Lãn Miên

Tiếng Việt

299 bài viết trong chủ đề này

Vua Hùng là gì?

 

Vua Hùng có nghĩa là ông vua có lòng tốt và dám nghĩ dám làm. Từ Dám trong tiếng Việt đã được phiên thiết thành hai chữ Dũng Cảm , ( lướt lại thì là “Dũng Cảm” = Dám). Một chữ Dũng mang nghĩa là dám nghĩ dám làm.

Lòng tốt để mà đối tốt với mọi người, dũng cảm để mà dám nghĩ dám làm. Lòng tốt để mà đối tốt với mọi người thì phải Hiền để biết giúp người, và giúp người thì phải khôn để khỏi làm ơn mang oán tức phải có trí Tuệ, nên cái lòng tốt ấy gọi là “Hiền Tuệ” = Huệ, ơn huệ là biết ơn cái lòng tốt, chữ Huệ chính là Ta, còn gọi là cá nhân, là một con người, tức “Ta Một” = Tốt. Bởi con người khi sinh ra vốn là tốt (“nhân chi sơ tính bổn thiện”) khi chưa bị các thứ chủ nghĩa làm cho diễn biến xấu đi. Người = Ngã = Ta = Tốt, cho nên chữ Huệ viết biểu ý bằng “Tâm Xa” = Ta. Tâm là cái hồn, Xa là chỉ bảy cái luân xa đang hoạt động tức cái cơ thể đang còn sống, là nơi trú ngụ của cái hồn. Như vậy chữ Huệ để chỉ lòng tốt là hình thành sau những cái có trước làm tiền đề cho nó là cái tâm và cái luân xa (phần mềm và phần cứng cấu tạo con người). Khi đã có chữ nho Huệ chỉ cái lòng tốt rồi thì điệu hát kể lể về lòng tốt, người ta đã thiết từ chữ Huệra là: “Xa Tâm” = Xẩm, đặt thành từ hát Xẩm có nghĩa là hát về cái lòng tốt, toàn là kể lể những câu chuyện mùi mẫn trữ tình. Chữ Huệ (lòng tốt) được TĐ Yếu tố Hán Việt thông dụng, Viện ngôn ngữ, HN 1991, trang 187 giải thích là “tố” gốc Hán (nói có sách nha). Nhưng (mách có chứng là) nếu theo Hán ngữ mà thiết thì nội dung chữ Huệ    [ Hui ]  không đem lại một từ gì hợp logic “thiết” mà có nghĩa là tốt cả: [ Hui:  Xin Che thiết ”Xe”, trật ]. Hán ngữ không có từ nào là “Xe” mà mang nghĩa là người [Ren], hay là ta [Wo ], hay là lòng tốt [Hao Xin 好 心] cả.

Vua Hùng của người Việt là một người có đức tính Huệ (có lòng tốt) và đức tính Dũng (dám nghĩ dám làm do thông minh) nên gọi là Huệ Dũng thiết Hùng , gọi là Vua Hùng. Vì chữ Huệ (lòng tốt) là HiềnTuệ thiết Huệ, tức trong Huệ đã có Nhân (hiền) và Trí (tuệ), nên từ Hùng là gói trọn ba nôi dung Nhân Trí Dũng.

Có lòng tốt (Huệ ) và có dám nghĩ dám làm (Dũng ) thì mới có “Huệ Dũng” = Hùng , thì mới đưa được đất nước đến hùng cường. Có Dũng (dám vứt bỏ tư duy cũ) và có Huệ (tình yêu dân tộc) thì mới có “Dũng Huệ” = Duệ (là có hậu duệ 后 裔, và có uy tín rộng mênh mông gọi là tứ duệ 四 裔).

Như vậy trong từ Hùng do có “nhân” là Huệ nên mới có “quả” là Dũng để rồi trong hành động luôn biết “Dĩ bất biến” là Huệ để mà “Ứng vạn biến” là Dũng.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Từ chuyển nghĩa

 

Trong tiếng Việt cũng giống như trong nhiều ngôn ngữ khác, từ Lưỡi đã sinh ra từ Nói, là một chức năng của cái Mồm. Lưỡi = Lời = Nói = Gọi. Nhưng rồi từ Lời lại sinh ra từ khác để chuyển nghĩa thành cái Mồm, đó là trường hợp của chữ Chủy. Nói xía vô gọi là chõ mõm hay chõ lời. “Chõ Lời” = Chởi (tiếng Nghệ) = Chưởi (tiếng Thanh Hóa) = Chửi (tiếng Hà Nội) = Chủy (chữ Nho). Chữ Chủy được dùng chuyển nghĩa thành ra đại diện cho Miệng hoặc Nói. Vì chữ Chủy này là chữ Nho gốc Việt, nên khi chuyển nghĩa thành “Nói” thì cụm từ ghép chỉ các cách nói đều ghép theo kiểu Việt là “Đề” trước “Thuyết” sau , mặc dù vẫn còn được dùng phổ biến trong Hán ngữ bằng cú pháp Việt, như:

Mồm mép 嘴 皮 子 (Chủy Bì Tử), Nói kín kẽ 嘴 緊 (Chủy Khẩn), Nói kín đáo 嘴 穩 (Chủy Ổn), Nói nhanh nhẩu 嘴 快 ( Chủy Khoái), Nói lôi thôi 嘴 碎 (Chủy Toái), Nói đanh đá 嘴 損 (Chủy Tổn) , Nói chanh chua 嘴 尖 (Chủy Tiêm), Nói ngọt ngào 嘴 甜, (Chủy Điền), Nói  nghiêm túc 嘴 嚴 (Chủy Nghiêm), Nói ngang ngược (Chủy Ngạnh), Nói thẳng 嘴 直 (Chủy Trực), Nói dễ thương 嘴 乖 (Chủy Quai). Còn Hán ngữ ghép theo cú pháp Hán là “Thuyết” trước “Đề” sau nên từ nói thẳng là Chủy Trực 嘴 直 thì Hán ngữ sẽ dùng là Trực Thuyết 直 說 (từ Chủy đóng vai trò nói đồng nghĩa với từ Thuyết nghĩa là nói), từ nói cứng là Chủy Ngạnh 嘴 硬 thì Hán ngữ sẽ dùng là Ngạnh Thuyết 硬 說 (từ Ngạnh nghĩa là cứng, ngang ngược) .

 

[ “Đề” và “Thuyết” là cách nói của GS Cao Xuân Hạo khi phân tích cú pháp Việt và các ngôn ngữ phương Đông, khác với cách phân tích cú pháp theo “chủ ngữ”, “vị ngữ”, “tân ngữ” là cách mà Ông gọi là “bắt chước ngữ pháp phương Tây để phấn tích câu cú phương đông”. “Đề” là cái nội dung cốt lõi cần nêu, “Thuyết” là cái phụ họa cho cái cần nêu. Các học giả khác gọi là “Chính” và “Phụ”, “cú pháp Việt thì “Chính” trước phụ sau; cú pháp Hán thì ngược lại “Phụ” trước “Chính” sau. Còn gọi là “Đề” và “Thuyết” ý là “Đề” đứng trước là cái Nêu, còn” Thuyết” đứng sau là cái “Thuyết Minh” cho cái Nêu. Nhưng từ “thuyết minh” là từ hàn lâm có chữ của từ “nói rõ”. Cái “nói rõ” này phụ họa (bổ nghĩa) cho cái “Đề” đứng trước nó, bởi vậy cái mà “Đề” cần ở nó là ở “rõ” mới là cốt lõi, chứ không phải là ở “nói”  trong từ “nói rõ”. Do vậy dùng tắt thì phải tóm cái cốt lõi, ở “nói rõ” thì tóm cái cốt lõi là “rõ”, tức ở “Thuyết Minh” thì tóm cái cốt lõi là “Minh”. Vì vậy theo thiển ý của hai lúa thì “Đề” và “Thuyết Minh 說 明” nếu dùng từ tắt nên gọi là “Đề” và “Minh ” thì mới chính xác, cái “Minh ” đứng sau là để làm rõ hơn cho cái “Đề ” đứng trước. Ví dụ khi HDV du lịch đang Thuyết Minh, nếu chưa rõ thì ta sẽ đề nghị HDV “Minh” lại cho nghe thêm cho rõ. Còn nếu đề nghị “Thuyết ” lại cho nghe thì HDV lại cứ “Thuyết” (nói) vu vơ tràng giang đại hải nhưng sai cả lịch sử thì làm sao mà rõ được]

 

“Chiếc lá màu xanh” nên người ta vẫn dùng từ theo kiểu đại diện là màu xanh cũng gọi được là màu lá. Vậy từ Lá và từ Xanh là chuyển nghĩa cho nhau hay chúng có cùng nôi khái niệm không? Đương nhiên là có, trong cùng một nôi khái niệm có nội dung là “màu xanh”. Trong nôi khái niệm ấy còn sinh ra cả những từ có viết bằng chữ Nho, mà Hán ngữ sử dụng về sau:

Xanh = Lạnh = Lãnh = Lặng = Lằng = Nhặng = Dăng = Dong = Mòng = Long = Lục = Lá = Liếp = =Diệp = Dâm = Lâm = Râm = Rừng = Rành Rành = Thanh = Thiện = Thương = Lương = Lành. Nhân loại đang phấn đấu cho “một thế giới màu Xanh” hay “thế giới môi trường Xanh” (tức nó có màu Xanh của môi trường sống theo nghĩa đen và nó  có xã hội Lương Thiện theo nghĩa bóng, đương nhiên con người có cái tâm Lành thì mới giữ được màu Xanh cho trái đất). Giải thích các từ trong nôi khái niệm trên: Màu Xanh còn gọi là màu Lạnh hay màu Lặng. Trong bóng Xanh là trong bóng Mát (bóng Lạnh) hay trong bóng Râm (bóng Dâm). Con ruồi xanh gọi là con Lằng, con Mòng, hay con Nhặng , nho viết bằng chữ Dăng , Hán ngữ dùng chữ Thương Dăng chỉ con ruồi. Loại lá cây chỉ dùng khi xanh kể cả còn sống hay đã luộc chín, gọi là lá Dong. Phong thủy thì Long là màu xanh, Thanh Long. Những từ có nôi màu xanh với lá là: Lá = Lục = Lam = =Chàm. Còn những từ có nôi hình thức như  một mặt phẳng của Lá là: Lá = Liếp = Diệp = Dẹt = Dẹp = Bẹp = =Bẹt = Biển.  Do vậy tiếng Việt dùng từ Biển để chỉ cái bảng (mặt phẳng) quảng cáo, gọi là Biển Hiệu ; Hán ngữ dùng chữ Biển Hình để chỉ cái hình Bẹt. Xanh được dùng đại diện bầu trời, TrênTrời tức Trên Xanh viết bằng chữ Thiên Thương thì Hán ngữ dùng từ Thương Thiên chỉ trời xanh. Rừng là nhiều cây xanh, nên vào Rừng còn gọi là vào Xanh , Rừng = Rậm = Lâm = Lắm = Thẳm = Thâm = Sâm = Sâu = Lâu = Lục, càng đi vào rừng càng thấy sâu thẳm, nên chữ Lục màu xanh cũng còn dùng chỉ lâu về thời gian, cùng logic với từ Lục đồng âm là số Sáu, hết vòng đếm ngũ phân là số 5 =

= Prăm = Năm = Lắm = Lâm, rồi mới sang vòng mới thì tất nhiên là nó phải Lâu = Sâu  = Sâm  = Thâm = Thăm Thẳm. (Trong chữ Minh âm chỉ màu đen của rừng U Minh tối đen u u minh minh: thế giới âm là chữ Minh là Mịch Lâu lái là Mầu Và Linh). Cây Lục Lằng (lá vị đắng ) và cây Rành Rành (lá vị đắng) đều dùng lá khi còn xanh để nấu nước uống giải nhiệt.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Làm Ăn

 

Mỗi từ tiếng Việt ta dùng hàng ngày đều thể hiện tính nhân văn của người Việt.

Ví dụ đơn giản nhất, từ dùng với tần suất nhiều nhất, là từ Ăn. Nó không chỉ là động tác đơn giản nghiền nhuyễn rồi nuốt, mà nó chính là cả một cái nhân văn. Vì nôi khái niệm của nó đã chỉ rõ: Ăn = Ơn = Ân = In = =Kin = Can = Cắn = Ăn = Ẩm = Phẩm = Nhấm = Nhậu. “Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say”, khách đã phải khen cái “rượu” của dân họ Hồng Bàng xứ Đào chính là sự hấp dẫn đáng phải học theo của nhân văn người Việt, để mà khách phải bâng khuâng: “Tay nâng chén rượu Hồng Đào. Chưa nhấm lòng đã ước sao bằng Người”. Văn hóa Nhậu chưa bị biến tướng thì là đó, như nó còn nguyên thủy trên chiếu của cuộc “đờn ca tài tử Nam Bộ” , là tình sâu nghĩa nặng.

Trong nôi khái niệm ăn thì  từ Ăn gọi là “Kin” trong tiếng Tày Thái, là “Can” trong tiếng Vân Nam.

 

Kinh doanh là làm kiếm lời, nhưng tiếng Việt lại gọi kinh doanh là Làm Ăn, làm ăn ở nhà (trong nước) hay làm ăn nơi xa (nước ngoài) đều là Làm Ăn. Nhưng bởi Ăn = Ơn (“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”) nên Làm Ăn = Làm Ơn. Thành ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng Cây” phản thiết là “Cây Ăn” = Căn. Trồng cây mà có công chăm bón tức cho “Cây Ăn” = Căn. Căn ấy là cái thiện căn. “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” <Kiều>. Làm Ăn kiếm được lời rồi đương nhiên là  miệng thì có ăn ( “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”) mà tâm thì biết ơn. Tâm Ơn = Tâm In. Tâm In thiết Tin, Tin Được gọi lướt lủn là “Tin Đắc ” = Tín . Không có lòng biết ơn thì không biết giữ Tín với nhau.

 

                                  Nhìn lên < Ân Tứ Ninh Gia >:

                                  Ban ơn làm trước, sau là biết ơn

                                  Nhìn <Thiên –  Địa – Quân – Thân – Sư >:

                                  Làm theo pháp luật, sống như nghĩa tình

 

Mặt trời trên trống đồng có nhiều tia sáng. Trời đó chính là Ta, mà “Ta Chia” = Tia. Con người trong cuộc sống phải biết chia sẻ bằng tấm lòng trong sáng vô tư, goi là “Trong Sạch” = Trạch. Ơn Trạch là cái ban ơn không đòi phải trả, nó là “Ta cho người Chứ” = Tứ. Ta Tứ  cũng như Trời Phú , vô tư, miễn phí, gọi là từ thiện.
 

Câu thành ngữ “Tình sâu nghĩa nặng” là cốt lõi của nhân văn người Việt trong suốt thời các Vua Hùng kéo dài 2500 năm trong dòng lịch sử 5000 năm của dân tộc Việt. Hai nghìn năm trăm trước đã có Khổng Tử viết 孔子曰: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám nghìn dặm đều là dân Bách Việt ở” (Cối Kê là ở  vị trí thành phố Hàng Châu TQ ngày nay). Cũng Khổng Tử viết 孔子曰: Chúng ta học là học cái văn minh của người phương Nam. Viết nghĩa là lướt lủn “Việt Nói” = Viết (tương tự lướt lủn “Giết Sạch” = Diệt ), Van = Vân = Viết = =Và, nghĩa là Nói, tồn tại trong cuối bài văn Việt là Vân Vân Và Vân Vân nghĩa là Nói Nói Nói Nói Nói, tức còn nói mãi như thế. Tồn tại trong cuối bài văn Hán là Đẳng Đẳng , tức còn bằng (nói) mãi như thế, Đồng = Bằng = “Đồng Bằng” = Đẳng = Đẳng Đẳng = Bằng Bằng.

 

Câu thành ngữ “Tình sâu nghĩa Nặng” có từ thời Hùng, là thời mà Vua là do dân bầu lên một con người có lòng tốt (Huệ) và dám nghĩ dám làm (Dũng) gọi là “Huệ Dũng” = Hùng, và truyền ngôi bằng trưng cầu ý dân để chọn “Thay Hiền” = Thiền, gọi là Thiền Nhượng . Chính câu thành ngữ ấy đã làm nên chữ “Tình sâu nghĩa Nặng” = Tặng . Và cái đem tặng nó mang ý nghĩa tinh thần là chính (như cặp bánh Chưng bánh Dầy của Lang Liêu tặng cộng đồng),  “Tinh thần mới là Nặng” = Tặng , để có hiệu quả “Tình thân càng Nặng” = Tặng . Bởi vậy tặng phẩm rất phong phú hình thức, nó là danh hiệu, là câu thơ, là câu đối, là bút pháp, là vật lưu niệm. Nhưng cái nội dung chủ yếu nó chuyển tải là cái Tình. “Năng mưa thì giếng năng đầy. Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương”. Năng là Siêng Năng. Siêng phiên thiết Sường Xuyên = Thường Xuyên. Tình người mới là cái quí nhất, nên chữ Tặng đã biểu ý đúng điều đó: Tình cảm là cái càng cho đi thì nó lại càng sinh ra nhiều hơn trong tâm, cho mãi không bao giờ cạn, “Tình Nặng” = Tặng, Tình là cái quí báu nhất, biểu ý bằng chữ Bối, càng cho đi thì nó nảy nở càng nhiều, biểu ý bằng chữ Tăng; chữ Tặng là “Bối Tăng” = Bằng , cho đi “Tình sâu nghĩa Nặng” = Tặng thì được Bằng Hữu 朋友 là Bạn Bè; Tình trao đi là cái “Tăng Bối ” = Tối, là cái quí nhất, là nhất hạng. Từ điển Hán Việt thông dụng Viện ngôn ngữ HN 1991, trang 359, giải thích: Tặng là “biếu cho một cách kính trọng hoặc thân mến”, là “tố gốc Hán”. Nhưng là “tố gốc Hán” mà <Thuyết Văn Giải Tự> giải thích cũng còn trật, <TVGT>: , 玩好相送。昨鄧切(Tặng, hoàn hảo tương tống dã. Tạc Đặng thiết) – Tặng là trao cho nhau cách hoàn hảo. Tạc Đặng thiết Tặng. Đây chỉ là mượn âm để đọc, vì Tạc nghĩa là hôm qua, Đặng là họ Đặng, Tạc Đặng chẳng có logic gì với ý nghĩa Tặng cả. Cái logic đúng của chữ Tặng là sự thể hiện “Tình sâu nghĩa Nặng” = Tặng. Lại còn chú giải thêm cho <TVGT> là: Tặng chỉ dùng cho người sống, còn cho người chết thì dùng chữ Phúng Phú . (Vì thể hiện “nghĩa tử nghĩa tận” là cái Phải, nên “Phải Cúng” = Phúng, “Phải Bù” = Phú , đều là những chữ do Việt Nho đặt ra). Nếu theo phát âm của Hán ngữ mà “thiết” theo chính cấu tạo của chữ Tặng thì là: Bei Zeng  thiết Beng, trật, không thành Péng nghĩa là bằng hữu. Zeng Bei thiết Zei, trật, không thành Zùi 最” là nhất hạng. Bằng hữu nhất hạng thì mới có sự thể hiện “Tình sâu nghĩa Nặng” = Tặng .

 

Về cấu tạo từ thì Làm Ăn thiết Lăn. Lăn là sự vận động có chu kỳ, sản xuất nông nghiệp có từng vụ, sản xuất công nghiệp có từng xe-ri sản phẩm hay lô hàng. Ăn Làm thiết Am. Ăn cũng phải Am (hiểu), "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng" (ngày nay gọi là ẩm thực văn hóa trong văn hóa ẩm thực),  mà Làm cũng phải Am (hiểu). Trong làm ăn phải am hiểu pháp luật và công nghệ, am hiểu là hiểu rộng và kĩ. Làm Ăn nói lái là Lằn Am; Lằn là lướt lủn “Lăn Nhiều” = Lằn. Làm Ăn là phải lăn lộn với thị trường, phải am hiểu, biết kiếm lời (Ăn) và biết nghĩa vụ với cộng đồng (Ơn).

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TUYỀN NGƯỜI LÀM

 

                       Đầu bếp nổi tiếng nhà hàng

 

                  Muốn tìm đồ đệ cùng làm phụ ông

 

                     Ông bèn treo bảng chiêu sinh

 

                 Ứng viên hôm ấy đến đông sẵn sàng

 

                          Thấy ông để sẵn trên bàn

 

                   Bốn đĩa bốn món đang còn bốc hơi

 

                         Cạnh mỗi đĩa tấm giấy rời

 

                    Viết câu khó hiểu, ông đòi thí sinh:

 

                          “Mỗi món thiếu một vị nêm

 

                 Cấm nếm, đọc giấy, đoán xem thiếu gì?”

 

                          Đĩa cải xào giấy có ghi

                 “Liên miên mưa bụi ướt đi bức tường”

 

                            Đĩa cá rán viết rõ ràng

 

                “Con ngựa Xích Thố bỏ liền Quan Công”

 

                             Đĩa thịt bò lại viết rằng

 

                  “Lưu Bị khoác áo giáp xông chiến trường”

 

                              Đĩa đậu hầm, giấy nêu lên

 

                       “Xích Bích đại bại,Tào quân chạy dài”

 

                                 Thí sinh suy nghĩ một hồi

 

                          Một cậu đứng dậy có lời như sau:

 

                              “Cải xào thiếu Muối nêm đầu,

 

                           Cá rán còn thiếu vị sau là Gừng,

 

                               Món thịt bò lại thiếu Tương,

 

                        Đậu hầm thiếu Tỏi, rõ ràng phải thêm”

 

                                Sư phụ đầu bếp mừng rơn

 

                        Hỏi rằng: “ Đâu lý nêu lên đúng vầy?”

 

                               Thí sinh bèn giải thích ngay

 

                    “Tường ướt, thiếu Mái, âm đây Muối chừng,

 

                              Ngựa xổng vì thiếu Gông dừng

 

                           Nói lái lại đúng Gừng dông còn gì,

 

                                  Lưu Bị phải tự đánh đi

 

                          Là vì Tướng thiếu, khác gì thiếu Tương,

 

                             Xích Bích thiếu Toán, bại vong

 

                           Toi cả thiết Tỏi đúng  âm Tỏi đồng”

 

                               Thầy nghe trò giải thích xong

 

                       Vui mừng nhận hắn làm công phụ mình.

6 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TUYỀN NGƯỜI LÀM

 

                       Đầu bếp nổi tiếng nhà hàng

 

                  Muốn tìm đồ đệ cùng làm phụ ông

 

                     Ông bèn treo bảng chiêu sinh

 

                 Ứng viên hôm ấy đến đông sẵn sàng

 

                          Thấy ông để sẵn trên bàn

 

                   Bốn đĩa bốn món đang còn bốc hơi

 

                         Cạnh mỗi đĩa tấm giấy rời

 

                    Viết câu khó hiểu, ông đòi thí sinh:

 

                          “Mỗi món thiếu một vị nêm

 

                 Cấm nếm, đọc giấy, đoán xem thiếu gì?”

 

                          Đĩa cải xào giấy có ghi

                 “Liên miên mưa bụi ướt đi bức tường”

 

                            Đĩa cá rán viết rõ ràng

 

                “Con ngựa Xích Thố bỏ liền Quan Công”

 

                             Đĩa thịt bò lại viết rằng

 

                  “Lưu Bị khoác áo giáp xông chiến trường”

 

                              Đĩa đậu hầm, giấy nêu lên

 

                       “Xích Bích đại bại,Tào quân chạy dài”

 

                                 Thí sinh suy nghĩ một hồi

 

                          Một cậu đứng dậy có lời như sau:

 

                              “Cải xào thiếu Muối nêm đầu,

 

                           Cá rán còn thiếu vị sau là Gừng,

 

                               Món thịt bò lại thiếu Tương,

 

                        Đậu hầm thiếu Tỏi, rõ ràng phải thêm”

 

                                Sư phụ đầu bếp mừng rơn

 

                        Hỏi rằng: “ Đâu lý nêu lên đúng vầy?”

 

                               Thí sinh bèn giải thích ngay

 

                    “Tường ướt, thiếu Mái, âm đây Muối chừng,

 

                              Ngựa xổng vì thiếu Gông dừng

 

                           Nói lái lại đúng Gừng dông còn gì,

 

                                  Lưu Bị phải tự đánh đi

 

                          Là vì Tướng thiếu, khác gì thiếu Tương,

 

                             Xích Bích thiếu Toán, bại vong

 

                           Toi cả thiết Tỏi đúng  âm Tỏi đồng”

 

                               Thầy nghe trò giải thích xong

 

                       Vui mừng nhận hắn làm công phụ mình.

 

Mặc dù trong 4 câu đố có đến ba là tích Tàu. Nhưng hay thật! Nếu bật được ý nghĩa sâu sắc của ngôn ngữ Việt, không hề liên quan đến văn hóa Tàu, khi nó được giải mã bằng chính ngôn ngữ Việt. Bài thơ của bác Lãn Miên rất xứng đáng đưa vào giai thoại văn học truyền thống Việt để lưu truyền. Nội dung thâm thúy không thua gì câu đối:

Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc/ Thánh sâu gươm vua gừng tam cò.

Xin cảm ơn bác Lãn Miên.

Đợt này ra Hanoi, xin được gặp bác. Anh em nhậu lai rai đỡ buồn.

 

 

Cảm ơn comment của Thiên Sứ tức là

 

Cảm ơn cái lý Âm/Dương

Thánh/Thần Gươm/Giáo biết đường Nông/Sâu

Dân/Vua Gừng/Nghệ là đâu

Dăm/Ba Sai/Đúng nhớ câu Cốc/Cò

Tàu quân mở mắt mà đo!

Biển Đông lặng sóng chớ dò Nông/Sâu!

 

5 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cốc mò Cò xơi

 

Có nhiều giải thích cho rằng những câu tục ngữ:  <Quýt làm Cam chịu>,< kẻ ăn Ốc kẻ đổ Vỏ>, và <Cốc mò Cò xơi>  là “nói lên sự bất công trong xã hội có giai cấp”. Thực ra những câu tục ngữ ấy của người xưa không phải là ở cái ý đó. Ở đây các từ ghép kết cấu âm dương là Cam/Quýt, Ốc/Vỏ, Cốc/Cò đều tương ứng Âm/Dương như là Sai/Đúng hay 0/1. Những từ nghịch nhau về “giới tính” trong các cặp từ đối trên đều là thuộc một giống: Quýt với Cam cùng là giống trái cây có múi, Ôc với Vỏ cùng là của một con nhuyễn thể, Cốc với Cò cùng một loài chim nước. Cho nên ở đây cái ý muôn nêu là: cái Âm (nhân) gây ra cho cái Dương (quả) là do nội tại chứ chẳng phải do kẻ ngoại lai nào đến gây ra cả. Cái sai (cái Âm) thuộc màu tối (màu Thâm = màu Lầm, gọi là sai lầm). Do nôi khai niệm những từ chỉ màu đen cũng là chỉ sai lầm là: U = Ngu 愚 = Ngục j獄 = Ngốc = Ốc 誤 = Ô 烏 = Ố = Ó = Lọ = Lem = Nhèm = Nhầm = Lầm = Lạc 落 = Thác錯 = Thâm = Đậm = Đêm = Đen = Mèn = Mun = Hun = Hôn 昏 = Huân 熏 = Hoẻn = Huyền 玄 = Hắc 黑 = Hối 晦 = Tối = Túi = Tù 囚 = U. Bởi vậy ở những câu tục ngữ theo nội dung nhân quả nêu  trên thì “Quýt làm” là làm phải  cái sai, cái xấu; “ăn Ốc” là ăn phải cái sai, cái xấu và “Cốc mò” cũng là mò phải cái sai cái xấu. Cái sai ấy đều do những chủ thể Âm (Quýt, Ốc, Cốc) gây nên, mà hậu quả thì những chủ thể Dương (Cam, Vỏ, Cò) gánh chịu hậu quả. Cũng như là ý nói di sản sai lầm của quá khứ thì để lại cho thế hệ đương đại phải chịu hậu quả, sai lầm của hiện tại lại để lại di sản tai hại cho thế hệ tương lai phải chịu hậu quả. Muốn thoát khỏi cảnh “Cốc mò” (tư duy Âm cũ rich, nên phải mò mẫm) thì phải hướng Dương (tức đổi mới tư duy) thì Cò mới tránh khỏi phải xơi quả đắng.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tơi và Rỡi

 

Vũ trụ sinh ra từ 1 và 0, nhưng 1 (Dương) sinh ra trước và chính 1 sinh ra 0 (Âm). Trong dân gian những từ mới đều sinh ra do một từ gốc ban đầu, đúng theo qui tắc “cha sinh, mẹ đẻ”, tức từ cha sinh ra những từ con trước, và những từ con ấy là những đứa con cùng cha (cùng Tơi) mà khác mẹ (khác Rỡi). Chẳng khác gì bầy gà con nở ra nhưng chúng là do từ trứng của nhiều gà mái chịu “đạp” của một con gà trống mạnh nhất trong bầy, tức những con gà con là cùng cha khác mẹ.

Ví dụ Nói nghĩa là đưa thông tin. Gốc đầu tiên của khái niệm ấy là từ Tỏ, vẫn dùng cho tới nay như Tỏ Lời, Tỏ Ý cho người khác hiểu, tức là đưa thông tin. Do Tỏ mới có sinh ra Tin nghĩa là đưa thông tin, “tôi tỏ cho anh biết” hay là “tôi tin cho anh biết”. Rồi sinh ra nhiều từ cùng tơi “T” nữa (là những từ con cùng cha khác mẹ) đều nghĩa là đưa thông tin: Tỏ = Tin = Tán = Tụng = Tám = Tầm (tầm phào, cha của Tầm Phào là Tỏ Phi nghĩa là Nói những chuyện Không đâu) = Tào (tào lao , tào lao chi khươn). Trong từ Tào Lao thì từ Lao lại là từ con của từ cha là từ Lời: Lời = Lẽ = Lí = Luyến = Láy = =Lửng- Lơ = Lập-Lờ = Lắt-Léo = Lươn-Lẹo = Lao = Láo = =Lẩy = Lướt = Luận (đều là những từ con cùng cha khác mẹ - cùng Tơi khác Rỡi). Rồi mới đến “mẹ đẻ” sau “cha sinh”. Ví dụ từ mẹ đẻ ra: Tào = Náo (làm ầm ĩ) = Thao (thao thao bất tuyệt) = Thảo (hội thảo); Tỏ = Ngỏ = Ngôn = Ngữ (đó là những từ con cùng mẹ khác cha – cùng Rỡi khác Tơi). Chứng tỏ mỗi từ của tiếng Viêt là mỗi “tiếng” có nghĩa, mỗi tiếng ấy gồm cha là Tơi và mẹ là Rỡi dính liền nhau. Gọi là Tơi vì nó là cái “Tay Lời” = “Tời Lời” = “Tải Lời” = Tơi. (Cái công cụ máy móc đơn giản dùng chuyển vật nặng gọi là cái Tời). Tơi thuộc Dương, nằm ngoài như cái Tay. Tơi chính là cái trong chữ quốc ngữ gọi là  phụ âm đứng đầu tiếng, hoặc là cái “vắng phụ âm đứng đầu tiếng”. (Bởi cái vắng tức cái từ đôi “Vô Chẳng” = Vắng là cái zero là 0, nhưng nó vẫn là có, ví dụ cái lỗ hổng là cái không trống trơn, nhưng trong ngôn ngữ thì nó vẫn là có, vì vẫn đếm được là có bao nhiêu lỗ hổng). Ví dụ từ Ồn (cổ xưa chỉ khái niệm Nói) thì Tơi của nó là “Vắng Tơi” (không có phụ âm đứng đầu tiếng). Nhưng cái cha bằng 0 ấy vẫn là có, nên cha ấy vẫn sinh (“cha sinh”) ra được hàng loạt từ con cùng cha khác mẹ: Ồn = Ầm = Âm = Ầm-Ĩ = Inh-Ỏi = Í-Ới = Ơi = Ơi-Ới (đều là những từ con cùng cha, cha chúng là cái “Vắng Tơi”), còn thì nhiều mẹ khác nhau, mẹ thuộc Âm, ở trong, là cái “Ruột Lời” = Rỡi, nên gọi là Rỡi. Mỗi mẹ là một Ruột. Ruột = Riêng = Tiếng. Mỗi cha là môt Tơi. Tơi = Rời = Riêng = Tiếng . Đó là hai thành tố Âm (mẹ) và Dương (cha) tạo nên một Tiếng. Tiếng = (nhấn) “Tiếng Chứ!” = Từ (là một tiếng có nghĩa). Cái kí hiệu để chứa từ gọi là cái “Chứa Từ” = Chữ. Cho nên mỗi chữ vuông chỉ là một từ, phát âm ra có một tiếng, (những nghĩa khác của nó chỉ là do chuyển nghĩa hay dùng kiểu đại diện cho ý tương tự, ví dụ Sáng Tối , mà Nho dùng chữ Quang Âm光陰, dùng đại diện cho Thời Gian). Có Tơi (có cha) rồi phải có Rỡi (có mẹ) thì mới thành được Tiếng, do vậy gọi là Tiếng Mẹ (tiếng mẹ đẻ), Anh ngữ gọi theo cú pháp thuyết trước đề sau là Mẹ Tiếng, tức “Ma” (Mẹ - “mather”) “Tâng” (Tiếng – “tongue”).

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

So Sánh

  • GS Cao Xuân Hạo: "...Nhược điểm của chữ Quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm âm vị học, mà chính là ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt...Bỏ chữ Hán và chữ Nôm là một tai hoạ không còn hoán cải được nữa, nhưng ta có thể bổ cứu cho sự mất mát này bằng cách dạy chữ Hán như một môn học bắt buộc ở trường phổ thông..."[2]. (Nguồn internet <Cao Xuân Hạo>

 Từ dân gian So nghĩa là cái đầu tiên (gà đẻ trứng So, mẹ đẻ con So), hình thành nên từ hàn lâm bằng nhấn “So Chớ!” = Sơ , do vậy có chữ Nho chỉ cái đầu tiên là chữ Sơ . Cái đầu tiên nở ra là: sơ Nở = sơ Nẩy = sơ Xẩy = sơ Xới = sơ Khởi, và có từ kép bằng chữ Nho là từ Sơ Khởi 初 起. Chữ Sơ được người Hán dùng và đọc nó lơ lớ là “Su” [Chu ] và gọi chữ vuông Sơ ấy là “Hán tự”. Khi ăn cơm người ăn chọn lấy đầu tiên là một chiếc đũa từ rọ đựng nhiều đũa dài ngắn khác nhau. Chiến đũa đầu tiên chọn ra ấy gọi là chiếc đũa So. Rồi mới rút ra chiếc thứ hai, là chiếc Riêng với chiếc đầu, tức Rảnh với chiếc đầu, tức Lánh với chiếc đầu (Riêng = Rảnh = Lánh = Tránh), “Lánh là từ của tiếng Kinh” = Linh, nên Nho Việt viết từ Lánh bằng chữ Linh, mang nghĩa là riêng, là rảnh, là lánh, là tránh, tức là nó lẻ loi không bó buộc với cái khác, từ Rảnh đã chuyển nghĩa thành để chỉ riêng thời gian không bị bó buộc với công việc, gọi là thời gian Rảnh, khi đó người được giải phóng khỏi công việc tức được “Rảnh Rồi” = Rỗi,  nên có từ đôi Rảnh Rỗi. Chiếc đũa rút ra đầu tiên gọi là chiếc đũa So, chiếc đũa thứ hai rút ra gọi là chiếc đũa Lánh, với ý định là để cùng dùng với chiếc So thành một đôi đũa, tức ghép lại với nhau thành từ So Lánh , đó là hình ảnh của hai chiếc đũa, chiếc đũa So cùng đôi với chiếc đũa Lánh. Hai chiếc ấy thành đôi là dùng gắp được rồi, nhưng chúng phải bằng nhau mới đẹp, khi đó người ăn cơm dậm chúng xuống mặt bằng của cái mâm để xem So và Lánh có bằng đầu với nhau không, động tác ấy làm nên: do danh từ So Lánh (chiếc đũa đầu và chiếc đũa sau nó) chuyển thành động từ “So Lánh” = Sánh, là động từ Sánh, phải có từ hai cái trở lên thì mới Sánh chúng được với nhau. Sánh là xem hai cái có bằng nhau không, tức có “Bằng Chứ?” = “Bằng Chi?” = (lướt) = Bì? = Tỷ? Sánh có nghĩa là Đo, nên từ đôi “Sánh Đo” = So, So này là động từ đồng nghĩa với Đo (Dò = So = Đo = Độ, Độ chuyển nghĩa thành đơn vị đo lường), nó đồng âm dị nghĩa với So kia là danh từ chỉ cái đầu tiên. Cái đũa So rút ra đầu tiên đương nhiên nó là cái được người ăn cơm thấy trước trong cái rọ có nhiều chiếc đũa, cái “Thấy Trước” = Thước, nó được dùng làm cái chuẩn (vì đã được chọn cho là sạch đẹp nhất từ cái nhìn đầu tiên của người ăn cơm) để Đo cái chọn sau, cái dụng cụ đo ấy gọi là cái Thước. Con chim thấy trước có khách đến nhà để hót báo hỉ cho chủ nhà cũng gọi là con chim “ Thấy Trước” = Thước, hàn lâm gọi nó là con chim Hỉ Thước 喜 鵲, ngoài cái tên thông thường của nó là con chim Khách. Vậy là do danh từ So (cái đầu tiên, hàn lâm viết băng chữ Sơ) mà phái sinh ra các động từ So, Sánh, So Sánh, So Đo, So Bì. So Nhau = Bì Nhau, từ Bì Nhau được hàn lâm viết là Tỷ Giảo 比 較, chữ này được coi là “cố Hán ngữ” vì cú pháp nó là cú pháp Việt đề trước thuyết sau, còn Hán ngữ hiện đại dùng chữ Tương Tỷ  相 比 thuyết trước (Tương nghĩa là Nhau) đề sau (Tỷ nghĩa là Bì). Và tiếp tục phái sinh nữa: So Đo = Số Độ, = Đo So = Đôi Co. Nếu không có chữ Nho thì khó phân biệt được từ đồng âm: So ( là danh từ So chỉ cái đầu tiên, viết bằng chữ Sơ) với So (là động từ So = Dò = Đo = Độ, viết bằng chữ Độ) hoặc Thước (danh từ chỉ dụng cụ đo là cái Thước, nó đồng âm đồng nghĩa với cái chuẩn nhất trong đo lường là cái “Thang Nước” = Thước tức cái bọt nước kiểm tra độ cân bằng, Tây gọi là cái Li Vô) khác nghĩa với Thước (danh từ chỉ con chim khách, là con chim Thước ).Từ đồng âm dị nghĩa chẳng qua là do xuất xứ hình thành nên chúng là khác nhau. Ví dụ khác: Tấm Lòng (chỉ một cái cụ thể mà vô hình) và Tấm Vải (chỉ một cái cụ thể mà có hình phẳng), rõ ràng ở đây từ Tấm trước (1) và từ Tấm sau (2) là hai từ đồng âm dị nghĩa, chúng khác nghĩa nhau hoàn toàn vì xuất xứ hình thành nên mỗi từ đó là khác nhau: (1) Cái vô hình bên trong là cái Nôi = =Nội = Nỗi = Lõi = Lí = Lòng = Trong = Tỏng = Tâm = (lướt lủn từ đôi) “Tâm Lí” = Tấm . (2) Cái có hình phẳng là cái Mặt = Màng = Mảng = Miếng = Phiến = Phẳng = Phản = Ván = Tán = Tấm. Nếu hiểu các Qui Tắc Tạo Từ  (QT) của tiếng Việt như hai lúa LM nêu, để tìm ra được xuất xứ (từ nguyên) của mỗi từ thì Chữ Quốc Ngữ vẫn là dùng ngon nhất như ngày nay và cho tương lai mà chẳng cần đến “Hán tự” hay chữ Nôm (ở đây là nói chữ “Nôm muộn” TK 13, chữ không phải chữ "Nôm sớm" phát hiện trên xẻng đá ở di chỉ khảo cổ có niên đại cách nay 6000 năm tại Cảm Tang tỉnh Quảng Tây TQ mẫy năm trước). Có điều phải học thuộc một lượng chữ Nho nhất định (Hàn Quốc qui định học thuộc nghĩa  của 2000 mặt chữ, Nhật Bản qui định học thuộc 2500 chữ) chẳng qua là để hiểu xưa sâu sắc hơn mà thôi. Đó gọi là mục đích “học để làm của” (học biết thêm được cái gì thì cái đó là của của mình) chứ không phải mục đích học để kiếm tiền. Đúng như câu viết của người Anh hùng dân tộc vĩ đại của nhân dân Cu Ba là Hôxê Mácti nói về người Việt Nam, tháng 8 năm 1889 là : “Con người cần phải học hỏi tất cả và không bao giờ TIN khi chưa hỏi, không bao giờ NÓI khi chưa hiểu, không bao giờ SUY NGHĨ về những điều mà người khác bắt mình phải suy nghĩ như một kẻ nô lệ. Người dân An Nam đã chiến đấu và sẽ chiến đấu như những NGƯỜI dũng cảm nhất”.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

So Sánh

  • GS Cao Xuân Hạo: "...Nhược điểm của chữ Quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm âm vị học, mà chính là ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt...Bỏ chữ Hán và chữ Nôm là một tai hoạ không còn hoán cải được nữa, nhưng ta có thể bổ cứu cho sự mất mát này bằng cách dạy chữ Hán như một môn học bắt buộc ở trường phổ thông..."[2]. (Nguồn internet <Cao Xuân Hạo>

 Từ dân gian So nghĩa là cái đầu tiên (gà đẻ trứng So, mẹ đẻ con So), hình thành nên từ hàn lâm bằng nhấn “So Chớ!” = Sơ , do vậy có chữ Nho chỉ cái đầu tiên là chữ Sơ . Cái đầu tiên nở ra là: sơ Nở = sơ Nẩy = sơ Xẩy = sơ Xới = sơ Khởi, và có từ kép bằng chữ Nho là từ Sơ Khởi 初 起. Chữ Sơ được người Hán dùng và đọc nó lơ lớ là “Su” [Chu ] và gọi chữ vuông Sơ ấy là “Hán tự”. Khi ăn cơm người ăn chọn lấy đầu tiên là một chiếc đũa từ rọ đựng nhiều đũa dài ngắn khác nhau. Chiến đũa đầu tiên chọn ra ấy gọi là chiếc đũa So. Rồi mới rút ra chiếc thứ hai, là chiếc Riêng với chiếc đầu, tức Rảnh với chiếc đầu, tức Lánh với chiếc đầu (Riêng = Rảnh = Lánh = Tránh), “Lánh là từ của tiếng Kinh” = Linh, nên Nho Việt viết từ Lánh bằng chữ Linh, mang nghĩa là riêng, là rảnh, là lánh, là tránh, tức là nó lẻ loi không bó buộc với cái khác, từ Rảnh đã chuyển nghĩa thành để chỉ riêng thời gian không bị bó buộc với công việc, gọi là thời gian Rảnh, khi đó người được giải phóng khỏi công việc tức được “Rảnh Rồi” = Rỗi,  nên có từ đôi Rảnh Rỗi. Chiếc đũa rút ra đầu tiên gọi là chiếc đũa So, chiếc đũa thứ hai rút ra gọi là chiếc đũa Lánh, với ý định là để cùng dùng với chiếc So thành một đôi đũa, tức ghép lại với nhau thành từ So Lánh , đó là hình ảnh của hai chiếc đũa, chiếc đũa So cùng đôi với chiếc đũa Lánh. Hai chiếc ấy thành đôi là dùng gắp được rồi, nhưng chúng phải bằng nhau mới đẹp, khi đó người ăn cơm dậm chúng xuống mặt bằng của cái mâm để xem So và Lánh có bằng đầu với nhau không, động tác ấy làm nên: do danh từ So Lánh (chiếc đũa đầu và chiếc đũa sau nó) chuyển thành động từ “So Lánh” = Sánh, là động từ Sánh, phải có từ hai cái trở lên thì mới Sánh chúng được với nhau. Sánh là xem hai cái có bằng nhau không, tức có “Bằng Chứ?” = “Bằng Chi?” = (lướt) = Bì? = Tỷ? Sánh có nghĩa là Đo, nên từ đôi “Sánh Đo” = So, So này là động từ đồng nghĩa với Đo (Dò = So = Đo = Độ, Độ chuyển nghĩa thành đơn vị đo lường), nó đồng âm dị nghĩa với So kia là danh từ chỉ cái đầu tiên. Cái đũa So rút ra đầu tiên đương nhiên nó là cái được người ăn cơm thấy trước trong cái rọ có nhiều chiếc đũa, cái “Thấy Trước” = Thước, nó được dùng làm cái chuẩn (vì đã được chọn cho là sạch đẹp nhất từ cái nhìn đầu tiên của người ăn cơm) để Đo cái chọn sau, cái dụng cụ đo ấy gọi là cái Thước. Con chim thấy trước có khách đến nhà để hót báo hỉ cho chủ nhà cũng gọi là con chim “ Thấy Trước” = Thước, hàn lâm gọi nó là con chim Hỉ Thước 喜 鵲, ngoài cái tên thông thường của nó là con chim Khách. Vậy là do danh từ So (cái đầu tiên, hàn lâm viết băng chữ Sơ) mà phái sinh ra các động từ So, Sánh, So Sánh, So Đo, So Bì. So Nhau = Bì Nhau, từ Bì Nhau được hàn lâm viết là Tỷ Giảo 比 較, chữ này được coi là “cố Hán ngữ” vì cú pháp nó là cú pháp Việt đề trước thuyết sau, còn Hán ngữ hiện đại dùng chữ Tương Tỷ  相 比 thuyết trước (Tương nghĩa là Nhau) đề sau (Tỷ nghĩa là Bì). Và tiếp tục phái sinh nữa: So Đo = Số Độ, = Đo So = Đôi Co. Nếu không có chữ Nho thì khó phân biệt được từ đồng âm: So ( là danh từ So chỉ cái đầu tiên, viết bằng chữ Sơ) với So (là động từ So = Dò = Đo = Độ, viết bằng chữ Độ) hoặc Thước (danh từ chỉ dụng cụ đo là cái Thước, nó đồng âm đồng nghĩa với cái chuẩn nhất trong đo lường là cái “Thang Nước” = Thước tức cái bọt nước kiểm tra độ cân bằng, Tây gọi là cái Li Vô) khác nghĩa với Thước (danh từ chỉ con chim khách, là con chim Thước ).Từ đồng âm dị nghĩa chẳng qua là do xuất xứ hình thành nên chúng là khác nhau. Nếu hiểu các Qui Tắc Tạo Từ  (QT) của tiếng Việt như hai lúa LM nêu, để tìm ra được xuất xứ (từ nguyên) của mỗi từ thì Chữ Quốc Ngữ vẫn là dùng ngon nhất như ngày nay và cho tương lai mà chẳng cần đến “Hán tự” hay chữ Nôm (“Nôm muộn” TK 13). Có điều phải học thuộc một lượng chữ Nho nhất định (Hàn Quốc qui định học thuộc nghĩa  của 2000 mặt chữ, Nhật Bản qui định học thuộc 2500 chữ) chẳng qua là để hiểu xưa sâu sắc hơn mà thôi. Đó gọi là mục đích “học để làm của” (học biết thêm được cái gì thì cái đó là của của mình) chứ không phải mục đích học để kiếm tiền. Đúng như câu viết của người Anh hùng dân tộc vĩ đại của nhân dân Cu Ba là Hôxê Mácti nói về người Việt Nam, tháng 8 năm 1889 là : “Con người cần phải học hỏi tất cả và không bao giờ TIN khi chưa hỏi, không bao giờ NÓI khi chưa hiểu, không bao giờ SUY NGHĨ về những điều mà người khác bắt mình phải suy nghĩ như một kẻ nô lệ. Người dân An Nam đã chiến đấu và sẽ chiến đấu như những NGƯỜI dũng cảm nhất”.

Như vậy, về mặt bản chất, không thể có một người nước ngoài nào đủ trình độ để xây dựng chữ Quốc ngữ cho Việt Nam, mà phải là một người Việt Nam am tường chữ Hán Nôm?.

 

Chẳng hạn, làm sao người nước ngoài đủ trình độ để chuyển nội dung Kinh Dịch sang nội dung trình bày bằng chữ Quốc ngữ!

 

Chúng ta nên làm rõ điểm này hơn nữa.

 

Kính!

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong cuốn Tranh dân gian Việt Nam, nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ và cộng sự thường cũng không phiên dịch nội dung chữ tranh, số tranh cũng không đầy đủ, bộ tranh Gà Trống có hai bài thơ chưa dịch, cũng nhờ bác LanMien giúp chuyển Hán Việt giùm:

tranh-dan-gian-viet-hoi-tu-don-xuan-tai-

 

 

Thần kê ngũ đức thái phượng hình,

Cảnh thượng Côn Lôn đẩu hoán thanh.

Quỷ khốc thần kinh tà tẩu tán,

Trấn chi môn hộ thọ trường sinh.

 

và:

 

Đông phương di hiệu thực tà thần,

Kim cự hoa khôi ngũ thái văn.

Bộ hộ khả linh quần quỷ tị,

Môn môn trùng khánh vạn niên thanh.

 

Trân trọng cảm ơn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trong cuốn Tranh dân gian Việt Nam, nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ và cộng sự thường cũng không phiên dịch nội dung chữ tranh, số tranh cũng không đầy đủ, bộ tranh Gà Trống có hai bài thơ chưa dịch, cũng nhờ bác LanMien giúp chuyển Hán Việt giùm:

tranh-dan-gian-viet-hoi-tu-don-xuan-tai-

Thần kê ngũ đức thái phượng hình,

Cảnh thượng Côn Lôn đẩu hoán thanh.

Quỷ khốc thần kinh tà tẩu tán,

Trấn chi môn hộ thọ trường sinh.

và:

Đông phương di hiệu thực tà thần,

Kim cự hoa khôi ngũ thái văn.

Bộ hộ khả linh quần quỷ tị,

Môn môn trùng khánh vạn niên thanh.

Trân trọng cảm ơn.

Gà có ngũ đức. Người không có đức chẳng bằng Gà.

 

詩六 (thơ lục)        詩四 (thơ tứ)

神雞五德彩鳳形           東方遺號食邪神

境上昆侖鬥喚聲           金距花魁五彩文

鬼哭神驚邪走散           部戶可令群鬼避

鎮之門戶壽長生            門門重慶萬年春

 

Đính chính hai câu cuối của bài thơ dưới: Bộ hộ khả lịnh (chữ lệnh) quần quỉ tị. Môn môn trùng khánh vạn niên xuân (chữ xuân ).

Tạm dịch:

 

Bài trên (tranh bên phải):

Gà Thần trọn đức, sáng phượng hình

Tiếng gáy thách ai đỉnh Côn Luân

Thần hãi, quỉ la, tà chạy ráo

Trấn giữ nước nhà mãi trường sinh.

 

Bài dưới (tranh bên trái):

Truyền thống phương Đông nuốt tà thần

Đứng đầu văn hiến với Ngũ hành

Chủ nhà ra lệnh, bầy quỉ tránh

Muôn dân lại hưởng vạn niên xuân.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

"Cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt"

29/08/2016  16:54 GMT+7

Vietnam netPGS. TS Đoàn Lê Giang (ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM)

Cần thiết đưa Hán Nôm trở lại trường học

Phát biểu tại Hội thảo Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại diễn ra hôm 27/8, ông Giang cho rằng, trong số các quốc gia thuộc khu vực đồng văn (các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc - PV) chỉ có Việt Nam là từ bỏ chữ Hán hoàn toàn nên thế hệ sau ít hiểu biết về quá khứ dân tộc.

Từ bỏ chữ Hán cũng là lý do khiến thanh niên Việt Nam đơn giản nhất, học hành hời hợt nhất, các nhà khoa học xã hội của Việt Nam cũng kém nhất so với học giả các nước và nước ta nghèo nhất, lạc hậu nhất so với Nhật, Hàn hay Trung Quốc.

Ông Giang dẫn ví dụ, ở Nhật, người tốt nghiệp phổ thông phải biết ít nhất 1.945 chữ Hán, đến hết ĐH thì phải biết khoảng 3.000 chữ. Trung Quốc cũng yêu cầu số lượng tương tự. Hàn Quốc thì hết phổ thông, học sinh phải biết khoảng 1.000 chữ. Chỉ có Việt Nam là không đặt ra yêu cầu này.

Ông Giang cũng cho biết, nghiên cứu của một trung tâm nơi ông được mời dạy chữ Hán Nôm cho học sinh tiểu học cho thấy, những học sinh được học chữ Hán Nôm hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn những học sinh khác không được học.

"Trước đây chúng ta cứ nói rằng không dùng chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nhưng hiện nay phải nói ngược lại, phải học chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" - ông Giang nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, PGS. TS Trịnh Khắc Mạnh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) khẳng định, việc dạy Hán Nôm trong nhà trường phổ thông dứt khoát là phải đặt ra. Theo ông Mạnh, việc không có tri thức về Hán Nôm khiến hiện nay nhiều từ ngữ tiếng Việt bị nói sai.

Bên cạnh đó, hầu hết các môn học hiện nay đều có tính liên thông, kế thừa từ bậc phổ thông lên đại học, riêng môn Hán Nôm là không có. Việc dạy các văn học cổ hiện nay chỉ dạy thông qua phiên âm chứ không đưa nguyên văn Hán Nôm vào đã dẫn đến nhiều sai sót trong cách dạy cũng như cách hiểu văn học cổ.

TS Nguyễn Tô Lan (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cũng khẳng định cần phải dạy chữ Hán Nôm sớm cho trẻ.

"Kinh nghiệm cho thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ, các các em đã đối mặt với việc phải nhận thức chữ nào là chữ Hán, chữ nào là âm Hán - Việt. Vì vậy, nếu đã không hiểu từ cái gốc rồi thì sau này lớn lên học rất là khó" - bà Lan nhận định.

PGS. TS Hà Văn Minh (Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng khẳng định, "cần đưa, nên đưa và thế tất sẽ đưa" Hán Nôm vào dạy trong trong trường phổ thông.

Ông Minh cho hay, "kỳ thi quốc gia của Hàn Quốc từ 40 năm nay đều có môn Hán Văn Hàn Quốc, không có cớ gì chúng ta lại không. Hàn Quốc còn có một bộ giáo trình dạy Hán Nôm cực kỳ bài bản từ phổ thông".

Bên cạnh đó, ông Minh cũng cho rằng, việc dạy Hán Nôm cũng sẽ tham gia vào việc hình thành ít nhất là 3 nhóm năng lực trên tổng số 8 nhóm năng lực theo định hướng giáo dục mới hiện nay - giáo dục hướng tới năng lực người học thay vì truyền tải tri thức.

"Bảo quý thì quý mà bảo không quý thì cũng chả quý gì"

Làm thế nào để đưa tri thức Hán Nôm vào trong nhà trường là vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm bàn thảo.

PGS. TS Hà Minh cho rằng, sắp tới, ông sẽ có ý kiến trực tiếp với các trường sư phạm, với những người tham gia biên soạn SGK trong đợt biên soạn sách sắp tới về việc đưa tri thức Hán Nôm vào giảng dạy.

"Nếu cần thiết thì tôi đề nghị liên hệ tất cả các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về Hán Nôm để có một bản kiến nghị với tư cách một hội nghề nghiệp để có tiếng nói chính thức với các cơ quan chức năng" - ông Minh đề xuất.

Ông Minh cũng đưa ra 2 phương án mà ông cho là "thiết kế khả thi" để đưa Hán Nôm vào giảng dạy trong nhà trường: Đầu tiên là đưa môn dạy Hán Nôm vào chương trình như một môn tự chọn. Bên cạnh đó, cần phải tăng tỉ trọng bộ phận văn học cổ bằng chữ Hán và chữ Nôm trong SGK mới sắp tới.

Ngoài ra, ông Minh cũng đề xuất biên soạn một một cuốn sách giáo khoa tham khảo sử dụng trong nhà trường về Hán Nôm được Bộ GD-ĐT giới thiệu sử dụng. "Chúng ta có thể có 2 cuốn một cuốn cho THCS và một cuốn cho THPT bám sát chương trình Tiếng Việt và Ngữ văn của 2 cấp học này".

"Các nhà biên soạn có thể tham khảo những từ có tần số xuất hiện nhiều để làm sao sau khi học hết THCS thì học sinh biết được khoảng 1.500 từ. Hết THPT thì biết thêm khoảng 1.000 từ nữa" - ông Minh nói.

Bên cạnh đó, ông Minh cũng cho rằng, SGK Ngữ văn nên có bảng tra cứu từ và yếu tố Hán Việt nhưng phải có nguyên văn chữ Hán Nôm và giải thích chữ Hán Nôm đó để học sinh hiểu nghĩa từ nguyên.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chuyên gia cũng cho rằng, hiện tại, việc đưa Hán Nôm vào dạy trong trường phổ thông là rất khó.

PGS. TS Đoàn Lê Giang cho rằng, hiện tại nếu nêu vấn đề đưa chữ Hán trở lại dạy trong trường phổ thông, chắc chắn nhiều người sẽ không đồng tình nhất là trong tâm lý xã hội hiện nay.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Sỹ Toản thì cho rằng bối cảnh hiện nay là rất khó khăn để đưa môn Hán Nôm quay trở lại trường phổ thông. Ông Toản dẫn ví dụ về môn Lịch sử trước đây đã suýt không có tên trong "bản đồ các môn học" chứ đừng nói tới môn Hán Nôm.

"Ngay cả việc đưa môn Hán Nôm vào như một môn tự chọn cũng cần tính toán cách nào đó vì nếu học sinh không chọn học thì sẽ khó khăn trong việc giải quyết công việc cho các giáo viên đã được nhận vào biên chế" - ông Toản nói.

Trong khi đó, PGS. TS Trịnh Khắc Mạnh thì nói rằng, người ta nói Hán Nôm giống như chiếc bình hoa trong nhà, bảo nó quý thì nó quý còn cho nó không quý thì nó cũng chả quý gì. "Chúng ta là những người trong cuộc, chúng ta thấy quan trọng còn những người ở ngoài thì họ lại cho là không cần thiết" - ông Mạnh chua chát. Lê Văn. Hết trích

 

Hai lúa hổng dám bình loạn vzô ba cái vzụ hội thảo. Chỉ biết rằng từ xưa người Việt cho con trước khi vô tiểu học là đi “học chữ Nam”, như các ông thầy chùa nói, là cái tử ngữ, còn gọi là “học chữ Thánh Hiền”, miễn phí, do các sư dạy tại chùa, mục đích là “học để làm của” (biết thêm cái gì thì nó là cái của của mình). Còn học chính qui là “học để làm việc” nên đó là học chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Anh. Những người học nghề Y hay nghề Nông lại còn phải học thêm cả cái tử ngữ là tiếng Latin thì mới biết được hàng vạn tên thuốc hay tên sinh vật mà quốc tế dùng.

Ví dụ học hai chữ đơn giản nhất là Sĩ Tử

Bắt đầu đi học là đã được gọi là Kẻ Sĩ, nhưng Sĩ này mới chỉ là Sĩ Con. Con = Kan (tiếng Vân Kiều, chỉ con gái) = Kô (tiếng Nhật) = Cu (tiếng Vân Kiểu, chỉ con trai) = Tu (tiếng Tày) = Tử (chữ Nho). Nên Sĩ Con gọi là Sĩ Tử 士子. Chữ Tử là Con, cũng đồng thời chuyển nghĩa thành từ chung chỉ bất cứ thực thể gì, Tử nó là Một cái Trọn vẹn, lại là có “Nhất Liễu” = Nhiều, có rất nhiều trong tự nhiện. (Từ “Con” trong <Thi Kinh > còn được viết bằng chữ Quan, câu “Quan quan Thư Cưu” nghĩa là “Con con Cù Cu”)

Sĩ = “Sáng Ý” thiết Sĩ. Cái chữ Nho đọc là Ý là một chữ viết kiểu hội ý để tạo nên một cái nghĩa là câu: Một mình ta (chữ Lập) tự nói (chữ Viết ) trong lòng mình (chữ Tâm ), cả câu ấy gọi là “Ý”, đó là chữ Ý .

“Ta làm ra Ý” = “Ngã làm ra Ý ” = “Ngộ làm ra Ý” = “Người làm ra Ý” thiết (lướt thành) Nghĩ , do vậy mà có từ đôi Ý Nghĩ để chỉ cái Ta Nghĩ = Tư Duy. Nôi khái niệm: Con = Cao = Tao = Tôi = Ta = Ngã = Ngộ = Người, đều là đại từ nhân xưng ngôi một, sinh ra từ đôi Con Người, mà Nho viết bằng hai chữ Nhân Tử 人子 hay Nhân Loại , cho dù chữ nho Ngã và Ngộ về sau được mặc nhiên gọi là “Hán tự” thì nguồn gốc của nó vẫn là do từ tự xưng ngôi một là từ Ta của tiếng Việt, nó lại là do hệ ngữ Nam Á là từ tự xưng là Cao của tiếng Vân Kiều hay của bộ tộc Cau cổ đại ở Philippin có từ tự xưng là “Cao”. Chính cái từ tự xưng là Cao ấy đẻ ra cái dân tộc Kinh cổ đại. Mời đọc giải thích của <Thuyết Văn Giải Tự > cách nay 2000 năm: “Kinh là cái Cao của con người” (chữ Kinh chính là cái hình con người gồm Đầu, Mình , Chân Tay , cân bằng hai nửa theo trục giữa thẳng đứng, cổ đại những từ Dịch Kinh - thuyết biến đổi của con người -, Thi Kinh – thơ của con người, hay là thơ của dân tộc Kinh cũng vậy - đều viết bằng chữ Kinh này, đến thời Tần Hán mới viết là Dịch Kinh , Thi Kinh bằng chữ Kinh này nghĩa là cuốn sách, là từ chuyển nghĩa do sách xưa viết chữ theo hàng dọc, nghĩa gốc của chữ Kinh là “sợi dệt căng dọc” như những dòng chảy gọi là dòng Kinh (Kinh = Kang = Giang = Dòng = Dõng = Kông = =Krông, Kang là tiếng Triều Châu), cứ xem người Tây Nguyên, người Vân Kiều ngồi dệt thổ cẩm thì thấy rõ từng sợi dệt căng dọc ấy, về sau bản đồ mượn từ Kinh , này để gọi là Kinh Tuyến nghĩa là đường dọc (Lộ = Lối = Xoi = Xuyên = Tuyền = Tuyến = Tương = Đường;  tiếng Thái Lan “Xoi” nghĩa là con hẻm; từ đôi Đường Lối viết bằng hai chữ Lộ Tuyến dùng chuyển nghĩa chỉ phương châm) . Xưng là “Cao” thì mới có cái dân tộc Kinh cổ đại để mà có Kinh Dương Vương (nghĩa là Người Làm Vua), Kinh là người, Vươnglà vua, Dương là giương cao ngọn cờ tức là làm đầu sỏ, vì con người là cao nhất (thượng đẳng) trong muôn loài, từ Cao tự xưng đã chuyển nghĩa thành Cao chỉ cái hơn thấp, rồi có nôi khái niệm: Cao = Sào  (cây sào là cao) = Sao  (ngôi sao là ở cao) = Sùng = Hùng = High (tiếng Anh chỉ độ cao), và có từ đôi Sùng Cao chỉ cái rất cao đền Sòng ở Thanh Hóa, chùa Sùng Nghiêm ở Thăng Long, hay Tôn Sùng chỉ sự tôn lên cao. Vua Hùng là Vua Cao, Vua Cao là Vua Kinh, Vua Kinh là Vua Con Người, tức thủy tổ của nhân loại. (Vua Con Người tiếng Anh gọi là “King”). Vua Con Người phải là vị “Cao Minh= Kinh . Cây Sào là dụng cụ cao để chọc hái trái cây, Sào = Cao = Côn, là cây gậy. Cao thì phải so với Trời, đó là chữ Bì Nhật đọc là chữ Côn. Theo các nhà sử học Trung Quốc giải thích địa danh Côn Minh: “Côn Minh là tên gọi một dân tộc thiểu số thời cổ đại ở vùng Tây Nam nước ta”. Vậy mà “Côn Minh” = =“Cao Minh ” = Kinh. Kinh nghĩa là Con Người. Minh cũng nghĩa là Con Người, nên chi Kinh mới tự xưng bằng từ đôi là “Minh Người” = Mình; và từ đôi “Người Minh” = Nghinh, nghĩa là được đón tiếp. Minh là do “Mắt Tinh” = Minh (chữ viết biểu ý là hai cái Mặt sáng là mặt trời và mặt trăng, mà lướt từ lặp thì “Mặt Mặt” = =Mắt, 0+0=1, nên chữ ấy đọc là “minh” vì nó là “Mắt Tính” = Minh , mà Tinh có gốc là từ Tỏ, “Tỏ Tính”, “Tỏ Tình”, “Tỏ Hình”, “Tỏ tình Hình” đều thiết là Tinh (con mắt mà “nhìn nước biết tính cá, nhìn rừng biết giọng chim” thì con mắt ấy quả là “Mắt Tinh” = Minh ); do vậy Minh nó hàm ý Sáng ( như người là vua của muôn loài), nó có cấu tạo gồm Minh dương (biểu ý bằng chữ Nhật, tượng trưng cơ thể sống ) và Minh âm (biểu ý bằng chữ Nguyệt , tượng trưng tinh thần).

 Xưng là Con khác gì xưng là Cao, xưng là Cao khác gì xưng là Kinh, xưng là Kinh khác gì xưng là Mình, xưng là Mình nên mới có chữ Nho là chữ Mịnh (tự trọng Mình là coi “Mình Nặng” = Mịnh ; Mịnh = Mệnh, dùng chỉ cuộc đời của một con người, tức của môt Kinh).

Kinh là Người. Nơi mà Người sống tập trung “Đông Hộ” = Đô 都 thì gọi là Kinh Đô (chữ Đô gồm biểu ý là: Ta = Giả 者 sống tâp trung thành Gò阝, tức là "Đông Hộ" = Đô; "Đông Lắm" = Đống, đống tức là cái gò, người ddoonng như trẩy hội: "ngổn ngang gò đống kéo lên"). Kinh Đô 京 都, tức hiểu theo cú pháp Việt đề (Kinh 京) trước thuyết (Đô 都) sau, gọi là Kinh Đô 京 都. Súc vật thì không có từ Vật Đô, dù cò có sống quần cư hàng nghìn tổ trong một vườn cò cũng không có từ Cò Đô. Hán ngữ lại hiểu hai chữ Kinh Đô theo cú pháp thuyết trước đề sau của nó là “Đô của con Người (Kinh) thì gọi là Kinh Đô”. Như vậy dù theo cú pháp Việt hay theo cú pháp Hán thì cái “đề” vẫn là đề, ở đây là chữ Kinh = Người, do vậy khi nói tắt thì Việt hay Hán đều phải tóm cái đề, Kinh Đô gọi tắt là Kinh, “đi lên Kinh Đô” thì nói tắt là “đi lên Kinh”, như Hải Thượng Lãn Ông viết cuốn <Thượng Kinh ký sự> , câu này là viết theo Hán văn, đề là cái Sự, nghĩa là “những Sự việc được Ký lại trong thời gian lên Kinh Đô”. Kinh Đô là cụm từ đã trở thành một từ kép trong đó người là chính (Kinh là đề), cái xây dựng tổ chức là phụ (Đô là thuyết), Đô đã chuyển nghĩa chỉ cái tổ chức, nên có từ Đóng Đô, Dựng Đô, Xây Đô, Kiến Đô, chứ không ai nói Dựng Kinh vì Kinh nghĩa là Người. Kinh Đô xưa gồm Thành (các cơ quan công quyền, đến trước xây trước) và Thị hay Phố (kéo theo các chợ hay các phố là những tổ chức ăn theo) nên gọi là Thành Thị hay Thành Phố (Thành là đề - chính, Thị là thuyết – phụ, nói tắt thì Thành Thị gọi là Thành. Hán ngữ dùng từ Thành Thị, nhưng lại quen cái đứng sau là đề, nên nói tắt thì Thành Thị gọi là Thị. Ví dụ Thành Thị Hồ Chí Minh thì tiếng Việt gọi tắt là Thành Hồ, nhưng tiếng Hán nó lại gọi tắt là Hồ Thị. Hoặc Thành Thị Hà Nội thì gọi tắt kiểu Việt là Thành Hà, gọi tắt kiểu Hán là Hà Thị; nhưng truyền thông VN hiện nay lại gọi tắt là Hà Thành thì không biết là kiểu gì). Kinh là người, Minh cũng là người, nhưng Minh nó còn hàm ý Sáng (vua của muôn loài), nó có cấu tạo gồm Minh dương (biểu ý bằng chữ Nhật, tượng trưng cơ thể sống ) và Minh âm (biểu ý bằng chữ Nguyệt 月, tượng trưng tinh thần).

 Xưng là Con khác gì xưng là Cao, xưng là Cao khác gì xưng là Kinh, xưng là Kinh khác gì xưng là Mình, xưng là Mình nên mới có chữ Nho là chữ Mịnh (tự trọng Mình là coi “Mình Nặng” = Mịnh; Mịnh = Mệnh, dùng chỉ cuộc đời của một con người, tức của môt Kinh.

“Người làm ra Ý” thiết (lướt thành) Nghĩ , do vậy mà có từ đôi Ý Nghĩ để chỉ cái Ta Nghĩ = Tư Duy. Lướt lủn “Nghĩ mà không Tin” = Nghi. Lướt lủn “Nghĩ để tranh Luận” = Nghị. Hội Nghị 會 議 là người ta Họp nhau lại để Nghĩ và tranh Luận với nhau như cái hội thảo nói trên. Những người dự hội thảo đó đều là kẻ Sĩ. Bị những người đó là những người biết sáng tạo ra ý nọ ý kia, nên được gọi là “Sáng Ý” thiết Sĩ. (Từ Bị trong câu này là từ lướt “Bởi Vì” = = Bị trong tiếng Nam Bộ, nó đồng âm dị nghĩa với từ Bị trong “bị động”, do từ Bị này có xuất xứ khác, là do nhấn “Bắt buộc Chi!”= Bị, nó chỉ dùng cho thể bị động, ngược lại từ Được thì dùng cho thể chủ động. Hán ngữ dùng chữ Bị như nhau cho cả chủ động và bị động, “bị đuổi việc” cũng như “bị thăng chức”)

“Sáng Ý ” =  “Sáng Nghĩ ” = Sĩ  , để chỉ con người biết tư duy. Do Sáng = Quang = Lãng = Lượng , nên “Sáng Ý” = Sĩ (là do có tư duy mà thành) cùng logic với “Quang Ý” = Kì (chơi Cờ là do có tư duy mà thành) và “Lượng Ý” = Lý (cái lý luận cũng do có tư duy mà thành). Nghĩa của chữ Sĩ  là kiểu hội ý là “Thập Nhất” = Thật 昰,是, để nói đó là con người “mười phân vẹn mười”, “mười cái như một” đều là đồ thật cả, không có ti gì là hàng gian ở trong nó. Nhưng từ Thật (hội ý gồm Viết Chính nghĩa là Nói Đúng) lại còn nhấn “Thật Chi!” thiết Thị. Và có Nôi khái niệm chỉ sự “đúng” hay khẳng định (từ nhấn cái đúng đứng sau) : Đúng! = =Đẳng! = Đặng! = Đối ! = Đẹp! = Đi! = Ý! = Thị = Hĩ ! = Hề! = Hảo! = Hầy! (tiếng Nghệ An và tiếng Việt Đông) = Hay! (tiếng Nhật) = Này! = Nè! = Nê! (tiếng Nhật) = Nư! (tiếng Thái) = Chứ! = Chớ! = Chi! (Ví dụ câu nhấn cái “không” là: “Không Hề! ” = “Không Chi! ” = “Không Hề! Chi! ”) = Chi! = Nhỉ! = Nhi = Nhé! = Nhá! = Ạ! = Ừ!. Trong Nôi khái niệm này chữ Ý ! nghĩa là Đẹp ! = Được! = Đúng! Nó đồng âm dị nghĩa với từ Ý Nghĩ. Ý này nghĩa là Đẹp (“hết Ý luôn!” = “Đẹp hết xảy!”), nên người Nhật gọi đẹp là “Ki-rê-Y” và khen “Y-i Đếx Nê!” nghĩa là “Đẹp Đấy Nhé!”. Nôi khái niệm chỉ sự đúng: Thị = Thì = Thật = Thực = (nhấn) “Thật Ạ” = Thà = (từ đôi) Thật Thà = Ạ = Dạ =  Là = Mà= (từ đôi) Thì Là = (từ đôi) Mà Là = “Đa” (tiếng Nga) = Dã = Giả = “Ya” (tiếng Nhật) = “Ye” (tiếng Hàn Quốc) = “Yẻ” (tiếng Hán cổ) = “Yes”(tiếng Anh). Hán ngữ hiện đại ngày nay dùng những chữ đứng sau để nhấn khẳng định cái đúng là:Đối (“Dùi!”), Hảo (“Hảo!”), Thị (“Shì!”), là những cái Thật.

 

Do không phân biệt rõ sự khác nhau trong ngữ pháp: Cú pháp Việt là đề trước thuyết sau; cú pháp Hán là đề sau thuyết trước. Và không phân biệt được nghĩa của các từ đồng âm vì không hiểu xuất xứ hình thành của chúng. Nên dẫn đến “sai lầm chết người” trong dùng từ như hội thảo trên nêu: dùng Yếu Điểm 要點(theo Hán văn nghĩa là “điểm trọng yếu”) thay thế cho Nhược Điểm 弱點 (theo Hán văn nghĩa là “điểm yếu”); hoặc Cứu Cánh 究竟 (theo Hán văn nghĩa là “cuối cùng”) lại đem dùng thay cho từ Cứu Mệnh 救命. Để kết liễu hội thảo trên, theo LM, bạn đọc chỉ cần hiểu rõ tiếng Việt là cái Nôi khái niệm mẹ (tức là ngôn ngữ mẹ sinh ra các ngôn ngữ Bách Việt hệ Nam Á). Ví dụ, Nôi khái niệm “chết” của tiếng Việt là: Chết = Giết = (lướt lủn) “Giết Sạch” = Diệt 滅 = Triệt 撤 = Kiệt 竭 = Kết 結 = Hết = = Hoàn 完 = Hoại 壞 = Hỏng = Hư 虛 = Trừ 除 = Tử 死 = Tạ 逝 = Tan 散 = Tàn 殘 = =Tận 儘 = Tiệt 截 = Toi = Tiêu 消 = Điêu 掉 = Liễu了= Lột 削 = Tốt 卒 = Tịch 闢 = Tất 畢 = Thất 失 = Mất = Mô 無 = Vô 無 = Nhổ = Bố 不 = Bộ 不 = Bỏ = Bất 不 = Bật 殺 = =Bóc 剝 = Bạt 拔 = Sát 殺 = Sọc = Chóc = Chết. (còn nữa chưa nêu ra hết). Do Nôi khái niệm này mà có các từ đôi thường dùng:  Giết Hết = Diệt Trừ 滅除 = Lột Bỏ = =Nhổ Bỏ = Bạt Hoàn 拔 完 = Bỏ Bố = (“Bố 不” tiếng Tày nghĩa là không) = Hư Vô 虛無 = Kết Liễu  結了 = Triệt Tiêu 撤銷 = Tiêu Trừ 消除 = Hoàn Tất 完畢 = Tiêu Tan 消散 = Tàn Tạ 殘逝, đều từ Nôi khái niệm “chết” của tiếng Việt mà ra cả.
2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Từ đồng âm dị nghĩa

Đồng âm là Cùng phát âm như nhau, tức cùng tiếng, cùng tiếng tương tự như “đụng hàng”. Quen = Quán = =Cùng = Chung = Đụng = Đồng, vậy chữ Đồng (từ hàn lâm Việt)  có gốc là do từ Cùng (từ dân gian Việt). Âm ở đây là tiếng nói, do Ồn = Âm = Ồn Ào = Ầm Ĩ = Í Ới = Inh Ỏi; vậy Âm  là chữ hàn lâm chỉ từ dân gian Ồn (“đừng có làm Ồn khi nghe giảng” tức đừng Nói chuyện riêng khi đang nghe giảng); Hán ngữ cũng dùng chữ Âm nhưng Hán ngữ không có những từ dính như Ồn Ào, Ầm Ĩ, Í Ới, Inh Ỏi chỉ sự giao lưu bằng tiếng nói (“Chúng mày Ồn Ào cái gì đấy?” hay “Chúng mày Ầm Ĩ gì ngoài ấy thể hả?”). Một từ dân gian Ồn viết bằng chữ Nho thành từ hàn lâm là Âm của người Việt  thì người Nhật dùng đọc là “On”, người Hán dùng đọc là “Yin”. Thời còn các nước Đại Việt , Đại Hán , Đại Hòa  (Nhật Bản), người Nhật gọi từ thuần Nhật là Hòa Ồn (“Wa On ” – người Hòa nói), gọi từ mượn của tiếng Ngô là Ngô Ồn (“Go On ” – người Ngô nói), mà ba nước Ngô , Sở 楚國 , Việt cổ đại là ba nước mới quật khởi lên từ cư dân Bách Việt cổ đại. <Thuyết Văn Giải Tự >: “Âm là tiếng của người, vật , nhạc khí phát ra tự trong lòng”, vậy rõ ràng đó chính là Ồn của tiếng Việt, viết bằng chữ Nho là chữ Âm, mà người Nhật vẫn đọc là “Ồn”, người Hán đọc là “Yin”. Ồn = Ầm = Ầm Ĩ = Inh Ỏi = Í Ới = Í Ồn = (phản thiết) NÔI = Nói = Nời = Lời = (từ đôi) Lời Nói. Dị là Khác, vì Khác = Lạc  = Lạ = Giả  = Dị, nghịch nghĩa với Quen. Nghĩ = Nghĩa, dân tộc ấy nghĩ (hình dung) cái từ ấy là cái gì thì Nghĩa của từ ấy là cái đó. Tiếng Việt có nhiều từ đồng âm dị nghĩa khi văn bản dùng song hành cả từ dân gian cả từ hàn lâm, nhưng không gây cản trở cho việc dùng chữ Quốc ngữ (ký âm bằng ký tự Latin), ví dụ đọc một cuốn tiểu thuyết Quốc ngữ dài hàng nghìn trang mà người đọc vẫn không bị lầm lẫn một từ đồng âm dị nghĩa nào. Trong khi đó tiếng Nhật và tiếng Hán nều dùng chữ ký âm Latin thì rất dễ vấp từ đồng âm dị nghĩa lẫn lộn sang nhau. Do vậy để phân biệt được nghĩa khác nhau của những từ đồng âm Nhật phải cùng lúc dùng ba loại ký tự: (1) Hiragana để ký âm những từ tiếng Nhật, (2) Kanji (Hán tự) để ghi những từ tiếng Nhật đồng âm dị nghĩa với từ đã được ghi bằng Hiragana, (3) Katakana để ký âm những từ ngoại lai. Còn Hán ngữ hiện đại tức tiếng Phổ thông Trung Quốc thì lại đồng âm dị nghĩa quá nhiều nên không thể nào Latin hóa chữ viết được, bắt buộc phải dùng mãi chữ Nho, được gọi là Hán tự. Tuy vậy (nguồn mạng TQ) có học giả ở Phúc Kiến đã Latin hóa thành công Mân ngữ, có thể dùng dịch bài hát tiếng Anh thoải mái, và cho rằng khoảng 20 năm nữa thì chữ Mân ngữ này sẽ được dùng phổ biến. Để phiên âm tên hay từ của Tây thì Hán ngữ sẽ chọn Hán tự nào có âm na ná mà dùng thay, nên đọc theo âm thì nghe còn lơ lớ, nhưng cứ vào biểu ý của chữ thì thành ra cái tên ngớ ngẩn. Ví dụ thủ đô Campuchia là Pnom Penh (nghĩa đen là Núi bà Pênh), tiếng Việt phiên âm là Pnom Pênh, Hán phiên âm là Jin Bian , Jin (thay cho Pnom) Bian  (thay cho Pênh), nếu cứ theo  biểu ý của chữ thì thành nghĩa là Vàng (chữ Kim) Bờ (chữ Biên ), đâu còn cái nghĩa là Núi bà Pênh hay Non Pênh, Hòn Pênh.

Ví dụ một câu bằng ba ngôn ngữ:

 (1) ngôn từ dân gian Việt: Gần nay Tiến sĩ Thảy đều Cận thị (8 chữ, 8 âm tiết), không có từ đồng âm.

 (2) ngôn từ hàn lâm Việt: Cận thế Tiến sĩ Tận thị Cận thị (8 chữ, 6 âm tiết), có ít từ đồng âm.

(3) ngôn từ Hán ngữ hiện đại: Jin shi Jin shi Jin shi Jin shi (8 chữ, 2 âm tiết), có rất nhiều từ đồng âm.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Gà có ngũ đức. Người không có đức chẳng bằng Gà.

 

詩六 (thơ lục)        詩四 (thơ tứ)

神雞五德彩鳳形           東方遺號食邪神

境上昆侖鬥喚聲           金距花魁五彩文

鬼哭神驚邪走散           部戶可令群鬼避

鎮之門戶壽長生            門門重慶萬年春

 

Đính chính hai câu cuối của bài thơ dưới: Bộ hộ khả lịnh (chữ lệnh) quần quỉ tị. Môn môn trùng khánh vạn niên xuân (chữ xuân ).

Tạm dịch:

 

Bài trên (tranh bên phải):

Gà Thần trọn đức, sáng phượng hình

Tiếng gáy thách ai đỉnh Côn Luân

Thần hãi, quỉ la, tà chạy ráo

Trấn giữ nước nhà mãi trường sinh.

 

Bài dưới (tranh bên trái):

Truyền thống phương Đông nuốt tà thần

Đứng đầu văn hiến với Ngũ hành

Chủ nhà ra lệnh, bầy quỉ tránh

Muôn dân lại hưởng vạn niên xuân.

 

Nội dung bài thơ của Rubi cũng có ý hay, tuy nhiên rõ ràng có hai câu thơ ngụ ý nào đó:

Cảnh thượng Côn Lôn đẩu hoán thanh.

và:

Kim cự hoa khôi ngũ thái văn.

 

Cũng nhờ bác LanMien truyền "thần" vào hai bài thơ vậy!

 

Trân trọng.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Ngày/Đêm

 

Trích hội thảo: “PGS TS Hà Minh cũng cho rằng, SGK Ngữ văn nên có bảng tra cứu từ và yếu tố Hán Việt nhưng phải có nguyên văn chữ Hán Nôm và giải thích chữ Hán Nôm đó để học sinh hiểu nghĩa từ nguyên”. Hết trích

 

Chẳng cần phải nại đến chữ Nho, chữ Hán, chữ Nôm để hiểu được từ nguyên của tiếng Việt. Âm vận tiếng Việt vô cùng phong phú, mà một tiếng phát ra là đã thành một từ tức đủ một ý nghĩa trọn vẹn. Cho nên chỉ cần phân tích “Nôi khái niệm” là hiểu từ nguyên và thấy rõ là mọi từ như âm đọc của chữ Nho hay chữ Hán hiện đại chỉ là một thiểu số trong âm vận tiếng Việt mà thôi. Kí tự Latin để kí âm tiếng Việt là chính xác, chỉ có nhược điểm là để ghi một âm tiết rất ngắn phải dùng đến ba bốn kí tự Latin làm cho con chữ thành ra dài loằng ngoằng. Trong khi khí tự kí âm của chữ Việt cổ mà cụ nhà giáo Đỗ Văn Xuyền đã phục hồi thì âm tiết ấy chỉ kí bằng một kí tự rất gọn, chiếm giấy chỉ bằng một chữ 0 của Latin. Ví dụ từ Huỵch Toẹt, âm vận “uych” mất 4 kí tự, âm vận “oẹt” mất 3 kí tự.

 

Xét Nôi khái niệm thì sẽ thấy những từ chỉ Ngày và Đêm của Hán ngữ hiện đại hay của chữ Nho cổ (tiếng Việt hàn lâm) đều chỉ  là bộ phận nhỏ  trong Nôi khái niệm Trắng/Đen (tương ứng Dương/Âm) của tiếng Việt dân gian mà thôi: Hán ngữ hiện đại gọi ngày là [ “Rư”]   (dùng chữ Nhật ), gọi đêm là [“Ye ”] (dùng chữ Dạ ), phát âm của Hán ngữ đặt trong ngoặc vuông [  ].

 

Nôi khái niệm “Trắng”: Trắng = Tráng = Sáng = Quang 光 = Rạng = Rõ = “Rõ Chứ!” = [ Rư ] = Rực = Nhực = Nhật. Rạng = Lãng = Lượng = Lời = BLơi = Trời = Trắng = Tráng = Giàng = Dương . Sáng = Sớm = [“Sấn ”] = Thần.

 

Nôi khái niệm “Đen”: Đen = Mèn = Mun = Hun = Hôn = Hôm = Huân = Hối = Tối = Túi = Tăm = Đắm = =Đêm = Đậm = Âm = ["Yin] = Om = Âm = Dâm = ‘Dâm Ạ!” = Dạ = “Dạ Hề!” = [“Ye”]

 

Sớm/Hôm = Thần /Hôn = ["Chén /Hun 昏"]. Sáng = Rạng = Rõ = Rực = Nhực = Nhật. Hôm = Hun = =Hôn = Hối = Tối = Túi = Tăm = Đắm = Đêm = Đen = Then = Thiên. Sáng = Soi = Rọi = Ray (Ray là tia năng lượng, tiếng Anh, gọi là Quang, Quang = Sáng, như “X Ray” là “X Quang”) = Ray = Ngày = “Ngày Trời” = Ngời = (từ đôi) Sáng Ngời. ( Hán ngữ chỉ có từ bằng chữ Nho, gọi ngày bằng chữ Nhật 日["Rư ] hay Thiên 天 ["Thien ], chứ trong Hán ngữ không có âm tiết Ngày = Ray, chỉ tia năng lượng sáng ngời, Nắng = Năng 能 = ["Nấng 能"] ). Đêm = Đậm = Đen = (vì Đậm = Lầm = Thâm = Than, nên “Than Đen” = Then) = Then, và từ Then được mượn chữ nho để kí âm là chữ Thiên, do vậy mà Thiên dùng chỉ đêm trong khi Nhật dùng chỉ ngày . Ngày/Đêm (viết bằng chữ Nhật/ Thiên) = =Sớm/Hôm (viết bằng chữ Thần / Hôn). “Sớm Hôm chăm chỉ học hành” nghĩa là ngày hôm nào cũng chăm chỉ học cả ban ngày cả ban đêm. Từ Hôm thì giọng Nghi Lộc, Nghệ An còn phát âm là “Hom” như câu “Trời túi hom hom, dầu đèn nỏ có, chó ăn lộn ngài, ngài ăn lộn chó” (tối quá lại không có đèn, không nhìn thấy, nên người và chó ăn lầm bát của nhau). Những từ đôi chỉ ban ngày như Sáng Ngày, Sáng Sớm; những từ đôi chỉ ban đêm như Đêm Hôm (“Cái Đêm Hôm ấy đêm nào”), Tối Hôm, Đêm Tối, Đêm Đen. Một chu kỳ thời gian 24 giờ gọi tắt là một Chu, tiếng Tày gọi là một “Vằn” tức một Vận, là một chu kỳ vận động của trái đất xoay quanh trục của nó. Từ Ban ở đây là chỉ một nửa của chu kỳ 24 giờ, tức lướt lủn “Bán Chu” = Ban, nên chỉ cần nói “ban ngày” là hiểu ngay đó là nửa chu kỳ sáng của 24 gờ tức bằng 12 giờ có ánh sáng mặt trời; chỉ cần nói từ “ban đêm” là hiểu ngay là nửa chu kỳ tối của 24 giờ, tức bằng 12 giờ không còn ánh sáng mặt trời. Nếu nói "nửa ban ngày" hay "nửa ban đêm" nói thừa chữ "nửa". Từ đối Ngày/ Đêm = =Ngày/Hôm. Do vậy mà có cụm từ Ngày Hôm trước, Ngày Hôm nay, Ngày Hôm sau. Chu kỳ 24 giờ chia thành hai nửa thời gian sáng và tối được khái niệm bằng từ đối Sớm/ Hôm viết bằng chữ Thần / Hôn , hoặc bằng từ đối Ngày /Đêm viết bằng chữ Nhật / Thiên. Nếu nói nguyên cả chu kỳ 24 giờ thì phải nói thành những khái niệm “Ngày Đêm trước” (hay “Ngày Hôm trước”), “Ngày Đêm nay” (hay “Ngày Hôm nay). Thời gian của một cặp đối Ngày/Hôm là đúng 24 giờ, trong đó Ngày là nửa có sáng gọi là ban sáng, Hôm là nửa có tối gọi là ban tối. Nhưng do thói quen hay nói tắt, người ta đã chỉ nói gọn là “Ngày”, coi như đại diện luôn cho cả ban sáng và ban tối là tròn 24 giờ, hoặc chỉ nói gọn là “Hôm”, coi như đại diện cho cả ban sáng và ban tối. Cho nên mới có khái niệm Ngày qua (hay Hôm qua), Ngày nay (hay Hôm nay), Ngày mai (hay Hôm mai), mai nghĩa là mới, Mới = Mai ( tiếng Thái Lan) = Mạy (tiếng Lào). Chu kỳ Nhật / Thiên thì Hán ngữ dùng tắt chỉ một chữ hoặc Nhật, hoặc một chữ Thiên; Ngày Nay là Kim Nhật 今日 hay Kim Thiên 今天; còn Ngày Mai là Minh Thiên 明天, tức đã sáng (Minh) cái Đêm = Đen = Then (Thiên) của Hôm trước thì thành Minh Thiên 明天, tức Hôm sau, tức Ngày mai.

 

Như trên đã phân tích từ nguyên: Từ Trời thuộc Nôi khái niệm “Trắng” nên từ Trời và chữ Nhật đều dùng chỉ ban Ngày. Muốn nói ý riêng nhiều cái ban ngày liền nhau thì dùng từ đôi Ngày Trời. Chữ Dạ thuộc Nôi khái niệm “Đen (rõ ràng là cái chữ nho Dạ ấy nó là gốc Việt chứ không phải là “từ Hán-Việt”) nên chữ Dạ và từ Đêm hay Hôm đều dùng chỉ ban Đêm. Muốn nói ý riêng nhiều cái ban đêm liền nhau thì dùng từ đôi Đêm Hôm, Đêm Dạ. Ví dụ nói người mẹ bận rộn công việc để nuôi con đến mức liên tục các ban ngày làm ngoài đồng, các ban đêm ngồi may áo cho con, không được thừa hưởng cả giấc ngủ tròn, thì đó là: “Ngày Trời dãi nắng dầm mưa. Đêm Hôm khuya khoắt chẳng thừa giấc ngon” (Ngon ở đây nghĩa là ngủ, vì tiếng Tày thì “Nòn” nghĩa là ngủ, nên mới có lướt từ đôi “Ngủ Nòn” = Ngon); chứ làm gì có cái khái niệm ngố nghế là “Đêm Trời khuya khoắt” (?). Cái từ Trời là từ thuần Việt không ai cãi (BLơi = Lời = Trời, “Đức Chúa Trời” = “Đức Chúa Lời”, “côi lời” = =trên trời, cấp cao = “cấp côi”, từ đối Â/D nguyên thủy Cội/Côi, vì Cội thanh nặng ở thấp, Côi thanh nhẹ ở cao). Ấy vậy mà người Việt còn viết ra chữ Nho thành từ hàn lâm bằng nhấn “Trời Chú!” = Trú 晝,昼 [chữ này người Hán cũng dùng, nhưng phát âm là "Zhòu " , chỉ ban ngày, chứ không thể dùng chỉ ban đêm, bởi từ Trời của người Việt là dùng chỉ ban ngày ]. Nhưng các TS lại nói: chữ Trú (giản thể) là “từ Hán- Việt”, gốc Hán (!). Hai nửa tức hai ban của một Lăn (Luân ) tức một “Vằn” (Vận, Vận thì chẳng khác gì Xe Đi) là Ngày / Đêm = Sớm / Hôm = Thần / Hôn = Trú / Dạ 夜 = Nhật / Thiên .

 

Ví dụ khác về sự lầm lẫn gọi “từ Hán-Việt”. TĐ Yếu tố Hán-Việt thông dụng, trang 463: “từ Ô là từ Hán Việt, nghĩa là bẩn”. Lại không thấy rằng chữ Ô là do từ Ỉa, Ỉa Bẩn viết bằng chữ Ô Phân. Bẩn viết thành chữ Phân cũng như Buồm viết thành chữ Phàn, Bộn viết thành chữ Phồn , Buồng viết thành chữ Phòng, Buông viết thành chữ Phóng v.v . Nôi khái niệm thải cặn bã sau quá trình tiêu hóa (còn gọi là nôi khái niệm “Ị ra Cứt”) là: Ị = ỉa = Ô  = [ Wu ] = Dơ = Nhơ = Nhớp = Nhúa = Úa = Uế = Ói = Hoi = Hôi = [Hui] = Hám = =Hận = Bẩn = Phân = Cặn = Cứt. Trong nôi khái niệm này Hán ngữ đã mượn chữ Ô Uế mà người Việt làm sẵn để dùng thành từ và phát âm lơ lớ là Wu Hui. Sự thải cặn bã tiêu hóa gọi là Buông Ỉa (cũng thường nói là Buồn Ỉa) và từ Buông Ỉa được viết bằng chữ Phóng Uế và mặc nhiên người ta coi từ dân gian Buồn Ỉa (Buông Ỉa) là tục tĩu, còn từ hàn lâm Phóng Uế là sang trọng. Đó là thải chất cặn (đi ỉa), còn thải chất nước thì dùng động từ Chảy: Chảy = Thảy (vứt đi) = Thải (tiếng Thái cũng dùng nguyên từ này) = Đái (đi đái), tức là “Đẩy nước thải” = Đái. Ở đây cũng thấy từ Vứt bỏ (thảy) có nghĩa là không dùng được thì vứt đi, tức khuyên người ta chớ dùng, cũng đã sinh ra từ hàn lâm đồng nghĩa với nó mà có viết bằng chữ Nho, vì: Đứt  = Dứt = Vứt = Vất = Vật  勿, chữ Vật  cho đến ngày nay vẫn còn được dùng trong Hán ngữ với nghĩa là chớ, đừng. Còn trong tiếng Việt thì chỉ dùng từ Vứt = Vất , như mệnh lênh Vứt Bỏ! nghĩa là Chớ đụng !, khác gì Nỏ! = No! của tiếng Anh; (biến âm Vứt = Vất tương tự như Nhứt = =Nhất, nghĩa là “number one”). Ở đây cũng lại thấy rõ là một từ Ỉa đã nở ra từ dính cùng nôi khái niệm. Từ Ỉa (Ỉa có một âm tiết như kí hiệu một kẻ liền tượng dương trong quẻ Dịch, “Kẻ Liền” = Kiền = =Càn = Còn. Trò ngày tết chơi “ném còn” là một trò diễn phồn thực của bên trai và bên gái mà rất tế nhị và sôi động: quả còn thì đặc, là quả “Còn Đặc” = Cặc; ném cho lọt qua cái vòng rỗng, Rỗng = Lộng = =Lồn); từ Ỉa đã theo QT Nở mà  nở ra từ dính hai âm tiết (như kí hiệu hai gạch của một kẻ đứt 一一tượng âm trong quẻ Dịch, “Kẻ Đứt” = Cứt. Cứt = Đứt = Dứt = Vứt = Vất = Vật, là sự phủ định “Chớ!”, Chớ! = Nỏ! = No! tiếng Anh). Từ Ỉa đã nở ra từ dính hai âm tiết là Ô-Uế, vì là từ dính nên không thể nói ngược là Uế Ô (kể cả Hán ngữ về sau mượn chữ Nho dùng , vẫn phải giữ nguyên cấu trúc từ dính Ô - Uế ), nhưng dần dần hai Trứng (Tiếng) dính nhau đều trưởng thành, có thể tách ra thành hai từ đồng nghĩa đứng riêng Ô và Uế, nên từ ghép không có gạch nối giữa Ô Uế nghiễm nhiên trở thành từ đôi Ô Uế, và có thể đảo là Uế Ô. Những chất bài tiết ra ấy phải cho tiêu hủy đi, tại cái nơi riêng có làm cái cầu cho người ngồi bài tiết Ỉa hay Đái, gọi là cái Cầu Tiêu Những chất thải ra ấy phải cho tiêu hủy đi, tại cái nơi riêng có làm cái cầu cho nó, gọi là Cầu Tiêu (người Lê ở đảo Hải Nam cũng dùng và phát âm y chang từ “cầu tiêu”), cho nên nước đái còn gọi là nước tiêu hay nước tiểu (“Tiêu Chảy” = Tiểu). Nho viết lướt thành chữ “Nước Tiểu” = Niệu (尿), thế là có từ hàn lâm Niệu nghĩa là nước tiểu, và cái mạch dẫn nước tiểu trong cơ thể gọi là Niệu Đạo. TĐ Yếu tố Hán Việt thông dụng trang 293: “Niệu 尿 là từ Hán-Việt, từ gốc Hán” (!). Nhưng mẹ nó lại là từ Nước của tiếng Việt đấy ạ!. Nước = Nậm = Thâm (màu ngũ hành) = Thủy = [shui ], từ “Shui” nghĩa là nước của Hán ngữ dùng cũng có mẹ nó là từ Nước của tiếng Việt đấy ạ!.

 

Ở đây lại thấy chữ Nhược là từ hàn lâm thế vị cho từ dân gian Yếu cũng lại là từ-chữ có gốc Việt nốt. Bởi nước là chất lỏng được quan niệm là nó mềm yếu chứ không cứng mạnh như chất sắt đá, nên cái tính mềm yếu “Như Nước” = Nhược, gọi là Nhược, bởi vậy chữ Nhược có nghĩa là Yếu. Hán ngữ mượn dùng chữ Nhược của người Việt, lại đọc là [“Ruo ”], cái tính chất “Ruo” (mềm yếu) chẳng có liên hệ gì chứng tỏ cùng nôi khái niệm với “Shui” (là nước) cả: không cùng tơi (phụ âm đầu) cũng không cùng rỡi (âm vận), khác xa quan hệ giữa Nhược với Nước (cùng rỡi “ươc”) trong tiếng Việt. Việt nho đã viết chữ  (cứ về âm) là thiết “Nước Tiểu” = =Niệu , và chính (cứ về ý) thì chữ Niệu đã biểu ý rõ nó là chất lỏng có tính mềm yếu: Niệu là Nước + Yếu 弱,cũng tức là “Nước Yếu” = Niệu . Cái gốc Việt của con chữ Nho là Niệu này đã biểu hiện rõ rành rành, hơn là Từ Điển đã hồ đồ cho nó là cái “tố gốc Hán”. Cũng như cái gốc Việt của chữ Nhược = Như Nước (“Như Nước” = Nhược) cũng biểu hiện rõ rành rành: hai cái hình giống nhau  của chữ Nhược biểu ý là Như, cộng thêm cái âm vận “Ược” đồng âm với “Ước” của Nước. Nhưng Từ Điển đã dẫn, trang 292, lại nói: “Nhược là từ Hán-Việt, là tố gốc Hán” (!). Hán ngữ hiện đại dùng chữ giản thể, Niệu viết lại là [“Niao 尿”]. Chữ giản thể (từ sau năm 1949) đã che lấp mất cái văn hóa gốc Việt của chữ Nho. Ví dụ Nho thì chữ Niệu về âm là Niệu tức “Nước Tiểu” = Niệu, về ý thì là “Nước Yếu” = Niệu. Còn chữ “Niao 尿” giản thể thì nó đúng là chữ của người Hán đặt ra, về ý chữ đã không còn nhìn thấy bóng dáng Việt, chỉ còn phảng phất chút âm ở cái tơi Việt là “N” của từ Nước. Cũng tương tự như trường hợp của chữ Thân mà bất kiến(亲, của chữ Ái mà bất tâm (爱).

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chữ Phúc

 

Cùng dùng một chữ Phúc mà sự hiểu lại khác nhau. Thủa trước nghe ông thầy người Trung Quốc đến Chợ Lớn dạy Hán văn giảng rằng chữ Phúc là thể hiện ước mơ giàu có, muốn Thấy ( ) ruộng đất của mình thẳng cánh cò bay, nhìn gần thì có một Điền (), nhìn xa thấy có Vuông () ruộng nữa, nhìn xa nữa thấy ruộng mình còn tít tắp như Nhất () gạch của đường chân trời.

Đấy chỉ là một cách giải thích, cách giải thích này thể hiện lối tư duy dựa vào tượng hình, nhìn các bộ thủ Thị 示 ,Điền, Vi 口, Nhất xếp thành chữ Phúc mà luận ra cái ý như vậy. Do hiểu Phúc là ước muốn gặp may để thành giàu nên những  người TQ mê tín thường dán chữ Phúc đảo ngược lộn trên dưới ở trước cánh cửa chính để mong đón được Phúc đáo (chữ “đảo”- ngược và chữ “đáo” – đến là đồng âm), nhất là vào dịp đón xuân mới.

Chú ý “Bộ Thủ 部 首” là  theo cú pháp Việt, nghĩa là cái bộ đầu tiên(để xếp nên một vuông chữ nho nhỏ), nếu nói theo cú pháp Hán thì phải gọi là Thủ Bộ, vậy mà Hán ngữ vẫn phải dùng gọi theo kiểu Việt là “Bộ Thủ” phát âm lơ lớ là [“Bu Shou 部 首”]. Tên các bộ thủ là tên gốc Việt, ví dụ Thấy thì do nhấn “Thấy Chi!” = Thị , nên gọi bộ thủ Thịnghĩa là thấy; “Vuông” thì do nhấn “Vuông Chi!: = Vi, nên có bộ thủ Vinghĩa là vuông; cánh Đồng là do nhiều Ruộng = Vuông liền nhau, gọi là “Đồng Liền” = Điền, nên bộ thủ Điền nghĩa là ruộng đất.

 

Chữ Phúc là chữ của Việt Nho nên cái ý của nó khác với diễn đạt như trên của ông thầy người TQ. Chữ Phúc của người Việt nghĩa là : may mắn được thần linh hay tổ tiên Phù hộ cho như Dục vọng của mình, gọi tắt là “Phù Dục” = Phúc. Đó là nguyên do tạo ra âm “phúc”, logic với cái nghĩa là phù hộ cho dục vọng. Còn diễn đạt chữ Phúc theo các bộ thủ tạo nên nó là: Thấy 示 Trời 一 Đất 口  chứng giám cho cái Tư 田 của chính mình. Trời biểu thị bằng bộ thủ Nhất 一 = 1 = Dương. Đất biểu thị bằng bộ thủ Vi 口 =Vuông. Tư biểu thị bằng bộ thủ Điền 田 thể hiện cái tư hữu mà trong đó tư hữu ruộng đất chỉ là một trong các quyền được Tư. Bốn cái quyền được Tư thể hiện bằng bốn Vuông (phạm Vi – lĩnh Vực) là: tư hữu thân thể, tư hữu suy nghĩ, tư hữu lao động, tư hữu phân phối thành quả do chính mình làm ra. Bốn lĩnh vực Tư hữu ấy đều coi nặng cả nên con người là “Tư Nặng” = Tự 自, là có quyền tự do tư hữu mà Trời Đất (Thượng Đế) đã ban cho khi ra đời và chứng giám, gọi nôm na là quyền con người, gọi văn vẻ là nhân quyền.

Chữ Điền vừa là hình ảnh cụ thể vừa có ý nghĩa trừu tượng. Cụ thể của chữ Điền thì đó là bốn Vuông = Ruộng (mà là ruộng nước có đắp bờ khoanh thành Vùng = Vuông = =Ruộng, tiếng Tày –Thái gọi ruộng Nước là Nà hay Na, như xứ Xịp Xoong Bản Na (thập song bản nà) của người Thái, Vân Nam. Chữ Điền là cánh “Đồng nhiều ruộng Liền” = Điền, nên có từ ghép đồng điền. Trừu tượng thì bốn vuông của chữ Điền thể hiện bốn cái Vuông (tức bốn phạm Vi) tư hữu của con người: tư hữu thân thể, tư hữu suy nghĩ, tư hữu lao động, tư hữu tài sản do mình làm ra và phân phối nó. Cho nên bộ thủ Điền dùng tạo thành phần của chữ “Tư tưởng, “Tư duy”. Mỗi con người như mỗi cây lúa độc lập nhưng cùng sống chung trong một mảnh ruộng, nên chữ “Tưnhân ” có bộ thủ cây Lúa  . Của cải do mỗi con người làm ra là tư hữu của chính người đó nên chữ “Tư sản ” có bộ thủ Bối biểu ý của cải (cổ đại dùng vỏ Hàu làm tiền trong trao đổi, Hàu = Báu = =Bối = Bảo = Bảo Bối 寶貝, văn minh thương mại bắt đầu từ vùng biển). Hán ngữ hiện đại dùng chữ Bảo Bối 寶貝(“baobei”) để ký âm từ Baby – “beibi” (Bé Tý = “beibi” -  trẻ sơ sinh, tiếng Anh) nghe Bảo Bối 寶貝 cũng dễ thương mà có ý nghĩa càng dễ thươngđương nhiên hơn hẳn dùng chữ “beibi 被婢” để ký âm, tuy sát âm đọc hơn nhưng ý nghĩa lại là Bị làm nô Tỳ , tương lai ấy mà của Baby thì quá thảm

Người Việt nói: may phúc có nhân quyền, vô phúc mất nhân quyền. Phúc đi liền với May. Vận May viết bằng chữ Hạnh Vận 幸 運, May Phúc viết bằng chữ Hạnh Phúc 幸 福. Tiêu chí là Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.

 

Hai lúa luận chữ Phúc như viết ở trên rồi, giờ mới tra mạng <TVGT 說 文 解 字> để kiểm chứng. Hơn hai nghìn năm trước, <Thuyết Văn Giải Tự 說 文 解 字> chỉ rõ cái âm đọc chữ Phúc là : “thiết Phương Lục” = Phúc. Nếu mà theo phát âm của Hán ngữ hiện đại thì là “FangLìu ” = Fiu, trật, đâu thành “Fu” như của Hán ngữ hiện đại. Còn nghĩa chữ Phúc thì <TVGT> giải thích: “,神灵保祐” (Phúc, thần linh bảo hựu – Phúc nghĩa là được thần linh phù hộ). Tra <TVGT> thấy đúng chữ Phúc là của người Việt, là “Phù 扶 Dục 欲” = =Phúc 福. Còn biểu ý chữ thì là: Thượng Đế phù hộ nhân quyền. (Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng NXB khxh HN 1991, trang 318: “Phúc là tố gốc Hán”).

 

Chữ Dục 欲,慾 lại đồng nghĩa với cái gốc của nó là Ước  Ao hay Ao Ước cũng vậy, tức là cái ý muốn. Cái muốn nhất của mỗi cơ thể sống là cái mà ở đó thoạt khởi thủy sự sống đã sinh ra, đó là Nước, từ Nước (để uống) cũng đã chuyển nghĩa chỉ sự muốn, tức “Nỗi lòng mong Ước” = Nước, Nước là cái Nôi (vật chất) của sự sống và nỗi lòng mong ước cũng là cái Nôi (tinh thần) của sự sống, thơ văn nho nhã  hay viết ước lệ (dùng từ đại diện) là từ Nước hay chữ Thủy để ám chỉ Ước  Mong = Dục Vọng . Nôi = Nước = Ước = Ướt = Tướt = =Tưới = Té = Tắm = Đằm = Dầm = Châm = Chan = Tràn = Trào   = Triều. . Dầm cho đẫy nước là “Dầm Túc” = Dục , chữ Dục này có bộ thủ nước nên chữ Dục mang nghĩa là tắm, tiếng Triều Châu lại gọi tắm là “Chan Ét"= Châm Ướtnhư là chan nước cho ướt hết người vậy (chứ không phải là chan canh cho ướt hết cơm). Vậy những chữ Nho như chữ Dục ham muốn và chữ Dục tắmcũng lại đều là từ gốc Việt nốt, không phải là những tố gốc Hán.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Học thêm

 

Mỗi trường biển hiệu to rầm

“Tiên học lễ hậu học văn” mưu cầu

Nay thường khẩu hiệu làm đầu

Xưa Nho thủ thỉ từng câu khuyên người

Nhân tình, nhân tính, nhân tài

Dạy nhân cách trước, bày bài văn sau

Nay học công nghệ gấp mau

Học thêm chủ đích làm sao nhét nhồi

Đâu còn phút lặng, chậm thôi

Để mà suy ngẫm Đất Trời bao la

Thiên Nhiên chậm rãi hiền hòa

Mỗi bước Vũ Trụ cũng là vạn năm

Học thêm là phút Thiền chăm:

Nét chữ, nhạc, vẽ, tổ tiên dặn dò,

Cho cá ăn ở ven hồ,

Thư dãn lòng cảm vô bờ tình thương,

Sẽ không hủy hoại môi trường,

Biết trọng Trời , Đất, trọng Mình, trọng Dân

Câu “Thiên – Địa – Quân– Thân – Sư

Tôn trọng năm Vị cũng như Ngũ Hành

Lời xưa ngắn gọn mà thành

Trẻ con , người lớn đọc nhanh nằm lòng

Mỗi câu sáu chữ thong dong

Nhân nào quả nấy, ước mong làm người

Tiếng lời, nét chữ còn tươi

Nết ăn, nết ở con người Việt Nam

<Đệ tử qui> sách xưa làm

Ngày nay doanh nghiệp vẫn ham tìm tòi

Học theo câu chữ sáng ngời

Người chung Trái Đất trọn đời thương nhau.

Học chữ Nho, trí thêm giàu

Rảnh, học dăm chữ, càng sâu hiểu đời.

 

NỘI DUNG <ĐỆ TỬ QUI>

Bài 1: Chữ Hiếu

Cha mẹ gọi, chớ chần chừ

Cha mẹ lệnh,  hãy nhanh vù làm ngay

Cha mẹ dạy,  hãy lắng tai

Cha mẹ có trách, phải ngay vâng lời.

Đông chăm cha mẹ ấm nơi

Hè chăm cha mẹ mát thời ung dung

Sáng sớm tỉnh giấc hỏi han

Tối chúc cha mẹ được an giấc nồng.

Ra ngoài phải báo mẹ cha

Về nhà báo lại mới là con ngoan

Ở nơi cư trú thường xuyên

Cố định nghề nghiệp, chớ nên thay dời.

Việc tuy nhỏ chớ coi thường

Không báo cáo trước là lầm đạo con.

Vật dù nhỏ, chớ dấu đi

Mẹ cha thấy dấu, tâm thì đau thương.

Đồ gì cha mẹ thích dùng

Phải chuẩn bị sẵn để mừng mẹ cha

Đồ gì cha mẹ ghét chê

Cẩn thận dẹp bỏ khỏi mê phiền Người.

Cơ thể mình bị tổn thương

Sẽ khiến cha mẹ trăm đường âu lo

Đức mình mà bị sút sa

Sẽ khiến cha mẹ xót xa ngượng ngùng.

Cha mẹ yêu, hiếu là thường

Không yêu vẫn hiếu, đường đường con ngoan.

Cha mẹ dù có sai lầm

Bình tâm khuyên giải, vui lòng mẹ cha

Lời khuyên giải thật dịu hòa

Tỉ tê tâm sự mới là con ngoan.

Khuyên giải chưa đạt kiện toàn

Chờ khi yên lặng lại làm lần hai

Cho dù khóc lóc đầy vơi

Cũng không oán giận nặng lời mẹ cha.

Mẹ cha khi ốm đau nằm

Dâng thang thuốc phải nếm xem thế nào

Ngày đêm chớ có nhãng sao

Luôn bên giường bệnh khác nào chẳng ly.

Thọ tang chịu đúng ba năm

Nhớ ơn cha mẹ trong tâm ngậm ngùi

Ba năm hạn chế hỉ vui

Tuyệt cấm bia rượu thịt xôi linh đình

Tang chế theo phép mà làm

Giỗ kỵ là ở hoàn toàn thành tâm

Dù Người  khuất núi lâu năm

Đối đãi vẫn giống còn trong đời thường.

Bài 2: Chữ Đễ

Làm anh phải biết thương em

Làm em phải biết kính tôn anh mình

Anh em hòa mục thuận tình

Đó chính là hiếu chúng mình mẹ cha.

Anh em coi nhẹ của, tiền

Chẳng bao giờ để oán hờn nảy sinh

Anh em lời lẽ chân tình

Ba điều thắc mắc chẳng rình ở lâu.

Khi ăn, khi đứng, khi ngồi

Lễ phép nhường nhịn anh, tôi mới là

Ưu tiên dành để người già

Phần sau cho trẻ mới là khiêm cung.

Nghe anh lên tiếng gọi người

Nghe được lập tức trả lời làm thay

Nếu người không có, mình thay

Lập tức tự đến xem hay thế nào.

Gọi anh lớn chớ gọi tên

Anh lớn uyên bác, chớ nên khoe mình.

Giữa đường mà gặp đàn anh

Tiến lên một bước, cất nhanh tiếng chào

Nếu anh chưa ngỏ lời nào

Lùi ngang một bước, đợi trao lệnh truyền

Cưỡi ngựa, xe phải xuống liền

Anh lớn đi khỏi mới quyền tiếp đi.

Anh đứng, em chớ có ngồi

Anh ngồi cho lệnh, em tôi mới ngồi

Đứng trước anh, nói nhỏ thôi

Chớ quá lí nhí thành tôi bất nghì.

Gặp anh thì bước đến nhanh

Cáo lui thì lại quay lưng nhẹ nhàng

Anh hỏi, đứng dậy trả lời

Mắt nhìn thẳng mắt, chớ dời ngó nghiêng.

Đối đãi chú bác như cha

Đối anh em họ như  là ruột thân.

Bài 3: Cẩn thận

Sáng dậy sớm, tối ngủ khuya

Đời người ngắn ngủi chẳng thừa thời gian

Qúi từng phút để học, làm,

Để mà vui sống trần gian làm người.

Sáng dậy rửa mặt đánh răng

Vệ sinh xong phải biết đằng rửa tay

Tập thành thục thói quen này

Từ nhỏ đến lớn ngày ngày khỏe an.

Mũ đội ngay ngắn trên đầu

Áo quần mỗi cúc, mỗi khâu gọn gàng

Tất, giày đều phải chỉnh trang

Dây giày, quai dép rõ ràng chặt, ngay.

Áo quần, giày cởi hàng ngày

Treo, đặt đúng chỗ thẳng ngay lối hàng

Chớ để lộn xộn loạn hoang

Tránh làm hỏng, bẩn hành trang của mình.

Y phục quí ở sạch, ngay

Chẳng phải quí ở hoa này hòe kia

Khít thân, hợp tuổi là vừa

Còn theo hoàn cảnh, chẳng đua chẳng đòi.

Ăn thì chớ chọn, đừng vòi

Kén gì những món chẳng coi là lành

Ăn vừa đủ, chớ no căng

Ăn no nê quá hại gan, dạ dày.

Trẻ tuyệt đối cấm rượu, bia

Lỡ khi say xỉn thì chưa chủ mình

Thật là mất mặt, người khinh

Làm loạn nhân cách, sự tình rối ren.

Đi không chậm, chẳng vội vàng

Thong dong rảo bước, đứng càng thẳng thân

Thi lễ thì phải khom lưng

Bái lạy thì phải kính cung, khiêm nhường.

Vào ra chớ dẫm ngạch ngang

Đừng để cơ thể nặng bằng một chân

Chớ rung đùi, chớ banh vành

Ngồi mà dạng háng xấu danh học trò.

Vào ra mở cửa nhẹ nhàng

Đừng để cửa động tiếng vang làm ồn

Đi quay nên rộng cái vòng

Tránh va đụng phải vật dùng gây đau.

Đồ trống, đồ đựng như nhau

Bưng phải ngay ngắn, đừng vênh ngược chiều

Vào phòng dù chẳng có người

Cũng không đụng chạm đồ dùng sẵn im.

Làm việc chớ có vội vàng

Vội thì dễ hỏng, dễ làm việc sai

Việc nhỏ cẩn thận vẫn hay

Khó phải biết khó, nguy thì hiểu nguy.

Tránh xa đánh lộn, chửi nhau

Những việc bất chính chẳng đâu hợp tình

Đừng có tham dự tình hình

Dây dưa vào đó làm mình xấu xa.

Đến người, gõ cửa, hỏi vang

Chỉ khi cho phép mới vâng bước vào

Vào rồi phải cất tiếng chào

Để mọi người biết đã vào bên trong.

Người trong có hỏi là ai

Hãy xưng tên họ mình khai rõ ràng

Đừng để người hỏi hoang mang

Suông xưng “tôi!” chẳng rõ ràng là ai.

Muốn dùng đồ của người ta

Đều phải gặp mặt hỏi qua rõ ràng

Người ta ưng thuận mới mang

Lấy dùng không hỏi cũng bằng trộm đêm.

Mượn dùng phải biết giữ gìn

Đúng hẹn trả lại còn nguyên vẹn tròn

Trả không đúng hẹn rõ ràng

Lần sau khó mượn vì rằng bất tin.

Bài 4: Chữ Tín

Lời nói ra phải thật thà

Lắm lời cũng chẳng bằng ta kiệm lời

Nói hoang, nói khéo chẳng thôi

Người nghe càng ghét những lời nịnh gian

Chớ nên xảo trá, nói càn

Những lời tục tĩu phải càng kỵ kiêng.

Việc chưa rõ chớ huyên thiên

Nghe sự vô cớ chớ truyền cho ai

Việc xấu chớ để lọt tai

Hứa làm việc xấu mắc hoài gian nan.

Nói chuyện lời phải rõ ràng

Chớ có liến thoắng làm hoang lòng người

Khi nói ngược, lúc nói xuôi

Người nghe chẳng hiểu đầu đuôi thế nào

Việc không đụng chạm đến tao

Thì tao cũng chớ ôm vào làm chi

Ôm rơm rặm bụng còn gì

Lại thêm đức hạnh mất đi đằng nào.

Thấy người làm thiện noi theo

Mình hãy cố gắng để sao như người

Dù rằng khoảng cách xa xôi

Dần dần rồi cũng tới nơi thôi mà

Thấy người làm việc xấu xa

Soi mình hành động đã là đúng chưa

Xét theo cái lý cho vừa

Đề phòng, cảnh giác để ngừa mình sai.

Làm người phải đạt bốn điều:

Đạo đức, học vấn, tài năng, tay nghề

Nếu mà chưa đạt trọn hề

Dốc sức cố gắng mải mê trau dồi.

Ăn mặc còn kém người ta

Cũng đừng lo lắng, xót xa làm gì

Tu dưỡng đức độ, nghĩa nghì

Điều quan trọng nhất để thì người sang.

Nghe chê sai lại bực mình

Nghe lời tán tụng, tỏ tình sướng vui

Nếu mà như vậy ôi thôi

Bạn thơm nó bỏ, bạn hôi nó mừng.

Nghe người khen giỏi, bất an

Nghe chê khuyết điểm, hân hoan nhận liền

Thành khẩn như vậy là tiên

Con người thế ấy bạn hiền dần đông.

Vô ý làm hỏng là sai

Cố ý làm xấu, ác tai rành rành

Làm sai dám sửa cho đành

Người ta cũng hiểu rằng anh thật thà

Làm sai còn dấu, gian tà

Không thừa nhận lỗi, trượt đà càng sai.

Bài 5: Lòng thương bao la

Loài người cùng đội trời chung

Người với người hãy biết cùng thương nhau

Người mà hành động thượng cao

Tiếng tăm người đó thế nào cũng lên

Con người trọng ở đức hiền

Không phải tướng mạo ưu tiên hàng đầu.

Người mà tài học dồi dào

Tự nhiên danh vọng cũng cao hơn người

Bởi thực học mới thực tài

Không phải tự thổi, tự bày mà nên.

Có tài thì chớ mưu tư

Hãy làm việc có ích vì nhân dân

Cũng đừng ghen tỵ tài năng

Khiêm tốn học hỏi cho bằng người ta

Đối người giàu chớ dèm pha

Đối nghèo cũng chớ kiêu sa tỵ hiềm

Đừng chán bạn cũ xưa hiền

Đừng chỉ ham mới là liền kết giao.

Người đang bận chớ quấy rầy

Người đang bất ổn chớ gây chuyện nhàm

Người ta có tật không hay

Chớ đem chuyện đó phô bày lung tung

Người ta có chuyện trong lòng

Chớ đem chuyện họ nói bung ra ngoài.

Tán dương người khác thiện hành

Đó là chứng tỏ chính mình đức cao

Người ta biết vậy về sau

Càng thêm cố gắng làm mau điều lành.

Tuyên truyền cái ác của người

Khác gì mình cũng thuộc nòi sói lang

Khoe khoang chuyện ác càng hăng

Ắt sẽ rước họa xâm lăng có ngày.

Bạn bè khuyến thiện với nhau

Thì ắt đức hạnh cả hai đều cường

Bạn bè thiếu thiện hỗ tương

Ăt là đạo đức đôi đường đều suy.

Cho người với lấy của người

Đều phải phân biệt đôi nơi rõ ràng

Lấy ít một chút là nhường

Cho nhiều một chút là thương con người.

Việc gì muốn bắt người làm

Thử xem việc ấy mình còn muốn mê

Nếu mà việc ấy mình chê

Đừng đem việc ấy gạt về người ta.

Việc gì người đối mình sai

Hãy quên đi chớ để hoài trong tâm

Ơn huệ thì nhớ trong lòng

Tìm khi báo đáp là trong rộng tình.

Đoan chính đối với người làm

Nhân từ rộng rãi là hàng đầu tiên

Nếu mà chỉ dựa thế, quyền

Người ta khẩu phục, tâm nguyền thì không

Nếu dùng đạo lý giảng thông

Người ta khâm phục mà không nói gì.

Bài 6: Chọn bạn mà chơi

Cũng người, trăm hạng bất đồng

Lưu manh, dung tục cũng đông khá nhiều

Kẻ nhân đức lại hiếm hoi

Cho nên chọn bạn đáng chơi mà gần.

Người cao thượng có lòng nhân

Cho nên mới được nhân dân kính nhường

Bởi vì họ nói trực ngôn

Chẳng khi nào nói bông tuồng mị dân.

Gần họ như thể gần đèn

Học được nhiều tốt mà nên con người

Đức hạnh càng được đắp bồi

Lỗi lầm, sai trái càng thời ít đi.

Không gần nhân đức hại chi

Để cho kẻ xấu nó trì, nó lôi

Còn đâu thành quả trên đời

Chính tà phải biết rạch ròi mà phân.

Bài 7: Dư sức học văn 

Học mà như mọt gặm thư

Phù hoa chữ nghĩa vi vu mây trời

Làm sao thành thạo nên người

Con người hữu dụng trong đời làm ăn.

Nếu mà chỉ cắm cúi làm

Tự mình kiến giải, chẳng thèm đọc thư

Chẳng hiểu đạo lý là chi

Hỏng nhiều được ít, khác gì ngu si.

Đọc sách có ba cái ghi

Mắt nhìn, tâm ký, miệng thì đọc vang

Sách này đang đọc từng trang

Đừng nghĩ sách khác nó làm phân tâm

Sách này mà chửa đọc xong

Bỏ đọc sách khác, mất tong công trình

Đọc cuốn sách phải chuyên tâm

Mới đạt thành quả uyên thâm sách bày.

Mỗi kỳ học phải rộng khoan

Tuy nhiên phải tận dụng toàn thời gian

Bỏ công phu, thấy rõ ràng

Chưa hiểu đang tắc, vẫn làm cho thông.

Đọc sách thấy chỗ còn nghi

Lấy bút ghi lại để thì hỏi han

Đến khi hiểu nghĩa rõ ràng

Đọc sách như vậy mới mang ích nhiều.

Phòng học sắp xếp gọn gàng

Vách tường, văn cụ, chỉnh trang vừa tầm

Lọ mực mà để bị nghiêng

Chứng tỏ tâm trí còn xiên chưa đình

Chữ viết mà chẳng nên hình

Chứng tỏ tâm trí của mình bất an.

Điển tịch xếp có lối hàng

Dùng xong đặt lại như nguyên lúc đầu

Khi cần tra cứu về sau

Sẽ tiện tìm kiếm khỏi lâu thì giờ.

Qúi sách như trọng người thầy

Trang nào bị hỏng kịp thời sửa ngay

Sách nhảm chớ có cầm tay

Đọc hại trí tuệ, không hay tâm tình

Tự bạo – thô lỗ với mình

Tự khi – coi rẻ chính mình tự ti

Phải biết tự ái một khi

Chớ cam trụy lạc, du di, khinh nhờn

Tích tiểu thành đại dần dần

Có học ắt sẽ thành thân thánh hiền.

(còn tiếp học đọc từng chữ <Đệ tử qui>)

 

Mỗi câu 6 chữ, có đánh số thứ tự ở đầu câu. Mỗi câu có dòng đầu là đọc theo chữ Nho; dòng giữa là chữ Nho; dòng dưới cùng là đọc theo phiên âm của Hán ngữ hiện đại (phần này dành riêng cho bạn đọc nào đang học tiếng Hoa để đọc chuẩn theo phát âm – pinyin – của Hán ngữ hiện đại). Sau mỗi đoạn vài câu là phần dịch sang thể lục bát.

 

Đệ  tử qui 

弟子規

Dì zỉ gui

 

 

Đệ tử qui            Thánh nhân huấn

弟子規  圣人訓

Dì zỉ gui              Shèng rén xùn

 

Thủ hiếu đễ           Thứ cẩn ngôn

首孝弟  次謹言

Shỏu xiào dì            Cì jỉn yán

 

Phiếm ái chúng   Nhi thân nhân

泛愛眾       而親人

Fàn ài zhòng          Ér qin rén

 

Hữu dư lực       Tắc học văn

有余力  則學文

Yỏu yú lì               Zé xué wén

 

Đệ tử qui Thánh nhân truyền

Trước là hiếu đễ, sau liền cẩn ngôn

Lòng nhân mở rộng yêu thương

Có nhân cách mới đảm đương học hành

 

Bài 1: Hiếu với trong 入則孝 Rù zé xiào

 

1 Phụ mẫu hô    Ứng vật hoãn

父母呼    應勿緩

Fù mủ hu               Yìng wù huản

 

2 Phụ mẫu mệnh    Hành vật lãn

父母命          行勿懶

Fù mủ mìng               Xíng wù lản

 

3 Phụ mẫu giáo   Tu kính thính

父母教        須敬聽

Fù mủ jiào               Xu jìng ting

 

4 Phụ mẫu trách   Tu thuận thừa

父母責         須順承

Fù mủ zé                   Xu shùn chéng

 

Cha mẹ gọi    Chớ chần chừ

Cha mẹ lệnh  Hãy nhanh vù làm ngay

Cha mẹ dạy    Hãy lắng tai

Cha mẹ có trách   Phải ngay vâng lời

 

 

5 Đông tắc ôn     Hạ tắc thỉnh

冬則溫     夏則凊  

Dong zé wen         Xià zé qỉng

 

6 Thần tắc tỉnh    Hôn tắc định

晨則省     昏則定  

Chén zé shẻng     Hun zé dìng

 

Đông chăm cha mẹ ấm nơi

Hè chăm cha mẹ mát thời ung dung

Sáng sớm tỉnh giấc hỏi han

Tối chúc cha mẹ được an giấc nồng

 

7 Xuất tất cáo   Phản tất diện

出必告  反必面

Chu bì gào          Fản bì miàn

 

8 Cư hữu thường    Nghiệp vô biến

居有常          業無變

Ju yỏu cháng             Yè wú biàn

Ra ngoài phải báo mẹ cha

Về nhà báo lại mới là con ngoan

Ở nơi cư trú thường xuyên

Cố định nghề nghiệp, chớ nên thay dời.

 

9 Sự tuy tiểu         Vật thiện vi

事雖小     勿擅為

Shì wéi xiảo           Wù shàn wéi

 

10 Cẩu thiện vi     Tử đạo khuy

茍擅為       子道虧    

Gỏu shàn wéi          Zỉ dào kui

 

Việc tuy nhỏ chớ coi thường

Không báo cáo trước là lầm đạo con

 

11 Vật tuy tiểu     Vật tư tàng

物雖小      勿私藏

Wù súi xiảo             Wù si cáng

 

12 Cẩu tư tàng    Thân tâm thương

茍私藏      親心傷

Gỏu si cáng           Qin xin shang

 

Vật dù nhỏ, chớ dấu đi

Mẹ cha thấy dấu, tâm thì đau thương.

 

13 Thân sở háo        Lực vi cụ

親所好          力為具

Qin sủo hào                Lì wéi jù

 

14 Thân sở ác          Cẩn vi khứ

親所惡           謹為去

Qin sủo  è                   Jỉn wéi qù

 

Đồ gì cha mẹ thích dùng

Phải chuẩn bị sẵn để mừng mẹ cha

Đồ gì cha mẹ ghét chê

Cẩn thận dẹp bỏ khỏi mê phiền Người

 

15 Thân hữu thương     Di thân âu

身有傷                貽親憂   

Shen you shang              Yí qin you

 

16 Đức hữu thương       Di thân tu

德有傷                  貽親羞

Dé yỏu shang                     Yí qin xiu

 

Cơ thể mình bị tổn thương

Sẽ khiến cha mẹ trăm đường âu lo

Đức mình mà bị sút sa

Sẽ khiến cha mẹ xót xa ngượng ngùng

 

17 Thân ái ngã        Hiếu hà nan

親愛我       孝何難

Qin ái wỏ                  Xiào hé nán

 

18 Thân táng ngã    Hiếu phương hiền

親憎我          孝方賢  

Qin zeng wỏ               Xiào fang xián

 

Cha mẹ yêu, hiếu là thường

Không yêu vẫn hiếu, đường đường con ngoan.

 

19 Thân hữu quá     Gián sử cánh

親有過            諫使更

Qin yỏu guò                 Jiàn shỉ gèng

 

20 Di ngô sắc      Dịu ngô thanh

怡吾色    柔吾聲

Yí wú sè                Róu wú sheng

 

Cha mẹ dù có sai lầm

Bình tâm khuyên giải, vui lòng mẹ cha

Lời khuyên giải thật dịu hòa

Tỉ tê tâm sự mới là con ngoan.

 

21 Gián bất nhân     Duyệt phúc gián

諫不人           悅復諫

Jiàn bù rén                  Yuè fù jiàn

 

22 Hiệu khấp tùy    Thát vô oán

號泣隨         撻無怨

Hào qỉ súi                 Tà wú yuàn

 

Khuyên giải chưa đạt kiện toàn

Chờ khi yên lặng lại làm lần hai

Cho dù khóc lóc, đòn roi

Cũng không oán giận nặng lời mẹ cha.

 

23 Thân hữu tật     Dược tiên thưởng

親有疾        藥先嘗  

Qin yỏu jí                   Yào xian cháng

 

24 Trú dạ thị           Bất ly sàng

晝夜侍      不離床

Zhòu yè shì             Bù lí chuáng  

               

Mẹ cha khi ốm đau nằm

Dâng thang thuốc phải nếm xem thế nào

Ngày đêm chớ có nhãng sao

Luôn bên giường bệnh khác nào chẳng ly.

 

25 Tang tam niên   Thường bi yết

喪三年         常悲咽  

Sang san nián          Cháng bei yè

 

26 Cư sở biến      Tửu nhục tuyệt

居處變      酒肉絕

Ju chù biàn           Jỉu ròu jué

 

27 Tang tận lễ     Tế tận thành

喪儘禮       祭儘誠

Sang jin lỉ              Jì jìn chéng

 

28 Sự tử giả          Như sự sinh

事死者      如事生

Shì sỉ zhẻ               Rú shì sheng

 

Thọ tang chịu đúng ba năm

Nhớ ơn cha mẹ, trong tâm ngậm ngùi

Ba năm hạn chế hỉ vui

Tuyệt cấm bia rượu thịt xôi linh đình

Tang chế theo phép mà làm

Giỗ kỵ là ở hoàn toàn thành tâm

Dù Người  khuất núi lâu năm

Đối đãi vẫn giống còn trong đời thường.

 

Bài 2: Đễ với ngoài  出則弟 Chu zé dì

 

29 Huynh đạo hữu          Đệ đạo cung

兄道友                 弟道恭

Xiong dào yỏu                   Dì dào gong

 

30 Huynh đệ mục             Hiếu tại trung

兄弟睦                  孝在中

Xiong dì mù                        Xiào zài zhong

 

Làm anh phải biết thương em

Làm em phải biết kính tôn anh mình

Anh em hòa mục thuận tình

Đó chính là hiếu chúng mình mẹ cha

 

31 Tài vật khinh             Oán hà sinh

財物輕                 怨何生

Cái wù qing                      Yuàn hé sheng

 

32 Ngôn ngữ nhẫn    Phẫn tự mẫn

言語忍             忿自泯

Yán yủ rẻn                     Fèn zì mỉn  

                 

Anh em coi nhẹ của, tiền

Chẳng bao giờ để oán hờn nảy sinh

Anh em lời lẽ chân tình

Ba điều thắc mắc chẳng rình ở lâu

 

33 Hoặc ẩm thực     Hoặc tọa tẩu

或飲食            或坐走

Huò yỉn shí                   Huò zuò zỏu

 

34 Trưởng giả tiên     Ấu giả hậu

長者先             幼者后

Zhảng zhẻ xian             Yòu zhẻ hòu

 

Khi ăn, khi đứng, khi ngồi

Lễ phép nhường nhịn anh, tôi mới là

Ưu tiên dành để người già

Phần sau cho trẻ mới là khiêm cung.

 

35 Trưởng hô nhân    Tức đại khiếu

長呼人               即代叫

Zhảng hu rén                  Jí dài jiào

 

36 Nhân bất tại        Kỷ tức đáo

人不在           已即到

Rén bú zài                   Jỉ jí dào

 

Nghe anh lên tiếng gọi người

Nghe được lập tức trả lời làm thay

Nếu người không có, mình thay

Lập tức tự đến xem hay thế nào

 

37 Xưng tôn trưởng     Vật hô danh

稱尊長               勿呼名

Cheng zun zhảng            Wù hu míng

 

38 Đối tôn trưởng     Vật kiến năng

對尊長           勿見能

Dùi zun zhảng              Wù jiàn néng

 

Gọi anh lớn chớ gọi tên

Anh lớn uyên bác, chớ nên khoe mình

 

39 Lộ ngộ trưởng    Tật xu ấp

路遇長           疾趨揖   

Lù yù zhảng                Jí qu yi   

                                

40 Trưởng vô ngôn    Thoái cung lập

長無言               退恭立

Zhảng wú yán                Tùi gong lì

 

41 Kỵ hạ mã        Thừa hạ xa

騎下馬     乘下車

Qí xià mả               Chéng xià che

 

42 Quá do đãi        Bách bộ dư

過猶待        百步余

Guò yóu dài              Bải bù yú                   

 

Giữa đường mà gặp đàn anh

Tiến lên một bước, cất nhanh tiếng chào

Nếu anh chưa ngỏ lời nào

Lùi ngang một bước, đợi trao lệnh truyền

Cưỡi ngựa, xe phải xuống liền

Anh trăm bước khỏi, mới quyền tiếp đi

 

43 Trưởng giả lập    Áu vật tọa

長者立           幼勿坐

Zhảng zhẻ lì                 You wù zùo

 

44 Trưởng giả tọa    Mệnh nãi tọa

長者坐           命乃

Zhảng zhẻ zuò             Mìng nải zùo

 

45 Tôn trưởng tiền    Thanh yếu đê

尊長前            聲要低

Zun zhảng qián           Sheng yào di

 

47 Đê bất vắn       Khước phi nghi

低不聞      卻非宜

 Di bù wén             Què fei yí

 

Anh đứng, em chớ có ngồi

Anh ngồi cho lệnh, em tôi mới ngồi

Đứng trước anh, nói nhỏ thôi

Chớ quá lí nhí thành tôi bất nghì

 

48 Tiến tất xu          Thoái tất trễ

進必趨        退必遲

Jìn bì qu                    Tùi bì chí

 

49 Vấn khởi đối    Thị vật di

問起對        視勿移

Wèn qỉ dùi               Shì wù yí

 

Gặp anh thì bước đến nhanh

Cáo lui thì lại quay lưng nhẹ nhàng

Anh hỏi, đứng dậy trả lời

Mắt nhìn thẳng mắt, chớ dời ngó nghiêng

 

50 Sự chư phụ        Như sự phụ

事諸父          如事父

Shì zhu fù                    Rú shì fù

 

51 Sự chư huynh    Như sự huynh

事諸兄          如事兄

Shì zhu xiong              Rú shì xiong

 

Đối đãi chú bác như cha

Đối anh em họ như là ruột thân

 

Bài 3: Cẩn thận   謹慎      Jỉn shèn

 

52 Triêu khởi tảo           Dạ miên trễ

朝起早    夜眠遲

Zhao qỉ zảo                      Yè mián chí

 

53 Lão dị chí               Tích thử thì

老易至   惜此時

Lảo yì zhì                        Xi cỉ shí

 

Sáng dậy sớm, tối ngủ khuya

Đời người ngắn ngủi chẳng thừa thời gian

Qúi từng phút để học, làm,

Để mà vui sống trần gian làm người.

 

54 Thìn tất quán            Kiêm thấu khẩu

晨必盥    兼漱口 

Chén bì guàn                   Jian shù kỏu 

     

55 Tiện niệu hồi         Triếp tịnh thủ    

便溺回   輒凈手

Biàn niào húi                Zhé jìng shỏu      

 

Sáng dậy rửa mặt đánh răng

Vệ sinh xong phải biết đằng rửa tay

Tập thành thục thói quen này

Từ nhỏ đến lớn ngày ngày khỏe an.

 

56 Quan tất chính      Nữu tất kết

冠必正   紐必結  

Guan bì zhèng             Nỉu bì jié

 

57 Vát dữ lũ               Cụ khẩn thiết

襪與屨   俱緊切  

Wà yủ jù                        Jù jỉn qiè

 

Mũ đội ngay ngắn trên đầu

Áo quần mỗi cúc mỗi khâu gọn gàng

Tất, giày đều phải chỉnh trang

Dây giày, quai dép rõ ràng chặt, ngay.

 

58 Trí quan phục      Hữu định vị

置冠服           有定位

Zhì guan fú                   Yỏu dìng wèi

 

59 Vật loạn đốn         Chí ô uế

勿亂頓            致污穢

Wù luàn dùn                 Zhi wu hùi

 

Áo quần, giày cởi hàng ngày

Treo, đặt đúng chỗ thẳng ngay lối hàng

Chớ để lộn xộn loạn hoang

Tránh làm hỏng, bẩn hành trang của mình.

 

60 Y quí khiết           Bất quí hoa

衣貴潔   不貴華

Yi gùi jié                        Bú gùi húa

 

61 Thượng tuần phần     Hạ xưng gia

上循分                   下稱家

Shang xún fèn                     Xià cheng jia

 

Y phục quí ở sạch, ngay

Chẳng phải quí ở hoa này hòe kia

Khít thân, hợp tuổi là vừa

Còn theo hoàn cảnh, chẳng đua chẳng đòi.

 

62 Đối ẩm thực          Vật kiếm trạch

對飲食   勿揀擇

Dùi yỉn shí                      Wù jiản zé

 

63 Thực thích khả     Vật quá tắc

食適可            勿過則

Shí shì kẻ                      Wù guò zé

 

Ăn thì chớ chọn, đừng vòi

Kén gì những món chẳng coi là lành

Ăn vừa đủ, chớ no căng

Ăn no nê quá hại gan, dạ dày.

 

64 Niên phương thiếu     Vật ẩm tửu

年方少     勿飲酒

Nián fang shào                     Wù yỉn jỉu

 

65 Ẩm tửu túy                Tối vị sửu

飲酒醉    最為丑

Yỉn jỉu zùi                           Zùi wéi chỏu

 

Trẻ tuyệt đối cấm rượu, bia

Lỡ khi say xỉn thì chưa chủ mình

Thật là mất mặt, người khinh

Làm loạn nhân cách, sự tình rối ren.

 

66 Bộ tùng dung     Lập đoan chính

步從容   立端正

Bù cóng róng               Lì duan zhèng

 

67 Ấp thâm viên     Bái cung kính

揖深圓  拜恭敬

Yi shen yuán              Bài gong jìng

 

Đi không chậm, chẳng vội vàng

Thong dong rảo bước, đứng càng thẳng thân

Thi lễ thì phải khom lưng

Bái lạy thì phải kính cung, khiêm nhường

 

68 Vật tiễn vực         Vật phả ỷ

勿踐閾   勿跛倚

Wù  jiàn yù                      Wù bỏ yỉ

 

69 Vật ki cứ              Vật dao bễ        

勿箕踞   勿搖髀

Wù ji jù                           Wù yáo bì 

           

Vào ra chớ dẫm ngạch ngang

Đừng để cơ thể nặng bằng một chân

Chớ rung đùi, chớ banh vành

Ngồi mà dạng háng xấu danh học trò

 

70 Hoãn kiết liêm       Vật hữu thanh   

緩揭簾   勿有聲

Huản jie lián                  Wù yỏu sheng

 

71 Khoan chuyển loan     Vật xúc lăng

寬轉彎                     勿觸棱

Kuan zhuản wan                   Wù chù léng

       

Vào ra mở cửa nhẹ nhàng

Đừng để cửa động tiếng vang làm ồn

Đi quay nên rộng cái vòng

Tránh va đụng phải vật dùng gây đau

 

72 Chấp hư khí         Như chấp doanh   

執虛器   如執盈   

Zhí xu qì                          Rú zhí yíng    

                

73 Nhân hư thất    Như hữu nhân

人虛室  如有人

Rén xu shì                 Rú yỏu rén

 

Đồ trống, đồ đựng như nhau

Bưng phải ngay ngắn, đừng vênh ngược chiều

Vào phòng dù chẳng có người

Cũng không đụng chạm đồ dùng sẵn im

 

74 Sự vật mang     Mang đa thác

事勿忙  忙多錯

Shì wù máng             Máng duo cùo

 

75 Vật úy nan          Vật khinh lược

勿畏難  勿輕略

Wù wèi nán                Wù qing lùe

 

Làm việc chớ có vội vàng

Vội thì dễ hỏng, dễ làm việc sai

Việc nhỏ cẩn thận vẫn hay

Khó phải biết khó, nguy thì hiểu nguy.

 

76 Đấu náo trường     Tuyệt vật cận

斗鬧場    絕勿近

Dòu nào chảng               Jué wù jìn

 

77 Tà tịch sự        Tuyệt vật vấn   

邪僻事  絕勿問  

Xié pì shì                Jué wù wèn    

          

Tránh xa đánh lộn, chửi nhau

Những việc bất chính chẳng đâu hợp tình

Đừng có tham dự tình hình

Dây dưa vào đó làm mình xấu xa

 

78 Tương nhập môn    Vấn thục tồn

將入門    問孰存

Jiang rù mén                    Wèn shú cún

 

79 Tương thượng đường    Thanh tất giương

將上堂      聲必揚

Jiang shàng táng                   Sheng bì yáng

 

Đến người, gõ cửa, hỏi vang

Chỉ khi cho phép mới vâng bước vào

Vào rồi phải cất tiếng chào

Để mọi người biết đã vào bên trong

 

80 Nhân vấn thùy            Đối dĩ danh

人問誰     對以名

Rén wèn shéi                       Dùi yỉ míng

 

81 Ngô dữ ngã                Bất phân minh

吾與我    不分明

Wú yủ wỏ                          Bù fen míng

 

Người trong có hỏi là ai

Hãy xưng tên họ mình khai rõ ràng

Đừng để người hỏi hoang mang

Suông xưng “tôi!” chẳng rõ ràng là ai

 

82 Dụng nhân vật              Tu minh cầu

用人物     須明求

Yòng rén wù                         Xu míng qíu

 

83 Thẳng bất vấn           Tức vi thâu

倘不問    即為偷

Tảng bú wèn                  J í wéi tou

 

Muốn dùng đồ của người ta

Đều phải gặp mặt hỏi qua rõ ràng

Người ta ưng thuận mới mang

Lấy dùng không hỏi cũng bằng trộm đêm

 

84 Tá nhân vật              Cập thời hoàn

借人物    及時還

Jìe rén wù                      Jí shí huán

 

85 Hậu hữu cấp                Tá bất nan

后有急     借不難

Hòu yỏu ji                             Jiè bù nán

 

Mượn dùng phải biết giữ gìn

Đúng hẹn trả lại còn nguyên vẹn tròn

Trả không đúng hẹn rõ ràng

Lần sau khó mượn vì rằng bất tin

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

<Đệ tử qui> tiếp

 

Bài 4: Tín xìn

 

86 Phàm xuất ngôn    Tín vi tiên

凡出言               信為先

Fán chu yán                   Xìn wéi xian

 

87 Trá dữ vọng      Hề khả yên      

詐與妄        奚可焉  

Zhà yủ wàng             Xi kẻ yan 

             

88 Thoại thuyết đa    Bất như thiểu

話說多            不如少

Hùa shuo duo               Bù rú shảo

 

89 Duy kì thị      Vật nịnh xảo

惟其是   勿佞巧

Wéi qí shì            Wù nìng qiảo

 

90 Gian xảo ngữ     Uế ô từ

奸巧語          穢污詞

Jian qiảo yủ              Hùi wu cí

 

91 Thị tỉnh khí       Thiết giới chi

市井氣     切戒之

Shì jỉng qì                 Qiè jie zhi

 

Lời nói ra phải thật thà

Lắm lời cũng chẳng bằng ta kiệm lời

Nói hoang, nói khéo chẳng thôi

Người nghe càng ghét những lời nịnh gian

Chớ nên xảo trá, nói càn

Những lời tục tĩu phải càng kỵ kiêng

 

92 Kiến vị chân    Vật khinh ngôn

見未真      勿輕言

Jiàn wèi zhen         Wù qing yán

 

93 Tri vị đích         Vật khinh truyền

知未的      勿輕傳

Zhi wèi de              Wù qing chuan

 

94 Sự phi nghi       Vật khinh nặc   

事非宜         勿輕諾

Shì fei yí                     Wù qing nùo

 

95 Cẩu khinh nhược    Tiến thoái thác

茍輕諾                 進退錯

Gỏu qing nuò                  Jìn tùi cùo    

            

Việc chưa rõ chớ huyên thiên

Nghe sự vô cớ chớ truyền cho ai

Việc xấu chớ để lọt tai

Hứa làm việc xấu mắc hoài gian nan

 

96 Phàm đạo tự       Trọng thả thư

凡道字           重且舒

Fán dào zì                   Zhòng qiẻ shu

 

97 Vật cấp tật     Vật mơ hồ

勿急疾    勿模糊

Wù jí ji                   wù mó hú

 

98 Bỉ thuyết trường    Thử thuyết đoản

彼說長              此說短

Pỉ shuo cháng               Cỉ shuo duản

 

99 Bất quan kỷ       Mạc nhàn quản

不關己          莫閑管

Bù guan jỉ                  Mò xián guản

 

Nói chuyện lời phải rõ ràng

Chớ có liến thoắng làm hoang lòng người

Khi nói ngược, lúc nói xuôi

Người nghe chẳng hiểu đầu đuôi thế nào

Việc không đụng chạm đến tao

Thì tao cũng chớ ôm vào làm chi

Ôm rơm rặm bụng còn gì

Lại thêm đức hạnh mất đi đằng nào

 

100 Kiến nhân thiện             Tức tư tề

見人善                          即思齊

Jiàn rén shàn                           Jí si qí

 

101 Tòng khứ viễn     Dĩ tiệm khề      

縱去遠             以漸躋

Zòng qù yuản                Yi jiàn jì

 

102 Kiến nhân ác         Tức nội tỉnh

見人惡                 即內省

Jiàn rén è                         Jí nèi xỉng

 

103 Hữu tắc cải             Vô gia cảnh

有則改                 無加警

Yỏu zé gải                        Wú jia jỉng

 

Thấy người làm thiện noi theo

Mình hãy cố gắng để sao như người

Dù rằng khoảng cách xa xôi

Dần dần rồi cũng tới nơi thôi mà

Thấy người làm việc xấu xa

Soi mình hành động đã là đúng chưa

Xét theo cái lý cho vừa

Đề phòng, cảnh giác để ngừa mình sai

 

104 Duy đức học         Duy tài nghệ

唯德學                唯才藝

Wéi dé xué                      Wéi cái yì

 

105 Bất như nhân      Đương tự lệ      

不如人               當自礪

Bù rú rén                        Dang zì lì

 

Làm người phải đạt bốn điều:

Đạo đức, học vấn, tài năng, tay nghề

Nếu mà chưa đạt trọn hề

Dốc sức cố gắng mải mê trau dồi

 

 

106 Nhược y phục            Nhược ẩm thực

若衣服                    若飲食

Ruò yi fu                                Ruò yỉn shí

 

107 Bất như nhân               Vật sinh thích    

不如人                       勿生戚

Bù rú rén                                  Wù sheng qi

 

Ăn mặc còn kém người ta

Cũng đừng lo lắng, xót xa làm gì

Tu dưỡng đức độ, nghĩa nghì

Điều quan trọng nhất để thì người sang

 

108 Vắn quá nộ       Vắn dự lạc

聞過怒          聞譽樂

Wén guò nù                Wén yù lè

 

109 Tổn hữu lai           Ích hữu khước

損友來               益友卻

Sủn yỏu lái                      Yì yỏu què

 

Nghe chê sai lại bực mình

Nghe lời tán tụng, tỏ tình sướng vui

Nếu mà như vậy ôi thôi

Bạn thơm nó bỏ, bạn hôi nó mừng

 

 

110 Vắn dự khủng      Vắn quá hân

聞譽恐              聞過欣

Wén yù kỏng                  Wén guò xin

 

112 Trực lượng sĩ         Tiệm tương thân   

直諒士                漸相親

Zhí liàng shì                     Jiàn xiang qin

 

Nghe người khen giỏi, bất an

Nghe chê khuyết điểm, hân hoan nhận liền

Thành khẩn như vậy là tiên

Con người thế ấy bạn hiền dần đông

 

113 Vô tâm phi        Danh vi thác

無心非          名為錯

Wú xin fei                    Míng wéi cuò

 

114 Hữu tâm phi          Danh vi ác

有心非              名為惡

Yỏu xin fei                       Míng wéi è

 

115 Quá năng cải      Qui ư vô

過能改            歸于無

Guò néng gải              Gui yú wú

 

116 Thẳng yểm thị    Tăng nhất cô     

倘掩飾             增一辜

Tảng yản shì                 Zeng yí gu

 

Vô ý làm hỏng là sai

Cố ý làm xấu, ác tai rành rành

Làm sai dám sửa cho đành

Người ta cũng hiểu rằng anh thật thà

Làm sai còn dấu, gian tà

Không thừa nhận lỗi, trượt đà càng sai.

 

Bài 5: Phàn ái chúng  泛愛眾    Fàn ài zhòng

 

117 Phàn thị nhân        Giai tu ái

凡是人                皆須愛

Fàn shì rén                      Jie xu ài

 

118 Thiên đồng phúc      Địa đồng tải     

天同覆                    地同載

Tian tóng fù                         Dì tóng zài

 

119 Hành cao giả      Danh tự cao

行高者             名自高

Xíng gao zhẻ                Míng zì gao

 

120 Nhân sở trọng       Phi mạo cao

人所重                非貌高

Rén suỏ zhòng               Fei mào gao

 

Loài người cùng đội trời chung

Người với người hãy biết cùng thương nhau

Người mà hành động thượng cao

Tiếng tăm người đó thế nào cũng lên

Con người trọng ở đức hiền

Không phải tướng mạo ưu tiên hàng đầu

 

121 Tài đại giả          Vọng tự đại

才大者             望自大

Cái dài zhẻ                  Wàng zì dà

 

122 Nhân sở phục      Phi ngôn đại

人所服              非言大

Rén suỏ fú                      Fei yán dà

 

Người mà tài học dồi dào

Tự nhiên danh vọng cũng cao hơn người

Bởi thực học mới thực tài

Không phải tự thổi, tự bày mà nên

 

123 Kỷ hữu năng      Vật tự tư

己有能             勿自私

Suỏ yỏu néng               Wù zì si

 

124 Nhân hữu năng   Vật khinh tư  

人有能             勿輕訾

Rén yỏu néng                Wù qing zi

 

125 Vật siển phú       Vật kiêu bần  

勿諂富            勿驕貧

Wù chản fù                  Wù jiao pín

 

126 Vật ngán cố      Vật hỉ tân

勿厭故          勿喜新

Wù yàn gù                  Wù xỉ xin

 

Có tài thì chớ mưu tư

Hãy làm việc có ích vì nhân dân

Cũng đừng ghen tỵ tài năng

Khiêm tốn học hỏi cho bằng người ta

Đối người giàu chớ dèm pha

Đối nghèo cũng chớ kiêu sa tỵ hiềm

Đừng chán bạn cũ xưa hiền

Đừng chỉ ham mới là liền kết giao

 

127 Nhân bất nhàn   Vật sự giảo

人不閑            勿事攪

Rén bù xián                  Wù shì jiảo

 

128 Nhân bất an       Vật thoại nhiễu

人不安            勿話擾

Rén bù an                    Wù hùa rảo

 

129 Nhân hữu đoản    Thiết mạc kiết   

人有短               切莫揭

Rén yỏu duản                Qiè mò jie

 

130 Nhân hữu tư        Thiết mạc thoại

人有私              切莫說

Rén yỏu si                      Qiè mò shuo

 

Người đang bận chớ quấy rầy

Người đang bất ổn chớ gây chuyện nhàm

Người ta có tật không hay

Chớ đem chuyện đó phô bày lung tung

Người ta có chuyện trong lòng

Chớ đem chuyện họ nói bung ra ngoài

 

131 Đạo nhân thiện    Tức thị thiện

道人善               即是善

Dào rén shàn                Jí shì shàn

 

132 Nhân tri chi          Dũ tư miễn   

人知之              愈思勉

Rén zhi zhi                    Yù si miản

 

Tán dương người khác thiện hành

Đó là chứng tỏ chính mình đức cao

Người ta biết vậy về sau

Càng thêm cố gắng làm mau điều lành

 

133 Giương nhân ác   Tức thị ác

揚人惡               即是惡

Yáng rén è                      Jí shì è

 

134 Tật chi thậm     Họa thả tác

疾之甚           禍且作

Ji zhi shèn                   Huò qiẻ zuò

 

Tuyên truyền cái ác của người

Khác gì mình cũng thuộc nòi sói lang

Khoe khoang chuyện ác càng hăng

Ắt sẽ rước họa xâm lăng có ngày

 

135 Thiện tương khuyến    Đức giai kiện

善相勸                       德皆建

Shàn xiang quàn                     Dé jie  jiàn

 

136 Quá bất qui          Đạo lưỡng khuy

過不規              道兩虧

Guò bù gui                    Dào liảng kui

 

Bạn bè khuyến thiện với nhau

Thì ắt đức hạnh cả hai đều cường

Bạn bè thiếu thiện hỗ tương

Ăt là đạo đức đôi đường đều suy

 

137 Phàm thủ dữ     Qúi phân hiểu

凡取與            貴分曉

Fán qủ yủ                     Gùi fen xiảo

 

138 Dữ nghi đa        Thủ nghi thiểu

與宜多           取宜少

Yủ y í duo                    Qủ yí shảo

 

Cho người với lấy của người

Đều phải phân biệt đôi nơi rõ ràng

Lấy ít một chút là nhường

Cho nhiều một chút là thương con người

 

139 Tương gia nhân   Tiên vấn kỷ

將加人               先問己

Jiang jia rén                    Xian wèn jỉ

 

140 Kỷ bất dục       Tức tốc kỷ

己不欲         急速己

Jỉ bú yù                     Jí sù jỉ

 

Việc gì muốn bắt người làm

Thử xem việc ấy mình còn muốn mê

Nếu mà việc ấy mình chê

Đừng đem việc ấy gạt về người ta

 

141 Ân dục báo     Oán dục vong

恩欲報         怨欲忘

En y ù bào                yu àn yù wàng

 

142 Báo oán đoản    Báo ân trường

抱怨短             報恩長

Bào yuàn duản             Bào en cháng

 

Việc gì người đối mình sai

Hãy quên đi chớ để hoài trong tâm

Ơn huệ thì nhớ trong lòng

Tìm khi báo đáp là trong rộng tình

 

143 Đãi tỳ bộc         Thân quí đoan

待婢仆          身貴端

Dài bì pú                     Shen gùi duan

 

144 Tuy quí đoan     Từ nhi khoan

雖貴端            慈而寬

Súi gùi duan               Cí ér kuan

 

145 Thế phục nhân    Tâm bất nhiên

勢服人                心不然

Shì f ú rén                       Xin bù rán

 

146 Lý phục nhân       Phương vô ngôn

理服人              方無言

Lỉ fú rén                           Fang wú yán

 

Đoan chính đối với người làm

Nhân từ rộng rãi là hàng đầu tiên

Nếu mà chỉ dựa thế, quyền

Người ta khẩu phục, tâm nguyền thì không

Nếu dùng đạo lý giảng thông

Người ta khâm phục mà không nói gì.

 

Bài 6: Thân nhân  親仁    Qin rén

 

147 Đồng thị nhân     Loại bất tề

同是人             類不齊

Tóng shì rén                  Lèi bù qí

 

148 Lưu tục chúng      Nhân giả hi

流俗眾              仁者稀

Líu sú zhòng                  Rén zhẻ xi

 

Cũng người, trăm hạng bất đồng

Lưu manh, dung tục cũng đông, khá nhiều

Kẻ nhân đức lại hiếm hoi

Cho nên chọn bạn đáng chơi mà gần

 

149 Qủa nhân giả    Nhân đa úy                     

果仁者          人多畏   

Guỏ rén zhẻ               Rén duo wèi

 

150 Ngôn bất húy      Sắc bất mị

言不諱            色不媚

Yán bú hùi                    Sè bú mèi

 

Người cao thượng có lòng nhân

Cho nên mới được nhân dân kính nhường

Bởi vì họ nói trực ngôn

Chẳng khi nào nói bông tuồng mị dân.

 

151 Năng thân nhân    Vô hạn hảo

能親仁                無限好

Néng qin rén                     Wú xiàn hảo

 

152 Đức nhật tiến      Qúa nhật thiểu

德日進             過日少

Dé rì jìn                          Guò rì shảo

 

Gần họ như thể gần đèn

Học được nhiều tốt mà nên con người

Đức hạnh càng được đắp bồi

Lỗi lầm sai trái càng thời ít đi.

 

153 Bất thân nhân   Vô hạn hại

不親仁           無限害

Bù qin rén                   Wú xiàn hài

 

154 Tiểu nhân tiến    Bách sự hoại

小人進            百事壞

Xiảo rén jìn                    Bải shì huài

 

Không gần nhân đức hại chi

Để cho kẻ xấu nó trì, nó lôi

Còn đâu thành quả trên đời

Chính tà phải biết rạch ròi mà phân.

 

 

Bài 7: Dư lực học văn  余力學文    Yú lì xué wén

 

155 Bất lực hành     Đán học văn

不力行           但學文

Bú lì xué                      Dàn xué wén

 

156 Trưởng phù hoa       Thành hà nhân

長浮華                    成何人

Zhảng fú húa                       Chéng hé rén

 

Học mà như mọt gặm thư

Phù hoa chữ nghĩa vi vu mây trời

Làm sao thành thạo nên người

Con người hữu dụng trong đời làm ăn.

 

157 Đán lực hành     Bất học văn

但力行            不學文

Dàn lì xíng                     Bù xué wén

 

158 Nhiệm kỷ kiến     Muội lý chân

任己見               昧理真

Rèn jỉ jiàn                       Mèi lỉ zhen

 

Nếu mà chỉ cắm cúi làm

Tự mình kiến giải, chẳng thèm đọc thư

Chẳng hiểu đạo lý là chi

Hỏng nhiều được ít, khác gì thằng ngu.

 

159 Độc thư pháp     Hữu tam đáo

讀書法            有三到

Dú shu fả                      Yỏu san dào

 

160 Tâm nhãn khẩu     Tín giai yếu

心眼口                 信皆要

Xin yản kỏu                       Xìn jie yào

 

161 Phương độc thử   Vật mộ bỉ

方讀此                勿慕彼

Fang dú cỉ                       Wù mù bỉ

 

162 Thử vị trung             Bỉ vật khởi

此未終                 彼勿起

Cỉ wèi zhong                     Bỉ wù qỉ

 

Đọc sách có ba cái ghi

Mắt nhìn., tâm ký, miệng thì đọc vang

Sách này đang đọc từng trang

Đừng nghĩ sách khác nó làm phân tâm

Sách này mà chửa đọc xong

Bỏ đọc sách khác, mất tong công trình

Đọc cuốn sách phải chuyên tâm

Mới đạt thành quả uyên thâm sách bày.

 

163 Khoan vi hạn      Khẩn dụng công

寬為限             緊用功

Kuan wéi xiàn             Jỉn yòng gong

 

164 Công phu đáo     Trì tắc thông

功夫到               滯塞通

Gong fu dào                  Zhì sé tong

 

Mỗi kỳ học phải rộng khoan

Tuy nhiên phải tận dụng toàn thời gian

Bỏ công phu, thấy rõ ràng

Chưa hiểu đang tắc, vẫn làm cho thông.

 

165 Tâm hữu nghi     Tùy trát ký            

心有疑             隨札記

Xin yỏu yí                      Súi zhá jì

 

166 Tựu nhân gian      Cầu xác nghĩa

就人間               求確義

Jiù rén jian                      Qíu què yì

 

Đọc sách thấy chỗ còn nghi

Lấy bút ghi lại để thì hỏi han

Đến khi hiểu nghĩa rõ ràng

Đọc sách như vậy mới mang ích nhiều.

 

167 Phòng thất thanh      Tường bích tịnh

房室清                    墻壁淨

Fáng shì qing                     Qiáng bì jìng

 

168 Kỷ án khiết         Bút nghiên chính

椅案潔             筆硯正

Yỉ àn jié                       Bỉ yàn zhèng

 

169 Mực mài thiên      Tâm bất đoan

墨磨偏               心不端

Mò mó pian                   Xin bù duan

   

170 Tự bất kính           Tâm tiên bịnh

字不敬               心先病

Zì bú jìng                         Xin xian bìng

 

Phòng học sắp xếp gọn gàng

Vách tường, văn cụ, chỉnh trang vừa tầm

Lọ mực mà bị để nghiêng

Chứng tỏ tâm trí còn xiên chưa đình

Chữ viết mà chẳng nên hình

Chứng tỏ tâm trí của mình bất an.

 

171 Liệt điển tịch        Hữu định sở

列典籍             有定處

Liè diản jí                        Yỏu dìng chù

 

172 Độc khan tốt      Hoàn nguyên sở

讀看畢            還原處

Dú kàn bì                     Huán yuán chù

 

Điển tịch xếp có lối hàng

Dùng xong đặt lại như nguyên lúc đầu

Khi cần tra cứu về sau

Sẽ tiện tìm kiếm khỏi lâu thì giờ.

 

173 Tuy hữu cấp      Quyển thúc tề    

雖有急          卷束齊

Súi yỏu jí                     Juản shù qí

 

174 Hữu khuyết hoại      Tựu bổ chi

有缺壞                   就補之

Yỏu que huài                      Jìu bủ zhi

 

175 Phi thánh thư    Bính vật thị

非圣書          屏勿視

Fei shèng shu            Bỉng wù shì   

  

176 Tế thông minh    Hoại tâm chí

蔽聰明             壞心志

Bì cong míng                 Huài xin zhì   

       

177 Vật tự bạo      Vật tự khí

勿自暴       勿自棄

Vù zì bào                 Vù zì qì    

                         

178 Thánh dữ hiền         Khả  thuần chí

圣與賢                  可馴致

Shèng yủ xián                   Kẻ xún zhì

 

Qúi sách như trọng người thầy

Trang nào bị hỏng kịp thời sửa ngay

Sách nhảm chớ có cầm tay

Đọc hại trí tuệ, không hay tâm tình

Tự bạo – thô lỗ với mình

Tự khi – coi rẻ chính mình tự ti

Phải biết tự ái một khi

Chớ cam trụy lạc, du di, khinh nhờn

Tích tiểu thành đại dần dần

Có học thì sẽ thành thân thánh hiền.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Giữa lúc đang

 

Khái niệm “giữa lúc đang” ở tiếng Anh là dùng động từ thêm đuôi “ing”, Ví dụ, làm là “do” thì giữa lúc đang làm là “doing”. Tiếng Việt thì khái niệm “giữa lúc đang” được thể hiện bằng những  từ trong nôi khái niệm “giữa lúc đang”: Ri = Kỳ = Khi = Thì = Thế = Thời = Thủa = Rứa = Trửa = Giữa = Gian = Dang = Dở = Dở Dang (sản phẩm giữa lúc đang gia công gọi là “sản phẩm dở dang” là từ chuyên môn trong kinh tế học). Những từ đôi làThời Gian, Thời Kỳ, Thời Thế. Tiếng Nhật gọi Khi là “Ki” và Thời Kỳ là “Tô Ki” nghĩa là lúc. Ví dụ: Trong câu “Tôi ăn cơm Thì nó đến gặp tôi” hay “Tôi ăn cơm Dở Dang nó đến gặp tôi” có từ Thì hay từ Dở Dang là làm chức năng như đuôi “- ing” cho động từ ăn. Trong Nôi khái niệm  trên, Hán ngữ cũng dùng những chữ Thì, Gian như đuôi “ing” của động từ, ví dụ dịch hai câu trên sang Hán ngữ là: “Ngã ngật phạn Thì tha lai kiến ngã 我吃饭时他来见我” hay “Ngã ngật phạn Gian tha lai kiến ngã 我吃饭间他来见我”, đồng thời Hán ngữ cũng dùng từ “Trửa” (= Giữa, tiếng miền Trung) như đuôi “ing”, ví dụ câu trên:”Ngã ngật zhe phạn tha lai kiến ngã mượn chữ Tráo để dùng sau động từ Ngật như đuôi “ing”, Hán ngữ phát âm là”Trưa” [Zhe ] . Câu trên tiếng miền Trung là: “Tôi ăn cơm Rứa hắn đến gặp tôi” hay “Tôi đang ăn Trửa hắn đến gặp tôi”. Rứa = Trửa = Giữa = Giao, đất Giao Chỉ là đất giữa, trong nôi khái niệm trên từ Rứa của miền Trung được cho là từ cổ nhất của tiếng Việt cổ, cho nên mảnh đất Giao Chỉ cổ nhất là mảnh đất miền Trung VN.

 

Mô Tê Răng Rứa là những từ đặc trưng của tiếng miền Trung. 

 

Mô là Zero: Mô = Vô = Bố (tiếng Tày nghĩa là không) = Bộ (tiếng Nam Bộ, ví dụ Chứ Bộ viết bằng chữ Chi Bất) = Bỏ (tức là không, còn nhấn bằng từ đôi Bỏ Bố) = Nỏ (tiếng miền Trung nghĩa là không) = No (tiếng Anh nghĩa là không). Rõ ràng là không, tức “Mô Thật” = Mất = “Thành Mất” = Thất 失, đều là những con số 0. Nhấn từ đôi “Bỏ Mất” = Bất (nghĩa là không). Mô = Vôtương tự như Mùa = Vụ, Mưa = Vũ (tiếng Nhật gọi là Ư-Mê), Mần = Vụ. Cặp đối Mô/Một = 0/1 chính là khái niệm Âm/Dương. Đương nhiên Mô/Một = 0/1  phải có từ khi xuất hiện Vũ Trụ, sự xuất hiện ấy là từ Mặt, sự có Mặt. Mặt nở ra từ dính Mô-Một, rồi tách riêng ra Mô = 0, Một = 1 nên có cặp từ đối Mô/Một = Âm/Dương. Do vậy mới có từ ghép Mặt Trời, Mặt Trăng (hiểu là sự có mặt của Trời, và sự có mặt của Trăng). Nhận thức được Trời, Trăng thì đã là con người chứ không còn là con vật. Sự xuất hiện của con người cũng gọi là Mặt. Nhưng Mặt ấy biết tiếp thu cái Sáng tức lướt lủn “Mặt Sáng” = Mắt. Mắt là nền văn minh, chẳng thế mà từ Tây Tạng đến đạo Cao Đài đều thờ một con Mắt. Con người là Nhân như cái nhân của mỗi hột cây là hạt nhân của di truyền và phát triển, sự xuất hiện con người gắn liền với “Mặt Nhân” = =Mần (có lao động mới thành người). Mần nghĩa là làm của tiếng miền Trung, Mần = Cần = Can = Cam = Làm. Mô = 0, “mô có” là không có, Mô đồng thời chuyển nghĩa thành đại từ nghi vấn Mô? trong tiếng miền Trung.                                                        

 

Tê là con số 2 (như Tê trong tiếng Khơme), trong khi Ni là con số 1. Như thấy rõ trong lịch sử gieo trồng là giống lúa Nếp (Ni) là có trước, giống lúa Tẻ (Tê) là có sau. Số 0 là phủ định, là số Âm thì số 1 là khẳng định, là số Dương nên 1! = Ni!  = Nhỉ! = Nhứt! = =Nhất! = Nhật , Nhật là mặt trời, là Dương. Chữ Nhật Bản , người Nhật đọc là Ni Hôn, người Việt Đông đọc là Níp Pủn.                                                     

 

Răng nghĩa là nói mà nghe chưa rõ, chuyển nghĩa thành đại từ nghi vấn Răng?. Từ nghe chưa rõ đến nghe rõ là “Răng tỏ Tường” = Rằng, Rằng nghĩa là nói rõ. Nôi khái niệm: Răng = Rằng = =Xẵng (nói nhấn giọng) = Xưng = Xướng (nên mới có cụm từ “xướng ngôn viên”). “Ấy” là từ cực kỳ thú vị trong tiếng Việt, như là chỉ cái cụ thể mà lại không rõ ràng, không cụ thể, mà vẫn chưa phải là hỏi, chưa phải là đại từ nghi vấn (ví dụ: “Em cho anh xem cái ấy của em với” thì người ngoài muốn hiểu sao thì hiểu). Để hỏi cho cụ thể số lượng khi chưa biết rõ “Mô Tê” gì thì phải hỏi cái đang “Mù mờ mông muội Ấy” = Mấy?, cụ thể hơn thì là “Mô Ấy” = “Một Ấy” = Mấy?  Trả lời được cái nghi vấn Mấy thì thành ra cụ thể. Đại từ nghi vấn: Mấy = Nấy = Nẩy (tiếng Tày) = Nao = Nào = (nhấn) “Nào Ạ!” = “Nào Dã!” = Nả (tiếng Hán). Chỉ vào mặt hàng hỏi giá bán, người miền Trung sẽ nói: “Mấy đó?” , “Nấy đó?” hay “Răng nấy đó?”, người Tày sẽ hỏi: “Au nẩy?”, Au = Yêu = Yếu nghĩa là lấy, là cần, “Yêu Ngài” = Ái, nên chữ Ái chỉ dành riêng cho con người, tiếng Việt không có khái niệm con vật lại có “ái tình” dù, ví dụ như gà, gà trống “yêu” gà mái một ngày mấy chục lượt.

 

Rứa là từ cùng nôi khái niệm với Thế, như đã nêu ở đoạn trên, nên câu “nói như Rứa” được dịch là nói như Thế (nghĩa đen là nói như “giữa lúc đang” mở miệng ấy mà).

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

                       Đạo Tiên

 

                           Đất/Trời = Tất/Cả thiết Ta

                    Nội tâm – thiên phủ bao la vô cùng

                           Đó là sinh mệnh vĩnh hằng:

                    Linh hồn còn mãi với cùng Tự Nhiên

                        “ Tự Nhiên”, Đạo lướt là “Tiên”

                  “Gắng Đời” thiết “gởi”, “Vãng Tiên” thiết “viền”  *

                       Tự Nhiên – Vũ Trụ  -  Rộng ghê

                   “Rộng Hề!” = Rồng, ấy tôn thờ là Cha

                        Rồng Tiên = Cha Mẹ, chính là

                    Sinh ra người Việt là Ta với Mình

                        Ta Mình = Cha Mẹ: gia đình

                     Xưng hô đổi lẫn Ta Mình, Mình Ta:

                          “Mình về Mình có nhớ Ta

                    Người ơi, Người ở, ới a đừng về!”

                         Trong Mình hai cái Minh hề  * *

                   Kẻ Minh = Kinh , ấy chính là Việt nhân

                     Minh chia hai nửa Thân Thân

                   0 + 0 = 1: Thân + Thân = Thần

                     Kinh đô Huế - đất Thần Kinh 神京            

                Đền thờ Thần nghĩa là vinh Con Người                     

                       Đạo Việt nhân bản muôn đời               

                Kiên cường tồn tại giống nòi Việt Nam.

 

                  “ Nam Việt”  = Niết, “Bê-tô Nan” = Bàn ***

 

                  Niết Bàn = Vũ Trụ = Tự Nhiên = Tiên Rồng.

 

 

Chú thích:

*/ Gởi: cuộc đời còn gọi là sống gửi. Viền = Viềng = Về,  còn gọi là qui tiên.

 

* */Hai cái Minh là:  Minh dương và Minh âm.

 Minh dương nghĩa là “Nguyệt Nhật” = Ngất (nghĩa là cao)  và “Nhật Nguyệt” = Nhiệt (nghĩa là ánh sáng , tiếng Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “lửa”), tức là “Cao + Ánh” = Canh = Kinh. Kinh = Canh = Cao Ánh = Ngất Nhiệt. Ngất Nhiệt thiết Nghiệt. Nghiệt phiên thiết Người Việt. Do vậy Kinh chính là Người Việt. Chữ Kinh gồm Đầu + Mình + Chân Tay , chính là Con Người tức “Con Minh” = Kinh = “Cao Ánh” = Canh (có tư duy – cao, và biết dùng lửa – ánh).

Minh âm là Mịch + Và + Lâu, là thế giới âm, ảnh ảo, nên phải phản thiết là “Mầu + Và + Linh” = Minh

 

*** Chữ “Việt Nam”, tiếng Nhật đọc là “Bê-tô Nan”. Bê tô Nan thiết Bàn. Nam Việt thiết Niết.

 

 

Hiểu nghĩa ba chữ nho: Hồ Chí Minh

  Ba chữ Hồ Chí Minh 胡 志 明 chính thể hay giản thể đều viết như nhau, không đổi.

 Chữ Minh :

 Có hai chữ Minh là Minh dương (nghĩa là sáng) và Minh âm (nghĩa là tối), nhưng thực ra chúng đều có nghĩa là Sáng. Nhưng Minh dương là cái sáng ở thế giới dương, gọi là “Sáng Dương ” = Sướng , Sướng có nghĩa là hanh thông, thường gắn với chữ Thuận Sướng nghĩa là Suôn Sẻ (do nhấn “Sướng Luôn” = Suôn, “Sướng Hè!” = Sẻ). Sướng chuyển nghĩa gắn với Sướng Vui hay Vui Sướng chỉ trạng thái con người khi không bức xúc lo lắng gì cả, tức “Thông Hanh” = Thanh, gọi là Thanh Thản (do lướt “Thanh Mãn” = Thản). Minh âm là cái sáng ở thế giới âm, gọi là “Sáng Âm” = Sấm , chỉ sự tiên đoán của tư duy, mà khoa học gọi là “tiềm thức”.

Do Âm và Dương là hai thể đối lập tạo nên vũ trụ (Hán ngữ phiên âm chữ nho tên thuyết Âm Dương 陰 陽 là “Yin Yáng 陰 陽”), tương ứng màu Trắng/Đen, nên chữ Minh dương chuyển nghĩa chỉ màu trắng, thường gắn với từ Minh Bạch 明 白, nghĩa là “nói trắng ra” (diễn biến âm theo QT Tơi-Rỡi: Trắng = Tráng = Choang = Sáng = Láng = Lạn = Lãng = Lượng = Liệu = =Chiếu = Diệu 耀; Sáng = Quang = Hoàng = Huy , chữ đều có bộ Lửa  hay bộ Quang , v.v. ).

Chữ Minh dương nho viết hoàn toàn biểu ý, trong nó không tá một âm “inh” nào cả, mà lại đọc là Minh, chữ ghép bằng hai cái sáng là ánh sáng mặt trời là chữ Nhật và ánh sáng mặt trăng là chữ Nguyệt , hai cái Mặt sáng này biểu nhấn ý càng sáng, và tạo nên “Mặt Mặt” = Mắt (thanh điệu 0 + 0 =1), đã là Mắt ắt phải sáng, nhìn  thấy, nếu không thì đã gọi là “Mắt U” = Mù, không nhìn thấy, bởi vậy chữ Minh cũng được dùng đại diện cho từ Mắt Sáng, hợp với logic là “Mục Tinh ” = Minh nếu viết theo ngữ pháp Hán thì là Tinh Mục, sẽ không lướt thành được từ Minh. Theo biểu ý của chữ thì Minh dương nghĩa là “Nguyệt Nhật ” = Ngật (nghĩa là cao)  và “Nhật Nguyệt ” = Nhiệt (nghĩa là Ánh sáng , tiếng Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “lửa”), Minhtức là “Cao + Ánh” = Canh = Kinh . Kinh = Canh = Cao Ánh = Ngất Nhiệt . Ngất Nhiệt thiết Nghiệt. Nghiệt phiên thiết thành hai tiếng Người Việt. Do vậy Kinh chính là Người Việt.

Người Việt có thủy tổ là Đế Minh. Từ Đế Minh mang nghĩa đen là Đất Trời (hay Mẹ Cha = Âm Dương). Do Minh là Sáng, Sáng = Tráng = Trắng = Trời, chữ Minh dương này dùng ước lệ là Trời; Đất = (nhấn) “Đất Hề!” = Đế. Đất Trời có nghĩa là vũ trụ, Đế Minh thiết Đinh có nghĩa là Đất Trời sinh ra con người (chữ Đinh nghĩa là con người, cùng hợp logic “Đẻ Kinh” = Đinh, nên từ Đinh và họ Đinh hiểu là của người Kinh, dân tộc Kinh.Theo vị trí bản đồ Dịch học thì Đinh còn chỉ phía Tây, vị trí của số của số 4 trong Hà  Thư : Tư = Tây = Sài = Đoài = =Định = Đinh = Tịnh = Tây = Tư. Minh Đế thiết Mế nghĩa là người Mẹ ở đất Tây của người Ai Lao thiết Âu, là tổ tiên dòng Âu Cơ, “Mẹ Âu” = Mẫu, đạo Mẫu của người Việt có tượng là bà mẹ trên điện thờ Mẫu Thượng Ngàn ở đỉnh núi Tản Viên, Ba Vì, Hà Nội, là tượng người đàn bà vấn khăn hình củ Ấu). Chữ Kinh gồm Đầu + Mình + Chân Tay , chính là Con Người tức “Con Minh” = Kinh = “Cao Ánh” = Canh (có tư duy – Cao, và biết dùng lửa – Ánh).

Chữ Minh âm ứng với thế giới âm nên đối với thế giới dương thì nó là trong bóng tối. Minh âm đại diện cho từ đôi “ Mun Tối” = Môi (Hán ngữ dùng chữ Môi để chỉ Than, vì than có màu đen ( Đen = Mèn = Mun = Man = Than = Thâm = Lầm = Lầm Than). Tên rừng UMinh hay cây Ô Môi có nhiều ở rừng đó (thịt quả và vỏ quả đều màu đen) đều là những tên dùng từ đôi chỉ màu đen tối. Nhấn “Minh Ạ!” = “Minh !” = Mã , dùng chỉ hàng mã là đồ âm phủ (tiền giấy, vàng giấy, hình nộm bằng giấy, bán ở phố Hàng Mã, khu phố cổ Thăng Long). Biếu ý của Minh âm là Mịch + Và + Lâu , là thế giới âm, ảnh ảo, nên phải phản thiết  (nói lái) là “Mầu + Và + Linh” = Minh .

Đại từ nhân xưng ngôi một của tiếng Kinh là Ta (“Đất Trời” = “Tất Càn” = “Tất Cả” = Ta = Gia = Giả = Ngã = Ngô = Ngộ = Người (thể hiện con người là một tiểu vũ trụ tức là cả Đất Trời được nén lại thành con người, khi chết thì phần hồn trả lại trời, phần xác trả lại đất); xưng ngôi một là Người thì ngôi hai phải là lướt lủn “Người Hai” = Ngươi, còn gọi là Nhà Ngươi. Nhân xưng ngôi một của tiếng Nhật là “wa-Ta-xi” để lộ cái Giữa của tiếng Giao chỉ là “Ta”). Nhân xưng ngôi một tiếng Kinh còn là Mình (Mình = Mệnh = Mạng ) thì đương nhiên nhân xưng ngôi hai phải là “Mình Hai” = Mày. Nhấn “Mày Chứ!” = Mừ. Mừ là nhân xưng ngôi hai của tiếng Tày, Thái. Nhân xưng ngôi một tiếng Kinh còn là Con, thể hiện khiêm tốn tự coi mình là một cá thể nhỏ bé. Nôi khái niệm: Con = =Can = Cán = Quan = Quân = Quân = Kô = Cò = Cu = Tu =   =Tử = Tí . “Cò” là xưng Tôi của tiếng Thái. “Kô” tiếng Nhật nghĩa là Con (“Kô-đô-mô ) Tu” là tiếng Tày và tiếng Việt Đông chỉ Con động vật. “Tử” là chữ nho chỉ một cá thể. “Tí” là Con đầu tiên nhỏ nhất trong 12 con giáp. Trong các con thì con Nhỏ gọi là con Con, con to gọi là con Bự hay còn gọi là con Bố. “Con Bố” thiết Cô. Từ “Cô” này cổ đại được Vua dùng để xưng như “Tôi”. Dân thường người lớn khi xưng với người nhỏ tuổi hơn thì vừa muốn xưng là “Cô” như vua xưng, vừa muốn xưng là “Ta” nên thành ra dùng  từ đôi là “Cô Ta” thiết Qua. Từ tự xưng là “Qua” này còn dùng phổ biến ở miền Nam. Hán ngữ mượn âm chữ “Qủa” để ký âm từ “Qua” nhưng muốn chú rằng “Qua” là từ tự xưng của người, nên dịch nghĩa từ tự xưng là “Qua” này của tiếng Việt thành từ “Qủa nhân寡人” để nói rằng đó là từ tự xưng của Vua, nhưng nghĩa chữ thì sai vì chữ “Qủa” là từ hàn lâm của từ Góa dân gian, nên Qủa Nhân寡人theo cú pháp Hán lại là Người Góa. Hán ngữ dùng chữ Quân gắn với từ Quân Vương 君 王chỉ Vua; tiếng Việt dùng từ Quân để chỉ Mình. Trong hoành phi treo ở mỗi gia đình Việt là “ Thiên Địa Quân Thân ”, là nhắc nhở của Việt nho tôn trọng năm vị là Trời Đất Mình Dân và Thầy; trong khi Hán nho hủ bại chỉ tôn trọng ba vị là Quân – vua, Thần – quan, Sư – Thầy. Bởi người Kinh ai cũng xưng là Mình, nên gọi nhau là  “Mình Ơi” = Mời, động từ Mời trong tiếng Thái là “Mơi”. Nơi nào có người Kinh nơi đó gọi là đất của đế Minh, Minh phiên thiết thành hai chữ Mê Linh, tiếng nói dân Mê Linh có nhạc điệu như chim hót, nên “Miệng dân Mê Linh” = Minh , chữ Minh này biểu ý là Miệng Chim , mang nghĩa là Hót = Hát = Hò = Hô = Hỏi = Nói = Na = Ca = Và = Van = Vân = Viết = (lướt lủn) “Việt Nói” = Viết ; Na nghĩa là Nói, Nôm Na là người Nam nói. Nghĩa của từ nói của tiếng Nhật còn giữ cái Giữa của tiếng Giao chỉ nên thành ra “ha-Na-xư” nghĩa là nói. Lướt “Nói Ra” = Na  = =Năng = Rằng = Xẵng = Xưng = Xướng = Xướng Ca = Hát Hò, đều là biểu thị trạng thái Minh = “Minh Xưng ” = Mừng = Hót Mừng (của chim) = =Hát Mừng = Ca Mừng (của người), gọi là trạng thái Vui Mừng như chim khi Chóc Mừng = Chúc Minh .

  Chữ Chí :

  Chữ Chí biểu ý là người trí thức (chữ Sĩ ) có tâm (chữ Tâm ), tức là kiên trì theo đuổi sự nghiệp. Nghĩa cụ thể thì chữ Sĩlà  “Thập Nhất ” = Thật + Tâm, tức chữ Chí là Thật Tâm. (Chữ Thật là Viết Chính , nghĩa là nói ngay thẳng, không nói gian dối).

  Chữ Hồ :

  Chữ Hồ biểu ý là “Nguyệt Cổ  ” = Ngộ (Người = Ngộ = Ngã = Ta = Tôi, nghĩa trọn gói là: Tôi sáng như Trăng Xưa), cùng biểu ý là “Cổ Nguyệt ” = Quyết (nghĩa là cương quyết, giữ vững bản lĩnh: “Trăng xưa khi khuyết khi tròn. Vẫn nguyên một tấm lòng son muôn đời”).

 Tóm lại : Nghĩa nôm na của ba chữ Hồ -  Chí  - Minh     là:                    Tôi quyết  - Thật tâm -  Minh bạch.

Nếu giải thích theo quy tắc thiết như Hứa Thận nêu trong <Thuyết văn giải tự> mà bằng phát âm của Hán ngữ  thì không thành được ý nghĩa như trên. Ví dụ chữ Hồ là Nguyệt Cổ thiết Ngộ (tức Tôi) mà sẽ ra là “Yue Gu” thiết Yu, không thành được Wu hay Wo nghĩa là Tôi của tiếng Hán. Cán bộ nhà lưu niệm Hồ Chí Minh ở thành phố Quế Lâm TQ giải thích cho khách VN tham quan rằng: ” ông Nguyễn khi ở TQ đổi họ là Hồ vì ông ấy có bộ râu dài” (do  Hán ngữ dùng chữ Hồ mà họ phát âm sai là “Hú ” để ký âm sai chữ nho “Tu ” (nghĩa là râu), nên Hán ngữ gọi “Hú” là râu. Đủ thấy chữ nho là của người Việt, phát âm như Việt thì mới là đúng, và đúng thì khi chế biến bằng thiết, phiên thiết, phản thiết mới cho ra được  những hàm ý đúng mà các nhà nho gọi đó là “thâm nho”.

Câu thơ của một bậc túc nho  viết: “Người xưa đâu biết Trăng nay. Trăng nay từng rọi tháng ngày người Xưa”, Nếu lấy làm đề thi viết bài bình luận câu thơ trên thì học sinh phổ thông, kể cả người lớn từng đoạt giải khen trong cuộc vận động “Học tập và làm việc theo đạo đức Hồ Chí Minh” chắc sẽ không bình trọn vẹn được câu thơ trên nếu không biết do không học và hiểu chữ nho xưa của người Việt. Câu thơ trên là vịnh chữ Hồ (Nguyệt Cổ - Trăng Xưa) để khẳng định tâm mình giữ đạo đức trong sáng như Trăng là do nguyện học theo đạo đức của cụ Hồ. Cũng ngụ ý là phải có bản lĩnh không đổi từ xưa đến nay là giữ gìn sự trong sáng của văn hóa Việt Nam như Trăng xưa nay vẫn tỏ.

khẳng định tâm mình tức Tôi quyết thật tâm thể hiện ở chữ Hồ胡(NguyệtCổthiết Ngộ , Ngộ nghĩa là Tôi. Tôi = Ta = Ngã = Ngộ = Người. Bản thân chữ Ngộ , gồm Vuôngvà số 5, đã nói lên rất cụ thể: Tôi đây là người Giữa Chỗ = Giao Chỉ, tức người Việt, là dân ở Vuông đất Giữa – con số 5 trong bản đồ Dịch học, số 5 đốm ở  chính Giữa của Hà Thư, vị trí chính giữa là ô vuông số 5 trong 9 ô vuông của Cửu Cung, ô vuông số 9 là ở phía “Tây bắc Tận” = Tần, là vị trí của nước Tần, vì mang số Chín nên người phương Tây phiên âm là China.

 

Thịnh Vượng

Từ ghép Thịnh Vượng rất thường dùng trong tiếng Việt nhất là trong những câu chúc mừng với ý nghĩa của Thịnh Vượng là sự no đủ, sự phát triển tốt đẹp. Ý nghĩa này được dịch nguyên văn sang Hán ngữ nhưng cú pháp thì đặt ngược là Vượng Thịnh. Từ điển Yếu tố Hán Việt thông dụng của Viện ngôn ngữ NXB  KHXH Hà Nội 1991 cho rằng Thịnh (trang 386) và Vượng (trang 480) là những “tố gốc Hán”. Nhưng tra  trong <Thuyết Văn Giải Tự> của Hứa Thận thì được kết quả là như sau:

1.    Chữ Vượng: “Xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự Vượng 抱歉,没有收录汉字”, như vậy tức là chữ Vượng không phải là Hán tự. Vậy lấy đâu ra cái “tố gốc Hán” ở chữ Vượng, như Từ điển trên đã dẫn?

2.    Chữ Thịnh: giải thích là cái đồ đựng có đầy thóc dùng để tế giỗ. Chữ vừa là hình thanh (mượn chữ Thành) vừa là hội ý (mượn chữ Mãnh). Cách đọc: Thị Trưng thiết Thưng. Chữ Trưng còn đọc là Chinh. Về cách đọc thì ở đây là Hứa Thận chỉ mượn hai chữ đã đọc đúng âm Việt là chữ Thị (thị tộc) và chữ Chinh (chinh chiến) để lướt thì thành cái âm đúng giọng Việt của chữ Thịnh (Thị Chinh thiết Thịnh ) chứ không phải cái logic là hễ cứ Thị tộc nào mà Chinh chiến thì thành Thịnh (Thị Chinh = Thịnh).

Phân tích hai chữ nho Thịnh và Vượng thì thấy từ ghép Thịnh Vượng là được dùng bằng cái chuyển nghĩa của từ đó để chỉ sự no đủ, sự phát triển tốt đẹp chứ không còn dùng theo nghĩa đen của từng chữ. Cả hai từ-chữ nho này đều là gốc Việt, khi bóc tách từng chữ ra sẽ thấy rõ:

1/  Chữ Thịnh có nghĩa đen là Đựng (Hán ngữ mượn chữ nho Thịnh và dịch nguyên ý là đựng). Nôi khái niệm: Đựng = Hứng = Hưng = Thưng = =Thùng = Thóng = Thúng = Mủng = Mãnh = Đảnh = Đựng. Cụ thể: Đựng (động từ) = Hứng (động từ) = Hưng (danh từ chỉ sự đựng) = Thưng (động từ quây cót hay dựng vách kho nhằm đựng thóc) = Thùng (danh từ chỉ một loại đồ đựng làm bằng gỗ, tôn , nhựa) =Thóng (danh từ chỉ một loại đồ đựng làm bằng gốm) = Thúng (danh từ chỉ một loại đồ đựng đan bằng nan tre để đựng thóc) = Mủng (danh từ chỉ một loại đồ đựng thể tích nhỏ đan bằng nan tre để đong thóc) = Mãnhh (chữ nho làm bộ thủ chỉ đồ đựng nói chung, chữ là tượng hình như cái mủng úp hong khói trên gác bếp) = Đảnh = Đựng (vật được đựng là nó đã  Đứng cố Định trong thể tích của đồ đựng). Cái Mủng đựng đầy thóc tức đã hoàn Thành chức năng đựng cửa nó,  tức “Thành một Mủng thóc đã đong đầy”, nho viết câu này bằng hai chữ “Thành Mãnh” thiết Thạnh . Thạnh = Thịnh (biến âm tương tự người Canh = người Kinh). Đây mới chính là cái logic Thành Mãnh = Thạnh, nghĩa là Đầy Mủng thóc thì tượng trưng cho sự no đủ hay biểu trưng cho sự phát triển tốt đẹp. Và từ ghép Thạnh Trị (đây là viết ghép theo cú pháp Hán) có nghĩa là sự quản trị quốc gia một cách đầy đủ.

2/ Chữ Vượng: đã được Từ điển <TVGT> của Trung Hoa nói rõ là không phải là Hán tự. Vậy chữ Vượng là do Việt nho đặt ra với ý nghĩa là “giàu có và văn minh” do từ trong biểu ý của chữ Vượng là “Vuông Đường” = Vượng. Từ Vuông ám chỉ Đất, nhưng viết ước lệ bằng mượn chữ Vương (cũng là bốn nét kẻ như chữ Vuông hay chữ Văn, nhưng chữ Vương mang thâm ý là người Giao Chỉ thống lĩnh cả ba Kẻ trong thiên hạ: Một Kẻ đứng Giữa xuyên suốt cả ba Kẻ ngang làm thành chữ Càn, tức thống lĩnh cả Càn Khôn, cả thiên hạ (ý này là theo đúng như trong giải thích của < TVGT> về chữ Vương). Kẻ đứng ở Giữa là kẻ nào? Chính là người Giao chỉ. (Giao = Gian = Giữa = Trửa = Trong = Trung = =Trong = Lòng = Lý= Lõi = Noi = Nội = Nhôi = Nhuế = Nhụy = Nhị  蕊,sông Nhị Hà  nghĩa là sông Nhụy Sen, “chẳng thơm cũng thể hoa nhài” “Nhụy Ngài” = Nhài). Chữ nho Việt Thường có nghĩa là người Việt đất Giao Chỉ, do chữ Thường biểu ý chỉ rõ là người (chữ Nhân)  đứng (chữ Lập) trong (chữ Lý), Hán văn đã ký âm sai bằng chữ Việt Thường mà chữ Thường này nghĩa là cái váy, lại là ký âm của từ Xống là cái Xàrông Khơme hay Xà lỏn Nam Bộ. Chữ Nhật là dùng ước lệ cho màu đỏ của quẻ Ly chỉ vùng dân xứ nóng xích đạo, đó là xứ Đào = Điều = (phiên thiết) Đường Nghiêu. Đường = Thường = Thoòng. Chữ Vượng là chữ hội ý Vương Nhật (nghĩa đen là Vuông đất tràn đầy ánh nắng mặt trời) ám chỉ Đất Giao chỉ, tức Đất Đào = Vuông Đường . Vương Đường thiết Vượng. Do vậy từ ghép Thịnh Vượng có nghĩa là phát triển tốt đẹp như Giao Chỉ giàu có và văn minh. Thịnh Vượng là từ ghép theo cú pháp Việt . Hán ngữ chỉ có từ ghép Vượng Thịnh 旺盛  chứ không có từ Thịnh Vượng. Từ điển đã dẫn (trang 386) giải thích “Thịnh Vượng à tố gốc Hán” chỉ là “lập lờ đánh lận con đen”.

 

 

 

Edited by Lãn Miên
3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

Hiểu nghĩa ba chữ nho: Hồ Chí Minh

 

Ba chữ Hồ Chí Minh 胡 志 明 phồn thể hay giản thể đều viết như nhau, không đổi.

 

Chữ Minh :

 

Có hai chữ Minh là Minh dương và Minh âm, đều có nghĩa là Sáng. Nhưng Minh dương là cái sáng ở thế giới dương, gọi là “Sáng Dương ” = Sướng , Sướng có nghĩa là hanh thông, thường gắn với chữ Thuận Sướng nghĩa là Suôn Sẻ (do nhấn “Sướng Luôn” = Suôn, “Sướng Hè!” = Sẻ). Sướng chuyển nghĩa gắn với Sướng Vui hay Vui Sướng chỉ trạng thái con người khi không bức xúc lo lắng gì cả, tức “Thông Hanh” = Thanh, gọi là Thanh Thản (do lướt “Thanh Mãn” = Thản). Minh âm là cái sáng ở thế giới âm, gọi là “Sáng Âm” = Sấm , chỉ sự tiên đoán của tư duy, mà khoa học gọi là “tiềm thức”.

Do Âm và Dương là hai thể đối lập tạo nên vũ trụ (Hán ngữ phiên âm chữ nho tên thuyết Âm Dương 陰 陽 là “Yin Yáng 陰 陽”), tương ứng màu Trắng/Đen, nên chữ Minh dương chuyển nghĩa chỉ màu trắng, thường gắn với từ Minh Bạch 明 白, nghĩa là “nói trắng ra” (diễn biến âm theo QT Tơi-Rỡi: Trắng = Tráng = Choang = Sáng = Láng = Lạn = Lãng = Lượng = Liệu = Chiếu = Diệu 耀; Sáng = Quang = Hoàng = Huy, chữ đều có bộ Lửa  hay bộ Quang, v.v. ).

Chữ Minh dương nho viết hoàn toàn biểu ý, trong nó không tá một âm “inh” nào cả, mà lại đọc là Minh, chữ ghép bằng hai cái sáng là ánh sáng mặt trời là chữ Nhật và ánh sáng mặt trăng là chữ Nguyệt, hai cái Mặt sáng này biểu nhấn ý càng sáng, và tạo nên “Mặt Mặt” = Mắt (thanh điệu 0 + 0 =1), đã là Mắt ắt phải sáng, nhìn  thấy, nếu không thì đã gọi là “Mắt U” = Mù, không nhìn thấy, bởi vậy chữ Minh cũng được dùng đại diện cho từ Mắt Sáng, hợp với logic là “Mục Tinh ” = Minh nếu viết theo ngữ pháp Hán thì là Tinh Mục, sẽ không thành được từ Minh. Theo biểu ý của chữ thì Minh dương nghĩa là “Nguyệt Nhật” = Ngất (nghĩa là cao)  và “Nhật Nguyệt” = Nhiệt (nghĩa là ánh sáng , tiếng Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “lửa”), tức là “Cao + Ánh” = Canh = Kinh . Kinh = Canh = Cao Ánh = Ngất Nhiệt . Ngất Nhiệt thiết Nghiệt. Nghiệt phiên thiết Người Việt. Do vậy Kinh chính là Người Việt.

Người Việt có thủy tổ là Đế Minh. Từ Đế Minh mang nghĩa là Cha Mẹ: Đế Minh thiết Đinh (nghĩa là con người, cùng hợp logic “Đẻ Kinh” = Đinh, nên từ Đinh và họ Đinh hiểu là của người Kinh, dân tộc Kinh.( Chữ Đế có gốc là do cái từ Rễ cây, vật cụ thể thì cái Rế hay cái Đế đỡ Nồi cơm, đã chuyển trừu tượng hóa thành Đế đỡ NÔI, Nôi là Nòi giống Việt). Minh Đế thiết Mế nghĩa là Mẹ, cụ thể về sau Mế Mèn là thân mẫu của Hai Bà Trưng (Mẹ Âu Cơ tức “Mẹ Âu” = Mẫu, có tượng trên điện thờ Mẫu Thượng Ngàn ở đỉnh núi Tản Viên, Ba Vì, Hà Nội, là tượng người đàn bà vấn khăn hình củ ấu). Chữ Kinh gồm Đầu + Mình + Chân Tay, chính là Con Người tức “Con Minh” = Kinh = “Cao Ánh” = Canh (có tư duy – cao, và biết dùng lửa – ánh).

Chữ Minh âm ứng với thế giới âm nên đối với thế giới dương thì nó là trong bóng tối. Minh âm đại diện cho từ đôi “ Mun Tối” = Môi (Hán ngữ dùng chữ Môi để chỉ Than, vì than có màu đen ( Đen = Mèn = Mun = Man = Than = Thâm = Lầm = Lầm Than). Tên rừng UMinh hay cây Ô Môi có nhiều ở rừng đó (thịt quả có màu đen) đều là tên dùng từ đôi chỉ màu đen tối. Nhấn “Minh Ạ!” = =“Minh!” = Mã, dùng chỉ hàng mã là đồ âm phủ (tiền giấy, vàng giấy, hình nộm bằng giấy, bán ở phố Hàng Mã, khu phố cổ Thăng Long). Biếu ý của Minh âm là Mịch + Và + Lâu, là thế giới âm, ảnh ảo, nên phải phản thiết là “Mầu + Và + Linh” = =Minh .

Đại từ nhân xưng ngôi một của tiếng Kinh là Ta (“Đất Trời” = “Tất Càn” = “Tất Cả” = Ta = Gia = Giả = Ngã = Ngô = Ngộ = =Người; xưng ngôi một là Người thì ngôi hai phải là lướt lủn “Người Hai” = Ngươi, còn gọi là Nhà Ngươi. Nhân xưng ngôi một của tiếng Nhật là “wa-Ta-xi” để lộ cái Giữa của tiếng Giao chỉ là “Ta”). Nhân xưng ngôi một tiếng Kinh còn là Mình (Mình = Mệnh = Mạng) thì đương nhiên nhân xưng ngôi hai phải là “Mình Hai” = Mày. Nhấn “Mày Chứ!” = Mừ, là nhân xưng ngôi hai của tiếng Tày, Thái. Nhân xưng ngôi một tiếng Kinh còn là Con (Con = Can = Cán = Quan= Quân = Quân, Hán ngữ dùng chữ Quân chỉ vua gắn với từ Quân Vương 君 王; tiếng Việt dùng từ Quân để chỉ Mình, trong hoành phi treo ở mỗi gia đình Việt là “ Thiên Địa Quân Thân ”, là nhắc nhở của Việt nho tôn trọng năm vị là Trời Đất Mình Dân và Thầy; trong khi Hán nho hủ bại chỉ tôn trọng ba vị là Quân – vua, Thần – quan, Sư – Thầy. Bởi tiếng Kinh xưng là Mình, nên gọi “Mình Ơi” = Mời, động từ Mời trong tiếng Thái là “Mơi”. Nơi nào có người Kinh nơi đó gọi là đất của đế Minh, Minh phiên thiết thành hai chữ Mê Linh, tiếng nói dân Mê Linh có nhạc điệu như chim hót, nên “Miệng dân Mê Linh” = Minh , chữ Minh này biểu ý là Miệng Chim, mang nghĩa là Hót = Hát = Hò = Hô = =Hỏi = Nói = Na = Ca = Và = Van = Vân = Viết = (lướt lủn) “Việt Nói” = Viết; “Nói Ra” = Na  = Năng = Rằng = Xẵng = Xưng = Xướng = Xướng Ca = Hát Hò, đều là biểu thị trạng thái Minh = “Minh Xưng” = Mừng = Hót Mừng (của chim) = Hát Mừng = Ca Mừng (của người), gọi là trạng thái Vui Mừng như chim khi Chóc Mừng = Chúc Minh .

 

Chữ Chí :

 

Chữ Chí biểu ý là người trí thức (chữ Sĩ) có tâm (chữ Tâm ), tức là kiên trì theo đuổi sự nghiệp. Nghĩa cụ thể là “Thập Nhất ” = Thật + Tâm, tức là Thật Tâm. (Chữ Thật là Viết Chính, nghĩa là nói ngay thẳng, không nói gian dối).

 

Chữ Hồ:

 

Chữ Hồ biểu ý là “Nguyệt Cổ ” = Ngộ (nghĩa trọn gói là: Tôi sáng như Trăng Xưa), cùng biểu ý là “Cổ Nguyệt” = Quyết (Trăng xưa khi khuyết khi tròn. Vẫn nguyên một tấm lòng son muôn đời).

 

Nghĩa nôm na của ba chữ Hồ Chí Minh   là: Tôi quyết Thật tâm Minh bạch.

 

Diễn Châu thái thú

Đọc sách <Bước ra từ huyền thoại – Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian> của tác giả Nguyễn Đức Tố Lưu. Đọan Diễn Châu thái thú (Hồ Hưng Dật), trang 488 có câu đối tại đền thờ nguyên tổ Hồ Hưng Dật ở Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu Nghệ An) do Hồ Hán Thương vâng lệnh Thái thượng hoàng Hồ Qúy Ly xây cất. Câu đối như sau:

Trần ngu kinh kỷ thiên thu tích   陳 虞 經 幾 千 秋 跡

Bào sảo giang sơn vạn đại từ    泡 稍 江 山 萬 代 祠

Trong câu đối , vế trên nói về vùng đất cổ này vẫn còn dấu vết đã úa vàng (thu tích 秋 跡) của thời gian trải qua mưa gió (trần ) hàng mấy nghìn năm về trước (kinh kỷ thiên thu 經 幾 千 秋) từ thời đế Nghi (Ngu) - Ngu Thuấn; hai chữ Trần Ngu thiết Tru nhắc nhớ về quê hương cổ đại của bộ tộc có totem là con Tru. Vế dưới nói về lịch sử giai đoạn sau, từ khi Hồ Hưng Dật lui quan về dựng hương Bào Đột (Bào) đến khi xây đền thờ này (là thời gian từ thời nhà Đinh đến thời nhà Hồ) chỉ là một khúc ngắn ngủi sơ sài (sảo ) so với lịch sử nước Nam (giang sơn 江 山) xưa, ngụ ý là: cụ Hồ Hưng Dật là nguyên tổ của  họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi chứ chưa phải là thủy tổ của toàn thể họ Hồ ở Việt Nam, nhưng con cháu về sau mãi mãi (vạn đại 萬 代) quyết giữ vững  lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt (từ đường – đền thờ).

Nhưng sự chọn dùng các con chữ trong câu đối này còn cho thấy nhiều hơn về lịch sử dựng nước 5000 năm của dân tộc Việt:

Viễn tổ họ Hồ là họ Ngu, là ông Ngu Vĩ Mãn (dòng dõi Ngu Thuấn – đế Thuấn). Chữ Vĩ Mãn nghĩa là cái đuôi đến đó là đầy rồi, cho thấy đến ông Ngu Vĩ Mãn là thế hệ cuối cùng của họ Ngu, vì sau đó các thế hệ tiếp sau đã đổi thành họ Hồ , rồi sau nữa tiếp tục đổi thành họ Ngô khi (“Người họ Hồ” thiết Ngô) dong thuyền ra phía Bắc dựng nghiệp, lập nên nước Ngô ở vùng đất Mân (Phúc Kiến). Ngu -> Hồ -> Ngô (Ngu Hồ thiết Ngô, chữ Ngô lại nằm trong lòng chữ Ngu – cháu chắt trong lòng cố; chữ Ngu lại thể hiện rõ là chỉ dân Lửa phương quẻ Ly của Dịch học biểu trưng bằng con Hổ Đông Dương lông vàng đậm như rực lửa trong tranh dân gian “ngũ hổ”. Các từ biểu trưng xứ nóng là: Lửa = Lả = Hỏa = Hạ = Hổ . Các họ của Bách Việt là: Lê = La = Lý = Lỗ = Hồ = Ngô = Ngu). Sách < Bách gia tính> viết: Họ Ngô có xuất xứ từ tộc người cổ đại có vật tổ (totem) là con trâu (cổ xưa gọi là con Tru). Sách <Thuyết văn giải tự> của Hứa Thận cách nay hơn 2000 năm lại giải thích cách đọc chữ Ngô là: Trâu Ngu thiết 鄒 虞 切 tức là Trâu Ngu thiết Tru. Như vậy rõ ràng là hơn 2000 năm trước , khi Hứa Thận soạn ra từ điển đầu tiên của Trung Hoa thì trên đất Trung Hoa dân vẫn gọi con “Tru”  chứ chưa gọi như Hán ngữ mượn chữ nho để dịch gọi con trâu là con Thủy Ngưu (“Shủi Níu 水 牛”) . Con “Tru” vẫn là của  tiếng Việt  vùng Nghệ An ngày nay, tức thời Hứa Thận làm tự điển thì vẫn là “từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám nghìn dặm (tức đến vùng nam Trường Giang)  toàn là dân Bách Việt ở” (Khổng Tử viết 孔 子 曰), tộc Hán chưa xuống đến Lĩnh Nam. Tlu (tiếng Mường ) = Tru (tiếng Nghệ) = Trâu (tiếng Việt Nam) = Ngầu (tiếng Việt Đông) = Ngưu (chữ nho) = Sửu (chữ nho). Tiếng để kêu cho con trâu nó biết là “Nghé ọ!” (Nghé Ọ thiết Ngô). Cho nên có thế suy luận là tộc người cổ đại có totem là con trâu là tộc Cửu Lê ở vùng trung bán đảo Đông Dương, tức dân quẻ ly, dân Lửa. Lửa = Lả = La = Ly = Lê = Nghệ = Nghé, là dân có totem là con trâu. Lửa = Lả = Hạ (mùa Hè) = Hỏa  =Hoa. Dân “Hạ thờ Trâu” = Hậu, nên có truyền thuyết “Hậu Nghệ bắn mặt trời” là truyền thuyết của dân quẻ Ly ở đất Nghệ (Nghé). Ca dao về đám cưới: “Tỉnh Thanh cung đốn trầu cau. Tỉnh Nghệ thì phải giết trâu mổ bò”. Totem là Trâu (Nghé) đã biến hình thành con vật thờ là con Nghê. Vì nó đại diện cho văn minh lúa nước xứ ấm của hướng quẻ Ly nên cũng gọi nó là con Ly (tứ vật: Long, Ly, Qui, Phụng). Tiến sĩ là bậc cao trọng được gọi là ông Nghè. Con Ly phiên thiết thành hai chữ Lân Kỳ. Người Hán gọi nó là con Kỳ Lân.

Edited by Lãn Miên
3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Qui Tắc Lướt

 

Các lối nói trong tiếng Việt đều có chung Tơi “L” của từ Lưỡi = “Lưỡi Nói” = Lời. Đó là các lối nói: Lời = La = Láo = Láy = Lái = Lướt = Lủn = Luyến = Lối = Lẩy = Lấp-Lửng = Lươn-Lẹo  = Lả-Lơi = Lả-Lướt  v.v. Lời = (lướt) “Người nói Lời” = Ngợi = (lướt) “Người Ồn” = Ngôn = (nhấn) “Ngôn Chứ!” = Ngữ , (khen ngợi là khen bằng lời tuyên dương, khen thưởng là khen kèm khuyến khích bằng tặng vật chất). Ồn tiếng Đại Việt nghĩa là nói, tiếng nước Đại Hòa (Nhật Bản) cũng gọi là Ồn: Hòa Ồn 和 音 (“Wa Ôn”) nghĩa là người Hòa nói, Ngô Ồn 吴 音 ( “Gô Ôn”) nghĩa là người Ngô  nói; tiếng Nhật “ha –Na – xư” nghĩa là nói, lộ cái Giữa của tiếng Giao chỉ là từ Na = “Nói Ra” = Na, là tiếng nước Nam, gọi là Nôm Na, nghĩa là người Nam nói, “Na Rằng” = Năng, nên lại có từ đôi Nói Năng (ý là nhiều cách nói). Cũng như tiếng Nhật từ “xa-Ca-na” nghĩa là Cá (lộ cái giữa Ca=Cá là tiếng của người Giao Chỉ = Chỗ Giữa) = Pá (tiếng Lào, Thái); nơi lắm cá gọi là Cần (tên đất Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Thơ) = Cờn (tên sông Cửa Cờn ở Nghệ An) = Quèn (tên sông Lạch Quèn ở Thanh Hóa; Rạch Quèn ở Hóc Môn, Gia Định). “Đông người Ồn” = Đồn, gọi là tin đồn, nghe tin đồn thì phải lọc để kiểm chứng thật giả, đúng sai. Ồn nở ra những từ dính cùng Vắng Tơi mà khác Rỡi (cùng Vỏ khác Ruột hay cùng Cha khác Mẹ) là: Ồn-Ào = Ầm-Ĩ = Í-Ới = Inh-Ỏi . Các từ dính trên cùng từ Ồn thì Nho chỉ viết bằng một chữ Âm, nên thế kỷ 13 phải xuất hiện chữ Nôm muộn thì mới ký âm nổi những từ dính đó (chữ Nôm sớm có từ 7000 năm trước, phát lộ mới đây ở di chỉ Cảm Tang, Quảng Tây), bởi vậy các nhà ngôn ngữ nói “chữ Nôm còn khó (vì nhiều) gấp 5 lần chữ Nho”. Cùng nôi khái niệm với Ồn nhưng từ dùng cho động vật là từ Ẳng (các nhà báo vẫn dùng từ “Ẳng” cho người bị nói xỏ coi như động vật, không có tư duy độc lập tự chủ). Từ hàn lâm Ngôn = Ngữ chỉ dùng cho người với nghĩa là nói (như Khổng Tử ngôn孔子言, Khổng Tử ngữ 孔子語, Khổng Tử viết, 孔子曰 đều có nghĩa là Khổng Tử nói), không dùng cho động vật, dùng cho động vật là những từ Hót - phái sinh của Hát, Hò; Kêu - phái sinh của La = Ca = Coỏng = Giảng ; Gầm, Gừ - phái sinh của Gọi, Gọi = “Gọi Chứ!” = Gừ, nhưng “Người Gừ” = Ngữ nghĩa là Nói (của người), tiếng Đài Loan đọc chữ Ngữ  là Gí mang nghĩa là gọi, vì nhấn“Gọi Chi!” = “Gí”, tiếng Nhật đọc chữ Ngữ là Gô mang nghĩa là gọi, vì nhấn “Gọi Chớ!” = “Gô

 

Dân gian Việt vẫn tiếp tục từ cổ đại đến nay dùng QT Lướt để tạo ra từ mới cho tiếng Việt, mà không phải là do Viện ngôn ngữ VN tạo ra, không như các nhà nho xưa là họ tự tạo ra chữ hàn lâm từ những từ dân gian có sẵn hoặc tự đặt ra những chữ mới bằng ghép biểu ý nhờ các bộ thủ, làm cho vốn từ ngày càng phong phú. Những từ mà dân gian dùng để lướt tạo ra từ mới có thể là là từ dân gian cũng có thể là từ hàn lâm. Ví dụ: Qủa trám ở đất Đức Thọ, Hà Tĩnh nó to gấp ba quả trám ở đất Bắc, dân gọi là trái “Trám To” = Tro, gọi là cây Tro, trái Tro. Giống mít mới nhập từ Thái Lan có quả tròn như trái banh, dân An Giang gọi nó là “Mít Tròn” = Mon, gọi là trái Mon. Khoai mỡ loại ruột tím nhiều nhớt nên chỉ dùng nấu canh, gọi là khoai Mỡ hay củ Mỡ; khoai mỡ giống ruột trắng nhiều bột ít nhớt nên bùi béo hơn (tức ú hơn) có thể luộc ăn như quà vặt, dân Mỹ Tho gọi lướt nó là khoai “Mỡ Ú” = Mú, gọi là khoai Mú hay củ Mú. Lưới có từ hàn lâm là chữ Võng , loại lưới có mắt nhỏ tí tẹo dùng quây tôm còn nhỏ ở góc ao để dễ chăm nuôi một thời gian cho nhỉnh con hơn trước khi thả ra ao lớn, dân Cà Mâu gọi lướt no là cái “Võng mắt nhỏ tí Tẹo” = Vèo, gọi loại lưới đó là cái “Vzèo”. Du lịch tự do phải tự dùng kỹ năng sống của chính mình mà vượt mọi trở ngại, tức đi du lịch “Phải tự Vượt” = Phượt, gọi là đi Phượt, thành từ mới thông dụng cho riêng ngành du lịch. Con chim thấy khách trước để báo khi khách còn chưa đến nhà gọi là con chim Khách hay cụ thể hơn còn gọi là con chim “Thấy khách Trước” = Thước , gọi là con chim Thước 鵲, nó báo trước rất chính xác, nên nho viết chữ Thước  là “ĐiểuTích” = Đích (đích xác), đồng thời cũng là “Tích Điểu” = Tiếu (niềm vui, tiếu lâm), khách đến nhà là niềm vui nên tên loài chim đó cũng còn gọi là con chim Hỉ Thước . Cây mọc trên bãi sình ven biển, nó nhờ có bộ rễ chùm, rồi mỗi chót rễ lại xòe ra như các ngón của một bàn tay bám xuống bùn đất, nó nhờ nước mà giữ được đất phù sa mới bồi ven bờ, nên mới gọi bằng lướt là cây “Đất Nước” = Đước, là loài cây Đước. Vùng đất trũng thấp hơn các vùng xung quanh nên mọi mạch nước ngầm đều dồn về đó, hễ khoan đúng mạch là nước tự bung lên, vùng ấy gọi là cái “Bụng đựng Nước” = Búng (lướt lủn) hay “Bung Nước” = Búng (lướt lủn), như vùng thị trấn Chợ Búng ở Bình Dương. Hai từ nhấn cổ nhất trong những từ nhấn cuối câu là Hề và Chi có nghĩa là Phải, là Đúng, là Thật nên nho viết bằng lướt nhấn “Thật Chi!” = Thị, chữ Thị có nghĩa là Phải, là Đúng, bởi nôi khái niệm Hề = “Hề Đấy!” = Hầy (tiếng Quảng Đông đọc chữ Thị là “Hầy”) = Hay (tiếng Nhật nhấn cuối câu là “Hay” nghĩa là đúng) = Hay = Phải, do vậy thường gắn thành từ đôi Phải Hề, Phải Chi. (VD: Hắn nói rứa là phải hề. Phải chi tôi làm vậy thì đâu đến nỗi). Khi hai người va đụng nhau, cả hai đều nói thay câu xin lỗi là “Không Hề! Chi!” nghĩa là anh không phải nạn (từ Không Hề) và tôi cũng không phải nạn (từ Không Chi) tức là xử huề.

 

Đứa con nhỏ nhất hiện có trong một gia đình gọi là con Út (đương nhiên còn nữa nếu mẹ nó chưa đẻ hết trứng hoặc tự nguyện đình sản). Út = Ít = Oắt. Các thế hệ sau Con ra đời nữa theo thứ tự thế hệ là Cháu Chắt Chút Chít. Oắt dùng chỉ động vật nhỏ bé , thực vật nhỏ bé không gọi là Oắt. Oắt là nhỏ (nhỏ loắt choắt, bé loắt choắt) nên gọi là Oắt Con = Oắt Mọn = Oắt Smal (Smal  tiếng Anh nghĩa là ít, là nhỏ bé, phát âm là “Xmon”). Từ Oắt chỉ động vật nhỏ thì nho viết bằng chữ Oa (có bộ Trùn = Giun = Dẫn , gọi là Trùng = Sùng = Sâu = =Lâu 蝼, là Con Trùn = Côn Trùng 昆 虫,thành từ chung chỉ các loài động vật nhỏ bé), chữ Oa dùng chỉ loài Ếch Nhái nói chung (trong đó có Ễnh - Ương, cùng với Ếch, Cóc, thường có tượng đơn hay tượng đôi cõng nhau trên mặt nhiều trống đồng, Ễnh-Ương là tên bằng từ dính điển hình hai tố Â/D không thể nói đảo ngược trong số vô vàn tên côn trùng, chim chóc, cây cỏ đều bằng từ dính hai tố Â/D của tiếng Việt). Con Trùn viết bằng chữ Côn Trùng, thì Côn Minh = Con Minh, “Con Minh” thiết  Kinh, nghĩa là Con Người, Con = Kinh = Đinh = “Đinh Rứa!” = Đứa, nhân khẩu thì mới đếm bằng số Đinh coi như lượng từ, đàn ông thì gọi là Tráng Đinh (Chồng = Chàng = Tráng = Trượng), còn động vật chỉ đếm bằng số con coi như lượng từ, hỏi đẻ mấy Đứa là hỏi người đẻ mấy con. Sử gia TQ ngày nay viết: “Côn Minh  là tên gọi một dân tộc thiểu số cổ đại ở vùng Tây Nam nước ta”, vậy dân tộc cổ đại đó là dân tộc nào? Cụm từ “Đồ Oắt con” hay “Đồ Nhãi nhép” là từ mắng mỏ, ý khinh thị coi như loài ếch nhái. Oắt Con = Wa-Kai (tiếng Nhật “Wa-Kai” nghĩa là Nhỏ Bévà  “Xi-Kô-Xi” nghĩa là Ít – xíu con xíu, “Xi-kô-xi Đếx Nê!” nghĩa là Xíu Đấy Nè tức là một chút xíu thôi). Từ nhấn Hề (Nghệ An) = Hỉ (Quảng Nam) = Nhỉ (Hà Nội) = Nhé = Nè (Nam Bộ) = “Nè Chứ!” = Nư (tiếng Thái) = “Nè Hề!” = Nê (tiếng Nhật). Người Thái khi chia tay nói: “Mừ còn nư! Cò dù nư!” nghĩa là: “Mày” ở lại “Còn” = Kiện = Cường = Khương = Khang = Khỏe = Phẻ nhé! “Con”  Đi = Di = “Dù” = Vzù = Vù = Vẫy = “Pay” = Bay = Bơi = =Bước = Bộ = Lộ = Lội nhé! (đi bằng phương tiện gì cũng được). Pay tiếng Tày Thái nghĩa là đi. Vẫy nghĩa là Bơi, Vẫy nở thành từ dính Ve-Vẩy, cá vẫy vi là cá bơi trong nước, chim vẫy cánh là chim bơi trong không khí, Vẫy = Dẫy = Du = Dù = Vù = Vùng = Vịnh = Vẫy, từ đôi Vẫy Vùng nghĩa là bơi, nho viết bằng chữ Du Vịnh, Hán ngữ dùng chữ Du Vịnh là từ đôi để làm động từ bơi, phát âm là “You Yong   ”.

 

Con số của tiếng Việt thì từ Ba trở lên là nhiều, nhưng Ba là số bắt đầu của nhiều nên cái cũ là Hai kề sát nó vẫn cố níu kéo nó, thành ra “Vài Ba” lại đại biểu cho số ít, bởi vậy số Ba phải tự khẳng định nó là nhiều bằng phiên thiết thành Bao La nghĩa là rộng nhiều hướng trong không gian, như vũ trụ bao la (đúng là bao gồm Thiên Địa Nhân) và nó luôn muốn thoát khỏi ít bằng hướng về số nhiều là “Đông Ba” = Đa. Còn cái rộng của mặt phẳng là Thênh Thang (“Đường ta rộng thênh thang tám thước” – Tố Hữu), nên có lướt “Mặt Rộng” = =Mông, “Mặt Thênh” = Mênh, “Mặt Thang” = Mang, nên thành các tính từ Mênh Mông, Mênh Mang để dùng làm thuyết cho cái đề là Mặt phẳng, như đồng lúa rộng mênh mông bát ngát, biển rộng mênh mang, còn nói "biển rộng bao la" là nói sai. Hán ngữ dùng từ Bao La là phiên âm lấy nguyên nghĩa của tiếng Việt chỉ cái rộng không gian đa chiều, nhưng do phiên âm bằng cách dùng chữ nho có sẵn mà đồng âm để phiên, nên nếu cứ vào bốn nghĩa chữ thì chẳng ra nghĩa “bao la”: dùng chữ Bao (nghĩa là cái bọc) để phiên âm âm tiết Bao và chữ La ( nghĩa là “cái lưới bẫy chim của người Mường” – giải thích của Thuyết Văn Giải Tự 說文解字》cách nay hơn hai ngàn năm) để phiên âm âm tiết La. Đây là hai chữ độc lập, không thể đại diện cho mỗi âm tiết trong từ phái sinh hai âm tiết là Bao La thiết Ba đại diện cho không gian ba chiều lập thể, không thể tách rời âm tiết Bao với âm tiết La, cũng không thể đảo ngược là La Bao. Vậy mà thầy giáo VN dạy tiếng Việt ở ĐH lại tra Từ điển Hán Việt để giảng cho sinh viên TQ đang học tiếng Việt ở HN rằng thì là “từ Bao La 包 罗(phồn thể 包 羅)là một từ Hán-Việt” làm cho sinh viên này phải thắc mắc, hỏi tôi, tôi đã giải thích như viết trên. Còn số Bốn thì yên tâm vì nó chẳng gần số ít nào để sợ bị lây nhiễm. Bốn đàng hoàng chỉ nhiều, thành tên những cụm dân cư đông người: Bốn = Thôn = Phồn = Phum = Cụm = Chùm = Chòm = Xóm = Bom = Buôn = Bản = Trấn = Trạm = Mạn = =Mường = Hương = Hạng = Làng . Và câu “Một vốn Bốn lời” để nói kinh doanh bỏ một vốn sinh ra nhiều lời. Còn chữ Ba mang nghĩa phiếm chỉ là không đáng kể, đáng loại bỏ khỏi xã hội như cụm từ “Ba thằng giặc cỏ”, “Ba thằng tham nhũng” thì nó có gốc là do lướt “Bỏ Ra” = Ba, ý khinh thị, đáng loại bỏ.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

  Hoành phi bốn chữ                LÊ  ĐỨC DIỆU MINH

                黎 德 耀 明

 

Giải thích ẩn ý của việc chọn và sắp xếp trật tự của bốn chữ LÊ ĐỨC DIỆU MINH:

  1. Về mặt hiện tại thì:

1/ Số 4 biểu ý bốn ven tạo nên hình vuông như cái Bánh Chưng tượng trưng cho Trái Đất có đầy đủ Ngũ Hành: Kim (màu theo ngũ hành là Trắng – của nếp) Mộc (màu theo ngũ hành là Xanh – của lá) Thủy (màu theo ngũ hành là Đen – của sự ướt là nước) Hỏa (màu theo ngũ hành là Đỏ - của sợi lạt nhuộm hồng) Thổ (màu theo ngũ hành là Vàng – của nhân đậu), mong ước Trái Đất nguyên vẹn môi trường sinh thái như vốn có từ khi Vũ Trụ hình thành, tức là nó vẫn luôn là Bốn Đủ = Bổn = Vốn, là cái vốn tài nguyên quí báu cho sự sống của muôn loài mà không ai có quyền hủy hoại tàn phá môi trường. Số 4 có nghĩa là Vẹn Tròn = Trọn. Mỗi con người đều sống Trọn một cuộc đời có ý nghĩa trên trần gian trải đủ 4 cảnh là Sinh (lao động để kiếm sống) Lão (mưu cầu hạnh phúc) Bệnh (an nhiên vượt mọi khó khăn) Tử (mưu cầu sống có ích cho cộng đồng).

2/ Chữ LÊ là họ Lê, nhưng chữ LÊ là nghĩa chung có biểu ý là Người Dân (chữ nhân) xứ nhiệt đới của Viêm Đế Thần Nông (biểu trưng bằng tia nắng mặt trời ) làm nông nghiệp trồng Lúa  (chữ hòalà cây lúa) trên những cánh đồng ruộng Nước (chữ thủy là nước). Chính giai đoạn văn minh biết dùng Nước để Trồng lúa là giai đoạn hoàn chỉnh chữ Nho , là “vuông 方 Trữ 貯 Nho 孺 nhỏ 孺” gọi vo là “Chữ 貯,字 Nho 儒”, để có đạo Nho 道 儒, nhà Nho 者 儒, nhấn 'Nho 儒 Dã 也" = Nhã 雅 =Nho Nhã儒 雅, và để có thư tịch lưu lại (mà Khổng Tử gọi là "Nhã ngữ 雅 語") viết về cổ sử như ngày nay dùng tra cứu, cũng là giai đoạn xuất hiện chữ “Nước Trồng” = Nông , gọi là nghề Nông . Trước đó là giai đoạn canh tác đốt nương làm rẫy chỉ gọi là Trồng Trọt tuy đã biết lấy hột cây hay khúc cây tươi làm Giống. Khúc cây tươi làm giống gọi là cái Hom = Hôn (tiếng Nhật) = Bổn = Pủn (tiếng Quảng Đông) = Vốn = Vzốn (tiếng Nam Bộ) = Giống, cái Hom cũng còn gọi là cái Hom Giống , chữ Bổn  gồm chữ Mọc (theo <Thuyết Văn Giải Tự>) thêm gạch ngang dưới ý là mặt đất, còn phần dưới mặt đất là rễ cây. Giống = Trồng = Trủng = Chủng , trồng bằng cách dùng gậy chọc lỗ xuống đất là Trọt  =Chọt = Chọc, Trồng = Tra = Hạ = Sạ = Xà = Xuống = Xáng = Giáng , gọi chung là Xuống Giống hay Sạ Hột, Tra Hột, nhà Nho gọi phương thức canh tác này là Hỏa Chủng  (dùng Lửa mà Trồng - đốt lửa đầu gậy để mài đầu gậy cho nhọn mà chọc lỗ xuống đất khô) khác với dùng Nước mà Trồng. Văn minh “Nước Trồng” = Nông ngày nay đã tiến lên công nghệ dùng Nước mà không dùng đất gọi là phương thức Thủy Canh trong nhà kính (nhưng vẫn giữ nguyên tắc như tục ngữ nêu là “nhất Nước nhì phân tam cần tứ Giống”).

Vùng nhiệt đới ẩm ướt nhiều sông suối nên chữ Lê còn mang nghĩa màu đen, thuộc âm.

3/ Chữ MINH nghĩa là luôn luôn sáng tỏ (minh bạch) như mặt trời (chữ nhật - sáng suốt ban ngày) mặt trăng (chữ nguyệt – sáng suốt ban đêm) nên chữ Minh là thuộc dương.

4/ Hai chữ LÊ MINH 黎明 có nghĩa là lúc đang chuyển từ âm sang dương như đang chuyển từ đêm sang ngày, là lúc mặt trời mọc, nên chữ LÊ MINH 黎明dùng chỉ lúc bình minh.

5/ Hai chữ ĐỨC DIỆU 德耀 như hai tố là tố dương (chữ ĐỨC thuộc dương, sáng mạnh như mặt trời)  và tố âm (chữ DIỆU 耀 thuộc âm, sáng dịu như mặt trăng) nằm bên trong cái vòng tròn ngoài cũng làm bằng hai tố là tố âm (chữ LÊ) và tố dương (chữ MINH).

6/ Trật tự bốn chữ LÊ ĐỨC DIỆU MINH 黎德耀明mang ẩn ý là cái vòng tròn Đồ Hình Âm Dương.

 

Trong đó vòng ngoài theo chiều kim đồng hồ (CW) đọc từ trái sang phải là hai chữ LÊ MINH tương ứng kết cấu Â/D, nghĩa đen của LÊ MINH là đang dần dần lóe sáng bình minh, tương đương với từ đối Le /Lói = Â/D. Chữ LÊ mang nghĩa màu đen, Lê = Lọ = Lem = Lấm-Lem = Lem-Nhem = Nhèm (tiếng Tày, “Nhèm” nghĩa là màu đen) = “Nhèm Dạ” = Nhá = Nhá-Nhem (nghĩa là đang chập tối); Lê = Lọ, Le = Nghẹ, Lọ Nghẹ (tiếng Huế gọi “Lọ Nghẹ” chỉ bồ hóng). Chữ MINH là sáng mạnh, như đã giải thích ở trên.

 

Vòng  trong theo chiều ngược kim đồng hồ (CCW) đọc từ phải sang trái là hai chữ DIỆU ĐỨC, cũng là kết cấu Â/D, nghĩa đen của DIỆU ĐỨC là đang dần dần sáng từ sáng dịu ( “Dịu Chiếu” = DIỆU ) đến sáng mạnh (chữ ĐỨC).

 

[Nếu đọc bằng cách di ngòi bút theo CW thì sẽ hoàn thành được vòng tròn ngoài là từ chữ LÊ (âm) sang chữ MINH (dương), rồi di tiếp theo CCW thì sẽ hoàn tất được phần trong là từ chữ DIỆU (âm) sang chữ ĐỨC (dương) sẽ chia được hình tròn thành hai con Nòng-Nọc bằng nhau mà quay đầu ngược nhau. Đó chính là cái Đồ Hình Âm Dương].

 

Chữ “Dịu Chiếu” = Diệu mang nghĩa sáng nhẹ như Trăng, còn gọi là sáng trắng hay sáng bạc (thuộc âm), không mạnh như sáng vàng (nắng vàng,  thuộc dương). Chữ Diệu 耀 gồm: (1) bộ Quang là sáng, Sáng = =Quang = Coóng (tiếng Quảng Đông), đồ mới thì màu còn sáng nên gọi là mới coóng, (2) bộ Vũ là lông vũ, (3) bộ Chuy là chim; biểu ý của chữ Diệu 耀 là cái sáng dịu của con chim màu trắng, đó là loài Cò hoặc loài chim Bạc = Bạch Hạc (câu đối tiễn người dương về cõi âm: “Mây xe cánh hạc về tiên cảnh. Để lại cháu con nỗi nhớ thương”).

Chữ Đức mang nghĩa là sáng mạnh, vì Đức là “Đầy Ức ” = Đức, nghĩa đen là đầy tiếng thơm, Ức là thơm, “Nồng Ức ” = Nức, là thơm nức, sực nức, nức tiếng khen. Bởi vậy chữ Đức chỉ dành cho người cực sáng về trí tuệ, gọi là Đức Ngài. Nhưng để giành được tiếng “Đức” thì người ấy đã phải đi nhiều, học nhiều, gom được một bồ trí tuệ để một lòng vì “Đất Nước” = Đức: Chữ Đức gồm:  (1) bộ Xích nghĩa là đi (“Xê Dịch” = = Xích; chữ Hành cũng có bộ Xích) , (2) bộ Thập nghĩa là mười phương, đại diện cho vũ trụ (thành ngữ “chín phương Trời, mười phương Phật” có nghĩa là Vũ Trụ), (3) bộ Tứ nghĩa là cái vựa bốn vách, vuông như cái  bồ đựng kiến thức gom góp được, câu tục ngữ “đi một đoạn đàng học một sàng khôn”, sàng là cái đựng kiến thức nhưng đựng có chọn lọc, cái dở không đáng học thì cho nó lọt qua mắt sàng mà vứt đi), (4) bộ Nhất  là một, ý là giữ nguyên bản sắc người Việt, (5) bộ Tâm  nghĩa là tâm nguyện vì đất nước.

 

Nhưng đọc từ trái sang phải thì LÊ ĐỨC DIỆU MINH có nghĩa là:  người dân thường (chữ LÊ, đại diện nhân dân, lê dân ( "dân đen, con đỏ” trong <Bình Ngô Đại Cáo> của Nguyễn Trãi viết) là người có đức (chữ ĐỨC) chiếu soi (chữ DIỆU) sự minh bạch (chữ MINH). Còn đọc từ phải sang trái thì ý nghĩa là: sự minh bạch của pháp luật (chữ MINH 明) mới có thể rọi soi cho thấy được (chữ DIỆU 耀) cái đức (chữ ĐỨC 德 - sáng về trí tuệ) của nhân dân (chữ LÊ 黎)

  1. Về mặt tâm linh (nhìn theo chiều sâu lịch sử) thì:

LÊ (đức diệu) MINH thiết LINH   >>>  có ẩn chữ LINH (nghĩa: linh thiêng, Mê Linh)

MINH (diệu đức) LÊ thiết MÊ      >>>  có ẩn chữ MÊ (nghĩa: ngưỡng mộ, Mê Linh)

MÊ LINH thiết MINH                    >>>   có ẩn chữ MINH (nghĩa: Đế Minh)

MINH DIỆU thiết MIẾU                >>>   có ẩn chữ MIẾU (nghĩa: điện thờ)

ĐỨC LÊ thiết ĐẾ                       >>>   có ẩn chữ ĐẾ (nghĩa: Đế Minh)

LÊ ĐỨC thiết LỰC                     >>>   có ẩn chữ LỰC (nghĩa: Hùng mạnh)

DIỆU MINH thiết DINH                 >>>   có ẩn chữ DINH (nghĩa: cơ nghiệp)

 

Dịch nghĩa:  (Nôm na: “nhân dân có đức chiếu sáng” đó là truyền thống tự ngàn xưa)

 

Bốn chữ LÊ ĐỨC DIỆU MINH còn hàm nghĩa ẩn là:

 

                      MIẾU ĐẾ vương LỰC cường DINH tráng

                      Thủy Tổ xưa sáng rạng ĐẾ MINH

                      Trưng Vương oanh liệt MÊ LINH

                      LÊ dân có ĐỨC DIỆU MINH muôn đời.

 

Thượng Đế 上帝 là “từ Hán Việt” ?

 

Bầu Trời là mái nhà chung

Chữ nho xưa vẽ nó bằng bộ Miên       [“Mái che không thủng mà Liền” = Miên]

Hình dung nó giống cái Vòm

Nó đang ôm ủ muôn trùng hành tinh

“Vòm ” = Vũ , là cái không gian

“Trời Du ” = Trụ , gọi bằng thời gian

Vũ Trụ 宇 宙: diễn biến mênh mang

Chữ Vũ Trụ 宇 宙, của Việt Nam xưa dùng

Trời / Đất: cặp đối Dương/Âm

Trời = Trên = Thiên = Thượng  là chung nội hàm.

Đế là nhấn chữ Đất Hề!

“Đất Hề” thiết Đế , cũng là Đất thôi

Trời Đất = Thượng Đế  帝,đây rồi

Dân gian có trước, sau thời hàn lâm

Thượng Đế 上 帝 - “từ Hán Việt” là lầm

Thượng Đế phán rằng: nói vậy là ngu.

Trời Đất diễn biến lu bù,

Tế bào cũng biến mặc dù ngày đêm

“Chống diễn biến” – trái Tự Nhiên

Cho nên sống phải thuận Tiên là lành.                          [“Tự nhiên”  thiết Tiên]

 

 Lúa gạo quí như ngọc ngà

“Gạo châu, củi quế” khi là hiếm hoi

“Thay Ngọc” = Thóc, đây rồi

Thóc chỉ hột lúa khi hồi đã khô

“Im như thóc” giống trong bồ

“Các Thóc” = Cốc là từ dùng chung

Các loại hột giúp no lòng

Đều gọi Ngũ Cốc 五 穀, ăn mong khỏe người

“Cốc ăn ban Sớm” = Cơm

“Cốc Hôm” = Cốm, ăn đêm ấm lòng

Cốm làm để cúng Trăng Rằm                            [dịp Chuôn Chnăm Thmây: chào năm mới, Khơme]

Dần thành quà vặt để ăn hàng ngày

Sớm/Hôm, chữ viết Thần / Hôn

Nửa “Vằn” là Bán: Ban đêm, Ban ngày                [Ngày+Đêm = “Vằn”  = Vận, tiếng Tày]

Dân gian, hàn lâm, xưa nay

Đều là thuần Việt, thẳng ngay mà rằng

 

Đóng/Mở như là Âm/Dương

Thời đại tiến hóa Chum/Chuông rõ ràng

Cổ đại làm gốm có Chum

Gọi “Chum” môi khép như “Âm” vậy mà

Thời đồ đồng lại có Chuông

Gọi “Chuông”, môi mở như “Dương” ấy mà

Âm/Dương = Không/Phải = Ừm/Hầy

Phải! (Việt) = Hai! (Nhật) = Hầy! (Quảng Đông)

Ngược với khủ định là Không!

1/ 0 = Mở/Đóng, môi phân rõ ràng
 

Chum im ắng chụm gia đường

Ngửa mặt đựng thóc hay thường nước mưa

Chuông treo Úp mặt xuống  chùa

Chum – Âm, thế Ngửa, đúng là hướng dương

Hướng dương đến kỷ nguyên Chuông

Chuông – Dương, thế Úp, lại là hướng âm

Thuyền Trống Đồng chải hướng dương

Hình thành Đất Nước mênh mông Hồng Bàng       [Hồng: rộng, Bàng: rộng]

Hồng Bàng “tịch hậu” Nước tàn

Thành “tổ chim chích” như còn ngày nay.

 

Điện Thái Hòa cố đô Huế có bài thơ của vua Minh Mạng:

“Văn hiến thiên niên quốc

Xa thư vạn lý đồ

Hồng Bàng khai tịch hậu

Nam phục nhất Đường, Ngu”

文獻千年國

車書萬里圖

鴻龐開闢后

南復一唐虞

 

Bản dịch của nhà sử học Dương Trung Quốc:

“Nước nghìn năm văn hiến

Vạn dặm một sơn hà                                         [thiếu “Lạc Thư 洛書” , “Hà Đồ 河圖” và “Xa ” là chuyển]

Từ Hồng Bàng mở nước                                    [thiếu “Khai” là ra đời và “Tịch” là kết thúc]

Thịnh trị nước Nam ta”                                       [thiếu“Phục” là dựng lại, thiếu Nghiêu, Thuấn]

 

Bản dịch của Lãn Miên:

“Ngàn năm văn hiến nước Ta

“Thư”, “Đồ” truyền bá chở xa nghìn trùng        [ma trận Lạc Thư 洛書, Hà Đồ 河圖]

Hồng Bàng : một thủa Việt Hùng                      [nước Việt thời đại các vua Hùng]

Đại Nam: dựng lại lẫy lừng Thuấn, Nghiêu”.

 

Chú thích: “Nghiêu Thuấn” thiết Nguyễn. Nguyễn là ông tổ đầu tiên của người Việt, chữ nho viết là Nguyên Phụ , chữ Nguyên nghĩa là đầu tiên, chữ Phụ nghĩa là cái Gò. Bố = Bọ (tiếng Quảng Bình) = Gò = Phò (tiếng Lào) = Phu = Pu (tiếng Thái, là hòn núi) = Phụ. Gò là “Đất Gò” = “Đụn Gò” = Đọ, là núi Đọ, di chỉ khảo cổ về thời tiền sử của người Việt.

 

21/1/2017    Bói chữ năm Đinh Dậu

 

1.    Bính Thân = Bấn quá làm Thinh

Việc cần giải quyết mặc tình bỏ lơ (1)

Đinh Dậu là Người và Gà (2)

Đậu Dinh = Đạt Thắng, sức ta lên đà

Bính Thân = Sáng Khỉ ra ma (3)

Đinh Dậu = Người Gà chung sức dựng xây

Người chăm lập xưởng, trồng cây (5)

Gà chăm vén ổ đẻ sây trứng vàng (6)

Chọn năm Đinh Dậu khai trương

Ắt được tài phú mãn đường quí vinh (7)

 

2.    Đinh Đỉnh Đính Đĩnh Định Đình (8)

Dậu Dâu Dẫu Dấu Dẩu Giầu Đậu Dinh (9)

Làm người quí ở cái tình

Truyền thống trí tuệ chuyển mình âm dương (10)

 

3.    Đầu tư tạo phước vô lường (11)

Gây nền thế hệ kiên cường Việt Nam (12)

Công ty văn hóa huy hoàng (13)

Giữ bền nghĩa xóm tình làng ngàn năm

Mượt mà tiếng Việt mênh mông (14)

Lòng người nhân hậu thắm trong miếng trầu (15)

 

Mười câu Lục bát (16)

(Đoạn 2 và 3)

Chúc Tết mọi nhà

 

Chú thích:

(1)  Mặc tình: vô cảm. Mặc = Mô Chắc = 0 + 1 = 0 = Không (không tình cảm)

(2)  Đinh: con người. Liên quan: Đông Đinh = Đình (nổi đình nổi đám). Đứa Kinh = Đinh. Con vật nhất thông Minh = Kinh = Con Minh = Kinh: con người. Trong con người là hai thể âm dương cân bằng, hai thể này đều là Sống = Sáng, như hai con mắt tinh, “Mắt Tinh” = Minh, nên Minh nghĩa là sáng. Chữ Minh viết bằng hai con mắt sáng là Mặt Trời và Mặt Trăng, nghĩa là “Mắt mắt đều Tinh” = Minh. Hai thể âm dương trong một con người là “Ta Âm” = Tâm (không nhìn thấy được) và “Ta Dương” = Tướng (nhìn thấy được trên nét mặt ngoài). Tâm là cái “Sáng Âm” = Sấm (khả năng tiên đoán do tâm thức), Sáng Âm viết bằng chữ Minh âm gồm Mịch + Và + Lâu (phải hiểu bằng thế giới ảo tức nói lái “Mịch Và Lâu” là “Mầu Và Linh”) . Tướng là cái “Sáng Dương” = Sướng (hanh thông trong đời sống), Minh dương viết bằng chữ Nhật (Trời) + Nguyệt (Trăng).Người Kinh tự xưng Ta là “Một Kinh” = Mình. Trong Mình tức trong Kinh có hai cái Minh (Minh âm và Minh dương), logic với dấu thanh điệu: Minh + Minh = 0 + 0 = 1 = Mình (dấu “không” thuộc âm, dầu “huyền” thuộc dương). Mình = Mệnh = Mạng, là một mạng người. Người Kinh cũng tự xưng là Ta. Trong chữ Ta cũng gồm hai tố là tố âm (thiếu – tức Tá, mang nghĩa phải vay mượn để bù đắp) và tố dương (thừa – tức Tả, mang nghĩa thái quá), đó là: Tá + Tả = 1 + 1 = 0 = Ta (dấu “sắc” “hỏi” “huyền” thuộc dương = 1, dấu “không” “ngã” “nặng” thuộc âm = 0).

 

Dậu: con gà. Ví gà là con người gồm Nữ (con Gái) và Nam (con Gáy) đều ví như Gà, chăm bới việc mà làm. Liên quan: gà dầu, con dâu, phong tục ví chàng rể như con gà trống, phong tục chàng rể mang lễ lại mặt nhà gái bằng một con gà trống.

3.Bính: sáng (“Bừng Minh” = Bính). Liên quan: sáng bừng, bừng tỉnh, bình minh. Thân: con khỉ. Con = Kô (tiếng Nhật) = Cò (tiếng Thái) = Cu (tiếng Vân Kiều) =     =Tu (tiếng Tày) = Tử = Tí = Nhi = Nhỏ = Nhóc = Nhắt = Oắt = Út = Oa (Oắt Con = “Oa Kai”, tiếng Nhật nghĩa là nhỏ bé). Con khỉ, tiếng Tày là Tu Linh. “Tu Linh” = =Tinh = Tinh Tinh = Khỉnh = Khỉ. Từ liên quan: khỉ thật!, phá như khỉ!

Sáng Khỉ: tôn bọn nịnh thần phá phách. Lời TS Nguyễn Khắc Niêm khuyên vua Thành Thái: “Tôn tộc đại qui. Tôn lộc đại suy. Tôn tài đại thịnh. Tôn nịnh đại suy”.

Ra ma: xã hội suy thoái.

4.    Người Gà: người và gà. Người gà: người bày vẽ cho. Gợi = “Gợi Ạ!” = Gà, như gà nước cờ, người giỏi gà cho người dốt. Liên quan: Gà mờ. “Gà Mờ” = Gở = Dở = Dốt.

5.    Lập xưởng: làm công nghiệp, xây hạ tầng

Trồng cây: làm nông nghiệp, bảo vệ môi trường. Trồng cây: ám chí đào tạo nhân.

6.    Vén: vun vén ổ đẻ, thu vén cho doanh nghiệp

7.    Tài phú mãn đường: nhân tài và của cải đầy nhà. Qúi và vinh dự.

8.    Con người (Đinh) là nhân tố thượng tôn (Đỉnh) trong làm ăn giữ tín (Đính) khẳng định đĩnh đạc (Đĩnh) khi mọi giải pháp (Định) đều được phản biện KHKT mà thông qua thành quyết định chung (Đình).

9.    Làng quê Việt Nam (Dậu Dâu) dù khiêm nhường Dẫu Dấu vẫn tiềm tàng nổi lên (Dẩu) sự giàu có (Giầu) đạt được (Đậu) cách chắc thắng (Dinh)

10. Chuyển mình âm dương: bỏ tư duy cũ sang tư duy mới.

11. Vô lường: không thể đong lường, ý nói rất to lớn

12. Kiên cường: bền bỉ và mạnh mẽ

13. Huy hoàng: phát huy (Huy) sáng (Hoàng) tạo

14. Tiếng Việt: tiếng nói Việt Nam, ngôn ngữ việt, văn hóa Việt.Tiếng Việt: tiếng tăm của Việt Nam.

15. Miếng trầu: cũng còn gọi là miếng Giầu (giầu tình cảm)

16. Mười câu: là Cầu mươi (mong muốn có nhiều)

Lục bát: là Lạt búc. Lạt Búc = Lạt Buộc = Law Book, tiếng Anh nghĩa là sách luật. Liên quan: “nói như lạt buộc” nghĩa là nói đúng luật, nói có sách mách có chứng, “nói chắc như đinh đóng cột” nghĩa là thượng tôn pháp luật.”Lạt mềm buộc Chật” = Luật.

ĐINH DẬU có nghĩa là thượng tôn (ĐINH) thiên nhiên (DẬU) cũng là thượng tôn pháp luật.

 

Edited by Lãn Miên
4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

Từ và Cụm từ

 

Thông tin trên mạng <wenxuecheng> của TQ ngày 16 thánh 11 năm 2016: “ĐCS TQ mệnh lệnh các đảng viên phải gọi nhau là đồng chí, làm cho người đồng tính luyến ái (ở TQ) ngỡ ngàng” . Trích nguyên văn: “中国共产党命令党员相称呼同志”. Phân tích: (“同志 tongzhi” – đồng chí – cùng chí hướng)đồng âm với từ mà những người đồng tính luyến ái (ở TQ) cũng gọi nhau là “tongzhi 通痣” -  “同恋也相称呼通痣”. Phân tích: (”通痣 tongzhi” – thông chí - cùng thông cảm với nhau ở một điểm chung khác thường mà vô hại – “zhi ” là cái nốt ruồi – “nốt ruồi” được chọn làm ước lệ cho ý “một điểm chung khác thường mà vô hại”). Cách chọn chữ ước lệ kiểu này của người TQ thật là tuyệt vời ở sự chính xác. Đây là do ảnh hưởng truyền thống của văn Nho có từ thời Đường. Còn cách dùng chữ Nho đồng âm hoặc na ná âm để phiên âm các từ ngoại lai thì quá dở, chỉ được cái âm lơ lớ, còn nghĩa chữ thì không có chút logic nào với cái âm biểu nghĩa của từ ngoại lai. Ví dụ: (1) Từ Bao La của tiếng Việt mang nghĩa là rộng đa chiều, do phiên thiết từ con số Ba là 3 trục lập thể (cũng vậy: 3 là : thiên, địa, nhân - chỉ vũ trụ), Ba phiên thiết thành Bao La. Hán ngữ mượn chữ Bao và chữ La (phát âm lơ lớ là “Pao Lua ” để phiên âm từ Bao La, nhưng nghĩa của chữ Bao là cái bọc, nghĩa của chữ La là “cái lưới bẫy chim của người Mường” (theo giải thích của <Thuyết Văn Giải Tự 說文解字> của Hứa Thận 許慎 cách nay hơn hai nghìn năm). (2) Từ Fans của tiếng Anh nghĩa là những người ủng hộ đã được phiên âm bằng hai chữ Fen Si (nghĩa biểu ý của chữ Fen là bún, của chữ Si là sợi, nghĩa đen là sợi bún; từ “sợi bún” có thể ước lệ cho ý nghĩa ủng hộ, nhưng không chính xác với nhiệt tình của Fans, vì món ăn là sợi bún quá bèo). Cũng có bản khác phiên âm Fans bằng chữ “fan ” (phạn) nghĩa là cơm, có trội hơn chút vì không quá bèo, nhưng cũng chưa thể hiện được nhiệt tình của Fans. Giới trẻ TQ ủng hộ Ôn Gia Bảo từng tự xưng họ là “bát Bảo phạn 八寶飯” (cơm bát bảo), giới trẻ TQ ủng hộ Hồ Cẩm Đào từng tự xưng họ là “thập Cẩm phạn 什錦飯” (cơm thập cẩm). Lại cũng có bản khác không phiên âm mà dịch nghĩa Fans bằng cụm từ “la la dui 拉拉隊” (đội hò la). Tiếng Việt thì vì do các nhà hàn lâm của Viện ngôn ngữ chưa tìm được từ nào thích hợp để dịch từ Fans nên để cho giới trẻ tùy tiện gọi bằng cụm từ dịch ý Fans là “các fan hâm mộ” rồi lớn giọng chỉ trích giới trẻ là “không giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. “Văn hóa chỉ trích” chỉ đem đến sự trì trệ của  xã hội, ngược lại với “văn hóa khuyến khích” của người phương Tây đem đến sự phát triển năng động của xã hội (Tây khuyến khích tự do tư tưởng suốt cuộc đời ngay từ khi trẻ con còn chập chững tập đi chứ chưa nói là khi còn bập bẹ học vỡ lòng). LM thiển nghĩ từ Fans có thể dịch bằng từ “trống đồng” (lấy hình ảnh cái trống đồng để làm từ lóng, bởi trống đồng là báu vật mà lại là ước lệ cho sự cổ vũ). Ví dụ nói câu “Giới trống đồng của đội tuyển X” thì thật dễ hiểu: Giữa khán giả và các cầu thủ của đội tuyển X không có mối liên hệ thân quen hay vật chất nào, nó là “Trống” (trống rỗng) nhưng lại gây được “Đồng” (đồng cảm xúc biết ơn nhau nên đã biểu lộ ban ơn nhau) ở chỗ cầu thủ đã tận lực biểu diễn kỹ thuật điệu nghệ cho khán giả thưởng thức càng cố gắng ban ơn cho khán giả nhiều hơn, còn khán giả nhiệt tình cổ vũ khen ngợi kỹ thuật và cử chỉ đẹp của cầu thủ ở tiếng hò reo tán thưởng là ban ơn cho cầu thủ (khen bằng tiếng, tức do lướt “Ngôn Lời” = Ngợi, gọi là ngợi khen). Người “đồng tính luyến ái”, đó là cụm từ dùng tạm chứ không phải một từ, còn phải chờ Viện ngôn ngữ ban hành từ đơn âm mới nào xác đáng và khoa học để thay cho cụm từ đó. ”Đồng tính luyên ái “ thì TQ dùng tắt gọi là người “đồng luyến ” cho nó gọn hơn. Nếu cùng là đàn ông thì ở tiếng Tây từ xưa đã dùng từ “Gay” là từ lóng do tiếng Việt có từ “Gáy” là tiếng mà  chỉ có con gà trống mới có, là tiếng gáy (gà Trống = gà Chồng = kê Công = Công ). Vậy mà cụm từ như hiện dùng “người đồng tính luyến ái”, dân Việt từ xưa đã dùng là một từ đơn âm chính xác là từ “dân Bóng”, để chỉ họ có thể là đàn Bà, có thể là đàn Ông, và họ sống khép kín với nhau, có khi xã hội không nhận ra họ, tức họ chỉ thể hiện ở Trong với nhau. Ba tố: hoặc “Bà”, hoặc “Ông”, chỉ “Trong” với nhau đã được dân gian Việt nói lướt là “Bà Ông Trong” = Bóng (chẳng khác gì ghép các tố Con vào chung một Vuông = Vòm = Mỏm = Miên để thành một tiếng là một Chứa = Chữ = Trữ = Tự), gọi người ‘đồng tính luyến ái”  là dân Bóng. Do từ dân “Bóng” này của dân gian Việt cổ xưa, mà LM lại thiển nghĩ: Ngày nay luật pháp văn minh công nhận kết hôn giữa hai người Bóng, thì ra tòa đương nhiên phải có (dù là đôi toàn bà hay đôi toàn ông) phân biệt hai chủ thể là “Chồng Bóng” = Chõng và “Vợ Bóng” = Võng. Hai vật cụ thể dùng để “ăn nằm” là cái Chõng (vật cứng – tượng trưng chồng) và cái Võng (vật mềm – tượng trưng vợ), hai từ cụ thể ấy đã nghiễm nhiên thành hai từ lóng là “Võng” và “Chõng” chỉ hai Vợ Chồng của một đôi đồng tính luyến ái (dù đều đàn ông – Gay, hay đều đàn bà). Còn con nuôi của họ gọi bố là gì, mẹ là gì thì là do trong nhà họ tự quyết định cách gọi riêng, có thể là căn cứ vào tên riêng của mỗi “Chõng” hay “Võng” mà họ tự đặt cho con gọi, để khi đến trường nó có thể phiên dịch cho bạn bè biết là “tao ở nhà gọi bố ơi là gì , gọi mẹ ơi là gì chứ không phải như chúng mày gọi”. Phồn thực thì gọi là đôi D/  = Đực/Cái. Đực = Đam (a Đam) = Nam. Chữ Nam 男 đọc Điền 田 Lực 力 thiết Đực 男. Cái  = =Vãi (ông sư / bà vãi) = Vợ  = “Vợ Ạ!” = Va (e Va). “a Đam” và “e Va” phạm trái cấm trong vườn của Thượng Đế …. “A Đam” với “E Va” có gốc do từ anh Đam với em Va của tiếng Việt. Vợ = Vựa = Chứa = Chửa = Chữ = Tự = Tự (cái chứa trong bụng vợ là cái của thừa Tự ). Đực = Đam = Đâm. Ca dao: “Dáo đâm vào thịt thì đau. Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời”.


 

Đọc < OSH0 > (osho.com)

(chương 1: Được làm chủ thiền, sách <Niết bàn, cơn ác mộng cuối cùng>, tác giả OSHO, dịch giả Chánh Tín)

 

Chủ thuyết lý tưởng ác thay

Nó là chất độc ngày ngày ngấm sâu

Bạn không thể thấy trong đầu

Bạn đang tự sát mà hầu không hay

Tôn giáo: “Sống ở giờ này!”

Chủ thuyết lý tưởng: “Sống ngày mai cơ,

Hãy hy sinh cái bây giờ

Để suy tôn cái bàn thờ ngày mai!”.

Bạn phải hiểu được điều này

Mỗi một khoảnh khắc là hay nhất rồi

Đừng dại đày đọa cái Tôi

Hy sinh hiện tại, mong hồi tương lai.

Hãy sống giây phút giờ đây

Tự do thoải mái và đầy tôn vinh

Hoàn toàn bạn chính là mình

Mặc cho kẻ khác thuyết minh điều tà

Sống mơ mộng chẳng phải Ta

Những cái chưa đến đều là viển vông

Kế hoạch là con số không

Cuộc sống đang sẵn còn mong cái gì?

Hãy hưởng thụ cuộc sống đi

Chuẩn bị, mong đợi khác gì đã vong

Vướng vào chủ thuyết là tong

Nghi thức trống rỗng, mơ mòng tương lai

Chẳng bao giờ có trên đời

Sống như xác chết, hết hơi, xỉu dần.

Hiện tại là cái thật gần

Hãy vui cuộc sống chẳng cần nghĩ suy

Nó là ân huệ chứ gì

Tự nhiên sinh, thở, yêu, đòi, học, chơi

Đó là quà tặng sẵn rồi

Hưởng thụ nó chính là đời sống ta

Cuộc sống là sẵn đó mà

Nó đẹp tuyệt đối chẳng là vì sao

Nó chẳng vô nghĩa chút nào

Cũng chẳng có nghĩa, làm sao phải tìm?

Nó là hiện diện tự nhiên

Là nhà của bạn, cũng liền vô cư.

Sống theo thông lệ là ngu

Người như cái máy biết gì hưởng vui

Chủ thuyết lý tưởng là sai

Qúa khứ - Hiện tại – Tương lai ba phần?

Thời gian chia vậy là lầm

Qúa khứ - ký ức trong tâm thôi mà

Tương lai – mong ước ấy mà

Khoảnh khắc rất nhỏ chính là hiện nay

Bạn phải giành giật nó ngay

Lỡ nó chẳng khác tự tay giết mình

Hãy quên đi việc trở thành

Hãy buông thư – bạn là lành mãn viên

Cuộc sống – hoàn hảo tự nhiên

Tự nó sẵn có và luôn với mình

Trong ta luôn xảy tự tình

Vui, buồn, giận , dữ, ghen, tranh, tị, hiềm

Buông thư, bạn hãy biết quên

Đó là cuộc sống, chẳng phiền để tâm

Như hoa tự nở âm thầm

Chẳng ghen, so, đợi, nó cùng Ông Thiên

Nó cũng chẳng muốn gì thêm

Nó là hoàn hảo, tự nhiên, hiện thời

So đo hơn kém, đầy vơi

Chính là đánh mất cái Tôi hiện tình

Mình đang là sống với Mình

Đang cùng Thượng Đế hiện tình hôm nay

Đức Phật nhận biết điều này

Bỏ mọi lý tưởng khỏi ngay chính Ngài

Chẳng phải theo đuổi một ai

“Linh hồn?”, “Thượng Đế?” hỏi Ngài đều im

“Thiên đàng?”, “Cực lạc?”, “Suối vàng?”

Hỏi nữa, Đức Phật vẫn hoàn toàn im

Bởi Ngài hiểu rõ thế nhân

Lý tưởng ám ảnh thành anh điên rồ

Giải thoát, Ngài gọi “moskha”

Nghĩ từ đẹp nữa, Ngài ra “niết bàn” –

“Nirvana” – chấm dứt, không ham –

“Không là” – phủ định hoàn toàn “Trống không”.

 

[ Đến đây mới hiểu “Trống” đồng

Đừng tham mục đích, viển vông làm gì

Định hướng là cái chi chi

Đuổi hoài hổng tới, làm gì mất công

Hiện tại sống thực với lòng

Tận hưởng cuộc sống – hoa hồng tự nhiên

Tự Nhiên đạo thiết là Tiên

Đạo là Vũ Trụ, là Tiên, Đi Đầu

Đi Đầu là đi bằng đầu

Đó là cái Hiểu, cần đâu nói gì

Đạo là “Noi Hiểu” (=) Nẻo chi!

“Lộ Noi” (=) Lối – cách đi bằng đầu

Nẻo Lối (=) Đạo Lộ như nhau

Gọi là Đường Lối, Dẫn nhau bằng Đầu

<Đạo Khả Đạo Thường Đạo>:

“Vũ Trụ (道)mà Nói(道được, còn nào Tự Nhiên(道)

Cho nên sống “Thuận Tự Nhiên” (=)

Chính là sống với ông “Thiên” huyền Thiền].

 

Phật cho người chữ Niết Bàn

Triệu người hiểu nó lại toàn sai đi

Niết Bàn là: Chẳng có gì

 

[Nga nói là “Niết!”, Ta thì “Nỏ!” , “Mô!”

Mô (=) Vô là  số Zero

Cái Không tuyệt đối – Hết cho cuộc đời.

Nam Việt (=) Niết, chính là nơi

Sống không lo sợ, ấy nơi Niết Bàn:

Con người biết sống hồn nhiên

Đúng là con cháu Rồng Tiên – Hồng Bàng.]

 

Đất Nước

 Người Việt gọi xứ sở nơi họ quần cư là Đất Nước. Theo sắp xếp hai tiếng ghép thì luôn luôn là một từ mang tính dương và một từ mang tính âm, trong các tố để phân biệt tính âm dương ấy thì có một trong những tố là: cũ coi là thuộc âm, mới coi là thuộc dương , hoặc của mình coi là thuộc âm (của trong), của ngoại lai coi là thuộc dương (của ngoài), hoặc còn phân biệt âm dương bằng các tố khác nữa. Ví dụ: từ Chó Má, chó là của tiếng Kinh, má là của tiếng Lào; Gà Qué, gà là của tiếng Kinh, qué = cáy là của tiếng Tày và tiếng Quảng Đông; Tre Pheo, tre là của tiếng Kinh, pheo là của tiếng Mường; Tre Trúc, tre là từ dân gian có trước (thuộc âm, như kết cấu Âm/Dương mà Hán ngữ vẫn giữ nguyên là Yin/Yang), trúc là từ hàn lâm có sau (thuộc dương); Sông Ngòi, dù đều là dòng nước nhưng sông lớn hơn thuộc dương, ngòi nhỏ hơn thuộc âm; Hà Hói, dù đều là dòng nước nhưng hà là từ hàn lâm (mới hơn) lại là lớn hơn thuộc dương, hói là từ dân gian (cũ hơn) lại là nhỏ hơn thuộc âm; Sông Núi, dù đều là từ dân gian nhưng sông là nước thuộc âm, núi là đất thuộc dương ; Giang Sơn, dù đều là từ hàn lâm nhưng giang là nước thuộc âm, sơn là đất thuộc dương; Mương Phai, mương là của tiếng Kinh, phai là của tiếng Thái. Từ ghép Đất Nước ngoài phân biệt theo bản chất thì đất thuộc dương, nước thuộc âm còn hàm ý nữa là dù đều là cái nôi của sự sống nhưng cái nôi nước là cái cần trước (“nhất nước ,nhì phân, tam cần, tứ giống”), cũ hơn, thuộc âm, cái nôi đất là sau thuộc dương. Từ ghép Đất Nước nói lên thời khắc lịch sử loài người thoát qua cơn đại hồng thủy ở kỷ nguyên xa xôi xưa để tiếp tục tồn tại. Khi đã thoát từ chỗ lênh đênh trong cơn đại hồng thủy kỷ nguyên cổ đại mà cập được đất liền thì định cư trên Đất mà còn nhớ đến Nước, nên gọi nơi quần cư là Đất Nước. Cơn đại hồng thủy ấy theo truyền thuyết thì loài người chỉ còn một đôi Nam Nữ “thoát nạn trên con thuyền No e” mà tìm được đến chỗ có đất (“No e” là cái “Nôi Ốc” = “Nốc”, tiếng Nghệ, chỉ con thuyền có mái che, Ốc là cái vỏ ốc chỉ cái nhà, kinh doanh bất động sản còn gọi là kinh doanh địa ốc, chữ nho Ốc này chỉ cái nhà, tiếng Việt Nam, Việt Đông - Quảng Đông, Việt Tây - Quảng Tây đều đọc là “Ốc”, Hán ngữ dùng chữ Ốc nhưng đọc là “Wu ”; No e cũng là cái “Nô-Ê” của tiếng Nhật chỉ con thuyền). Đôi nam nữ sống sót ấy tiếp tục sinh ra loài người. Giống đực là Nam, do nôi khái niệm dẫn ra: Đực = Đam  ( “a Đam” tức anh Đam) = Đam = Nam, chữ Nam viết biểu ý là “Điền Lực” thiết Đực; Hán ngữ dùng chữ Nam đọc là “Nán” nhưng nếu lướt thì là  “Tián ” thiết Tì, trật, không thành “Nán”, vậy chữ Nam cùng hai chữ Điền Lực là do Hán mượn của Việt và phát âm theo lơ lớ đi mà thôi. Qui tắc Lướt được Hứa Thận 許慎hơn 2000 năm trước vận dụng, gọi là “Thiết”, để hướng dẫn người Hán học và đọc cho đúng giọng Việt các chữ Nho của Việt, trong cuốn  <Thuyết Văn Giải Tự說文解字> được coi là cuốn Tự điển đầu tiên của Trung Hoa. Đực = Đam = Đảm = Đâm = Đụ = Chú = Chọt = Rót (rót tinh trùng). Giống cái là Nữ, là do nôi khái niệm dẫn ra: Cái = Mái (như gà mái) = Nái (như lợn nái) = nhấn “Nái Chứ!” = Nữ = Nòng = Nàng = Nương = =Nứng = Hứng (hứng tinh trùng), chức năng Nữ là làm Vợ = nhấn “Vợ Ạ!” = Va, nên mới có “e Va” (em Va) đi theo “a Đam” (anh Đam). Chữ Nam (đàn ông) này tiếng Nhật có hai cách đọc: đọc là Dan (“đan”) gọi là đọc theo Ngô Âm 吳音 (“gô ồn”) tức Ngô Ồn nghĩa là người Ngô nói (chú ý: “Người Ồn” = Ngôn, nghĩa là nói, “Đông người Ồn” = Đồn, nghĩa là tin đồn; ba nước Ngô, Sở, Việt thời trung cổ đều là dân Bách Viêt); còn đọc theo thuần Nhật thì là “Kô-đô-mô” nghĩa là con trai. Từ thuần Nhật này cũng có gốc Việt: Con = Cu (thằng Cu, tiếng Nghệ An, chỉ con trai) = Cò (thằng Cò, tiếng Thanh Hóa, chỉ con trai) = “Kô” (tiếng Nhật: “Ko-do-mo”, chỉ con trai). Chữ nho Nam  tiếng Nhật đọc là “Đan” (chỉ Đàn ông),dịch sang tiếng Anh là “Man”, từ “Man” này chỉ đàn ông, cũng gốc Việt nốt: Nhân = Dân = Đàn (đàn ông) = Man. Ngôn từ mọi tộc người đều không khỏi cái NÔI khái niệm, vì N = Negative (nghĩa là Âm), I = Innegative (nghĩa là Dương) , âm dương đã giao nhau mà tạo nên cái Ô = Ổ (do lướt lủn: “Ô Nở” = =Ổ). Chứng tỏ NÔI khái niệm cũng chức năng như là cái công cụ NÔI (để con nằm nghe mẹ ru mà biết nói), cái nôi tre đơn giản ấy cũng chính là cái NÔI = Trội = TRỜI (“người Việt Nam có gen Trội nhất trong các tộc người phương đông” – quốc tế nghiên cứu khoa học về gen), ngôn từ nhân loại không thoát khỏi “NÔI khái niệm” (“thuật ngữ” của LM), đúng như câu thành ngữ Việt: “Chạy trời không khỏi nắng”.

 Chữ Nữ theo <Thuyết Văn Giải Tự 說文解字> của Hứa Thận 許慎 , nguyên văn là: “Người nước Kinh Sở đọc chữ Nữ là “Nô Giải” thiết Nái”. Hán ngữ cũng dùng chữ Nô nhưng đọc là “Nú”, dùng chữ Giải nhưng đọc là “Jie”, dùng chữ Nữ nhưng đọc là “Nủy”, nhưng nếu lướt thì là “Nú Jie” thiết “Nie”, trật, không thành “Nủy”. Chứng tỏ chữ Nho không phải là của người Hán, họ mượn chữ Nho của người Việt, cố phát âm như tiếng Việt mà không nổi chính xác vì cơ quan phát âm là cặp Môi của nhân chủng Hán không thể Mấp-Máy được như của cặp môi Việt (bao gồm cả Việt Nam, Việt Đông, Việt Tây), họ có thể phát được những tiếng mở (tiếng Toang thuộc Dương) như tiếng “Máy” nhưng không thể phát được những tiếng tắc (tiếng Ngậm thuộc Âm) như tiếng “Mấp”; từ ghép Âm/Dương của Việt là một tiếng ngậm (Âm) và một tiếng toang (Dương) đã được Hán mượn nguyên xi kết cấu, nhưng phát là Yin/Yang bằng cả hai tiếng Yin và Yang đều mở môi, càng chứng tỏ thuyết Â/D và cả cái tên Âm/Dương (tiếng Ngậm là Âm. tiếng Toang là Dương) đều không phải của Hán. Các chữ Nho nêu trên, kể cả chữ Nam và chữ Nữ là của Việt. Hán ngữ chỉ là mượn chữ Nho của Việt để tạo nên ngôn ngữ riêng cho mình với ngữ pháp ngược: thuyết trước đề sau, nhưng họ cố gọi thư tịch cho đến thời Đường là “cổ Hán ngữ” mà muốn hiểu “cổ Hán ngữ” họ lại vẫn phải dịch (vì trong đó còn đa phần là cú pháp Việt). Câu đầu tiên của < Đạo Đức Kinh> là: “Đạo Khả Đạo Vô Thường Đạo” mà đến nay vẫn còn học giả TQ phản biện về dịch ra nghĩa chưa chính xác.

Hai tiếng ghép Đất Nước này thành một từ theo kết cấu D/Â = Đất/Nước = 1/0 là sự cân bằng âm dương. Nước là cái Nôi của sự sống, mà Đất là cái Đảm cho sự phát triển. Hai tiếng Nước Nôi cùng phụ âm đầu “N” gọi là cái Tơi ( Tơi = Tía = =Cha = Chủ = Chu = Châu = Chậu = Chiếu = =Chúa = Vua = Vương, Chiếu = Triệu, đều chỉ người đứng đầu, coi như Vua; Đầu = Thầu, tiếng Lào, Thầu = Thủ, Đầu Lớn = Đầu Lang = Đầu Lãnh 頭 領 = Thủ Lĩnh 首 領. Đầu = nhấn “Đầu !” =  Đà. Nhấn “Đầu Đúng!” = Đùng, nhấn “Đầu Ạ!” = Đà (truyện cổ tích “ông Đùng, bà Đà” tạo thiên lập địa của người Mường). Triệu Đà có nghĩa là Chúa Đầu. Triệu Muội có nghĩa là Chúa Cuối. Hoa Đà không phải là nhân vật có thật, mà chỉ là nhân vật huyền thoại, nói cái tinh Hoa riêng của nghế đông y thủa ban Đầu, Hoa Đầu = Hoa Đà ). Nước Nôi thiết Nôi và Nôi Nước thiết Nối (lướt lủn) nói lên cái cần cho sự sống liên tục. Cũng vậy, hai tiếng cùng phụ âm đầu “Đ” là cái Tơi = Tía = Cha là Đất Đảm thiết Đảm và Đảm Đất thiết Đất nói lên cái cần bảo đảm cho sự phát triển. Bởi vậy lịch sử thiên hạ tranh chấp nhau chỉ vì nước và đất. Theo bản chất thì Nước = Ước = Ướt = Ét (tiếng Triều Châu) = Ao = Úng = Trũng = Vũng = Lũng = Lõm (do nước bị bốc hơi dần dần), cổ đại viết tượng hình đơn giản là chữ Ao, nước là cái cần thiết đầu tiên cho sự sống, nên có sự chuyển nghĩa của từ, nên Ao = Au (tiếng Tày) = Đau Đáu = Au = Yêu = Yếu (yêu cầu hay thiết yếu). Vài từ trong nôi khái niệm trên cũng còn chuyển nghĩa chỉ cái đựng nước, như Ao (“Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”) =  Gáo (đồ múc nước) = Ao = Âu (đồ đồng, “muôn thủa vững âu vàng”) = Gầu (đồ nan tre đan dùng tát nước) = Ao = Yêu (đồ sứ, “bát chiết yêu” ) = Au = Thau (đồ đồng, dùng đựng nước rửa tay) = Thau = Thùng (đồ gỗ rồi đến đồ sắt, đồ nhựa) = Thúng (đồ nan tre đan) = Mủng (đồ nan tre đan để đong gạo) = Minh (bộ thủ, tượng hình cái mủng úp gác trên sàn để hong khói, chỉ đồ đựng nói chung). Những từ có viết bằng chữ Nho thì được Hán ngữ dùng từ thời Tần Thủy Hoàng Đế đến nay. Đất so với Nước thì Đất thuộc dương, là con số 1, nên có nôi khái niệm Đất = “Đất Một” = Đột = Đội = Đọ (núi Đọ) = Đài = Thái (Núi Đọ chính là Thái Sơn) = Thái = Thò = Thó (đất thó) = Nhô = Thổ (biến tướng của) = Thòi = Lòi = Li = Lõ (mũi lõ, lõ điếu, cặc lõ). Những từ có viết bằng chữ Nho thì được Hán ngữ dùng từ thời Tần Thủy Hoàng Đế tới nay. (Nước Tần ở phía  tây bắc của bản đồ dịch học, là phía “Tây Tận” thiết Tần, đánh số trên bản đồ là con số 9 nên cũng còn gọi là nước Chín, Hán ngữ phát âm là “Qín”. Nhấn “Chín Ạ!” = China. Nước Tần tồn tại hơn chín trăm năm rồi mới đến đời Doanh Chính lên làm vua, lại ngạo mạn tự xưng là Thủy Hoàng Đế - hoàng đế đầu tiên, nên chỉ nối đời được hai cha con là 24 năm nữa thì bị triều Hán lật đổ. Đất Nước viết tượng hình là Đột Ao (một bên là đất liền, một bên là biển Đông) đó là Đất Nước của người Việt. Khuôn viên thổ cư của mỗi gia đinh người Việt đều có nửa là Đất làm nhà và vườn, nửa là Ao rửa ráy và nuôi cá, đúng cân bằng dương âm của xứ Đột Ao thiết Đào, xứ Đào của gạo nàng Đào, rượu Đào, lụa Đào. Do là dân Kẻ Lửa = Quẻ Ly, xứ nóng, nên từ Đào chuyển nghĩa chỉ màu đỏ, máu đỏ còn gọi là máu đào. Máu = Bàu = Bầu = Bào, nên mới có câu “một giọt máu Đào hơn ao nước lã”; Máu = Bàu cũng tương tự như Muộn = Buồn = Phiền. Bên Đột  bên Ao là bên Địa (đất)  bên Dương (biển). Địa Dương thiết Đường (từ thời Đường Nghiêu). Đường phiên thiết thành Đông Dương, đó là bán đảo Đông Dương. Trong kỹ thuật lắp ráp thì Đột Ao  chỉ cái khớp nối Đực với Cái là Lộng ( lồi) và Mộng (mõm), Khớp  lộng (để cho vào với mộng) chữ Nho gọi là Hợp Long 合 攏. Xứ Đào là xứ nóng của Đế Viêm Thần Nông, của dân Kẻ Lửa = Quẻ Ly, còn gọi là dân Mặt Trời (hình mặt trời trên trống đồng), mà theo cổ thư <Bách gia tính tập> thì trăm họ đều “bắt nguồn từ họ Cơ ”, đó chính là từ mẹ Âu Cơ của truyền thuyết Việt, “Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng là thủy tổ của giống nòi Bách Việt”. Âu Cơ nghĩa là U Cả. U Cả bắt đầu từ dòng sông Cả , tức Rào Rum = Sông Lam, Nghệ An; < Hùng Vương Ngọc Phả> tại đền Hùng, Phú Thọ còn có câu “ Kinh Dương Vương quê ở Ngàn Hống”; Rào = =Thao = Chao (tiếng Thái Lan) = Chao = Chảy, chỉ dòng nước, tên các con sông như sông Chảy, sông Thao, sông Rào (ở huyện Trực Ninh, Nam Định). Nơi sông Cả đó có Bản Cả từ thời “ông Bàn Cổ”. “Mẹ Âu” = Mẫu, “Mẹ Cơ” = Mợ, “Mẹ là e Va” = Mạ = Má, “Mẹ là U” = Mụ. Chữ Cơ của họ Cơ biểu ý là Thần Nữ . Thần Nữ thiết Thử nói lên xứ nóng, như ngày nay vẫn dùng “hàn thử biểu 寒 暑 表” để đo nhiệt độ lạnh nóng; mà cũng là Nữ Thần . Nữ Thần thiết Nân nghĩa là Nam Dân= Nân = Nôm, đó là họ Cơ, họ của dân phương Nam, họ theo đàng mẹ của chế độ mẫu hệ, là họ đầu tiên của dân phương nam xứ nóng thờ nữ thần mặt trời, như thể hiện đạo Mẫu trên mặt trống đồng. Trời như con Mắt Sáng = =Mắt Tinh = Minh, gọi là Đế Minh. Con Mắt ấy là “Mắt Mẹ” = Mặt (lướt lủn) nên gọi là Mặt Trời, viết tượng hình bằng một con mắt là chữ Nhật , chỉ cái Ánh Sáng = Nắng Vàng của nó, Nắng ấy là cái Năng (năng lượng). Năng = Nắng = Nóng = Nực = Rực = Nhức = Nhực = Nhật = Nhiệt = Liệt = Lửa = Ly (người Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “Lửa”). Sáng = Lãng = Láng = Lượng . Nắng Trời = Ngời = Ngày, nên chữ Nhật chỉ Ngày. Âm = Đậm = Đêm = Đen = Hoẻn = Huyền = Hôn = Hôm = Hối = Tối = Túi. Ngày/Đêm = Ngày/Hôm = Nhật / Hôn  là để chỉ đủ một Vận của trái đất xoay quanh mặt trời, tiếng Tày gọi một ngày đêm 24 giờ là một “Vằn”, trong khi tiếng Kinh gọi tắt cho một ngày đêm 24 giờ là một Ngày hay một Hôm. "NÔI khái niệm" đã nở ra từ dính Nòng-Nọc chỉ giống cái và giống đực giao nhau. Giống cái: Nòng = Nàng = Nương = Nái = =Mái = Cái = Ngoại (đàng ngoại), và giống đực: Nọc = Cọc = Cột = Đột = Đực = Đặc = Nắc = Nội (đàng nội), trong một gia đình thì cả hai giới đều bình đẳng gánh vác việc nhà nên có từ Nòng Cốt = Cột Nọc hoàn toàn đồng nghĩa nhau. "NÔI khái niệm" cũng nở ra từ đối Nước/Nắng là hai cái Năng lượng sạch, hoàn toàn đủ cho nhân loại sống đời đời mà không phải tàn phá môi trường trái đất.

 

Đông y và Thiên Hạ Công Bằng  天下公平

Đây là một câu đối của ngành Đông Y:

醫方失治責在庸誤緩遲

Y PHUONG THẤT TRỊ TRÁCH TẠI DUNG NGỘ HOÃN TRỆ

Phác đồ điều trị mà không trị nổi bệnh là bởi tại coi thường, sai lầm, lừng khừng, chậm trễ

DƯỢC ỨNG HỮU CÔNG TRÁCH HÔ TÀI THU CHẾ TRỪ

藥應有功責乎栽收制儲

Dùng thuốc ứng cứu mà có tác dụng là do có trách nhiệm gieo trồng, thu hái, chế biến và bảo quản để dành cây thuốc.

Nhưng có lẽ ngành y nên có  bức hoành phi đơn giản nhất dưới đây, làm thật to treo gian giữa lớn nhât,  nói lên cái lý cân bằng âm dương của người Việt. Y trị phương Đông chủ yếu là làm cho cơ thể con người cân bằng âm dương thì sẽ khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Bức hoành phi đó là: THIÊN HẠ CÔNG BẰNG 天下公平, đó là đạo lý để đời của người Việt cả trong y trị lẫn trong chính trị. Chọn Bốn chữ vì là con số 4, là BỐN = BỔN = VỐN, là bốn Ven của cái lỗ đồng tiền Việt. Ven+Ven = Vèn, về dấu thanh điệu thì như  0 + 0 = 1 (dấu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm Âm; dấu “huyền”, “sắc”, “hỏi” thuộc nhóm Dương). Vèn là hai ven, nhưng Vèn còn gọi là Bẹn, và Bẹn = Bên = Biên.  Bà mẹ chửi con: “Mày không chịu đi làm cứ ở nhà mà ăn “vèn” lồn mẹ mày mãi à?”, đó chính là tiền để của câu thành ngữ “ăn quẩn cối xay”, giống như các nhà qui hoạch ngày nay chỉ ăn sẵn đất ruộng mật bờ xôi của nông dân để dễ lấy làm đủ loại “dự án”. Nhưng Vèn+ Vèn = Vẹn (dấu thanh điệu là 1+1=0). Đồng tiền gồm hình Tròn ngoài (hình tròn tượng trời) và Vẹn ở trong (hình vuông tượng đất) là Tròn Vẹn. Tròn Vẹn thiết Trọn, Trọn là Tất Cả (universal – vũ trụ). Nhưng Tất Cả thiết Ta (wa-Ta-xi = Ta = Ngã = Người, là con người – chứng tỏ cấu tạo của cơ thể và cả tinh thần của mỗi con người là một tiểu vũ trụ). Ngược lại Vẹn Tròn thiết Vón (đó là sự nén các yếu tố vũ trụ trong cơ thể mỗi con người, cũng như sự nén thông tin trong mỗi chữ vuông – chữ Nho của người Việt. Bốn chữ THIÊN HẠ CÔNG BẰNG 天下公平gồm đúng 16 nét, đó là lý do tại sao cân tiểu ly của Đông Y là 16 lạng mới đúng đủ 1 cân, và dân miền Tây Nam Bộ đếm trái cây hay hột vịt lộn là cứ một chục bằng 16, thể hiện tinh thần Thiên Hạ Công Bằng. Trong mỗi cơ thể sống có hai bát quái tồn tại, chia thành hai nửa Âm/Dương, như Minh  / Minh. Minh (tối) là cái Ta Âm thiết Tâm (tâm thức), Minh (sáng) là cái Ta Dương thiết Tướng (tướng mạo, thể hiện trên mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân v.v., thầy lang căn cứ vào đó mà chẩn bệnh). Minh sáng viết biểu ý bằng ánh sáng trời trăng là Nhật Nguyệt 月. Nhật Nguyệt thiết Nhiệt nghĩa là nóng (đang còn sống), người Đài Loan đọc chữ Nhiệt là “lửa”, và Nguyệt Nhật thiết Ngất (chết lâm sàng). Minh tối viết biểu ý bằng Mịch Lâu, phải hiểu bằng lái lại là Mầu Và Linh (mầu nhiệm và linh thiêng) vì tâm thức thuộc người “âm” nên đọc chữ “ảo”. Mịch và Lâu thiết Mầu, còn phản thiết Lâu và Mịch thiết Lịch, “Mầu Lịch” = Mịch (im) và “Lịch Mầu” = Lâu,  lâu dài trong im lặng là cuộc sống của cái linh hồn, tương tự như vũ trụ vậy, tồn tại mà không nói. Câu của <Đạo Đức Kinh>:  “Đạo khả đạo vô thường đạo 道可道無常道” (dịch: Vũ trụ mà nói được còn nào tự nhiên). Người Kinh còn xưng là “Mình”, vợ chồng cứ xưng lẫn lộn là “Ta” với “Minh” đúng như bình đẳng của Thiên Hạ Công Bằng. Xưng là Mình vì cơ thể có hai Minh, nên Minh+ Minh = Mình (dấu thanh điệu là 0+0=1). Chữ Kinhviết biểu ý gồm Đầu + Mình + Chân Tay , đó là con người, và chữ rất cân bằng hai nửa theo chiều dọc chia đôi. Trong mỗi con người có Hai bát quái là 16. Mười Sáu thiết Máu, ngược lại Sáu Mười thiết Sưởi, đó là con người sống động, là Máu Sưởi = Máu Sôi = Môi. Môi là đứng giữa Thiên và Địa, đó là Nhân. Mỗi người hay mọi người là Môi = Mỗi = Mọi (người Tây Nguyên) = Man (người Việt Bắc) = Mằn (người Quảng Đông) = Mân (người Phúc Kiến) = Cần (người Tày) = Con = Kinh, đều là cùng một NÔI = Nòi (cùng gen). “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám ngàn dặm toàn là dân Bách Việt ở” – Khổng Tử Viết 孔子曰 (Khổng Tử nói). Chữ Viết biểu ý là cái mồm có lằn môi vạch ngang, nghĩa là nói, mà là người Việt nói, vì lướt lủn “Việt Nói” = Viết, chuyển nghĩa chỉ sự ghi ký tự là Viết bằng Bút để “Put” lên mạng cho người đọc. Chứa = Chữ = Trữ , nhưng còn lướt lủn “Trữ để Dành” = Trừ . Chữ Trừ (để dành) này đối nghịch với chữ Trừ (khử bỏ) thành cặp đối Trừ (bỏ đi) / Trừ (giữ lại), tương tự các cặp đối Minh (tối) / Minh (sáng), Mình (vợ) / Mình (chồng) , Ta (vợ) / Ta (chồng) , Liệt (mạnh) / Liệt (yếu) , thể hiện âm dương cân bằng hay THIÊN HẠ CÔNG BẰNG  . Bởi vậy ngành y còn có câu đối: 醫德刻心聲神藥 Y ĐỨC KHĂC TÂM THANH THẦN DƯỢC (Lòng luôn có y đức thì mới làm ra được thuốc tốt nổi tiếng ). 同人致敬表心丹 ĐỒNG NHÂN CHÍ KÍNH BIỂU TÂM ĐAN (Hết lòng kính trọng bệnh nhân cũng như kính trọng mọi người  là thể hiện viên thuốc của mình chính là trái tim của mình).

 

 

 

Câu đối

历史 (Lịch sử)

从秦汉时起便有悬挂桃符的习惯,五代时开始在桃符上刻字,後蜀孟昶翰林學士辛寅遜在桃符板上題寫吉祥詞句[1]。以後對聯盛于,至今已有一千多年的历史。

三千年前,中国先民就已使用对偶句了[2]两汉以来诗人的对偶句及南北朝以来辞赋中的骈俪句[3],为后来对联的产生在文字上做了原始积累。汉语词义和汉字字形的特点决定了使用汉语、书写汉字的文人对于对偶修辞手法情有独钟。盛唐以后形成的格律诗律赋,对偶严格精密,对偶句已经是诗文的组成部分,它们的独立性在渐渐加强。

对联就是由格律诗的对偶句和的俪句发展而来的,它保留着律诗的某些特点。因此古人把吟诗作对相提并论,在一定程度上反映了两者之间的关系。

早在以前,中国民间过年就有悬挂桃符的习俗[4]。以驱鬼压邪。这种习俗持续了一千多年,到了五代,人们开始把联语写在桃木板上。根据《宋史·蜀世家》记载,五代后蜀主孟昶写了中国历史上第一则对联:新年纳餘庆,嘉节号长春

宋代以后,中国民间新年悬挂春联已经相当普遍,北宋诗人王安石诗中千门万户曈曈日,总把新桃换旧符就是当时过年盛况的真实写照。由于春联的出现和桃符有密切的关系,所以古人又称春联为桃符

到了明代,人们才始用红纸代替桃木板,出现我们今天所见的春联。据《簪云楼杂话》记载,明太祖朱元璋定都金陵后,除夕前,曾命公卿士庶家门须加春联一副,并亲自微服出巡,挨门观赏取乐[5]。从此,文人学士无不把题联作对视为雅事。明代顾宪成无锡东林书院联:「风声雨声读书声,声声入耳;家事国事天下事,事事关心。」

进入清代,对联曾鼎盛一时,出现了不少脍炙人口的名联佳对。民国时,劉師亮袁世凯一联:「袁世凱千古;中華民國萬年」。上联『袁世凯』三个字和下联『中華民國』四个字是「对不齐(起)」的,意思是袁世凯对不起中華民國[6]

Lịch sử xuất xứ câu đối mà dẫn như đoạn văn trên, nào là  từ thời Tần, Hán cho đến thời Minh, Thanh, đó chỉ là ứng dụng của cách viết câu đối. Còn thực sử thì câu đối là có xuất xứ từ thượng cổ do lối nói Âm Dương của người Việt (vùng Việt là bao gồm vùng rộng lớn từ nam Dương Tử). Do lối nói ấy mà trong tiếng Việt có các cặp từ đối tương ứng  với cặp Â/D. Vùng cao Vân Nam xưa gọi là vùng Điền. Điền cũng là ruộngvùng nông nghiệp miền ngược nhiều núi non gọi là vùng Điền (Vân Nam TQ ngày nay , trong Hán ngữ hiện đại vẫn còn giữ được cái âm từ thời Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, đọc chữ Điền là “Tiên”, vùng đất của  Âu Cơ = U Cả, là dòng mẹ Tiên), vùng Điền cũng có làm ruộng nước (ruộng bậc thang). Đắp thêm đất vào chỗ thiếu cũng gọi là Điền . Người làm ruộng cũng gọi là Điền (mướn ruộng để làm gọi là Tá Điền).  Địa hình vùng núi lô nhô gọi là Điền , ngó cảnh cứ như nó chòng chành gọi là Điên , chòng chành lảo đảo như người bị bệnh Điên , đi đường núi nhiều khi phải dùng cả tay để bám mà leo, nếu không thì dễ bị té ngã tức “Đổ Liền” = Điên .

Cặp từ đối D/Â, văn vẻ thì gọi là từ đối ngẫu, nó hiện diện trong nói năng của người Việt cổ đại, bởi vậy người Việt hay viết thành câu đối. Ví dụ các cặp đối D/Â thông thường như: Ông/Bà, Cha/Mẹ, Con/Cái, Dưới/Trên, Làm/Lụng, Ruộng/Điền, Nước/Non. Xếp lại thành câu thì tự nhiên nó thành câu đối về dòng cha (cha Rồng) đối ngẫu với dòng mẹ (mẹ Tiên) đều là dân đời đời làm nông nghiệp, canh tác ở miền xuôi (Dưới) và miền ngược (Trên), chỉ khác là “trên thì đồng cạn” “dưới thì đồng sâu” nhưng chung cảnh là “con trâu đi cày” (trích câu ca dao). Vùng xuôi của cha Rồng và vùng ngược của mẹ Tiên này đều là vùng của Trống Đồng. Câu nói tự nhiên mà thành câu đối ấy là:

Ông, Cha, Con, Dưới Làm Ruộng Nước

Bà, Mẹ, Cái, Trên Lụng Điền Non

Đối nhau chan chát đúng cả luật bằng trắc luôn: Ông/Bà, Cha/Mẹ, Con/Cái, Dưới/Trên, Làm/Lụng, Ruộng/Điền, Nước/Non

Câu đối ấy mà viết bằng chữ Nho thì cũng là từng cặp từ đối như vậy:

Bà, Mẫu, Nữ, Cao Điền Trồng Trọt  婆母女高田種植

Công, Phụ, Tử, Bồn Địa Tra Ương  公父子盆地插秧

Các cặp từ đối là Công/Bà, Phụ/Mẫu, Tử/Nữ, Điền/Địa, Tra/Trồng

 

 

 

Cái tên Hà Nội

 

Búp sen dáng ngọn lửa hồng                         (bông chưa nở là “Bông Úp” = Búp”

Hành Lễ thiết Hạnh ở trong nhà chùa

Hoa Lả nói lướt là Hà

Nội Hà là cái Nhị Hà   – nhụy sen

Sông Cái từ đó có tên

Thành phố Sông Cái là sông Nhị Hà  

Hà Nội 河 內 (?) ai đổi mà ra?

Đánh mất cái nghĩa vốn là nhụy sen

Tên sang đổi vấy tên hèn.

“Nhụy Ngài” mới xứng lướt Nhài là hoa

“Người Phải” trịnh trọng lướt Ngài

“Người Hư” lướt Ngữ - hạng loài lưu manh.

Lên Rồng thành chữ Thăng Long 升 龍

Đâu phải “thành phố Rồng Bay 龍 飛”, dịch bừa

Hạ Long 下 龍 tên vịnh Đẻ Rồng

Sinh, Hạ - Con, Trứng rành rành là hai

Rồng như rắn, đẻ trứng thôi

Hạ trứng, trứng nở mới ngoi thành Rồng

Tiếng Việt biết vẫn như không

Chè xanh hái đọt, gia công mới thành Trà

Chảo đất nung để sao chè

Gọi là cái Trã, lướt lủn: “Trã sao Chè” = Trà

Chè xanh, Trà mạn, khác xa

Dân gọi thật chính xác, mà ta lộn lèo.

Ruột gấp khúc ở trong lòng

“Tâm sự nỗi lòng” = “Tâm sự khúc nhôi”

Nôi khái niệm chỉ rõ rồi:

Trong = Lòng = Lý = Lõi = Noi = Nỗi = Nhôi = Nhuế = Nhụy = Nhị

Kẻ “Noi” là tên một làng ở phía “Trong” đê sông Hồng. Kẻ Noi viết phiên âm là Cổ Nhuế.

 

“Người Ta là Hoa của đất”,

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng ngài trường an”

 

Câu ca dao này có người giải thích là nói về người dân Thăng Long, tự hào mình là dân thanh lịch như cư dân kinh đô Trường An bên Trung Hoa. Cũng có người giải thích rằng đây là giọng kiêu ngạo của quí tộc cố đô Trường Yên ở Ninh Bình khi dời ra ở thành Đại La được nhà Lý chọn làm thủ đô đổi tên là Thăng Long với ước mơ sẽ đưa đất nước Lên Rồng (thăng long).

Thực ra câu ca dao trên đã có từ sớm hơn, ca ngợi con người của nền văn minh Sông Hồng, cư dân Việt, đã định cư lâu đời (trường) yên ổn (an) ở vùng Sông Hồng. Họ sống thơm thảo với tấm lòng hồn nhiên trong trắng như hoa nhài. Tại sao câu ca dao không chọn hoa khác mà lại chọn hoa nhài? Bởi loài hoa này thơm dịu như lòng người thơm thảo, lại trắng muốt tinh khiết như con người có tấm lòng trong trắng. Do vậy mới ví loài hoa đó như con người, hoa đó chính “Là Ngài” = Lài, hay nó “Như Ngài” = Nhài. Cái tên hoa này là do QT Lướt mà ra: Là Ngài thiết Lài, Như Ngài thiết Nhài, gọi tên là hoa Lài hay hoa Nhài, thành ngữ Việt còn có câu: “người Ta là hoa của đất”. Hoa nhài đáng được lấy làm “quốc hoa” bởi hoa sen thì đã là “quốc hoa” của Phật giáo rồi. Còn hoa cứt lợn như có người đề nghị chọn làm “quốc hoa” thì chưa được hội đồng chấm thi “quốc hoa” của quốc gia duyệt.

Con người của nền văn minh Sông Hồng tự hào mình là dân gốc ở đây, đã làm nên nền văn minh lúa nước lâu đời trên đất này, một đời sống thương đồng bào : “lá lành đùm lá rách”; yêu cộng đồng: “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”;  quí con người của xứ sở có nửa đất liền nửa biển đảo, là xứ “Đất Ao ” = Đào, tức xứ nửa đất liền nửa biển là xứ “Địa   Dương ” = Đường = =Thường  = Thoòng (tiếng Quảng Đông), cũng gọi là xứ Việt Thường : “một giọt máu Đào hơn ao nước lã”, (từ Đường còn phiên thiết thành từ kép Đông Dương). Đó chính là câu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch cũng ngài trường an” , (người Hoa còn có câu chế từ câu trên, là: “Ngon nào hơn nổi thịt gà. Chẳng đâu lễ nghĩa bằng là Minh Hương).

Con người của nền văn minh Sông Hồng thơm thảo bởi chính họ đã nhìn nhận thấy con sông Hồng thơm thảo, từ bao đời đem phù sa màu hồng như cánh hoa sen bồi đắp cho đất đai màu mỡ. Con sông ấy từ thủa ban đầu được người Việt gọi là sông Cái tức sông Mẹ. Nó thơm thảo như nhụy hoa sen nên được nhà Nho gọi nó là sông Nhị Hà 蕊 荷 . Nhị Hà 蕊 荷 (nhụy sen) trở thành tên chữ của sông Cái hay sông Hồng. Nhị Hà  蕊荷 đặt tên sông mang ẩn ý là dòng sông ấy thơm thảo như nhụy hoa sen. Con người của dòng sông ấy cũng thơm thảo như ruột của bông sen, viết bằng chữ Nội Hà 內 荷. (Cái bên trong là : Trong = Lòng = Lý   = Lõi = Noi = Nôi = Nội = Nhôi = Nhuế = Nhụy = Nhị).  Hán nho đã thay chữ Hà (bông sen) bằng chữ Hà (dòng sông), đổi ngược chữ Nội Hà 內 荷 (nhụy sen) thành Hà Nội 河 內. Hà Nội 河 內 theo Hán văn có nghĩa là ở giữa lòng sông (?), nó có phải là hòn cù lao đâu mà ở giữa lòng sông, nó là thành phố ở bên bờ sông Hồng. Tương tự, làng Kẻ Noi nằm ở bên trong đê sông Hồng, Hà Nội, được Hán Nho phiên âm bằng hai chữ Cổ Nhuế 古 芮.

 

 

Nghĩa đen của từ Tết

Trên trang chủ của LHĐP có người giải thích từ Tết là do bắt nguồn từ chữ Tiết của Trung Quốc mà người Việt gọi chệch đi là “Tết”. Giải thích này là do trường phái của GS ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, tức giải thích ngược, đi từ con chữ được ứng dụng về sau để cho rằng nó chính là từ nguyên.

Thực sự từ nguyên của Tết là Tết, một từ gốc Việt, do lướt “Tắt Hết” = Tết. Đó chính là thời điểm giao thừa, lúc 0 giờ 00, là lúc tắt hết ngày cuối năm cũ để bắt đầu ngày đầu tiên của năm mới. Người ta háo hức với mâm cỗ Tắt Năm viết bằng chữ nho Tất Niên để Chào Năm Mới (Chuôn Chnăm Thmây, tiếng KhơMe). Người Hán ăn theo Tết của người Việt, do không phát âm được cái “Ruột Lời” = Rỡi là “ết” nên Hán nho mượn chữ nho Tiết để phiên âm từ “Tết”. Còn bản thân chữ nho Tiết là chỉ cái đốt tre, chữ Tiết có bộ trúc . Chữ Tiết chuyển nghĩa chỉ đoạn thời gian, như tiết học dài 45 phút, tiết xuân dài ba tháng. Vui Tết bảy ngày hay cả tháng Giêng, thậm chí cả ba tháng mùa xuân như ngày nay các cơ quan dông xe công tấp nập đi lễ hội, chỉ là ăn theo Tết mà thôi. Từ Tết mới chỉ rõ là cái thời điểm, thời khắc giao thừa. Còn thời gian ăn theo gọi là Ngày Tết hay Mùa Tết, đón thì gọi là Đón Tết, còn Ăn Tết là ăn theo những ngày sau Tết. Chữ Tiết không chỉ được cái thời điểm giao thừa, vì chữ Tiết có nghĩa đen là một đoạn (cụ thể là lóng tre, chuyển nghĩa trừu tượng là đoạn thời gian). Vậy từ gọi là Tết chính xác hay cái chữ để tá âm là Tiết chính xác?

Cổ đại con người đã biết thời gian là dài vô tận như mặt trời không bao giờ hết nắng. Nhưng nắng trời còn chia đoạn ngày đêm, hết đêm tắt nắng thì lại đến bình minh nắng tiếp. Cặp đối Â/D tại cái thời điểm giao thừa Đêm/Ngày ấy là từ đối Tiệt / Tiếp: là khi nắng ngày cũ hoàn toàn “Tận Diệt ” = Tiệt (nhớ là do QT Lướt Lủn mà có từ mới “Giết Sạch” = Diệt, “Việt Nói” = Viết v.v.), để bắt đầu nắng ngày mới sáng lặp lại là “Tỏ Điệp” = Tiếp. Thời gian Dai vô tận đã được con người chia thành nhiều đoạn dài ngắn khác nhau. Lấy một Ngắn trung bình là năm, nó dài hơn tháng, ngày, giờ, phút, giây dưới nó. Nhưng ngắn hơn thập kỷ, thế kỷ, thiên niên kỷ trên nó. Năm cũ hết như lửa “Tắt Hết” = Tết. Năm mới ra đời là “Tỏ Điệp” = Tiếp, cứ điệp khúc như vậy, thời gian là dài (“Tiếp Mãi” = Tái đến vô tận) và dai (sống lâu: “Dãn Mãi” = Dai) và luôn luôn nó là “Rửa Cũ” = Rũ, rũ bỏ cái thủ cựu, để “Tiếp Mới” = Tới, gọi là tạo phước cho tương lai.

Các cặp đối Â/D tương ứng như Tiệt/Tiếp thì cũng có Ngắn/Dài. Nôi khái niệm của Dài là: Dài = Ngái = Ngàn = Vạn = Vang = Đang = Điệp = Tiếp = =Tới = Xơi = Xa = Đa = Đại = Dai. Đến đây thì dương quá ắt phản thành âm, nên có cặp từ nghịch Dai//Diệt. Nôi khái niệm của Ngắn là: Ngắn = Ngặt (eo hẹp) = Ngắt = Nghiệt = Tiết (rò rỉ) = Tiệt = Tết. Đến đây thì âm quá ắt phản thành dương, nên có cặp từ nghịch Tết//Tiếp.

 

Câu đối chào mừng năm Đinh Dậu:

                                 ĐINH THỊ NHI TÔN THẾ TRUYỀN MẶC BẢO

                            DẬU DƯƠNG QUYỂN SÁCH TÀI TOÁN VĂN CHƯƠNG

                              丁氏兒孫世傳墨寶

       酉陽卷冊才算文章

Dịch nghĩa:

         Con cháu họ Đinh đời đời lưu truyền mực như dấu ấn quí báu.

         Gà gáy mặt trời lên là quyển sách tài toán văn đã được công nhận.

 

Chuyển thể lục bát:                       Cháu con truyền Mực đời đời

                                              Như gà gáy đón rạng ngời Toán, Văn

Giảng nghĩa nội dung câu đối:

Con cháu loài người (chữ Đinh) đời đời (chữ Thế ) giữ truyền thống và lưu truyền (chữ Truyền) lối sống mực thước lành mạnh có đạo đức và có học (chữ Mặc ) là điều quí báu (chữ Bảo ). Giống như con gà trống (chữ Dậu ) thấy trước được mặt trời (chữ Dương) sẽ mọc lên chiếu sáng, cái sáng được đề cao (chữ Dương ) chính là trí tuệ (chữ Quyển Sách ) giỏi Toán và Văn (chữ Toán Văn) mà toàn xã hội công nhận khen ngợi (chữ Chương) thưởng huân chương (chữ Chương).

Giảng nghĩa từ nguyên tiếng Việt (từ dân gian) của các chữ Nho (từ hàn lâm) của người Việt:

ĐINH , là con người, chỉ loài người nói chung: do lướt “Đứa Kinh” = Đinh. Chữ Kinh là do lướt “Con Minh ” = Kinh, là con vật thông minh nhất, chữ Kinh gồm Đầu + Mình + Chân Tay , nghĩa là con người, chữ Kinh rất cân bằng hai nửa âm dương nếu chẻ dọc. Tiếng Anh gọi “King” mang nghĩa là vua của muôn loài.

THẾ , chỉ những kiếp người liên tục nối truyền: Đời = Đại = Thay = Thế = Kế = Kiếp. Vì vậy THẾ là ước lệ (qui ước làm ví dụ) cho từ đôi Đời Đời hay từ ghép Vạn Đại 萬代. Nôi khái niệm: Con = Kô (tiếng Nhật) = Cu = Tu (tiếng Tày) = Tử = Tí.

MẶC chỉ mực viết, ước lệ cho từ mực thước nghĩa là có qui củ, cũng ước lệ cho từ dấu ấn. Từ hàn lâm MẶC là do lướt từ dân gian “Mun Đắc” = =Mặc ; Mun là đen vì nó là do lướt “Màu Hun” = Mun; Đắc = Đức = Tức (tiếng Khơ Me) nghĩa là nước, do nôi khái niệm: Uống = Ướt = Ước = Nước = Nác (tiếng Nghệ và Mường) = Đác (tiếng Choang, Quảng Tây) = Đắc (tiếng Tây Nguyên)= Lắc (tiếng Tây Nguyên) = Lạc (Lạc Việt) = Nác = Nậm (tiếng Tày) = Nam (tiếng Thái Lan). Chất màu đen mà lỏng gọi lướt là “Mun Tức” = Mực (từ dân gian) hay “Mun Đắc” = Mặc (từ hàn lâm).

DƯƠNG chỉ mặt trời, do nôi khái niệm: Trời = Giời = Giàng (tiếng Tây Nguyên) = Dương = Nướng = Nắng = Năng , là nguồn cung cấp năng lượng. V. v và v.v.

 

 

Thượng Đế là “từ Hán Việt” ?

 

Bầu Trời là mái nhà chung

Chữ nho xưa vẽ nó bằng bộ Miên       (“Mái che không thủng mà Liền” = Miên)

Hình dung nó giống cái Vòm

Nó đang ôm ủ muôn trùng hành tinh

“Vòm ” = Vũ , là cái không gian

“Trời Du” = Trụ, gọi bằng thời gian

Vũ Trụ 宇 宙: diễn biến mênh mang

Chữ Vũ Trụ 宇 宙, của Việt Nam xưa dùng

Trời / Đất: cặp đối Dương/Âm

Trời = Trên = Thiên = Thượng  là chung nội hàm.

Đế là nhấn chữ Đất Hề!

“Đất Hề” thiết Đế, cũng là Đất thôi

Trời Đất = Thượng Đế 帝,đây rồi

Dân gian có trước, sau thời hàn lâm

Thượng Đế 上 帝 - “từ Hán Việt” là lầm

Thượng Đế phán rằng gọi vậy là ngu.

Trời Đất diễn biến lu bù,

Tế bào cũng biến mặc dù ngày đêm

“Chống diễn biến” – trái Tự Nhiên

Cho nên sống phải thuận Tiên là lành                          (“Tự nhiên”  thiết Tiên)

 

 Lúa gạo quí như ngọc ngà

“Gạo châu, củi quế” khi là hiếm hoi

“Thay Ngọc” = Thóc, đây rồi

Thóc chỉ hột lúa khi hồi đã khô

“Im như thóc” giống trong bồ

“Các Thóc” = Cốc là từ dùng chung

Các loại hột giúp no lòng

Gọi là Ngũ Cốc 五 穀, ăn mong khỏe người

“Cốc ăn ban Sớm” = Cơm

“Cốc Hôm” = Cốm, ăn đêm ấm lòng

Cốm làm để cúng trăng rằm

Dần thành quà vặt để ăn hàng ngày

Sớm/Hôm, chữ viết Thần / Hôn

Nửa “Vằn” là Bán: Ban đêm / Ban ngày     (Bán Hôn, Bán Thần)

Dân gian, hàn lâm, xưa nay

Đều là thuần Việt, thẳng ngay mà rằng

 

 

Đóng/Mở như là Âm/Dương

Thời đại tiến hóa Chum/Chuông rõ ràng

Cổ đại làm gốm có Chum

Gọi “Chum” môi khép như “Âm” vậy mà

Thời đồ đồng lại có Chuông

Gọi “Chuông”, môi mở như “Dương” ấy mà

Âm/Dương = Không/Phải = Ừm/Hầy

Phải! (Việt) = Hai! (Nhật) = Hầy! (Quảng Đông)

Ngược với khủ định là Không!

1/ 0 = Mở/Đóng, môi phân rõ ràng
 

Chum im ắng chụm gia đường

Ngửa mặt đựng thóc hay thường nước mưa

Chuông treo Úp mặt xuống  chùa

Chum – Âm, thế Ngửa, đúng là hướng dương

Hướng dương đến kỷ nguyên Chuông

Chuông – Dương, thế Úp, lại là hướng âm

Thuyền Trống Đồng chải hướng dương

Hình thành Đất Nước mênh mông Hồng Bàng       [Hồng: rộng, Bàng: rộng]

Hồng Bàng “tịch hậu”, Nước tàn

Bằng “tổ chim chích” như còn ngày nay.

 

Điện Thái Hòa cố đô Huế có bài thơ của vua Minh Mạng:

“Văn hiến thiên niên quốc

Xa thư vạn lý đồ

Hồng Bàng khai tịch hậu

Nam phục nhất Đường, Ngu”

文獻千年國

車書萬里圖

鴻龐開闢后

南復一唐虞

 

Bản dịch của nhà sử học Dương Trung Quốc:

“Nước nghìn năm văn hiến

Vạn dặm một sơn hà             [thiếu “Lạc Thư 洛書” , “Hà Đồ 河圖” và “Xa ” là chuyển]

Từ Hồng Bàng mở nước                      [thiếu “Khai” là ra đời và “Tịch” là kết thúc]

Thịnh trị nước Nam ta”                      [thiếu“Phục” là dựng lại,và thiếu Nghiêu, Thuấn]

 

 Bản dịch của Lãn Miên :

“Ngàn năm văn hiến nước Ta

“Thư”, “Đồ” truyền bá chở xa nghìn trùng        [ma trận Lạc Thư 洛書, Hà Đồ 河圖]

Hồng Bàng : một thủa Việt Hùng                      [nước Việt thời đại các vua Hùng]

Đại Nam: dựng lại lẫy lừng Thuấn, Nghiêu”.     [Vua Đường Nghiêu và vua Ngu Thuấn]

 

Chú thích: “Nghiêu Thuấn” thiết Nguyễn. Nguyễn là ông tổ đầu tiên của người Việt, chữ nho viết là Nguyên Phụ , chữ Nguyên nghĩa là đầu tiên, chữ Phụ nghĩa là cái Gò. Bố = Bọ (tiếng Quảng Bình) = Gò = Phò (tiếng Lào) = Phu = Pu (tiếng Thái, là hòn núi) = Phụ. Gò là “Đất Gò” = “Đụn Gò” = Đọ, là núi Đọ, di chỉ khảo cổ về thời tiền sử của người Việt.

 

 

 Bói chữ năm Đinh Dậu

 

1.    Bính Thân = Bấn quá làm Thinh

Việc cần giải quyết mặc tình bỏ lơ (1)

Đinh Dậu là Người và Gà (2)

Đậu Dinh = Đạt Thắng, sức ta lên đà

Bính Thân = Sáng Khỉ ra ma (3)

Đinh Dậu = Người Gà chung sức dựng xây

Người chăm lập xưởng, trồng cây (5)

Gà chăm vén ổ đẻ sây trứng vàng (6)

Chọn năm Đinh Dậu khai trương

Ắt được tài phú mãn đường quí vinh (7)

 

2.    Đinh Đỉnh Đính Đĩnh Định Đình (8)

Dậu Dâu Dẫu Dấu Dẩu Giầu Đậu Dinh (9)

Làm người quí ở cái tình

Truyền thống trí tuệ chuyển mình âm dương (10)

 

3.    Đầu tư tạo phước vô lường (11)

Gây nền thế hệ kiên cường Việt Nam (12)

Công ty văn hóa huy hoàng (13)

Giữ bền nghĩa xóm tình làng ngàn năm

Mượt mà tiếng Việt mênh mông (14)

Lòng người nhân hậu thắm trong miếng trầu (15)

 

Mười câu Lục bát (16)

(Đoạn 2 và 3)

Chúc Tết mọi nhà

 

Chú thích:

(1)  Mặc tình: vô cảm. Mặc = Mô Chắc = 0 + 1 = 0 = Không (không tình cảm)

(2)  Đinh: con người. Liên quan: Đông Đinh = Đình (nổi đình nổi đám). Đứa Kinh = Đinh. Con vật nhất thông Minh = Kinh= Con Minh = Kinh: con người. Trong con người là hai thể âm dương cân bằng, hai thể này đều là Sống = Sáng, như hai con mắt tinh, “Mắt 日月Tinh” = Minh, nên Minh nghĩa là sáng. Chữ Minh viết bằng hai con mắt sáng là Mặt Trời và Mặt Trăng, nghĩa là “Mắt mắt đều Tinh” = Minh. Hai thể âm dương trong một con người là “Ta Âm” = Tâm (không nhìn thấy được) và “Ta Dương” = Tướng (nhìn thấy được trên nét mặt ngoài). Tâm là cái “Sáng Âm” = Sấm (khả năng tiên đoán do tâm thức), Sáng Âm viết bằng chữ Minh âm gồm Mịch + Và + Lâu (phải hiểu bằng thế giới ảo tức nói lái “Mịch Và Lâu” là “Mầu Và Linh”) . Tướng là cái “Sáng Dương” = = Sướng (hanh thông trong đời sống), Minh dương viết bằng chữ Nhật (Trời) + Nguyệt (Trăng).Người Kinh tự xưng Ta là “Một Kinh” = Mình. Trong Mình tức trong Kinh có hai cái Minh (Minh âm và Minh dương), logic với dấu thanh điệu: Minh + Minh = 0 + 0 = 1 = Mình (dấu “không” thuộc âm, dầu “huyền” thuộc dương). Mình = Mệnh = Mạng, là một mạng người. Người Kinh cũng tự xưng là Ta. Trong chữ Ta cũng gồm hai tố là tố âm (thiếu – tức Tá, mang nghĩa phải vay mượn để bù đắp) và tố dương (thừa – tức Tả, mang nghĩa thái quá), đó là: Tá + Tả = 1 + 1 = 0 = Ta (dấu “sắc” “hỏi” “huyền” thuộc dương = 1, dấu “không” “ngã” “nặng” thuộc âm = 0).

 

Dậu: con gà. Ví gà là con người gồm Nữ (con Gái) và Nam (con Gáy) đều ví như Gà, chăm bới việc mà làm. Liên quan: gà dầu, con dâu, phong tục ví chàng rể như con gà trống, phong tục chàng rể mang lễ lại mặt nhà gái bằng một con gà trống.

3.Bính: sáng (“Bừng Minh” = Bính). Liên quan: sáng bừng, bừng tỉnh, bình minh. Thân: con khỉ. Con = Kô (tiếng Nhật) = Cò (tiếng Thái) = Cu (tiếng Vân Kiều) = Tu (tiếng Tày) = Tử = Tí = Nhi = Nhỏ = Nhóc = Nhắt = Oắt = Út = Oa (Oắt Con = “Oa Kai”, tiếng Nhật nghĩa là nhỏ bé). Con khỉ, tiếng Tày là Tu Linh. “Tu Linh” = Tinh = Tinh Tinh = Khỉnh = Khỉ. Từ liên quan: khỉ thật!, phá như khỉ!

Sáng Khỉ: tôn bọn nịnh thần phá phách. Lời TS Nguyễn Khắc Niêm khuyên vua Thành Thái: “Tôn tộc đại qui. Tôn lộc đại suy. Tôn tài đại thịnh. Tôn nịnh đại suy”.

Ra ma: xã hội suy thoái.

4.    Người Gà: người và gà. Người gà: người bày vẽ cho. Gợi = “Gợi Ạ!” = =Gà, như gà nước cờ, người giỏi gà cho người dốt. Liên quan: Gà mờ. “Gà Mờ” = Gở = Dở = Dốt.

5.    Lập xưởng: làm công nghiệp, xây hạ tầng

Trồng cây: làm nông nghiệp, bảo vệ môi trường. Trồng cây: ám chí đào tạo nhân tài.

6.    Vén: vun vén ổ đẻ, thu vén cho doanh nghiệp

7.    Tài phú mãn đường: nhân tài và của cải đầy nhà. Qúi và vinh dự.

8.    Con người (Đinh) là nhân tố thượng tôn (Đỉnh) trong làm ăn giữ tín (Đính ) khẳng định đĩnh đạc (Đĩnh ) khi mọi giải pháp (Định) đều được phản biện KHKT mà thông qua thành quyết định chung (Đình ).

9.    Làng quê Việt Nam (Dậu Dâu) dù khiêm nhường Dẫu Dấu vẫn tiềm tàng nổi lên (Dẩu) sự giàu có (Giầu) đạt được (Đậu) cách chắc thắng (Dinh)

10. Chuyển mình âm dương: bỏ tư duy cũ sang tư duy mới.

11. Vô lường: không thể đong lường, ý nói rất to lớn

12. Kiên cường: bền bỉ và mạnh mẽ

13. Huy hoàng: phát huy (Huy) sáng (Hoàng) tạo

14. Tiếng Việt: tiếng nói Việt Nam, ngôn ngữ việt, văn hóa Việt.Tiếng Việt: tiếng tăm của Việt Nam.

15. Miếng trầu: cũng còn gọi là miếng Giầu (giầu tình cảm)

16. Mười câu: là Cầu mươi (mong muốn có nhiều)

Lục bát: là Lạt búc. Lạt Búc = Lạt Buộc = Law Book, tiếng Anh nghĩa là sách luật. Liên quan: “nói như lạt buộc” nghĩa là nói đúng luật, nói có sách mách có chứng, “nói chắc như đinh đóng cột” nghĩa là thượng tôn pháp luật.”Lạt mềm buộc Chật” = Luật.

ĐINH DẬU có nghĩa là thượng tôn (ĐINH) thiên nhiên (DẬU) cũng là thượng tôn pháp luật.

 

 

 

Con

 

Người Việt hễ xưng với người lớn tuổi hơn đều xưng là “Con” hay xưng với người kính trọng như thầy cô giáo hoặc chức sắc tôn giáo đều xưng là “Con”.
Xưng Con thay cho xưng Tôi là cả một sự khiêm tốn (tự cho mình là nhỏ bé nhất, Con = Mọn = Smal) nhưng lại hàm chứa sự kiêu hãnh vì tự biết Mình là Ta (Mình và Ta đều là từ nhân xưng ngôi một của tiếng Việt). Mình = Mệnh
= Mạng. Ta = (phiên thiết) Tất Cả = Tất Càn = Đất Trời = = Vũ Trụ = Universal , tiềm năng trong mình là vô cùng (tiềm năng con người). Chỉ một từ tự xưng ngôi một là Con trong tiếng Việt đủ thấy cái lý của người Việt là: con người là quí nhất, phải được tôn trọng nhất kể từ khi hình thành bào thai để thành người (tức Thành Ai” = Thai), phải được tự do và dân chủ . Mà không cần phải trích câu đã thành “thương hiệu” của Nho giáo là “dĩ nhân vi bổn 以 人 為 本nghĩa: lấy con người làm vốnđể biến thành câu “lấy dân làm gốc” của lãnh đạo nào đó  (mà lại dịch sai, chữ Bổn là Vốn, chữ Căn mới là Gốc), hoặc trích câu nào đó như “thương hiệu” của bất kỳ lãnh tụ chủ nghĩa nào. Con là “Con Minh ” = Kinh, Kinh là con người, gồm Đầu + Mình + Túc (chân tay) . Kinh là con người, cũng là dân tộc Kinh. Con Minh là sắc sảo trí tuệ nhất trong các con vật, nên nó là “Kinh Sắc” = Kính, được Kính trọng nhất. Muôn loài đều sợ “Con Minh” = Kinh, nên Kinh chuyển nghĩa là Sợ, gọi theo từ đôi là Kinh Sợ hay Kinh Hãi. Để phân biệt từ Kinh đã chuyển nghĩa này nhà Nho viết biểu ý chữ Kinh (sợ) bằng chữ Kính cưỡi trên con Mã, biểu ý là con ngựa dù bất kham vẫn kính trọng người cưỡi điều khiển nó, là người “Kinh sắc” = Kính, đó là sự Sợ, gọi bằng từ đôi là Kinh Sợ (có từ mới nhớ từ cũ đồng nghĩa). Sợ là một trạng thái tinh thần, nên Hán tự giản thể về sau lại viết bằng tá âm chữ Kinh (sợ) là chữ Tâm ghép tá âm chữ Kinh, chữ Kinh này chỉ nghĩa là Sợ. Đây chỉ là chữ tá âm của Hán tự, dùng chữ Tâm biểu ý tinh thần, mượn âm chữ Kinh là con người, không logic cho lắm, vì thấy chữ là Lòng Người hay  Con Tim. Chỉ có chữ Nho phổn thể là Kinh (sợ) mới biểu ý đúng logic như đã giảng ở trên. Rõ ràng chữ Nho phổn thể là chữ Việt, còn chữ giản thể thì có thể gọi là Hán tự vì do người Hán dựa vào chữ Nho mà chế ra. Chữ Thuần (thuần dưỡng động vật hoang dã) cũng vậy, nhà Nho viết chữ Thuần hoàn toàn bằng biểu ý là dùng cách khéo léo mềm mỏng để làm cho con vật bướng bỉnh nhất như con ngựa bất kham phải tuân theo mình, đó là chữ Xuyên (Thủy = Tùy = Xủy = Xuyên, đại diện cho tính Nhu – khéo léo mềm mỏng) để trị con vật bướng bỉnh nhất, đại diện là con Mã, đây là ngựa bất kham. Logic của chữ là “Thủy Tuân” = Thuần (dùng Nhu mà trị Cương để bắt nó tuân theo, gọi là Thuần, thuần dưỡng). Hán ngữ đọc chữ Xuyên là Chuan, đọc chữ Tuân là Zun, đọc chữ Thuần là Xún, nếu thiết như Hứa Thận hướng dẫn thì là “Chuan Zun ” = Chun, trật, làm sao thành Xún được?. Chữ giản thể viết chữ Thuần thiếu nét hơn. Kinh là con người. Người Kinh là dân biển, gọi loài cá to nhất ở biển bằng tên loài động vật to nhất trên đất là Voi (Voi phiên thiết thành Vĩ Đại), là loài cá Voi. Coi cá Voi như người, không ăn thịt nó, mà còn gọi nó là cá Ông, nhà Nho gọi nó kính trọng như Người huyền bí nên đặt tên nó là “Kinh Huyền” = Kình , nên dân gian cũng gọi theo là cá Kình , chữ Kình này đúng biểu ý là CáNgười hay Người , coi nó thân thiết như con người, mà còn kính trọng vì mang ơn nó cứu thuyền khi bão biển nên gọi nó là cá Ông, cá Ông già chết dạt vào bờ được ngư dân Việt chôn cất tử tế, sau cải táng đem xương cốt đặt thờ trong đền cá Ông.

 

 

Đế Minh

 

Tên nước Nhật Bản theo tiếng Nhật gọi là “Ni Hôn” có nghĩa là “Mặt Trời là cái Hom giống”. “Ni” là chỉ mặt Trời, “Hôn” là cái Hom giống. Trời = Trên = Then (tiếng Tày) = Thiên = Thượng 上 . (Đât = nhấn “Đất Hề!” = Đế, Trời Đất = Thượng Đế , chỉ Vũ Trụ - không gian và thời gian); Trời = Giời = Giàng (tiếng Tây Nguyên) = Dương   = Dang (dang nắng) = Náng (nướng) = Nắng = Năng (năng lượng); Trời = Ngời = Ngày = Nguyệt = Nhiệt (tiếng Đài Loan đọc là “Lửa”) = Nhật = Nhực