnh Phúc là cái xài liền, không phải là chờ đợi đến tương lai mới được hưởng. “Dân dĩ Thực vi Thiên”, cái “Thật Đức”=Thực là cái Thực có trên thực tế, và là Thực là đủ ăn (“Thức Thức”=Thực, 1+1=0, các thức để “ăn” đây bao gồm cả ăn uống, ăn mặc, ăn học, ăn ở, ăn làm, ăn nằm), mới là cái dân cần “Thấy đầu Tiên”=Thiên. Nguyên hai câu là “Nhân dĩ Hòa vi Qúi. Dân dĩ Thực vi Thiên” nó có hai nghĩa cho cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, vì Hòa là lúa, Hòa lại là Hòa Hiếu; Thực là nhiều Thức, Thực lại là sự Thực, mà sự thực thì chỉ có “Thật Đức”=Thực, xã hội đạo đức giả thì không thể có sự thực. Quán nhậu treo hai câu trên chỉ mong người ta hiểu phiến diện có một nghĩa là ăn nhậu sướng bằng Trời-Thiên. Chữ nho Hòa 和 là cây Lúa 禾 và Mình 口,“Em xinh là xinh như cây lúa” (lời hát chèo), cũng lấy chữ Hòa 和 ấy ghép với chữ “Hai Yêu”=Hiếu 孝 thành từ ghép Hòa Hiếu 和 孝 cho cả hai nghĩa: yêu tôn trọng thiên nhiên (Mình 口yêu cây Lúa 禾 và cây lúa yêu mình, như Hiếu 孝: thế hệ Lão 老 yêu thế hệ Con 子, và thế hệ con yêu thế hệ lão, chữ Con 子 đặt ở dưới có nghĩa là con phải gánh vác di sản và đề cao truyền thống mà thế hệ Lão 老 để lại). Rõ ràng dân trồng lúa (nền văn minh lúa nước) là dân Hiền Lành nhất trên đời này. Nhưng đừng thấy người ta Hiền Lành mà tới hiếp đoạt của người ta, sẽ bị người ta Hành Liền, cái hàm ý này chỉ có trong ngôn từ rất mượt mà của Tiếng Việt mà thôi. (Vụ án “Máu thắm đồng Nọc Nạn” ,năm 1928 ,tòa án thuộc địa cùng luật sư người Pháp đã xử cho những người nông dân trồng lúa Hiền Lành đã phải vùng lên Hành Liền, khi bọn cường hào tới hiếp đoạt ruộng đất mà họ đã bỏ công khai phá, được trắng án như tòa tuyên: “vô tội”). Cho nên người đời trên thế giới rất biết tôn trọng người dân Việt vốn Hiền Lành. Ngôn từ Việt đã hàm ý rõ tất cả rồi, không hề nói dóc. Tìm bao giờ cho thấy Hạnh Phúc?. Đơn giản, phải tìm nhiều. Tìm nhiều thì “Hạnh Hạnh”= Hành, 0+0=1; “Phúc Phúc”= Phục, 1+1=0, tìm nhiều để đến được Hạnh Phúc là phải Hành Phục. Hạnh Phúc theo dấu thanh điệu là 0+1 (là cân bằng âm dương, cho kết quả là 0+1=1 là kết quả tích cực). Hành Phục theo dấu thanh điệu là 1+0=1 (là cân bằng dương âm, cho kết quả là 1+0=1 là kết quả tích cực). Hành Phục có nghĩa đen là “làm lại như cũ” (phục hồi), quay lại sống tôn trọng thiên nhiên (như Cụ Sáu = Cụ Lâu = Cụ Lão=Tử Lão=Lão Tử từng nói), nghĩa bóng là Phục Thiện (theo dấu thanh điệu là 0+0=1 là kết quả tích cực). Điều Hành Phục để luôn có Hạnh Phúc, người nông dân Việt đã biết từ thời cổ đại. Chính họ nói: “ Hiền như Đất. Thật như Ruộng”. Cho nên ăn hoa màu được hạnh phúc rồi là họ lo ngay Hành Phục lại sức khỏe cho đất: Cày phơi ải để làm tiệt trùng ( làm “Tới Diệt”=Tiệt. Cũng như “Hố chôn xác Chết”=Huyệt, “Tới Chót”=Tót, “Tới Hết”=Tuyệt, Tót Vời=Tuyệt Vời, Vời=Vợi=Viễn), rồi bón phân hữu cơ trả lại các vi lượng cho đất. Đất nó “Hiền Thiệt!” nên đối xử với nó lại phải “Hiệt Thiền” . Hiệt là “Hồn Việt”=Hiệt. Chữ Hiệt 黠 là “chất xám”( chữ Đen=Hoẻn=Hắc 黑) và “lòng tốt” (chữ Tốt= Cốt= “Cốt Đạt”=Cát 吉). Từ “chất xám” ngày nay giới khoa học nông nghiệp gọi bằng từ đại diện là “biện pháp khoa học kỹ thuật”, còn từ “lòng tốt” thì phải chịu tiếng Việt, không lấy từ gì làm đại diện nổi. Thiền là “Thật Hiền”=Thiền. Vì đất “Hiền Thiệt!” nên đối xử với đất phải “Hiệt Thiền”, tức phải có ánh sáng KHKT và tấm lòng “Thật Hiền”=Thiền ( theo thanh điệu thì cũng cân bằng âm dương 0+1=1 là kết quả tích cực) đối với mọi việc đụng tới đất: canh tác, khai khoáng, thủy điện v.v. Cứ thế tích cực Phục Thiện nhiều thì sẽ đạt Phúc Thiền, 1+1=0, là cái Tâm trống rỗng, lúc đó đạt được tót đỉnh của Phúc.

QT Tơi-Rỡi đã cho ra một nôi khái niệm về “nói”: Hò=Hú=Hô=Hét=Hót=Hớt=Hát=Hỏi=Gọi=Gí (tiếng Đài Loan)=Gô (tiếng Nhật)=Gọi=Nói=Nài=Na=La=Và (tiếng Quảng Đông)=Viết=Van=Văng=Mắng=Mách=Mạ=Nhả=Nhắn=Vắn= =Vấn= Vân=Vân Vân=Ngân Nga=Thả=Thỏ Thẻ =Thưa=Thốt =Thuyết =Thoại =The Thot=Thi Thâm=Ngâm=Ngợi=Ngữ=Ngôn= =Ngỏ=Ngả =Ca=Kêu=Coỏng(tiếng Quảng Đông, Đài Loan, Mân)=Quát=Quang Quác=Cáo=Quảng=Giảng.

Ngỏ mang sắc thái lịch sự: Ngỏ=Thỏ Thẻ=Thưa Thốt. “Thốt cho đến Tuyệt”=Thuyết. “Thốt Noái”=Thoại. Nói nghĩa là Nêu ra bằng lời. Viết nghĩa là Nêu ra bằng chữ. Tiếng Việt đơn giản là cái do người “Kinh Nêu”=Kêu, và “Việt Nói”= “Việt sắc Viết”=Viết. Theo nôi khái niệm về “nói” ở trên mà hiểu thì Tiếng là “Tự người việt đưa ra lời từ Miệng”= “Tự một âm phát ra có ý nghĩa Riêng”= Tiếng. Tiếng của người Việt, gọi là Tiếng Việt. Ngôn Ngữ Việt là Nói Nói (của) Việt. Việt Ngữ là Việt Nói, tất cả các từ ghép trên đều đúng văn phạm Việt, và không có từ nào gọi là “từ Hán Việt”. Hán ngữ (còn gọi là tiếng Quan Thoại) thì “Shuo” nghĩa là nói. Từ “Shuo” không có trong nôi khái niệm về “nói” ở trên.

Con người là Âm/Dương=Đất/Trời= “Tất/Cả”= “Tạo/Hóa”=Ta. Cái do Đất làm và cái làm cho người ở Đất thì gọi là Tạo. Cái do Trời làm và cái làm cho vong ở trên Trời thì gọi là Hóa. Hai yếu tố âm dương trong Ta là hai cái Minh nên Ta là “Kẻ Mình”=Mình= “Minh Minh”=0+0=1= =“Một Kinh”=Mình. Hai cái Minh đó là Sáng và Dạ nên ta có tên là Sáng Dạ. Theo sinh lý học thì Sáng thuộc Dương, gọi là “Sáng Dương”=Sướng; Dạ thuộc Âm, gọi là “Dạ Âm”=Dâm. Về sinh lý thì Sướng và Dâm đều là sướng cả. Vì Ta là Minh, là Sáng nên bản chất nó là trong trẻo. Cái trong trẻo đó trong Ta dù là thuộc dương hay thuộc âm đều là khởi nguồn cho óc tưởng tượng: “Minh Dương”= Mường (mường tượng được ra những cái chưa từng có); “Minh Âm”= Mầm (mầm mộng được ra những cái chưa từng có).

Một từ của tiếng Việt cũng có cấu tạo bằng hai cái minh, thuộc dương và thuộc âm, y như cấu tạo của một con người. Vì bản chất là Sáng nên nó cũng là trong trẻo (“Giọng nói trong trẻo”, “Trong như tiếng hạc bay qua”). Hai nửa mang bản chất Sáng dương và Sáng âm đó của một từ chính là cái Tơi và cái Rỡi của từ. Cấu tạo của từ là Tơi-Rỡi (Cái Vắng Tơi cũng giá trị như là Tơi. Vắng Tơi không có nghĩa là không, mà nó vẫn là có, vì đây là khái niệm của ngôn ngữ, không phải là khái niệm vật chất: cái “lỗ trống” vẫn là có vì vẫn đếm được có bao nhiêu lỗ trống, không như vật chất thì lỗ trống là không có gì). Cấu trúc Tơi-Rỡi của từ là cấu trúc Dương-Âm theo cấu trúc của vũ trụ, vì Lời cũng chính là cái sáng của Trời cho (Trời=Ngời=Lời). “Tay của Lời”= “Tay Lời”= Tơi. “Ruột của Lời”= “Ruột Lời”= Rỡi. Trước kia, khi nghiên cứu tiếng Việt, người ta đứng trên nền của ngôn ngữ phương Tây mà người ta đã học để nghiên cứu, nên họ gọi Tơi là “phụ âm đầu” nhưng lại quên mất còn có cái “vắng phụ âm đầu” (Mô=Vô=0, Chăng=Chẳng=0, lướt từ đôi “Vô Chẳng”= Vắng); họ gọi Rỡi là “âm vận”. Lời là cái ý nghĩa nhờ “Lưỡi đưa tiếng từ miệng ra ngoài Trời”= Lời, nó trong trẻo bởi bản chất nó là sáng: Trời=Ngời=Lời. Tơi= “Tay của Lời” là Nòng thì như cái Nòng súng, còn Rỡi= “Ruột của Lời” là Nọc thì như viên đạn (cái Nọc của con ong hay của con rắn chính là viên đạn của nó vậy). Cấu trúc một từ là Tơi-Rỡi chính là cấu trúc Nòng-Nọc (bởi chữ ký âm thời tiền sử cổ xưa gọi là chữ Nòng-Nọc, mỗi chữ cái đều có nét ngoằn nghoèo như con nòng-nọc). Tiếng Hán “Khoa Đẩu” nghĩa là con nòng-nọc, về sau Hán thư dịch theo nghĩa mà gọi chữ Nòng Nọc là “Khoa Đẩu tự”. Con Nòng-Nọc là ấu trùng đang sống trong Nôi nước, từ Nòng-Nọc là một từ dính, nên có gạch nối ở giữa, và tuyệt đối không được đảo là nọc nòng, vì như vậy sẽ không còn hiểu là con gì nữa. Cái Tế của từ dính Nòng-Nọc chính là cái tế bào Nòi. Theo QT Nở thì Nòi tách đôi thành Nòng/Nọc. Nhưng Nòng-Nọc muốn “nở” thì trước hết nó phải dùng QT Vo mà vò cho rụng đuôi đi đã. Vậy là “Cắt N của nòng và N của Nọc”= “Cắt…Nọc”= Cóc (rất logic: nó đồng thời còn phải dùng cả QT Lướt). Cóc gắn bó với người nông dân trên ruộng từ thủa ban đầu của nền nông nghiệp trồng trọt cách nay hàng vạn năm. Con Cóc nó “Thật Hiền”= Thiền, đó là một tên khác của con Cóc, sau Thiền phiên thiết ra gọi là con Thiềm Thừ (Thiềm=Thêm là tên thêm, Thừ=Thứ=Chư, là cái tên thứ hai). Một cái Nòi thì theo QT Nở mà ra Nòng (1) và Nọc (0); một cái Cồi thì theo QT Nở mà ra Có (1) và Cóc(0), cặp đối 1/0=Có/Cóc = Cộc/Cái = Đực/Đẻ. Cóc=0, số Không là tuyệt đỉnh của trí tuệ, là cái vòng luân hồi. Tên con Cóc ám chỉ đúng như vậy: “Có Óc”= Cóc (“Con Cóc là cậu ông Trời”. “Thầy đồ Cóc”) . Lời là ý nghĩa của một Từ. Từ gồm Tơi-Rỡi, bản chất lời là trong trẻo do Tơi-Rỡi mang bản chất trong trẻo: Tơi thuộc Dương, nên có từ đôi “Tơi Dương”=Tường. Rỡi thuộc Âm nên có từ đôi “Rỡi Âm”=Râm(mát mẻ)=Rõ=Tỏ=Tường, do vậy ý nghĩa của Từ (tức Lời) là Tỏ Tường = Rõ Ràng=Rạng=Sáng, tức như bản chất nó là trong trẻo. (Tường=Ràng cũng giống như Đương=Đang, Đường=Đàng, Giường=Sàng). Lời là do Trời cho, đương nhiên Tơi-Rỡi cũng là do Trời cho: Tơi=Tống=Nòng=Nắng=Nường=Dương. Rỡi=Rốn=Nõn=Nọc=Nước=Nậm=Âm (nọc ong, nọc rắn đều là chất nước độc để tiêm vào thịt đối thủ). Kết cấu Dương-Âm là: Dương/Âm= Tơi/Rỡi = Nường/ Nõn = Nắng/Nước (là kết cấu của vũ trụ,là của Trời cho. Ở đất thì kết cấu phồn thực là ngược lại, là cặp Nõn/Nường, ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Một Tiếng gồm Tơi-Rỡi = Nắng-Nước thì nó trong trẻo là phải thôi. Tiếng=Thiêng=Thương=Trường=Đương(để mà đương đầu)= Đùng Đùng=Súng, thì đúng Tiếng=Từ=Lời là khẩu súng Trời cho (chữ Thương 搶 nghĩa là cây súng trường, rồi thương trường cũng là súng trường vậy, nên người ta nói “thương trường là chiến trường” ?, nói vậy chẳng qua là do giọng hiếu chiến, tỷ như “cuộc vận động trồng cây gây rừng” thì người ta còn tương lên báo là “chiến dịch trồng cây gây rừng”. Thương trường không phải là chiến trường, bởi trên thương trường chỉ có “súng xịt nước”, sẽ thấy tiếp sau). Viên đạn do nòng súng tống ra mới là cái để đạt mục đích, còn cây súng chỉ đứng tại chỗ. Tơi=Tời=Tải=Tống=Nòng=Nắng (phải dùng lửa mới đúc được nòng súng). Rỡi=Râm=Rốn=Nõn=Nọc=Nước (viên đạn này là bằng nước mà lại còn râm mát). Đúng là Trời cho cái Tiếng=Thiêng chỉ là một cây súng xịt nước (lễ hội xịt nước của người Lào và người Thái Lan). Trời cho tiếng Việt chứa hàm ý như vậy thì đúng là Trời muốn qua tiếng Việt mà dạy cho loài người phải biết đối thoại chứ không dùng bạo lực. Nhưng đối thoại thì vẫn có Tơi=Tường=Tướng (là “nói tướng lên” tức to tiếng, nói thẳng) và Rỡi=Râm (là “nói mát nói mẻ”, nhiều khi giọng còn chua cay). Dẫu sao thì vẫn chỉ là đối thoại chứ không dùng bạo lực. Ngôn từ Việt đã chỉ ra Tất Cả. 5000 năm trước mà thế giới biết học chữ Nòng-Nọc và tiếng Việt để hiểu được văn hiến của Văn Lang Lạc Việt thì thế giới đã đại đồng từ lâu rồi chứ còn ai sản xuất vũ khí làm gì . (Hiếu với Thiên hạ gọi là “Hiếu Thiên” = Hiến. Thời tiền sử chỉ có Văn Lang mới có văn hiến).

Đất/Trời=Tất/Cả=Tạo/Hóa=Ta. Người Kinh tự xưng “Ta” (ngôi Một) và tự xưng “Một Kinh” = Mình (ngôi Một), “Mình Hai” = ”Mình Hay” = Mày (ngôi Hai). Khẳng định ngôi hai là “Mày Chứ” = Mừ (Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái). Chứ=Chư=Thứ (là dòng thứ, con thứ, dòng hai, sau dòng đầu). Trong các dòng Thứ = dòng Chư (tức dòng hai) xếp thứ tự lại có một dòng “Hai Đầu” = Hầu. Đây chính là tước Hầu thời nhà Chu phong đất. Chư Hầu = =Thứ Hai. Các tước Công, Hầu, Bá, Tử, Nam chính là Rộng (rộng đất nhất), Hai, Ba, Tư, Năm. Vậy thời nhà Chu toàn dân nói tiếng Việt.

Đất/Trời=Tất/Cả=Ta. Đất và Trời (đều là thiên thể) xa nhau nhất mà cũng là gần nhau nhất (chưa thấy tốc độ nào nhanh hơn tốc độ ánh sáng, mà cái Sáng lại là do trời cho Ta). Chính Ta (con người) là cầu nối Đất và Trời (“đứng giữa đất trời”), hễ sáng là Trời Đất nối liền nhau ngay bằng chính “Ta Kia” = =Tia (sáng) chứ không phải bằng loài vật nào khác. Ngôn ngữ thì Tiếng chính là cái Sáng vì Tiếng=Từ=Tơi+Rỡi. Do “Ruột Thiêng” = Riêng của Ta, mà loài vật không thể có, Ta có cái độc đáo hơn loài vật là có cái “Ta Riêng” = Tiếng. Do Tiếng là cái Sáng (tiếng trong trẻo) nên Tơi và Rỡi cũng đều là cái Sáng. “Tơi Rỡi”=Tời=Tải, là nó tải cái Lời (ý nghĩa của tiếng) đi ra. “Rỡi Tơi”=Rời=Rạng=Sáng=Láng=Linh=Lìa=Ly=Lửa=Lả=Hỏa=Hồn. Kẻ Sống=Kẻ Sáng luôn có Hồn, nhưng Hồn không dính cứng ở cơ thể sống, mà linh hoạt, lúc đi ra là tải Lời (có khi Hồn còn đi lạc, phải hú Hồn về). Hồn còn chuyển tải cái Sáng sang người khác (Sáng=Sang=Hàng=Hướng=Hành, hàng dọc là hướng sang dọc, hàng ngang là hướng sang ngang; hành là thi hành; “Thấy Đi”=Thi; cái Sáng làm chức năng của nó bằng cái Thấy). Cụ Trưởng Cần chỉ dùng lời của Cụ (nghe được) và cái ý nghĩ của Cụ (ẩn kín) mà chữa được bệnh nan y cho người khác, bởi Cụ đã dùng cái Thấy.

“Tất Cả”=Ta, từ người Kinh xưng (ngôi Một), tức Ta là một người Kinh, là một con người. Từ đôi Người Ta có nghĩa là nhiều người (“Người ta nói thế” tức “Nhiều người nói thế”, đó là một cái thông điệp do nhiều người cùng phát như vậy, mà bản chất là cái Sáng của chúng nó nói ra, tức của “Hồn chúng Nó” = =Họ nói ra, tức “Họ nói thế”. Như vậy khi đã nói đến Họ của “Ta Gốc”=Tộc là nói Họ Tộc . “Người Kinh họ nói thế” bởi họ còn “nhớ như In” (tiếng Kinh thì In là từ chung cho Ăn hay Uống, ăn uống là cái bản năng của Con, hễ khát nhớ uống, hễ đói nhớ ăn, cho nên mới có thành ngữ “Nhớ như In”). Người “Kinh họ nói là In” = Kin (tiếng Tày-Thái thì Kin là từ chung chỉ ý ăn hay uống, đến nay vẫn dùng chung như vậy, kể cả bên Thái Lan). Vậy thì đúng là Kinh đã Gieo tiếng. Tiếng là do “Kinh Gieo” = Keo. Tiếng Tày-Thái gọi “Dân Kinh” là “Cần Keo”. Kinh là dòng Rồng (Lạc Long), Thái là dòng Tiên (Âu Cơ).Ta=Giả nên nho viết chữ Giả 者 gồm Tia Sáng nối Đất 土 (đại diện bằng cái sáng của Đất là “Thấy Ổ”= Thổ, chữ Thổ 土) với Trời 日 (đại diện bằng cái sáng của Trời là chữ Nhật日), đúng như Ta=Tất Cả.

Ta và Mình đều là ngôi Một, chỉ số đông thì dùng Chúng Ta hay chúng Mình, nhân Dân chúng Ta thì nói tắt là Dân Ta. Còn khi đứng riêng thì Dân hay Ta đều là chỉ một người, dùng từ đôi để nhấn ý cho trịnh trọng thì “Dân Ta” = Gia (chỉ một người), nhấn cho thêm trịnh trọng nữa thì “Gia Gia” = Giả, 0+0=1(chỉ một người). Do khẳng định Ta không phải là loài nào khác mà là “Ta Kia” = Tia, phản ánh đúng Ta là cái Tia sáng nối Trời với Đất. Do vậy chữ nho viết biểu ý cái tia sáng ( Tia=Phía=Phẩy) bằng một nét phẩy xiên từ phải sang trái (ý là mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (ya là từ trời xuống đất). Chữ Việt bộ mễ nhiều người cứ thắc mắc còn một gạch xiên trên đầu là ý gì. Đỗ Thành (blog Nhạn Nam Phi) đã giải thích đó là tia sáng, bộ phận của chữ Thái 采 nghĩa là ánh sáng (còn viết Thái 彩). Chữ Việt 粤 gồm chữ Thái 采, bọc bằng chữ Vuông 口=Vành Vạnh=Mảnh=Mình= “Một Kinh”, dưới có hình cái Cày. Cày là cái công cụ quan trọng thứ Hai sau bàn Tay của dân nông nghiệp lúa nước. Nếu Một là cái phát hiện cũ thì cái phát hiện thứ hai đương nhiên phải là Hay hơn (“Hai đánh Một không chột cũng què”). Cho nên cái công cụ “Kinh Hay” = Cày (tiếng Kinh gọi cái cày là Cày); cái công cụ “Thái Hay” = =Thay (tiếng Thái gọi cái cày là Thay, nó cũng đồng với từ Thay của tiếng Kinh, nghĩa là thay cho sức của bàn tay cuốc đất). Cái Hay là cái văn minh, vì nó mới hơn cái cũ là cái một. “Thấy Hay” = Thay, nên người Việt rất nhạy với cái mới, Thay đời xe máy, ô tô, điện thoại di động như Thay áo. Bởi cái Mới là Hay, nên có “Mới Hay” = May. Người Việt hễ Thấy Hay là “Thấy Hay” = Thay liền, là làm Mới Liền = Mô Đên. Ta=Giả, nên chữ Giả 者 nho viết biểu ý gồm tia sáng nối Đất 土(chữ Thổ 土. Ổ=Tổ=Thổ) với Trời 日(chữ Nhật 日), đúng như Ta = Tất Cả.

2. Con người là một tiểu vũ trụ

Người Việt khi bắt đầu khai thác bề mặt Trái Đất để làm lúa nước bằng những mảnh Ruộng=Vuông (cách nay vạn năm , như di tích hột lúa ở Hòa Bình VN và ở Hà Mẫu Độ, Triết Giang TQ), người Việt đã đứng trên mặt đất mà nhìn để hiểu rằng cái kết cấu Âm/Dương là Đất/ Trời = Tất/ Cả = Tạo /Hóa = Ta (= Ngã 我 = Ngộ 我). Để làm được nông nghiệp trồng trọt, Ta phải nghiên cứu thiên văn, chủ yếu bằng con mắt quan sát (ngày nay vẫn còn phải dùng kính viễn vọng). Quan sát bằng mắt nên cái bầu trời như cái Vòm Ủ, gọi là “Vòm Ủ”= Vũ (nghĩa là không gian). Sau nho viết chữ Vũ bằng bộ thủ “Mái Hiên”= Miên 宀và bộ thủ Ư 于 thành chữ Vũ 宇 (Ủ = Ở = Ư 于 = U =Vu 于 = Du 游 = Do 由 - sự Ủ cũng là một sự chuyển động như lên men vậy). Cái “Trời Ủ” = Trụ (nghĩa là thời gian - ấn định bằng mặt trời) viết bằng bộ thủ Miên 宀 và bộ thủ Do 由 thành chữ Trụ 宙. Đứng ở vị trí Vũ Trụ mà nhìn xuống thì kết cấu Dương/Âm là Cả/Tất = Còn/ Khuất = Càn /Khôn. Gọi là Càn /Khôn vì quan sát vũ trụ bằng mắt, thấy có những thiên thể thì mắt người nhìn thấy “Có luôn luôn và trong trạng thái chuyển động Tròn” = Còn= “Còn miên Man” = Càn. Có những thiên thể là “Không thể nhìn thấy toàn bộ được bằng Mắt” = Khuất = “Khuất luôn Luôn” = Khôn. Ghép lại, từ Càn Khôn dùng chỉ chung vũ trụ. Càn dùng riêng thì ám chỉ Mặt Trời (mắt thường nhìn thấy toàn bộ mặt trời và cái cảm giác chuyển động tròn của nó trong ngày và đêm). Khôn dùng riêng ám chỉ Trái Đất, con người đứng trên mặt đất nhưng không thể nhìn thấy toàn bộ Trái Đất (vì thời cổ đại chưa có tàu vũ trụ) nên vẫn coi Đất là Khuất. Chỉ vài từ gốc của tiếng Việt nêu trên, vẫn dùng nguyên vẹn trong tiếng Kinh ngày nay, đủ để chứng minh rằng: Âm Dương, Bát Quái, Kinh Dịch là của người Việt.

Đông Y cổ đại, Y học hiện đại, Khoa học nghiên cứu tiềm năng con người đều kết luận rằng con người là một vũ trụ thu nhỏ. Vậy mà kết luận trên lại hiển hiện tự nhiên trong ngôn từ Việt ở ngôn xưng của dân tộc Kinh: Dương / Âm = Còn / Khuất = Càn / Khôn = Trời / Đất = Tròn Vuông = Trọn Vẹn = Hoàn Toàn = Cả Tất. Đó là kết cấu theo vũ trụ, dương trước âm sau, dương sinh ra âm. Con người sinh ra ở Đất, do vậy kết cấu theo con người thì phải ngược lại, viết âm trước dương sau, “Sinh ra ở giữa Đất Trời”, bởi vậy người Việt gọi “thuyết Âm Dương”, Hán ngữ giữ nguyên kết cấu đó là Yin Yang. Kết cấu theo vũ trụ thì gọi là Trời Đất, mà kết cấu theo con người thì gọi là Đất Trời, và Đất Trời = Tất Cả. Tất Cả có nghĩa là vũ trụ, cái vũ trụ ấy cô đặc thành một con người, đó là “Tất Cả” = Ta. Ta là ngôn xưng của tiếng Kinh chỉ Mình = “Một Kinh”. Ta=Tui=Tôi=Tao= Cao (tiếng Vân Kiều)=Cau (tiếng Philippin) = =Coong(tiếng Khơ Me)= Cò (tiếng Thái) =Con=Qua=Cán 干 = Quan 官 = Quân 軍 = Quân 君,đều là ngôn xưng ngôi một. Một hướng phát triển khác của ngôn xưng Ta của người Kinh là: Ta=Nhà= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我 (tiếng Việt Đông).

Chứng minh vũ trụ đã cô đặc thành một con người chỉ cần dùng có bốn từ tiếng Kinh của ngôi xưng thứ nhất: (1) KẺ, là chỉ con người, (dùng que cứng kẻ một Kẻ – là tượng trưng tính dương hay đàn ông, kẻ hai Kẻ – – nối cách nhau là tượng trưng tính âm hay đàn bà), từ Kẻ về sau phiên thiết thành hai âm tiết là Cơ Thể, trả lại như cũ, tức lướt thì “Cơ Thể”= Kẻ. (2) KINH = “Kẻ Minh”, Minh nghĩa là sáng: Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh. (3) MÌNH = “Một Kinh”, một Kinh tức một Kẻ thuộc dân tộc Kinh, thành từ tự xưng là “Một Kinh” = Mình. Trong một kẻ, là một con người, có hai cái Sáng (trí tuệ) , tức hai cái Minh, cân bằng nhau, là Minh dương và Minh âm, “Cân bằng hai cái Minh” = Kinh. Vì có hai Minh nên “Minh Minh” = Mình, 0+0=1, tự xưng là Mình. (4) TA = “Tất Cả”. Vũ trụ chỉ có dương và âm mà vũ trụ sinh ra tất cả. Trong con người có âm và dương nên con người là tất cả, được thu nhỏ lại, “Tất Cả”= Ta, tự xưng là Ta (Ta=Ngã=Ngộ). Hai từ tự xưng ghép lại thành từ đôi thì cũng như hai cái sáng ghép lại thì thành tố chất càng sáng: Mình Ta, nói lái là Mà Tinh; Ta Mình, nói lái là Tinh Mà. Nhưng trong nội tại nó luôn có mâu thuẫn: Mình Ta, nói lái là Tà/Minh; Ta Mình, nói lái là Minh/Tà. Giống như tương tác trong vũ trụ cho ra những kết quả Minh và Tà. Tương tác trong cơ thể cũng cho ra những kết quả Minh và Tà.

Hán thư viết rằng: “Cái tên Việt và Bách Việt xuất hiện vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc”. Nhưng thời Xuân Thu có 7 nước, đến thời Chiến Quốc đã thành 140 nước. Nước nào cũng có Kinh Đô riêng. Mà Kinh Đô tức là nơi người Kinh “Đông Hộ”. “Đông Hộ” = Đô. Chữ Đô 都, nghĩa biểu ý của nó là chữ: Ta 者(ở thành) Ấp 阝. Chữ Ta 者 viết biểu ý là một Tia sáng (nét Tia=Phía=Phẩy từ trên xuống dưới, hơi xiên từ phải sang trái, Phải ý là trời, Trái ý là trái đất; Tia ấy nối Đất – đại diện bằng cái sáng của đất là chữ Thổ 土, với Trời – đại diện bằng cái sáng của trời là chữ Nhật 日, thành chữ Ta=Giả 者). Ta (= Gia 家 = Giả 者 = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我, là những từ có sau, đều dùng để xưng “Tôi”). Ấp thì phải là “Đông Hộ”. Họ là nhiều người, “Nghe họ nói thế” tức là “Nghe nhiều người nói thế”. “Họ chung một Ổ”= Hộ (dù những người ấy không nhất thiết phải là thân thuộc của nhau). Việt mà chỉ “thời Xuân Thu mới xuất hiện”(?) thì người Kinh có từ khi nào? Tra về người thì tư liệu TQ nói: Kinh là dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc của TQ, trong lịch sử họ từ VN di cư sang vài hòn đảo thuộc Quảng Tây TQ vào thời nhà Lê, thế kỷ 17. Tư liệu VN nói: Kinh là dân tộc đa số của VN (Từ Điển Tiếng Việt nxb KHXH 1977, trang 443). Kinh là người Kinh chỉ đơn giản vậy thôi sao? Thời cổ đại cách nay 5000 năm, đã có vua thì vua nào dân nấy. Vua là Kinh Dương Vương thì dân là Dân của Kinh, hay gọi là Dân Kinh. Nhưng “Dân Kinh” = Dinh, dân ấy là dinh lũy bền vững cho vua Kinh Dương Vương. Vua là Khan thì dân là Dân của Khan, hay gọi là Dân Hãn. Nhưng “Dân Hãn” = Dãn = Dấn = Lấn = “Lấn Trước” = Lược, vì họ sống du mục, (ngô ngoài đồng của dân trồng trọt mới ra bắp non thì cả bầy ngựa của dân du mục đã ào đến gặm sạch), từ đó mà có từ xâm lấn, xâm lược. Thời Kinh Dương Vương, quan hệ xã hội là “Kinh với Dân” = Cân = Công = Đồng = Đẳng = Bằng = Bình = “Cân Bình” = Kinh (còn “Dân với Kinh” = Dinh = Dính, là dinh lũy bền vững). Về biểu ý của chữ nho thì “Cân Bình” = Kinh, nên chữ Kinh 京 viết rất cân đối theo chiều bổ dọc đôi, nó gồm ba phần là Đầu 亠, Mình 口, và Túc 小. Đầu là cái chui ra trước tiên khi con người ra đời, nó là cái Trước (về thời gian), nó có Óc ở trong Ốc sọ, nên còn gọi là “Trước Ốc” = Trốc, che ngoài Trốc có Toóc (như “vỏ ngoài của thân cây lúa” = “Toóc”, tiếng Huế). “Toóc che cho ốc sọ và Óc” = Tóc. Mình 口, viết bằng Vuông 口, tiếng Việt Đông đọc Vuông 口 là Mảnh, Mảnh=Mình. Vuông=Văn, “Văn bằng” hay “Mảnh bằng” cũng thế cả. “Mảnh thân này có sá chi” hay “Mình này có sá chi” cũng thế cả. Câu đầu trong sách dạy nhân thể học là “Cơ thể người ta gồm có ba phần: Đầu 亠, Mình 口, và Chân Tay 小”. Chân Tay có từ chung là Túc (cũng như Ăn Uống có từ chung là In = Ẩm). Túc đã theo QT Nở mà nở ra Tay và Tấn. Đứng Tấn là một thế võ đứng không động, tức “Chỉ Tấn” = Chân. Chỉ là “Chẳng Đi” = Chỉ止. Đứng “Chẳng Đi” đã cho ra từ viết bằng chữ nho là Đình Chỉ, vì người Kinh họ nói như thế. “Đứng của tiếng Kinh”= Đình 停 (dấu = ở đây thay cho “còn gọi là”). Túc=Tiểu, nên trong chữ Kinh 京 ý Túc được đại diện bằng chữ Tiểu 小, vì thực tế Tay Chân là cái nhỏ của cơ thể (Nick không có tay chân mà còn làm nên cái vĩ đại cho thế giới thấy). Mình=Mảnh=Vành Vạnh=Vuông=Văn. Chữ Kinh chỉ rõ là một cơ thể con người, đó là một Kẻ. Kẻ ấy có hai cái Minh trong trí tuệ, nên gọi là “Kẻ Minh” = =Kinh. Nó xưng là “Một Kinh”= Mình, vì trong mình nó có hai cái Minh, “Minh Minh” = Mình, 0+0=1. Minh ấy là Sáng, do Sáng = Láng (=Lượng 亮) =Linh, “Kẻ Linh” = Kinh. Hai cái Minh ấy là Minh dương và Minh âm. Minh dương là Sáng Lâu, viết biểu ý bằng cái ánh sáng gọi là Nhật 日 là của Trời và cái ánh sáng gọi là Nguyệt 月 là của Trăng (Trời đã cho ra những cái tên chỉ ánh sáng của Trời là: Trời=Ngời=Nguyệt=Nhiệt=Nhật, nó là cái còn mãi mãi), thành chữ Minh 明. Minh dương là Sáng Lâu thì lái ngược lại Minh âm là Sâu Láng = Mầu Linh (Sâu=Mầu, Láng=Linh), “Mầu và Linh” = Minh 冥, vì là âm, nên viết phải lái ngược là “Mịch 冖 Viết 曰 Lâu 六”= “Mầu Viết Linh”. Viết 曰 = Van=Vân Vân = Và = Na = Nói = Nài. Có là người Việt thì mới gọi Nói là Viết, khi lướt hai từ “Việt Nói” mà không lấy rỡi của từ sau, chỉ lấy thanh điệu của từ sau (gọi là Lướt Lủn) thì có “Việt Nói” = “Việt sắc (dấu sắc của Nói) là Viết” = Viết. Viết nghĩa là “tiếng nói chung của nhiều người Việt”, vì “Việt Việt” = Viết, 0+0=1. (Từ điển của Viện ngôn ngữ giải thích từ Việt 越 là “từ gốc Hán”, trang 476).

(Tương tự như “Giết Giết” = Diệt, 1+1=0. Diệt 滅 nghĩa là “Giết hết, làm cho không còn tồn tạị” như Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng , Viện Ngôn Ngữ học, NXB KHXH HN 1991 giải thích, trang 100. Giải thích như LM: Diệt nghĩa là Giết Sạch, do lướt lủn, tức chỉ lấy dấu nặng của từ sau nên “Giết Sạch”= “Giết nặng Diệt”= Diệt (như là đánh vần), kết quả sau cùng của Giết và Diệt đều là -Ết = Chết = Hết. Giết thì chưa chắc đã chết hết, nhưng giết nặng tay thành ra Diệt thì chết sạch sành sanh. Vậy mà từ điển trên xếp chữ Diệt 滅 là “từ gốc Hán” (vì nhìn thấy có viết bằng chữ nho), lại không thấy bố mẹ đẻ ra từ Diệt là từ Giết ( Giết của Hán ngữ là “Sha 殺”, Diệt của Hán ngữ là “Mie 滅”, Sha với Mie có logic gì với nhau bằng Giết với Diệt không? Kể cả đúng với toán học nhị phân: Giết Giết = Diệt, 1+1=0, là không còn một mống).

Nôm Na là Vuông 口 Nam 南 (= 喃)Nói = Vuông Lam Nói = Văn Lang Nói. Pạc Và là tiếng Việt Đông. Pạc Và = Bạch Nói ( Dân tộc Bạch từng rút lui về nam lập nước Đại Lý tồn tại 400 năm ở Vân Nam, đất xưa Văn Lang, sau bị Nguyên diệt. Người Bạch có phải là hậu duệ của Bách Việt không? Có học giả TQ nghiên cứu về ngôn ngữ nói: nhiều từ gốc của người Bạch giống từ gốc của dân vùng đồng lầy Vân Mộng , bắc Động Đình Hồ. Có người Bạch ở Đại Lý thì nói: dân tộc tôi không có chữ viết - hay đã bị mất? - nên chúng tôi bị mất mát rất nhiều bản sắc). Sáng=Láng=Lượng=Linh=Minh, cái “Kẻ Minh”= Kinh ấy gọi là Kinh ( chú giải của Thuyết Văn Giải Tự: “ Kinh là cái tuyệt cao của con người”- Đoạn Ngọc Tài 段 玉 裁, đời Thanh. Tuyệt cao đây không phải là cao mấy mét hay cao chức cao quyền, tuyệt cao đây là cái trí tuệ, thì đích thị nó là “Cao Minh” = “Cân Minh” = “Kẻ Minh”= Kinh. Người Kinh tự xưng là “Một Kinh”= Mình, tự gọi cơ thể mình là “Một Sáng”= Mạng, và “Mạng Sống”= Mống. VD “Nhà mày đẻ được mấy Mống rồi?”, “ Diệt cái thói xâm lược cho nó chết sạch không còn một Mống”. Trong Từ Điển Tiếng Việt đã dẫn, không có từ Mống = ”Mạng Sống” này, nhưng có từ Mống cụt, được giải thích là Mống cầu vồng cụt , VD “Mống vàng thì nắng, Mống trắng thì mưa”, trang 519, đủ thấy Từ Điển đã không biết rằng nông dân cổ đại đã lướt cái “Móng cầu Vồng”= Mống, để có từ Mống ở trường hợp này, cũng như khi hột lúa bị ướt thì nhú cái mầm sống của nó ra, nông dân cổ đại đã lướt “Mầm Sống”= Mộng, cho trường hợp đó, gọi là lúa lên mộng.

Người Kinh khi thưa thì nói Dạ! “Tôi Dạ!”= Tạ, “Tôi Rõ!”= Tỏ, “Dạ Rõ” = “Dạ Tỏ” nên Dạ ấy nghĩa là Sáng. Con người có hai cái Sáng vì vậy gọi là Sáng Dạ, chia ra Sáng đại diện sáng dương, Dạ đại diện sáng âm, nên sau nho lấy chữ Dạ đại diện cho đêm. Sáng và “Trong Sạch” = Trạch. Đầm Dạ Trạch là đầm vừa sáng vừa trong sạch. Bức hoành ở chùa Ông Bổn ( hội quán Phúc Kiến tại tp HCM) có viết bốn chữ từ phải sang trái (ý là người xưa dặn dò) là Trạch Cập Lân Phong 澤 及 鄰 封, nghĩa là đem (tấm lòng) trong sạch mà cập bến của vùng láng giềng gần. Chữ “Láng giềng Gần” = Lân 鄰. Chữ “Phát cho đất trong một vùng=Vòng” = Phong (Chữ Phong 封 gồm hai bộ Thổ 土 , ý là được nhiều đất, và bộ Thốn 寸 , ý là có đo đạc đàng hoàng, chữ Phong 封 dùng làm đại diện cho Vùng, nên còn biến ý là “vòng kín, niêm phong”. Phong là Vùng nên mỗi Phong có tục lệ riêng (“đất lề quê thói”) gọi là Phong Tục, về sau họ chỉ căn cứ vào cái âm “phong” nên dùng chữ Phong 風 nghĩa là gió để ghép từ Phong Tục, nghĩa là “tục của gió”? sai cả biểu ý . Người dương sẽ đọc từ trái sang phải là Phong Lân Cập Trạch, nghĩa là “(đến ở) vùng láng giềng gần (thì nguyện) theo kịp cái sáng”, nói lên tâm nguyện đến ở vùng láng giềng gần thì phải tích cực hướng tới cái sáng. Người Kinh tự xưng là Mình, cũng tự xưng là Ta. Ở câu ca dao “Mình về có nhớ Ta chăng. Ta về Ta nhớ hàm răng mình cười” thì biết ngay là có hai người đang nói với nhau. “Ta với Mình tuy hai mà một. Mình với Ta tuy một mà hai”, bởi mỗi người đều có ở trong Mình hai cái Minh. Ở trong Mình có cái “Ta Âm”= Tâm. Tâm Linh nghĩa là cái Tâm ấy nó cũng sáng. Ở trong Mình có cái “Ta Dương”= Tướng (Tướng=Tượng=Tạng=Dáng). Tướng là sự thể hiện trí tuệ của người trên nét mặt người đó, tức trên “Mặt Tao”= Mạo, nên còn gọi là Tướng Mạo. VD: “Anh coi giùm cái Tướng cho tôi với” hay “Anh coi giùm cho tôi cái Tướng Mạo”. Con người là Sáng Dạ, cho nên nó Sáng Giá, vì nhấn ý Dạ là “Dạ Dạ”= Giá, 0+0=1. Mà nhấn ý Sáng thì “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Sáng Giá là Sang (0) và có Giá (1) cũng là đủ cân bằng âm dương như 0 và 1. Tại sao người Kinh đã tự xưng là “Một Kinh”= Mình rồi lại còn tự xưng là Ta? Bởi người Kinh đã có nền Đông Y cổ đại, bao gồm cả thuật châm cứu, từ thời Thần Nông (Kênh Lạch = Kinh Lạc). Nền y học ấy cho rằng con người là một tiểu vũ trụ, tức con người là Tất Cả đuợc gói gọn thu nhỏ lại: “Tất Cả”=Ta (= Nhà = Ngã 我 = Gia 家 = Giả 者, là những từ xuất hiện sau).

Sự sống nhờ Nước và Không Khí. Cái NÔI khái niệm bản chất Trong Sáng = Trong Suốt của Nước (H2 O) và Không Khí chủ yếu là dưỡng khí (O 2) là: Nước=Nuột (nuột nà)=Suốt=Sáng=Sóng=Trong=Thong (thong dong) = Thấu = Thanh = Thông = =Không=Khí=Khuổi=Huổi=Hơi. Riêng Nước còn có thể sờ thấy được, Không Khí thì không thể. Nhìn vào H2O thấy ngay Nước có hai cái minh là H2 không sờ thấy được, cũng như trong dưỡng khí cũng có hai cái minh và đều không sờ thấy được, là O2. Vậy bản chất hai cái Minh trong Ta và trong Nước hay trong Không Khí là như nhau, làm ô nhiễm Nước hay Không Khí thì Ta cũng chết. Ngôn từ Việt đã chỉ rõ Tất Cả. Vậy mà hai cái Minh cân bằng nhau trong Mình lại là tên của hai tộc người là Kinh và Thái, con cháu của Rồng và Tiên (của Lạc Long Quân và Âu Cơ). “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh. Kinh tự xưng là Ta (ngôi Một). “Ta sinh ra Hai”= “Ta sinh ra Hay”= Tày (đó là dòng thứ đầu). Ta lại sinh ra dòng “Thứ Hai”= Thái. Ta sinh ra dòng “Thứ Ba”= Tha. (Thường dùng từ “tha nhân”. Hán ngữ dùng chữ Tha chỉ ngôi thứ ba, phát âm chính xác là “tha”). Xưng Ta là ngôi Một thì chính trong Ta có hai cái sáng là “Minh Sáng”= Mạng. Ta là ngôi Một thì chính Ta đã sinh ra cái “Mạng Hai”= “Mạng Hay”= Mày; khẳng định thì nói Ta đã sinh ra “Mày Chứ!”= Mừ. Mừ là ngôn xưng ngôi hai của tiếng Tày-Thái. Vậy Tày-Thái là dòng Chứ=Chư=Thứ, so với Kinh là dòng “Kinh Ả”= Cả. Thủa tiền sử là thời mẫu hệ, Ả nghĩa là người đàn bà, tiếng Mường và tiếng bắc Trung Bộ vẫn gọi chị là Ả. (Tiếng Mường có Ả-Ún là Chị-Em, Eng-Ún là Anh-Em. Những từ trên đã QT Nở mà nở sinh đôi từ cái tế bào O, ở giữa từ Nòi của NÔI, O tiếng Trung Bộ nghĩa là cô gái “Ơi O chèo đò trên dòng sông Hương”, O nở ra Ả(1) / Ún (0) và đồng thời nở ra Anh(1)/Em(0) là hai cặp đối sinh đôi). Cái tên Kinh nghĩa là sáng: Kinh = Bình Minh. Cái tên Thái cũng nghĩa là sáng: vd câu “Hết thời bĩ cực đến ngày thái lai”. Nếu đọc báo miền Nam trước 1975 ắt gặp câu “Việt Nam và Thái Lan là hai dân tộc anh em ruột thịt”. Kinh và Thái là có trước rồi mới sinh ra Việt là con của Rồng Tiên. Chữ Việt 粤 bộ mễ đã chỉ rõ như vậy. Chữ Việt 粤 gồm bộ Vuông 口= Vành Vạnh = =Mảnh = Mình 口 = Kinh và bộ Thái 采, dưới có cái Cày. Chữ Thái 采 nghĩa là sáng, gồm Tia=Phía=Phẩy là nét phẩy xiên phải sang trái (mặt trời mọc đàng đông) từ trên xuống dưới (từ trời xuống đất), dưới là bộ Mễ 米, chính là các tia mặt trời trên trống đồng, mặt trời được tôn làm mẹ của dân Lửa là dân trống đồng, chính là Mẹ (Kinh)= Mế (Tày)= Mè (Lào)= Mệ (Huế)= Mễ 米, nho cũng dùng chữ Mễ 米 này ám chỉ Gạo (Kinh)= Khao (Thái) của dân lúa nước, vì mẹ là bầu sữa, là miệng nhai cơm sún cho con sơ sinh ( “Sẻ nhỏ giọt cho Ún” = Sún= Bún = Bột = Búng. Ca dao: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa. Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”). Bản thân thiên thể Mặt Trời cũng là hai cái sáng, gọi là Dương Sáng, tiếng các sắc tộc ở Tây Nguyên gọi là “Dương Sáng”= Giàng. Hán ngữ dịch ý Dương Sáng , đảo là Sáng Dương = Thái Dương, chỉ mặt trời. Ngày nay khai thác năng lượng mặt trời thì gọi là Thái Dương Năng. Nhưng Năng là cái tế bào của NÔI Việt nên tế bào Năng QT Nở mà thành Nắng (1) / Nước (0). Lưỡng Quảng xưa còn có tên là Lưỡng Việt, nói thứ ngôn ngữ gọi là Việt ngữ 粤 语 (tiếng Việt Đông, tiếng Quảng Đông, tiếng Canton), khác với tiếng Quan Thoại (tiếng Mandarin - do phiên âm chữ Mãn Thanh). Tiếng Quảng Đông , người Quảng Đông gọi là Pạc Và tức Bạch Nói (Bạch Thoại). Nhưng Bạch thì có nhiều lắm, còn gọi là bách tính tức trăm họ, “Bạch Bạch”= Bách, 0+0=1, nên Bạch Thoại cũng chỉ là một trong những ngôn ngữ hình thành do diễn biến của ngôn ngữ Bách Việt.

3. Định nghĩa người Kinh

Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là của người Việt. Âm Dương là từ ghép xuôi dùng để nói về thế giới con người trên mặt đất, (“Con người đứng giữa Đất Trời”- có đất thì mới có chỗ đứng- khi nói ngang ngược thì “Vốn đã sinh ra trong Trời Đất” – ý là từ trên trời giáng thế). Nếu là nói về vũ trụ thì ghép là Dương/ Âm = Càn/ Khôn = Cả/ Tất = Còn/ Khuất = Trời/ Đất = Tròn/ Vuông = Trọn/Vẹn = Hoàn /Toàn. Con người sinh ra trên đất, nên ghép xuôi Âm/Dương = Tất/ Cả= Tạo/Hóa. Lướt thì “Tất Cả”=Ta hay “Tạo Hóa”=Ta. Người Kinh tự xưng là Ta (ý nói là đã gói gọn toàn bộ vũ trụ trong Mình). Cái Ta ấy là “Một Kinh”= Mình. Cái Ta ấy có “Ta Dương”= Tướng thì Sáng Lâu, và có cái “Ta Âm”= Tâm thì Sâu Láng. Cái Sáng Lâu là ánh sáng gọi là Nhật 日 của Trời và ánh sáng gọi là Nguyệt 月 của Trăng, ghép thành chữ Minh 明 dương. Cái Sâu Láng = “Mầu Linh”= Minh âm, viết bằng chữ lái ngược Mịch 冖 Và 曰 Lâu 六 (lái là Mầu Và Linh) thành chữ Minh 冥 âm. Hai cái Minh tức hai cái Sáng. Cái “Sáng Dương” = Sướng (là cái trí hanh thông). Cái “ Sáng Âm” = Sấm (là cái trí tuệ tiên tri). Sấm=Sới, Sới võ là nơi đấu võ bằng trí tuệ. Cái Ta ấy là “Ta Một”= Tốt (“Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa). Một Kinh = Một Cây = One Kind = O.K. Kinh Dương Vương là Tổ của Bách Việt. “Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống” ( trích Ngọc Phả Hùng Vương, lưu tại đền Hùng, Phú Thọ). Ta một, là Kinh Dương Vương thì phải đẻ ra “Thành ta Hai”= Thái. “Ta Hai”= “Ta Hay”= =Tày. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta giống cả tâm lẫn Tướng”= Mường. “Giống Kinh Dương Vương đẻ ra dòng Tao”= =Dao. “Mẹ cha ta là Kinh Dương Vương đẻ ra ta rất Giống”= Mông. Vân vân và vân vân. Còn Bé thì Bú, Bú hết rồi thì ăn Bột, rồi mới biết Bò, rồi mới biết Bước. Lớn lên mới có thể Bước=Vược=Vượt. Kinh=Canh=Oanh. Vượt của dân canh Lửa = =“Vượt của dân oanh Liệt” = Việt (“Con hơn cha là nhà có phúc”

4. Người Kinh và chữ nho Kinh 京

Chữ nho, còn gọi là chữ vuông, là loại chữ biểu ý của người Việt, viết gom các ký tự tượng hình và tượng thanh vào trong một ô vuông mường tượng (mường tượng là hình dung ra cái vô hình, “Tướng Tướng”=Tượng,1+1=0; “Mắt nhìn thấy nội dung thể hiện qua Tướng”= Mường), tức là cho các ký tự “Về Ổ”= Vô. Và “Vô cái ô vuông mường tượng như là In”= Vin. Để vin vào biểu ý đó mà hiểu nghĩa chữ. Cụm từ “vuông Chữ Nho nhỏ” ấy đã bị QT Vo làm vò rụng mất đầu “vuông” và đuôi “nhỏ” còn lại cái lõi là Chữ Nho. Chữ=Trữ 貯 =Tự 字 =Tự 嗣, một Tự 字 nghĩa là nối dòng văn hóa, một Tự 嗣 nghĩa là nối dòng huyết thống. Kinh nghĩa là “Cái đôi Minh”= Kinh, “Cân bằng hai cái Minh”= Kinh, đó là “Kẻ Minh”= Kinh, là cơ thể một con người, gồm Đầu 亠 Mình 口 và Chân Tay 小, thành chữ Kinh 京. Vuông=Vắn=Văn=Vành Vạnh=Mảnh= “Mảnh của kẻ Minh”= Mình. Tiếng Việt Đông đọc chữ Văn 文 là Mảnh. Mảnh lại có nghĩa là một mình, “Ăn Mảnh” là ăn một mình không cho ai biết, VD: “Trình Văn Bằng làm gì, còn phải căn cứ vào năng lực thực tế chứ vin gì vào Mảnh Bằng”. Ấy vậy mà các vị hàn lâm cứ giải thích trong các Từ Điển rằng từ Văn 文 là một “từ gốc Hán”, là “từ Hán Việt”. Chẳng khác gì “Gắp (cắp) của mình bỏ sang tay người” hay là “Nối dáo cho xâm lăng văn hóa”. Cái Lõi văn hóa của một dân tộc không phải là cái “Ruột Rỗng”= Rống (“thùng rỗng kêu to”) mà là cái “Ruột Đặc”= Rặc. Xưa nay bọn ngoại xâm là bọn muốn diệt cái Rặc của một dân tộc, bọn ấy gọi là bọn “Diệt của kẻ khác cái Rặc” = Giặc. Hãy nghe câu thơ “phồn thực” của Hồ Xuân Hương: “Cọc nhổ đi rồi Lỗ bỏ không”. Và hãy lướt “Kẻ Rặc”= là cái gì, với “Lõi của giống nòi là cái nõn viết bằng chữ Nộn”= là cái gì. Lõi là cái Nõn, còn Cặc=Cương=Nường, là cặp sinh thực khí: Nõn/Nường = Âm/Dương (ở lễ hội dân gian tại Phú Thọ). Chữ ký âm xưa là chữ Nòng/Nọc = Dương/Âm. Dùng cấu trúc theo vũ trụ là Dương/Âm, ghép ngược cấu trúc theo mặt đất là Âm/Dương, ghép theo cấu trúc vũ trụ vì chữ là do Trời cho (Hán sử gọi là Thiên Thư). Tùy tiện giải thích ngôn từ Việt thành “từ Hán Việt” có người cho rằng là để cho nó “sang”. Lại không thấy người Kinh thì mới là “Sáng Sáng”= Sang, 1+1=0. Và cái “Sáng Âm”= Sấm ( trí tuệ tiên tri, tiềm năng con người) của người Kinh mới là đem lại được bình an cho Đất Trời = Tất Cả (Cả=Còn=Tròn=Trời=Ngời=Người). Cái Ngời Ta = Sáng Tất Cả. Nâng cao dân trí mới là cái quan trọng nhất chứ không phải là đua nhau khoe cái Mảnh Bằng.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng, Giáo sư Cao Xuân Hạo trong cuốn sách “Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt” của ông có nêu: Cốt lõi của cú pháp tiếng Việt là Đề và Thuyết.

Phân tích bốn từ Tiếng - Văn - Người - Việt:

(1).Tiếng = Miệng = Miếng = Mẩu= Khẩu 口 = Mầu 妙 = Trầu = Giầu = Diệu 妙, nôi khái niệm này gói trọn cái nội dung “ăn nói” (Tục ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, có lẽ đã có cách nay 5000 năm, khi người Việt có tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Tứ đối Mun/Minh, Mun = Hun = Hôn 昏 = Hoen Hoẻn = Hắc 黑, em hôn anh một cái là em đã hoen một vết son lên má anh, son Hàn Quốc bây giờ còn có màu thâm, Đen = Hoen = “Hoen Tuyền”= Huyền 玄, “Răng đen nhưng nhức hạt huyền”). Cốt chuyện thì rất Mầu vì là chuyện cổ tích (như “Thị Mầu lên chùa”), và lời kể thì rất duyên, Chuyện = Duyên 緣 = Diệu 妙 = Điệu 窕, đó là cách biểu diễn văn học.

(2,3,4).Vuông=Văn=Nhắn=Nhiệt=Nguyệt=Ngời=Người. Người Việt làm Ruộng (Vuông) , ở xứ nóng (Nhiệt), là cái Sáng (Ngời) do Trời cho (Trời=Ngời). Sáng = Choang = Quang = Láng = Lượng = Linh = Minh = Một Mình = Một Manh = Mảnh = Vành Vạnh = =Vuông = Văn = Nhắn = =Nhân = Dân = Cân = Canh = Kinh: Người Việt bắt đầu từ người Kinh. Ký ức của Nhân Dân từ vạn năm trước là cái Sáng = Sống =Sinh Động như cái Nhân của hột giống luôn Canh cánh trong lòng Nhắn (Nhắn=Gắn=Gen) lại cho các thế hệ sau tìm và chắp lại cho đủ cái Minh của người Kinh.

Tư duy con người đã từ Phân Tích (thời chữ ký âm Nòng Nọc) đi đến Tổng Hợp (thời chữ Vuông biểu ý: Chứa = Chữ = Trữ 貯 = =Tự 字 = Tự 嗣, trong đó Chứa=Chữ=Tự 字 là nối dòng văn hóa, Chứa=Chửa=Tựa=Tự 嗣 là nối dòng huyết thống, cái Gen chính là điểm Tựa để di truyền nòi giống (có cùng Gien thì mới Giống như Tựa hay giống như Tạc, tiếng Nhật “O-Na-Di Đếx Né!” nghĩa là “Nó-Na Ná-Giống Đấy Nhé!”). Phân Tích đến Tổng Hợp là hết một vòng. Lại tiếp đến vòng mới bắt đầu bằng Phân Tích (chữ quốc ngữ bằng mẫu tự Latin, lịch sử lặp lại ở đỉnh cao hơn). Như ngày nay con cháu người Kinh (người Sáng), người Choang, người Thái, người Tày, người Mường, người Mông v.v. và v.v, đều là hậu duệ của Bách Việt, đang Phân Tích các ứng dụng của Âm Dương Ngũ Hành đến Kinh Dịch rồi Tổng Hợp để “Thấu Lấy”= Thấy được cái Minh của Tổ Tiên mình.

6. Vai trò của mệnh lệnh thức trong tạo từ mới:

Từ mệnh lệnh thức thường đặt cuối câu, thường dùng nhất là từ Đi! Như “ăn đi!”, “ngủ đi!”, “làm đi!” (Hán ngữ dùng từ Hành- “xíng!” với nghĩa là “được!” ). Đi theo QT Tơi-Rỡi sinh ra các từ mệnh lệnh thức khác: Đi=Đấy=Đex (tiếng Nhật)=Đích的 =Đó=Co (tiếng Việt Đông)=Cơ= “Tơ” (tiếng Quan Thoại đọc chữ Đích 的)=Chớ=Chứ=Chi 之 (tiếng “Nho Ta”= Nhã)=Nhỉ=Nhá=Nhé=Nhể=Nê (tiếng Nhật)=Nư (tiếng Thái)=Hử=Hỉ=Hề=Hầy=Hày (tiếng Nhật)=Hài=Phải, là những mệnh lệnh thức đặt cuối câu biểu ý khẳng định hay hài lòng, đồng thuận.

Mình là từ nhân xưng ngôi 1 của người Kinh. Mình đã Di sang thành ngôi 2 là do “Mình Đi”=Mi, “Mình Hầy”=Mầy, “Mình Hày”=Mày, “Mình Chứ”=Mừ (tiếng Thái xưng ngôi 2).

Ta là từ nhân xưng ngôi 1 của tiếng Việt ( do Đất Trời = “Tất Cả” = “Tạo Hóa”= Ta, con người là một tiểu vũ trụ). Tiếng Nhật có từ nhân xưng ngôi 1 là Wa-Ta-Xi, rõ ràng từ Ta cũng đồng thời là do QT Vo mà lấy ra từ lõi của Wa-Ta-Xi, chứng tỏ vũ trụ đã Vo=Vón=Con mà thành con người là Ta. (Nhân xưng ngôi 2 tiếng Nhật là A-Na-Ta, nếu Vo bị lệch chút cũng được chữ Ta). Phần xác thịt của con người là do tiến hóa từ Vượn=Vươn= “Vươn Lên”=Viên 猿 (con vượn)=Vượt=Việt.

Đất Trời cũng có nghĩa là Sáng Sáng. Đất có người khai thác tượng trưng là Vuông (Yoni). Vuông=Vương=Dương=Dàng ( tiếng Mường “Dịt Dàng” là Việt Vương”)=Sáng. Trời=Trắng (bạch nhật)=Trong=Tráng=Dang (Dang Nắng)=Chang (Nắng Chang Chang)=Sáng=Vàng (nắng vàng)=Vương (thiên vương). Quẻ Ly”=Qủi, Ly tượng lửa, màu đỏ. Ly=Lửa=Lả=Tá (tá hỏa ) = Tỏ= =Đỏ=Đỏ Đắn=Đán (nghĩa là ban ngày, từ đối Đán/Đêm=Dương/Âm)Đán=Đàng=Sáng ( “Địa Đàng phương Đông” ý chỉ vùng ĐNÁ, là vùng Sáng Sáng). Sáng Trong = Sáng Trắng = Sáng Bạch. “Sáng Bạch”=Sạch, “Trong Sạch”=Trạch. Người Việt gọi nước mình là Nước, ý là Nước ấy là Trong Sạch = Sáng Sáng, tức không bị ô nhiễm tinh thần, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Nước Sáng Sáng = nước Minh Minh = nước Mình = nước Ta, có từ thời Kinh Dương Vương đặt tên là nước Xích Qủi = =nước Sáng Sáng, chữ Sáng vị trí đầu là Sáng=Vàng=Vuông=Văn (màu vàng cung Giữa của Hà Đồ), chữ Sáng vị trí sau là Sáng=Láng=Lang. Đời sau các Vua Hùng gọi tên nước là Văn Lang và giữ nguyên tên đó trong vòng 2500 năm sau. Xích nghĩa là Sáng nhưng là sự “Sáng Động”=Sống, tức đang biến đổi, lấy Xích chỉ cái Sáng của kim loại đang nóng chảy, tức đang biến đổi từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng. Nhìn vào ĐHÂD thì Xích chính là sự biến đổi của con Nòng hay con Nọc từ “Xí mà phình dần lên ăm ắp cho đến tù là Kịch”= Xích. Đó là quá trình “Xí-Tù”= Xu, là cái xu thế không thể cưỡng lại được, đến Tù là nó phải chuyển sang tính khác. Quá trình sống của con Nòng và con Nọc là lớn lên và biến đổi sang nhau, là sự “Sửa Dáng”=Sáng. Nó Sáng vì hai con ở trong cái hình cầu là giọt nước (Nước) tinh khiết tức là Trong Sạch = Sáng Sáng cho nên nó thật là Sang (“Sáng Sáng”=Sang, 1+1=0, hoàn toàn tinh khiết, không bị ô nhiễm tinh thần). Nếu đến Tù rồi mà không biến sang Xí, dừng lại là Tù Túng = Ung như là ung thư. Vì quá trình lớn lên thì lượng tế bào lành cũng lớn lên và lượng tế bào ác cũng lớn lên. Ác là bọn làm Càn nó Xe đầy lên nên thành Can Xe (ung thư) làm chậm sự phát triển. Phải “Sửa Dáng”=Sáng thì Tù xẹp ngay thành Xí, tức phải chịu đau làm biến đổi, cắt bỏ khối u. Chuyển sang Xí thì chỉ còn toàn bọn lành nó xe thôi nên mới “Lành Xe”=Lẹ được cho sự phát triển. “Sửa Dáng”=Sáng mới sinh ra từ “sáng tạo” mà hàn lâm gọi là “từ Hán Việt”. Chữ Sáng 創 biểu ý có bộ Đao刂 , ý là phải giải phẫu khối u thì mới gọi là “Sửa Dáng”= Sáng .(Đang kinh tế thị trường, sửa dáng thành kinh tế bao cấp; đang kinh tế bao cấp, sửa dáng thành kinh tế thị trường, đều gọi là sáng tạo). Sáng Láng nho viết là Sán Lạn 燦 爛. Quan thoại chỉ dùng từ Sán Lạn trong văn học, còn khẩu ngữ dùng từ Quang Lượng 光 亮 = Sáng Sáng, hay dùng một từ Lượng 亮. Trong chỉ hướng D/Â thì có từ đối Tới/Tụt. Hướng đi lên phía trước là “Tới Dương”= Tương và sẽ là đi “Lâu Mãi”=Lai, nên văn học hay dùng cụm từ Tương Lai Sán Lạn. Nhưng dân Việt thì cần “Tiêu Liền”= Tiền, cũng như “Xài Lìn”= Xìn vì quan niệm tiền phải luôn trong vận động, từ túi người này sang túi người khác, như kẻ luôn tạm trú không khai báo, từ bị cô hàng cá lại sang bị ả hàng hương. Hướng đi về phía sau là “Tụt Âm”= Tẩm, tức “Tụt Lùi”= Túi = Tối = Tồi, hay “Lùi Tụt” = Lụt = Nhụt là nhụt chí.

Xích Qủi = Sáng Sáng. Cái bóng dáng của nước Xích Qủi của Kinh Dương Vương có trong nhiếu lá quốc kỳ màu vàng đỏ hay trắng đỏ. Cờ Nhật là mặt trời đỏ trên nền trắng. Cờ Hàn Quốc là ĐHÂD và 4 quẻ trên nền trắng. Cờ của chính phủ lâm thời VN (từ tháng 5 đến tháng 8/1945) là quẻ Ly màu đỏ trên nền vàng (phần trống của quẻ Ly tạo thành chữ Công 工đại diện lao động).

Thời Lạc Long Quân lấy Âu Cơ thành vợ chồng, Lạc Long Quân xưng là Ta, gọi vợ là Mình ơi; Âu cơ cũng xưng là Ta, gọi chồng là Mình ơi. “Kẻ xưng Mình”=Kinh, tự xưng là Ta thì gọi người kia là “Ta Hai”=Tày, hoặc “Thứ Hai”=Thái. Kinh-Thái đúng là Rồng-Tiên, là dàn nhạc Cồng-Chiêng. Chỉ có “Thứ Ba”=Tha thì mới là người ngoài (gọi là tha nhân 他 人). Quan thoại dùng Tha 他chỉ nhân xưng ngôi 3. Cũng như “Nòi Lạ”=Nạ (nạ dòng) thì quan thoại dùng chữ Nạ 那 chỉ cái kia. Người Kinh nói với nhau thì xưng “Kinh Mình”=Kính, hay “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả đều mang nghĩa tôn trọng, Kính anh, Kính cụ, ông Cả, bà Cả. Người Kinh nói với kẻ khác thì xưng “Kinh Tao”=Cao, “Kinh Tau”=Cau, “Kinh Tôi”=Côi. Cao là nhân xưng ngôi 1 của người Vân Kiều, Cau là nhân xưng ngôi 1 của người Philippin. Cao hay Côi đều có nghĩa tôn trọng là bề trên, cấp cao là cấp côi tức cấp trên. (Cao Ly nghĩa là dân quẻ Ly mà tự xưng là Cao, lướt “Cao Ly”= Kỳ. Nước Hàn Quốc xưa gọi là nước Cao Ly. Người Hàn Quốc có truyền thuyết tổ tiên họ là Kỳ Dương Vương). Xưng là Kinh tôi nên mới có “Kinh Tôi”= Cối, “Kinh Hề”= Kê. Cối Kê là kinh đô nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn. Khổng Tử viết: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê hơn tám trăm dặm đều toàn là dân Bách Việt ở”. Chữ nho là của người Việt nên người Việt gọi là “Nho Ta”=Nhã. Nói về lãnh thổ thì gọi nước Văn Lang (“bắc giáp Động Đình Hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”), nói về văn hóa thì gọi nước Nhã Lang hay gọi tắt là nước Nhã. Khổng Tử viết: “Chúng ta học cái văn minh là của người Nhã phương Nam”.

Cổ đại, người Việt đã đi rộng, mà lại coi Đi=Di=Dị 易=Dễ 易= “Dễ xê Xịch”=Dịch 易 vì toàn đi bằng Mảng, Bè, Thuyền, Tầu (thị trấn Châu Ổ ở Quảng Ngãi xưa là nơi Tầu Đỗ = Châu Ổ), đi lướt trên nước nên nó dễ, buông theo dòng xuôi hay lướt tới ngược gió bằng cái buồm Việt độc đáo (loại buồm này xưa nhan nhản ở vịnh Hạ Long). Cùng nhau trên Mảng – Liền Mảng = Liên Minh 联 盟 – thì còn mạng, rớt khỏi Mảng thì dù có biết bơi cũng coi chừng mất mạng. Chỉ bằng Mảng mà biết đi rất xa đến những vùng biển lớn chưa ai từng tới, gọi là Bén Mảng (giống như rễ cây rất sắc nhọn bén vào lòng đất). Bởi vậy thiên hạ mới khiếp cái Kinh Đi = Kinh Di = Kinh Dị 惊 异. Nhưng “Kinh Đi”= Kỳ, mới thành Kỳ Dương Vương của người Hàn Quốc. Kinh Lửa = “Cao Ly”= Kỳ. Kinh Nam =“Kỳ Nam” = Cam. Nước Cam trong cổ thư là xứ sở của trầm hương (kỳ nam), thời xưa xuất đi từ Cửa Lớn = Cửa Lãnh = Cam Ranh ( các địa danh Đại Lãnh, Cam Ranh, Cao Lãnh). Cổ đại làm gì có đường bộ, những vùng văn minh sớm của nhân loại là vùng sông nước, vùng biển, dễ giao thương ( “Thế giới làm gì có đường, người ta đi nhiều thành lối mòn mới là đường” – Lỗ Tấn).

Share this post


Link to post
Share on other sites

6. Vai trò của mệnh lệnh thức trong tạo từ mới:

Từ mệnh lệnh thức thường đặt cuối câu, thường dùng nhất là từ Đi! Như “ăn đi!”, “ngủ đi!”, “làm đi!” (Hán ngữ dùng từ Hành- “xíng!” với nghĩa là “được!” ). Đi theo QT Tơi-Rỡi sinh ra các từ mệnh lệnh thức khác: Đi=Đấy=Đex (tiếng Nhật)=Đích的 =Đó=Co (tiếng Việt Đông)=Cơ= “Tơ” (tiếng Quan Thoại đọc chữ Đích 的)=Chớ=Chứ=Chi 之 (tiếng “Nho Ta”= Nhã)=Nhỉ=Nhá=Nhé=Nhể=Nê (tiếng Nhật)=Nư (tiếng Thái)=Hử=Hỉ=Hề=Hầy=Hày (tiếng Nhật)=Hài=Phải, là những mệnh lệnh thức đặt cuối câu biểu ý khẳng định hay hài lòng, đồng thuận.

Mình là từ nhân xưng ngôi 1 của người Kinh. Mình đã Di sang thành ngôi 2 là do “Mình Đi”=Mi, “Mình Hầy”=Mầy, “Mình Hày”=Mày, “Mình Chứ”=Mừ (tiếng Thái xưng ngôi 2).

Ta là từ nhân xưng ngôi 1 của tiếng Việt ( do Đất Trời = “Tất Cả” = “Tạo Hóa”= Ta, con người là một tiểu vũ trụ). Tiếng Nhật có từ nhân xưng ngôi 1 là Wa-Ta-Xi, rõ ràng từ Ta cũng đồng thời là do QT Vo mà lấy ra từ lõi của Wa-Ta-Xi, chứng tỏ vũ trụ đã Vo=Vón=Con mà thành con người là Ta. (Nhân xưng ngôi 2 tiếng Nhật là A-Na-Ta, nếu Vo bị lệch chút cũng được chữ Ta). Phần xác thịt của con người là do tiến hóa từ Vượn=Vươn= “Vươn Lên”=Viên 猿 (con vượn)=Vượt=Việt.

Đất Trời cũng có nghĩa là Sáng Sáng. Đất có người khai thác tượng trưng là Vuông (Yoni). Vuông=Vương=Dương=Dàng ( tiếng Mường “Dịt Dàng” là Việt Vương”)=Sáng. Trời=Trắng (bạch nhật)=Trong=Tráng=Dang (Dang Nắng)=Chang (Nắng Chang Chang)=Sáng=Vàng (nắng vàng)=Vương (thiên vương). Quẻ Ly”=Qủi, Ly tượng lửa, màu đỏ. Ly=Lửa=Lả=Tá (tá hỏa ) = Tỏ= =Đỏ=Đỏ Đắn=Đán (nghĩa là ban ngày, từ đối Đán/Đêm=Dương/Âm)Đán=Đàng=Sáng ( “Địa Đàng phương Đông” ý chỉ vùng ĐNÁ, là vùng Sáng Sáng). Sáng Trong = Sáng Trắng = Sáng Bạch. “Sáng Bạch”=Sạch, “Trong Sạch”=Trạch. Người Việt gọi nước mình là Nước, ý là Nước ấy là Trong Sạch = Sáng Sáng, tức không bị ô nhiễm tinh thần, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc. Nước Sáng Sáng = nước Minh Minh = nước Mình = nước Ta, có từ thời Kinh Dương Vương đặt tên là nước Xích Qủi = =nước Sáng Sáng, chữ Sáng vị trí đầu là Sáng=Vàng=Vuông=Văn (màu vàng cung Giữa của Hà Đồ), chữ Sáng vị trí sau là Sáng=Láng=Lang. Đời sau các Vua Hùng gọi tên nước là Văn Lang và giữ nguyên tên đó trong vòng 2500 năm sau. Xích nghĩa là Sáng nhưng là sự “Sáng Động”=Sống, tức đang biến đổi, lấy Xích chỉ cái Sáng của kim loại đang nóng chảy, tức đang biến đổi từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng. Nhìn vào ĐHÂD thì Xích chính là sự biến đổi của con Nòng hay con Nọc từ “Xí mà phình dần lên ăm ắp cho đến tù là Kịch”= Xích. Đó là quá trình “Xí-Tù”= Xu, là cái xu thế không thể cưỡng lại được, đến Tù là nó phải chuyển sang tính khác. Quá trình sống của con Nòng và con Nọc là lớn lên và biến đổi sang nhau, là sự “Sửa Dáng”=Sáng. Nó Sáng vì hai con ở trong cái hình cầu là giọt nước (Nước) tinh khiết tức là Trong Sạch = Sáng Sáng cho nên nó thật là Sang (“Sáng Sáng”=Sang, 1+1=0, hoàn toàn tinh khiết, không bị ô nhiễm tinh thần). Nếu đến Tù rồi mà không biến sang Xí, dừng lại là Tù Túng = Ung như là ung thư. Vì quá trình lớn lên thì lượng tế bào lành cũng lớn lên và lượng tế bào ác cũng lớn lên. Ác là bọn làm Càn nó Xe đầy lên nên thành Can Xe (ung thư) làm chậm sự phát triển. Phải “Sửa Dáng”=Sáng thì Tù xẹp ngay thành Xí, tức phải chịu đau làm biến đổi, cắt bỏ khối u. Chuyển sang Xí thì chỉ còn toàn bọn lành nó xe thôi nên mới “Lành Xe”=Lẹ được cho sự phát triển. “Sửa Dáng”=Sáng mới sinh ra từ “sáng tạo” mà hàn lâm gọi là “từ Hán Việt”. Chữ Sáng 創 biểu ý có bộ Đao刂 , ý là phải giải phẫu khối u thì mới gọi là “Sửa Dáng”= Sáng .(Đang kinh tế thị trường, sửa dáng thành kinh tế bao cấp; đang kinh tế bao cấp, sửa dáng thành kinh tế thị trường, đều gọi là sáng tạo). Sáng Láng nho viết là Sán Lạn 燦 爛. Quan thoại chỉ dùng từ Sán Lạn trong văn học, còn khẩu ngữ dùng từ Quang Lượng 光 亮 = Sáng Sáng, hay dùng một từ Lượng 亮. Trong chỉ hướng D/Â thì có từ đối Tới/Tụt. Hướng đi lên phía trước là “Tới Dương”= Tương và sẽ là đi “Lâu Mãi”=Lai, nên văn học hay dùng cụm từ Tương Lai Sán Lạn. Nhưng dân Việt thì cần “Tiêu Liền”= Tiền, cũng như “Xài Lìn”= Xìn vì quan niệm tiền phải luôn trong vận động, từ túi người này sang túi người khác, như kẻ luôn tạm trú không khai báo, từ bị cô hàng cá lại sang bị ả hàng hương. Hướng đi về phía sau là “Tụt Âm”= Tẩm, tức “Tụt Lùi”= Túi = Tối = Tồi, hay “Lùi Tụt” = Lụt = Nhụt là nhụt chí.

Xích Qủi = Sáng Sáng. Cái bóng dáng của nước Xích Qủi của Kinh Dương Vương có trong nhiếu lá quốc kỳ màu vàng đỏ hay trắng đỏ. Cờ Nhật là mặt trời đỏ trên nền trắng. Cờ Hàn Quốc là ĐHÂD và 4 quẻ trên nền trắng. Cờ của chính phủ lâm thời VN (từ tháng 5 đến tháng 8/1945) là quẻ Ly màu đỏ trên nền vàng (phần trống của quẻ Ly tạo thành chữ Công 工đại diện lao động).

Thời Lạc Long Quân lấy Âu Cơ thành vợ chồng, Lạc Long Quân xưng là Ta, gọi vợ là Mình ơi; Âu cơ cũng xưng là Ta, gọi chồng là Mình ơi. “Kẻ xưng Mình”=Kinh, tự xưng là Ta thì gọi người kia là “Ta Hai”=Tày, hoặc “Thứ Hai”=Thái. Kinh-Thái đúng là Rồng-Tiên, là dàn nhạc Cồng-Chiêng. Chỉ có “Thứ Ba”=Tha thì mới là người ngoài (gọi là tha nhân 他 人). Quan thoại dùng Tha 他chỉ nhân xưng ngôi 3. Cũng như “Nòi Lạ”=Nạ (nạ dòng) thì quan thoại dùng chữ Nạ 那 chỉ cái kia. Người Kinh nói với nhau thì xưng “Kinh Mình”=Kính, hay “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả đều mang nghĩa tôn trọng, Kính anh, Kính cụ, ông Cả, bà Cả. Người Kinh nói với kẻ khác thì xưng “Kinh Tao”=Cao, “Kinh Tau”=Cau, “Kinh Tôi”=Côi. Cao là nhân xưng ngôi 1 của người Vân Kiều, Cau là nhân xưng ngôi 1 của người Philippin. Cao hay Côi đều có nghĩa tôn trọng là bề trên, cấp cao là cấp côi tức cấp trên. (Cao Ly nghĩa là dân quẻ Ly mà tự xưng là Cao, lướt “Cao Ly”= Kỳ. Nước Hàn Quốc xưa gọi là nước Cao Ly. Người Hàn Quốc có truyền thuyết tổ tiên họ là Kỳ Dương Vương). Xưng là Kinh tôi nên mới có “Kinh Tôi”= Cối, “Kinh Hề”= Kê. Cối Kê là kinh đô nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn. Khổng Tử viết: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê hơn tám trăm dặm đều toàn là dân Bách Việt ở”. Chữ nho là của người Việt nên người Việt gọi là “Nho Ta”=Nhã. Nói về lãnh thổ thì gọi nước Văn Lang (“bắc giáp Động Đình Hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”), nói về văn hóa thì gọi nước Nhã Lang hay gọi tắt là nước Nhã. Khổng Tử viết: “Chúng ta học cái văn minh là của người Nhã phương Nam”.

Cổ đại, người Việt đã đi rộng, mà lại coi Đi=Di=Dị 易=Dễ 易= “Dễ xê Xịch”=Dịch 易 vì toàn đi bằng Mảng, Bè, Thuyền, Tầu (thị trấn Châu Ổ ở Quảng Ngãi xưa là nơi Tầu Đỗ = Châu Ổ), đi lướt trên nước nên nó dễ, buông theo dòng xuôi hay lướt tới ngược gió bằng cái buồm Việt độc đáo (loại buồm này xưa nhan nhản ở vịnh Hạ Long). Cùng nhau trên Mảng – Liền Mảng = Liên Minh 联 盟 – thì còn mạng, rớt khỏi Mảng thì dù có biết bơi cũng coi chừng mất mạng. Chỉ bằng Mảng mà biết đi rất xa đến những vùng biển lớn chưa ai từng tới, gọi là Bén Mảng (giống như rễ cây rất sắc nhọn bén vào lòng đất). Bởi vậy thiên hạ mới khiếp cái Kinh Đi = Kinh Di = Kinh Dị 惊 异. Nhưng “Kinh Đi”= Kỳ, mới thành Kỳ Dương Vương của người Hàn Quốc. Kinh Lửa = “Cao Ly”= Kỳ. Kinh Nam =“Kỳ Nam” = Cam. Nước Cam trong cổ thư là xứ sở của trầm hương (kỳ nam), thời xưa xuất đi từ Cửa Lớn = Cửa Lãnh = Cam Ranh ( các địa danh Đại Lãnh, Cam Ranh, Cao Lãnh). Cổ đại làm gì có đường bộ, những vùng văn minh sớm của nhân loại là vùng sông nước, vùng biển, dễ giao thương ( “Thế giới làm gì có đường, người ta đi nhiều thành lối mòn mới là đường” – Lỗ Tấn).

7. Tương Lai – Hiện Tại – Quá Khứ

Hai ngành mũi nhọn thích hợp cho VN là CNTT và Nông nghiệp công nghệ cao (TS Alan Phan). Ngày này học sinh cấp 1 đã được học số học nhị phân. Nếu được tham khảo trong phần sách đọc thêm những kiến thức cơ bản của Dịch Học như ĐHÂD, Lạc Việt phối Hà Đồ, ÂDNH thì sẽ thấy thú vị hơn nữa với lịch sử văn hóa dân tộc , và lý giải được đầy đủ hơn những từ Việt và thành ngữ Việt đơn giản quen thuộc. Ví dụ: Tại sao người Việt gọi nước mình là Nước. Nước là nước, H20, là Trong Sạch về bản chất (hãy đừng làm ô nhiễm môi trường); nước là Nước là Trong Sạch = Sáng Sáng = Văn Minh. Trong Sạch của Nước là không bị ô nhiễm tinh thần, tự chủ tư duy, không a dua tư duy (“Không có gì quí hơn độc lập, tự do” – Hồ Chí Minh). Mỗi cá nhân tự do tự chủ “Sửa Dáng”= Sáng để tạo ra chính mình. Như nghệ nhân dùng Dao để “Sửa Dáng” cái gộc là gốc rễ tre để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật, chính là Sáng tạo. ( “Gốc Rệ”= Gộc – lướt lủn).

Các từ Tương Lai, Hiện Tại, Quá Khứ là từ Việt chứ không phải là “từ Hán Việt”.

Tương Lai: Phương hướng trên trục thời gian theo Dương/ Âm là tương ứng Tới/ Tụt, như nhìn thấy mặt trời hàng ngày Lên là Tới=Tỏ=Tường, hướng tiến lên là “Tới Dương”= Tương; thấy mặt trời Lặn là Tụt, “Tụt Âm = Tẩm (vd: “Thằng ấy nó Tẩm lắm mày ạ” ý là muốn nói thằng ấy tư tưởng lạc hậu lắm). Hướng “Tới Dương”= Tương thì là “Lâu Mãi”= Lai. Quan Thoại dùng chữ nho Tương Lai 將 來 với nghĩa là “sẽ đến”.

Hiện Tại: Từ nguyên của Hiện Tại là Đang Ở (tức chưa mất để mà vào quá khứ, cũng chưa đi để mà tới tương lai). Đang=Hàng=Hẵng=Hiện. Hàng là dừng tại chỗ (vd, đầu hàng). Hẵng là dừng (vd: “Khoan Hẵng đi, chờ tôi Hẵng). Hiện là Đang (vd: “Bụt Hiện ra cứu giúp”= ”Bụt Đang ra cứu giúp”, “Tôi Hiện ở số nhà…”= “Tôi Đang ở số nhà…”). Ở=Chờ=Chỗ=Ổ=Tổ= “Tổ để nằm Lại”= Tại (vd: “Tôi có mặt Tại số nhà…”= “Tôi có mặt Ở số nhà…”). Quan Thoại dùng chữ nho Hiện Tại 現 在 với nghĩa là bây giờ.

Quá Khứ: Nhấn mạnh Qua là “Qua Qua”= Quá, 0+0=1; “Quay về hướng Đã”= =Quá. Mất=Khuất. “Khuất đi rồi Chứ”= Khứ. Quan Thoại dùng chữ nho

Quá Khứ 過 去 với nghĩa là đi qua

Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai không chỉ đơn giản là chỉ những vị trí trên trục thời gian. Nó còn hàm nhiều nghĩa để mỗi nghĩa có tác dụng gợi ý (đều rất hợp logic) do QT Lướt ở tiếng Việt, là một sự nén thông tin. Nếu lướt (thiết) theo phát âm của Quan Thoại khi đọc những chữ nho trên thì đều không tạo ra được từ mới có nghĩa logic với nghĩa của hai âm tiết đã lướt. Khảo sát (phát âm của Quan Thoại để trong ngoặc kép):

Quá Khứ 過 去: “Kua Xuy” (pinyin: Guo Qu 過 去), thiết: “Kua Xuy”= Kuy (không có âm tiết này trong Quan Thoại).

Hiện Tại現 在: “Xen Dai” (pinyin: Xian Zai 現 在), thiết: “Xen Dai”= Xai (không logic).

Tương Lai 將 來: “Cheng Lái” (pinyin: Jiang Lái 將 來), thiết: “Cheng Lai”= =Chai (không có âm tiết này trong Quan Thoại).

Trong tiếng Việt, theo QT Lướt thì ra nghĩa hợp logic, có tác dụng gợi ý , như sau:

1/ Quá Khứ:

“Quá Khứ”= Cứ. Cứ: là cứ liệu cho hiện tại nghiên cứu.

“Quá Khứ”= Cư. Cư: là nơi xưa kia dân ta là dân bản địa, là Thổ dân đã sống.

“Quá Khứ”= Cử. Cử: nêu ra những gợi ý cho ta nghiên cứu.

“Quá Khứ”= Cừ. Cừ: tổ tiên xưa có trí tuệ tuyệt vời.

“Quá Khứ” = Cự. Cự: nước Văn Lang xưa rất rộng lớn (cự đại)

“Quá Khứ”= Cữ. Cữ: Cẩn thận với các di sản vật thể và phi vật thể ( Kiêng Cữ: “Kinh Riêng”= Kiêng, “Kinh Giữ”= Cữ. Kinh Riêng Kinh Giữ là dân ta biết giữ bản sắc văn hóa riêng của sắc tộc mình).

2/ Tương Lai:

“Tương Lai”= Tai. Tai: tai họa rình rập do từ những hậu quả của quá khứ và hiện tại (xả nghiệp do đã tạo nghiệp mà không tạo phước).

“Tương Lai”= Tãi. Tãi: khoa học sẽ phát triển hơn cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

“Tương Lai”= Tại. Tại: nhân loại sống nhân văn hơn, ung dung tự tại vì gắn bó với thiên nhiên, bảo toàn sinh thái.

“Tương Lai”= Tài. Tài: nhân loại thông minh hơn và giàu có hơn.

“Tương Lai”= Tải. Tải: khai thác di sản trí tuệ của quá khứ và hiện tại.

“Tương Lai”= Tái. Tái: “một lý thuyết cổ xưa sẽ quay về với nhân loại” (Bà Van-Ga).

3/Hiện Tại:

“Hiện Tại”= Hai. Hai: hiện tại là con đẻ của quá khứ là Một (cả về vật chất lần tư tưởng).

“Hiện Tại”= Hái. Hái: Ta nay được hưởng mọi di sản người xưa (gặt hái).

“Hiện Tại”= Hài. Hài: Ta chỉ là hạt cát trong Tất Cả (hài nhi); Hãy sống hạnh phúc với những gì ta đang có (hài lòng).

“Hiện Tại”= Hại. Hại: Ta đang tàn phá môi trường, ta đang nhập rác thải vật chất và rác thải tư tưởng.

“Hiện Tại”= Hãi. Hãi: lo sợ vì chưa đủ hiểu biết (“Tri túc tâm thường lạc”, tri chưa túc thì còn lo sợ).

“Hiện Tại”= Hải. Hải: nhân loại ngày nay ráo riết khai thác biển khi tài nguyên trên đất liền đã cạn kiệt, ta phải giữ và gìn biển đảo của ta trên biển Đông.

Nói lái thì Hiện Tại là Tái Hiện: tư tưởng và tác phong của con người hiện tại còn đầy nặng quán tính của những cái tốt đẹp và những cái xấu xa của quá khứ.

Hiện Tại mới chính là cuộc sống. Nhấn mạnh Hiện là “Hiện Hiện”= Hiến, 0+0=1, bởi “Cuộc Sống”= Cống. Cống Hiến chính là ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Cống=Cồng (gõ cho cộng đồng cùng nghe). Hiến=Chiến (đấu tranh để giữ gìn bản sắc)=Chiến=Chiêng (gõ cho cộng đồng cùng nghe). Cồng Chiêng = Cống Hiếng (cả tinh thần lẫn vật chất cho cộng đồng). Đó là ý nghĩa Cuộc Sống của người Việt, thể hiện bằng ẩn ý trong ngôn từ Việt.

Share this post


Link to post
Share on other sites

7. Tương Lai – Hiện Tại – Quá Khứ

Hai ngành mũi nhọn thích hợp cho VN là CNTT và Nông nghiệp công nghệ cao (TS Alan Phan). Ngày này học sinh cấp 1 đã được học số học nhị phân. Nếu được tham khảo trong phần sách đọc thêm những kiến thức cơ bản của Dịch Học như ĐHÂD, Lạc Việt phối Hà Đồ, ÂDNH thì sẽ thấy thú vị hơn nữa với lịch sử văn hóa dân tộc , và lý giải được đầy đủ hơn những từ Việt và thành ngữ Việt đơn giản quen thuộc. Ví dụ: Tại sao người Việt gọi nước mình là Nước. Nước là nước, H20, là Trong Sạch về bản chất (hãy đừng làm ô nhiễm môi trường); nước là Nước là Trong Sạch = Sáng Sáng = Văn Minh. Trong Sạch của Nước là không bị ô nhiễm tinh thần, tự chủ tư duy, không a dua tư duy (“Không có gì quí hơn độc lập, tự do” – Hồ Chí Minh). Mỗi cá nhân tự do tự chủ “Sửa Dáng”= Sáng để tạo ra chính mình. Như nghệ nhân dùng Dao để “Sửa Dáng” cái gộc là gốc rễ tre để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật, chính là Sáng tạo. ( “Gốc Rệ”= Gộc – lướt lủn).

Các từ Tương Lai, Hiện Tại, Quá Khứ là từ Việt chứ không phải là “từ Hán Việt”.

Tương Lai: Phương hướng trên trục thời gian theo Dương/ Âm là tương ứng Tới/ Tụt, như nhìn thấy mặt trời hàng ngày Lên là Tới=Tỏ=Tường, hướng tiến lên là “Tới Dương”= Tương; thấy mặt trời Lặn là Tụt, “Tụt Âm = Tẩm (vd: “Thằng ấy nó Tẩm lắm mày ạ” ý là muốn nói thằng ấy tư tưởng lạc hậu lắm). Hướng “Tới Dương”= Tương thì là “Lâu Mãi”= Lai. Quan Thoại dùng chữ nho Tương Lai 將 來 với nghĩa là “sẽ đến”.

Hiện Tại: Từ nguyên của Hiện Tại là Đang Ở (tức chưa mất để mà vào quá khứ, cũng chưa đi để mà tới tương lai). Đang=Hàng=Hẵng=Hiện. Hàng là dừng tại chỗ (vd, đầu hàng). Hẵng là dừng (vd: “Khoan Hẵng đi, chờ tôi Hẵng). Hiện là Đang (vd: “Bụt Hiện ra cứu giúp”= ”Bụt Đang ra cứu giúp”, “Tôi Hiện ở số nhà…”= “Tôi Đang ở số nhà…”). Ở=Chờ=Chỗ=Ổ=Tổ= “Tổ để nằm Lại”= Tại (vd: “Tôi có mặt Tại số nhà…”= “Tôi có mặt Ở số nhà…”). Quan Thoại dùng chữ nho Hiện Tại 現 在 với nghĩa là bây giờ.

Quá Khứ: Nhấn mạnh Qua là “Qua Qua”= Quá, 0+0=1; “Quay về hướng Đã”= =Quá. Mất=Khuất. “Khuất đi rồi Chứ”= Khứ. Quan Thoại dùng chữ nho

Quá Khứ 過 去 với nghĩa là đi qua

Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai không chỉ đơn giản là chỉ những vị trí trên trục thời gian. Nó còn hàm nhiều nghĩa để mỗi nghĩa có tác dụng gợi ý (đều rất hợp logic) do QT Lướt ở tiếng Việt, là một sự nén thông tin. Nếu lướt (thiết) theo phát âm của Quan Thoại khi đọc những chữ nho trên thì đều không tạo ra được từ mới có nghĩa logic với nghĩa của hai âm tiết đã lướt. Khảo sát (phát âm của Quan Thoại để trong ngoặc kép):

Quá Khứ 過 去: “Kua Xuy” (pinyin: Guo Qu 過 去), thiết: “Kua Xuy”= Kuy (không có âm tiết này trong Quan Thoại).

Hiện Tại現 在: “Xen Dai” (pinyin: Xian Zai 現 在), thiết: “Xen Dai”= Xai (không logic).

Tương Lai 將 來: “Cheng Lái” (pinyin: Jiang Lái 將 來), thiết: “Cheng Lai”= =Chai (không có âm tiết này trong Quan Thoại).

Trong tiếng Việt, theo QT Lướt thì ra nghĩa hợp logic, có tác dụng gợi ý , như sau:

1/ Quá Khứ:

“Quá Khứ”= Cứ. Cứ: là cứ liệu cho hiện tại nghiên cứu.

“Quá Khứ”= Cư. Cư: là nơi xưa kia dân ta là dân bản địa, là Thổ dân đã sống.

“Quá Khứ”= Cử. Cử: nêu ra những gợi ý cho ta nghiên cứu.

“Quá Khứ”= Cừ. Cừ: tổ tiên xưa có trí tuệ tuyệt vời.

“Quá Khứ” = Cự. Cự: nước Văn Lang xưa rất rộng lớn (cự đại)

“Quá Khứ”= Cữ. Cữ: Cẩn thận với các di sản vật thể và phi vật thể ( Kiêng Cữ: “Kinh Riêng”= Kiêng, “Kinh Giữ”= Cữ. Kinh Riêng Kinh Giữ là dân ta biết giữ bản sắc văn hóa riêng của sắc tộc mình).

2/ Tương Lai:

“Tương Lai”= Tai. Tai: tai họa rình rập do từ những hậu quả của quá khứ và hiện tại (xả nghiệp do đã tạo nghiệp mà không tạo phước).

“Tương Lai”= Tãi. Tãi: khoa học sẽ phát triển hơn cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

“Tương Lai”= Tại. Tại: nhân loại sống nhân văn hơn, ung dung tự tại vì gắn bó với thiên nhiên, bảo toàn sinh thái.

“Tương Lai”= Tài. Tài: nhân loại thông minh hơn và giàu có hơn.

“Tương Lai”= Tải. Tải: khai thác di sản trí tuệ của quá khứ và hiện tại.

“Tương Lai”= Tái. Tái: “một lý thuyết cổ xưa sẽ quay về với nhân loại” (Bà Van-Ga).

3/Hiện Tại:

“Hiện Tại”= Hai. Hai: hiện tại là con đẻ của quá khứ là Một (cả về vật chất lần tư tưởng).

“Hiện Tại”= Hái. Hái: Ta nay được hưởng mọi di sản người xưa (gặt hái).

“Hiện Tại”= Hài. Hài: Ta chỉ là hạt cát trong Tất Cả (hài nhi); Hãy sống hạnh phúc với những gì ta đang có (hài lòng).

“Hiện Tại”= Hại. Hại: Ta đang tàn phá môi trường, ta đang nhập rác thải vật chất và rác thải tư tưởng.

“Hiện Tại”= Hãi. Hãi: lo sợ vì chưa đủ hiểu biết (“Tri túc tâm thường lạc”, tri chưa túc thì còn lo sợ).

“Hiện Tại”= Hải. Hải: nhân loại ngày nay ráo riết khai thác biển khi tài nguyên trên đất liền đã cạn kiệt, ta phải giữ và gìn biển đảo của ta trên biển Đông.

Nói lái thì Hiện Tại là Tái Hiện: tư tưởng và tác phong của con người hiện tại còn đầy nặng quán tính của những cái tốt đẹp và những cái xấu xa của quá khứ.

Hiện Tại mới chính là cuộc sống. Nhấn mạnh Hiện là “Hiện Hiện”= Hiến, 0+0=1, bởi “Cuộc Sống”= Cống. Cống Hiến chính là ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Cống=Cồng (gõ cho cộng đồng cùng nghe). Hiến=Chiến (đấu tranh để giữ gìn bản sắc)=Chiến=Chiêng (gõ cho cộng đồng cùng nghe). Cồng Chiêng = Cống Hiếng (cả tinh thần lẫn vật chất cho cộng đồng). Đó là ý nghĩa Cuộc Sống của người Việt, thể hiện bằng ẩn ý trong ngôn từ Việt.

8. QT Lướt của tiếng Việt đã mô tả đúng : Nước là cái Ổ của sự sống, bằng cái nôi khái niệm nước là Nước Nôi ( “Nước nôi chưa gánh, mẹ ngồi mẹ ru”) và lướt “Nước Tôi”= Nôi ( “À ơi con ngủ trong Nôi, mai sau khôn lớn nên người giỏi giang”). QT Tơi-Rỡi: Ổ=Hố=Hồ=Hà=Hói=Hải=Bái 沛 (nghĩa là đầy nước)=Biển, do lướt “Bái Liền”= Biển. Quan niệm Biển của người Việt cổ là tràn đầy nước và nối liền các châu lục toàn thế giới, là con đường giao thương dễ đi nhất (bởi cổ đại không có đường bộ, “Người ta đi nhiều tạo nên lối mòn mới thành đường”- Lỗ Tấn). Người Việt cổ đã từng đi khắp thế giới chỉ bằng phương tiện giao thông thủy là mấy cây luồng (luồng lạch) kết bằng dây song thành cái Mảng (Liền Mảng = Liên Minh 联 盟) mà dám Bén Mảng (sắc bén) khắp nơi bằng cái Mạng của Mình (như hạt cây chim làm rơi, hễ đủ ẩm là nó mọc Rễ và bén ngay dù là trên đá cứng, khe hẹp thế nào nó cũng lách được vì nó rất bén (thế mới gọi là Rễ=Dễ, “Làm Rễ”= “Làm Dễ”=Lễ, “Tiên học Lễ, hậu học văn”, từ gốc Rễ Ngọn đã thành từ hàn lâm là Lễ Nghĩa , trái cây ở trên ngọn chẳng qua là nó trả nghĩa cho cái rễ đã nuôi cây, theo như kết cấu Việt: Tròn Vuông > Trọn Vẹn > Đầu Đuôi > Thủy Chung > Chớm Chót > Khải Hoàn v.v. làm gì cũng phải có đầu có đuôi chứ không “đầu voi đuôi chuột” làm dở dang). Chuyện cổ tích Việt đều gắn bó với biển, đảo và đáy biển: “Vua cầm sừng dê rẽ nước đi xuống đáy biển”; “Xăm mình để sống chung với các loài thủy tộc mà không bị chúng làm hại”; “Ăn một quả khế trả một cục vàng, may đãy ba gang đem ra mà đựng”- ra đảo lấy vàng, Chim- mẹ Tiên- dạy cho như thế; “Ta đem 50 con xuống biển, Nàng đem 50 con lên núi”- Lạc Long Quân. Văn hóa của dân Quẻ Ly, màu Đỏ, đã lan ra khắp các đảo trên các đại dương: Mai An Tiêm ra đảo trồng dưa Đỏ do mẹ Tiên (Chim) trao cho hạt giống. Tiêm=Tiên, “Mai An”=Man=Mân (Phúc Kiến)= Cần (Tày)=Dân=Con Đỏ (tiếng Nhật “Kô-Đô-Mô” nghĩa là con trai). Các học giả Đài Loan cho rằng 6000 năm trước, khi chưa tiếp xúc với người Hán, người Việt cổ đã từ đất Mân ra đảo Đài Loan, cùng với dân Nam Đảo ở đó hình thành nên các sắc dân bản địa Đài Loan (Đài Loan nguyên trú nhân). Đi=Đu=Đưa=Đánh=Hanh=Hành, đều diễn tả động tác đưa vật đi thông suốt. Các trò chơi Đánh Đu, Đánh Đáo, Đánh Cờ, Đánh Bài đều là sự Đi = sự Hành. Và đi bằng nước (cũng cả đi bằng Nước) đã nhuyễn đến thành tâm thức, nên mới gọi là “nước cờ”. Đi (Đánh) hàm đủ mọi ý là mưu mẹo và giỏi giang. Dân Việt là dân biển, và từ cổ đại đã thực sự “Dần dần lấn Biển”=Diễn衍, nho viết chữ Diễn 衍 (nghĩa là mạch nước ngầm, cũng nghĩa là lấn biển) bằng chữ Nước 氵lọt giữa chữ Hành行. Nhưng máy chạy (hành) bằng sức nước (động cơ hơi nước) lại là do người phương Tây sáng chế ra. Người phương Tây thông minh, với tư duy hành động (thuyết Quả Nhân – người ta phải luôn làm việc tốt thì mới trở thành được là con người tốt) nên đã lanh lẹ biến ý tưởng của phương Đông thành kỹ thuật để ra sản phẩm thương mại. Trong khi các cụ hàn lâm phương Đông còn mải cãi nhau về lý luận hàng ngàn năm, “trăm hoa đua nở, trăm nhà tranh minh” từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến tận ngày nay. Nhưng thời của CNTT ngày nay vẫn là “Hac Kơ”= Hớ. Nên an ninh VN vẫn bắt được nhiều vụ Hac Kơ nước ngoài hoạt động tại VN ( báo đã đăng). Hai nghìn năm trước phát hiện ra Bộ Bói Đổi (Thôi Bối Đồ 推 背 图) mới chỉ là một tổ hợp khi Xóc mới có 63 trong 64 Quẻ Dịch mà đã tiên đoán đúng y chóc thế sự của hai nghìn năm sau. Cho nên chẳng coi thường được các quẻ bói của các cao thủ Dịch Học VN.

Hán thư (mạng TQ) viết: “Dịch Kinh cổ đại ban đầu chỉ gọi là Dịch, cũng như Thi Kinh ban đầu chỉ gọi là Thi. Đời sau thêm chữ Kinh京, mà là chữ Kinh 京vào sau để chỉ ý tôn trọng”. Như vậy từ Dịch Kinh 易 京 phải là có trước từ Dịch Kinh易 經. Điều này đúng logic, vì chữ Kinh 經 là chỉ xuất hiện khi đã có nghề làm giấy và dệt vải từ sợi Vỏ cây hoặc sợi Tơ (đều là Xen- lu- lô- zơ, mà “Xe-lu-lô-Zơ”=Xơ=Xợi=Sợi). Vỏ=Dó (cây Dó)=Giấy=Dải=Vải=Váy=May=Mấn (cái váy, miền trung)=Quần=Vận=Bận (bận quần áo)=Vấn (vấn khăn)=Vắn=Xắn (xắn tay áo)=Khăn=Khâu=Thâu (làm phải tỉ mỉ và lâu)=Thêu=Thùa (thùa khuyết để cải khuy). Chữ Kinh 經 này ban đầu chỉ là để chỉ những sợi tơ căng dọc trên khung cửi, như những dòng Kinh chạy thẳng trên cánh đồng. Kinh là nhân tạo, người Kinh đào nên để dẫn nước cho ruộng. Ai sáng tạo ra vật thì vật mang tên người đó, như bác học phát hiện ra loại vi rút mới thì vi rút mang tên của vị bác học đó. Chữ Kinh 經được mượn để chỉ cuốn sách, gọi là Kinh 經. Điều này cũng đúng logic, vì sách xưa viết chữ theo hàng dọc từ trên xuống dưới (do quán tính từ xưa nữa là viết trên thẻ tre). Chữ Kinh 京 là “để tỏ ý tôn trọng” cũng đúng logic. Vì “tôn trọng” chính là từ Kính của tiếng Việt ( kính anh, kính cụ, kính thưa đồng bào). Người Kinh nói chuyện với nhau xưng “Kinh Mình” = Kính, hay “Kinh Ta” = Cả (thậm chí còn tự tôn hơn nữa xưng “Mình Riêng” = Miềng, tiếng Trung Bộ). Kính và Cả đều hàm ý tôn trọng. Cả=Cụ=Cu=Tu (Tày)=Tủa (HMông)=Tử 子. Vậy chữ Tử 子 ghép sau tên danh nhân, cổ đại chỉ là để biểu ý tôn trọng, như Mặc Tử, Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử…; cũng như chữ Gia家, Giả 者ghép sau chỉ là để biểu ý tôn trọng: Văn Gia, tác giả, nho giả, vì Cả = Nhà = Gia 家 = Giả 者. Làng quê Việt ai bắt đầu có con đầu lòng trở đi thì đều được tôn trọng (phương Tây còn đánh thuế kẻ thành niên mà độc thân), được tôn trọng thì đều gọi là ông (bà) dù tuổi thì vẫn còn trẻ. Có con đầu lòng là trai thì gọi là ông (bà) Cu kèm theo tên đứa con đầu. Già, không phân biệt đàn ông hay đàn bà, đều gọi là Cụ. Có con đầu lòng là gái thì gọi là ông (bà) Đĩ, hay Hoe, hay Hĩm (Thanh Hóa thì gọi là ông bà Cò và ông bà Hỉm, đứa bé gài gọi là con Hỉm). Do từ Hỉm này mà ngày nay dân gian mới lại lướt để chỉ cái Bỉm làm bằng giấy vệ sinh sản xuất công nghiệp (“Bọc cái Chim hay cái Hỉm”= Bỉm). Dân gian đặt ra từ mới quả tài tình. Ví dụ nơi có mạch nước ngầm trào ra thành cái hố không bao giờ cạn, thành cái Mỏ Nước, dân gian đã lướt lủn, tức chữ đầu bỏ dấu, lấy dấu của chữ sau thế vào thành “ Mỏ Nước” = Mó, gọi là cái Mó ( cũng giống như lướt lủn “Giết Sạch”= Diệt, nhưng các nhà hàn lâm ở Viện ngôn ngữ thấy Diệt 滅 có viết bằng chữ nho nên giải thích Diệt 滅 là “từ Hán Việt” cho xong chuyện). Thành phố Thâm Quyến 深 圳 TQ, mạng TQ giải thích cái tên đó (chữ Quyến 圳) có nghĩa là dòng nước sâu, vì đó xưa là cái làng ven dòng nước sâu (Sâu=Lâu=Lão, nghĩa là cũ trong sâu xa). Để thật cặn kẽ tôi lại phải bắt đầu từ tiếng Việt: Đi=Di=De=Xe=Xê=Xa. Chữ nho Xa 車 tiếng Quảng Đông đọc là “Xe”, để chỉ danh từ cái “Xe” và cũng chỉ động từ vận chuyển là “Xe”. Tiếng Việt còn gọi cái máy trâu chạy tròn kéo ép Mía để nấu Mật là kéo Che, vì con trâu nó “Chạy Xe”= Che. Nước=Nậm (Tày)=Nam (Thái Lan)=Khảm (quẻ Khảm). Nước là luôn trong vận động (Nước cũng phải luôn trong vận động), nên đã hình thành từ mới là “Khảm Xe”= Khe, hay “Khảm Xê”= Khê. Khe là phải luôn chảy chứ dừng thì đã không gọi là khe. Thư lại người Hán sau dùng chữ Khê 溪 hay chữ Kê 雞 (nghĩa là con gà) để phiên âm chữ Kẻ (nghĩa là người) ở đầu tên các làng Việt đầy rẫy ở nam Dương Tử (Dòng Cả) , còn lại địa danh đến ngày nay. Cầu Trường Bản (trong truyện Tam Quốc) để lại dấu ấn là nó ở Bản Dài. Dài=Dang (dang rộng)=Tràng=Trường là tên cái bản dân Việt sông nước ở kéo dài ven bờ sông. Nước là đi liền thành dòng, tức là nước nó “Xe Liền”= Xuyên, nên nho viết chữ Xuyên 川chỉ dòng nước. Rừng nhiệt đới tất nhiên là Rậm. Rậm=Sâm 森 =Thâm 深 =Thẳm=Lâm 林 =Lâu=Sâu, mang nghĩa là rừng nguyên sinh, tức rừng cũ, đó là các từ ghép Rừng Thẳm, Rừng Sâu. Tương tự, dòng nước sâu là dòng nước xưa, Việt nho viết là Xuyên Cổ 川 古(dòng cũ) thì Hán nho viết là Cổ Xuyên 古 川. Dân Việt lại hay thói (nói) lướt nên đã lướt “Cổ Xuyên”= Quyến, Hán nho lại phải đặt thêm chữ Quyến 圳. Thâm Quyến 深 圳 (pinyin: Shen Zhen- “Sấn Trân”). Các bà buôn hàng ngũ kim ở chợ Sắt, Hải Phòng lại phiên âm “Sấn Trân” là Xóm Trăng, rõ thật đẹp và sáng. Đó là do tâm thức hậu duệ dân Xích Qủi = Sáng Sáng là trong lòng chỉ luôn nghĩ đến cái Sáng nên mới bật tâm thức mà phiên âm như vậy. Kính và Cả và Ta đều hàm ý tôn trọng. Không hiểu xuất xứ của chúng thì không hiểu hết được tính cộng đồng và tính lễ nghĩa trong cư xử của người Việt. “Thơm nào hơn thể hoa nhài. Người đâu lễ nghĩa bằng ngài Kinh Đô”. Cổ đại, nơi người Kinh “Đông Hộ”= Đô gọi là Kinh Đô. Về sau, khi kinh đô là ở Trường Yên (Ninh Bình) thời Đinh Tiên Hoàng thì câu ca dao trên “Sửa Dáng”=Sáng thành “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không lịch sự cũng ngài Tràng An”, như một lời đáp của quí tộc Trường Yên đã theo Lý Thái Tổ ra kinh thành Đại La với dân thành Đại La. Người Hoa ở VN còn có câu bằng tiếng Hoa, dịch là “Ngon nào hơn nổi thịt gà. Người đâu lễ nghĩa hơn là Minh Hương” để cho trọn thêm cả ý về văn hóa ẩm thực là phải thơm ngon. Con người cũng vậy, phải trước là thơm (đạo đức) thì mới làm ngon việc lành. Các sách phương Tây đều viết như thế: “Bạn nghĩ ý tưởng tốt thì sự thực sẽ có việc tốt xảy đến với bạn; bạn nghĩ ý tưởng xấu thì sự thực sẽ có việc xấu xảy đến với bạn”, như câu “Ước gì được nấy”, “Tâm tưởng sự thành”. Người Việt, con cháu Tiên Rồng, luôn nhớ dòng Tiên (Chim) của mẹ Âu Cơ (đạo Mẫu, “Mẹ Âu”= Mẫu) nên rất quí con gà (chơi chọi gà và coi bói chân gà). Gà=Cà=Kê=Cáy (tiếng Tày, Lào, Thái Lan và Quảng Đông). Ca dao “Con Rắn không chưn mà đi nổi năm rừng bảy rú. Con gà không vú mà nuôi nổi chín mười con”. Mái nhà người Thái hai đầu nóc có tượng con gà bằng gỗ. Trong đám cưới người Tày, vì lý do nào đó vắng mặt chú rể thì cô dâu bế một con gà trống. Cỗ cúng cùa người Việt phải có mâm xôi và con gà luộc. Người Kinh có tục cưới xong, ngày đầu tiên sau tuần trăng mật, chú rể lại mặt nhà gái với quà là một con gà trống thiến (ý là đã dốc hết bầu tâm sự rồi, nhất định sẽ có con). Người Tày còn bắt ở rể cho đến khi nào cô dâu có chửa mới cho dắt về ở nhà chồng hay dắt nhau ra ở riêng. Con gà mái đau đẻ nó la “coóc…coóc” nên tiếng Pháp gọi con gà là con La Cooc. Đài Loan lại phát âm chữ Na nghĩa là nói thành “La” nghĩa là nói. Đài Loan Gọi là “Tai Wan Gí”, Nhật Bản Gọi là “Ni Hon Gô”, Mỹ Gọi là “American Vois”. Thăm viếng hay ơn nghĩa ai, người Việt thường đem quà là con gà mái dầu (ý là của cây nhà lá vườn, chưa qua tay ai, thể hiện tấm lòng trinh trắng). Lễ nghĩa của người Việt ở câu “Uống nước nhớ nguồn” trong tục thờ các vị anh hùng có công với nước. Đình Lăng Ông ở Bà Chiểu thờ tướng quân Lê Văn Duyệt. Đình Minh Hương của người Hoa ở quận Năm thờ cả Quan Công cả tướng quân Lê Văn Duyệt.. “Ăn quà nhớ kẻ trồng cây”, quà dù có là con gà hay con cá thì cũng là do thiên nhiên nuôi nên bằng cây (thực vật), nên người Việt rất quí cây. “Cây Mình”= Kinh, mà “Cây Mọc”= Cóc, nên trên mặt trống đồng có tượng Cóc để cầu cho cây mọc, được mùa. Chính cái tên gọi là trống đồng cũng nói lên ý đó: “Trống Đồng”= Trồng (trồng cây gây rừng). Trống đồng không chỉ dùng trong lễ cầu mưa, cho cây mọc, cho được mùa. Trống đồng còn là trống lệnh (Trống=Cồng, “Lệnh ông không bằng cồng bà”). Cái trống lệnh đặt tên là Trống Đồng, ý là khi nó nói lên (Gõ=Võ=Vỗ=Vũ) tiếng của nó là trống không (không nhìn sờ nắm được) nhưng cái Tiếng (phát biểu) đó phải gây được hiệu ứng Đồng thuận trong cộng đồng. Bởi vậy Việt nho từng dạy làm quan phải có tứ đức là: Lao Khiêm Cẩn Sắc; riêng trong nói năng thì hiểu cái tứ đức ấy là: phải Lao động não trước khi nói, Khiêm tốn trong khi nói, Cẩn thận trong lời nói, Sắc sảo trong lập luận. Cóc trên mặt trống đồng không phải là hình khắc hoa văn mà là tượng con cóc, đó là ý “Cóc Tượng”= Cưỡng=Cương=Cường, để nói cái tánh khí của người Việt. Vì con người là “Có Óc”= Cóc, nên “Con cóc là cậu ông trời”. Vậy mà Cóc lại bằng Không (0) ? Chẳng qua là do số học nhị phân, số 0 là Âm, số 1 là Dương. Nòng-Nọc thì Nòng=Nống=Dộng=Dương=Dách=Dật=Nhất=Chật=Chặt=Chắc=Chày là số 1, số đầy, số Chắc ( “Dách” là 1 tiếng Việt Đông, Dật 溢 nghĩa là đầy; ca dao “Chày kình mà dộng chuông vàng. Cho vang tiếng ngọc cho nàng lấy anh”). Nọc=Cóc=Cái=Mái=Mô=Lỗ=Lép=Kẹp=Cối=Ối=Âm, là số 0, số lỗ, số Lép. Kinh Đi= Kinh Di = Kinh Dịch 京 易 = Kinh Dị 京 易. “Dễ Đi”= Dị là nói cái dễ = Dị易; nhưng “Giỏi Đi”= Dị 異 là nói cái kỳ dị, là chuyện lạ. Bởi Dị=Lý= “Lý Ta”= Lạ. Cái LHĐP thật kỳ lạ nhưng thực ra nó thật dễ hiểu nếu xuất phát từ cái đúng. Cũng như nước Lã vẫn uống hàng ngày thực ra là rất lành nếu đừng để cho nó bị ô nhiễm.

Nhìn vào ĐHÂD Lạc Việt là để lĩnh hội rằng vạn vật đều ở trạng thái vận động, dù To như vũ trụ hay Tí như tế bào. Con người luôn “Sửa Dáng”= Sáng, tức luôn thay đổi, không thay đổi là chết, như tế bào là thay đổi hàng ngày. Chính hành động Sửa Dáng ấy là cái Sáng Dạ, con người Sáng Dạ là con người cân bằng Dương và Âm, có khỏe thể chất mới khỏe tinh thần. Sáng là Sửa Dáng mà nói lái thì là Sáng Dửa = Sáng Dạ, vì Dửa=Dạ (cũng như Lửa=Lả; con Rựa = con Rạ, là con dao chặt củi; cây Dừa nho viết là cây Dà 椰). ĐHÂD khuyên con người luôn rèn luyện thể chất và luôn tự học, thì sẽ đúng là con người Sáng Dạ (theo kết cấu Dương Âm như sự hình thành vũ trụ, Dương sinh trước, Âm sinh sau, thượng đế nặn ra Adam rồi mới lấy xương sườn mà làm ra Eva). Sáng là Dương nên con người có “Sáng Dương”= Sướng ( tự do tinh thần). Dạ là Âm nên con người có “Dạ Âm”= Dâm (tự do bản năng). Đã là con người thì ai cũng đòi tự do và chống lại mọi sự áp đặt. Thượng đế đã cho con người quyền tự do mưu cầu cuộc sống. Có cuộc sống thì mới có “Cuộc Sống”= Cống và “Hành Thiện”= Hiến, gọi là cống hiến. Văn Hiến = Vuông Hiến = Mảnh Hiến = Mình Hiến = Kinh Hiến, đúng là của dân Việt từ cách nay 5000 năm của nước Xích Qủi = nước Sáng Sáng của dân Sáng Choang. Mới đây khảo cổ học phát hiện chữ nho nguyên thủy khắc trên xẻng đá ở Quảng Tây của dân tộc Choang có niên đại cách nay 7000 năm.

ĐHÂD Lạc Việt phát xạ rất mạnh, cũng giống như hoa văn trống đồng Đông Sơn, nó nhắc bạn rằng con người Ta luôn trong vận động, tức luôn “Sửa Dáng”= Sáng để sáng tạo ra bản thân mình cả về thể chất lẫn tinh thần (tư tưởng). Vì Sửa Dáng = Sáng Dạ (nói lái). Về vật thể thì Sáng và Dạ đều là những cái chứa. Sáng=Sàng, là cái Sáng=Sàng=Dạng=Giường. Cái “Bọc Chung”= Bụng chứa tất cả lục phủ ngũ tạng, sự chứa chung ấy là sự Chạ, nên Chạ=Dạ cũng là chỉ cái chứa, là từ Bụng Dạ, hay bụng mang dạ chửa. Sửa Dáng = Sáng Dạ lý giải tại sao từ xưa dân Việt là rất năng động. Chữ Nòng-Nọc (khoa đẩu tự - còn di tích trong vách nhà Khổng Tử) đã được người Việt thay bằng chữ vuông biểu ý ( chữ Nho, “Nho Ta”= Nhã, “văn hóa của người Nhã” – như Khổng Tử viết; nước Nhã Lang = nước Dạ Lang). “Quẻ Ly”= Qủi= Qúi. Chậu=Chủ=Chu=Châu=Chúa=Vua=Vương. Chữ Chu 周 có bổn nghĩa là “bao trùm tất cả” (từ ghép Chu Vi 周 围, Chu Đáo 周 到, Chẩn Châu 賑 周 nghĩa là phát “Cho Dân”= Chẩn 賑 tất cả không phân biệt ai; Phong Châu có nghĩa là Vùng của Chậu). Rồi chữ nho lại được người Việt năng động thay bằng chữ ký âm bằng chữ cái latin, để phương Đông xích lại gần phương Tây hơn (đúng logic của tiến trình Phân tích-Tổng hợp-Phân tích). Tính năng động của người Việt lý giải tại sao các vùng của dân hậu duệ dân “Sửa Dáng“ =Sáng=Choang=Láng=Lượng=Liêu=Chiếu=Chói…ven biển phương Nam là những nơi phát triển năng động nhất. Vì dân đó là hậu duệ của “Đồng Bào”=Đào=Đường (Đường Ngu)=Thường (Việt Thường)= Thoòng (thành ngữ “Một giọt máu Đào hơn ao nước lã”). “Thoòng Và” (Đường Thoại) là ngôn ngữ của người Hoa gốc Việt, người Thường (Việt Thường) từ cổ đại, vẫn được thế giới công nhận là một ngôn ngữ (Việt ngữ 粵 語), vẫn giữ nguyên ở khắp thế giới, đúng như Đất có Lề, Quê có Thói, Phong có Tục; Thoòng Và = Thường Na = Đường Nói = Đường Thói = Đường Thoại. Cổ đại Văn Lang đúng như chính sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi “bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục. đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”. Như câu Hồ Chí Minh viết: “Trải năm hơn bốn nghìn năm. Tổ Tiên rực rỡ, Anh Em thuận hòa. Hồng Bàng là Tổ nước Ta. Nước Ta lúc ấy gọi là Văn Lang”.

Ánh sáng của Trời tức cái thông tuệ Trời ban đầy đủ cho nhân loại để nhân loại làm được vai trò Chủ Tể của muôn loài, là: Trời=Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật=Nhất=Dật 溢 = Dách (tiếng Việt Đông nghĩa là nhất)=Dương=Vương=Vua=Chúa=Chậu (tiếng Lào)=Chu 周(nghĩa là trọn vẹn tất cả, chu vi, chu đáo)=Chủ, là đầy đủ trí tuệ để làm chủ tể của muôn loài. Như vậy từ đôi Dương Việt hay Việt Dương đều chỉ có nghĩa gốc là Sáng Sáng, mà nói lướt thi “Việt Dương”= Vương, nên về sau, thời Hán nho gọi Vua là Minh Quân. Quân có từ nguyên là:

Cả=Kẻ=Con=Can=Cán=Quan=Quân=Cu=Kô (tiếng Nhật đọc chữ Tử 子là Kô hay Kô-Đô-Mô)=Kị=Kỳ=Cụ=Tu (tiếng Tày)=Tủa (tiếng Hmông)=Tử 子= Tí 子= =Ta= “Tất Cả”= Ta. Vị trí thứ nhất trong thiên can là Tí 子. Ta là số Dách của muôn loài. Minh Quân là từ do Hán nho viết. Trước đó thời Việt viết bẳng chữ Nòng-Nọc (chữ ký âm, sau dịch ý con Nòng-Nọc thành con Khoa Đẩu nên gọi là Khoa Đẩu tự) là Cả Sáng hay Kẻ Sáng (có nghĩa là con người

Sáng Dạ). Đó chính là Kẻ Minh = Đẻ Minh = Đế Minh, Người đẻ ra Kinh Dương Vương, là “vua của nước Sáng Sáng” (Kinh= “King”, tiếng Anh). Nước Sáng Sáng = nước Xích Qủi của dân Quẻ Ly (màu Đỏ, phương Nam theo Dịch học). “Quẻ Ly”=Qủi=Qúi=Cội=Căn=Mằn=Mân=Cần (tiếng Tày)=Dân, nên mới có câu “Dân là gốc” (căn), tức cội nguồn là ở đó. Vậy Qúi Châu có nghĩa gốc là “dân là tất cả”, khi xưa ở đó là nước Dạ Lang. Dịch Kinh 易 京 rõ ràng là của người Kinh 京, bổn nghĩa của nó là “Lý thuyết vận động (chữ Dịch 易) của người Kinh 京 - Việt”, viết đúng như cú pháp Việt. Dịch Kinh 易 京là của người Kinh 京thì Thi Kinh 詩 京 cũng là của người Kinh 京 – Việt. Câu đầu tiên trong bài thơ đầu tiên của Thi Kinh là “Quan quan thư cưu ” (mà nhiều Hán thư sau còn viết là “Cán cán thư cưu”, mà con chim trong bài thơ đó họ giải thích là “một loại chim thần thời cổ đại”). Thực ra từ ‘Quan quan thư cưu” chỉ là do thư lại người Hán đời sau dùng chữ nho có âm na ná để ký âm từ Việt là cụm từ “Con con Cù Cu”. Con Con là hai Con đứng sóng đôi với nhau, Cù-Cu là tên loài chim gáy gần gũi vườn nhà. Cù=Mụ (tiếng miền Trung chỉ vợ)=Mái, ký âm Cù bằng chữ Thư. Cu=Cộc=Chốc (nghĩa là nằm trên)=Chồng, ký âm Cu bằng chữ Cưu. Kết cấu vẫn đúng là Vợ Chồng ( theo tư duy Việt, mẫu hệ, Vợ đặt trước Chồng; theo Hán ngữ, phụ hệ, thì là kết cấu Phu Phụ tức Chồng Vợ). Đặt tên con chim là Cù-Cu thì cũng giống như đặt tên con Nòng-Nọc hoặc vô vàn tên động vật trong tiếng Việt đều đặt bằng từ dính (do đang nở dở dang từ QT Nở), như: Châu-Chấu, Niềng-Niễng, Cà-Cuống, Cà-Cưởng, Cồng-Cộc, Săn-Sắt, Se-Sẻ, Chiền- Chiện, Kền-Kên v. v. và v. v.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

8. QT Lướt của tiếng Việt đã mô tả đúng : Nước là cái Ổ của sự sống, bằng cái nôi khái niệm nước là Nước Nôi ( “Nước nôi chưa gánh, mẹ ngồi mẹ ru”) và lướt “Nước Tôi”= Nôi ( “À ơi con ngủ trong Nôi, mai sau khôn lớn nên người giỏi giang”). QT Tơi-Rỡi: Ổ=Hố=Hồ=Hà=Hói=Hải=Bái 沛 (nghĩa là đầy nước)=Biển, do lướt “Bái Liền”= Biển. Quan niệm Biển của người Việt cổ là tràn đầy nước và nối liền các châu lục toàn thế giới, là con đường giao thương dễ đi nhất (bởi cổ đại không có đường bộ, “Người ta đi nhiều tạo nên lối mòn mới thành đường”- Lỗ Tấn). Người Việt cổ đã từng đi khắp thế giới chỉ bằng phương tiện giao thông thủy là mấy cây luồng (luồng lạch) kết bằng dây song thành cái Mảng (Liền Mảng = Liên Minh 联 盟) mà dám Bén Mảng (sắc bén) khắp nơi bằng cái Mạng của Mình (như hạt cây chim làm rơi, hễ đủ ẩm là nó mọc Rễ và bén ngay dù là trên đá cứng, khe hẹp thế nào nó cũng lách được vì nó rất bén (thế mới gọi là Rễ=Dễ, “Làm Rễ”= “Làm Dễ”=Lễ, “Tiên học Lễ, hậu học văn”, từ gốc Rễ Ngọn đã thành từ hàn lâm là Lễ Nghĩa , trái cây ở trên ngọn chẳng qua là nó trả nghĩa cho cái rễ đã nuôi cây, theo như kết cấu Việt: Tròn Vuông > Trọn Vẹn > Đầu Đuôi > Thủy Chung > Chớm Chót > Khải Hoàn v.v. làm gì cũng phải có đầu có đuôi chứ không “đầu voi đuôi chuột” làm dở dang). Chuyện cổ tích Việt đều gắn bó với biển, đảo và đáy biển: “Vua cầm sừng dê rẽ nước đi xuống đáy biển”; “Xăm mình để sống chung với các loài thủy tộc mà không bị chúng làm hại”; “Ăn một quả khế trả một cục vàng, may đãy ba gang đem ra mà đựng”- ra đảo lấy vàng, Chim- mẹ Tiên- dạy cho như thế; “Ta đem 50 con xuống biển, Nàng đem 50 con lên núi”- Lạc Long Quân. Văn hóa của dân Quẻ Ly, màu Đỏ, đã lan ra khắp các đảo trên các đại dương: Mai An Tiêm ra đảo trồng dưa Đỏ do mẹ Tiên (Chim) trao cho hạt giống. Tiêm=Tiên, “Mai An”=Man=Mân (Phúc Kiến)= Cần (Tày)=Dân=Con Đỏ (tiếng Nhật “Kô-Đô-Mô” nghĩa là con trai). Các học giả Đài Loan cho rằng 6000 năm trước, khi chưa tiếp xúc với người Hán, người Việt cổ đã từ đất Mân ra đảo Đài Loan, cùng với dân Nam Đảo ở đó hình thành nên các sắc dân bản địa Đài Loan (Đài Loan nguyên trú nhân). Đi=Đu=Đưa=Đánh=Hanh=Hành, đều diễn tả động tác đưa vật đi thông suốt. Các trò chơi Đánh Đu, Đánh Đáo, Đánh Cờ, Đánh Bài đều là sự Đi = sự Hành. Và đi bằng nước (cũng cả đi bằng Nước) đã nhuyễn đến thành tâm thức, nên mới gọi là “nước cờ”. Đi (Đánh) hàm đủ mọi ý là mưu mẹo và giỏi giang. Dân Việt là dân biển, và từ cổ đại đã thực sự “Dần dần lấn Biển”=Diễn衍, nho viết chữ Diễn 衍 (nghĩa là mạch nước ngầm, cũng nghĩa là lấn biển) bằng chữ Nước 氵lọt giữa chữ Hành行. Nhưng máy chạy (hành) bằng sức nước (động cơ hơi nước) lại là do người phương Tây sáng chế ra. Người phương Tây thông minh, với tư duy hành động (thuyết Quả Nhân – người ta phải luôn làm việc tốt thì mới trở thành được là con người tốt) nên đã lanh lẹ biến ý tưởng của phương Đông thành kỹ thuật để ra sản phẩm thương mại. Trong khi các cụ hàn lâm phương Đông còn mải cãi nhau về lý luận hàng ngàn năm, “trăm hoa đua nở, trăm nhà tranh minh” từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến tận ngày nay. Nhưng thời của CNTT ngày nay vẫn là “Hac Kơ”= Hớ. Nên an ninh VN vẫn bắt được nhiều vụ Hac Kơ nước ngoài hoạt động tại VN ( báo đã đăng). Hai nghìn năm trước phát hiện ra Bộ Bói Đổi (Thôi Bối Đồ 推 背 图) mới chỉ là một tổ hợp khi Xóc mới có 63 trong 64 Quẻ Dịch mà đã tiên đoán đúng y chóc thế sự của hai nghìn năm sau. Cho nên chẳng coi thường được các quẻ bói của các cao thủ Dịch Học VN.

Hán thư (mạng TQ) viết: “Dịch Kinh cổ đại ban đầu chỉ gọi là Dịch, cũng như Thi Kinh ban đầu chỉ gọi là Thi. Đời sau thêm chữ Kinh京, mà là chữ Kinh 京vào sau để chỉ ý tôn trọng”. Như vậy từ Dịch Kinh 易 京 phải là có trước từ Dịch Kinh易 經. Điều này đúng logic, vì chữ Kinh 經 là chỉ xuất hiện khi đã có nghề làm giấy và dệt vải từ sợi Vỏ cây hoặc sợi Tơ (đều là Xen- lu- lô- zơ, mà “Xe-lu-lô-Zơ”=Xơ=Xợi=Sợi). Vỏ=Dó (cây Dó)=Giấy=Dải=Vải=Váy=May=Mấn (cái váy, miền trung)=Quần=Vận=Bận (bận quần áo)=Vấn (vấn khăn)=Vắn=Xắn (xắn tay áo)=Khăn=Khâu=Thâu (làm phải tỉ mỉ và lâu)=Thêu=Thùa (thùa khuyết để cải khuy). Chữ Kinh 經 này ban đầu chỉ là để chỉ những sợi tơ căng dọc trên khung cửi, như những dòng Kinh chạy thẳng trên cánh đồng. Kinh là nhân tạo, người Kinh đào nên để dẫn nước cho ruộng. Ai sáng tạo ra vật thì vật mang tên người đó, như bác học phát hiện ra loại vi rút mới thì vi rút mang tên của vị bác học đó. Chữ Kinh 經được mượn để chỉ cuốn sách, gọi là Kinh 經. Điều này cũng đúng logic, vì sách xưa viết chữ theo hàng dọc từ trên xuống dưới (do quán tính từ xưa nữa là viết trên thẻ tre). Chữ Kinh 京 là “để tỏ ý tôn trọng” cũng đúng logic. Vì “tôn trọng” chính là từ Kính của tiếng Việt ( kính anh, kính cụ, kính thưa đồng bào). Người Kinh nói chuyện với nhau xưng “Kinh Mình” = Kính, hay “Kinh Ta” = Cả (thậm chí còn tự tôn hơn nữa xưng “Mình Riêng” = Miềng, tiếng Trung Bộ). Kính và Cả đều hàm ý tôn trọng. Cả=Cụ=Cu=Tu (Tày)=Tủa (HMông)=Tử 子. Vậy chữ Tử 子 ghép sau tên danh nhân, cổ đại chỉ là để biểu ý tôn trọng, như Mặc Tử, Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử…; cũng như chữ Gia家, Giả 者ghép sau chỉ là để biểu ý tôn trọng: Văn Gia, tác giả, nho giả, vì Cả = Nhà = Gia 家 = Giả 者. Làng quê Việt ai bắt đầu có con đầu lòng trở đi thì đều được tôn trọng (phương Tây còn đánh thuế kẻ thành niên mà độc thân), được tôn trọng thì đều gọi là ông (bà) dù tuổi thì vẫn còn trẻ. Có con đầu lòng là trai thì gọi là ông (bà) Cu kèm theo tên đứa con đầu. Già, không phân biệt đàn ông hay đàn bà, đều gọi là Cụ. Có con đầu lòng là gái thì gọi là ông (bà) Đĩ, hay Hoe, hay Hĩm (Thanh Hóa thì gọi là ông bà Cò và ông bà Hỉm, đứa bé gài gọi là con Hỉm). Do từ Hỉm này mà ngày nay dân gian mới lại lướt để chỉ cái Bỉm làm bằng giấy vệ sinh sản xuất công nghiệp (“Bọc cái Chim hay cái Hỉm”= Bỉm). Dân gian đặt ra từ mới quả tài tình. Ví dụ nơi có mạch nước ngầm trào ra thành cái hố không bao giờ cạn, thành cái Mỏ Nước, dân gian đã lướt lủn, tức chữ đầu bỏ dấu, lấy dấu của chữ sau thế vào thành “ Mỏ Nước” = Mó, gọi là cái Mó ( cũng giống như lướt lủn “Giết Sạch”= Diệt, nhưng các nhà hàn lâm ở Viện ngôn ngữ thấy Diệt 滅 có viết bằng chữ nho nên giải thích Diệt 滅 là “từ Hán Việt” cho xong chuyện). Thành phố Thâm Quyến 深 圳 TQ, mạng TQ giải thích cái tên đó (chữ Quyến 圳) có nghĩa là dòng nước sâu, vì đó xưa là cái làng ven dòng nước sâu (Sâu=Lâu=Lão, nghĩa là cũ trong sâu xa). Để thật cặn kẽ tôi lại phải bắt đầu từ tiếng Việt: Đi=Di=De=Xe=Xê=Xa. Chữ nho Xa 車 tiếng Quảng Đông đọc là “Xe”, để chỉ danh từ cái “Xe” và cũng chỉ động từ vận chuyển là “Xe”. Tiếng Việt còn gọi cái máy trâu chạy tròn kéo ép Mía để nấu Mật là kéo Che, vì con trâu nó “Chạy Xe”= Che. Nước=Nậm (Tày)=Nam (Thái Lan)=Khảm (quẻ Khảm). Nước là luôn trong vận động (Nước cũng phải luôn trong vận động), nên đã hình thành từ mới là “Khảm Xe”= Khe, hay “Khảm Xê”= Khê. Khe là phải luôn chảy chứ dừng thì đã không gọi là khe. Thư lại người Hán sau dùng chữ Khê 溪 hay chữ Kê 雞 (nghĩa là con gà) để phiên âm chữ Kẻ (nghĩa là người) ở đầu tên các làng Việt đầy rẫy ở nam Dương Tử (Dòng Cả) , còn lại địa danh đến ngày nay. Cầu Trường Bản (trong truyện Tam Quốc) để lại dấu ấn là nó ở Bản Dài. Dài=Dang (dang rộng)=Tràng=Trường là tên cái bản dân Việt sông nước ở kéo dài ven bờ sông. Nước là đi liền thành dòng, tức là nước nó “Xe Liền”= Xuyên, nên nho viết chữ Xuyên 川chỉ dòng nước. Rừng nhiệt đới tất nhiên là Rậm. Rậm=Sâm 森 =Thâm 深 =Thẳm=Lâm 林 =Lâu=Sâu, mang nghĩa là rừng nguyên sinh, tức rừng cũ, đó là các từ ghép Rừng Thẳm, Rừng Sâu. Tương tự, dòng nước sâu là dòng nước xưa, Việt nho viết là Xuyên Cổ 川 古(dòng cũ) thì Hán nho viết là Cổ Xuyên 古 川. Dân Việt lại hay thói (nói) lướt nên đã lướt “Cổ Xuyên”= Quyến, Hán nho lại phải đặt thêm chữ Quyến 圳. Thâm Quyến 深 圳 (pinyin: Shen Zhen- “Sấn Trân”). Các bà buôn hàng ngũ kim ở chợ Sắt, Hải Phòng lại phiên âm “Sấn Trân” là Xóm Trăng, rõ thật đẹp và sáng. Đó là do tâm thức hậu duệ dân Xích Qủi = Sáng Sáng là trong lòng chỉ luôn nghĩ đến cái Sáng nên mới bật tâm thức mà phiên âm như vậy. Kính và Cả và Ta đều hàm ý tôn trọng. Không hiểu xuất xứ của chúng thì không hiểu hết được tính cộng đồng và tính lễ nghĩa trong cư xử của người Việt. “Thơm nào hơn thể hoa nhài. Người đâu lễ nghĩa bằng ngài Kinh Đô”. Cổ đại, nơi người Kinh “Đông Hộ”= Đô gọi là Kinh Đô. Về sau, khi kinh đô là ở Trường Yên (Ninh Bình) thời Đinh Tiên Hoàng thì câu ca dao trên “Sửa Dáng”=Sáng thành “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không lịch sự cũng ngài Tràng An”, như một lời đáp của quí tộc Trường Yên đã theo Lý Thái Tổ ra kinh thành Đại La với dân thành Đại La. Người Hoa ở VN còn có câu bằng tiếng Hoa, dịch là “Ngon nào hơn nổi thịt gà. Người đâu lễ nghĩa hơn là Minh Hương” để cho trọn thêm cả ý về văn hóa ẩm thực là phải thơm ngon. Con người cũng vậy, phải trước là thơm (đạo đức) thì mới làm ngon việc lành. Các sách phương Tây đều viết như thế: “Bạn nghĩ ý tưởng tốt thì sự thực sẽ có việc tốt xảy đến với bạn; bạn nghĩ ý tưởng xấu thì sự thực sẽ có việc xấu xảy đến với bạn”, như câu “Ước gì được nấy”, “Tâm tưởng sự thành”. Người Việt, con cháu Tiên Rồng, luôn nhớ dòng Tiên (Chim) của mẹ Âu Cơ (đạo Mẫu, “Mẹ Âu”= Mẫu) nên rất quí con gà (chơi chọi gà và coi bói chân gà). Gà=Cà=Kê=Cáy (tiếng Tày, Lào, Thái Lan và Quảng Đông). Ca dao “Con Rắn không chưn mà đi nổi năm rừng bảy rú. Con gà không vú mà nuôi nổi chín mười con”. Mái nhà người Thái hai đầu nóc có tượng con gà bằng gỗ. Trong đám cưới người Tày, vì lý do nào đó vắng mặt chú rể thì cô dâu bế một con gà trống. Cỗ cúng cùa người Việt phải có mâm xôi và con gà luộc. Người Kinh có tục cưới xong, ngày đầu tiên sau tuần trăng mật, chú rể lại mặt nhà gái với quà là một con gà trống thiến (ý là đã dốc hết bầu tâm sự rồi, nhất định sẽ có con). Người Tày còn bắt ở rể cho đến khi nào cô dâu có chửa mới cho dắt về ở nhà chồng hay dắt nhau ra ở riêng. Con gà mái đau đẻ nó la “coóc…coóc” nên tiếng Pháp gọi con gà là con La Cooc. Đài Loan lại phát âm chữ Na nghĩa là nói thành “La” nghĩa là nói. Đài Loan Gọi là “Tai Wan Gí”, Nhật Bản Gọi là “Ni Hon Gô”, Mỹ Gọi là “American Vois”. Thăm viếng hay ơn nghĩa ai, người Việt thường đem quà là con gà mái dầu (ý là của cây nhà lá vườn, chưa qua tay ai, thể hiện tấm lòng trinh trắng). Lễ nghĩa của người Việt ở câu “Uống nước nhớ nguồn” trong tục thờ các vị anh hùng có công với nước. Đình Lăng Ông ở Bà Chiểu thờ tướng quân Lê Văn Duyệt. Đình Minh Hương của người Hoa ở quận Năm thờ cả Quan Công cả tướng quân Lê Văn Duyệt.. “Ăn quà nhớ kẻ trồng cây”, quà dù có là con gà hay con cá thì cũng là do thiên nhiên nuôi nên bằng cây (thực vật), nên người Việt rất quí cây. “Cây Mình”= Kinh, mà “Cây Mọc”= Cóc, nên trên mặt trống đồng có tượng Cóc để cầu cho cây mọc, được mùa. Chính cái tên gọi là trống đồng cũng nói lên ý đó: “Trống Đồng”= Trồng (trồng cây gây rừng). Trống đồng không chỉ dùng trong lễ cầu mưa, cho cây mọc, cho được mùa. Trống đồng còn là trống lệnh (Trống=Cồng, “Lệnh ông không bằng cồng bà”). Cái trống lệnh đặt tên là Trống Đồng, ý là khi nó nói lên (Gõ=Võ=Vỗ=Vũ) tiếng của nó là trống không (không nhìn sờ nắm được) nhưng cái Tiếng (phát biểu) đó phải gây được hiệu ứng Đồng thuận trong cộng đồng. Bởi vậy Việt nho từng dạy làm quan phải có tứ đức là: Lao Khiêm Cẩn Sắc; riêng trong nói năng thì hiểu cái tứ đức ấy là: phải Lao động não trước khi nói, Khiêm tốn trong khi nói, Cẩn thận trong lời nói, Sắc sảo trong lập luận. Cóc trên mặt trống đồng không phải là hình khắc hoa văn mà là tượng con cóc, đó là ý “Cóc Tượng”= Cưỡng=Cương=Cường, để nói cái tánh khí của người Việt. Vì con người là “Có Óc”= Cóc, nên “Con cóc là cậu ông trời”. Vậy mà Cóc lại bằng Không (0) ? Chẳng qua là do số học nhị phân, số 0 là Âm, số 1 là Dương. Nòng-Nọc thì Nòng=Nống=Dộng=Dương=Dách=Dật=Nhất=Chật=Chặt=Chắc=Chày là số 1, số đầy, số Chắc ( “Dách” là 1 tiếng Việt Đông, Dật 溢 nghĩa là đầy; ca dao “Chày kình mà dộng chuông vàng. Cho vang tiếng ngọc cho nàng lấy anh”). Nọc=Cóc=Cái=Mái=Mô=Lỗ=Lép=Kẹp=Cối=Ối=Âm, là số 0, số lỗ, số Lép. Kinh Đi= Kinh Di = Kinh Dịch 京 易 = Kinh Dị 京 易. “Dễ Đi”= Dị là nói cái dễ = Dị易; nhưng “Giỏi Đi”= Dị 異 là nói cái kỳ dị, là chuyện lạ. Bởi Dị=Lý= “Lý Ta”= Lạ. Cái LHĐP thật kỳ lạ nhưng thực ra nó thật dễ hiểu nếu xuất phát từ cái đúng. Cũng như nước Lã vẫn uống hàng ngày thực ra là rất lành nếu đừng để cho nó bị ô nhiễm.

Nhìn vào ĐHÂD Lạc Việt là để lĩnh hội rằng vạn vật đều ở trạng thái vận động, dù To như vũ trụ hay Tí như tế bào. Con người luôn “Sửa Dáng”= Sáng, tức luôn thay đổi, không thay đổi là chết, như tế bào là thay đổi hàng ngày. Chính hành động Sửa Dáng ấy là cái Sáng Dạ, con người Sáng Dạ là con người cân bằng Dương và Âm, có khỏe thể chất mới khỏe tinh thần. Sáng là Sửa Dáng mà nói lái thì là Sáng Dửa = Sáng Dạ, vì Dửa=Dạ (cũng như Lửa=Lả; con Rựa = con Rạ, là con dao chặt củi; cây Dừa nho viết là cây Dà 椰). ĐHÂD khuyên con người luôn rèn luyện thể chất và luôn tự học, thì sẽ đúng là con người Sáng Dạ (theo kết cấu Dương Âm như sự hình thành vũ trụ, Dương sinh trước, Âm sinh sau, thượng đế nặn ra Adam rồi mới lấy xương sườn mà làm ra Eva). Sáng là Dương nên con người có “Sáng Dương”= Sướng ( tự do tinh thần). Dạ là Âm nên con người có “Dạ Âm”= Dâm (tự do bản năng). Đã là con người thì ai cũng đòi tự do và chống lại mọi sự áp đặt. Thượng đế đã cho con người quyền tự do mưu cầu cuộc sống. Có cuộc sống thì mới có “Cuộc Sống”= Cống và “Hành Thiện”= Hiến, gọi là cống hiến. Văn Hiến = Vuông Hiến = Mảnh Hiến = Mình Hiến = Kinh Hiến, đúng là của dân Việt từ cách nay 5000 năm của nước Xích Qủi = nước Sáng Sáng của dân Sáng Choang. Mới đây khảo cổ học phát hiện chữ nho nguyên thủy khắc trên xẻng đá ở Quảng Tây của dân tộc Choang có niên đại cách nay 7000 năm.

ĐHÂD Lạc Việt phát xạ rất mạnh, cũng giống như hoa văn trống đồng Đông Sơn, nó nhắc bạn rằng con người Ta luôn trong vận động, tức luôn “Sửa Dáng”= Sáng để sáng tạo ra bản thân mình cả về thể chất lẫn tinh thần (tư tưởng). Vì Sửa Dáng = Sáng Dạ (nói lái). Về vật thể thì Sáng và Dạ đều là những cái chứa. Sáng=Sàng, là cái Sáng=Sàng=Dạng=Giường. Cái “Bọc Chung”= Bụng chứa tất cả lục phủ ngũ tạng, sự chứa chung ấy là sự Chạ, nên Chạ=Dạ cũng là chỉ cái chứa, là từ Bụng Dạ, hay bụng mang dạ chửa. Sửa Dáng = Sáng Dạ lý giải tại sao từ xưa dân Việt là rất năng động. Chữ Nòng-Nọc (khoa đẩu tự - còn di tích trong vách nhà Khổng Tử) đã được người Việt thay bằng chữ vuông biểu ý ( chữ Nho, “Nho Ta”= Nhã, “văn hóa của người Nhã” – như Khổng Tử viết; nước Nhã Lang = nước Dạ Lang). “Quẻ Ly”= Qủi= Qúi. Chậu=Chủ=Chu=Châu=Chúa=Vua=Vương. Chữ Chu 周 có bổn nghĩa là “bao trùm tất cả” (từ ghép Chu Vi 周 围, Chu Đáo 周 到, Chẩn Châu 賑 周 nghĩa là phát “Cho Dân”= Chẩn 賑 tất cả không phân biệt ai; Phong Châu có nghĩa là Vùng của Chậu). Rồi chữ nho lại được người Việt năng động thay bằng chữ ký âm bằng chữ cái latin, để phương Đông xích lại gần phương Tây hơn (đúng logic của tiến trình Phân tích-Tổng hợp-Phân tích). Tính năng động của người Việt lý giải tại sao các vùng của dân hậu duệ dân “Sửa Dáng“ =Sáng=Choang=Láng=Lượng=Liêu=Chiếu=Chói…ven biển phương Nam là những nơi phát triển năng động nhất. Vì dân đó là hậu duệ của “Đồng Bào”=Đào=Đường (Đường Ngu)=Thường (Việt Thường)= Thoòng (thành ngữ “Một giọt máu Đào hơn ao nước lã”). “Thoòng Và” (Đường Thoại) là ngôn ngữ của người Hoa gốc Việt, người Thường (Việt Thường) từ cổ đại, vẫn được thế giới công nhận là một ngôn ngữ (Việt ngữ 粵 語), vẫn giữ nguyên ở khắp thế giới, đúng như Đất có Lề, Quê có Thói, Phong có Tục; Thoòng Và = Thường Na = Đường Nói = Đường Thói = Đường Thoại. Cổ đại Văn Lang đúng như chính sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi “bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục. đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”. Như câu Hồ Chí Minh viết: “Trải năm hơn bốn nghìn năm. Tổ Tiên rực rỡ, Anh Em thuận hòa. Hồng Bàng là Tổ nước Ta. Nước Ta lúc ấy gọi là Văn Lang”.

Ánh sáng của Trời tức cái thông tuệ Trời ban đầy đủ cho nhân loại để nhân loại làm được vai trò Chủ Tể của muôn loài, là: Trời=Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật=Nhất=Dật 溢 = Dách (tiếng Việt Đông nghĩa là nhất)=Dương=Vương=Vua=Chúa=Chậu (tiếng Lào)=Chu 周(nghĩa là trọn vẹn tất cả, chu vi, chu đáo)=Chủ, là đầy đủ trí tuệ để làm chủ tể của muôn loài. Như vậy từ đôi Dương Việt hay Việt Dương đều chỉ có nghĩa gốc là Sáng Sáng, mà nói lướt thi “Việt Dương”= Vương, nên về sau, thời Hán nho gọi Vua là Minh Quân. Quân có từ nguyên là:

Cả=Kẻ=Con=Can=Cán=Quan=Quân=Cu=Kô (tiếng Nhật đọc chữ Tử 子là Kô hay Kô-Đô-Mô)=Kị=Kỳ=Cụ=Tu (tiếng Tày)=Tủa (tiếng Hmông)=Tử 子= Tí 子= =Ta= “Tất Cả”= Ta. Vị trí thứ nhất trong thiên can là Tí 子. Ta là số Dách của muôn loài. Minh Quân là từ do Hán nho viết. Trước đó thời Việt viết bẳng chữ Nòng-Nọc (chữ ký âm, sau dịch ý con Nòng-Nọc thành con Khoa Đẩu nên gọi là Khoa Đẩu tự) là Cả Sáng hay Kẻ Sáng (có nghĩa là con người

Sáng Dạ). Đó chính là Kẻ Minh = Đẻ Minh = Đế Minh, Người đẻ ra Kinh Dương Vương, là “vua của nước Sáng Sáng” (Kinh= “King”, tiếng Anh). Nước Sáng Sáng = nước Xích Qủi của dân Quẻ Ly (màu Đỏ, phương Nam theo Dịch học). “Quẻ Ly”=Qủi=Qúi=Cội=Căn=Mằn=Mân=Cần (tiếng Tày)=Dân, nên mới có câu “Dân là gốc” (căn), tức cội nguồn là ở đó. Vậy Qúi Châu có nghĩa gốc là “dân là tất cả”, khi xưa ở đó là nước Dạ Lang. Dịch Kinh 易 京 rõ ràng là của người Kinh 京, bổn nghĩa của nó là “Lý thuyết vận động (chữ Dịch 易) của người Kinh 京 - Việt”, viết đúng như cú pháp Việt. Dịch Kinh 易 京là của người Kinh 京thì Thi Kinh 詩 京 cũng là của người Kinh 京 – Việt. Câu đầu tiên trong bài thơ đầu tiên của Thi Kinh là “Quan quan thư cưu ” (mà nhiều Hán thư sau còn viết là “Cán cán thư cưu”, mà con chim trong bài thơ đó họ giải thích là “một loại chim thần thời cổ đại”). Thực ra từ ‘Quan quan thư cưu” chỉ là do thư lại người Hán đời sau dùng chữ nho có âm na ná để ký âm từ Việt là cụm từ “Con con Cù Cu”. Con Con là hai Con đứng sóng đôi với nhau, Cù-Cu là tên loài chim gáy gần gũi vườn nhà. Cù=Mụ (tiếng miền Trung chỉ vợ)=Mái, ký âm Cù bằng chữ Thư. Cu=Cộc=Chốc (nghĩa là nằm trên)=Chồng, ký âm Cu bằng chữ Cưu. Kết cấu vẫn đúng là Vợ Chồng ( theo tư duy Việt, mẫu hệ, Vợ đặt trước Chồng; theo Hán ngữ, phụ hệ, thì là kết cấu Phu Phụ tức Chồng Vợ). Đặt tên con chim là Cù-Cu thì cũng giống như đặt tên con Nòng-Nọc hoặc vô vàn tên động vật trong tiếng Việt đều đặt bằng từ dính (do đang nở dở dang từ QT Nở), như: Châu-Chấu, Niềng-Niễng, Cà-Cuống, Cà-Cưởng, Cồng-Cộc, Săn-Sắt, Se-Sẻ, Chiền- Chiện, Kền-Kên v. v. và v. v.

9.Các học giả công nhận rằng những cái tên trong thiên can là những từ Việt, bắt đầu từ Tí là nhỏ nhất, Tí Chút = Tí Chuột. QT Tơi-Rỡi: Tí=Xí=Nhí=Nhi=Nhị=Nị, từ đôi Tí Nị 細 膩= Tế Nhị 細 膩。 Tí=Tẹo=Tiểu=Tử. Nho viết Tí bằng chữ Tử 子, viết Nhí bằng chữ Nhi 兒. Hán ngữ dùng chữ Tử 子 và chữ Nhi 兒 để chỉ con nhỏ và ghép Nhi Tử 兒 子 chỉ con trai, Nữ Nhi 女 兒 chỉ con gái. Hai từ ghép Nhi Tử và Nữ Nhi gọi là từ Hán Việt, nhưng cái tố để tạo nên chúng lại là từ gốc Việt. Nhí=Nhóc=Nhãi=Nhép=Nhẹp=Nhỏ=Cỏ, nên tụi trẻ con gọi là tụi Nhóc hay đồ Nhãi Nhép. Nhẹp=Tẹp=Tí=Nhí, nên tụi "giặc cỏ" là tụi giặc từng Tốp nhỏ, không chính qui, là tụi Tẹp Nhẹp, chuyên đi cướp vặt, mà Hán ngữ dịch từ "giặc cỏ" là tụi "thảo giặc" hay "thảo khẫu" nghĩa là chuyên cướp nhỏ.

Thành ngữ Việt "Trời sinh Voi, sinh Cỏ" nghĩa đen là Trời sinh ra mọi thứ, từ lớn (như Voi) đến nhỏ ( như Cỏ). Từ Voi phiên thiết thành hai từ là Vĩ Đọi = Vĩ Đại. Vĩ được lấy chỉ cái to lớn, Đọi=Đại thì vùng nào cũng gọi núi lớn nhất của vùng ấy là núi Đọi hay rú Đụn.(Đọi=Đại=Thái, núi Đọi thì Hán nho dịch là Thái sơn). Đọi=Đồi=Đụn=Đồn=Cồn=Cấn=Con=Non=Núi. Câu thành ngữ "Trời sinh Voi, sinh Cỏ" ấy, nho viết gọn chỉ bằng hai chữ Thiên Nhiên. Trăm từ điển Việt Nam thì cả trăm đều giải thích từ Thiên Nhiên là một từ gốc Hán, gọi là "từ Hán Việt". Cứ cho là như vậy đi, nhưng cái tố taọ nên từ Thiên Nhiên lại là từ gốc Việt, cả cách ghép cũng là ghép theo ngữ pháp Việt: Thiên là Trời, Nhiên là Lắm. Blơi (tiếng Mường)=Lời=Trời=Trên=Lên=Then (tiếng Tày Thái)=Thiên=Thượng=Đường=Đàng=Giàng (tiếng Tây Nguyên)=Càng=Càn. Lên Thiên Đàng nghĩa là Lên Trời. Cặp đối Nhỏ/ Nhớn thì theo khối lượng Nhỏ là Ít (lướt "Nhỏ Ít"=Nhít, lướt "Lắm Ít"=Lít, từ đôi Lít Nhít nghĩa là nhiều cái nhỏ), Nhớn là Nhiều. Lướt "Nhớn Lắm"="Nhiều Lắm"=Nhặm=Nhặn=Nhiên. Lướt "Nhỏ Lắm " = Nhắm = Nhắn = Nhiên. Do vậy mà có cặp đối Âm/ Dương là Nhỏ Nhắn/ Nhiều Nhặn. Chữ Nhặn của Nhiều Nhặn và chữ Nhắn của Nhỏ Nhắn, nho viết chung bằng một chữ Nhiên 然, Nhiên 然 có nghĩa là Nhiều Lắm, nên do Nhiên mà nở ra từ dính là Nhan-Nhản nghĩa là nhiều khắp nơi chỗ nào cũng có. Nho viết chữ Nhiên 然 có bộ Lửa (Lửa=Lả=Hỏa="Huo"- pinyin mà Hán ngữ dùng), có bộ Lửa vì Nhiên là Nhớn Lắm thì ngụ ý như là mặt trời, Nhiên là Nhiều Lắm thì ngụ ý như là nắng của mặt trời, cái nắng ấy nó "rán" người đổ mồ hôi cháy đen da, nó "rán" mỡ chảy thành nước: Rán=Rang=Rạng=Sáng=Náng (tiếng Nghệ nghĩa là nướng)=Nướng=Nóng=Nắng. Rán mang nghĩa là đốt, nên Nhiên mới nhiễm nghĩa là đốt và có từ Nhiên Liệu là từ Hán gọi chất đốt. Quan Thoại đọc chữ Nhiên = Nhan-Nhản là "Rán". Từ Nắng thì nho viết bằng chữ Lãng. Ngày nắng không mưa là ngày đẹp trời vì tiện làm việc ngoài trời và phơi phóng, gọi là ngày tốt lành, lướt "Tốt Lành"= Tạnh, "Tạnh là từ tiếng Kinh" = Tình 晴, nên nho viết Tạnh bằng chữ Tình 晴. Ngày Tạnh và Nắng, gọi tắt là Tạnh Nắng, nho viết bằng chữ Tình Lãng 晴 朗 Hán ngữ dùng chữ Tình Lãng 晴 朗để chỉ ngày Tạnh và Nắng, gọi ngày tạnh (không có mưa) là Tình Thiên 晴 天– pinyin "Qing Tian 晴 天". Tình Lãng 晴 朗 (Tạnh Nắng) có nghĩa là "ngày tốt lành, có nắng" vẫn còn là từ tiếng Việt, theo ngữ pháp Việt. Nhưng đến từ Tình Thiên thì đã thành "từ Hán Việt". Dương=Nướng (cũng có nghĩa là Ủ tức giữ nhiệt lâu, như từ Ngủ Nướng)=Nóng=Nòng (con Nòng trong cặp đối Dương/ Âm là Nòng/ Nọc)=Nong=Nống=Nắng=Náng (nghĩa là Nướng, tiếng Nghệ)=Lãng=Lang=Sáng. Hán ngữ phiên âm chữ Dương 陽 là "Yáng" chỉ ý dương, phiên âm chữ Nướng 釀 là "Niang" chỉ ý ủ, phiên âm chữ Lãng 朗 là "Lảng" chỉ ý nắng. Những từ mà Việt nho viết theo ngữ pháp Việt mà Hán ngữ hiện đại vẫn dùng nguyên văn theo ngữ pháp Việt như: Ắt Lắm = Tất Nhiên 必 然 (pinyin: "Bì Rán 必 然"), Đáng Lắm = Đương Nhiên 當 然 (pinyin: "Dang Rán 當 然"), Dựa Lắm = Dĩ Nhiên 以 然(pinyin: " Yi Rắn 以 然"), Qủa Lắm = Qủa Nhiên 果 然 (pinyin: "Guo Rán 果 然"), Hiển Lắm = Hiển Nhiên 顯 然 (pinyin: "Xian Rán 顯 然"), Thẳng Lắm = Thản Nhiên 坦 然 (pinyin: "Tan Rán 坦 然"), Công Lắm = Công Nhiên 公 然 (pinyin: "Gong Ran 公 然"). Trong các từ ghép trên, Lắm đứng ở vị trí của "thuyết" để bổ nghĩa cho "đề" đứng trước nó, kiểu ghép ấy là ghép theo ngữ pháp Việt. Lắm, Hán ngữ dùng chữ Đa 多, theo ngữ pháp Hán thì Đa 多 (là ở vị trí bổ nghĩa) nhưng lại đứng trước, ví dụ: Đa Số 多 數, Đa Hướng 多 向 v.v. Còn nếu dùng Lắm làm động từ, lấy nó như một "đề" thì nó phải đứng trước, như: Lắm Gạo (đề là Lắm, thuyết là Gạo), Lắm Tiền (đề là Lắm, thuyết là Tiền). Từ Lắm của tiếng Việt lại có gốc từ tiếng Khơ Me là từ Prăm là con số 5, tức con số có trị nhiều nhất trong một vòng đếm của hệ ngũ phân: Prăm=Rắm=Lắm=Dăm=Trăm. Trăm=Chăm=Bẵm=Bẫm=Bách (đều mang nghĩa của nôi khái niệm chung là nhiều). "Lắm Nước"= "Lắm Nác"= Lạc. Lạc Việt = Lắm Việt = Trăm Việt = Bách Việt. "Kinh Mình" = Kính, "Kinh Ta"= Cả. Kính=Cả=Gia 家=Giả 者 đều mang ý tôn trọng. Mẹ Cả = Mụ Cả = U Cả = Âu Cơ. Âu Lạc của người Việt có nghĩa là "Mẹ của Lắm Nác Việt" tức Mẹ của Bách Việt.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

9.Các học giả công nhận rằng những cái tên trong thiên can là những từ Việt, bắt đầu từ Tí là nhỏ nhất, Tí Chút = Tí Chuột. QT Tơi-Rỡi: Tí=Xí=Nhí=Nhi=Nhị=Nị, từ đôi Tí Nị 細 膩= Tế Nhị 細 膩。 Tí=Tẹo=Tiểu=Tử. Nho viết Tí bằng chữ Tử 子, viết Nhí bằng chữ Nhi 兒. Hán ngữ dùng chữ Tử 子 và chữ Nhi 兒 để chỉ con nhỏ và ghép Nhi Tử 兒 子 chỉ con trai, Nữ Nhi 女 兒 chỉ con gái. Hai từ ghép Nhi Tử và Nữ Nhi gọi là từ Hán Việt, nhưng cái tố để tạo nên chúng lại là từ gốc Việt. Nhí=Nhóc=Nhãi=Nhép=Nhẹp=Nhỏ=Cỏ, nên tụi trẻ con gọi là tụi Nhóc hay đồ Nhãi Nhép. Nhẹp=Tẹp=Tí=Nhí, nên tụi "giặc cỏ" là tụi giặc từng Tốp nhỏ, không chính qui, là tụi Tẹp Nhẹp, chuyên đi cướp vặt, mà Hán ngữ dịch từ "giặc cỏ" là tụi "thảo giặc" hay "thảo khẫu" nghĩa là chuyên cướp nhỏ.

Thành ngữ Việt "Trời sinh Voi, sinh Cỏ" nghĩa đen là Trời sinh ra mọi thứ, từ lớn (như Voi) đến nhỏ ( như Cỏ). Từ Voi phiên thiết thành hai từ là Vĩ Đọi = Vĩ Đại. Vĩ được lấy chỉ cái to lớn, Đọi=Đại thì vùng nào cũng gọi núi lớn nhất của vùng ấy là núi Đọi hay rú Đụn.(Đọi=Đại=Thái, núi Đọi thì Hán nho dịch là Thái sơn). Đọi=Đồi=Đụn=Đồn=Cồn=Cấn=Con=Non=Núi. Câu thành ngữ "Trời sinh Voi, sinh Cỏ" ấy, nho viết gọn chỉ bằng hai chữ Thiên Nhiên. Trăm từ điển Việt Nam thì cả trăm đều giải thích từ Thiên Nhiên là một từ gốc Hán, gọi là "từ Hán Việt". Cứ cho là như vậy đi, nhưng cái tố taọ nên từ Thiên Nhiên lại là từ gốc Việt, cả cách ghép cũng là ghép theo ngữ pháp Việt: Thiên là Trời, Nhiên là Lắm. Blơi (tiếng Mường)=Lời=Trời=Trên=Lên=Then (tiếng Tày Thái)=Thiên=Thượng=Đường=Đàng=Giàng (tiếng Tây Nguyên)=Càng=Càn. Lên Thiên Đàng nghĩa là Lên Trời. Cặp đối Nhỏ/ Nhớn thì theo khối lượng Nhỏ là Ít (lướt "Nhỏ Ít"=Nhít, lướt "Lắm Ít"=Lít, từ đôi Lít Nhít nghĩa là nhiều cái nhỏ), Nhớn là Nhiều. Lướt "Nhớn Lắm"="Nhiều Lắm"=Nhặm=Nhặn=Nhiên. Lướt "Nhỏ Lắm " = Nhắm = Nhắn = Nhiên. Do vậy mà có cặp đối Âm/ Dương là Nhỏ Nhắn/ Nhiều Nhặn. Chữ Nhặn của Nhiều Nhặn và chữ Nhắn của Nhỏ Nhắn, nho viết chung bằng một chữ Nhiên 然, Nhiên 然 có nghĩa là Nhiều Lắm, nên do Nhiên mà nở ra từ dính là Nhan-Nhản nghĩa là nhiều khắp nơi chỗ nào cũng có. Nho viết chữ Nhiên 然 có bộ Lửa (Lửa=Lả=Hỏa="Huo"- pinyin mà Hán ngữ dùng), có bộ Lửa vì Nhiên là Nhớn Lắm thì ngụ ý như là mặt trời, Nhiên là Nhiều Lắm thì ngụ ý như là nắng của mặt trời, cái nắng ấy nó "rán" người đổ mồ hôi cháy đen da, nó "rán" mỡ chảy thành nước: Rán=Rang=Rạng=Sáng=Náng (tiếng Nghệ nghĩa là nướng)=Nướng=Nóng=Nắng. Rán mang nghĩa là đốt, nên Nhiên mới nhiễm nghĩa là đốt và có từ Nhiên Liệu là từ Hán gọi chất đốt. Quan Thoại đọc chữ Nhiên = Nhan-Nhản là "Rán". Từ Nắng thì nho viết bằng chữ Lãng. Ngày nắng không mưa là ngày đẹp trời vì tiện làm việc ngoài trời và phơi phóng, gọi là ngày tốt lành, lướt "Tốt Lành"= Tạnh, "Tạnh là từ tiếng Kinh" = Tình 晴, nên nho viết Tạnh bằng chữ Tình 晴. Ngày Tạnh và Nắng, gọi tắt là Tạnh Nắng, nho viết bằng chữ Tình Lãng 晴 朗 Hán ngữ dùng chữ Tình Lãng 晴 朗để chỉ ngày Tạnh và Nắng, gọi ngày tạnh (không có mưa) là Tình Thiên 晴 天– pinyin "Qing Tian 晴 天". Tình Lãng 晴 朗 (Tạnh Nắng) có nghĩa là "ngày tốt lành, có nắng" vẫn còn là từ tiếng Việt, theo ngữ pháp Việt. Nhưng đến từ Tình Thiên thì đã thành "từ Hán Việt". Dương=Nướng (cũng có nghĩa là Ủ tức giữ nhiệt lâu, như từ Ngủ Nướng)=Nóng=Nòng (con Nòng trong cặp đối Dương/ Âm là Nòng/ Nọc)=Nong=Nống=Nắng=Náng (nghĩa là Nướng, tiếng Nghệ)=Lãng=Lang=Sáng. Hán ngữ phiên âm chữ Dương 陽 là "Yáng" chỉ ý dương, phiên âm chữ Nướng 釀 là "Niang" chỉ ý ủ, phiên âm chữ Lãng 朗 là "Lảng" chỉ ý nắng. Những từ mà Việt nho viết theo ngữ pháp Việt mà Hán ngữ hiện đại vẫn dùng nguyên văn theo ngữ pháp Việt như: Ắt Lắm = Tất Nhiên 必 然 (pinyin: "Bì Rán 必 然"), Đáng Lắm = Đương Nhiên 當 然 (pinyin: "Dang Rán 當 然"), Dựa Lắm = Dĩ Nhiên 以 然(pinyin: " Yi Rắn 以 然"), Qủa Lắm = Qủa Nhiên 果 然 (pinyin: "Guo Rán 果 然"), Hiển Lắm = Hiển Nhiên 顯 然 (pinyin: "Xian Rán 顯 然"), Thẳng Lắm = Thản Nhiên 坦 然 (pinyin: "Tan Rán 坦 然"), Công Lắm = Công Nhiên 公 然 (pinyin: "Gong Ran 公 然"). Trong các từ ghép trên, Lắm đứng ở vị trí của "thuyết" để bổ nghĩa cho "đề" đứng trước nó, kiểu ghép ấy là ghép theo ngữ pháp Việt. Lắm, Hán ngữ dùng chữ Đa 多, theo ngữ pháp Hán thì Đa 多 (là ở vị trí bổ nghĩa) nhưng lại đứng trước, ví dụ: Đa Số 多 數, Đa Hướng 多 向 v.v. Còn nếu dùng Lắm làm động từ, lấy nó như một "đề" thì nó phải đứng trước, như: Lắm Gạo (đề là Lắm, thuyết là Gạo), Lắm Tiền (đề là Lắm, thuyết là Tiền). Từ Lắm của tiếng Việt lại có gốc từ tiếng Khơ Me là từ Prăm là con số 5, tức con số có trị nhiều nhất trong một vòng đếm của hệ ngũ phân: Prăm=Rắm=Lắm=Dăm=Trăm. Trăm=Chăm=Bẵm=Bẫm=Bách (đều mang nghĩa của nôi khái niệm chung là nhiều). "Lắm Nước"= "Lắm Nác"= Lạc. Lạc Việt = Lắm Việt = Trăm Việt = Bách Việt. "Kinh Mình" = Kính, "Kinh Ta"= Cả. Kính=Cả=Gia 家=Giả 者 đều mang ý tôn trọng. Mẹ Cả = Mụ Cả = U Cả = Âu Cơ. Âu Lạc của người Việt có nghĩa là "Mẹ của Lắm Nác Việt" tức Mẹ của Bách Việt.

Nôi khái niệm là một cái Nôi tự Nói ra nhiều từ có chung một khái niệm nào đó của ngôn ngữ giống Nòi (tạm gọi là chúng gần như đồng nghĩa ở một khái niệm nào đó). Mà diễn biến âm của các từ chung nôi khái niệm là hợp QT Tơi-Rỡi (thay Tơi hay thay Rỡi để biến âm vẫn tạo ra từ mới có cùng một khái niệm). Như vậy cái gọi là “nôi khái niệm” và cái gọi là “qui tắc tơi-rỡi” mà hai lúa Lãn Miên phịa ra không phải là vớ vẩn, mà là đúng, có thực trong tạo từ của tiếng Việt. Chẳng qua các nhà ngôn ngữ học máy lạnh say sưa với từ Hán-Việt (nhiều từ điển “từ Hán- Việt” được soạn thảo gần đây bằng tài trợ quốc tế) đã không để ý mà thôi. Lấy ví dụ khái niệm “nước và nguồn nước” thì có cái nôi khái niệm chung là: Nước=Nác (tiếng Mường)=Đác (tiếng Tây Nguyên và tiếng Choang )= Đìa = =Đầm=Đàm 潭 (Đàm 潭 là chữ “Nho Ta”= Nhã chỉ đầm)=Đen=Hoẻn=Hắc 黑= Huyền 玄( đen, hoẻn, hắc, huyền đều là màu ngũ hành của nước)= Điện 淀 (nước đọng)=Đậm =Thâm=Lầm (đậm, thâm, lầm đều là màu ngũ hành của nước)=Nậm (tiếng Tày)=Nam (tiếng Thái Lan)=Khảm (quẻ tượng nước trong bát quái)= Khe=Khê 溪 (chữ nho)=Khuổi (tiếng Tày chỉ dòng suối)=Suối=Sông=Krông (tiếng Tây Nguyên)=Kông (Mê Kông = Mè Khoỏng, tiếng Lào)= Kang 江 (tiếng Triều Châu chỉ sông)=Giang 江 =Dòng=Dõng 涌 (tiếng Phiên Ngung)=Diễn 衍 ( chữ nho, nghĩa là mạch nước ngầm)=Biển=Bái 沛 (chữ nho, nghĩa là đầy nước)= Hải 海 = Hói (con Ngòi, tiếng Nghệ)= Hà 河 =Hồ 湖 = Ô 烏 (màu ngũ hành của nước)= Âm 陰 (tượng nước trong lưỡng nghi)= Ẩm = Ướt = Nước. Tước 爵 là cái hàm được nhà Nước phong, tức “cái cho của Nước”, mà “cái cho” thì nho gọi là cái “Tách Chứ”= Tứ, viết bằng chữ Tứ 賜, có nghĩa là “cái cho”, vì Tách là chia tách, muốn cho thì phải chia, có phẩm cao, phẩm thấp, có kẻ được cho nhiều, kẻ được cho ít. Gọi lướt “Tứ Nước”= Tước.爵 (Từ điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng, Viện ngôn ngữ học Hà Nội 1991 giải thích chữ Tước 爵 là từ gốc Hán, trang 459. Hán ngữ thì Nước là “guo 國”, Tứ là “ci 賜”, Tước là “jue 爵”, nếu nói theo Hán ngữ câu “cái cho của Nước” thì sẽ là “Guo 國 de 的 ci 賜” = Jue 爵, nhìn coi có bằng được “Jue” không? Còn ở tiếng Việt thì “cái cho của Nước” tức “Tứ 賜 Nước 國” = Tước 爵 , là quá rõ ràng, từ Tước 爵 là một từ thuần Việt).

Cái Năng của vũ trụ đã QT Nở mà thành Nắng/ Nước như là Dương/ Âm. Phân tích nôi khái niệm Nước như trên đã rõ cái Nôi Bách Việt ở nam Dương Tử (Dòng Cả). Phân tích cái nôi khái niệm Nắng trong một ngày (khi mặt trời lên ở đằng Đông và lặn ở đằng Tây) càng thấy rõ hơn vị trí địa lý của nước Văn Lang cổ đại của người Việt. Mặt trời lên đằng Đông: Nắng=Nâng=Tâng=Tăng=Thăng=Đăng=Đông (“Văn Lang đông giáp Đông Hải ” ). Mặt trời lặn đằng Tây: Nắng=Núp=Thụp=Thục=Thụt=Tụt=Tây (“Văn Lang tây giáp Ba Thục”). Chính sử ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông hải, nam giáp Hồ Tôn”.

Dòng là dòng chảy của nước. Nước chảy Tong-Tỏng, nên Dòng=Tỏng=Tông 宗. Nước chảy thành nhiều sông, nên Sông=Tông. Dùng chữ nho Tông 宗, quan thoại đắn đo không biết nên phát âm là “dòng” hay phát âm là “tông”, nên đã dung hòa, phát âm chữ Tông là “dung” (pinyin: Zong). Ngôn từ của quan thoại (quan là người Hãn) chẳng qua là lấy theo ngôn từ của dân thoại (dân là người Việt). Ngôn từ Việt ấy quan thoại phát âm lơ lớ đi, “Lơ lớ Đi”= Li, nên nghe nó hơi li khai (lạc khác). Rồi ngữ pháp ngược của quan áp đặt vào, thế là hình thành một ngôn ngữ mới, hình thành nên Hán ngữ hiện đại. Dân học đi thi bắt buộc phải theo ngữ pháp ấy, không thì sẽ rớt. Ngôn ngữ Bách Việt chính là nền tảng của ngôn ngữ đơn âm tiết phương Đông. Người Việt nuôi Voi, hâm mộ Voi, tượng đá Voi có nhiều chứ không phải tượng đá sư tử nhan nhản như ngày nay nhập về đặt trước cổng các công ty. Voi = Vĩ Đọi, “Vĩ Đọi”= Voi, nên sông lớn, núi lớn thường đặt tên là sông Vị, núi Đọi

Núi Đọi là hòn núi “Đá lẻ Loi”= Đọi, ở đồng bằng ven biển. Đọi=Đại=Thái, gọi là núi Thái, Hán nho viết là Thái sơn, nói núi Thái sơn là nói thừa một chữ sơn. Vì ở ven biển Đông, nơi mặt trời lên , nên Đọi=Chói=Cháy, cháy đỏ như son, nên Đọi còn gọi là Cháy Son, tá âm bằng chữ Thái Sơn. Câu ca dao (sửa lại): “Công cha như núi Cháy Son. Nghĩa mẹ như nước Sông Nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Sông Nguồn là Nguyên Giang ở Hồ Nam, đổ vào hồ Động Đình. Nguồn=Ngươn= Nguyên 源, đó là nguồn nước. “Nguồn đầu Tiên”= Nguyên 原, đó là gốc của dòng Tiên, dòng Âu Cơ = U Cả.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nôi khái niệm là một cái Nôi tự Nói ra nhiều từ có chung một khái niệm nào đó của ngôn ngữ giống Nòi (tạm gọi là chúng gần như đồng nghĩa ở một khái niệm nào đó). Mà diễn biến âm của các từ chung nôi khái niệm là hợp QT Tơi-Rỡi (thay Tơi hay thay Rỡi để biến âm vẫn tạo ra từ mới có cùng một khái niệm). Như vậy cái gọi là “nôi khái niệm” và cái gọi là “qui tắc tơi-rỡi” mà hai lúa Lãn Miên phịa ra không phải là vớ vẩn, mà là đúng, có thực trong tạo từ của tiếng Việt. Chẳng qua các nhà ngôn ngữ học máy lạnh say sưa với từ Hán-Việt (nhiều từ điển “từ Hán- Việt” được soạn thảo gần đây bằng tài trợ quốc tế) đã không để ý mà thôi. Lấy ví dụ khái niệm “nước và nguồn nước” thì có cái nôi khái niệm chung là: Nước=Nác (tiếng Mường)=Đác (tiếng Tây Nguyên và tiếng Choang )= Đìa = =Đầm=Đàm 潭 (Đàm 潭 là chữ “Nho Ta”= Nhã chỉ đầm)=Đen=Hoẻn=Hắc 黑= Huyền 玄( đen, hoẻn, hắc, huyền đều là màu ngũ hành của nước)= Điện 淀 (nước đọng)=Đậm =Thâm=Lầm (đậm, thâm, lầm đều là màu ngũ hành của nước)=Nậm (tiếng Tày)=Nam (tiếng Thái Lan)=Khảm (quẻ tượng nước trong bát quái)= Khe=Khê 溪 (chữ nho)=Khuổi (tiếng Tày chỉ dòng suối)=Suối=Sông=Krông (tiếng Tây Nguyên)=Kông (Mê Kông = Mè Khoỏng, tiếng Lào)= Kang 江 (tiếng Triều Châu chỉ sông)=Giang 江 =Dòng=Dõng 涌 (tiếng Phiên Ngung)=Diễn 衍 ( chữ nho, nghĩa là mạch nước ngầm)=Biển=Bái 沛 (chữ nho, nghĩa là đầy nước)= Hải 海 = Hói (con Ngòi, tiếng Nghệ)= Hà 河 =Hồ 湖 = Ô 烏 (màu ngũ hành của nước)= Âm 陰 (tượng nước trong lưỡng nghi)= Ẩm = Ướt = Nước. Tước 爵 là cái hàm được nhà Nước phong, tức “cái cho của Nước”, mà “cái cho” thì nho gọi là cái “Tách Chứ”= Tứ, viết bằng chữ Tứ 賜, có nghĩa là “cái cho”, vì Tách là chia tách, muốn cho thì phải chia, có phẩm cao, phẩm thấp, có kẻ được cho nhiều, kẻ được cho ít. Gọi lướt “Tứ Nước”= Tước.爵 (Từ điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng, Viện ngôn ngữ học Hà Nội 1991 giải thích chữ Tước 爵 là từ gốc Hán, trang 459. Hán ngữ thì Nước là “guo 國”, Tứ là “ci 賜”, Tước là “jue 爵”, nếu nói theo Hán ngữ câu “cái cho của Nước” thì sẽ là “Guo 國 de 的 ci 賜” = Jue 爵, nhìn coi có bằng được “Jue” không? Còn ở tiếng Việt thì “cái cho của Nước” tức “Tứ 賜 Nước 國” = Tước 爵 , là quá rõ ràng, từ Tước 爵 là một từ thuần Việt).

Cái Năng của vũ trụ đã QT Nở mà thành Nắng/ Nước như là Dương/ Âm. Phân tích nôi khái niệm Nước như trên đã rõ cái Nôi Bách Việt ở nam Dương Tử (Dòng Cả). Phân tích cái nôi khái niệm Nắng trong một ngày (khi mặt trời lên ở đằng Đông và lặn ở đằng Tây) càng thấy rõ hơn vị trí địa lý của nước Văn Lang cổ đại của người Việt. Mặt trời lên đằng Đông: Nắng=Nâng=Tâng=Tăng=Thăng=Đăng=Đông (“Văn Lang đông giáp Đông Hải ” ). Mặt trời lặn đằng Tây: Nắng=Núp=Thụp=Thục=Thụt=Tụt=Tây (“Văn Lang tây giáp Ba Thục”). Chính sử ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông hải, nam giáp Hồ Tôn”.

Dòng là dòng chảy của nước. Nước chảy Tong-Tỏng, nên Dòng=Tỏng=Tông 宗. Nước chảy thành nhiều sông, nên Sông=Tông. Dùng chữ nho Tông 宗, quan thoại đắn đo không biết nên phát âm là “dòng” hay phát âm là “tông”, nên đã dung hòa, phát âm chữ Tông là “dung” (pinyin: Zong). Ngôn từ của quan thoại (quan là người Hãn) chẳng qua là lấy theo ngôn từ của dân thoại (dân là người Việt). Ngôn từ Việt ấy quan thoại phát âm lơ lớ đi, “Lơ lớ Đi”= Li, nên nghe nó hơi li khai (lạc khác). Rồi ngữ pháp ngược của quan áp đặt vào, thế là hình thành một ngôn ngữ mới, hình thành nên Hán ngữ hiện đại. Dân học đi thi bắt buộc phải theo ngữ pháp ấy, không thì sẽ rớt. Ngôn ngữ Bách Việt chính là nền tảng của ngôn ngữ đơn âm tiết phương Đông. Người Việt nuôi Voi, hâm mộ Voi, tượng đá Voi có nhiều chứ không phải tượng đá sư tử nhan nhản như ngày nay nhập về đặt trước cổng các công ty. Voi = Vĩ Đọi, “Vĩ Đọi”= Voi, nên sông lớn, núi lớn thường đặt tên là sông Vị, núi Đọi

Núi Đọi là hòn núi “Đá lẻ Loi”= Đọi, ở đồng bằng ven biển. Đọi=Đại=Thái, gọi là núi Thái, Hán nho viết là Thái sơn, nói núi Thái sơn là nói thừa một chữ sơn. Vì ở ven biển Đông, nơi mặt trời lên , nên Đọi=Chói=Cháy, cháy đỏ như son, nên Đọi còn gọi là Cháy Son, tá âm bằng chữ Thái Sơn. Câu ca dao (sửa lại): “Công cha như núi Cháy Son. Nghĩa mẹ như nước Sông Nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Sông Nguồn là Nguyên Giang ở Hồ Nam, đổ vào hồ Động Đình. Nguồn=Ngươn= Nguyên 源, đó là nguồn nước. “Nguồn đầu Tiên”= Nguyên 原, đó là gốc của dòng Tiên, dòng Âu Cơ = U Cả.

Quay lại bài “Học chữ gì đầu tiên?”. Chữ ở đây ám chỉ chữ cái latin mà quốc ngữ dùng. Còn nếu hỏi lời gì đầu tiên thì nhất trí là “Tiên học Lễ, hậu học Văn” rồi, không dám bàn. Nhưng câu “khẩu hiệu” xưa “Tiên học lễ , hậu học văn” thì Trung Quốc đã viết thành câu “Nhân tình - Nhân tính - Nhân cách - Nhân tài 人情 – 人性 – 人格 – 人才”, cụ thể hóa tiến trình của phương châm giáo dục để hình thành một con người. Thật cảm động khi biết các thầy cô giáo TQ đã đặt ra câu đó, viết bằng chữ lớn, ở các trường phổ thông. Toàn câu chỉ dùng có 5 chữ nho mà ghép thành, cũng như câu xưa cũng chỉ dùng 5 chữ nho ghép thành. Nhưng ở tiếng Việt thì Năm=Lắm, ngụ ý là muốn đạt nhiều thì cũng chỉ là từ đó mà thôi, tức là từ cái đúng của thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà đi. Tôi biết câu trên (人情 – 人性 – 人格 – 人才)của TQ là do chợt nhìn thấy khi VTV đưa tin hình ảnh trận động đất khủng khiếp tại Tứ Xuyên năm đó. Tấm bảng dài với dòng chữ lớn ấy rớt nằm cong vênh trên đống gạch vụn của một ngôi trường phổ thông bị sụp đổ. Ứa nước mắt lúc đó, thật là đau xót. Sau này báo chí đưa tin dư luận TQ đòi phải truy xét những kẻ trong nhóm lợi ích đã xây dối công trình của các dự án trường học. Cũng thật cảm động lúc đó khi thấy VTV đưa tin hình ảnh tổng thống nước Nga Met-Vê-Đép tiếp trong điện Cẩm Ly một ngàn học sinh nạn nhân động đất Tứ Xuyên, (cháu nào cũng chỉ đi dép nhựa, lưng đeo cái ba lô tòn ten), mà chính phủ Nga đã quyết định đón sang nuôi giùm cho đến học hết đại học ở Nga. Sách giáo khoa phổ thông ở TQ in giấy trắng đẹp khổ A4, rất dày vì có cả phụ lục là phần tham khảo đọc thêm, sách không bán mà do trường phát cho học sinh, dùng xong khi lên lớp trên thì trả lại trường để cho lớp lên tiếp dùng, vì giáo trình là không thay đổi. Ở ta thì sách giáo khoa thay đổi xoành xoạch theo các dự án cải cách của Bộ. Hai chị em đi học thì sách chị mua dùng xong, em lớp dưới lên không dùng được nữa vì giáo trình đã đổi khác, buộc phải mua sách mới, kèm thêm nhan nhản sách tham khảo bắt buộc phải mua đọc thêm, do Bộ xuất bản và các cty thân hữu in. Tôi hỏi một bác xe ôm chở ba cháu học sinh cấp một đến cổng trường (trường ở thành phố, khang trang đúng chuẩn thiết kế xây dựng của Bộ) là hiểu thế nào câu “Tiên học lễ hậu học văn” bằng chữ lớn trên tiền sảnh của trường? Trả lời: “Ờ ...đúng vzậy thôi, tiên học lễ hậu (rồi mới) học văn, mấy bà mẹ của sắp nhỏ đây cũng nói vzậy mờ” (vì câu sáu chữ đó không thấy có dấu phẩy hay gạch nối ngắt mệnh đề).

Chữ cái đầu tiên là chữ gì chẳng cần phải dạy, đứa trẻ ra đời thường nghe nhất hai tiếng đầu tiên là Mẹ (Tơi M, mềm, ứng Âm) và Con (Tơi K, cứng, ứng Dương). Bài ru nào chẳng có hai từ Mẹ và Con ở câu đầu tiên. Mẹ thì tự đứa bé vừa ra đời đã biết, vì Mấp Máy, Mở Miệng là ra tiếng Mẹ. Con thì bà nó dạy cho nhận thức từ khi còn ẵm, chưa biết nói: Đây là Con nhá, xưng con; đây là con gà, đây là con chó... thành bài đồng dao dạy nhận thức vật thể “Con gà có mỏ, con chó có lồng, cây tre có mắt, nồi đồng có quai” (mà vật thể nào cũng có cái giá trị riêng của nó, chứ chúng không đồng loạt phát biểu một giọng điệu như nhau ).

Từ đầu tiên là Mẹ. Giữ Tơi thay Rỡi thì: Mẹ=Me=Mụ=Mự=Mạ=Má= Ma Ma = Mam. Mẹ=Mụ=U. U=Âu. Thay Tơi giữ Rỡi thì: U=Mủ (phát âm của Quan Thoại). Lướt từ đôi thì: “Mẹ Âu”= Mẫu. Mẹ là thể gần, lướt “Thể Gần”= Thân. Nên chữ nho có từ Mẫu Thân. Gần=Cận=Cạnh=Kề=Kế. Lướt “Kề Cạnh”= Canh; “Gần kẻ Khác”= Gác. Nên có từ đôi Canh Gác. Làng ở cạnh Làng, viết bằng từ ghép là Làng Làng. Lướt “Làng Làng”= Láng. Cái để bọc ngoài liền với thịt trong là cái Vỏ=O=Giỏ (cái giỏ đựng thịt)=Da=Giát (cái giát giường đỡ thịt lưng)=Giáp (cái áo giáp che thịt)=Giác (cái thớ gỗ giác ôm ngoài thớ gỗ thịt)=Khoác (cái áo ngoài)=”Khứa” (phát âm của Quan Thoại chỉ cái vỏ, pinyin “ke 殼”). O Bế = Vỏ Bịt= Vỏ Bọc = Vỏ Bao. Bao=Áo=Đào. Nếu vỏ làm bằng “Xen - lu - lô – Zơ” = Xơ thì có cái nôi khái niệm khác: Vỏ=Dó=Giấy=Dải=Vải=Váy=Vấn=Mấn=Khăn. Lướt “Vỏ Ủ”= Vũ (không gian), “Trời Ủ”= Trụ (thời gian). Ngôn từ Việt là mẹ của ngôn từ Hán ngữ hiện đại. Tiến trình Vỏ = Vo = Vón = Con ,hình thành nên con người, là Ta = “Tất Cả” = “Đất Càn” = ”Đất Trời”. Lướt “Giáp Liền”= Giềng. Nên làng cạnh nhau gọi là Láng Giềng. Lướt “Láng giềng Gần”= Lân. Lân=Lìn (tiếng Lào)=Lờn=Nhờn. Ngạn ngữ Lào: “Lìn má má lề nạ. Lìn khạ khạ nhịp pua” nghĩa là “Nhờn chó chó liếm mặt. Nhờn khạ (đầy tớ) khạ sờ đầu” (Người Lào kiêng cử chỉ xoa đầu kể cả xoa đầu trẻ con, không coi đó là cử chỉ thân yêu). Người Lào Lùm (tộc Lớn=Lùm, tộc đa số, tộc Thái, ở đồng bằng) tự xưng là Thay Lao. Thái=Thay=Thày=Cháy=Chói=Soi=Sáng. Người Thày=Thầy=Thấy là kẻ soi cái sáng cho học trò. Đó là một nửa của dân Sáng Sáng. Nửa Sáng kia là Kinh = Mình = Minh = Manh= Mang=Tráng=Choang=Quang=Sáng=Láng=Lang. Hai nửa đều là Sáng, ghép lại thành Tiên Rồng. Tiên=Tinh=Minh=...=Sáng. Rồng=Rộng=Thông=Sống=Sáng. Viêng Chăn tiếng Lào có nghĩa là Vầng Trăng. Hán ngữ mượn âm chữ Vạn 萬 (pinyin: wan) để phiên cái âm tiết “Viêng” và mượn âm chữ Tượng 象 (pinyin: Xiang) để phiên cái âm tiết “Chăn”. Các sử gia hủ nho dựa vào cái chữ Vạn Tượng 萬 象 mà giải thích rằng, cổ đại người Hán đã khai hóa đất Lào, đặt tên kinh đô là Vạn Tượng (vạn con voi, vì Lào nhiều voi mà), người Lào mới phát âm chệch đi là Viêng Chăn (!). Cũng giống như Viện ngôn ngữ của VN giải thích rằng: “chữ Buồm của tiếng Việt vốn xuất xứ từ chữ Phàm 帆 của tiếng Hán, Hán ngữ phát âm pinyin là “fán”, truyền sang ta bằng con đường hàn lâm thì đọc là Phàm, còn truyền bằng con đường dân gian thì dân họ nói là Buồm”(!). Vậy sao cái phố Hàng Buồm của thành Đại La không đổi thành phố Hàng Phàm đi cho nó nghịch? Cổ đại dân Hãn du mục trên đồng cỏ khô, đi bằng ngựa, làm gì có truyền thống đi bằng thuyền trên nước mà có “fán”. Đến thời Nguyên hai lần định vượt biển sang chiếm Nhật Bản mà gặp gió to sóng lớn nên không dám đi. Dân Việt từ cổ đại đi biển bằng thuyền buồm, buồm Việt lại còn lướt được cả gió ngược. Chữ Buồm có gốc từ tên những cái để đựng, đều có tơi B: Bầu=Bào=Bàu (như cái ao chứa nước)=Bụng (đựng ngũ tạng)=Bưng=Bồ (đựng thóc)=Bị (đựng đồ)=Bóp (đựng tiền)=Bàn (đựng những đồ đặt trên khuôn khổ cái mặt bàn, khỏi khuôn đó là rớt)=Bồn=Bộng (nồi đất lớn để vào gióng đi gánh nước, nều bị mẻ thì dùng đựng nước đái tưới rau)=Bồng (cái ba lô đan bằng cói)=Buồng (đựng người và của)=Bòng (là “Buồng Trong”= Bòng, nơi đựng vợ chồng ngủ với nhau, buồng ngoài để tiếp khách, câu thành ngữ “Vợ chồng đèo bòng” nghĩa là khó mà dứt ra được, đi xa lâu thì nhớ hơi khi ngủ với nhau ở cái buồng trong) = Bè (đựng những gì và những ai ngồi trên nó)=Bục (đựng thóc, đóng bằng gỗ)=Bộng (đựng cả xã hội của một con ong chúa, gọi là Bộng ong, nó như cái “Bụng mà đựng rất Đông”= Bộng. Nó vừa Đựng bầy ong thợ, vừa O bế ong chúa và bầy nhộng ong, nên nhấn mạnh bằng câu là “Đựng và O”= Đõ, nên cái Bộng ong còn gọi là cái Đõ ong, nho viết Đõ bằng chữ Đỗ 肚. Cũng giống như cái Đó đựng cả bầy cá tôm lươn trạch chẳng may theo dòng nước mà lọt vào và bị “Đựng O”= Đó, không thoát ra được. Hán ngữ mượn chữ Đỗ 肚 để dùng chỉ cái bụng hay cái dạ dày. “Đỗ thống phục nhân sâm tắc tử” vẫn chỉ là một cấu tiếng Việt mà thôi. Đau=Thấu=Thương=Thống. Thống Khổ nghĩa là đau-thương-thấu cái khổ của kẻ khác.Vật bị chứa đựng là vật bị O Bế (O Bế = Vỏ Bịt ) trong cái khuôn khổ của vật đựng, không được tự do (Tự Do = Tự Di = Tự Du = Tự Dù = Tự Vù= Tự Vọt = Tự Vượt = Tự Việt). Bị o bế như thế khác gì bị “O bế như U Ôm”= Uôm. (U ôm là Mẹ nó ôm). Cái Uôm là cái vật bị chứa, tức nó là cái Chửa (bà bầu gọi là đàn bà có Chửa). Dùng từ đôi “Chửa Uôm”= Chuôm, để nói ý là cái bị chứa là rất nhiều. Vì vậy cái ao chứa nước nhiều gọi là Ao Chuôm, nếu thấy ao cạn khô, người ta sẽ ngạc nhiên mà hỏi rằng “Ao chuôm gì mà cạn rốc thế này?”. Cái để hứng gió hay đựng gió, tức bắt gió phải là cái Chuôm nằm trong khuôn khổ của nó gọi là cái “Bắt gió làm Chuôm”= Buồm. Người Việt hay nói lướt cả câu như vậy. Ví dụ hỏi giá hàng thì Hán ngữ hỏi: “ Đa Thiểu?” (pinyin: Duo Shao?). Tiếng Việt dùng câu hỏi đầy đủ hơn: “Bao gồm tất cả số hàng đó thì giá là ít hay Nhiều?” Vậy mà chỉ nói gọn là “Bao Nhiêu?”. Bởi vì giá là giá trị qui ra tiền, mà tiền thì ít cũng là nhiều và nhiều cũng là nhiều do đồng tiền nào cũng có giá của nó cả, một triệu cũng là vốn mà một xu cũng là vốn, ăn thua ở tài kinh doanh, “Lỡ thế hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công” (Hồ Xuân Hương). Hai cái nhiều thì “Nhiều Nhiều”= Nhiêu, 1+1=0. Người miền Nam còn nói gọn hơn, chỉ một tiếng “Nhiêu?” là coi như đã bao gồm cả hỏi về ít, cả hỏi về nhiều rồi. Do từ Buồm mà có các từ chỉ những đồ có hình dáng giống cái Buồm là Buồm=Bướm=Phướn=Phàm. Hán ngữ mượn chữ Phàm 帆 (pinyin: Fán) để chỉ cái buồm. Do cái “Buồng Trong”= Bòng nên mới có Bòng=Phòng, Hán ngữ mượn chữ Phòng 房 (pinyin: Fáng) chỉ cái buồng, cổ đại dân Hãn du mục ở cả nhà trong một lều bạt hình tròn, không có buồng riêng. Vật bị chứa gọi là cái Chuôm, nếu nó là của ăn trộm thì là “Chuôm Trộm”= Chôm. Của ấy phải chia cho hai kẻ là kẻ đi lấy trộm và kẻ chứa đồ trộm được, hai chia thì là “Chia Chia”= Chỉa, 0+0=1, nên mới có từ Chôm Chỉa để chỉ một cái “nghề” kiếm sống. Dân Chợ Lớn gọi tụi trẻ hư, không làm mà muốn có tiền xài, là tụi nó có nghề “Chà đồ nhôm”, hiểu nói lái là nghề “Chôm đồ nhà”. Cái đựng nếp để đồ xôi, do đáy nó bị “Chọc nhiều lỗ Rò”= Chõ, nên gọi là cái Chõ. Cái đựng quan trọng nhất trong nhà, thể hiện phú nông là cái “Thóc có nhiều đến mấy cũng tha hồ mà Đựng”= Thưng, đó là cái Thưng ( cái Thúng thì nhỏ gọn hơn cái Thưng nhiều). Để dựng cái Thưng thì đầu tiên phải làm một cái Kệ ba chân bằng gỗ hoặc tre, chắc chắn như cái Kiềng ba chân. Đặt ngửa cái nong đại lên kệ. Cuộn tấm cót quanh trong vành nong. Chằng dây quanh cót. Thóc đổ vào càng nhiều càng nặng thì dây càng căng chặt. Đầy cót thì đậy bằng cái nong úp. Như vậy thóc không sát đất, không bị ẩm mà “Mọc mầm Sỗng”= Mộng, tức lên mộng, hay gọi là “Nhú mầm Ra”= Nha 芽, Hán ngữ mượn chữ Nha 芽 để chỉ cái mầm. Khi thóc ẩm bị lên mộng hay phát nha thì chỉ còn cách là đem nấu kẹo Nha (lướt lủn: “Keo Đặc”= Kẹo), không thể phơi khô lại để xay dã được nữa vì hột sẽ vỡ nát. Cái “Thưng đựng thóc là sản phẩm của người Kinh”= Thịnh 盛, nho viết chữ Thịnh 盛 biểu ý là cái Mủng (bộ Minh 皿 nghĩa là đồ đựng) để đựng Thành 成 quả của vụ thu hoạch. Hán ngữ mượn chữ Thịnh 盛 dùng với ý là đựng, như một động từ chứ không phải là để chỉ vật đựng, pinyin: Sheng 盛. Còn chữ Vượng 旺 thì nghĩa gốc của nó là Sáng, khuôn mặt ai sáng sủa thì gọi là có vượng khí, hay là nhìn mặt rất vượng. Sáng=Vàng=Vương=Vượng, nho ghép bằng chữ Nhật 日(là ánh sáng mặt trời, nằng vàng) với chữ Vương 王 thành chữ Vượng 旺 Từ ghép Thịnh Vượng 盛 旺 chỉ sự giàu có khang trang, đây chỉ là nghĩa bóng, diễn biến nghĩa từ nghĩa đen. Phố Hàng Buồm Hà Nội số 22 là Việt Đông hội quán. Đi=Di=Dọt=Vọt=Vượt=Việt. Người Đông Di cũng là người Việt Đông, người Việt Đông cũng là người Việt. Hội quán của người Việt Đông tại 22 Hàng Buồm Hà Nội hiện còn tấm bia đá gắn tường, khắc tên những người Việt Đông 粵 東 đã góp tiền xây nên. Tên thường gọi của Hội quán là Đình Quảng Lạc. Quảng Lạc có hai nghĩa: một nghĩa là “Quảng Đông Lạc Việt”, một nghĩa là “Mở rộng (Quảng) niềm vui (Lạc) cho mọi người. Nơi này ông Tôn Dật Tiên (người Khách Gia, huyện Trung Sơn, Quảng Đông) từng ghé trú một thời gian khoảng đầu những năm 20 của thế kỷ trước.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quay lại bài “Học chữ gì đầu tiên?”. Chữ ở đây ám chỉ chữ cái latin mà quốc ngữ dùng. Còn nếu hỏi lời gì đầu tiên thì nhất trí là “Tiên học Lễ, hậu học Văn” rồi, không dám bàn. Nhưng câu “khẩu hiệu” xưa “Tiên học lễ , hậu học văn” thì Trung Quốc đã viết thành câu “Nhân tình - Nhân tính - Nhân cách - Nhân tài 人情 – 人性 – 人格 – 人才”, cụ thể hóa tiến trình của phương châm giáo dục để hình thành một con người. Thật cảm động khi biết các thầy cô giáo TQ đã đặt ra câu đó, viết bằng chữ lớn, ở các trường phổ thông. Toàn câu chỉ dùng có 5 chữ nho mà ghép thành, cũng như câu xưa cũng chỉ dùng 5 chữ nho ghép thành. Nhưng ở tiếng Việt thì Năm=Lắm, ngụ ý là muốn đạt nhiều thì cũng chỉ là từ đó mà thôi, tức là từ cái đúng của thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà đi. Tôi biết câu trên (人情 – 人性 – 人格 – 人才)của TQ là do chợt nhìn thấy khi VTV đưa tin hình ảnh trận động đất khủng khiếp tại Tứ Xuyên năm đó. Tấm bảng dài với dòng chữ lớn ấy rớt nằm cong vênh trên đống gạch vụn của một ngôi trường phổ thông bị sụp đổ. Ứa nước mắt lúc đó, thật là đau xót. Sau này báo chí đưa tin dư luận TQ đòi phải truy xét những kẻ trong nhóm lợi ích đã xây dối công trình của các dự án trường học. Cũng thật cảm động lúc đó khi thấy VTV đưa tin hình ảnh tổng thống nước Nga Met-Vê-Đép tiếp trong điện Cẩm Ly một ngàn học sinh nạn nhân động đất Tứ Xuyên, (cháu nào cũng chỉ đi dép nhựa, lưng đeo cái ba lô tòn ten), mà chính phủ Nga đã quyết định đón sang nuôi giùm cho đến học hết đại học ở Nga. Sách giáo khoa phổ thông ở TQ in giấy trắng đẹp khổ A4, rất dày vì có cả phụ lục là phần tham khảo đọc thêm, sách không bán mà do trường phát cho học sinh, dùng xong khi lên lớp trên thì trả lại trường để cho lớp lên tiếp dùng, vì giáo trình là không thay đổi. Ở ta thì sách giáo khoa thay đổi xoành xoạch theo các dự án cải cách của Bộ. Hai chị em đi học thì sách chị mua dùng xong, em lớp dưới lên không dùng được nữa vì giáo trình đã đổi khác, buộc phải mua sách mới, kèm thêm nhan nhản sách tham khảo bắt buộc phải mua đọc thêm, do Bộ xuất bản và các cty thân hữu in. Tôi hỏi một bác xe ôm chở ba cháu học sinh cấp một đến cổng trường (trường ở thành phố, khang trang đúng chuẩn thiết kế xây dựng của Bộ) là hiểu thế nào câu “Tiên học lễ hậu học văn” bằng chữ lớn trên tiền sảnh của trường? Trả lời: “Ờ ...đúng vzậy thôi, tiên học lễ hậu (rồi mới) học văn, mấy bà mẹ của sắp nhỏ đây cũng nói vzậy mờ” (vì câu sáu chữ đó không thấy có dấu phẩy hay gạch nối ngắt mệnh đề).

Chữ cái đầu tiên là chữ gì chẳng cần phải dạy, đứa trẻ ra đời thường nghe nhất hai tiếng đầu tiên là Mẹ (Tơi M, mềm, ứng Âm) và Con (Tơi K, cứng, ứng Dương). Bài ru nào chẳng có hai từ Mẹ và Con ở câu đầu tiên. Mẹ thì tự đứa bé vừa ra đời đã biết, vì Mấp Máy, Mở Miệng là ra tiếng Mẹ. Con thì bà nó dạy cho nhận thức từ khi còn ẵm, chưa biết nói: Đây là Con nhá, xưng con; đây là con gà, đây là con chó... thành bài đồng dao dạy nhận thức vật thể “Con gà có mỏ, con chó có lồng, cây tre có mắt, nồi đồng có quai” (mà vật thể nào cũng có cái giá trị riêng của nó, chứ chúng không đồng loạt phát biểu một giọng điệu như nhau ).

Từ đầu tiên là Mẹ. Giữ Tơi thay Rỡi thì: Mẹ=Me=Mụ=Mự=Mạ=Má= Ma Ma = Mam. Mẹ=Mụ=U. U=Âu. Thay Tơi giữ Rỡi thì: U=Mủ (phát âm của Quan Thoại). Lướt từ đôi thì: “Mẹ Âu”= Mẫu. Mẹ là thể gần, lướt “Thể Gần”= Thân. Nên chữ nho có từ Mẫu Thân. Gần=Cận=Cạnh=Kề=Kế. Lướt “Kề Cạnh”= Canh; “Gần kẻ Khác”= Gác. Nên có từ đôi Canh Gác. Làng ở cạnh Làng, viết bằng từ ghép là Làng Làng. Lướt “Làng Làng”= Láng. Cái để bọc ngoài liền với thịt trong là cái Vỏ=O=Giỏ (cái giỏ đựng thịt)=Da=Giát (cái giát giường đỡ thịt lưng)=Giáp (cái áo giáp che thịt)=Giác (cái thớ gỗ giác ôm ngoài thớ gỗ thịt)=Khoác (cái áo ngoài)=”Khứa” (phát âm của Quan Thoại chỉ cái vỏ, pinyin “ke 殼”). O Bế = Vỏ Bịt= Vỏ Bọc = Vỏ Bao. Bao=Áo=Đào. Nếu vỏ làm bằng “Xen - lu - lô – Zơ” = Xơ thì có cái nôi khái niệm khác: Vỏ=Dó=Giấy=Dải=Vải=Váy=Vấn=Mấn=Khăn. Lướt “Vỏ Ủ”= Vũ (không gian), “Trời Ủ”= Trụ (thời gian). Ngôn từ Việt là mẹ của ngôn từ Hán ngữ hiện đại. Tiến trình Vỏ = Vo = Vón = Con ,hình thành nên con người, là Ta = “Tất Cả” = “Đất Càn” = ”Đất Trời”. Lướt “Giáp Liền”= Giềng. Nên làng cạnh nhau gọi là Láng Giềng. Lướt “Láng giềng Gần”= Lân. Lân=Lìn (tiếng Lào)=Lờn=Nhờn. Ngạn ngữ Lào: “Lìn má má lề nạ. Lìn khạ khạ nhịp pua” nghĩa là “Nhờn chó chó liếm mặt. Nhờn khạ (đầy tớ) khạ sờ đầu” (Người Lào kiêng cử chỉ xoa đầu kể cả xoa đầu trẻ con, không coi đó là cử chỉ thân yêu). Người Lào Lùm (tộc Lớn=Lùm, tộc đa số, tộc Thái, ở đồng bằng) tự xưng là Thay Lao. Thái=Thay=Thày=Cháy=Chói=Soi=Sáng. Người Thày=Thầy=Thấy là kẻ soi cái sáng cho học trò. Đó là một nửa của dân Sáng Sáng. Nửa Sáng kia là Kinh = Mình = Minh = Manh= Mang=Tráng=Choang=Quang=Sáng=Láng=Lang. Hai nửa đều là Sáng, ghép lại thành Tiên Rồng. Tiên=Tinh=Minh=...=Sáng. Rồng=Rộng=Thông=Sống=Sáng. Viêng Chăn tiếng Lào có nghĩa là Vầng Trăng. Hán ngữ mượn âm chữ Vạn 萬 (pinyin: wan) để phiên cái âm tiết “Viêng” và mượn âm chữ Tượng 象 (pinyin: Xiang) để phiên cái âm tiết “Chăn”. Các sử gia hủ nho dựa vào cái chữ Vạn Tượng 萬 象 mà giải thích rằng, cổ đại người Hán đã khai hóa đất Lào, đặt tên kinh đô là Vạn Tượng (vạn con voi, vì Lào nhiều voi mà), người Lào mới phát âm chệch đi là Viêng Chăn (!). Cũng giống như Viện ngôn ngữ của VN giải thích rằng: “chữ Buồm của tiếng Việt vốn xuất xứ từ chữ Phàm 帆 của tiếng Hán, Hán ngữ phát âm pinyin là “fán”, truyền sang ta bằng con đường hàn lâm thì đọc là Phàm, còn truyền bằng con đường dân gian thì dân họ nói là Buồm”(!). Vậy sao cái phố Hàng Buồm của thành Đại La không đổi thành phố Hàng Phàm đi cho nó nghịch? Cổ đại dân Hãn du mục trên đồng cỏ khô, đi bằng ngựa, làm gì có truyền thống đi bằng thuyền trên nước mà có “fán”. Đến thời Nguyên hai lần định vượt biển sang chiếm Nhật Bản mà gặp gió to sóng lớn nên không dám đi. Dân Việt từ cổ đại đi biển bằng thuyền buồm, buồm Việt lại còn lướt được cả gió ngược. Chữ Buồm có gốc từ tên những cái để đựng, đều có tơi B: Bầu=Bào=Bàu (như cái ao chứa nước)=Bụng (đựng ngũ tạng)=Bưng=Bồ (đựng thóc)=Bị (đựng đồ)=Bóp (đựng tiền)=Bàn (đựng những đồ đặt trên khuôn khổ cái mặt bàn, khỏi khuôn đó là rớt)=Bồn=Bộng (nồi đất lớn để vào gióng đi gánh nước, nều bị mẻ thì dùng đựng nước đái tưới rau)=Bồng (cái ba lô đan bằng cói)=Buồng (đựng người và của)=Bòng (là “Buồng Trong”= Bòng, nơi đựng vợ chồng ngủ với nhau, buồng ngoài để tiếp khách, câu thành ngữ “Vợ chồng đèo bòng” nghĩa là khó mà dứt ra được, đi xa lâu thì nhớ hơi khi ngủ với nhau ở cái buồng trong) = Bè (đựng những gì và những ai ngồi trên nó)=Bục (đựng thóc, đóng bằng gỗ)=Bộng (đựng cả xã hội của một con ong chúa, gọi là Bộng ong, nó như cái “Bụng mà đựng rất Đông”= Bộng. Nó vừa Đựng bầy ong thợ, vừa O bế ong chúa và bầy nhộng ong, nên nhấn mạnh bằng câu là “Đựng và O”= Đõ, nên cái Bộng ong còn gọi là cái Đõ ong, nho viết Đõ bằng chữ Đỗ 肚. Cũng giống như cái Đó đựng cả bầy cá tôm lươn trạch chẳng may theo dòng nước mà lọt vào và bị “Đựng O”= Đó, không thoát ra được. Hán ngữ mượn chữ Đỗ 肚 để dùng chỉ cái bụng hay cái dạ dày. “Đỗ thống phục nhân sâm tắc tử” vẫn chỉ là một cấu tiếng Việt mà thôi. Đau=Thấu=Thương=Thống. Thống Khổ nghĩa là đau-thương-thấu cái khổ của kẻ khác.Vật bị chứa đựng là vật bị O Bế (O Bế = Vỏ Bịt ) trong cái khuôn khổ của vật đựng, không được tự do (Tự Do = Tự Di = Tự Du = Tự Dù = Tự Vù= Tự Vọt = Tự Vượt = Tự Việt). Bị o bế như thế khác gì bị “O bế như U Ôm”= Uôm. (U ôm là Mẹ nó ôm). Cái Uôm là cái vật bị chứa, tức nó là cái Chửa (bà bầu gọi là đàn bà có Chửa). Dùng từ đôi “Chửa Uôm”= Chuôm, để nói ý là cái bị chứa là rất nhiều. Vì vậy cái ao chứa nước nhiều gọi là Ao Chuôm, nếu thấy ao cạn khô, người ta sẽ ngạc nhiên mà hỏi rằng “Ao chuôm gì mà cạn rốc thế này?”. Cái để hứng gió hay đựng gió, tức bắt gió phải là cái Chuôm nằm trong khuôn khổ của nó gọi là cái “Bắt gió làm Chuôm”= Buồm. Người Việt hay nói lướt cả câu như vậy. Ví dụ hỏi giá hàng thì Hán ngữ hỏi: “ Đa Thiểu?” (pinyin: Duo Shao?). Tiếng Việt dùng câu hỏi đầy đủ hơn: “Bao gồm tất cả số hàng đó thì giá là ít hay Nhiều?” Vậy mà chỉ nói gọn là “Bao Nhiêu?”. Bởi vì giá là giá trị qui ra tiền, mà tiền thì ít cũng là nhiều và nhiều cũng là nhiều do đồng tiền nào cũng có giá của nó cả, một triệu cũng là vốn mà một xu cũng là vốn, ăn thua ở tài kinh doanh, “Lỡ thế hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công” (Hồ Xuân Hương). Hai cái nhiều thì “Nhiều Nhiều”= Nhiêu, 1+1=0. Người miền Nam còn nói gọn hơn, chỉ một tiếng “Nhiêu?” là coi như đã bao gồm cả hỏi về ít, cả hỏi về nhiều rồi. Do từ Buồm mà có các từ chỉ những đồ có hình dáng giống cái Buồm là Buồm=Bướm=Phướn=Phàm. Hán ngữ mượn chữ Phàm 帆 (pinyin: Fán) để chỉ cái buồm. Do cái “Buồng Trong”= Bòng nên mới có Bòng=Phòng, Hán ngữ mượn chữ Phòng 房 (pinyin: Fáng) chỉ cái buồng, cổ đại dân Hãn du mục ở cả nhà trong một lều bạt hình tròn, không có buồng riêng. Vật bị chứa gọi là cái Chuôm, nếu nó là của ăn trộm thì là “Chuôm Trộm”= Chôm. Của ấy phải chia cho hai kẻ là kẻ đi lấy trộm và kẻ chứa đồ trộm được, hai chia thì là “Chia Chia”= Chỉa, 0+0=1, nên mới có từ Chôm Chỉa để chỉ một cái “nghề” kiếm sống. Dân Chợ Lớn gọi tụi trẻ hư, không làm mà muốn có tiền xài, là tụi nó có nghề “Chà đồ nhôm”, hiểu nói lái là nghề “Chôm đồ nhà”. Cái đựng nếp để đồ xôi, do đáy nó bị “Chọc nhiều lỗ Rò”= Chõ, nên gọi là cái Chõ. Cái đựng quan trọng nhất trong nhà, thể hiện phú nông là cái “Thóc có nhiều đến mấy cũng tha hồ mà Đựng”= Thưng, đó là cái Thưng ( cái Thúng thì nhỏ gọn hơn cái Thưng nhiều). Để dựng cái Thưng thì đầu tiên phải làm một cái Kệ ba chân bằng gỗ hoặc tre, chắc chắn như cái Kiềng ba chân. Đặt ngửa cái nong đại lên kệ. Cuộn tấm cót quanh trong vành nong. Chằng dây quanh cót. Thóc đổ vào càng nhiều càng nặng thì dây càng căng chặt. Đầy cót thì đậy bằng cái nong úp. Như vậy thóc không sát đất, không bị ẩm mà “Mọc mầm Sỗng”= Mộng, tức lên mộng, hay gọi là “Nhú mầm Ra”= Nha 芽, Hán ngữ mượn chữ Nha 芽 để chỉ cái mầm. Khi thóc ẩm bị lên mộng hay phát nha thì chỉ còn cách là đem nấu kẹo Nha (lướt lủn: “Keo Đặc”= Kẹo), không thể phơi khô lại để xay dã được nữa vì hột sẽ vỡ nát. Cái “Thưng đựng thóc là sản phẩm của người Kinh”= Thịnh 盛, nho viết chữ Thịnh 盛 biểu ý là cái Mủng (bộ Minh 皿 nghĩa là đồ đựng) để đựng Thành 成 quả của vụ thu hoạch. Hán ngữ mượn chữ Thịnh 盛 dùng với ý là đựng, như một động từ chứ không phải là để chỉ vật đựng, pinyin: Sheng 盛. Còn chữ Vượng 旺 thì nghĩa gốc của nó là Sáng, khuôn mặt ai sáng sủa thì gọi là có vượng khí, hay là nhìn mặt rất vượng. Sáng=Vàng=Vương=Vượng, nho ghép bằng chữ Nhật 日(là ánh sáng mặt trời, nằng vàng) với chữ Vương 王 thành chữ Vượng 旺 Từ ghép Thịnh Vượng 盛 旺 chỉ sự giàu có khang trang, đây chỉ là nghĩa bóng, diễn biến nghĩa từ nghĩa đen. Phố Hàng Buồm Hà Nội số 22 là Việt Đông hội quán. Đi=Di=Dọt=Vọt=Vượt=Việt. Người Đông Di cũng là người Việt Đông, người Việt Đông cũng là người Việt. Hội quán của người Việt Đông tại 22 Hàng Buồm Hà Nội hiện còn tấm bia đá gắn tường, khắc tên những người Việt Đông 粵 東 đã góp tiền xây nên. Tên thường gọi của Hội quán là Đình Quảng Lạc. Quảng Lạc có hai nghĩa: một nghĩa là “Quảng Đông Lạc Việt”, một nghĩa là “Mở rộng (Quảng) niềm vui (Lạc) cho mọi người. Nơi này ông Tôn Dật Tiên (người Khách Gia, huyện Trung Sơn, Quảng Đông) từng ghé trú một thời gian khoảng đầu những năm 20 của thế kỷ trước.

10.Thời đồ Đá công cụ (công nghệ) chỉ có là để Đục và Đẽo. Thời đó ở văn hóa Hòa Bình cách nay hàng vạn năm, người Việt đã có câu “Đời cha cho chí đời con. Đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên”. Loài người đã biết khai thác bề mặt trái đất để làm Ruộng=Vuông (nông nghiệp trồng trọt của loài người xuất hiện đầu tiên ở ĐNÁ), nên từ đó mới gọi trái đất là Vuông (tượng trưng bằng tượng đài bằng đá là yoni, tượng trưng bằng tượng đài bằng thực phẩm là bánh chưng). Trái đất là nguồn thực phẩm nuôi sống con người, bánh chưng là để thờ nhớ Tổ Tiên rồi mới ăn vào miệng. Nên còn có câu “Trăm năm bia đá thì mòn. Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trơ Trơ = Trời=Trái=Tròn=Hòn=Hoàn. Trước khi biết khai thác bề mặt trái đất làm Ruộng=Vuông (ruộng lúa nước) người Việt đã biết các hành tinh có hình là tròn nhìn từ mọi phía. Câu “Pháp lăn tựa địa. Vật đảo như nguyên” không phải là có ở Trung Quốc, mà là ở Việt Nam, có ở trong dân (dân gian, nói theo cú pháp Hán). Trong = Chong (do mềm hóa phát âm) = Chửa (cái Chửa bao giờ cũng nằm trong cái Chứa) = Giữa = Gian = Dở (thường gọi cái ăn của đàn bà có chửa là “ăn Dở”) = Dở Dang (“Dở và Đang”= Dang, “sản phẩm dở dang” là sản phẩm đang trong công đoạn sản xuất). Câu “Đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên” cho thấy người Việt đã tiên đoán rằng loài người khai thác hết trái đất thì sẽ đến khai thác vũ trụ. Ngày nay bắt đầu tìm kiếm năng lượng sạch (“Sáng Bạch”= Sạch, đó là Nắng và Nước, hai khái niệm đã theo QT Nở mà nở ra từ cái Năng của vũ trụ). Gia công cụ thể một vật cứng như đá hay gỗ thì đều từ khối vuông gọt dần thành khối tròn. Thật tròn thì gọi là Tròn Vo. Vo là động tác xoay tròn (tiếng Khơ Me nói bánh xe lăn “pro pro” thì tiếng Việt nói bánh xe lăn “ro ro”). Nếu lướt lủn “Vo cho rụng phần Ngoài”= “Vo...Ngoài”=Vò. Cho nên người ta nói Vo gạo (trong chậu nước, để không mạnh tay quá làm rụng sạch lớp cám ngọt bọc ngoài hột gạo) nhưng lại nói Vò quần áo (trong chậu nước, cho rụng hết các vết bẩn bám ngoài vải). Đã biết Trời là tròn vo và Trái cũng là tròn vo, tức là đã biết các hành tinh ấy hình tròn và đang vừa xoay vừa đi theo quĩ đạo tròn.

Chữ Hành có gốc từ chữ Làm: Tôi Làm tức là tôi Lãnh cái việc ấy, tôi Lãnh việc ấy thì tôi phải hoàn Thành cái việc ấy. Từ ghép Hoàn Thành là ghép theo cú pháp Hán, có nghĩa là Thành một cách trọn vẹn (Tròn=Hòn=Hoàn). Hoàn vốn nghĩa là Vo= “Vo cho Liền”=Viên, khi đã “đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên” thì thành viên rồi là xong, do đó Hoàn còn mang nghĩa là “Hết Toàn”=Hoàn. Hết=Chết =Tiệt=Tử=Toi=Rồi. Hán ngữ dùng chữ Hoàn chỉ nghĩa “hết” hay “rồi”. Làm=Lãnh=Thành= “Thi Hành”, do phiên thiết mà có Thi và Hành đều mang nghĩa là Làm, như Thi công, Hành xử. Làm nhiều thì là “Làm Làm”=Lam, 1+1=0 (thành ngữ “Hay lam hay làm”); Thành nhiều thì là “Thành Thành”=Thạnh=Thịnh,1+1=0, tức ra nhiều sản phẩm, thịnh vượng.; Hành nhiều thì là “Hành Hành”=Hạnh, 1+1=0, tức may mắn, hạnh phúc. Làm= “Đang Làm”=Đảm= “Đảm Chi!”=Đi. Do vậy Làm=Hành=Đi. Làm=Lãnh (lãnh việc)=Thành (xong việc)=Thi Hành (làm việc). Khi Làm thì phải vừa óc nghĩ vừa tay sờ để cho cái cần làm sẽ xong dần dần - theo dõi hành vi đan cái rổ thấy rõ. ( (Dần Dần tiếng Nhật đọc là “đan đan” với nghĩa là dần dần), tức khi Làm là phải Mò (bằng óc) và Mó (bằng tay), nên mới lướt cả câu thì là: “Mò và mó cho việc xong dần Dần”=Mần. Đó là cả một qui trình của Làm. Mần=Nhận(lãnh việc)=Nhiệm (xong việc) thì chẳng khác gì Làm=Lãnh=Thành. Diễn giải cho thật cụ thể cái qui trình của Mần là: Mần=Vần (xoay xở)=Vận (chuyển động) và phải vận cho đến hết qui trình tức “Vận Đủ”=Vụ, và đó chỉ là để cho xong một cái phải làm tức “Vụ Chiếc”=Việc (1=Chắc=Chiếc). Người Nhật đọc chữ Vụ là “màn” với nghĩa là mần. Nôi khái niệm là: Mần=Vần=Vận=Vụ=Việc. Mần đồng nghĩa với Làm. Nói câu Việc Làm thì trong câu đó Việc là đề, Làm là thuyết. Tùy ngữ cảnh mà có nhiều thuyết cho cái đề là Việc, như Việc chơi, việc tòm tem, việc hút xách v.v. Nói câu Làm Việc thì trong câu này Làm là đề, Việc là thuyết. Tùy ngữ cảnh mà có nhiều thuyết cho cái đề là Làm, như Làm quan, Làm cướp ngày, Làm đồ tể v.v. Chữ Nhiệm còn đọc là Nhậm, có nghĩa là đảm đương, gánh vác, tức là “phải xong cái việc”, như là chữ Thành, nhậm chức quan tức là thành chức quan (Từ điển Viện ngôn ngữ 1991 giải thích chữ Nhiệm là từ gốc Hán, trang 288). Quan thoại phát âm chữ Nhiệm là “rân” do nhái âm từ Mần. Chữ Vụ không phải là danh từ “sự việc” như Từ điển giải thích, chữ Vụ có nghĩa đen là “làm cho đủ qui trình”, do vậy diễn biến các công đoạn làm lúa từ gieo đến gặt gọi là một Vụ lúa, diến biến từ đầu đến cuối của một tai nạn gọi là một Vụ tai nạn. Nhiệm Vụ là một từ ghép thuần Việt, nghĩa đen là “nhận lãnh để làm một việc cho trọn từ bắt đầu đến hoàn tất”. (Từ điển đã dẫn giải thích chữ Vụ là từ gốc Hán, trang 480). “Anh có nhiệm vụ là...” tức “Anh có việc phải làm cho xong là...”, đương nhiên dùng chữ nho Nhiệm Vụ thì câu trên kiệm lời kiệm chữ hơn. Khi trẻ mẫu giáo hỏi Nhiệm Vụ nghĩa là gì? Thì phải giải thích căn kẽ cái hồn Việt trong hai chữ đó, không thể tùy tiện như giáo viên mầm non sẽ giải thích là “Đó là từ Hán- Việt, tức do người Hán khai hóa cho ta”, vì các thầy sư phạm dạy cô như vậy. Thế là xong chuyện, “cho xong chuyện” hay là “bán đứng”? Hay là nhầm câu “Ta chui ra từ háng mẹ” thành câu “Ta chui ra từ Hán mẹ”?

11. Không là Một

Khi phân tích QT Nở, từ Mỗi đã nở ra Mô (0) và Một (1). Nhưng bản thân con Mô cũng thể hiện là một, tức một sự tồn tại, một thực thể.

Một=Muốt (tức còn tinh khiết, chưa nhiễm ngoại lai, vd từ ghép Trắng Muốt).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc (ruộc có nghĩa là đồng bào, hay đồng bào có nghĩa là « cùng một ruộc với nhau»= « cùng một duộc với nhau»).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc (nho viết từ Thuộc là chữ Thục, cũng đọc là Thuộc).

Cái Một tức cái Thuộc ấy là cái có Thật (nho viết từ Thật là chữ Thực).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc=Thật.

Cái Một là cái Thật ấy lúc ban đầu đơn lẻ chỉ mình nó, tức nó thật ít, không thể ít hơn 1 được nữa. Lướt « Thật Ít »=Thịt. Thịt là chất « XenlulozƠ »=Xơ,nên « Thịt Xơ »=Thớ, có cả trong động vật (thớ thịt) và cả trong thực vật (thớ gỗ).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc=Thật=Thịt. Do nôi khái niệm này mà có từ đôi Ruột Thịt. Ruột Thịt do cùng một Duộc, tức cùng sinh ra từ một bọc, nên gọi là Đồng Bào. Lướt « Đồng Bào »=Đào. Thành ngữ Việt nói về sự cùng huyết thống là « Một giọt màu đào hơn ao nước lã ». Đào mang nghĩa là màu Đỏ, màu tượng Quẻ Ly, vị trí dịch học là phương Nam, là đất Việt, người Việt. Nhấn mạnh ý Đào thì dùng từ lặp Đào Đào, mà lướt từ lặp thì « Đào Đào »=Đạo, 1+1=0 theo đúng thuật toán nhị phân của biến thanh điệu. Vậy cái Đào là của dân Đào, nó chính là Đạo Việt. Từ đôi Xích Đạo = Đào Đào = Đỏ Đỏ = Tỏ Tỏ  = Tường Tường = Tàng Tàng = Sáng Sáng (có câu « Trời tang tảng sáng »). Sáng Sáng  = Quang Quang = Mang Mang = Manh Manh = Minh Minh (có từ đôi Quang Manh trong cụm từ Quang Manh Chánh Đại). Lướt từ lặp « Sáng Sáng »=Sang, 1+1=0 ; « Minh Minh »=Mình, 0+0=1. Hệ quả của lướt từ lặp để có từ Sang nghĩa là càng sáng và từ Mình cũng nghĩa là càng sáng. Sang=0, Mình=1, do vậy Mình Sang chính là một người Kinh, có cái sáng âm là Sang và cái sáng dương là Mình. Mình là tự xưng ngôi 1 của người Kinh. « Mình Sang » =Mạng, và « Sang Mình »=Sinh. Từ Sinh Mạng chính là một « Kẻ Mình »=Kinh

 

 

Của hay Thuộc 屬 và Thuộc Về thường đứng ẩn trong câu, ví dụ câu Dân Tộc Việt Nam, nói tắt là Dân Tộc Việt, tức là Dân Tộc (của ) đất nước Việt Nam hay Dân Tộc (thuộc về) đất nước Việt Nam. Nhưng « Của số Đông »= Công 公, nên câu « Của số đông quần chúng » chỉ cần nói tắt là Công Chúng, mặc nhiên Công Chúng trở thành một danh từ, nhưng nó không phải là « từ Hán Việt ». Công = Kiêng (Kiêng tức là « Của Riêng »= =Kiêng) = Cai (Cai tức là « Của Ai »= Cai). Nôi khái niệm Công=Kiêng=Cai có nghĩa là « không được đụng đến », không được đụng đến của công, kiêng mỡ là không được đụng đến mỡ, cai thuốc lá là không được đụng đến thuốc lá. Cai đã mở rộng cái nôi khái niệm của nó thành : Cai = Trai 齋 = Trừ 除 = Từ 辭 = Trừ = Trừa = Chừa = Chay 戒 = Chối = Dối = Giới 戒. (Còn « Giận mà từ Chối »= Dỗi, là không nhận cái mình muốn mà người ta lại cho, do mình đang giận người ta. Cái Nhận còn gọi là cái Ém, do từ In=Ăn=Uống=Ém, mà không nhận tức « Không Ém »= Khem, nên « Kiêng không nhận » còn gọi là « Kiêng Khem »). Công là « Của số Đông »= Công 公, vậy thì từ Công Ty 公 司 có còn là « từ Hán Việt » như Viện ngôn ngữ VN giải thích nữa hay không ? Gọi theo cú pháp Việt thì phải gọi là Ty Công, tức cái Ty 司 ấy là của số đông chứ không phải của riêng một ai. Trong câu « Ty Công » thì Ty là đề và Công là thuyết, bởi vậy có thể nói tắt « Ty của mày kinh doanh ngành gì ? » chứ không thể nói tắt là « Công của mày kinh doanh ngành gì ? ». Cú pháp Hán viết ngược là « Công Ty » nhưng người Hán vẫn hiểu (từ trong tâm thức) rằng trong câu đó thì Ty là đề và Công là thuyết, nên họ nói tắt câu « Công Ty » là Ty, chứ không gọi tắt nó là Công. Mặc dù cả giới ngôn ngữ học VN và cả giới ngôn ngữ học TQ đều không công nhận điều mà GS Cao Xuân Hạo đã nêu ra mấy chục năm nay là : Cốt lõi cú pháp của các ngôn ngữ phương Đông là đề và thuyết (chứ không phải là chủ ngữ - vị ngữ - tân ngữ như cú pháp của các ngôn ngữ phương Tây). Nhưng từ Ty 司 lại là một từ gốc Việt : Ty là một Tệp lớn do nhiều cái Tí (Tí=Nhí=Nhỏ) là nhiều cái nhỏ tức nhiều cá thể tập họp lại, nhiều cái Tí là « Tí Tí »= Ty, 1+1=0, đúng qui tắc biến thanh điệu. Do không công nhận cốt lõi là đề và thuyết nên khi dùng tắt không tóm đúng đề để làm đại diện cho toàn từ mà lại lấy cái thuyết là cái phụ chỉ để bổ nghĩa cho đề làm đại diện cho toàn từ. Ví dụ từ Giao Tiếp, hai người tiếp chuyện với nhau gọi là Giao Tiếp (ghép theo cú pháp Hán), nói tắt thì nói là « tôi Tiếp anh » hay « anh Tiếp tôi » (vì Tiếp là đề), chẳng ai nói tắt « tôi Giao anh » cả, bởi từ Giao=Trao=Chào=Nhao=Nhau chỉ có nghĩa là « với nhau », là cái thuyết, bổ nghĩa cho cái đề là Tiếp. Cái Mặt (Diện) hiện lên ở màn hình máy tính là để nó Tiếp (hay Tiếp Giao, Hán ngữ gọi là Giao Tiếp) người sử dụng. Gọi tắt cái mặt tiếp giao ấy thìgọi là Mặt Tiếp, dân kỹ thuật TQ gọi đúng (tóm đúng cái đề) nên gọi nó là Tiếp Diện tức cái Mặt Tiếp, là nó đang tiếp người sử dụng nó. Dân không phải dân kỹ thuật thì tóm sai, không tóm cái đề mà lại tóm cái thuyết là Giao để làm từ tắt, nên gọi cái mặt tiếp giao là Giao Diện (đã ghép theo cú pháp Hán mà lại còn sai). Ngôn ngữ cổ xưa, con đực câu con cái đồng thời con cái câu con đực, hai con cùng câu là « Câu Câu »=Cấu, 0+0=1, Cấu với nhau là Cấu Giao, Hán ngữ viết ngược là Giao Cấu, nói tắt thì nói theo cái đề là « hai con đang Cấu nhau ». Cũng như chúng đang cùng Đeo nhau thì « Đeo Đeo »=Đéo. Giao=Nhao=Nhau, theo cú pháp Việt thì gọi là Đéo Nhau, theo cú pháp Hán thì gọi là Giao Đéo, nói tắt thì phải tóm cái đề là Đéo, chứ không thể tóm cái thuyết, gọi tắt « hai con đang Giao nhau » là không chính xác, vì câu đó chính là « hai con đang Nhau nhau » (?), nói tắt thì phải nói là « hai con đang Cấu nhau » hay « hai con đang Đéo nhau ». Đéo tiếng Quảng là « Tỉu », chứi « Đéo Mẹ » là « Tỉu Má » , nên trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng có câu chửi « Tỉu nhà Ma cái Nị ». Lẹo= « Đụ Chéo »=Đéo, khoa học gọi là « giao cấu », nó trở thành một từ nói tục, dùng khi phủ định mang nghĩa là « không ! », đề cập đến một cách văn hoa thì gọi là « chửi thề » hay « nói tiếng Đ.M. »

12. Phần này đáng lý đưa vào mục ngẫm nghĩ, nhưng vì là giải thích từ Việt nên đưa tiếp vào đây. Đây là câu chuyện thật. Ngày 12-13 tháng 6/2013 có triển lãm hàng công nghiệp Quảng Tây tại Triển lãm Giảng Võ Hà Nội. Tại buổi khai mạc có hai cô tiếp tân mặc trang phục dân tộc Choang, đội khăn đỏ vấn hình củ Ấu (nhắc nhớ con cháu của Âu Cơ) giống như tượng Mẫu ở đền thờ mẹ của Kinh Dương Vương ở Hòa Bình, hay giống như khăn vấn đầu hình củ ấu của phụ nữ sắc tộc Mi Nang Ca Bau ở Indonexia. Hai lúa có dịp rủ một thanh niên TQ không biết tiếng Việt, lần đầu tiên sang VN, đi uống cà phê ở tiệm sang trọng. Giữa phòng có một tượng trái cây đặt trên cái bồn, đều bằng đá cẩm thạch vân xanh rất đẹp. Nhìn bức tượng đá ấy (chứ không phải tượng sư tử đá nhập về) là thấy ngay ba người Việt chưa hề biết nhau là tôi từ miền Tây ra, ông chủ quán cà phê ở Hà Nội, và tác giả bức tượng đá chắc là ở tận Yên Bái đều có một ước vọng chung là : Đất Nước đầy đủ. Đầy đủ tức là « ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành » và đất nước đầy đủ tức là đất nước không bị mất một tấc đất một tấc nước nào. Trái cây mang bóng dáng hình tròn, đặt trên, tượng Trời, như cái Lingga=Lường=Nường=Nòng. Cái bồn đá ( « Bồn Đá »=Bà=Bệ, đặt dưới) mang bóng dáng hình vuông, tượng Đất, như cái Yoni=Nõn=Nọc. Tượng đá này chính là hình ảnh Nòng/Nọc, mang ý nghĩa phồn thực, mà cái trái cây lại là trái Đủ Đủ, ý là phục vụ đầy đủ cho khách thì chủ quán cũng có đầy đủ thu nhập. Trái cây đặt trên chính là Lingga, mà lại chọn là trái Đủ Đủ, vì lướt thì « Đủ Đủ »=Đụ, 1+1=0, cũng như « Đu Đu »=Đú, 0+0=1. Đúng là khi vất chất đã đầy đủ thì hay sinh ra « no cơm ấm cật, dậm dật mọi nơi », tức hay Đú đởn, như « Voi đua, chó đú, chuột chù cũng nhảy tâng tâng ». Cho nên thấy người ta gi-nết thì cũng cất công tổ chức ra lễ hội gi-nết bánh chưng to nặng hàng chục tấn, để thối, lãng phí, chẳng thấy quốc tế công nhận bánh chưng gi-nết gì. Cái gi-nết của dân Nam là mâm ngũ quả 5 trái :Cam (“Kinh Nam”=Cam), Cầu (mãng cầu, Vừa (dừa), Đủ (đủ đủ), Xài (xoài). Cầu chỉ để mong cho đủ mà thôi, nên « Cầu Cầu »=Câu, 1+1=0, từ Câu thành nghĩa là đủ, nhưng người Việt hầu như bỏ quên từ Câu này, để cho Hán ngữ dùng, với phát âm « Câu » nghĩa là đủ. Còn từ Đủ thì Hán ngữ phát âm là « Dú » khi đọc chữ Túc 足. (Vì Nước = Nác = Đác = =Đầy=Đủ=Đức=Tức=Túc). Từ đôi Đầy Đủ hay Đủ Đầy thì Hán ngũ có từ đôi là « Câu Dú » hay « Dú Câu ». Mà lướt như tiếng Việt thì « Dú Câu »=Giầu, là tiếng Hà Nội chỉ sự giàu có. Giầu=Dẩu ( Hán ngữ đọc chữ Hữu 有 là « Dẩu »). Lướt « Câu Dú »=Cụ, tức Cụ Bị 具 备 nghĩa là có sẵn. Sẵn thì mới giàu chứ không sẵn thì cũng rớt mồng tơi. Có sẵn cái văn hiến 5000 năm của Văn Lang Lạc Việt mà không xài, lại còn phủ nhận, thì chừng nào mới giàu nổi. Cậu thanh niên TQ vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm bức tượng đá và hỏi là nó có ý nghĩa gì. Hai lúa đã giải thích ý nghĩa của nó như trên. Cậu ta òa lên khoái chí, rút di động chụp liền mấy pô và nói tác giả bức tượng thật là thâm thúy. Thì nó cũng thâm thúy như ý nghĩa của vành khăn vấn tóc đội đầu của phụ nữ Kinh Tày Nùng Choang (mà vào thăm Bảo tàng dân tộc học thì không nghe hoặc thấy giải thích ý nghĩa của nó) : Kiểu vấn tóc làm thành cái vành khăn đội đầu của phụ nữ các tộc người Bách Việt nêu trên là hoàn toàn giống nhau. Vành khăn đội đầu nhìn trước trán thấy hơi lệch nghiêng, chỉ có cái hướng nghiêng là ngược nhau giữa vành khăn Kinh và vành khăn Tày để phân biệt là người miền xuôi hay người miền ngược. Vành khăn ấy còn được đội trùm lên bằng một cái khăn vuông màu đen hay chàm. Vuông của khăn tượng trưng Đất, màu Đen=Đậm=Lầm=Chàm là màu ngũ hành của nước, màu đen hay chàm của khăn tượng trưng Nước. Đất Nước trùm gọn « vành khăn vấn kín suối tóc dài » như cái hình ảnh Rồng Tiên : Vòng=Phong (Phong Châu)=Long=Rồng. Tóc được tết liền bằng sợi dây vải buộc thành một bó và vấn kín lại bằng một mảnh vải đen, cái « Tết Liền »=Tiên. Các bà ngồi vấn khăn rất công phu và khi đó thường lẩm bẩm câu « Nước non mẹ đội lên đầu » (quyền lợi của Đất Nước là trên hết). Câu ấy làm liên tưởng tới câu ca dao ru con : « Ru con con ngủ cho muồi. Nước nôi chưa gánh mẹ ngồi mẹ ru » (việc nhà bận rộn). « Ru con con ngủ cho lành. Nước non canh cánh mẹ giành cho con » (mẹ phải giành giật lại cho con sự thật lịch sử Văn Lang 5000 năm văn hiến ; mẹ phải để dành cho con một Đất Nước nguyên xi).

Nguyên Xi được Viện ngôn ngữ giải thích : Nguyên là từ gốc Hán, Xi là từ Việt. Vậy mà đứa trẻ con ba tuổi còn biết khoe với mẹ nó « Đồ chơi của con còn nguyên xi như khi mẹ mới mua về, chưa hỏng tí nào đâu ». Nguyên Xi là một từ Việt hoàn toàn, có nghĩa là cái « Nguồn đầu Tiên »= Nguyên 原 có từ thời Xưa 昔(Xi). Hán ngữ cũng phát âm từ Xưa là « Xi » khi đọc chữ Tích 昔 Từ Xa Xưa thì « Nho Ta »=Nhã viết bằng chữ Hà Tích , Hán ngữ đọc chữ Hà Tích là « Xiá Xi » . Nhưng Xa Xưa hay Hà Tích đều là từ gốc Việt. (Tiếng Việt là một ngôn ngữ song trùng, gồm một ngôn ngữ dân gian viết bằng chữ nòng nọc, đến thế kỷ 13 thì mới viết bằng chữ « nôm mới », trở thành một ngôn ngữ văn học đẹp như ca dao lục bát ; một ngôn ngữ hàn lâm, viết bằng chữ « Nho Ta »= Nhã, thường nhiều chữ là do nho gia tự đặt ra bằng cách « nén thông tin », trở thành một ngôn ngữ văn học đẹp như câu đối hay thơ Đường. Cũng chữ nho ấy mà đối với « cổ văn » thì Hán ngữ ngày nay cũng vẫn phải dịch « cổ văn », nếu không cũng chẳng ai hiểu nổi, thậm chí có bản văn bia các học giả dịch cả ngàn năm nay mà vẫn chưa có bản dịch nào được coi là toát ý thỏa đáng). Xa Xưa thì « Nho Ta »= Nhã lại viết bằng chữ Hà Tích vì : Cái xưa nhất là cái nhỏ nhất, đến vũ trụ cũng chỉ bắt đầu bằng một cái tố (Tố=Tế=Tí) dương (nhất nguyên), rồi dương sinh ra âm (thành ra có nhị nguyên). Tí là từ bắt đầu của 12 con giáp, Tí Chút=Tí Chuột, lấy con chuột tượng trưng cho Tí, đặt giờ Tí cũng đúng giờ đó chuột bắt đầu mò ra ăn đêm. Tí=Xí=Nhí=Nhi. Nho viết từ Tí bằng chữ Tử 子, do khẳng định « Tí Chứ ! »= Tử 子. Nho viết từ Nhí bằng chữ Nhi 兒, do khẳng định « Nhí Chi 之! »= Nhi 兒. Vậy Tí và Xí đã hàm nghĩa là rất xa xưa, vì nhấn mạnh thì « Xí Xí »= Xi, 1+1=0, Xi là rất xa xưa. Nhìn vào ĐHÂD trong con Nòng hay con Nọc thì từ góc Xí (nhỏ = nhọn nhất) đến góc Xù (to= tù nhất) thì cái Xu (thế) ấy diễn ra, nếu là đối với vũ trụ để mà đến thời điểm biến, thì phải dài hàng triệu năm, nhưng sẽ ắt xảy ra, vì « Pháp Luân Tựa Địa, Vật Đảo Như Nguyên 法論似地,物倒如原». Vậy Tí=Xi=Xưa, nho khẳng định là « Tí Đấy! »= « Tí Đếx ! (Đếx là tiêng Nhật, đặt sau một từ để khẳng định)»= « Tí Đích 的 ! »= Tích 昔, nên viết chữ Tích 昔 tả ý Xưa. Hán ngữ dung hòa rỡi « ích » vốn không có trong phát âm của người Hãn, với rỡi « ưa » mà đọc chữ Tích 昔 của « Nho Ta »= Nhã là « Xi ». Cái dấu vết, ví dụ dấu bàn chân của người xưa để lại trong hóa thạch, đương nhiên còn có ích cho nghiên cứu, nên cái « Tí mà còn có Ích »= Tích 跡, lại là một chữ nho đặt khác. Chuyện Cổ Tích 古 昔 trong tiếng Việt là chuyện « Cũ Lố! »= Cổ 古 (khẳng định nhấn mạnh bằng tiếng Tày) và Xưa, tức « Tí Đích »= Tích 昔. Chứ không phải chữ Cổ Tích 古 跡 mà Hán ngữ dùng, chỉ nghĩa là « dấu vết xưa », theo cú pháp Hán. Vậy mà Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng của Viện ngôn ngữ KHXH HN xuất bản 1991 giải thích chữ Tích 跡 là từ gốc Hán, trang 407, và chuyện cổ tích lại viết là « chuyện Cổ Tích 古 跡» tức « chuyện dấu vết xưa »(?) , rõ ràng là giải thích sai toẹt. Chuyện cổ tích phải viết là Cổ Tích 古 昔 tức chuyện cũ xưa hay chuyện đời xưa. Tra chữ Tích 跡 qua « Thuyết Văn Giải Tự » trên mạng [CiDianWang.com] hay mạng [zidiantong.com] đều được câu trả lời : « Xin lỗi, không có thâu lục Hán tự Tích 抱歉,沒有收錄漢子跡», hoặc tra trên mạng [shuowen.xpcha.com] thì được trả lời : « Không tìm được kết quả tương quan 沒有找到相關結果», chứng tỏ chữ Tích 跡 , là dấu tích, vết tích, này là do Việt nho đặt ra, nó gọi là Tích 跡 do nén thông tin bằng lướt « Tí Đích ! »= Tích跡, để chỉ cái vết tích xưa, tiêu biểu là vết Chân 足, (đến mẹ ông Gióng còn do ướm vào vết chân mà có chửa). Moi đâu ra chữ Tích 跡 là « từ Hán Việt » ?. Đến ba cái mạng của Hán ngữ, đã tra ở trên, đều không công nhận chữ Tích 跡 là Hán tự. Vậy mà cũng cố nhét vào Từ điển để day con nít Việt Nam rằng « nó là một từ gốc Hán » thì đúng là bán đứng. Còn từ Xa tại sao « Nho Ta »= Nhã lại viết bằng chữ Hà ? Bởi Hết là cái tận cùng, nhấn mạnh thì « Hết Hết »= Hệt, 1+1=0. Giống Hệt là giống đến tận tận cùng, không sót khác một điểm nào.(Hán ngữ đã phải mượn chữ Hoạt 活, phát âm là « húa » để phiên âm dịch ý cái từ Hệt, vì họ không có cái âm của rỡi « êt » mà chỉ có âm của rỡi « ua »). Cái tận cùng của Xa là « Hệt Xa » = Hà. (Chữ Hà này Từ điển Viện ngôn ngữ giải thích là « từ gốc Hán », trang 153). Cái Xí là cái nhỏ nhất, đương nhiên xưa nhất, còn nhấn mạnh là xa xưa, bởi nhấn mạnh bằng khẳng định là « Xí Rứa ! » = Xưa.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

10.Thời đồ Đá công cụ (công nghệ) chỉ có là để Đục và Đẽo. Thời đó ở văn hóa Hòa Bình cách nay hàng vạn năm, người Việt đã có câu “Đời cha cho chí đời con. Đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên”. Loài người đã biết khai thác bề mặt trái đất để làm Ruộng=Vuông (nông nghiệp trồng trọt của loài người xuất hiện đầu tiên ở ĐNÁ), nên từ đó mới gọi trái đất là Vuông (tượng trưng bằng tượng đài bằng đá là yoni, tượng trưng bằng tượng đài bằng thực phẩm là bánh chưng). Trái đất là nguồn thực phẩm nuôi sống con người, bánh chưng là để thờ nhớ Tổ Tiên rồi mới ăn vào miệng. Nên còn có câu “Trăm năm bia đá thì mòn. Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trơ Trơ = Trời=Trái=Tròn=Hòn=Hoàn. Trước khi biết khai thác bề mặt trái đất làm Ruộng=Vuông (ruộng lúa nước) người Việt đã biết các hành tinh có hình là tròn nhìn từ mọi phía. Câu “Pháp lăn tựa địa. Vật đảo như nguyên” không phải là có ở Trung Quốc, mà là ở Việt Nam, có ở trong dân (dân gian, nói theo cú pháp Hán). Trong = Chong (do mềm hóa phát âm) = Chửa (cái Chửa bao giờ cũng nằm trong cái Chứa) = Giữa = Gian = Dở (thường gọi cái ăn của đàn bà có chửa là “ăn Dở”) = Dở Dang (“Dở và Đang”= Dang, “sản phẩm dở dang” là sản phẩm đang trong công đoạn sản xuất). Câu “Đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên” cho thấy người Việt đã tiên đoán rằng loài người khai thác hết trái đất thì sẽ đến khai thác vũ trụ. Ngày nay bắt đầu tìm kiếm năng lượng sạch (“Sáng Bạch”= Sạch, đó là Nắng và Nước, hai khái niệm đã theo QT Nở mà nở ra từ cái Năng của vũ trụ). Gia công cụ thể một vật cứng như đá hay gỗ thì đều từ khối vuông gọt dần thành khối tròn. Thật tròn thì gọi là Tròn Vo. Vo là động tác xoay tròn (tiếng Khơ Me nói bánh xe lăn “pro pro” thì tiếng Việt nói bánh xe lăn “ro ro”). Nếu lướt lủn “Vo cho rụng phần Ngoài”= “Vo...Ngoài”=Vò. Cho nên người ta nói Vo gạo (trong chậu nước, để không mạnh tay quá làm rụng sạch lớp cám ngọt bọc ngoài hột gạo) nhưng lại nói Vò quần áo (trong chậu nước, cho rụng hết các vết bẩn bám ngoài vải). Đã biết Trời là tròn vo và Trái cũng là tròn vo, tức là đã biết các hành tinh ấy hình tròn và đang vừa xoay vừa đi theo quĩ đạo tròn.

Chữ Hành có gốc từ chữ Làm: Tôi Làm tức là tôi Lãnh cái việc ấy, tôi Lãnh việc ấy thì tôi phải hoàn Thành cái việc ấy. Từ ghép Hoàn Thành là ghép theo cú pháp Hán, có nghĩa là Thành một cách trọn vẹn (Tròn=Hòn=Hoàn). Hoàn vốn nghĩa là Vo= “Vo cho Liền”=Viên, khi đã “đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên” thì thành viên rồi là xong, do đó Hoàn còn mang nghĩa là “Hết Toàn”=Hoàn. Hết=Chết =Tiệt=Tử=Toi=Rồi. Hán ngữ dùng chữ Hoàn chỉ nghĩa “hết” hay “rồi”. Làm=Lãnh=Thành= “Thi Hành”, do phiên thiết mà có Thi và Hành đều mang nghĩa là Làm, như Thi công, Hành xử. Làm nhiều thì là “Làm Làm”=Lam, 1+1=0 (thành ngữ “Hay lam hay làm”); Thành nhiều thì là “Thành Thành”=Thạnh=Thịnh,1+1=0, tức ra nhiều sản phẩm, thịnh vượng.; Hành nhiều thì là “Hành Hành”=Hạnh, 1+1=0, tức may mắn, hạnh phúc. Làm= “Đang Làm”=Đảm= “Đảm Chi!”=Đi. Do vậy Làm=Hành=Đi. Làm=Lãnh (lãnh việc)=Thành (xong việc)=Thi Hành (làm việc). Khi Làm thì phải vừa óc nghĩ vừa tay sờ để cho cái cần làm sẽ xong dần dần - theo dõi hành vi đan cái rổ thấy rõ. ( (Dần Dần tiếng Nhật đọc là “đan đan” với nghĩa là dần dần), tức khi Làm là phải Mò (bằng óc) và Mó (bằng tay), nên mới lướt cả câu thì là: “Mò và mó cho việc xong dần Dần”=Mần. Đó là cả một qui trình của Làm. Mần=Nhận(lãnh việc)=Nhiệm (xong việc) thì chẳng khác gì Làm=Lãnh=Thành. Diễn giải cho thật cụ thể cái qui trình của Mần là: Mần=Vần (xoay xở)=Vận (chuyển động) và phải vận cho đến hết qui trình tức “Vận Đủ”=Vụ, và đó chỉ là để cho xong một cái phải làm tức “Vụ Chiếc”=Việc (1=Chắc=Chiếc). Người Nhật đọc chữ Vụ là “màn” với nghĩa là mần. Nôi khái niệm là: Mần=Vần=Vận=Vụ=Việc. Mần đồng nghĩa với Làm. Nói câu Việc Làm thì trong câu đó Việc là đề, Làm là thuyết. Tùy ngữ cảnh mà có nhiều thuyết cho cái đề là Việc, như Việc chơi, việc tòm tem, việc hút xách v.v. Nói câu Làm Việc thì trong câu này Làm là đề, Việc là thuyết. Tùy ngữ cảnh mà có nhiều thuyết cho cái đề là Làm, như Làm quan, Làm cướp ngày, Làm đồ tể v.v. Chữ Nhiệm còn đọc là Nhậm, có nghĩa là đảm đương, gánh vác, tức là “phải xong cái việc”, như là chữ Thành, nhậm chức quan tức là thành chức quan (Từ điển Viện ngôn ngữ 1991 giải thích chữ Nhiệm là từ gốc Hán, trang 288). Quan thoại phát âm chữ Nhiệm là “rân” do nhái âm từ Mần. Chữ Vụ không phải là danh từ “sự việc” như Từ điển giải thích, chữ Vụ có nghĩa đen là “làm cho đủ qui trình”, do vậy diễn biến các công đoạn làm lúa từ gieo đến gặt gọi là một Vụ lúa, diến biến từ đầu đến cuối của một tai nạn gọi là một Vụ tai nạn. Nhiệm Vụ là một từ ghép thuần Việt, nghĩa đen là “nhận lãnh để làm một việc cho trọn từ bắt đầu đến hoàn tất”. (Từ điển đã dẫn giải thích chữ Vụ là từ gốc Hán, trang 480). “Anh có nhiệm vụ là...” tức “Anh có việc phải làm cho xong là...”, đương nhiên dùng chữ nho Nhiệm Vụ thì câu trên kiệm lời kiệm chữ hơn. Khi trẻ mẫu giáo hỏi Nhiệm Vụ nghĩa là gì? Thì phải giải thích căn kẽ cái hồn Việt trong hai chữ đó, không thể tùy tiện như giáo viên mầm non sẽ giải thích là “Đó là từ Hán- Việt, tức do người Hán khai hóa cho ta”, vì các thầy sư phạm dạy cô như vậy. Thế là xong chuyện, “cho xong chuyện” hay là “bán đứng”? Hay là nhầm câu “Ta chui ra từ háng mẹ” thành câu “Ta chui ra từ Hán mẹ”?

11. Không là Một

Khi phân tích QT Nở, từ Mỗi đã nở ra Mô (0) và Một (1). Nhưng bản thân con Mô cũng thể hiện là một, tức một sự tồn tại, một thực thể.

Một=Muốt (tức còn tinh khiết, chưa nhiễm ngoại lai, vd từ ghép Trắng Muốt).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc (ruộc có nghĩa là đồng bào, hay đồng bào có nghĩa là « cùng một ruộc với nhau»= « cùng một duộc với nhau»).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc (nho viết từ Thuộc là chữ Thục, cũng đọc là Thuộc).

Cái Một tức cái Thuộc ấy là cái có Thật (nho viết từ Thật là chữ Thực).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc=Thật.

Cái Một là cái Thật ấy lúc ban đầu đơn lẻ chỉ mình nó, tức nó thật ít, không thể ít hơn 1 được nữa. Lướt « Thật Ít »=Thịt. Thịt là chất « XenlulozƠ »=Xơ,nên « Thịt Xơ »=Thớ, có cả trong động vật (thớ thịt) và cả trong thực vật (thớ gỗ).

Một=Muốt=Ruột=Ruộc=Thuộc=Thật=Thịt. Do nôi khái niệm này mà có từ đôi Ruột Thịt. Ruột Thịt do cùng một Duộc, tức cùng sinh ra từ một bọc, nên gọi là Đồng Bào. Lướt « Đồng Bào »=Đào. Thành ngữ Việt nói về sự cùng huyết thống là « Một giọt màu đào hơn ao nước lã ». Đào mang nghĩa là màu Đỏ, màu tượng Quẻ Ly, vị trí dịch học là phương Nam, là đất Việt, người Việt. Nhấn mạnh ý Đào thì dùng từ lặp Đào Đào, mà lướt từ lặp thì « Đào Đào »=Đạo, 1+1=0 theo đúng thuật toán nhị phân của biến thanh điệu. Vậy cái Đào là của dân Đào, nó chính là Đạo Việt. Từ đôi Xích Đạo = Đào Đào = Đỏ Đỏ = Tỏ Tỏ  = Tường Tường = Tàng Tàng = Sáng Sáng (có câu « Trời tang tảng sáng »). Sáng Sáng  = Quang Quang = Mang Mang = Manh Manh = Minh Minh (có từ đôi Quang Manh trong cụm từ Quang Manh Chánh Đại). Lướt từ lặp « Sáng Sáng »=Sang, 1+1=0 ; « Minh Minh »=Mình, 0+0=1. Hệ quả của lướt từ lặp để có từ Sang nghĩa là càng sáng và từ Mình cũng nghĩa là càng sáng. Sang=0, Mình=1, do vậy Mình Sang chính là một người Kinh, có cái sáng âm là Sang và cái sáng dương là Mình. Mình là tự xưng ngôi 1 của người Kinh. « Mình Sang » =Mạng, và « Sang Mình »=Sinh. Từ Sinh Mạng chính là một « Kẻ Mình »=Kinh

 

 

Của hay Thuộc 屬 và Thuộc Về thường đứng ẩn trong câu, ví dụ câu Dân Tộc Việt Nam, nói tắt là Dân Tộc Việt, tức là Dân Tộc (của ) đất nước Việt Nam hay Dân Tộc (thuộc về) đất nước Việt Nam. Nhưng « Của số Đông »= Công 公, nên câu « Của số đông quần chúng » chỉ cần nói tắt là Công Chúng, mặc nhiên Công Chúng trở thành một danh từ, nhưng nó không phải là « từ Hán Việt ». Công = Kiêng (Kiêng tức là « Của Riêng »= =Kiêng) = Cai (Cai tức là « Của Ai »= Cai). Nôi khái niệm Công=Kiêng=Cai có nghĩa là « không được đụng đến », không được đụng đến của công, kiêng mỡ là không được đụng đến mỡ, cai thuốc lá là không được đụng đến thuốc lá. Cai đã mở rộng cái nôi khái niệm của nó thành : Cai = Trai 齋 = Trừ 除 = Từ 辭 = Trừ = Trừa = Chừa = Chay 戒 = Chối = Dối = Giới 戒. (Còn « Giận mà từ Chối »= Dỗi, là không nhận cái mình muốn mà người ta lại cho, do mình đang giận người ta. Cái Nhận còn gọi là cái Ém, do từ In=Ăn=Uống=Ém, mà không nhận tức « Không Ém »= Khem, nên « Kiêng không nhận » còn gọi là « Kiêng Khem »). Công là « Của số Đông »= Công 公, vậy thì từ Công Ty 公 司 có còn là « từ Hán Việt » như Viện ngôn ngữ VN giải thích nữa hay không ? Gọi theo cú pháp Việt thì phải gọi là Ty Công, tức cái Ty 司 ấy là của số đông chứ không phải của riêng một ai. Trong câu « Ty Công » thì Ty là đề và Công là thuyết, bởi vậy có thể nói tắt « Ty của mày kinh doanh ngành gì ? » chứ không thể nói tắt là « Công của mày kinh doanh ngành gì ? ». Cú pháp Hán viết ngược là « Công Ty » nhưng người Hán vẫn hiểu (từ trong tâm thức) rằng trong câu đó thì Ty là đề và Công là thuyết, nên họ nói tắt câu « Công Ty » là Ty, chứ không gọi tắt nó là Công. Mặc dù cả giới ngôn ngữ học VN và cả giới ngôn ngữ học TQ đều không công nhận điều mà GS Cao Xuân Hạo đã nêu ra mấy chục năm nay là : Cốt lõi cú pháp của các ngôn ngữ phương Đông là đề và thuyết (chứ không phải là chủ ngữ - vị ngữ - tân ngữ như cú pháp của các ngôn ngữ phương Tây). Nhưng từ Ty 司 lại là một từ gốc Việt : Ty là một Tệp lớn do nhiều cái Tí (Tí=Nhí=Nhỏ) là nhiều cái nhỏ tức nhiều cá thể tập họp lại, nhiều cái Tí là « Tí Tí »= Ty, 1+1=0, đúng qui tắc biến thanh điệu. Do không công nhận cốt lõi là đề và thuyết nên khi dùng tắt không tóm đúng đề để làm đại diện cho toàn từ mà lại lấy cái thuyết là cái phụ chỉ để bổ nghĩa cho đề làm đại diện cho toàn từ. Ví dụ từ Giao Tiếp, hai người tiếp chuyện với nhau gọi là Giao Tiếp (ghép theo cú pháp Hán), nói tắt thì nói là « tôi Tiếp anh » hay « anh Tiếp tôi » (vì Tiếp là đề), chẳng ai nói tắt « tôi Giao anh » cả, bởi từ Giao=Trao=Chào=Nhao=Nhau chỉ có nghĩa là « với nhau », là cái thuyết, bổ nghĩa cho cái đề là Tiếp. Cái Mặt (Diện) hiện lên ở màn hình máy tính là để nó Tiếp (hay Tiếp Giao, Hán ngữ gọi là Giao Tiếp) người sử dụng. Gọi tắt cái mặt tiếp giao ấy thìgọi là Mặt Tiếp, dân kỹ thuật TQ gọi đúng (tóm đúng cái đề) nên gọi nó là Tiếp Diện tức cái Mặt Tiếp, là nó đang tiếp người sử dụng nó. Dân không phải dân kỹ thuật thì tóm sai, không tóm cái đề mà lại tóm cái thuyết là Giao để làm từ tắt, nên gọi cái mặt tiếp giao là Giao Diện (đã ghép theo cú pháp Hán mà lại còn sai). Ngôn ngữ cổ xưa, con đực câu con cái đồng thời con cái câu con đực, hai con cùng câu là « Câu Câu »=Cấu, 0+0=1, Cấu với nhau là Cấu Giao, Hán ngữ viết ngược là Giao Cấu, nói tắt thì nói theo cái đề là « hai con đang Cấu nhau ». Cũng như chúng đang cùng Đeo nhau thì « Đeo Đeo »=Đéo. Giao=Nhao=Nhau, theo cú pháp Việt thì gọi là Đéo Nhau, theo cú pháp Hán thì gọi là Giao Đéo, nói tắt thì phải tóm cái đề là Đéo, chứ không thể tóm cái thuyết, gọi tắt « hai con đang Giao nhau » là không chính xác, vì câu đó chính là « hai con đang Nhau nhau » (?), nói tắt thì phải nói là « hai con đang Cấu nhau » hay « hai con đang Đéo nhau ». Đéo tiếng Quảng là « Tỉu », chứi « Đéo Mẹ » là « Tỉu Má » , nên trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng có câu chửi « Tỉu nhà Ma cái Nị ». Lẹo= « Đụ Chéo »=Đéo, khoa học gọi là « giao cấu », nó trở thành một từ nói tục, dùng khi phủ định mang nghĩa là « không ! », đề cập đến một cách văn hoa thì gọi là « chửi thề » hay « nói tiếng Đ.M. »

12. Phần này đáng lý đưa vào mục ngẫm nghĩ, nhưng vì là giải thích từ Việt nên đưa tiếp vào đây. Đây là câu chuyện thật. Ngày 12-13 tháng 6/2013 có triển lãm hàng công nghiệp Quảng Tây tại Triển lãm Giảng Võ Hà Nội. Tại buổi khai mạc có hai cô tiếp tân mặc trang phục dân tộc Choang, đội khăn đỏ vấn hình củ Ấu (nhắc nhớ con cháu của Âu Cơ) giống như tượng Mẫu ở đền thờ mẹ của Kinh Dương Vương ở Hòa Bình, hay giống như khăn vấn đầu hình củ ấu của phụ nữ sắc tộc Mi Nang Ca Bau ở Indonexia. Hai lúa có dịp rủ một thanh niên TQ không biết tiếng Việt, lần đầu tiên sang VN, đi uống cà phê ở tiệm sang trọng. Giữa phòng có một tượng trái cây đặt trên cái bồn, đều bằng đá cẩm thạch vân xanh rất đẹp. Nhìn bức tượng đá ấy (chứ không phải tượng sư tử đá nhập về) là thấy ngay ba người Việt chưa hề biết nhau là tôi từ miền Tây ra, ông chủ quán cà phê ở Hà Nội, và tác giả bức tượng đá chắc là ở tận Yên Bái đều có một ước vọng chung là : Đất Nước đầy đủ. Đầy đủ tức là « ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành » và đất nước đầy đủ tức là đất nước không bị mất một tấc đất một tấc nước nào. Trái cây mang bóng dáng hình tròn, đặt trên, tượng Trời, như cái Lingga=Lường=Nường=Nòng. Cái bồn đá ( « Bồn Đá »=Bà=Bệ, đặt dưới) mang bóng dáng hình vuông, tượng Đất, như cái Yoni=Nõn=Nọc. Tượng đá này chính là hình ảnh Nòng/Nọc, mang ý nghĩa phồn thực, mà cái trái cây lại là trái Đủ Đủ, ý là phục vụ đầy đủ cho khách thì chủ quán cũng có đầy đủ thu nhập. Trái cây đặt trên chính là Lingga, mà lại chọn là trái Đủ Đủ, vì lướt thì « Đủ Đủ »=Đụ, 1+1=0, cũng như « Đu Đu »=Đú, 0+0=1. Đúng là khi vất chất đã đầy đủ thì hay sinh ra « no cơm ấm cật, dậm dật mọi nơi », tức hay Đú đởn, như « Voi đua, chó đú, chuột chù cũng nhảy tâng tâng ». Cho nên thấy người ta gi-nết thì cũng cất công tổ chức ra lễ hội gi-nết bánh chưng to nặng hàng chục tấn, để thối, lãng phí, chẳng thấy quốc tế công nhận bánh chưng gi-nết gì. Cái gi-nết của dân Nam là mâm ngũ quả 5 trái :Cam (“Kinh Nam”=Cam), Cầu (mãng cầu, Vừa (dừa), Đủ (đủ đủ), Xài (xoài). Cầu chỉ để mong cho đủ mà thôi, nên « Cầu Cầu »=Câu, 1+1=0, từ Câu thành nghĩa là đủ, nhưng người Việt hầu như bỏ quên từ Câu này, để cho Hán ngữ dùng, với phát âm « Câu » nghĩa là đủ. Còn từ Đủ thì Hán ngữ phát âm là « Dú » khi đọc chữ Túc 足. (Vì Nước = Nác = Đác = =Đầy=Đủ=Đức=Tức=Túc). Từ đôi Đầy Đủ hay Đủ Đầy thì Hán ngũ có từ đôi là « Câu Dú » hay « Dú Câu ». Mà lướt như tiếng Việt thì « Dú Câu »=Giầu, là tiếng Hà Nội chỉ sự giàu có. Giầu=Dẩu ( Hán ngữ đọc chữ Hữu 有 là « Dẩu »). Lướt « Câu Dú »=Cụ, tức Cụ Bị 具 备 nghĩa là có sẵn. Sẵn thì mới giàu chứ không sẵn thì cũng rớt mồng tơi. Có sẵn cái văn hiến 5000 năm của Văn Lang Lạc Việt mà không xài, lại còn phủ nhận, thì chừng nào mới giàu nổi. Cậu thanh niên TQ vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm bức tượng đá và hỏi là nó có ý nghĩa gì. Hai lúa đã giải thích ý nghĩa của nó như trên. Cậu ta òa lên khoái chí, rút di động chụp liền mấy pô và nói tác giả bức tượng thật là thâm thúy. Thì nó cũng thâm thúy như ý nghĩa của vành khăn vấn tóc đội đầu của phụ nữ Kinh Tày Nùng Choang (mà vào thăm Bảo tàng dân tộc học thì không nghe hoặc thấy giải thích ý nghĩa của nó) : Kiểu vấn tóc làm thành cái vành khăn đội đầu của phụ nữ các tộc người Bách Việt nêu trên là hoàn toàn giống nhau. Vành khăn đội đầu nhìn trước trán thấy hơi lệch nghiêng, chỉ có cái hướng nghiêng là ngược nhau giữa vành khăn Kinh và vành khăn Tày để phân biệt là người miền xuôi hay người miền ngược. Vành khăn ấy còn được đội trùm lên bằng một cái khăn vuông màu đen hay chàm. Vuông của khăn tượng trưng Đất, màu Đen=Đậm=Lầm=Chàm là màu ngũ hành của nước, màu đen hay chàm của khăn tượng trưng Nước. Đất Nước trùm gọn « vành khăn vấn kín suối tóc dài » như cái hình ảnh Rồng Tiên : Vòng=Phong (Phong Châu)=Long=Rồng. Tóc được tết liền bằng sợi dây vải buộc thành một bó và vấn kín lại bằng một mảnh vải đen, cái « Tết Liền »=Tiên. Các bà ngồi vấn khăn rất công phu và khi đó thường lẩm bẩm câu « Nước non mẹ đội lên đầu » (quyền lợi của Đất Nước là trên hết). Câu ấy làm liên tưởng tới câu ca dao ru con : « Ru con con ngủ cho muồi. Nước nôi chưa gánh mẹ ngồi mẹ ru » (việc nhà bận rộn). « Ru con con ngủ cho lành. Nước non canh cánh mẹ giành cho con » (mẹ phải giành giật lại cho con sự thật lịch sử Văn Lang 5000 năm văn hiến ; mẹ phải để dành cho con một Đất Nước nguyên xi).

Nguyên Xi được Viện ngôn ngữ giải thích : Nguyên là từ gốc Hán, Xi là từ Việt. Vậy mà đứa trẻ con ba tuổi còn biết khoe với mẹ nó « Đồ chơi của con còn nguyên xi như khi mẹ mới mua về, chưa hỏng tí nào đâu ». Nguyên Xi là một từ Việt hoàn toàn, có nghĩa là cái « Nguồn đầu Tiên »= Nguyên 原 có từ thời Xưa 昔(Xi). Hán ngữ cũng phát âm từ Xưa là « Xi » khi đọc chữ Tích 昔 Từ Xa Xưa thì « Nho Ta »=Nhã viết bằng chữ Hà Tích , Hán ngữ đọc chữ Hà Tích là « Xiá Xi » . Nhưng Xa Xưa hay Hà Tích đều là từ gốc Việt. (Tiếng Việt là một ngôn ngữ song trùng, gồm một ngôn ngữ dân gian viết bằng chữ nòng nọc, đến thế kỷ 13 thì mới viết bằng chữ « nôm mới », trở thành một ngôn ngữ văn học đẹp như ca dao lục bát ; một ngôn ngữ hàn lâm, viết bằng chữ « Nho Ta »= Nhã, thường nhiều chữ là do nho gia tự đặt ra bằng cách « nén thông tin », trở thành một ngôn ngữ văn học đẹp như câu đối hay thơ Đường. Cũng chữ nho ấy mà đối với « cổ văn » thì Hán ngữ ngày nay cũng vẫn phải dịch « cổ văn », nếu không cũng chẳng ai hiểu nổi, thậm chí có bản văn bia các học giả dịch cả ngàn năm nay mà vẫn chưa có bản dịch nào được coi là toát ý thỏa đáng). Xa Xưa thì « Nho Ta »= Nhã lại viết bằng chữ Hà Tích vì : Cái xưa nhất là cái nhỏ nhất, đến vũ trụ cũng chỉ bắt đầu bằng một cái tố (Tố=Tế=Tí) dương (nhất nguyên), rồi dương sinh ra âm (thành ra có nhị nguyên). Tí là từ bắt đầu của 12 con giáp, Tí Chút=Tí Chuột, lấy con chuột tượng trưng cho Tí, đặt giờ Tí cũng đúng giờ đó chuột bắt đầu mò ra ăn đêm. Tí=Xí=Nhí=Nhi. Nho viết từ Tí bằng chữ Tử 子, do khẳng định « Tí Chứ ! »= Tử 子. Nho viết từ Nhí bằng chữ Nhi 兒, do khẳng định « Nhí Chi 之! »= Nhi 兒. Vậy Tí và Xí đã hàm nghĩa là rất xa xưa, vì nhấn mạnh thì « Xí Xí »= Xi, 1+1=0, Xi là rất xa xưa. Nhìn vào ĐHÂD trong con Nòng hay con Nọc thì từ góc Xí (nhỏ = nhọn nhất) đến góc Xù (to= tù nhất) thì cái Xu (thế) ấy diễn ra, nếu là đối với vũ trụ để mà đến thời điểm biến, thì phải dài hàng triệu năm, nhưng sẽ ắt xảy ra, vì « Pháp Luân Tựa Địa, Vật Đảo Như Nguyên 法論似地,物倒如原». Vậy Tí=Xi=Xưa, nho khẳng định là « Tí Đấy! »= « Tí Đếx ! (Đếx là tiêng Nhật, đặt sau một từ để khẳng định)»= « Tí Đích 的 ! »= Tích 昔, nên viết chữ Tích 昔 tả ý Xưa. Hán ngữ dung hòa rỡi « ích » vốn không có trong phát âm của người Hãn, với rỡi « ưa » mà đọc chữ Tích 昔 của « Nho Ta »= Nhã là « Xi ». Cái dấu vết, ví dụ dấu bàn chân của người xưa để lại trong hóa thạch, đương nhiên còn có ích cho nghiên cứu, nên cái « Tí mà còn có Ích »= Tích 跡, lại là một chữ nho đặt khác. Chuyện Cổ Tích 古 昔 trong tiếng Việt là chuyện « Cũ Lố! »= Cổ 古 (khẳng định nhấn mạnh bằng tiếng Tày) và Xưa, tức « Tí Đích »= Tích 昔. Chứ không phải chữ Cổ Tích 古 跡 mà Hán ngữ dùng, chỉ nghĩa là « dấu vết xưa », theo cú pháp Hán. Vậy mà Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng của Viện ngôn ngữ KHXH HN xuất bản 1991 giải thích chữ Tích 跡 là từ gốc Hán, trang 407, và chuyện cổ tích lại viết là « chuyện Cổ Tích 古 跡» tức « chuyện dấu vết xưa »(?) , rõ ràng là giải thích sai toẹt. Chuyện cổ tích phải viết là Cổ Tích 古 昔 tức chuyện cũ xưa hay chuyện đời xưa. Tra chữ Tích 跡 qua « Thuyết Văn Giải Tự » trên mạng [CiDianWang.com] hay mạng [zidiantong.com] đều được câu trả lời : « Xin lỗi, không có thâu lục Hán tự Tích 抱歉,沒有收錄漢子跡», hoặc tra trên mạng [shuowen.xpcha.com] thì được trả lời : « Không tìm được kết quả tương quan 沒有找到相關結果», chứng tỏ chữ Tích 跡 , là dấu tích, vết tích, này là do Việt nho đặt ra, nó gọi là Tích 跡 do nén thông tin bằng lướt « Tí Đích ! »= Tích跡, để chỉ cái vết tích xưa, tiêu biểu là vết Chân 足, (đến mẹ ông Gióng còn do ướm vào vết chân mà có chửa). Moi đâu ra chữ Tích 跡 là « từ Hán Việt » ?. Đến ba cái mạng của Hán ngữ, đã tra ở trên, đều không công nhận chữ Tích 跡 là Hán tự. Vậy mà cũng cố nhét vào Từ điển để day con nít Việt Nam rằng « nó là một từ gốc Hán » thì đúng là bán đứng. Còn từ Xa tại sao « Nho Ta »= Nhã lại viết bằng chữ Hà ? Bởi Hết là cái tận cùng, nhấn mạnh thì « Hết Hết »= Hệt, 1+1=0. Giống Hệt là giống đến tận tận cùng, không sót khác một điểm nào.(Hán ngữ đã phải mượn chữ Hoạt 活, phát âm là « húa » để phiên âm dịch ý cái từ Hệt, vì họ không có cái âm của rỡi « êt » mà chỉ có âm của rỡi « ua »). Cái tận cùng của Xa là « Hệt Xa » = Hà. (Chữ Hà này Từ điển Viện ngôn ngữ giải thích là « từ gốc Hán », trang 153). Cái Xí là cái nhỏ nhất, đương nhiên xưa nhất, còn nhấn mạnh là xa xưa, bởi nhấn mạnh bằng khẳng định là « Xí Rứa ! » = Xưa.

Chữ Tích 跡 của vết tích xưa (di tích) viết biểu ý bằng chữ Túc 足 với chữ Diệc 亦, lướt « Túc Diệc »=Tiếc.=  « Tiếc thật, nhưng mà nó cũng còn có Ích »= Tích. Nhìn vào vết tích xưa thì ai chẳng thấy Tiếc, vì cái thật của xưa đâu có còn ; người thợ săn nhìn vết tích dấu chân con cọp mà còn Tiếc ngẩn ngơ vì hụt mất con mồi. Tiếc thật là “Tiếc 惜 Đích 的!”= Tích 跡 。Chữ Túc 足 nghĩa là đầy đủ, từ Diệc 亦 (của Việt cổ) nghĩa là cũng, cũng tức là cũng thế, tức là giống như thế. Nhìn vào cái (di) Tích sẽ thấy đầy đủ cái thật của xưa cũng giống như thế, tức giống nhau như một (dấu chân cũng đầy đủ như bàn chân), mà giống như một gọi là « Giống Chiếc »= Diệc, (1=Chắc=Chiếc), người miền Trung nói “hai đứa ni giống chắc” nghĩa là “ hai đứa này giống nhau như một”, do vậy mà Diệc (của Việt cổ) có nghĩa là cũng. Khẳng định nhấn mạnh thì là « Diệc Ạ ! »= Dã 也. Từ “Cũng” tiếng Việt còn láy là “Cũng Kiếc”, nên nôi khái niệm của nó là: Cũng=Cũng Kiếc = Diệc= “Diệc Ạ!”=Dã=Là, nên có từ đôi Cũng Là. Hán ngữ đã mượn chữ Dã 也 này, phát âm là « Dể » (pinyin: “ye”) để chỉ ý cũng . Chạy đâu cũng không khỏi cái “nôi khái niệm” của Việt, như câu thành ngữ “Chạy trời không khỏi nắng”.

Giàu Có viết bằng chữ nho là Phú Hữu. Nhưng tất cả những từ trên đều bắt nguồn do từ Có . Trời gọi tên ai, nấy xưng Có, nhưng Trời gọi con trâu thì nó xưng Họ (đứng lại). Vậy Có=Họ=Hữu (đều là sự đứng, sự tồn tại). Mặt khác Có=Kho 庫= =Pho 貨 = Phú 富= Dụ 裕 =Giàu=Giầu =“Dẩu” (pinyin: “you 有”)=Hẩu=Hữu 有. (Bởi vậy Họ Hùng thì Hán thư viết là Hữu Hùng thị). Pho là cùng nôi khái niệm với Kho, như hàng hóa (đương nhiên là nhiều) mà tiếng Việt Đông gọi là Pho 貨 (tiệm chạp pho là tiệm tạp hóa), và nhấn mạnh thì “Pho Chứ!”= Phú 富; như cuốn sách thì gọi là Pho sách vì trong nó rất giàu nội dung (giống như thời internet ngày nay, sách là “Phải Cho”= Pho, toàn nhân loại đọc của nhau miễn phí trên mạng). Thời Đàng Trong thì Hội An được giới doanh nhân gọi theo tiếng Việt Đông là Phai Pho (tức đổ sỉ hàng hóa). Tây theo từ này mà phiên âm là Fai Fo. Còn Tô Ranh là nơi thu tô lớn, do nhà nước Đàng Trong cho các nước ngoài thuê đất ở đó, làm nơi giao dịch, Tây phiên âm là Tu Ran (chỉ Đà Nẵng). Lớn=Nhớn=Rơn=Ranh=Lãnh. Mừng rơn hay sướng rơn nghĩa là mừng lớn hay sướng lớn. Cam Ranh nghĩa là nơi người Việt ra biển lớn: “Kinh Nam”= Cam, Ranh=Lãnh=Lớn. Câu chửi “đồ Ranh Con!” là chửi đứa lớn (Ranh, lớn, đương nhiên “ranh ma” hơn) mà tính khí (không chịu theo luật chung) như là đứa trẻ Con vậy. Những đứa lớn mà như vậy thường bị gọi là “To đầu mà dại, (khi so với đứa) bé dái mà khôn”.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chữ Tích 跡 của vết tích xưa (di tích) viết biểu ý bằng chữ Túc 足 với chữ Diệc 亦, lướt « Túc Diệc »=Tiếc.=  « Tiếc thật, nhưng mà nó cũng còn có Ích »= Tích. Nhìn vào vết tích xưa thì ai chẳng thấy Tiếc, vì cái thật của xưa đâu có còn ; người thợ săn nhìn vết tích dấu chân con cọp mà còn Tiếc ngẩn ngơ vì hụt mất con mồi. Tiếc thật là “Tiếc 惜 Đích 的!”= Tích 跡 。Chữ Túc 足 nghĩa là đầy đủ, từ Diệc 亦 (của Việt cổ) nghĩa là cũng, cũng tức là cũng thế, tức là giống như thế. Nhìn vào cái (di) Tích sẽ thấy đầy đủ cái thật của xưa cũng giống như thế, tức giống nhau như một (dấu chân cũng đầy đủ như bàn chân), mà giống như một gọi là « Giống Chiếc »= Diệc, (1=Chắc=Chiếc), người miền Trung nói “hai đứa ni giống chắc” nghĩa là “ hai đứa này giống nhau như một”, do vậy mà Diệc (của Việt cổ) có nghĩa là cũng. Khẳng định nhấn mạnh thì là « Diệc Ạ ! »= Dã 也. Từ “Cũng” tiếng Việt còn láy là “Cũng Kiếc”, nên nôi khái niệm của nó là: Cũng=Cũng Kiếc = Diệc= “Diệc Ạ!”=Dã=Là, nên có từ đôi Cũng Là. Hán ngữ đã mượn chữ Dã 也 này, phát âm là « Dể » (pinyin: “ye”) để chỉ ý cũng . Chạy đâu cũng không khỏi cái “nôi khái niệm” của Việt, như câu thành ngữ “Chạy trời không khỏi nắng”.

Giàu Có viết bằng chữ nho là Phú Hữu. Nhưng tất cả những từ trên đều bắt nguồn do từ Có . Trời gọi tên ai, nấy xưng Có, nhưng Trời gọi con trâu thì nó xưng Họ (đứng lại). Vậy Có=Họ=Hữu (đều là sự đứng, sự tồn tại). Mặt khác Có=Kho 庫= =Pho 貨 = Phú 富= Dụ 裕 =Giàu=Giầu =“Dẩu” (pinyin: “you 有”)=Hẩu=Hữu 有. (Bởi vậy Họ Hùng thì Hán thư viết là Hữu Hùng thị). Pho là cùng nôi khái niệm với Kho, như hàng hóa (đương nhiên là nhiều) mà tiếng Việt Đông gọi là Pho 貨 (tiệm chạp pho là tiệm tạp hóa), và nhấn mạnh thì “Pho Chứ!”= Phú 富; như cuốn sách thì gọi là Pho sách vì trong nó rất giàu nội dung (giống như thời internet ngày nay, sách là “Phải Cho”= Pho, toàn nhân loại đọc của nhau miễn phí trên mạng). Thời Đàng Trong thì Hội An được giới doanh nhân gọi theo tiếng Việt Đông là Phai Pho (tức đổ sỉ hàng hóa). Tây theo từ này mà phiên âm là Fai Fo. Còn Tô Ranh là nơi thu tô lớn, do nhà nước Đàng Trong cho các nước ngoài thuê đất ở đó, làm nơi giao dịch, Tây phiên âm là Tu Ran (chỉ Đà Nẵng). Lớn=Nhớn=Rơn=Ranh=Lãnh. Mừng rơn hay sướng rơn nghĩa là mừng lớn hay sướng lớn. Cam Ranh nghĩa là nơi người Việt ra biển lớn: “Kinh Nam”= Cam, Ranh=Lãnh=Lớn. Câu chửi “đồ Ranh Con!” là chửi đứa lớn (Ranh, lớn, đương nhiên “ranh ma” hơn) mà tính khí (không chịu theo luật chung) như là đứa trẻ Con vậy. Những đứa lớn mà như vậy thường bị gọi là “To đầu mà dại, (khi so với đứa) bé dái mà khôn”.

Ranh Con nghĩa đen là Lớn Bé, là nói tắt câu chửi “Lớn đầu mà dại Bé dái mà khôn”. Còn Reng Con lại là tên cái chuông lắc tay nhỏ xíu kêu reng reng mà nhỏ cỏn con. “Nho Ta”= Nhã viết từ Reng Con bằng chữ Linh Tử 铃 子. Reng=Linh cũng tương tự Ranh=Lãnh, Con = Cu = Tu (tiếng Tày)= Tủa (tiếng Hmông)= Tử 子. Người Nhật gọi cái chuông con là "Rin Kô" khi đọc chữ Linh Tử. Vậy là họ đã dùng từ Reng Con của tiếng Việt hay là đã dùng pinyin của Hán ngữ “Líng Zi 铃 子” chỉ cái Linh Tử 铃 子? Chẳng phải là cái nôi khái niệm trong tiếng Việt đã chỉ ra câu “Chạy trời không khỏi nắng” đó sao?

Từ láy của tiếng Việt dùng láy nhiều nhất là cái rỡi “iếc”, cứ thay rỡi “iếc” vào bất cứ từ nào là thành láy của từ đó, lúc ấy từ ấy sẽ mang nghĩa là nói chung về cái đó. Ví dụ Mỹ nói chung thì láy là Mỹ Miếc, tương tự có Nga Nghiếc, Hán Hiếc, Việt Viếc, Đài Loan Đài Liếc v.v.. Nhưng Nói Chung còn phát âm là “Lói Chung”= Lủng. Vô thiên lủng là không còn trời đất gì nữa nói chung. Nên cũng rất phổ biến láy bằng rỡi “ủng”, thể hiện rõ nhất trong ngôn ngữ của đám trẻ con đánh đáo ở Kinh thành Đại La, ví dụ Chơi Chủng, Học Hủng, Nghe Nhạc Nghe Nhủng, Chủ Nghĩa Chủ Ngủng, Tranh Chấp Tranh Chủng v.v. Nghĩa là nói chung thì nó là như thế. Lẫn lộn phát âm N=L là phổ biến ở Bắc Bộ và toàn vùng Hoa Nam. Người Hồ Nam còn phát âm Hồ Nam là Hú Lán. Tại Hồ Nam nay chỉ còn vùng Tương Đàm là dân đàn bà đàn ông còn tục nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày. Làm nói chung thì láy thành Làm Lủng, mà Lủng nhiều thì lướt từ lặp “Lủng Lủng”=Lụng, 1+1=0. Lụng 弄 nghĩa là làm nhiều, nên có từ đôi là Làm Lụng, làm một việc thì nói là Làm, nhưng làm suốt ngày, làm quanh năm thì nói là Làm Lụng. Hán ngữ mượn từ Lụng 弄 mà phát âm lẫm lộn L=N là “Nụng 弄” (pinyin: “Nòng 弄” nghĩa là Làm). Rượu Thần Nông thì người Hmông phát âm là rượu “Sàn Lùng”.

Do láy bằng rỡi “iếc” nên Xưa 昔 láy là Xưa Xiếc, Tích 昔 láy là Tích Tiếc. Vậy là Xưa=Xiếc=Tiếc=Tích, chữ nho Tích 惜 đọc là Tâm 忄Xưa 昔 = “Tâm xưa Xiếc” = Tiếc 惜 = “Tiếc 惜 Đích 的!”= Tích 惜 . Chữ Tích 惜 này không có trong Từ điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng (XB năm 1991)nhưng chữ Tích 惜 = Tiếc 惜 này có trong Từ điển Hán-Việt (XB năm 1997, trang 1271, giải thích là Tích 惜 nghĩa là Tiếc, luyến tiếc. Nhưng gõ Hán văn chỉ có chữ Lân Tiếc 怜 惜 nghĩa là thương và tiếc, và chữ Luyến Ái 恋 爱, không có từ Luyến Tiếc . Tra Thuyết Văn giải tự thì giải thích Tích 惜 là “Thống Dã 痛 也” tức Thương Ạ. Thống Dã 痛 也là từ của “cổ Hán ngữ” tức của tiếng Việt, gõ Hán văn không ra liền hai chữ Thống Dã đâu. Thống Dã là Thương Ạ, mà lướt từ có đệm khẳng định nhấn mạnh ở sau thì là “Thương A!”= Tha, và “Tha Chứ!”= Thứ, vậy mới có từ đôi Tha Thứ, là do Thương, nếu không thương thì đã cho tù rũ xương. Chẳng phải cứ thấy chữ nào có viết bằng chữ nho thì gọi và giải thích cho trẻ con rằng đó là “ từ gốc Hán”, thành ra là bán đứng. Năm 2009 tôi dẫn một người TQ không biết tiếng Việt đi xem nhà sách Tràng Tiền ở Hà Nội, nhìn cuốn Từ Điển Hán-Việt trên (XB 1997) ở trên giá sách, anh ta phán rằng: “Nhìn cuốn từ điển Hán-Việt đồ sộ mà hãi. Thực ra từ Hán chỉ có khoảng 1000 từ thôi, còn lại là từ của các tộc người phi Hán”. Cuốn Từ Điển trên có ghi trang đầu trong ngoặc đơn là “Khoảng 60.000 từ”. Thời Hứa Thận viết cuốn Thuyết Văn Giai Tự cách nay 2000 năm, là cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa, chỉ có 9530 từ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Ranh Con nghĩa đen là Lớn Bé, là nói tắt câu chửi “Lớn đầu mà dại Bé dái mà khôn”. Còn Reng Con lại là tên cái chuông lắc tay nhỏ xíu kêu reng reng mà nhỏ cỏn con. “Nho Ta”= Nhã viết từ Reng Con bằng chữ Linh Tử 铃 子. Reng=Linh cũng tương tự Ranh=Lãnh, Con = Cu = Tu (tiếng Tày)= Tủa (tiếng Hmông)= Tử 子. Người Nhật gọi cái chuông con là "Rin Kô" khi đọc chữ Linh Tử. Vậy là họ đã dùng từ Reng Con của tiếng Việt hay là đã dùng pinyin của Hán ngữ “Líng Zi 铃 子” chỉ cái Linh Tử 铃 子? Chẳng phải là cái nôi khái niệm trong tiếng Việt đã chỉ ra câu “Chạy trời không khỏi nắng” đó sao?

Từ láy của tiếng Việt dùng láy nhiều nhất là cái rỡi “iếc”, cứ thay rỡi “iếc” vào bất cứ từ nào là thành láy của từ đó, lúc ấy từ ấy sẽ mang nghĩa là nói chung về cái đó. Ví dụ Mỹ nói chung thì láy là Mỹ Miếc, tương tự có Nga Nghiếc, Hán Hiếc, Việt Viếc, Đài Loan Đài Liếc v.v.. Nhưng Nói Chung còn phát âm là “Lói Chung”= Lủng. Vô thiên lủng là không còn trời đất gì nữa nói chung. Nên cũng rất phổ biến láy bằng rỡi “ủng”, thể hiện rõ nhất trong ngôn ngữ của đám trẻ con đánh đáo ở Kinh thành Đại La, ví dụ Chơi Chủng, Học Hủng, Nghe Nhạc Nghe Nhủng, Chủ Nghĩa Chủ Ngủng, Tranh Chấp Tranh Chủng v.v. Nghĩa là nói chung thì nó là như thế. Lẫn lộn phát âm N=L là phổ biến ở Bắc Bộ và toàn vùng Hoa Nam. Người Hồ Nam còn phát âm Hồ Nam là Hú Lán. Tại Hồ Nam nay chỉ còn vùng Tương Đàm là dân đàn bà đàn ông còn tục nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày. Làm nói chung thì láy thành Làm Lủng, mà Lủng nhiều thì lướt từ lặp “Lủng Lủng”=Lụng, 1+1=0. Lụng 弄 nghĩa là làm nhiều, nên có từ đôi là Làm Lụng, làm một việc thì nói là Làm, nhưng làm suốt ngày, làm quanh năm thì nói là Làm Lụng. Hán ngữ mượn từ Lụng 弄 mà phát âm lẫm lộn L=N là “Nụng 弄” (pinyin: “Nòng 弄” nghĩa là Làm). Rượu Thần Nông thì người Hmông phát âm là rượu “Sàn Lùng”.

Do láy bằng rỡi “iếc” nên Xưa 昔 láy là Xưa Xiếc, Tích 昔 láy là Tích Tiếc. Vậy là Xưa=Xiếc=Tiếc=Tích, chữ nho Tích 惜 đọc là Tâm 忄Xưa 昔 = “Tâm xưa Xiếc” = Tiếc 惜 = “Tiếc 惜 Đích 的!”= Tích 惜 . Chữ Tích 惜 này không có trong Từ điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng (XB năm 1991)nhưng chữ Tích 惜 = Tiếc 惜 này có trong Từ điển Hán-Việt (XB năm 1997, trang 1271, giải thích là Tích 惜 nghĩa là Tiếc, luyến tiếc. Nhưng gõ Hán văn chỉ có chữ Lân Tiếc 怜 惜 nghĩa là thương và tiếc, và chữ Luyến Ái 恋 爱, không có từ Luyến Tiếc . Tra Thuyết Văn giải tự thì giải thích Tích 惜 là “Thống Dã 痛 也” tức Thương Ạ. Thống Dã 痛 也là từ của “cổ Hán ngữ” tức của tiếng Việt, gõ Hán văn không ra liền hai chữ Thống Dã đâu. Thống Dã là Thương Ạ, mà lướt từ có đệm khẳng định nhấn mạnh ở sau thì là “Thương A!”= Tha, và “Tha Chứ!”= Thứ, vậy mới có từ đôi Tha Thứ, là do Thương, nếu không thương thì đã cho tù rũ xương. Chẳng phải cứ thấy chữ nào có viết bằng chữ nho thì gọi và giải thích cho trẻ con rằng đó là “ từ gốc Hán”, thành ra là bán đứng. Năm 2009 tôi dẫn một người TQ không biết tiếng Việt đi xem nhà sách Tràng Tiền ở Hà Nội, nhìn cuốn Từ Điển Hán-Việt trên (XB 1997) ở trên giá sách, anh ta phán rằng: “Nhìn cuốn từ điển Hán-Việt đồ sộ mà hãi. Thực ra từ Hán chỉ có khoảng 1000 từ thôi, còn lại là từ của các tộc người phi Hán”. Cuốn Từ Điển trên có ghi trang đầu trong ngoặc đơn là “Khoảng 60.000 từ”. Thời Hứa Thận viết cuốn Thuyết Văn Giai Tự cách nay 2000 năm, là cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa, chỉ có 9530 từ.

13. Sở hữu cách

Theo Sử thuyết Họ Hùng, tộc Mông Cổ phương Bắc gọi vua là Khan (nho viết bằng chữ Hãn), đến thời trung cổ, nhân vật vua nổi tiếng là Trin Ghi Xơ Khan (Thành Cát Tư Hãn). Vua là Hãn thì dân của vua đó gọi là dân Hãn. Cùng thời, ở phương Nam vua là Kinh thì dân của vua đó gọi là dân Kinh. Từ gốc nguyên thủy của tiếng Kinh dùng chỉ chung động tác ăn hay uống là từ In, trong thành ngữ “Nhớ như In”, vì động tác In là cái bản năng con người, hễ khát thì nhớ In, đói thì nhớ In. Lướt cả câu “Kinh nó gọi cái động tác ấy là In”= =Kin, Kin là từ của tiếng Tày Thái chỉ chung cái động tác “ẩm thực”, họ nói “kin nam” là uống nước, “kin khao” là ăn cơm gạo. Tiếng Nhật đã “phiên thiết” từ Cơm thành hai tiếng Kô-Mê để chỉ gạo, chẳng khác gì đánh vần từ Kô-Mờ = Cơm, vì họ không có âm tiết “ơm” mà có âm tiết “ê” nên gọi Cơm là Kô-Mê, chỉ gạo. QT Vo đã vò rụng mất âm tiết “kô” để còn lại mỗi “mê” viết bằng chữ nho Mễ 米, cũng là chỉ gạo. Tại sao người Kinh lại gọi cái gạo đã nấu chín để ăn là Cơm? Thực ra là ăn gạo sống vẫn ngon, vẫn sống người, vì đã Nhai nhuyễn như sữa nước rồi mới nuốt được. Xương mọc lồi ra, tức xương nó Vằng Ra, lái là Và Răng, Và nghĩa là Nói, Và Răng tức là Gọi là Răng. Vằng=Vung=Vùng=Vùng Vằng. Vùng Vằng nghĩa là dẫy ra, dẫy ra tức là “vùng lên” hay “nổi dậy”. Vằng Ra tức là Nhú Ra, lướt “Nhú Ra”= Nha 牙, Nha 牙 gọi là “từ Hán Việt”, bởi do người Hán mượn dùng, còn gốc nó là từ Việt. Cái sức sống từ trong hột cây nó “Mọc Đâm”= Mầm là nó “Nhú Ra”= Nha 芽. Nha của hột lúa hay hột ngô nấu thành Keo (chắc là do Dân Kinh = Cần Keo – tiếng Tày Thái gọi dân Kinh - biết làm đầu tiên, nên mang tên tác giả là Keo), keo ấy nấu cho thật đặc là thì “Keo Đặc”= Kẹo (do lướt lủn), gọi là kẹo nha. Ai cũng có răng tức ai cũng có nha để mà làm chức năng chủ yếu của “Nha Ai”= Nhai , “”Nhai lai rai rất Lâu”= Nhậu, chứ không phải răng hay nha là để làm trang sức. “Cái răng cái tóc là vóc con người” là thể hiện sức khỏe và cái chức năng làm sen-so cảnh báo của răng và tóc, “thấy ghê răng”,“thấy dựng tóc gáy”. Nhai phải có nước mới nuốt trôi được, vì “Nước Tuột”= Nuốt và “Nuốt Được”= =Nước, đố ai nuột được vật cứng mà không nhờ = có nước miếng bôi trơn để cho qua khỏi cái cần cổ mà vô bụng. Cho nên bọn tham những nó nuốt trôi là nhờ bằng Nước, không có nhà nước thì chúng lấy đâu ra mà tham nhũng, cho nên chống tham nhũng hiệu quả chỉ có thể bằng cơ chế (kỹ thuật quản trị) của phương thức tổ chức nhà nước. Người Kinh đặt tên cái gạo đã nấu chín là Cơm là do đã ghép hai từ Của Mẹ thành ra từ Cơm, đánh vần là Cơ-Mơ. Của = Có = Cơ = Co 的 (tiếng Việt

Đông )=

= Đó = Đấy = Đếx (tiếng Nhật) = Đích 的. Hán ngữ đã dung hòa từ Cơ và Đích để đọc chữ Đích 的 là “Tơ”, nhưng cú pháp Hán thì ngược với cú pháp Việt, Việt nói “Của tôi” thì Hán nói “wủa Tơ”(pinyin: “wo de 我 的”). Cơm là Của Mẹ nên mới có từ Mớm (như con chim cù cu mẹ vẫn mớm thức ăn đã nhuyễn từ cái “Dạ chứa Nhiều”= Diều của nó cho chim con ăn). Mớm là do lướt câu “Mẹ sẻ cho ún Cơm”= Mớm, cái động tác nhai nhuyễn cơm rồi sẻ vào mồm đứa bé vừa cai sữa cho nó tập ăn bột là “Sẻ cho Ún”= Sún (Ún là Em, tiếng Mường).

Trong câu có từ Của, ngôn ngữ lại gọi theo Hán văn là “sở hữu cách”, tức là “có”, “của”, “thuộc về”, nhiều khi những từ ấy ẩn trong câu. Nhưng QT Lướt để tạo từ của tiếng Việt còn cho thấy cái còn ẩn hơn (nén thông tin). Ví dụ khái niệm “không được đụng đến” thì đó là: “Của số Đông”= Công 公, “Của Ai”= Cai, “Của Riêng”= Kiêng. Mà nhấn mạnh Kiêng thì bằng lướt từ lặp “Kiêng Kiêng”= Kiềng, 0+0=1. “Tao kiềng mặt mày” nghĩa là tao không đụng đến nhìn mặt mày, tao Tránh=Lánh riêng ra không muốn gặp mày. Chữ Lánh 另 không thấy đưa vào Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng (XB 1991) để gọi nó là cái “tố gốc Hán”, nhưng chữ Lánh 另 có trong Từ điển Hán Việt ( XB 1997, trang 772, chứng tỏ cũng coi nó là “từ Hán-Việt”) . Thì nó là “từ Hán Việt” mà gốc là Việt: Riêng=Rảnh=Tránh=Lánh. Lánh mới theo QT Nở mà cho ra từ dính là Lẻ -Loi, tức đứng một mình. Hán ngữ mượn chữ Lánh 另, phát âm là “Ling 另” , vì thừa nhận “Lánh là từ của tiếng Kinh”= Linh= “Ling 另”. Chính từ Tiếng cũng là do lướt “Tên Riêng”= Tiếng, bởi mỗi từ là một cái tên riêng với ý nghĩa riêng, nên mới gọi là một tiếng, và cái nôi lớn chung của chúng là Tiếng, Tiếng Việt. Tiếng= “Thật Riêng” = =Thiêng = “Thật Lánh” = Thanh . Tiếng Ồn thì “Nho Ta”= Nhã viết là Thanh Âm , Hán ngữ dùng nguyên xi hai chữ Thanh Âm ghép theo cú pháp Việt này , chỉ có phát âm lơ lớ là “Sheng Yin”. (Tiếng=Thanh là đề, Ồn=Âm là thuyết. Tiếng gì? Tiếng ồn. Khác với các thuyết khác như Tiếng gió, Tiếng chó, Tiếng mèo v.v.) . Đến thời giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, thời mà người ta thay từ quốc gia bằng từ nhà nước cho nó “Việt hóa” để rồi bây giờ lại gọi là đại học quốc gia Hà Nội chứ không gọi là đại học nhà nước Hà Nội, thấy hai chữ nho Thanh Âm nghĩ là của Hán nên đem đảo ngược lại cho nó “Việt hóa” gọi là Âm Thanh, riết rồi thành quen coi như chấp nhận. Nhưng Âm Thanh thì Âm=Ồn là đề, Thanh=Tiếng là thuyết. Ồn gi? Ồn tiếng. Chứ không phải là Ồn chuyện, Ôn ào ( Ào là “Ồn tào Lao”= Ào). Tiếng Việt hàng vạn năm qua vẫn độc lập là một ngôn ngữ riêng của người Việt.

Nếu lấy “sở hữu cách”, tiêu biểu là chữ Của ,thì do QT Lướt mà thấy rất chi li trong ngành kế toán:

“Của Kho”= Có (giàu có tức giàu của),

“Của Để”= Kê (phải thống kê số liệu ),

“Của Vốn”= Cổn (vốn phải luôn chảy cuồn cuộn như nước sông. Cuồn cuộn nho viết bằng chữ Cổn Cổn)

“Của Ăn”= Căn (phải liệu cơm gắp mắm không thể ăn tàn phá hại)

“Của Chi”= Ký (chi một Xu, một Hào, một Đồng cũng đều phải có chữ ký của kế toán trưởng. Đơn vị mệnh giá Xu, Hào, Đồng là tên lấy trong sự dịch của sáu hào trong một quẻ dịch. Xu tiếng Mỹ phiên âm là Cent, không có hào, 100 cent=1 Đô La. Nhưng Đô La là do phiên thiết từ “Được Cả”= Đa của tiếng Việt, nghĩa là nhiều. Do lướt lại “Đô La”= Đa nên từ thời 1 đồng Đông Dương ăn 1 Đô La, nay thì 21000 đồng mới ăn được 1 đô la, và cứ thế sẽ còn tăng nhiều đồng nữa tức cứ đa hoài để rồi mới bằng được 1 đô la),

“Của Vay”= Cay (đúng đi vay là cay đắng để mà trả lãi mẹ đẻ lãi con)

“Của Trả”= Cả (là sự trọn vẹn, sòng phẳng có vay có trả, là hành động của chữ tín, là cao cả, được kính trọng ở chữ Cả, mà cổ xưa “Kinh Ta”= Cả, “Kinh Mình”= Kính)

“Của Nợ”= Cớ ( phái có chứng từ, chứng cớ là số cứ ghi nợ thì mới đòi được)

“Của Xin”= Kin = Kín (của xin, ăn hết xưa nay đã nhiều. In=Kin, nghĩa là Ăn-Uống),

“Của Cướp”= Cướp (của ăn cướp rõ ràng là cướp, không thể trí trá đánh tráo khái niệm được)

“Của Trộm”= Cộm (không dấu được, cái kim trong bọc cũng lòi)

“Của Tham”= Cạm (đúng như ngạn ngữ “Tham thì thâm”, cái cạm bẫy mà bọn tham nhũng hoặc làm ăn phi pháp mắc phải, là lòng tham).

“Của Xài”= Cái (có làm ra tiền để mà xài mới đáng làm mẹ)

“Của Tiêu”= Kiêu (có làm ra tiền để mà tiêu rủng rẻng mới ngẩng mặt được với thiên hạ mà tự hào)

Share this post


Link to post
Share on other sites

13. Sở hữu cách

Theo Sử thuyết Họ Hùng, tộc Mông Cổ phương Bắc gọi vua là Khan (nho viết bằng chữ Hãn), đến thời trung cổ, nhân vật vua nổi tiếng là Trin Ghi Xơ Khan (Thành Cát Tư Hãn). Vua là Hãn thì dân của vua đó gọi là dân Hãn. Cùng thời, ở phương Nam vua là Kinh thì dân của vua đó gọi là dân Kinh. Từ gốc nguyên thủy của tiếng Kinh dùng chỉ chung động tác ăn hay uống là từ In, trong thành ngữ “Nhớ như In”, vì động tác In là cái bản năng con người, hễ khát thì nhớ In, đói thì nhớ In. Lướt cả câu “Kinh nó gọi cái động tác ấy là In”= =Kin, Kin là từ của tiếng Tày Thái chỉ chung cái động tác “ẩm thực”, họ nói “kin nam” là uống nước, “kin khao” là ăn cơm gạo. Tiếng Nhật đã “phiên thiết” từ Cơm thành hai tiếng Kô-Mê để chỉ gạo, chẳng khác gì đánh vần từ Kô-Mờ = Cơm, vì họ không có âm tiết “ơm” mà có âm tiết “ê” nên gọi Cơm là Kô-Mê, chỉ gạo. QT Vo đã vò rụng mất âm tiết “kô” để còn lại mỗi “mê” viết bằng chữ nho Mễ 米, cũng là chỉ gạo. Tại sao người Kinh lại gọi cái gạo đã nấu chín để ăn là Cơm? Thực ra là ăn gạo sống vẫn ngon, vẫn sống người, vì đã Nhai nhuyễn như sữa nước rồi mới nuốt được. Xương mọc lồi ra, tức xương nó Vằng Ra, lái là Và Răng, Và nghĩa là Nói, Và Răng tức là Gọi là Răng. Vằng=Vung=Vùng=Vùng Vằng. Vùng Vằng nghĩa là dẫy ra, dẫy ra tức là “vùng lên” hay “nổi dậy”. Vằng Ra tức là Nhú Ra, lướt “Nhú Ra”= Nha 牙, Nha 牙 gọi là “từ Hán Việt”, bởi do người Hán mượn dùng, còn gốc nó là từ Việt. Cái sức sống từ trong hột cây nó “Mọc Đâm”= Mầm là nó “Nhú Ra”= Nha 芽. Nha của hột lúa hay hột ngô nấu thành Keo (chắc là do Dân Kinh = Cần Keo – tiếng Tày Thái gọi dân Kinh - biết làm đầu tiên, nên mang tên tác giả là Keo), keo ấy nấu cho thật đặc là thì “Keo Đặc”= Kẹo (do lướt lủn), gọi là kẹo nha. Ai cũng có răng tức ai cũng có nha để mà làm chức năng chủ yếu của “Nha Ai”= Nhai , “”Nhai lai rai rất Lâu”= Nhậu, chứ không phải răng hay nha là để làm trang sức. “Cái răng cái tóc là vóc con người” là thể hiện sức khỏe và cái chức năng làm sen-so cảnh báo của răng và tóc, “thấy ghê răng”,“thấy dựng tóc gáy”. Nhai phải có nước mới nuốt trôi được, vì “Nước Tuột”= Nuốt và “Nuốt Được”= =Nước, đố ai nuột được vật cứng mà không nhờ = có nước miếng bôi trơn để cho qua khỏi cái cần cổ mà vô bụng. Cho nên bọn tham những nó nuốt trôi là nhờ bằng Nước, không có nhà nước thì chúng lấy đâu ra mà tham nhũng, cho nên chống tham nhũng hiệu quả chỉ có thể bằng cơ chế (kỹ thuật quản trị) của phương thức tổ chức nhà nước. Người Kinh đặt tên cái gạo đã nấu chín là Cơm là do đã ghép hai từ Của Mẹ thành ra từ Cơm, đánh vần là Cơ-Mơ. Của = Có = Cơ = Co 的 (tiếng Việt

Đông )=

= Đó = Đấy = Đếx (tiếng Nhật) = Đích 的. Hán ngữ đã dung hòa từ Cơ và Đích để đọc chữ Đích 的 là “Tơ”, nhưng cú pháp Hán thì ngược với cú pháp Việt, Việt nói “Của tôi” thì Hán nói “wủa Tơ”(pinyin: “wo de 我 的”). Cơm là Của Mẹ nên mới có từ Mớm (như con chim cù cu mẹ vẫn mớm thức ăn đã nhuyễn từ cái “Dạ chứa Nhiều”= Diều của nó cho chim con ăn). Mớm là do lướt câu “Mẹ sẻ cho ún Cơm”= Mớm, cái động tác nhai nhuyễn cơm rồi sẻ vào mồm đứa bé vừa cai sữa cho nó tập ăn bột là “Sẻ cho Ún”= Sún (Ún là Em, tiếng Mường).

Trong câu có từ Của, ngôn ngữ lại gọi theo Hán văn là “sở hữu cách”, tức là “có”, “của”, “thuộc về”, nhiều khi những từ ấy ẩn trong câu. Nhưng QT Lướt để tạo từ của tiếng Việt còn cho thấy cái còn ẩn hơn (nén thông tin). Ví dụ khái niệm “không được đụng đến” thì đó là: “Của số Đông”= Công 公, “Của Ai”= Cai, “Của Riêng”= Kiêng. Mà nhấn mạnh Kiêng thì bằng lướt từ lặp “Kiêng Kiêng”= Kiềng, 0+0=1. “Tao kiềng mặt mày” nghĩa là tao không đụng đến nhìn mặt mày, tao Tránh=Lánh riêng ra không muốn gặp mày. Chữ Lánh 另 không thấy đưa vào Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng (XB 1991) để gọi nó là cái “tố gốc Hán”, nhưng chữ Lánh 另 có trong Từ điển Hán Việt ( XB 1997, trang 772, chứng tỏ cũng coi nó là “từ Hán-Việt”) . Thì nó là “từ Hán Việt” mà gốc là Việt: Riêng=Rảnh=Tránh=Lánh. Lánh mới theo QT Nở mà cho ra từ dính là Lẻ -Loi, tức đứng một mình. Hán ngữ mượn chữ Lánh 另, phát âm là “Ling 另” , vì thừa nhận “Lánh là từ của tiếng Kinh”= Linh= “Ling 另”. Chính từ Tiếng cũng là do lướt “Tên Riêng”= Tiếng, bởi mỗi từ là một cái tên riêng với ý nghĩa riêng, nên mới gọi là một tiếng, và cái nôi lớn chung của chúng là Tiếng, Tiếng Việt. Tiếng= “Thật Riêng” = =Thiêng = “Thật Lánh” = Thanh . Tiếng Ồn thì “Nho Ta”= Nhã viết là Thanh Âm , Hán ngữ dùng nguyên xi hai chữ Thanh Âm ghép theo cú pháp Việt này , chỉ có phát âm lơ lớ là “Sheng Yin”. (Tiếng=Thanh là đề, Ồn=Âm là thuyết. Tiếng gì? Tiếng ồn. Khác với các thuyết khác như Tiếng gió, Tiếng chó, Tiếng mèo v.v.) . Đến thời giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, thời mà người ta thay từ quốc gia bằng từ nhà nước cho nó “Việt hóa” để rồi bây giờ lại gọi là đại học quốc gia Hà Nội chứ không gọi là đại học nhà nước Hà Nội, thấy hai chữ nho Thanh Âm nghĩ là của Hán nên đem đảo ngược lại cho nó “Việt hóa” gọi là Âm Thanh, riết rồi thành quen coi như chấp nhận. Nhưng Âm Thanh thì Âm=Ồn là đề, Thanh=Tiếng là thuyết. Ồn gi? Ồn tiếng. Chứ không phải là Ồn chuyện, Ôn ào ( Ào là “Ồn tào Lao”= Ào). Tiếng Việt hàng vạn năm qua vẫn độc lập là một ngôn ngữ riêng của người Việt.

Nếu lấy “sở hữu cách”, tiêu biểu là chữ Của ,thì do QT Lướt mà thấy rất chi li trong ngành kế toán:

“Của Kho”= Có (giàu có tức giàu của),

“Của Để”= Kê (phải thống kê số liệu ),

“Của Vốn”= Cổn (vốn phải luôn chảy cuồn cuộn như nước sông. Cuồn cuộn nho viết bằng chữ Cổn Cổn)

“Của Ăn”= Căn (phải liệu cơm gắp mắm không thể ăn tàn phá hại)

“Của Chi”= Ký (chi một Xu, một Hào, một Đồng cũng đều phải có chữ ký của kế toán trưởng. Đơn vị mệnh giá Xu, Hào, Đồng là tên lấy trong sự dịch của sáu hào trong một quẻ dịch. Xu tiếng Mỹ phiên âm là Cent, không có hào, 100 cent=1 Đô La. Nhưng Đô La là do phiên thiết từ “Được Cả”= Đa của tiếng Việt, nghĩa là nhiều. Do lướt lại “Đô La”= Đa nên từ thời 1 đồng Đông Dương ăn 1 Đô La, nay thì 21000 đồng mới ăn được 1 đô la, và cứ thế sẽ còn tăng nhiều đồng nữa tức cứ đa hoài để rồi mới bằng được 1 đô la),

“Của Vay”= Cay (đúng đi vay là cay đắng để mà trả lãi mẹ đẻ lãi con)

“Của Trả”= Cả (là sự trọn vẹn, sòng phẳng có vay có trả, là hành động của chữ tín, là cao cả, được kính trọng ở chữ Cả, mà cổ xưa “Kinh Ta”= Cả, “Kinh Mình”= Kính)

“Của Nợ”= Cớ ( phái có chứng từ, chứng cớ là số cứ ghi nợ thì mới đòi được)

“Của Xin”= Kin = Kín (của xin, ăn hết xưa nay đã nhiều. In=Kin, nghĩa là Ăn-Uống),

“Của Cướp”= Cướp (của ăn cướp rõ ràng là cướp, không thể trí trá đánh tráo khái niệm được)

“Của Trộm”= Cộm (không dấu được, cái kim trong bọc cũng lòi)

“Của Tham”= Cạm (đúng như ngạn ngữ “Tham thì thâm”, cái cạm bẫy mà bọn tham nhũng hoặc làm ăn phi pháp mắc phải, là lòng tham).

“Của Xài”= Cái (có làm ra tiền để mà xài mới đáng làm mẹ)

“Của Tiêu”= Kiêu (có làm ra tiền để mà tiêu rủng rẻng mới ngẩng mặt được với thiên hạ mà tự hào)

14. Phụ từ khẳng định đứng sau từ:

Từ để khẳng định đứng sau như là một phụ từ, lướt thì ra từ mới viết bằng chữ nho, đó cũng là một cách “nén thông tin” của nhà nho khi đặt chữ (cho ngôn từ hàn lâm). Từ khẳng định như: Ạ!=Là!=Dạ!=Dã也!=Cà!=Kìa!=Kia!=Co 的! (Việt Đông đọc chữ Đích 的 )=Có!=Cơ!= “Tơ 的!” (Quan Thoại đọc chữ Đích 的 )= Chớ! = Chứ! = Chi 之 != Đi != Đó! =Đấy! =Đếx !(tiếng Nhật, khẳng định sau từ) =Đích 的.! Khi nói câu “Đất kia đất ở chẳng đi” nghĩa là chỗ đất ấy nó đứng một chỗ nó không di đâu cả. Nho đã “nén” câu đó chỉ bằng hai chữ Địa 地 Chỉ 址. Vì đã lướt “Đất Kia!”= Địa 地 (nó là đất kìa, là đất cơ mà, không phải là cái gì khác, gọi nó cách khẳng định là Địa, nho viết bằng chữ Địa 地) ; lướt “Chẳng Đi!”= Chỉ 止 Chỉ 址là cái đứng yên, đất đứng yên gọi là địa chỉ, đứng yên thì nó sẽ chiếm một chỗ, vì lướt từ đôi “Chỉ Đỗ”= Chỗ. Đỗ là do lướt “Đứng Họ”= ”Đứng Hộ”= Đỗ (Họ! là “đứng lại!”, dùng lệnh cho con trâu. Hộ là “Họp một Chỗ”= Hộ, lướt “Đông Hộ”= Đô. Kinh Đô là nơi người Kinh ở đông hộ). Lướt “Đứng Hộ”= Đỗ. Nói nơi chim đỗ, hay nói nơi đỗ xe thì không phải là cho một con chim hay một cái xe mà là cho nhiều con nhiều cái “Đứng họp một Chỗ”= Đỗ. “Họ” nghĩa là đứng lại, tiếng lệnh của người Kinh cho con trâu. Lướt từ đôi “Đỗ Dừng”= Đứng, mà lướt từ đôi “Đứng Họ”= Đõ, lại là từ chỉ cái đõ ong. Cái Đõ ong thì nó đứng yên, nó là địa chỉ chung của cả bầy ong.

Cái bé nhất là cái ban đầu, nó là I trong NÔI khái niệm (I = Innegative) là cái Tí=Tố , dương, nó là một thể động, nhấn mạnh bằng khẳng định “Động Chi 之!”= Đi. Có động và đi nó mới bẳt đầu Nở để mà “Nở Ấy”= Nậy (lớn lên), sinh ra cái tố N là Negative tức âm, từ đó mà có tương tác dương âm để sinh ra vũ trụ. Cả cái NÔI khái niệm bao la ấy của ngôn từ Việt đã chỉ ra rằng “chạy trời không khỏi nắng”. Cái Tí nào cũng là cái “Vẫn Tí”= Vi, Tí Vi = Tế Vi, là từ đôi để nhấn mạnh cái nhỏ nhất. Cái Vi nào khi hết (biến mất hay lui vào quá khứ) cũng để lại cái “Vi Hết”= Vệt, Vết ấy nhấn mạnh bằng từ lặp “Vệt Vệt”= Vết, 0+0=1, Vết ấy là cái Tí, nhấn mạnh bằng khẳng định “Tí Đích 的!”= Tích, nên lại nhấn mạnh bằng từ đôi Vết Tích (Kiếm đâu ra “từ gốc Hán” trong khi đang giải thích ngôn từ ở đây).

Từ Điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng của Viện Ngôn ngữ, NXB KHXH Hà Nội xuất bản năm 1991 viết ở Lời nói đầu, trang 5: “Những khảo cứu bước đầu của chúng tôi cho thấy có khoảng 4500 yếu tố Hán - Việt đơn tiết đang hoạt động trong tiếng Việt hiện đại với các chức năng khác nhau. Một bộ phận (nhỏ) hoạt động trong tư cách các từ độc lập. Chúng là những từ gốc Hán đã Việt hóa hoàn toàn, nghĩa là cả về ngữ âm lẫn ngữ pháp, chúng đã nhiễm được các đặc tính ngữ âm và đặc tính ngữ pháp của từ Việt. Đó là các từ như Dân,...,...”. Phân tích nguồn gốc của từ Dân: Chính các vị vẫn mở miệng nói “Con Dân nước Việt” mà các vị lại nói rằng từ Dân là từ gốc Hán, tức từ của người Hãn (tộc Nữ Chân) ? Từ Con Dân là một từ đôi, từ đôi thì ghép theo thứ tự từ xuất hiện trước đứng trước, từ xuất hiện sau đứng sau. Con là từ gốc xa xưa nhất chỉ con người, con vật rồi biến thái chỉ cả những cái ở trạng thái động (giống như con người và con vật) là con sông, con thuyền, con xe, v.v. Từ Con tiếng Nam Bộ và tiếng Khơ Me phát âm là “Coong”. Nhưng nhìn từ CON, với cái sinh ra mọi khái niệm ngôn ngữ là từ NÔI ( "Nó sinh ra mọi lời nói của Tôi"= NÔI ), với cái ĐHÂD gồm con Nọc và con Nòng o bế nhau trong cái vòng tròn, thì chúng có cấu trúc rất giống nhau: CON có C là Cộc và N là Nái dính với nhau bằng O là o bế nhau như con Nòng và con Nọc quấn tròn lấy nhau trong ĐHÂD. Bởi mỗi CON là một thể cân bằng âm dương, (Con=Cân). Con Người là một từ đôi, gọi là Con cũng được, gọi là Người cũng được, nhưng từ Con rõ ràng là xuất hiện trước từ Người. Và từ Kinh chính là do lướt "Cân bằng hai cái Minh"= "Kẻ Mình" = Kinh, nho viết chữ Kinh 京 (gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Túc=Tiểu 小). Con= Can 干 = Cán 干 = Quan 官 = Quân 军 = Quân 君 = Nhân 人 = Dân 民 (phát âm tương ứng theo pinyin của Hán ngữ hiện đại là: Ér – Gan – Gan – Guan – Jun – Jun – Ren – Min). Hai cái âm dương cân bằng trong Con nên "Cân Cân"= Cần , 0+0=1, (tiếng Tày gọi "Cần" nghĩa là Người), và tiếng Kinh lại gọi cái giống người ấy là "Giống Cần"= Dân. Con là "Con Đẻ" = Kẻ. Con lại là Dân, nên Con cũng là Mình và Dân cũng là Mình, nên cũng gọi bằng từ đôi thì "Mình Dân"= Mân. Mân là người mình mà ở đất Phúc Kiến, Mân Việt nghĩa là Người Việt. Từ đôi "Dân Mân"= Dằn 人 (tiếng Việt Đông)= Nhân 人. Từ đôi "Mình Dằn"= Mằn 民 (tiếng Việt Đông)= Dân 民. Nhân 人= "Rấn人" (Quan Thoại pinyin "Rén 人"). Dân=Mân=Mằn="Mín 民" (Quan Thoại pinyin: "Mín 民").

Một là cái "Một Tôi"= Mỗi. "Mỗi Đẻ"= Mẹ. Mẹ đẻ ra cái Mầm là cái "Mầm Sống"= Mống. Mầm cũng là Mống, nhấn mạnh thì dùng từ đôi Mầm Mống. Có Nhân mới có Quả, nên cái gì cũng bắt đầu từ Mầm Mống của nó, kể cả vũ trụ. Con người là một cá thể của Nòi. Một của Nòi mà lướt thì là "Một cá thể của Nòi"= Mọi, nên Mọi có nghĩa là một người. Người cũng có nghĩa là một người. Con cũng có nghĩa là một người. Nhân cũng có nghĩa là một người. Dân cũng có nghĩa là một người. Những từ đôi Con Dân, Con Người, Mọi Người, Nhân Dân, Người Dân là từ số nhiều, chỉ quần chúng nói chung. "Một Tôi"= Mỗi = Mọi, cũng như "Một Tui"= Mùi 位, nho viết biểu ý chữ Mùi 位 là Nhân 亻với Lập 立 (Lẻ -Loi). Mùi 位 ấy là một người (Một Tui). Bản thân mỗi người là một "Mầm Sống"= Mống nên nó có một Mùi 味 riêng của cơ thể (con chó nó biết đánh hơi để phân biệt ra). Cái hơi bốc ra rất riêng từ mỗi cơ thể là cái "Mọc ra từ Tui"= Mùi 味. Chữ Mùi 味 này là đồng âm dị nghĩa với chữ Mùi 位 (Một Tui) kia. Từ Mùi 位 là "một người" và từ Mùi 味 là cái "hơi bốc ra rất riêng" là hai từ đồng âm dị nghĩa, nên nho phải viết băng hai chữ biểu ý khác nhau để khỏi lầm lẫn ý khi đọc. Mùi 位 = Một Tui = =Mầm Sống = Mống thì nó đương nhiên là vui tươi. Nhấn mạnh bằng phụ từ khẳng định đứng sau thì "Vui Đi!"= Vị 位, và "Tươi Chứ!"= Tư 私. Bất cứ ai được tôn trọng cái Tư 私 thì đều vui tươi, bị tước đoạt mất cái tư (tức mất tự do) thì đều xịu "như mất sổ gạo" hay "như mất sổ hộ khẩu" (ở những xã hội không có áp đặt sổ gạo hay sổ hộ khẩu thì không gặp cảnh này). Thành ra chữ Mùi 位 cũng đọc là Vị 位, và chữ Mùi 味 cũng đọc là Vị 味. Nhưng âm tiết Mùi là có trước so với âm tiết Vị cho một chữ đó. Bàn thờ người quá cố nếu không có ảnh thì thường chỉ viết hai chữ Linh 靈 Vị 位 tức Hồn Người nhưng đã đi vào quá vãng, thờ cái hồn đã khuất của người quá cố. Linh Hồn là một từ đôi gồm tố âm là Linh và tố dương là Hồn. Linh thì nó ẩn vào thế giới âm, tức nó "Lánh Mình"= Linh 靈. Hồn là nó gắn với cơ thể sống là mình, ở thế giới dương, tức nó là cái "Hiện Tồn"= Hồn 魂. Dọa người sống thì nói "liệu hồn!" chứ không ai nói "liệu linh!". Dùng với thực phẩm thì có từ đôi Mùi Vị (chỉ viết bằng một chữ Vị 味), cũng chứng tỏ Mùi có trước Vị, tương tự như Mùa có trước Vụ nên có từ đôi Mùa Vụ. Từ của nhã ngữ (ngôn ngữ hàn lâm) có gốc là từ của ngôn ngữ dân gian Việt. Cái NÔI khái niệm bao la của tiếng Việt đã chỉ rõ "chạy trời không khỏi nắng". Về thể chất thì con người được cấu tạo nên bằng hai tố từ đất và từ trời như là hai nửa âm dương, tức Đất Trời = "Tất Cả" = "Tạo Hóa" = Ta. Và Ta = Gã = Gia 家 = Giả 者= Nhà = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我. Nhấn mạnh thì dùng từ đôi Ngã Mùi = Ngã Tui = "Ngã Tôi"= Ngôi = Người = Ngài = Ai. Vì Mùi 位 là Vị 位 nên cũng còn nhấn mạnh bằng từ đôi Ngã 我 Vị 位, lướt "Ngã Vị"= Nghỉ ("Gia cơ Nghỉ cũng thường thường bậc trung" – Kiều). Từ Nghỉ dùng để chỉ một người cụ thể nào đó, nó cũng đúng như khi khẳng định "Người Chi 之!“ = Nghỉ, "Ai Chi 之!" = Y. Từ Y cũng dùng để chỉ một người cụ thể nào đó, về sau để phân biệt, chỉ đàn bà thì ghép thêm thành từ Y Thị.

Chữ Mắt

Người Việt gọi hai thiên thể phát sáng nhiều nhất cho trái đất hưởng là Mặt trời và Mặt trăng. Từ Mặt ở đây không có nghĩa là bộ mặt, mà nó là sự nhấn mạnh từ Mắt bằng lướt từ lặp "Mắt Mắt"=Mặt, 1+1=0. Mắt thì ắt sáng nên có thể nhìn thấy mọi chỗ, tức có thể Lục Lọi = Săm Soi= Tìm Tòi, và "Tìm tòi tận trong sâu Thâm"= Tầm. Tầm tức Lục Lọi, mà "Lục ra để Coi"= Lọi, "Lục ra xem Sao"= Lạo=Trảo 找. Từ đôi Tầm Trảo 尋 找 (Hán ngữ pinyin: Xun Zhao). Mắt= Mục 目 = Lục = Lọi = Lãm 覽 = Liễm = Kiếm = Kiến 見 = Quan 觀.

Mắt sở dĩ nhìn thấy và hiểu được vật thể là do nó "Mở Óc"= Mọc. Nho viết từ Mọc bằng chữ Mộc 木 (giải thích của Thuyết Văn Giải Tự) vì "Mở Óc"= Mọc thì cũng như là "Mở Ốc"= Mộc, có mở ra khỏi cái vỏ ốc kín như bưng thì mới nhìn thấy bên ngoài, như ngày nay đang thi hành chính sách "mở cửa". Mặt trời cũng Mọc, Mặt trăng cũng Mọc, cái cây cũng Mọc từ cái Mắt của nó (như cây tre, cây mía, hột lúa). Chức năng của Mắt là để Nhìn. Nhìn = Nhãn 眼 = Nhòm = Dòm = Nom, nho viết từ Nhìn bằng chữ Nhãn 眼, Quan Thoại dung hòa "nhãn" và "dòm" mà đọc chữ Nhãn 眼 bằng pinyin là "Yan 眼". Âm tiết "yan" này cũng là nằm trong nôi khái niệm "nhìn" của tiếng Việt mà thôi, như "chạy trời không khỏi nắng". Ở hột cây là khi nó "Mắt Đâm"= Mầm, cũng là "Nhãn nhú Ra"= Nha 芽, nho viết từ Mầm bằng chữ Nha 芽.

Khi ra đời, con Mắt biết nhìn thì Bắt gặp cái gì sẽ nhận thức để Biết được cái đó, biết một cái là Biết thứ nhất, biết hai cái là Biết thứ hai. Hai cái Biết này so sánh với nhau, tức "Biết Biết"= Biệt 別, 1+1=0, là có thế phân biệt chính xác rõ ràng 0 hề có sai số. Từ Điển Yếu Tố Hán Việt XB 1991 giải thích chữ Biệt 別 là "từ gốc Hán" , trang 40.

Nhà ngoại giao khi đối thoại vận dụng chỉ con Mắt và cái Miệng của mình. Con Mắt ngoại giao thì tinh đời, nhìn là đoán được ý của người đối thoại, "Mắt Tinh"= Minh 明. Chữ Minh 明 này gồm hai con mắt (tựa như hai chữ Mục 目目) là cái sáng của trời (Nhật 日) và cái sáng của trăng (Nguyệt 月), vậy Minh 明 quả là hoàn hảo, vừa đủ hai mắt, vừa đủ âm dương (nguyệt/nhật). Cái Miệng ngoại giao thì biết nói lời bặt thiệp. Bặt là nhấn mạnh ý Bắt người đối thoại kia, "Bắt Bắt"= Bặt, bắt người kia phải "Thỏa Hiệp"= Thiệp với ý mà miệng mình nói ra, tức phải thuận theo. Chữ Thiếp viết là 帖 hay 貼, cũng đọc là Thiệp, có nghĩa là thuận theo, thuận theo thì tức là "Thỏa Hiệp"= Thiệp, mà Thiệp nhiều thì "Thiệp Thiệp"= Thiếp 帖. Chữ Thiếp 帖 này đồng âm dị nghĩa với chữ Thiếp 妾 nghĩa là vợ lẽ, tức vợ tiếp theo vợ cả. Vợ tiếp thì nho viết là "Thê Tiếp"= Thiếp 妾, còn vợ cả thì nho viết bằng chữ Thê 妻, do muốn biểu ý chỉ cái người con gái đã "Thành Tề"= Thê, tức đã thành là như một với chồng (Tề tựu), và để làm chức năng "Tề gia nội trợ", nên "Thành Tề"= Thê. Thê 妻 và Thiếp 妾 là từ của nho Việt chứ không phải "từ gốc Hán" như từ điển đã dẫn giải thích (trang 377). Hán ngữ gọi theo kết cấu Chồng Vợ là "Phu Phụ", trong khi tiếng Việt gọi theo kết cấu mẫu hệ là Vợ Chồng. Gốc từ nguyên của cặp Vợ/ Chồng này là do hình ảnh cặp sinh thực khí Chờ/Chống, Cái thì đang chờ, còn Đực thì đang chống lên để chuẩn bị vô. ( Ca dao "Bây giờ Mận mới hỏi Đào. Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì Đào xin thưa. Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào"). Khi đã được Vô cho đã cái Chờ thì đã thành "Vô cho đã Chờ"= Vợ. Còn đực chống rồi nằm đè lên trên gọi là Chồng (chống lên rồi chồng lên). Gốc của từ Chống (lên) lại là từ Giống là con Giống. Cái Giống Người tức Giống Cần (tiếng Tày từ "Cần" nghĩa là "Người"), nên cái "Giống Cần"= Dân, chính là Dân. Giống thì để làm chức năng Gieo, "Gieo Giống"= Giồng. Giồng = Trồng 種(trồng trọt hay giồng giọt)=Chồng=Chủng 種(chủng tộc). Nho viết từ Giống=Giồng=Trồng chỉ bằng một chữ Chủng 種. Vì hễ Trồng thì phải Nhúng cái giống vào chỗ cần nhúng, nên động tác là "Trồng Nhúng" = Trủng. Quan Thoại phát âm chữ Chủng 種 là "trủng" (pinyin: "zhong 種") . Từ ghép Con Giống tức Tử 子Chủng 種(Con = Kô 子 = Cu = Tu = Tủa = Tử 子) thì Quan Thoại theo cú pháp ngược, gọi là Chủng 種 Tử 子. Chữ Chủng 種 gồm bộ Hòa 禾 là cây lúa và chữ Trụng 重 = Trúng 重 = Trùng 重, là biểu ý động tác cấy, cắm cây mạ xuống bùn ("Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa"). Từ Chủng 種 trước tiên là ngôn từ của nông nghiệp trồng trọt, đã được lấy để ghép thành từ Chủng Tộc, rồi cả từ ghép Chủng Viện, Binh Chủng v.v. Vậy từ nguyên của từ ghép này là của Việt hay của Hán? Từ điển đã dẫn giải thích chữ Chủng 種 là "từ gốc Hán", trang 75.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

14. Phụ từ khẳng định đứng sau từ:

Từ để khẳng định đứng sau như là một phụ từ, lướt thì ra từ mới viết bằng chữ nho, đó cũng là một cách “nén thông tin” của nhà nho khi đặt chữ (cho ngôn từ hàn lâm). Từ khẳng định như: Ạ!=Là!=Dạ!=Dã也!=Cà!=Kìa!=Kia!=Co 的! (Việt Đông đọc chữ Đích 的 )=Có!=Cơ!= “Tơ 的!” (Quan Thoại đọc chữ Đích 的 )= Chớ! = Chứ! = Chi 之 != Đi != Đó! =Đấy! =Đếx !(tiếng Nhật, khẳng định sau từ) =Đích 的.! Khi nói câu “Đất kia đất ở chẳng đi” nghĩa là chỗ đất ấy nó đứng một chỗ nó không di đâu cả. Nho đã “nén” câu đó chỉ bằng hai chữ Địa 地 Chỉ 址. Vì đã lướt “Đất Kia!”= Địa 地 (nó là đất kìa, là đất cơ mà, không phải là cái gì khác, gọi nó cách khẳng định là Địa, nho viết bằng chữ Địa 地) ; lướt “Chẳng Đi!”= Chỉ 止 Chỉ 址là cái đứng yên, đất đứng yên gọi là địa chỉ, đứng yên thì nó sẽ chiếm một chỗ, vì lướt từ đôi “Chỉ Đỗ”= Chỗ. Đỗ là do lướt “Đứng Họ”= ”Đứng Hộ”= Đỗ (Họ! là “đứng lại!”, dùng lệnh cho con trâu. Hộ là “Họp một Chỗ”= Hộ, lướt “Đông Hộ”= Đô. Kinh Đô là nơi người Kinh ở đông hộ). Lướt “Đứng Hộ”= Đỗ. Nói nơi chim đỗ, hay nói nơi đỗ xe thì không phải là cho một con chim hay một cái xe mà là cho nhiều con nhiều cái “Đứng họp một Chỗ”= Đỗ. “Họ” nghĩa là đứng lại, tiếng lệnh của người Kinh cho con trâu. Lướt từ đôi “Đỗ Dừng”= Đứng, mà lướt từ đôi “Đứng Họ”= Đõ, lại là từ chỉ cái đõ ong. Cái Đõ ong thì nó đứng yên, nó là địa chỉ chung của cả bầy ong.

Cái bé nhất là cái ban đầu, nó là I trong NÔI khái niệm (I = Innegative) là cái Tí=Tố , dương, nó là một thể động, nhấn mạnh bằng khẳng định “Động Chi 之!”= Đi. Có động và đi nó mới bẳt đầu Nở để mà “Nở Ấy”= Nậy (lớn lên), sinh ra cái tố N là Negative tức âm, từ đó mà có tương tác dương âm để sinh ra vũ trụ. Cả cái NÔI khái niệm bao la ấy của ngôn từ Việt đã chỉ ra rằng “chạy trời không khỏi nắng”. Cái Tí nào cũng là cái “Vẫn Tí”= Vi, Tí Vi = Tế Vi, là từ đôi để nhấn mạnh cái nhỏ nhất. Cái Vi nào khi hết (biến mất hay lui vào quá khứ) cũng để lại cái “Vi Hết”= Vệt, Vết ấy nhấn mạnh bằng từ lặp “Vệt Vệt”= Vết, 0+0=1, Vết ấy là cái Tí, nhấn mạnh bằng khẳng định “Tí Đích 的!”= Tích, nên lại nhấn mạnh bằng từ đôi Vết Tích (Kiếm đâu ra “từ gốc Hán” trong khi đang giải thích ngôn từ ở đây).

Từ Điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng của Viện Ngôn ngữ, NXB KHXH Hà Nội xuất bản năm 1991 viết ở Lời nói đầu, trang 5: “Những khảo cứu bước đầu của chúng tôi cho thấy có khoảng 4500 yếu tố Hán - Việt đơn tiết đang hoạt động trong tiếng Việt hiện đại với các chức năng khác nhau. Một bộ phận (nhỏ) hoạt động trong tư cách các từ độc lập. Chúng là những từ gốc Hán đã Việt hóa hoàn toàn, nghĩa là cả về ngữ âm lẫn ngữ pháp, chúng đã nhiễm được các đặc tính ngữ âm và đặc tính ngữ pháp của từ Việt. Đó là các từ như Dân,...,...”. Phân tích nguồn gốc của từ Dân: Chính các vị vẫn mở miệng nói “Con Dân nước Việt” mà các vị lại nói rằng từ Dân là từ gốc Hán, tức từ của người Hãn (tộc Nữ Chân) ? Từ Con Dân là một từ đôi, từ đôi thì ghép theo thứ tự từ xuất hiện trước đứng trước, từ xuất hiện sau đứng sau. Con là từ gốc xa xưa nhất chỉ con người, con vật rồi biến thái chỉ cả những cái ở trạng thái động (giống như con người và con vật) là con sông, con thuyền, con xe, v.v. Từ Con tiếng Nam Bộ và tiếng Khơ Me phát âm là “Coong”. Nhưng nhìn từ CON, với cái sinh ra mọi khái niệm ngôn ngữ là từ NÔI ( "Nó sinh ra mọi lời nói của Tôi"= NÔI ), với cái ĐHÂD gồm con Nọc và con Nòng o bế nhau trong cái vòng tròn, thì chúng có cấu trúc rất giống nhau: CON có C là Cộc và N là Nái dính với nhau bằng O là o bế nhau như con Nòng và con Nọc quấn tròn lấy nhau trong ĐHÂD. Bởi mỗi CON là một thể cân bằng âm dương, (Con=Cân). Con Người là một từ đôi, gọi là Con cũng được, gọi là Người cũng được, nhưng từ Con rõ ràng là xuất hiện trước từ Người. Và từ Kinh chính là do lướt "Cân bằng hai cái Minh"= "Kẻ Mình" = Kinh, nho viết chữ Kinh 京 (gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Túc=Tiểu 小). Con= Can 干 = Cán 干 = Quan 官 = Quân 军 = Quân 君 = Nhân 人 = Dân 民 (phát âm tương ứng theo pinyin của Hán ngữ hiện đại là: Ér – Gan – Gan – Guan – Jun – Jun – Ren – Min). Hai cái âm dương cân bằng trong Con nên "Cân Cân"= Cần , 0+0=1, (tiếng Tày gọi "Cần" nghĩa là Người), và tiếng Kinh lại gọi cái giống người ấy là "Giống Cần"= Dân. Con là "Con Đẻ" = Kẻ. Con lại là Dân, nên Con cũng là Mình và Dân cũng là Mình, nên cũng gọi bằng từ đôi thì "Mình Dân"= Mân. Mân là người mình mà ở đất Phúc Kiến, Mân Việt nghĩa là Người Việt. Từ đôi "Dân Mân"= Dằn 人 (tiếng Việt Đông)= Nhân 人. Từ đôi "Mình Dằn"= Mằn 民 (tiếng Việt Đông)= Dân 民. Nhân 人= "Rấn人" (Quan Thoại pinyin "Rén 人"). Dân=Mân=Mằn="Mín 民" (Quan Thoại pinyin: "Mín 民").

Một là cái "Một Tôi"= Mỗi. "Mỗi Đẻ"= Mẹ. Mẹ đẻ ra cái Mầm là cái "Mầm Sống"= Mống. Mầm cũng là Mống, nhấn mạnh thì dùng từ đôi Mầm Mống. Có Nhân mới có Quả, nên cái gì cũng bắt đầu từ Mầm Mống của nó, kể cả vũ trụ. Con người là một cá thể của Nòi. Một của Nòi mà lướt thì là "Một cá thể của Nòi"= Mọi, nên Mọi có nghĩa là một người. Người cũng có nghĩa là một người. Con cũng có nghĩa là một người. Nhân cũng có nghĩa là một người. Dân cũng có nghĩa là một người. Những từ đôi Con Dân, Con Người, Mọi Người, Nhân Dân, Người Dân là từ số nhiều, chỉ quần chúng nói chung. "Một Tôi"= Mỗi = Mọi, cũng như "Một Tui"= Mùi 位, nho viết biểu ý chữ Mùi 位 là Nhân 亻với Lập 立 (Lẻ -Loi). Mùi 位 ấy là một người (Một Tui). Bản thân mỗi người là một "Mầm Sống"= Mống nên nó có một Mùi 味 riêng của cơ thể (con chó nó biết đánh hơi để phân biệt ra). Cái hơi bốc ra rất riêng từ mỗi cơ thể là cái "Mọc ra từ Tui"= Mùi 味. Chữ Mùi 味 này là đồng âm dị nghĩa với chữ Mùi 位 (Một Tui) kia. Từ Mùi 位 là "một người" và từ Mùi 味 là cái "hơi bốc ra rất riêng" là hai từ đồng âm dị nghĩa, nên nho phải viết băng hai chữ biểu ý khác nhau để khỏi lầm lẫn ý khi đọc. Mùi 位 = Một Tui = =Mầm Sống = Mống thì nó đương nhiên là vui tươi. Nhấn mạnh bằng phụ từ khẳng định đứng sau thì "Vui Đi!"= Vị 位, và "Tươi Chứ!"= Tư 私. Bất cứ ai được tôn trọng cái Tư 私 thì đều vui tươi, bị tước đoạt mất cái tư (tức mất tự do) thì đều xịu "như mất sổ gạo" hay "như mất sổ hộ khẩu" (ở những xã hội không có áp đặt sổ gạo hay sổ hộ khẩu thì không gặp cảnh này). Thành ra chữ Mùi 位 cũng đọc là Vị 位, và chữ Mùi 味 cũng đọc là Vị 味. Nhưng âm tiết Mùi là có trước so với âm tiết Vị cho một chữ đó. Bàn thờ người quá cố nếu không có ảnh thì thường chỉ viết hai chữ Linh 靈 Vị 位 tức Hồn Người nhưng đã đi vào quá vãng, thờ cái hồn đã khuất của người quá cố. Linh Hồn là một từ đôi gồm tố âm là Linh và tố dương là Hồn. Linh thì nó ẩn vào thế giới âm, tức nó "Lánh Mình"= Linh 靈. Hồn là nó gắn với cơ thể sống là mình, ở thế giới dương, tức nó là cái "Hiện Tồn"= Hồn 魂. Dọa người sống thì nói "liệu hồn!" chứ không ai nói "liệu linh!". Dùng với thực phẩm thì có từ đôi Mùi Vị (chỉ viết bằng một chữ Vị 味), cũng chứng tỏ Mùi có trước Vị, tương tự như Mùa có trước Vụ nên có từ đôi Mùa Vụ. Từ của nhã ngữ (ngôn ngữ hàn lâm) có gốc là từ của ngôn ngữ dân gian Việt. Cái NÔI khái niệm bao la của tiếng Việt đã chỉ rõ "chạy trời không khỏi nắng". Về thể chất thì con người được cấu tạo nên bằng hai tố từ đất và từ trời như là hai nửa âm dương, tức Đất Trời = "Tất Cả" = "Tạo Hóa" = Ta. Và Ta = Gã = Gia 家 = Giả 者= Nhà = Ngã 我 = Ngô 吾 = Ngộ 我. Nhấn mạnh thì dùng từ đôi Ngã Mùi = Ngã Tui = "Ngã Tôi"= Ngôi = Người = Ngài = Ai. Vì Mùi 位 là Vị 位 nên cũng còn nhấn mạnh bằng từ đôi Ngã 我 Vị 位, lướt "Ngã Vị"= Nghỉ ("Gia cơ Nghỉ cũng thường thường bậc trung" – Kiều). Từ Nghỉ dùng để chỉ một người cụ thể nào đó, nó cũng đúng như khi khẳng định "Người Chi 之!“ = Nghỉ, "Ai Chi 之!" = Y. Từ Y cũng dùng để chỉ một người cụ thể nào đó, về sau để phân biệt, chỉ đàn bà thì ghép thêm thành từ Y Thị.

Chữ Mắt

Người Việt gọi hai thiên thể phát sáng nhiều nhất cho trái đất hưởng là Mặt trời và Mặt trăng. Từ Mặt ở đây không có nghĩa là bộ mặt, mà nó là sự nhấn mạnh từ Mắt bằng lướt từ lặp "Mắt Mắt"=Mặt, 1+1=0. Mắt thì ắt sáng nên có thể nhìn thấy mọi chỗ, tức có thể Lục Lọi = Săm Soi= Tìm Tòi, và "Tìm tòi tận trong sâu Thâm"= Tầm. Tầm tức Lục Lọi, mà "Lục ra để Coi"= Lọi, "Lục ra xem Sao"= Lạo=Trảo 找. Từ đôi Tầm Trảo 尋 找 (Hán ngữ pinyin: Xun Zhao). Mắt= Mục 目 = Lục = Lọi = Lãm 覽 = Liễm = Kiếm = Kiến 見 = Quan 觀.

Mắt sở dĩ nhìn thấy và hiểu được vật thể là do nó "Mở Óc"= Mọc. Nho viết từ Mọc bằng chữ Mộc 木 (giải thích của Thuyết Văn Giải Tự) vì "Mở Óc"= Mọc thì cũng như là "Mở Ốc"= Mộc, có mở ra khỏi cái vỏ ốc kín như bưng thì mới nhìn thấy bên ngoài, như ngày nay đang thi hành chính sách "mở cửa". Mặt trời cũng Mọc, Mặt trăng cũng Mọc, cái cây cũng Mọc từ cái Mắt của nó (như cây tre, cây mía, hột lúa). Chức năng của Mắt là để Nhìn. Nhìn = Nhãn 眼 = Nhòm = Dòm = Nom, nho viết từ Nhìn bằng chữ Nhãn 眼, Quan Thoại dung hòa "nhãn" và "dòm" mà đọc chữ Nhãn 眼 bằng pinyin là "Yan 眼". Âm tiết "yan" này cũng là nằm trong nôi khái niệm "nhìn" của tiếng Việt mà thôi, như "chạy trời không khỏi nắng". Ở hột cây là khi nó "Mắt Đâm"= Mầm, cũng là "Nhãn nhú Ra"= Nha 芽, nho viết từ Mầm bằng chữ Nha 芽.

Khi ra đời, con Mắt biết nhìn thì Bắt gặp cái gì sẽ nhận thức để Biết được cái đó, biết một cái là Biết thứ nhất, biết hai cái là Biết thứ hai. Hai cái Biết này so sánh với nhau, tức "Biết Biết"= Biệt 別, 1+1=0, là có thế phân biệt chính xác rõ ràng 0 hề có sai số. Từ Điển Yếu Tố Hán Việt XB 1991 giải thích chữ Biệt 別 là "từ gốc Hán" , trang 40.

Nhà ngoại giao khi đối thoại vận dụng chỉ con Mắt và cái Miệng của mình. Con Mắt ngoại giao thì tinh đời, nhìn là đoán được ý của người đối thoại, "Mắt Tinh"= Minh 明. Chữ Minh 明 này gồm hai con mắt (tựa như hai chữ Mục 目目) là cái sáng của trời (Nhật 日) và cái sáng của trăng (Nguyệt 月), vậy Minh 明 quả là hoàn hảo, vừa đủ hai mắt, vừa đủ âm dương (nguyệt/nhật). Cái Miệng ngoại giao thì biết nói lời bặt thiệp. Bặt là nhấn mạnh ý Bắt người đối thoại kia, "Bắt Bắt"= Bặt, bắt người kia phải "Thỏa Hiệp"= Thiệp với ý mà miệng mình nói ra, tức phải thuận theo. Chữ Thiếp viết là 帖 hay 貼, cũng đọc là Thiệp, có nghĩa là thuận theo, thuận theo thì tức là "Thỏa Hiệp"= Thiệp, mà Thiệp nhiều thì "Thiệp Thiệp"= Thiếp 帖. Chữ Thiếp 帖 này đồng âm dị nghĩa với chữ Thiếp 妾 nghĩa là vợ lẽ, tức vợ tiếp theo vợ cả. Vợ tiếp thì nho viết là "Thê Tiếp"= Thiếp 妾, còn vợ cả thì nho viết bằng chữ Thê 妻, do muốn biểu ý chỉ cái người con gái đã "Thành Tề"= Thê, tức đã thành là như một với chồng (Tề tựu), và để làm chức năng "Tề gia nội trợ", nên "Thành Tề"= Thê. Thê 妻 và Thiếp 妾 là từ của nho Việt chứ không phải "từ gốc Hán" như từ điển đã dẫn giải thích (trang 377). Hán ngữ gọi theo kết cấu Chồng Vợ là "Phu Phụ", trong khi tiếng Việt gọi theo kết cấu mẫu hệ là Vợ Chồng. Gốc từ nguyên của cặp Vợ/ Chồng này là do hình ảnh cặp sinh thực khí Chờ/Chống, Cái thì đang chờ, còn Đực thì đang chống lên để chuẩn bị vô. ( Ca dao "Bây giờ Mận mới hỏi Đào. Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì Đào xin thưa. Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào"). Khi đã được Vô cho đã cái Chờ thì đã thành "Vô cho đã Chờ"= Vợ. Còn đực chống rồi nằm đè lên trên gọi là Chồng (chống lên rồi chồng lên). Gốc của từ Chống (lên) lại là từ Giống là con Giống. Cái Giống Người tức Giống Cần (tiếng Tày từ "Cần" nghĩa là "Người"), nên cái "Giống Cần"= Dân, chính là Dân. Giống thì để làm chức năng Gieo, "Gieo Giống"= Giồng. Giồng = Trồng 種(trồng trọt hay giồng giọt)=Chồng=Chủng 種(chủng tộc). Nho viết từ Giống=Giồng=Trồng chỉ bằng một chữ Chủng 種. Vì hễ Trồng thì phải Nhúng cái giống vào chỗ cần nhúng, nên động tác là "Trồng Nhúng" = Trủng. Quan Thoại phát âm chữ Chủng 種 là "trủng" (pinyin: "zhong 種") . Từ ghép Con Giống tức Tử 子Chủng 種(Con = Kô 子 = Cu = Tu = Tủa = Tử 子) thì Quan Thoại theo cú pháp ngược, gọi là Chủng 種 Tử 子. Chữ Chủng 種 gồm bộ Hòa 禾 là cây lúa và chữ Trụng 重 = Trúng 重 = Trùng 重, là biểu ý động tác cấy, cắm cây mạ xuống bùn ("Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa"). Từ Chủng 種 trước tiên là ngôn từ của nông nghiệp trồng trọt, đã được lấy để ghép thành từ Chủng Tộc, rồi cả từ ghép Chủng Viện, Binh Chủng v.v. Vậy từ nguyên của từ ghép này là của Việt hay của Hán? Từ điển đã dẫn giải thích chữ Chủng 種 là "từ gốc Hán", trang 75.

Chữ Chủng 種 nguyên gốc đọc là Giống, một từ của tiếng Việt. Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn cách đọc là Trực 直 Dung 容 thiết tức là lướt '"Trực 直 Dung 容"= Trủng (pinyin: Zhong = "trủng"). Đây chỉ là cách đọc, mượn hai âm "trứ" (pinyin chữ Trực 直 - Zhi) và "rúng" (pinyin chữ Dung 容- Rong), không có logic gì giữa Chủng 種 (giống) với Trực 直 (thẳng) và Dung 容 (dung nhan). Theo cách thiết này, ở đây đọc đúng giọng của Hán ngữ hiện đại. Nhưng sách đây là sách do người đời sau biên và chú, sửa cho đúng giọng đương đại. Bản thân cuốn gốc của Thuyết Văn Giải Tự thì không còn. Tương truyền nó chỉ có 9784 chữ cách nay gần 2000 năm (ngày nay cuốn Thuyết Văn Giải Tự đương đại có thể có đến khoảng 60000 chữ, đương nhiên người soạn lại sẽ thiết theo giọng đương đại) Nhưng ngoài đọc phần "thiết" còn có thể đọc phần "giải", nghĩa của chữ Chủng 種 là: Tiên Trồng Hậu Thục, tức kẻ trước chỉ biết việc là gieo giống, còn kẻ sau là ai, về tay ai, thì chưa biết (chữ Thục 孰, nghĩa là "Thấy Lục"= Thục 孰, nghĩa là còn nghi ngờ, còn phải 'lục vấn", chưa biết là cái gì, thuộc ai. Trồng chưa chắc đã được ăn, gieo giống chưa chắc đã là con mình). Và còn giải thích: Chủng 種 là chữ giả tá, tức mượn âm, mượn âm của chữ Hòa 禾, "Tùng Hòa Trùng Thanh". Phân tích: Chữ Hòa 禾 vốn là chữ nho của người Việt, nghĩa là Giống lúa, mà lúa thì để giống bằng hột, nên cái hột Giống ở đây là "Hột lúa Ta"= Hòa禾, "Hột Lúa”= Húa, nên Quan Thoại đọc lơ lớ chữ Hòa 禾 là “hứa” (pinyin: Hé). Thành ra chữ Hòa vừa đọc là Giống, vừa đọc là Hòa. Âm cổ hơn của chữ Dung 容 là Dong ("Trông mặt mà bắt hình Dong", dong nhan), nên thiết "Trực Dong"= Trồng, âm "trồng" này mới đúng là "Tùng Giống Trùng Thanh", như giải thích trên của Thuyết Văn Giải Tự, ("Giống" là một âm khác để đọc chữ Hòa). Vậy thì đúng là chữ Chủng 種 (trong từ ghép Chủng tộc, binh Chủng, Chủng viện v.v.) là nằm trong NÔI khái niệm của Việt, "chạy trời không khỏi nắng": Giống=Trồng=Trụng=Trúng=Trùng=Chủng (động tác gieo hột cây, gieo tinh trùng hay tiêm vắc-xin thì cũng đều là "Chọc Nhúng"= Chủng. Người có gieo giống cho người thì mới có giống người, mà Giống Người thì tiếng Tày gọi là "Giống Cần"= Dân, chỉ có Dân mới là cái hạt giống quí nhất. Phần chú giải trong Thuyết Văn Giải Tự viết: Thời của sách Chu Lễ 周 禮 thì viết chữ Chủng 穜 là Hòa 禾 + Lập 立 + Lý 里, tức mượn âm " Giống" của chữ Hòa 禾 và biểu ý "Trồng" là chữ đứng ( Lẻ-Loi= Lập 立, "Em xinh em đứng một mình cũng xinh" là chữ Mùi=Vị 位, "Ta Mùi"= Tui và "Ngã Mùi"= Người) với chữ Lý 里, là "Lõi Đi!"= " Lõi Chi 之!"= Lý 里. Tức là giống thì phải cắm vô bên trong, gieo hột cây thì cắm hột cây vô trong đất, gieo tinh trùng thì cắm vô thịt (ca dao "Dao đâm vào thịt thì đau. Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời"), đều gọi là Chủng 穜, như tá thanh, biểu ý của chữ Trồng, "vì lợi ích trăm năm trồng người". Thời của sách Mao Thi 毛 詩 thì viết chữ Chủng 種, còn cho đến ngày nay vì đơn giản hơn chút ít. Chữ Chủng 種 này ngoài mượn âm chữ Giống (bộ Hòa 禾), phần biểu ý là chữ Can 干 bên trên (nghĩa là cái Cần như cần câu để Cắm) và chữ Lý 里 ở dưới, cũng tức là gieo giống là phải cắm vô trong.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chữ Chủng 種 nguyên gốc đọc là Giống, một từ của tiếng Việt. Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn cách đọc là Trực 直 Dung 容 thiết tức là lướt '"Trực 直 Dung 容"= Trủng (pinyin: Zhong = "trủng"). Đây chỉ là cách đọc, mượn hai âm "trứ" (pinyin chữ Trực 直 - Zhi) và "rúng" (pinyin chữ Dung 容- Rong), không có logic gì giữa Chủng 種 (giống) với Trực 直 (thẳng) và Dung 容 (dung nhan). Theo cách thiết này, ở đây đọc đúng giọng của Hán ngữ hiện đại. Nhưng sách đây là sách do người đời sau biên và chú, sửa cho đúng giọng đương đại. Bản thân cuốn gốc của Thuyết Văn Giải Tự thì không còn. Tương truyền nó chỉ có 9784 chữ cách nay gần 2000 năm (ngày nay cuốn Thuyết Văn Giải Tự đương đại có thể có đến khoảng 60000 chữ, đương nhiên người soạn lại sẽ thiết theo giọng đương đại) Nhưng ngoài đọc phần "thiết" còn có thể đọc phần "giải", nghĩa của chữ Chủng 種 là: Tiên Trồng Hậu Thục, tức kẻ trước chỉ biết việc là gieo giống, còn kẻ sau là ai, về tay ai, thì chưa biết (chữ Thục 孰, nghĩa là "Thấy Lục"= Thục 孰, nghĩa là còn nghi ngờ, còn phải 'lục vấn", chưa biết là cái gì, thuộc ai. Trồng chưa chắc đã được ăn, gieo giống chưa chắc đã là con mình). Và còn giải thích: Chủng 種 là chữ giả tá, tức mượn âm, mượn âm của chữ Hòa 禾, "Tùng Hòa Trùng Thanh". Phân tích: Chữ Hòa 禾 vốn là chữ nho của người Việt, nghĩa là Giống lúa, mà lúa thì để giống bằng hột, nên cái hột Giống ở đây là "Hột lúa Ta"= Hòa禾, "Hột Lúa”= Húa, nên Quan Thoại đọc lơ lớ chữ Hòa 禾 là “hứa” (pinyin: Hé). Thành ra chữ Hòa vừa đọc là Giống, vừa đọc là Hòa. Âm cổ hơn của chữ Dung 容 là Dong ("Trông mặt mà bắt hình Dong", dong nhan), nên thiết "Trực Dong"= Trồng, âm "trồng" này mới đúng là "Tùng Giống Trùng Thanh", như giải thích trên của Thuyết Văn Giải Tự, ("Giống" là một âm khác để đọc chữ Hòa). Vậy thì đúng là chữ Chủng 種 (trong từ ghép Chủng tộc, binh Chủng, Chủng viện v.v.) là nằm trong NÔI khái niệm của Việt, "chạy trời không khỏi nắng": Giống=Trồng=Trụng=Trúng=Trùng=Chủng (động tác gieo hột cây, gieo tinh trùng hay tiêm vắc-xin thì cũng đều là "Chọc Nhúng"= Chủng. Người có gieo giống cho người thì mới có giống người, mà Giống Người thì tiếng Tày gọi là "Giống Cần"= Dân, chỉ có Dân mới là cái hạt giống quí nhất. Phần chú giải trong Thuyết Văn Giải Tự viết: Thời của sách Chu Lễ 周 禮 thì viết chữ Chủng 穜 là Hòa 禾 + Lập 立 + Lý 里, tức mượn âm " Giống" của chữ Hòa 禾 và biểu ý "Trồng" là chữ đứng ( Lẻ-Loi= Lập 立, "Em xinh em đứng một mình cũng xinh" là chữ Mùi=Vị 位, "Ta Mùi"= Tui và "Ngã Mùi"= Người) với chữ Lý 里, là "Lõi Đi!"= " Lõi Chi 之!"= Lý 里. Tức là giống thì phải cắm vô bên trong, gieo hột cây thì cắm hột cây vô trong đất, gieo tinh trùng thì cắm vô thịt (ca dao "Dao đâm vào thịt thì đau. Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời"), đều gọi là Chủng 穜, như tá thanh, biểu ý của chữ Trồng, "vì lợi ích trăm năm trồng người". Thời của sách Mao Thi 毛 詩 thì viết chữ Chủng 種, còn cho đến ngày nay vì đơn giản hơn chút ít. Chữ Chủng 種 này ngoài mượn âm chữ Giống (bộ Hòa 禾), phần biểu ý là chữ Can 干 bên trên (nghĩa là cái Cần như cần câu để Cắm) và chữ Lý 里 ở dưới, cũng tức là gieo giống là phải cắm vô trong.

Phụ từ đứng sau từ, có tính chất như là khẳng định cho từ đó, hay cùng với từ đó làm thành một mệnh lệnh, khi lướt câu sẽ cho ra một từ mới. Điều này cũng thấy trong hình thành tên gọi các bộ thủ. Phụ từ khẳng định thường dùng nhiều nhất là chữ Đi!, nho thường dùng chữ Chi 之!. Ta hãy điểm qua tên gọi một số bộ thủ: Đầu tiên là ý nghĩa của bộ thủ đó, tiếp đến trong ngoặc đơn là tên gọi của bộ thủ đó kèm chữ nho, tiếp đến là minh chứng sự hình thành tên gọi bộ thủ đó là do lướt với phụ từ khẳng định, cuối cùng trong ngoặc vuông là pinyin tên gọi bộ thủ đó trong Hán ngữ hiện đại.

1/ Vi, Vây - (Bộ Vi 囗) - “Vuông Đi!”= Vi, “Vuông Đấy!”= Vây - [ Wei ]

2/ Cái bàn con – (Bộ Kỷ 几) – Cái Kê = Cái Kệ, “Kê Đi!”= Kỷ - [ Ji ]

3/ Xa xôi – (Bộ Cung 冂) – Xa xôi tức đến tận cuối cùng, “Cuối Cùng”= Cung - [ Gong ]

4/ Che đậy – (Bộ Mật 冖) – Che thì phải kín mít toàn bộ, tức “Mịt Tất” = Mật – [ Mi ]

5/ Mở mồm – (Bộ Khảm 凵) – Mở mồm là “Khai Mõm”= Khảm - [ Kan ]

6/ Chậm – (Bộ Tủy 夊) - “Từ từ Đi!”= Tủy - [ Sui ]

7/ Nét chấm – (Bộ Chủ 丶) - “Chấm Chứ!”= Chủ – [ Zhu ]

8/ Cái móc – (Bộ Quyết 亅) - “Câu móc Tuyệt!”= Quyết - [ Jue ]

9/ Băng – (Bộ Băng 冫) - “Buốt mà im Lặng” = Băng - [ Bing ]

10/ Bọc – (Bộ Bao勹) - “Bọc Vào!”= Bao - [ Bao ]

11/Kiếm ngắn – (Bộ Tỷ匕) - “Tay đánh gần Đi!”= Tỷ - [ Bi ]

12/ So sánh – (Bộ Tỉ 比) - “Tay so gang coi có bằng Chi”= Tỉ - [ Bi ]

13/Sức – (Bộ Lực 力) - “Là Sức”= Lực - [ Li ]

14/ Che – (Bộ Hễ 匸) - “Hãy che như Thế!”= Hễ - [ Xi ]

15/ Toàn thể – ( Bộ Thập 十) - “Thảy tụ Tập”= Thập - [ Shi ]

16/ Cái hang để ở – (Bộ Hãn 厈) - “Hang đất để ở là của người Hãn”= Hãn - [ Han ]

17/ Riêng – (Bộ Tư 厶) - “Ta Chứ!”= Tư - [ Si ]

18/Đêm tối – (Bộ Tịch 夕) - “Tối mịt Đích!”= Tịch - [ Xi ]

19/Xồm Xoàm – (Bộ Sam 彡) - “Sồm Soàm”= Sam - [ Shan ]

20/Nhấc chân – (Bộ Xích 彳) - “Xách cất chân Đích!”=Xích - [ Chi ]

21/ Tâm – (Bộ Tâm 忄, 心) - “Ta Âm”= Tâm - [ Xin ]

22/ Huyện – (Bộ Ấp 邑,) - “Ở đông người tấp Nập”= Ấp - [ Yi ]

23/ Cái gò – (Bộ Phụ 阝,阜) - “Phồng đất lên to Ụ”= Phụ - [ Fu ]

24/Nước – (Bộ Thủy 氵,水) - “Thâm Thúy”= Thủy (màu Lầm của Nậm ở sâu) - [ Shui ]

25/ Văn – (Bộ Văn 文 ) - “Vuông Vắn”= Văn – [ Wen ]

26/Nhà – (Bộ Hộ 戶) - “Họp lại đông người ở một Chỗ”= Hộ - [ Hu ]

27/ Va đập – (Bộ Phốc 攴) - “Phang nhanh như Tốc”= Phốc - [ Pu ]

28/ Nói ra – (Bộ Viết 曰) - “Việt Nói” = Viết (lướt lủn) - [ Yue ]

29/ Trăng – (Bộ Nguyệt 月) - “Ngời sáng Thiệt!”= Nguyệt [ Yue]

30/Không – (Bộ Vô 毋) - “Vắng cũng là Mô”= Vô - [ Wu ]

31/ Hỏng – (Bộ Đãi 歹) - “Đểnh đoảng Mãi”= Đãi – [Dai ]

32/ Vũ Khí – (Bộ Thù 殳) - “Thành đấu Thủ”= Thù - [ Shu ]

33/ Dừng – (Bộ Chỉ 止) - “Chẳng Đi”= Chỉ - [ Zhi ]

34/ Thiếu – (Bộ Khiếm 欠) - “Khó Kiếm”= Khiếm - [ Qian ]

35/ Mốc – (Bộ Mao 毛) - “Mốc meo Vào!”= Mao - [ Mao ]

36/Dòng họ – (Bộ Thị 氏) - “Thành ổ Đi!”= Thị

37/ Không khí – (Bộ Khí 氣) - “Không nhìn sờ thấy Chi!”= Khí - [ Qi ]

38/Lửa – (Bộ Hỏa 火,灬) - “Hửng nắng là tóe Lả”= Hỏa - [ Huo ]

39/Bố – (Bộ Phụ 父) – Chức năng con đực là “Phải Đụ”= Phụ

40/Vạch quẻ – (Bộ Hào 爻) - “Hằng thế chỗ đổi Tráo”= Hào - [ Yao ]

41/Ngọc – (Bộ Ngọc 玉) - “Ngời óng ánh mọi Góc”= Ngọc - [ Yu ]

42/Cho biết – (Bộ Thị 示 ,礻) - “Thấy Đi!”= Thị

43/ Cỏ – (Bộ Thảo 艹, 艸) - “Thân cỏ (nhỏ) lao Xao”= Thảo - [ Cao ]

44/ Đi từng bước – (Bộ Xước 辶) - “Xê Bước”= Xước - [ Zou ]

45/Màu đen – (Bộ Huyền 玄 ) - “Hoẻn Tuyền”= Huyền [ Xuan ]

46/ Ngói – (Bộ Ngõa 瓦) - “Ngói Ạ!”= Ngõa

47/ Ruộng – (Bộ Điền 田) - “Đất chia thành những ô vuông liền Liền”= Điền

48/Đồ đựng – (Bộ Minh 皿) - “Mủng đựng của người Kinh”= Minh - [ Ming ]

49/Màu trắng – (Bộ Bạch 白) - “Bạc Nhất”= “Bạc Nhách”= “Bạc Dách”= Bạch – [ Bai ]

50/ Da – (Bộ Bì 皮) - “Bọc Đi!”= Bì - [ Pi ]

51/Mắt – (Bộ Mục 目) - “Mắt Lục”= Mục - [ Mu ]

52/ Tên bắn – (Bộ Thỉ 矢) - “Thành mũi nhọn lao Đi!”= Thỉ - [ Shi ]

53/ Đá – (Bộ Thạch 石) - “Thành đá Sạch”= Thạch (hóa thạch) - [ Shi ]

54/ Cái dáo có móc – (Bộ Mâu 矛) - “Móc Câu”= Mâu - [ Mao]

55/Chân của động vật – (Bộ Nhu 禸) - “Nhiều chân như động vật Chứ!”= Nhu - [ Rou ]

56/Cái huyệt – (Bộ Huyệt) - “Hố hủy xác Chết”= Huyệt - [ Jue ]

57/ Giống lúa – (Bộ Hòa 禾) - “Hột lúa Ta”=Hòa - [ He ]

58/Đến cuối cùng – (Bộ Chí 至) - “Chót cuối Đi!”= Chí - [ Zhi ]

59/ Cái cối – (Bộ Cữu 臼) - “Cối là cái sử dụng Lưu”= Cữu - [ Jiu ]

60/ Sai lầm – (Bộ Xuyền 舛) - “Xảy khỏi Thuyền”= Xuyền – [Chuan ]

61/ Cái xe – (Bộ Xa 車 ) - “Xe Cà!”= Xa - [ Che ]

62/Chi của động vật – (Bộ Túc 足) - “Tay cũng là chân lúc Nhúc”= Túc - [ Zu ]

63/Sáng sớm – (Bộ Thìn 辰) - “Thấy mặt trời sáng kìn Kìn”= Thìn - [ Chen ]

64/Về chiều – (Bộ Dậu 酉) - “Già nắng đã Lâu”= Dậu - [ You ]

65/ Bên trong – (Bộ Lý 里) - “Lõi giữa Chi”= Lý - [ Li ]

66/ Đứng một mình – (Bộ Lập 立) - “Lánh khỏi nơi tấp Nập”= Lập - [ Li ]

67/Cái áo – (Bộ Y衣) - “Áo Chi!”=Y - [ Yi ]

68/ Cái thuyền – (Bộ Chu 舟) - “Chạy được trên mặt nước Chứ!”= Chu - [ Zhou ]

69/Sợi tơ – (Bộ Mịch 糸) - “Mong manh như tơ nhện Đích”= Mịch

70/Sợi tơ – (Bộ Ti 絲) - “Tơ Chi!”= Ti - [ Si ]

71/Cái tai – (Bộ Nhĩ 耳) - “Nhỏng tai lên ngóng mà nghe cho thính Đi!”= Nhĩ - [ Er ]

72/Cái bắp cày – (Bộ Lỗi 耒) - “Lẳn chắc bằng gỗ Cội”= Lỗi - [ Lei ]

73/Tự do – (Bộ Tự厶) - “Ta sáng mắt Chứ!”= Tự – {Zi ]

74/ Kim loại– (Bộ Kim 金) - “Cứng như gỗ Lim”= Kim - [ Jin ] (đồ đá bước sang kim loại)

75/ Loài chim – (Bộ Chuy 隹) - “Chim thuần Túy”= Chuy – [ Zhui ]

76/ Phủ định – (Bộ Phi 非) - “Phản Đi!”= Phi - [ Fei ]

77/ Cái mái che – (Bộ Miên 宀 ) - “Mái và Hiên”= Miên - [ Mian ]

78/ Cái cung – (Bộ Cung弓 ) - “Cong thân đến hai đầu chót Cùng”= Cung - [ Gong ]

79/ Cái dáo – (Bộ Qua戈) - “Cán thì dài mà mũi thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= Qua - [ Ge ] (cho nên hay “Trở Dáo”= “Tráo Trở”)

80/ Dẫn – (Bộ Dẫn 廴 ) - “Dìu dắt dần Dần”= Dẫn - [ Yin ]

81/ Đàn bà – (Bộ Nữ 女) - “Nái Chứ!”= Nữ - [ Nu ]

82/ Con – (Bộ Tử 子 ) - “Tí Chứ!”=Tử - [ Zi ]

83/ Môi giới – (Bộ Nha 牙) - “Nhắm nhe Ạ!”= Nha - [ Ya ] (mượn chữ Nha 牙 đồng âm, nhưng chọn từ đồng âm hợp logic ở ý mở răng ra mà nói thì mới làm được môi giới ).

84/ Sử dụng – (Bộ Dụng 用) – Dùng một lần thì xong là vứt đi, dùng nhiều lần mới gọi là Dụng, lướt từ lặp là từ nhấn ý nhiều thì “Dùng Dùng”=Dụng, 1+1=0 , cũng tức “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Đủ thấy là có trước từ Dùng và Dụng với hai sắc thái khác nhau hẳn hoi của tiếng Việt, rồi Quan Thoại mới mượn có một chữ Dụng. Cho nên mới có từ Sử Dụng. Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, trang 104, giải thích chữ Dụng là “từ gốc Hán”(?), vậy, sao không đổi lại từ Sử Dụng thành Sử Dùng đi , cho nó “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt “ (!) - [ Yong ]

V. v.

Một ví dụ về lướt với phụ từ khẳng định đứng sau: Cổ đại người Ấn Độ hỏi người Việt, cái nước ở phía tây bắc gọi là nước gì ?. Trả lời, nước ở “Tận tây bắc Lận”= Tần, gọi là nước Tần, mà theo bản đồ dịch học thì nước Tần ở vị trí địa lý của con sô 9, nên còn gọi là nước Chín. Nước gì? Nhắc lại coi! Chín Ạ! Ờ ờ, nghe rõ rồi, ChinA, ChinA. Thế là thành tên China, mà Quan Thoại thì thực sự vẫn phát âm theo tên Việt là '”Chín” (pinyin: Qín) để chỉ nước Tần.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phụ từ đứng sau từ, có tính chất như là khẳng định cho từ đó, hay cùng với từ đó làm thành một mệnh lệnh, khi lướt câu sẽ cho ra một từ mới. Điều này cũng thấy trong hình thành tên gọi các bộ thủ. Phụ từ khẳng định thường dùng nhiều nhất là chữ Đi!, nho thường dùng chữ Chi 之!. Ta hãy điểm qua tên gọi một số bộ thủ: Đầu tiên là ý nghĩa của bộ thủ đó, tiếp đến trong ngoặc đơn là tên gọi của bộ thủ đó kèm chữ nho, tiếp đến là minh chứng sự hình thành tên gọi bộ thủ đó là do lướt với phụ từ khẳng định, cuối cùng trong ngoặc vuông là pinyin tên gọi bộ thủ đó trong Hán ngữ hiện đại.

1/ Vi, Vây - (Bộ Vi 囗) - “Vuông Đi!”= Vi, “Vuông Đấy!”= Vây - [ Wei ]

2/ Cái bàn con – (Bộ Kỷ 几) – Cái Kê = Cái Kệ, “Kê Đi!”= Kỷ - [ Ji ]

3/ Xa xôi – (Bộ Cung 冂) – Xa xôi tức đến tận cuối cùng, “Cuối Cùng”= Cung - [ Gong ]

4/ Che đậy – (Bộ Mật 冖) – Che thì phải kín mít toàn bộ, tức “Mịt Tất” = Mật – [ Mi ]

5/ Mở mồm – (Bộ Khảm 凵) – Mở mồm là “Khai Mõm”= Khảm - [ Kan ]

6/ Chậm – (Bộ Tủy 夊) - “Từ từ Đi!”= Tủy - [ Sui ]

7/ Nét chấm – (Bộ Chủ 丶) - “Chấm Chứ!”= Chủ – [ Zhu ]

8/ Cái móc – (Bộ Quyết 亅) - “Câu móc Tuyệt!”= Quyết - [ Jue ]

9/ Băng – (Bộ Băng 冫) - “Buốt mà im Lặng” = Băng - [ Bing ]

10/ Bọc – (Bộ Bao勹) - “Bọc Vào!”= Bao - [ Bao ]

11/Kiếm ngắn – (Bộ Tỷ匕) - “Tay đánh gần Đi!”= Tỷ - [ Bi ]

12/ So sánh – (Bộ Tỉ 比) - “Tay so gang coi có bằng Chi”= Tỉ - [ Bi ]

13/Sức – (Bộ Lực 力) - “Là Sức”= Lực - [ Li ]

14/ Che – (Bộ Hễ 匸) - “Hãy che như Thế!”= Hễ - [ Xi ]

15/ Toàn thể – ( Bộ Thập 十) - “Thảy tụ Tập”= Thập - [ Shi ]

16/ Cái hang để ở – (Bộ Hãn 厈) - “Hang đất để ở là của người Hãn”= Hãn - [ Han ]

17/ Riêng – (Bộ Tư 厶) - “Ta Chứ!”= Tư - [ Si ]

18/Đêm tối – (Bộ Tịch 夕) - “Tối mịt Đích!”= Tịch - [ Xi ]

19/Xồm Xoàm – (Bộ Sam 彡) - “Sồm Soàm”= Sam - [ Shan ]

20/Nhấc chân – (Bộ Xích 彳) - “Xách cất chân Đích!”=Xích - [ Chi ]

21/ Tâm – (Bộ Tâm 忄, 心) - “Ta Âm”= Tâm - [ Xin ]

22/ Huyện – (Bộ Ấp 邑,) - “Ở đông người tấp Nập”= Ấp - [ Yi ]

23/ Cái gò – (Bộ Phụ 阝,阜) - “Phồng đất lên to Ụ”= Phụ - [ Fu ]

24/Nước – (Bộ Thủy 氵,水) - “Thâm Thúy”= Thủy (màu Lầm của Nậm ở sâu) - [ Shui ]

25/ Văn – (Bộ Văn 文 ) - “Vuông Vắn”= Văn – [ Wen ]

26/Nhà – (Bộ Hộ 戶) - “Họp lại đông người ở một Chỗ”= Hộ - [ Hu ]

27/ Va đập – (Bộ Phốc 攴) - “Phang nhanh như Tốc”= Phốc - [ Pu ]

28/ Nói ra – (Bộ Viết 曰) - “Việt Nói” = Viết (lướt lủn) - [ Yue ]

29/ Trăng – (Bộ Nguyệt 月) - “Ngời sáng Thiệt!”= Nguyệt [ Yue]

30/Không – (Bộ Vô 毋) - “Vắng cũng là Mô”= Vô - [ Wu ]

31/ Hỏng – (Bộ Đãi 歹) - “Đểnh đoảng Mãi”= Đãi – [Dai ]

32/ Vũ Khí – (Bộ Thù 殳) - “Thành đấu Thủ”= Thù - [ Shu ]

33/ Dừng – (Bộ Chỉ 止) - “Chẳng Đi”= Chỉ - [ Zhi ]

34/ Thiếu – (Bộ Khiếm 欠) - “Khó Kiếm”= Khiếm - [ Qian ]

35/ Mốc – (Bộ Mao 毛) - “Mốc meo Vào!”= Mao - [ Mao ]

36/Dòng họ – (Bộ Thị 氏) - “Thành ổ Đi!”= Thị

37/ Không khí – (Bộ Khí 氣) - “Không nhìn sờ thấy Chi!”= Khí - [ Qi ]

38/Lửa – (Bộ Hỏa 火,灬) - “Hửng nắng là tóe Lả”= Hỏa - [ Huo ]

39/Bố – (Bộ Phụ 父) – Chức năng con đực là “Phải Đụ”= Phụ

40/Vạch quẻ – (Bộ Hào 爻) - “Hằng thế chỗ đổi Tráo”= Hào - [ Yao ]

41/Ngọc – (Bộ Ngọc 玉) - “Ngời óng ánh mọi Góc”= Ngọc - [ Yu ]

42/Cho biết – (Bộ Thị 示 ,礻) - “Thấy Đi!”= Thị

43/ Cỏ – (Bộ Thảo 艹, 艸) - “Thân cỏ (nhỏ) lao Xao”= Thảo - [ Cao ]

44/ Đi từng bước – (Bộ Xước 辶) - “Xê Bước”= Xước - [ Zou ]

45/Màu đen – (Bộ Huyền 玄 ) - “Hoẻn Tuyền”= Huyền [ Xuan ]

46/ Ngói – (Bộ Ngõa 瓦) - “Ngói Ạ!”= Ngõa

47/ Ruộng – (Bộ Điền 田) - “Đất chia thành những ô vuông liền Liền”= Điền

48/Đồ đựng – (Bộ Minh 皿) - “Mủng đựng của người Kinh”= Minh - [ Ming ]

49/Màu trắng – (Bộ Bạch 白) - “Bạc Nhất”= “Bạc Nhách”= “Bạc Dách”= Bạch – [ Bai ]

50/ Da – (Bộ Bì 皮) - “Bọc Đi!”= Bì - [ Pi ]

51/Mắt – (Bộ Mục 目) - “Mắt Lục”= Mục - [ Mu ]

52/ Tên bắn – (Bộ Thỉ 矢) - “Thành mũi nhọn lao Đi!”= Thỉ - [ Shi ]

53/ Đá – (Bộ Thạch 石) - “Thành đá Sạch”= Thạch (hóa thạch) - [ Shi ]

54/ Cái dáo có móc – (Bộ Mâu 矛) - “Móc Câu”= Mâu - [ Mao]

55/Chân của động vật – (Bộ Nhu 禸) - “Nhiều chân như động vật Chứ!”= Nhu - [ Rou ]

56/Cái huyệt – (Bộ Huyệt) - “Hố hủy xác Chết”= Huyệt - [ Jue ]

57/ Giống lúa – (Bộ Hòa 禾) - “Hột lúa Ta”=Hòa - [ He ]

58/Đến cuối cùng – (Bộ Chí 至) - “Chót cuối Đi!”= Chí - [ Zhi ]

59/ Cái cối – (Bộ Cữu 臼) - “Cối là cái sử dụng Lưu”= Cữu - [ Jiu ]

60/ Sai lầm – (Bộ Xuyền 舛) - “Xảy khỏi Thuyền”= Xuyền – [Chuan ]

61/ Cái xe – (Bộ Xa 車 ) - “Xe Cà!”= Xa - [ Che ]

62/Chi của động vật – (Bộ Túc 足) - “Tay cũng là chân lúc Nhúc”= Túc - [ Zu ]

63/Sáng sớm – (Bộ Thìn 辰) - “Thấy mặt trời sáng kìn Kìn”= Thìn - [ Chen ]

64/Về chiều – (Bộ Dậu 酉) - “Già nắng đã Lâu”= Dậu - [ You ]

65/ Bên trong – (Bộ Lý 里) - “Lõi giữa Chi”= Lý - [ Li ]

66/ Đứng một mình – (Bộ Lập 立) - “Lánh khỏi nơi tấp Nập”= Lập - [ Li ]

67/Cái áo – (Bộ Y衣) - “Áo Chi!”=Y - [ Yi ]

68/ Cái thuyền – (Bộ Chu 舟) - “Chạy được trên mặt nước Chứ!”= Chu - [ Zhou ]

69/Sợi tơ – (Bộ Mịch 糸) - “Mong manh như tơ nhện Đích”= Mịch

70/Sợi tơ – (Bộ Ti 絲) - “Tơ Chi!”= Ti - [ Si ]

71/Cái tai – (Bộ Nhĩ 耳) - “Nhỏng tai lên ngóng mà nghe cho thính Đi!”= Nhĩ - [ Er ]

72/Cái bắp cày – (Bộ Lỗi 耒) - “Lẳn chắc bằng gỗ Cội”= Lỗi - [ Lei ]

73/Tự do – (Bộ Tự厶) - “Ta sáng mắt Chứ!”= Tự – {Zi ]

74/ Kim loại– (Bộ Kim 金) - “Cứng như gỗ Lim”= Kim - [ Jin ] (đồ đá bước sang kim loại)

75/ Loài chim – (Bộ Chuy 隹) - “Chim thuần Túy”= Chuy – [ Zhui ]

76/ Phủ định – (Bộ Phi 非) - “Phản Đi!”= Phi - [ Fei ]

77/ Cái mái che – (Bộ Miên 宀 ) - “Mái và Hiên”= Miên - [ Mian ]

78/ Cái cung – (Bộ Cung弓 ) - “Cong thân đến hai đầu chót Cùng”= Cung - [ Gong ]

79/ Cái dáo – (Bộ Qua戈) - “Cán thì dài mà mũi thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= Qua - [ Ge ] (cho nên hay “Trở Dáo”= “Tráo Trở”)

80/ Dẫn – (Bộ Dẫn 廴 ) - “Dìu dắt dần Dần”= Dẫn - [ Yin ]

81/ Đàn bà – (Bộ Nữ 女) - “Nái Chứ!”= Nữ - [ Nu ]

82/ Con – (Bộ Tử 子 ) - “Tí Chứ!”=Tử - [ Zi ]

83/ Môi giới – (Bộ Nha 牙) - “Nhắm nhe Ạ!”= Nha - [ Ya ] (mượn chữ Nha 牙 đồng âm, nhưng chọn từ đồng âm hợp logic ở ý mở răng ra mà nói thì mới làm được môi giới ).

84/ Sử dụng – (Bộ Dụng 用) – Dùng một lần thì xong là vứt đi, dùng nhiều lần mới gọi là Dụng, lướt từ lặp là từ nhấn ý nhiều thì “Dùng Dùng”=Dụng, 1+1=0 , cũng tức “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Đủ thấy là có trước từ Dùng và Dụng với hai sắc thái khác nhau hẳn hoi của tiếng Việt, rồi Quan Thoại mới mượn có một chữ Dụng. Cho nên mới có từ Sử Dụng. Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng, trang 104, giải thích chữ Dụng là “từ gốc Hán”(?), vậy, sao không đổi lại từ Sử Dụng thành Sử Dùng đi , cho nó “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt “ (!) - [ Yong ]

V. v.

Một ví dụ về lướt với phụ từ khẳng định đứng sau: Cổ đại người Ấn Độ hỏi người Việt, cái nước ở phía tây bắc gọi là nước gì ?. Trả lời, nước ở “Tận tây bắc Lận”= Tần, gọi là nước Tần, mà theo bản đồ dịch học thì nước Tần ở vị trí địa lý của con sô 9, nên còn gọi là nước Chín. Nước gì? Nhắc lại coi! Chín Ạ! Ờ ờ, nghe rõ rồi, ChinA, ChinA. Thế là thành tên China, mà Quan Thoại thì thực sự vẫn phát âm theo tên Việt là '”Chín” (pinyin: Qín) để chỉ nước Tần.

15. Lướt Lủn

Các nhà từ điển VN khi đọc các QT tạo ngôn từ Việt mà LM nêu chắc nghĩ thầm, thằng cha hai lúa LM này, dân miền tây , gốc Phước Kiển, chẳng học đại học ngôn ngữ nhân văn nào, chỉ nói xạo, phịa. Vậy thì QT Lướt xin quí vị tham khảo Thuyết Văn Giải Tự để thấy Hứa Thận cách nay 2000 năm đã vận dụng qui tắc lướt để “thiết” như thế nào, còn QT Tơi-Rỡi xin quí vị đọc kỹ Sử Ký của Tư Mã Thiên, trong đó có đoạn nói về một người vợ của vua Sở: “... họ Phan có gốc là họ Bàn...”. Vậy thì suy diễn theo QT Tơi-Rỡi: họ Phan = họ Bàn = họ Bồ = họ Bờ = họ Cơ, mà họ Cơ là sinh ra ở dòng sông Cả (tức sông Lam ở Nghệ An, theo Sử Thuyết Họ Hùng, còn Ngọc Phả Hùng Vương lại có viết “Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống” , đó là quê xa xưa, còn đến thời ông ấy gọi là Đế Minh thì đã là ở vùng Tương của Hồ Nam thuộc đất Lĩnh Nam. Họ Cơ sinh ra ở sông Cả, nên mới gọi khẳng định là “Cả Chớ!”=Cơ. Khai thác nông nghiệp trồng trọt ra đến gặp con sông lớn ở Bắc Bộ ngày nay thì gọi nó là sông “Cả thứ Hai”=Cái, đặt tên nó là sông Cái, tức sông Hồng ngày nay. Khai thác tiếp ra bắc, rộng về hai phía đông tây thành ra Lưỡng Quảng, gọi con sông Cả ở đó là Cha + U thành “Cha U”=Chu, tức Cha + Âu thành “Cha Âu”=Châu. ( U là gọi mẹ, xa xưa nhất ở Bắc Bộ, người Đài Loan cũng gọi là U. Đơn giản, có U thì mới có Vú để mà Bú, mới thành Bụ để mà Béo. U=Âu, mẹ mới biết ru “Ầu Ơ”. U=Âu=Oa là cái bà “Nái Chứ!”=Nữ, là “Nữ Oa đội đá vá trời” từ cái thời đồ đá mới ở Hà Mẫu Độ thuộc Chiết Giang). Khai thác tiếp ra bắc nữa đến gặp con sông Cả mênh mông, gọi nó là Dòng Cả = Dương Tử. ( “Của Ta”= Cả, “Ta Chứ!”=Tử, vì “Tất Cả”=Ta, nên Cả là lớn nhất, ngược với Cỏ là nhỏ nhất (các loài vật nuôi có giống nhỏ con đều gọi là “Cỏ” như lợn cỏ, gà cỏ, vịt cỏ. Vì “Trời sinh Voi, sinh Cỏ”, sinh ra từ cái lớn nhất đến cái Nhỏ Thó nhất. Đất Thó là đất rất mịn, thường dùng nặn đồ gốm, rất mịn vì nó kết bằng những hạt rất Nhỏ Thó, người ta gọi cái chất đó là Thó=Thổ, để nặn ra những đồ đựng là cái Thóng, cái Thạp).

Trong QT Lướt có Lướt Lủn (hai lúa lại phịa nữa!), nhắc lại mục lướt lủn ở trên: 4.Lướt Lủn hai từ: Từ đầu giữ nguyên và lướt tới lấy dấu thanh điệu của từ sau thay cho thanh điệu của mình. VD: “Việt Nói” = “Việt sắc Viết”=Viết (Viết= Van=Văng=Vân=Vân Vân=Và=Na=Nói=Nài, dần dần Viết chuyển sắc thái là “nói bằng văn bản” rồi dùng đại diện cây Viết). “Bụt Nói”= “Bụt sắc Bút”=Bút (tháp Bút ý là ở đó ngự lời của Bụt, sau Bút dùng đại diện cho cây viết, gọi là cái Bút. Bút dùng để “Pút”- post lên, và “Pút Lên”=Pen, tiếng Anh). Lướt Lủn tức là lướt cụt lủn hai từ (“Lời ngắn Ngủn”=Lủn).

Bây giờ phân tích thêm về Lướt Lủn, để thấy QT này đã sinh thêm ra các từ mới trong tiếng Việt như thế nào (nho viết nó bằng chữ nho, trở thành một ngôn ngữ hàn lâm song trùng của tiếng Việt, và văn học phải sử dụng đồng thời cả hai, ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ hàn lâm thì mới thành văn học):

Người Việt quí cái gì thì coi nặng cái đó. Qúi cái của Trong thì coi “Trong Nặng”= Trọng; quí cái của Ngoài thì coi “Ngoài Nặng”= Ngoại; quí cái Nôi nơi mình sinh ra thì coi “Nôi Nặng”= Nội. Đàng Nội, Đàng Ngoại đều là nơi thân tình lâu dài của mình, nên mình hay “Lê la dài Dài”= Lai, là hay vãng lai đến đó; coi nặng cái sự Lai ấy là “Lai Nặng”= Lại, là hay lại đó, vì ở đó có ông bà Nội và có ông bà Ngoại. Không có cái Nôi thì lấy đâu ra có ông Nội bà Nội. Vậy mà Từ điển Yếu tố... của VN giải thích từ Nội 内 (trang 294), từ Ngoại 外 (trang 276) là “từ gốc Hán”, thì đúng không là bán đứng thì cũng là phỉ báng Tổ Tiên. Cả đến mấy trăm năm chia cắt đất nước (do thế lực chính trị đầu sỏ) thành Đàng Trong và Đàng Ngoài thì dân Việt vẫn là dân Việt nói tiếng Việt, dân đi lại tự do. Biết bao hiền tài Đàng Ngoài đã bỏ cái thối nát để vô tìm minh chủ ở Đàng Trong. Người Đàng Trong khi ra Đàng Ngoài lại quí trọng những hiền tài đang ở Đàng Ngoài (ví dụ về quan hệ Quang Trung – Nguyễn Thiếp). Trong lịch sử xa xưa từ thời Văn Lang cách nay 5000 năm, người Việt không hề có tính kỳ thị trong ngoài, biết “Mắt Tinh”= Minh 明(chữ có hai mắt sáng, cùng tên chung là Mặt, là “Nguồn năng của mặt Trời” = Ngời = Nguyệt = Việt = Nhiệt = Nhật), Minh để hiểu được cái gì là quí một cách sâu sắc như “Kẻ thâm Thúy”= Qúi, có biết chọn lọc chứ không có chuyện nhập hàng hóa rác thải (độc hại) và tư tưởng rác thải (độc hại). Người Việt quí cái Ta (“Ta về ta tắm ao Ta”) mà coi “Ta Nặng”= Tạ. Khi giao tiếp thì tôi cũng là Ta, anh cũng là Ta, cả hai Ngôi cùng chung một chỗ thì “Chung Chung”= Chúng, 0+0=1, là Chúng Ta, nên chỉ đáp nhau một chữ Tạ, là hiểu coi nhau “Ta Nặng”= Tạ, cũng là lễ phép với nhau “Ta Ạ!”= Tạ, là đủ hiểu nhau rằng Win-Win như ngôn ngữ thương mại quốc tế ngày nay nói. Nhưng Win-Win là Việt Xin – Việt Xin. Anh đưa hàng cho tôi, tôi chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Tôi đưa hàng cho anh, anh chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Dài thì nói “Xin Đa Tạ”. Đa là “Được Cả”= Đa, tức thắng lớn (“Được ăn Cả, ngã về không” trong đấu vật), tiếng Nga thì “Đa” nghĩa là OK. Được cũng là thắng, Cả cũng là thắng, Được Cả là một từ đôi. (Sắc tộc Mi Nang Ca Bau ở Indonexia theo diễn nghĩa của họ cái tên ấy có nghĩa là “sắc tộc mẫu hệ đã thắng trong một cuộc chọi trâu”, tức phục nguyên là Mị Nương Cả Trâu ). Chữ Tạ 謝 viết hoàn toàn biểu ý, gồm chữ Ngôn 言(là tiếng nói, đại diện cho tinh thần của Ta) + chữ Thân 身 (đại diện cho thể xác của Ta) + chữ Thốn 寸 (là ngắn, đại diện cho cuộc đời của Ta). Vậy Tạ 謝 không là coi “Ta Nặng”= Tạ 謝 thì nó là cái gì? với sự logic của các âm tiết Ta, Ngôn 言, Thân 身, Thốn 寸 để “nén thông tin” thành chữ Tạ 謝. Nếu phát âm theo Hán ngữ thì có tương ứng của cũng các chữ trên là Wo 我, Yan 言, Shen 身, Cun 寸 thì chúng có logic gì không để ra hồn chữ Tạ 謝 mà Hán ngữ phát âm là Xie 謝?. Vậy mà các chữ Ngôn 言 (trang 278), Thân 身 (trang 374), Thốn 寸 (trang 389), Tạ 謝 (trang 351) được Từ điển VN giải thích là “từ gốc Hán”(!). Con Người = Con Nhân = Con Dân. Thân là cái phần “Thịt xương của Con”= Thon. Con thú hoang dã nào nó cũng có cơ thể của nó là Thon Thả, vì nó tự do bay nhảy đi ăn thả rông. Nó không béo ú như con lợn Ỉn vì nó chỉ nằm một chỗ chuồng rất hẹp, được nuôi cho In (ăn uống) nhiều, “In In”= Ỉn, 0+0=1, Ỉn thành tên gọi của nó. Thân là cái phần “Thịt xương của Dân”= Thân. Thốn là đơn vị đo chiều dài nhỏ nhất, đo thì phải tính từng Bậc, mà cái bậc nhỏ nhất tức là cái “Tí Bậc”= Tấc, nho gọi và viết Tấc là Thốn, vì Tấc có nghĩa là đã Thành Ngắn = Thành Ngủn = “Thành Ngốn”= Thốn, nên Thốn vốn nghĩa đen là Tấc , vẫn được dùng như là Tấc, đồng thời đã biến nghĩa, hay được mượn làm đại diện chỉ sự ngắn, mà là ngắn nhất. Ngắn nhất so với vũ trụ là cuộc đời của một con người, nên chữ Thốn có trong chữ Tạ như biểu ý giải thích ở trên, ngắn nhất nhưng mà là quí nhất, cũng như “tấc đất tấc vàng” hay “tấc đất của Tổ Quốc” hay “nhất thốn thổ địa”. Được là Thắng, Cả cũng là Thắng, Được Cả là một từ đôi. Win-Win tức là Được Cả, cả hai cùng được. “Anh Cả, anh Hai, cả hai đều là Anh 英 (anh minh) cả”. Muốn cả hai cùng được thì cả hai đều phải Minh. Nhưng sự đời hễ nói chuyện song phương với cái thằng Ranh Con (thằng mà bị chửi “Lớn đầu mà dại, bé dái mà khôn”) thì khó chịu lắm, vì nó không chịu hiểu cái Lý chung (“Lạt mềm buộc Chặt”= =Luật; “Luật 律 Chi 之!”= Lý 理). Hán ngữ đọc chữ Luật 律 Chi 之 là Lu 律 Zhi 之 (tức phát âm “Luy Trư”, nếu lướt thì “Luy Trư”=Lứ= “Lú Ư”). Nếu không hiểu tường tận nguồn gốc Lạc Việt của thuyết ÂDNH thì đúng là lú thật.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

15. Lướt Lủn

Các nhà từ điển VN khi đọc các QT tạo ngôn từ Việt mà LM nêu chắc nghĩ thầm, thằng cha hai lúa LM này, dân miền tây , gốc Phước Kiển, chẳng học đại học ngôn ngữ nhân văn nào, chỉ nói xạo, phịa. Vậy thì QT Lướt xin quí vị tham khảo Thuyết Văn Giải Tự để thấy Hứa Thận cách nay 2000 năm đã vận dụng qui tắc lướt để “thiết” như thế nào, còn QT Tơi-Rỡi xin quí vị đọc kỹ Sử Ký của Tư Mã Thiên, trong đó có đoạn nói về một người vợ của vua Sở: “... họ Phan có gốc là họ Bàn...”. Vậy thì suy diễn theo QT Tơi-Rỡi: họ Phan = họ Bàn = họ Bồ = họ Bờ = họ Cơ, mà họ Cơ là sinh ra ở dòng sông Cả (tức sông Lam ở Nghệ An, theo Sử Thuyết Họ Hùng, còn Ngọc Phả Hùng Vương lại có viết “Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống” , đó là quê xa xưa, còn đến thời ông ấy gọi là Đế Minh thì đã là ở vùng Tương của Hồ Nam thuộc đất Lĩnh Nam. Họ Cơ sinh ra ở sông Cả, nên mới gọi khẳng định là “Cả Chớ!”=Cơ. Khai thác nông nghiệp trồng trọt ra đến gặp con sông lớn ở Bắc Bộ ngày nay thì gọi nó là sông “Cả thứ Hai”=Cái, đặt tên nó là sông Cái, tức sông Hồng ngày nay. Khai thác tiếp ra bắc, rộng về hai phía đông tây thành ra Lưỡng Quảng, gọi con sông Cả ở đó là Cha + U thành “Cha U”=Chu, tức Cha + Âu thành “Cha Âu”=Châu. ( U là gọi mẹ, xa xưa nhất ở Bắc Bộ, người Đài Loan cũng gọi là U. Đơn giản, có U thì mới có Vú để mà Bú, mới thành Bụ để mà Béo. U=Âu, mẹ mới biết ru “Ầu Ơ”. U=Âu=Oa là cái bà “Nái Chứ!”=Nữ, là “Nữ Oa đội đá vá trời” từ cái thời đồ đá mới ở Hà Mẫu Độ thuộc Chiết Giang). Khai thác tiếp ra bắc nữa đến gặp con sông Cả mênh mông, gọi nó là Dòng Cả = Dương Tử. ( “Của Ta”= Cả, “Ta Chứ!”=Tử, vì “Tất Cả”=Ta, nên Cả là lớn nhất, ngược với Cỏ là nhỏ nhất (các loài vật nuôi có giống nhỏ con đều gọi là “Cỏ” như lợn cỏ, gà cỏ, vịt cỏ. Vì “Trời sinh Voi, sinh Cỏ”, sinh ra từ cái lớn nhất đến cái Nhỏ Thó nhất. Đất Thó là đất rất mịn, thường dùng nặn đồ gốm, rất mịn vì nó kết bằng những hạt rất Nhỏ Thó, người ta gọi cái chất đó là Thó=Thổ, để nặn ra những đồ đựng là cái Thóng, cái Thạp).

Trong QT Lướt có Lướt Lủn (hai lúa lại phịa nữa!), nhắc lại mục lướt lủn ở trên: 4.Lướt Lủn hai từ: Từ đầu giữ nguyên và lướt tới lấy dấu thanh điệu của từ sau thay cho thanh điệu của mình. VD: “Việt Nói” = “Việt sắc Viết”=Viết (Viết= Van=Văng=Vân=Vân Vân=Và=Na=Nói=Nài, dần dần Viết chuyển sắc thái là “nói bằng văn bản” rồi dùng đại diện cây Viết). “Bụt Nói”= “Bụt sắc Bút”=Bút (tháp Bút ý là ở đó ngự lời của Bụt, sau Bút dùng đại diện cho cây viết, gọi là cái Bút. Bút dùng để “Pút”- post lên, và “Pút Lên”=Pen, tiếng Anh). Lướt Lủn tức là lướt cụt lủn hai từ (“Lời ngắn Ngủn”=Lủn).

Bây giờ phân tích thêm về Lướt Lủn, để thấy QT này đã sinh thêm ra các từ mới trong tiếng Việt như thế nào (nho viết nó bằng chữ nho, trở thành một ngôn ngữ hàn lâm song trùng của tiếng Việt, và văn học phải sử dụng đồng thời cả hai, ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ hàn lâm thì mới thành văn học):

Người Việt quí cái gì thì coi nặng cái đó. Qúi cái của Trong thì coi “Trong Nặng”= Trọng; quí cái của Ngoài thì coi “Ngoài Nặng”= Ngoại; quí cái Nôi nơi mình sinh ra thì coi “Nôi Nặng”= Nội. Đàng Nội, Đàng Ngoại đều là nơi thân tình lâu dài của mình, nên mình hay “Lê la dài Dài”= Lai, là hay vãng lai đến đó; coi nặng cái sự Lai ấy là “Lai Nặng”= Lại, là hay lại đó, vì ở đó có ông bà Nội và có ông bà Ngoại. Không có cái Nôi thì lấy đâu ra có ông Nội bà Nội. Vậy mà Từ điển Yếu tố... của VN giải thích từ Nội 内 (trang 294), từ Ngoại 外 (trang 276) là “từ gốc Hán”, thì đúng không là bán đứng thì cũng là phỉ báng Tổ Tiên. Cả đến mấy trăm năm chia cắt đất nước (do thế lực chính trị đầu sỏ) thành Đàng Trong và Đàng Ngoài thì dân Việt vẫn là dân Việt nói tiếng Việt, dân đi lại tự do. Biết bao hiền tài Đàng Ngoài đã bỏ cái thối nát để vô tìm minh chủ ở Đàng Trong. Người Đàng Trong khi ra Đàng Ngoài lại quí trọng những hiền tài đang ở Đàng Ngoài (ví dụ về quan hệ Quang Trung – Nguyễn Thiếp). Trong lịch sử xa xưa từ thời Văn Lang cách nay 5000 năm, người Việt không hề có tính kỳ thị trong ngoài, biết “Mắt Tinh”= Minh 明(chữ có hai mắt sáng, cùng tên chung là Mặt, là “Nguồn năng của mặt Trời” = Ngời = Nguyệt = Việt = Nhiệt = Nhật), Minh để hiểu được cái gì là quí một cách sâu sắc như “Kẻ thâm Thúy”= Qúi, có biết chọn lọc chứ không có chuyện nhập hàng hóa rác thải (độc hại) và tư tưởng rác thải (độc hại). Người Việt quí cái Ta (“Ta về ta tắm ao Ta”) mà coi “Ta Nặng”= Tạ. Khi giao tiếp thì tôi cũng là Ta, anh cũng là Ta, cả hai Ngôi cùng chung một chỗ thì “Chung Chung”= Chúng, 0+0=1, là Chúng Ta, nên chỉ đáp nhau một chữ Tạ, là hiểu coi nhau “Ta Nặng”= Tạ, cũng là lễ phép với nhau “Ta Ạ!”= Tạ, là đủ hiểu nhau rằng Win-Win như ngôn ngữ thương mại quốc tế ngày nay nói. Nhưng Win-Win là Việt Xin – Việt Xin. Anh đưa hàng cho tôi, tôi chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Tôi đưa hàng cho anh, anh chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Dài thì nói “Xin Đa Tạ”. Đa là “Được Cả”= Đa, tức thắng lớn (“Được ăn Cả, ngã về không” trong đấu vật), tiếng Nga thì “Đa” nghĩa là OK. Được cũng là thắng, Cả cũng là thắng, Được Cả là một từ đôi. (Sắc tộc Mi Nang Ca Bau ở Indonexia theo diễn nghĩa của họ cái tên ấy có nghĩa là “sắc tộc mẫu hệ đã thắng trong một cuộc chọi trâu”, tức phục nguyên là Mị Nương Cả Trâu ). Chữ Tạ 謝 viết hoàn toàn biểu ý, gồm chữ Ngôn 言(là tiếng nói, đại diện cho tinh thần của Ta) + chữ Thân 身 (đại diện cho thể xác của Ta) + chữ Thốn 寸 (là ngắn, đại diện cho cuộc đời của Ta). Vậy Tạ 謝 không là coi “Ta Nặng”= Tạ 謝 thì nó là cái gì? với sự logic của các âm tiết Ta, Ngôn 言, Thân 身, Thốn 寸 để “nén thông tin” thành chữ Tạ 謝. Nếu phát âm theo Hán ngữ thì có tương ứng của cũng các chữ trên là Wo 我, Yan 言, Shen 身, Cun 寸 thì chúng có logic gì không để ra hồn chữ Tạ 謝 mà Hán ngữ phát âm là Xie 謝?. Vậy mà các chữ Ngôn 言 (trang 278), Thân 身 (trang 374), Thốn 寸 (trang 389), Tạ 謝 (trang 351) được Từ điển VN giải thích là “từ gốc Hán”(!). Con Người = Con Nhân = Con Dân. Thân là cái phần “Thịt xương của Con”= Thon. Con thú hoang dã nào nó cũng có cơ thể của nó là Thon Thả, vì nó tự do bay nhảy đi ăn thả rông. Nó không béo ú như con lợn Ỉn vì nó chỉ nằm một chỗ chuồng rất hẹp, được nuôi cho In (ăn uống) nhiều, “In In”= Ỉn, 0+0=1, Ỉn thành tên gọi của nó. Thân là cái phần “Thịt xương của Dân”= Thân. Thốn là đơn vị đo chiều dài nhỏ nhất, đo thì phải tính từng Bậc, mà cái bậc nhỏ nhất tức là cái “Tí Bậc”= Tấc, nho gọi và viết Tấc là Thốn, vì Tấc có nghĩa là đã Thành Ngắn = Thành Ngủn = “Thành Ngốn”= Thốn, nên Thốn vốn nghĩa đen là Tấc , vẫn được dùng như là Tấc, đồng thời đã biến nghĩa, hay được mượn làm đại diện chỉ sự ngắn, mà là ngắn nhất. Ngắn nhất so với vũ trụ là cuộc đời của một con người, nên chữ Thốn có trong chữ Tạ như biểu ý giải thích ở trên, ngắn nhất nhưng mà là quí nhất, cũng như “tấc đất tấc vàng” hay “tấc đất của Tổ Quốc” hay “nhất thốn thổ địa”. Được là Thắng, Cả cũng là Thắng, Được Cả là một từ đôi. Win-Win tức là Được Cả, cả hai cùng được. “Anh Cả, anh Hai, cả hai đều là Anh 英 (anh minh) cả”. Muốn cả hai cùng được thì cả hai đều phải Minh. Nhưng sự đời hễ nói chuyện song phương với cái thằng Ranh Con (thằng mà bị chửi “Lớn đầu mà dại, bé dái mà khôn”) thì khó chịu lắm, vì nó không chịu hiểu cái Lý chung (“Lạt mềm buộc Chặt”= =Luật; “Luật 律 Chi 之!”= Lý 理). Hán ngữ đọc chữ Luật 律 Chi 之 là Lu 律 Zhi 之 (tức phát âm “Luy Trư”, nếu lướt thì “Luy Trư”=Lứ= “Lú Ư”). Nếu không hiểu tường tận nguồn gốc Lạc Việt của thuyết ÂDNH thì đúng là lú thật.

Sau đây sẽ chú pinyin của Hán ngữ sau mỗi chữ nho, ngôn từ hàn lâm Việt (tinh hoa của ngôn từ dân gian Việt) để tiện so sánh, thấy rằng người Hãn đã hốt chỉ cái tinh hoa của Bách Việt mà tạo nên ngôn ngữ của giới quan, gọi là Quan Thoại. Win-Win là Việt Xin – Việt Xin. Anh đưa hàng cho tôi, tôi chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Tôi đưa hàng cho anh, anh chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. “Việt Xin”= Vin=Win (Win nghĩa là Được), là nói về quan hệ Đông Tây. Và “Đô La”= Đa (Đa nghĩa là Nhiều của tiếng Việt, nghĩa là OK của tiếng Nga), là nói về quan hệ Tây Đông. Đó chỉ là giải thích cái ngẫu nhiên trùng hợp để thấy cái thú vị của ngôn từ Việt mà thôi, là dỡn chơi cho vui. Còn cái thật tức cái tính khoa học của ngôn ngữ dân gian Việt thì nó là như sau đây: “Tạ Xin” = Tin = ”Tin Tin” = Tín, 0+0=1, là nhấn mạnh phải có hai bên Tin nhau thì mới gọi là Tín 信 [ Xin 信 ], ví dụ người Việt nói “Tôi Tin anh, anh Tin tôi, chúng ta cùng giữ Tín với nhau”. “Xin Tạ” = Xá . Xá là từ Việt cổ chỉ động tác “Xếp úp mặt hai bàn tay Ta”= Xá, là chắp hai bàn tay với nhau mà biểu thị khi giao tiếp với người đối thoại là sẽ quan hệ “Với nhau dài Dài”= Vái, thời xưa chưa có tục bắt tay như của phương Tây hiện đại, chỉ có “xá nhau một xá”, “xá nhau ba xá”. Xá nghĩa là đồng thuận, là cho “Xuôi Ạ!'= Xá, không lưu giữ làm gì những bất đồng thù địch đã qua, tức là “Thật thương Ạ!”= Tha, “Thật thương Chứ!”= Thứ 恕 [ Shu 恕 ], là Tha Thứ. Nên mới có ngày rằm tháng bảy Việt lịch là ngày “Tháng bảy ngày Rằm, xá tội vong nhân”. Người Việt không có tính Hằn Thù, tức không ghi khắc (hằn) lại trong tâm mình cái thù đã qua, tức luôn biết tha thứ. Đến những trận chiến lớn, thực sự là vĩ đại trong lịch sử phương Đông, như ở sông Bạch Đằng (hai lần, Ngô Quyền đánh thắng quân Hán xâm lược và Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên xâm lược), như ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng quân Mãn Thanh xâm lược) đều chỉ được kỷ niệm bằng ngày, có tên hẳn hoi trong dân gian và trong sử sách, gọi là ngày Giỗ Trận Bạch Đằng (tại Gò Mả Ngụy, bên sông Bạch Đằng, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh) và ngày Giỗ Trận Đống Đa (tại Gò Đống Đa, quận Đống Đa, Hà Nội) để Xá cho vong linh tất cả nạn nhân của chiến tranh. Từ Xin là ngôn từ dân gian Việt, như từ Xin lỗi, Xin tha thứ, ví dụ mẹ đang ru nựng con thì “Ầu ơ...đừng khóc nữa con, mẹ Xin!, mẹ Xin!” . Xin là “Thành tố mang nghĩa cầu mong sự đồng thuận của tiếng Kinh”= “Thành.... Kính”= Thỉnh 請, nho viết từ Xin bằng chữ Thỉnh 請. Tạ 謝 [Xie 謝], Thỉnh 請 [ Qing 請 ]. Lướt của tiếng Việt: Cầu mong sự đồng thuận và coi nặng cái Ta là “Xin Tạ” = Xá, hay “Thỉnh Tạ”= Tha (nhận xét: hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp logic). Coi nặng cái Ta ( tự trọng) và cầu mong sự đồng thuận là “Tạ Xin”= Tín 信,hay “Tạ Thỉnh”= Tỉnh 醒 (nhận xét: hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp logic. Giữ Tín 信 là thể hiện một đầu óc Tỉnh 醒 táo chứ không phải đầu óc u tối. Ngủ mà tỉnh dậy thì mới tin là mình đã tỉnh dậy thật, từ Tỉnh Mắt nho viết bằng hai chữ Tỉnh Mục 醒 目, Tỉnh 醒 cũng tức là “Tin và Tín đều là từ gốc của tiếng Kinh”= Tỉnh 醒 và “Tin vào cái thần Kinh”= Tỉnh 醒. Anh còn tin vào cái thần kinh của anh là anh còn Tỉnh 醒 đấy, chưa đến nỗi lú lẫn hay điên). Vậy là rõ “Tỉnh cũng là từ gốc của tiếng Kinh”= Tỉnh 醒 [ Xing 醒 ]. Xét ba chữ Tạ 謝 [ Xie 謝 ], Thỉnh 請 [Qing 請], Tỉnh 醒 [Xing 醒]. Thiết của Hán ngữ: Tạ Thỉnh là “Xie 謝 Qing 請”= Xing 醒 (nhận xét: hoàn toàn đúng về thiết hai âm tiết để thành đọc đúng âm tiết thứ ba. Nhưng không logic về nghĩa, vì Xie 謝 Qing 請 ở Hán ngữ chỉ mang nghĩa là Cảm ơn và Mời, chẳng liên quan gì đến “Tự trọng và trọng người (Tạ) và Cầu mong sự đồng thuận” để mà có logic với Tỉnh 醒 táo). Thỉnh Tạ là “Qing 請 Xie 謝”= Qie (nhận xét: hoàn toàn trật. Từ tha thứ của tiếng Việt, quan thoại chỉ mượn có một chữ Thứ 恕 [shu 恕 ] có viết bằng chữ nho, chữ Tha không mượn được vì nó viết bằng chữ Việt cổ đã bị Tần Thủy Hoàng buộc cấm dùng, chứ không phải là Qie như đã thiết ở bên, mượn có một chữ Thứ 恕 của từ Tha Thứ để ghép với chữ Nhiêu 饒 của từ Nhiều, nhưng mà ghép ngược là Nhiêu 饒 Thứ 恕 để dịch ý “tha thứ nhiều”. Nhiều là từ gốc Việt, nho nhấn mạnh ý thành từ hàn lâm là “Nhiều Nhiều”= Nhiêu 饒, 1+1=0, viết bằng chữ nho Nhiêu饒. Nhiều là nhiều, Nhiêu là nhiều hơn cái nhiều, nên mới có từ “nhiêu khê”, nên mới có hỏi giá chỉ bằng một tiếng “Nhiêu?” ý là “nếu nói giá trị ít thì là bao nhiêu, nếu nói giá trị nhiều thì là bao nhiêu”. Cũng như từ Nhường, với từ “Nhường In”= Nhịn , tức nhường ăn nhường uống cho người khác, từ đôi Nhường Nhịn, mà lướt lủn thì thành “Nhường Nhịn”= Nhượng 讓, nho viết từ Nhường bằng chữ Nhượng 讓, từ Nhượng 讓 Nhiêu 饒 của nho Việt nghĩa là “nhường nhịn rất nhiều” thì quan thoại mượn hai chữ Nhượng 讓 Nhiêu 饒 và đổi ngược cú pháp thành Nhiêu 饒 Nhượng 讓. Từ điển Yếu tố... giải thích chữ Nhiêu 饒, trang 289, là “từ gốc Hán” cũng lại là bán đứng mà thôi).

Chữ Trọng Lượng mà Từ Điển đã dẫn cũng giải thích là “từ gốc Hán” (?!), Trọng 重 trang 436, Lượng 量 trang 248. Trọng Lượng là chữ nho Việt hàn lâm của từ dân gian Việt là Trong Nặng, cũng tức là “Trong Nặng”= Trọng (lướt lủn), và Trọng phiên thiết ra thành Trọng Lượng, từ nguyên gốc Việt của nó là Trong Nặng. Khi mua một bao lương thực gói kín. Không cần thấy trong là gạo hay ngô. Người mua muốn mua là mua cái lương thực đựng bên trong bao, vì bao chỉ là cái để “Bọc Vào!”= Bao 包 và “Bọc Đi!”= Bì 皮, là cái Bao Bì, để đựng, đem về rồi cũng vứt đi. Người mua sẽ hỏi “Trọng Nặng bao nhiêu kí?”tức hỏi cái Trọng (trọng lượng) của gạo. Bực lên vì người bán chưa kịp trả lời, người mua nhấn mạnh “Trỏng nhiêu kí?”, tức đã lướt cái từ lặp để nhấn mạnh là “Trọng Trọng”= Trỏng. 0+0=1. Nói đơn thuần là “Nặng bao nhiêu kí?”, nói chính xác bằng “từ khoa học” (ngôn từ hàn lâm của tiếng Việt) là “Trọng Lượng bao nhiêu kí?”. Trọng Lượng là ngôn từ hàn lâm của tiếng Việt (ngôn ngữ nho nhã, viết bằng chữ nho) nhưng xuất xứ của nó là từ Trong Nặng của ngôn ngữ dân gian Việt (viết bằng chữ Việt cổ mà cụ Đỗ Văn Xuyền đã phục nguyên). Chữ Việt cổ song song tồn tại với chữ nho, nó chỉ bị hủy diệt bằng lệnh từ thời Tần Thủy Hoàng, nhưng còn rơi rớt rải rác ở những vùng người Bách Việt sinh sống, kể cả ở Sơn Đông còn phát hiện được như trong truyện Thủy Hử có đoạn nói về chữ khoa đẩu. Quan Thoại chỉ có từ Trọng Lượng để chỉ cái nặng chứ không có từ Trong Nặng, do giới quan người Hãn thống trị chỉ hốt cái ngọn tinh hoa là chữ nho có sẵn, còn thì triệt phá cái dân gian (ngôn ngữ và chữ Việt cổ), người Hãn bỏ ngôn ngữ đa âm tiết của mình (kể cả đến thời Mãn Thanh, nay chỉ còn 200 người còn biết nói tiếng Mãn Thanh – theo Dương Danh Di) để nói theo dân thoại, nhưng chỉ lấy phần tinh hoa, là ngôn ngữ hàn lâm của Bách Việt, và hình thành nên Quan thoại, quan thống trị giành độc quyền về giáo dục, nhận xằng là tất cả đều do gốc Hãn, thì dân đen bị trị cũng đành chịu vậy và chấp nhận, vì “Miệng nhà quan có gang có thép”. Phân tích Trong Nặng = Trọng Lượng: “Trong Nặng”= Trọng (do lướt lủn), xong từ Trọng. Chữ Trọng 重 [ Zhong 重 ] viết có chữ Trong 里 là cái Trong Lõi , lướt “Trong Lõi”= Trọi, cái chum đựng gạo mà hết Trọi tức hết sạch trong lõi rồi, không còn sót lại hột gạo nào. Cái Lõi mà nhấn mạnh là “Lõi Chi 之”= Lí 里 , nho viết từ Trong bằng chữ Trung 中, do “Trong Cùng”= Trung, hay viết từ Trong là Trong Lõi bằng chữ Lí 里, chữ Lí 里 cũng đọc là Trong. Nặng=Nạng=Lạng=Lượng. Cái nạng là dụng cụ của người mà chân không nhúc nhắc được, nó chịu sức nặng của toàn thân. Lạng 量 = Lượng 量 do từ nguyên là Nặng, Lạng 量 = Lượng 量 dùng làm đơn vị đo độ nặng của vật, dùng nhiều là cho vật đựng trong đồ đựng, tức phải “Đo cái bên Trong”= Đong (chứ không kể cái bao bì, cân là phải trừ bì). Chữ Lượng 量 nho viết bằng chữ “Đán 旦 Trong 里”= Đong. Cũng có thể mượn chữ Độ là Đo để viết biểu ý là “Đo Trong”= Đong. Nhưng mượn chữ Đán 旦là “Đang 當 Sáng 亮” = ”Đang 當 Sán 燦”= Đán 旦 thì nó minh bạch hơn, nhìn tôi đong rõ như ban ngày đây nhá, chứ không phải là vừa đong vừa đếm láu cá “một hai ba, hôm qua bà mua của ai, mười hai mười ba mười bốn”. Chữ Đán 旦 [ Dan 旦] có nghĩa là rạng đông, là ban ngày, vì nó là “đang sáng”, nhưng nó cũng được bán đứng rồi, là “từ gốc Hán” (từ điển đã dẫn, trang 113). Từ Nặng nho viết bằng chữ Lượng 量, cũng như từ Nắng nho viết bằng chữ Lượng 亮 hay Lãng 朗, đều có nghĩa là Sáng. Vì Sáng là cái “Nguồn năng của mặt Trời”= Ngời. Cái nguồn năng ấy nó nhiều, nên “Năng Năng”= Nắng, 0+0=1. Cái năng lượng phát sáng ấy chính là cái Nắng. Nôi khái niệm Việt của Nắng là: Nắng = Náng = Lãng = Lượng = =Nướng = Nhưỡng. Náng là tiếng Nghệ An, có nghĩa là Nướng . Lãng 朗 [Lang 朗, dùng với nghĩa là Sáng, Ri 日 Lang 朗 là trời Sáng, Yue 月 Lang 朗 là trăng Sáng]. Lượng 亮 [Liang 亮, dùng với nghĩa là Sáng, Ri 日 Liang 亮 là trời Sáng ,Yue 月 Liang 亮 là trăng Sáng]. Nhưỡng 酿 [Niang 酿, dùng với nghĩa là Ủ ấm, như Niang 酿 Jiu 酒 là Ủ Rượu ]. Nhưỡng 酿= =Nướng = [Niang 酿], tiếng Việt còn có từ ngủ nướng, tức kéo dài thêm thời gian ủ ấm mà ngủ, chưa muốn dậy. Náng=Nướng=Nhưỡng đều phải sử dụng nhiệt lâu, nên mới gọi cái “Nướng Lâu”= Nấu, để cho chín có thể nấu khô (xào, rang) có thể “Nấu với Nước” = Nuộc = Luộc (chuyển đổi tơi N-L là phổ biến), tức đều cần cái Nóng=Nắng. Bởi vậy dân gian gọi đấu tố, phê bình, kiểm điểm là Luộc nhau. “Luộc nhau để đi đến lý thuyết thống Nhất”= Luật, đó chính là đã tạo được cái “Lạt mềm buộc Chật”= Luật. Luộc nhau đẩ mà Buộc nhau phải theo một cái chân lý chung, đó là nhấn mạnh “Luật 律 Chi 之”= Lý 理, là cái luật quốc tế.

Còn từ khoa học dùng trong vật lý là từ Khối Lượng thì do từ nguyên đâu mà ra? Nó có từ nguyên là Củ Năng và Củ Nặng là Khoai Lang. Củ là hình dung ra cái thể tích rồi. Củ = Khu, khu bụng là nói thể tích cái bụng, khu ngực là nói thể tích cái ngực. Củ = Khu = Khối 块 = Khoai . Hán ngữ đọc chữ Khối 块 là “khoai”- [ Kuai 块 ], còn khoai lang thì Hán ngữ lạigọi là [Hong Shu 红 薯]. Củ đương nhiện nặng hơn hột. Nặng=Lặng=Lang.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sau đây sẽ chú pinyin của Hán ngữ sau mỗi chữ nho, ngôn từ hàn lâm Việt (tinh hoa của ngôn từ dân gian Việt) để tiện so sánh, thấy rằng người Hãn đã hốt chỉ cái tinh hoa của Bách Việt mà tạo nên ngôn ngữ của giới quan, gọi là Quan Thoại. Win-Win là Việt Xin – Việt Xin. Anh đưa hàng cho tôi, tôi chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. Tôi đưa hàng cho anh, anh chỉ cần đáp một chữ Xin hay một chữ Tạ. “Việt Xin”= Vin=Win (Win nghĩa là Được), là nói về quan hệ Đông Tây. Và “Đô La”= Đa (Đa nghĩa là Nhiều của tiếng Việt, nghĩa là OK của tiếng Nga), là nói về quan hệ Tây Đông. Đó chỉ là giải thích cái ngẫu nhiên trùng hợp để thấy cái thú vị của ngôn từ Việt mà thôi, là dỡn chơi cho vui. Còn cái thật tức cái tính khoa học của ngôn ngữ dân gian Việt thì nó là như sau đây: “Tạ Xin” = Tin = ”Tin Tin” = Tín, 0+0=1, là nhấn mạnh phải có hai bên Tin nhau thì mới gọi là Tín 信 [ Xin 信 ], ví dụ người Việt nói “Tôi Tin anh, anh Tin tôi, chúng ta cùng giữ Tín với nhau”. “Xin Tạ” = Xá . Xá là từ Việt cổ chỉ động tác “Xếp úp mặt hai bàn tay Ta”= Xá, là chắp hai bàn tay với nhau mà biểu thị khi giao tiếp với người đối thoại là sẽ quan hệ “Với nhau dài Dài”= Vái, thời xưa chưa có tục bắt tay như của phương Tây hiện đại, chỉ có “xá nhau một xá”, “xá nhau ba xá”. Xá nghĩa là đồng thuận, là cho “Xuôi Ạ!'= Xá, không lưu giữ làm gì những bất đồng thù địch đã qua, tức là “Thật thương Ạ!”= Tha, “Thật thương Chứ!”= Thứ 恕 [ Shu 恕 ], là Tha Thứ. Nên mới có ngày rằm tháng bảy Việt lịch là ngày “Tháng bảy ngày Rằm, xá tội vong nhân”. Người Việt không có tính Hằn Thù, tức không ghi khắc (hằn) lại trong tâm mình cái thù đã qua, tức luôn biết tha thứ. Đến những trận chiến lớn, thực sự là vĩ đại trong lịch sử phương Đông, như ở sông Bạch Đằng (hai lần, Ngô Quyền đánh thắng quân Hán xâm lược và Trần Hưng Đạo đánh thắng quân Nguyên xâm lược), như ở Ngọc Hồi-Đống Đa (Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng quân Mãn Thanh xâm lược) đều chỉ được kỷ niệm bằng ngày, có tên hẳn hoi trong dân gian và trong sử sách, gọi là ngày Giỗ Trận Bạch Đằng (tại Gò Mả Ngụy, bên sông Bạch Đằng, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh) và ngày Giỗ Trận Đống Đa (tại Gò Đống Đa, quận Đống Đa, Hà Nội) để Xá cho vong linh tất cả nạn nhân của chiến tranh. Từ Xin là ngôn từ dân gian Việt, như từ Xin lỗi, Xin tha thứ, ví dụ mẹ đang ru nựng con thì “Ầu ơ...đừng khóc nữa con, mẹ Xin!, mẹ Xin!” . Xin là “Thành tố mang nghĩa cầu mong sự đồng thuận của tiếng Kinh”= “Thành.... Kính”= Thỉnh 請, nho viết từ Xin bằng chữ Thỉnh 請. Tạ 謝 [Xie 謝], Thỉnh 請 [ Qing 請 ]. Lướt của tiếng Việt: Cầu mong sự đồng thuận và coi nặng cái Ta là “Xin Tạ” = Xá, hay “Thỉnh Tạ”= Tha (nhận xét: hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp logic). Coi nặng cái Ta ( tự trọng) và cầu mong sự đồng thuận là “Tạ Xin”= Tín 信,hay “Tạ Thỉnh”= Tỉnh 醒 (nhận xét: hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp logic. Giữ Tín 信 là thể hiện một đầu óc Tỉnh 醒 táo chứ không phải đầu óc u tối. Ngủ mà tỉnh dậy thì mới tin là mình đã tỉnh dậy thật, từ Tỉnh Mắt nho viết bằng hai chữ Tỉnh Mục 醒 目, Tỉnh 醒 cũng tức là “Tin và Tín đều là từ gốc của tiếng Kinh”= Tỉnh 醒 và “Tin vào cái thần Kinh”= Tỉnh 醒. Anh còn tin vào cái thần kinh của anh là anh còn Tỉnh 醒 đấy, chưa đến nỗi lú lẫn hay điên). Vậy là rõ “Tỉnh cũng là từ gốc của tiếng Kinh”= Tỉnh 醒 [ Xing 醒 ]. Xét ba chữ Tạ 謝 [ Xie 謝 ], Thỉnh 請 [Qing 請], Tỉnh 醒 [Xing 醒]. Thiết của Hán ngữ: Tạ Thỉnh là “Xie 謝 Qing 請”= Xing 醒 (nhận xét: hoàn toàn đúng về thiết hai âm tiết để thành đọc đúng âm tiết thứ ba. Nhưng không logic về nghĩa, vì Xie 謝 Qing 請 ở Hán ngữ chỉ mang nghĩa là Cảm ơn và Mời, chẳng liên quan gì đến “Tự trọng và trọng người (Tạ) và Cầu mong sự đồng thuận” để mà có logic với Tỉnh 醒 táo). Thỉnh Tạ là “Qing 請 Xie 謝”= Qie (nhận xét: hoàn toàn trật. Từ tha thứ của tiếng Việt, quan thoại chỉ mượn có một chữ Thứ 恕 [shu 恕 ] có viết bằng chữ nho, chữ Tha không mượn được vì nó viết bằng chữ Việt cổ đã bị Tần Thủy Hoàng buộc cấm dùng, chứ không phải là Qie như đã thiết ở bên, mượn có một chữ Thứ 恕 của từ Tha Thứ để ghép với chữ Nhiêu 饒 của từ Nhiều, nhưng mà ghép ngược là Nhiêu 饒 Thứ 恕 để dịch ý “tha thứ nhiều”. Nhiều là từ gốc Việt, nho nhấn mạnh ý thành từ hàn lâm là “Nhiều Nhiều”= Nhiêu 饒, 1+1=0, viết bằng chữ nho Nhiêu饒. Nhiều là nhiều, Nhiêu là nhiều hơn cái nhiều, nên mới có từ “nhiêu khê”, nên mới có hỏi giá chỉ bằng một tiếng “Nhiêu?” ý là “nếu nói giá trị ít thì là bao nhiêu, nếu nói giá trị nhiều thì là bao nhiêu”. Cũng như từ Nhường, với từ “Nhường In”= Nhịn , tức nhường ăn nhường uống cho người khác, từ đôi Nhường Nhịn, mà lướt lủn thì thành “Nhường Nhịn”= Nhượng 讓, nho viết từ Nhường bằng chữ Nhượng 讓, từ Nhượng 讓 Nhiêu 饒 của nho Việt nghĩa là “nhường nhịn rất nhiều” thì quan thoại mượn hai chữ Nhượng 讓 Nhiêu 饒 và đổi ngược cú pháp thành Nhiêu 饒 Nhượng 讓. Từ điển Yếu tố... giải thích chữ Nhiêu 饒, trang 289, là “từ gốc Hán” cũng lại là bán đứng mà thôi).

Chữ Trọng Lượng mà Từ Điển đã dẫn cũng giải thích là “từ gốc Hán” (?!), Trọng 重 trang 436, Lượng 量 trang 248. Trọng Lượng là chữ nho Việt hàn lâm của từ dân gian Việt là Trong Nặng, cũng tức là “Trong Nặng”= Trọng (lướt lủn), và Trọng phiên thiết ra thành Trọng Lượng, từ nguyên gốc Việt của nó là Trong Nặng. Khi mua một bao lương thực gói kín. Không cần thấy trong là gạo hay ngô. Người mua muốn mua là mua cái lương thực đựng bên trong bao, vì bao chỉ là cái để “Bọc Vào!”= Bao 包 và “Bọc Đi!”= Bì 皮, là cái Bao Bì, để đựng, đem về rồi cũng vứt đi. Người mua sẽ hỏi “Trọng Nặng bao nhiêu kí?”tức hỏi cái Trọng (trọng lượng) của gạo. Bực lên vì người bán chưa kịp trả lời, người mua nhấn mạnh “Trỏng nhiêu kí?”, tức đã lướt cái từ lặp để nhấn mạnh là “Trọng Trọng”= Trỏng. 0+0=1. Nói đơn thuần là “Nặng bao nhiêu kí?”, nói chính xác bằng “từ khoa học” (ngôn từ hàn lâm của tiếng Việt) là “Trọng Lượng bao nhiêu kí?”. Trọng Lượng là ngôn từ hàn lâm của tiếng Việt (ngôn ngữ nho nhã, viết bằng chữ nho) nhưng xuất xứ của nó là từ Trong Nặng của ngôn ngữ dân gian Việt (viết bằng chữ Việt cổ mà cụ Đỗ Văn Xuyền đã phục nguyên). Chữ Việt cổ song song tồn tại với chữ nho, nó chỉ bị hủy diệt bằng lệnh từ thời Tần Thủy Hoàng, nhưng còn rơi rớt rải rác ở những vùng người Bách Việt sinh sống, kể cả ở Sơn Đông còn phát hiện được như trong truyện Thủy Hử có đoạn nói về chữ khoa đẩu. Quan Thoại chỉ có từ Trọng Lượng để chỉ cái nặng chứ không có từ Trong Nặng, do giới quan người Hãn thống trị chỉ hốt cái ngọn tinh hoa là chữ nho có sẵn, còn thì triệt phá cái dân gian (ngôn ngữ và chữ Việt cổ), người Hãn bỏ ngôn ngữ đa âm tiết của mình (kể cả đến thời Mãn Thanh, nay chỉ còn 200 người còn biết nói tiếng Mãn Thanh – theo Dương Danh Di) để nói theo dân thoại, nhưng chỉ lấy phần tinh hoa, là ngôn ngữ hàn lâm của Bách Việt, và hình thành nên Quan thoại, quan thống trị giành độc quyền về giáo dục, nhận xằng là tất cả đều do gốc Hãn, thì dân đen bị trị cũng đành chịu vậy và chấp nhận, vì “Miệng nhà quan có gang có thép”. Phân tích Trong Nặng = Trọng Lượng: “Trong Nặng”= Trọng (do lướt lủn), xong từ Trọng. Chữ Trọng 重 [ Zhong 重 ] viết có chữ Trong 里 là cái Trong Lõi , lướt “Trong Lõi”= Trọi, cái chum đựng gạo mà hết Trọi tức hết sạch trong lõi rồi, không còn sót lại hột gạo nào. Cái Lõi mà nhấn mạnh là “Lõi Chi 之”= Lí 里 , nho viết từ Trong bằng chữ Trung 中, do “Trong Cùng”= Trung, hay viết từ Trong là Trong Lõi bằng chữ Lí 里, chữ Lí 里 cũng đọc là Trong. Nặng=Nạng=Lạng=Lượng. Cái nạng là dụng cụ của người mà chân không nhúc nhắc được, nó chịu sức nặng của toàn thân. Lạng 量 = Lượng 量 do từ nguyên là Nặng, Lạng 量 = Lượng 量 dùng làm đơn vị đo độ nặng của vật, dùng nhiều là cho vật đựng trong đồ đựng, tức phải “Đo cái bên Trong”= Đong (chứ không kể cái bao bì, cân là phải trừ bì). Chữ Lượng 量 nho viết bằng chữ “Đán 旦 Trong 里”= Đong. Cũng có thể mượn chữ Độ là Đo để viết biểu ý là “Đo Trong”= Đong. Nhưng mượn chữ Đán 旦là “Đang 當 Sáng 亮” = ”Đang 當 Sán 燦”= Đán 旦 thì nó minh bạch hơn, nhìn tôi đong rõ như ban ngày đây nhá, chứ không phải là vừa đong vừa đếm láu cá “một hai ba, hôm qua bà mua của ai, mười hai mười ba mười bốn”. Chữ Đán 旦 [ Dan 旦] có nghĩa là rạng đông, là ban ngày, vì nó là “đang sáng”, nhưng nó cũng được bán đứng rồi, là “từ gốc Hán” (từ điển đã dẫn, trang 113). Từ Nặng nho viết bằng chữ Lượng 量, cũng như từ Nắng nho viết bằng chữ Lượng 亮 hay Lãng 朗, đều có nghĩa là Sáng. Vì Sáng là cái “Nguồn năng của mặt Trời”= Ngời. Cái nguồn năng ấy nó nhiều, nên “Năng Năng”= Nắng, 0+0=1. Cái năng lượng phát sáng ấy chính là cái Nắng. Nôi khái niệm Việt của Nắng là: Nắng = Náng = Lãng = Lượng = =Nướng = Nhưỡng. Náng là tiếng Nghệ An, có nghĩa là Nướng . Lãng 朗 [Lang 朗, dùng với nghĩa là Sáng, Ri 日 Lang 朗 là trời Sáng, Yue 月 Lang 朗 là trăng Sáng]. Lượng 亮 [Liang 亮, dùng với nghĩa là Sáng, Ri 日 Liang 亮 là trời Sáng ,Yue 月 Liang 亮 là trăng Sáng]. Nhưỡng 酿 [Niang 酿, dùng với nghĩa là Ủ ấm, như Niang 酿 Jiu 酒 là Ủ Rượu ]. Nhưỡng 酿= =Nướng = [Niang 酿], tiếng Việt còn có từ ngủ nướng, tức kéo dài thêm thời gian ủ ấm mà ngủ, chưa muốn dậy. Náng=Nướng=Nhưỡng đều phải sử dụng nhiệt lâu, nên mới gọi cái “Nướng Lâu”= Nấu, để cho chín có thể nấu khô (xào, rang) có thể “Nấu với Nước” = Nuộc = Luộc (chuyển đổi tơi N-L là phổ biến), tức đều cần cái Nóng=Nắng. Bởi vậy dân gian gọi đấu tố, phê bình, kiểm điểm là Luộc nhau. “Luộc nhau để đi đến lý thuyết thống Nhất”= Luật, đó chính là đã tạo được cái “Lạt mềm buộc Chật”= Luật. Luộc nhau đẩ mà Buộc nhau phải theo một cái chân lý chung, đó là nhấn mạnh “Luật 律 Chi 之”= Lý 理, là cái luật quốc tế.

Còn từ khoa học dùng trong vật lý là từ Khối Lượng thì do từ nguyên đâu mà ra? Nó có từ nguyên là Củ Năng và Củ Nặng là Khoai Lang. Củ là hình dung ra cái thể tích rồi. Củ = Khu, khu bụng là nói thể tích cái bụng, khu ngực là nói thể tích cái ngực. Củ = Khu = Khối 块 = Khoai . Hán ngữ đọc chữ Khối 块 là “khoai”- [ Kuai 块 ], còn khoai lang thì Hán ngữ lạigọi là [Hong Shu 红 薯]. Củ đương nhiện nặng hơn hột. Nặng=Lặng=Lang.

Hán ngữ gọi Củ Lang là “húng sủ” [Hong Shu 红薯], nghĩa là Củ Hồng, do đã di thực các giống Củ từ đất Việt (kể từ Củ Môn còn gọi là Khoai Môn trồng ở Văn Hóa Hòa Bình cách nay vạn năm). Từ Củ bị phát âm lơ lớ là “sủ” [shu 薯].

Ai lại giải thích một danh từ khoa học là từ Khối Lượng mà dám nói là nó bắt nguồn do từ Khoai Lang, một danh từ “nhà quê” đơn giản như thế! Đáng lý phải tìm nguồn gốc nó ở trong cổ Hán thư hay ít ra cũng trong tiếng Latin chứ. Ấy là do hai lúa không theo lối mòn, chỉ muốn Phá để tìm Ra (có từ Ra của ngôn ngữ dân gian rồi mới sinh ra từ Phá 破của chữ nho hàn lâm, ngày nay còn phải đi Rà mìn chán chê để tìm xem chúng còn Lặn ở những đâu). “Chaỵ trời không khỏi nắng” như thấy ở cái nôi khái niệm nói về Rà Phá bom mìn đây này: Nôi=Nhồi=Nồi=Nổ=Nở=Vỡ=Vã=Ra=Nã=Xạ=Đả=Phá=Phát=Pháo=Bạo=Bục=Bắn=Bung=Bùng=Súng=Tung=Tóe=Tạc=Toang=Đoàng=Đùng=Đạn . “Phá ra để mà Đạt” = Phát. “Phá ra để mà Được” = Phước. “Phá ra để mà sung Túc” = Phúc. “Phá ra để mà Vượt” = Phượt (Cám ơn các bạn choai choai đã đặt ra từ Phượt rất đẹp này, mới mấy năm gần đây thôi, cho ngành du lịch, chứ không phải là do các viện sĩ Viện ngôn ngữ học VN đặt ra. Họ chỉ đặt ra tên cho các bộ dài loằng ngoằng như bộ “Văn hóa thông tin thể thao và du lịch”, chẳng phải câu, chẳng phải danh từ, mà vẫn dạy cho thiên hạ rằng đó là Tên của bộ. Đến giống Mít mới trái tròn như trái banh, nông dân gọi là trái “Mít Tròn”= Mon, là trái Mon, chứ không chờ “danh từ khoa học”). Lặn=Lặng là do từ Nặng mà ra. Lặn xuống nước sâu người ta còn phải đeo thêm cục đá vào người cho nó nặng để dễ lặn. Cho nên Lặn=Năn=Năng=Nặng=Lặng. Củ Năn còn gọi là củ Năng, nhưng củ Năng thì nó nhẹ hơn cái củ Nặng là củ khoai lang. Củ nào chẳng Lặn trốn xuống đất, nên “Trốn như Củ”=Trú. Đến như củ lạc (đậu phộng) nó hình thành là quả từ cái hoa ở trên ngọn, vậy mà nó Lặn xuống đất ngầm để rồi Phồng lên thành Củ. Nó Lặn là nó Lọt xuống đất ngầm, nên gọi nó là Lạc (rất chính xác). Nhưng lúc đầu là nó ở trên Đầu cây lạc, rồi nó mới Lặn xuống đất ngầm, nên nó là cái “Đầu Lặn”= Đậu (do lướt lủn), Lặn dưới đất ngầm nó sẽ Phồng lên dần dần, “Phồng Lặn”= Phộng (do lướt lủn), cái tên là Đậu Phộng cũng rất chính xác. Thử hỏi, nông dân đặt ra danh từ hay hơn, hay là viện sĩ của bộ chức năng đặt ra danh từ hay hơn? Vậy mà thầy sẽ đánh rớt vì lỗi chính tả nếu bài thi em nào viết cây lạc thành cây đậu phộng đấy. Cái Củ nó Trú dưới đất ngầm như ở trong Kho (động vật muốn ăn phải moi tìm), cái “Kho Trú”= Khu, còn có từ ghép Khu Trú là ở chỗ đó. Khu Trú là “Khép lại thành một Mối”= Khối (như dồn các xn vô KCN hiện nay). Rõ ràng Khối là một Củ = một Cục (danh từ chỉ các Cục, các Khối cơ quan cũng là từ đó mà ra, có viết bằng chữ nho thì gọi là danh từ hàn lâm). Củ Nặng nó thuộc Khối Loại nên gọi nó là “Khối Loại”= Khoai. Củ Nặng = Khối Lặng = Khoai Lang, còn gọi là Củ Lang (gọi là Củ Lang như người Nam Bộ gọi mới là chính xác, còn gọi Củ Khoai thì không phân biệt được bởi còn Khoai Sọ, Khoai Môn, Khoai Nước, Khoai Ráy v.v. Củ Khoai là một từ đôi, chỉ nhiều loại Củ nói chung , vì Củ=Khoai, “Con kiến mà kiện củ khoai”, nếu không hiểu Củ=Khoai, Củ Khoai là một từ đôi để nhấn ý nhiều, thì sẽ không hiểu hết ý là con kiến đã phải đi kiện ở rất nhiều cửa mà không được kết quả gì, như nông dân vẫn hiểu đúng hồn cái câu tục ngữ trên). Nặng=Lặng=Lang, nó Nặng thật nhưng ăn nó thì nhẹ bụng vì nó cho ít calo hơn gạo, nên không gọi nó là Củ Lặng mà gọi nó nhẹ hơn, là Củ Lang, hay Khoai Lang. Từ đó mà có từ Khối Lượng (có thể tích và có trọng lượng). Từ Khối 块 và từ Lượng 量 có viết bằng chữ nho hàn lâm. Nhưng từ ghép Khối Lượng (nôm na là củ nặng, đến như cái kia người ta còn gọi là củ c.) là do các nhà ngôn ngữ học VN đặt ra như một danh từ khoa học. Hán ngữ không có từ ghép Khối Lượng (gõ riêng sẽ có chữ Khối 块 và chữ Lượng 量, gõ liền danh từ Khối Lượng sẽ thấy không có).

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hán ngữ gọi Củ Lang là “húng sủ” [Hong Shu 红薯], nghĩa là Củ Hồng, do đã di thực các giống Củ từ đất Việt (kể từ Củ Môn còn gọi là Khoai Môn trồng ở Văn Hóa Hòa Bình cách nay vạn năm). Từ Củ bị phát âm lơ lớ là “sủ” [shu 薯].

Ai lại giải thích một danh từ khoa học là từ Khối Lượng mà dám nói là nó bắt nguồn do từ Khoai Lang, một danh từ “nhà quê” đơn giản như thế! Đáng lý phải tìm nguồn gốc nó ở trong cổ Hán thư hay ít ra cũng trong tiếng Latin chứ. Ấy là do hai lúa không theo lối mòn, chỉ muốn Phá để tìm Ra (có từ Ra của ngôn ngữ dân gian rồi mới sinh ra từ Phá 破của chữ nho hàn lâm, ngày nay còn phải đi Rà mìn chán chê để tìm xem chúng còn Lặn ở những đâu). “Chaỵ trời không khỏi nắng” như thấy ở cái nôi khái niệm nói về Rà Phá bom mìn đây này: Nôi=Nhồi=Nồi=Nổ=Nở=Vỡ=Vã=Ra=Nã=Xạ=Đả=Phá=Phát=Pháo=Bạo=Bục=Bắn=Bung=Bùng=Súng=Tung=Tóe=Tạc=Toang=Đoàng=Đùng=Đạn . “Phá ra để mà Đạt” = Phát. “Phá ra để mà Được” = Phước. “Phá ra để mà sung Túc” = Phúc. “Phá ra để mà Vượt” = Phượt (Cám ơn các bạn choai choai đã đặt ra từ Phượt rất đẹp này, mới mấy năm gần đây thôi, cho ngành du lịch, chứ không phải là do các viện sĩ Viện ngôn ngữ học VN đặt ra. Họ chỉ đặt ra tên cho các bộ dài loằng ngoằng như bộ “Văn hóa thông tin thể thao và du lịch”, chẳng phải câu, chẳng phải danh từ, mà vẫn dạy cho thiên hạ rằng đó là Tên của bộ. Đến giống Mít mới trái tròn như trái banh, nông dân gọi là trái “Mít Tròn”= Mon, là trái Mon, chứ không chờ “danh từ khoa học”). Lặn=Lặng là do từ Nặng mà ra. Lặn xuống nước sâu người ta còn phải đeo thêm cục đá vào người cho nó nặng để dễ lặn. Cho nên Lặn=Năn=Năng=Nặng=Lặng. Củ Năn còn gọi là củ Năng, nhưng củ Năng thì nó nhẹ hơn cái củ Nặng là củ khoai lang. Củ nào chẳng Lặn trốn xuống đất, nên “Trốn như Củ”=Trú. Đến như củ lạc (đậu phộng) nó hình thành là quả từ cái hoa ở trên ngọn, vậy mà nó Lặn xuống đất ngầm để rồi Phồng lên thành Củ. Nó Lặn là nó Lọt xuống đất ngầm, nên gọi nó là Lạc (rất chính xác). Nhưng lúc đầu là nó ở trên Đầu cây lạc, rồi nó mới Lặn xuống đất ngầm, nên nó là cái “Đầu Lặn”= Đậu (do lướt lủn), Lặn dưới đất ngầm nó sẽ Phồng lên dần dần, “Phồng Lặn”= Phộng (do lướt lủn), cái tên là Đậu Phộng cũng rất chính xác. Thử hỏi, nông dân đặt ra danh từ hay hơn, hay là viện sĩ của bộ chức năng đặt ra danh từ hay hơn? Vậy mà thầy sẽ đánh rớt vì lỗi chính tả nếu bài thi em nào viết cây lạc thành cây đậu phộng đấy. Cái Củ nó Trú dưới đất ngầm như ở trong Kho (động vật muốn ăn phải moi tìm), cái “Kho Trú”= Khu, còn có từ ghép Khu Trú là ở chỗ đó. Khu Trú là “Khép lại thành một Mối”= Khối (như dồn các xn vô KCN hiện nay). Rõ ràng Khối là một Củ = một Cục (danh từ chỉ các Cục, các Khối cơ quan cũng là từ đó mà ra, có viết bằng chữ nho thì gọi là danh từ hàn lâm). Củ Nặng nó thuộc Khối Loại nên gọi nó là “Khối Loại”= Khoai. Củ Nặng = Khối Lặng = Khoai Lang, còn gọi là Củ Lang (gọi là Củ Lang như người Nam Bộ gọi mới là chính xác, còn gọi Củ Khoai thì không phân biệt được bởi còn Khoai Sọ, Khoai Môn, Khoai Nước, Khoai Ráy v.v. Củ Khoai là một từ đôi, chỉ nhiều loại Củ nói chung , vì Củ=Khoai, “Con kiến mà kiện củ khoai”, nếu không hiểu Củ=Khoai, Củ Khoai là một từ đôi để nhấn ý nhiều, thì sẽ không hiểu hết ý là con kiến đã phải đi kiện ở rất nhiều cửa mà không được kết quả gì, như nông dân vẫn hiểu đúng hồn cái câu tục ngữ trên). Nặng=Lặng=Lang, nó Nặng thật nhưng ăn nó thì nhẹ bụng vì nó cho ít calo hơn gạo, nên không gọi nó là Củ Lặng mà gọi nó nhẹ hơn, là Củ Lang, hay Khoai Lang. Từ đó mà có từ Khối Lượng (có thể tích và có trọng lượng). Từ Khối 块 và từ Lượng 量 có viết bằng chữ nho hàn lâm. Nhưng từ ghép Khối Lượng (nôm na là củ nặng, đến như cái kia người ta còn gọi là củ c.) là do các nhà ngôn ngữ học VN đặt ra như một danh từ khoa học. Hán ngữ không có từ ghép Khối Lượng (gõ riêng sẽ có chữ Khối 块 và chữ Lượng 量, gõ liền danh từ Khối Lượng sẽ thấy không có).

Khoai Sọ là giống cây trồng, cùng lúa nếp, là di tích mà khảo cổ phát hiện ở Văn Hóa Hòa Bình có niên đại cách nay hàng vạn năm. Củ Sọ nảy ra rất nhiều mầm, nên cứ một mà đẻ sồn sồn, “Một củ đẻ ra sồn Sồn”= Môn, nên Củ Sọ còn gọi là Củ Môn . Củ đẻ sồn sồn tức “Củ đẻ ra củ Nữa”= Cửa. Bởi vậy mới có hai từ đồng nghĩa dị âm là Cửa=Môn. Truyền thuyết của người Choang Quảng Tây (đọc trên mạng Zhuang Zu Zai Xian 壯 族 在 線) kể rằng phong tục cổ đại, khi chia con cái đi ở riêng xa, gia đình cấp cho giống Củ Môn để đến nơi mới lại trồng, lập nghiệp thành chi họ ở đó, gọi là một Môn. Vậy Củ Khoai = Củ Củ = Cửa Cửa = Môn Môn. Cho nên “Con kiến mà kiện củ khoai” thì mệt lắm, không biết phải qua bao nhiêu Quan Môn cho vừa, vì toàn gặp Môn mất Minh (tơi M bị “Văng Mất”= Vắng - do lướt lủn) nên chi Quan Môn chỉ còn là Quan Ôn.

16. Từ Cứng đến Mềm

“Đời cha cho chí đời con. Đẽo Vuông rồi lại đẽo Tròn mới nên”. Câu ca dao này có từ thời đại đồ đá mới (nhìn tượng đài bằng cặp Nõn/Nường hay cặp Yoni/Lingga thì rõ). Phát âm của ngôn từ cũng đi theo chiều dài lịch sử từ Cứng đến Mềm (phát âm của dân Kinh đô đã được mềm hóa hơn nhiều so với phát âm của dân các vùng khác, thành tiếng nói mềm mại chải chuốt), đó là logic phát triển của ngôn ngữ, như đa âm tiết biến thành đơn âm tiết kèm thanh điệu, không có ngược. Ký tự cũng vậy, từ Kẻ (dùng Que rất Cứng để Kẻ thành các Quẻ, rồi mới đến thời Vẽ nên các nét ký tự mềm mại hơn, vì khi đó đã có giấy mềm, bút mềm và đã chế ra cái chất màu Mun và là chất Nước ( Nước=Nác=Đác=Đức=Tức), gọi là “Mun Tức”= Mực, nho viết từ Mun Tức bằng chữ Mạc Thủy, Hán ngữ dùng hai chữ Mạc Thủy này, phát âm là [Mo Shui]; Mực thành từ đại diện cho màu đen vì mẹ của nó là Mun, (như chó có lông đen tuyền gọi là chó mực). Thái độ ứng xử theo bản năng cũng là trước Cứng sau Mềm. Con chim trong tổ của nó khi có khách lạ đến là nó xồ ra ngay với một thái độ Cứng, rồi thấy khách là thiện nó mới chuyển sang thái độ “Mềm hóa cái Cứng”= Mừng. “Mừng là từ tiếng Kinh”= Minh (dấu= trong đẳng thức do lướt cả câu này là tương đương với “gọi là”, tức tiếng Kinh còn gọi Mừng là Minh , nho viết từ Mừng bằng chữ Minh鳴). “Người tiếp nhau mà mừng hay Minh”= Nghinh = Nghênh, gọi là Nghinh Tiếp hay Nghênh Tiếp, sau còn có từ ghép Hoan Nghênh, tức vui mà nghênh tiếp. Con chim nó mừng thì nó hót, ấy là Hót Mừng. Hán ngữ sử dụng chữ Minh 鳴 (=Mừng) để chỉ ý Hót, chim hót thì gọi là Điểu Minh [Nieo Ming 鳥鳴]. Tiếng nói ban đầu gọi rất Cứng là từ Kêu, cũng như dùng chỉ tiếng của động vật vậy, (Kêu thì tiếng Quảng Đông và Đài Loan thì gọi là Coỏng). Nho viết từ Kêu bằng chữ Khiếu 叫, Kêu Nói = Kêu Nài = Khiếu Nại. Rồi Khiếu mới dần mềm hóa đi thành Chiêu 招 và Chào 招 Hán ngữ chỉ hốt cái ngọn tinh hoa của Việt, đọc chữ Khiếu 叫 rất mềm là [Jiao 叫]. Từ Chào Hỏi nho viết bằng chữ Chiêu 招 Hô 呼, Hán ngữ phát âm là [zhao Hu 招 呼]. Từ Coỏng mềm hóa đi thành Giảng 講, đến Hán ngữ còn mềm hơn là [Jiang 講]. Công cụ thời đồ đá mới cũng toàn là Cứng, làm thủ công nên bàn tay phải Cầm, Cầm mềm hóa đi thành Nắm, có từ đôi Cầm Nắm. Và nhấn mạnh bằng phụ từ khẳng định đứng sau là “Nắm Ạ!”= Nã, nho viết từ Nắm bằng chữ Nã 拿. Hán ngữ chỉ mượn cái ngọn tinh hoa của Việt, đọc chữ Nã 拿 là [Ná 拿] chỉ ý cầm. Các máy móc làm ra thời kỳ đầu toàn là tên bằng các từ phát âm rất Cứng như Cái Cung, Cái Cần Câu, Cái Kệ, Cái Cũi, Cái Cộ, Cái Kút Kít, Cái Cạm, Cái Cọn, Cái Cày, Cái Cuốc, Cái Cối ( dã gạo tự động bằng suối nước)... Tất cả những tên của các loại máy móc thô sơ ấy mà nhấn mạnh thì chỉ bằng thêm phụ từ khẳng định Chớ! đàng sau thì đều thành Cơ, như kiểu “Cộ Chớ!”= Cơ 機, và nhấn mạnh nữa “Cơ Chứ!”= Cụ 具, rồi “Khẳng định cơ 機 Chi之”= Kỹ 技 (là kỹ thuật) ,rồi Kỹ = Khí 器. Cơ 機 và Khí 器 thành những từ chỉ chung nhất các loại máy móc, dụng cụ . Hán ngữ chỉ cần mượn cái ngọn tinh hoa của Việt là chữ Cơ 機 và chữ Khí 器, phát âm mềm hóa đi rất nhiều là [ Ji 機, Qi器] để chỉ các loại máy móc và dụng cụ, sau có từ ghép Cơ Khí 機 器. Nông nghiệp trồng trọt sơ khai nhất thủa ban đầu là hỏa chủng, đốt đầu cây cọc mài cho nhọn chọc lỗ xuống đất mà tra hột giống lúa nương . Nương=Ni=Nếp=Nhứt (gạo Lứt có trước rồi mới thành gạo dã, “Lúa Nhứt”= Lứt), đó là thời ăn lúa Nếp (Ni), biển rút, xuống đồng bằng mới có giống lúa Tẻ (giống lúa thứ hai, Hai=Tê, tiếng Khơ Me). Lúc đó mới “Đứng bên Ni đồng ngó bên Tê đồng thấy mênh mông bát ngát” (ca dao). Động tác gieo giống kiểu hỏa chủng ấy là chọc lỗ rồi Thả hột xuống lỗ, lấy chân gạt đất Lấp lại, nói chung là tạo nên một sự tiếp xúc giữa đầu gậy và đất, giữa đất vụn lấp xuống với hột giống, tức tiếp xúc hai vật với nhau. Cái nôi khái niệm ấy là: Chọc=Chọt=Trọt (trồng trọt)= “Trọt Thả”= Tra= “Tra Lấp”= Trập= Chập (chập đất vụn và hột giống làm một) = Chắp = Lắp = Sắp = Sáp 插 = Tháp = Thắp = Thếp = Xếp = Tệp = Tấp = Tô. Đem hai vật Chắp (Tháp) vào nhau gọi là Tra (ví dụ tra cán cuốc, tra thuốc vào mặt vết thương), nho viết từ Tra bằng chữ Sáp 插 [ Cha 插 ]. Sáp=Tháp=Thắp (thắp nến là đưa ngọn lửa đến tiếp xúc với đầu bấc của cây nến). Chồng các vật tiếp xúc lên nhau thành một đống gọi là Tấp. Chồng một lớp màu tiếp xúc lên một lớp màu khác gọi là Tô. Kiến trúc nhiều tầng chồng tiếp xúc lên cao dần gọi là cái Tháp 塔. Hán ngữ đọc chữ Sáp 插 là [Cha 插 ], đọc chữ Tháp là [Ta 塔 ], đều do mượn âm “Tra”, Nhật ngữ đọc chữ Sáp 插 là [ Sô 插 ], do mượn âm “Tô”. Trập là “Tra hột rồi Lấp”= Trập, cũng như là cho hột giống nó “Trốn Nấp”= Trập ở dưới đất (để khỏi bị chim nó ăn). Ngày côn trùng nó “Trốn Nấp” = Trập, gọi là ngày Kinh Trập, nho viết chữ Trập 螫 [Zhe 螫], chữ Trập này có bộ Trùng 虫, vì Sâu=Sùng=Trùng=Trùn=Giun (mền hóa phát âm là vậy). Cái NÔI khái niệm ngôn từ của Việt là nó “BAO gồm tất cả trong “Lòng Ta”=LA” = BAO LA. Đúng như Cụ Sáu = Cụ Lấu ( Lấu, tiếng Hồ Nam)= Cụ Lục (Lục, tiếng Quảng Đông)= Cụ Lâu = Tu Lâu (Tu, tiếng Tày) = Tử Lão, đổi ngược thành Lão Tử [ Lao Zi 老 子], đã nói đại ý: Tâm là cái thiên phủ, nó sâu vô cùng và rộng vô cùng. Tấm Lòng thì nho sau viết bằng chữ Tâm Long 心 龍, vì phải mượn chữ nho mà ký âm thôi, vì chữ Việt cổ đã bị hủy diệt, không còn để mà ký âm đúng Tấm Lòng. Trong bài Quan Thánh Đế Giáng Bút Chân Kinh 關 聖 帝 降 筆 真 經 (là lời của vong linh Quan Vân Trường) có câu rõ ràng mượn chữ Long 龍 để ký âm từ Lòng, đó là câu: “Long hận gian phu dâm phụ 龍 恨 姦 夫 淫 婦”, nghĩa là Lòng giận cái gian ác bất kể từ đàn ông hay đàn bà (chỉ trọng cái nghĩa khí, tức cái chính danh). Mà Giận tức là “Dân Hận”= Giận. Nội dung cái bài Kinh ấy rõ ràng là do người đời sau viết ra (vô danh) chỉ là một bài dân vận mà thôi. Dân vận kiểu gì thì kiểu, đừng để thành dân giận là được, bởi vậy bài đó vẫn còn lưu truyền.

“Đẽo Vuông rồi lại Đẽo Tròn mới nên”. Khai thác Trái đất ( Vuông) chán chê rồi, thiên niên kỷ này mới là khai thác cái Tròn (vũ trụ). Cổ đại những máy móc thô sơ như cái Cối dã gạo bằng nước suối, Cái Cọn lấy nước sông, chỉ có phần Cứng, còn phần Mềm điều khiển là nhờ Trời. Kỹ thuật số (0/1) chỉ toàn dùng những xung nhảy cóc (discret) hình Vuông rõ Cứng còng còng mà điều khiển được những quá trình uyển chuyển (analog) hình sin Mềm mại. Gộp lại gọi là phần Mềm. Sức mạnh Mềm. Đẽo Vuông mới chỉ được cái “Đẽo Vuông”= Đường, muốn nên còn phải “Đẽo Tròn”= Đòn, là phần Mềm, là cái Đòn kê làm nền tảng thúc đẩy xã hôi phát triển, đồng thời là cái Đòn răn đe cái ác không được nảy sinh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Khoai Sọ là giống cây trồng, cùng lúa nếp, là di tích mà khảo cổ phát hiện ở Văn Hóa Hòa Bình có niên đại cách nay hàng vạn năm. Củ Sọ nảy ra rất nhiều mầm, nên cứ một mà đẻ sồn sồn, “Một củ đẻ ra sồn Sồn”= Môn, nên Củ Sọ còn gọi là Củ Môn . Củ đẻ sồn sồn tức “Củ đẻ ra củ Nữa”= Cửa. Bởi vậy mới có hai từ đồng nghĩa dị âm là Cửa=Môn. Truyền thuyết của người Choang Quảng Tây (đọc trên mạng Zhuang Zu Zai Xian 壯 族 在 線) kể rằng phong tục cổ đại, khi chia con cái đi ở riêng xa, gia đình cấp cho giống Củ Môn để đến nơi mới lại trồng, lập nghiệp thành chi họ ở đó, gọi là một Môn. Vậy Củ Khoai = Củ Củ = Cửa Cửa = Môn Môn. Cho nên “Con kiến mà kiện củ khoai” thì mệt lắm, không biết phải qua bao nhiêu Quan Môn cho vừa, vì toàn gặp Môn mất Minh (tơi M bị “Văng Mất”= Vắng - do lướt lủn) nên chi Quan Môn chỉ còn là Quan Ôn.

16. Từ Cứng đến Mềm

“Đời cha cho chí đời con. Đẽo Vuông rồi lại đẽo Tròn mới nên”. Câu ca dao này có từ thời đại đồ đá mới (nhìn tượng đài bằng cặp Nõn/Nường hay cặp Yoni/Lingga thì rõ). Phát âm của ngôn từ cũng đi theo chiều dài lịch sử từ Cứng đến Mềm (phát âm của dân Kinh đô đã được mềm hóa hơn nhiều so với phát âm của dân các vùng khác, thành tiếng nói mềm mại chải chuốt), đó là logic phát triển của ngôn ngữ, như đa âm tiết biến thành đơn âm tiết kèm thanh điệu, không có ngược. Ký tự cũng vậy, từ Kẻ (dùng Que rất Cứng để Kẻ thành các Quẻ, rồi mới đến thời Vẽ nên các nét ký tự mềm mại hơn, vì khi đó đã có giấy mềm, bút mềm và đã chế ra cái chất màu Mun và là chất Nước ( Nước=Nác=Đác=Đức=Tức), gọi là “Mun Tức”= Mực, nho viết từ Mun Tức bằng chữ Mạc Thủy, Hán ngữ dùng hai chữ Mạc Thủy này, phát âm là [Mo Shui]; Mực thành từ đại diện cho màu đen vì mẹ của nó là Mun, (như chó có lông đen tuyền gọi là chó mực). Thái độ ứng xử theo bản năng cũng là trước Cứng sau Mềm. Con chim trong tổ của nó khi có khách lạ đến là nó xồ ra ngay với một thái độ Cứng, rồi thấy khách là thiện nó mới chuyển sang thái độ “Mềm hóa cái Cứng”= Mừng. “Mừng là từ tiếng Kinh”= Minh (dấu= trong đẳng thức do lướt cả câu này là tương đương với “gọi là”, tức tiếng Kinh còn gọi Mừng là Minh , nho viết từ Mừng bằng chữ Minh鳴). “Người tiếp nhau mà mừng hay Minh”= Nghinh = Nghênh, gọi là Nghinh Tiếp hay Nghênh Tiếp, sau còn có từ ghép Hoan Nghênh, tức vui mà nghênh tiếp. Con chim nó mừng thì nó hót, ấy là Hót Mừng. Hán ngữ sử dụng chữ Minh 鳴 (=Mừng) để chỉ ý Hót, chim hót thì gọi là Điểu Minh [Nieo Ming 鳥鳴]. Tiếng nói ban đầu gọi rất Cứng là từ Kêu, cũng như dùng chỉ tiếng của động vật vậy, (Kêu thì tiếng Quảng Đông và Đài Loan thì gọi là Coỏng). Nho viết từ Kêu bằng chữ Khiếu 叫, Kêu Nói = Kêu Nài = Khiếu Nại. Rồi Khiếu mới dần mềm hóa đi thành Chiêu 招 và Chào 招 Hán ngữ chỉ hốt cái ngọn tinh hoa của Việt, đọc chữ Khiếu 叫 rất mềm là [Jiao 叫]. Từ Chào Hỏi nho viết bằng chữ Chiêu 招 Hô 呼, Hán ngữ phát âm là [zhao Hu 招 呼]. Từ Coỏng mềm hóa đi thành Giảng 講, đến Hán ngữ còn mềm hơn là [Jiang 講]. Công cụ thời đồ đá mới cũng toàn là Cứng, làm thủ công nên bàn tay phải Cầm, Cầm mềm hóa đi thành Nắm, có từ đôi Cầm Nắm. Và nhấn mạnh bằng phụ từ khẳng định đứng sau là “Nắm Ạ!”= Nã, nho viết từ Nắm bằng chữ Nã 拿. Hán ngữ chỉ mượn cái ngọn tinh hoa của Việt, đọc chữ Nã 拿 là [Ná 拿] chỉ ý cầm. Các máy móc làm ra thời kỳ đầu toàn là tên bằng các từ phát âm rất Cứng như Cái Cung, Cái Cần Câu, Cái Kệ, Cái Cũi, Cái Cộ, Cái Kút Kít, Cái Cạm, Cái Cọn, Cái Cày, Cái Cuốc, Cái Cối ( dã gạo tự động bằng suối nước)... Tất cả những tên của các loại máy móc thô sơ ấy mà nhấn mạnh thì chỉ bằng thêm phụ từ khẳng định Chớ! đàng sau thì đều thành Cơ, như kiểu “Cộ Chớ!”= Cơ 機, và nhấn mạnh nữa “Cơ Chứ!”= Cụ 具, rồi “Khẳng định cơ 機 Chi之”= Kỹ 技 (là kỹ thuật) ,rồi Kỹ = Khí 器. Cơ 機 và Khí 器 thành những từ chỉ chung nhất các loại máy móc, dụng cụ . Hán ngữ chỉ cần mượn cái ngọn tinh hoa của Việt là chữ Cơ 機 và chữ Khí 器, phát âm mềm hóa đi rất nhiều là [ Ji 機, Qi器] để chỉ các loại máy móc và dụng cụ, sau có từ ghép Cơ Khí 機 器. Nông nghiệp trồng trọt sơ khai nhất thủa ban đầu là hỏa chủng, đốt đầu cây cọc mài cho nhọn chọc lỗ xuống đất mà tra hột giống lúa nương . Nương=Ni=Nếp=Nhứt (gạo Lứt có trước rồi mới thành gạo dã, “Lúa Nhứt”= Lứt), đó là thời ăn lúa Nếp (Ni), biển rút, xuống đồng bằng mới có giống lúa Tẻ (giống lúa thứ hai, Hai=Tê, tiếng Khơ Me). Lúc đó mới “Đứng bên Ni đồng ngó bên Tê đồng thấy mênh mông bát ngát” (ca dao). Động tác gieo giống kiểu hỏa chủng ấy là chọc lỗ rồi Thả hột xuống lỗ, lấy chân gạt đất Lấp lại, nói chung là tạo nên một sự tiếp xúc giữa đầu gậy và đất, giữa đất vụn lấp xuống với hột giống, tức tiếp xúc hai vật với nhau. Cái nôi khái niệm ấy là: Chọc=Chọt=Trọt (trồng trọt)= “Trọt Thả”= Tra= “Tra Lấp”= Trập= Chập (chập đất vụn và hột giống làm một) = Chắp = Lắp = Sắp = Sáp 插 = Tháp = Thắp = Thếp = Xếp = Tệp = Tấp = Tô. Đem hai vật Chắp (Tháp) vào nhau gọi là Tra (ví dụ tra cán cuốc, tra thuốc vào mặt vết thương), nho viết từ Tra bằng chữ Sáp 插 [ Cha 插 ]. Sáp=Tháp=Thắp (thắp nến là đưa ngọn lửa đến tiếp xúc với đầu bấc của cây nến). Chồng các vật tiếp xúc lên nhau thành một đống gọi là Tấp. Chồng một lớp màu tiếp xúc lên một lớp màu khác gọi là Tô. Kiến trúc nhiều tầng chồng tiếp xúc lên cao dần gọi là cái Tháp 塔. Hán ngữ đọc chữ Sáp 插 là [Cha 插 ], đọc chữ Tháp là [Ta 塔 ], đều do mượn âm “Tra”, Nhật ngữ đọc chữ Sáp 插 là [ Sô 插 ], do mượn âm “Tô”. Trập là “Tra hột rồi Lấp”= Trập, cũng như là cho hột giống nó “Trốn Nấp”= Trập ở dưới đất (để khỏi bị chim nó ăn). Ngày côn trùng nó “Trốn Nấp” = Trập, gọi là ngày Kinh Trập, nho viết chữ Trập 螫 [Zhe 螫], chữ Trập này có bộ Trùng 虫, vì Sâu=Sùng=Trùng=Trùn=Giun (mền hóa phát âm là vậy). Cái NÔI khái niệm ngôn từ của Việt là nó “BAO gồm tất cả trong “Lòng Ta”=LA” = BAO LA. Đúng như Cụ Sáu = Cụ Lấu ( Lấu, tiếng Hồ Nam)= Cụ Lục (Lục, tiếng Quảng Đông)= Cụ Lâu = Tu Lâu (Tu, tiếng Tày) = Tử Lão, đổi ngược thành Lão Tử [ Lao Zi 老 子], đã nói đại ý: Tâm là cái thiên phủ, nó sâu vô cùng và rộng vô cùng. Tấm Lòng thì nho sau viết bằng chữ Tâm Long 心 龍, vì phải mượn chữ nho mà ký âm thôi, vì chữ Việt cổ đã bị hủy diệt, không còn để mà ký âm đúng Tấm Lòng. Trong bài Quan Thánh Đế Giáng Bút Chân Kinh 關 聖 帝 降 筆 真 經 (là lời của vong linh Quan Vân Trường) có câu rõ ràng mượn chữ Long 龍 để ký âm từ Lòng, đó là câu: “Long hận gian phu dâm phụ 龍 恨 姦 夫 淫 婦”, nghĩa là Lòng giận cái gian ác bất kể từ đàn ông hay đàn bà (chỉ trọng cái nghĩa khí, tức cái chính danh). Mà Giận tức là “Dân Hận”= Giận. Nội dung cái bài Kinh ấy rõ ràng là do người đời sau viết ra (vô danh) chỉ là một bài dân vận mà thôi. Dân vận kiểu gì thì kiểu, đừng để thành dân giận là được, bởi vậy bài đó vẫn còn lưu truyền.

“Đẽo Vuông rồi lại Đẽo Tròn mới nên”. Khai thác Trái đất ( Vuông) chán chê rồi, thiên niên kỷ này mới là khai thác cái Tròn (vũ trụ). Cổ đại những máy móc thô sơ như cái Cối dã gạo bằng nước suối, Cái Cọn lấy nước sông, chỉ có phần Cứng, còn phần Mềm điều khiển là nhờ Trời. Kỹ thuật số (0/1) chỉ toàn dùng những xung nhảy cóc (discret) hình Vuông rõ Cứng còng còng mà điều khiển được những quá trình uyển chuyển (analog) hình sin Mềm mại. Gộp lại gọi là phần Mềm. Sức mạnh Mềm. Đẽo Vuông mới chỉ được cái “Đẽo Vuông”= Đường, muốn nên còn phải “Đẽo Tròn”= Đòn, là phần Mềm, là cái Đòn kê làm nền tảng thúc đẩy xã hôi phát triển, đồng thời là cái Đòn răn đe cái ác không được nảy sinh.

17. Giải thích chữ Việt 越và chữ Hán 漢

Rất nhiều giải thích về cái từ Việt và cái chữ nho viết là Việt. Tôi giải thích từ Việt 越 nghĩa là Sáng, là ánh sáng của mặt Trời (dân Việt tôn thờ mặtTrời, hình mặt trời có ở giữa mặt của mọi trống đồng). Cái ánh sáng mặt trời ấy chính là Nắng, là nguồn năng của mặt Trời. Mà QT Lướt đã nén thông tin của một câu thành ra chỉ còn một từ: “Nguồn năng của mặt Trời”=Ngời. Nên đã sinh ra từ đôi Sáng Ngời (Sáng có trước, như Nắng có trước, Ngời có sau). Theo dõi tiếp để chứng nghiệm câu thành ngữ “Chạy Trời không khỏi Nắng” của NÔI khái niệm ngôn từ Việt. QT Tơi-Rỡi đã làm cho Ngời = Nguyệt 月 = Việt 越 = Nhiệt 热 = Nhật 日. Vậy Nguyệt 月 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trăng (Trăng=Trái=Tròn) và từ Nhật 日 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trời (Trời=Trái=Tròn). Trái Đất cũng là Trái (Trái= Tròn). Vậy người Việt cổ đã biết mọi thiên thể đều có hình Tròn, vì chúng đều trong trạng thái chuyển động Lăn. “Tròn Lăn”= Trặn. Các thiên thể đều Tròn Trặn. Trái Đất là rất tròn trặn vì nó tự xoay quanh trục của nó. Nho xưa đã viết Pháp 法Luân 輪 Tựa 似 Địa 地, tức Phải Lăn Như Đất. Hán ngữ chỉ mượn cái tinh hoa của Việt, tức mượn dùng chữ nho, nên Hán ngữ dùng chữ Nhật 日 để chỉ ban ngày (ngày – Nhật 日 / Dạ 夜– đêm). Tiếng Việt gọi là Ngày, vì có Ngời thì khoảng thời gian có “Ngời để mà nhìn Thấy”=Ngày, mới có Ngày. Hán ngữ dùng chữ Nguyệt 月để chỉ mặt Trăng, coi Nguyệt là thiên thể, chứ không mượn từ Trăng và Trời, vì chữ Việt cổ đã bị cấm, chỉ có chữ nho còn được phép tồn tại và phát triển ( từ 9785 chữ thời Hứa Thận cách nay 2000 năm đến 60000 chữ ngày nay).

Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật. Hán ngữ phát âm chữ Nguyệt 月 là Yue, phát âm chữ Việt 越 cũng là Yue; phát âm chữ Nhiệt 热là [“Rưa” Re 热] (Rưa là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên); phát âm chữ Nhật 日 là [“Rư” Ri 日] (Rư là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên). Nhiệt là cái năng gây ra nóng. Nóng=Nắng=Náng=Sáng=Rạng, cái nóng gây bức. “Rạng Bức”= =Rực, Rực nghĩa là Cháy. Rừng mà bị nắng đốt cháy thì Rừng Rực. Nhấn mạnh khẳng định “Rực Chớ!”= Rỡ. Có từ đôi Rực Rỡ (không có từ đôi Rỡ Rực, từ nào sinh ra trước thì đứng trước trong từ đôi, ví dụ “ánh sáng rực rỡ”, “lửa cháy rực rỡ”). “Rực Chớ!”= “Rực Chứ!”= Rư. Từ Rư này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rư” dùng đọc chữ Nhật 日[ Ri 日]. “Rực Lửa”= Rưa. Từ Rưa này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rưa” đọc chữ Nhiệt 热[ Re 热] . Người Nhật đọc tên nước họ bằng hai chữ nho Nhật Bản 日 本 mà họ phát âm là Ni-Hôn. Hai chữ nho Nhật Bản 日 本 nghĩa là “bổn nghĩa là Nhật”, tức nó cũng chỉ là một chữ Nhật 日 là cái ánh sáng của mặt trời lấy làm đại diện cho Trời. Mà Trời=Tròn =Hòn. Nên cái phát âm Ni Hôn truy nguyên là Hòn, tức chỉ mặt Trời. Còn không biết từ đâu mà Tây phiên âm là Gia Pan (Jiapan), có lẽ là do từ Già Bản của tiếng Việt mà người Việt đã bỏ quên. Trời=Giời=Già. Dân Kinh đô đã mềm hóa phát âm để có lời ca chải chuốt mượt mà, là câu hát quan họ “Giời bao nhiêu tuổi Giời Già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non”. Già (để rồi Tây viết thành Jia) chính là Giời (viết bằng chữ Nhật), vì khi nhấn mạnh khẳng định là “Giời A!”= Già. Vốn=Bổn (bằng Bốn ven của cái lồ đồng tiền Việt)= Bản ( để rồi Tây viết là Pan). Tự trọng là đáng kính nhất, nên mới có xưng “Kinh Mình”=Kính, “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả để chỉ ý tôn trọng. “Cổ đại từ Kinh có nghĩa chỉ sự tôn trọng, nên đặt sau từ Dịch chỉ ý tôn trọng Dịch, thành từ Dịch Kinh” (đọc mạng TQ). Tiếng Nhật Wa-Ta-Xi nghĩa là Tôi. Kính trọng thì “Tôi Cả”= Ta, “Tui Cả” =Ta, tiếng Nhật thì là “Wa-Ta-Xi Ga”= Wa. Truy nguyên từ Wa chính là Qua trong tiếng Việt khi xưng Tôi một cách khiêm tốn, Qua vốn là từ xưng Con mà nhấn mạnh “Con Ạ!”= =Qua. Người Nhật biết thân biết phận là cái Trong Lõi của từ Wa-Ta-Xi là từ Ta, nó là cái “Trong Chớ!”= Trơ và nó là cái “Trong Lõi”= Trọi, nên họ hiểu nếu chỉ có mình Ta thôi thì là Trơ Trọi, sẽ không làm nổi việc gì. Bởi vậy người Nhật rất biết đoàn kết và có tinh thần hợp tác trong công việc. Làm cho một cỗ máy nó chạy cần phải có nhà kỹ thuật. Một nhà kỹ thuật người Nhật chưa chắc đã bằng một nhà kỹ thuật người Việt. Nhưng ba nhà kỹ thuật người Việt chắc chắn không bằng một nhà kỹ thuật người Nhật. Bởi vậy cỗ máy của Nhật chạy ngọn vzọt lẹ. Còn cỗ máy Việt thì bởi các nhà kỹ thuật người Việt còn lo cãi nhau về những thứ ngoại lai đâu đâu “Ơ, cái lày thằng Tàu nó nàm thế lày cơ mà”, “Ơ, cái lày thằng Tây nó nàm thế lày cơ mà”, cãi nhau riết mấy chục năm, cỗ máy vẫn để nằm bẹp dí chẳng nhúc nhích được tí nào.

Chữ Việt theo Hứa Thận giải thích trong Thuyết Văn Giải Tự (cách nay 2000 năm): nghĩa thì là vượt qua tức đò ạ (cổ đại chỉ đi bằng đò lướt trên mặt nước là dễ nhất chứ làm gì đã có đường bộ), nho viết từ Đò Ạ bằng chữ Độ Dã; đọc thì là bằng cách thiết âm của hai từ “Vương 王 Phiệt 伐”= Việt 越. Phiệt 伐 = Phạt 伐 (ví dụ: chinh phạt), nho viết biểu ý chữ Phạt 伐 gồm Nhân 亻(người) và chữ Qua 戈 (cái dáo), tức Phạt 伐 có ý là người cầm dáo. Nhưng truy nguyên của từ Dáo là: Rìu=Rạ=Rựa=”Rựa của người Đào”=Rao=Dao (mềm hóa phát âm)=Đao=Dáo. Giải thích cái Dáo nó khác cái Dao thì người ta phải vừa mô tả vừa khẳng định, nó là “Cán thì dài mà búp thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= “Cán.... A!”= =Qua [Ge 戈, phát âm là “Cưa” là mượn âm của từ Rựa]. Búp dáo là con dao hai lưỡi, có loại còn làm búp hơi phồng, gần như bốn lưỡi, vì là búp dáo có hai lưỡi nên có từ nói bóng là Trở Dáo, mà không có từ nói bóng là trở liềm hay trở dao phay, thậm chí trở bút cũng gọi là Trở Dáo; nói lái Trở Dáo thành Tráo Trở. Con Rựa chính là cái Phạt 伐 (như chữ Phiệt 伐 là “Người 亻cầm Qua戈”) dùng để Phạt cây, Phạt cỏ khai hoang, như thành ngữ của nghề mần ruộng là “phạt bờ cuốc ruộng” hay “phát bờ cuốc góc”. Dân khai hoang Nam Bộ thời ban đầu có công cụ phạt cỏ hoang gọi là cái “Phạt cỏ Hoang”= Phạng, nó có cán cầm dài, lưỡi dài lia một phát là đứt một loạt cỏ, đánh nhau mà Phang thì đứt bay đầu như chơi. Vượt Qua là Việt cũng như cái Nhiệt là năng của Nắng là cái Sáng, nó có bản lãnh để vượt qua mọi vật cản, chắn nắng bằng bức tường thì nắng vẫn đốt nóng bức tường để thấm Nhiệt qua phía bên kia. Bản lĩnh ấy mới gọi là Ưu Việt. “Ủ Lâu” = Âu = ”Ủ Lưu” = Ưu = Lưu = Lạc. Âu Lạc dù có bị xóa sổ từ hai ngàn năm trước thì cái văn hiến của nó vẫn còn Lạc = “Lãng 朗 “Bạc 薄”= Sáng “Mỏng Tinh”= Sáng”Minh” , là cái văn minh của thời các vua Hùng 5000 năm trước.

Chữ Hán 漢 là gì? Dân của vua Khan gọi là dân Hãn. Hãn ở phía bắc, hành thủy, màu đen là màu Ô. Tên nước thì gồm tên tộc và tên vị trí trên bản đồ. Việt ở phương Nam gọi là Việt Nam. Hãn ở phương Ô gọi là Hãn Ô, lướt là “Hãn Ô”= Hồ, đúng như Hán thư viết, cổ đại có thành ngữ “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ”. Mạng TQ lại giải thích câu thành ngữ đó là, gọi bằng người Hồ vì họ có cây đàn tên là đàn Hồ, lại nữa họ đựng rượu trong cái dạ dày bò, gọi là cái Hồ. Chữ Hán 漢 gồm Nước 氵(phương thủy) + mượn âm chữ Nạn 難 đã lược phần bộ Chuy 隹, còn phần còn lại. Vậy chữ Hán 漢 nghĩa là Nước Nạn = Nước Cạn, vì họ ở nơi đất khô cao ráo có đồng cỏ (Mắc Cạn = Mắc Nạn, khi đẻ còn gọi là Vượt Cạn = Vượt Nan. Cạn=”Nó Cạn” = Nạn = Nông. “Nó cạn Không” à = “Nông” à). Từ đôi là Khô 枯Cạn 乾 [Ku 枯 Gan 乾] .Vậy từ Hán 漢 là chỉ đất chứ không phải chỉ tộc người, tộc thì là tộc Hãn, ở vùng đồng cỏ đất khô. Phương Nam khí hậu Ẩm và Ấm, ôn hòa nên gọi là Nước Yên = Nước An. Lướt thì “Nước An”= “Nán”. Hán ngữ dùng âm “Nán” để đọc chữ Nam 南 [Nán 南], và gọi nước phía Nam là An Nam. Lướt “An Nam”= Am, có nghĩa là yên ổn, yên tĩnh, nơi các đạo sĩ ở ẩn gọi là Am 庵.

Share this post


Link to post
Share on other sites

17. Giải thích chữ Việt 越và chữ Hán 漢

Rất nhiều giải thích về cái từ Việt và cái chữ nho viết là Việt. Tôi giải thích từ Việt 越 nghĩa là Sáng, là ánh sáng của mặt Trời (dân Việt tôn thờ mặtTrời, hình mặt trời có ở giữa mặt của mọi trống đồng). Cái ánh sáng mặt trời ấy chính là Nắng, là nguồn năng của mặt Trời. Mà QT Lướt đã nén thông tin của một câu thành ra chỉ còn một từ: “Nguồn năng của mặt Trời”=Ngời. Nên đã sinh ra từ đôi Sáng Ngời (Sáng có trước, như Nắng có trước, Ngời có sau). Theo dõi tiếp để chứng nghiệm câu thành ngữ “Chạy Trời không khỏi Nắng” của NÔI khái niệm ngôn từ Việt. QT Tơi-Rỡi đã làm cho Ngời = Nguyệt 月 = Việt 越 = Nhiệt 热 = Nhật 日. Vậy Nguyệt 月 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trăng (Trăng=Trái=Tròn) và từ Nhật 日 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trời (Trời=Trái=Tròn). Trái Đất cũng là Trái (Trái= Tròn). Vậy người Việt cổ đã biết mọi thiên thể đều có hình Tròn, vì chúng đều trong trạng thái chuyển động Lăn. “Tròn Lăn”= Trặn. Các thiên thể đều Tròn Trặn. Trái Đất là rất tròn trặn vì nó tự xoay quanh trục của nó. Nho xưa đã viết Pháp 法Luân 輪 Tựa 似 Địa 地, tức Phải Lăn Như Đất. Hán ngữ chỉ mượn cái tinh hoa của Việt, tức mượn dùng chữ nho, nên Hán ngữ dùng chữ Nhật 日 để chỉ ban ngày (ngày – Nhật 日 / Dạ 夜– đêm). Tiếng Việt gọi là Ngày, vì có Ngời thì khoảng thời gian có “Ngời để mà nhìn Thấy”=Ngày, mới có Ngày. Hán ngữ dùng chữ Nguyệt 月để chỉ mặt Trăng, coi Nguyệt là thiên thể, chứ không mượn từ Trăng và Trời, vì chữ Việt cổ đã bị cấm, chỉ có chữ nho còn được phép tồn tại và phát triển ( từ 9785 chữ thời Hứa Thận cách nay 2000 năm đến 60000 chữ ngày nay).

Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật. Hán ngữ phát âm chữ Nguyệt 月 là Yue, phát âm chữ Việt 越 cũng là Yue; phát âm chữ Nhiệt 热là [“Rưa” Re 热] (Rưa là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên); phát âm chữ Nhật 日 là [“Rư” Ri 日] (Rư là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên). Nhiệt là cái năng gây ra nóng. Nóng=Nắng=Náng=Sáng=Rạng, cái nóng gây bức. “Rạng Bức”= =Rực, Rực nghĩa là Cháy. Rừng mà bị nắng đốt cháy thì Rừng Rực. Nhấn mạnh khẳng định “Rực Chớ!”= Rỡ. Có từ đôi Rực Rỡ (không có từ đôi Rỡ Rực, từ nào sinh ra trước thì đứng trước trong từ đôi, ví dụ “ánh sáng rực rỡ”, “lửa cháy rực rỡ”). “Rực Chớ!”= “Rực Chứ!”= Rư. Từ Rư này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rư” dùng đọc chữ Nhật 日[ Ri 日]. “Rực Lửa”= Rưa. Từ Rưa này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rưa” đọc chữ Nhiệt 热[ Re 热] . Người Nhật đọc tên nước họ bằng hai chữ nho Nhật Bản 日 本 mà họ phát âm là Ni-Hôn. Hai chữ nho Nhật Bản 日 本 nghĩa là “bổn nghĩa là Nhật”, tức nó cũng chỉ là một chữ Nhật 日 là cái ánh sáng của mặt trời lấy làm đại diện cho Trời. Mà Trời=Tròn =Hòn. Nên cái phát âm Ni Hôn truy nguyên là Hòn, tức chỉ mặt Trời. Còn không biết từ đâu mà Tây phiên âm là Gia Pan (Jiapan), có lẽ là do từ Già Bản của tiếng Việt mà người Việt đã bỏ quên. Trời=Giời=Già. Dân Kinh đô đã mềm hóa phát âm để có lời ca chải chuốt mượt mà, là câu hát quan họ “Giời bao nhiêu tuổi Giời Già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non”. Già (để rồi Tây viết thành Jia) chính là Giời (viết bằng chữ Nhật), vì khi nhấn mạnh khẳng định là “Giời A!”= Già. Vốn=Bổn (bằng Bốn ven của cái lồ đồng tiền Việt)= Bản ( để rồi Tây viết là Pan). Tự trọng là đáng kính nhất, nên mới có xưng “Kinh Mình”=Kính, “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả để chỉ ý tôn trọng. “Cổ đại từ Kinh có nghĩa chỉ sự tôn trọng, nên đặt sau từ Dịch chỉ ý tôn trọng Dịch, thành từ Dịch Kinh” (đọc mạng TQ). Tiếng Nhật Wa-Ta-Xi nghĩa là Tôi. Kính trọng thì “Tôi Cả”= Ta, “Tui Cả” =Ta, tiếng Nhật thì là “Wa-Ta-Xi Ga”= Wa. Truy nguyên từ Wa chính là Qua trong tiếng Việt khi xưng Tôi một cách khiêm tốn, Qua vốn là từ xưng Con mà nhấn mạnh “Con Ạ!”= =Qua. Người Nhật biết thân biết phận là cái Trong Lõi của từ Wa-Ta-Xi là từ Ta, nó là cái “Trong Chớ!”= Trơ và nó là cái “Trong Lõi”= Trọi, nên họ hiểu nếu chỉ có mình Ta thôi thì là Trơ Trọi, sẽ không làm nổi việc gì. Bởi vậy người Nhật rất biết đoàn kết và có tinh thần hợp tác trong công việc. Làm cho một cỗ máy nó chạy cần phải có nhà kỹ thuật. Một nhà kỹ thuật người Nhật chưa chắc đã bằng một nhà kỹ thuật người Việt. Nhưng ba nhà kỹ thuật người Việt chắc chắn không bằng một nhà kỹ thuật người Nhật. Bởi vậy cỗ máy của Nhật chạy ngọn vzọt lẹ. Còn cỗ máy Việt thì bởi các nhà kỹ thuật người Việt còn lo cãi nhau về những thứ ngoại lai đâu đâu “Ơ, cái lày thằng Tàu nó nàm thế lày cơ mà”, “Ơ, cái lày thằng Tây nó nàm thế lày cơ mà”, cãi nhau riết mấy chục năm, cỗ máy vẫn để nằm bẹp dí chẳng nhúc nhích được tí nào.

Chữ Việt theo Hứa Thận giải thích trong Thuyết Văn Giải Tự (cách nay 2000 năm): nghĩa thì là vượt qua tức đò ạ (cổ đại chỉ đi bằng đò lướt trên mặt nước là dễ nhất chứ làm gì đã có đường bộ), nho viết từ Đò Ạ bằng chữ Độ Dã; đọc thì là bằng cách thiết âm của hai từ “Vương 王 Phiệt 伐”= Việt 越. Phiệt 伐 = Phạt 伐 (ví dụ: chinh phạt), nho viết biểu ý chữ Phạt 伐 gồm Nhân 亻(người) và chữ Qua 戈 (cái dáo), tức Phạt 伐 có ý là người cầm dáo. Nhưng truy nguyên của từ Dáo là: Rìu=Rạ=Rựa=”Rựa của người Đào”=Rao=Dao (mềm hóa phát âm)=Đao=Dáo. Giải thích cái Dáo nó khác cái Dao thì người ta phải vừa mô tả vừa khẳng định, nó là “Cán thì dài mà búp thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= “Cán.... A!”= =Qua [Ge 戈, phát âm là “Cưa” là mượn âm của từ Rựa]. Búp dáo là con dao hai lưỡi, có loại còn làm búp hơi phồng, gần như bốn lưỡi, vì là búp dáo có hai lưỡi nên có từ nói bóng là Trở Dáo, mà không có từ nói bóng là trở liềm hay trở dao phay, thậm chí trở bút cũng gọi là Trở Dáo; nói lái Trở Dáo thành Tráo Trở. Con Rựa chính là cái Phạt 伐 (như chữ Phiệt 伐 là “Người 亻cầm Qua戈”) dùng để Phạt cây, Phạt cỏ khai hoang, như thành ngữ của nghề mần ruộng là “phạt bờ cuốc ruộng” hay “phát bờ cuốc góc”. Dân khai hoang Nam Bộ thời ban đầu có công cụ phạt cỏ hoang gọi là cái “Phạt cỏ Hoang”= Phạng, nó có cán cầm dài, lưỡi dài lia một phát là đứt một loạt cỏ, đánh nhau mà Phang thì đứt bay đầu như chơi. Vượt Qua là Việt cũng như cái Nhiệt là năng của Nắng là cái Sáng, nó có bản lãnh để vượt qua mọi vật cản, chắn nắng bằng bức tường thì nắng vẫn đốt nóng bức tường để thấm Nhiệt qua phía bên kia. Bản lĩnh ấy mới gọi là Ưu Việt. “Ủ Lâu” = Âu = ”Ủ Lưu” = Ưu = Lưu = Lạc. Âu Lạc dù có bị xóa sổ từ hai ngàn năm trước thì cái văn hiến của nó vẫn còn Lạc = “Lãng 朗 “Bạc 薄”= Sáng “Mỏng Tinh”= Sáng”Minh” , là cái văn minh của thời các vua Hùng 5000 năm trước.

Chữ Hán 漢 là gì? Dân của vua Khan gọi là dân Hãn. Hãn ở phía bắc, hành thủy, màu đen là màu Ô. Tên nước thì gồm tên tộc và tên vị trí trên bản đồ. Việt ở phương Nam gọi là Việt Nam. Hãn ở phương Ô gọi là Hãn Ô, lướt là “Hãn Ô”= Hồ, đúng như Hán thư viết, cổ đại có thành ngữ “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ”. Mạng TQ lại giải thích câu thành ngữ đó là, gọi bằng người Hồ vì họ có cây đàn tên là đàn Hồ, lại nữa họ đựng rượu trong cái dạ dày bò, gọi là cái Hồ. Chữ Hán 漢 gồm Nước 氵(phương thủy) + mượn âm chữ Nạn 難 đã lược phần bộ Chuy 隹, còn phần còn lại. Vậy chữ Hán 漢 nghĩa là Nước Nạn = Nước Cạn, vì họ ở nơi đất khô cao ráo có đồng cỏ (Mắc Cạn = Mắc Nạn, khi đẻ còn gọi là Vượt Cạn = Vượt Nan. Cạn=”Nó Cạn” = Nạn = Nông. “Nó cạn Không” à = “Nông” à). Từ đôi là Khô 枯Cạn 乾 [Ku 枯 Gan 乾] .Vậy từ Hán 漢 là chỉ đất chứ không phải chỉ tộc người, tộc thì là tộc Hãn, ở vùng đồng cỏ đất khô. Phương Nam khí hậu Ẩm và Ấm, ôn hòa nên gọi là Nước Yên = Nước An. Lướt thì “Nước An”= “Nán”. Hán ngữ dùng âm “Nán” để đọc chữ Nam 南 [Nán 南], và gọi nước phía Nam là An Nam. Lướt “An Nam”= Am, có nghĩa là yên ổn, yên tĩnh, nơi các đạo sĩ ở ẩn gọi là Am 庵.

18 Xây Dựng và Kiến Trúc

Ngày nay hễ nói đến từ Xây là người ta hình dung ngay là phải có vôi vữa, hễ nói Kiến Trúc là hình dung ngay công trình gạch ngói bê tông. Từ Xây đã bị biến nghĩa là do công nghệ đã thay đổi, mà vẫn dùng từ cũ để diễn đạt. Kiến Trúc có gốc là từ Xây. Xây Dựng và Kiến Trúc đều là từ gốc Việt. Tuy vậy đại học thì dùng từ hàn lâm là Đại học Kiến Trúc, còn bộ thì dùng từ dân gian là Bộ Xây Dựng. Từ nào khoa học hơn? Cả hai đều như nhau. Kiến Trúc hàm ý lâu bền ở chữ Kiên. Xây Dựng hàm ý lâu bền ở chữ Dùng mãi mãi (như các thành ngữ “Dựng vợ gả chồng”, “Xây Dựng gia đình”). Nguyên do là do ngôn từ bắt nguồn từ cổ đại. Cổ đại người Việt làm nhà chỉ hoàn toàn bằng Cây, gọi là Xây nhà sàn hay Dựng nhà sàn đều không hề đụng tới một tí vôi vữa nào hay một cái đinh sắt nào. Công nghệ chỉ là “Xếp Cây”= Xây, và “Cây ghép cho Liền”= Kiến, cây lắp vào với cái “Trụ đã có lỗ Đục”= Trúc. Bởi vậy mà Xây đồng nghĩa với Kiến Trúc, và chúng đều là từ chuyên môn gốc Việt. Lúc này người Hãn còn ở trong nhà đào sâu vào đất khô, gọi là cái “Tung” (sau mượn chữ nho Động 洞 - nghĩa là Đồng 同 Nước 氵- để ký âm từ “Tung”, đến bây giờ mỗi cái nhà gạch đơn lẻ dù nhiều tầng vẫn gọi là một cái Động 洞). Còn Dựng là gì mà lại có từ Dựng nhà và thành ngữ Dựng vợ gả chồng, xây Dựng gia đình? Khi đã Dựng xong cái nhà hoàn toàn bằng cây thì nó thành một cái tài sản cố định, sử dụng lâu dài, đó là cái Vốn để dành lâu dài: Vốn 本 = Vẫn = Nhẫn 忍 = Nhưng 仍 (VD, tôi Vốn như thế = tôi Vẫn như thế = tôi Nhẫn như thế = Nhưng tôi như thế = Nhưng tôi Vẫn như thế = Nhưng tôi thế đấy. Đó là sự lâu bền không thay đổi). Vì “Cây ghép cho Liền” = Kiến, mà nhấn mạnh thì “Kiến Kiến”= Kiên = “Cứng và Liền” tức là bền. Bởi vì nhấn mạnh cái Kiên thì là “Kiên Kiên”= Kiền, 0+0=1, Kiền=Càn, là quẻ Càn, tượng Trời,Trời là bền nhất, chẳng có cái gì bền hơn Trời. Cây, nho viết bằng chữ Mộc 木, mà Thuyết Văn Giai Tự giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là “Mạo 冒 từ đất”, từ Mạo 冒có nghĩa là “mọc lên” hay “bốc lên” (như bốc mùi), Hán ngữ dùng chữ Mạo 冒 với hai ý như vậy. ( Còn chữ Mạo 貌 trong từ Mạo Tướng 貌 相là do cái “Mặt Tao”= Mạo貌, cái “Ta Dương”= Tướng 相, là cái nhìn thấy bên ngoài được, chứ cái “Ta Âm”= Tâm 心 là cái không thể nhìn thấy được vì nó ở bên trong , “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người thăm thẳm ai đo cho tường”). Cây mọc đương nhiên là nó thẳng như cái cọc, vì “Cây Mọc”= Cọc, nho viết từ Cọc bằng chữ Cộc 牯, mà Thuyết Văn Giai Tự hướng dẫn đọc là thiết “Cổ 古 Ốc 屋”= Cộc 牯 (chỉ đúng nếu phát âm bằng tiếng Việt Nam hay tiếng Quảng Đông). Tại sao từ Mọc thì nho lại viết bằng chữ Mạo 冒, vì cây mọc là khi nó nở cái mắt mầm của nó ra, nó tự xưng nó là “Mắt Tao”= Mạo 冒 , chữ Mạo 冒 mới ghép bằng chữ Viết 曰(nói) và chữ Mục 目(mắt), nghĩa là mắt nó nói . Tiếng Nhật cái Cây gọi là Ki (viết bằng chữ Hiragana của Nhật hay bằng chữ Kanji là chữ Mộc 木 đều đọc là Ki), gọi cái Bông là Ha-na. Tiếng Việt nhấn mạnh hơn thành “Ki Đấy!”= Cây và “Ha-na Ạ!”= Hoa. (Cây Hoa thì tiếng Nhật theo cú pháp ngược gọi là Ha-na Ki). Vẫn chỉ là từ cái NÔI của Việt mà thôi: Cây=Cọc=Cộc=Bốc=Mộc=Mạo=Mọc, cây nào chẳng mà Mọc và cây nào mà chẳng Bốc mùi. Làm nhà thì chỉ có lấy Cây và Cọc mà Dùng, nhưng dùng lâu bền thành ra là “dùng đi dùng lại” mãi nhiều năm thậm chí nhiều đời. Dùng lại mới gọi là “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Dụng cái nhà tức là dụng vốn, dụng tài sản cố định, nó là dụng lâu bền, tức Dụng Vốn = Dụng Vẫn = Dụng Nhẫn = Dụng Nhưng, và lướt “Dụng 用 Nhưng 仍”= Dựng. Câu “Dựng vợ gả chồng” hay “xây Dựng gia đình” có thực nghĩa là “dụng vốn cố định”. Từ Xây Dựng hay Kiến Trúc đều là từ gốc Việt và đều là từ chuyên môn, tính khoa học của chúng là ở chỗ chúng đều có hàm ý lâu bền. Chỉ có tham nhũng rút ruột xây dối mới làm cho công trình thành ra không lâu bền được mà thôi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

17. Giải thích chữ Việt 越và chữ Hán 漢

Rất nhiều giải thích về cái từ Việt và cái chữ nho viết là Việt. Tôi giải thích từ Việt 越 nghĩa là Sáng, là ánh sáng của mặt Trời (dân Việt tôn thờ mặtTrời, hình mặt trời có ở giữa mặt của mọi trống đồng). Cái ánh sáng mặt trời ấy chính là Nắng, là nguồn năng của mặt Trời. Mà QT Lướt đã nén thông tin của một câu thành ra chỉ còn một từ: “Nguồn năng của mặt Trời”=Ngời. Nên đã sinh ra từ đôi Sáng Ngời (Sáng có trước, như Nắng có trước, Ngời có sau). Theo dõi tiếp để chứng nghiệm câu thành ngữ “Chạy Trời không khỏi Nắng” của NÔI khái niệm ngôn từ Việt. QT Tơi-Rỡi đã làm cho Ngời = Nguyệt 月 = Việt 越 = Nhiệt 热 = Nhật 日. Vậy Nguyệt 月 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trăng (Trăng=Trái=Tròn) và từ Nhật 日 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trời (Trời=Trái=Tròn). Trái Đất cũng là Trái (Trái= Tròn). Vậy người Việt cổ đã biết mọi thiên thể đều có hình Tròn, vì chúng đều trong trạng thái chuyển động Lăn. “Tròn Lăn”= Trặn. Các thiên thể đều Tròn Trặn. Trái Đất là rất tròn trặn vì nó tự xoay quanh trục của nó. Nho xưa đã viết Pháp 法Luân 輪 Tựa 似 Địa 地, tức Phải Lăn Như Đất. Hán ngữ chỉ mượn cái tinh hoa của Việt, tức mượn dùng chữ nho, nên Hán ngữ dùng chữ Nhật 日 để chỉ ban ngày (ngày – Nhật 日 / Dạ 夜– đêm). Tiếng Việt gọi là Ngày, vì có Ngời thì khoảng thời gian có “Ngời để mà nhìn Thấy”=Ngày, mới có Ngày. Hán ngữ dùng chữ Nguyệt 月để chỉ mặt Trăng, coi Nguyệt là thiên thể, chứ không mượn từ Trăng và Trời, vì chữ Việt cổ đã bị cấm, chỉ có chữ nho còn được phép tồn tại và phát triển ( từ 9785 chữ thời Hứa Thận cách nay 2000 năm đến 60000 chữ ngày nay).

Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật. Hán ngữ phát âm chữ Nguyệt 月 là Yue, phát âm chữ Việt 越 cũng là Yue; phát âm chữ Nhiệt 热là [“Rưa” Re 热] (Rưa là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên); phát âm chữ Nhật 日 là [“Rư” Ri 日] (Rư là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên). Nhiệt là cái năng gây ra nóng. Nóng=Nắng=Náng=Sáng=Rạng, cái nóng gây bức. “Rạng Bức”= =Rực, Rực nghĩa là Cháy. Rừng mà bị nắng đốt cháy thì Rừng Rực. Nhấn mạnh khẳng định “Rực Chớ!”= Rỡ. Có từ đôi Rực Rỡ (không có từ đôi Rỡ Rực, từ nào sinh ra trước thì đứng trước trong từ đôi, ví dụ “ánh sáng rực rỡ”, “lửa cháy rực rỡ”). “Rực Chớ!”= “Rực Chứ!”= Rư. Từ Rư này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rư” dùng đọc chữ Nhật 日[ Ri 日]. “Rực Lửa”= Rưa. Từ Rưa này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rưa” đọc chữ Nhiệt 热[ Re 热] . Người Nhật đọc tên nước họ bằng hai chữ nho Nhật Bản 日 本 mà họ phát âm là Ni-Hôn. Hai chữ nho Nhật Bản 日 本 nghĩa là “bổn nghĩa là Nhật”, tức nó cũng chỉ là một chữ Nhật 日 là cái ánh sáng của mặt trời lấy làm đại diện cho Trời. Mà Trời=Tròn =Hòn. Nên cái phát âm Ni Hôn truy nguyên là Hòn, tức chỉ mặt Trời. Còn không biết từ đâu mà Tây phiên âm là Gia Pan (Jiapan), có lẽ là do từ Già Bản của tiếng Việt mà người Việt đã bỏ quên. Trời=Giời=Già. Dân Kinh đô đã mềm hóa phát âm để có lời ca chải chuốt mượt mà, là câu hát quan họ “Giời bao nhiêu tuổi Giời Già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non”. Già (để rồi Tây viết thành Jia) chính là Giời (viết bằng chữ Nhật), vì khi nhấn mạnh khẳng định là “Giời A!”= Già. Vốn=Bổn (bằng Bốn ven của cái lồ đồng tiền Việt)= Bản ( để rồi Tây viết là Pan). Tự trọng là đáng kính nhất, nên mới có xưng “Kinh Mình”=Kính, “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả để chỉ ý tôn trọng. “Cổ đại từ Kinh có nghĩa chỉ sự tôn trọng, nên đặt sau từ Dịch chỉ ý tôn trọng Dịch, thành từ Dịch Kinh” (đọc mạng TQ). Tiếng Nhật Wa-Ta-Xi nghĩa là Tôi. Kính trọng thì “Tôi Cả”= Ta, “Tui Cả” =Ta, tiếng Nhật thì là “Wa-Ta-Xi Ga”= Wa. Truy nguyên từ Wa chính là Qua trong tiếng Việt khi xưng Tôi một cách khiêm tốn, Qua vốn là từ xưng Con mà nhấn mạnh “Con Ạ!”= =Qua. Người Nhật biết thân biết phận là cái Trong Lõi của từ Wa-Ta-Xi là từ Ta, nó là cái “Trong Chớ!”= Trơ và nó là cái “Trong Lõi”= Trọi, nên họ hiểu nếu chỉ có mình Ta thôi thì là Trơ Trọi, sẽ không làm nổi việc gì. Bởi vậy người Nhật rất biết đoàn kết và có tinh thần hợp tác trong công việc. Làm cho một cỗ máy nó chạy cần phải có nhà kỹ thuật. Một nhà kỹ thuật người Nhật chưa chắc đã bằng một nhà kỹ thuật người Việt. Nhưng ba nhà kỹ thuật người Việt chắc chắn không bằng một nhà kỹ thuật người Nhật. Bởi vậy cỗ máy của Nhật chạy ngọn vzọt lẹ. Còn cỗ máy Việt thì bởi các nhà kỹ thuật người Việt còn lo cãi nhau về những thứ ngoại lai đâu đâu “Ơ, cái lày thằng Tàu nó nàm thế lày cơ mà”, “Ơ, cái lày thằng Tây nó nàm thế lày cơ mà”, cãi nhau riết mấy chục năm, cỗ máy vẫn để nằm bẹp dí chẳng nhúc nhích được tí nào.

Chữ Việt theo Hứa Thận giải thích trong Thuyết Văn Giải Tự (cách nay 2000 năm): nghĩa thì là vượt qua tức đò ạ (cổ đại chỉ đi bằng đò lướt trên mặt nước là dễ nhất chứ làm gì đã có đường bộ), nho viết từ Đò Ạ bằng chữ Độ Dã; đọc thì là bằng cách thiết âm của hai từ “Vương 王 Phiệt 伐”= Việt 越. Phiệt 伐 = Phạt 伐 (ví dụ: chinh phạt), nho viết biểu ý chữ Phạt 伐 gồm Nhân 亻(người) và chữ Qua 戈 (cái dáo), tức Phạt 伐 có ý là người cầm dáo. Nhưng truy nguyên của từ Dáo là: Rìu=Rạ=Rựa=”Rựa của người Đào”=Rao=Dao (mềm hóa phát âm)=Đao=Dáo. Giải thích cái Dáo nó khác cái Dao thì người ta phải vừa mô tả vừa khẳng định, nó là “Cán thì dài mà búp thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= “Cán.... A!”= =Qua [Ge 戈, phát âm là “Cưa” là mượn âm của từ Rựa]. Búp dáo là con dao hai lưỡi, có loại còn làm búp hơi phồng, gần như bốn lưỡi, vì là búp dáo có hai lưỡi nên có từ nói bóng là Trở Dáo, mà không có từ nói bóng là trở liềm hay trở dao phay, thậm chí trở bút cũng gọi là Trở Dáo; nói lái Trở Dáo thành Tráo Trở. Con Rựa chính là cái Phạt 伐 (như chữ Phiệt 伐 là “Người 亻cầm Qua戈”) dùng để Phạt cây, Phạt cỏ khai hoang, như thành ngữ của nghề mần ruộng là “phạt bờ cuốc ruộng” hay “phát bờ cuốc góc”. Dân khai hoang Nam Bộ thời ban đầu có công cụ phạt cỏ hoang gọi là cái “Phạt cỏ Hoang”= Phạng, nó có cán cầm dài, lưỡi dài lia một phát là đứt một loạt cỏ, đánh nhau mà Phang thì đứt bay đầu như chơi. Vượt Qua là Việt cũng như cái Nhiệt là năng của Nắng là cái Sáng, nó có bản lãnh để vượt qua mọi vật cản, chắn nắng bằng bức tường thì nắng vẫn đốt nóng bức tường để thấm Nhiệt qua phía bên kia. Bản lĩnh ấy mới gọi là Ưu Việt. “Ủ Lâu” = Âu = ”Ủ Lưu” = Ưu = Lưu = Lạc. Âu Lạc dù có bị xóa sổ từ hai ngàn năm trước thì cái văn hiến của nó vẫn còn Lạc = “Lãng 朗 “Bạc 薄”= Sáng “Mỏng Tinh”= Sáng”Minh” , là cái văn minh của thời các vua Hùng 5000 năm trước.

Chữ Hán 漢 là gì? Dân của vua Khan gọi là dân Hãn. Hãn ở phía bắc, hành thủy, màu đen là màu Ô. Tên nước thì gồm tên tộc và tên vị trí trên bản đồ. Việt ở phương Nam gọi là Việt Nam. Hãn ở phương Ô gọi là Hãn Ô, lướt là “Hãn Ô”= Hồ, đúng như Hán thư viết, cổ đại có thành ngữ “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ”. Mạng TQ lại giải thích câu thành ngữ đó là, gọi bằng người Hồ vì họ có cây đàn tên là đàn Hồ, lại nữa họ đựng rượu trong cái dạ dày bò, gọi là cái Hồ. Chữ Hán 漢 gồm Nước 氵(phương thủy) + mượn âm chữ Nạn 難 đã lược phần bộ Chuy 隹, còn phần còn lại. Vậy chữ Hán 漢 nghĩa là Nước Nạn = Nước Cạn, vì họ ở nơi đất khô cao ráo có đồng cỏ (Mắc Cạn = Mắc Nạn, khi đẻ còn gọi là Vượt Cạn = Vượt Nan. Cạn=”Nó Cạn” = Nạn = Nông. “Nó cạn Không” à = “Nông” à). Từ đôi là Khô 枯Cạn 乾 [Ku 枯 Gan 乾] .Vậy từ Hán 漢 là chỉ đất chứ không phải chỉ tộc người, tộc thì là tộc Hãn, ở vùng đồng cỏ đất khô. Phương Nam khí hậu Ẩm và Ấm, ôn hòa nên gọi là Nước Yên = Nước An. Lướt thì “Nước An”= “Nán”. Hán ngữ dùng âm “Nán” để đọc chữ Nam 南 [Nán 南], và gọi nước phía Nam là An Nam. Lướt “An Nam”= Am, có nghĩa là yên ổn, yên tĩnh, nơi các đạo sĩ ở ẩn gọi là Am 庵.

18 Xây Dựng và Kiến Trúc

Ngày nay hễ nói đến từ Xây là người ta hình dung ngay là phải có vôi vữa, hễ nói Kiến Trúc là hình dung ngay công trình gạch ngói bê tông. Từ Xây đã bị biến nghĩa là do công nghệ đã thay đổi, mà vẫn dùng từ cũ để diễn đạt. Kiến Trúc có gốc là từ Xây. Xây Dựng và Kiến Trúc đều là từ gốc Việt. Tuy vậy đại học thì dùng từ hàn lâm là Đại học Kiến Trúc, còn bộ thì dùng từ dân gian là Bộ Xây Dựng. Từ nào khoa học hơn? Cả hai đều như nhau. Kiến Trúc hàm ý lâu bền ở chữ Kiên. Xây Dựng hàm ý lâu bền ở chữ Dựng nghĩa là Dùng mãi mãi (như các thành ngữ “Dựng vợ gả chồng”, “Xây Dựng gia đình”). Nguyên do là do ngôn từ bắt nguồn từ cổ đại. Cổ đại người Việt làm nhà chỉ hoàn toàn bằng Cây, gọi là Xây nhà sàn hay Dựng nhà sàn đều không hề đụng tới một tí vôi vữa nào hay một cái đinh sắt nào. Công nghệ chỉ là “Xếp Cây”= Xây, và “Cây ghép cho Liền”= Kiến, cây lắp vào với cái “Trụ đã có lỗ Đục”= Trúc. Bởi vậy mà Xây đồng nghĩa với Kiến Trúc, và chúng đều là từ chuyên môn gốc Việt. Lúc này người Hãn còn ở trong nhà đào sâu vào đất khô, gọi là cái “Tung” (sau mượn chữ nho Động 洞- nghĩa là Đồng 同 Nước 氵- để ký âm từ “Tung”, đến bây giờ mỗi cái nhà gạch đơn lẻ dù nhiều tầng vẫn gọi là một cái Động 洞). Còn Dựng là gì mà lại có từ Dựng nhà và thành ngữ Dựng vợ gả chồng, xây Dựng gia đình? Khi đã Dựng xong cái nhà hoàn toàn bằng cây thì nó thành một cái tài sản cố định, sử dụng lâu dài, đó là cái Vốn để dành lâu dài: Vốn 本 = Vẫn = Nhẫn 忍 = Nhưng 仍 (VD, tôi Vốn như thế = tôi Vẫn như thế = tôi Nhẫn như thế = Nhưng tôi như thế = Nhưng tôi Vẫn như thế = Nhưng tôi thế đấy. Đó là sự lâu bền không thay đổi). Vì “Cây ghép cho Liền” = Kiến, mà nhấn mạnh thì “Kiến Kiến”= Kiên = “Cứng và Liền” tức là bền. Bởi vì nhấn mạnh cái Kiên thì là “Kiên Kiên”=Kiền, 0+0=1, Kiền=Càn, là quẻ Càn, tượng Trời,Trời là bền nhất, chẳng có cái gì bền hơn Trời. Cây, nho viết bằng chữ Mộc 木, mà Thuyết Văn Giai Tự giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là “mọc lên từ đất”, từ Mạo 冒 có nghĩa là “mọc lên” hay “bốc lên” (như bốc mùi), Hán ngữ dùng chữ Mạo 冒 với hai ý như vậy. ( Còn chữ Mạo 貌 trong từ Mạo Tướng 貌 相, tiếng Việt là Tướng Mạo, là do cái “Mặt Tao”= =Mạo 貌 , cái “Ta Dương”=Tướng 相, là cái nhìn thấy bên ngoài được, chứ cái “Ta Âm”= =Tâm 心 là cái không thể nhìn thấy được vì nó ở bên trong (“Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người thăm thẳm ai đo cho tường”). Cây mọc đương nhiên là nó thẳng như cái cọc, vì “Cây Mọc”= Cọc, nho viết từ Cọc bằng chữ Cộc 牯, mà Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Cộc là thiết “Cổ 古 Ốc 屋”= Cộc 牯 (chỉ đúng nếu phát âm bằng tiếng Việt Nam hay tiếng Quảng Đông). Tại sao từ Mọc thì nho lại viết bằng chữ Mạo 冒, vì cây mọc là khi nó nở cái mắt từ thây hay từ hột của nó ra, nó tự xưng nó là “Mắt Tao”= Mạo 冒 , chữ Mạo 冒 mới ghép bằng chữ Viết 曰(nói) và chữ Mục 目(mắt), nghĩa là mắt nó nói . Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki, gọi cái Bông là Ha-na. Tiếng Việt nhấn mạnh hơn thành “Ki Đấy!”= Cây và “Ha-na Ạ!”= Hoa. (Cây Hoa thì tiếng Nhật theo cú pháp ngược gọi là Ha-na Ki). Vẫn chỉ là từ cái NÔI của Việt mà thôi: Cây=Cọc=Cộc=Bốc=Mộc=Mạo=Mọc, cây nào chẳng mà Mọc và cây nào mà chẳng Bốc mùi. Làm nhà thì chỉ có lấy Cây và Cọc mà Dùng, nhưng dùng lâu bền thành ra là “dùng đi dùng lại” mãi nhiều năm thậm chí nhiều đời. Dùng lại mới gọi là “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Dụng cái nhà tức là dụng vốn, dụng tài sản cố định, nó là dụng lâu bền, tức Dụng Vốn = Dụng Vẫn = Dụng Nhẫn = Dụng Nhưng, và lướt “Dụng 用 Nhưng 仍”= Dựng. Câu “Dựng vợ gả chồng” hay “xây Dựng gia đình” có thực nghĩa là “dụng vốn cố định”. Từ Xây Dựng hay Kiến Trúc đều là từ gốc Việt và đều là từ chuyên môn, tính khoa học của chúng là ở chỗ chúng đều có hàm ý lâu bền. Chỉ có tham nhũng rút ruột xây dối, mới làm cho công trình thành ra không lâu bền được mà thôi.

Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki (viết bằng chữ Hiragana của Nhật hay bằng chữ Kanji là chữ Mộc 木 đều đọc là Ki, hoặc trong ngữ cảnh khác người Nhật đọc chữ Kanji Mộc 木 là Mô-Kư). Khi đọc chữ Hiragana Ki chỉ ý Cây, họ sẽ giải thích rằng: “Ki wa Mô-Kư đếx” - “Cây là Mộc đấy”. Muốn có Cây thì phải Gây, có Gây thì cây mới lớn lên già giặn thành Gỗ, thợ gia công đồ Gỗ gọi là thợ Mộc. Chẳng có gì khác nhau trong nôi khái niệm: Ạ = Dạ = “Ye 也”(Hán ngữ) = Dã 也 = Là= “Wa”(Nhật ngữ) = Mà = “Ga” (Nhật ngữ) = Cả. Ra chợ còn phải Mà Cả = Là Cả = Nà Cả = “N - “Ga” ”= Ngả, là Ngả giá tức đắn đo giữa hai cái Là, “giá của nó Là bằng thế nọ hay giá của nó Là bằng thế kia”. Mà Cả là một từ đôi, thực nghĩa là Là Là. Khi “Lướt Lỏn” (làm gọn lời bằng lướt từ trước đến chắp với tơi của từ sau, bỏ từ sau) thì “Mà Cả” = Mặc, và vẫn tồn tại từ Mặc Cả dùng song hành với từ Mà Cả. Nhưng từ Mặc dùng riêng sẽ thành ý là “Là để cho Kẻ đó tự do hành động theo ý muốn của Nó” (câu này có thể nói tắt chỉ bằng cái đề của nó là một chữ Là), gọi là Mặc Kẻ = Mặc Kệ, (rồi thành từ nói bóng là “chủ nghĩa Ma-Kê=Nô”). Thuyết Văn Giai Tự giải thích nghĩa của chữ Mộc 木bằng nguyên văn hai chữ “Mạo 冒 Dã 也” (mọc ạ). Nếu gõ liền hai tiếng Mạo Dã 冒 也 sẽ không ra hai chữ này trong Hán văn hiện đại, chỉ ra từ đồng âm là Mậu Diệp 茂 葉. Gõ Hán văn hiện đại liền hai chữ Mạo Dã sẽ không ra, bởi từ Dã chỉ là của “cổ Hán ngữ” tức là của tiếng Việt. Mậu Diệp 茂 葉 là cú pháp ngược của từ Lá Rậm : Lá=Da=Vzỏ=Diệp 葉, nên người Việt sành dùng Lá để làm Vỏ mà gói bánh; cây muốn được lá rậm thì phải mọc lâu mới được, “Mọc Lâu”= Mậu 茂. Các bộ thủ của chữ Mậu 茂này đã biểu ý như vậy rõ ràng: (1) bộ Thảo 艹 (Cây=Thây=Thụ=Thảo, thực vật nào chẳng có cái Thây của nó, cũng như động vật, nhấn mạnh khẳng định thì “Thây 尸 Chi 之!”= Thi 尸), (2) bộ Phiết 丿(Phẩy=Phết=Phiết=Thiết, Thiết là cái lát cắt, “Lát Cắt”=Lặt=Liếc=Lướt=Thướt=Thiết, có Lưỡi dao thì mới có Liếc dao cho sắc, mới có “Lát Cắt”=Ngắt=Xắt=Cắt), (3) bộ Qua 戈, (là cái Rìu=Rạ=Rựa=Rao=Dao=Đao=Dáo). Biểu ý của chữ Mậu 茂 là: Dùng dao cắt cây (cho dù là Cọng Cỏ) thì cũng phải lâu lắm mới được Đầy=Dầy= “Dầy Lắm”= Dặm (như ăn dặm nghĩa là ăn ít mà dày lần)=“Dầy Lâm ”= Dậm ( dậm dật nghĩa là đầy đến mức tràn ra , tức “Dậm Thật”= Dật, nho viết bằng chữ Dật 溢 có bộ Nước 氵) =Rậm. Nho Việt viết từ Lá Rậm bằng chữ Diệp Mậu 葉 茂. Quan Hãn đã bỏ béng nó cái ngôn ngữ đa âm tiết của người Hãn đi rồi, dùng toàn là ngôn từ của dân thoại với chữ nho, rồi đảo ngược cú pháp của từ Diệp Mậu thành Mậu Diệp thế là có luôn cả “Hán từ” và “Hán tự”, hình thành ngôn ngữ quan thoại, bắn một phát mà trúng luôn ba cái đích. Mậu nghĩa là Rậm đã làm nền cho về sau có từ Mậu Dịch 貿 易nghĩa là giao dịch nhiều, trao đổi rậm . Từ Mậu 貿 đó nho phải viết bằng biểu ý khác, phải có “Bạc để Đổi”= Bối 貝, phải có bộ phận trên của chữ Lưu 留 là giao lưu. Có từ Mậu Dịch rồi người ta lại còn đặt tên cái cửa hàng là “Mậu Dịch Quốc Doanh”, dần dần dân quên béng nó mất cái khái niệm là “đi ra chợ”, mà cứ nói với con là “con ở nhà để mẹ ra mậu dịch mua thức ăn” thì trẻ con nó cũng đâu có biết cái từ cũ là cửa hàng.

Cổ đại ngôn từ đã từ Nam ra Bắc, phát âm từ cứng đến mềm dần. Tiếng quan thoại ngày nay gọi là Hán ngữ hiện đại, cũng gọi là tiếng phổ thông Trung Quốc, lấy giọng chuẩn là giọng Sơn Đông (dân gian thì gọi là tiếng Bắc Kinh, điều này không chính xác). Nhưng từ vựng của quan thoại lại là do tiếng Việt mà ra. Lấy ví dụ hai từ gốc nhất chỉ thực vật và động vật là Cây và Con. Loài người sống bằng giết Cây và giết Con, tức lấy cái Xác của cây để làm nhà, lấy cái Xác của Con để ăn thịt, tức lấy cái Thành quả là Xác của cây hay của con, cái «Thành quả là Xác »=Thác, tức là khai Thác thiên nhiên, và từ Thác trong tiếng Việt có nghĩa là Chết, « ông bà tôi đã thác từ lâu rồi », bởi cũng chính từ Việt thì « Thể Xác »=Thác, nên Thác cũng là cái Xác. Do vậy cái « Thác của Cây » = Thây 屍 = Thon = Thân 身= « Thây 屍Chi 之!»= Thi 屍 = Thụ 樹. Cái cây để làm nhà nó có dáng Thon Thả. Hán ngữ đọc chữ Thi 屍là [shi 屍], đọc chữ Thân 身là [shen 身], đọc chữ Thụ 樹 là [shu 樹], và gọi cái cây là [shu 樹]. Cũng thế, cái « Thác của Con » =Thon =Thân 身 = Thây 屍= « Thây 屍 Chi 之!»= Thi 屍 = Thú 獸. Cái thân xác của con thú nó cũng có dáng Thon Thả. Hán ngữ gọi động vật bằng chữ Thú 獸, đọc là [shou 獸]. Hán ngữ đọc chữ Khai Thác 開 拓 là « khai thua » Kai Tuo 開 拓. Cây cũng có mắt nên nho viết từ Cây bằng chữ Mộc 木. Con cũng có mắt nên nho viết từ Con bằng chữ Mục 牧(nên mới có mục đồng là đứa trẻ chăn trâu). Bây giờ xét ba từ gốc của sinh vật nói chung là từ Con, từ Cây và từ Mắt, sẽ thấy rõ là tiếng Việt Nam đã ra Bắc thành tiếng Quảng Đông, thành tiếng Nhật và thành tiếng Bắc Kinh:

1、Con = Kô (tiếng Nhật)= Cu (tiếng Vân Kiều)= Tu (tiếng Tày và tiếng Quảng Đông)= Tử 子 = Zử (tiếng Bắc Kinh, Zi 子).

2,Cây = Ki (tiếng Nhật)= Kêi (tiếng Quảng Đông)= “Cây Chi 之!”= Ký 記 (Quảng Đông đọc chữ Ký 記 là Kêi) = Chi (tiếng Bắc Kinh, Ji 記). Cổ đại dùng “Cây Đứng”= Cứng để Kẻ ra các Quẻ và các Ký tự, đều là cứng cả, như hình khắc hoa văn trên gốm. “ Cây Đứng”= Cứng, nên mới có câu thành ngữ “Cây ngay không sợ chết Đứng”.

3,Mắt = Moòng (tiếng Quảng Đông) = Mục 目 = Mu (tiếng Bắc Kinh, Mu 目)

Mắt= “Mắt Trông”= Mông = Mong = Moòng (tiếng Quảng Đông)= Voọng (tiếng vùng Chèm, Hà Nội)= Vọng 望 = Wang (tiếng Bắc Kinh, Wang 望). Tiếng Việt có từ đôi Trông Mong và còn có từ Mông Lói Chung gọi là Mông Lung, nhìn mông lung là nhìn xa xăm, nhìn xa xăm chính là nghĩa của từ Vọng, nên có từ ghép theo Hán Văn là viễn vọng kính. Từ điển Yếu Tố... đã dẫn giải thích, chữ Vọng 望 (trang 477) là “từ gốc Hán) lại không thấy Mẹ nó là từ Mắt của tiếng Việt.

Share this post


Link to post
Share on other sites

17. Giải thích chữ Việt 越và chữ Hán 漢

Rất nhiều giải thích về cái từ Việt và cái chữ nho viết là Việt. Tôi giải thích từ Việt 越 nghĩa là Sáng, là ánh sáng của mặt Trời (dân Việt tôn thờ mặtTrời, hình mặt trời có ở giữa mặt của mọi trống đồng). Cái ánh sáng mặt trời ấy chính là Nắng, là nguồn năng của mặt Trời. Mà QT Lướt đã nén thông tin của một câu thành ra chỉ còn một từ: “Nguồn năng của mặt Trời”=Ngời. Nên đã sinh ra từ đôi Sáng Ngời (Sáng có trước, như Nắng có trước, Ngời có sau). Theo dõi tiếp để chứng nghiệm câu thành ngữ “Chạy Trời không khỏi Nắng” của NÔI khái niệm ngôn từ Việt. QT Tơi-Rỡi đã làm cho Ngời = Nguyệt 月 = Việt 越 = Nhiệt 热 = Nhật 日. Vậy Nguyệt 月 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trăng (Trăng=Trái=Tròn) và từ Nhật 日 chỉ là từ để chỉ cái ánh sáng của thiên thể Trời (Trời=Trái=Tròn). Trái Đất cũng là Trái (Trái= Tròn). Vậy người Việt cổ đã biết mọi thiên thể đều có hình Tròn, vì chúng đều trong trạng thái chuyển động Lăn. “Tròn Lăn”= Trặn. Các thiên thể đều Tròn Trặn. Trái Đất là rất tròn trặn vì nó tự xoay quanh trục của nó. Nho xưa đã viết Pháp 法Luân 輪 Tựa 似 Địa 地, tức Phải Lăn Như Đất. Hán ngữ chỉ mượn cái tinh hoa của Việt, tức mượn dùng chữ nho, nên Hán ngữ dùng chữ Nhật 日 để chỉ ban ngày (ngày – Nhật 日 / Dạ 夜– đêm). Tiếng Việt gọi là Ngày, vì có Ngời thì khoảng thời gian có “Ngời để mà nhìn Thấy”=Ngày, mới có Ngày. Hán ngữ dùng chữ Nguyệt 月để chỉ mặt Trăng, coi Nguyệt là thiên thể, chứ không mượn từ Trăng và Trời, vì chữ Việt cổ đã bị cấm, chỉ có chữ nho còn được phép tồn tại và phát triển ( từ 9785 chữ thời Hứa Thận cách nay 2000 năm đến 60000 chữ ngày nay).

Ngời=Nguyệt=Việt=Nhiệt=Nhật. Hán ngữ phát âm chữ Nguyệt 月 là Yue, phát âm chữ Việt 越 cũng là Yue; phát âm chữ Nhiệt 热là [“Rưa” Re 热] (Rưa là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên); phát âm chữ Nhật 日 là [“Rư” Ri 日] (Rư là từ mà tiếng Việt đã bỏ quên). Nhiệt là cái năng gây ra nóng. Nóng=Nắng=Náng=Sáng=Rạng, cái nóng gây bức. “Rạng Bức”= =Rực, Rực nghĩa là Cháy. Rừng mà bị nắng đốt cháy thì Rừng Rực. Nhấn mạnh khẳng định “Rực Chớ!”= Rỡ. Có từ đôi Rực Rỡ (không có từ đôi Rỡ Rực, từ nào sinh ra trước thì đứng trước trong từ đôi, ví dụ “ánh sáng rực rỡ”, “lửa cháy rực rỡ”). “Rực Chớ!”= “Rực Chứ!”= Rư. Từ Rư này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rư” dùng đọc chữ Nhật 日[ Ri 日]. “Rực Lửa”= Rưa. Từ Rưa này tiếng Việt đã dùng rồi bỏ quên, Hán ngữ mượn “Rưa” đọc chữ Nhiệt 热[ Re 热] . Người Nhật đọc tên nước họ bằng hai chữ nho Nhật Bản 日 本 mà họ phát âm là Ni-Hôn. Hai chữ nho Nhật Bản 日 本 nghĩa là “bổn nghĩa là Nhật”, tức nó cũng chỉ là một chữ Nhật 日 là cái ánh sáng của mặt trời lấy làm đại diện cho Trời. Mà Trời=Tròn =Hòn. Nên cái phát âm Ni Hôn truy nguyên là Hòn, tức chỉ mặt Trời. Còn không biết từ đâu mà Tây phiên âm là Gia Pan (Jiapan), có lẽ là do từ Già Bản của tiếng Việt mà người Việt đã bỏ quên. Trời=Giời=Già. Dân Kinh đô đã mềm hóa phát âm để có lời ca chải chuốt mượt mà, là câu hát quan họ “Giời bao nhiêu tuổi Giời Già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non”. Già (để rồi Tây viết thành Jia) chính là Giời (viết bằng chữ Nhật), vì khi nhấn mạnh khẳng định là “Giời A!”= Già. Vốn=Bổn (bằng Bốn ven của cái lồ đồng tiền Việt)= Bản ( để rồi Tây viết là Pan). Tự trọng là đáng kính nhất, nên mới có xưng “Kinh Mình”=Kính, “Kinh Ta”=Cả. Kính và Cả để chỉ ý tôn trọng. “Cổ đại từ Kinh có nghĩa chỉ sự tôn trọng, nên đặt sau từ Dịch chỉ ý tôn trọng Dịch, thành từ Dịch Kinh” (đọc mạng TQ). Tiếng Nhật Wa-Ta-Xi nghĩa là Tôi. Kính trọng thì “Tôi Cả”= Ta, “Tui Cả” =Ta, tiếng Nhật thì là “Wa-Ta-Xi Ga”= Wa. Truy nguyên từ Wa chính là Qua trong tiếng Việt khi xưng Tôi một cách khiêm tốn, Qua vốn là từ xưng Con mà nhấn mạnh “Con Ạ!”= =Qua. Người Nhật biết thân biết phận là cái Trong Lõi của từ Wa-Ta-Xi là từ Ta, nó là cái “Trong Chớ!”= Trơ và nó là cái “Trong Lõi”= Trọi, nên họ hiểu nếu chỉ có mình Ta thôi thì là Trơ Trọi, sẽ không làm nổi việc gì. Bởi vậy người Nhật rất biết đoàn kết và có tinh thần hợp tác trong công việc. Làm cho một cỗ máy nó chạy cần phải có nhà kỹ thuật. Một nhà kỹ thuật người Nhật chưa chắc đã bằng một nhà kỹ thuật người Việt. Nhưng ba nhà kỹ thuật người Việt chắc chắn không bằng một nhà kỹ thuật người Nhật. Bởi vậy cỗ máy của Nhật chạy ngọn vzọt lẹ. Còn cỗ máy Việt thì bởi các nhà kỹ thuật người Việt còn lo cãi nhau về những thứ ngoại lai đâu đâu “Ơ, cái lày thằng Tàu nó nàm thế lày cơ mà”, “Ơ, cái lày thằng Tây nó nàm thế lày cơ mà”, cãi nhau riết mấy chục năm, cỗ máy vẫn để nằm bẹp dí chẳng nhúc nhích được tí nào.

Chữ Việt theo Hứa Thận giải thích trong Thuyết Văn Giải Tự (cách nay 2000 năm): nghĩa thì là vượt qua tức đò ạ (cổ đại chỉ đi bằng đò lướt trên mặt nước là dễ nhất chứ làm gì đã có đường bộ), nho viết từ Đò Ạ bằng chữ Độ Dã; đọc thì là bằng cách thiết âm của hai từ “Vương 王 Phiệt 伐”= Việt 越. Phiệt 伐 = Phạt 伐 (ví dụ: chinh phạt), nho viết biểu ý chữ Phạt 伐 gồm Nhân 亻(người) và chữ Qua 戈 (cái dáo), tức Phạt 伐 có ý là người cầm dáo. Nhưng truy nguyên của từ Dáo là: Rìu=Rạ=Rựa=”Rựa của người Đào”=Rao=Dao (mềm hóa phát âm)=Đao=Dáo. Giải thích cái Dáo nó khác cái Dao thì người ta phải vừa mô tả vừa khẳng định, nó là “Cán thì dài mà búp thì là con dao hai lưỡi Ạ!”= “Cán.... A!”= =Qua [Ge 戈, phát âm là “Cưa” là mượn âm của từ Rựa]. Búp dáo là con dao hai lưỡi, có loại còn làm búp hơi phồng, gần như bốn lưỡi, vì là búp dáo có hai lưỡi nên có từ nói bóng là Trở Dáo, mà không có từ nói bóng là trở liềm hay trở dao phay, thậm chí trở bút cũng gọi là Trở Dáo; nói lái Trở Dáo thành Tráo Trở. Con Rựa chính là cái Phạt 伐 (như chữ Phiệt 伐 là “Người 亻cầm Qua戈”) dùng để Phạt cây, Phạt cỏ khai hoang, như thành ngữ của nghề mần ruộng là “phạt bờ cuốc ruộng” hay “phát bờ cuốc góc”. Dân khai hoang Nam Bộ thời ban đầu có công cụ phạt cỏ hoang gọi là cái “Phạt cỏ Hoang”= Phạng, nó có cán cầm dài, lưỡi dài lia một phát là đứt một loạt cỏ, đánh nhau mà Phang thì đứt bay đầu như chơi. Vượt Qua là Việt cũng như cái Nhiệt là năng của Nắng là cái Sáng, nó có bản lãnh để vượt qua mọi vật cản, chắn nắng bằng bức tường thì nắng vẫn đốt nóng bức tường để thấm Nhiệt qua phía bên kia. Bản lĩnh ấy mới gọi là Ưu Việt. “Ủ Lâu” = Âu = ”Ủ Lưu” = Ưu = Lưu = Lạc. Âu Lạc dù có bị xóa sổ từ hai ngàn năm trước thì cái văn hiến của nó vẫn còn Lạc = “Lãng 朗 “Bạc 薄”= Sáng “Mỏng Tinh”= Sáng”Minh” , là cái văn minh của thời các vua Hùng 5000 năm trước.

Chữ Hán 漢 là gì? Dân của vua Khan gọi là dân Hãn. Hãn ở phía bắc, hành thủy, màu đen là màu Ô. Tên nước thì gồm tên tộc và tên vị trí trên bản đồ. Việt ở phương Nam gọi là Việt Nam. Hãn ở phương Ô gọi là Hãn Ô, lướt là “Hãn Ô”= Hồ, đúng như Hán thư viết, cổ đại có thành ngữ “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ”. Mạng TQ lại giải thích câu thành ngữ đó là, gọi bằng người Hồ vì họ có cây đàn tên là đàn Hồ, lại nữa họ đựng rượu trong cái dạ dày bò, gọi là cái Hồ. Chữ Hán 漢 gồm Nước 氵(phương thủy) + mượn âm chữ Nạn 難 đã lược phần bộ Chuy 隹, còn phần còn lại. Vậy chữ Hán 漢 nghĩa là Nước Nạn = Nước Cạn, vì họ ở nơi đất khô cao ráo có đồng cỏ (Mắc Cạn = Mắc Nạn, khi đẻ còn gọi là Vượt Cạn = Vượt Nan. Cạn=”Nó Cạn” = Nạn = Nông. “Nó cạn Không” à = “Nông” à). Từ đôi là Khô 枯Cạn 乾 [Ku 枯 Gan 乾] .Vậy từ Hán 漢 là chỉ đất chứ không phải chỉ tộc người, tộc thì là tộc Hãn, ở vùng đồng cỏ đất khô. Phương Nam khí hậu Ẩm và Ấm, ôn hòa nên gọi là Nước Yên = Nước An. Lướt thì “Nước An”= “Nán”. Hán ngữ dùng âm “Nán” để đọc chữ Nam 南 [Nán 南], và gọi nước phía Nam là An Nam. Lướt “An Nam”= Am, có nghĩa là yên ổn, yên tĩnh, nơi các đạo sĩ ở ẩn gọi là Am 庵.

18 Xây Dựng và Kiến Trúc

Ngày nay hễ nói đến từ Xây là người ta hình dung ngay là phải có vôi vữa, hễ nói Kiến Trúc là hình dung ngay công trình gạch ngói bê tông. Từ Xây đã bị biến nghĩa là do công nghệ đã thay đổi, mà vẫn dùng từ cũ để diễn đạt. Kiến Trúc có gốc là từ Xây. Xây Dựng và Kiến Trúc đều là từ gốc Việt. Tuy vậy đại học thì dùng từ hàn lâm là Đại học Kiến Trúc, còn bộ thì dùng từ dân gian là Bộ Xây Dựng. Từ nào khoa học hơn? Cả hai đều như nhau. Kiến Trúc hàm ý lâu bền ở chữ Kiên. Xây Dựng hàm ý lâu bền ở chữ Dựng nghĩa là Dùng mãi mãi (như các thành ngữ “Dựng vợ gả chồng”, “Xây Dựng gia đình”). Nguyên do là do ngôn từ bắt nguồn từ cổ đại. Cổ đại người Việt làm nhà chỉ hoàn toàn bằng Cây, gọi là Xây nhà sàn hay Dựng nhà sàn đều không hề đụng tới một tí vôi vữa nào hay một cái đinh sắt nào. Công nghệ chỉ là “Xếp Cây”= Xây, và “Cây ghép cho Liền”= Kiến, cây lắp vào với cái “Trụ đã có lỗ Đục”= Trúc. Bởi vậy mà Xây đồng nghĩa với Kiến Trúc, và chúng đều là từ chuyên môn gốc Việt. Lúc này người Hãn còn ở trong nhà đào sâu vào đất khô, gọi là cái “Tung” (sau mượn chữ nho Động 洞- nghĩa là Đồng 同 Nước 氵- để ký âm từ “Tung”, đến bây giờ mỗi cái nhà gạch đơn lẻ dù nhiều tầng vẫn gọi là một cái Động 洞). Còn Dựng là gì mà lại có từ Dựng nhà và thành ngữ Dựng vợ gả chồng, xây Dựng gia đình? Khi đã Dựng xong cái nhà hoàn toàn bằng cây thì nó thành một cái tài sản cố định, sử dụng lâu dài, đó là cái Vốn để dành lâu dài: Vốn 本 = Vẫn = Nhẫn 忍 = Nhưng 仍 (VD, tôi Vốn như thế = tôi Vẫn như thế = tôi Nhẫn như thế = Nhưng tôi như thế = Nhưng tôi Vẫn như thế = Nhưng tôi thế đấy. Đó là sự lâu bền không thay đổi). Vì “Cây ghép cho Liền” = Kiến, mà nhấn mạnh thì “Kiến Kiến”= Kiên = “Cứng và Liền” tức là bền. Bởi vì nhấn mạnh cái Kiên thì là “Kiên Kiên”=Kiền, 0+0=1, Kiền=Càn, là quẻ Càn, tượng Trời,Trời là bền nhất, chẳng có cái gì bền hơn Trời. Cây, nho viết bằng chữ Mộc 木, mà Thuyết Văn Giai Tự giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là “mọc lên từ đất”, từ Mạo 冒 có nghĩa là “mọc lên” hay “bốc lên” (như bốc mùi), Hán ngữ dùng chữ Mạo 冒 với hai ý như vậy. ( Còn chữ Mạo 貌 trong từ Mạo Tướng 貌 相, tiếng Việt là Tướng Mạo, là do cái “Mặt Tao”= =Mạo 貌 , cái “Ta Dương”=Tướng 相, là cái nhìn thấy bên ngoài được, chứ cái “Ta Âm”= =Tâm 心 là cái không thể nhìn thấy được vì nó ở bên trong (“Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người thăm thẳm ai đo cho tường”). Cây mọc đương nhiên là nó thẳng như cái cọc, vì “Cây Mọc”= Cọc, nho viết từ Cọc bằng chữ Cộc牯, mà Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Cộc là thiết “Cổ 古Ốc屋”= Cộc 牯 (chỉ đúng nếu phát âm bằng tiếng Việt Nam hay tiếng Quảng Đông). Tại sao từ Mọc thì nho lại viết bằng chữ Mạo 冒, vì cây mọc là khi nó nở cái mắt từ thây hay từ hột của nó ra, nó tự xưng nó là “Mắt Tao”= Mạo 冒 , chữ Mạo 冒 mới ghép bằng chữ Viết 曰(nói) và chữ Mục 目(mắt), nghĩa là mắt nó nói . Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki, gọi cái Bông là Ha-na. Tiếng Việt nhấn mạnh hơn thành “Ki Đấy!”= Cây và “Ha-na Ạ!”= Hoa. (Cây Hoa thì tiếng Nhật theo cú pháp ngược gọi là Ha-na Ki). Vẫn chỉ là từ cái NÔI của Việt mà thôi: Cây=Cọc=Cộc=Bốc=Mộc=Mạo=Mọc, cây nào chẳng mà Mọc và cây nào mà chẳng Bốc mùi. Làm nhà thì chỉ có lấy Cây và Cọc mà Dùng, nhưng dùng lâu bền thành ra là “dùng đi dùng lại” mãi nhiều năm thậm chí nhiều đời. Dùng lại mới gọi là “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Dụng cái nhà tức là dụng vốn, dụng tài sản cố định, nó là dụng lâu bền, tức Dụng Vốn = Dụng Vẫn = Dụng Nhẫn = Dụng Nhưng, và lướt “Dụng 用 Nhưng 仍”= Dựng. Câu “Dựng vợ gả chồng” hay “xây Dựng gia đình” có thực nghĩa là “dụng vốn cố định”. Từ Xây Dựng hay Kiến Trúc đều là từ gốc Việt và đều là từ chuyên môn, tính khoa học của chúng là ở chỗ chúng đều có hàm ý lâu bền. Chỉ có tham nhũng rút ruột xây dối, mới làm cho công trình thành ra không lâu bền được mà thôi.

Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki (viết bằng chữ Hiragana của Nhật hay bằng chữ Kanji là chữ Mộc 木đều đọc là Ki, hoặc trong ngữ cảnh khác người Nhật đọc chữ Kanji Mộc 木 là Mô-Kư). Khi đọc chữ Hiragana Ki chỉ ý Cây, họ sẽ giải thích rằng: “Ki wa Mô-Kư đếx” - “Cây là Mộc đấy”. Muốn có Cây thì phải Gây, có Gây thì cây mới lớn lên già giặn thành Gỗ, thợ gia công đồ Gỗ gọi là thợ Mộc. Chẳng có gì khác nhau trong nôi khái niệm: Ạ = Dạ = “Ye 也”(Hán ngữ) = Dã 也 = Là= “Wa”(Nhật ngữ) = Mà = “Ga” (Nhật ngữ) = Cả. Ra chợ còn phải Mà Cả = Là Cả = Nà Cả = “N - “Ga” ”= Ngả, là Ngả giá tức đắn đo giữa hai cái Là, “giá của nó Là bằng thế nọ hay giá của nó Là bằng thế kia”. Mà Cả là một từ đôi, thực nghĩa là Là Là. Khi “Lướt Lỏn” (làm gọn lời bằng lướt từ trước đến chắp với tơi của từ sau, bỏ từ sau) thì “Mà Cả” = Mặc, và vẫn tồn tại từ Mặc Cả dùng song hành với từ Mà Cả. Nhưng từ Mặc dùng riêng sẽ thành ý là “Là để cho Kẻ đó tự do hành động theo ý muốn của Nó” (câu này có thể nói tắt chỉ bằng cái đề của nó là một chữ Là), gọi là Mặc Kẻ = Mặc Kệ, (rồi thành từ nói bóng là “chủ nghĩa Ma-Kê=Nô”). Thuyết Văn Giai Tự giải thích nghĩa của chữ Mộc 木 bằng nguyên văn hai chữ “Mạo 冒Dã 也” (mọc ạ). Nếu gõ liền hai tiếng Mạo Dã 冒 也 sẽ không ra hai chữ này trong Hán văn hiện đại, chỉ ra từ đồng âm là Mậu Diệp 茂 葉. Gõ Hán văn hiện đại liền hai chữ Mạo Dã sẽ không ra, bởi từ Dã chỉ là của “cổ Hán ngữ” tức là của tiếng Việt. Mậu Diệp 茂 葉 là cú pháp ngược của từ Lá Rậm : Lá=Da=Vzỏ=Diệp 葉, nên người Việt sành dùng Lá để làm Vỏ mà gói bánh; cây muốn được lá rậm thì phải mọc lâu mới được, “Mọc Lâu”= Mậu茂. Các bộ thủ của chữ Mậu 茂này đã biểu ý như vậy rõ ràng: (1) bộ Thảo 艹 (Cây=Thây=Thụ=Thảo, thực vật nào chẳng có cái Thây của nó, cũng như động vật, nhấn mạnh khẳng định thì “Thây 尸Chi 之!”= Thi 尸), (2) bộ Phiết 丿(Phẩy=Phết=Phiết=Thiết, Thiết là cái lát cắt, “Lát Cắt”=Lặt=Liếc=Lướt=Thướt=Thiết, có Lưỡi dao thì mới có Liếc dao cho sắc, mới có “Lát Cắt”=Ngắt=Xắt=Cắt), (3) bộ Qua 戈, (là cái Rìu=Rạ=Rựa=Rao=Dao=Đao=Dáo). Biểu ý của chữ Mậu 茂 là: Dùng dao cắt cây (cho dù là Cọng Cỏ) thì cũng phải lâu lắm mới được Đầy=Dầy= “Dầy Lắm”= Dặm (như ăn dặm nghĩa là ăn ít mà dày lần)=“Dầy Lâm ”= Dậm ( dậm dật nghĩa là đầy đến mức tràn ra , tức “Dậm Thật”= Dật, nho viết bằng chữ Dật 溢 có bộ Nước 氵) =Rậm. Nho Việt viết từ Lá Rậm bằng chữ Diệp Mậu 葉 茂. Quan Hãn đã bỏ béng nó cái ngôn ngữ đa âm tiết của người Hãn đi rồi, dùng toàn là ngôn từ của dân thoại với chữ nho, rồi đảo ngược cú pháp của từ Diệp Mậu thành Mậu Diệp thế là có luôn cả “Hán từ” và “Hán tự”, hình thành ngôn ngữ quan thoại, bắn một phát mà trúng luôn ba cái đích. Mậu nghĩa là Rậm đã làm nền cho về sau có từ Mậu Dịch 貿 易 nghĩa là giao dịch nhiều, trao đổi rậm . Từ Mậu 貿 đó nho phải viết bằng biểu ý khác, phải có “Bạc để Đổi”= Bối 貝, phải có bộ phận trên của chữ Lưu 留là giao lưu. Có từ Mậu Dịch rồi người ta lại còn đặt tên cái cửa hàng là “Mậu Dịch Quốc Doanh”, dần dần dân quên béng nó mất cái khái niệm là “đi ra chợ”, mà cứ nói với con là “con ở nhà để mẹ ra mậu dịch mua thức ăn” thì trẻ con nó cũng đâu có biết cái từ cũ là cửa hàng.

Cổ đại ngôn từ đã từ Nam ra Bắc, phát âm từ cứng đến mềm dần. Tiếng quan thoại ngày nay gọi là Hán ngữ hiện đại, cũng gọi là tiếng phổ thông Trung Quốc, lấy giọng chuẩn là giọng Sơn Đông (dân gian thì gọi là tiếng Bắc Kinh, điều này không chính xác). Nhưng từ vựng của quan thoại lại là do tiếng Việt mà ra. Lấy ví dụ hai từ gốc nhất chỉ thực vật và động vật là Cây và Con. Loài người sống bằng giết Cây và giết Con, tức lấy cái Xác của cây để làm nhà, lấy cái Xác của Con để ăn thịt, tức lấy cái Thành quả là Xác của cây hay của con, cái «Thành quả là Xác »= Thác, tức là khai Thác thiên nhiên, và từ Thác trong tiếng Việt có nghĩa là Chết, « ông bà tôi đã thác từ lâu rồi », bởi cũng chính từ Việt thì « Thể Xác »= Thác, nên Thác cũng là cái Xác. Do vậy cái « Thác của Cây »= Thây 屍=  Thon= Thân 身= « Thây 屍Chi 之!»= Thi 屍 = Thụ 樹. Cái cây để làm nhà nó có dáng Thon Thả. Hán ngữ đọc chữ Thi 屍 là [shi 屍], đọc chữ Thân 身là [shen 身], đọc chữ Thụ 樹 là [shu 樹], và gọi cái cây là [shu 樹]. Cũng thế, cái « Thác của Con » =Thon =Thân 身= Thây 屍= = « Thây 屍 Chi 之!»= Thi 屍 = Thú 獸. Cái thân xác của con thú nó cũng có dáng Thon Thả. Hán ngữ gọi động vật bằng chữ Thú獸, đọc là [shou 獸]. Hán ngữ đọc chữ Khai Thác開 拓 là « khai thua » [Kai Tuo 開拓]. Cây cũng có mắt nên nho viết từ Cây bằng chữ Mộc 木 . Con cũng có mắt nên nho viết từ Con bằng chữ Mục 牧(nên mới có mục đồng là đứa trẻ chăn trâu) 牧. Bây giờ xét ba từ gốc của sinh vật nói chung là từ Con, từ Cây và từ Mắt, sẽ thấy rõ là tiếng Việt Nam đã ra Bắc thành tiếng Quảng Đông, thành tiếng Nhật và thành tiếng Bắc Kinh:

Con=Kô (tiếng Nhật)=Cu (tiếng Vân Kiều)=Tu (tiếng Tày và tiếng Quảng Đông)=Tử 子=Zử (tiếng Bắc Kinh, Zi 子).

Cây=Ki (tiếng Nhật)=Kêi (tiếng Quảng Đông)= “Cây Chi 之!”= Ký 記 (Quảng Đông đọc chữ Ký 記 là Kêi) = Chi (tiếng Bắc Kinh, Ji 記). Cổ đại dùng “Cây Đứng”=Cứng để Kẻ ra các Quẻ và các Ký tự, đều là cứng cả, như hình khắc hoa văn trên gốm. “ Cây Đứng”=Cứng, nên mới có câu thành ngữ “Cây ngay không sợ chết Đứng”.

Mắt=Moòng (tiếng Quảng Đông)=Mục 目= Mu (tiếng Bắc Kinh, Mu 目)

Mắt= “Mắt Trông”=Mông=Mong=Moòng (tiếng Quảng Đông)= Voọng (tiếng vùng Chèm, Hà Nội,làng Mọc bây giờ đã là trong nội thành nhưng dân gốc Kẻ Mọc vẫn gọi xã Dịch Vọng của họ là “Dịch Voọng”)= Vọng望 = Wang (tiếng Bắc Kinh, Wang 望). Tiếng Việt còn có Mông “Lói Chung” gọi là Mông “Lung”, nhìn mông lung là nhìn xa xăm, Hán ngữ đọc chữ nho Mông Lung là “mấng lúng” [Meng Long]nhìn xa xăm chính là nghĩa của từ Vọng, nên có các từ ghép theo Hán Văn như vọng lâu, vọng các, viễn vọng kính. Từ điển Yếu Tố Hán Việt thông dụng XB năm 1991 giải thích ở trang 477 chữ Vọng 望là “từ gốc Hán. Sao các viện sĩ ngôn ngữ học lại không thấy Mẹ nó là từ Mắt của tiếng Việt.

Cây ra đời bằng nở Mắt. Con ra đời bằng mở Mắt. Động từ “ra đời” là chữ Mọc, đến cả Mặt trời cũng còn Mọc. Mọc có nghĩa là hiện diện, chỉ ý ló mặt ra, Mặt = Mọc = Miện = =Diện 面 [Mian 面] = Liễm 臉 [Lian 臉]. Chỉ có tiếng Việt mới có trên khuôn Mặt có Mắt, Mi, Mày, Mũi, Mồm (Mỏ chim, Mõm thú), Môi. “Mồm nói thành Tiếng”= Miệng, mới gọi là cái Miệng (động vật không dùng từ Miệng). Có cãi cũng không cãi nổi qui tắc Lướt của ngôn từ dân gian vẫn tồn tại và đã thành qui tắc Thiết trong ngôn từ hàn lâm mà Hứa Thận vận dụng cách nay 2000 năm trong Thuyết Văn Giải Tự. Chính “Mắt Trông”= Mông, là nhìn xa. Nói Chung = “Lói Chung”= Lung. Mông Nói Chung là Mông Lung 朦 胧 [Meng Long 朦 胧],văn học viết cái nhìn mông lung thì quá lãng mạn. Vì mắt nó Trông là bằng cái Tròng của con ngươi, là cái máy ảnh rất sâu bên “Trong Trong”= Tròng, 0+0=1 của con người. “Trông Chắc”=Trắc 测 [Ce 测] (Chắc=Chiếc là số 1, Chắc nghĩa là Biết trong tiếng Tày) và Dò=Đo=Độ 度 [Do 度], “Đo Chắc”= Đạc, thành từ đôi chuyên ngành là Trắc Đạc hay Đo Đạc. Trông=Tròng (theo QT Tơi-Rỡi mà thay rỡi thì nó logic như Mông=Mong). Vọng=Dong (cũng theo QT Tơi-Rỡi mà thay tơi thì nó logic như Vô=Dô)=Dong容=Dung容. Hình Dung là nhìn từ xa mà thậm chí còn có thể nhắm cả mắt. Dung Nhan là nhìn cái nhan sắc. Mắt=Mục目= Mông (tiếng Quảng Đông đọc chữ Vọng 望) =Mong=Moòng (tiếng Quảng Đông đọc chữ Vọng 望) = Voọng (tiếng vùng Chèm, Hà Nội đọc chữ xã Dịch Vọng là “xã Dịch Voọng”)= Vọng 望 (Voọng=Vọng cũng logic như Coong=Con) =Dong 容= Dung 容= Duyệt 閱=Dòm =Nhòm= Nhìn=Nhình=Nhãn 眼(phát âm mềm hóa dần) . Nhình phiên thiết thành Nhãn 眼Tinh睛. Hán ngữ dùng chữ Nhãn Tinh 眼 睛 chỉ ý Mắt, phát âm là [Yan Jing 眼 睛]. Mắt trông là để mắt nó Bắt cái hình, động tác của nó là Bắt=Cắt=Chặt=Chụp, nó chụp hình là nó “Cắt được Rồi”= Coi 窺 (“Bắt Coi”= “Biết Coi”= =Bói卜), khi đó mới có thể coi hình hay lấy hình ra coi. Coi = Kiến見 = Quan觀 = Khán看 = Khám看 = Lãm覽 = Thám 探 =Thị 視= Thấy=Thăm = Ngắm= ( “Ngắm Chớ!”=Ngó) =Ngắm=Chắm=Chiêm占 = Xem. Tiếng Việt dùng từ đôi Coi Xem, là trọn cả nôi khái niệm. Hán ngữ dùng từ đôi bằng chữ nho là ngôn từ hàn lâm như các từ Quan Khán 觀 看 [Guan Kan觀 看 ], Duyệt Lãm閱 覽 [Yue Lan閱 覽] , Thám Vọng 探 望 [Tan Wang探 望]. Từ Coi=Nhoi=Nhòm , Nhoi=Nhòm là đã mềm hóa phát âm đồng thời biến nghĩa thành “xem trộm”, rõ nhất là từ Nhoi mà tiếng Nghệ hay dùng. Nho hàn lâm cũng đồng thời mềm hóa từ Coi và nhấn mạnh “Coi Chi 之!”= Khuy 窺, để viết từ Coi bằng chữ Khuy 窺và còn lướt “Khuy Ta” = Khoa , nho viết từ Khoa nhấn mạnh bằng lướt lủn “Khoa Chớ!”= Khóa課 (cũng logic như “Nho Ta”= Nhã, thành từ đôi nho nhã có nghĩa là nhỏ nhắn mà mềm mại). Bởi vậy có từ đôi Khóa Mục課目 [Ke Mu 課目], Khóa Mục 課目 là những thứ phải coi để mà phân biệt, khoa thi này phân biệt với khoa thi kia, một Khoa thi có nhiều Mục phải coi mà phân biệt khác nhau.Hán ngữ dùng chữ Khuy 窺 [Kui 窺] để ghép thành các từ đôi Khuy Trắc 窺 測 [Kui Ce 窺 測] chỉ ý thăm dò, Khuy Kiến 窺 見 [Kui Jian 窺 見] chỉ ý nhìn thấy, Khuy Thị 窺 視 [Kui Shi 窺 視] và Khuy Thám [Kui Tan 窺 探] đều chỉ ý nhìn trộm.

Share this post


Link to post
Share on other sites

18 Xây Dựng và Kiến Trúc

Ngày nay hễ nói đến từ Xây là người ta hình dung ngay là phải có vôi vữa, hễ nói Kiến Trúc là hình dung ngay công trình gạch ngói bê tông. Từ Xây đã bị biến nghĩa là do công nghệ đã thay đổi, mà vẫn dùng từ cũ để diễn đạt. Kiến Trúc có gốc là từ Xây. Xây Dựng và Kiến Trúc đều là từ gốc Việt. Tuy vậy đại học thì dùng từ hàn lâm là Đại học Kiến Trúc, còn bộ thì dùng từ dân gian là Bộ Xây Dựng. Từ nào khoa học hơn? Cả hai đều như nhau. Kiến Trúc hàm ý lâu bền ở chữ Kiên. Xây Dựng hàm ý lâu bền ở chữ Dựng nghĩa là Dùng mãi mãi (như các thành ngữ “Dựng vợ gả chồng”, “Xây Dựng gia đình”). Nguyên do là do ngôn từ bắt nguồn từ cổ đại. Cổ đại người Việt làm nhà chỉ hoàn toàn bằng Cây, gọi là Xây nhà sàn hay Dựng nhà sàn đều không hề đụng tới một tí vôi vữa nào hay một cái đinh sắt nào. Công nghệ chỉ là “Xếp Cây”= Xây, và “Cây ghép cho Liền”= Kiến, cây lắp vào với cái “Trụ đã có lỗ Đục”= Trúc. Bởi vậy mà Xây đồng nghĩa với Kiến Trúc, và chúng đều là từ chuyên môn gốc Việt. Lúc này người Hãn còn ở trong nhà đào sâu vào đất khô, gọi là cái “Tung” (sau mượn chữ nho Động 洞- nghĩa là Đồng 同 Nước 氵- để ký âm từ “Tung”, đến bây giờ mỗi cái nhà gạch đơn lẻ dù nhiều tầng vẫn gọi là một cái Động 洞). Còn Dựng là gì mà lại có từ Dựng nhà và thành ngữ Dựng vợ gả chồng, xây Dựng gia đình? Khi đã Dựng xong cái nhà hoàn toàn bằng cây thì nó thành một cái tài sản cố định, sử dụng lâu dài, đó là cái Vốn để dành lâu dài: Vốn 本 = Vẫn = Nhẫn 忍 = Nhưng 仍 (VD, tôi Vốn như thế = tôi Vẫn như thế = tôi Nhẫn như thế = Nhưng tôi như thế = Nhưng tôi Vẫn như thế = Nhưng tôi thế đấy. Đó là sự lâu bền không thay đổi). Vì “Cây ghép cho Liền” = Kiến, mà nhấn mạnh thì “Kiến Kiến”= Kiên = “Cứng và Liền” tức là bền. Bởi vì nhấn mạnh cái Kiên thì là “Kiên Kiên”=Kiền, 0+0=1, Kiền=Càn, là quẻ Càn, tượng Trời,Trời là bền nhất, chẳng có cái gì bền hơn Trời. Cây, nho viết bằng chữ Mộc 木, mà Thuyết Văn Giai Tự giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là “mọc lên từ đất”, từ Mạo 冒 có nghĩa là “mọc lên” hay “bốc lên” (như bốc mùi), Hán ngữ dùng chữ Mạo 冒 với hai ý như vậy. ( Còn chữ Mạo 貌 trong từ Mạo Tướng 貌 相, tiếng Việt là Tướng Mạo, là do cái “Mặt Tao”= =Mạo 貌 , cái “Ta Dương”=Tướng 相, là cái nhìn thấy bên ngoài được, chứ cái “Ta Âm”= =Tâm 心 là cái không thể nhìn thấy được vì nó ở bên trong (“Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người thăm thẳm ai đo cho tường”). Cây mọc đương nhiên là nó thẳng như cái cọc, vì “Cây Mọc”= Cọc, nho viết từ Cọc bằng chữ Cộc牯, mà Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Cộc là thiết “Cổ 古Ốc屋”= Cộc 牯 (chỉ đúng nếu phát âm bằng tiếng Việt Nam hay tiếng Quảng Đông). Tại sao từ Mọc thì nho lại viết bằng chữ Mạo 冒, vì cây mọc là khi nó nở cái mắt từ thây hay từ hột của nó ra, nó tự xưng nó là “Mắt Tao”= Mạo 冒 , chữ Mạo 冒 mới ghép bằng chữ Viết 曰(nói) và chữ Mục 目(mắt), nghĩa là mắt nó nói . Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki, gọi cái Bông là Ha-na. Tiếng Việt nhấn mạnh hơn thành “Ki Đấy!”= Cây và “Ha-na Ạ!”= Hoa. (Cây Hoa thì tiếng Nhật theo cú pháp ngược gọi là Ha-na Ki). Vẫn chỉ là từ cái NÔI của Việt mà thôi: Cây=Cọc=Cộc=Bốc=Mộc=Mạo=Mọc, cây nào chẳng mà Mọc và cây nào mà chẳng Bốc mùi. Làm nhà thì chỉ có lấy Cây và Cọc mà Dùng, nhưng dùng lâu bền thành ra là “dùng đi dùng lại” mãi nhiều năm thậm chí nhiều đời. Dùng lại mới gọi là “Dùng Lại”= Dụng (do lướt lủn). Dụng cái nhà tức là dụng vốn, dụng tài sản cố định, nó là dụng lâu bền, tức Dụng Vốn = Dụng Vẫn = Dụng Nhẫn = Dụng Nhưng, và lướt “Dụng 用 Nhưng 仍”= Dựng. Câu “Dựng vợ gả chồng” hay “xây Dựng gia đình” có thực nghĩa là “dụng vốn cố định”. Từ Xây Dựng hay Kiến Trúc đều là từ gốc Việt và đều là từ chuyên môn, tính khoa học của chúng là ở chỗ chúng đều có hàm ý lâu bền. Chỉ có tham nhũng rút ruột xây dối, mới làm cho công trình thành ra không lâu bền được mà thôi.

Tiếng Nhật gọi cái Cây là Ki (viết bằng chữ Hiragana của Nhật hay bằng chữ Kanji là chữ Mộc 木đều đọc là Ki, hoặc trong ngữ cảnh khác người Nhật đọc chữ Kanji Mộc 木 là Mô-Kư). Khi đọc chữ Hiragana Ki chỉ ý Cây, họ sẽ giải thích rằng: “Ki wa Mô-Kư đếx” - “Cây là Mộc đấy”. Muốn có Cây thì phải Gây, có Gây thì cây mới lớn lên già giặn thành Gỗ, thợ gia công đồ Gỗ gọi là thợ Mộc. Chẳng có gì khác nhau trong nôi khái niệm: Ạ = Dạ = “Ye 也”(Hán ngữ) = Dã 也 = Là= “Wa”(Nhật ngữ) = Mà = “Ga” (Nhật ngữ) = Cả. Ra chợ còn phải Mà Cả = Là Cả = Nà Cả = “N - “Ga” ”= Ngả, là Ngả giá tức đắn đo giữa hai cái Là, “giá của nó Là bằng thế nọ hay giá của nó Là bằng thế kia”. Mà Cả là một từ đôi, thực nghĩa là Là Là. Khi “Lướt Lỏn” (làm gọn lời bằng lướt từ trước đến chắp với tơi của từ sau, bỏ từ sau) thì “Mà Cả” = Mặc, và vẫn tồn tại từ Mặc Cả dùng song hành với từ Mà Cả. Nhưng từ Mặc dùng riêng sẽ thành ý là “Là để cho Kẻ đó tự do hành động theo ý muốn của Nó” (câu này có thể nói tắt chỉ bằng cái đề của nó là một chữ Là), gọi là Mặc Kẻ = Mặc Kệ, (rồi thành từ nói bóng là “chủ nghĩa Ma-Kê=Nô”). Thuyết Văn Giai Tự giải thích nghĩa của chữ Mộc 木 bằng nguyên văn hai chữ “Mạo 冒Dã 也” (mọc ạ). Nếu gõ liền hai tiếng Mạo Dã 冒 也 sẽ không ra hai chữ này trong Hán văn hiện đại, chỉ ra từ đồng âm là Mậu Diệp 茂 葉. Gõ Hán văn hiện đại liền hai chữ Mạo Dã sẽ không ra, bởi từ Dã chỉ là của “cổ Hán ngữ” tức là của tiếng Việt. Mậu Diệp 茂 葉 là cú pháp ngược của từ Lá Rậm : Lá=Da=Vzỏ=Diệp 葉, nên người Việt sành dùng Lá để làm Vỏ mà gói bánh; cây muốn được lá rậm thì phải mọc lâu mới được, “Mọc Lâu”= Mậu茂. Các bộ thủ của chữ Mậu 茂này đã biểu ý như vậy rõ ràng: (1) bộ Thảo 艹 (Cây=Thây=Thụ=Thảo, thực vật nào chẳng có cái Thây của nó, cũng như động vật, nhấn mạnh khẳng định thì “Thây 尸Chi 之!”= Thi 尸), (2) bộ Phiết 丿(Phẩy=Phết=Phiết=Thiết, Thiết là cái lát cắt, “Lát Cắt”=Lặt=Liếc=Lướt=Thướt=Thiết, có Lưỡi dao thì mới có Liếc dao cho sắc, mới có “Lát Cắt”=Ngắt=Xắt=Cắt), (3) bộ Qua 戈, (là cái Rìu=Rạ=Rựa=Rao=Dao=Đao=Dáo). Biểu ý của chữ Mậu 茂 là: Dùng dao cắt cây (cho dù là Cọng Cỏ) thì cũng phải lâu lắm mới được Đầy=Dầy= “Dầy Lắm”= Dặm (như ăn dặm nghĩa là ăn ít mà dày lần)=“Dầy Lâm ”= Dậm ( dậm dật nghĩa là đầy đến mức tràn ra , tức “Dậm Thật”= Dật, nho viết bằng chữ Dật 溢 có bộ Nước 氵) =Rậm. Nho Việt viết từ Lá Rậm bằng chữ Diệp Mậu 葉 茂. Quan Hãn đã bỏ béng nó cái ngôn ngữ đa âm tiết của người Hãn đi rồi, dùng toàn là ngôn từ của dân thoại với chữ nho, rồi đảo ngược cú pháp của từ Diệp Mậu thành Mậu Diệp thế là có luôn cả “Hán từ” và “Hán tự”, hình thành ngôn ngữ quan thoại, bắn một phát mà trúng luôn ba cái đích. Mậu nghĩa là Rậm đã làm nền cho về sau có từ Mậu Dịch 貿 易 nghĩa là giao dịch nhiều, trao đổi rậm . Từ Mậu 貿 đó nho phải viết bằng biểu ý khác, phải có “Bạc để Đổi”= Bối 貝, phải có bộ phận trên của chữ Lưu 留là giao lưu. Có từ Mậu Dịch rồi người ta lại còn đặt tên cái cửa hàng là “Mậu Dịch Quốc Doanh”, dần dần dân quên béng nó mất cái khái niệm là “đi ra chợ”, mà cứ nói với con là “con ở nhà để mẹ ra mậu dịch mua thức ăn” thì trẻ con nó cũng đâu có biết cái từ cũ là cửa hàng.

Cổ đại ngôn từ đã từ Nam ra Bắc, phát âm từ cứng đến mềm dần. Tiếng quan thoại ngày nay gọi là Hán ngữ hiện đại, cũng gọi là tiếng phổ thông Trung Quốc, lấy giọng chuẩn là giọng Sơn Đông (dân gian thì gọi là tiếng Bắc Kinh, điều này không chính xác). Nhưng từ vựng của quan thoại lại là do tiếng Việt mà ra. Lấy ví dụ hai từ gốc nhất chỉ thực vật và động vật là Cây và Con. Loài người sống bằng giết Cây và giết Con, tức lấy cái Xác của cây để làm nhà, lấy cái Xác của Con để ăn thịt, tức lấy cái Thành quả là Xác của cây hay của con, cái «Thành quả là Xác »= Thác, tức là khai Thác thiên nhiên, và từ Thác trong tiếng Việt có nghĩa là Chết, « ông bà tôi đã thác từ lâu rồi », bởi cũng chính từ Việt thì « Thể Xác »= Thác, nên Thác cũng là cái Xác. Do vậy cái « Thác của Cây »= Thây 屍=  Thon= Thân 身= « Thây 屍Chi 之!»= Thi 屍 = Thụ 樹. Cái cây để làm nhà nó có dáng Thon Thả. Hán ngữ đọc chữ Thi 屍 là [shi 屍], đọc chữ Thân 身là [shen 身], đọc chữ Thụ 樹 là [shu 樹], và gọi cái cây là [shu 樹]. Cũng thế, cái « Thác của Con » =Thon =Thân 身= Thây 屍= = « Thây 屍 Chi 之!»= Thi 屍 = Thú 獸. Cái thân xác của con thú nó cũng có dáng Thon Thả. Hán ngữ gọi động vật bằng chữ Thú獸, đọc là [shou 獸]. Hán ngữ đọc chữ Khai Thác開 拓 là « khai thua » [Kai Tuo 開拓]. Cây cũng có mắt nên nho viết từ Cây bằng chữ Mộc 木 . Con cũng có mắt nên nho viết từ Con bằng chữ Mục 牧(nên mới có mục đồng là đứa trẻ chăn trâu) 牧. Bây giờ xét ba từ gốc của sinh vật nói chung là từ Con, từ Cây và từ Mắt, sẽ thấy rõ là tiếng Việt Nam đã ra Bắc thành tiếng Quảng Đông, thành tiếng Nhật và thành tiếng Bắc Kinh:

Con=Kô (tiếng Nhật)=Cu (tiếng Vân Kiều)=Tu (tiếng Tày và tiếng Quảng Đông)=Tử 子=Zử (tiếng Bắc Kinh, Zi 子).

Cây=Ki (tiếng Nhật)=Kêi (tiếng Quảng Đông)= “Cây Chi 之!”= Ký 記 (Quảng Đông đọc chữ Ký 記 là Kêi) = Chi (tiếng Bắc Kinh, Ji 記). Cổ đại dùng “Cây Đứng”=Cứng để Kẻ ra các Quẻ và các Ký tự, đều là cứng cả, như hình khắc hoa văn trên gốm. “ Cây Đứng”=Cứng, nên mới có câu thành ngữ “Cây ngay không sợ chết Đứng”.

Mắt=Moòng (tiếng Quảng Đông)=Mục 目= Mu (tiếng Bắc Kinh, Mu 目)

Mắt= “Mắt Trông”=Mông=Mong=Moòng (tiếng Quảng Đông)= Voọng (tiếng vùng Chèm, Hà Nội,làng Mọc bây giờ đã là trong nội thành nhưng dân gốc Kẻ Mọc vẫn gọi xã Dịch Vọng của họ là “Dịch Voọng”)= Vọng望 = Wang (tiếng Bắc Kinh, Wang 望). Tiếng Việt còn có Mông “Lói Chung” gọi là Mông “Lung”, nhìn mông lung là nhìn xa xăm, Hán ngữ đọc chữ nho Mông Lung là “mấng lúng” [Meng Long]nhìn xa xăm chính là nghĩa của từ Vọng, nên có các từ ghép theo Hán Văn như vọng lâu, vọng các, viễn vọng kính. Từ điển Yếu Tố Hán Việt thông dụng XB năm 1991 giải thích ở trang 477 chữ Vọng 望là “từ gốc Hán. Sao các viện sĩ ngôn ngữ học lại không thấy Mẹ nó là từ Mắt của tiếng Việt.

Cây ra đời bằng nở Mắt. Con ra đời bằng mở Mắt. Động từ “ra đời” là chữ Mọc, đến cả Mặt trời cũng còn Mọc. Mọc có nghĩa là hiện diện, chỉ ý ló mặt ra, Mặt = Mọc = Miện = =Diện 面 [Mian 面] = Liễm 臉 [Lian 臉]. Chỉ có tiếng Việt mới có trên khuôn Mặt có Mắt, Mi, Mày, Mũi, Mồm (Mỏ chim, Mõm thú), Môi. “Mồm nói thành Tiếng”= Miệng, mới gọi là cái Miệng (động vật không dùng từ Miệng). Có cãi cũng không cãi nổi qui tắc Lướt của ngôn từ dân gian vẫn tồn tại và đã thành qui tắc Thiết trong ngôn từ hàn lâm mà Hứa Thận vận dụng cách nay 2000 năm trong Thuyết Văn Giải Tự. Chính “Mắt Trông”= Mông, là nhìn xa. Nói Chung = “Lói Chung”= Lung. Mông Nói Chung là Mông Lung 朦 胧 [Meng Long 朦 胧],văn học viết cái nhìn mông lung thì quá lãng mạn. Vì mắt nó Trông là bằng cái Tròng của con ngươi, là cái máy ảnh rất sâu bên “Trong Trong”= Tròng, 0+0=1 của con người. “Trông Chắc”=Trắc 测 [Ce 测] (Chắc=Chiếc là số 1, Chắc nghĩa là Biết trong tiếng Tày) và Dò=Đo=Độ 度 [Do 度], “Đo Chắc”= Đạc, thành từ đôi chuyên ngành là Trắc Đạc hay Đo Đạc. Trông=Tròng (theo QT Tơi-Rỡi mà thay rỡi thì nó logic như Mông=Mong). Vọng=Dong (cũng theo QT Tơi-Rỡi mà thay tơi thì nó logic như Vô=Dô)=Dong容=Dung容. Hình Dung là nhìn từ xa mà thậm chí còn có thể nhắm cả mắt. Dung Nhan là nhìn cái nhan sắc. Mắt=Mục目= Mông (tiếng Quảng Đông đọc chữ Vọng 望) =Mong=Moòng (tiếng Quảng Đông đọc chữ Vọng 望) = Voọng (tiếng vùng Chèm, Hà Nội đọc chữ xã Dịch Vọng là “xã Dịch Voọng”)= Vọng 望 (Voọng=Vọng cũng logic như Coong=Con) =Dong 容= Dung 容= Duyệt 閱=Dòm =Nhòm= Nhìn=Nhình=Nhãn 眼(phát âm mềm hóa dần) . Nhình phiên thiết thành Nhãn 眼Tinh睛. Hán ngữ dùng chữ Nhãn Tinh 眼 睛 chỉ ý Mắt, phát âm là [Yan Jing 眼 睛]. Mắt trông là để mắt nó Bắt cái hình, động tác của nó là Bắt=Cắt=Chặt=Chụp, nó chụp hình là nó “Cắt được Rồi”= Coi 窺 (“Bắt Coi”= “Biết Coi”= =Bói卜), khi đó mới có thể coi hình hay lấy hình ra coi. Coi = Kiến見 = Quan觀 = Khán看 = Khám看 = Lãm覽 = Thám 探 =Thị 視= Thấy=Thăm = Ngắm= ( “Ngắm Chớ!”=Ngó) =Ngắm=Chắm=Chiêm占 = Xem. Tiếng Việt dùng từ đôi Coi Xem, là trọn cả nôi khái niệm. Hán ngữ dùng từ đôi bằng chữ nho là ngôn từ hàn lâm như các từ Quan Khán 觀 看 [Guan Kan觀 看 ], Duyệt Lãm閱 覽 [Yue Lan閱 覽] , Thám Vọng 探 望 [Tan Wang探 望]. Từ Coi=Nhoi=Nhòm , Nhoi=Nhòm là đã mềm hóa phát âm đồng thời biến nghĩa thành “xem trộm”, rõ nhất là từ Nhoi mà tiếng Nghệ hay dùng. Nho hàn lâm cũng đồng thời mềm hóa từ Coi và nhấn mạnh “Coi Chi 之!”= Khuy 窺, để viết từ Coi bằng chữ Khuy 窺và còn lướt “Khuy Ta” = Khoa , nho viết từ Khoa nhấn mạnh bằng lướt lủn “Khoa Chớ!”= Khóa課 (cũng logic như “Nho Ta”= Nhã, thành từ đôi nho nhã có nghĩa là nhỏ nhắn mà mềm mại). Bởi vậy có từ đôi Khóa Mục課目 [Ke Mu 課目], Khóa Mục 課目 là những thứ phải coi để mà phân biệt, khoa thi này phân biệt với khoa thi kia, một Khoa thi có nhiều Mục phải coi mà phân biệt khác nhau.Hán ngữ dùng chữ Khuy 窺 [Kui 窺] để ghép thành các từ đôi Khuy Trắc 窺 測 [Kui Ce 窺 測] chỉ ý thăm dò, Khuy Kiến 窺 見 [Kui Jian 窺 見] chỉ ý nhìn thấy, Khuy Thị 窺 視 [Kui Shi 窺 視] và Khuy Thám [Kui Tan 窺 探] đều chỉ ý nhìn trộm.

Cổ đại tồn tại “Nam phương Việt, bắc phương Hồ” là hai chủng có gen khác nhau, sau thành ra “nam phương nhân và bắc phương nhân” như người TQ nói ngày nay. Cổ đại người “Hãn ở phương Ô”= Hồ, gọi là người Hồ, sử Việt gọi họ là rợ Hồ, vì văn hóa du mục của họ còn thua xa văn hóa trồng trọt của dân Việt đã có chữ Viết. Chữ nho sơ khai có trên di vật khảo cổ là xẻng đá Quảng Tây có niên đại cách nay 7000 năm. Lịch sử đã diễn ra có một thời gọi là thời “Ngũ Hồ loạn Hoa”, loạn đây là loạn chiếm đất, loạn cướp văn hóa, loạn cả ngôn ngữ, mà do người Hồ gây ra vì họ nhảy lên thống trị, là quan Hãn thống trị dân Việt. Quan Hãn đã phải từ bỏ ngôn ngữ của người Hồ để nói bằng ngôn từ của dân thoại, phát âm lơ lớ, thành ra ngôn ngữ quan thoại. Chữ Thoại 話 đọc là “Hoa”. Âm tiết “Hoa” này cũng chỉ là một âm tiết Việt, đã bị tiếng Việt bỏ quên, chỉ còn lại trong từ “ba hoa” nghĩa là nói nhiều chuyện vớ vẩn. Từ “ba hoa” đáng lý phải viết bằng con số là “3 hoa”, vì con số 3 được dùng làm từ phiếm chỉ những ý xấu, thuộc số ít, như “3 con đĩ rạc”, “3 thằng du côn”, “chớ đi ngày 7, chớ về ngày 3”. Vớ Vẩn có gốc là Vô Vẫn, là cặp từ đối Vô/Vẫn tương tự 0/1 là Mô/Một, tương tự cặp đối Mù/Minh, tương tự cặp đối Rô/Rõ, tương tự cặp đối Cóc/Có. Mô=Mốc=Cốc=Cóc (VD, “có Mô tiền mà xài”, “có Mốc tiền mà mua”, “làm công không tiền là công Cốc”, “mày Cóc có tiền mà cũng đòi đi mua kem”). 0=Mô=Vô= ( nhấn mạnh)= “Vô Chớ!”= Vớ (cũng tương tự nhấn mạnh “Rô Chớ!”= Rớ, từ Xớ Rớ nghĩa là không biết gì). Như các cặp đối vừa nêu trên, Một tương ứng với Rõ, nhấn mạnh bằng láy là Rõ Mồn Một. Một vốn là chữ không dấu, như Muôi (là số 1 của tiếng Khơ Me) cũng không dấu. Không dấu nên nó viết là Môt, chỉ có hai biến là Một=Mốt=1, đếm mười một nhưng lại đếm hai mốt, ba mốt... Mồn Một = “Mồn Môt”= Môn (do lướt lủn, lấy dấu không của từ Môt sau thay cho dấu huyền của từ Mồn trước, bỏ từ Môt sau). Bởi vậy Rõ=1=Một=Môn=Vốn (vốn tồn tại, có thật)=Vẫn (tồn tại như nguyên, có thật)= (nhấn mạnh bằng từ lặp rồi lướt)= “Vẫn Vẫn”= Vẩn, 0+0=1. Vớ Vẩn có gốc là cặp đối Vô/ Vẫn, nói vớ vẩn là nói chuyện không chuyện có, gọi là “3 hoa”, tức “đồ 3 nói”, “đồ 3 thoại”, thành từ ba hoa. Chữ Thoại 話 đọc là “Hoa”, đối thoại là có hỏi, có trả lời. Nói=Hỏi= (nhấn mạnh)=“Hỏi Ạ!”= Hoa, Nói= (nhấn mạnh)=“Nói Ạ!”=Na=Và= Hả?=Hà 何?= “Hoa”. “Hoa” là cái âm tiết Việt mà tiếng Việt đã bỏ quên, nhưng vẫn còn phổ biến trong quan thoại khi đọc chữ Thoại 話 là “Hoa”, Thuyết Thoại 說 話 đọc là 【Shuo Hua 說 話】. Các từ trong nôi khái niệm “Nói” là do bắt đầu từ NÔI. NÔI=Nói= “Nói Ra”=Na=Và=Ngả (ngả lời, ngả giá)= “Ngả Chứ!”=Ngữ= “Ngữ Đó!”= Ngỏ (ngỏ lời, thư ngỏ)= “Ngỏ Môn”= Ngôn (ngỏ rõ mồn một)= Ngỏ Nghẻ= Thỏ Thẻ = Thả (thả lời ong bướm) = “Thả Chứ” = Thư = “Thư Ạ!” = Thưa = “Thưa Một” = Thốt (thốt lên lời nghĩa là nói một mình, nói cho một mình nghe)= “Thưa Hai” = Thoại (thoại là nói cho người thứ hai nghe)= “Noái”(giọng Huế)= Nói = NÔI. Từ đôi “Thoại Nói”= Thói. Thói từ chỗ ban đầu chỉ có nghĩa là văn hóa giao tiếp đã mở rộng ý thành cả văn hóa ứng xử. “Của Ta có cái Thói ấy”. Câu này chỉ có hai đề là Ta và Thói, gọn lại thành hai câu là câu “Ta có” (có là thuyết cho đề là Ta, Ta làm sao? Ta có) và câu “Thói ấy” (ấy là thuyết cho đề là Thói, Thói nào? Thói ấy). Nói tắt cả câu “Của Ta có cái Thói ấy” thì phải tóm hai cái đề là Ta Thói, chứ không phải là tóm chữ đầu câu là Của và chữ cuối câu là Ấy để thành tóm tắt cả câu là Của Ấy thì nó thành ra không rõ nghĩa, thậm chí thành ra xuyên tạc nghĩa. Câu tóm tắt Ta Thói mà lướt để nén nữa thì là “Ta Thói”= Tói. Lòi Tói là một từ dân gian, mà ngôn ngữ hàn lâm phải dịch Lòi Tói là “Thể hiện văn hóa ứng xử”. Cái “Tói chung Đúc”= Tục. Nên từ đôi “Thói Tục”= Thục, Thục là cái nếp đã quen, cũng như thổ nhưỡng đã quen trồng một loại cây nào đó, gọi là đất thục, “khoai đất lạ, mạ đất quen”. Thành ngữ dân gian “Đất Lề Quê Thói” ý là đất nào cũng có Lề riêng, quê nào cũng có Thói riêng. Hai cái đề ở câu này là Lề và Thói, lướt “Lề Thói”= Lói, cũng vậy “Lòi Tói”= Lói, cả hai đều cùng một nghĩa là “Thể hiện văn hóa ứng xử”, tức là Lói=Nói=NÔI, mất gốc Nôi thì dễ thành ăn nói, hành xử văng mạng. Lề gồm hai phần tự giác là Lễ (mềm, không bắt buộc) và Lệ (cứng, bắt buộc), “Lễ Lệ”= Lề, 0+0=1. Thói=Tói=Tục. Từ Lề Thói nho viết nửa ý bằng chữ Lễ Tục 礼 俗 (mềm, không bắt buộc), từ hàn lâm Lễ Tục 礼 俗 này còn giữ nguyên trong Hán văn hiện đại (gõ liên chữ là thấy liền), chứng tỏ chữ Lễ trong từ Lễ Phép là đã có từ thời “Nho Ta”= Nhã, được tiếp nhận và giữ nguyên ngữ pháp từ khi người Việt đã hàn lâm hóa từ dân gian Lề Thói bằng hai chữ Lễ Tục 礼 俗 . Cũng vậy, nho viết nửa ý kia của từ Lề Thói bằng chữ Lệ Tục 例 俗 (cứng, bắt buộc). Nhưng gõ Hán văn sẽ không ra hai chữ liền Lệ Tục 例 俗 mà chỉ có hai chữ liền Tục Lệ 俗 例. Chứng tỏ đến thời có “Yếu Tố” (như từ điển đã dẫn mang tên Từ điển Yếu Tố...) là yếu tố Hãn trên đất Trung Hoa thì ngữ pháp đã bị đảo ngược, cũng như ứng xử đã bị quan Hãn thống trị đổi thành lấy cứng thay mềm, hậu quả sau đó là 3000 năm chiến tranh liên miên trên đất Trung Hoa, mà các nhà thuyết khách như ông Khổng Tử hay ông Tô Tần (thành ngữ “cái lưỡi Tô Tần”) không làm sao can gián các vị hoàng đế được. Hủ nho đến thời Mãn Thanh càng hủ, một ví dụ như chính sách “bế quan tỏa cảng”. Chính sách này được Nhà Nguyễn bắt chước y chang, ngược hẳn với chính sách mở cửa của các Chúa Nguyễn thời nước Đàng Trong. Mặc dù triều đình Nhà Nguyễn đều là “thái tử”, “hậu duệ” của các Chúa Nguyễn, nhưng thời Nhà Nguyễn triều đình có hai phái, mà thành ngữ có câu chơi chữ là “thân Thanh thất thế”, phái thân nhà Mãn Thanh chẳng có thanh thế mà thực sự là thất thế trước các Vua Hàm Nghi, Thành Thái, thần Tôn Thất Thuyết, vì phái ấy không được nhân dân ủng hộ.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cổ đại tồn tại “Nam phương Việt, bắc phương Hồ” là hai chủng có gen khác nhau, sau thành ra “nam phương nhân và bắc phương nhân” như người TQ nói ngày nay. Cổ đại người “Hãn ở phương Ô”= Hồ, gọi là người Hồ, sử Việt gọi họ là rợ Hồ, vì văn hóa du mục của họ còn thua xa văn hóa trồng trọt của dân Việt đã có chữ Viết. Chữ nho sơ khai có trên di vật khảo cổ là xẻng đá Quảng Tây có niên đại cách nay 7000 năm. Lịch sử đã diễn ra có một thời gọi là thời “Ngũ Hồ loạn Hoa”, loạn đây là loạn chiếm đất, loạn cướp văn hóa, loạn cả ngôn ngữ, mà do người Hồ gây ra vì họ nhảy lên thống trị, là quan Hãn thống trị dân Việt. Quan Hãn đã phải từ bỏ ngôn ngữ của người Hồ để nói bằng ngôn từ của dân thoại, phát âm lơ lớ, thành ra ngôn ngữ quan thoại. Chữ Thoại 話 đọc là “Hoa”. Âm tiết “Hoa” này cũng chỉ là một âm tiết Việt, đã bị tiếng Việt bỏ quên, chỉ còn lại trong từ “ba hoa” nghĩa là nói nhiều chuyện vớ vẩn. Từ “ba hoa” đáng lý phải viết bằng con số là “3 hoa”, vì con số 3 được dùng làm từ phiếm chỉ những ý xấu, thuộc số ít, như “3 con đĩ rạc”, “3 thằng du côn”, “chớ đi ngày 7, chớ về ngày 3”. Vớ Vẩn có gốc là Vô Vẫn, là cặp từ đối Vô/Vẫn tương tự 0/1 là Mô/Một, tương tự cặp đối Mù/Minh, tương tự cặp đối Rô/Rõ, tương tự cặp đối Cóc/Có. Mô=Mốc=Cốc=Cóc (VD, “có Mô tiền mà xài”, “có Mốc tiền mà mua”, “làm công không tiền là công Cốc”, “mày Cóc có tiền mà cũng đòi đi mua kem”). 0=Mô=Vô= ( nhấn mạnh)= “Vô Chớ!”= Vớ (cũng tương tự nhấn mạnh “Rô Chớ!”= Rớ, từ Xớ Rớ nghĩa là không biết gì). Như các cặp đối vừa nêu trên, Một tương ứng với Rõ, nhấn mạnh bằng láy là Rõ Mồn Một. Một vốn là chữ không dấu, như Muôi (là số 1 của tiếng Khơ Me) cũng không dấu. Không dấu nên nó viết là Môt, chỉ có hai biến là Một=Mốt=1, đếm mười một nhưng lại đếm hai mốt, ba mốt... Mồn Một = “Mồn Môt”= Môn (do lướt lủn, lấy dấu không của từ Môt sau thay cho dấu huyền của từ Mồn trước, bỏ từ Môt sau). Bởi vậy Rõ=1=Một=Môn=Vốn (vốn tồn tại, có thật)=Vẫn (tồn tại như nguyên, có thật)= (nhấn mạnh bằng từ lặp rồi lướt)= “Vẫn Vẫn”= Vẩn, 0+0=1. Vớ Vẩn có gốc là cặp đối Vô/ Vẫn, nói vớ vẩn là nói chuyện không chuyện có, gọi là “3 hoa”, tức “đồ 3 nói”, “đồ 3 thoại”, thành từ ba hoa. Chữ Thoại 話 đọc là “Hoa”, đối thoại là có hỏi, có trả lời. Nói=Hỏi= (nhấn mạnh)=“Hỏi Ạ!”= Hoa, Nói= (nhấn mạnh)=“Nói Ạ!”=Na=Và= Hả?=Hà 何?= “Hoa”. “Hoa” là cái âm tiết Việt mà tiếng Việt đã bỏ quên, nhưng vẫn còn phổ biến trong quan thoại khi đọc chữ Thoại 話 là “Hoa”, Thuyết Thoại 說 話 đọc là 【Shuo Hua 說 話】. Các từ trong nôi khái niệm “Nói” là do bắt đầu từ NÔI. NÔI=Nói= “Nói Ra”=Na=Và=Ngả (ngả lời, ngả giá)= “Ngả Chứ!”=Ngữ= “Ngữ Đó!”= Ngỏ (ngỏ lời, thư ngỏ)= “Ngỏ Môn”= Ngôn (ngỏ rõ mồn một)= Ngỏ Nghẻ= Thỏ Thẻ = Thả (thả lời ong bướm) = “Thả Chứ” = Thư = “Thư Ạ!” = Thưa = “Thưa Một” = Thốt (thốt lên lời nghĩa là nói một mình, nói cho một mình nghe)= “Thưa Hai” = Thoại (thoại là nói cho người thứ hai nghe)= “Noái”(giọng Huế)= Nói = NÔI. Từ đôi “Thoại Nói”= Thói. Thói từ chỗ ban đầu chỉ có nghĩa là văn hóa giao tiếp đã mở rộng ý thành cả văn hóa ứng xử. “Của Ta có cái Thói ấy”. Câu này chỉ có hai đề là Ta và Thói, gọn lại thành hai câu là câu “Ta có” (có là thuyết cho đề là Ta, Ta làm sao? Ta có) và câu “Thói ấy” (ấy là thuyết cho đề là Thói, Thói nào? Thói ấy). Nói tắt cả câu “Của Ta có cái Thói ấy” thì phải tóm hai cái đề là Ta Thói, chứ không phải là tóm chữ đầu câu là Của và chữ cuối câu là Ấy để thành tóm tắt cả câu là Của Ấy thì nó thành ra không rõ nghĩa, thậm chí thành ra xuyên tạc nghĩa. Câu tóm tắt Ta Thói mà lướt để nén nữa thì là “Ta Thói”= Tói. Lòi Tói là một từ dân gian, mà ngôn ngữ hàn lâm phải dịch Lòi Tói là “Thể hiện văn hóa ứng xử”. Cái “Tói chung Đúc”= Tục. Nên từ đôi “Thói Tục”= Thục, Thục là cái nếp đã quen, cũng như thổ nhưỡng đã quen trồng một loại cây nào đó, gọi là đất thục, “khoai đất lạ, mạ đất quen”. Thành ngữ dân gian “Đất Lề Quê Thói” ý là đất nào cũng có Lề riêng, quê nào cũng có Thói riêng. Hai cái đề ở câu này là Lề và Thói, lướt “Lề Thói”= Lói, cũng vậy “Lòi Tói”= Lói, cả hai đều cùng một nghĩa là “Thể hiện văn hóa ứng xử”, tức là Lói=Nói=NÔI, mất gốc Nôi thì dễ thành ăn nói, hành xử văng mạng. Lề gồm hai phần tự giác là Lễ (mềm, không bắt buộc) và Lệ (cứng, bắt buộc), “Lễ Lệ”= Lề, 0+0=1. Thói=Tói=Tục. Từ Lề Thói nho viết nửa ý bằng chữ Lễ Tục 礼 俗 (mềm, không bắt buộc), từ hàn lâm Lễ Tục 礼 俗 này còn giữ nguyên trong Hán văn hiện đại (gõ liên chữ là thấy liền), chứng tỏ chữ Lễ trong từ Lễ Phép là đã có từ thời “Nho Ta”= Nhã, được tiếp nhận và giữ nguyên ngữ pháp từ khi người Việt đã hàn lâm hóa từ dân gian Lề Thói bằng hai chữ Lễ Tục 礼 俗 . Cũng vậy, nho viết nửa ý kia của từ Lề Thói bằng chữ Lệ Tục 例 俗 (cứng, bắt buộc). Nhưng gõ Hán văn sẽ không ra hai chữ liền Lệ Tục 例 俗 mà chỉ có hai chữ liền Tục Lệ 俗 例. Chứng tỏ đến thời có “Yếu Tố” (như từ điển đã dẫn mang tên Từ điển Yếu Tố...) là yếu tố Hãn trên đất Trung Hoa thì ngữ pháp đã bị đảo ngược, cũng như ứng xử đã bị quan Hãn thống trị đổi thành lấy cứng thay mềm, hậu quả sau đó là 3000 năm chiến tranh liên miên trên đất Trung Hoa, mà các nhà thuyết khách như ông Khổng Tử hay ông Tô Tần (thành ngữ “cái lưỡi Tô Tần”) không làm sao can gián các vị hoàng đế được. Hủ nho đến thời Mãn Thanh càng hủ, một ví dụ như chính sách “bế quan tỏa cảng”. Chính sách này được Nhà Nguyễn bắt chước y chang, ngược hẳn với chính sách mở cửa của các Chúa Nguyễn thời nước Đàng Trong. Mặc dù triều đình Nhà Nguyễn đều là “thái tử”, “hậu duệ” của các Chúa Nguyễn, nhưng thời Nhà Nguyễn triều đình có hai phái, mà thành ngữ có câu chơi chữ là “thân Thanh thất thế”, phái thân nhà Mãn Thanh chẳng có thanh thế mà thực sự là thất thế trước các Vua Hàm Nghi, Thành Thái, thần Tôn Thất Thuyết, vì phái ấy không được nhân dân ủng hộ.

Cổ đại con người tôn trọng thiên nhiên như tư tưởng của Cụ Sáu = Cụ Sâu = Cụ Lâu =Cụ Lấu (tiếng Hồ Nam, Lấu=6)= Cụ Lục (tiếng Quảng Đông, Lục=6) = Cụ Lão = Tu Lão (tiếng Tày) = Tử Lão, Hán văn thành Lão Tử [“lảo dư” 老 子 Lao Zi] là mọi vật đều có hồn, vạn vật hữu linh, nên mọi vật đều sống Tiêu Dao tức đều phải được Tự Do= Tự Du = Tự Vù = Tự Vọt = Tự Vượt = Tự Việt, vì Cụ Sáu là người Việt, và không biết tự do thì đừng làm người Việt. Do vậy cổ đại con người hồn nhiên mộc mạc, người ta quan niệm cái Cây nó cũng có hồn, nó cũng biết nói, cũng đòi cuộc sống và tự khẳng định nó. Thực vật: Cái hột, cái củ, cái cội, cái cành đều có Mắt. Hễ có điều kiện là lập tứ “Mắt Chọc”=Mọc, là “Mắt Đâm”=Mầm, gọi bằng từ đôi là Mọc Mầm. Mầm lên rất nhọn, rất thẳng, rất ngay và rất nhanh. “Ngay Nhanh”=Ngạnh là khẳng định sức sống mạnh mẽ của nó (năng động là làm ngay đi, làm nhanh lên). Tức là cái Mầm thì nó rất Mềm, nhưng tính cách của nó thì rất Cứng. Nho viết từ ghép “Cứng Ngạnh”=Cảnh bằng một chữ Cảnh 耿, mang nghĩa là ngay thẳng. Biểu ý của chữ Cảnh là tai nghe (Nhĩ) và lửa lòng (Hỏa), tức là; Tai nghe những chuyện bất bình. Trong lòng bốc lửa bực mình chẳng tha (câu trong Lục Vân Tiên “Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”). Gi ống=Gi ồng=Trồng (trồng cây, trồng người)=Trống (con đực của loài chim, loài cá)=Chồng (con đực của loài người)=Chủng. Nho viết từ Giống và từ Trồng bằng chung một chữ Chủng. Động vật: Chồng=Trống(con đực)=Trương (cương cứng)=Trượng. Nho viết từ Chồng bằng chữ Trượng. Tính cách Cứng của con đực là tính Hống hách, Trống=Hống=Hùng (Đế Minh sinh ra vua Hùng, “Đế Minh quê ở Ngàn Hống). Nho dùng chữ Hùng để chỉ con Trống ( cho loài Chim và loài Thủy tộc), (dân Trống đồng là giống Tiên Rồng), cũng dùng chữ Hùng để chỉ đàn ông (cho loài người) trong cặp Thư/Hùng. Tuần tự động tác Cấu của con đực là: Bò=Bổ (như bổ củi)=Bù (tinh trùng đắp vào noãn)=Đụ=Phụ=Phò=Bố. Nho viết từ Bố bằng chữ Phụ. Tính cách của con đực là Cứng, là ngay thẳng. Nho viết từ đôi “Trống Đực”=Trực bằng chữ Trực 直, mang nghĩa là ngay thẳng. Từ đôi kép Cảnh Trực 耿 直 là của “Nho Ta”= Nhã. Cảnh Trực mang nghĩa là ngay thẳng. Do tư duy hồn nhiên mộc mạc nên từ Cây Mọc nho viết bằng chữ Mộc, đúng như về sau, cách nay 2000 năm, Hứa Thận giải thích trong Thuyết Văn Giai Tự là chữ Mộc nghĩa là Mạo Dã 冒 也(mọc ạ). Và chữ Mạo 冒nho biểu ý rất hồn nhiên là cái cây nó nói, khi đã mọc mầm ra khoảng trời tự do nó hống hách ngang ngạnh tự khẳng định mình là “Mắt mầm đã mọc ra Tao”= Mạo. Chữ Mạo 冒 gồm chữ “Mắt Lục”= Mục 目(mắt lục là mắt xanh của hột, củ, cội, cành) và chữ “Viết Nói”= Viết 曰(do lướt lủn). Đến cái cây nó cũng là người Việt luôn, cổ đại người Việt bình đẳng đến thế là cùng. Cây=Gây (“trông cây gây rừng”)= “Gây Chớ!”=Gỗ. Nên thợ gia công đồ bằng Cây hay Gỗ gọi là thợ Mộc. Còn nếu vác Cây=Gậy đi đánh lộn thì gọi là Gây Gổ. Nhưng Cây cũng là người Nhật. Người Nhật gọi Cây là Ki. Tiếng Việt mà khẳng định “Cây Đi!”=”Cây Chi!”= Ki thì thành tiếng Nhật. Tiếng Nhật cũng dùng phụ từ khẳng định đứng sau, họ nói nhấn mạnh khẳng định “Ki Đếx!”= “Ki Đấy!”= Cây thì thành ra tiếng Việt. Nguyên do là vì nông nghiệp trồng trọt sơ khai của nhân loại là của người Việt. Thời đó cái nước Ryu Kyu (Lưu Cầu) của người Nhật gồm đảo Okinawa và các quần đảo lân cận là nằm trong nước Văn Lang. Văn Lang là cái Vuông (tiếng Việt và tiếng Triều Châu), như tượng trưng bằng cái bánh chưng thời vua Hùng, là cái Mảnh (tiếng Việt và tiếng Quảng Đông), vuông đất, mảnh đất, là cái Văn (chữ nho Văn và giải thích của Hứa Thận “Văn là sự viết lệch đi của chữ Vuông”), cái Văn ấy gồm “Liền liền các Bang”=Lang (do lướt cả câu), mà Bang là do gồm nhiều “Bản Làng”=Bang (do lướt từ đôi). Bản thân chữ Ryu Kyu biến thành chữ nho Lưu Cầu cũng cho thấy sự mềm hóa phát âm: Ki=Cây=Giấy=Váy=Vải. Reng Con = Rin Kô = Linh Tử (cái chuông con nhỏ xíu lắc kêu reng reng). Rơn=Lớn=Nhớn. Ranh=Lãnh=Lớn. Ranh Con là mắng Ranh xác mà Con trí (“Lớn đầu mà dại, bé dái mà khôn”). Cứng như Coi=Quan=Kiến, mềm đi thì Coi=Khoi= Nhoi=Nhòm=Dòm=Nom. Nhấn mạnh thì “Khoi Đi!”=Khuy=Khám=Khán=Nhãn=Nhìn=Nhình=Nhãn Tinh. Nhãn Tinh 眼 睛 là từ Hán ngữ dùng chỉ Mắt. Cái cổng vòm làm mốc địa giới giữa nước Đại Việt và nước Đại Minh, nơi chàng thanh niên Nguyễn Trãi ngậm ngùi chia tay cha là Nguyễn Phi Khanh, trên cổng có ba chữ khắc nổi trên đá xanh là Mục Nam Quan, tức Mắt người Nam Coi. Đến thời nước Đại Thanh cái cổng vòm ấy vẫn y nguyên chỗ đó, chỉ có thêm nhiều rêu phong. “Đất nước ta liền một dải từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mâu”. Ở trên đã giải thích Cửa và Môn đều có gốc là từ Củ, củ môn do người trồng ở Văn Hóa Hòa Bình cách nay hàng vạn năm. Ăn tiếng Thái là Kin Khao, tiếng Tày là Kin Khẩu,do gốc là từ Gạo. Khẩu là một miếng ăn (“mời xơi khẩu trầu”, “cắn một khẩu mía”). Nho viết biểu ý miếng ăn gọi là Khao=Khẩu bằng một hình vuông đọc là Khẩu là bộ thủ Khẩu 口. Chữ Khẩu này cũng được mượn dùng chỉ cái cửa ra vào dùng cho khách, là cái “Khứa Tẩu”= Khẩu. Khách Khứa là từ đôi, vì Khách cũng gọi là Khứa do lướt câu “Khách xin mời ra vào qua Cửa”=Khứa, mà hành khách thì đông lắm nên “Khứa Khứa”= Khựa. Hán ngữ dùng chữ Xuất Khẩu 出 口 chỉ cửa ra và chữ Nhập Khẩu 入 口 chỉ cửa vào. Gọi là Hán ngữ là gọi theo tên đất, cũng giống như gọi Nôm Na = Nam Nói là gọi theo tên đất. Hán là từ chỉ đất nên cửa vào đất Hán gọi là Hán Khẩu (thành phố Hán Khẩu ở bờ bắc Dương Tử , đối diện ở bờ nam là thành phố Vũ Xương, thời hiện đại có cầu nối liền thành thành phố Vũ Hán) Vũ Xương có gốc là Việt Thường. Gọi theo tên tộc là Việt Ngữ, gọi theo tên đất là Thường Và hay Thoòng Và (tương tự như Nôm Na). Việt Ngữ (từ do quan phương gọi) cũng là Thoòng Và (từ do dân gian gọi , tương tự như Nôm Na), hai từ tồn tại song hành, chỉ tiếng Quảng Đông.

Share this post


Link to post
Share on other sites