Thiên Sứ

Giới Thiệu Phong Thủy Lạc Việt

48 bài viết trong chủ đề này

Anh Nguyên Dong thân mến.

Anh hỏi:

Để chọn một hướng cửa - Phong Thủy Lạc Việt - quan niệm gồm nhiều yếu tố tương tác rất phức tạp, cho nên quán xét cũng rất phức tạp - mà hướng tốt với gia chủ chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố tương tác. Yếu tố quan yếu của phong thủy Lạc Việt là sự tương tác của khí - gồm Âm khí và Dương khí liên quan.

Do đó, việc nhà ở góc đường có hai trường hợp: Góc đường ngã ba và góc đường Ngã tư.

Nếu góc đường ngã tư thì mọi việc trở nên dễ dàng. Chỉ cần chọn hướng tốt theo mệnh quái của gia chủ để xác định và cácc yếu tố liên quan như cụ thể hơn như: Sơn, không vong, vị trí tọa của Đại môn...vv.

Nhưng nếu là ngã ba thì v/ d sẽ phức tạp hơn.

Còn tiếp

Anh Thiên sứ kính mến,

Những điều anh viết đã chạm đúng vào một thắc mắc của tôi:

Ngoài những sách chọn hướng nhà thheo Bát quái, những năm 90 (TK20) rộ lên nhiều sach Phong thủy nguồn gốc thấy nói là HK và Dài loan, nói vè phong thủy nhà phụ thuộc địa hình dòng sông suói, con đường, vv..

Tôi đã suy nghĩ và chịu không thể đưa ra một câu trả lời là : Căn cứ vào đâu để cân lượng sự tốt xâu do hai phương pháp này mang đến , néu như một miếng đất không đạt được cả hai yếu tố hay hoặc dở nếu vận dụng theo hai phương pháp này. Khi đó chúng ta chọ ưu tiên theo phuơng pháp nào. Cơ sở gốc của Phong thỷ là Khí, vậy tương quan khí của Phương hướng và tương quan khí của Địa hình anh hưởng đến dòng khí vào cưa chính, cái nào quan trọng hơn?

Tôi vẫn đợi bài tiếp của anh. Rất cảm ơn anh.

P/s: Hôm qua tôi vừa lục lọi và tìm đươjc phần anh viết về sự cần thiết phải đổi chỗ hai quẻ tốn khôn khi xem bát trạch cát hung. Tôi thấy rất thuyết phục.

@Gửi anh ngovan san : Nhân tiện tôi để linh ở đây để anh ngô văn san có thể đọc, hiểu mà tự quyết việc của anh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Anh Thiên sứ kính mến,

Những điều anh viết đã chạm đúng vào một thắc mắc của tôi:

Ngoài những sách chọn hướng nhà thheo Bát quái, những năm 90 (TK20) rộ lên nhiều sach Phong thủy nguồn gốc thấy nói là HK và Dài loan, nói vè phong thủy nhà phụ thuộc địa hình dòng sông suói, con đường, vv..

Tôi đã suy nghĩ và chịu không thể đưa ra một câu trả lời là : Căn cứ vào đâu để cân lượng sự tốt xâu do hai phương pháp này mang đến , néu như một miếng đất không đạt được cả hai yếu tố hay hoặc dở nếu vận dụng theo hai phương pháp này. Khi đó chúng ta chọ ưu tiên theo phuơng pháp nào. Cơ sở gốc của Phong thỷ là Khí, vậy tương quan khí của Phương hướng và tương quan khí của Địa hình anh hưởng đến dòng khí vào cưa chính, cái nào quan trọng hơn?

Tôi vẫn đợi bài tiếp của anh. Rất cảm ơn anh.

P/s: Hôm qua tôi vừa lục lọi và tìm đươjc phần anh viết về sự cần thiết phải đổi chỗ hai quẻ tốn khôn khi xem bát trạch cát hung. Tôi thấy rất thuyết phục.

@Gửi anh ngovan san : Nhân tiện tôi để linh ở đây để anh ngô văn san có thể đọc, hiểu mà tự quyết việc của anh.

Thày Thiên sứ bận du hí bên xứ Huê- kì nên mạn phép thày, tôi tả lời anh Nguyên đồng hé:

Phong thủy Lạc việt quan điểm tiên quyét là quan trọng về khí. Khí do Loan đầu là quan trọng số 1.

Trong 4 yếu tố cơ bản có quan hệ trực tiếp về Phong thủy như Loan đầu đại cuộc, Cấu trúc căn nhà, Yếu tố phi tinh, Yếu tố ảnh hưởng bát trạch thì yếu tố đầu tiên túc là loan đầu rất coi trọng. Tất nhiên bài toán phong thủy cũng sẽ rất biến hóa tùy theo yêu cầu của gia chủ. Ngừoi muốn phát tài , người muốn sức khỏe, ngừoi muốn có con. Do vậy cách sử dụng 4 yếu tố trên cũng hết sức biến hóa chứ không nhất nhất chỉ theo 1 kiểu.

Đại khái thế này: Trong kinh doanh trọng dương khí, nên bố trí để vượng dương khí để lợi sự thâu hút khách hàng. Còn Bát trạch nếu có gặp sát thì cũng vẫn chấp nhận và tìm cách hóa giải. Đôi khi hung tinh khi đắc vận còn lợi gấp mấy lần Cát tinh đó àhh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa chú,

cháu hiểu như sau có đúng không ạ:

- phi theo hậu thư lạc việt phối hà đồ

- khôn, ly tức 2,7 thuộc hỏa và càn, khảm tức 1,6 thuộc thủy nhập trung cung : đi thuận chiều kim đồng hộ và có chiều hướng đi theo vòng tuơng sanh: (phục vi -lục sát) -> (thiên y + ngũ quỷ) -> (phúc đức - tuyệt mệnh) -> (sinh khí-hại họa)

- cấn, chấn tức 3,8 thuộc mộc và đoài, tốn, 9,4 thuộc kim khi nhập trung cung : đi nghịch chiều kim đồng hồ và theo chiều hướng ngược tương sinh : (phục vi -lục sát) -> (thiên y + ngũ quỷ) -> (phúc đức - tuyệt mệnh) -> (sinh khí-hại họa)

- các vị trí tốt xấu của từng cặp thay đổi theo vị trí tốt xấu thuộc đông trạch hay tây trạch.

ví dụ như

+ khôn nhập trung cung thì các cặp tuần tự sẽ đi thuận kim đồng hồ như sau: (phục vi -lục sát) -> (thiên y + ngũ quỷ) -> (phúc đức - tuyệt mệnh) -> (sinh khí-hại họa)

+ khôn thuộc tây tứ trạch nên vị trí (tốt : khôn :, Phục vị - xấu: ly : lục sát ) -> ( Tốt: đoài: thiên y - xấu: tốn : ngũ quỷ) -> (tốt : càn :, Phúc đức - xấu: khảm : tuyệt mệnh ) -> (tốt : cấn : sinh khí - xấu: chấn : hại họa )

mong được chú chỉ bảo thêm.

Cháu cảm ơn chú,

Nguyenkim

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hôm nay vào lại đề tài này mới thấy phần trả lời anh Nguyên Đong chưa đầy đủ.

Ở bên Hoa Kỳ - tôi nói thật là mạng internet không phải chỗ nào cũng có. Các khách sạn rẻ tiền (từ 60 đến 70 USD/ ngày) việc vào mạng khá khó khăn. Tất nhiên nó chỉ khó khăn với một du khách Việt balo như tôi.Còn nếu ở hẳn trên đất Hoa Kỳ thì chỉ cần mua một bộ phận chức năng nhỏ như cục gôm, gắn vào máy là có thể vào mạng ở khắp đất nước Hoa Kỳ và cả châu Âu. Nhưng giá là 200USD và hàng tháng phải nộp khoảng 60 USD nữa. Nhưng tôi không mua. Vì chỉ ở có hơn một tháng. Bởi vậy, khi ở Hoa Kỳ về thì quên mất đề tài này.

Mong anh cảm thông.

Hôm nay tôi xin trả lời tiếp câu hỏi của anh:

Như tôi đã trình bày, Phong thủy Lạc Việt là sự tống hợp những quy luật tương tác chủ yếu lên môi trường nhà ở rất phức tạp. Hướng chỉ là một yếu tố quan trong, nhưng không phải là thiết yếu. Hướng chỉ là một yếu tố thiết yếu nếu ta quán xét nó trong điều kiện riêng rẽ của Bát trạch. Nhưng quán xét chung thì còn nhiều yếu tố quan trọng khác: Điều kiện cảnh quan môi trường - Loan đầu hình lý khí; Tương tác vũ trụ - Huyền không; Tương tác của từ trường trái Đất và hiệu ứng chuyển động quay - Bát trạch; Tương tác của chính ngôi nhà - Cấu trúc hình thể (Dương trạch tam yếu). Những yếu tố tương tác này trong cổ thư chữ Hán không nhất quán và rời rạc thành trường phái mâu thuẫn nhau. Nhười học cách ứng dụng trường phái nào theo trường phái đó. Phong Thủy Lạc Việt với một nguyên lý nhất quán đã thống nhất các phương pháp này.

Bởi vậy, chỉ xét một cái cửa, thì chúng ta ưu tiên khí và hướng, sau đó đến vận và cấu trúc. Điều này P. Cương đã trình bày.

Anh Nguyen dong có thể đưa hình lên chúng tôi sẽ giúp anh chọn một cái cửa cụ thể.

Cảm ơn sự quan tâm của anh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quí vị quan tâm thân mến.

Bài viết dưới đây trong web webtretho.com, mặc dù nhiệt liệt cho rằng Phong thủy có nguồn gốc Hán, nhưng qua nội dung bài viết , chúng ta cũng thấy những mâu thuẫn và sự rời rạc trong cổ thư chữ Hán.

Xin giới thiệu để các bạn suy nghiệm.

*

Bài I

Bố TEM xin Trích dẫn 1 số bài viết sưu tầm được của nhiều tác giả về Phong Thuỷ để các bạn đọc tham khảo!

PHONG THỦY LÀ GÌ? Nhà nghiên cứu: Vương Ngọc Ðức.

- Phong Thuỷ là gì ? Trước hết ta hãy xem giải thích:

" Từ Hải" viết: "Phong Thuỷ, còn gọi là Kham D. Một loại mê tín ở nước Trung Quốc cổ. Cho rằng hình thể, hướng gió, dòng chảy xung quanh nhà ở hoặc mồ mả, có thể đem đơn hoạ, phúc cho người ở hoặc cho người chôn. Công chỉ cách xem nhà ở, phần mộ "

- "Từ Nguyên" viết: "Phong Thuỷ, chỉ địa thế, phương hướng đất nhà ở hoặc đất phần mộ. Thời xa, mê tín căn cứ vào đó để xem lành giữ, tốt xấu và nhân sự"

Mới đây, Trường Ðại học Ðông Nam Trung Quốc xuất bản quyển "Nguồn gốc Phong Thuỷ", giáo sư Phan Cốc Tây trong lời tựa viết: "Nội dung chính của Phong Thuỷ là một loại học vấn mà người ta dùng để sử lý và chọn lựa hoàn cảnh ăn ở, cung thất, chùa chiền, lăng mộ, thôn xóm, thành thử; lăng mộ thì gọi là âm trạch. Phong Thuỷ và hoàn cảnh ăn ở, ảnh hưởng chủ yếu trên ba mặt: Một, sự lựa chọn địa điểm, tức tìm một địa hình thỏa mãn cả hai mặt tâm lý và sinh lý; Hai, xử lý về mặt hình thái trong cách bố trí, bao gồm lợi dụng và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, hướng nhà, vị trí, cao thấp to nhỏ, cửa ra vào, đường đi, nguồn cấp nước, thoát nước..v.v.., Ba, trên cơ sở nói trên, thêm vào một dấu hiệu, nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lý tránh cái dữ, lấy cái lành cho con người"

- Học viện Dân tộc Trung Nguyên xuất bản cuốn "Tìm hiểu sự lành giữ trong Phong Thuỷ nhà ở", tác giả trong "Lời nói đầu" viết: "Trong vốn kiến thức lâu đời của Trung quốc, có một môn học gọi là Kham D, thông thường gọi là Phong Thuỷ. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của tác giả, thì cái gọi là Phong thuỷ, nói theo ngôn ngữ hiện đại là "khoa học và mối quan hệ gữa từ trường trái đất và con người".Về nội dung, môn Phong thuỷ gồm hai phần, phần một là xem xét hình thái của núi, phần hai là xem xét phương và lý khí.

- Chiêm Ngân Hâm trong "Tri thức Văn Sử" số tháng 3 năm 1988 viết: "Cái gọi là Phong thuỷ, là tên thường gọi của thuật xem đất. Theo tập tục truyền thống của Trung Quốc, mỗi khi xây cất điều phải xem địa hình có được Phong Thuỷ hay không, sau đó mới chọn địa điểm thích hợp, tránh đất dữ".

- Học giả Rosk Kowski khoa địa lí trường Ðại học NiuDi-Lân là một chuyên gia về nghiên cứu Phong Thuỷ, tác phẩm ông có "mối quan hệ Phong thuỷ giữa Văn hoá, thiên nhiên Triều Tiên", những năm gần đây nghiên cứu về Phong thuỷ Trung Quốc, trong bài đăng trên tạp chí "Nghiên cứu lịch sử khoa học tự nhiên" tháng 1 năm 1989, viết: "Phong Thuỷ là một hêj thống đánh giá cảnh quan nhằm tìm một địa điểm tốt lành cho công trình kiến trúc. Nó là nghệ thuật lựa chọn địa điểm và bố cục đía lý của Trung Quốc cổ đại, không thể căn cứ vào khái niệm của phương Tây mà nói một cách đơn giản rằng là mê tín hay khoa học...Phong thuỷ Trung Quốc được xây dựng trên ba cơ sở: (1)địa điểm nàycó lợi cho xây nhà hoặc xây phần mộ so với các địa điểm khác. (2) Ðịa điểm tốt lành chỉ có thể căn cứ vào những nguyên tắc Phong Thuỷ thông qua việc khảo sát địa điểm ấy mà lựa chọn. (3) Một khi đã có một địa điểm như thế, thì tổ tiên và con cháu sống hoặc mai táng ở địa đIểm ấy, sẽ được hưởng một sự tốt lành do địa điểm ấy mang lại".

- Người nghiên cứu về Phong Thuỷ, ở Trung Quốc cũng như ở nước ngoài rất ít. Các tài liệu đã dẫn ở trên có thể đại diện cho các quan điểm chủ yếu ở Trung quốc và nước ngoài. Ðại để có ba phái, người thì cho là mê tín, người thì bảo đó là học vấn, người thì nói đó là hệ thống đánh giá cảnh quan.

- Chúng tôi cho rằng, Phong Thuỷ là một hiện tượng văn hoá, một loại thuật số chọn lành tránh dữ, một dân tộc lưu truyền rộng rãi, một loại học vấn về hoàn cảnh và liên quan đến con người, một tổng hợp về lý luận và thực tiễn. Phong Thuỷ có thể chia làm hai phần lớn: âm trạch và dương trạch. Dương trạch là nơi người sống hoạt động, âm trạch là mộ huyệt của người chêt. Lí luận về phong Thuỷ các trường phái hình thể và trường phái lí khí. Phái hình thể nặng về hình thể sông núi mà luận lành dữ. Phái lí khí lại nặng về âm dương, quái lí để luận lành dữ. hạt nhân của Phong Thuỷ là "sinh khí". Khái niệm của nó vô cùng phức tạp, đề cập đến long mạch, minh đường, huyệt vị, dòng chảy, phương hướng v.v...

- Nó có rất nhiều điều kiêng cữ, rất cẩn thận với thời gian, phương vị, địa điểm. Học thuyết về âm trạch mang đậm màu sắc mê tín, đầu độc dân chúng rất nặng. Lí luận về dương trạch và thực tiễn, có tính hợp lí nhất định, có thể biến hủ lậu thành thần kỳ. Việc nghiên cứu Phong Thuỷ ở giai đoạn đầu, cần phải đi sâu thêm.

Phong Thuỷ mà nguời ta thường gọi trên thực tế bao gồm hai ý. Có khi chỉ địa hình tốt, phong cảnh tốt. Khi đi chơi trên sông Ly, người ta thuờng buột miệng khen : "Phong thuỷ đẹp". Có khi, phong thuỷ là để chỉ thuật phong thuỷ, tức là lí luận và thực tiễn Phong Thuỷ. Ví dụ, người ta nói ông này ông nọ giỏi Phong Thuỷ, ông Mỗ nghiên cứu Phong Thuỷ, ông Mỗ kiếm cơm bằng Phong Thuỷ.

- Nghiêm túc mà nói, Phong Thuỷ khác với thuật phong thuỷ. Phong Thuỷ tồn tại khách quan. Thuật phong thuỷ là hoạt động chủ quan đối với khách quan. Bản thể của Phong Thuỷ là thiên nhiên, bản thể của thuật phong thuỷ là con người.

- Vì thói quen, mọi người đã nhập làm một Phong Thuỷ với thuật phong thuỷ, thì ta cũng không cần tách bạch ra. Có điều, chú ý xem người ta khi bàn về Phong "Thuỷ là nói khách quan hay chủ quan, để hiểu người ta nói theo nghĩa nào.

- Phong Thuỷ là một thuật ngữ đã được xác định. Quách Phác đời Tấn là người đầu tiên giải thích. Quách Phác trong "Táng kinh", viết: "Táng(chôn) là đón sinh khí. Khi gặp phong (gió) tất tán, gặp nước ngăn lại tất dữơng, vì vậy gọi là Phong Thuỷ. "Vậy đón là đón thế nào? Tụ như thế nào? Thế nào là Phong Thế nào là Thuỷ?" Quách Phác không bàn tiếp.

- Phong, là hiện tượng không khí chuyển động. Thuỷ, là dòng nước. Khí, tức là nơi địa khí (khí đất). Sinh khí, tức là địa khí có sinh cư (sức sống). Ðón sinh khí, là tìm kiếm hoặc lợi dụng địa khí có sinh cư (sức sống). Phong Thuỷ là môn thuật số đón nhận sinh khí.

- Phạm nghi Tân người đời Thanh, chú giải "Táng kinh" của Quách Phác viết: "Không có nước thì gió đến mà khí tán, có nước thì khí dưỡng mà không có gió, do vậy hai chữ Phong Thuỷ là quan trọng nhất trong môn địa học, mà trong đó đất mà có nước là tốt nhất, Ðất mà tàng phong (có gió ẩn nấp) thì kém hơn". Như vậy là nói vấn đề then chốt của xem đất là vì că nước mà tụ khí, nếu không có nước, hễ gió thổi là khí tan đi. Chỉ cần có nước, khí sẽ tụ lại, dù gió cũng không thổi khí đi. Ðất mà có nước là tốt nhất, đất tránh được gió thì kém hơn.

- Vì vậy, các thầy Phong Thuỷ xưa nay, bao giờ cũng bắt đầu tỏa long mạch, long mạch là khí của đất, khí do nước dẫn mà đón, khí do nước cản mà bị ngăn lại, khí tụ lại, không có gió làm tan ra. Có sinh khí, người chôn ở đó liền có phúc ầm.

- Ngày xa, dân gian dùng rất phổ biến cái tơ Phong Thuỷ, còn quan lại thì không hẳn như thế. Trình hoà đời Minh đi sứ Tây Dương, đi theo trên thuyền có viên quan làm công việc Phong Thuỷ. Hướng viên quan đó phụ trách quan sát gió và nước (Phong Thuỷ) khác với Phong Thuỷ ta vẫn hiểu.

Bí ẩn của phong thuỷ

Tác giả: Vương Ngọc Ðức

Nhà xuất bản văn hoá-Thông tin

1996

Bài IITÌM HIỂU VỀ PHONG THỦY

Tác giả: Trần Văn Huân, Lưu Thái Chấn

- Thuật phong thuỷ đã chia xẻ sự phát triển của nó cùng với khoa thiên văn và khoa dự án (quẻ dịch) của Trung Quốc cổ. Nó đã có từ thời đại truyền thuyết. Dù rằng không có những dữ kiện xác thực cho chúng ta biết ai đã hình thành nó và vào thời điểm nào. Tuy thế, nó rất gần gũi với la bàn từ truờng của nguời Trung Quốc cổ, làm cho nguời ta liên tuởng đến việc nó có thể bắt đầu vào khoảng thời gian la bàn đuợc phát minh, thành quả này đuợc nguời đời tin rằng Hoàng đế Vàng-một nhà vua theo truyền thống cổ của Trung Quốc đã sống khoảng năm 2700 truớc công nguyên. Nguời ta không đưa ra một chứng cứ lịch sử nào về sự đóng góp này, nhưng một điều chắc chắn là việc sử dụng thật sự có từ thời đại cổ xa.

- Có rất ít tài liệu lịch sử xa xa liên quan đến môn phong thuỷ, nhưng trong những vụ khai quật kho cổ hơn tám mươi năm qua ở Trung Quốc đã tìm thấy những tài liệu dưới lòng đất có ngày tháng vào khoảng thế kỷ thứ ba, thậm chí từ trước công nguyên với một số thông tin gián tiếp có liên quan đến phong thuỷ. Một số học giả cho rằng, các kiến thức và sự sử dụng nó có thể vào mùa xuân hay thu, hoặc thời kỳ chiến tranh các nước (770 - 221) trước Công nguyên, khi có khoa dự đoán, kinh dịch và vũ trụ học dựa trên năm yếu tố Ngũ hành đầu tiên được soạn thảo công phu và viết thành văn bản.

- Ðây có thể là một hệ thống mà môn phong thuỷ rất gần gũi, đặc biệt là kinh dịch, nguời ta cho rằng đuợc biên soạn bởi Lão Tử khoảng năm 600 truớc Công nguyên, nguời đã sáng lập nên đạo Lão. Nhưng ngoài những dữ kiện mỏng manh và ký hoạ này, người ta có rất ít nguồn thông tin liên quan đến phong thuỷ cũng như sự co' mật của nó. Nguời ta hy vọng rằng các vụ khai quật trong tuơng lai sẽ có một ít tia sáng cho vấn đề này.

- Chưa đến thời kỳ đầu của triều đại nhà Hán, một học giả nổi tiếng và cũng là một nhà chiến luợc quân sự Zhang Liang (230 - 185 trớc Công nguyên) xuất hiện trong các tài liệu lịch sử là một nhà phong thuỷ. Theo truyền thuyết ông được một đạo sĩ truyền lại kiến thức này, tên là Chisongzi (Red pine Masterrl, một số người khác cho rằng Zhang cũng là môn đệ của một nguời lão luyện khác là Shigong. C hai Hồng Phạm và Thạch Hoàng đều đuợc xem là cha đẻ của thuật phong thuỷ vào thời cổ Trung Quốc (dù rằng các sử gia có thể phần bác điều này, họ tin rằng thuật phong thuỷ đã có truớc đó).

- Thuật phong thuỷ của Hồng Phạm đóng góp một phần đặc biệt quan trọng cho chúng ta ở cuốn sách này. Ông ta đuợc cho là nguời sáng tạo ra của phần Cửu tinh (9 sao) Bát môn (8cửa) và Bát quái phong thuỷ mà chúng ta sẽ tham khảo và nghiên cứu. Cửu tinh nói đến chòm sao (7 ngôi) đợc gọi là Ðại hùng tinh có thêm hai ngôi sao thần linh tưởng tuợng ra. Bát môn đề cập đến 8 điểm chính của La bàn Bát quái và tám cung cơ bản đuợc sử dụng trong kinh dịch dự đoán ( sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở phần II).

- Trong suốt thời ký Tam Quốc một thiên tài chiến lược nổi tiếng Gia Cát Lượng (Khổng Minh) (181 - 234 sau Công nguyên) xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc. Ông ta sử dụng các chiến thuật dựa trên bát quái đồ để du địch tiêu diệt quân Tào. Khổng Minh là một nhà chiến luợc quân sự đại tài cũng như về thuật phong thuỷ và đuợc tôn kính là nguời sáng lập môn phái phong thuỷ.

- Các truyền thuyết về ba vị thầy vĩ đại, Hồng Phạm, Thạch Hoàng và Khổng Minh đã đặt nền tảng cho tất cả những bậc thầy phong thuỷ cho hai ngàn năm kế tiếp. Một số người tin rằng Yellow Stone cũng là nguời đa thuật này vào văn hoá dân gian, do kết quả của nỗ lực này, khoa phong thuỷ không còn là một công cụ bí mật quý giá của một số nguời có đặc quyền và các vị vua có quyến lực trị vì thiên hạ. Ông ta chọn lựa những môn đồ có tài năng để truyền bá kiến thức này cho quần chúng.

- Trong suốt thời kỳ đầu nhà Hán (khoảng năm 200 trước Công nguyên) một tác gi có tên là Oing Wu đã viết ba tập về phong thuỷ. Một vị khác tên là Guo Pu (năm 276 - 324 sau Công nguyên) đã xuất hiện suốt thời ký Tây Hán. Ông ta đuợc công nhận tác giả cuốn sách truyền thuyết về phong thuỷ gọi là Zang Shu (cuốn sách bàn về việc Chôn Cất). Tiếc thay, chỉ còn lại những tựa đề của những tác phẩm đầu tiên về phong thuỷ truyền lại cho chúng ta, các văn bản để thất thoát và lẫn lộn vào các tác phẩm khác. Những công cuộc khai quật kho cổ trong tuơng lai có thể tì thấy những phần của các tài liệu gốc nhưng hiện nay tất cả các bản còn lại này là các bản sửa đổi lại, có lẽ được ghi chép (năm 960 - 1279 sau Công nguyên). Ngay các bản in hiện đại của các bản sửa chữa đều khó hiểu và đuợc viết bằng loại chữ cổ điển Trung Quốc mà ngày nay hiếm nguời có thể đọc đuợc.

- Vào khoảng thế kỷ thứ 7 sau công nguyên, đã có một số văn bản viết về khoa phong thuỷ. Một lần nữa, chúng chẳng tồn tại đuợc bao nhiêu và một số ít bản sửa đổi sau này lại do những nguời viết không đạt chất luợng.

Một số nguời cho rằng sự khan hiếm các tài liệu đuợc viết từ xa do bởi tập quán truyền lại các thông tin qua sự truyền khẩu hoặc nhớ bằng ký ức cũng như tập quán bí truyền từ thầy cho môn đệ, một phương pháp cho phép các sư phụ giữ lại các phần thực hành và sự hiểu biết quá tầm tay của các nhà học thuật bình thường, các nhà phê bình và các tầng lớp có thế lực. Phong thuỷ là một môn nghệ thuật kín mà những học giả có khuynh hướng về nghệ thuật, lịch sử Trung Quốc không quan tâm đến, những người này đã xem nó là một bộ sưu tập văn hoá dân gian và là một sự mê tín. Nhưng nó vẫn tồn tại mãi trong lòng của những người thường dân.

- Nghệ thuật phong thuỷ đã đạt tới đỉnh cao của nó trong một triều đại nhà Tang (Tần) (năm 618 - 906 sau công nguyên) nhiều người hành nghề này phát triển hưng thịnh. Tám người nổi tiếng nhất là Yang Junsong, You Yanhan, Li Chungfeng, thiếu sư Yi Hang, nhà sư Phật giáo Shima Touto, Riu Baitou, Chen Yahe Va Futu Hồng cùng là phật tử. Trong những pháp sư đời Tang (Tần) Yang Jungsong (khoảng 650 sau công nguyên) có ảnh huởng to lớn nhất và qua ông ta cũng như các môn phái phong thuỷ khác đã truyền bá lại cho chúng ta.

Sự quan tâm đến phong thuỷ và cách áp dụng đã đuợc hồi phục lại một thời đại nhà Song (960 - 1279 sau công nguyên) và nhiều vị thầy nổi tiếng đã xuất hiện. Trontg các vị là Wu Aixian (thế kỷ 11 sau công nguyên) và các môn đệ của ông ta Liu Qiwan và You Gounghang, Wu Aixian nguời sáng lập môn phái đuợc gọi là 36 kinh tuyến đã viết một luận thuyết và các hình thể của núi (sn) dùng cho thế đất mai táng và nhà ở. Từ các vị thầu Liu You, đã hình thành nhiều nhánh phong thuỷ khác nhau đuợc sử dụng trong suốt đời nhà Minh (1368 - 1643 sau công nguyên) và đời nhà Quing (1644 - 1911 sau công nguyên).

- Nguời ta ghi nhận rằng, suốt 500 năm kéo dài từ đời nhà Tang đến nhà Song, hơn một trăm môn phái phong thuỷ đã đối địch và tranh giành ảnh huởng lẫn nhau. Tất cả các môn này đều khởi đầu cùng một quan niệm thần học vũ trụ học và các lý thuyết. Ðể rồi sau đó phát triển thành nhiều sự diễn giải khác nhau, mỗi một môn phái đặc biệt quan tâm đến hoặc tập trung vào những khuynh huớng nào đó của phong thuỷ. Sau đó, một số môn phái đồng hoá lẫn nhau. Ðây là một danh sách bởi môn phái chính đuợc công nhận kể từ thời kỳ nhà Tang Song, tất cả các môn phái này tiếp tục có ảnh huởng đến những nguời hành nghề ngày nay.

1. Cửu tinh (chín sao), Bát môn (tám cửu), Bát quái đồ.

2. Những kinh môn - Sanh môn

3. Ngũ hành chính thống

4. Luỡng sơn, Tam hợp và Ngũ hành

5. Bát quái, Ngũ hành

6. Huyền Không Ngũ hành

7. Hồng Phạm Ngũ hành.

Lý thuyết phong thuỷ thuộc vũ trụ học và dựa trên các khái niệm của Ðạo Gia Nhân (con người và Vũ trụ). Mục đích của nó là sự thống nhất của Thiên, Ðịa, Nhân và Vật thể qua một lực đuợc gọi là Thái hư (Taijia), cơ bản tối cao (nguyên khí của Vũ trụ khi cha hình thành âm dương).

- Nguời Trung Quốc cổ tin rằng khi sự kết hợp như thế được tạo nên, qi (các khí lực) của sự sống chy chan hoà khắp tất cả sinh vật, vật chất, những sự kiện tốt đẹp và hữu ích sẽ đuợc tạo nên.

Sự tắc nghẽn khí lực của sự sống sẽ tạo ra một sự đối nghịch: bất hạnh và tai hoạ.

- Các lý thuyết kết hợp Trời, Ðất (thiên, địa), con nguời (nhân) là cốt lõi của thuật phong thuỷ, từ đó nảy sinh ra nhiều truyến thuyết và các câu chuyện dân gian. Các hệ thống tư tưởng to lớn trừu tượng về vũ trụ sau đó hoà lẫn vào các tính ngưỡng dân gian khi người Trung Quốc cổ cố gắng giải thích về những mãnh lực hữu hình cũng như vô hình trên thế gian và các ảnh huởng bí ẩn lẫn phức tạp của những mãnh lực này tác động vào thái độ của con người.

Việc đối phó với những sự kiện không thể tiên đoán đuợc trong cuộc đời không phi mục đích chính của phong thuỷ. Ðiều hấp dẫn nhất là giúp họ củng cố tinh thần trong thời gian gặp khó khăn hoặc bi kịch. Ðối với nguời Trung Quốc cổ, sự hoà hợp giữa con nguời và thiên nhiên là một sự chuẩn bị cần thiết và đúng đắn cho lĩnh vực tinh thần, trong đo con nguời và vũ trụ có thể là một. Sự hiểu biết về văn hoá dân gian đã dạy họ khả năng chấp nhận một sự nghiệp khó có thể giải thích đuợc và cùng lúc thiết lập một nền tảng vững chắc một cuộc sống cho hòa bình, hy vọng, những uớc momg thịnh vuợng lâu dài. Ðối với nguời Trung Quốc, thái độ này thật ý nghĩa, thoải mái và thực tiễn. Tuy nhiên, nó cũng tạo nên nguồn gốc hài hoà giữa con nguời và thiên nhiên , tạo nên một bản đồng ca đặc biệt đượm tình nguời.

Những khuynh huớng chủ yếu về vũ trụ học của thuật phong thuỷ đuợc hình thành theo những sự liên hệ sau đây:

- Trời (Thiên) là khái niệm bao gồm:Thần thánh, ma quỷ, tinh tú (với tư tưởng thần học và thiên văn học); thời gian (gồm chu kỳ các mùa và những ảnh huởng của chúng) và tất cả biểu thị những sức mạnh vô hình lẫn hữu hình cũng như sức mạnh của vũ trụ. Những nghệ thuật dự đoán, số học và các hình thức tiên tri kết hợp với trời.

- Ðất (địa) và vật thể là các thuật ngữ đuợc dùng để mô tả các vật thể trần tục và các điều kiện hữu hình lẫn vô hình. Môi truờng dịa lý, phuơng hướng, vị trí và nơi toạ lạc; Ngũ hành, quyền lực và sức mạnh của thiên nhiên; sự cân bằng và đối nghịch về trật tự của thiên nhiên, cái vô hình kết chặt với ảnh huởng của sông núi, cây cối, thú vật, đất đá, con nguời, nhà cửa, đồ vật v.v...Tất cả các thần này thuộc lĩnh vực đất (địa) và vật thể. Nó cũng bao gồm những yếu tố của siêu nhiên như ma quỷ, thần thánh hổ tng với con nguời trên trên trái đất này. những khía cạnh về lĩnh vực vô hình thì không có thời gian, không gian hoặc những giới hạn. Nguời Trung Hoa cổ cho rằng tất cả mọi con nguời chúng ta với thế giới này cùng nhau chia xẻ điều thân ái, an vui, nguy hại hoặc phiền toái.

- Nhân (con nguời) biểu hiện trí tuệ và tinh thần nhưng phải kết hợp cùng Trời, Ðất, Vật thể sao cho có sự hoà hợp và cân bằng các nhận thức. Ðiều này có thể đạt được qua một sự quan hệ được thiết lập chính xác giữa tất cả các sức mạnh trong thiên nhiên, cho phép chúng trôi chảy thông thuờng và nuôi sống cuộc đời.

- đuợc dịch sang với nghĩa "Tối thuợng" và "Mãnh lực của cuộc sống". Nguời Trung Hoa ngày xưa tin rằng Bí mật của Thái hư là nguồn tối thượng của lực sống trong cuộc đời này, nó đi qua "Thái hư" và tất cả sự vật có thể kết hợp lại thành một.

- QI (Trung cung không có dạng, hình hoặc kích cỡ), nhưng qua nó tất cả mọi vật trong vũ trụ chứng tỏ cả hai lĩnh vực vô hình lẫn hữu hình. Sự hư hao của vật chất là sự bào mòn của qi và sự chết của vật chất là sự biến mất của nó. QI là một khái niệm trừu tuợng to lớn của sự hài hoà và hợp nhất của tất cả mọi vật.

- Vì thế cho nên, tất cả những nguời Trung Quốc luôn luôn nghĩ rằng con nguời phải bảo vệ và nuôi duỡng (qi) khí lực của cuộc sống để đảm bảo nó liên tục phát triển và trôi chảy. Ðạo Gia dạy rằng việc nuôi duỡng ?Sức sống? từ bên trong có thể bổ sung sức khoẻ và truờng thọ. Tuơng tự, sự bảo vệ "sức sống" "qi" trong căn nhà có thể dẫn đến sự an vui và hoà thuận. Các quan niệm đặc biệt của "Sức sống/qi" và sự tồn tại của nó xâm nhập vào tất cả các ngành nghệ thuật Trung Quốc từ triết học, thi ca, hội họa cho đến điêu khắc, thiên dịch, dược thảo, võ thuật và phong thuỷ.

Trang trí nội ngoại thất hài hoà trong cuộc sống

Tác gỉa: Trần Văn Huân, Lưu Thái Châu

Nhà xuất bản văn hóa - Thông tin

1996

Share this post


Link to post
Share on other sites

VẤN ĐỀ PHONG THỦY LẠC VIỆT

ỨNG DỤNG THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN.

Quí vị quan tâm thân mến.

Phong thủy là một bộ môn ứng dụng thuộc tri thức cổ Đông phương trên cơ sở phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hiệu quả của nó tồn tại đến nay trải hàng ngàn năm. Điều này chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: Nó phản ánh một hiện tượng có thật vượt ngoài khả năng nhận thức của tri thức khoa học hiện đại. Tính ứng dụng và hiệu quả thực tế đã chứng minh điều này. Tuy nhiên xét về hệ thống kiến thức phong thủy trong cổ thư chữ Hán thì hoàn toàn rời rạc và mâu thuẫn, nhiều chỗ mơ hồ. Tất nhiên nó không hề chứng tỏ tính hệ thống và nhất quán. Phong Thủy Lạc Việt nhân danh nền văn hiến huyền vĩ Việt ngược lại hoàn toàn có tính hệ thống và nhất quán, đã tập hợp, hiệu chỉnh tất cả các trường phái mâu thuẫn và rời rạc trong cổ thư chữ Hán bởi một nguyên lý duy nhất - Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Tính hợp lý trên mọi phương diện liên quan đến phong thủy của nguyên lý căn để nhân danh nền văn hiến Việt 5000 năm lịch sử này - tại sao chưa được sự ủng hộ của các phong thủy gia?

Để phân tích điều này, xin quí vị quan tâm xem bài viết dưới đây trích trong trang webtretho.com

Bạn CHAN thân mến!

Một lần nữa mình xin được cảm ơn bạn đã gửi cho mình đường link trên về đề tài PHONG THUỶ.

Chắc như bạn đã thấy, những thông tin của mình đưa lên hoàn toàn dựa trên các tài liệu dịch thuật về PHONG THUỶ qua các cuốn cổ thư chữ Hán;

Mấy hôm rồi rảnh rang, mình tranh thủ tìm hiểu các bài viết trong Diễn đàn ... Mình mới biết tài liệu về PHONG THUỶ không chỉ có duy nhất 1 thể loại mà còn có nhiều thể loại tài liệu khác song song cùng tồn tại từ trước tới nay.

Ví dụ như bài do chú THIÊN SỨ trả lời bạn THANH TÂM như sau (xin được trích dẫn để các bố các mẹ có quan tâm về lĩnh vực này cùng được biết):

Nguyên văn bởi Thanh Tâm

Chào chú Thiên Sứ!

Cháu là hội viên mới, nhưng nghe tiếng chú đã lâu qua những bài viết của chú và qua người bạn là thành viên của web này mách bảo là chú rất nhiệt tình. Được biết chú là người rất am hiểu về thuật phong thủy nên cháu muốn nhờ chú xem giúp cháu vấn đề này.

Số là cháu vừa xây xong 1 căn nhà, Trước khi xây cháu cũng có mời thầy đến xem và xác định ngày, giờ, cách bố trí phòng ốc trong căn nhà như thế nào cho hợp với gia chủ. Nhưng trong quá trình xây vì có nhiều ý kiến nên khi hoàn thiện thì căn nhà không được thiết kế như sơ đồ ban đầu thầy đã cho. Căn nhà vừa xây xong thì cháu thấy trong gia đình xảy ra nhiều chuyện cũng ảnh hưởng khá lớn chú ạ. Thứ nhất cháu thấy về sức khỏe của chủ nhà xuống cấp thấy rõ, thứ 2 gia đạo cứ lâm vào cảnh khẩu thiệt lục đục suốt, thứ 3 cuộc sống của các thành viên trong gia đình cũng bị đảo lộn, thay đổi theo chiều hướng xấu 1 cách rõ rệt.

Cháu nhờ chú giúp xem với cách bố trí căn nhà như vậy thì bất hợp lý ở chỗ nào và có giải pháp gì giúp cháu khắc phục càng sớm càng tốt(nếu tiết kiệm được chi phí thì tốt).Cứ như trong tình trạng này sao cháu thấy trong người lúc nào cũng căng thẳng, buồn rầu và lo lắng quá!

Cháu tuổi Nhâm Tý, chồng cháu tuổi Ất Mão

Nhà cháu hướng Đông Nam (Theo thầy thì vợ chồng cháu hợp với hướng Tây)Cháu gửi chú sơ đồ nhà hiện trạng kèm theo do cháu tự vẽ phác họa. Chú đừng cười nhé vì cháu ở ngoài dịch vụ chỉ biết xoay sở thế thôi..

Nguyên văn bởi Thiên Sứ

Thanh Tâm thân mến.

Giữa Phong thuỷ Lạc Việt và phong thuỷ được lưu truyền qua cổ thư chữ Hán có vài điểm khác biệt từ nguyên lý căn để.

# Phong thuỷ Lạc Việt phi tinh trên Hà Đồ nên tuổi Ất Mão sinh 1975 của chồng Thanh Tâm là cung Ly. Thuộc Đông trạch.

#Theo Phong thuỷ từ sách Hán thì Ất Mão phi cung Đoài. Thuộc Tây trạch.

Nhưng còn một khác biệt nữa do Hậu Thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn Khôn ,nên người cung Ly Thiên y ở Tây Nam (Sách Tàu Thiên y ở Đông Nam). Bởi vậy theo cách của chú thì nhà này phạm hướng Lục sát và thuộc Tuyệt mạng trạch. Cách bố trí phòng ốc lại xấu quá. Chưa biết hầm cầu đặt tại đâu? Nói chung theo chú thì nhà này hơi khó sửa. Đã vậy, hướng Đông Nam lại bị Ngũ Hoàng Đô thiên sát chiếu phương này(Theo sách Viêt. Sách Tàu là Thất Sát chiếu).

Có lẽ Thanh Tâm nến vẽ lại sơ đồ nhà có kích thước hẳn hoi và đo la bàn cho chuẩn , may ra chú giúp được gì chăng? Trường hợp bất khả thi thì có thể cho thuê và đi ở nhà khác.

Thực lòng mà nói giờ mình cũng không biết phải nghiên cứu tìm hiểu về PHONG THUỶ như thế nào nữa!!!... Có lẽ phải cần có thời gian trải nghiệm và chứng minh thực tế mới được!

Mặc dù Bảng 2 mà mình đã post lên DD vẫn sử dụng được chung cho cả 2 thể loại nêu trên nhưng vì bảng 1 chỉ còn đúng cho 1 thể loại; do vậy mình đã gỡ bỏ cả 2 bảng tra này để nghiền ngẫm thêm Posted Image .

Một lần nữa xin cảm ơn bạn CHAN nhiều nhé!

Quí vị quan tâm thân mến.

Qua bài trích dẫn trên cho thấy rằng:

Trong trường hợp này sự ảnh hưởng mang tính khác biệt của Phong Thủy Lạc Việt và Hán, chính là sự thay đổi cung mệnh giữa Ly và Đoài. Sự việc đã rõ ràng trong trường hợp cụ thể này: Người được sách Hán coi là mệnh Đoài Tây tứ cung đã thất bại khi bố trí Phong thủy. Đây không phải là thí dụ duy nhất khi Phong Thủy Lạc Việt được công bố.

Nhưng tại sao các phong thủy gia vẫn hoài nghi Phong Thủy Lạc Việt?

Còn tiếp

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kính cụ.

theo liêm trinh hướng nhà hợp cục với vợ nên vợ vượng.

Vợ vượng lấn chồng trái lẽ phu thê lục đục là dĩ nhiên. cục của vợ vượng phản khắc làm chồng bị ốm là đúng với ngũ hành biến hóa.

Kính cụ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kính cụ.

theo liêm trinh hướng nhà hợp cục với vợ nên vợ vượng.

Vợ vượng lấn chồng trái lẽ phu thê lục đục là dĩ nhiên. cục của vợ vượng phản khắc làm chồng bị ốm là đúng với ngũ hành biến hóa.

Kính cụ.

Anh Liêm Trinh có thể phân tích rõ và cụ thể hơn trong trường hợp này không? Sách Tàu Đông Nam là cung Tốn. Phong Thủy Lạc Việt là cung Khôn?

Share this post


Link to post
Share on other sites

VẤN ĐỀ PHONG THỦY LẠC VIỆT

ỨNG DỤNG THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN.

Nhưng tại sao các phong thủy gia vẫn hoài nghi Phong Thủy Lạc Việt?

Điều đầu tiên chúng ta dễ nhận thấy rằng: Trong truyền thống ứng dụng phong thủy từ hàng ngàn năm sau khi nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miền nam Dương Tử, các phong thủy gia vẫn theo những phương pháp được hướng dẫn từ cổ thư chữ Hán. Mặc dù họ vẫn không thể hiểu được tại sao như vậy.

Để minh chứng điều này, chúng ta thấy rằng: Việc phân cung bản mệnh trong Bát trạch từ đâu mà có? Tại sao tuổi nam sinh năm này thuộc Càn, sinh năm kia thuộc Cấn, năm khác thuộc Đoài .....rồi phân làm hai loại Đông Tây Tứ cung? Đây là một hiện tượng chỉ học thuộc lòng hoặc nhưng phương pháp tính có quy luật. Nhưng đó là qui luật gì? Những phong thủy gia gần như không cần biết điều này , mà chỉ phân cung bản mệnh và sau đó là áp vào Đông, hoặc Tây tứ cung, rồi định tốt xấu theo Bát trạch đã được hướng dẫn và thực hiện các phương pháp ứng dụng Phong thủy.

Nhưng thực tế cho thấy rằng: Việc phân cung bản mệnh của Bát trạch - được coi là xuất hiện từ cuối đời nhà Tấn, đầu đời nhà Đường bên Trung Hoa - nhưng thực chất việc phân cung bản mệnh trong Bát trạch chính là căn cứ theo quy luật phi tính Huyền Không - Nam Dương phi nghịch - Âm; Nữ Âm phi thuận Dương.

Nhưng chúng ta đều biết rằng: Phương pháp phi tinh Huyền Không được công bố bằng bản văn tiếng Hán lại chỉ xuất hiện ở thời Minh Thanh trong lịch sử Trung Hoa. Tức là sau phương pháp Bát trạch cả ngàn năm.

Nếu coi văn minh Trung Hoa là kẻ phát minh ra môn phong thủy ...cũng như thuyết Âm Dương NGũ hành nói chung thì về nguyên tắc phát triển của một phương pháp khoa học, Huyền Không phi tinh phải có trước làm cơ sở cho phi tinh tìm cung bản mệnh của Bát trạch. Đằng này Huyền Không phi tinh lại có sau Bát trạch ngót 1000 năm. Thật sự là điều vô lý!

Điều này chỉ có thể giải thích được, khi xác định rằng: Cà Huyền không và Bát trạch..vv...cũng như Âm trạch, thực chất đều đã tồn tại trước đó thuộc văn minh Văn Lang ở Nam Dương Tử. Sự sụp đổ của nền văn minh này - mà các sử gia Trung Quốc hiện đại gọi là "Nước Ba" - đã khiến những giá trị của nó thất tán và được phát hiện rời rạc trong quá trính Hán Hóa việt tộc và những di sản của văn minh Việt.

Đây chính là một trong nhiều ví dụ về tính phát hiện rời rạc, mâu thuẫn về những di sản văn hiến Việt còn lại ở Nam Dương tử của văn minh Hán. Hiện tượng này và còn nhiều hiện tượng khác trong phong thuỷ - cũng như thuyết Âm Dương Ngũ hành nói chung - xác minh một nền văn minh đã tồn tại phi Hán ở phần đất mà hiện nay được coi là lãnh thổ Trung Hoa, mà tôi đã minh chứng thuộc nền văn minh Lạc Việt.

Phong Thủy Lạc Việt đã xác định tính đúng đắn, khoa học - căn cứ theo tiêu chí khoa học - và là sự tổng hợp một cách nhất quán toàn bộ những cái gọi là trường phái đầy mâu thuẫn trong bản văn chữ Hán và ứng dụng hiệu quả cáo nhất trên những thành tựu đạt được.

Nhưng các phong thủy gia vẫn còn hoài nghi.

Một trong những nguyên nhân chính là Phong Thủy Lạc Việt không được phổ biến một cách có hệ thống. Những luận đề căn nguyên dẫn tới sự tập hợp lại những giá trị Phong Thủy bị thất truyền của văn minh Việt là: Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ không được phổ biến rộng rãi. Điều này khiến cho nhiều phong thủy gia chỉ cảm nhận một sự khác biệt nào đó giữa Phong Thủy Lạc Việt và Phong thủy từ cổ thư. Tất nhiên, cũng có những nhà nghiên cứu có tìm hiểu những luận đề căn nguyên trên, nhưng lại chưa tiếp xúc với những tình huống ứng dụng cụ thể của Phong Thủy Lạc Việt - hiện nay chỉ giới hạn trong học viên.

Đây là một nguyên nhân và không phải nguyên nhân duy nhất.

Còn tiếp

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chú Thiên Sứ cho cháu hỏi, làm thế nào để mình biết sinh năm nào thì thuộc quẻ gì ạ, hay chú biết sách gì có hướng dẫn điều này thì cho cháu biết với được kg ạ? Cháu cám ơn chú

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nếu tìm tài liệu để hiểu thêm về Quái chủ mệnh, đơn giản nhất bạn có thể tìm cuốn Bát trạch Minh Kính trên thị trường. Sách Phong thủy Lạc Việt hiện thời vẫn ở dạng bản thảo, chúng tôi chưa xuất bản. Nếu bạn ham thích học hỏi có thể tham gia các lớp Phong thủy cơ bản có thông báo ở những phần phía trên diễn đàn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nguyên văn bởi Nhu Nguyen

các sư phụ cãi nhau loạn xì ngậu ............ có thờ có thiêng có kiêng có lành. Phái nào đều có lý của phái đó, không phỉ báng lẫn nhau (hình như 1 trong những tội của Phật kể ra có tội này: phỉ báng khác giáo) ^_^ http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/excl.gif

...làm cốc bia cho hạ hỏa và thư giản tí :wub: :wub: ..... Phong Thủy LV hay Tàu (em gọi là Tung Cẩu) đều có căn cơ của nó, ai đúng ai sai? cao thấp thế nào .... cũng như Võ Đang và Thiếu Lâm uýnh nhau thôi (hơi quá nhời tí ... :) )

Em thấy thế này .... Phong Thủy cần nghiệm chứng (như bạn dangthu79 đang theo dõi chính bạn đó), các sư phụ cứ làm vài cái sơ đồ nhà (đã theo, áp dụng PTLV hoặc Tàu trước kia), sau 1 thời gian sửa ngược lại theo PTLV hoặc Tàu và kết quả của nó.... (bỏ qua các trường hợp may thấy phúc chủ nha)

Chú Thiên Sứ và diễn đàn Lý Học Đông Phương, em nghĩ, nên mở thêm 1 topic nghiệm chứng phong thủy lạc việt, để cả nhà cùng chiêm nghiệm, học hỏi và thấy được sự ứng dụng thành công của PTLV.

Vài lời linh tinh, có gì không phải mong các sư phụ bỏ quá. :D :D

Không có vấn đề trường phái giữa Phong Thủy Lạc Việt và phong thủy Tàu.

Phong thủy Lạc Việt là sự phục hồi và hiệu chỉnh trên cơ sở những di sản còn lại về phong thủy Đông phương được thể hiện bằng văn tự Hán và các bản tiếng Quốc Ngữ của Việt tộc dịch từ tiếng Hán, Nhân danh cội nguồn Phong Thủy của nền văn hiến Việt từ hơn 2000 năm trước. Danh xưng phong thủy Lạc Việt là sự xác định bản quyền và nguồn gốc khoa phong thủy thuộc về Việt tộc, trên cơ sở thay đổi nguyên lý căn để Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ thay thế cho Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư. Sự thay đổi này dẫn đến sự hiệu chỉnh và phục hồi khoa phong thủy trên cơ sở tiêu chí khoa học, hoàn toàn không phải sự phủ định hầu hết những phương pháp ứng dụng của Phong thủy từ trước đến nay.

Anh chị em tham gia nghiên cứu phong thủy Lạc Việt cần hiểu rõ điều này.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quí vị và anh chị em quan tâm thân mến.

Phần giới thiệu dưới đây đã in trong cuốn Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tôi đưa vào đây để tiện tham khảo về tính nhất quán, tính hệ thống từ nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" ứng dụng trong Phong thủy Lạc Việt và tính hợp lý trong việc lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

===============================

HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

TÍNH QUY LUẬT TRONG PHONG THUỶ

Trong những phần chứng minh trên, người viết đã chứng tỏ tính hợp lý nội tại trong nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông phương là “Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ”. Mọi việc sẽ không có ý nghĩa thực tế, nếu chỉ giới hạn ở tính hợp lý nội tại này. Bởi vậy, theo đúng tiêu chí khoa học, nó cần phải chứng tỏ khả năng giải thích hợp lý , khách quan , có tính qui luật với sự nhất quán một<br>cách toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực ứng dụng thuộc học thuật cổ Đông phương, mới chứng tỏ được tính chân lý của nó, theo đúng tiêu chí khoa học hiện đại .<br>Toàn bộ Phần III của cuốn sách này minh chứng điều đó của nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ trong các phương pháp ứng dụng phổ biến thuộc không gian học thuật cổ Đông phương.<br><br>TÍNH NHẤT QUÁN CỦA PHONG THỦY LẠC VIỆT<br>Trong lịch sử, môn phong Thủy được cho rằng có xuất xứ từ văn minh Hán . Không ít những nhà nghiên cứu lịch sử môn này cho rằng:<br>“Phong Thủy là do kinh nghiệm dân gian tích luỹ, đúc kết lại mà thành” . Bạn đọc có thể thấy rất rõ ý này từ nội dung của một tựa đề trong cuốn: “Địa lý toàn thư tân biên”. Nxb VHTT . 2002 của nhà nghiên cứu có tên tuổi với nhiều đầu sách về Phong Thủy là Trần Văn Tam trong trang 19 có tựa đề sau:<br>Nguồn gốc của thuật phong Thủy<br>Kinh nghiệm ngàn năm trở thành bài học .<br>Cũng trong trang này, ông viết:<br>Thời thượng cổ, con người sống theo lối du canh du cư, trải qua một quá trính tiến hoá đến định canh định cư và mới bắt đầu chú ý đến nơi ăn chốn ở sao cho thích hợp, chọn địa điểm cư trú sao cho tiện lợi, rồi tiến tới kiến tạo phòng ốc để ở sao cho thật ổn định, an lành, giàu có .<br>Những kinh nghiệm về cư trú được tích luỹ từ đời này sang đời khác chính là khởi điểm của phong Thủy học . Luận điểm của tác giả cũng là luận điểm phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp về phong Thủy và cả những nhà nghiên cứu về văn hóa Đông phương cổ. Nhưng đây là một luận điểm sai lầm. Sai lầm này xuất phát từ việc người ta không tìm thấy tính hợp lý<br>liên quan giữa một nguyên lý căn bản cần có và một hệ thống lý thuyết là tiền đề cho những phương pháp ứng dụng trong phong thuỷ. Thực tế đã cho thấy những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ xuất hiện sau sự ứng dụng trong văn minh Hán cả ngàn năm và lại bị sai lệch (Đã chứng minh ở trên) . Tất nhiên, cho đến bây giờ, người ta cũng chưa thể khám phá được thực tại nào làm nên<br>nguyên lý lý thuyết thể hiện trong phương pháp ứng dụng của phong<br>Thủy . Bởi vậy - trong bối cảnh tri thức khoa học hiện đại - người ta<br>không thể giải thích bằng một nguyên nhân huyền bí theo kiểu “Con<br>Long Mã hiện lên trên sông Hoàng Hà”, nên đành phải giải thích sự tồn<br>tại của các phương pháp ứng dụng trong phong Thủy như là sự đúc<br>kết những kinh nghiệm thực tiễn.<br>Thực tế phương pháp ứng dụng của phong Thủy cho thấy: Nó<br>tuân thủ một qui ước chặt chẽ và khách quan, có phương pháp luận và<br>có một cơ sở nguyên lý dù mơ hồ và sai lệch là Hậu thiên bát quái -<br>đã chứng minh ở trên – thì phương pháp ứng dụng này phải là hệ quả<br>của một lý thuyết hoàn chỉnh có trước đó , chứ không thể là kết quả<br>của một kinh nghiệm. Chính sự thất truyền và sai lệch từ nguyên lý<br>căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành này và một thực tại chưa<br>được biết đến trong tri thức khoa học hiện đại , đã khiến cho những<br>phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương nói chung và<br>phong Thủy nói riêng, được giải thích với nhiều cách nhìn khác nhau.<br>Trong bản văn chữ Hán liên quan đến phương pháp ứng dụng<br>trong phong Thủy, các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng đó là những<br>trường phái khác nhau và thời gian xuất hiện của các phương pháp<br>gọi là “trường phái” này cũng khác nhau trong lịch sử văn minh Hán<br>. Nói chung , người ta coi các phương pháp sau đây trong phong Thủy<br>là những trường phái chính trong kiến trúc theo phong thuỷ:<br>1. Phái bát trạch.<br>Là phương pháp lấy con người cư trú - cụ thể là gia chủ - là chủ<br>119<br>thể tương quan với 8 phương vị để tính toán phương hướng căn nhà tốt<br>hay xấu với gia chủ .<br>2) Phái dương trạch tam yếu.<br>Là phương pháp căn cứ tương quan cấu trúc nội tại của căn nhà<br>để quyết định tính tốt hay xấu của chính căn nhà đó .<br>3) Phái hình thể.<br>Là phương pháp căn cứ vào hình thể khu vực môi trường liên<br>quan đến vị trí tọa lạc của căn nhà để quyết định sự vượng suy của<br>căn nhà .<br>4) Phái huyền không.<br>Là phương pháp tính toán sự vận động của các sao trong vũ trụ<br>ảnh hưởng tới căn nhà do phương hướng của nó.<br>Sở dĩ chúng bị coi là những trường phái riêng biệt vì phương<br>pháp ứng dụng khác nhau và sự xuất hiện trong văn minh Hán vào<br>thời điểm không gian và thời gian khác nhau. Và nguyên nhân quan<br>trọng hơn cả cho cách giải thích này là: Một nguyên lý lý thuyết bị<br>thất truyền và sai lệch, nên người ta không thể liên hệ được tính thống<br>nhất của chúng trong phong thuỷ.<br>Nhưng với cái nhìn từ một nguyên lý căn bản được phục hồi từ<br>văn minh Lạc Việt thì chúng ta thấy rằng tất cả các phương pháp gọi<br>là trường phái đó, đều có một nguyên lý ứng dụng duy nhất - Nếu<br>chúng ta tạm thời bỏ qua các cuộc tranh luận liên quan đến nguồn gốc<br>Lạc Việt hoặc Hoa Hạ - thì nguyên lý này chính là Bát quái và cửu<br>cung. Đồng thời các phương pháp gọi là trường phái này có cùng một<br>phương pháp luận liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, dù rất<br>mơ hồ .<br>Như vậy, chỉ cần xét đến sự rời rạc mà người ta quen gọi là<br>trường phái này – khi trên thực tế chúng có một phương pháp duy<br>nhất (Bát quái và cửu cung) và một nguyên lý căn bản với sự tương<br>quan không thể thiếu được vì tính liên hệ giữa các phương pháp – thì<br>điều này cũng đủ chứng tỏ chúng không thể là những phương pháp<br>riêng biệt không liên quan tới nhau và được giải thích là những “trường<br>phái” khác nhau.<br>120<br>Bạn đọc có thể quán xét một hiện tượng liên hệ giữa phương<br>pháp bát trạch và huyền không .<br>Trong cơ sở phương pháp ứng dụng của bát trạch minh cảnh là<br>tìm cung phi cho gia chủ thuộc quái nào trong Bát quái tương ứng với<br>năm sinh. Nhưng phương pháp tính cung phi lại được ứng dụng theo<br>phương pháp phi tinh thuận nghịch của huyền không: nam phi nghịch,<br>nữ phi thuận . Bởi vậy phương pháp của huyền không và bát trạch<br>phải có một mối liên hệ chặt chẽ và liên quan tới nhau và cùng có<br>một cơ sở nhận thức thực tại để tạo ra phương pháp của nó .<br>Nếu chúng ta bỏ đi nhưng phần lý luận rườm rà, đổi lúc mơ hồ<br>vì cách giải thích của người đời sau, mà chỉ tính đến phương pháp ứng<br>dụng – của tất cả các sự phát hiện rải rác gọi là trường phái – thì sẽ<br>thấy một sự tổng hợp tuyệt vời của phương pháp phong thủy nói chung<br>trong sự tương tác liên quan giữa kiến trúc và con người. Dưới đây là<br>nội dung chính của những phương pháp chủ yếu thường ứng dụng<br>trong kiến trúc phong thuỷ:<br>* Bát trạch minh cảnh = Sự liên hệ giữa con người với tương<br>quan phương vị căn nhà.<br>* Dương trạch tam yếu = Sự liên hệ giữa cấu trúc căn nhà hỗ trợ<br>cho sự tương quan của căn nhà với con người.<br>* Hình thể (Loan Đầu) = Sự liên hệ giữa môi trường với vị trí và<br>cấu trúc căn nhà .<br>* Huyền không = Sự liên hệ giữa ảnh hưởng của sự tương tác vũ<br>trụ lên con người và vị trí môi trường với cấu trúc nhà.<br>Với nội dung của các phương pháp đã trình bày ở trên, chúng ta<br>cũng nhận thấy ngay rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng đó (quen<br>gọi là trường phái) đều là những yếu tố cần và có sự liên quan rất<br>chặt chẽ trong sự tương tác giữa điều kiện sống của con người với vũ<br>trụ. Những yếu tố này bổ sung cho nhau trong kiến trúc theo phong<br>thuỷ.<br>Một yếu tố quan trọng nữa là tất cả các phương pháp - gọi là<br>trường phái trên đều ứng dụng một phương pháp luận liên quan đến<br>thuyết Âm Dương Ngũ hành – dù mơ hồ vì thất truyền và sai lệch.<br>Chính vì yếu tố thất truyền và sai lệch này, nên mặc dù với một<br>121<br>cố gắng ở tầm cỡ quốc gia với qui mô rất lớn vào đời nhà Thanh, nền<br>văn minh Hán vẫn không thể nào tổng hợp và thống nhất được mọi<br>phương pháp ứng dụng trong phong Thủy - Cuốn Hiệp Kỷ biện phương<br>thư là một trong những kết quả của sự tổng hợp qui mô này - và các<br>phương pháp ứng dụng khác trong học thuật cổ Đông phương. Nhưng<br>sự cố gắng với quy mô quốc gia đó vẫn hoàn toàn vô ích . Cho đến<br>ngày hôm nay, tất cả vẫn chìm trong sự huyền bí.<br>Nhưng người viết có thể khẳng định rằng: Khi nền văn minh<br>Lạc Việt bắt đầu được đặt vấn đề như là cội nguồn đích thực của<br>những di sản văn minh Đông phương cổ thì mọi việc đang dần sáng<br>tỏ.<br>Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ chính là sự lý giải hợp lý cho<br>hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó theo tất cả<br>những yếu tố cần của tiêu chí khoa học hiện đại.<br>Những điều người viết hân hạnh trình bày với bạn đọc ở trên thì<br>cội nguồn của các phương pháp ứng dụng rời rạc trong phong Thủy từ<br>cổ thư chữ Hán, lại có nguồn gốc từ một phương pháp thống nhất,<br>hoàn chỉnh từ một nguyên lý căn bản trong một hệ thống lý thuyết<br>nhất quán, trong những vấn đề liên quan kiến trúc và cuộc sống của<br>con người. Bắt đầu từ đây, người viết xin được định danh phương<br>pháp thống nhất đó là phong thủy Lạc Việt .<br>Nội dung khái niệm “phong Thủy Lạc Việt” chính là sự tổng<br>hợp của tất cả các phương pháp ứng dụng được lưu truyền qua hình<br>thức văn bản cổ chữ Hán và còn lưu truyền trong dân gian . Có sự<br>khác nhau căn bản của phong thủy Lạc Việt từ ngàn xưa và trong<br>sách Hán cổ, chính là nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt liên hệ<br>Hà đồ phản ánh một thực tại vũ trụ và có khả năng hiệu chỉnh, lý giải<br>một cách hợp lý và ứng dụng một cách nhất quán trong mọi vấn đề<br>liên quan .<br>Những phần tiếp theo đây minh chứng cho luận điểm trên.<br>Người viết bắt đầu thể hiện tính nhất quán của nguyên lý căn<br>bản từ văn minh Việt từ chiếc la kinh dùng trong phong thuỷ.<br>122<br>LA KINH TRONG PHONG THỦY VÀ HÀ ĐỒ<br>Trước hết chúng ta hãy cùng quán xét chiếc la kinh. Có thể nói<br>rằng: Chiếc la kinh dùng trong phong thủy là một minh chứng rất rõ<br>nét và hiển nhiên cho việc Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà đồ.<br>Thuận tự 24 sơn, hướng của chiếc la kinh được sắp xếp theo chiều<br>Ngũ hành tương sinh của can chi hoàn toàn trùng khớp với chiều Ngũ<br>hành tương sinh của Hà đồ. Xin quí vị quan tâm so sánh hình phương<br>vị 24 sơn của la kinh và Hà đồ liên hệ Hậu thiên bát quái Lạc Việt,<br>dưới đây:<br>HÌNH LA KINH & HÀ ĐỒ<br>Qua hình trên, bạn đọc quan tâm cũng thấy sự trùng khớp hoàn<br>toàn về các phương vị của Hậu thiên bát quái Lạc Việt với Hà đồ với<br>sự thể hiện thuộc tính Ngũ hành trong phương trên la kinh. Đặc biệt<br>phần phía Nam và Tây của Hà đồ, sự trùng khớp về phương vị và<br>hành được thể hiện như sau:<br>* Khảm =Thủy, Nhâm Tý Quý = Thủy nằm ở phương Bắc của<br>la kinh. Tương ứng với:<br>Khảm = Thủy nằm ở phương Bắc Thủy, độ số 1 của Hà đồ.<br>* Chấn = Mộc, Giáp Mão Ất = Mộc nằm ở phương Đông của la<br>kinh. Tương ứng với:<br>Chấn = Mộc nằm ở phương Nam Mộc, độ số 3 của Hà đồ.<br>123<br>* Ly = Hòa, Bính Ngọ Đinh = Hỏa nằm ở phương Nam của la<br>kinh. Tương ứng với:<br>Ly = Hỏa nằm ở phương Nam Hỏa, độ số 7 của Hà đồ.<br>* Đoài = Kim, Canh Dậu Tân = Kim tọa vị tại phương Tây của<br>la kinh. Tương ứng với:<br>Đoài Kim tọa vị phương Tây Kim, độ số 9 của Hà đồ.<br>Như vậy, chính trên chiếc la kinh này, chúng ta chỉ có thể thấy<br>được dấu ấn của Hà đồ phối Hậu thiên bát quái rất rõ nét .<br>Thật là một sự phi lý trong cổ thư chữ Hán, khi họ phối Hậu thiên bát<br>quái với Lạc thư. Nhưng phương vị của chiếc la kinh với thuận tự can<br>– chi theo chiều Ngũ hành tương sinh lại chính là thuận tự Ngũ hành<br>tương sinh của Hà đồ? Chưa hết: Đồ hình Lạc thư và Hà đồ tuy về<br>chia phương vị không gian như nhau (Cùng có 9 cung ), nhưng lại<br>khác nhau căn bản về tính chất Âm Dương và thuận nghịch sinh khắc<br>của Ngũ hành. Bởi vậy, hoàn toàn không có một sự tương thích hợp lý<br>nào giữa la kinh dùng trong phong Thủy và Lạc thư .<br>Bạn đọc xem hình minh họa dưới đây:<br>SO SÁNH TƯƠNG QUAN LA KINH VÀ LẠC THƯ<br>Qua đồ hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy ngay:<br>Không hề có mối liên hệ tương thích hợp lý nào giữa Lạc thư<br>124<br>với phương vị Ngũ hành trên chiếc la kinh dùng trong phong Thủy .<br>Đồng thời, chính tính tương thích với Ngũ hành trên Hà đồ của<br>chiếc la kinh dùng trong phong Thủy được phối hợp với Hậu thiên bát<br>quái, lại là một bằng chứng hoàn hảo cho việc phối Hậu thiên Lạc<br>Việt với Hà đồ và phủ nhận trên thực tế ứng dụng đồ hình lưu truyền<br>trong cổ thư chữ Hán: Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư .<br>Như vậy, người viết đã hân hạnh minh chứng tính dụng của Hà<br>đồ phối Hậu thiên Lạc Việt với phong thủy qua chính một vật dụng<br>bất ly thân của thuật này là chiếc la kinh.<br>Nhưng vấn đề không dừng ở đây, bởi vì còn một tiền đề quan<br>trọng liên quan rất chặt chẽ đến Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt, đó là<br>sự ứng dụng phương vị của thuật phong thủy. Bạn đọc sẽ thấy rằng:<br>Nguyên lý căn bản Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt tiếp tục<br>chứng minh tính hợp lý của nó .<br>125<br>TỨ TRẠCH TRONG HẬU THIÊN LẠC VIỆT & HÀ ĐỒ<br>Tính phi qui luật của Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư<br>Trước khi minh chứng tính hợp lý của nguyên lý căn bản “Hà<br>đồ phối Hậu thiên Lạc Việt” ứng dụng trong phân cung của phong<br>Thủy, người viết mong được bạn đọc quán xét lại mối tương quan này<br>trong cổ thư chữ Hán là Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư qua hình<br>sau đây:<br>TỨ TRẠCH HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG PHỐI LẠC THƯ<br>(Theo cổ thư chữ Hán)<br>Quán xét đồ hình trên chúng ta cũng thấy Bát quái trong phong<br>Thủy được qui ước phân làm hai loại gọi là Đông tứ cung (Màu đỏ) và<br>Tây tứ cung (Màu đen).<br>* Tây tứ cung theo sách cổ chữ Hán gồm:<br>Càn / Tây Bắc – Đoài/ Chính Tây – Khôn / Tây Nam - Cấn /<br>Đông Bắc.<br>* Đông tứ cung theo sách cổ chữ Hán gồm:<br>Khảm / Chính Bắc – Chấn / Chính Đông – Tốn / Đông Nam –<br>Ly / Chính Nam.<br>126<br>Đông tứ cung và Tây tứ cung phân đều trên 4 hành của Lạc thư.<br>Nếu chúng ta lấy từng cặp cùng hành trên Lạc thư theo cổ thư chữ<br>Hán, sẽ được 4 cặp cùng hành trên Lạc thư. Trong từng cặp, nếu<br>chúng ta cố gắng để Tây tứ cung nằm cột dọc bên trái và Đông tứ<br>cung nằm cột dọc bên phải và điều kiện này chỉ thực hiện được với<br>hai cặp thuộc hành Thủy là Càn - Khảm và thuộc hành Mộc là Cấn<br>Chấn; không thực hiện được với hai cặp cùng hành Kim là Tốn - Ly<br>và thuộc hành Hỏa là Khôn Đoài.<br>Bạn đọc xem hình minh họa sau đây:<br>127<br>128<br>Qua sự quán xét 4 cặp cùng hành trên, chúng ta cũng thấy rằng:<br>Chúng hoàn toàn không tuân theo một qui luật nhất quán nào. Tính<br>phi qui luật này lại là hệ quả của sự mâu thuẫn giữa độ số Lạc thư với<br>hành của quái vị. Đã dẫn giải ở trên: Ly Hỏa nằm ở độ số 9 – độ số<br>của Kim. Đoài Kim nằm ở độ số 7 – độ số của Hỏa. Và một yếu tố sai<br>lệch nữa rất căn bản chính là vị trí Tốn - Khôn trong cổ thư chữ Hán.<br>Tính phi qui luật của Hậu thiên Văn Vương từ cổ thư chữ Hán<br>thể hiện sự sai lệch của những cặp cùng hành được thể hiện ở bảng<br>trên. Qui luật này, người viết tạm đặt tên là:<br>“Tính chất hoán vị tương ứng tốt và xấu đổi chỗ cho nhau với<br>phương vị cùng hành”.<br>Chúng ta lần lượt quán xét qui luật này trong từng cặp cùng<br>hành như sau:<br>1. Càn & Khảm<br>Nằm ở hành Thủy, độ số 1 - 6 của Lạc thư, cũng là hành Thủy<br>1- 6 của Hà đồ.<br>Xét hai cặp cùng hành Càn & Khảm được đặt ở giữa và xét<br>tương quan với các phương vị của Bát quái qua hình trên chúng ta<br>thấy:<br>* Tương quan Càn và Khảm ở giữa hình với phương vị của nó ở<br>Tây Bắc và chính Bắc (Cùng hành Thuỷ) thì tính chất Phục vị (Tốt) -<br>Lục sát (Xấu) đổi chỗ cho nhau .<br>129<br>* Tương quan Càn và Khảm ở giữa hình với phương vị Đông<br>Bắc và chính Đông (Cùng hành Mộc) thì tính chất Thiên y (Tốt) -<br>Ngũ quỉ (Xấu) đổi chỗ cho nhau .<br>Chính vì sự trùng hợp về hành và quái vị của Hà đồ và Lạc thư<br>ở hai hành này, nên khi liên hệ chúng có sự nhất quán ở hai cặp này.<br>Tương quan đổi chỗ này là qui luật :”Tính chất hoán vị tương ứng tốt<br>xấu đổi chỗ cho nhau với phương vị cùng hành”.<br>Nhưng đến tương quan với hai phương vị cùng hành là Đông<br>Nam và chính Nam (Kim trên Lạc thư) thì qui luật này không được<br>thể hiện do sự khác biệt của vị trí Tốn Khôn. Đó là: Càn ở giữa hình<br>với Đông Nam là Hoạ Hại, với chính Nam là Tuyệt Mạng . So với<br>Khảm ở giữa hình với Đông Nam là Sinh khí , với chính Nam là Phúc<br>đức. Chúng hoàn toàn không tương thích với qui luật trên .<br>Sự khác biệt của vị trí Tốn & Khôn cũng cho thấy sự khác biệt<br>khi tương quan hai cặp cùng hành này với phương vị Tây Nam và<br>Chính Tây (Hỏa trên Lạc thư) . Đó là Càn: Tây Nam Phúc đức , chính<br>Tây Sinh khí , không hề tương ứng với Khảm: Tây Nam Tuyệt mạng,<br>chính Tây Hoạ hại .<br>2. Cặp Cấn & Chấn<br>Nằm ở hành Mộc, độ số 3- 8 của Lạc thư - cũng là hành Mộc 3<br>- 8 của Hà đồ.<br>Xét hai cặp cùng hành Cấn & Chấn được đặt ở giữa và xét<br>130<br>tương quan với các phương vị của Bát quái qua hình trên chúng ta<br>thấy:<br>* Tương quan Cấn & Chấn ở giữa hình với phương vị ở Tây Bắc<br>và chính Bắc thì tính chất Thiên y (Tốt) – Ngũ quỉ (Xấu) đổi chỗ cho<br>nhau .<br>* Tương quan Cấn & Chấn ở giữa hình với phương vị Đông Bắc<br>và chính Đông thì tính chất Lục sát (Xấu) - Phục vị (Tốt) đổi chỗ cho<br>nhau .<br>Chính vì sự trùng hợp về hành và quái vị của Hà đồ và Lạc thư<br>ở hai hành này, nên khi liên hệ thì thấy chúng có sự nhất quán ở hai<br>cặp này. Tương quan đổi chỗ này là qui luật : “Tính chất hoán vị<br>tương ứng tốt xấu đổi chỗ cho nhau với phương vị cùng hành”.<br>Nhưng đến tương quan với hai phương vị cùng hành là Đông<br>Nam và chính Nam (Kim trên Lạc thư) thì qui luật này không được<br>thể hiện do sự khác biệt của vị trí Tốn Khôn. Đó là: Càn ở giữa hình<br>với Đông Nam là Hoạ Hại, với chính Nam là Tuyệt Mạng . So với<br>Khảm ở giữa hình so với Đông Nam là Sinh khí, với chính Nam là<br>Phúc đức .<br>Sự khác biệt của vị trí Tốn & Khôn cũng cho thấy sự khác biệt<br>khi tương quan hai cặp cùng hành này với phương vị Tây Nam và<br>Chính Tây (Hỏa trên Lạc thư) . Đó là Cấn: Tây Nam Sinh khí , chính<br>Tây Phúc đức, không hề tương ứng với Chấn: Tây Nam Hoạ hại,<br>chính Tây Tuyệt mạng .<br>Bạn đọc cũng thấy rằng hai cặp cùng hành Càn & Khảm và<br>Cấn & Chấn trong Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư là hai cặp<br>tương ứng với Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Vì ở hai đồ hình này<br>giống nhau ở hai cặp này về mọi phương diện .<br>Nhưng đến hai cặp cùng hành Tốn & Ly và Khôn & Đoài trong<br>cổ thư chữ Hán thì qui luật “tính chất hoán vị tương ứng tốt xấu đổi<br>chỗ cho nhau với phương vị cùng hành” hoàn toàn không thực hiện<br>được . Đây cũng là chỗ sai lệch phương vị Tốn & Khôn trong Hậu<br>thiên Văn Vương đã trình bày ở trên .<br>131<br>3. Tốn & Ly<br>Nằm ở hành Kim (?) độ số 4 - 9 của Lạc thư.<br>Xét hai cặp cùng hành Tốn & Ly được đặt ở giữa và xét tương<br>quan với các phương vị của Bát quái qua hình trên chúng ta thấy:<br>* Tương quan Tốn ở giữa hình với phương vị cùng hành Thủy<br>trên Lạc thư là: Tây Bắc Họa hại và chính Bắc Sinh khí. So sánh<br>tương quan với Ly ở giữa hình với phương vị Tây Bắc Tuyệt mạng và<br>chính Bắc Phúc đức. So sánh này cho thấy chúng không tuân theo qui<br>luật “Tính chất hoán vị tương ứng tốt xấu đổi chỗ cho nhau với phương<br>vị cùng hành”.<br>* Tương quan Tốn ở giữa hình với phương vị cùng hành Mộc<br>trên Lạc thư là: Đông Bắc Tuyệt mạng và chính Đông Phúc đức. So<br>sánh tương quan với Ly ở giữa hình với phương vị Đông Bắc Họa hại<br>và chính Đông Sinh khí . So sánh này cho thấy chúng không tuân theo<br>qui luật “Tính chất hoán vị tương ứng tốt xấu đổi chỗ cho nhau với<br>phương vị cùng hành”.<br>* Tương quan Tốn ở giữa hình với phương vị cùng hành Kim<br>trên Lạc thư là: Đông Nam Phục vị và chính Nam Thiên y . So sánh<br>tương quan với Ly ở giữa hình với phương vị Đông Nam Thiên y và<br>chính Nam Phục vị . Ở tương quan này tuy có tính hoán vị tính chất<br>như các cặp cùng hành là Thiên y - Phục vị, nhưng lại không phải là<br>tương quan tốt xấu hoán vị, mà là hai tính chất tốt tương quan hoán vị.<br>* Tương quan Tốn ở giữa hình với phương vị cùng hành Hỏa<br>132<br>trên Lạc thư là: Tây Nam Ngũ quỉ và chính Tây Lục sát. So sánh<br>tương quan với Ly ở giữa hình với phương vị Tây Nam Lục sát và<br>chính Tây Ngũ quỉ . Ở tương quan này tuy có tính hoán vị tính chất<br>như các cặp cùng hành là Ngũ quỉ - Lục sát, nhưng lại không phải là<br>tương quan tốt xấu hoán vị , mà là hai tính chất xấu tương quan hoán<br>vị .<br>Như vậy, với cặp cùng hành Tốn & Ly tương ứng với các phương<br>vị cùng hành , chúng hoàn toàn không tuân theo qui luật “Tính chất<br>hoán vị tương ứng tốt và xấu đổi chỗ cho nhau với phương vị cùng<br>hành”.<br>Bạn đọc lưu ý:<br>Cặp cùng hành Tốn & Ly trên Lạc thư có vị trí quái Tốn Đông<br>Nam đã chứng minh là vị trí sai .<br>4. Khôn & Đoài<br>Nằm ở hành Hỏa độ số 2 - 7 của Lạc thư<br>Xét hai cặp cùng hành Khôn & Đoài được đặt ở giữa và xét<br>tương quan với các phương vị của Bát quái qua hình trên chúng ta<br>thấy:<br>* Tương quan Khôn ở giữa hình với phương vị cùng hành Thủy<br>trên Lạc thư là: Tây Bắc Phúc đức và chính Bắc Tuyệt Mạng. So<br>sánh tương quan với Đoài ở giữa hình với phương vị Tây Bắc Sinh khí<br>và chính Bắc Họa hại. So sánh này cho thấy chúng tuy có hoán vị tốt<br>133<br>xấu, nhưng lại không phải hoán vị tương ứng và không tuân theo qui<br>luật “Tính chất hoán vị tương ứng tốt xấu đổi chỗ cho nhau với phương<br>vị cùng hành”.<br>* Tương quan Khôn ở giữa hình với phương vị cùng hành Mộc<br>trên Lạc thư là: Đông Bắc Sinh khí và chính Đông Họa hại . So sánh<br>tương quan với Đoài ở giữa hình với phương vị Đông Bắc Phúc đức và<br>chính Đông Tuyệt mạng . So sánh này cho thấy chúng tuy có hoán vị<br>tốt xấu, nhưng lại không phải hoán vị tương ứng và không tuân theo<br>qui luật “Tính chất hoán vị tương ứng tốt xấu đổi chỗ cho nhau với<br>phương vị cùng hành”.<br>* Tương quan Khôn ở giữa hình với phương vị cùng hành Kim<br>trên Lạc thư là: Đông Nam Ngũ quỉ và chính Nam Lục sát . So sánh<br>tương quan với Đoài ở giữa hình với phương vị Đông Nam Lục sát và<br>chính Nam Ngũ quỉ . Ở tương quan này tuy có tính hoán vị tính chất<br>như các cặp cùng hành , nhưng lại không phải là tương quan tốt xấu<br>hoán vị , mà là hai tính chất xấu tương quan hoán vị.<br>* Tương quan Khôn ở giữa hình với phương vị cùng hành Hỏa<br>trên Lạc thư là: Tây Nam Phục vị và chính Tây Thiên y. So sánh<br>tương quan với Đoài ở giữa hình với phương vị Tây Nam Thiên y và<br>chính Tây Phục vị . Ở tương quan này tuy có tính hoán vị tính chất<br>như các cặp cùng hành , nhưng lại không phải là tương quan tốt xấu<br>hoán vị , mà là hai tính chất tốt tương quan hoán vị.<br>Như vậy, với cặp cùng hành Tốn & Ly tương ứng với các phương<br>vị cùng hành , chúng hoàn toàn không tuân theo qui luật “Tính chất<br>hoán vị tương ứng tốt và xấu đổi chỗ cho nhau với phương vị cùng<br>hành”.<br>Bạn đọc lưu ý:<br>Cặp cùng hành Khôn & Đoài trên Lạc thư có vị trí quái Khôn<br>Tây Nam đã chứng minh là vị trí sai .<br>Không những vậy, chính do sai lệch ở hai vị trí Tốn & Khôn nên<br>ngay trong tương quan trong một cung phi bất kỳ, chúng cũng không<br>thể hiện được qui luật “Tính chất hoán vị tương ứng tốt và xấu đổi chỗ<br>cho nhau với phương vị cùng hành”.<br>Điều này được chứng minh như sau:<br>134<br>Xét phi cung Đoài:<br>Ở hai hành Thủy và Mộc chúng có hai cặp tốt & xấu đối nghịch<br>từng hành.<br>Thí dụ:<br>1. Cặp cùng hành Thuỷ:<br>Càn / Sinh Khí - Tốt <=> Xấu - Họa hại / Khảm.<br>2. Cặp cùng hành Mộc:<br>Cấn / Phúc Đức - Tốt <=> Xấu - Tuyệt Mạng / Chấn.<br>Nhưng đến hai cặp tiếp theo là:<br>3. Cặp cùng hành Kim:<br>Tốn / Lục sát - Xấu <=> Xấu - Ngũ quỷ / Ly.<br>4. Cặp cùng hành Hỏa:<br>Khôn / Thiên y - Tốt <=> Tốt - Phúc Đức / Đoài.<br>Như vậy, qua những dẫn chứng ở trên, bạn đọc cũng thấy rằng:<br>Mối tương quan giữa quái vị nhập giữa với bát quái ở các phương vị<br>theo cổ thư chữ Hán hoàn toàn không tuân theo tính qui luật nào.<br>Tính quy luật và hợp lý là hai yếu tố cần cho một lý thuyết được coi là<br>khoa học.<br>Hậu thiên bát quái phối Lạc thư từ cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ<br>tính phi khoa học trong nguyên lý căn bản của nó và ngay trong sự<br>ứng dụng là phong thuỷ. Mặc dù sự sai lệch này là có giới hạn.<br>135<br>Tính qui luật của Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt<br>Trong sự ứng dụng nguyên lý căn bản Hà đồ phối Hậu thiên<br>Lạc Việt thì sự qui ước phân loại Đông Tây tứ cung không thay đổi .<br>Tức là:<br>* Tây tứ cung vẫn gồm:<br>Càn / Tây Bắc – Đoài/ Chính Tây – Khôn / Tây Nam - Cấn /<br>Đông Bắc.<br>* Đông tứ cung vẫn gồm:<br>Khảm / Chính Bắc – Chấn / Chính Đông – Tốn / Đông Nam –<br>Ly / Chính Nam.<br>Trước khi chứng tỏ tính qui luật của nguyên lý căn bản “Hà đồ<br>phối Hậu thiên Lạc Việt” ứng dụng trong phương vị phong Thủy, xin<br>bạn đọc quan tâm quán xét đồ hình dưới đây .<br>TỨ TRẠCH HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ<br>Trên đồ hình này, Đông - Tây tứ cung cũng phân đều trên 4<br>hành của Hà đồ. Bây giờ, chúng ta cũng quán xét theo đúng phương<br>pháp phân từng cặp cùng hành như trên và sắp theo qui luật hàng cột<br>dọc bên trái là Tây Tứ cung, bên phải là Đông Tứ cung . Chúng ta sẽ<br>có 4 cặp sau:<br>136<br>137<br>138<br>Quán xét 4 cặp cùng hành trên cơ sở ứng dụng qui luật “Tính<br>chất hoán vị tương ứng tốt và xấu đổi chỗ cho nhau với phương vị<br>cùng hành”, chúng ta cũng thấy rằng:<br>Chúng hoàn toàn tuân theo một qui luật nhất quán, có tính đối<br>xứng hợp lý rất hoàn hảo. Đồng thời chúng có tính cân đối khi sắp<br>theo qui luật cân bằng Đông Tây trạch theo hàng dọc , khi mà theo<br>Hậu thiên Văn Vương không thể thực hiện được điều này, bởi sự sai<br>lệch ở vị trí Tốn Khôn<br>Điều quan trọng ở đây là:<br>Tính quy luật và nhất quán của những cặp cùng hành này, lại là<br>hệ quả của một nguyên lý căn bản hợp lý với chính nó là Hậu thiên<br>Lạc Việt phối Hà đồ (Đã chứng giải ở trên).<br>Như vậy, tính qui luật, nhất quán và hoàn chỉnh của nguyên lý<br>căn bản trong thuyết Âm Dương Ngũ hành là “Hậu thiên Lạc Việt<br>phối Hà đồ” đã chứng giải tính hợp lý và nhất quán của luận đề này<br>trong thuật phong thủy.<br>Nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ ứng dụng<br>trong phong Thủy - cũng như tất cả các môn khác trong Lý học Đông<br>phương - còn nhiều vấn đề cần hiệu chỉnh để chứng tỏ tính hợp lý của<br>nó trong các phương pháp ứng dụng khác.<br>Nhưng vì giới hạn của đề tài, nên người viết chỉ xin chứng minh<br>ở những tri thức phổ biến trong phong Thủy và các môn khác. Sự ứng<br>dụng chuyên sâu của nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà<br>đồ với từng phương pháp ứng dụng trong từng môn ứng dụng sẽ được<br>viết trong từng chuyên đề dành cho môn đó .<br>139<br>NGUYÊN LÝ QUÁI CẤN NHẬP TRUNG CUNG VÀ HÀ ĐỒ<br>Thực tại vũ trụ của phong Thủy Lạc Việt<br>Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:<br>Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt chính là cơ sở hợp lý một cách<br>có qui luật, nhất quán, hoàn chỉnh trong việc giải thích các vấn đề<br>liên quan đến nó. Sự liên hệ giữa quái Cấn ở trung cung ứng dụng<br>trong thuật phong thủy (Nam / Khôn, Nữ / Cấn), là một bí ẩn lớn nhất<br>trong ứng dụng của phong Thủy sẽ được giải thích trên nguyên lý căn<br>bản đã trình bày (Luận đề này đã trình bày trong cuốn “Tìm về cội<br>nguồn Kinh Dịch”. Nxb Đại học quốc gia T/p Hồ Chí minh xuất bản<br>lần thứ nhất 4/2001; Nxb VHTT xuất bản lần 2 năm 2002).<br>Bạn đọc có tìm hiểu về phong Thủy đều biết rằng: Một nguyên<br>tắc trong sự ứng dụng của thuật phong Thủy là phi cung cho tuổi nam<br>– Khôn, nữ - Cấn tại trung cung. Đây là một hiện tượng khác hẳn tất<br>cả mọi hiện tượng khác liên quan trong sự ứng dụng lý thuyết Âm<br>Dương Ngũ hành và Kinh Dịch. Trong Kinh Dịch hoặc tất cả những<br>hiện tượng liên quan đến Kinh Dịch, chúng ta đều biết: CÀN tượng<br>cho Nam mạng và KHÔN cho nữ mạng. Và ngay khi tính toán những<br>thông số liên quan đến quan hệ gia đình trong phong Thủy và Kinh<br>Dịch thì người ta vẫn coi Càn là cha, Khôn là mẹ, Khảm trưởng nam,<br>Đoài thiếu nữ… Vậy tại sao ở thuật phong Thủy - khi lấy con người<br>làm trung tâm của sự tương tác với thiên nhiên - thì trên cơ sở nào để<br>lấy KHÔN cho nam mạng và CẤN cho nữ ?<br>Hơn thế nữa, hiện tượng này lại là một trong những nguyên tắc<br>căn bản của thuật Phong Thủy ? Cổ thư chữ Hán không hề có một chữ<br>lý giải và chứng minh nguyên tắc Nam - Khôn, Nữ - Cấn này. Hàng<br>ngàn năm trôi qua cho đến tận bây giờ, mặc nhiên nguyên tắc này<br>được coi như là một tiên đề trong ứng dụng và không thể chứng minh.<br>Nếu chúng ta chỉ giới hạn cái nhìn thuật phong Thủy như nó<br>đang hiện hữu trong sự ứng dụng, thì chúng ta chỉ có thể đặt vấn đề về<br>tính khoa học của nó một cách dè dặt trên cơ sở tính hiệu quả thực tế<br>của nó. Cùng chung số phận với các phương pháp ứng dụng của học<br>thuật cổ Đông phương, bản chất của môn phong Thủy sẽ mãi mãi là<br>điều bí ẩn. Nhưng bắt đầu từ một quan niệm nhất quán cho rằng:<br>140<br>Phong Thủy cũng như tất cả các môn ứng dụng của học thuật<br>Đông phương cổ, đều là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - một<br>lý thuyết phản ánh qui luật tương tác và vận động của vũ trụ một cách<br>thống nhất, hoàn chỉnh, nhất quán có khả năng giải thích từ sự hình<br>thành vũ trụ đến tất cả mọi vấn đề liên quan tới con người.<br>- thì mọi vấn đề bắt đầu sáng tỏ .<br>Và chiếc chìa khóa để mở kho tàng bí ẩn của Lý học Đông<br>phương chính là Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Từ nguyên lý căn<br>bản này để quán xét hiện tương Nam - Khôn, Nữ - Cấn, chúng ta sẽ<br>có một sự lý giải hợp lý, chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của<br>luận đề đặt ra. Đồng thời nguyên lý căn bản này cũng chỉ thẳng đến<br>một thực tại vũ trụ huyền vĩ là cơ sở cho tất cả các phương pháp ứng<br>dụng của học thuật Đông phương cổ.<br>Người viết xin được bắt đầu trên cơ sở những nguyên lý sau:<br>Trong nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì vật là âm, lý<br>(của vật) là dương.<br>Như vậy, từ nguyên lý này sẽ dẫn đến những luận đề được đặt<br>ra sau đây:<br>* Quái Cấn tượng cho nữ mạng – tức là thuộc Âm – vậy nó<br>phải tượng cho một vật thể nào đó ? Khôn tượng cho nam mạng – tức<br>là thuộc Dương - thì nó phải là cái lý của vật thể đó.<br>* Thuật phong Thủy trên thực tế là sự ứng dụng hiệu ứng từ<br>trường của Trái Đất lên con người là yếu tố căn bản (bằng chứng là<br>dùng la bàn để phân cung). Từ thực tại này suy ra một giả thuyết cho<br>rằng: Chính Trái Đất là vật thể thuộc Âm tượng cho nữ mạng ? Điều<br>này xin được lý giải và minh chứng trên cơ sở phương pháp luận của<br>thuyết Âm Dương Ngũ hành như sau:<br>- Trên cơ sở Hậu thiên bát quái Lạc Viêt phối Hà đồ thì quái<br>Cấn nằm ở Âm Mộc, vậy Âm Mộc phải có sự liên hệ với Trái Đất<br>trong mối tương quan của Thái Dương hệ. Xin bạn đọc xem lại hình<br>sau đây:<br>141<br>Qua hình trên bạn đọc cũng nhận thấy quái Cấn, nằm ở độ số 8<br>thuộc Âm Mộc trên Hà đồ .<br>Bây giờ xin bạn đọc quán xét lại thuận tự của Thái Dương hệ<br>tính từ trong ra ngoài:<br>Trước khi tường rõ về vấn đề này, người viết xin lưu ý quí vị về<br>tên gọi của hai hành tinh trong Thái Dương hệ là sao Kim và sao<br>Thuỷ:<br>* Sao Thủy được gọi tên theo thiên văn hiện đại, theo sách cổ<br>thiên văn Đông phương gọi là sao KIM.<br>* Sao Kim gọi tên theo thiên văn hiện đại, theo sách cổ thiên<br>văn Đông phương gọi là sao THỦY (Theo Ban Cố, Tiền Hán thư).<br>Thuận tự của Thái Dương hệ dưới đây – với tên hai sao này gọi theo<br>sách cổ - thì thuận tự này sẽ là:<br>142<br>@ Mặt Trời => Sao KIM =>Sao THỦY => TRÁI ĐẤT =><br>Sao HỎA.<br>(Hành tinh nhóm I / Theo cách phân nhóm của thiên văn học<br>hiện đại)<br>@ Vành đai thiên thạch với hàng trăm triệu tảng thiên thạch lớn<br>nhỏ cũng đang quay quanh Mặt Trời (Tảng lớn nhất có chiều dài<br>hàng trăm km).<br>@ Sao MỘC => Sao THỔ =>Thiên Vương tinh =>Hải Vương<br>tinh =>Diêm Vương tinh.<br>(Hành tinh nhóm II theo cách phân nhóm của thiên văn học<br>hiện đại)<br>Nếu bây giờ chúng ta lấy Mặt Trời làm hành Thổ (Theo nguyên<br>lý trung cung thuộc Thổ) thì ta sẽ thấy một chiều Ngũ hành tương sinh<br>từ trong ra ngoài – so sánh với tên gọi Mặt Trời và các hành tinh –<br>như sau :<br>Ngũ hành:Thổ (Mặt Trời) => sinh Kim (Sao Kim/ Theo sách<br>cổ) => sinh Thủy (Sao Thủy / Theo sách cổ) => sinh Mộc (Tương ứng<br>143<br>với Trái Đất) =>Sinh Hỏa (Sao Hỏa).<br>Ở hành tinh nhóm II thì cổ thư chỉ thấy ghi hai sao, nhưng đủ để<br>chúng ta thấy được lý tương khắc là: Sao Mộc (Mộc) khắc Thổ (Sao<br>Thổ)<br>Như vậy, bạn đọc cũng thấy rằng Trái Đất tương ứng với hành<br>Mộc. Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì khi lý tương sinh thuộc<br>Dương, vật thể hiện lý sẽ thuộc Âm (trong Âm có Dương). Do đó,<br>Mặt Trời và các hành tinh bên trong vành đai thiên thạch thuộc Âm<br>và Trái Đất của chúng ta chính là Âm Mộc:<br>Đó chính là vị trí của quái Cấn trên Hà đồ.<br>Vật thuộc Âm, nên quái Cấn tượng cho Nữ mạng; quái Khôn là<br>tượng của “đất” thuộc tiên thiên là lý của Vật (Trái Đất) thuộc Dương,<br>nên tượng cho nam mạng. Đó là lý do vì sao Khôn / Cấn tại trung<br>cung. Xin quí vị xem hình minh họa dưới đây:<br>144<br>Như vậy, từ sự chứng giải Hà đồ chính là sự biểu lý cô đọng và<br>hoàn hảo cho chu kỳ vận động của Ngũ Tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa,<br>Thổ) chứng giải ở phần trên, thì hiện tượng quái Cấn ở trung cung<br>trong thuật phong thủy cũng được chứng giải tính liên hệ chặt chẽ và<br>nhất quán của một luận thuyết cho rằng:<br>Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết phản ánh nhận<br>thức thực tại từ vũ trụ, Bát quái trong Kinh Dịch chỉ là những ký<br>hiệu siêu công thức theo thuật toán nhị phân của học thuyết này.<br>145<br>Hay nói một cách khác, hiện tượng quái Cấn ở trung cung chính<br>là sự thể hiện tiếp tục mối tương quan giữa Trái Đất và sự vận động<br>của hệ Mặt Trời, trong tương quan các hiệu ứng tương tác của vũ trụ.<br>Tất cả những tri kiến này không hề được thể hiện trong cổ thư chữ<br>Hán, kể từ khi nền văn minh kỳ vĩ của nhà nước Văn Lang sụp đổ từ<br>hơn 2000 năm trước.<br>Bạn đọc cũng lưu ý rằng: Chỉ có đồ hình Hà đồ cửu cung thì<br>Trung cung mới có hai độ số là 5/ 10 để ứng với sự tại vị của hai quái<br>Khôn - Cấn tại trung cung trong thuật phong thuỷ. Còn đồ hình Lạc<br>thư trung cung chỉ có một số 5, nên không thể ứng với sự tại vị hai<br>quái Khôn - Cấn nhập trung cung.<br>Nếu vấn đề chỉ dừng tại đây thì bạn đọc có thể cho rằng đây chỉ<br>là một sự giải thích hợp lý. Bởi vậy, người viết tiếp tục chứng tỏ với<br>bạn đọc về tính khoa học của luận đề này sau đây .<br>Một trong những tiêu chí cho một lý thuyết khoa học là:<br>“Một giả thiết khoa học thì phải có khả năng tiên tri”<br>Tuân theo tiêu chí này và cũng chứng tỏ tính khoa học của luận<br>đề này, căn cứ vào sự chứng giải ở trên, người viết xin được trình bày<br>một hệ luận tiếp theo – mang tính tiên tri – theo phương pháp luận<br>của thuyết Âm Dương Ngũ hành .<br>Sự tiên tri căn cứ vào các hiện tượng và nhận thức sau:<br>*Những hành tinh nhóm hai (bên ngoài vành đai thiên thạch) có<br>chiều Ngũ hành tương khắc. Giả thuyết này dựa trên cơ sở Ngũ hành<br>tương khắc do hai sao đầu tiên của nhóm này, tính từ trong ra ngoài<br>là, Sao Mộc (Thái Tuế) khắc Thổ (Sao Thổ). Từ đó, sắp chiều Ngũ<br>hành tương khắc cho các sao còn lại thì sự kết thúc chu kỳ tương khắc<br>đúng ở sao Diêm Vương.<br>* Sao Diêm Vương có cấu trúc hình thể và vật chất gần giống<br>với các hành tinh thuộc nhóm 1 (Những hành tinh bên trong vành đai<br>thiên thạch). Điều này lại cho thấy sự phù hợp với một nguyên lý của<br>thuyết Âm Dương Ngũ hành là cực Âm sinh Dương / Cực Dương sinh<br>Âm.<br>146<br>Từ hiện tượng này dẫn đến kết luận của người viết mang tính<br>tiên tri, cho rằng:<br>Không có hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời.<br>Vì – theo thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã có sự cân bằng Âm<br>dương và Ngũ hành trong cấu trúc của Thái Dương hệ được giải thích<br>bằng phương pháp luận của học thuyết này.<br>Xin bạn đọc lưu ý rằng:<br>Lời tiên tri này đã được thực hiện từ tháng ba năm Canh Thìn<br>(2000) là lúc hoàn tất bản thảo cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” .<br>Về mặt pháp lý, lời tiên tri này được công bố chính thức khi cuốn<br>“Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” được xuất bản lần thứ 1 do Nxb Đại<br>học Quốc gia T/p HCM . Cho đến lúc này, những tri thức thiên văn<br>học hiện đại nhất đã chứng tỏ tính chính xác của nó. Hội nghị các nhà<br>thiên văn học thế giới đã quyết định xoá bỏ khái niệm hành tinh thứ<br>9 của hệ Mặt Trời. Tức không công nhận sao Diêm Vương tức là gián<br>tiếp không thừa nhận có hành tinh thứ 10. Vấn đề còn đang tranh cãi<br>gay gắt . Sở dĩ các nhà khoa học phủ nhận tính qui ước của sao Diêm<br>Vương là hành tinh thứ 9 thuộc hệ Mặt Trời , chính vì nó có cấu trúc<br>giống hành tinh nhóm I, nhưng lại thuộc nhóm II . Thuyết Âm Dương<br>Ngũ hành và phép biện chứng giải thích là qui luật lặp lại của một<br>chu kỳ .<br>Điều này đã chứng minh sắc sảo sai lầm của ông Lưu Tử Hoa<br>khi chứng minh trên cơ sở Bát quái rằng: Có hành tinh thứ 10 trong hệ<br>Mặt Trời. Ông Lưu Tử Hoa chứng minh điều này tại Viện Hàn lâm<br>khoa học Pháp vào năm 30 của thế kỷ trước. Đây là luận văn nổi<br>tiếng của ông này . Thật không may cho ông Lưu Tử Hoa, cho đến tận<br>bây giờ - khoa học hiện đại đã phát triển vượt bậc – cũng chưa tìm<br>thấy hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời! Thậm chí hành tinh thứ 9<br>cũng đang bị xóa sổ về mặt qui ước .<br>Từ những luận đề chứng minh ở các phần trên về tính tương<br>quan giữa Trái Đất và những hiệu ứng vũ trụ vận động có qui luật liên<br>quan đến nó – chính là những thực tại tạo nên Hà đồ – thì tính hợp lý<br>và nhất quán tiếp theo là nó phải giải thích hợp lý mọi hiện tượng liên<br>quan đến nó .<br>147<br>Phần tiếp theo đây tiếp tục minh chứng trong phương pháp ứng<br>dụng của thuật huyền không trong phong Thủy .<br>HÀ ĐỒ VÀ HUYỀN KHÔNG PHI TINH TRONG PHONG THỦY<br>Trong những yếu tố căn bản qui ước của phương pháp này, cổ<br>thư chữ Hán ghi nhận sự vận động thay đổi có tính thời gian từng<br>năm, tháng , ngày , giờ và cả những vận , hội… theo qui ước về thời<br>gian của cổ học Đông phương , cho 9 yếu tố gọi là cửu tinh.<br>Cửu tinh này lần lượt trong cổ thư chữ Hán , có tên gọi như sau:<br>1. Nhất Bạch toạ tại Khảm cung số 1, chính Bắc trên Lạc thư .<br>2. Nhị Hắc toạ tại Khôn cung số 2, Tây Nam trên Lạc thư.<br>3. Tam Bích toạ tại Chấn cung số 3, chính Đông trên Lạc thư.<br>4. Tứ Lục toạ tại Tốn cung số 4, Đông Nam trên Lạc thư<br>5. Ngũ Hoàng toạ tại Trung cung số 5 trên Lạc thư<br>6. Lục Bạch toạ tại Càn , cung số 6, Tây Bắc trên Lạc thư .<br>7. Thất Xích toạ tại Đoài , cung số 7, chính Tây trên Lạc thư .<br>8. Bát Bạch toạ tại Cấn, cung số 8 , Đông Bắc trên Lạc thư .<br>9. Cửu Tử toạ tại Ly, cung số 9, chính Nam trên Lạc thư .<br>Ở phần trên, người viết đã hân hạnh minh chứng với bạn đọc về<br>tính phi lý của nguyên lý Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư . Trên<br>cơ sở đồ hình phi tinh huyền không này, một lần nữa, bạn đọc lại thấy<br>tính bất hợp lý và mâu thuẫn của nó. Đó chính là nội dung và vị trí<br>của sao Thất Xích và Cửu Tử . Vị trí của Thất Xích (Đỏ, số 7 ) không<br>thể toạ ở Đoài Kim (Trắng, số 9) và thuộc Tây phương . Tương tự như<br>vậy với Cửu Tử ở phương Nam , Hỏa số 7 với quái Ly Hỏa . Sự mâu<br>thuẫn phi lý này, bổ sung thêm vào những vấn đề đã minh chứng ở<br>trên.<br>Bởi vậy, phương pháp huyền không phi tinh chỉ có thể thực hiện<br>trên Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt thì sẽ thể hiện tính hợp lý với mọi<br>hiện tượng và các vấn đề liên quan .<br>Bạn đọc quán xét đồ hình so sánh giữa cấu trúc huyền không<br>phi tinh trên nguyên lý căn bản từ văn minh Lạc Việt là “Hà đồ phối<br>148<br>Hậu thiên Lạc Việt” với nguyên lý này từ “Lạc thư phối Hậu thiên<br>Văn Vương” qua những đồ hình dưới đây:<br>Bạn đọc quan tâm lưu ý: Tuy có sự khác biệt ở hai hành Kim<br>Hỏa giữa Lạc thư và Hà đồ, nhưng phương pháp phi tinh không hề<br>thay đổi giữa cổ thư chữ Hán và trên Hà đồ. Tức là vẫn ra 1, vào 2,<br>lên 3, xuống 4… Nhưng do độ số và phương vị khác nhau, nên có sự<br>khác biệt ở hai phần Kim và Hỏa trên hai đồ hình này. Điều này được<br>minh hoạ cụ thể dưới đây.<br>149<br>150<br>151<br>152<br>153<br>Như vậy – qua sự so sánh giữa hai phương pháp phi tinh ở trên –<br>thì sai lệch chỉ rơi vào phần Kim - Hỏa giữa Hà đồ và Lạc thư. Đặc<br>biệt các vận 3, 5, 7, 9 sự sai lệch có tính khác biệt dẫn đến ứng dụng<br>và luận đoán sai biệt ở các phương chính Tây và chính Nam. Còn<br>trong các vận khác và ở các phương khác thì sự sai lệch khó nhận<br>biết, do tính chất tương đương của các sao. Như vậy, sự sai lệch này<br>rất hạn chế, nhưng rất quan trọng ở hai phương này.<br>Nếu chúng ta chỉ giới hạn vấn đề ở sự ứng dụng phi tinh trên Hà<br>đồ hay Lạc thư, thì cùng lắm sẽ chỉ giới hạn ở tính chứng nghiệm hiệu<br>quả trên thực tế. Nhưng ở đây, người viết xin được lưu ý quí vị quan<br>tâm là: phi tinh trên Hà đồ là hệ quả tất yếu từ một nguyên lý căn bản<br>có sự nhất quán, hoàn chỉnh và hợp lý trong việc giải thích mọi vấn<br>đề liên quan. Còn phi tinh trên Lạc thư chỉ là hệ quả của một nguyên<br>lý (Hậu thiên Văn Vương liên hệ Lạc thư) không thể chứng minh<br>được tính hợp lý với chính nó và sự giải thích một cách hợp lý các vấn<br>đề liên quan.<br>HÀ ĐỒ VÀ CUNG PHI TRONG BÁT TRẠCH<br>Ở phần trên, người viết đã hân hạnh minh chứng với bạn đọc về<br>sự liên hệ giữa phương pháp huyền không phi tinh trong phong Thủy<br>và bảng cung phi trong bát trạch . Trong phương pháp bát trạch, người<br>ta lập thành bảng cung phi sẵn cho gia chủ sinh năm nào thì ứng với<br>quái nào trong bát quái .<br>Nhưng thực chất bảng này là hệ quả của phương pháp phi tinh<br>trong huyền không với nam phi nghịch, nữ phi thuận .<br>Từ cơ sở Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ thuộc về nền văn hiến<br>Lạc Việt, chúng ta sẽ có một bảng cung phi như ở trang sau. Bạn đọc<br>có thể sử dụng bảng phi tinh trên Hà đồ ở trang bên thay thế cho bản<br>lưu truyền trong bát trạch trong sách cổ phi tinh trên Lạc thư.<br>154<br>Năm Nam Nữ Chú Thích<br>1954 Giáp Ngọ Khảm 1 Cấn 5<br>1955 Ất Mùi Đoài 9 Càn 6 (Sách Hán: Nam / Ly 9)<br>1956 Bính Thân Cấn 8 Ly 7 (Sách Hán: Nữ / Đoài 7)<br>1957 Đinh Dậu Ly 7 Cấn 8 (Sách Hán: Nam / Đoài 9)<br>1958 Mậu Tuất Càn 6 Đoài 9 (Sách Hán: Nữ / Ly 7)<br>1959 Kỷ Hợi Khôn 5 Khảm 1<br>1960 Canh Tí Tốn 4 Khôn 2<br>1961 Tân Sửu Chấn 3 Chấn 3<br>1962 Nhâm Dần Khôn 2 Tốn 4<br>1963 Quý Mão Khảm 1 Cấn 5<br>1964 Giáp Thìn Đoài 9 Càn 6 (Sách Hán: Nam / Ly 9)<br>1965 Ất Tỵ Cấn 8 Ly 7 (Sách Hán: Nữ / Đoài 7)<br>1966 Bính Ngọ Ly 7 Cấn 8 (Sách Hán: Nam / Đoài 9)<br>1967 Đinh Mùi Càn 6 Đoài 9 (Sách Hán: Nữ / Ly 7)<br>1968 Mậu Thân Khôn 5 Khảm 1<br>1969 Kỷ Dậu Tốn 4 Khôn 2<br>1970 Canh Tuất Chấn 3 Chấn 3<br>1971 Tân Hợi Khôn 2 Tốn 4<br>1972 Nhâm Tí Khảm 1 Cấn 5<br>1973 Quý Sửu Đoài 9 Càn 6 (Sách Hán: Nam / Ly 9)<br>1974 Giáp Dần Cấn 8 Ly 7 (Sách Hán: Nữ / Đoài 7)<br>1975 Ất Mão Ly 7 Cấn 8 (Sách Hán: Nam / Đoài 9)<br>1976 Bính Thìn Càn 6 Đoài 9 (Sách Hán: Nữ / Ly 7)<br>1977 Đinh Tỵ Khôn 5 Khảm 1<br>1978 Mậu Ngọ Tốn 4 Khôn 2<br>1979 Kỷ Mùi Chấn 3 Chấn 3<br>1980 Canh Thân Khôn 2 Tốn 4<br>1981 Tân Dậu Khảm 1 Cấn 5<br>1982 Nhâm Tuất Đoài 9 Càn 6 (Sách Hán: Nam / Ly 9)<br>1983 Quý Hợi Cấn 8 Ly 7 (Sách Hán: Nữ / Đoài 7)<br>Can Chi<br>CUNG PHI TRUNG NGUYÊN<br>(Tính từ 1924 đến 1983)<br>Chu kỳ lặp lại từ 1984—Giáp Tý: Nam / Ly, Nữ Cấn<br>155<br>Trên đây là bảng cung phi trên cửu cung Hà đồ. Bạn đọc cũng<br>nhận thấy rằng: Nếu đối chiếu với bảng phi cung trong sách Bát trạch<br>minh cảnh thì phần sai lệch giữa hai bảng chỉ ở hai cung Đoài Ly.<br>Sự ứng dụng trong phong thủy từ nguyên lý căn bản “Hà đồ<br>phối Hậu thiên Lạc Việt” sẽ không chỉ dừng lại ở hoán vị tính chất<br>hai cung Tốn Khôn ở Đông Nam và Tây Nam trên Cửu cung và ở ứng<br>dụng phi tinh trên Hà đồ, mà còn được ứng dụng để hiệu chỉnh một số<br>hiện tượng khác liên quan trong thuật phong thủy. Nhưng người viết<br>xin đựơc dừng lại ở đây. Vì luận đề này không nhằm mục đích trình<br>bày toàn bộ những vấn đề liên quan đến phong thủy, mà chỉ chứng tỏ<br>tính hợp lý từ một nguyên lý căn bản được hiệu chỉnh đến một số vấn<br>đề chủ yếu liên quan đến nó. Sự hiệu chỉnh này không mang tính phủ<br>định những phương pháp ứng dụng vốn là hệ quả của thuyết Âm Dương<br>Ngũ hành – đã chứng tỏ tính hiệu quả trên thực tế từ hàng ngàn năm<br>nay – mà chỉ là sự hiệu chỉnh trên cơ sở phục hồi những nguyên lý đã<br>thất truyền và chứng tỏ một thực tại là cơ sở của nó .<br>Nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ không chỉ<br>dừng lại ở sự giải thích một cách hợp lý tính qui luật trong các phương<br>pháp ứng dụng của phong Thủy, mà còn chứng tỏ tính hợp lý trong<br>các vấn đề liên quan khác thuộc về học thuật Đông phương cổ. Đồng<br>thời chứng tỏ một thực tại vũ trụ là cơ sở nhận thức của nó .<br>Sự chứng minh tiếp theo đây chứng tỏ điều này trên Tử Vi Đẩu<br>số , sẽ tiếp tục chứng tỏ một qui luật chủ yếu và bao trùm “Pháp đại<br>uy nỗ” từ văn minh Lạc Việt .

Bài chưa hoàn chỉnh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Anh chị em tham khảo Địa Lý Lạc Việt thân mến.

Diễn đàn không chịu trách nhiệm về những kiến thức phong thủy ngoài Địa Lý Lạc Việt. Nếu quí vị nào tham khảo những bài viết không phải của thành viên nghiên cứu phong thủy của diễn đàn, quý vị tự chịu trách nhiệm.

 

Tôi thường giảng với anh chị em rằng: Địa Lý Lạc Việt là sự tổng hợp có hệ thống tất cả các kiến thức phong thủy trong di sản còn lại của ngành học này được mô tả trong cổ thư chữ Hán. Và những di sản này không chỉ lưu truyền qua văn bản , mà còn lưu truyền trong dân gian những mảnh vụn của nó. Do đó, tôi thường nhắc anh chị em phải sưu tầm, tập hợp trong Địa Lý Lạc Việt và hiệu chỉnh theo nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt",
Hôm nay, do lang thang trên youtube, tôi thấy một yếu tố tương tác trong phong thủy cần được thu nhập trong những hiểu biết của Địa Lý Lạc Việt là phương pháp tính "Vong chủng".
Anh chị em nào ở lớp Cao cấp thắc mắc, đưa linh này vào lớp, tôi sẽ giảng kỹ hơn về yếu tố này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO.

Cung Hôn nhân

Diễn đàn không chịu trách nhiệm về những kiến thức phong thủy ngoài Địa Lý Lạc Việt. Nếu quí vị nào tham khảo những bài viết không phải của thành viên nghiên cứu phong thủy của diễn đàn, quý vị tự chịu trách nhiệm.

 

 

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Gương trong phong thủy.
 

Diễn đàn không chịu trách nhiệm về những kiến thức phong thủy ngoài Địa Lý Lạc Việt. Nếu quí vị nào tham khảo những bài viết không phải của thành viên nghiên cứu phong thủy của diễn đàn, quý vị tự chịu trách nhiệm.

 

 

 

Về vấn đề này Đại Lý Lạc Việt là Trùm sò. Nhưng anh chị em cũng nên tham khảo. Tôi chưa xem hết, nhưng quan điểm là tham khảo hết, không chừa một chi tiết nào. Nên vẫn đưa lên đây. Anh chị em lưu ý, trong này có vài yếu tố sai trong việc dùng gương

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

 

 

Diễn đàn không chịu trách nhiệm về những kiến thức phong thủy ngoài Địa Lý Lạc Việt. Nếu quí vị nào tham khảo những bài viết không phải của thành viên nghiên cứu phong thủy của diễn đàn, quý vị tự chịu trách nhiệm.

 

 

Anh chị em thân mến.

Khái niệm Động trạch và tịnh trạch trong clip này không giống như Địa Lý Lạc Việt. Nhưng có những chi tiết đáng chú ý.

Động trạch

 

 

Tịnh trạch

Share this post


Link to post
Share on other sites

Một bài thuốc bỏ thuốc lá, nhưng lại theo....Phong thủy?!

Nhưng tôi sẽ làm chuột bạch để thử bài thuốc này trong thời gian thích hợp. Vì tôi nghiện thuốc lá nặng.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Anh chị em Địa Lý Lạc Việt lưu ý: Những bài nói của vị Phong Thủy gia này có nhiều tư liệu rất đáng lưu ý. Anh chị em nên ghi chép lại và suy ngẫm để hiệu chỉnh thu nạp vào hệ thông tri thức Địa Lý Lạc Việt.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Chú Thiên Sứ ơi, cháu đọc tin trên facebook thấy chú sắp sang New York làm phong thuỷ, cháu mừng vô cùng. Quả là cơ hội hiếm có! Chẳng là cháu vừa mua một căn nhà, đến gần cuối tháng 6 này sẽ chuyển vào ở. Cháu muốn mời chú xuống tiểu bang Maryland làm phong thuỷ cho nhà cháu. Hồi cuối năm 2013, chú có làm phong thuỷ cho căn hộ hiện tại gia đình cháu đang ở sau khi con gái cháu phát hiện bị bệnh ung thư máu. Cháu không biết chú còn nhớ "tiểu sử" của căn hộ này không, nhưng trước khi nhà cháu chuyển vào, 3 đời chủ trước đều rất bất hạnh. Đời chủ đầu tiên có vợ (tầm 40 tuổi) bị ung thư sau khi sống ở căn hộ này khoảng một năm. Biết mình bệnh nặng quá sẽ chết nên bà ấy về nhà mẹ đẻ lúc cuối đời. Đời chủ tiếp theo sống cảnh khốn khó nghèo nàn rồi bị phá sản. Đời sau đó nữa có đứa con trai phát điên, thường xuyên đập đầu vào tường. Lúc chuyển vào nhà này cháu lo lắm. Chồng cháu mua căn hộ đó trước khi quen biết cháu, mà người nước ngoài thì thường không để ý tới tiểu sử ngôi nhà họ ở, cứ thích là mua. Hồi mới dọn vào, vợ chồng cháu cãi nhau suốt ngày, cuộc sống bế tắc và bĩ cực. 

 

Trong lúc tuyệt vọng, cháu nhớ chú đã từng làm phong thuỷ cho bệnh nhân ung thư nên email nhờ chú. Chú đã hết sức nhiệt tình và chu đáo. Lúc đó nhà cháu rơi vào cảnh khó khăn, nay phải vay ngân hàng một số tiền lớn để sửa nhà làm vợ chồng cháu rất lo. Thật sự lúc đó mới biết được ai tin vào phong thuỷ (đặc biệt là Phong thuỷ Lạc Việt - vì vợ chồng và con cháu đều là thuỷ hoả đổi chỗ), ai không tin chú ạ. Cháu rất tin vào khả năng của chú, nhiều ca chú đã chữa được rồi, mà không sửa thì chắc chắn chịu chung số phận với các đời chủ trước nên cháu cứ vay. Cháu đã phá toàn bộ cái bếp và nhà vệ sinh ở tầng 1 để xây lại như chú khuyên, đồng thời làm theo những chỉ dẫn khác của chú. Tuy rằng phía bên ngoài căn hộ cháu không được phép sửa chữa như mong muốn của chú, cháu chỉ được phép chặt bỏ 1 cái cây và phải để lại 1 cây, nhưng cuộc sống của gia đình cháu đã trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều. 

 

Con gái cháu bây giờ chỉ phải vào viện kiểm tra máu 2 lần/năm thay vì hàng ngày như trước. Bé không hề phải uống thuốc, truyền hoá chất hay điều trị dưới bất kì hình thức nào. Chính các bác sĩ cũng ngạc nhiên, vì họ đã chắc chắn là con gái cháu sẽ phải điều trị hoá trị, nên họ đã mổ và đặt sẵn ống trong lồng ngực, để khi cần là truyền được ngay. 6 tháng sau đó họ lấy cái ống đó ra và nói rằng không cần phải điều trị gì hết, họ chỉ cần theo dõi các xét nghiệm máu thôi. Họ nói rằng trường hợp như con gái cháu là cực kì hiếm, hiện tại họ mới chỉ biết có 8 ca nhi như vậy trên thế giới. Ông bác sĩ là phó giám đốc Hội ung thư máu đã họp hội để phân tích về trường hợp con gái cháu. Họ chỉ có thể nói rằng quả là đặc biệt. 

 

Bản thân cháu cũng đã vượt qua được kì thi chứng chỉ chuyên ngành của cháu. Chứng chỉ này rất khó, tỉ lệ trượt cao. Mặc dù cháu đã có bằng thạc sĩ mà ôn thi còn rất chật vật, lại thêm chăm con gái bé, cháu tưởng mọi cánh cửa cơ hội đóng cả rồi. Ấy thế mà cháu qua được hết các môn. Đầu năm nay, cháu đã quay trở lại đi làm toàn thời gian. Chồng cháu đã có nhiều cơ hội kiếm tiền hơn trước. 2 vợ chồng ít khi hục hặc cãi vã nhau.  

 

Cháu rất mong chú có thể tới tận nơi làm phong thuỷ cho nhà cháu lần này. Cháu sẽ mua vé máy bay khứ hồi để chú bay từ New York đến Maryland. Đồng thời, vợ chồng cháu xin gửi chú $4000, gọi là chút lòng thành và sự trân trọng những giá trị nghiên cứu tuyệt vời của chú. Cháu nghĩ rằng hiệu quả mà phong thuỷ Lạc Việt mang lại lớn hơn số tiền này rất nhiều, cháu chẳng thể nào trả hết được.

9 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Trang Phan thân mến.

Rất cảm ơn Trang Phan có lời khen ngợi và hậu hỹ với chú. Chú hứa sẽ sang tận Maryland làm phong thủy cho gia đinh Trang Phan chi tiết đến cả chỗ đóng đinh treo cái rổ. Và bảo đảm cho gia đình Trang Phan hạnh phúc, công danh sự nghiệp đều vững vàng, ổn định. Nhưng phải sau ngày 20/ 6 chú mới đến chỗ Trang Phan được. Tuần đầu chú phải làm vài căn nhà cho một đại gia ở Hoa Kỳ. Xong là chú bay đến Maryland ngay. Như vậy là sau 7 năm chú mới lại đến Maryland.

7 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites