Thiên Sứ

Lý Học & Khoa Học Hiện Đại

243 bài viết trong chủ đề này

Hồi hộp chờ NASA công bố về sự sống ngoài địa cầu

26/09/2016 14:28 GMT+7
 

TTO - Lúc 1g sáng ngày 27-9, Cơ quan Hàng không và không gian (NASA) của Mỹ dự kiến sẽ thông báo những thông tin đáng ngạc nhiên về sự sống ngoài địa cầu của chúng ta.

 

nasa-europe-illust-1474873414.jpg

Hình ảnh minh họa về thiết bị không gian của con người sẽ tiếp cận và nghiên cứu "mặt trăng" Europa trong tương lai - Ảnh: NASA

 

Thực sự là từ năm ngày qua, những người yêu khoa học và yêu thích tìm tòi về sự sống đã hồi hộp khi cơ quan NASA thẩy lên Twitter vài dòng ngắn gọn nhưng cực kỳ quan trọng: vào lúc 14g chiều 26-9, tức 1g sáng 27-9 (giờ VN), cơ quan nghiên cứu không gian uy tín này sẽ thông báo về một phát hiện quan trọng trên một trong những vệ tinh của Sao Mộc (Jupiter) là “Mặt trăng” Europa.

Để tránh các suy đoán, “chém gió”, cơ quan NASA cũng đã nói rõ rằng không có chuyện phát hiện người ngoài hành tinh hay gì cả!

 

nasa-report-1474874135.jpg

Thông báo của NASA trên mạng xã hội về việc sẽ công bố phát hiện trên Europa - Ảnh chụp màn hình

 

Lần gần nhất mà cơ quan NASA có kiểu thông báo khiến người ta trông chờ như lần này là lần thông báo về sự hiện diện của nước trên sao Hỏa.

Lần này, cảnh báo của NASA cũng không thể ngăn người ta đưa ra những giả thuyết khác nhau về những điều sắp được công bố và đương nhiên cũng không thể tránh được giả thuyết về những người ngoài hành tinh mắt tròn to, tai dài như con người vẫn thường tưởng tượng và thể hiện trên phim ảnh hay tranh vẽ.

Các chuyên gia về lĩnh vực thì phỏng đoán nghiêm túc rằng có thể thông báo của NASA sẽ liên quan đến việc phát hiện một đại dương lỏng bên dưới lớp vỏ băng dày 15 - 20 km đang bao phủ bề mặt hành tinh Europa. 

Trước đây, NASA đã phát hiện thấy các dấu vết của nước trên bề mặt của Europa - vốn được xem là "mặt trăng" của sao Mộc. Vì khả năng có chứa nước mà các nhà khoa học tin rằng trên hành tinh này sẽ có sự sống. 

Thực ra vào hồi tháng 5 vừa qua, một số thành viên của NASA cũng đã nóng lòng nên tiết lộ thông tin về sự hiện hữu của một đại dương thể lỏng trên Europa.

Đại dương ở thể lỏng dưới bề mặt băng của Europa là kết quả của quá trình tích nhiệt do thủy triều. Lực thủy triều làm cho phần bên trong của Europa ấm dần, cho phép đại dương nước lỏng tồn tại thay vì đông cứng.

NASA đang lên kế hoạch cho sứ mệnh thăm dò tới Europa vào khoảng năm 2020, với hi vọng xem xét thành phần cấu tạo đại dương, độ dày của lớp vỏ băng và địa chất học ở bề mặt vệ tinh.

Cho đến nay, những thông tin có được về Europa chủ yếu từ thông tin thu thập về của viễn vọng kính Hubble đang bay trên không gian

"Theo hiểu biết của chúng tôi, đại dương của Europa không phải là môi trường khắc nghiệt", ông Kevin Peter Hand nhận xét. Ông là nhà sinh học thiên văn kiêm phó trưởng nhóm phụ trách chương trình thám hiểm hệ Mặt Trời tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (JPL) của NASA.

Đầu năm nay, nhóm nghiên cứu ở JPL công bố nghiên cứu cho thấy đại dương của Europa có thể giống Trái Đất về sự cân bằng năng lượng hóa học, cụ thể là tỷ lệ oxy và hydro, điều kiện hỗ trợ sự sống phát triển.

"Europa rất đặc biệt bởi khả năng có một lượng oxy dồi dào trong đại dương. Chúng tôi dự đoán lượng khí oxy cùng với hydro lớn và duy trì liên tục của Europa có thể cân bằng theo cách thức độc đáo trên những thiên thể băng đá thuộc hệ Mặt Trời. Vì lý do này, Europa có thể là nơi thuận lợi cho sự sống khởi nguồn và tiến hóa", nhóm tác giả nghiên cứu chia sẻ.

Hiện nay cũng đang có tàu dò Juno tập trung quan sát sao Mộc, nhưng sẽ có một tàu dò khác dành riêng cho Europa sẽ phóng lên không gian vào năm 2020.

Cơ quan không gian của châu Âu (ESA) cũng có kế hoạch đưa tàu dò mang tên Juice lên không gian vào năm 2022 để khám phá các hành tinh Ganymède, Europe và Callisto, là ba trong số bốn vệ tinh của sao Mộc.

Cần nhớ hồi tháng 3-2015, cơ quan NASA từng thông báo về sự hiện diện của vết nước trên bề mặt của vệ tinh Ganymède.

Các "mặt trăng" của sao Mộc được cho là có kích cỡ tương đương hành tinh của chúng ta. Theo dự đoán của cơ quan ESA, các hành tinh đó "có thể chứa những vùng có sự sống bên dưới lớp vỏ băng của chúng".

Nhưng hãy khoan nghĩ xa xôi hơn những phát hiện đã có như hiện nay, ví dụ về khả năng chuyển lên sống ở Europa. Hiện nhiệt độ ở bề mặt này đang là thử thách với con người: -150 độ C.

Sao Mộc là hành tinh thứ năm tính từ Mặt Trời và là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó là hành tinh khí khổng lồ với khối lượng bằng một phần ngàn của Mặt Trời nhưng bằng hai lần rưỡi tổng khối lượng của tất cả các hành tinh khác trong Hệ Mặt Trời cộng lại. 

Khoảng cách trung bình giữa Sao Mộc và Mặt Trời là 778 triệu km (bằng 5,2 lần khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời, hoặc 5,2 AU) và nó hoàn thành một vòng quỹ đạo bằng 11,86 năm Trái Đất.

Bầu khí quyển có Sao Mộc khá giống với bầu khí quyển của Mặt Trời, được cấu tạo chủ yếu bởi Hidro và Heli. Và với 4 vệ tinh lớn cùng rất nhiều vệ tinh nhỏ quay xung quanh, Sao Mộc đã tự "xây dựng" nên một Hệ Mặt Trời thu nhỏ. Với kích thước to lớn của Sao Mộc, nó có thể chứa hơn 1.300 Trái Đất.

 

TÚ ANH

========================

Bây giờ là 2g ngày 27/ 9 2016 giờ Việt Nam. Hay nói đúng hơn là còn 23 g đồng hồ nữa NASA sẽ công bố một tin mà rất nhiều người hy vọng về sự sống ngoài trái Đất. Lão Gàn một lần nữa phát biểu trước giờ G: Chẳng bao giờ có một cái vẩy của một tế bào sống nào trong vũ trụ. Hãy yêu lấy cuộc sống ngay trên trái Đất này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em.
Trong video clip này, các bạn sẽ thấy biểu tượng chữ Vạn có ở khắp nơi trong các nền văn minh cổ trên thế giới - phút ghi trên video 14, 5< và 4 <.
Trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" xb 2001, tôi đã chứng minh với bạn đọc về biểu tượng chữ Vạn chính là mô tả sự tương tác của vũ trụ theo chiều thuận, và chiều vận động của các dạng tồn tại của vật chất có hình thể theo chiều ngược. Và biểu tượng chữ Vạn cũng chính là sự cô đọng nhất của vòng xoáy Âm Dương Lạc Việt . Đây cũng là một biểu tượng phổ biến ở các nền văn minh cổ xưa, mô tả sự tương tác và vận động của vũ trụ. Nền văn minh hiện đại cũng đã phát hiện ra điều này (Xem sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Nxb Tri Thức 2014).
Thưa các bạn.
Sự đồng nhất mang tính phổ biến của các biểu tượng văn hóa trên khắp các nền văn minh cổ xưa, đã xác định rằng: Đã có một nền văn minh toàn cầu tồn tại trước nền văn minh của chúng ta. Nền văn minh này đã bị xóa sổ và dấu ấn của nó đã để lại khi sự sống của toàn thể con người phải bắt đầu lại từ đầu.
Người ta có thể có những giải thích khác nhau cho một sự kiện trực quan. Nhưng không thể làm thay đổi bản chất của chân lý. Bởi vì, không thể có bất cứ một nền văn minh hoang sơ nào trong lịch sử nhân loại nhận thức được, theo cách hiểu từ thời đại đồ đá cách đây hơn một vạn năm, có thể hoàn thiện một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà cả nền văn minh hiện đại vẫn đang tìm kiếm.
Đó chính là thuyết Âm Dương ngũ hành và ký hiệu Bát quái. Mà nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm lịch sử chính là chủ sở hữu trong lịch sử văn minh hiện đại. Nhưng chủ nhân bản quyền của lý thuyết này lại thuộc về một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên Địa cầu, trước nền văn minh của chúng ta.
Thưa các bạn
Những cá nhân xuất sắc nhất trong lịch sử nền văn minh hiện đại, có thể phát minh ra những học thuyết cục bộ mô tả tính quy luật chuyên ngành, như: Newton, Galileo, Einstein.....Nhưng để tổng hợp thành một lý thuyết thống nhất, thì phải là cả một quá trình lịch sử và phát triển với hội nhập của cả một nền văn minh toàn cầu. Bởi vì nó phải là sự tổng hợp của tất cả những phát minh của con người trong lịch sử tiến hóa.
Bởi vậy, Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương Tử là một chân lý ngày càng chứng tỏ tính huyền vĩ của nó. Sự hội nhập toàn cầu chỉ có thể hoàn tất, nếu những cơ quan có trách nhiệm như UNESCO quan tâm đến chân lý cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Vấn đề cũng không chỉ là sự hội nhập giữa các nền văn minh trong lịch sử văn minh hiện tại. Mà là sự hội nhập với cả một quá khứ vinh quang của con người.
Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.
PS: Video được chia sẻ từ Fb của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn.

https://www.facebook.com/thiensu.lacviet

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

NỀN VĂN MINH ATLANTIC
Thưa quý vị và anh chị em.
Ngay từ trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" xb lần đầu tiên 2001, tôi đã đặt vấn đề về sự tồn tại của một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ, có trước nền văn minh của chúng ta và tôi gọi là : nền văn minh Atlantic. Và đây chính là nền văn minh chủ nhân đích thực của thuyết ADNh, một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà tất cả những tri thức tinh hoa của nhân loại đang mới chỉ mơ ước. Từ đó, trên những bài viết khắp các diễn đàn Lý học và những sách đã xuát bản, tôi luôn chứng minh và khẳng định điều này. Sự chứng minh của tôi căn cứ vào tính hợp lý lý thuyết và những di sản vật thể, phi vật thể liên quan.
Kể từ khi tôi công bố điều này, những nhà khoa học đã phát hiện từ khắp nơi trên thế giới, những bằng chứng trực quan để xác minh cho sự đúng đắn từ nhận định của tôi. Bài viết trên Soha được trích dẫn dưới đây chứng tỏ điều này.
Tuy nhiên, tôi cần khẳng định rằng: Sự phát hiện ngày càng nhiều những di sản của nền văn minh Atlantic sẽ chỉ cho chúng ta xác định một nền văn minh cổ xưa đã tồn tại. và từ đó dẫn đến những tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện đại thừa nhận sự tồn tại của một nền văn minh huyền vĩ có trước nền văn minh của chúng ta, qua nhưng di sản vật thể được phát hiển bởi ngành khảo cổ, - thì - họ cũng mới chỉ thừa nhận về hình thức qua những di sản khảo cổ sự tồn tại của nền văn minh Atlantic, còn những giá trị tri thức đích thực và là tinh hoa của nền văn minh này, sẽ chỉ thật sự sáng tỏ khi thông qua những giá trị huyền vĩ của nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương.

Cảm ơn sự quan tâm của quý vị và anh chị em.

===================

 

Ba phát hiện khảo cổ học khiến nhân loại phải viết lại lịch sử


Cẩm Mai |

 

03/10/2016 09:04

 

Những phát hiện này cho thấy, sử sách thế giới mới chỉ ghi lại đươc một phần quá trình phát triển của nhân loại.
 

bosnian-pyramid-of-the-sun-1024x768-1475

Thung lũng kim tự tháp Bosnia.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ loài người đã tồn tại lâu hơn so với những gì chúng ta đã biết và ghi chép lại. Những phát hiện khảo cổ học gần đây làm giới nghiên cứu kinh ngạc, ngay cả các nhà sử học cũng chưa từng được biết đến.

Sau đây là 3 phát hiện khảo cổ học nổi bật nhất khiến chúng ta phải viết lại lịch sử thế giới:

 

Các kim tự tháp trên bán đảo Crimea

Giới nghiên cứu cho rằng các kim tự tháp trên bán đảo Crimea được xây dựng từ khi khủng long chạy tự do trên Trái Đất.

 

piramidaagvbp7ys3w-1-1475250294166-14752

Tàn tích cổ đại trên bán đảo Crimea.

 

Những công trình bằng đá và kim tự tháp trên bán đảo Crimea làm thay đổi cách người ta nhìn nhận lịch sử.

Khu vực này nổi tiếng bởi những phát hiện khảo cổ học cổ đại. Người ta đã phát hiện thấy ở đây những kho báu của nhiều nền văn minh khác nhau, từ Hy Lạp, La Mã đến Genoa, Ottoman và Thổ Nhĩ Kỳ.

Cựu chiến binh Vitalij Gokh đã từng phục vụ hơn 30 năm trong quân đội Xô viết, là người đầu tiên phát hiện ra những kho báu đó vào năm 1999.

Sau khi về hưu, ông trở thành nhà nghiên cứu tìm ra kim tự tháp Gokh. Ông còn khẳng định rằng trên bán đảo Crimea có những thị trấn kim tự tháp và những công trình bằng đá bị chôn vùi.

 

Các kim tự tháp tại Bosnia

Phát hiện thung lũng kim tự tháp tại Bosnia được coi là phát hiện khảo cổ có giá trị nhất châu Âu, khiến nhân loại phải viết lại lịch sử.

 

bosnian-pyramid-of-the-sun-2-14752506809

Các kim tự tháp tại Bosnia.

 

Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng các kim tự tháp gần thị trấn Visoko, phía tây bắc Sarajevo thuộc Bosnia là những kim tự tháp cổ xưa nhất hành tinh do con người xây dựng.

Kim tự tháp Mặt Trời cao nhất trong thung lũng kim tự tháp Bosnia, còn cao hơn cả đại kim tự tháp Giza ở Ai Cập.

Điều kỳ lạ là 2 kim tự tháp này có 4 mặt trùng khớp nhau trên la bàn. Không biết vì sao hai nền văn minh ở cách xa nhau và không trao đổi với nhau mà xây dựng chính xác như nhau đến vậy?

 

Kết cấu nano 300.000 năm tuổi trong núi Ural

Kết cấu nano 300.000 năm tuổi được phát hiện ra ở Nga được coi là đồ tạo tác bí ẩn nhất được tìm thấy trong mấy năm gần đây.

 

ancient-nanostructures-in-ural-mountains

Những đồ vật được phát hiện trong núi Ural.

Những kết cấu này đã 300.000 năm tuổi thì có nghĩa là nền văn minh cổ đại tiến bộ làm ra chúng đã từng tồn tại trên Trái Đất từ lâu hơn thế.

Trong khi các nhà địa chất đi tìm vàng ở núi Ural, họ đã phát hiện ra những đồ vật này. Trong số những đồ vật không xác định được phát hiện trong lòng đất, có những vòng xoáy tròn, vòng xoáy xoắn ốc và ống trục.

Viện hàn lâm Khoa học Nga đã kiểm định những đồ vật này và cho ra kết quả bất ngờ. Những đồ vật lớn bằng đồng, đồ vật nhỏ bằng vonfam và molypden.

Nguồn: EWAO

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Những bản khắc đá bí ẩn thời tiền sử ở Scotland

Chủ nhật, 16/10/2016 | 10:00 GMT+7

Một nhà khảo cổ phát hiện hàng trăm bản khắc đá thời tiền sử ở Scotland với mục đích sử dụng chưa thể lý giải.
Anh-9108-1476502691.jpg

Bản khắc đá do Currie phát hiện ở trung tâm thành phố Perthshire, Scotland. Ảnh:George Currie.

Nhà khảo cổ học nghiệp dư George Currie ở Dundee, Scotland, tìm thấy hơn 670 bản khắc đá thuộc thời kỳ Đồ đồng và Đồ đá mới, theoGuardian trong quá trình tìm kiếm suốt 15 năm qua ở thành phố Perthshire.

Currie quan tâm đến khảo cổ học trong thời gian dài, nhưng niềm đam mê nghệ thuật trên đá của ông bắt đầu sau khi ông phát hiện bản khắc đá kỳ lạ có kích thước hai mét chưa được ghi chép tại một địa điểm khảo cổ.

Những khám phá của Currie sẽ nằm trong dự án nghiên cứu lớn nhất về nghệ thuật đá thời tiền sử ở Anh kéo dài 5 năm, bắt đầu từ năm 2017. Dự án này được chủ trì bởi tổ chức Môi trường Lịch sử Scotland (HES) dưới sự chỉ đạo của Tertia Barnett, tiến sĩ tại Đại học Edinburgh, Scotland.

Giới khảo cổ phát hiện hơn 2.500 phiến đá chạm khắc ở Scotland, có niên đại từ năm 4000 đến năm 2000 trước Công nguyên. Hầu hết bản khắc đá có vết lõm trên bề mặt, xung quanh là những vòng tròn đồng tâm với đường hoặc rãnh mở rộng.

Mục đích và ý nghĩa ban đầu của các bản khắc đá cho đến nay vẫn là điều bí ẩn. Nhiều học giả suy đoán chúng được dùng để đánh dấu lãnh thổ, biểu tượng sinh sản, dấu hiệu thiên văn, hoặc chỉ đơn giản là hình vẽ nguệch ngoạc của người tiền sử.

Xem thêm: Công trình 5.400 tuổi vùi dưới bãi rác cổ đại

Lê Hùng

Nguồn: Báo Vnexpress

Share this post


Link to post
Share on other sites
Vật thể bằng nhôm 250.000 năm tuổi nghi là mảnh vỡ UFO

Thứ sáu, 21/10/2016 | 12:00 GMT+7

Một vật thể lớn bằng nhôm có niên đại 250.000 năm gây tranh cãi bởi nó xuất hiện sớm hơn rất nhiều so với thời điểm con người biết đến được kim loại nhôm.
VNE-Aluminum-7666-1477022647.jpg

Vật thể bằng nhôm chưa rõ nguồn gốc tìm thấy ở Romania. Ảnh: CEN.

Vật thể lạ bằng nhôm gần đây gây nhiều tranh cãi do các chuyên gia đánh giá nó có niên đại ít nhất 250.000 năm, trong khi loài người mới chỉ sản xuất được nhôm kim loại cách đây khoảng 200 năm, theo Mirror.

Năm 1973, nhóm công nhân xây dựng làm việc trên bờ sông Mures gần thị trấn Aiud của Romania tìm thấy ba vật thể ở độ sâu 10 m dưới mặt đất. Do các vật đào lên có vẻ khác thường và lâu đời, các nhà khảo cổ học được mời đến hiện trường. Họ lập tức nhận ra hai trong số ba vật thể là hóa thạch xương động vật.

Vật thể còn lại rất nhẹ, trông giống như đồ kim loại do con người sản xuất và có hình dáng giống lưỡi rìu. Cả ba món đồ được gửi tới thành phố Cluj thuộc tỉnh Transylvania, Romania để phân tích kỹ hơn. Chuyên gia giám định nhanh chóng phát hiện hai chiếc xương lớn thuộc về một động vật có vú đã chết cách đây 10.000 - 80.000 năm. Tuy nhiên, vật thể thứ ba khiến họ vô cùng kinh ngạc.

 

Theo kết quả kiểm tra, vật thể được làm từ 12 kim loại với 90% là nhôm, có niên đại 250.000 năm. Kết quả giám định này được một phòng thí nghiệm ở Lausanne, Thụy Điển, xác nhận sau đó. Một số chuyên gia khác đưa ra nhiều mốc niên đại khác nhau của vật thể, từ 400 đến 80.000 năm. Ngay cả có niên đại ít nhất là 400 năm, vật thể vẫn ra đời sớm hơn 200 năm so với thời điểm con người lần đầu tiên biết tới vật liệu nhôm.

Vật thể dài 20 cm, rộng 12,5 cm và dày 7 cm. Điều khiến các chuyên gia bối rối là khối kim loại có mặt lõm giống như một bộ phận của một hệ thống máy móc phức tạp.

Nhiều thợ săn vật thể bay không xác định (UFO) cho rằng vật thể này chính là mảnh vỡ của một chiếc đĩa bay, bằng chứng cho thấy nền văn minh ngoài hành tinh từng ghé thăm Trái Đất trong quá khứ.

Nhà sử học người Romania Mihai Wittenberger cho rằng mảnh nhôm trên là một phần của chiếc máy bay Đức thời Thế chiến II, nhưng không thể giải thích được niên đại của vật thể. Vật thể đang được triển lãm tại Bảo tàng lịch sử Cluj-Napoca với ghi chú "chưa rõ nguồn gốc".

Phương Hoa

Nguồn: Báo Vnexpres.

Share this post


Link to post
Share on other sites
Bùa hộ mệnh 6.000 năm được đúc như công nghệ của NASA

Thứ năm, 17/11/2016 | 12:00 GMT+7

Chiếc bùa hộ mệnh ra đời cách đây 6.000 năm bằng công nghệ đúc liền khối vẫn được NASA sử dụng để chế tạo tàu vũ trụ.
VNE-Amulet-2562-1479349956.jpg

Bùa hộ mệnh chế tạo bằng kỹ thuật đúc khuôn chảy. Ảnh: Nature.

Chiếc bùa 6.000 năm tuổi tìm thấy ở ngôi làng từ thời Đồ đá mới Mehragarh, Pakistan, là sản phẩm lâu đời nhất sử dụng kỹ thuật đúc khuôn chảy, phương pháp chế tác kim loại vẫn được sử dụng trong ngành hàng không vũ trụ ngày nay, theo Washington Post.

Trong báo cáo công bố hôm 15/11 trên tạp chí Nature, các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu vật liệu khảo cổ châu Âu Ipanema, Pháp, phân tích chiếc bùa bằng công nghệ chụp ảnh phát quang để tìm hiểu chính xác cách người cổ đại chế tạo nó. Họ chiếu ánh sáng lên chiếc bùa, sau đó đo lượng ánh sáng phản xạ lại. Những vật liệu khác nhau có lượng ánh sáng phản xạ khác nhau, cho phép nhóm nghiên cứu xác định rõ vật liệu dùng để chế tạo chiếc bùa.

Quá trình phân tích chỉ ra chiếc bùa được đúc liền khối, chứng tỏ nó được tạo ra bằng kỹ thuật đúc khuôn chảy. Kỹ thuật này tạo ra bản sao của vật mẫu bằng sáp, sau đó làm khuôn bao quanh. Người thợ rèn đun nóng khuôn này, đổ sáp lỏng ra ngoài và rót kim loại nóng chảy vào trong. Sau khi nguội, khuôn vỡ ra, để lại đồ vật kim loại mới nguyên vẹn.

Chiếc bùa hộ mệnh được chế tác bằng cách đổ đồng nóng chảy vào khuôn đất sét chuẩn bị từ trước. Đồng hấp thụ một lượng nhỏ oxy trong quá trình sản xuất, dẫn đến những vệt oxit đồng nhỏ li ti bên trong chiếc bùa.

Kỹ thuật đúc khuôn chảy có thể sử dụng cho những thiết kế phức tạp hơn. Đây vẫn là phương pháp phổ biến nhất trong các lò đúc ngày nay. "Đúc khuôn chảy là kỹ thuật chế tác kim loại chính xác nhất trong các ngành hàng không vũ trụ và y sinh học, dùng cho hợp kim từ thép đến titan", nhóm nghiên cứu cho biết.

Kỹ thuật cũng được dùng để tạo ra nhiều phần trên tàu con thoi NASA, Trạm Vũ trụ Quốc tế và robot thăm dò sao Hỏa Curiosity. NASA cũng chế tạo các bộ phận của tàu vũ trụ Messenger bay quanh quỹ đạo sao Thủy trong năm 2011 - 2015 bằng công nghệ đúc khuôn chảy này.

Xem thêm: Bùa hộ mệnh bí ẩn của người cổ đại

Phương Hoa

Nguồn: Báo Vnexpress.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tài liệu kết quả thử nghiệm của NASA bị lộ cho thấy động cơ đưa chúng ta lên Sao Hỏa trong 70 ngày hoàn toàn khả thi

07/11/2016 22:41

Động cơ đi ngược với nguyên tắc vật lý này liệu có thể đưa loài người đi khám phá vũ trụ?

Kết quả thử nghiệm động cơ điện từ EM Drive đã bị lộ ra ngoài, và theo như những tài liệu lộ ra đó, không phải một nhóm các nhà khoa học “nào đó” đã tiến hành thử nghiệm, đó là chính NASA.

Mức độ chính xác của những tài liệu này vẫn chưa được xác minh, nhưng thông tin trong đó có vẻ như toàn là tin mừng: hệ thống đẩy của EM Drive thực sự hoạt động được và chúng có thể tạo ra được lực đẩy trong môi trường chân không.

Trong khoảng thời gian một năm qua, có thể nói EM Drive đã làm mưa làm gió khắp nơi. Người ta nghe tới một động cơ đẩy-mà-không-đẩy, có thể tạo ra lực phóng mà không dùng tới nhiên liệu và tuyệt vời hơn, nó có thể đưa chúng ta tới Sao Hỏa chỉ trong 70 ngày.

Tài liệu kết quả thử nghiệm của NASA bị lộ cho thấy động cơ đưa chúng ta lên Sao Hỏa trong 70 ngày hoàn toàn khả thi - Ảnh 1.

 

Một vấn đề tồn tại duy nhất và cũng là lớn nhất: động cơ này không thể hoạt động được, nếu dựa trên các nguyên tắc vật lý hiện tại mà chúng ta vẫn biết.

Theo Newton: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này có cùng giá trị, cùng độ lớn, nhưng ngược chiều.

Điều đó có nghĩa rằng để một động cơ có thể “đẩy” được, nó phải đẩy thứ gì đó ra để có thể tiến về phía trước. Như trong vũ trụ, thì thứ đó chính là nhiên liệu đốt. Nhưng EM Drive lại hoạt động mà không cần tới nhiên liệu, nó hoạt động nhờ photon vi sóng nảy qua lại trong một lồng chứa kín bằng kim loại. Chuyển động hạt đó khiến cho EM Drive tạo ra lực đẩy, đưa “đầu nhọn” hướng về phía trước.

Là chủ đề tranh cãi và là đối tượng thử nghiệm nhiều năm rồi, động cơ này vẫn là thứ làm đau đầu các nhà khoa học. Nó không thể hoạt động, không được phép hoạt động bởi chúng ta bị các quy luật vật lý trói buộc, nhưng rồi với các thử nghiệm này qua thử nghiệm khác, EM Drive vẫn cho ra kết quả rằng nó hoạt động được.

Năm ngoái, Phòng thí nghiệm Eagleworks tham gia vào quá trình giải thích nguyên lý EM Drive “một lần cho xong”, xóa bỏ mọi cuộc tranh cãi và giờ đây, với kết quả thử nghiệm vừa mới bị lộ ra ngoài, không chỉ là EM Drive hoạt động được mà thậm chí, nó còn hoạt động với một lực đẩy khá ấn tượng.

Tài liệu kết quả thử nghiệm của NASA bị lộ cho thấy động cơ đưa chúng ta lên Sao Hỏa trong 70 ngày hoàn toàn khả thi - Ảnh 2.

 

Mức độ tin cậy của những tài liệu này chưa được xác định, hiện tại nó mới chỉ được coi là những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học mà thôi. Họ kết luận rằng EM Drive có thể tạo ra lực đẩy 1,2 millinewton/kilowatt trong môi trường không trọng lực.

Chừng đó không phải là nhiều, khi so sánh với động cơ đẩy plasma Hall (được cho là sẽ đưa con người lên sao Hỏa mà tốn rất ít nhiên liệu) với lực tạo ra là 60 millinewton/kilowatt. Tuy nhiên, Hall vẫn phải sử dụng nhiên liệu và vẫn cần một tàu lớn để có thể mang được nó lên vũ trụ, trong khi đó EM Drive nhỏ nhẹ hơn và không cần tới nhiên liệu.

Trong quá trình thử, họ theo dõi cẩn thận xem liệu việc phát hiện ra lực đẩy có thể là do lỗi hệ thống hay không, nhưng cho tới giờ, có vẻ như EM Drive có khả năng đẩy thực sự, theo kết luận của trưởng đội ngũ nghiên cứu, ông Harold White.

Có được kết quả này nhưng đội ngũ nghiên cứ vẫn xác nhận rằng họ vẫn cần phải xem xét kĩ lưỡng động cơ này, rất có thể một lượng nhiệt lượng đột nhiên tăng cao đã làm hỏng kết quả thử nghiệm này.

Tài liệu kết quả thử nghiệm của NASA bị lộ cho thấy động cơ đưa chúng ta lên Sao Hỏa trong 70 ngày hoàn toàn khả thi - Ảnh 3.

 

Họ cũng nói rõ rằng những thử nghiệm này không phải là để tối ưu hóa lực đẩy mà EM Drive có thể tạo ra, nó được thử nghiệm đơn giản là để xem xem DM Drive có thể thực sự hoạt động không và nếu có, nó sẽ có thể giúp cho hệ thống động cơ đẩy thông thường được thiết kế để tăng hiệu quả sử dụng.

Đừng kỳ vọng quá nhiều vào một bản báo cáo lộ ra ngoài và chưa được xem xét kĩ càng. Nhưng bây giờ cũng đã là một thời điểm thích hợp để chúng ta bắt đầu tìm hiểu xem hệ thống kì lạ này hoạt động như thế nào và quan trọng hơn, thử nghiệm nó trên môi trường ngoài Trái Đất.

Vẫn là một chặng được dài để biến thứ “bất khả thi” thành “có thể”, nhưng đây cũng có thể coi là một chứng cứ nữa về tính khả dụng của EM Drive. Rất có thể trong tương lai, chúng ta sẽ có được những hệ thống động cơ đẩy mà không cần nhiên liệu. Ta hãy cùng chờ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

=====================

NASA xác nhận rằng động cơ điện từ bất khả thi EM Drive hoạt động được

19/11/2016 23:00

Lời giải thích nào cho động cơ trái với vật lý mà ta biết nhưng vẫn hoạt động được?

Sau cả tháng giời mong ngóng với những tài liệu nghiên cứu bị rò rỉ ra ngoài thì cuối cùng, NASA cũng đã chính thức công bố báo cáo kết quả nghiên cứu động cơ điện từ EM Drive.

Và họ kết luận rằng, ĐỘNG CƠ NÀY HOẠT ĐỘNG ĐƯỢC.

Phòng thí nghiệm Eagleworks của NASA đã thử nghiệm và chứng minh được rằng EM Drive có tạo ra một lực đẩy, một lực đẩy trái với mọi quy luật vật lý mà ta biết.

NASA xác nhận rằng động cơ điện từ bất khả thi EM Drive hoạt động được - Ảnh 1.

 

Giải ngố chút nếu như bạn chưa biết, động cơ điện từ EM Drive là một động cơ đẩy lý thuyết được đưa ra bởi nhà phát minh người Anh, ông Roger Shawyer hồi năm 1999.

Thay vì sử dụng nhiên liệu tên lửa nặng nề và tốn kém, EM Drive sẽ sử dụng các photon vi sóng va đập liên tục trong khoang của mình để tạo ra lực đẩy.

Theo như tính toán của ông Shawyer, EM Drive sẽ có thể đưa chúng ta lên tới Sao Hỏa trong thời gian vỏn vẹn 70 ngày.

Điều duy nhất khiến cho công nghệ này không vận dụng được, đó là nó đi ngược lại với những quy luật vật lý mà ta vẫn biết.

Theo Newton: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này có cùng giá trị, cùng độ lớn, nhưng ngược chiều.

NASA xác nhận rằng động cơ điện từ bất khả thi EM Drive hoạt động được - Ảnh 2.

 

Điều đó có nghĩa rằng để một động cơ có thể “đẩy” được, nó phải đẩy thứ gì đó ra để có thể tiến về phía trước. Như trong vũ trụ, thì thứ đó chính là nhiên liệu đốt. Nhưng EM Drive lại hoạt động mà không cần tới nhiên liệu, nó hoạt động nhờ photon vi sóng nảy qua lại trong một lồng chứa kín bằng kim loại. Chuyển động hạt đó khiến cho EM Drive tạo ra lực đẩy, đưa “đầu nhọn” hướng về phía trước.

Thử nghiệm này qua thử nghiệm khác, động cơ này vẫn hoạt động dù bản thân nó là một nghịch lý và năm ngoái, Phòng thí nghiệm Eaagleworks chính thức đưa động cơ này vào thử nghiệm, một lần duy nhất để chứng minh/bác bỏ lý thuyết về động cơ này.

Chúng ta đã có kết quả chính thức.

Báo cáo đã được xét duyệt mang tên “Đo đạc Lực đẩy của Tần số radio gần trong khoảng không - Measurement of Impulsive Thrust from a Closed Radio-Frequency Cavity in Vacuum” đã được đăng tải bởi Viện Hàng không và Du hành vũ trụ Mỹ.

Nó có những phần giống với bản báo cáo bị lộ ra hồi đầu tháng này, và hiển nhiên kết quả của nó cũng giống nhau: EM Drive tạo ra được lực đẩy trong chân không bằng 1,2 millinewtons với mỗi kilowatt.

So sánh để dễ hình dung, động cơ đẩy siêu mạnh Hall có thể tạo ra 60 millinewton/kilowatt. Nhưng Hall cần tới một lượng rất lớn nhiên liệu tên lửa để hoạt động, chưa kể cân nặng lớn khiến sức mạnh của nó bị kéo lại phần nào.

NASA xác nhận rằng động cơ điện từ bất khả thi EM Drive hoạt động được - Ảnh 3.

Động cơ đẩy Hall.

Đội ngũ nêu rõ rằng họ không cố gắng tối đa hóa hiệu năng của những động cơ này. Họ chỉ cố gắng chứng minh động cơ không tưởng này có thể hoạt động được và họ đã làm được điều đó, ta sẽ có những ứng dụng cho động cơ điện từ này.

Và một điều cực kì đáng ngạc nhiên và nhiều phần không rõ ràng nữa là “Các định luật vật lý của ta liệu có phải là chuẩn xác?”, khi mà NASA đã chứng minh được rằng EM Drive – động cơ đi ngược lại với quy luật Newton – thực sự hoạt động?

Giả thuyết mà NASA đưa ra là:

Hình mẫu vật lý khiến đã được chứng kiến trong thử nghiệm này có thể được xếp hạng vào giả thuyết pilot-wave”. Một giả thuyết nhằm vào việc giải thích cơ học lượng tử bằng thuyết tiền định (thuyết định mệnh) mà không cần động chạm tới tính đối ngẫu của sóng-hạt hay nghịch lý mèo Schrödinger nổi tiếng.

Nói bằng ngôn ngữ dễ hiểu, đó là:

Hiện tại, ta đang chấp nhận bản chất của trạng thái cơ học lượng tử là các hạt không tồn tại một địa điểm cho trước, cho tới khi chúng được quan sát và phân tích.

Thuyết pilot-wave cho rằng vào mọi lúc, các hạt đều tồn tại ở một vị trí chính xác nhưng để thuyết này thực sự tồn tại, bản chất thế giới chúng ta phải hoạt động khác và đó là lý do vì sao nhiều nhà vật lý không chấp nhận thuyết pilot-wave.

Những năm gần đây, thuyết pilot-wave đã được chú ý tới nhiều hơn và NASA cho rằng chính thuyết này sẽ chứng minh được lý do động cơ EM Drive có thể hoạt động được

Nếu như chân không có thể biến đổi và suy giảm, ta sẽ có thể thử nghiệm trên nó và lấy thông tin từ nó, từ đó ta có thể tiến tới việc đẩy xa hơn những giới hạn của chân không lượng tử và sẽ vẫn giữ nguyên vẹn được luật bảo toàn năng lượng và luật bảo toàn động lượng”, đội ngũ các nhà khoa học tại NASA viết trong báo cáo.

NASA xác nhận rằng động cơ điện từ bất khả thi EM Drive hoạt động được - Ảnh 4.

 

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là phỏng đoán, một cách giải thích cho sự “kì diệu” của động cơ EM Drive. Vẫn cần tiến hành những thử nghiệm khác, để chứng minh rằng “làm thế nào mà nó lại hoạt động được”.

Nhiều thành viên trong cộng đồng khoa học vẫn nhìn động cơ EM Drive với một con mắt khác: họ không tin tưởng rằng EM Drive có thể tạo ra lực đẩy. Nhưng với bản báo cáo được xét duyệt mới này, EM Drive sẽ chuyển từ khoa học giả - khoa học lý thuyết sang thứ gì đó đáng để thực sự bỏ công nghiên cứu.

Bước tiếp theo sẽ là thử nghiệm EM Drive trên vũ trụ, dự án này hiện đã được chuẩn bị những bước đầu rồi. Nếu như nó tạo ra lực đẩy trong môi trường ngoài Trái Đất, toàn bộ cộng đồng khoa học sẽ phải có một cái nhìn khác về động cơ này.

Bạn có thể đọc toàn bộ bản báo cáo nghiên cứu khoa học tại đây.

Tham khảo ScienceAlert

Nguồn: Báo Thời Đại

Share this post


Link to post
Share on other sites

Posted (đã chỉnh sửa)

Sự bất lực khi giải thích hiện tượng trên chỉ chứng tỏ khoa học hiện đại còn nhiều bất cập, nếu không thay đổi lớn thì hông bao giờ giải thích được.

Dựa trên "Cơ sở học thuyết Âm dương Ngũ hành" trên diễn đàn này, tôi không chỉ giải thích được mà còn có thể thiết kế nguyên lý hoạt động của cái động cơ này. Chỉ lưu ý, sóng ánh sáng xử dụng ở đây có tần số khá thấp chứ không cao, nói đúng hơn, nó là sóng vô tuyến tần số trung bình. Động cơ của tương lai có lẽ là theo nguyên lý này. Cái hay là không có nhiều chuyển động quay đòi hỏi quá chính xác như cái mô tơ , hộp số hiện hành. Chỉ cần một máy phát sóng vô tuyến, một buồng cộng hưởng sóng và một cây nhận lực là đủ.

Edited by Vo Truoc

Share this post


Link to post
Share on other sites

Để anh chị em không nghĩ tôi chém gió, tôi xin pot thiết kế nguyên lý động cơ sóng điện từ mà tôi đã nghiên cứu từ lâu khi viết "Cơ sở học thuyết Âm dương Ngũ hành" xem có giống không nhé.

c8QZfv.jpg

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Các nhà khoa học đang thực nghiệm một lý thuyết có thể thay đổi cả thuyết tương đối của Albert Einstein

29/11/2016 10:56

Và có thể thay đổi hoàn toàn hiểu biết về vũ trụ.

Được đề xuất lần đầu vào cuối năm 1990 nhưng tới bây giờ lý thuyết về tốc độ ánh sáng này mới được thực nghiệm. Nó có khả năng trở thành một trong những thực nghiệm quan trọng nhất từ trước tới nay bởi nếu được chứng minh là đúng, nó có thể thay đổi một số hiểu biết cơ bản nhất của chúng ta về vũ trụ.

Trước đây, chúng ta cho rằng tốc độ ánh sáng về cơ bản là không thay đổi. Đó là ý tưởng trung tâm góp phần tạo ra một số khái niệm quan trọng nhất trong vật lý và những hiểu biết của chúng ta về vũ trụ, chẳng hạn như thuyết tương đối tổng quát và cách vũ trụ giãn nở sau vụ nổ Big Bang.

stars-ap-1480391012945.jpg
 

Tốc độ ánh sáng hiện tại, xấp xỉ 300 triệu mét mỗi giây, luôn luôn được coi là một hằng số và còn được coi là tốc độ tối đa của bất cứ thứ gì trong vũ trụ.

Nhưng lý thuyết mới cho rằng trong thời gian đầu khi vũ trụ mới hình thành ánh sáng có thể đi với tốc độ nhanh hơn nhiều so với hiện tại. Bằng cách nghiên cứu bức xạ nền vi sóng vũ trụ (CMB) các nhà khoa học hy vọng rằng họ có thể chứng minh rằng tốc độ ánh sáng không phải là hằng số. CMB là bức xạ điện từ được sinh ra từ thời kỳ sơ khai của vũ trụ, sau vụ nổ Big Bang, và là bức tranh của vũ trụ thời sơ khai.

Các cấu trúc trong vũ trụ, như các thiên hà, tất cả đều được hình thành từ các biến động nhỏ trong vũ trụ thủa sơ khai, hiện các biến động này đều được in dấu trong CMB. Hiện các nhà khoa học đang cố gắng dùng những số liệu tính toán, đo đạc của các biến động này để tạo ra một "chỉ số quang phổ".

Theo một nghiên cứu mới, nếu lý thuyết tốc độ ánh sáng mới là đúng và tốc độ ánh sáng có thể cao hơn sau vụ nổ Big Bang, chỉ số quang phổ chính xác là 0,96478. Ước tính hiện tại chỉ số quang phổ gần đạt mức tương tự, vào khoảng 0,968.

8nnqjgzbyzeq5zq-1480391012940.jpg
 

Giáo sư Joao Magueijo, từ trường Imperial College London, người dẫn đầu nghiên cứu, chia sẻ rằng: "Lý thuyết mà chúng tôi đề xuất lần đầu vào cuối năm 1990 đã tới lúc trưởng thành, nó đã tạo ra một dự đoán có thể kiểm chứng. Nếu quan sát trong tương lai gần có thể tìm ra rằng con số này là chính xác, nó sẽ khiến thuyết tương đối của Einstein không còn đúng nữa".

"Ý tưởng cho rằng tốc độ ánh sáng không phải là hằng số có thể bị phản bác khi lần đầu được đề xuất nhưng với một số dự đoán nhất định nó có thể là một thứ gì đó mà các nhà khoa học có thể thực sự thực nghiệm. Nếu nó được chứng minh là đúng thì các quy luật tự nhiên mà chúng ta biết hiện tại có thể sẽ bị thay đổi".

Theo Independent

Nguồn: Báo Thời Đại

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cái lý thuyết ấy các nhà khoa học còn đang nghiên cứu xây dựng, còn tôi thì đã viết xong và pot lên diễn đàn, không chỉ bác bỏ thuyết tương đối mà còn bao trùm luôn cơ học lượng tử và thuyết Bigbang (không có vấn đề không tương thích như giữa thuyết tương đối và cơ học lượng tử). Chỉ có một điều khác nhau là lý thuyết của họ được quan tâm còn của tôi thì không!

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Các nhà thiên văn học phát hiện ra hiện tượng đi ngược lại với những gì Newton và Einstein đã vẽ ra

03/12/2016 09:57

Một hiện tượng lượng tử diễn ra với quy mô khổng lồ của cả một ngôi sao vũ trụ.

Lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà thiên văn học phát hiện và quan sát được một hiện tượng lượng tử diễn ra trong tự nhiên. Đó là khi một sao neutron bị bao quanh bởi một từ trường mạnh tới mức nó tạo ra cả một vùng kì dị trên vũ trụ, một vùng mà trong đó các vật chất liên tục tồn tại rồi lại biến mất một cách tự nhiên.

Hình minh họa cho một ngôi sao neutron.

Hình minh họa cho một ngôi sao neutron.

Được gọi là lưỡng chiết chân không (lưỡng chiết là là hiện tượng xảy ra khi tia sáng khi đi qua một số loại tinh thể bị tách ra thành hai tia sáng: tia thường và tia khác thường – tia thượng đẳng), hiện tượng kì lạ này được dự đoán lần đầu tiên vào khoảng thời gian những năm 1930, nhưng mới chỉ được quan sát ở quy mô nguyên tử. Bây giờ, các nhà khoa học đã lần đầu tiên chứng kiến hiện tượng này diễn ra trong tự nhiên và kì lạ hơn, nó đi ngược lại với mọi thứ mà Newton và Einstein đã vẽ ra.

Ánh sáng đi qua tinh thể canxít tạo ra hai ảnh của chữ viết nằm bên dưới, tương ứng với tia thường và tia khác thường.

Ánh sáng đi qua tinh thể canxít tạo ra hai ảnh của chữ viết nằm bên dưới, tương ứng với tia thường và tia khác thường.

Đây là một sự kiện xảy ra rất rõ ràng thuộc lĩnh vực lượng tử, một sự kiện mang tầm vĩ mô”, anh Jeremy Heyl tới từ Đại học Bristish Columbia, người không thuộc dự án nghiên cứu này nói. “Mức độ rõ ràng của nó mang tầm cỡ của cả một ngôi sao neutron”.

Một nhóm các nhà thiên văn học quốc tế, dẫn dắt bởi giáo sư Roberto Mignani từ Ý đã phát hiện ra hiện tượng này, khi họ tiến hành quan sát sao neutron mang tên RX J1856.5-3754, cách Trái Đất chúng ta 400 năm ánh sáng.

Sao neutron là những lõi bị nghiền nát từ một ngôi sao khổng lồ bị “sập” xuống bởi chính sức nặng của nó, hiện tượng “sập” xảy ra khi ngôi sao ấy hết năng lượng và phát nổ dưới dạng một siêu tân tinh. Cho dù sự hình thành và tính chất của nó khá giống với hố đen, nhưng nó vẫn thiếu độ lớn để có thể trở thành “tử thần” của vũ trụ.

Chúng được cấu tạo nên từ một trong những vật liệu đặc nhất Vũ trụ. Chỉ một thìa vật chất này cũng có cân nặng tới 1 tỷ tấn khi đặt trên Trái Đất, lớp ngoài của nó cứng hơn thép 10 tỷ lần.

Sau neutron RX J1856.5-3754.

Sau neutron RX J1856.5-3754.

Chưa hết, sao neutron cũng sở hữu một trong những từ trường mạnh nhất Vũ trụ. Các nhà thiên văn học dự đoán rằng sao neutron có từ trường mạnh nhất sẽ lớn hơn Trái Đất hoảng 100 nghìn tỷ lần.

Những từ trường ấy mạnh đến mức nực cười, và chúng có thể tự gây ảnh hưởng tới những vùng không gian trống xung quanh một ngôi sao neutron.

Trong vật lý cơ bản ta học được từ Newton và Einstein, khoảng không vũ trụ hoàn toàn trống rỗng, nhưng thuyết cơ học lượng tử lại không cho rằng như vậy.

Theo như động lực điện lượng tử QED – một lý thuyết lượng tử lý giải cách thức ánh sáng và vật chất tiếp xúc với nhau – dự đoán, thì vũ trụ có đầy những hạt ảo liên tục tồn tại và biến mất, gây ảnh hưởng tới hoạt động của các hạt ánh sáng photon khi các hạt photon này di chuyển xuyên qua vũ trụ.

Những hạt ảo này không giống như những hạt vật lý thông thường (như các electron, photon) mà ta vẫn biết. Chúng là những điểm bất thường trong lĩnh vực vật lý lượng tử nhưng vẫn có tính chất giống các hạt thường. Điểm khác biệt lớn nhất của các hạt ảo này là chúng không thực sự tồn tại, chúng có thể xuất hiện và biến mất ở bất kì thời điểm nào trong thời gian và không gian.

91cd8c6aed532808-1480589937025.jpg
 

Trong không gian vũ trụ thông thường, các photon sẽ không bị ảnh hưởng bởi những hạt ảo này, chúng sẽ di chuyển mà không gặp trở ngại gì. Nhưng trong khoảng không vũ trụ bị ảnh hưởng bởi từ trường cực mạnh từ sao neutron kia, những hạt ảo kia sẽ bị kích thích và chúng gây ảnh hưởng rất lớn tới những photon ánh sáng đi qua đó.

Theo như động lực điện lượng tử, khoảng không bị ảnh hưởng bởi từ trường có hoạt động như một lăng kính với ánh sáng truyền tới, chính hiện tượng đó được gọi là lưỡng chiết chân không”, Mignani giải thích trong một buổi họp báo công bố hiện tượng này.

Hiệu ứng này chỉ có thể được quan sát trong một từ trường cực kì mạnh, ví dụ như là một từ trường bao quan các sao neutron”, thành viên nhóm nghiên cứu, giáo sư Roberto Turolla từ Đại học Padua, Ý bổ sung.

Những nhà nghiên cứu đã sử dụng kính viễn vọng mặt đất tiên tiến nhất thế giới, Kính viễn vọng Cực lớn VLT của Đài quan sát Nam Châu Âu để quan sát sau neutron nêu trên. Ở đó, họ đã phát hiện ra hiện tượng phân cực của ánh sáng trong khoảng không vũ trụ xung quanh ngôi sao neutron.

Điều này rất kì lạ, bởi lẽ thuyết tương đối cho rằng ánh sáng sẽ được phép di chuyển tự do xuyên qua khoảng không mà không bị ảnh hưởng gì”, một trong số các nhà nghiên cứu nói.

Hiện tượng phân cực này (con số góc bẻ chính xác là 16 độ) là lời lý giải duy nhất cho các thuyết về động lực điện lượng tử và sự ảnh hưởng của các hạt ảo”.

Ánh sáng đi ra từ bề mặt sao neutron (bên trái) trở nên phân cực khi đi qua khoảng không vũ trụ và cuối cùng tới được mắt chúng ta (bên phải).

Ánh sáng đi ra từ bề mặt sao neutron (bên trái) trở nên phân cực khi đi qua khoảng không vũ trụ và cuối cùng tới được mắt chúng ta (bên phải).

Bước tiếp theo của nghiên cứu này là quan sát và phân tích rõ xem, đây có thực sự là sự kiện lưỡng chiết chân không xảy ra với quy mô của cả một ngôi sao hay không. Nếu đúng như vậy, ta sẽ có cả một hiện tượng lạ mới để nghiên cứu trong lĩnh vực cơ học lượng tử.

Bạn có thể đọc về nghiên cứu trên tại đây.

Nguồn: Báo Thời Đại

Share this post


Link to post
Share on other sites
On 9/27/2016 at 02:12, Thiên Sứ said:

 

Hồi hộp chờ NASA công bố về sự sống ngoài địa cầu

26/09/2016 14:28 GMT+7
 

TTO - Lúc 1g sáng ngày 27-9, Cơ quan Hàng không và không gian (NASA) của Mỹ dự kiến sẽ thông báo những thông tin đáng ngạc nhiên về sự sống ngoài địa cầu của chúng ta.

 

nasa-europe-illust-1474873414.jpg

Hình ảnh minh họa về thiết bị không gian của con người sẽ tiếp cận và nghiên cứu "mặt trăng" Europa trong tương lai - Ảnh: NASA

 

Thực sự là từ năm ngày qua, những người yêu khoa học và yêu thích tìm tòi về sự sống đã hồi hộp khi cơ quan NASA thẩy lên Twitter vài dòng ngắn gọn nhưng cực kỳ quan trọng: vào lúc 14g chiều 26-9, tức 1g sáng 27-9 (giờ VN), cơ quan nghiên cứu không gian uy tín này sẽ thông báo về một phát hiện quan trọng trên một trong những vệ tinh của Sao Mộc (Jupiter) là “Mặt trăng” Europa.

Để tránh các suy đoán, “chém gió”, cơ quan NASA cũng đã nói rõ rằng không có chuyện phát hiện người ngoài hành tinh hay gì cả!

 

nasa-report-1474874135.jpg

Thông báo của NASA trên mạng xã hội về việc sẽ công bố phát hiện trên Europa - Ảnh chụp màn hình

 

Lần gần nhất mà cơ quan NASA có kiểu thông báo khiến người ta trông chờ như lần này là lần thông báo về sự hiện diện của nước trên sao Hỏa.

Lần này, cảnh báo của NASA cũng không thể ngăn người ta đưa ra những giả thuyết khác nhau về những điều sắp được công bố và đương nhiên cũng không thể tránh được giả thuyết về những người ngoài hành tinh mắt tròn to, tai dài như con người vẫn thường tưởng tượng và thể hiện trên phim ảnh hay tranh vẽ.

Các chuyên gia về lĩnh vực thì phỏng đoán nghiêm túc rằng có thể thông báo của NASA sẽ liên quan đến việc phát hiện một đại dương lỏng bên dưới lớp vỏ băng dày 15 - 20 km đang bao phủ bề mặt hành tinh Europa. 

Trước đây, NASA đã phát hiện thấy các dấu vết của nước trên bề mặt của Europa - vốn được xem là "mặt trăng" của sao Mộc. Vì khả năng có chứa nước mà các nhà khoa học tin rằng trên hành tinh này sẽ có sự sống. 

Thực ra vào hồi tháng 5 vừa qua, một số thành viên của NASA cũng đã nóng lòng nên tiết lộ thông tin về sự hiện hữu của một đại dương thể lỏng trên Europa.

Đại dương ở thể lỏng dưới bề mặt băng của Europa là kết quả của quá trình tích nhiệt do thủy triều. Lực thủy triều làm cho phần bên trong của Europa ấm dần, cho phép đại dương nước lỏng tồn tại thay vì đông cứng.

NASA đang lên kế hoạch cho sứ mệnh thăm dò tới Europa vào khoảng năm 2020, với hi vọng xem xét thành phần cấu tạo đại dương, độ dày của lớp vỏ băng và địa chất học ở bề mặt vệ tinh.

Cho đến nay, những thông tin có được về Europa chủ yếu từ thông tin thu thập về của viễn vọng kính Hubble đang bay trên không gian

"Theo hiểu biết của chúng tôi, đại dương của Europa không phải là môi trường khắc nghiệt", ông Kevin Peter Hand nhận xét. Ông là nhà sinh học thiên văn kiêm phó trưởng nhóm phụ trách chương trình thám hiểm hệ Mặt Trời tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực (JPL) của NASA.

Đầu năm nay, nhóm nghiên cứu ở JPL công bố nghiên cứu cho thấy đại dương của Europa có thể giống Trái Đất về sự cân bằng năng lượng hóa học, cụ thể là tỷ lệ oxy và hydro, điều kiện hỗ trợ sự sống phát triển.

"Europa rất đặc biệt bởi khả năng có một lượng oxy dồi dào trong đại dương. Chúng tôi dự đoán lượng khí oxy cùng với hydro lớn và duy trì liên tục của Europa có thể cân bằng theo cách thức độc đáo trên những thiên thể băng đá thuộc hệ Mặt Trời. Vì lý do này, Europa có thể là nơi thuận lợi cho sự sống khởi nguồn và tiến hóa", nhóm tác giả nghiên cứu chia sẻ.

Hiện nay cũng đang có tàu dò Juno tập trung quan sát sao Mộc, nhưng sẽ có một tàu dò khác dành riêng cho Europa sẽ phóng lên không gian vào năm 2020.

Cơ quan không gian của châu Âu (ESA) cũng có kế hoạch đưa tàu dò mang tên Juice lên không gian vào năm 2022 để khám phá các hành tinh Ganymède, Europe và Callisto, là ba trong số bốn vệ tinh của sao Mộc.

Cần nhớ hồi tháng 3-2015, cơ quan NASA từng thông báo về sự hiện diện của vết nước trên bề mặt của vệ tinh Ganymède.

Các "mặt trăng" của sao Mộc được cho là có kích cỡ tương đương hành tinh của chúng ta. Theo dự đoán của cơ quan ESA, các hành tinh đó "có thể chứa những vùng có sự sống bên dưới lớp vỏ băng của chúng".

Nhưng hãy khoan nghĩ xa xôi hơn những phát hiện đã có như hiện nay, ví dụ về khả năng chuyển lên sống ở Europa. Hiện nhiệt độ ở bề mặt này đang là thử thách với con người: -150 độ C.

Sao Mộc là hành tinh thứ năm tính từ Mặt Trời và là hành tinh lớn nhất trong Hệ Mặt Trời. Nó là hành tinh khí khổng lồ với khối lượng bằng một phần ngàn của Mặt Trời nhưng bằng hai lần rưỡi tổng khối lượng của tất cả các hành tinh khác trong Hệ Mặt Trời cộng lại. 

Khoảng cách trung bình giữa Sao Mộc và Mặt Trời là 778 triệu km (bằng 5,2 lần khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời, hoặc 5,2 AU) và nó hoàn thành một vòng quỹ đạo bằng 11,86 năm Trái Đất.

Bầu khí quyển có Sao Mộc khá giống với bầu khí quyển của Mặt Trời, được cấu tạo chủ yếu bởi Hidro và Heli. Và với 4 vệ tinh lớn cùng rất nhiều vệ tinh nhỏ quay xung quanh, Sao Mộc đã tự "xây dựng" nên một Hệ Mặt Trời thu nhỏ. Với kích thước to lớn của Sao Mộc, nó có thể chứa hơn 1.300 Trái Đất.

 

TÚ ANH

========================

Bây giờ là 2g ngày 27/ 9 2016 giờ Việt Nam. Hay nói đúng hơn là còn 23 g đồng hồ nữa NASA sẽ công bố một tin mà rất nhiều người hy vọng về sự sống ngoài trái Đất. Lão Gàn một lần nữa phát biểu trước giờ G: Chẳng bao giờ có một cái vẩy của một tế bào sống nào trong vũ trụ. Hãy yêu lấy cuộc sống ngay trên trái Đất này.

Thưa quý vị và anh chị em.

Bây giờ là ngày mùng 7/ 12. Tức là đã ba tháng sau khi Thiên Sứ tôi chờ đợi NASA công bố sự sống ngoài Địa Cầu - mà tôi luôn khẳng định là không có - cũng chưa thấy một tin tức nào của NASA tuyên bố v/v này. Bây giờ chúng ta lại phải chờ 5 năm nữa về kết quả mà NASA nói về một khả năng tồn tại sự sống ngoài Địa cầu, qua bài dưới đây:

==========================

NASA phát hiện hành tinh “siêu Trái đất” với những điều kiện hoàn hảo cho sự sống

Thứ tư, 07/12/2016 - 09:27

Dân trí Một hành tinh đá khổng lồ cách Trái đất chưa tới 150 triệu năm ánh sáng có thể là một trong những nơi có khả năng tồn tại sự sống ngoài Trất đất nhất. Hành tinh K2 – 3d lớn hơn Trái đất 1,6 lần có khí hậu ấm ám và những điều kiện tiềm năng để có nước ở dạng lỏng.

Hành tinh K2 – 3d giống Trái đất có thể có điều kiện môi trường thích hợp để nước tồn tại ở dạng lỏng
Hành tinh K2 – 3d giống Trái đất có thể có điều kiện môi trường thích hợp để nước tồn tại ở dạng lỏng
NASA dự kiến sẽ dùng kính thiên văn Hubble khổng lồ để nghiên cứu hành tinh này trong 5 năm tới
NASA dự kiến sẽ dùng kính thiên văn Hubble khổng lồ để nghiên cứu hành tinh này trong 5 năm tới

Kể từ khi được phát hiện bởi kính viễn vọng không gian Kepler của NASA khi băng qua ngôi sao chủ, K2 – 3d đã trở thành niềm hứng thú mới trong giới thiên văn nhờ tiềm năng của mình. Bởi vì hành tinh này rất giống Trái đất hiện nay, một số nhà khoa học tin rằng Siêu Trái Đất K2 – 3d vẫn đang tồn tại sự sống.

Mới đây, cơ quan vũ trụ cho biết sẽ sử dụng kính thiên văn khổng lồ Hubble để nghiên cứu hành tinh này trong vòng 5 năm tới.

Họ hy vọng các quan sát sẽ tiết lộ dấu hiệu cần thiết cho sự sống, như phân tử của nước, khí mê-tan hoặc amoniac trong bầu khí quyển của hành tinh này.

K2 – 3d là một hành tinh nằm ngoài hệ mặt trời, quay xung quanh ngôi sao chủ có kích thước khoảng ½ kích thước mặt trời, một chu kỳ quay này dài 45 ngày.

Hành tinh này có nhiệt độ thấp do có quỹ đạo rất gần với ngôi sao chủ (bằng 1/5 khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt trời) - điều này cũng có nghĩa khả năng tồn tại sự sống trên hành tinh này là rất lớn.

Lần nhật thực toàn phần sắp tới vào năm 2018 của ngôi sao lùn đỏ này sẽ tiết lộ liệu K2 – 3d có đang ẩn chứa dạng sống ngoài Trái Đất nào hay không.

Bjorn Benneke từ Viện Công nghệ California cho biết “Nếu chúng tôi tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào, thì chúng tôi sẽ quan sát nó cẩn thận bằng kính thiên văn James Webb” (James Webb là kính thiên văn mới của NASA sẽ được ra mắt trong năm 2018).

Ông cũng dự đoán rằng hành tinh này có thể có bầu khí quyển đầy hy-đro hoặc được bao phủ bởi những đám mây.

Một nhóm các nhà khoa học Nhật Bản ở Đài thiên văn Okayama đã tính toán sự quá cảnh của hành tinh này chính xác gấp 30 lần so với trước đây.

Các nhà nghiên cứu cho biết “phát hiện của chúng tôi đã cải thiện đáng kể độ chính xác của các dự đoán về quá cảnh của hành tinh trong tương lai. Sự cải thiện này đảm bảo rằng khi các thế hệ tiếp theo của các kính thiên văn lớn được trực tuyến, họ sẽ biết chính xác khi nào có thể quan sát các quá cảnh của hành tinh”

Anh Thư (Tổng hợp)

==========================

THƯ NGỎ GỬI NGÀI TRUMP

Kính thưa ngài.

Tôi là người ủng hộ ngài vào trước ngày bầu cử tại Hoa Kỳ đúng một ngày + 12g. Có lẽ tôi đúng vì ngài tỏ ra tiết kiệm để giảm chi phí vô bổ của nước Mỹ. Như việc ngài không lĩnh lương, không làm chiếc Không lực 1....Nhưng nước Mỹ sẽ thật sự tiết kiệm, nếu bỏ ngay cái chương trình đi tìm sự sống ngoài trái Đất và những vấn đề liên quan đến nó. Để có cơ sở bỏ chương trình này, ngài chỉ cần chi 10 triệu Dollar, để mời tôi sang thuyết phục và chứng minh với Viện Hàn Lâm khoa học Hoa Kỳ và các tri thức tinh hoa của Nasa rằng: Không bao giờ có sự sống ngoài trái Đất. Nếu tôi không thuyết phục được, tôi sẽ tự trả chi phí ăn ở và vé tàu bay sang Hoa Kỳ, tất nhiên cũng không lấy 10 triệu Dollar của Hoa Kỳ. Và Hoa Kỳ chỉ chịu chi phí tổ chức các cuộc họp của các khoa học gia với tôi. Nhưng nếu tôi đúng thì 10 triệu Dollar đó rẻ hơn nhiều so với kinh phí mà nước Mỹ bỏ ra đi tìm sự sống ngoài Địa cầu.

Cũng như trước đây - từ 2008 - tôi đã xác định lý thuyết Higg sai. Nếu được quan tâm thì thế giới này không tốn 100 tỷ Dollar.

Tôi viết lên đây có lẽ cũng chẳng được sự quan tâm của ngài. Nhưng nếu ngài quan t6am thì cũng tốt thôi. Cảm ơn ngài trước, nếu được sự quan tâm.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bí ẩn lớn về phản vật chất sắp được lý giải

Thứ sáu, 23/12/2016 | 00:00 GMT+7

Lần đầu tiên sau hai thập kỷ các nhà vật lý tại CERN đo được ánh sáng phát ra bởi một nguyên tử phản vật chất, chứng minh phản hạt của hydro chính là hình ảnh phản chiếu của hydro thông thường.

bi-n-lon-ve-phan-vat-chat-sap-duoc-ly-giai

Nguyên tử hydro và phản nguyên tử hydro. Ảnh: The Register.

Các nhà khoa học cuối cùng có thể xác nhận những dự đoán từ các định luật vật lý về phản vật chất, theo Science Alert. Kết quả này mở ra phương pháp mới để kiểm tra lý thuyết đặc biệt của nhà vật lý Albert Einstein về thuyết tương đối, giúp lý giải một trong những bí ẩn lớn nhất của vật lý hiện đại: "Tại sao trong vũ trụ lại có nhiều vật chất thông thường hơn so với phản vật chất?"

"Đây là một thời điểm lịch sử trong những thập kỷ dài nỗ lực để tạo ra phản vật chất và so sánh các thuộc tính của nó với những vật chất thông thường", nhà vật lý lý thuyết Alan Kostelecky tại Đại học Indiana đánh giá.

Các định luật vật lý dự đoán rằng cứ mỗi hạt của vật chất thông thường sẽ có một phản hạt tương ứng. Vì vậy, đối với mỗi electron điện tích âm sẽ có một positron mang điện tích dương. Điều đó có nghĩa với mỗi nguyên tử hydro thông thường được tạo thành bởi một electron liên kết với một proton, sẽ có một nguyên tử hydro được tạo thành từ một phản electron (hoặc positron) liên kết với một phản proton.

Nếu một phản hạt tìm thấy một hạt của chính nó, chúng sẽ triệt tiêu lẫn nhau, giải phóng năng lượng dưới dạng ánh sáng.

Thực tế là có quá nhiều vật chất thông thường trong vũ trụ trong khi khó có thể tìm thấy phản hạt trong tự nhiên. Điều này có thể giải thích bởi các phản hạt sẽ bị triệt tiêu bởi các hạt của chính nó ngay trước khi chúng ta kịp quan sát. Tuy nhiên, vấn đề khiến các nhà khoa học bối rối là số lượng các hạt vật chất nhiều hơn phản vật chất trong khi các mô hình vật lý hiện đại do Einstein đưa ra trong thuyết tương đối dự đoán số lượng hạt và phản hạt cân bằng sinh ra từ vụ nổ Big Bang.

"Điều gì đó đã xảy ra, dẫn tới sự phân bố mất cân bằng hiện tại, và chúng ta đơn giản không có cách giải thích ngay bây giờ", Jeffrey Hangst, một thành viên nhóm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm ALPHA cho biết.

Theo kết quả mới được công bố trên tạp chí Nature ngày 29/11, lần đầu tiên các nhà khoa học có thể đo phổ ánh sáng phát ra bởi một phản nguyên tử hydro khi bị kích thích bởi laser, và so sánh với phổ ánh sáng phát ra bởi một nguyên tử hydro thông thường.

Là nguyên tử phổ biến nhất trong vũ trụ, hydro luôn triệt tiêu mọi phản nguyên tử của chính nó ngay lập tức và khó có thể tìm thấy phản nguyên tử hydro trong tự nhiên. Do đó, các nhà khoa học cần phải tạo ra các phản nguyên tử hydro trong phòng thí nghiệm.

Trong 20 năm qua, nhóm nghiên cứu ALPHA thuộc Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) đã tìm cách tạo ra các phản nguyên tử hydrogen để nghiên cứu và phát triển kỹ thuật cho phép tạo ra khoảng 25.000 phản nguyên tử hydro mỗi 15 phút, và bẫy được khoảng 14 trong số 25.000 phản nguyên tử để nghiên cứu. Đây là một bước đột phá lớn khi trước đây họ chỉ có thể bẫy từ 1 đến 2 nguyên tử hydro mỗi 15 phút.

Những phản nguyên tử này sau đó sẽ được kích thích bởi ánh sáng laser để buộc positron "nhảy" từ mức năng lượng thấp lên một mức năng lượng cao hơn. Sau một thời gian ngắn, các positron trở lại mức năng lượng thấp hơn, phần năng lượng dư thừa sẽ chuyển thành ánh sáng bức xạ ra ngoài.

Khi đo ánh sáng bức xạ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các phản nguyên tử hydro phát ra chính xác cùng một quang phổ ánh sáng như các nguyên tử hydro thông thường. Kết quả này phù hợp với mô hình chuẩn của vật lý hạt, dự đoán rằng hydro và phản hydro sẽ có quang phổ giống hệt nhau.

Nếu tất cả các quang phổ của các laser khác nhau cho nguyên tử và phản nguyên tử hydro đều kết thúc giống nhau, nhóm nghiên cứu có thể chứng minh thuyết tương đối đặc biệt của Einstein vẫn đúng.

Thanh Tùng

Nguồn: Báo Vnexpres

 

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHÍNH THỨC: Chúng ta đã có một trạng thái vật chất mới: tinh thể thời gian

10/03/2017 09:16

Việc phải làm bây giờ là tạo ra chúng, và áp dụng chúng vào máy tính lượng tử.

Lại một lần nữa, cảnh báo bài viết mang tính chất khó hiểu. Các bạn suy nghĩ trước khi tiếp tục đọc.

Đầu năm nay, các nhà vật lý học đã vẽ ra một bản hướng dẫn cách thức để tạo ra và đo đạc được “tinh thể thời gian” – time crystal, một trạng thái kì lạ của vật chất với cấu trúc nguyên tử không chỉ lặp lại trong không gian mà còn cả trong thời gian, cho phép chúng duy trì trạng thái dao động bất biến mà không cần tới năng lượng.

Tháng Giêng năm nay, hai đội ngũ nghiên cứu cũng đã tạo ra một loại vật chất trông rất giống tinh thể thời gian, cả hai thử nghiệm cũng đã được xét duyệt cẩn thận, khiến cho sự “bất khả thi” đang dần hiện hữu rõ ràng trong thế giới thực hơn bao giờ hết.

spacetime-crystals-1024-1489058643519.jp
 

Chúng tôi đã đưa ý tưởng trên giả thuyết, những ý tưởng mà chúng tôi đã nghiên cứu vài năm trở lại đây và thực sự dựng nên một thứ như thế trong phòng thí nghiệm”, nhà nghiên cứu Andrew Potter từ Đại học Texas cho hay. “Mong rằng, với nguyên mẫu đầu tiên này, sẽ còn nhiều thử nghiệm thành công khác được tiến hành”.

Tinh thể thời gian là một trong những thứ “ngầu” nhất mà ngành vật lý hiện đại mang tới cho chúng ta, bởi chúng mở ra cả một thế giới mới của một giai đoạn vật chất có tên không-cân bằng – non-equilibrium, một giai đoạn khác biệt hoàn toàn với bất kì thứ gì các nhà khoa học đã nghiên cứu trong quá khứ. Đã nhiều thập kỷ nay, chúng ta đã nghiên cứu các vật chất như kim loại hay các chất cách điện – những thứ được phân loại là “cân bằng”, trạng thái vật chất mà toàn bộ nguyên tử trong chúng đều có một lượng nhiệt nhất định.

Nhưng tinh thể kim cương là nguyên mẫu đầu tiên của một thứ “không cân bằng” – một trạng thái hoàn toàn khác và bản thân chúng có thể cách mạng hóa cách thức chúng ta lưu trữ và luân chuyển thông tin qua các hệ thống lượng tử. “Nó chỉ cho chúng ta thấy rằng trạng thái của vật chất vẫn còn đa dạng hơn chúng ta biết nhiều lắm”, nhà vật lý học Norman Yao từ Đại học California bày tỏ.

Một trong những chuẩn mực của vật lý là phải hiểu được những loại vật chất gì tồn tại trong tự nhiên. Trạng thái không-cân bằng này đại diện cho một lĩnh vực hoàn toàn mới, khác biệt hoàn toàn với những gì chúng ta đã nghiên cứu trong quá khứ”.

Thứ tinh thể thời gian này lần đầu tiên được đưa ra ánh sáng bởi nhà vật lý học lý thuyết, người đã từng giành giải Nobel năm 2012, ông Frank Wilczek. Ông nói rằng trên lý thuyết, một cấu trúc vật chất (như của tinh thể thời gian) sẽ có vận động ngay cả ở trạng thái năng lượng thấp nhất của chúng – trạng thái cơ bản.

frank-wilczek-stockholm-2004-14890587968
 

Thông thường, khi một vật chất ở trạng thái cơ bản thì trên lý thuyết, chúng sẽ không thể vận động được, bởi lẽ vận động cần năng lượng – một thứ không tồn tại ở trạng thái cơ bản. Nhưng Wilczek đoán trước rằng một vật có thể vận động mặc dù chúng đang trong trạng thái cơ bản, bằng cách liên tục sắp xếp thẳng hàng những nguyên tử bên trong chúng liên tục, làm đi làm lại – tức là đưa chúng ra khỏi trạng thái cơ bản rồi lại quay lại, tạo thành một vòng lặp liên hồi.

Đây không phải là thành tố tạo nên động cơ vĩnh cửu – một thứ máy vận hành không bao giờ dừng, bởi lẽ năng lượng không tồn tại bên trong hệ thống này. Nhưng vẫn còn một lý do nữa khiến cho giả thuyết này nghe có vẻ ... bất khả thi.

Nó nói tới một hệ thống bẻ gãy một trong những giả định nổi tiếng nhất, cơ bản nhất của vật lý hiện đại (giả định nhưng vẫn mang tính chất cơ bản), rằng tính đối xứng thời gian - thứ đề ra các quy luật vật lý, đều như nhau ở mọi nơi, mọi lúc. Tính đối xứng thời gian tịnh tiến chính là lý do tại sao ta không thể làm được việc sau đây: lần đầu tiên tung một đồng xu, tỉ lệ sẽ là 50/50 nhưng lần thứ hai tung đồng xu đó lên, ta lại có tỉ lệ 70/30.

Thế mà có những vật thể có thể bẽ gãy tính đối xứng ấy khi chúng đang ở trạng thái cơ bản, điểm quan trọng là chúng không bẻ gãy một định luật vật lý nào. Ví dụ như nam châm với một cực Bắc và một cực Nam (cực dương và cực âm). Ta không rõ làm cách nào mà nam châm lại “tự quyết định” đầu nào thuộc cực nào, nhưng việc nó có cả hai cực đồng nghĩa vừa việc nó sẽ không còn như cũ trong một không gian khác - nó sẽ không đối xứng.

Một ví dụ khác về việc không đối xứng là một tinh thể, với mẫu cấu trúc lặp lại của chúng. Nhưng dù lặp lại liên tục, những nguyên tử bên trong lại “có mong muốn” nằm bên trong lớp lưới tinh thể kia hơn. Vì vậy, nếu bạn quan sát một tinh thể trong môi trường Vũ trụ, nó sẽ có hình dạng khác – các định luật vật lý sẽ không còn đối xứng nữa, bởi nó không áp dụng giống nhau trong các không gian khác nhau.

102516-ec-crystal-free-1489058677714.jpg
 

Với những ý niệm về sự khác nhau của vật chất trong những không gian khác nhau như vậy, Wilczek đã đề cập tới việc tạo ra một vật thể có thể tạo ra trạng thái cơ bản không đối xứng không chỉ khác nhau trong không gian (như nam châm hay các tinh thể) mà còn trong cả thời gian nữa.

Hiểu một cách khác, liệu các nguyên tử có “muốn” tồn tại trong các trạng thái khác tại những khoảng thời gian khác nhau? Tua nhanh thời gian đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu Mỹ và Nhật bản đã chứng minh được rằng việc này hoàn toàn khả thi, với một chỉnh sửa nhỏ trong đề cập của Wilczek – để có thể khiến tinh thể chuyển trạng thái liên tục, thỉnh thoảng chúng cần phải được “huých” nhẹ một cái.

Trong nghiên cứu hồi tháng Giêng, Norman Yao mô tả cách thức một hệ thống như vậy được tạo nên, nói rằng nó là một phiên bản “yếu hơn” của việc làm mất cân đối, so với những gì Wilczek đã tưởng tượng ra.

Cứ như ta đang chơi nhảy dây vậy, khi tay ta quay hai lần mà dây cũng chỉ quay có một lần mà thôi”, Yao nói, và bổ sung thêm rằng trong phiên bản thử nghiệm của Wilczek, sợi dây nhảy sẽ có thể có khả năng tự dao động. “Nó bớt dị thường hơn ý tưởng ban đầu (của Wilczek kia), nhưng vẫn phải công nhận là nó rất dị”.

Hai đội ngũ các nhà nghiên cứu riêng biệt, một của Đại học Maryland và một của Đại học Harvard, đã tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm bản thiết kế của Wilczek, tạo ra hai phiên bản tinh thể thời gian khác nhau như đều có tính chất giống nhau.

Cả hai hệ thống đều rất tuyệt. Chúng đều có một khía cạnh nào đó rất khác nhau. Tôi nghĩ rằng cả hai đều cực kì đáng khen ngợi”, Yao nói. “Tôi không nghĩ cái nào tốt hơn các nào. Chúng đều thể hiện hai khía cạnh khác nhau của vật lý. Điều thực sự đáng kinh ngạc là bạn có thể nhìn thấy cùng một hiện tượng lạ trong hai hệ thống khác nhau rất nhiều".

Đội ngũ nghiên cứu tại Đại học Maryland đã tạo ra tinh thể thời gian của họ bằng cách sắp xếp một dãy 10 ion nguyên tố Ytebi (yttebium), tất cả đều được làm rối với các vòng xoay electron.

Chuỗi ion của Đại học Maryland.

Chuỗi ion của Đại học Maryland.

Điểm mấu chốt của việc biến hệ thống kia thành một tinh thể thời gian là giữ cho các ion nằm ngoài trạng thái cân bằng, và để làm được việc đó, các nahf nghiên cứu đã bắn hai tia laser vào chúng. Một tia tạo ra từ trường và tia thứ hay vặn ngược vòng quay của nguyên tử lại.

Bởi sự xoay của các nguyên tử đều được làm rối với nhau, các nguyên tử đều được sắp xếp thành một khuôn mẫu ổn định, mang tính lặp và chính điều đó đã định nghĩa được tính chất của một tinh thể. Tuy nhiên, để có thể biến thành tinh thể thời gian, nó đã phải thực hiện một điều rất kì lạ: tốc độ xoay và lật khuôn mẫu của hệ thống này chỉ nhanh bằng một nửa mạch laser.

Liệu việc bạn lắc một viên thạch rồi phát hiện ra rằng nó phản hồi việc rung lắc trong một khoảng thời gian khác không?”, Yao giải thích.

Còn tinh thể thời gian của Đại học Harvard lại được tạo ra bằng một cách khác: họ sử dụng những tinh thể kim cương đã được đổ đầy tạp chất nitro. Và kết quả thí nghiệm cho họ những tinh thể thời gian màu đen.

Tinh thể kim cương đen của Harvard.

Tinh thể kim cương đen của Harvard.

Sự xoay của những tạp chất này có thể được lật đi lật lại như sự xoay của các ion Ytebi trong thử nghiệm của Đại học Maryland.

Đây đúng là một thời điểm thú vị với toàn giới vật lý: cuối cùng thì trạng thái tinh thể thời gian đã được chính thức công nhận, bởi cả hai thử nghiệm trên đã qua giai đoạn kiểm duyệt. Lúc này, khi mà ta đã biết được rằng những trạng thái này thực sự tồn tại, ta sẽ có thể bắt tay vào việc chế tạo và ứng dụng nó trong thực tiễn.

Một trong những ứng dụng đầu tiên của tinh thể thời gian mà ta nghĩ được ngay tới đó là công nghệ máy tính lượng tử. Nó sẽ cho phép các nhà vật lý học tạo ra một hệ thống lượng tử ổn định với một nhiệt độ cao hơn hẳn trước đây. Có lẽ, đây chính là bước đà ta cần để máy tính lượng tử bước ra công chúng với tư cách “một kẻ được xã hội chào đón mọi nơi, mọi chỗ”.

Tham khảo: Science Alert/Motherboard/wiki

Nguồn Tri Thức Trẻ

Share this post


Link to post
Share on other sites

Vật Lý Lượng Tử Nói Gì Về Bản Chất Của Thực Tại?

quantum.jpg?w=640&h=480

Một giáo sư vật lý tại Đại học Oregon[1] và là thành viên của Viện Khoa Học Lý Thuyết, Tiến sĩ Amit Goswami là thành phần quan trọng trong một nhóm các nhà khoa học táo bạo, những năm gần đây đã mạo hiểm tiến vào lĩnh vực tâm linh với nỗ lực vừa để giải thích những phát hiện dường như không thể giải thích những kết quả thí nghiệm của họ và để chứng minh trực giác của họ về sự tồn tại của một chiều tâm linh của sự sống. Đỉnh cao trong những công trình riêng của Goswami là cuốn sách của ông, The Self-Aware Universe: How Consciousness Creates the Material World (Vũ Trụ Tự Thức: Làm Thế Nào Ý Thức Tạo Ra Thế Giới Vật Chất). Bắt nguồn từ những diễn giải về các dữ liệu thực nghiệm trong vật lý lượng tử (vật lý của các hạt cơ bản), cuốn sách thêu dệt lại với nhau vô số các phát hiện và giả thuyết trong các lĩnh vực từ trí tuệ nhân tạo đến thiên văn học đến truyền thống đạo Hindu huyền bí, trong một nỗ lực để chứng minh rằng những khám phá của khoa học hiện đại phù hợp hoàn hảo với các chân lý huyền nhiệm sâu xa nhất.

[1 ]Là một trong 60 thành viên của Hiệp hội các Viện Đại học Mỹ. Quỹ Carnegie Vì Sự Phát Triển Giảng Dạy đánh giá đại học này là một viện đại học “phát triển cao về nghiên cứu”. Trong năm 2008, Viện Đại học Oregon được lên danh sách là một viện đại học bậc nhất bởi đánh giá hằng năm về các trường và viện đại học của chương trình Tin tức mới của Hoa Kỳ và Thế giới) [Bách khoa toàn thư mở]

Goswami cùng với một số người khác có cùng quan điểm tương tự chắn chắn rằng vũ trụ, để có thể tồn tại, đòi hỏi phải có một sinh linh có ý thức để nhận thức được nó. Nếu không có người quan sát, ông tuyên bố, nó chỉ tồn tại như một khả năng. Và theo cách nói trong cộng đồng khoa học, Goswami đã giải được bài toán của ông. Sắp xếp các chứng cứ từ những nghiên cứu gần đây trong tâm lý học nhận thức, sinh học, tâm lý học siêu hình,  và vật lý lượng tử, và nương tựa nhiều vào các truyền thống huyền học của thế giới cổ đại, Goswami đang xây dựng một mô hình mới mà ông gọi là “chủ nghĩa duy ý nhất nguyên” (monistic idealism) với quan niệm rằng ý thức, không phải vật chất, là nền tảng của mọi sự.

Vật lý lượng tử, cũng như một số ngành khoa học học hiện đại khác, ông cảm thấy, đang tỏ bày rằng sự thống nhất cần thiết về một tổng thể thực tại là một sự kiện có thể được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Bởi vì những ngụ ý lớn lao ông nhìn thấy được trong các xác nhận khoa học về tâm linh, Goswami đã hăng hái tận tình giải thích lý thuyết của ông đến càng nhiều người càng tốt để giúp mang lại những gì ông cảm thấy như một sự thay đổi khuôn mẫu bức thiết. Ông cảm thấy rằng bởi vì khoa học đã có khả năng xác nhận những điều huyền bí và một bước nhảy đức tin đã có thể được chứng minh, và do đó, mô hình duy vật đã thống trị tư tưởng khoa học và triết học trong hơn 200 năm cuối cùng đã có thể được đưa ra để chất vấn.

Vào thời điểm khi mà sự tan rã của các giá trị con người và sự xói mòn của những ý nghĩa đạo đức luân lý đã lan truyền đến mức đại dịch, thật khó để hình dung điều gì có thể quan trọng hơn điều này.

WIE:  Trong cuốn sách Vũ Trụ Tự Thức, ông nói về sự khẩn thiết trong việc thay đổi mô hình nhận thức hiện tại. Ông có thể nói rõ hơn cách ông quan niệm về sự thay đổi đó? Từ những gì đến những gì?

Amit Goswami: Thế giới quan của khoa học ngày nay cho rằng tất cả mọi thứ được tạo ra từ vật chất, và tất cả mọi thứ có thể được tối giảm thành các hạt cơ bản của vật chất, thành phần cơ bản, khối tạo dựng, của vật chất. Và nguyên nhân phát sinh từ sự tương tác của các khối tạo dựng cơ bản đó, hạt cơ bản tạo ra nguyên tử, nguyên tử tạo ra phân tử, phân tử tạo ra tế bào, và tế bào tạo ra não bộ. Tuy nhiên, tận cùng thì nguyên nhân cơ bản luôn luôn là sự tương tác giữa các hạt cơ bản. Đây là niềm tin cho rằng tất cả các nguyên nhân bắt nguồn từ các hạt cơ bản. Đây là những gì chúng ta gọi là “nhân quả hướng lên”. Vì vậy, trong quan điểm này, những gì mà chúng ta nghĩ là ý chí tự do không thực sự tồn tại. Nó chỉ là một hiện tượng phụ, thứ cấp, đứng sau sức mạnh nhân quả vật chất. Và bất cứ ý định nào liên quan đến kiểm soát vật chất bằng ý thức chỉ là một ảo tưởng. Đây là mô hình nhận thức hiện tại.

Bây giờ, quan điểm ngược lại là tất cả mọi thứ bắt đầu bằng ý thức. Nó nói, ý thức là nền tảng của thực tại. Theo quan điểm này, ý thức đặt ra một loại “nhân quả hướng xuống.” Nói cách khác, ý chí tự do của chúng ta là có thật. Khi chúng ta tác động lên thế giới, chúng ta thực sự đang hành động với sức mạnh quan hệ nhân quả. Quan điểm này không phủ nhận rằng vật chất cũng có tiềm năng nhân quả của nó, không phủ nhận rằng có một chuỗi nhân quả từ các hạt cơ bản trở lên, là dạng “nhân quả hướng lên” như đã nói, nhưng ngoài ra nó khẳng định rằng còn có “nhân quả hướng xuống”. Nó biểu hiện trong sự sáng tạo của chúng ta và hành vi của ý chí tự do, hoặc khi chúng ta đưa ra các quyết định đạo đức. Trong những trường hợp đó chúng ta đang thực sự chứng kiến “nhân quả hướng xuống” bởi ý thức.

WIE:  Trong cuốn sách của ông, ông đề cập đến một mô hình mới gọi là “chủ nghĩa duy ý nhất nguyên.” Và ông cũng cho rằng khoa học ngày nay đã xác nhận được điều mà nhiều nhà huyền môn đã nói trong suốt lịch sử, rằng những phát hiện của khoa học hiện nay dường như là song song với bản chất của những giáo lý tâm linh bất diệt.

AG:  Nó “là” giáo lý tâm linh. Không phải chỉ song song. Quan điểm cho rằng ý thức là nền tảng của thực tại là cơ sở của tất cả các truyền thống tâm linh, cũng như triết lý của chủ nghĩa duy ý nhất nguyên. Ở phương Tây, có một triết lý được là là “chủ nghĩa duy tâm” trái ngược với triết lý của “chủ nghĩa thực dụng duy vật”, cho rằng chỉ có vật chất là có thật. Chủ nghĩa duy tâm nói không, ý thức mới là sự thật duy nhất. Nhưng ở phương Tây loại chủ nghĩa duy tâm thường có nghĩa là nó thuộc về nhị nguyên – có nghĩa là, ý thức và vật chất là tách biệt. Vì thế, khi nói “chủ nghĩa duy ý nhất nguyên”, tôi muốn nói rõ ràng rằng, không, tôi không có ý muốn nói đến loại nhị nguyên của chủ nghĩa duy tâm phương Tây, nhưng đúng hơn là một chủ nghĩa duy ý nhất nguyên, đã tồn tại ở phương Tây, nhưng chỉ trong các truyền thống tâm linh bí truyền. Trong khi đó, ở phía Đông, đây là triết lý chính quy đại trà. Trong Phật giáo, hoặc Hindu giáo, nơi nó được gọi là Vedanta (hay Upanishads – Áo Nghĩa Thư) hoặc trong Đạo giáo, đây là triết lý của tất cả mọi người. Nhưng ở phương Tây là một truyền thống bí truyền, chỉ được biết đến và tán đồng bởi các triết gia anh minh, những người đã thực sự đào  sâu vào bản chất của thực tại.

WIE:  Những gì ông đang nói có nghĩa là khoa học hiện đại, từ một góc nhìn hoàn toàn khác, không giả định bất kì điều gì về sự tồn tại của một chiều tâm linh sự sống, bằng cách nào đó đã quay trở lại, và tìm thấy chính nó đồng nhất với quan điểm đó từ kết quả của những khám phá trong khoa học.

AG: Đúng vậy. Và điều này không phải là hoàn toàn bất ngờ. Bắt đầu từ những ngày đầu của vật lý lượng tử, từ những năm 1900 và sau đó nó trở nên sung mãn vào năm 1925 khi các phương trình của cơ học lượng tử đã được khám phá, vật lý lượng tử đã cho chúng ta thấy những dấu hiệu rằng thế giới quan người ta đang giữ có bị thể thay đổi. Các nhà vật lý duy vật trung thành đã rất thích so sánh thế giới quan cổ điển và thế giới quan lượng tử. Tất nhiên, họ sẽ không đi quá xa để từ bỏ ý tưởng rằng chỉ có “nhân quả hướng lên” và rằng vật chất là tối thượng, nhưng sự thật vẫn là họ đã thấy trong vật lý lượng tử một số tiềm năng rất lớn để thay đổi cái khuôn mẫu hiện tại. Và sau đó những gì xảy ra là, bắt đầu từ năm 1982, những kết quả bắt đầu đến từ những phòng thí nghiệm vật lý. Đó là năm, ở Pháp, Alain Aspect và các cộng sự của ông thực hiện thành công một thí nghiệm tuyệt vời và từ đó những kết luận đã được thiết lập về tính xác thực của các khái niệm tâm linh và đặc biệt là khái niệm siêu việt. Tôi có nên đi vào một chút chi tiết về thí nghiệm của Aspect?

WIE: Vâng, xin tiếp tục.

AG:  Để nhắc lại một số điều căn bản, những gì đã xảy ra trong thế vật lý lượng tử trong nhiều năm trời là đã có những nhận định được đưa ra về những mật độ thực tại khác ngoài mật độ vật chất. Bắt đầu từ những vật thể lượng tử, được nhìn nhận như là những làn sóng khả năng. Mới đầu thì người ta nghĩ “Ồ, chúng chỉ giống như những làn sóng bình thường.” Nhưng sớm sau đó người ta đã phát hiện rằng, không, chúng không phải chỉ như những làn sóng trong không thời. Chúng tuyệt đối không thể được gọi là “sóng” trong không thời. Vì chúng có những đặc điểm không hề giống với những làn sóng bình thường. Thế nên sau đó chúng đã bắt đầu được nhìn nhận như là những làn sóng khả năng, và khả năng tiềm tàng được nhìn nhận như là một hiện tượng siêu việt, vượt ngoài vật chất bằng cách nào đó.

Nhưng dữ kiện rằng có một khả năng siêu việt lúc đó chưa được hiểu rõ ràng trong một thời gian dài. Sau đó thí nghiệm của Aspect đã xác minh được rằng đây không phải chỉ là một lý thuyết, khả năng siêu việt là một sự thật, vật thể thật sự có những mối liên kết nằm ngoài không gian và thời gian! Điều đã xảy ra trong thí nghiệm này là một nguyên tử phóng ra hai hạt ánh sáng, gọi là photon, ngược chiều nhau, và bằng cách nào đó những photon này ảnh hưởng đến hành vi của nhau từ một khoảng cách, mà không hề có tín hiệu nào được trao đổi qua lại. Chú ý rằng: không hề có tín hiệu nào được trao đổi qua lại, mà là một ảnh hưởng xảy ra tức khắc, đồng thời.

Einstein đã cho thấy rằng hai vật thể không bao giờ có thể ảnh hưởng lên nhau một cách tức khắc trong không thời bởi vì mọi thứ phải di duyển với vận tốc tối đa, và giới hạn đó chính là vận tốc ánh sáng. Thế nên mọi tương tác phải di chuyển, và nếu nó di chuyển trong không gian, nó tốn thời gian. Ý tưởng này được gọi là “địa tính” (“locality”) trong vật lý. Mọi tín hiệu đáng ra nên mang thuộc tính địa phương và nó phải mất một thời gian nhất định để tín hiệu này di chuyển trong không gian. Vậy mà, những hạt photon của Aspect, ảnh hưởng lẫn nhau, từ một khoảng cách, không trao đổi tín hiệu qua lại bởi vì nó xảy ra tức thì, hiện tượng này xảy ra nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Và vì thế suy ra được rằng tương tác đã không thể nào di chuyển qua không gian. Thay vào đó tương tác phải thuộc về một miền thực tại mà chúng ta phải nhìn nhận rằng nó chính là miền thực tại siêu việt.

(Tham khảo thêm về khái niệm rối lượng tử, quantum entanglement [2])

[2] Rối lượng tử hay vướng víu lượng tử là một hiệu ứng trong cơ học lượng tử trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Rối lượng tử là hiệu ứng được ứng dụng trong các công nghệ như tính toán lượng tử, mật mã lượng tử, viễn tải lượng tử. Hiệu ứng này, được khẳng định bởi quan sát thực nghiệm, cũng gây ra sự thay đổi nhận thức rằng thông tin về một vật thể chỉ có thể thay đổi bằng tương tác với các vật ngay gần nó.[Bách khoa toàn thư mở]

WIE:  Thật tuyệt vời. Liệu đa số các nhà vật lý sẽ đồng ý với kiến giải đó từ thí nghiệm này?

AG:  Vâng, các nhà vật lý phải đồng ý với kiến giải này. Nhưng tất nhiên là nhiều lần họ sẽ nói như thế này, “À, chắc chắn rồi, thí nghiệm mà. Nhưng mối quan hệ giữa các hạt cơ bản này thật sự không quan trọng. Chúng ta đừng nhìn vào những hệ quả của cái miền siêu việt này, nếu nó có thể được lý giải theo cách đó.” Nói cách khác, họ cố gắng giảm thiểu tối đa tầm quan trọng của sự kiện này và vẫn cố gắng níu bám vào cái ý tưởng rằng vật chất mới là tối thượng. Nhưng trong thâm tâm họ biết, vì bằng chứng quá rõ ràng. Vào năm 1984 hay 85, tại Hội Nghị Vật Lý Hoa Kỳ trong đó tôi có tham gia, có một nhà vật lý đã nói với một nhà vật lý khác rằng, sau thí nghiệm của Aspect, bất kì ai không tin rằng có điều gì đó thật kì lạ về thế giới quanh ta chắc chắn phải chứa đá trong đầu hắn.

WIE:  Vậy là ông đang nói rằng từ góc nhìn của ông, và của nhiều người khác, một cách nào đó hiển nhiên rằng một người phải đem vào cái ý tưởng về một chiều siêu việt để thật sự thấu hiểu chuyện này.

AG: Đúng thế. Henry Stapp, một nhà vật lý tại Đại Học Berkeley [3], California, có nói rõ ràng về vấn đề này trong một trong những bài viết của ông vào năm 1977,  rằng vật nằm ngoài không thời ảnh hưởng lên vật nằm trong không thời. Không có thắc mắc gì về những gì xảy ra trong thế giới vật lý lượng tử khi bạn đang làm việc với những vật thể lượng tử. Tất nhiên, điểm quan trọng nhất là, điểm ngạc nhiên nhất là, chúng ta luôn luôn làm việc với những vật thể lượng tử bởi vì vật lý lượng tử là vật lý (chính xác) duy nhất mà chúng ta có. Thế nên tuy rằng nó hiển nhiên hơn với photon, với electron, với các vật thể hạ vi tế, chúng tôi tin rằng mọi thực tại, mọi thực tại được thể hiện, mọi vật chất, đều được kiểm soát bởi những quy luật giống nhau. Và nếu nó đúng như vậy, thí nghiệm này đang nói với chúng ta rằng chúng ta nên thay đổi quan điểm của mình bởi vì chúng ta, không khác, cũng là những vật thể lượng tử.

[3] UC Berkeley đã có những đóng góp quan trọng về khoa học tự nhiên (với 66 giáo sư và cựu sinh viên đoạt các giải Nobel) và các hoạt động xã hội (phong trào chống Chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1960).
Berkeley có hệ thống giáo dục bậc cử nhân rất đa dạng và được xem là trung tâm nghiên cứu của rất nhiều ngành học. Viện đại học đạt nhiều thành tích về vật lý, hóa học và các ngành sinh học trong thế kỷ 20, như sáng chế ra máy cyclotron, cách ly thành công vi khuẩn bại liệt ở người, phát triển khái niệm tia laser, giải thích nguyên lý của quang hợp, thiết kế thí nghiệm chứng minh định lý Bell, tạo ra hệ điều hành BSD Unix, và phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học, trong đó có Plutonium, Berkelium và Californium. Viện đại học cũng đạt được nhiều giải thưởng về Toán, giải Nobel Kinh tế và giải Nobel Văn học. Các nhà vật lý của Berkeley nằm trong nhóm khoa học gia phát triển Dự án Manhatttan chế tạo bom nguyên tử trong Thế chiến thứ nhất và bom hiđrô không lâu sau đó.[Bách khoa toàn thư mở]

WIE:  Đây là những khám phá tuyệt vời đã gây cảm hứng đến nhiều người. Đã từng có một số đầu sách cũng cố gắng tạo ra một mối liên kết giữa vật lý và huyền học. Đương cử như cuốn “Cái Đạo của Vật Lý” (The Tao of Physics) của Fritjof Capra và “The Zukav’s The Dancing Wu Li Masters” của Gary Zukav, những cuốn sách này đã đến tay rất nhiều độc giả. Trong cuốn sách của ông, ông có nhắc đến rằng có vài điều vẫn chưa được nói đến mà ông cảm thấy rằng những đóng góp của ông là mới mẻ. Ông có thể cho biết thêm về những gì ông đã viết khác với những gì đã được viết trước đó?

AG:  Tôi mừng là anh đã hỏi câu này. Chuyện này nên được làm sáng tỏ và tôi sẽ cố gắng giải thích thật rõ ràng trong khả năng của tôi. Những công trình trước, như Cái Đạo của Vật Lý, đã từng là rất quan trọng trong lịch sử của khoa học. Tuy nhiên, những công trình trước đây, mặc dù là có hỗ trợ khía cạnh tâm linh của loài người, về mặt căn bản tất cả vẫn còn níu giữ những quan điểm vật chất về thế giới. Nói cách khác, họ không thật sự thử thách quan điểm của các nhà duy vật thực dụng rằng mọi thứ đều được tạo ra từ vật chất. Quan điểm đó chưa bao giờ được thử thách bởi bất kì những cuốn sách nào trước đây. Thật sự, cuốn sách của tôi là cuốn đầu tiên thẳng thừng thách thức điều đó và mọi bằng chứng đều được dựa trên những cuộc thí nghiệm khoa học gắt gao. Nói cách khác nữa, quan điểm cho rằng ý thức là nền tảng của thực tại, tất nhiên, đã từng tồn tại trong tâm lý học, chẳng hạn như  tâm lý học siêu thể (transpersonal psychology), nhưng ngoài tâm lý học siêu thể không có một truyền thống khoa học nào và không có một nhà khoa học nào đã thấy được nó rõ ràng.

Nó là một điều may mắn cho tôi khi nhận ra được điều này thông qua vật lý lượng tử, nhận ra rằng mọi nghịch lý trong vật lý lượng tử có thể được giải đáp nếu chúng ta chấp nhận rằng ý thức chính là nền tảng của thực tại. Nên đó chính là đóng góp riêng của tôi và, tất nhiên, điều này mang một tiềm năng biến đổi tầm nhìn, bởi vì bây giờ chúng ta đã có thể hợp nhất một trọn vẹn khoa học và tâm linh. Nói cách khác, với Capra và Zukav – mặc dù là sách của họ rất hay – nhưng họ vẫn bám víu vào cái khuôn khổ vật chất nền tảng, tầm nhìn vẫn không xê dịch, và cũng chẳng có một hòa giải đích thực nào giữa tâm linh và khoa học. Bởi vì nếu mọi thứ tối cùng vẫn là vật chất, mọi tương tác nhân quả phải đến từ vật chất. Và một ý thức thứ cấp cũng chẳng có gì đáng nói. Ý tôi là, nó không thể làm được gì hết. Nên, mặc dù những cuốn sách này công nhận tâm linh, nhưng thực chất tận cùng của nó vẫn đến từ những tương tác vật chất.

Nhưng đó không phải là thứ tâm linh mà Jesus đã nói về. Đó không phải là thứ tâm linh đem đến các nhà huyền môn phương Đông hỷ lạc. Đó không phải là thứ tâm linh một nhà huyền học nhận ra và nói, “Bây giờ tôi đã biết thực tại đích thực là gì, nó xua tan mọi bất hạng một người đã từng có. Nó vô tận, nó là phúc lạc, nó là ý thức.” Những nhận xét hoa mỹ này không thể được đưa ra dựa trên một nền tảng ý thức thứ cấp. Nó chỉ có thể được đưa ra khi một người giác ngộ được bản chất đích thực về nền tảng của thực tại, khi một người giác ngộ trực tiếp được rằng Một là Tất Cả.

Một con người thứ cấp sẽ không bao giờ có được những nhận thức như thế. Nó sẽ chẳng có nghĩa lý gì khi nói rằng bạn là Tất Cả. Đó là ý tôi muốn nói. Chừng nào mà khoa học còn giữ cái quan điểm về thế giới vật chất, dù cho bạn có cố gắng dàn xếp những trải nghiệm tâm linh theo lối song song hay theo lối những phản ứng hóa học trong não bộ hay gì đi nữa, bạn vẫn chưa buông bỏ cái khuôn mẫu cũ. Chỉ khi nào bạn thiết lập một nền khoa học dựa trên nền tảng và ý niệm rằng bản chất của thực tại là ý thức, khi đó bạn mới thật sự buông bỏ cái khuôn mẫu cũ và trọn vẹn hòa nhập được với tâm linh. Đó là những gì tôi đã làm trong cuốn sách, và đó là sự khởi đầu. Nhưng hiện nay cũng đã có những cuốn sách khác cũng nhận ra được điều này.

WIE:  Vậy là có những người khác đang chứng thực những ý tưởng của ông?

AG:  Có những người cũng đang bước ra khai sáng và nhìn nhận ý niệm này, rằng tư tưởng này là con đường đúng đắn để giải thích vật lý lượng tử và cũng để phát triển nền khoa học tương lai. Nói cách khác, khoa học hiện tại không những cho ta thấy những nghịch lý, mâu thuẫn, mà còn cho thấy sự thiếu sót của nó trong việc giải thích các hiện tượng nghịch lý và phi thường, ví dụ như tâm lý học siêu hình, siêu linh, ngay cả tính sáng tạo. Và ngay cả những đề tài truyền thống, như khả năng nhận thức hay tiến hóa sinh học, v.v… nó giải thích được những câu hỏi mà các giả thuyết duy vật không thể giải thích. Cho một ví dụ, trong sinh học có một cái gọi là giả thuyết về các điểm nhấn cân bằng (punctuated equilibrium). Giả thuyết này có nghĩa là tiến hóa không xảy ra một cách đều đặn, như Darwin nhìn nhận, mà  có những kỉ nguyên tiến hóa xảy ra đột ngột, chúng được gọi là những “điểm nhấn”. Nhưng sinh học truyền thống không có giải thích gì về điều này.

Tuy nhiên, nếu chúng ta làm khoa học dựa trên nền tảng của ý thức, chúng ta có thể thấy được trong hiện tượng về tính sáng tạo, tính sáng tạo đích thực của ý thức. Nói cách khác, chúng ta có thể thật sự thấy được rằng ý thức đang hoạt động một cách sáng tạo ngay cả trong sinh học, ngay cả trong sự tiến hóa của các loài. Và chúng ta có thể chám vào những chỗ trống nền sinh học chính quy không thể giải thích bằng những ý tưởng tâm linh, chẳng hạn như ý thức chính là cái tạo ra thế giới.

WIE:  Điều này nhắc cho tôi nhớ đến cái phụ đề của cuốn sách, “Làm Thế Nào Ý Thức Tạo Ra Thế Giới Vật Chất”. Đây hiển nhiên là một ý tưởng táo bạo. Ông có thể giải thích rõ hơn điều này thật sự xảy ra như thế nào theo ý kiến của ông không?

AG:  Thật ra, đây là điều dễ giải thích nhất, bởi vì trong vật lý lượng tử, như tôi đã nói khi nãy, vật thể không được xem như những sự kiện cố định, như chúng ta thường nghĩ vậy. Newton dạy chúng ta rằng vật chất là cố định, chúng có thể được nhìn thấy mọi lúc, di chuyển theo những chiều hướng cố định. Vật lý lượng tử hoàn toàn không hình dung vật thể là như vậy. Trong vật lý lượng tử, vật thể được xem như là những khả năng, những làn sóng khả năng. Đúng chứ? Nên khi câu hỏi được đặt ra, điều gì đã biến đổi khả năng thành hiện thực? Bởi vì, khi chúng ta nhìn thấy, chúng ta chỉ thấy những sự kiện thực tế. Khi bạn nhìn thấy một cái ghế, bạn  thấy một cái ghế thực sự, bạn không thấy khả năng của một cái ghế.

WIE:  Đúng. Tôi hy vọng thế.

AG: Tất cả chúng ta đều hy vọng thế. Cái này gọi là “nghịch lý đo đạc lượng tử” (quantum measurement paradox). Nó là một nghịch lý là vì chúng ta là ai mà thực hiện sự biến đổi này? Bởi vì sau cùng thì, trong khuôn mẫu vật chất chúng ta không hề có bất cứ quyền lực nhân quả nào. Chúng ta không là gì ngoài não bộ, cái được tạo ra từ các nguyên tử và các hạt cơ bản. Nên làm sao mà một bộ não được cấu tạo từ các nguyên tử và các hạt cơ bản có thể biến đổi những khả năng thành hiện thực được? Đây gọi là một nghịch lý. Nhưng với góc nhìn mới, ý thức là nền tảng của thực tại, cái gì biến đổi khả năng thành thực tại? Ý thức thực hiện chuyện đó, bởi vì ý thức không tuân theo vật lý lượng tử. Ý thức không phải là vật chất. Ý thức là siêu việt. Bạn có thấy được góc nhìn biến đổi khuôn khổ ngay đây không – làm sao mà ý thức có thể được cho là tạo ra thế giới vật chất được? Thế giới vật chất trong vật lý lượng tử chỉ là những khả năng. Chính nhờ có ý thức, thông qua sự chuyển đổi từ khả năng thành hiện thực, nó tạo ra những gì chúng ta thấy được biểu lộ. Nói cách khác, ý thức tạo ra thế giới được biểu lộ. 

WIE:  Thành thật mà nói, khi lần đầu tiên đọc được dòng phụ đề của cuốn sách của ông, tôi nghĩ là ông chỉ đang ám chỉ theo nghĩa bóng. Nhưng sau khi đọc cuốn sách, và thời gian ngồi nói chuyện với ông ở đây, tôi cảm thấy chắc chắn rằng ý của ông thiên về nghĩa đen nhiều hơn là tôi tưởng. Có một điểm trong cuốn sách thật sự đã làm tôi đứng sững lại về phát biểu theo lý giải của ông, tổng thể vũ trụ hữu hình chỉ tồn tại trong một miền khả năng tiến hóa vô tận cho tới một điểm, khả nằng về một ý thức, một thực thể có tri giác xuất hiện, và ngay lập tức tại thời điểm đó, toàn bọ vũ trụ trở thành hiện thực, bao gồm luôn cả 15 tỉ năm lịch sử dẫn tới cột mốc đó. Ông thật sự có ý như vậy hay sao?

AG:  Tôi có ý đó theo nghĩa đen. Đây là điều khoa học lượng tử đòi hỏi. Thật sự, trong vật lý lượng tử điều này được gọi là “chọn lựa trì hoãn” (delayed choice). Và tôi đã thêm vào một khái niệm mới, là khái niệm về sự “tự liên quan” (self-reference). Một câu hỏi luôn luôn phát sinh, “Vũ trụ nếu đã tồn tại được 15 tỉ năm, và nếu cần có một ý thức để biến chuyển khả năng thành hiện thực, vậy thì làm thế nào mà vũ trụ đã tồn tại lâu đến thế?” Bởi vì không có ý thức, không có thực thể hữu tri, thực thể sinh học, thực thể từ carbon, trong khối cầu lửa nguyên thủy, cái mà chúng ta cho rằng đã tạo ra vũ trụ, thuyết big bang. Nhưng nếu nhìn từ một góc độ khác thì cả vũ trụ vẫn tồn tại dưới dạng những khả năng cho tới khi có một có một sự đo đạc lượng tử có mối liên hệ với chính nó – đây là một khái niệm mới. Một người quan sát là cần thiết để biến khả năng thành hiện thực, và chỉ khi một người quan sát nhìn thấy, chỉ khi đó cái toàn thể mới biểu hiện – bao gồm luôn thời gian.

Hóa ra thì ý tưởng này, một cách rất tế nhị, tinh tế, thật ra đã được tìm thấy trong thiên văn học và chiêm tinh học dưới sự hướng dẫn của một nguyên tắc được gọi là “nguyên tắc nhân quan” (anthropic principle). Và ý tưởng này đã nảy nở trong giới chiêm tinh gia và thiên văn học – rằng vũ trụ có một mục đích. Nó được tinh chỉnh tỉ mỉ, có quá nhiều trùng hợp, dường như rất có thể rằng vũ trụ này đang thực hiện một mục đích gì đó, như thể vũ trụ đang phát triển theo một đường lối mà sẽ có một thực thể có tri giác sẽ xuất hiện tại một điểm.

WIE:  Vậy là ông cảm thấy rằng có một ý nghĩa, mục đích trong cách mà vũ trụ đang tiến hóa; rằng đại khái là nó đã sinh hoa kết trái qua chúng ta, qua loài người?

AG:  À, loài người có thể sẽ không phải là kết quả cuối cùng, nhưng chắc chắn chúng ta chính là những hoa quả đầu tiên, bởi vì từ đây mà khả năng về sự sáng tạo bắt đầu. Thú vật rõ ràng cũng có tri giác, nhưng chúng không sáng tạo như chúng ta. Loài người hiện nay dường như chính là một khuôn mẫu toát yếu, nhưng nó sẽ không là khuôn mẫu cuối cùng. Tôi nghĩ chúng ta có một chặng đường dài tiến hóa chưa xảy ra phía trước.

WIE:  Trong sách ông còn đưa ra một gợi ý xa hơn rằng vũ trụ này đã được tạo ra vì chúng ta.

AG:  Tuyệt nhiên là vậy. Nhưg nó có ý là những thực thể hữu tri, vì những thực thể hữu tri. Và vũ trụ này là chúng ta. Điều đó là rõ ràng. Vũ trụ có ý thức tự thân, nhưng ý thức tự thân thông qua chúng ta. Chúng ta là ý nghĩa của vũ trụ. Chúng ta không phải là trung tâm của vũ trụ một cách địa lý – Copernicus đã đúng về chuyện đó – nhưng chúng ta là trung tâm ý nghĩa của vũ trụ.

WIE:  Thông qua chúng ta vũ trụ tìm được ý nghĩa của nó?

AG:  Thông qua các cá thể hữu tri. Đó không có nghĩa chỉ là loài người trên trái đất. Mà còn có nghĩa là những cá thể hữu tri trên những hành tinh khác – về điều này tôi chắc chắn là có – và điều đó hoàn toàn tương thích với lý thuyết này.

WIE:  Ngoài là một khoa học gia, ông còn là một người tu hành tâm linh. Ông có thể cho biết điều gi đã mang ông đến với tâm linh?

AG:  Vâng, tôi nghĩ  là trường hợp của tôi cũng khá thông thường, hầu như là một trường hợp cổ điển. Là trường hợp của Phật, người đã nhận ra, ở độ tuổi 29, rằng mọi thú vui của một hoàng tử thật sự chỉ là phí phạm thời gian bởi vì vẫn còn đau khổ trên đời. Đối với tôi thì nó không đến mức như vậy, nhưng vào khoảng 37 tuổi thế giới của tôi bắt đầu rơi rớt thành từng mảnh. Tôi không còn được cung cấp chi phí nghiên cứu; tôi có một cuộc ly hôn và tôi rất cô đơn. Và niềm vui nghề nghiệp tôi thường có khi viết về những nghiên cứu vật lý không còn vui thích gì nữa.

Tôi nhớ có lần khi tham dự một cuộc hội thảo, suốt ngày hôm đó tôi đã loanh quanh tranh cãi với nhiều người. Và tối hôm đó khi tôi một mình, tôi cảm thấy thật cô đơn. Đột nhiên lúc đó tôi bị chứng ợ nóng (heartburn) hành hạ, tôi tọng vào cả một chai thuốc Tums (hiệu thuốc đặc trị) nhưng nó vẫn không hết. Tôi đã nếm được mùi vị của đau khổ; tôi đã khám phá ra đau khổ, theo nghĩa đen. Và khám phá đó đã dẫn tôi đến với tâm linh, bởi vì tôi không còn có thể nghĩ được về điều gì khác nữa. Tôi không còn có thể nghĩ ra được cách nào nữa – mặc dù tôi đã hoàn toàn bác bỏ cái ý tưởng về Trời vì đã là một nhà vật lý duy vật khá lâu rồi. Nhiều khi những đứa con tôi hỏi, “Bố có phải là một người vô thần không?” Tôi trả lời đại khái rằng, “Phải.” Và, “Trời có thật không?” Và tôi nói, “Không, bố không tin vào Trời.” Những câu đó tôi hay nói thường xuyên. Nhưng vào khoảng thời gian sau này, khi tôi khoảng 37 tuổi, trong không gian đó, nơi mà Trời không tồn tại và ý nghĩa của cuộc đời đối với tôi chỉ là sự theo đuổi lý trí thành công trong nghề nghiệp, đã không còn có thể thỏa mãn tôi và mang lại được hạnh phúc. Thật sự thì lúc đó đời tôi chứa đầy khổ đau. Và tôi đã biết đến thiền. Tôi muốn biết xem có cách nào để ít nhất tìm được sự khuây khỏa không, chứ chưa nói đến hạnh phúc. Nhưng cuối cùng thì thiền định cũng mang lại được hỷ lạc, nhưng phải qua luyện tập. Thêm vào đó, tôi phải nhắc đến việc tôi tái hôn lần nữa, và thử thách của tình yêu cũng đã rất quan trọng. Nói cách khác, tôi sớm khám phá ra rằng sau khi tôi lập gia đình lần thứ hai thì tình yêu lúc đó rất khác biệt so với những gì tôi nghĩ. Tôi khám phá ra được rằng vợ tôi chính là ý nghĩa của tình yêu, và đó cũng là một đóng góp lớn lao cho cuộc sống tâm linh của tôi.

WIE:  Thật thú vị khi biết rằng khi ông hướng đến tâm linh bởi vì khoa học đã không thật sự thỏa mãn được khát khao tìm kiếm chân lý của ông, nhưng mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục sự nghiệp khoa học của mình. 

AG: Đúng vậy. Chỉ là cách làm khoa học của tôi đã thay đổi. Lý do khiến tôi đánh mất sự hào hứng trong khoa học là vì tôi đã biến nó trở thành một cuộc chơi nghề nghiệp. Tôi đã đánh mất tinh thần về cách làm khoa học lý tưởng, là tinh thần khám phá, là óc tò mò, là tinh thần nhận biết sự thật. Nên tôi đã không còn tìm kiếm sự thật thông qua khoa học, và vì thế tôi đã phải tìm đến thiền, nơi tôi tìm được chân lý một lần nữa, chân lý về thực tại. Nhưng sau cùng bản chất của thực tại là gì? Bạn thấy xu hướng đầu tiên là chủ nghĩa hư vô, không gì tồn tại; Tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng thiền định sớm bảo tôi rằng không, không tuyệt vọng như vậy đâu. Tôi đã có một trải nghiệm. Tôi đã hé nhìn được rằng thực tại thật sự tồn tại. Nó là gì thì tôi không biết, nhưng nó tồn tại. Điều đó đang mang lại động lực cho tôi để trở lại với khoa học để xem tôi có thể làm được gì với nguồn năng lượng mới và phương hướng mới này không, và thật sự tìm kiếm chân lý thay vì tìm kiếm chỉ vì những danh nghĩa nghề nghiệp.

WIE:  Niềm hứng thú mới mẻ về tâm linh này ảnh hưởng đến các hoạt động khoa học của ông như thế nào?

AG: Những gì đã xảy ra là tôi không còn làm khoa học chỉ vì mục đích công bố các bài viết và thực hiện các thí nghiệm cho phép bạn nhận được tài trợ. Thay vào đó, tôi bắt đầu giải quyết những vấn đề thật sự quan trọng. Những vấn đề này ngày nay rất nghịch lý và và rất bất thường. Vâng, tôi không nói rằng các nhà khoa học truyền thống không có một vài vấn đề quan trọng. Cũng có chứ không phải không. Anh thấy đó, khoa học lượng tử là một vấn đề luôn làm trật hướng người ta khỏi những thành tựu nghề nghiệp vì nó là một vấn đề rất khó. Người ta đã cố gắng nhiều thập kỉ nhưng vẫn chưa thể giải đáp được nó. Nhưng tôi nghĩ, “Mình không có gì để mất và mình chỉ đang điều tra về sự thật, tại sao lại không?” Vật lý lượng tử là chuyên ngành tôi biết rõ. Tôi đã nghiên cứu về vật lý lượng tử suốt đời tôi, vậy thì tại sao lại không làm? Đó là lý do dẫn đến câu hỏi, “Nhân tố nào chuyển đổi khả năng thành hiện thực?” và nó đã chiếm hết thời gian của tôi từ 1975 đến 1985, cho tới khi có một bức phá huyền bí xảy ra.

WIE:  Ông có thể mô tả sự bức phá này không?

AG: Vâng, tôi rất sẵn lòng. Nó đang hiển hiện rõ ràng trong đầu tôi. Có một lần – khi sực bức phá này xảy ra – vợ tôi và tôi đang ở Ventura, California và một người bạn tâm linh, Joel Morwood, xuống chơi từ Los Angeles, và tất cả chúng tôi đều đi tới nghe buổi thuyết giảng của Krishnamurti. Krishnamurti, tất nhiên rồi, là một nhà huyền môn vĩ đại và cực kì độc đáo. Sau buổi thuyết giảng chúng tôi về nhà và ngồi ăn tối với nhau. Tôi trao đổi với Joel về những ý tưởng mới nhất của tôi về vật lý lượng tử liên quan đến ý thức và Joel đã thách thức tôi rằng, “Ý thức có thể được giải thích chăng?” Tôi đã cố gắng luồn lách đưa ra câu trả lời nhưng Joel đã không nghe gì hết. Anh ta nói, “Anh đang tự bịt mắt mình bằng khoa học. Anh không nhận ra được rằng ý thức là nền tảng của vạn vật.” Anh ta nói một câu đại khái là, “Không có gì khác ngoài Trời.” Và đã có một cái gì đó lật úp lại trong đầu tôi mà tôi không thể giải thích được. Đây là một nhận thức tối hậu mà tôi có được ngay giây phút đó. Tôi nhớ rằng tôi đã thức suốt đêm đó, nhìn lên bầu trời và có được một cảm giác thiêng liêng lạ lùng về thế giới, và một sự quả quyết hoàn toàn rằng đây đúng là bản chất của thế giới, bản chất của thực tại, và một người có thể làm khoa học dựa trên nền tảng này. Anh thấy đó, cái ý niệm đang thịnh hành bay giờ – ngay cả với những người như David Bohm [4] – là “Làm sao bạn có thể làm khoa học mà không cho rằng có một thực tại vật chất? Làm sao bạn có thể làm khoa học nếu bạn để cho ý thức quyết định những điều tùy nghi?” Nhưng tôi đã hoàn toàn chắc chắn – không một mảy may nghi ngờ nào kể từ đó – rằng một người hoàn toàn có thể làm khoa học trên nền tảng này. Không những thế, họ còn có thể giải quyết những vấn đề của khoa học ngày nay. Và đó là những gì đang diễn ra. Trong vòng vài tháng mọi vấn đề về đo đạc lý thuyết, đo đạc nghịch lý đã tan biến mất. Kể từ khi đó ý tưởng tiếp nối ý tưởng cứ tuôn trào, và rất nhiều vấn đề đã được giải quyết – vấn đề về hiểu biết, nhận thức, tiến hóa sinh học, chữa bệnh bằng tâm linh. Cuốn sách mới nhất của tôi, “Vật Lý của Linh Hồn” (Physics of the Soul) là một học thuyết về luân hồi, tất cả đã được giải thích cặn kẽ. Thật là một cuộc hành trình sáng tạo tuyệt vời.

[4] David Bohm: Chuyên gia vật lý lượng tử người Hoa Kỳ. Được công nhận rộng rãi là một trong những nhà vật lý lượng tử quan trọng nhất trong thế kỷ 20.

WIE:  Nhìn từ góc độ ngược lại, ông nói như thế nào về việc bản thân là một nhà khoa học đã có ảnh hưởng thế nào đến sự tiến hóa tâm linh của ông?

AG: À, tôi đã không xem chúng là tách biệt. Sự bao trùm, thống nhất này rất quan trọng đối với tôi. Các giác giả thường  cảnh báo người ta rằng, “Đừng phân tách cuộc đời thành cái này hay cái kia.” Đối với tôi nó đến một cách tự nhiên vì tôi đã khám phá ra những cách thức mới mẻ để làm khoa học khi tôi khám phá ra tâm linh. Tâm linh là bản chất tự nhiên của tôi, kể từ đó bất cứ tôi làm gì, tôi không tách biệt chúng.  Trước khi có những công trình của tôi, tôi nghĩ rằng nó vẫn còn rất mơ hồ làm thế nào để kết hợp khoa học và tâm linh. Mặc dù là những người như Teilhard de Chardin (nhà triết học, thần học người Pháp), Aurobindo [5], hay Blavatsky [6],  đã nhận ra được rằng một nền khoa học như thế sẽ đến, và rất ít người sẽ có thể nhìn thấy nó. Những gì tôi làm là nắn thêm thịt vào tất cả những tầm nhìn ở những thế kỉ trước. Và khi bạn làm thế, khi bạn nhận ra rằng khoa học có thể được dựa trên nền tảng của ý thức, mọi thiếu hụt sẽ không còn nữa. Nói cách khác, thành kiến cho rằng khoa học chỉ mang đến tách biệt sẽ không còn nữa. Khoa học duy vật là một khoa học tách biệt. Một nền khoa học mới  nói rằng thế giới vật chất vẫn tồn tại, nhưng nó chỉ là một phần của tổng thể, không phải toàn bộ. Có tách biệt thì cũng phải có thống nhất. Trong cuốn sách Vũ Trụ Tự Thức của tôi, tôi nói về cuộc hành trình của những vị anh hùng trong thế giới khoa học. Tôi nói rằng, 400 năm trước, với Galileo, Copernicus, Newton và những người khác, chúng ta giương cánh buồm tách biệt và du hành vào hải phận của sự tách biệt, nhưng đó chỉ là phần đầu của chuyến hành trình. Sau đó người anh hùng đã khám phá ra được chân lý và quay trở lại. Đây chính là sự trở lại của người anh hùng và chúng ta đang tận mắt chứng kiến qua tầm nhìn mới này.

[5] Aurobindo: học giả, nhà thơ, triết gia, yogi người Ấn Độ, là một trong những lãnh tụ tinh thần nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng nhất của triết lý Vệ-đà
[6] Blavatsky: Nhà huyền bí đại tài trong lịch sử văn minh Tây Âu.  Bà cũng là sứ giả trực tiếp của các vị Chân-Sư ngự nơi dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Người sáng lập ra hội Thông Thiên Học.

http://www.amitgoswami.org/scientific-proof-existence-god/

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm

Trang Ly | 22/04/2017 09:29 PM

 

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm
Ảnh minh họa.

Sự kiện sao chổi đâm vào Trái Đất cách đây 13.000 năm đã quét sạch sự sống của hàng nghìn người và nhiều loài động vật, gây biến đổi khí hậu trong 1.300 năm.

 

Sau khi phân tích các hình chạm khắc trên cột trụ niên đại hơn 10.000 năm tìm thấy tại ngôi đền được xem là cổ nhất thế giới Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ, các nhà khoa học nhận định: Cách đây 13.000 năm, một sao chổi đã đâm vào Trái Đất, giết chết hàng nghìn người, biến đổi hoàn toàn khí hậu và khiến văn minh nhân loại trở về con số 0.

Nghiên cứu những bằng chứng trên các cột đá Vulture Stone, các nhà khảo cổ khẳng định, vào năm 11000 Trước Công nguyên, hàng loạt các bụi sao chổi đã đâm vào Trái Đất, gây nên thảm họa kinh hoàng bậc nhất mà loài người phải hứng chịu từ không gian.

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm - Ảnh 1.

Sao chổi đâm vào Trái Đất gây nên thảm họa kinh hoàng cho con người, động vật và khí hậu. Ảnh: Shutterstock.

Hình ảnh chạm khắc một người đàn ông không đầu trên các bia đá Vulture Stone có thể là hình ảnh biểu trưng cho hậu quả khủng khiếp từ thảm họa không gian.

Sao chổi đâm vào Trái Đất đã quét sạch sự sống của nhiều loài động vật khổng lồ, trong đó có loài voi ma mút. Hình ảnh các loài động vật chạm khắc trên tấm đá có thể là bằng chứng cho việc này.

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm - Ảnh 2.

Hình ảnh những loài động vật chạm khắc trên tấm bia đá. Ảnh: NatGeo.

Giới khoa học cho rằng, thảm họa không gian này đã làm các tảng băng khổng lồ ở Bắc Mỹ sụp đổ khiến nước biển lạnh hơn. Hệ quả là, nhiệt độ Trái Đất giảm mạnh, phù hợp với thời kỳ mà các học giả gọi là kỷ băng hà Younger Dryas, kéo dài trong 1.300 năm.

Tiến sĩ Martin Sweatman, trưởng nhóm nghiên cứu, thuộc trường Đại học Edinburgh, cho biết: "Tôi cho rằng, những phát hiện trên Vulture Stone củng cố thêm bằng chứng cho thấy, Trái Đất đã từng xảy ra thời kỳ kỷ băng hà mini Younger Dryas. Thảm họa tồi tệ này đã khiến khí hậu hành tinh chúng ta thay đổi trong hàng nghìn năm."

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm - Ảnh 3.

Những hình chạm khắc có thể ứng với các chòm sao mà chúng ta đã tìm thấy. Nguồn: Dailymail.

Hiện tại, các kỹ sư thuộc trường Đại học Edinburgh (Scotland) đang sử dụng phần mềm máy tính phù hợp để nghiên cứu các hình chạm khắc động vật có tương ứng với các chòm sao mà chúng ta đã biết hay không.

Phát hiện bằng chứng sao chổi đâm vào Trái Đất, quét sạch sự sống cách đây 13.000 năm - Ảnh 4.

Đền Gobekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: NatGeo.

Dịch từ: Telegraph

Nguồn: http://soha.vn/phat-hien-bang-chung-sao-choi-dam-vao-trai-dat-quet-sach-su-song-cach-day-13000-nam-20170422092632486.htm

 

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa ngài W. S. Hawking.

Có lẽ ngài sẽ không vui, nếu như ngài đọc được bài viết này của tôi. Tôi xác định chắc chắn rằng ngài đã sai lầm, khi cho rằng có thể đi du hành vượt thời gian - nếu thông tin của bài báo này đúng. Bởi vì thời gian chỉ là quy ước của con người và nó không có thật. Cho nên không thể có cách nào vượt quả một ảo ảnh không thật. Tôi phát biểu điều này, nhân danh nền văn hiến Việt - cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương, một thời nhuy hoàng ở miến nam sông Dương tử.

Tôi sẵn sàng chia sẻ nếu ngài quan tâm.

http://khoahoc.tv/stephen-hawking-cach-tao-mot-co-may-du-hanh-vuot-thoi-gian-29307

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites