Thiên Sứ

Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương

119 bài viết trong chủ đề này

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Kể từ khi xuất bản cuốn "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" vào năm 2006, sau gần 8 năm tôi mới xuất bản cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", để tiếp tục minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử. Sau khi xuất bản, cuốn sách đã được sự chú ý của dư luận quan tâm.

Một điều đặc biệt cho lần phát hành này với số lượng 1000 cuốn, là cuốn sách chủ yếu được biếu tặng do sự tài trợ của Cty Văn Hóa - Giáo Dục Việt và số lượng phát hành để bán trên thị trường hầu như không có.

Lúc đầu khi viết cuốn sách này, tôi chỉ đặt một tựa đề là "Minh triết Việt trong văn hóa truyền thống Việt Nam". Nhưng khi viết xong, xem lại toán bộ nội dung, tôi nhận thấy rằng: Đó không phải tầm của nền minh triết Việt trong mối tương quan với các nền văn minh khác trong lịch sử văn minh thế giới. Bởi vậy, tôi  đã đặt tên lại cho cuốn sách như hiện nay "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Tất nhiên, khi tựa cuốn sách thay đổi, đã xác định nội dung cuốn sách cũng phải thay đổi và gần như tôi viết lại từ đầu.

Vị trí của những giá trị văn hóa truyền thống Việt qua những di sản còn lại, đã xác định và hé mở bức màn huyền bí của nền văn minh Đông phương, vốn đang thách thức tri tuệ của toàn nhân loại trong cuộc hội nhập toàn cầu giữa các nền văn minh.

Cuốn sách đã xác định thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm.

Một định mệnh cho tất cả các phát kiến mới, ban đầu đều có những ý kiến trái chiều và sự phản đối với nhiều động cơ và trình độ nhận thức khác nhau

Để có thể phổ biến rộng rãi một quan niệm nhân danh khoa học với cơ sở của nó là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, khi xác định vị trí của nền văn hiến Việt trong lịch sử văn minh nhân loại, chúng tôi gồm cá nhân tôi là tác giả của cuốn sách và nhà tài trợ là Cty Văn hóa - Giáo dục Việt, thống nhất phổ biến công khai nội dung cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" trên website lyhocdongphuong.org.vn, để rộng đường dư luận.

Việc đưa lên công khai trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn có thể coi như lần tái bản của cuốn sách này với những luận cứ bổ sung. Bởi vì, ngay khi cuốn sách này còn trên bàn in của Nxb thì những chứng cứ mới nhất phát hiện được, đã chứng minh một cách sắc xảo cho những luận điểm chứng minh trong cuốn sách này.

Do đó, chính văn của tác giả thể hiện trong nguyên bản của cuốn sách và  trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn sẽ thể hiện bằng kiểu chữ Times New Roman, những đoạn trích dẫn trong nguyên bản thể hiện bằng màu xanh dương. Những đoạn bổ xung sẽ thể hiện bằng mầu nâu đậm nhạt.

Trong sự thể hiện nội dung của cuốn sách trên diễn đàn, tôi sẽ làm rõ hơn phương pháp chứng minh của tôi.

Bản đưa lên diễn đàn là bản thảo cuối cùng của tác giả còn trong máy, chứ không phải bản in đã được biên tập của Nxb. Do đó, có thể có vài sự khác biệt về lỗi chính tả và vài từ khác biệt. Nhưng sai lệch là không đáng kể.

 

Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị.

9 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

MINH TRIẾT VIỆT TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh

 

MỤC LỤC

Lời giới thiệu

Giáo sư Đào Vọng Đức

Nhận xết tổng quan về tác phẩm Minh triết Việt trong văn minh Đông phương

Tiến sĩ khoa học Nguyên Đồng.

 

Thay lời nói đầu

Phần dẫn nhập

 

Phần I: Cội nguồn Việt sử - giả thuyết và thực trạng

 

Chương I: Cội nguồn Việt sử trong văn minh Đông phương

      I.1. Huyền sử thời Hùng Vương

      I.2. Văn hóa truyền thống Việt và cội nguồn Việt sử

 

Chương II: Việt sử 5000 năm văn hiến. Cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương

II.1. Tìm lại nguồn gốc đích thực của văn minh Đông phương

II.2. Di sản văn hóa Việt và cội nguồn văn minh Đông phương

II.3. Tiêu chí khoa học là chuẩn mực thẩm định nội dung lý thuyết nhân danh khoa học

 

Chương III: Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn hiến Việt một học thuyết hoàn chỉnh mô tả sự vận động và tiến hóa của vũ trụ

 

Phần II: Minh triết Việt trong văn hóa truyền thống và thuyết Âm Dương Ngũ hành

 

Mở đầu

 

Phần II.I. Minh triết Việt mô tả sự khởi nguyên vũ trụ

 

Chương I: “Thái cực sinh Lưỡng nghi” và sự khác biệt giữa hai đồ hình Âm Dương Hán – Việt

I.1. Thái cực sinh Lưỡng nghi và đồ hình Âm Dương Hán

I.2. Đồ hình Âm Dương Việt

I.3. Đồ hình Âm Dương Việt trong di dản văn hóa ở các quốc gia khác của nền văn minh Đông phương

I.4. Hiện tượng đồ hình Âm Dương Lạc Việt trong văn minh Đông phương

 

Chương II: Tính minh triết trong đồ hình Âm Dương Lạc Việt và những di sản văn hóa  Việt giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ

 

Chương III: “Lưỡng nghi sinh Tứ tượng” sự lý giải nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ từ nền văn hiến Việt

III.1. Tứ tượng trong văn minh Hán

III.2. “Lưỡng nghi sinh Tứ tượng” nhìn từ di sản văn hóa truyền thống Việt

 

Chương IV: Tứ tượng biến hóa vô cùng

    IV.1. Sai lầm trong bản văn chữ Hán cổ: “Tứ tượng sinh Bát quái”

    IV.2. Minh triết Việt: “Tứ tượng biến hóa vô cùng”

IV.3. “Tứ tượng biến hóa vô cùng” xác định giá trị minh triết Việt trong văn minh    Đông phương

Phụ chương

Chương V: Thái cực – sự khởi nguyên vũ trụ theo thuyết  Âm Dương Ngũ hành từ minh triết Việt

Mở đầu

 

V.1. Thái cực theo cách lý giải của Hán Nho

V.2. Thái cực trong văn hien Việt

 

Chương VI: Minh triết Việt mô tả sự hình thành vũ trụ sau giây “0”

 

VI.1. Khởi nguyên vũ trụ theo giả thuyết của tri thức khoa học hiện đại

VI.2. Thái cực – sự khởi nguyên vũ trụ - từ minh triết Việt trong thuyết Âm Dương Ngũ hành

VI.3. Kết luận

 Phụ chương

I. Việt Dịch trên bãi đá cổ Sapa

 II. Công án nổi tiếng Phật giáo và “Thái cực sinh Lưỡng nghi”

 

Phần II.II: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và nguyên lý căn để từ minh triết Việt

Mở đầu

 

Chương I: Tóm lược những vấn đề liên quan từ bản văn chữ Hán cổ và sự xác định của nền văn hiến Việt về nguyên lý căn để trong ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành

 I.1. Sơ lược lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán          

 I.2. Sự xác định của nền văn hiến Việt với Hà đồ Lạc thư

 

Chương II: Tranh thờ Ngũ Hổ & Hà đồ nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong ứng dụng từ văn minh Lạc Việt

 II.1. Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương – nguyên lý căn để trong các phương pháp ứng dụng từ cổ thư chữ Hán và mâu thuẩn trong nội hàm cấu trúc

 II.2. Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt qua di sản văn hóa truyền thống Việt

 

Phụ chương

I. Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” và Lạc thư Hà đồ

 II. Tính minh triết trong trò chơi Lò cò của trẻ em Việt và tính ứng dụng của Hà đồ trong Lý học Đông phương.

 

 Chương III: Hậu thiên Bát quái Lạc Việt – mô hình biểu kiến trong nguyên lý căn để của Lý học Đông phương

 III.1. Bát quái trong bản văn cổ chữ Hán

III.2. Mâu thuẩn nội hàm và những vấn đề liên quan đến Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái từ cổ thư chữ Hán

III.3. Minh triết Việt và Hậu thiên Lạc Việt.

 

Chương IV: Những di sản văn hóa truyền thống Việt mang nội dung minh triết, liên quan đến việc đổi chổ Tốn/Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt

 IV.1. Tính minh triết Việt trong truyện “Tấm Cám” và vấn đề vị trí Tốn/Khôn trong Hậu thiên Bát quái Lạc Việt

IV.2. Bí ẩn thuyết quái truyện và sự chuyển đổi Tốn/Khôn

IV.3. Truyện cổ tích Việt Nam và những câu đối cổ

 Phụ chương

 I. Tính minh triết trong “Sự tích thằng Cuội” và vấn đề đổi chỗ Tốn/Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt

 II. Nguyên tắc ứng dụng của việc luận Dịch, liên quan đến nội dung giải mã truyện “Tấm Cám”

III. Một dị bản khác của truyện “Tấm Cám”, lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt

IV. Bài thơ của Lý Bạch – xác định những giá trị văn hóa Việt lưu truyền ở Nam Dương Tử - liên quan đến vị trí Tốn Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt

 

 Chương V: Minh triết Việt và Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ - nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương

 Mở đầu

V.1. Hậu thiên Lạc Việt

 V.2. Minh triết của cặp bánh chưng, bánh dầy – linh vật của nền văn minh Lạc Việt

V.3. “Chi chi, chành chành” – Bài đồng dao với Hà đồ và Hậu thiên Bát quái Lạc Việt

 

Phần III: Tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh trong sự tương quan hợp lý giữa nguyên lý căn để Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt với cấu trúc hệ thống trong các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành

 Mở đầu

Chương I: Hà đồ và Lạc thư Hoa Giáp

 I.1. Nguyên tắc nạp âm của Lục thập Hoa giáp trong cổ thư chữ Hán

I.2. Hà đồ và bí ẩn Lạc thư Hoa giáp

 I.3. Lạc thư Hoa giáp và tính hợp lý lý giải các vấn đề liên quan

 Phụ chương

 

Chương II: Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt – lý giải vấn đề liên quan trong các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành

II.1. Mô hình Tử vi và Hà đồ

II.2. Hoàng Đế nội kinh tố vấn, Hà đồ và những vấn đề liên quan

II.3. Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà đồ

II.4. Hà đồ trong chính văn kinh Dịch

II.5. Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt – Mô hình biểu kiến mô tả một thực tại tương tác giữa vũ trụ và Địa cầu

 II.6. Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt và khoa Phong thủy Đông phương

Phụ chương

I. Những truyện cổ tích Việt và sự liên hệ Bát trạch Lạc Việt trong Phong thủy

II. Nghịch lý trục Quỷ Môn trong cổ thư chữ Hán và Bí ẩn Thiên Môn – Địa Hộ với sự hoàn chỉnh của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ

 

 Chương III: Tính ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong hình thái ý thức xã hội và các mối quan hệ xã hội

 Mở đầu

 III.1. “Tam Dương khai thái” trong di sản văn hóa truyền thống Việt

III.2.”Tam Dương khai thái” trong di sản văn hóa Đông phương

III.3. “Tam Dương khai thái” từ nền văn hiến Việt và hình thái ý thức xã hội

III.4. Tín ngưỡng dân gian Việt và thuyết Âm Dương Ngũ hành III.5. Ảnh hưởng của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong di sản văn hóa truyền thống    Việt

III.6. Ngôn ngữ Việt và danh xưng của Bát quái

Chương IV. Thay lời kết Phần III

 

 Phần IV: Thay phần kết luận: sự hội nhập giữa các nền văn minh trong xu hướng toàn cầu hóa

 I. Va chạm giữa hai nền văn minh

 II. Chuẩn mực đối thoại và hội nhập giữa hai nền văn minh

 III. Những giá trị đích thực của văn minh Đông phương từ nền văn hiến Việt và sự phát triển của tương lai

 IV. Lời cuốn sách

Tài liệu tham khảo

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

        Nhân loại đang chứng kiến thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học và công nghệ, được đánh dấu bởi vô số những phát minh kỳ diệu từ những lĩnh vực lý thuyết trừu tượng nhất đến những ứng dụng kỹ thuật và công nghệ rộng rãi nhất trong thực tế sản xuất và đời sống. Phần lớn những thành tựu chủ yếu đó khởi nguồn từ sự ra đời sống. Phần lớn những thành tựu chủ yếu đó khởi nguồn từ sự ra đời của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, những bước tiến mang tính đột phá ngoạn mục nhất của Vật lý học thế kỷ 20. Nhận định chung cho rằng, những phát minh vĩ đại này đã tạo nên “đợt sóng thần” ngày càng dâng cao trong khoa học và công nghệ suốt thế kỷ 20-21 với những ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống con người, có tác dụng rất lớn đối với sự tồn vinh của nhân loại.

        Những thành tựu đó cũng đồng thời có tac dụng sâu rộng trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt là khoa học lịch sữ, gắn bó mật thiết với khoa học thông tin và khoa học dự báo. Liên quan đến Thông tin – Dự báo, một lĩnh vực khoa học có tính thời sự đang phát triển mạnh mẽ là Máy tính lượng tử - Viễn tải lượng tử Thông tin lượng tử, và một hướng nghiên cứu nảy sinh từ đó là “Viễn tải tâm linh” (Psy – chic teleportation) đang được quan tâm đặc biệt. Người ta chờ đợi rằng Thông tin lượng tử sẽ là một cuộc đại cách mạng trong công nghệ thông tin mà ảnh hưởng to lớn của nó là điều chưa thể dự báo.

        Những thành tựu của Vật lý học hiện đại rọi những tia sáng mới vào khoa học Dự báo, liên quan mật thiết đến phạm trù không gian – thời gian. Nghiên cứu bản chất sâu sắc của không gian – thời gian có ý nghĩa đặc biệt trong việc xây dựng lý thuyết Đại thống nhất.

        Cuốn Minh triết Việt trong văn minh Đông phương của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt qua sự phân tích những di sản văn hóa truyền thống bằng các phương pháp mang tính khoa học như trong tinh thần đã trình bày ở trên. Các kết quả nghiên cứu này tạo cơ sở để có thể khẳng định rằng dân tộc Việt với bề dày lịch sử gần 5000 năm băn hiến tính từ thời Hùng vương dựng nước là chủ nhân đích thực tạo dựng nên văn minh Đông phương mà nền tảng tri thức là lý thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 

        Cuốn sách có nội dung phong phú với rất nhiều những bức tranh dân gian, những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, đồng bào,…trong di sản văn hóa truyền thống Việt cùng với những luận giải sáng sủa, đầy tính thuyết phục, nhằm khai sáng các nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

        Ngoài ý nghĩa khoa học, cuốn sách còn có tác dụng hun đúc lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, khích lệ ý chí phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của tổ tiên.

        Từ lâu tôi đã có nhiều dịp gặp và tiếp xúc với tác giả, trao đổi ý kiến về một số vấn đề liên quan đến các lĩnh vực tiên tri, dự báo, các khả năng tiềm ẩn của con người, và rất tâm đắc với những nội dung trong sách. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ nhận được sự hưởng ứng của đông đảo độc giả.

 

21 – 5 – 2014

GS. Đào Vọng Đức

Viện Vật lý và Trung tâm nghiên cứutiềm năng con người

 

NHẬN XÉT TỔNG QUAN VỀ TÁC PHẨM

MINH TRIẾT VIỆT TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG

CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN VŨ TUẤN ANH

 

        Chúng tôi rất hân hạnh được tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh (NVTA) mời đọc bản thảo tác phẩm Minh triết Việt trong văn minh Đông phương (MTVTVMĐP). Niềm vinh dự này càng lúc càng tăng khi chúng tôi tiếp tục đọc và suy ngẫm những tài liệu căn bản giới thiệu trong tác phẩm. Chúng tôi đã đọc đi đọc lại bản thảo ba bốn lần để thấm nhuần dòng tư tưởng của tác giả trước khi viết vài dòng nhận xét này. Tác phẩm MTVTVMĐP đòi hỏi người đọc có một số kiến thức căn bản về Dịch, từ đó quyển sách đã dẫn chúng tôi từng bước đến những chân trời mới lạ có sức thu hút rất kỳ diệu.

        Chúng tôi đọc tác phẩm MTVTVMĐP qua lăng kính người làm khoa học duy lí và thực chứng. Cái nhìn của chúng tôi bị giới hạn bởi các phạm trù khoa học này. Tuy nhiên, hy vọng là những điều chúng tôi đề nghị có thể tăng sức thuyết phục khi tác phẩm này được đưa ra bàn cãi trước các diễn đàn quốc tế. Không sớm thì muộn tác phẩm này củng sẽ gây nhiều tranh cãi và phải đối đầu với các lời khen chê của các trường phái quốc tế, nhất là khi một quốc gia vì lý do nào đó cảm thấy căn bản nền văn hiến của họ bị đe dọa.

        Cách bố cục quyển sách rất độc đáo. Tác giả cho biết kết luận tổng quát ngay từ phần dẫn nhập, sau đó qua bốn phần chính, tác giả đưa ra thứ lớp các bằng chứng chứng minh cho mô hình từ căn bản khai sinh ra vũ trụ cho đến sự biến hóa tiếp diễn từ giản đơn đến phức tạp qua tổng hơp Dịch với Âm Dương Hà đồ. Người đọc có cảm giác như đang phiêu lưu đi tìm một kho tàng cổ vô giá đã bị vùi lấp dưới lau sậy của hàng ngàn năm vô tri thức. Giá trị của kho tàng không phải để tôn vinh một niềm kiêu hãnh dân tộc suông, mà còn có tiềm năng cống hiến những giải pháp quý giá cho các bế tắc khoa học hiện đại. Với những thành công vượt bậc trong các khoa học chuyên ngành, khoa học hiện đại vẫn lúng túng khi đi tìm sự thống nhất giữa khoa học vi mô và khoa học vĩ mô, điển hình là sự thiếu dung hòa giữa lý thuyết lượng tử (quantum mechanics) và lý thuyết tương đối (relativity physics). Trong khi đó Lý học Dịch Âm Dương Đông phương đã có tham vọng lý giải tổng quát và định tính những tương tác phức tạp giữa các yếu tố thiên nhiên, từ hạt lượng tử đến các dải ngân hà, và con người với vũ trụ.

        Thật là khó hiểu khi thấy kho tàng tri thức vĩ đại này vẫn tồn tại như một huyền bí với tiến bộ loài người hàng nghìn năm nay, mặc dù tiềm năng áp dụng không chỉ giới hạn trong khoa học tự nhiên, mà còn lan đến khoa học nhân văn (xã hội học, tâm lý học, triết học…) và cả những ngành liên quan đến nhân sinh như nghệ thuật hay tâm linh học. Cảm nhận điều này còn dẫn đến một nghi vấn lớn cho khoa học hiện nay: Động lực nào đã thúc đẫy loài người trong giai đoạn bị coi là bán khai từ 5-6 nghìn năm trước đi tìm và giải quyết những vấn đề mà nhân loại hiện nay mới bắt đầu phải đối đầu? Đây cũng là điểm đáng được đánh giá cao nhất của tác phẩm MTVTVMĐP vì đã góp phần rất lớn vào việc xây dựng phong trào “duy tân” cho nền văn minh cổ kính vĩ đại này. Xây dựng trên nền tảng một tri thức khách quan và nhất quán về nguồn gốc vũ trụ tiền không gian, tiền thời gian và vô số lượng, nền văn minh này có thể còn vượt trên nền văn minh hiện đại về một số phương diện. Hiện nay khoa học hiện đại vẫn còn tranh cãi sự hiện diện một quyền uy tối cao có quyền thưởng phạt vào thời điểm O, thì tri thức tối cổ này đã minh triết một quy luật khách quan, nhất quán và phố quát về vận hành của vũ trụ. Hơn thế, tri thức này còn có thể hàm ẩn một giải pháp phổ quát cho những học giả muốn áp dụng quy luật khách quan này vào việc giải quyết những bế tắc lớn ngày nay của nhân loại. Đe dọa đến sự sống còn của nhân loại ngay trước mắt phải kể đến hiểm họa ô nhiễm môi trường và mất thăng bằng phân bố của cải trong xã hội. Nhà bác học Stephen W.Hawking đã tiên đoán là với trình độ khoa học hiện tại, nhân loại không thể giải quyết kịp những hậu quả do chính khoa học gay ra.

        Chìa khóa để mở kho tàng này, lạ thay đã luôn luôn hiện diện trong nền văn minh Đông Nam Á, chỉ bị che phủ bởi một bức màng u minh nhân tạo. Công trình đặc sắc của tác giả NVTA chứng minh một cách hệ thống rằng bức màn vô minh này có thể bị soi thủng bởi minh triết văn chương bình dân Việt Nam, Đại Hàn và Nhật Bản. Qua những lý luận đầy sáng tạo, tác giả NVTA đã nhiệt thành chứng minh và kết luận rằng Lý học Dịch Âm Dương phải có nguồn cội chính từ Lạc Việt mà Việt Nam là nơi duy nhất còn lưu giữ được. Tác giả NVTA cũng ứng dụng hết sức sắc sảo tinh túy văn hóa dân quan Việt Nam vào việc thanh lọc những bế tắc phi lý của logic Lý học Dịch Âm Dương tồn tại trong những thư tịch bác học cổ. Sau khi đọc hết phần I, II, và III, câu hỏi hiển nhiên là tại sao vấn đề rõ ràng là sai như thế mà không học giả Hoa Hạ nào tìm hiểu để giải quyết trong suốt mấy nghìn năm?

        Không những ở Hoa H5, mà cả ở Việt Nam biết bao nhiêu nhân tài trong nền van minh bác học cũng đã bấc lực khi tìm hiểu căn bản Lý học Dịch Âm Dương qua kiến thức chấp nối từ thư tịch cổ. Vấn nạn như thế để hiểu phần nào trí tuệ vĩ đại của tiền nhân. Hầu như biết trước được sự suy tàn của nền văn minh Lý học Dịch Âm Dương, các ngài đã để lại di chúc cho đời sau bằng những ẩn dụ như ca dao, tục ngữ, truyện kể, những tranh dân gian mộc mạc màu sắc, những món ăn thiêng liêng hương vị, những trò chơi hồn nhiên cho trẻ em, những phong tục tập quán lễ nghĩa, v.v. để đợi ngày tinh túy được phục hưng. Tuồi thơ của chúng ta có lẽ đã trải qua bao lần bâng quơ tự hỏi tại sao lại có những dấu hiệu huyền bí trong tranh dân gian, câu cú đầy ẩn ý trong Lĩnh Nam trích quái, hay dời cô Tấm tại sao lại phong ba đến thế so với cô gái Lọ Lem?

        Tác phẩm MTVTVMĐP giúp chúng ta hiểu rằng cái tinh túy của Lý học tiền nhân đã cẩn thận gói ghém để trao truyền. Điều kiện lựa chọn truyền nhân đích thực lại đơn giản đến tuyệt vời. Chỉ có những học giả có lòng trân trọng văn hóa thuần túy dân dã Việt – một văn hóa bát ngát với câu Kiều bờ tre, mái rạ (thơ Chế Lan Viên) – mới có thể có được cái trực giác thẳng vào trọng tâm của Lý học Dịch Âm Dương để tìm ra những tương tác căn bản. Tiền nhân đã bỏ qua những tiêu chuẩn hạn hẹp như chủng tộc, màu da, tôn giáo, hay giap cấp xã hội trong việc lưa chọn truyền nhân. Các ngài hiểu rằng qua bao thăng trầm của lịch sử, những yếu tố đó đều là phụ và khó bền vững. Tương tự như xây dựng một Kim Tự Tháp với chân vững chãi bên Ai Cập, tinh túy của một nền triết học huyền vĩ được bồi đắp trong tâm khảm người Việt bằng những ứng dụng nhuần nhuyễn phổ biến sâu rộng trong quần chúng nông thông và hạ tầng cơ sở. Bài học này khiến chúng ta càng phải trân trọng giữ gìn những truyền thống xưa, vì biết đâu chúng còn chứa đựng những tinh hoa để lại mà chúng ta chưa tìm hiểu hết.

        Tác phẩm MTVTVMĐP kết thúc bằng truyện ngụ ngôn “Trê Cóc” đầy ý nghĩa. Cóc là linh vật của văn minh Văn Lang, thường hay thấy trên mặt các trống đồng. Cóc được tôn vinh là cậu ông Trời hay cội nguồn vũ trụ trong văn chương truyền khẩu. Cóc sinh ra nòng nọc: Danh từ “nòng” (tròn rỗng) và “nọc” (sắc nhọn như cọc) là tượng hình nôm na nhất của yếu tố Âm Dương. Vũ trụ vận hành dẫn đến Âm Dương tương tác.

        Trong truyện, cá trê đầy tham vọng hão huyền như Lý Ngư Vọng Nguyệt tượng trưng cho văn hóa Hoa Hạ, nhận lầm nòng nọc làm con. Cá trê mang nòng nọc về nuôi, hay mang Lý học Dịch Âm Dương về nhận làm văn hóa riêng, vì thế sau bao năm cọc cạch vẫn không hiểu được tinh túy. Nòng nọc đến ngày khôn lớn, mọc hai chân, lại trở về với Cóc là cha đẻ đích thực, tượng trưng cho sự phực hồi nền văn minh Văn Lang. Ẩn dụ tuyệt vời này đã được truyền khẩu bao đời, đến bây giờ ta mới thấm thía chiều sâu của nó.

        Tác giả NVTA đã dùng một số lớn tài liệu thư tịch cổ Trung Hoa để minh chứng cho lý luận của mình. Nội dung phần lớn của Lý học Dịch Âm Dương, nhất là các kiến thức áp dụng đều được ghi chép kỹ lưỡng trong những thư tịch cổ xưa này. Ngày nay, nếu còn có thể phục hưng lại Lý học Dịch Âm Dương, cũng phải dựa trên những tài liệu sách vở còn lưu truyền lại. Truyền thống bảo tồn các tư liệu văn hóa từ ngàn xưa của người Hoa Hạ rất là uyên bác. Mặc dù không nắm được phần tinh túy của lý thuyết, người Hoa Hạ cũng cảm nhận được giá trị vĩ đại của Lý học Dịch Âm Dương nên họ đã dày công gìn giữ. Khi thôn tính Văn Lang, họ đã không thô bạo như Mã Viện sau này, mang hết những trống đồng chiếm được ra đun chảy để đúc đồng trụ Giao Chỉ.

        Như thế, người Hoa Hạ có thể không có công sinh nhưng có đóng góp vào công dưỡng Lý học Dịch Âm Dương. Lý học Dịch Âm Dương là tài sản tinh thần cao quý chung của cả nhân loại. Trên con đường phục hưng giá trị cao quý này, chúng ta phải công tâm thừa nhận tất cả mọi đóng góp trong hàng ngàn năm qua. Một điều quan trọng là cờ quẻ Ly của Đại Hán cũng không có hai điểm Thiếu Âm và Thiếu Dương. Chúng ta cần tìm hiểu văn hóa bình dân của nước này để tìm thêm những tư liệu mới. Có thể Đại Hán cũng góp phần vào việc phục hồi tinh túy của Lý học Dịch Âm Dương.

        Người Lạc Việt biết đâu cũng thừa hưởng Lý học Dịch Âm Dương từ một cội nguồn trước đó và cũng không phải là chủ nhân của ông. Vinh dự là truyền nhân đích thực của hệ thống tư tưởng này trong một giai đoạn lịch sử nào đó đã lá quá lớn. Giới nghiên cứu Dịch hiện đại phải chuẩn bị hết sức công phu về mặt logic để công bố giả thuyết này, nếu không có thể không đứng vững được trên diễn đàn quốc tế. Trong thời gian hiện nay, nếu có thể được nên tránh những kết luận có tính chất đoán chắc. Tất cả những suy diễn từ một chứng cớ nào đó nên để dưới dạng giả thuyết.

        Trong tác phẩm MTVTVMĐP, kết luận Lạc Việt là chủ nhân ông đích thực của Lý học Dịch Âm Dương được lăp đi lăp lại rất nhiều lần. Chúng tôi đề nghị nên thu tóm những kết luận này trong vài chương chính, còn để chỗ ho phần suy diển. Kết luận này cũng nên coi là giả thuyết chứ chưa phải là sự thật hiễn nhiên đã được chứng minh.

        Phần miêu tả về phương pháp suy diễn dựa trên các tiêu chuẩn khoa học hiện đại, cũng được lặp lại quá nhiều lần. Nếu có thể được, mong tác giả NVTA tạo một chương hay một mục về phương pháp luận chung. Khi cần thì trích ra là đủ, không cần phải lặp lại.

        Một khái niệm so sánh trong phần II chương V về Thái cực với Kiến tánh có thể gây tranh cãi không cần thiết. Thái cực là thực thể vật chất mặc dù không chi phối bởi không gian, thời gian hay số lượng của bất cứ hệ thống vật lý nào của khoa học hiện đại. Sau thời điểm O, thái cực bất chợt biến hóa nhường chỗ cho Lưỡng nghi. Kiến tánh là một hiện tượng tâm thức thường hằng tồn tại với Thái cực và bất cứ biến hóa nào sau đó cảu Thái cực. Đối với Kiến tánh, hiện tượng Thái cực biến thành Lưỡng nghi cũng chỉ là Không (Không đây có nghĩa là không thường hàng chứ không phải là không có hiện hữu). Mặc dù hai khái niệm đều không bị chi phối bởi không thời gian và số lượng, nhưng theo thiển ý của chúng tôi, chúng hỗ trợ cho nhau nhưng không tương tự.

        Hình như trong phần III, tác phẩm có chương đề cập đến nền văn minh Atlantic và phân loại thời đại số V cho văn minh Văn Lang. Theo thiển ý của chúng tôi, những suy diển náy quá xa với những tài liệu nêu ra, và không làm sáng tỏ thêm chủ đề. Nếu có thể được, xin tác giả gác lại những chi tiết này để dùng cho một tác phẩm khác.

        Cũng xin tác giả cho một chương về phần định nghĩa các từ quan trong dùng trong sách chẳng hạn như: tiêu chí, minh triết, căn để, mệnh đề, định đề, v.v.để người đọc không hiểu lầm.

                                                                                                                                    22 – 5 – 2014

                           TS. Nguyễn Đồng

Orange, California 

 

THAY LỜI NÓI ĐẦU

Chia sẻ với bạn đọc

Sự bùng nổ liên kết thông tin toàn cầu, đã đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa và sự hội nhập giữa các nền văn minh. Trong đó có một nền văn minh lâu đời và huyền vĩ, vẫn sừng sững thách đố tri thức của nền văn minh nhân loại hiện đại, vốn có xuất xứ từ văn minh Tây Phương. Đó chính là nền văn minh Đông phương huyền bí.

Nền văn minh Tây phương với khoa học thực chứng, thực nghiệm rõ ràng, mà nền tảng tri thức là cả một quá trình tiến hóa phát triển trong lịch sử nhận thức được của nó. Ngược lại, nền văn minh Đông phương hoàn toàn mơ hồ và thậm chí có thời kỳ bị coi là "mê tín dị đoan"; nhưng đó lại là nền văn minh và những giá trị tri thức của nó tồn tại lâu nhất trong lịch sử nhận thức được của con người.

Chính sự tồn tại của những giá trị văn minh Đông phương, qua những hiệu quả ứng dụng trên thực tế của nó với sự bền vững hàng thiên niên kỷ, nên nó đã được giới khoa học hiện đại và những cơ quan có trách nhiệm chú ý tới. Cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc đã 4 lần tổ chức hội thảo về kinh Dịch ở Bắc Kinh - thủ đô của Trung Hoa. Đất nước được mặc định là cái nôi của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Nhưng cho đến tận ngày hôm nay, mọi sự khám phá về nền văn minh Đông phương vẫn hoàn toàn bế tắc.

Những bí ẩn của nền văn minh Đông phương vẫn sừng sững một cách huyền vĩ, thách đố tri thức của toàn thể nhân loại, trong sự hội nhập toàn cầu giữa các nền văn minh.

Giáo sư Lê Văn Sửu - một học giả có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa cổ Đông phương - đã nhận xét trong tác phẩm "Nguyên lý thời sinh học cổ Đông phương" của ông, như sau:

 

Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt, như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay. Họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của những di sản văn minh Đông phương này. Thế nhưng sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn.

 

Bởi vì: "Người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai".

Đã hơn hai ngàn năm trôi qua trong lịch sử văn minh Đông phương, cho đến tận ngày hôm nay - khi người viết thực hiện tiểu luận này - chưa hề có một cuốn sách nào miêu tả một cách tóm tắt những những yếu tố cấu trúc nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành - nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương - cũng như lịch sử hình thành của nó.

Vậy tương lai của sự hội nhập, hoặc đối thoại giữa hai nền văn minh Đông phương và Tây phương sẽ diễn biến như thế nào?

Đó sẽ là một sự hội nhập những kho tàng tri thức của nhân loại thuộc về hai nền văn minh, một cách hoàn chỉnh, có hệ thống; hay là sự chinh phục hoàn toàn của văn minh Tây phương, khi mà nền văn minh Đông phương không thể hiện được giá trị đích thực của nó?

Những giá trị nền tảng của nền văn minh Đông phương - thể hiện trên thực tế ứng dụng - chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Những nguyên lý, hệ quy chiếu, mô hình biểu kiến và cả một hệ thống phương pháp luận với những khái niệm của học thuyết này, dù chỉ là những mảnh vụn còn sót lại, cũng là một yếu tố quan trọng trên thực tế, đã tác động và gây ảnh hưởng đến mọi giá trị quan hệ xã hội với sự định hình lịch sử của nền văn minh Đông phương.

Vậy thì việc phục hồi lại những giá trị tri thức nền tảng đích thực của nền văn minh Đông phương này sẽ bắt đầu từ đâu, khi mà nền văn minh Hán, vốn tự nhận là chủ nhân đích thực của nền văn minh này, hơn hai ngàn năm qua đã không thể thực hiện được?

 Hay nói rõ hơn bằng một cách khác:  nền văn minh Hán không phải chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Vì nền tảng tri thức của nền văn minh Hán không thể phục hồi được những giá trị của nền văn minh này. Không phải bây giờ mà đã hơn 2000 năm trôi qua.

Một tiêu chí khoa học xác định rằng:

Một lý thuyết, hoặc một học thuyết thuộc  về nền văn minh nào thì nền tảng tri thức của nền văn minh đó, phải là cơ sở để hình thành nên lý thuyết, hoặc học thuyết đó.

Tất nhiên, hệ quả của tiêu chí này là: nền tảng tri thức của nền văn minh đó, phải có khả năng phục hồi lại chính lý thuyết, hay học thuyết được coi là thuộc về nền văn minh đã sinh ra nó.

Xét tiêu chí trên với tư cách là một chuẩn mực khoa học để thẩm định thì nền văn minh Hán không thỏa mãn.

Vậy thì nền văn minh nào là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành?

Các nhà khoa học hiện đại đã xác định có một nền văn minh cổ đại tồn tại ở miền nam sông Dương Tử và họ gọi là nền văn minh thứ V. Họ cũng xác định rằng: nền văn minh Nam Dương Tử này đã sụp đổ vào thế kỷ thứ III BC.

Sự tồn tại của nền văn minh thứ V này hoàn toàn trùng khớp với những sách sử xưa còn ghi nhận; như "Sử ký" của Tư Mã Thiên, đã nói về "Vùng đất Nam Dương Tử là nơi Bách Việt ở".

Chính sử Việt cũng ghi nhận và trở thành một truyền thống văn hóa sử trong tâm thức của dân tộc Việt:

Nước Văn Lang, dưới sự trị vì của các vua Hùng, là quốc gia đầu tiên của Việt tộc. Lập quốc vào năm Nhâm Tuất, năm thứ 8 vận 7, hội Ngọ - Tức năm 2879 BC. Biên giới nước Văn Lang: Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục và Đông giáp Đông Hải, là cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến.

Những giá trị văn hóa sử truyền thống ấy được lưu giữ trong lịch sử thăng trầm của dân tộc Việt và được coi là một chân lý hiển nhiên, trở thành niềm tự hào chính đáng trong mỗi người Việt Nam. Điều này cũng đã được ghi nhận một cách rõ ràng trong các bản văn Hiến pháp, sau khi Việt Nam giành lại độc lập từ đế quốc Pháp 2. 9. 1945, cho đến trước 1992.

Mặc dù trải bao thăng trầm trong lịch sử giống nòi: Hơn 1000 năm dưới sự đô hộ của đế chế Hán, hơn 1000 năm hưng quốc với một lịch sử chiến tranh giữ nước oanh liệt, nhưng đầy máu lửa qua từng triều đại:

Cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng; diệt quân Nam Hán thời Ngô Quyền; đánh Tống, bình Chiêm thời nhà Lý; ba lần chống Nguyên Mông thời nhà Trần; quật khởi giành độc lập mở đầu thời nhà Lê sau hơn 20 năm bị đô hộ khốc liệt bởi nhà Minh; đánh tan tác quân Thanh thời Tây Sơn và sau gần 100 năm thuộc Pháp đã giành độc lập với bao cuộc chiến tranh tàn khốc. Truyền thống văn hóa sử Việt với tâm thức Việt sử hơn 4000 năm văn hiến vẫn được trân trọng giữ gìn, lưu truyền qua bao thế hệ.

Suốt hàng ngàn năm lịch sử với hơn 1000 năm đô hộ của Bắc phương và bao thăng trầm của lịch sử của 1000 năm sau đó, dân tộc Việt vẫn thể hiện một sức sống mạnh liệt. Bởi chính bề dầy của một  nền văn hiến trong cội nguồn Việt sử còn ghi dấu ấn trong truyền thống văn hiến Việt. Đấy là nguyên nhân sâu xa tạo nên sức mạnh tiềm ẩn hào hùng của Việt tộc, khiến người Việt không bị đồng hóa trong hơn 1000 năm Bắc thuộc và góp phần quan trong tạo nên những kỳ tích lịch sử, khi quật khởi hưng quốc bắt đầu vào thế kỷ thứ X AC

Nhưng cũng với hàng ngàn năm Hán hóa, tiếp đó là sự thăng trầm của Việt sử, đã khiến một lớp bụi thời gian phủ dày lên lịch sử dân tộc. Cả một quá khứ  huy hoàng của dân tộc Việt bị khuất lấp. Hơn hai ngàn năm thăng trầm của Việt sử không phải là con số vô cảm để đọc trong một giây. Chính sự thăng trầm của Việt sử, đã khiến cho cội nguồn Việt sử bị xóa sổ, bao di sản văn hóa bị xói mòn, thất lạc. Truyền thống văn hiến ấy chỉ còn đọng lại trong tâm linh người Việt với những di sản văn hóa  còn lại có vẻ như mơ hồ,  có vẻ dường như  không đủ sức chứng minh cho một thực  tế  lịch sử bị khuất  lấp hàng thiên  niên  kỷ.

Dựa trên sự thất thoát của một lịch sử bị khuất lấp, bởi những  thăng trầm của Việt sử, cho nên  đã có những học giả cả trong nước lẫn ngoại quốc , căn cứ trên sự hoài nghi cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, đặt vấn đề lại vấn đề cội nguồn Việt sử.

Họ cho rằng thời Hùng Vương, cội nguồn của Việt sử chỉ tồn tại khoảng  300 năm, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ VII BC và chỉ là "một liên minh gồm 15 bộ lạc", hay cùng lắm là "một nhà nước sơ khai" với địa bàn sinh hoạt "vỏn vẹn ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam ngày nay". Những luận điểm này đã phủ nhận truyền thống văn hóa sử của dân tộc Việt và phủ nhận thực tế khách quan.

Nhưng những luận điểm này chỉ dựa trên sự hoài nghi và đòi hỏi chứng cứ về Việt sử 5000 năm văn hiến bị khuất lấp với những suy luận chủ quan, chứ không phải là một minh chứng khoa học thật sự, căn cứ vào tiêu chí khoa học là những chuẩn mực nhân danh khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nên nó không đủ sức thuyết phục để xác định tính khoa học cho luận điểm của họ.

Hỗ trợ cho những luận điểm phủ nhận những giá trị văn hóa sử Việt, cũng  không ít những học giả cả trong và ngoài nước, đặt câu hỏi hoài nghi rằng:

Tại sao gọi là văn hiến mà nền văn hiến truyền thống đầy tự hào ấy, thiếu vắng những giá trị minh triết?

Tại sao những nền văn minh tồn tại ngắn hơn về thời gian,  lại ghi nhận những giá trị minh triết với những triết gia tên tuổi và những di sản như là những kỳ tích của nền văn minh nhân loại? Còn 5000 năm văn hiến Việt được ghi nhận trong lịch sử và truyền thống đầy tự hào ấy thể hiện ở đâu?

Thực chất đây không phải là những luận cứ của phản biện. Mà chỉ là đặt vấn đề cho việc tìm kiếm một trong những yếu tố cần đề xác định một nền văn minh.

Nhưng chúng tôi xác định rằng:

Chính bề dày của nền văn hiến huyền vĩ Việt và những giá trị đích thực của nền văn minh này, nên chỉ với những mảnh vụn còn sót lại và được ghi nhận trong văn hóa truyền thống của Việt tộc, cũng đủ sức minh chứng cho một thời huy hoàng của Việt sử bên bờ Nam Dương Tử hàng ngàn năm trước. Và nền văn hiến Việt chính là chủ nhân đích thực của những giá trị tri thức của nền văn minh Đông phương. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.

Khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử vào thế kỷ thứ III BC, hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành  chỉ tồn tại một cách mơ hồ, bí ẩn, rời rạc và tam sao thất bản qua những di sản còn lại, được chuyển thể thành văn tự Hán với hàng ngàn năm Bắc thuộc và một ngàn năm tiếp tục Hán hóa ở bờ nam sông Dương Tử tiếp theo đó. Cho nên đã tạo một cảm giác huyền bí cho những hiểu biết của tri thức khoa học hiện đại.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết lý giải từ sự khởi nguyên vũ trụ, sự vận động của các thiên hà khổng lồ, cho đến mọi hiện tượng thiên nhiên, đến từng  hành vi của con người trong cuộc sống và xã hội, có khả năng tiên tri. Hay nói cách khác:

Đây chính là một lý thuyết mà chỉ với những yếu tố còn lại trong nội hàm của nó, phù hợp với tiêu chí của một lý thuyết thống nhất, mà những nhà khoa học hiện đại đã đặt vấn đề về sự tồn tại hay không của nó trong tương lai của văn minh nhân loại.

Bởi vậy, việc đi tìm những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ từ một nền văn minh khác phi Hán, chính là một giả thuyết hoàn toàn hợp lý trong sự hòa nhập giữa các nền văn minh để giải quyết những vấn đề được đặt ra.

Người viết đã hân hạnh trình bày với quý độc giả hàng loạt những đầu sách tìm hiểu về cổ sử Việt và nền Lý học Đông phương đầy huyền bí (*). Trong đó người viết đã chứng minh rằng:

 Dân tộc Việt với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử với quốc hiệu Văn Lang,  chính là cội nguồn của nền Lý học Đông phương và là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng tri thức của văn minh Đông phương.

 Chính từ bề dày từ nền văn hiến trải gần 5000 lịch sử đó, nên mặc dù trải bao thăng trầm của lịch sử, những di sản văn hóa còn sót lại của nền văn hiến Việt, vẫn lưu truyền trong cuộc sống văn hóa truyền thống Việt, như là những hóa thạch mô tả những giá trị nền tảng đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và có khả năng phục hồi lại toàn bộ học thuyết này. Chỉ có chủ nhân thực sự của nền văn minh Đông phương, mới có thể phục hồi những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh đó.

Việc phục hồi lại những giá trị nền tảng của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ những di sản văn hóa truyền thống Việt, thể hiện nền tảng tri thức của một nền văn minh chú nhân của một học thuyết có xuất xứ từ nền văn minh đó, theo tiêu chí khoa học, lại chính là điều kiện để xác định rằng:

Nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử, là cội nguồn của các dân tộc Việt Nam hiện nay.

Đây chính là mối tương quan nhân quả, liên kết hữu cơ hai mặt trong một sự kiện, phù hợp với tiêu chí khoa học cho việc xác định chủ nhân của một nền văn minh và những giá trị đích thực của nó.

Trong tiểu luận này, người viết hân hạnh trình bày với bạn đọc những giá trị minh triết Việt liên quan, như một thành tố trong một hệ thống nhất quán, chứng minh cho  các vấn đề thuộc nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, để xác định giá trị của học thuyết này trong di sản văn hóa truyền thống Việt, thể hiện trong những bức tranh dân gian, những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao, đồng dao …vv .. Những di sản này, miêu tả và lý giải một cách khác hẳn cách lý giải về nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các sách Hán cổ và minh chứng một cách có tính hệ thống, nhất quán toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan trong lịch sử văn minh Đông phương.

Đây là một công việc hết sức khó khăn, vì sự việc đã bị khuất lấp bởi hơn hai ngàn năm Hán hóa của lịch sử văn minh Đông phương, bên bờ nam sông Dương Tử. Một khối lượng thời gian quá nặng nề của lịch sử Việt. Trong khi đó, khả năng của chúng tôi chỉ có giới hạn. Cho nên mặc dù hết  sức cố gắng, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và bất cập.

Tuy vậy, chúng tôi vẫn hy vọng góp phần công sức của mình vào việc làm sáng tỏ cội nguồn gần 5000 văn hiến của Việt tộc và làm sáng tỏ những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương.

Người viết mong được có những ý kiến đóng góp quí báu từ bạn đọc.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của bạn đọc.

Ngươi viết cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến với Giáo sư Viện sĩ Đào Vọng Đức; Giáo sư tiến sĩ Chu Hảo đã quan tâm và cho ý kiến của mình về nội dung cuốn tiểu luận này.

Người viết cũng xin bày tỏ lời cảm ơn với Nhà xuất bản Tri Thức đã quan tâm và giành nhiều thời gian để giúp đỡ cuốn sách hoàn tất những thủ tục pháp lý xuất bản.

Người viết cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến tất cả những bậc trí giả và tác giả những cuốn sách được trích dẫn trong cuốn sách này.

Người viết cũng xin bày tỏ lời cảm ơn với các cộng sự trong Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã đóng góp những bài viết, hình ảnh tư liệu và những luận chứng trong cuốn sách này.

==============

* Chú thích: Trong tiểu luận này, người viết thường dẫn câu: "Trong các sách đã xuất bản của người viết" với tư cách giới thiệu tài liệu tham khảo thêm, bổ sung cho những vấn đề được đặt ra trong tiểu luận này.

Những cuốn sách này gồm:

- Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại. Nxb VHTT 2002. Tái bản lần II.

- Tìm về cội nguồn kinh Dịch. Nxb VHTT 2002. Tái bản lần II.

- Tính minh triết trong tranh dân gian Việt nam Nxb VHTT 2002. Tái bản lần II.

- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, Nxb TH T/p HCM 2006. Tái bản lần II

- Thời Hùng Vương và bí ẩn của Lục thập Hoa giáp. Nxb VHTT 1999

Tất cả nội dung của những cuốn sách này và các bài viết liên quan đều đã được công khai trên web lyhocdongphuong.org.vn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN DẪN NHẬP

Trong cuốn sách này, gồm nhiều bài viết với những luận cứ do chính người viết  chịu trách nhiệm. Ngoài ra còn một số bài viết của những tác giả khác là hội viên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, do ban biên tập Trung tâm nghiên cứu  Lý học Đông phương tập hợp và nguyên giám đốc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đồng thời là tác giả nội dung chính của tiểu luận này, chịu trách nhiệm chủ biên với toàn bộ nội dung.

Nội dung chính của cuốn sách này là: Qua sự phân tích nội hàm những di sản văn hóa truyền thống Việt, xác định một cách hệ thống kết cấu hợp lý, nhất quán, hoàn chỉnh phù hợp với tiêu chí khoa học, là chuẩn mực để thẩm định  tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, sự tiếp tục minh chứng cho cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến (2879 BC đến 2013 AC), như chính sử và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian ghi nhận trong nền văn hiến Việt và là chủ nhân đích thực của những giá trị của nền văn minh Đông phương.

Trong cuốn sách này là sự tập hợp một cách có hệ thống nhiều bài viết đã trình bày một cách độc lập trong các sách đã xuất bản, trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, được biên tập, chỉnh sửa và hiệu chỉnh sắp xếp lại, nhằm thể hiện tính hệ thống của chuỗi liên hệ trong chủ đề riêng của cuốn sách. Do đó, có thể xuất hiện vài đoạn trích dẫn, hoặc mô tả luận điểm được lặp lại trong từng bài viết vốn riêng rẽ. Nhưng xét thấy những hiện tượng này không làm ảnh hưởng đến nội dung. Nên chúng tôi vẫn giữ nguyên.

Trong cuốn sách này và nhiều cuốn sách, bài viết khác liên quan đã xuất bản, chúng tôi sử dụng cụm từ "Việt sử gần 5000 năm văn hiến" , thay cho cụm từ "Việt sử hơn 4000 năm văn hiến". Bởi vì, danh xưng "Việt sử hơn 4000 năm văn hiến" trở thành một thành ngữ trong ngôn ngữ Việt, được cho là xuất phát tử thời Hậu Lê. Nếu tính từ cột mốc 2879 BC theo chính sử ghi nhận thì đến thế kỷ XV, bắt đầu từ thời Hậu Lê, triều đại mở đầu với Lê Thái Tổ thì giới hạn thời gian này hoàn toàn chính xác.

 Nhưng cũng từ cột mốc này - "2879 BC" - tính đến nay là năm 2014 AC, người viết thấy cần xác định đúng nội dung thời gian là "Việt sử gần 5000 năm văn hiến".  Bởi vì: 2879 BC + 2014AC  = 4893 năm. Tức là chỉ còn đúng 107 năm nữa là tròn 5000 năm lịch sử văn hiến Việt.

Để bạn đọc tiện theo dõi, tham khảo, chúng tôi cũng cần phải nói rõ hơn cho phương pháp của chúng tôi khi trình bày những luận cứ của mình, trong việc minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến và sự liên hệ những giá trị minh triết Việt liên quan đến một học thuyết còn bí ẩn là thuyết Âm Dương Ngũ hành, tri thức nền tảng của nền văn minh Đông phương:

Đây là một việc rất khó khăn. Vì sự tìm hiểu này mang tính  rất đặc thù trong lịch sử tiến hóa của văn minh nhân loại hiện đại có nền tảng trí thức xuất xứ từ văn minh Tây phương. Bởi vì, trong lịch sử phát triển của nền văn minh hiện đại thì những lý thuyết khoa học đều bắt đầu từ nhận thức trực quan, thông qua phương tiện kỹ thuật khoa học thực nghiệm, thực chứng, được tổng hợp và mô tả trong học thuyết đó. Những lý thuyết khoa học hiện đại, khi được những tầng lớp tri thức khoa học tinh hoa chấp thuận, nó sẽ lại trở thành nền tảng của tri thức khoa học hiện đại và nền văn minh lại tiếp tục phát triển trên cơ sở nền những lý thuyết khoa học mới. Do đó, mặc dù những giá trị của các học thuyết khoa học thuộc về nền văn minh hiện đại, ngày càng manh tính chuyên ngành và không phải là kiến thức phổ thông so với tính chuyên ngành của nó, nhưng nó có sự rõ ràng với mối liên hệ hợp lý từ nền tảng tri thức và lịch sử nền văn minh hiện đại đã sinh ra nó.

Ngược lại với tất cả các học thuyết khoa học đã trở thành nền tảng tri thức trong lịch sử văn minh hiện đại nhận thức được, thì thuyết Âm Dương Ngũ hành lại là một học thuyết đã có sẵn so với lịch sử văn minh hiện đại nhận thức được. Nhưng nền tảng trí thức và lịch sử phát triển của nền văn minh sáng tạo ra nó đã sụp đổ và thất truyền. Học thuyết này chỉ còn lại những mảnh vụn rời rạc với những phương pháp ứng dụng rất mơ hồ, mâu thuẫn trong  các lĩnh vực: Y học và sức khỏe (Đông y); kiến trúc, xây dựng (Phong thủy); các phương pháp dự báo trong mọi lĩnh vực, liên quan đến cuộc sống, xã hội, thiên nhiên và từng hành vi của con người, như: Bốc Dịch, Tử Vi, Lạc Việt độn toán; Thái Ất, Độn giáp..vv...

Bởi vậy, những khái niệm, những nguyên lý, định đề trong các phương pháp ứng dụng ấy, hoàn toàn mang tính mặc định và rất mâu thuẫn; vì không có sự liên hệ từ một nền tảng tri thức xã hội của một nền văn minh đã tạo ra nó và từ một học thuyết đã thất truyền là cơ sở của nó. Nhưng chính những luận cứ trong hệ thống phương pháp luận của những phương pháp ứng dụng này liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã chứng tỏ học thuyết này là một thực tế đã tồn tại một cách hoàn chỉnh và có tính hệ thống trong lịch sử văn minh Đông phương.

Như vậy, học thuyết này phải xuất phát từ một nền văn minh rất cổ xưa và nền tảng tri thức, cũng như tất cả những phương tiện mà nền văn minh này có được từ lịch sử phát triển của nó, không thuộc về lịch sử nền văn minh hiện đại nhận thức được. Bởi vậy, sẽ có những khái niệm mô tả thực tại người xưa nhận thức được thì chưa phải là thực tại mà người thời nay nhận thức được.

Do đó, để phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành, không thể là sự lặp lại lịch sử tiến hóa của nhận thức và những phương tiện kỹ thuật đã xây dựng nên học thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh đã sụp đổ trong quá khứ cổ xưa.

Đây chính là tính đặc thù của việc phục hồi lại và chứng minh những giá trị nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, hoàn toàn không như sự hình thành những học thuyết khoa học trong lịch sử văn minh hiện đại.

Cho nên, chúng tôi chỉ có thể sử dụng chính những tiêu chí khoa học hiện đại, được hình thành trên nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, làm chuẩn mực để so sánh, đối chiếu, nhằm phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành, trên cơ sở những giá trị còn sót lại của nền minh triết Việt trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chúng tôi đã chứng minh trong các sách đã xuất bản và tiếp tục minh chứng trong tiểu luận này.

Trong tiểu luận này, có nhiều bài viết mô tả những giá trị minh triết Việt từ những di sản văn hóa truyền thống, mang tính thể hiện sự phản bác rất trực tiếp, liên quan đến những vấn đề thuộc nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, so với bản văn chữ Hán. Thí dụ như câu chuyện "Thày đồ tham ăn". Trong trường hợp này, chúng tôi chỉ so sánh, phân tích với những luận cứ chứng minh trực tiếp tính đúng đắn trong nội dung của những di sản văn hóa truyền thống Việt, khác hẳn sự kiện và vấn đề liên quan trong các sách Hán cùng mô tả, thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 Nhưng cũng có những di sản văn hóa truyền thống, không thể hiện trực tiếp nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành và chúng tôi phải giải mã những giá trị minh triết ẩn dấu trong nội dung của nó, qua những hình ảnh, biểu tượng được mô tả trong những di sản đó. Thí dụ như chuyện "Con Tấm, con Cám", "Nữ Oa vá trời"..vv....Trong sự giải mã đó hoàn toàn mô tả cái nhìn chủ quan của chúng tôi, khi liên hệ với những hiện tượng và vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành.  Nhưng hiện nay, do chưa có một chuẩn mực nào cho sự giải mã được coi là đúng. Đó cũng là lý do mà chúng tôi luôn xác định và lưu ý bạn đọc rằng:

Chúng tôi không bao giờ coi sự giải mã nội hàm những sự kiện và hiện tượng trong di sản văn hóa truyền thống, là luận cứ chứng minh cho vấn đề liên quan. Nhưng đó sẽ là sự định hướng cho riêng chúng tôi đến một giả thuyết và giả thuyết đó sẽ được thẩm định bằng những tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Chúng tôi cũng cần xác định rõ hơn rằng: Tất cả mọi sự mô tả và xác định nội dung từng hiện tượng và vấn đề trong di sản văn hóa truyền thống Việt, cho đến sự chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, ban đầu chúng tôi chỉ coi là một giả thuyết. Tính khách quan và chân lý sẽ được thẩm định, khi sự xác định và mô tả của chúng tôi của từng hiện tượng và vấn đề liên quan được tổng hợp và so sánh với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Có quan điểm cho rằng: Muốn chứng minh cho lịch sử thì cần có những di vật khảo cổ, như là một thực tế khách quan để thẩm định giả thuyết được coi là khoa học, liên quan đến thời gian lịch sử. Đây là một quan điểm phổ biến trong nghiên cứu lịch sử hiện nay.

Về vấn đề này, chúng tôi cần khẳng định rằng:

Di vật khảo cổ tìm thấy được là hiện tượng khách quan đã tồn tại trong lịch sử. Nhưng sự hiện diện của di vật khảo cổ chỉ là sự nhận thức trực quan, được dùng để mô tả, minh chứng cho một giả thuyết khoa học liên quan đến nó. Hoặc nó cũng có thể là cơ sở để từ đó người ta đặt một giả thuyết mới, hoặc chứng minh cho một giả thuyết về thời kỳ lịch sử liên quan.

Do đó, di vật khảo cổ tìm thấy được chỉ có thể coi là một bằng chứng khách quan minh chứng cho một giả thuyết khoa học, nếu như sự hiện hữu của di vật khảo cổ tìm thấy được, tồn tại một cách hợp lý trong nội hàm và có tính hệ thống của một giả thuyết khoa học. Cho nên, di vật khảo cổ tìm thấy được, không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho một giả thuyết khoa học được coi là đúng.

Hơn nữa, vấn đề coi di sản khảo cổ là điều kiện minh chứng cho lịch sử, còn phụ thuộc vào khả năng phát hiện di vật khảo cổ và điều này xác định một sự thật hiển nhiên rằng: Nếu không tìm thấy di vật khảo cổ thì không lẽ vì thế lịch sử không tồn tại?!

Bởi vậy, chúng tôi cần nhắc lại để khẳng định rằng:

Di vật khảo cổ không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho lịch sử.

Ngay cả những bản văn lịch sử, khi có nhiều bản văn mô tả cùng một sự kiện,  nhưng có những nội dung mâu thuẫn nhau; tất nhiên, nó vẫn cần một giả thuyết hợp lý và được thẩm định bằng tiêu chí khoa học cho một giả thuyết được coi là đúng.

Do đó, trong việc chứng minh và phục hồi một học thuyết cổ xưa đã tồn tại trên thực tế ứng dụng , tức sản phẩm của tư duy trừu tượng, di vật khảo cổ gần như không có vai trò nào trong trường hợp đặc thù này. Mà trong trường hợp đặc thù này, nó đòi hỏi tính thỏa mãn với chuẩn mực được đối chiếu, so sánh với nội hàm của học thuyết đó. Chuẩn mực đó chính là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Vào tháng 5. 2002, cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc đã thừa nhận những di sản văn hóa phi vật thể trong văn hóa truyền thống của một nền văn hóa, được coi là bằng chứng khoa học cho những giả thuyết về lịch sử của nền văn minh có những di sản văn hóa phi vật thể đó. Điều này một lần nữa xác định di vật khảo cổ, bản văn cổ không phải là bằng chứng trực quan duy nhất chứng minh cho tính khách quan của các hiện tượng thuộc về lịch sử. Khi việc tìm hiểu về quá khứ lịch sử chưa sáng tỏ hoàn toàn và được đặt ra bởi các giả thuyết nhân danh khoa học liên quan,  nó cần phải phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định những luận cứ minh chứng cho một giả thuyết, một học thuyết khoa học là phương pháp nhất quán và xuyên suốt của chúng tôi, qua những sách đã xuất bản và trong tiểu luận này, trong việc minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến và phục hồi những giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tất cả những giá trị nhận thức trực quan, như di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản khảo cổ, văn bản cổ và các nguồn tư liệu khác.... chỉ là những yếu tố cấu thành  trong mối tương quan hợp lý, có tính hệ thống trong giả thuyết được thẩm định bằng tiêu chí khoa học.

Trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ chia làm bốn phần; mỗi phần có thể gồm nhiều chương; mỗi chương có nhiều tiểu mục, có nội dung chủ yếu như sau:

1/ Phần I xác định luận điểm minh chứng Việt sử 5000 năm văn  hiến một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử và quốc gia đầu tiên của Việt tộc là Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng.

 Những luận điểm này đã được minh chứng qua những bài viết trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, đăng tải trên những web khác, trong những sách đã xuất bản của người viết. Nhưng chúng tôi sẽ tóm tắt và giới thiệu trong tiểu luận này với những luận chứng bổ sung.

Đây là cơ sở cho sự minh chứng với những luận cứ tiếp theo thể hiện trong nội dung chính của tiểu luận này.

2/ Phần II là nội dung chính của cuốn sách, tiếp tục minh chứng tính minh triết qua những di sản văn hóa truyền thống Việt, chính là nền tảng tri thức của nền văn minh Phương Đông với lịch sử gần 5000 năm văn hiến và khả năng phục hồi lại những giá trị đích thực của nền văn minh này, thông qua những di sản văn hóa vật thể, hoặc phi vật thể còn lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt.

Trong lịch sử phát triển của một nền văn minh thì chính là sự phát triển của nhận thức con người quan sát tự nhiên. Sự hình thành và phát triển một học thuyết trong một nền văn minh, đều bắt đầu bằng sự tổng hợp những nhận thức tự nhiên. Do đó, một học thuyết hình thành thì nó phải có hai phần liên hệ nhân quả. Đó là:

1/ Thực tại khách quan mà học thuyết đó mô tả.

2/ Nội dung học thuyết với hệ thống phương pháp luận được mô tả bằng những khái niệm, mô hình biểu kiến, ký hiệu tổng hợp quy luật vận động của thực tại và mô tả thực tại.

Do đó, trong phần II lại được chia làm hai phần có chủ đề riêng.

Phần II. I:

Trong phần này, chúng tôi thông qua những giá trị minh triết Việt, xác định đối tượng quan sát của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ và giới hạn ở trạng thái khởi nguyên vũ trụ với sự vận động của vũ trụ trong giai đoạn đầu. Đồng thời xác định những sai lầm trong các bản văn chữ Hán cổ và các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm nay, liên quan đến sự mô tả thực tại vũ trụ theo chính bản văn cổ chữ Hán.

Phần II. II:

Mô tả nội hàm những khái niệm, mô hình biểu kiến, ký hiệu tổng hợp chủ yếu, thể hiện nguyên lý căn để và những nguyên lý chuyên ngành, những mệnh đề, định đề, những nguyên lý cục bộ trong nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, được phục hồi từ những di sản của nền văn hiến Việt với sự xác định là chủ nhân đích thực của văn minh Phương Đông.

3/ Phần III:

Như chúng tôi đã trình bày: sự phục hồi một học thuyết cổ xưa là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt , là một việc chưa có tiền lệ và mang tính đặc thù trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại. Bởi vì, nền tảng tri thức và phương tiện kỹ thuật của nền văn minh tạo nên học thuyết này, không thuộc về nền văn minh hiện đại.

Do đó, chúng tôi chỉ có thể sử dụng những tiêu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, làm chuẩn mực để so sánh, đối chiếu, nhằm phục hồi học thuyết Âm Dương Ngũ hành, trên cơ sở những giá trị còn sót lại của nền minh triết Việt trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành. 

Tiêu chí khoa học căn bản cho một lý thuyết nhân danh khoa học, xác định rằng:

Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng thì nó phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.

Căn cứ vào những kết quả của phần II về sự mô tả và phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành , qua các di sản văn hóa truyền thống Việt, chúng tôi tiếp tục chứng tỏ sự phù hợp với chuẩn mực của một lý thuyết nhân danh khoa học là những tiêu chí khoa học, cho những vấn đề liên quan đến những nguyên lý căn bản của học thuyết đã được phục hồi với hầu hết những giá trị còn mơ hồ trong những phương pháp ứng dụng tiêu biểu của học thuyết này, như: Tử Vi, Phong thủy và các phương pháp dự báo tiêu biểu....cùng với mọi giá trị trong nhiều lĩnh vực liên quan, để chứng minh tính phù hợp với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Đây là nội dung của phần III.

4/ Phần VI là phần kết luận.

Từ những luận cứ chứng minh ở các phần trước, trong phần này chúng tôi mô tả thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan thống nhất, hoàn chỉnh, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương với những tiêu chí khoa học của chính nền văn minh Tây phương, là chuẩn mực thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, sẽ là cơ sở cho sự hội nhập giữa hai nền văn minh. Đồng thời chúng tôi cũng xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà các nhà khoa học đang mơ ước.

Trên cơ sở sự phục hồi lại những giá trị căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, lại là sự chứng minh cho chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương với Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Đây là mối liên hệ nhân quả cho vấn đề được đặt ra.

Trong cuốn sách này, chúng tôi không thể diễn đạt một cách hoàn hảo thuyết Âm Dương Ngũ hành, như thực tế nó đã tồn tại trong quá khứ; vì tính đồ sộ của cả một hệ thống tri thức thuộc về một nền văn minh đã tạo ra nó, thể hiện ở sự bao trùm lên khắp mọi lĩnh vực: từ lịch sử hình thành vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, cuộc sống, cho đến mọi hành vi của con người với khả năng tiên tri. Hay nói cách khác: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết bao trùm cả không gian, thời gian của vũ trụ và mọi vấn đề liên quan.

Do đó, việc mô tả một cách hoàn chỉnh của học thuyết này trong một vài cuốn sách là một điều không tưởng. Nhưng ít nhất, chúng tôi cũng trình bày để minh chứng, xác định lịch sử và cội nguồn đích thực của một nền văn minh với những giá trị căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Từ đó xác định một định hướng cho những công trình nghiên cứu tiếp theo.

Trong cuốn sách này, phần chính văn của các tác giả được thể hiện bằng kiểu chữ Times New Roman, in đứng hoặc nghiêng; phần trích dẫn được thể hiện bằng kiểu chữ Arian in nghiêng.

Để kết thúc phần dẫn nhập, chúng tôi hy vọng bạn đọc sẽ chia sẻ và đóng góp những ý kiến phát triển cho hướng nghiên cứu của chúng tôi với tinh thần khách quan khoa học.

Một lần nữa chân thành cảm ơn quí bạn đọc.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN I.

CỘI NGUỒN VIỆT SỬ - GIẢ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG.

Trăm năm bia đá thì mòn.

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Ca dao Việt

CHƯƠNG I

CỘI NGUỒN VIỆT SỬ TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG

Truyền thống trải gần 5000 năm văn hiến Việt được xác định trong tiềm thức của dân tộc Việt trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Điều này còn được ghi nhận trong chính sử và cả trong "Lời nói đầu" của các bản văn Hiến pháp từ trước 1992.

Nhưng tất cả những cuốn chính sử Việt thành văn còn giữ lại được, có nội dung xác định cội nguồn Việt sử gần 5000 năm văn hiến, đều chỉ từ thời Hậu Lê trở lại đây và nội dung cũng chưa rõ ràng, vì sự thăng trầm của Việt sử sau hơn 1000 năm Bắc thuộc. Do đó, cội nguồn Việt sử gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử với quốc hiệu Văn Lang, dưới triều đại của các vua Hùng chỉ được mô tả trong truyền thuyết, huyền sử.

Đó là nguyên nhân chủ yếu để ngay từ những năm 30 của thế kỷ trước, những nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn minh phương Tây như: Ngô Tất Tố, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim... Xa hơn nữa là chính sử gia Ngô Sĩ Liên, tác giả bộ sử nổi tiếng "Đại Việt sử ký toàn thư", đã đặt vấn đề hoài nghi tính xác thực của truyền thống Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến với quốc hiệu Văn Lang, dưới triều đại các vua Hùng. Tuy nhiên, họ chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề hoài nghi và không đưa ra những luận điểm bác bỏ mang tính hệ thống.

Vào những thập niên 70 của thế kỷ trước, xuất hiện ngày càng nhiều ý kiến của các nhà sử học không chỉ dừng lại ở sự hoài nghi, mà họ đưa ra những luận điểm nhân danh tính khách quan khoa học, phủ nhận văn hóa sử truyền thống về cội nguồn Việt sử gần 5000 năm văn hiến. Quan điểm của họ cho rằng: "Thời Hùng Vương thực chất chỉ là liên minh 15 bộ lạc, cùng lắm là một nhà nước sơ khai"  và "địa bàn hoạt động chỉ vỏn vẹn ở đồng bằng sông Hồng".

Vậy chân lý thực sự nằm ở đâu?

Sau nhiều năm xem xét, tìm hiểu những luận cứ phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt, người viết nhận thấy rằng: Những luận điểm này không đủ sức thuyết phục, vì không phù hợp với những tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học làm chuẩn mực.

Có thể xác định ngay rằng:  những luận cứ phủ nhận truyền thống văn hóa sử căn bản dựa trên sự hoài nghi và mang tính suy diễn chủ quan. Những luận cứ đó, chỉ căn cứ vào sự đòi hỏi những bằng chứng trực quan lịch sử từ nhận thức mang tính mặc định được coi là khoa học liên quan, như: sự ghi nhận mơ hồ và mâu thuẫn trong các bản văn cổ và việc đòi hỏi những di vật khảo cổ liên quan, nhưng không tìm thấy. 

Cũng có những ý kiến phản biện quan điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt của nhiều học giả. Nhưng không được coi là ý kiến mang tính phổ biến.

Tôn trọng tính chân lý khách quan khoa học và nhân danh khoa học, người viết đã trình bày luận điểm của mình qua những sách đã xuất bản và nhiều tiểu luận trên các trang mạng, nhằm chứng minh và xác định tính chân lý của truyền thống văn hóa sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử với thời đại Hùng Vương và quốc hiệu Văn Lang.

Như vậy, mọi vấn đề được đặt ra cho cội nguồn Việt sử, bắt đầu từ những sự tồn nghi liên quan đến huyền sử thời Hùng Vương và những di sản văn hóa truyền thống. Cho nên trong tiểu luận này, người viết cũng xin được bắt đầu từ đây.

 

I.1. HUYỀN SỬ THỜI HÙNG VƯƠNG

 Một dân tộc bị đô hộ hơn 1000 năm. Đây không phải là con số vô cảm để đọc trong một giây. Trong hơn 1000 năm đô hộ của Bắc phương, lịch sử chính thống Việt đã bị xóa sổ.

Đương nhiên, lịch sử chính thống của một quốc gia thì không giành sự tiếp tục lịch sử cho một dân tộc mất nước. Trong lịch sử văn minh nhân loại, chưa có một trường hợp nào ngoại lệ. Đó là nguyên nhân để không thể có một lịch sử chính thống ghi lại Việt sử, sau khi quốc gia Văn Lang của Việt tộc sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử vào thế kỷ thứ III BC với hơn một ngàn năm Bắc thuộc và một ngàn năm tiếp theo ở vùng đất này.

Đó cũng là nguyên nhân chủ yếu để cội nguồn Việt sử chỉ còn lại trong ký ức Việt tộc qua những truyền thuyết, huyền sử và những câu chuyện thần thoại lưu truyền trong dân gian về thời Hùng Vương trong lịch sử dựng nước của Việt tộc. Nhưng truyền thuyết, huyền thoại thì không phải là chính sử. Chính sử Việt còn lại thì gần nhất là thế kỷ XV sau Công nguyên, vào thời Hậu Lê. Chính sử của các triều đại trước Hậu Lê đã bị xóa sổ bởi quân xâm lược nhà Minh, sau gần 20 năm đô hộ Việt tộc.

Chúng ta giả thiết rằng:

Nếu các bộ chính sử từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần ghi nhận về thời Hùng Vương dựng nước một cách hoàn chỉnh còn tồn tại, thì cũng còn khoảng cách hơn 1000 năm của thời kỳ Bắc thuộc với thời gian nhà nước Văn Lang sụp đổ ở miền nam Dương tử từ năm 258 BC (Có sách chép là 257 BC). Trong điều kiện này, những nhà nghiên cứu có tư duy hoài nghi về cội nguồn Việt tộc, vẫn có thể đặt vấn đề cho sự nghi vấn của họ về tính chân thực lịch sử, giống như hiện nay của hầu hết những nhà khoa học lịch sử có quan điểm đặt lại vấn đề cội nguồn Việt tộc trải gần 5000 năm văn hiến.

Do đó, việc tìm lại cội nguồn Việt sử, như đích thực nó đã tồn tại là một công việc cực kỳ khó khăn và phải bắt đầu lại với những phương pháp khác. Tất nhiên, chúng tôi cũng phải bắt đầu từ truyền thuyết. Nhưng không phải duy nhất chỉ có truyền thuyết, huyền thoại, dã sử... là bằng chứng cho cội nguồn Việt sử trong sự đối chiếu với các vấn đề, sự kiện lịch sử liên quan. Những nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng: "Truyền thuyết có nguồn gốc từ sự thật lịch sử nào đó, nhưng nó không phải lịch sử".

Nhưng với lịch sử bị khuất lấp hàng thiên niên kỷ, thì chúng ta phải bắt đầu từ truyền thuyết, huyền sử và tất cả những gì còn lại liên quan để xác định nguồn gốc lịch sử của nó và chứng minh cho lịch sử. Hay nói một cách khác: Đi tìm một "nguồn gốc từ sự thật lịch sử" đằng sau sự mơ hồ của những truyền thuyết, huyền sử....

 Có thể nói rằng: Những truyền thuyết, dã sử và huyền thoại, thần thoại, cổ tích....vv....liên quan đến thời Hùng Vương dựng nước của Việt tộc rất phong phú, đa dạng. Trong số những truyền thuyết huyền sử phong phú về thời Hùng Vương, có nhóm truyền thuyết nổi tiếng mô tả những sự kiện tiêu biểu của từng thời Hùng Vương, chính là hệ thống truyền thuyết lịch sử thời Hùng. Nhóm truyền thuyết về thời Hùng Vương lập quốc của Việt tộc nổi tiếng này, đều bắt đầu bằng cụm từ: "Vào thời Hùng Vương thứ.....". Sau này, khi Việt tộc hưng quốc từ thế kỷ thứ X AC, được các học giả Việt sưu tầm viết thành sách.

Đây chính là nhóm truyền thuyết lịch sử thời Hùng Vương dựng nước, có cấu trúc từ tổng thể đến nội dung từng câu chuyện hết sức chặt chẽ. Người viết đã hân hạnh trình bày riêng nhóm truyền thuyết lịch sử thời Hùng Vương dựng nước này trong cuốn sách đã xuất bản "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại". Tái bản lần thứ II. Nxb VHTT 2002.

Mặc dù dã sử, truyền thuyết, huyền thoại...liên quan đến thời Hùng Vương, cội nguồn Việt tộc hết sức phong phú và đa dạng, mô tả lịch sử dựng nước và cội nguồn văn hiến Việt; nhưng nhiều học giả cho rằng nội dung mang màu sắc huyền bí, không đủ để tin cậy. Quả thật là: nếu chỉ dừng lại ở nội dung huyền thoại của truyền thuyết thì sẽ không thấy gì qua màu sắc huyền thoại bí ẩn của nó. Nhưng nếu chúng ta liên hệ nội dung truyền thuyết này với những di sản văn hóa truyền thống thì hoàn toàn lại thấy một mối liên hệ hợp lý, chứng tỏ tính hiện thực của truyền thuyết. Thí dụ như: "Sự tích trầu cau" với di sản văn hóa truyền thống là tục ăn trầu còn lại ở Việt Nam, Đài Loan hiện nay và khắp miền nam sông Dương Tử với cả Nhật Bản từ hàng ngàn năm trước. Hoặc "Sự tích bánh chưng, bánh dày" với phong tục dùng bánh chưng, bánh dày trong những ngày lễ Tết ở Việt Nam...vv...

Những đặc điểm của những truyền thuyết huyền sử thời Hùng Vương có thể tạm phân loại như sau:

1. Mơ hồ về địa danh.

Có những truyền thuyết lịch sử mô tả địa danh rất mơ hồ. Thí dụ như truyền thuyết về An Dương Vương xây Loa thành. Nhưng Loa Thành có đúng là thành Cổ Loa ở Hanoi, như nhiều học giả mặc định  không? Hiện nay chưa có chứng cứ rõ ràng về địa danh này.

2. Mơ hồ về thời gian.

Có những truyền thuyết lịch sử nói rõ địa danh, nhưng mơ hồ về thời gian. Thí dụ: Truyền thuyết về "Sự tích đầm Nhất Dạ", nói về Chử Đồng Tử và Tiên Dung, mô tả các ngài hóa ở đầm Nhất Dạ thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay. Nhưng về thời gian thì chỉ ghi: Vào đầu thời Hùng Vương thứ XVIII. Nhưng thời Hùng Vương thứ XVIII bắt đầu từ bao giờ thì không ghi trong truyền thuyết và huyền sử. Hoặc truyền thuyết "Sơn tinh, Thủy Tinh", cũng chi ghi "Vào cuối thời Hùng Vương thứ XVIII..."

3. Mâu thuẫn trong nội dung giữa một số truyền thuyết và quan niệm truyền thống.

Chính sử và truyền thống văn hóa sử xác định: Nước Văn Lang: Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải...Nhưng có rất nhiều truyền thuyết, huyền sử lại có nội dung xác định địa danh chỉ ở đồng bằng Bắc bộ. Thí dụ truyền thuyết về trao quyền cho An Dương Vương ở địa danh Nghĩa Lĩnh thì được cho rằng: chính là núi Nghĩa Lĩnh thuộc tỉnh Phú Thọ hiện nay. Mặc dù những người có luận điểm cho rằng kinh đô Văn Lang ở Phú Thọ, nhưng chính họ lại không hề có "di vật khảo cổ" chứng minh được điều này.

Hoặc có truyền thuyết mô tả Thục Phán An Dương Vương đánh bại vua Hùng thứ XVIII và lập nên nước Âu Lạc; cũng với sự kiện này lại có truyền thuyết ghi nhận vua Hùng Vương thứ XVIII trao quyền cho An Dương Vương.

Hoặc có những truyền thuyết mô tả sự kiện xảy ra ở Nam Dương tử, như sự tích Đức Mẫu Thoải, tức Bà công chúa Ba. Nhưng cũng lại có những truyền thuyết mô tả sự kiện xảy ra lại chỉ ở vùng Tây Bắc Việt Nam hiện nay, như truyền thuyết của đồng bào Tày về Thục An Dương Vương trong cuộc chiến giữa Hùng Vương và Thục Phán.

Tất nhiên, với hàng ngàn năm lưu truyền trong thăng trầm của Việt sử, cho nên những truyền thuyết lịch sử cội nguồn dân tộc và những văn bản liên quan, không thể tránh khỏi "tam sao, thất bản". Vấn đề là những nhà nghiên cứu nghiêm túc cần phải tìm ra giá trị nội dung đích thực của nó, từ một giả thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học và nhân danh khoa học.

Trong việc tìm về cội nguồn Việt sử gần như bị xóa sổ sau hàng ngàn năm Bắc thuộc và Hán hóa. Tôi xin được lưu ý bạn đọc là: hàng ngàn năm không phải là con số vô cảm được đọc trong một giây. Bởi vậy, qua truyết thuyết và huyền thoại có thể có nhiều giả thuyết liên quan. Nhưng bất cứ giả thuyết như thế nào, cũng chỉ được coi là đúng, khi nó phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Tuy nhiên, từ cội nguồn Việt sử, không chỉ có những truyền thuyết lịch sử, huyền sử...còn lưu lại. Mà trong di sản văn hóa truyền thống của Việt tộc còn rất nhiều những di sản văn hóa khác, vô cùng đồ sộ. Những di sản này, gắn liền với quá khứ và mang một nét văn hóa độc đáo riêng của Việt tộc. Nền văn hóa này, dù chung sống với cộng đồng văn hóa Hán đô hộ và bị Hán hóa trong hàng ngàn năm, vẫn thể hiện một bản chất văn hóa rất riêng, minh chứng cho cội nguồn Việt sử và xuất phát từ cội nguồn văn minh Việt sử.

Đó là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt tộc, mô tả một cách rất minh triết, liên quan đến một học thuyết còn bí ẩn của nền văn hóa Đông phương. Nó xác định một nền tảng tri thức của nền văn hiến Việt có khả năng phục hồi toàn bộ những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương, vốn được coi là huyền bí từ hàng ngàn năm qua. Tất nhiên, sự chứng tỏ tính khoa học đích thực của nền văn minh Đông phương, từ nền tảng tri thức đầy minh triết của văn hiến Việt, là một yếu tố cần cho việc minh chứng nền văn hiến Việt với bề dày gần 5000 năm lịch sử.

Chính từ bề dày của nền tảng văn hiến Việt, khiến cho dù tan tác với thời gian trong sự thăng trầm của Việt sử qua hàng ngàn năm bị đô hộ, nên chỉ những mảnh vụn còn lại cũng đủ làm sáng tỏ những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương. 

Bởi vậy, phần tiếp theo trong chương này, người viết giới thiệu những nét đặc trưng của những giá trị văn hóa truyền thống Việt từ nhận xét nêu trên.

 

I.2. VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT VÀ CỘI NGUỒN VIỆT SỬ.

Cội nguồn lịch sử văn hiến Việt, không chỉ để lại những truyền thuyết, huyền thoại, dã sử...từ thời Hùng Vương dựng nước, mà còn là cả một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng đồ sộ, thể hiện trên mọi loại hình từ văn chương, thơ ca, tranh, tượng, phong tục, tập quán...Hầu hết nội dung trong kho tàng văn hóa truyền thống Việt, đều hàm chứa giá trị minh triết sâu sắc với những yếu tố minh chứng một cách khách quan khoa học làm sáng tỏ những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh Đông phương.

Có lẽ tất cả những người Việt có tuổi từ vị thành niên trở lên, đều nhận thấy tục ăn trầu gắn liền với truyền thuyết lịch sử thời Hùng Vương thứ III là: "Sự tích trầu cau". Tục ăn trầu không chỉ còn riêng ở người Kinh, mà còn có cả những dân tộc ít người ở trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay. Không những vậy, Theo sách "Lĩnh ngoại đại đáp" của Chu Khứ Phi, người đầu đời Tống biên soạn vào thế kỷ XII chép rằng:

Từ Phúc Kiến, miền dưới Tứ Xuyên, miền Tây tỉnh Quảng Đông, đều có tục ăn trầu....

(Theo "Trầu cau đầu truyện". Tác giả Phạm Côn Sơn. Nxb Đồng Tháp)

Như vậy, tục ăn trầu vẫn còn ở Nam Dương tử vào thời Tống, (Tức cách đây hàng ngàn năm) và cả ở Đài Loan bây giờ. Sự phổ biến của văn hóa trầu cau ở khắp miền nam sông Dương tử, không thể bắt đầu từ một "liên minh bộ lạc với những người dân ở trần đóng khố" mà vùng cư trú chỉ "vỏn vẹn ở đồng bằng Bắc bộ".

Hoặc với "Sự tích bánh chưng, bánh dày" vào cuối thời Hùng Vương thứ VI. Di sản văn hóa phi vật thể này còn tồn tại trong văn hóa truyền thống Việt, như là linh vật thiêng liêng dâng cúng lên tổ tiên vào những ngày Tết cổ truyền của Việt tộc.

Và chính những di sản văn hóa phi vật thể phổ biến ở Nam Dương tử này (Trầu cau) và bánh chưng, bánh dày trong văn hóa truyền thống Việt, lại là bằng chứng chứng minh cho một quyền lực thống trị cấp quốc gia đã tồn tại, được mô tả qua truyền thuyết sau hàng ngàn năm thăng trầm của Việt sử, phù hợp với tính phổ biến của những di sản trong phong tục truyền thống.

Những hiện tượng di sản văn hóa phi vật thể trong truyền thống văn hóa Việt xác định và minh chứng cho cội nguồn Việt sử, đã được chứng minh trong cuốn sách đã xuất bản của người viết "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại" (Nxb VHTT.Tái bản 2002).

Việc đi tìm "nguồn gốc từ sự thật lịch sử" cho những truyền thuyết và  huyền sử qua những phong tục, tập quán còn lại, mặc dù rất khó khăn và mất nhiều công sức, nhưng đó cũng chưa phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho cả một thời đại, đã tồn tại trong lịch sử và là cội nguồn của nền văn minh Đông phương.

Những hiện tượng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, minh chứng cho nội dung truyền thuyết huyền sử về cội nguồn Việt sử nêu trên, cũng chỉ là một phần nhỏ trong kho tàng văn hóa sử truyền thống Việt. Những giá trị  minh triết đích thực của truyền thống văn hóa Việt vô cùng phong phú, nhưng do khả năng có hạn, nên trong tiểu luận này mới chỉ miêu tả và minh chứng  được một phần nhỏ. 

Chính những di sản mang đầy tính minh triết Việt, trong văn minh Đông phương, là những thành tố góp phần xác định cội nguồn và những giá trị thực sự của nền văn minh Đông phương một thời huyền vĩ thuộc về Việt tộc. Đây cũng là nội dung mô tả của tiểu luận này.

Nội dung minh triết trong văn hóa truyền thống Việt, là hệ quả của những giá trị tri thức đích thực và là nền tảng của văn minh Đông phương. Do đó, nó có sự liên quan chặt chẽ đến cả một hệ thống lý thuyết, đã tồn tại trên thực tế từ thời cổ xưa trong nền văn minh này. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn còn nguyên giá trị và ghi dấu ấn qua những di sản còn lại được lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt.

Sự minh triết mô tả những giá trị đích thực của văn minh Đông phương qua  những hình tượng được thể hiện trong những bức tranh dân gian; trong những nét chạm khắc trong các đình chùa, miếu mạo; trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích và thần thoại... vẫn lưu truyền. Thậm chí ngay cả trong ngôn ngữ của người Việt.

Bởi vậy, việc đi tìm lại cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương và làm sáng tỏ những giá trị huyền vĩ của nó, trên cơ sở di sản văn hóa truyền thống Việt với tính minh triết có liên hệ chặt chẽ với những giá trị huyền vĩ của nền văn minh Đông phương, chính là mối liên hệ nhân quả và so sánh với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một  giả thuyết khoa học được coi là đúng.  Đó là một phương tiện minh chứng một cách khoa học thực sự cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ ở bờ nam sông Dương Tử.

Cùng với những bài viết và sách đã xuất bản, những phần tiếp theo đây tiếp tục chứng tỏ điều này.

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG II.

VIÊT SỬ 5000 NĂM VĂN HIẾN.

CỘI NGUỒN ĐÍCH THỰC CỦA NỀN VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Như phần trên chúng tôi đã trình bày:

 Nền văn minh Đông phương huyền bí trải hàng ngàn năm. Khi văn minh Đông Tây giao lưu và hội nhập, những giá trị của nền văn minh Đông phương vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của văn minh hiện đại của nhân loại. Cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc đã bốn lần tổ chức hội thảo về kinh Dịch tại Bắc Kinh. Nhưng sự huyền bí vẫn hoàn huyền bí. Bởi vì: "Người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai!".

Cái sai đầu tiên là sự mặc định sai lầm trên cơ sở nhận thức trực quan trong tâm thức của con người, từ trước và sau khi hai nền văn minh Đông Tây hội nhập đã trải qua hàng nửa thiên niên kỷ. Đó là sự mặc định cội nguồn văn hóa Đông phương, mà cốt lõi là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, thuộc về văn minh Hán tộc. Do đó, vấn đề được đặt ra là tìm lại nguồn gốc đích thực của những giá trị tri thức của nền văn minh Đông phương.

 

II.1. TÌM LẠI NGUỒN GÔC ĐÍCH THỰC CỦA VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

 Khi mà hơn hai thiên niên kỷ trước, nền văn hiến Việt tộc đã bị xóa sổ và mọi giá trị của nền văn minh Nam Dương Tử đã bị Hán hóa. Đương nhiên, trong lãnh thổ của một đế chế, phải có sự thống nhất hành chính về hệ thống chữ viết và ngôn ngữ chính thức. Cho nên, hoàn cảnh lịch sử Việt tộc, trong hàng ngàn năm đô hộ của đế chế Hán, đã bị Hán hóa hầu hết những di sản của nền văn hiến Việt. Lịch sử đã tạo ra một hình thức bên ngoài bằng văn tự Hán với những tác giả người Hán, được gán ghép cho tất cả những giá trị của nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở Nam Dương tử.

Nhưng, sự đồ sộ đến huyền vĩ của cả một nền văn hiến với bề dày thời gian gần ba thiên niên kỷ ở Nam Dương tử (Từ 2879 BC - 258 BC), trước khi sụp đổ vào thế kỷ thứ III BC, không phải là một hệ thống kiến thức dễ hiểu, để người ta có thể dễ dàng muốn  chiếm đoạt.

Hàng thiên niên kỷ trôi qua, những nhà nghiên cứu Hán Nho qua các triều đại phong kiến Trung Hoa, vẫn không hề khám phá được những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, mà họ tự nhận là của chính họ. Thậm chí cho đến ngày nay, với mạng thông tin toàn cầu, sự tổng hợp của tất cả những tri thức của nền văn minh hiện đại vẫn không thể có một khám phá nào làm sáng tỏ được những giá trị huyền vĩ của nền văn minh Đông phương. Ngoại trừ chính những giá trị còn lại trong di sản văn hóa truyền thống Việt.

Chỉ một hệ thống phân loại theo học thuyết Âm Dương Ngũ hành cho vận khí hàng năm, mang tính ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành là bảng "Lục thập hoa giáp", nổi tiếng và rất phổ biến trong văn hóa Đông phương. Những học giả người Hán cũng không hiểu nguyên lý nào tạo dựng nên bảng Lục thập hoa giáp này. Thiệu Vĩ Hoa, là nhà nghiên cứu Dịch học nổi tiếng của Trung Quốc hiện đại, trong các tác phẩm của mình, phải thừa nhận:

"Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 giáp Tý , căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định, người xưa tuy có bàn đến, nhưng không có căn cứ cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu.

Bảng 60 Giáp Tý biến hóa vô cùng. Đối với giới học thuật Trung Quốc đến nay vẫn còn là huyền bí khó hiểu."

 

"Chu Dịch và dự đoán học"trang 12; "Dự đoán theo tứ trụ", Trang 68. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb VHTT  1996.

Chưa hết, gần đây chính những nhà khoa học tên tuổi của Trung Quốc đã nhận thấy không thể khám phá hết những bí ẩn của y thuật Đông phương, họ đề nghị bác bỏ Đông y, vốn được coi như ngành y thuật truyền thống của chính văn minh Hán.

Bạn đọc có thể tham khảo bài viết về hiện tượng này bên Trung Quốc, với tựa:

 

"Trung Quốc: Đông y sẽ đi về đâu?"

Người khơi mào cho cuộc chiến “chống đông y” là nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Trương Công Diệu, làm việc ở Sở Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã hội của Trường ĐH Trung Nam, thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

Trên blog của mình (http://zhgybk.blog.hexun.com/), ông kêu gọi xóa bỏ đông y và sửa điều 21 hiến pháp về việc khuyến khích phát triển y học truyền thống. Ông còn vận động chữ ký ủng hộ của những chuyên gia, học giả về y học. Một số thông tin nói rằng đã có trên 10.000 người tham gia ký tên, nhưng trong blog của ông Trương Công Diệu chỉ có khoảng 150 chữ ký. Thật ra, việc tranh luận về ưu khuyết điểm của đông y đã rộ lên ở Trung Quốc từ năm 2000. Tuy nhiên, sự việc chỉ trở nên “nóng ” gần đây khi ông Trương Công Diệu đăng một loạt bài viết trên blog của mình để phản đối đông y như “Chia tay đông y”, “Luận một lần nữa về sự chia tay đông y”, “Phân tích nguyên nhân thất bại của việc khoa học hóa đông y...”. Ông còn kêu gọi những chuyên gia y tế ký tên để ủng hộ việc kêu gọi chính phủ xóa bỏ đông y khỏi chính sách nhà nước và sửa hiến pháp.
Ông Trương lập luận rằng y học cũng là khoa học, khoa học phải tiến bộ, thế nhưng từ vài nghìn năm trước đông y đã ngừng tiến bộ. Bởi thế hiện nay đông y vẫn mang hơi hướm ma thuật. Trong những bài đăng trên blog, ông Trương cho rằng đông y không phải là khoa học, vì người ta không thể xác định quan hệ nhân quả trong đông y, cũng không thể thể hiện bằng kinh nghiệm và sự thật.
Ông nói rằng từ trước đến nay, những nỗ lực nhằm khoa học hóa đông y đều đã thất bại, ví dụ nhân sâm được đông y xem là bài thuốc rất hiệu quả, nhưng theo nghiên cứu của các nhà khoa học phương Tây, nhân sâm hoàn toàn không có hiệu quả y tế, chỉ là một loại thực phẩm an toàn bình thường thôi. Ông cho rằng ưu thế của đông y so với y học hiện đại thật ra chỉ là hiệu ứng thuốc trấn an tinh thần.

Theo báo Tuổi Trẻ

 

Nguồn web:  khoahoc.com.vn..

Chưa hết, sự bế tắc trong nghiên cứu Đông y của các nhà nghiên cứu Đông y hiện đại không chỉ ở Trung Quốc, mà còn ở tất cả các quốc gia có tham vọng nghiên cứu về lý luận của Đông y , còn có một nguyên nhân sâu xa hơn nữa. Đó chính là cuốn sách kinh điển về lý luận Đông y là cuốn "Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn", cho đến ngày nay vẫn là một sự bí ẩn một cách huyền vĩ. Sự bí ẩn này không chỉ ở nội dung cuốn sách, mà còn ở ngay thời điểm mô tả trong nội dung với lịch sử mơ hồ của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các bản văn chữ Hán liên quan.

Đó là: Tất cả những nhà nghiên cứu Đông y đều biết rất rõ rằng: Nội dung của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” thể hiện hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Đông y . Chúng ta có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương  Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm Dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp can chi). Như vậy, thuyết Âm Dương – Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn". Tức là từ thời Hoàng Đế, có niên đại ước tính khoảng 3000 năm BC, trước cả Lạc thư do vua Đại Vũ làm căn cứ phát hiện ra Ngũ hành hàng ngàn năm (Niên đại của vua Đại Vũ khoảng 2000 năm BC). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý.
Nếu như chúng ta tin vào tính chính xác về thời điểm xuất hiện của cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" thì sẽ phủ nhận toàn bộ những tác giả Trung Hoa được coi là sáng lập ra thuyết Âm Dương và Ngũ hành sau đó.


Vậy thì trước Hoàng Đế ai là người sáng tạo thuyết Âm Dương Ngũ hành? 
Trong khi chính cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" chỉ thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành , chứ không phải thể hiện nội dung của học thuyết đó ?

Trên đây, chúng tôi chỉ lấy vài hiện tượng để minh họa. Nhưng qua những thí dụ trên, bạn đọc cũng thấy rõ sự bế tắc trong nghiên cứu cội nguồn và những giá trị đích thức của nền văn minh Đông phương, mà chính người Trung Quốc tự nhận là của họ. Không phải chỉ đến bây giờ với các nhà nghiên cứu hiện đại mới xuất hiện sự bế tắc này. Mà sự bế tắc đã trải hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn minh Hán với những nhà nghiên cứu Hán Nho tên tuổi, tiêu biểu cho nền văn minh Hán suốt hai thiên niên kỷ đến ngày nay.

Hơn thế nữa, là sự bế tắc này không chỉ giới hạn ở vài lĩnh vực học thuật liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mà còn là một sự bế tắc toàn diện, từ nội dung học thuyết, lịch sử hình thành và nền tảng tri thức để có thể lý giải được nội hàm của học thuyết này. Thậm chí cho đến từng mệnh đề, nguyên lý trong các phương pháp ứng dụng, như Phong thủy, Đông y, dự báo...vv...cũng hoàn toàn bế tắc.

 Đây là bằng chứng sắc xảo xác định rằng:

Nguồn gốc của nền văn minh Đông phương, không thuộc về văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, nó xác định một thực tế rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh Hoa Hạ, không có khả năng phục hồi lại chính những di sản tri thức mà họ tự nhận là của họ. Sự bế tắc trong việc tìm hiểu những giá trị của nền văn minh Đông phương, không phải bây giờ mà đã hơn 2000 năm trôi qua, kể từ khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương Tử. Tất nhiên, với thời gian hơn 2000 năm, cũng không phải là con số vô cảm để đọc trong một giây.

Sai lầm lớn nhất để phục hồi học thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là sự mặc định học thuyết này thuộc về văn minh Hoa Hạ. Những tri thức của khoa học hiện đại đã xác định ba tiêu chí căn bản để xác định một học thuyết thuộc về một nền văn minh nào đó, phải thỏa mãn ba tiêu chí này.

Đó là các tiêu chí sau đây:

1/ Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống lý thuyết, được xác định thuộc về một nền văn minh nào thì nó phải có tính liên hệ hợp lý trong lịch sử phát triển của nền văn minh đó.
2/ Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết thuộc về nền văn minh đó.
3/ Tính hợp lý, nhất quán và hoàn chính trong nội dung hệ thống lý thuyết và không có mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của hệ thống lý thuyết đó.

Đây là ba tiêu chí được phân loại, nhưng chúng liên quan và bổ sung cho nhau, làm chuẩn mực để xác định nền văn minh là nguồn gốc của một học thuyết, hoặc lý thuyết được xây dựng từ nền văn minh đó.

Xét trên ba tiêu chí này thì nền văn minh Hoa Hạ hoàn toàn không hề thỏa mãn tiêu chí nào.

1 .Tiêu chí thứ nhất:

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống lý thuyết, được xác định thuộc về một nền văn minh nào thì nó phải có tính liên hệ hợp lý trong lịch sử phát triển của nền văn minh đó.
Về tiêu chí này thì có thể nói rằng: Cho đến tận ngày hôm nay, chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa, cũng không hề xác định được thời điểm ra đời của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong lịch sử văn minh Hán. Bởi vì những mâu thuẫn trong nội dung các bản văn chữ Hán liên quan đến lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành với thời điểm lịch sử ra đời của nó, đã khiến không thể xác định được thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời vào lúc nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ.

Thí dụ:

Hầu hết các nhà nghiên cứu Trung Hoa hiện nay cho rằng: Thuyết Âm Dương và Ngũ hành hoàn chỉnh vào thế kỷ thứ III BC, do phái Âm Dương gia tổng hợp. Nhưng nội dung bản văn cuốn "Hoàng đế nội kinh tố vấn" , cuốn sách lý luận mang tính kinh điển của Đông y, lại xác định đã ứng dụng hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, cách sự ra đời của phái Âm Dương gia hơn 3000 năm trước đó - vào thời Hoàng Đế, ước tính gần 6000 năm cách ngày nay?!

Chưa hết.  Truyền thuyết lưu truyền trong các bản văn chữ Hán xác định rằng: "Hà đồ do vua Phục Hy tìm ra trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà". Nhưng thực chất thì Hà đồ lại chỉ công khai  phổ biến bắt đầu từ đời Tống, sau thời điểm vua Phục Hy tìm ra đến 4000 năm và tự nó đã mang nội dung của Âm Dương Ngũ hành.

Cũng truyền thuyết lưu truyền trong các bản văn chữ Hán xác định rằng:

Vua Đại Vũ (2000 năm BC), tức cách phái Âm Dương gia khoảng 1700 năm, đã thấy rùa thần trên sông Lạc Thủy và căn cứ vào đấy để tìm ra thuyết Ngũ hành, được miêu tả trong trù thứ nhất của "Hồng phạm cửu trù"(*).

2. Tiêu chí thứ hai:

Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết phải chứng tỏ được nền tảng tri thức, đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết thuộc về nền văn minh đó.

Nền văn minh Trung Hoa cũng không thể hiện được tiêu chí này. Hơn 2000 năm đã trôi qua, những nhà nghiên cứu Hán Nho và cả những nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa, cũng không thể phục hồi bản chất đích thực của chính những giá trị tri thức được coi là của họ đã chứng tỏ điều này.

Cho đến tận ngày hôm nay, khi hai nền văn minh Đông Tây hội nhập thì những giá trị của nền văn minh Đông phương huyền vĩ vẫn sừng sững thách đố trí thức của toàn thể nhân loại. Cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc, tổ chức văn hóa lớn nhất của cả nhân loại , đã bốn lần tổ chức hội thảo về kinh Dịch ở Bắc Kinh, nhưng vẫn không thể khám phá được bản chất đích thực của kinh Dịch. Trong khi đó, kinh Dịch chỉ mới là một mảng trong toàn bộ tri thức của nền văn minh Đông phương huyền vĩ. Hay nói rõ hơn: Cả nền văn minh Hán cộng luôn với nền văn minh hiện đại cũng không thể làm sáng tỏ được sự huyền vĩ của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Điều này chứng tỏ nền văn minh Hán và nền văn minh hiện đại với lịch sử nhận thức được, không phải là nền tảng tri thức tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành.

3.Tiêu chí thứ ba.

Tính hợp lý, nhất quán và hoàn chỉnh trong nội dung hệ thống lý thuyết và không có mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của hệ thống lý thuyết đó.

Điều kiện này thì những di sản liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành qua bản văn chứ Hán cũng không thể hiện được. Những xuất phát điểm được coi là tiên đề của một học thuyết hoàn toàn mơ hồ:

Con Long Mã hiện lên trên sông Hoàng Hà, vua Phục Hy căn cứ vào ký hiệu trên lưng Long Mã làm ra Hà đồ. Con thần quy xuất hiện trên sông Lạc Thủy, vua Đại Vũ căn cứ vào những chấm trên mình thần quy làm ra Lạc thư....là vài ví dụ.

 Chưa hết, lịch sử ra đời và nội dung học thuyết hết sức mâu thuẫn với những khái niệm hoàn toàn không thể giải thích được với chính những nhà nghiên cứu Hán Nho trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ đã chứng tỏ điều này.

Sự bế tắc trong việc phục hồi và khám phá những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương trải hàng ngàn năm qua, cho đến tận bây giờ là một bằng chứng sinh động cho thấy rằng: Nền văn minh Hoa hạ không phải là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng tri thức cốt lõi của những giá trị văn minh Đông phương cổ đại.

Như vậy, xét trên ba tiêu chí làm chuẩn mực để xác định một học thuyết ra đời trong lịch sử của một nền văn minh thì nền văn minh Hán không hề thỏa mãn.

Do đó, tất cả những nghiên cứu về nền văn minh Đông phương với giá trị cốt lõi của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành, sẽ không thể có một kết quả hợp lý. Sự sai lầm ngay từ đầu, khi những nhà nghiên cứu mặc định chúng có cội nguồn văn minh Hán. Hệ quả của sự mặc định này, khiến cho những nội hàm khó hiểu và đầy mâu thuẫn trong giá trị nội dung của học thuyết này được coi như những thành tựu, nên không thể hiệu chỉnh, hoặc phủ định. Cho dù nó hết sức vô lý.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng cốt lõi của nền văn minh Đông phương không thuộc về văn minh Hán. Vậy nó thuộc về nền văn minh nào trong lịch sử văn minh Đông phương?

 

II.2. DI SẢN VĂN HÓA VIỆT VÀ CỘI NGUỒN VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Các nhà khoa học quốc tế với chuyên môn liên quan đến khoa lịch sử, đã nói đến nền văn minh thứ V của nhân loại ở Nam Dương Tử và cho rằng: Nền văn minh này biến mất một cách bí ẩn vào thế kỷ thứ III BC.

Kết luận về sự biến mất bí ẩn của nền văn minh thứ V bên bờ Nam sông Dương Tử và thời điểm kết thúc của nền văn minh này, hoàn toàn trùng khớp với truyền thống văn hóa sử Việt và những sự kiện lịch sử được ghi nhận trong chính sử Việt.

Trong truyền thuyền và huyền sử Việt cũng nhắc tới một thời huy hoàng của Việt sử: Nước Văn Lang - Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải và là một quốc gia tạo dựng nền văn hiến Việt tộc. Thời Hùng Vương kết thúc vào năm 258 BC. Tức thế kỷ thứ III BC.

Trong cuốn Sử ký của sử gia cổ đại Tư Mã Thiên cũng viết: "Nam Dương Tử là nơi Bách Việt ở".

Trên cơ sở tổng hợp giữa những phát hiện của giới khoa học về nền văn minh thứ V ở Nam Dương Tử và những di sản của văn hóa sử truyền thống Việt, một giả thuyết nhân danh khoa học được đặt ra và xác định rằng:

Chính Việt tộc là chủ nhân của nền văn minh thứ V ở miền nam Dương Tử và là chủ nhân đích thức của những giá trị văn minh Đông phương.

Đây cũng là yếu tố xác định một nền văn minh của một dân tộc đầy tự hào với danh xưng văn hiến Việt và lịch sử gần 5000 năm, tính tới ngày nay.

Vấn đề là chứng minh giả thuyết này.

 

II.3. TIÊU CHÍ KHOA HỌC LÀ CHUẨN MỰC THẨM ĐỊNH NỘI DUNG LÝ THUYẾT NHÂN DANH KHOA HỌC.

Sự hình thành và phát triển tri thức khoa học hiện đại có nguồn gốc từ văn minh phương Tây, đã trải qua nửa thiên niên kỷ, tính đến ngày nay. Tri thức khoa học hiện đại có nguồn gốc từ Tây phương, bắt đầu từ những nhận thức trực quan có tính ứng dụng, đến những lý thuyết khoa học được hình thành qua thực chứng, thực nghiệm. Từ đó đã xuất hiện, hình thành và phát triển những tiêu chí khoa học, như là những chuẩn mực để xác định một lý thuyết, giả thuyết khoa học được coi là đúng.

 Nếu như những tiêu chí khoa học để thẩm định một hệ thống lý thuyết thuộc về một nền văn minh, đã chứng tỏ rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về văn minh Hán, thì chính những tiêu chí đó phải chứng tỏ rằng nó thuộc về văn minh Việt cổ, như giả thuyết được đặt ra và nó phải được tiếp tục thẩm định trên cơ sở những tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Sự tổng hợp những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng có nội dung như sau:

Một lý thuyết hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

Những chuẩn mực trong tiêu chí khoa học để thẩm định một giả thuyết khoa học được coi là đúng, sẽ được ứng dụng để chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến với quốc gia đầu tiên là Văn Lang, khởi nguồn ở miền nam sông Dương Tử.

Trong tiêu chí khoa học nhằm xác định một lý thuyết thuộc về nền văn minh nào thì điều kiện là: nền tảng tri thức của nền văn minh đó phải là cơ sở tri thức để tạo dựng nên học thuyết đó. Tất nhiên, hệ quả hiển nhiên của nó phải là: Nếu một nền tảng tri thức của một nền văn minh là cơ sở để hình thành một học thuyết thì nó phải có khả năng phục hồi lại những giá trị đích thực của học thuyết đó. Nếu tiếp tục xét theo nội dung khoa học của một học thuyết nhân danh khoa học, nó còn phải thỏa mãn những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, điều mà người viết đã trình bày ở trên.

Sự lựa chọn tiêu chí khoa học thuộc tri thức của nền văn minh hiện đại làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết, lý thuyết khoa học, chính là sự lựa chọn nhân danh tư duy khoa học hiện đại và phù hợp với quy luật tự nhiên. Bởi vì, trí thức khoa học hiện đại Tây phương là nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay. Hiển nhiên, nó phải là chuẩn mực để thẩm định mọi giá trị thuộc các nền văn minh khác.

Tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, giả thuyết nhân danh khoa học, chính là hệ quả của nền khoa học hiện đại, là chuẩn mực để thẩm định cho mọi giả thuyết khoa học trong hiện tại và tương tai. Không thể nhân danh khoa học mà không có những chuẩn mực khoa học để thẩm định những giá trị tri thức khoa học. Đây cũng là chuẩn mực để xác định tính khoa học và cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến.

Nền văn hiến Việt đã tồn tại với bề dày của hàng ngàn năm huyền vĩ bên bờ nam sông Dương Tử. Cho nên, dù trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của Việt sử, nhưng chỉ với những giá trị còn sót lại còn lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt, cũng đủ chứng tỏ sức sống mãnh liệt của những giá trị Việt và khả năng phục hồi lại những giá trị nền tảng của nền văn hóa Đông phương huyền vĩ.

Đây cũng là nội dung chủ yếu của cuốn tiểu luận này, nhằm bổ sung có tính hệ thống cho luận điểm của người viết qua những sách và bài viết đã xuất bản và trình bày. Hay nói rõ hơn:

Những di sản văn hóa truyền thống Việt, phổ biến trong cuộc sống Việt là hệ quả  của một nền tảng tri thức đích thực của những giá trị minh triết thuộc văn minh Đông phương. Do đó, nó phản ánh những nội dung của nền tảng tri thức thuộc về văn minh này. Và qua đó chúng ta sẽ tìm thấy những giá trị minh triết đích thực của nền văn minh Đông phương với khả năng phục hồi lại một cách có hệ thống học thuyết Âm Dương Ngũ hành, bắt đầu từ những di sản còn lại từ nền văn hóa chủ nhân của nó.

Trên cơ sở những vấn đề được đặt ra, cuốn tiểu luận có trong tay bạn đọc sẽ chứng tỏ một nền minh triết Việt, qua những di sản văn hóa truyền thống, đã mô tả một cách độc đáo và khác hẳn nội dung thuyết Âm Dương Ngũ hành được lưu truyền qua các bản văn chữ Hán từ hàng thiên niên kỷ.

Bởi vậy, phần tiếp theo trong tiểu luận này, chúng tôi trình bày nội dung căn bản của một hoc thuyết tối cổ và là nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương huyền vĩ, qua những di sản của nền văn hiến Việt. Nhằm chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử.

 

CHƯƠNG III.

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TỪ VĂN HIẾN VIỆT

MỘT HỌC THUYẾT HOÀN CHỈNH MÔ TẢ SỰ VẬN ĐỘNG

& TIẾN HÓA CỦA VŨ TRỤ.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh trên thực tế ứng dụng. Có thể nói rằng: Tất cả các bộ môn ứng dụng phổ biến trong xã hội Đông phương từ cổ đại đến ngày nay, đều được mô tả với hệ thống phương pháp luận của học thuyết này. Đó là: Đông y, Phong thủy, Tử Vi, Bốc Dịch...với các môn dự báo khác và chúng đều có khả năng tiên tri.

Nếu nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại thì đây là hệ quả của một mô thức tư duy phức hợp đa ngành. Tất nhiên học thuyết này phải là sự tổng hợp những tri thức của một nền văn minh cao cấp đã từng tồn tại trên trái Đất này.

Khi hai nền văn minh Đông Tây hội nhập với mạng thông tin toàn cầu, thì nền văn minh Đông phương vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của nhân loại, trong việc tìm hiểu những bí ẩn của kho tàng văn hóa Đông phương.

Nhưng ngược lại, chính hệ quả của học thuyết này, thể hiện trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, lại mô tả khác hẳn những cách hiểu về học thuyết này trong bản văn chữ Hán. Và nó xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, mô tả toàn bộ vũ trụ từ khởi nguyên cho đến mọi sự vận động vũ trụ trong thời gian lịch sử của nó, có thể tiên tri cho đến từng hành vi của con người, bằng những phương pháp tiên tri độc đáo và nổi tiếng vẫn tồn tại trong văn minh hiện đại.

"Không có sự nhận thức tính quy luật thì không có khả năng tiên tri".

Đây là một nguyên lý tất yếu và cũng là yếu tố cấu thành trong tiêu chí khoa học, để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì nó phải có khả năng tiên tri. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi đặt một giả thuyết cho rằng:

Những phương pháp tiên tri, hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành , chính là sự tổng hợp những quy luật căn bản của vũ trụ chi phối mọi hiện tượng của tự nhiên, cuộc sống và xã hội, cho đến từng hành vi của con người.

Những phương pháp tiên tri và khả năng tiên tri trải rộng trong tất cả mọi mặt của các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành và là hệ quả của nó, từ Đông y, phong thủy, dự báo...đã mặc nhiên xác định: đây là một học thuyết mà sự nguyên thủy của nó mang tính nhất quán, hoàn chỉnh trong một cấu trúc hợp lý nội tại, phản ánh một thực tại khách quan của lịch sử vũ trụ và quy luật phát triển của nó.

Nhưng điều đó chỉ được thực hiện và sáng tỏ, khi được những giá trị minh triết Việt mô tả với một nội dung khác tất cả những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua và của cả các nhà nghiên cứu khoa học hiện đại, liên quan đến thuyết Âm Dương ngũ hành, nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương cổ.

Chúng tôi sẽ trình bày với bạn đọc về tính minh triết Việt, ngay trong phần II của tiểu luận này, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt, vốn là hệ quả đích thực của cội nguồn văn minh Đông phương, trong việc chứng minh những nội hàm của những di sản này.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN II

MINH TRIẾT VIỆT

TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

VÀ THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

MỞ ĐẦU

Nội dung của toàn bộ phần II cũng là nội dung căn bản của tiểu luận này, nhằm xác định tính minh triết Việt qua di sản văn hóa truyền thống và mối liên hệ với một học thuyết nền tảng của văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Từ đó làm sáng tỏ những giá trị đích thực của nội dung học thuyết này.

Chúng tôi cũng xin một lần nữa lưu ý bạn đọc rằng:

Chúng tôi không coi việc giải mã nội dung, hoặc nhận định chủ quan về nội dung những di sản trình bày trong tiểu luận này, làm luận cứ chứng minh cho luận điểm của mình. Những nhận thức rất chủ quan, trong sự giải mã nội dung những di sản văn hóa truyền thống Việt mà chúng tôi trình bày, chỉ là sự định hướng cho một giả thuyết. Và giả thuyết này luôn lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực, để thẩm định những luận cứ minh chứng cho một giả thuyết, một học thuyết được phục hồi nhân danh khoa học. Đó cũng là phương pháp nhất quán, mang tính hệ thống của chúng tôi trong việc minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến trong tiểu luận này, cũng như trong các bài viết, các sách đã xuất bản.

Từ đó, chúng tôi coi tất cả những giá trị nhận thức trực quan, qua những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản khảo cổ, văn bản cổ và các nguồn tư liệu khác.... chỉ là những yếu tố cấu thành với mối tương quan hợp lý trong một giả thuyết, được thẩm định bằng chuẩn mực của tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học.

Và như phần trên chúng tôi đã trình bày: một học thuyết hình thành thì nó phải gồm hai yếu tố cấu thành có sự liên hệ nhân quả. Đó là:

1/ Thực tại khách quan mà học thuyết đó mô tả.

2/ Nội dung học thuyết với hệ thống phương pháp luận được mô tả bằng những khái niệm, mô hình biểu kiến, ký hiệu tổng hợp quy luật vận động của thực tại và mô tả thực tại. Tất yếu nội dung của nó phải phản ánh tính hệ thống, nhất quán và một cấu trúc hợp lý trong việc giải thích các sự kiện và vấn đề liên quan. Là một học thuyết khoa học thì nó còn cần các tiêu chí là tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

Do đó, trong phần II, chúng tôi chia làm hai phần riêng biệt, gồm phần II. I và phần II. II để tiện việc diễn đạt mối liên hệ nhân quả, giữa một thực tại được quan sát và sự mô tả trong nội hàm cấu trúc của học thuyết Âm Dương Ngũ hành  đã khái quát và hệ thống hóa nhận thức thực tại, giải thích thực tại hàm chứa trong học thuyết đó.

Tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, đã xác định rằng:

"Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được".

Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt và nhân danh khoa học thì tất yếu cũng phải thể hiện được yếu tố này, vốn là một trong nhiều tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học.  

Do đó, trong phần II.I, chúng tôi sẽ trình bày một thực tại từ khởi nguyên vũ trụ được mô tả trong những di sản của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ nền minh triết Việt. Trên cơ sở này, chúng tôi  so sánh sự khác biệt với những mô tả liên quan trong các bản văn trong cổ thư chữ Hán của các nhà nghiên cứu Hán Nho, từ hàng ngàn năm qua cho đến bây giờ với những tri thức khoa học hiện đại và những giá trị minh triết Việt, nhằm chứng minh cho giả thuyết được nêu.

 Nhưng nội hàm mô tả của thuyết Âm Dương Ngũ hành hết sức rộng lớn. Học thuyết này bao trùm lên toàn bộ lịch sử tiến hóa của vũ trụ: từ trạng thái khởi nguyên của vũ trụ (Giây "O") và những thực tại trong lịch sử tiến hóa vũ trụ, được mô tả bằng những mô hình biểu kiến; thể hiện qua những khái niệm mô tả những phạm trù thể hiện quy luật tiến hóa của vũ trụ, trong đó hàm chứa tất cả mọi vấn đề thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và con người với khả năng tiên tri. Do đó, chúng tôi không thể diễn đạt được hết chỉ trong cuốn tiểu luận nhỏ này. Cho nên, chúng tôi chỉ giới hạn trong sự mô tả thực tại của trạng thái khởi nguyên của vũ trụ (Giây "O") của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhằm chứng tỏ tính khoa học và một thực tại được phản ánh trong nội hàm của học thuyết này.

Trong phần II. II, chúng tôi sẽ mô tả và làm sáng tỏ nội dung đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, được phục hồi trên cơ sở những di sản văn hóa truyền thống Việt, để so sánh với những bản văn chữ Hán cổ và những nghiên cứu cổ kim của các nhà nghiên cứu, căn cứ vào chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Vì tính chất của những di sản phi vật thể của nền văn hiến Việt là rải rác trong văn hóa truyền thống với nhiều hình thức thể hiện khác nhau, nên mỗi bài viết là một phần với chủ đề riêng, mô tả từng phần những luận điểm của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong bản văn chữ Hán, qua những hình thức mô tả của từng di sản Việt riêng rẽ. Và cũng vì nội hàm bao trùm lên mọi lĩnh vực của thuyết Âm Dương Ngũ hành của một hệ thống tri thức hết sức đồ sộ, nên chúng tôi chỉ có thể tập trung vào chứng minh nguyên lý căn để trong ứng dụng của học thuyết này và tính liên kết hợp lý với những vấn đề liên quan với những nguyên lý cục bộ căn bản, thuộc từng chuyên ngành của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách có hệ thống những vấn đề liên kết căn bản để bạn đọc quán xét.

Một lần nữa, xin cảm ơn sự quan tâm của bạn đọc.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN II.I

 MINH TRIẾT VIỆT MÔ TẢ SỰ KHỞI NGUYÊN VŨ TRỤ.

"Thị cố dịch hữu Thái Cực.Thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái"

Hệ Từ Thượng truyện - Chu Dịch

(Theo bản văn chữ Hán).

"Thái Cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng..."

Truyện cười dân gian Việt Nam

 

 

 

 

CHƯƠNG 1

"THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI"

VÀ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG HÁN - VIỆT

 

NHẬP ĐỀ

Như chúng tôi đã trình bày: Một học thuyết, hoặc lý thuyết phải mô tả một thực tại quán xét được và giải thích thực tại đó trên cơ sở hệ thống phương pháp luận của học thuyết đó. Do đó, thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết mà những hệ quả ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực với khả năng tiên tri, thì nó phải mô tả một thực tại tương ứng với nội hàm của nó.

Trong nội dung của phần II.I chúng  tôi chủ yếu chứng minh thực tại được quan sát của học thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhưng chỉ có thể giới hạn ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, tương ứng với giây "O" trong quan niệm của trí thức khoa học hiện đại. Sở dĩ chúng tôi chỉ có thể mô tả giới hạn như vậy, vì thuyết Âm Dương Ngũ hành bao trùm lên mọi lĩnh vực với lượng tri thức hết sức đồ sộ và những kiến thức chuyên ngành  rất sâu sắc. Để phát hiện và mô tả tất cả toàn bộ hệ thống đến từng chuyên ngành, như: Phong thủy, Đông y, dự báo...cần có nhiều công trình nghiên cứu tiếp nối.

Nhưng chúng tôi xác định rằng: bằng việc mô tả một thực tại khách quan của vũ trụ, ngay từ sự khởi nguyên (Giây “O”), đã chứng tỏ tính khoa học thật sự của học thuyết này. Từ đó bạn đọc sẽ nhận thấy tính khoa học qua những mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành, trong việc mô tả, phản ánh những quy luật của vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống và con người trên mọi lĩnh vực.

Chúng tôi bắt đầu từ kinh Dịch, một kỳ thư huyền bí trong văn minh Đông phương.

Trong kinh Dịch - di sản văn hóa nổi tiếng huyền bí của nền văn minh Đông phương, được mô tả qua bản văn chữ Hán, có một câu rất khiêm tốn, nằm nép mình trong Hệ từ Thượng truyện, so với cả một hệ thống kiến thức đồ sộ của cuốn sách này. Nhưng nó lại xác định toàn bộ một thực tại được quán xét từ khởi nguyên vũ trụ và làm nên cuốn kỳ thư kinh Dịch huyền vĩ. Đó là câu:

"Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái".

Nhưng toàn bộ câu này, thể hiện bằng chuỗi khái niệm trên , xác định nền tảng tri thức của kinh Dịch. Đồng thời nó cũng xác định rằng: Dịch, tức sự vận động, được bắt đầu từ "Thái cực", "lưỡng nghi", "tứ tượng"....như là những thực tại được mô tả. Nhưng nó mô tả một thực tại nào, hoặc thể hiện cái gì trong nội hàm của nó thì lại là sự bí ẩn từ hàng ngàn năm qua.

 Cũng từ hàng ngàn năm trong lịch sử văn minh Đông phương cho đến ngày hôm nay, các nhà nghiên cứu Hán Nho và cả những nhà nghiên cứu hiện đại trên thế giới, đã có những cố gắng lý giải nội dung những khái niệm này và tất cả đều bế tắc.

Bắt đầu từ chương 1, phần II.I và các chương sau đó tiếp theo của phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc những di sản văn hóa truyền thống Việt với nội dung minh triết của nó liên quan đến câu nổi tiếng trong Hệ từ thượng truyện : "Thị cố dịch hữu Thái cực, Thị sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái" trong bản văn chữ Hán. Đồng thời chứng minh thực tại được quán xét và mô tả của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là lịch sử tiến hóa của toàn thể vũ trụ với những quy luật tương tác được thể hiện trong thuyêt Âm Dương Ngũ hành với những khái niệm và mô hình biểu kiến của nó.

Trong chương này, chúng tôi xin được bắt đầu bằng chuỗi khái niệm đầu tiên: "Thái cực sinh lưỡng nghi" và đồ hình Âm Dương Hán.

Share this post


Link to post
Share on other sites

I.1. THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI & ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG HÁN.

Hàng ngàn năm trôi qua, kể từ sau khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử, nền văn minh Đông phương đã lưu truyền những bản văn chữ Hán nói về những hiện tượng rời rạc, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành và những phương pháp ứng dụng của học thuyết này.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành và những phương pháp ứng dụng có hiệu quả của nó, bao trùm lên nhiều mặt của thiên nhiên, xã hội và con người một cách bí ẩn. Cho đến ngày nay, khi xu thế hội nhập toàn cầu với mạng internet, đã liên kết hầu hết những nền văn minh trong lịch sử nhân loại thì có thể nói rằng: cả thế giới này đã mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành, cốt lõi của nền Lý học Đông phương thuộc về nền  văn hóa Hán.

Mặc dù cho đến ngày nay, học thuyết này vẫn chỉ để lại những dấu ấn mơ hồ và sừng sững thách đố trí tuệ của nhân loại. Một trong những bí ẩn liên quan đến tri thức nền tảng của nền văn minh Đông phương chính là kinh Dịch. Và bản thân kinh Dịch lại được xác định bằng một câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện của Chu Dịch (Tức kinh Dịch), đã viết:

“Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái”.

Nhưng "Thái cực" là gì?

1.1. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA THÁI CỰC CỦA HÁN NHO.

Trong lịch sử nghiên cứu Lý học Đông phương -  từ hơn 2000 năm nay - của các nhà nghiên cứu Hán Nho cũng cố gắng đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm "Thái Cực" – khái niệm miêu tả sự khởi nguyên của vũ trụ.

 Có người cho rằng: Thái cực là Thái nhất, là Thái hư. Có người cho rằng: "Thái cực có nguồn gốc từ Vô cực, Thái cực động sinh Dương, Dương tịnh sinh Âm, Âm Dương sinh ra Ngũ hành"

(Chu Hy – Dịch học khởi mông).

Hoặc như Chu Hy (tức Chu Đôn Di, Chu Liêm Khê) viết:

"Vô cực nhi Thái cực.Thái cực động nhi sinh Dương. Động cực nhi tĩnh. Tĩnh nhi sinh Âm. Tĩnh cực phục động. Nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn.

Vô cực mà là Thái Cực. Thái cực động sinh Dương. Động cực chi tĩnh. Tinh sinh Âm. Tĩnh cực lại động. Một động, một tĩnh làm căn bản cho nhau.

("Thái cực đồ thuyết". Bản dịch của Gs Nguyễn Hữu Lượng. Kinh Dịch và Vũ trụ quan Đông phương. Trang 32).

Cho đến ngày nay, khi nói về Thái cực, nhiều nhà nghiên cứu mặc nhiên viết theo cách mô tả của Chu Đôn Di, như là một sự chấp nhận cách giải thích của học giả nổi tiếng thời Tống này.

 Như vậy chúng ta thấy rằng về thực chất các học giả Hán Nho trải hàng ngàn năm nay, chỉ thay danh từ “Thái cực” bằng danh từ khác: “Thái Hư”; “Thái Nhất”; “Vô cực”.Nhưng không hề diễn đạt được về bản chất khái niệm của Thái Cực.

Khi không hiểu bản chất của Thái Cực, đương nhiên họ cũng không thể hiểu được những khái niệm miêu tả bản chất của các trạng thái tiếp theo sau đó là “Lưỡng Nghi” và “Tứ tượng”. Họ xác định rằng “Lưỡng nghi” tức là “Âm Dương”.

Vì không thể giải thich được nội hàm của khái niệm "Thái cực", triết gia nổi tiếng thời Tống là Chu Đôn Di (Tức Chu Hy/Người viết) phải đưa khái niệm "Vô cực" vào để giải thích. Trong khi câu này trong Hệ từ xác định: "Thị cố dịch hữu Thái cực" . Tức là: "Mọi sự vận động trong vũ trụ này (Dịch) bắt đầu từ Thái cực".  "Thái cực" trong Hệ từ được coi là thể bản nguyên của vũ trụ và Dịch học được quán xét bắt đầu từ đó . Tức tương đương khái niệm giây "O" của sự miêu tả khởi nguyên vũ trụ trong khoa học hiện đại. Một sự miêu tả rất rõ ràng của câu này trong Hệ từ Thượng truyện.

 

1.2. GIẢI THÍCH CHUỖI KHÁI NIỆM TRONG HỆ TỪ THƯỢNG CỦA HÁN NHO.

Vì không hiểu, nên dẫn đến sự đánh tráo khái niệm của Chu Hy, khi ông ta đưa khái niệm "Vô cực" để so sánh, liên hệ với "Thái Cực". Chính vì tính so sánh, phân biệt giữa "Thái Cực" và "Vô cực" của Chu Hy, khiến ông ta nhầm lẫn giữa khái niệm "lưỡng nghi" với Âm Dương, vốn là một cặp phạm trù, mang tính minh triết thuộc tư duy trừu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Từ đó dẫn đến cách hiểu sai lầm của học thuyết Âm Dương Ngũ hành cho đến ngày hôm nay, khi Chu Hy cho rằng: "Thái cực động sinh Dương; Dương tịnh sinh Âm...".

Trong khi đó "lưỡng nghi" thực chất lại là một khái niệm mô tả thực tại của giai đoạn khới nguyên của vũ trụ, nằm trong phạm trù của Âm Dương, nhưng không phải Âm Dương về mặt khái niệm nội hàm. Sự khác biệt rất trực quan cách diễn đạt giữa hai danh từ "Lưỡng nghi" và "Âm Dương" đã xác định điều này. Nhưng do cách giải thích sai, vì không hiểu bản chất hiện tượng của Chu Hy, đã tạo nên sự huyễn hoặc, mơ hồ ngay từ cách hiểu đầu tiên của thuyết Âm Dương Ngũ hành, khi mô tả sự khởi nguyên của vũ trụ trong học thuyết này cho đến ngày hôm nay.

Bởi vì, nếu như theo cách giải thích của Chu Hy thì câu trên của Hệ từ chỉ cần viết: "Thái cực sinh Âm Dương", mà không cần phải ghi rất rõ ràng: "Thái cực sinh lưỡng nghi", đề hàng ngàn năm sau, những nhà nghiên cứu Hán Nho mất công giải thích.

Thực chất khái niệm Âm Dương là một cặp phạm trù, mang tính minh triết của tư duy trừu tượng, trong hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cặp phạm trù Âm Dương, mô tả mọi trạng thái phân biệt của vật chất từ vi mô đến vĩ mô, trong không thời gian của thực tại vận động của vũ trụ sau Thái cực (Giây "O") và mọi hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử vũ trụ. Kể cả mọi trạng thái với các hiện tượng liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người

Thí dụ, như: To/ nhỏ; nhanh/ chậm; mờ / tỏ; ngắn/ dài; nam/ nữ; trên/ dưới; trước/ sau; đầu/ đuôi; đực/ cái; nóng/ lạnh; vui/ buồn; đúng sai; tốt/ xấu...vv....và cả "Lưỡng nghi".

Sự phân biệt Âm Dương trong thuyết Âm Dương Ngũ hành có nguyên lý của nó , tùy theo hệ quy chiếu, chúng tôi sẽ trình bày ở những phần sau.

Bởi vậy, câu "Thái cực sinh lưỡng nghi" là một cụm từ mô tả thực tại khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Do đó, không thể một thực tại được mô tả ở giây "O" của vũ trụ ("Thái cực") lại sinh ra một khái niệm trừu tượng của con người, là "Âm Dương" được. Mặc dù phạm trù Âm Dương bao hàm yếu tố "lưỡng nghi", tức là trạng thái phân biệt đầu tiên ở sự khởi nguyên của vũ trụ.

Vì không hiểu và hiểu sai bản chất của "Thái Cực", nên đã dẫn đến sự nhầm lẫn nội dung khái niệm trong cụm từ "Thái cực sinh lưỡng nghi". Từ đó, dẫn đến sự không đồng đẳng về nội hàm của chuỗi mô tả liên tục trong ngay ý đầu của câu "Thái cực sinh lưỡng nghi, ...". Hệ quả của sai lầm này là tạo ra sự mơ hồ có tính hệ thống cho toàn bộ kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Từ đó, đã dẫn đến sai lầm tiếp theo của các nhà nghiên cứu Hán Nho, khi giải thích "Tứ tượng" gồm bốn trạng thái của Âm Dương, là: Thái Dương, Thái Âm, Thiếu Dương, Thiếu Âm. Tiếp theo, họ xác định rằng "Tứ Tượng sinh Bát quái" chính là tám ký hiệu Dịch học gồm:

Càn

1.jpg  

 

Đoài
2.jpg

 

Tốn

5.jpg

 

Ly

3.jpg

 

Khảm

8.jpg

 

Chấn

4.jpg

 

Khôn

7.jpg

 

Khảm

6.jpg

 

 

Chúng tôi sẽ lần lượt chứng minh rõ hơn những sai lầm này của các nhà nghiên cứu Hán Nho ở các chương tiếp theo.

Chính từ các hiểu sai chuỗi khái niệm, khi giải thích trạng thái khởi nguyên vũ trụ được mô tả trong Hệ từ Thượng truyện của kinh Dịch, cho nên những nhà nghiên cứu Hán Nho từ đời Tống, đã đưa ra một đồ hình Âm Dương, tứ tượng và bát quái đầy tính mâu thuẫn, như sau:

 

471_zps35fec7b9.jpg

 

Đồ hình Âm Dương, tứ tượng, bát quái mô tả theo cách hiểu trong cổ thư chữ Hán: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”.

 

Đồ hình này được coi là biểu tượng cô đọng nguyên lý khởi nguyên trong Chu Dịch, vốn được hiểu là Dịch của nhà Chu,  do Chu Văn Vương, Khổng tử trước tác, theo cách hiểu và giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho, như chúng tôi đã trình bày ở trên.

Ngoài biểu tượng của đồ hình mà chúng tôi đã trình bày, trong lịch sử tồn tại của thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh Hán; tùy nhận thức và cách hiểu của từng thời kỳ , những nhà nghiên cứu Hán Nho đã lần lượt đưa ra những biểu tượng theo cách hiểu của họ cho sự vận động khởi nguyên của vũ trụ: Thái cực – Âm Dương – Tứ tượng và Bát quái trong việc nghiên cứu Lý học Đông phương, sớm nhất bắt đầu từ đời Hán, như sau:

 

472_zps9c8a44b9.jpg

Đồ hình xưa nhất của Lai Trí Đức

48_zpscf06c5cd.jpg

Hình Thái cực đầu tiên của Chu Đôn Di(*)

* Tư liệu trong "Kinh Dịch - Vũ trụ quan Đông phương". Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng.
 

Qua đồ hình của Lai Trí Đức và Chu Đôn Di chúng ta thấy rõ nét sự phân biệt giữa Thái cực (biểu tượng bằng vòng tròn ở giữa) và Âm Dương (các phần đen trắng xung quanh).

Đây là một sai lầm. Vì Âm Dương lúc này là một vế của chính nó. Hay diễn tả một cách cụ thể hơn, nếu chúng ta lấy vòng tròn trắng ở giữa, thể hiện Thái cực của hai đồ hình này, so với một trong hai phần Âm hoặc Dương thì tự chúng sẽ là Âm Dương, tức là có sự phân biệt, phần còn lại sẽ không biết gọi là gì. 
Trong biểu tượng Âm Dương hiện nay tuy có thay đổi và mang tính minh triết hơn: Không diễn tả Thái cực như một thực tế tồn tại ngoài Âm Dương, thay vào đấy là một vòng tròn bao quanh Âm Dương. Nhưng ở đồ hình này thuần túy chỉ là một biểu tượng theo cách hiểu của các nhà nghiên cứu Hán Nho; nhưng không hề có một cơ sở lý luận hợp lý chứng tỏ ý nghĩa của nó , cho đến tận ngày hôm nay, khi bạn đang đọc cuốn sách này.

Sai lầm của biểu tượng này, là sự thể hiện tiếp tục nhận thức sai lầm trải hàng ngàn năm trước đó trong cổ thư chữ Hán , là có thêm hai vòng tròn nhỏ biểu tượng của cái mà họ cho là thiếu Âm, thiếu Dương. Như vậy, giữa Thái Âm với thiếu Dương (hoặc Thái Dương với thiếu Âm), tự nó đã có sự phân biệt; tức là đã trở thành Âm Dương.
Hay nói một cách khác: Sự nhận thức về tứ tượng trong cổ thư chữ Hán được coi là trạng trái chuyển hóa từ cực Âm sang cực Dương. Đây là sự vô lý.

Bởi vì, nếu coi Tứ tượng là hai giai đoạn đầu và cuối của sự chuyển hóa từ cực Âm sang cực Dương và ngược lại (Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương), thì Âm Dương phải là một khái niệm mô tả thực tại có thể nhận thức được. Nhưng trên thực tế ứng dụng, rõ ràng khái niệm Âm Dương có nội hàm là một cặp phạm trù, có tính biểu kiển tổng hợp mọi trạng thái phân loại, so sánh tất cả mọi thực tại và quy luật vận động của vật chất trong không, thời gian và lịch sử phát triển của vũ trụ.

Có thể nói rằng: cho đến tận ngày hôm nay, thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn là một sự bí ẩn thách đố tri thức của cả nền văn minh nhân loại, khi mà tất cả các nền văn minh đã hội nhập vì sự tiến bộ của các phương tiện thông tin toàn cầu. Chính những học giả Trung Hoa, nơi tự nhận là cội nguồn của Lý học Đông phương, từ hàng thiên niên kỷ trước, vẫn không thể lý giải nổi nội dung cũng như bản chất của thuyết Âm Dương Ngũ hành, ngay từ những khái niệm căn bản của học thuyết này.

Đây là một trong những yếu tố xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành không thể bắt nguồn từ văn minh Hoa Hạ.

Nhưng bên cạnh nền văn minh Hoa Hạ đồ sộ trong cái nhìn của tất cả thế giới với bề dày hàng ngàn năm trong lịch sử văn minh nhân loại, có một dân tộc tuy bé nhỏ, nhưng rất quật cường, bất khuất và âm thầm lưu truyền trong nền văn minh của dân tộc ấy là toàn bộ những giá trị đích thực và bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh Đông phương. Đó chính là nền văn hóa Việt hiện nay với danh xưng văn hiến trải gần 5000 năm lịch sử. 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

I. 2. ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG VIỆT.

Thật là một điều kỳ diệu! Khi mà nền văn minh Hoa Hạ tự nhận mình là cội nguồn của nền văn minh Đông phương vẫn lúng túng cho đến tận ngày hôm nay, không thể lý giải được những khái niệm phổ biến nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành, thì trong nền văn hóa dân gian truyền thống Việt lại lưu truyền khá phổ biến một đồ hình Âm Dương, khác hẳn đồ hình Âm Dương có xuất xứ từ văn minh Hán.

Biểu tượng của đồ hình Âm Dương Việt thể hiện trong nội hàm của nó những giá trị tri thức tiềm ẩn trong nền văn hóa truyền thống Việt, cho thấy một sự minh triết độc lập về thuyết Âm Dương Ngũ hành và một cách giải thích khác hẳn về những khái niệm và cả những nguyên lý căn bản của học thuyết này.

Chúng ta bắt đầu từ những bức tranh dân gian rất quen thuộc và lưu truyền từ bao đời trong nền văn hóa truyền thống Việt.

 

85_zps147ad472.jpg

Đàn lợn
Tranh dân gian Đông Hồ

 

Đây là một bức tranh dân gian cổ nhất của làng Đông Hồ và rất phổ biến trong văn hóa dân gian Việt. Bất cứ một người Việt Nam nào có kiến thức trung bình đều biết đến bức tranh này. Xuất xứ của bức tranh này có từ bao giờ thì chưa thể xác định được. Thời gian gần nhất mà người ta biết đến nó là 600 năm nay cùng với lịch sử thành lập làng tranh Đông Hồ. Bạn đọc có thể nhận thấy ngay hai đồ hình Âm Dương trên mình con lợn mẹ nằm choán gần hết bức tranh.

Dưới đây là đồ hình Âm Dương Việt, được chúng tôi phục chế từ những di sản văn hóa truyền thống Việt và đồ hình Âm Dương Hán, để bạn đọc tiện so sánh tìm hiểu với các vấn đề liên quan trong tiểu luận này.

 

50292_zpsc5d648e2.jpg503vagrave8096_zpsdd64b1c0.jpg

So sánh hai đồ hình Âm Dương Hán Việt.

 

 Đồ hình Âm Dương Việt không chỉ xuất hiện một cách riêng rẽ và duy nhất ở tranh Đàn Lợn của dòng tranh dân gian Đông Hồ. Mà có thể nói rằng trong hầu hết những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, còn sót lại trong văn hóa truyền thống Việt, đều ghi nhận sự tồn tại của đồ hình Âm Dương Việt này.

 Tiếp theo, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc quan tâm những đồ hình Âm Dương Việt còn sót lại sau bao thăng trầm lịch sử của giống nòi Lạc Việt.

 

512_zps8aacbde2.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trong đền thờ Mẫu thân sinh ra Thánh Gióng tại Bắc Ninh.

 

511_zps3efb087b.jpg

522_zps05ef4851.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trên bàn đá ở sân chùa Bối Khê.

Xã Tam Hưng , Quận Thanh Oai Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội

 

521_zpsf890f242.jpg

Hình Âm Dương Lạc Việt ở chùa Bạch Y Tuyết Sơn Bồ Tát.

Chùa  được xây dựng vào năm đầu tiên của thế kỷ XIX 1801.
Xóm 8, xã Nghi Tiến, huyện Nghi Lộc (Nghệ An). (Ảnh Q.C)

532_zps7021d4ca.jpg
Đồ hình Âm Dương Việt trên chùa Vô Vi Tự.

 

531_zpsf29f98ea.jpg

Hình Âm Dương Lạc Việt trên  giá đặt văn tế ở Đền thờ tướng quân Lê Thành

Một vị tướng thời Lê Lợi , Làng Định Hòa - Đông Cương

 

542_zpsbfda7a0c.jpg

541_zps23f1bc38.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trên văn bia "Khiêm Cung Ký" trong lăng Vua Tự Đức.

 

551_zps0651429b.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trên tượng La Hán hộ pháp ở chùa Bối Khê

 

552_zps3e6c79a5.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trên quân phục của Ngự Lâm Quân triều Nguyễn.

 

56_zps5a2b44c0.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt ở đền Bạch Mã, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Tỉnh Nghệ An.

Ảnh Trucgiac. TTNC LHDP . web: lyhocdongphuong.org.vn

 

84_zps9baaf3e6.jpg

Hình Âm Dương Việt trên nhưng cổ vật trong con tàu cổ tìm thấy vào nửa đầu tháng 8.2013

Niên đại vào thế kỷ XVI - XVII, tại vùng biển Bình Châu, Quảng Ngãi.

Nguồn VnExpress.

 

572_zpsaf252dee.jpg
Đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Trong lễ cúng sao, cúng trời (Nam Giao) năm 1935 của triều đình Huế.

 

59_zpsfef5782f.jpg

Đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Trên đỉnh xông trầm triều Nguyễn – Thế kỷ XIX

Ảnh Vusonganh.TTNC LHDP. Web: lyhocdongphuong.org.vn

 

60_zps1997c5a3.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt trên diềm gỗ trang trí trong ngôi nhà cổ của dòng họ Nguyễn Hữu.

Thôn An Thạnh thuộc xã An Hải (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận), được chạm khắc hình tượng “lưỡng long tranh châu” trên hình vẫn chạm khắc đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Share this post


Link to post
Share on other sites

I.3. ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG VIỆT

TRONG DI SẢN VĂN HÓA Ở CÁC QUỐC GIA KHÁC CỦA NỀN VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Những hình Âm Dương Lạc Việt khác hẳn đồ hình Âm Dương Hán, không chỉ có ở trong văn hóa truyền thống ở Việt Nam, mà còn tồn tại trong các di sản văn hóa ở các quốc gia phụ cận, như: Indo; Hàn quốc...Những quốc gia này có lịch sử tồn tại và phát triển hàng thiên niên kỷ trước. Cùng với các di sản văn hóa phi vật thể khác, nó xác định rằng:
Có một nền văn hóa phi Hán và có trước Hán, giải thích cội nguồn những tri thức nền tảng của văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành  không phải như những gì mà cổ thư chữ Hán miêu tả từ hàng ngàn năm qua, sau khi nền văn minh Việt bị sụp đổ ở Nam Dương Tử.

Chúng tôi tiếp tục chứng tỏ với bạn đọc điều này.

 

3.1. DI SẢN ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT Ở NAM DƯƠNG TỬ.

Đồ hình Âm Dương Việt không chỉ có trong di sản văn hóa truyền thống Việt trong cộng đồng Việt sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, mà còn tồn tại cả ở những cộng đồng người Hoa có nguồn gốc ở Nam Dương Tử như người Hoa ở Phúc Kiến. Bài viết dưới đây của Thiên Luân giới thiệu với bạn đọc  sự kiện này:

 

ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT

TRONG HỘI QUÁN PHÚC KIẾN Ở HỘI AN.


 

Thiên Luân

Thành viên nghiên cứu.

Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương

 

Hội Quán Phúc Kiến do nhóm người Phúc Kiến (Trung Quốc) đến Hội An sinh sống tạo dựng vào năm 1759. Đây là nơi thờ thần, tiên hiền và cũng là nơi hội họp đồng hương của những người Phúc Kiến. Đến tham quan, du khách sẽ chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo, tráng lệ, được chạm trổ tinh xảo. Hội quán có kiến trúc kiểu chữ “Tam” theo các trật tự: cổng – sân – hồ nước – cây cảnh – hai dãy nhà Đông và Tây – chính diện – sân sau – và hậu điện. Chính điện thờ Thiên hậu Thánh Mẫu, Quan Thế Âm Bồ Tát, Thần Tài, 3 bà Chúa sanh thai và 12 bà mụ.

Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An. Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiên hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài … hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người. Hàng năm, vào các ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng âm lịch), Vía Lục Tánh (16 tháng 2 âm lịch), vía Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch) … tại hội quán Phúc Kiến diễn ra nhiều hoạt động lễ hội thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia.
Như vậy Hội quán được xây từ thế kỉ 17 nhưng vẫn sử dụng biểu tượng Âm Dương Lạc Việt, chứng tỏ rằng trong văn hóa dân gian vẫn còn lưu giữ những bí ẩn của văn minh Việt Cổ và khi người Phúc Kiến - nam Dương Tử - sang Hội An sinh sống đã mang theo biểu tượng thể hiện hình Âm Dương Lạc Việt tại Hội Quán, trung tâm văn hóa của họ. Theo một số bạn của người viết (Thiên Luân) là du học sinh Việt Nam tại Trung Quốc, sau khi đi thăm Phúc Kiến, họ rất ngạc nhiên vì một bộ phận người Phúc Kiến ở đất Trung Quốc hiện nay vẫn có thói quen ăn nước mắm, xây nhà giống người Việt, thậm chí một số người cao tuổi vẫn ăn trầu!

Những chi tiết này có thể không mới, nhưng ít ra nó cũng góp phần cho tính hợp lý và logic với những công trình nghiên cứu chứng minh sự tồn tại 5000 năm văn hiến của nước Việt,một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử.
Dưới đây là một số hình ảnh về Hội quán Phúc Kiến và hiện tượng đồ hình Âm Dương Lạc Việt sử dụng ở đây:

 

62_zps62253a00.jpg

Cổng bên trong Hội quan Phúc Kiến ở Hội An

 

631_zps46645c21.jpg

Điện thờ chính.

Lưu ý: Hai vòng tròn trắng đánh dấu trên hình là vị trí hai đồ hình Âm Dương Việt.

 

632_zps435e7191.jpg

Viết xong tại T/p HCM ngày 5, tháng 3. 2010.

Thiên Luân

 

 

 

Qua bài viết và hình ảnh chứng minh của Thiên Luân đã chứng tỏ hiện tượng đồ hình Âm Dương Việt thể hiện trong hội quán Phúc Kiến - một vùng cư trú của Việt tộc ở Nam Dương Tử, cho thấy một di sản văn hóa phổ biến tại vùng đất cũ của nước Văn Lang xưa được mô tả trong truyền thuyết, huyền thoại của di sản văn hiến Việt. Nhưng vấn đề không chỉ dừng ở đây.

Share this post


Link to post
Share on other sites

3.1. DI SẢN ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT Ở MALAYSIA

 

65_zpsf7e9c21d.jpg

Đồ hình Âm Dương Lạc Việt trong một ngôi chùa ở Malaysia.

 

3.3. ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT Ở TÂY TẠNG.

 

662_zps55aafeb6.jpg
661_zps689bad90.jpg

Biểu tượng Âm Dương trong bánh xe luân hồi được treo trước cửa nhà của người Tây Tạng (có cả ở Nepal và Mông Cổ)

 

671_zps3534a628.jpg

Đồ hình này chụp ở Tây Tạng.

Photo Cường. TTNC Lý học Đông phương.

 

672_zps594bcae0.jpg

Đĩa đá cổ Dropa.

Di vật khảo cổ tìm thấy ở Tây Tạng vào những năm 1940. Nguồn kienthuc.net

 

3.4. ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT Ở HÀN QUỐC

682_zpsc0d72986.jpg

Cờ Hàn Quốc năm 1882.

Link tham khảo: http://en.wikipedia...._of_South_Korea

 

681_zps218bf0a3.jpg

 

Cờ Hàn Quốc hiện đại.

 

692_zps24618cc1.jpg

691_zps838b61c9.jpg

Đồ hình Âm Dương Việt tại cửa đền Hwa Seong Haeng Gung ở miền Nam Hàn Quốc

 

Hình ảnh dưới đây chụp Tổng thống Hàn Quốc phát biểu trước dân chúng . Bạn đọc cũng thấy rõ đồ hình Âm Dương Lạc Việt dùng làm biểu tượng cùng với hình ảnh của Tổng thống Hàn quốc. Nó có giá trị như một biểu tượng quốc gia.

 

70_zpsa373e6a5.jpg

Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye với biểu tượng Âm Dương Lạc Việt. Ảnh: Internet

 

Không chi trên quốc kỳ của Hàn Quốc, hay trong những di tích văn hóa cổ, trên biểu tượng trang trí trên bục nói chuyện của Tổng thống Hàn Quốc. Ngay trên những sản phẩm tiêu dùng truyền thống Hàn quốc như sâm Cao Ly, đồ hình Âm Dương Việt vẫn được sử dung như một sự minh triết riêng và tiêu biểu cho văn hóa phi Hán. Hình dưới đây chụp trên chai nước cốt sâm Hàn Quốc:

 

711_zpsebb044ab.jpg

 

712_zpsc2d4041e.jpg

Share this post


Link to post
Share on other sites

3.5 . ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG NHẬT BẢN.

721_zps0680aa45.jpg

Nguồn internet

 

3.6. HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT TRONG NỀN VĂN MINH MAYA

 

722_zps39f16816.jpg

73_zps6d47fa73.png

73_zps1253bb4f.jpg

Hình trên được người Maya coi như là một biểu tượng của đấng Tối cao trong tín ngưỡng của họ.

Nguồn: http://www.famsi.org/

 
3.6  HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT Ở TÂY PHI.

 

741_zpscbde0a6b.jpg

742_zps1ab34b9a.jpg

Hình này có tên gọi là Adinkra. Có nghĩa là "sức mạnh".

Biểu tượng Adinkra, nằm ​​giữa tượng hình và tượng hình văn tự, rất phổ biến ở các nền văn hóa khác nhau và các nền văn minh của Tây Phi.

 

Nguồn: http://black-culture.tumblr.com/post/13943565949/the-adinkra-symbols-are-part-of-a-rich-african

 

I.4. HIỆN TƯỢNG ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Trên đây, là những đồ hình Âm Dương Lạc Việt tiêu biểu, mà chúng tôi đã sưu tầm được, trong di sản văn hóa truyền thống Việt và các vùng lãnh thổ quốc gia lân bang, cũng như các vùng văn hóa cổ đại trên thế giới, để giới thiệu với bạn đọc.

Việc thể hiện những đồ hình Âm Dương Lạc Việt, vốn không hề có mặt trong bất cứ bản văn chữ Hán liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, từ hàng ngàn năm trước , khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử cho đến tận ngày hôm nay, để so sánh với đồ hình Âm Dương Hán, chúng tôi muốn trình bày mấy vấn đề sau đây:

1/ Đồ hình Âm Dương nói chung là hình tượng biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết nền tảng của Lý học Đông phương. Nó là hệ quả từ nội hàm khái niệm của cặp phạm trù Âm Dương trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Bởi vậy, sự khác biệt và phổ biển đồ hình Âm Dương Việt ở khắp các quốc gia lân bang và vùng lãnh thổ, có ảnh hưởng của nền văn minh Đông phương, hoặc liên quan giữa hai đồ hình Âm Dương Việt Hán, đã chứng tỏ có một nền văn minh phi Hán với một quan niệm minh triết khác hẳn với nội hàm khái niệm Âm Dương Hán, trong các bản văn chữ Hán mô tả đồ hình này. Đồng thời nó cũng xác định di sản của một tri thức vũ trụ quan còn sót lại trong tiềm thức của các nền văn minh cổ đại trên thế giới.

2/ Những di sản còn lại sau hơn 2000 năm bị vùi lấp trong lịch sử thăng trầm của Việt tộc, nhưng đủ để xác định bề dày của nền tảng minh triết Việt liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết nền tảng của nền văn hóa Đông phương và là một hiện tượng tri thức còn bí ẩn của nền văn minh toàn cầu.
Hệ thống luận cứ chứng minh nền tảng tri thức của Lý học Đông phương có cội nguồn minh triết Việt,  mà đồ hình Âm Dương Lạc Việt chỉ là một dẫn chứng ban đầu, chứng tỏ cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành và nền Lý học Đông phương nói chung không thể thuộc về văn minh Hán.

 
3/ Lịch sử xuất hiện của đồ hình Âm Dương Việt ở khắp các vùng lãnh thổ chung quanh và trong nước Việt Nam hiện nay, cho thấy một di sản văn hóa còn lại mang tính phổ biến ở Nam Dương Tử, tồn tại độc lập và phải có trước đồ hình Âm Dương Hán - vốn xuất hiện từ cuối thời Tây Hán - Tức là sau khi nền văn minh Việt sụp đổ ở Nam Dương tử, thế kỷ thứ III BC.

 Bởi vì, khi đế chế Hán trỗi dậy ở phương Đông từ hơn 2000 năm trước thì hầu hết các quốc gia phương Đông lân bang đều bị coi là "ảnh hưởng của nền văn minh Hán". Do đó, không thể có một sự giải thích hợp lý, khi ở những quốc gia gọi là ảnh hưởng văn minh Hán và coi thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hán, lại xuất hiện một biểu tượng minh triết của học thuyết này một cách độc lập và thể hiện một nội hàm khác hẳn sự mô tả của các nhà nghiên cứu Hán Nho.

Và đây cũng chỉ là một sự kiện trong tập hợp toàn thể những sự kiện, hiện tượng và vấn đề liên quan có tính hệ thống trong sự lý giải câu nổi tiếng của Hệ từ Thượng truyện: "Thị cố Dịch hữu Thái cực. Thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Tứ tượng biến hóa vô cùng", mà chúng tôi tiếp tục trình bày rõ hơn ở phần dưới tiếp theo, trong tiểu luận này.

4/ Trên cơ sở những di sản văn hóa truyền thống Việt mà chúng tôi phát hiện trong quá trình nghiên cứu văn hóa cổ và Lý học Đông phương, chúng tôi đã xác định và chứng tỏ rằng:
Thực tế đã cho thấy rằng những nhà lý học Hán Nho từ Hán đến nay, vẫn rất lúng túng khi đi tìm một biểu tượng mang tính minh triết cho thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong lịch sử văn minh Hán đã tồn tại ít nhất ba đồ hình mô tả trạng thái khởi nguyên vũ trụ, mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

 Ngược lại, nền văn hiến Việt qua những di sản còn lại, trong những nét vẽ ngoệch ngoạc của những bức tranh dân gian từ Đông Hồ đến Hàng Trống, rải rác trong góc đình cổ, trong mái ấm của những ngôi nhà tranh, tường rạ qua những mảnh gốm sứ, bát nhang ở nơi làng quê hẻo lánh...vẫn lưu truyền một đồ hình Âm Dương rất minh triết, nhất quán và phản ánh đúng bản chất của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Huyền vĩ thay nền văn hiến Lạc Việt.
Không những vậy, những bức tranh dân gian Việt tưởng chừng đơn sơ cho trẻ con trong những ngày Tết cho vui cửa, vui nhà ấy, cùng với những di sản văn hóa truyền thống Việt khác, lại khẳng định một giá trị mà không một cổ thư chữ Hán nào nói tới. Đó chính là sự thống nhất, hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Chính những di sản văn hóa truyền thống Việt này với khả năng phục hồi giá trị thực sự của thuyết Âm Dương Ngũ hành , lại là một sự bổ sung sắc sảo của luận điểm chứng minh rằng: 

Nền văn minh Lạc Việt là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và là cội nguồn xuất xứ của nền văn hóa Đông phương huyền vĩ, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử. Nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt với lịch sử trải dài gần 5000 năm lịch sử với danh xưng văn hiến, bắt đầu từ 2879 BC đến ngày nay. Đúng như chính sử và truyền thống đã ghi nhận.

Để chứng tỏ điều này, xin mời bạn đọc tiếp tục xem các phần tiếp theo đây.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em.

Trong khi cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương lên khuôn để in thì một sự kiện khảo cổ được phát hiện liên quan đến đồ hình Âm Dương Lạc Việt ở Peru, mà tôi sẽ trình bày ngay sau đây:

 

AD6_zps33657f6d.jpg

article-2247410-167F082B000005DC-329_634
 

Những hình khổng lồ này có chiều dài và rộng từ vài chục đến hàng trăm mét. Nó được phát hiện từ năm 1939 ở Peru thuộc Nam Mỹ. Nhưng mới chỉ được các phương tiện truyền thông trong nước đăng tải gần đây.  Có nhiều giả thuyết về niên đại tạo ra đồ hình này với nội dung và mục đích của nó. Nhưng chưa giả thuyết nào có tính thuyết phục.

Nhưng đây rõ ràng chính là sự mô tả một biểu tượng tương tự hình Âm Dương Lạc Việt.

 

 IMG_2661_zps899558cc.jpg
 Đây là đình Yên Phụ trong làng Yên Phụ, Hanoi. Một ngôi đình độc đáo ở Việt Nam vì mái đính nhọn là mặt tiền so với các đình mái bằng khác.....
 

IMG_2662_zpsa3f94cf9.jpg
 Ngay mặt đình, một đồ hình Lưỡng Nghi Việt sừng sững như khẳng định một gía trị minh triết Việt phi Hán đã tồn tại trong nền văn minh Đông phương.

 

Như vậy, những phát kiến mới nhất - ít nhất khi được công bố ở Việt Nam - cho thấy đồ hình Âm Dương Lạc Việt (Chính xác phải gọi là "Lưỡng Nghi Lạc Việt) là một biểu tượng có ở khắp nơi trên thế giới và tập trung nhiều nhất ở nền văn hóa truyền thống Việt.

Mô hình Âm Dương Lạc Việt phổ biến ở khắp các nước thuộc phương Đông của lục địa Á, Âu và cả những lục địa xa xôi, khi lịch sử của nền văn minh hiện đại ước tính 10. 000 năm trở lại đây, chưa thể xác định được mối quan hệ giao lưu văn hóa, đã cho thấy:

1/ Có một nền văn minh toàn cầu nằm ngoài sự nhận thức của lịch sử văn minh nhân loại hiện đại, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thông qua biểu tượng hình Âm Dương Lạc Việt.

2/ Nền văn minh có biểu tượng hình Âm Dương Lạc Việt hoàn toàn phi Hán và phải có trước Hán liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hệ quả tất yếu của một biểu tượng mô tả Âm Dương khác Hán thì nó sẽ giải thích nội hàm thuyết Âm Dương Ngũ hành hoàn toàn khác hẳn những gì cổ thư chữ Hán mô tả liên quan đến học thuyết này từ hơn hai ngàn năm qua, trong lịch sử văn minh Đông phương.

Gần đây, có một số học giả có địa vị học thuật, chưa nghiên cứu kỹ những nội dung căn bản trong luận thuyết của tôi, đã vội vã cho rằng: Việc mô tả đồ hình Âm Dương Lạc Việt phổ biến ở các nền văn minh cổ đại, không phải là bằng chứng chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt. Và họ vội vã kết luận là: chưa đủ cơ sở thông qua đồ hình Âm Dương Việt phổ biến trên thế giới để kết luận nền văn minh Việt là chủ nhân của nền văn minh Đông phương.

Nhưng tôi cần xác định rằng: Từ khi tôi viết dòng chữ đầu tiên chứng minh cho nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử, là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và là cội nguồn của nền văn minh Đông phương - thì - chưa có một dòng chữ nào, hay lời phát biểu nào của tôi xác định rằng: Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là cơ sở để xác định nền văn minh Việt là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Đồ hình Âm Dương Lạc Việt chỉ là một sự kiện phổ biến ở các vùng lãnh thổ trên toàn cầu. Nhưng nó không phải là nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chỉ là một mô hình biểu kiến phản ánh một thực trạng khởi nguyên của vũ trụ. Do đó để phục hồi lại một cách hoàn chỉnh học thuyết này, không thể căn cứ vào một hiện tượng duy nhất là đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Cho nên, những học giả có nhận xét sai lầm đó, cần xem kỹ lại toàn bộ hệ thống luận cứ của tôi, chí ít là cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", mà tôi công khai công bố toàn bộ nội dung trong topic này trên diễn đàn lý học Đông phương.

Bài viết này không nằm trong nội dung cuốn sách.

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG II

TÍNH MINH TRIẾT TRONG ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT & NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA VIỆT GIẢI THÍCH SỰ KHỞI NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ.

 

II.1. ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT VÀ GIAI ĐOẠN KHỞI NGUYÊN VŨ TRỤ.

 

Sự thể hiện đồ hình Âm Dương Việt khác hẳn đồ hình Âm Dương Hán của nền văn hiến Việt, qua những di sản còn lại trong văn hóa truyền thống Việt và bao trùm lên các quốc gia lân bang trong văn hóa truyền thống của họ , mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên, đã xác định một nền tảng minh triết khác hẳn sự giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho.

Vậy tính minh triết trong đồ hình Âm Dương Việt thể hiện một nội dung gì khác với Hán Nho?

 

1.1. SAI LẦM CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU HÁN NHO VỀ NỘI HÀM CỦA CÂU:

"Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái".

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên: sự xác định của Chu Đôn Di, triết gia Hán, nổi tiếng thời Tống, cho rằng câu "Thái Cực sinh Lưỡng Nghi" thì "Lưỡng nghi" chính là Âm Dương.  

"Lưỡng Nghi" với cổ thư chữ Hán còn được mô tả là hào Dương và Âm trong Chu Dịch. Đoạn sau đây trong “Chu Dịch với dự đoán học” của Thiệu Vĩ  Hoa viết, chứng tỏ điều này:

 

KHÁI QUÁT VỀ CHU DỊCH

TIÊN THIÊN CỦA BÁT QUÁI PHỤC HI

Bát quái là phát minh của tổ tiên ta, là báu vật vô song trên thế giới. Vậy bát quái là gì? Trong “Hệ từ” có nói : “Dịch có thái cực, sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”.

Thái cực là âm dương chưa phân, vũ trụ còn thời kỳ hỗn độn. Gọi là thái cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. Đến cực điểm tất sẽ thay đổi, đến thái cực tất sẽ phân hóa thành âm dương, hình thành trời đất, hoặc là bản thân thiên thể có cả âm, dương. Phân âm dương là thành lưỡng nghi. Lưỡng nghi tức là trời và đất. Lấy Dương ( 894_zpse81aa75a.jpg) thay cho trời, lấy âm (895_zps40c32eb4.jpg ) thay cho đất. Hào âm, hào dương này chính là ký hiệu cơ bản nhất làm thành bát quái. Con cá âm dương trrong hình bát quái, cá màu trắng là dương, màu đen là âm. Có người so sánh hai con cá âm dương là mặt trời và mặt trăng, mặt trời là dương, mặt trăng là âm. Âm dương ôm bọc lấy nhau biểu thị âm dương giao nhau.

 

 

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:  các nhà nghiên cứu Trung Hoa hiện đại đã đánh tráo khái niệm "Lưỡng nghi" thành "Âm Dương" và mô tả một cách rất mơ hồ, lúng túng. Thậm chí Âm Dương còn được mô tả bằng những ký hiệu phi ngôn ngữ và thuộc tư duy trừu tượng là hào Âm(895_zps40c32eb4.jpg )và hào Dương (894_zpse81aa75a.jpg ).

Chúng tôi đã trình bày điều này ở phần trên và chứng minh rõ hơn ở đây như sau: 

 Thực chất khái niệm Âm Dương là một cặp phạm trù, manh tính minh triết của tư duy trừu tượng trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Khái niệm Âm Dương mô tả một cách tổng hợp mọi trạng thái phân biệt trong lịch sử hình thành vũ trụ từ khởi nguyên đến mọi sự vật, sự việc và mọi hiện tượng có thể nhận thức được của con người, như:

To/ nhỏ; nhanh/ chậm; mờ / tỏ; ngắn/ dài; nam/ nữ; trên/ dưới; trước/ sau; đầu/ đuôi; đực/ cái; nóng/ lạnh...vv....Kể cả những ý tưởng trừu tượng, như: Đúng/ sai; đẹp/ xấu....vv....

Để phân biệt Âm Dương trong việc mô tả bản chất phân biệt của mọi hiện tượng và sự kiện trong lịch sử vũ trụ có những nguyên lý tùy theo góc nhìn, hay còn gọi là hệ quy chiếu của nó.

Thí dụ: Nam là Dương, nữ là Âm. Nếu so sánh phân biệt giữa người nam và nữ. Nhưng người chị lại là Dương so với em trai là Âm, nếu xét phân biệt chị em theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau". Hoặc loài chim là Dương so với loài thú là Âm, nếu xét theo nguyên lý "Dương trên, Âm dưới". Nhưng con chim đực lại là Dương so với con chim cái là Âm, nếu xét phân loại Âm Dương cùng loài.

Nhưng,  như chúng tôi đã trình bày: "Thái cực sinh lưỡng nghi"  và khái niệm "lưỡng nghi" có nội hàm mô tả trạng thái thực tế khởi nguyên của vũ trụ sau Thái cực. Tức là "Thái cực" - trạng thái khởi nguyên của vũ trụ - sinh ra cái không phải nó; tạo ra trạng thái phân biệt giữa "Thái cực" và cái không phải nó, nên gọi là "Lưỡng nghi". Như vậy, khái niệm "Lưỡng nghi" chỉ giới hạn trong sự mô tả một thực tại ở trạng thái phân biệt đầu tiên của vũ trụ sau Thái cực (Tương đương sau giây "O" của tri thức khoa học hiện đại). Nhưng nội hàm của khái niệm "Lưỡng Nghi" không phải nội hàm của khái niệm Âm Dương. Mặc dù nằm trong phạm trù của Âm Dương.

Bởi vì khái niệm Âm Dương là một cặp phạm trù thuộc tư duy trừu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cho nên, nó chỉ xuất hiện khi sự tiến hóa của một nền văn minh nhận thức vũ trụ và mô tả nó. Do đó, nó không thể có ngay từ sự khởi nguyên của vũ trụ, khi mà vũ trụ vẫn chưa hình thành để có Thái Dương hệ, chưa nói đến con người.

Đây là sự nhầm lẫn nội dung khái niệm của những nhà nghiên cứu Hán Nho ngay từ cách giải thích sự khởi nguyên vũ trụ, mới chỉ ở phân khúc đầu của câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện: "Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh Bát quái".

Bởi vì, có thể nói rằng: tri thức của nền văn minh hiện đại đang vướng trần thời gian (10 - 47 giây, sau giây O). Vậy thì cách đây hơn 2000 năm, cho đến ngày hôm nay, nền văn minh Hán không thể lý giải được sự khởi nguyên của vũ trụ (Giây “O”) được mô tả là "Thái cực" cũng không có gì là lạ.

Bởi vậy, Chu Đôn Di phải lấy ngay khái niệm Âm Dương, là khái niệm mô tả phạm trù phân loại, để giải thích cho khái niêm "Lưỡng nghi" và đánh tráo khái niệm "Thái cực" bằng "Vô cực".

Một khi đã coi Âm Dương là "Lưỡng nghi" thì nội hàm Âm Dương phản ánh một thực tại nào trong khởi nguyên của vũ trụ sau Thái cực, khi khái niệm Âm Dương còn là một phạm trù mô tả mọi trạng thái phân biệt trong toàn thể lịch sử vũ trụ?

Tất nhiên, hệ quả của nó là sự sai lầm khi giải thích toàn văn của câu trên mang tính hệ thống. Cuối cùng là dẫn đến sự mơ hồ của toàn bộ hệ thống thuyết Âm Dương Ngũ hành, khiến nó trở nên huyền bí.

Ngược lại, chính những giá trị minh triết Việt, còn lưu truyền trong những di sản văn hóa truyền thống lại có một sự mô tả khác hẳn về "Thái cực" và "Lưỡng nghi". Chúng tôi xin tiếp tục trình bày ngay sau đây.

 

1.2. MINH TRIẾT VIỆT VÀ "THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI".

Từ những sai lầm của những nhà nghiên cứu Hán Nho đã thêm một bằng chứng sắc sảo cho việc xác định: Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về văn minh Hán. Sai lầm của họ, cộng với sự mặc định sai lầm về nguồn gốc của học thuyết này là những yếu tố quan trọng cản trở việc khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương.

Như chúng tôi đã trình bày, khái niệm Âm Dương và những ký hiệu biểu kiến là sản phẩm của tư duy trừu tượng, hình thành trong quá trình tiến hóa của con người tổng hợp và mô tả tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên. Còn "Thái cực", "Lưỡng nghi", "Tứ tượng"...là khái niệm mô tả trực tiếp trạng thái tự nhiên ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ.  Nội hàm của những cụm khái niệm này hoàn toàn khác nhau và khác hẳn sự giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho. Và điều này lại được mô tả chính xác trong đồ hình Âm Dương Lạc Việt, chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng tri thức của văn minh Đông phương.

Bạn đọc xem lại đồ hình Âm Dương Việt dưới đây:

503vagrave8096_zpsdd64b1c0.jpg

 

Sự mô tả cô đọng nhất của nội hàm "Lưỡng Nghi" trong câu "Thái cực sinh lưỡng nghi" qua đồ hình Âm Dương Việt còn đơn giản hơn, khi thể hiện chỉ là một nét vẽ xoắn trong hình tượng của nó:

 

Những hình ảnh về đồ hình Âm Dương Việt được trình bày với bạn đọc, chính là sự mô tả cô đọng nhất trạng thái khởi nguyên của vũ trụ bằng hình tượng của đồ hình Âm Dương Việt.

Những sai lầm trong sự giải thích từ khởi nguyên vũ trụ sau giây "O" của những nhà nghiên cứu Hán Nho, lại là tiền đề cho một chuỗi sai lầm tiếp theo trong toàn bộ nội  hàm mô tả sự khởi nguyên vũ trụ trong Hệ từ truyện của kinh Dịch: "Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng....", mà chúng tôi sẽ lần lượt mô tả minh chứng toàn bộ vấn đề này, qua những di sản văn hiến Việt trong các bài viết tiếp theo đây, trong Phần II.I, chương 3 của tiểu luận này.

1.3. TƯỢNG HÌNH CỦA THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI & ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT.

Hiện tượng đồ hình Âm Dương Lạc Việt không chỉ dừng lại ở tính lịch sử với sự phổ biến ở khắp các quốc gia Đông phương và ở các di sản thuộc các nền văn minh cổ đại khác. Mà với những kiến thức Thiên văn học cập nhật mới nhất, ngay đầu năm 2014, là năm xuất bản cuốn sách này, cũng hoàn toàn thể hiện sự trùng khớp với tư cách là một mô hình biểu kiến, mô tả một thực tại quan sát được từ vũ trụ.

Bạn đọc xem bài viết dưới đây trên báo điện tử Thanhnien Online vào ngày 21. 1. 2014:

 

Tái tạo sự hình thành của Dải Ngân hà
Cập nhật lúc 21/01/2014 18:07

Thanh Niên Online

Các nhà thiên văn học châu Âu đã tìm ra chứng cứ mới cho thấy Dải Ngân hà nở rộng theo hướng từ trong ra ngoài.

Một nghiên cứu mang tính đột phá do châu Âu thực hiện đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về sự hình thành của Dải Ngân hà, cho phép thiên hà của chúng ta tượng hình theo dạng độc nhất vô nhị.

82vagrave84_zps405c3e21.jpg
Nghiên cứu mới cho thấy quá trình tiến hóa của Dải Ngân hà - (Ảnh: ESO)

Dữ liệu thu thập được trong dự án Gaia-ESO của châu Âu đã cung cấp chứng cứ ủng hộ giả thuyết cho rằng các ngôi sao đầu tiên của Dải Ngân hà bắt đầu hình thành từ trung tâm, có nghĩa là thiên hà của chúng ta phát triển từ trong ra ngoài.

Nhờ vào kính thiên văn của Đài Thiên văn Nam Phương (Chile), các chuyên gia chịu trách nhiệm dự án trên đã phát hiện những ngôi sao già hơn nằm trong khu vực trung tâm của Dải Ngân hà, gọi là Vòng mặt trời.

Vòng mặt trời, phải mất 250 triệu năm mới đi từ đầu này sang đầu kia, cũng là nơi cư ngụ của hệ mặt trời của chúng ta, theo báo cáo đăng trên chuyên san
Astronomy and Astrophysics.
Những ngôi sao nằm trong phạm vi này có hàm lượng ma giê cao, chứng tỏ rằng đây là khu vực từng chứa nhiều ngôi sao “sống vội và chết trẻ”.
Trong khi đó, trưởng nhóm Maria Bergemann của Đại học Cambridge (Anh) cho hay, những ngôi sao nằm ngoài có chu kỳ sống dài hơn, và mất nhiều thời gian hơn để hình thành.

 

 

Qua nội dung bài báo trên, bạn đọc cũng thấy rằng: tri thức khoa học hiện đại đã mô tả sự hình thành giải Ngân Hà và mô phỏng bằng hình tượng như hình vẽ được thể hiện ở trên. Và đây được coi là khám phá mới nhất của tri thức khoa học thuộc nền thiên văn học hiện đại, được cập nhật tiếng Việt vào ngày 22. 1. 2014.

Bạn đọc có thể so sánh những trí thức khoa học hiện đại được cập nhật mới nhất với đồ hình Âm Dương Lạc Việt, có từ hàng thiên niên kỷ trước, lại thấy sự trùng hợp gần như hoàn toàn, giữa tượng hình mô tả một thực tại quan sát được của tri thức Thiên văn học hiện đại với đồ hình Âm Dương Lạc Việt, là mô hình biểu kiến mô tả sự khởi nguyên của vũ trụ:

 

82vagrave84_zps405c3e21.jpg

Tượng hình của Thiên văn học hiện đại

84_zps9baaf3e6.jpg

501391_zpsd7b68748.gif

Đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Không thể coi sự trùng hợp giữa hình tượng trong phát kiến mới nhất của khoa học hiện đại và đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một sự ngẫu nhiên. Vì cả hai đều là sản phẩm của tư duy trừu tượng mô tả một thực tại khách quan nhận thức được: đó là sự vận động và hình thành giải Ngân hà và riêng với hình Âm Dương Lạc Việt là cả vũ trụ nói chung.

Hơn thế nữa, đồ hình Âm Dương Lạc Việt cũng chỉ là một hình tượng - trùng khớp với hình tượng được lựa chọn của tri thức khoa học trong ngành Thiên văn học hiện đại - trong toàn bộ hệ thống lý thuyết vũ trụ quan cổ đại vô cùng đồ sộ; mô tả từ sự hình thành vũ trụ đến những quy luật vận động và tương tác thể hiện ở những mô hình biểu kiến mô tả những quy luật đó có khả năng tiên tri.

Qua đó, bạn đọc cũng thấy rằng: khi tri thức khoa học hiện đại càng phát triển, càng làm sáng tỏ  và xác định một nền văn minh huyền vĩ chủ nhân của nền  văn minh Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Và thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ, khi nó thỏa mãn hoàn toàn những tiêu chí và nội dung của một lý thuyết thống nhất, mà những tri thức hàng đầu của nhân loại đang mơ ước.

============

 * Chú thích: Những luận điểm minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến được minh chứng trong các sách đã xuất bản là:

 Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại.

Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp

Tìm về cội nguồn Kinh Dịch

Hà đồ trong văn minh Lạc Việt

Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam

Định mệnh có thật hay không (Đức Phật khai ngộ về tính thấy)

Và nhiều bài viết, tiểu luận của nhiều tác giả trên lyhocdongphuong.org.vn

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG III                                            

"LƯỠNG NGHI SINH TỨ TƯỢNG"

SỰ LÝ GIẢI NGUYÊN LÝ KHỞI NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT.

 

"Lưỡng nghi sinh tứ tượng" là dòng chữ mô tả nội dung trên một bức tranh của phường tranh Hàng Trống. Dòng chữ này tự nó đã khẳng định nội dung triết học về sự khởi nguyên của vũ trụ và có vẻ như nó chỉ nhằm nói lại một đoạn trong câu trong Hệ từ của kinh Dịch: “Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”.

Nhưng hình tượng của nó lại thể hiện một nội hàm khác hẳn cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm nay…..

Phân đoạn "Thái cực sinh lưỡng nghi" chỉ là đoạn mở đầu trong toàn câu của Hệ từ Thượng. Nếu chỉ dừng lại ở đây, qua sự miêu tả có tính cục bộ với những giải thích từ minh triết Việt, về nội hàm của đoạn này "Thái cực sinh lưỡng nghi" thì nó vẫn có thể gây hoài nghi.

Nhưng những giá trị minh triết Việt, tuy xuất hiện rời rạc, riêng rẽ, tưởng chừng không liên quan gì đến nhau, chỉ miêu tả từng phần riêng biệt, nhưng rất có hệ thống, nhất quán và có tính hợp lý xuyên suốt nội hàm của câu nổi tiếng của Hệ từ Thượng: "Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng.....".

Và điều này lại xác định rằng:  Những giá trị minh triệt Việt lưu truyền trong văn hóa truyền thống, hệ quả của nền văn hiến Việt, có khả năng phục hồi lại toàn bộ những bí ẩn của văn minh Đông phương huyền vĩ.

Trong chương III của phần này, người viết trình bày với bạn đọc nội dung phân đoạn tiếp theo của "Thái cực sinh lưỡng nghi","Lưỡng nghi sinh tứ tượng" -  một phân đoạn trong toàn câu nổi tiếng của Hệ từ Thượng - liên quan đến hình tượng của một bức tranh cũng rất nổi tiếng trong văn hóa truyền thống Việt.

Nội dung được mô tả qua hình tượng của bức tranh, đã thể hiện một giá trị minh triết Việt, khác hẳn cách lý giải của các nhà nghiên cứu Hán Nho về nội dung của phân đoạn này. Tính minh triết của bức tranh này, hoàn toàn phù hợp một cách có hệ thống, nhất quán về sự đồng đẳng trong những khái niệm của toàn câu và xác định đúng nội dung của câu: "Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng".

Đó là bức tranh "Lưỡng nghi sinh tứ tượng" của phường tranh Hàng Trống, mà bạn đọc có thể xem hình dưới đây:

 

88_zps2999b56d.gif

Lưỡng nghi sinh tứ trượng
(Tranh dân gian Hàng Trống)

 

III.1. TỨ TƯỢNG TRONG VĂN MINH HÁN.

Cổ thư chữ Hán cho rằng: Tứ tượng là Thái Âm, Thiếu Âm, Thái Dương, Thiếu Dương. Và họ giải thích rằng: Thái Âm là Âm cực đại chuẩn bị chuyển hóa; Thiếu Dương là khi Âm cực đại thì xuất hiện Thiếu Dương; Thái Dương là Dương cực đại chuẩn bị chuyển hóa sang Âm và Thiếu Âm là khi Dương cực đại thì xuất hiện Thiếu Âm.

"Lưỡng Nghi" với cổ thư chữ Hán được mô tả là Âm Dương và biểu tượng bằng hào Dương và Âm trong Chu Dịch. Tứ tượng được miêu tả là: Thái Âm/ hai hào Âm ( Quethaiam01.jpg); Thái Dương/ hai hào Dương (891_zps26b7f982.jpg);Thiếu Âm/ một hào Dương dưới, Âm trên (Quethieuam01.jpg ); Thiếu Dương/ hào Âm dưới Dương trên (Quethieuduong01.jpg).

Bạn đọc xem lại đoạn trích dẫn dưới đây, trong sách "Chu Dịch với dự đoán học” của Thiệu Vĩ Hoa. viết chứng tỏ điều này:

KHÁI QUÁT VỀ CHU DỊCH

  1. TIÊN THIÊN CỦA BÁT QUÁI PHỤC HI

Bát quái là phát minh của tổ tiên ta, là báu vật vô song trên thế giới. Vậy bát quái là gì? Trong “Hệ từ” có nói : “Dịch có thái cực, sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”.

Thái cực là âm dương chưa phân, vũ trụ còn thời kỳ hỗn độn. Gọi là thái cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. Đến cực điểm tất sẽ thay đổi, đến thái cực tất sẽ phân hóa thành âm dương, hình thành trời đất, hoặc là bản thân thiên thể có cả âm, dương.

Phân âm dương là thành lưỡng nghi. Lưỡng nghi tức là trời và đất. Lấy Dương (894_zpse81aa75a.jpg) thay cho trời, lấy âm ( ) thay cho đất. Hào âm, hào dương này chính là ký hiệu cơ bản nhất làm thành bát quái. Con cá âm dương trrong hình bát quái, cá màu trắng là dương, màu đen là âm. Có người so sánh hai con cá âm dương là mặt trời và mặt trăng, mặt trời là dương, mặt trăng là âm. Âm dương ôm bọc lấy nhau biểu thị âm dương giao nhau.

Lưỡng nghi sinh tứ tượng, tức âm dương trùng nhau, âm dương giao nhau mà đưa đến. Ví dụ: hào dương (894_zpse81aa75a.jpg) kết hợp với một hào dương (894_zpse81aa75a.jpg) là thái dương ( 891_zps26b7f982.jpg) ; hào dương (894_zpse81aa75a.jpg) kết hợp với hào âm (895_zps40c32eb4.jpg ) là thiếu âm (Quethieuam01.jpg) ; hào âm với hào dương kết hợp thành thiếu dương (Quethieuduong01.jpg) ; hào âm với hào âm kết hợp( thành thái âm (Quethaiam01.jpg) . Cho nên thuần dương là thái dương, thuần âm là thái âm, một âm trên một dương là thiếu âm, một dương trên một âm là thiếu dương. Người xưa lấy bốn tượng tượng trưng cho bốn phương, cũng tượng trưng cho bốn mùa : xuân, hạ, thu, đông trong một năm, tức là tứ thời.

Tứ tượng sinh bát quái, thực tế vẫn là âm dương trùng hợp mà thành. Trong “Chú giải Chu dịch đại truyện” Cao Hanh có nói : “Thiếu dương, lão dương, thiếu âm, lão âm vẫn tượng trưng cho tứ thời, bát quái chính là bốn cái đó tạo thành”. Ví dụ : Hào dương của nghi phân biệt kết hợp với thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm mà thành bốn quẻ : quẻ càn (queCan.jpg ), quẻ đoài (queDoai.jpg ), quẻ ly (queLy.jpg), quẻ chấn (queChan.jpg). Hào âm của nghi phân biệt kết hợp với thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm mà thành bốn quẻ : quẻ tốn (queTon.jpg ), quẻ khảm (queKham.jpg), quẻ cấn (queCans.jpg ), quẻ khôn (queCans.jpg ). Cho nên gọi càn 1, đoài 2, ly 3, chấn 4, tốn 5, khảm 6, cấn 7, khôn 8 là “tứ tượng sinh bát quái”. Bát quái cũng là tám phương, tám tiết vậy.

Thuyết tiên thiên bát quái là từ triều Tống tạo ra. Trước triều Tống chỉ có bát quái và 64 quẻ. Các học giả đời Tống căn cứ vào “thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất phương xạ” (Trời đất phân rõ, núi sông thông suốt, sấm gió yếu đi, nước lửa ít va chạm) trong “thuyết quái” mà tạo ra “hình tiên thiên bát quái”. Cho nên : càn là nam, khôn - bắc, ly - đông, khảm - tây , chấn - đông bắc, tốn – tây nam, cấn - tây bắc, đoài - đông nam ( xem hình vẽ).

 

HÌNH THỨ TỰ BÁT QUÁI PHỤC HY

image002_zps393851ff.gif

 

1421_zpsa5761ef0.jpg

(Nhìn từ ngoài vào trong)

 

 

Như vậy, đối với những học giả Trung Hoa cũng không hề giải thích rõ ràng nội hàm khái niệm "Thái cực", "lưỡng nghi", "tứ tượng", mà thay thế bằng ký hiệu với một khái niệm khác, thể hiện một cảm nhận mơ hồ có tính hợp lý hình thức về cách lý giải sự khởi nguyên vũ trụ được miêu tả trong Hệ từ Thượng của Chu Dich.

Hay nói rõ hơn: Những nhà nghiên cứu Hán Nho đã lấy chính ngay những khái niệm trừu tượng, tổng hợp thực tại trong lịch sử phát triển của vũ trụ của một học thuyết, để giải thích chính thực tại được mô tả của khái niệm đó, được mô tả bằng những ký hiệu của Dịch học. Do đó, nó làm cho người ta không thể hiểu được học thuyết đó mô tả một thực tại nào. Bởi vậy, dẫn đến sự nhầm lẫn giữa nội hàm những khái niệm mô tả thực tại và những khái niệm trừu tượng có tính tổng hợp minh triết của một học thuyết.

Tính mơ hồ, thiếu hiểu biết và chứng tỏ nền văn minh Hán không phải là chủ nhân của thuyêt Âm Dương Ngũ hành có thể tìm thấy trong tất cả các cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng thiên niên kỷ đến nay. Ở đây, người viết chỉ lấy một đoạn trong sự trích dẫn trên làm ví dụ:

“Thái cực là âm dương chưa phân, vũ trụ còn thời kỳ hỗn độn. Gọi là thái cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. Đến cực điểm tất sẽ thay đổi, đến thái cực tất sẽ phân hóa thành âm dương, hình thành trời đất, hoặc là bản thân thiên thể có cả âm, dương.

Phân âm dương là thành lưỡng nghi. Lưỡng nghi tức là trời và đất. Lấy Dương (894_zpse81aa75a.jpg ) thay cho trời, lấy âm (895_zps40c32eb4.jpg ) thay cho đất”.

 

Đoạn trên độc giả cũng thấy rằng: Âm Dương được mô tả như yếu tố tạo ra trong sự khởi nguyên vũ trụ. Nhưng đoạn dưới thì nó chỉ miêu tả trời và đất. Vậy bản chất của Âm Dương là gì?

Khi họ cho rằng: "Lưỡng nghi" là Âm Dương. Nhưng họ lại cho rằng:

"Thái cực là âm dương chưa phân, vũ trụ còn thời kỳ hỗn độn".

Vậy Thái cực hỗn độn so với cái gì? Nếu như có cái để so sánh với tính "hỗn độn" mà họ miêu tả thì tức đã là "lưỡng nghi" rồi. Nếu "Lưỡng nghi" là Âm Dương thì câu trong Hệ Từ chỉ cần ghi: "Thái cực sinh Âm Dương" là đủ.

Đây chính là sự mơ hồ đến tận ngày hôm nay từ cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho (Chúng tôi đã giải thích ở phần trên).

Nếu lập luận như Hán Nho rằng: "Gọi là thái cực vì bao la đến vô cùng, vô tận. Đến cực điểm tất sẽ thay đổi" thì nội hàm của Thái Cực là một thực tế động và phát triển. Vậy nó cũng không khác gì Thái Âm và Thái Dương cũng được mô tả y như vậy: "Dương cực sinh Âm, gọi là thiếu Âm sinh. Âm cực sinh Dương, gọi là Thiếu Âm sinh". Đây chính là sự lẫn lộn về khái niệm từ cách giải thích của Hán Nho.

Từ những sai lầm của cách giải thích này, chính là tiền đề dẫn đến đồ hình biểu tượng cho quan niệm trên:

 

50292_zpsc5d648e2.jpg

Đồ hình Âm Dương hiện đại có xuất xứ từ đời Tống.

 

Vòng tròn trong đồ hình trên biểu tượng cho Thái Cực; hai mảng đen trắng được coi là biểu tượng Âm Dương qua hình trên và cũng là biểu tượng của “Lưỡng nghi” thì tạm thời điều này  được coi là đúng. Vì Âm Dương là khái niệm biểu kiến cho tất cả các trạng thái so sánh, phân biệt, theo Lý học Việt.  Nhưng sự mâu thuẫn xuất hiện khi có hai chấm khác màu thể hiện ở hai mảng Âm Dương này. Các nhà nghiên  cứu Hán Nho diễn giải rằng: Đó là biểu hiện của tứ tượng. Gồm Thái Âm, Thái Dương (hai mảng đen trắng lớn) và Thiếu Âm, Thiếu Dương (Hai chấm tròn). Họ cho rằng hai chấm là biểu tượng khi Âm hoặc Dương cực thì sinh Thiếu Dương hoặc Thiếu Âm.

 Nhưng đó chỉ là tính hợp lý hình thức. Bởi vì khái niệm Thiếu Âm và Thái Âm, hoặc Thiếu Dương và Thái Dương;  hoặc cực Dương sinh Âm (Và ngược lại) là khái niệm miêu tả sự tăng trưởng liên tục từ thấp đến cao, trong tương quan nội hàm riêng Âm hoặc Dương của cặp phạm trù Âm Dương. Thiếu Âm và Thái Âm; hay Thiếu Dương và Thái Dương chỉ hai giai đoạn đầu và cuối của một quá trình phát triển, mà quá trình này có thể phân làm nhiều giai đoạn.  Nếu nói theo ngôn ngữ toán học thì có thể phân thành “n” giai đoạn. Và như vậy chỉ cần hai mảng đen trắng mô tả sự tăng trưởng từ nhỏ đến lớn là đủ. Sự phát sinh khái niệm Thiếu Âm, Thiếu Dương được mô tả trong đồ hình biểu kiến của học thuyết này theo Hán Nho thì tự nó đã tạo ra sự so sánh, phân biệt với Âm Dương (Âm Dương là khái niệm miêu tả sự so sánh phân biệt của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng tôi đã trình bày ở chương trên), tức là sự trùng lặp khái niệm. Xin xem hình minh họa dưới đây:

93_zps14eb72fd.jpg

Hình trên chỉ là một nửa của đồ hình Âm Dương Hán. Nhưng chỉ với phân nửa này, chúng ta thấy cũng đủ miêu tả khái niệm Âm Dương. Đó chính là sự phân biệt giữa mảng đen và chấm trắng (Hoặc ngược lại là mảng trắng, chấm đen).

Như vậy, đồ hình Âm Dương Hán với hai chấm mô tả Thiếu Âm và Thiếu Dương và cho rằng đó là tứ tượng cũng cho thấy cách hiểu sai sự mô tả khởi nguyên vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán trải hàng ngàn năm nay, kể từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương tử 258 trước CN, hoàn toàn mơ hồ và không thể giải thích được từ một góc nhìn khoa học.

 Có thể nói rằng: Với một mặc định trở thành hố đen trong tiềm thức cũng từ hàng ngàn năm nay về cội nguồn xuất xứ của nền Lý học Đông phương, những nhà nghiên cứu vẫn mặc nhiên thừa nhận cách giải thích mơ hồ này và coi đó là thành tựu của nền văn minh Hoa Hạ.

Người ta không thể tìm được cái đúng từ một cái sai.

 Bởi vậy, đó chính là nguyên nhân để đến tận ngày hôm nay, nền văn minh Đông phương vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của cả nền văn minh nhân loại trong sự hội nhập toàn cầu, vì sự sai lầm trong sự mặc định cội nguồn lịch sử của nền văn minh Đông phương.

Như trong Chương 1 chúng tôi đã trình bày: Sự hiểu sai nội hàm khái niệm "lưỡng nghi"ngay trong phân khúc đầu của câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng..." . Từ khái niệm mô tả thực trạng vũ trụ ở giai đoạn khởi nguyên, thành khái niệm trừu tượng minh triết của một học thuyết, nên hệ quả là tiếp tục lặp lại cách hiểu sai về "Tứ tượng" của phân khúc giữa của câu này. 

Bởi vậy, bạn đọc cũng thấy rằng: Những nhà nghiên cứu Hán Nho đã giải thích nội hàm khái niệm "Tứ tượng" như là một khái niệm trừu tượng mang tính tổng hợp, mô tả mang tính quy luật chung và không phải một trạng thái thực tại riêng biệt ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Vậy với câu: "Dịch hữu Thái cực..." mà toàn là những khái niệm mô tả sự tổng hợp nhận thức của tư duy trừu tượng thì nó phản ánh một thực tại nào?

Nhưng với hình tượng và nội dung của bức tranh dân gian Việt: “Lưỡng Nghi sinh tứ tượng” thuộc dòng tranh dân gian Hàng Trống thì lại là một cách lý giải khác hẳn. Cách lý giải từ hình tượng của bức tranh dân gian trong văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn nhất quán với đồ hình Âm Dương Việt. Nội dung của nó mô tả thực tế diễn biến từ khởi nguyên của vũ trụ là "Thái cực" (Tương đương giây "O" của khoa học hiện đại) và sự tương tác tiếp sau đó: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng...", mà chúng tôi tiếp tục trình bày sau đây.

Share this post


Link to post
Share on other sites

III.2. "LƯỠNG NGHI SINH TỨ TƯỢNG"

NHÌN TỪ DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT.

Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện từ cổ thư chữ Hán, những nhà nghiên cứu Hán Nho đã nhầm lẫn khi giải thích những khái niệm của học thuyết này, thể hiện qua những danh từ, như:  "Thái Cực", "Lưỡng nghi", "Âm Dương", "Tứ tượng", "Ngũ hành" "Bát quái"…vv...Có những danh từ mô tả khái niệm mang tính biểu kiến của tư duy trừu tượng, tổng hợp từ thực tại và không phải mô tả một thực tại cụ thể. Thí dụ như từ "Bát quái" để mô tả các ký hiệu Dịch học.

gồm:

Càn 1.jpg  Đoài 2.jpg  Tốn 5.jpg Ly 3.jpg

 

Khôn  8.jpg  Chấn  4.jpg  Cấn  7.jpg  Khảm  6.jpg

 

 

 Rõ ràng những ký hiệu này không phải ký hiệu mô tả ngôn ngữ, mà là những ký hiệu biểu kiến của tư duy trừu tượng tổng hợp thực tại. Tương tự như ký hiệu toán học, mô tả những công thức toán học trong những hệ thống lý thuyết của tri thức khoa học hiện đại.  Hoặc như thuật ngữ "Âm Dương" là khái niệm biểu kiến của tư duy trừu tượng, mô tả các trạng thái phân biệt của sự vật, sự việc thì họ lại coi như khái niệm mô tả thực tại. Ngược lại có những khái niệm mô tả thực tại thì họ lại coi như là một khái niệm biểu kiến. Đó chính là khái niệm “Lưỡng nghi”“tứ tượng” trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Người viết trích lại đoạn đã trích dẫn trên để bạn đọc xác định điều này:

“Phân âm dương là thành lưỡng nghi. Lưỡng nghi tức là trời và đất. Lấy Dương (894_zpse81aa75a.jpg) thay cho trời, lấy âm (895_zps40c32eb4.jpg ) thay cho đất”. (Đã dẫn).

Nhưng bức tranh dân gian lưu truyền trong nền văn hóa truyền thống Việt của phường Hàng Trống "Lưỡng nghi sinh tứ tượng", lại chính là chiếc chìa khóa miêu tả thực tại sự hình thành vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, vốn bí ẩn từ hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn minh nhân loại.

 

88_zps2999b56d.gif

Lưỡng nghi sinh tứ trượng

Tranh dân gian Hàng Trống

 

Chúng ta bắt đầu từ ba hình tượng chính của bức tranh này là
1) Đồ hình Thái cực, Âm Dương và Bát quái (do một chú bé cầm trên tay).

2) Hai chú bé với bốn thân hình gắn kết với nhau , là nội dung chính của bức tranh , biểu tượng của “tứ tượng”.
3) Hình con rùa (một chú bé đứng trên lưng).

Biểu tượng Âm Dương và Bát quái trong bức tranh “Lưỡng Nghi sinh tứ tượng” không nằm trong chủ đề chính của bức tranh, mà được một chú bé cầm trên tay và nằm ngoài nội dung chính của bức tranh, cho thấy nó thuộc về một phạm trù khác.

Biểu tượng làm nên nội dung chính của bức tranh, chính là 2 cái đầu và 4 thân hình em bé gắn kết liên quan. Tính hiện thực được mô tả bằng hai chú bé có bốn thân hình, chứng tỏ trong nhận thức vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Lạc Việt đã coi “Tứ tượng” là một thực tại của những chủ thể tương tác trong chuỗi quá trình vận động, từ chủ thể bản nguyên của vũ trụ là "Thái cực" - sinh “lưỡng nghi” – đến "lưỡng nghi sinh tứ tượng" - và không phải là sự phát triển và hoán đổi của Âm Dương và Bát quái, mà cổ thư chữ Hán miêu tả là Thái Âm , Thiếu Dương….vv… .

Hai hình tượng tiêu biểu tách rời nhau: Đồ hình Âm Dương, bát quái, mà một chú bé cầm trên tay và biểu tượng hai chú bé với bốn thân hình liên kết. Hình tượng này đã xác định đây là hai giá trị phân biệt giữa một thực tại vận động của vũ trụ "Lưỡng nghi sinh tứ tượng" và mô hình biểu kiến của nó là đồ hình Âm Dương và bát quái là một chi tiết riêng, nằm ngoài chủ đề chính của bức tranh.

Hình tượng hai chú bé và mỗi chú bé có tới hai thân hình gắn kết, nên khó phân biệt chú bé nào sở hữu thân hình nào, đã mô tả một cách xuất sắc trong thái "Lưỡng nghi". Hình tượng này cũng xác định: "Lưỡng nghi" là một thực tại sau khởi nguyên - Thái cực (Giây "O") - và không phải Âm Dương, vì tách rời đồ hình Âm Dương, mà một trong hai chú bé "Tứ tượng" cầm.

Hình tượng bốn thân hình (Tứ tượng) của hai đứa bé kết thành hình vuông , là biểu tượng của Âm và không phân biệt được thân hình nào là của chú bé nào ("Lưỡng nghi"; "nghi": nghi hoặc, không rõ ràng). Hình tượng này còn có nghĩa “Tứ tượng” là thuộc tính của Âm (Dương tròn, Âm vuông), tức là thuộc tính của sự vận động. Điều này sẽ được tiếp tục minh chứng ở phần sau.

Hình tượng hai chú bé  "Lưỡng nghi" và bốn thân hình "Tứ tượng" , chịu sự chi phối của "Lưỡng nghi", chính là mô tả thực tế bốn trạng thái tương tác sau khi "lưỡng nghi" sinh (hai chú bé) và cùng chi phối bốn thân hình, trong sự vận động từ khởi nguyên của vũ trụ. 

Những tri thức khoa học hiện đại đã xác định rằng:

"Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của vũ trụ nhận thức theo nguyên lý tương tác.

Hình thức tương tác như thế nào thì bản thể của sự việc như thế đó".

 

("Khám phá về các bí ẩn của con người và thế giới sống". Tác giả : Ngô Thành Đồng. Nxb Đà Nẵng. 1998.Trang 7).

Như vậy, tính hợp lý và nhất quán trong nội hàm những chuỗi khái niệm trong câu của Hệ từ Thượng, nhìn từ minh triết Việt, tiếp theo của sự mô tả thực tế trạng thái khởi nguyên vũ trụ sau "Thái cực sinh lưỡng nghi", phải là một thực tại của trạng thái tương tác nảy sinh ngay sau đó. Và điều này hoàn toàn phù hợp với tri thức khoa học hiện đại đã tổng kết, trong đoạn trích dẫn ở trên.

Bốn trạng thái tương tác này, theo miêu tả của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Tương sinh, tương khắc; tương thừa và tương vũ.

Hình tượng hai chú bé xác định trạng thái của "Lưỡng nghi", nằm trong phạm trù Âm Dương chi phối mọi sự vận động của vũ trụ sau đó và điều khiển bốn thân hình gắn kết, tương tác, tức "Tứ tượng".

Bức tranh trên còn một hình tượng quan trọng, đó là con rùa. Con rùa là biểu tượng một nền văn minh có chữ viết của người Lạc Việt. Bản văn cổ chữ Hán ghi nhận “Vào đời Đào Nghiêu, có sứ Việt Thường dâng con rùa lớn, trên mai có văn Khoa Đẩu, ghi việc trời đất mở mang” (sách Thông Chí của Trịnh Tiều). Như vậy, con rùa chính là phương tiện ghi nhận nền văn minh có chữ viết của người Lạc Việt từ thời cổ xưa, khi chưa làm ra giấy.

Thái Cực, Lưỡng nghi, Tứ tượng chính là giai đoạn vận động đầu tiên của vũ trụ; hay nói một cách khác: Đó là việc“trời đất mở mang”. Chú bé “Tứ Tượng” dẫm trên mai con rùa là hình tượng sắc sảo, chứng tỏ nó thuộc về văn minh Lạc Việt và đã được ghi nhận từ thời tối cổ; khi mà tổ tiên người Lạc Việt dùng mai rùa để ghi lại những tri thức của mình. Đây cũng là một biểu tượng có nội dung minh triết sâu sắc của bức tranh này.
Như vậy, với những hình tượng trong bức tranh trên thể hiện một nội dung về sự khởi nguyên của vũ trụ qua câu trong Hệ từ: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng”, khác hẳn tất cả những quan niệm trải hàng ngàn năm nay về câu này trong các bản văn chữ Hán.

Bức tranh tư liệu trình bày trong sách này, là một di sản văn hóa truyền thống phi vật thể,  có thể chỉ được vẽ lại khoảng vài chục năm trở lại đây. Nhưng qua nội dung của nó thì hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng: nội dung của nó đã có từ thời rất xa xưa, được lưu truyền đến ngày nay. Bởi vì ngay từ những bản văn chữ Hán cổ nhất cho đến ngày nay, cũng không hề diễn đạt một ý niệm về tứ tượng như hình tượng đã diễn đạt trong bức tranh dân gian Việt Nam. Và chỉ có trong văn hóa truyền thống Việt mới có bức tranh mang nội dung minh triết sâu sắc như vậy.

 Về sự hiện diện của những chữ Hán trên bức tranh, có thể dẫn tới một ý niệm cho rằng nó là sản phẩm của văn minh Hán. Nhưng chính nội dung bức tranh , qua biểu tượng rất cụ thể của nó được diễn giải , lại cho thấy nó không thuộc về nền văn minh Hoa Hạ, nhưng đã bị Hán hóa về chữ viết. Điều này cũng chẳng có gì là lạ, vì dù cho người Việt đã có chữ viết trước khi bị đô hộ, thì nó vẫn bị thay đổi, do nhu cầu tất yếu và cần thiết là sự thống nhất chữ viết trong một đế chế trải hàng ngàn năm, nên đã Hán hóa chữ viết trong bức tranh này để tiếp tục lưu truyền.

Điều này cũng giải thích rằng: mặc dù bức tranh có nội dung rất cổ, như đã trình bày ở trên; nhưng những chữ Hán lại là loại chữ thảo thuộc về thời cận đại hoặc trung cổ.

Bức tranh dân gian Hàng Trống “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” , cùng với đồ hình Âm Dương Lạc Việt, thể hiện một cách cô đọng và hợp lý ý nghĩa của “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng”, hoàn toàn là những khái niệm đồng đẳng, miêu tả một thực tại của sự khởi nguyên của vũ trụ theo quan niệm của Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt. Tính minh triết trong bức tranh dân gian trong văn hóa truyền thống Việt, đã giải thích một cách khác hẳn những cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho, góp phần chứng tỏ một cách sắc sảo về cội nguồn của nền văn hóa Đông phương thuộc về văn minh Lạc Việt, khởi nguồn của đất nước Việt Nam trải gần 5000 năm văn hiến.

Vấn đề còn lại của phần kết trong câu trong Hệ từ Thượng truyện: "Tứ tượng sinh bát quái" trong bản văn chữ Hán, sẽ được minh chứng sự sai lầm trong nội dung thiếu nhất quán, thiếu sự đồng đẳng về nội hàm của sự liên quan trong chuỗi khái niệm trong phần tiếp theo đây.

 

PHỤ CHƯƠNG 
TỨ HỶ HỢP CỤC
(Tranh cát tường Trung Hoa)

 

100_zps5b72d0dd.jpg
Chú thích trên tranh: Bốn chữ Hỷ hợp lại với nhau. Bốn điều mừng vui cùng kéo đến, thường là chúc mừng sinh nhật con trẻ; mong có cuộc sống nhiều may mắn, mừng vui...

Bức tranh trên được trích dẫn từ cuốn “Tranh vẽ cát tường Trung Hoa”, Kiều Liên biên soạn và giới thiệu, Nxb VHTT III 2002.

Bạn đọc cũng nhận thấy bố cục và hình tượng hai đứa bé trong tranh này giống hệt tranh “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng” của Việt Nam. Nếu có khác thì chỉ là vài chi tiết. Tính đặc thù của hình tượng hai đứa bé trong hai tranh, cho thấy đây không thể coi là sự trùng hợp ngẫu nhiên về ý tưởng diễn đạt.
Với nội dung của bức tranh Trung Quốc, không thể và không cần phải diễn đạt bằng hình tượng rất kiêng cử trong văn minh Đông phương này (hai chú bé thân hình dính nhau. Một dạng quái thai, cần kiêng cữ). Điều này chỉ có thể giải thích rằng chúng có chung một cội nguồn văn hóa và xuất xứ duy nhất. Không thể cho rằng bức tranh dân gian Việt Nam là ảnh hưởng văn hóa Hán, vì nội dung của nó diễn đạt khác hẳn tất cả bản văn chữ Hán nói về thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Như vậy, chỉ có thể giải thích rằng: Bức tranh “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng” với nội dung đích thực của nó đã lưu truyền từ rất lâu trong cộng đồng Bách Việt ở Nam Dương Tử . Và qua hơn 1000 năm Bắc thuộc ở Nam sông Dương Tử, khi nước Việt hưng quốc (thế kỷ thứ X sau CN), những di sản của người Việt ở Nam sông Dương Tử tiếp tục bị Hán hóa và xa rời dần cội nguồn nguyên thủy của nó. Với cách hiểu sai lệch về thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhưng được coi là ý tưởng chính thống của các nhà lý học Hán Nho, đặc biệt phát triển từ thời Tống (thế kỷ X, XI), đã khiến bức tranh khi lưu truyền trong nền văn hóa Hán đã mất đi nội dung ban đầu của nó và chỉ còn là một hình tượng minh họa cho điềm lành: “Tứ hỷ hợp cục”, hoàn toàn vô nghĩa với hình tượng của bức tranh.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG IV

TỨ TƯỢNG BIẾN HÓA VÔ CÙNG

IV.1. SAI LẦM TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN CỔ:

"TỨ TƯỢNG SINH BÁT QUÁI".

Nguyên văn trong Hệ từ Thượng truyện trong bản văn chữ Hán cổ, toàn câu được mô tả như sau:

"Thị cố Dịch hữu Thái cực; thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái" (Đã trích dẫn).

Như vậy, toàn câu trên xác định rằng: Bản văn chữ Hán cổ nhất thuộc về nền văn minh Hán, đã mô tả toàn bộ diễn biến của nội hàm câu trên kết thúc là một ký hiệu mang tính mô hình biểu kiến của tư duy trừu tượng. Tức là "Bát quái".

 "Bát quái" là một danh từ mô tả tám ký hiệu của Dịch học, gồm:

                          

 

Càn 1.jpg  Đoài 2.jpg  Tốn 5.jpg Ly 3.jpg

 

Khôn  8.jpg  Chấn  4.jpg  Cấn  7.jpg  Khảm  6.jpg

 

Rõ ràng những ký hiệu Bát quái không phải là ký hiệu ngôn ngữ. Mà nó là một ký hiệu biểu kiến, hệ quả của tư duy trừu tượng, mô tả dưới một hình thức khác sự tổng hợp và phân loại các sự vật, sự kiện trong kinh Dịch.

Giáo sư Hoàng Tuấn, đã chứng minh Bát quái chính là một loại ký hiệu toán học của hệ nhị phân, tương tự những ký hiệu toán học của tri thức khoa học hiện đại. Những luận điểm của giáo sư Hoàng Tuấn được trình bày trong cuốn sách của ông là "Kinh Dịch và  hệ nhị phân" (Nxb VHTT 2002)

Có thể nói rằng:

Chính vì ngay bản văn chữ Hán cổ nhất của kinh Dịch đã kết thúc chuỗi khái niệm và xác định bằng danh từ có tính biểu kiến, mô tả sự tổng hợp của tư duy trừu tượng là "bát quái", cho nên dẫn tới các nhà nghiên cứu và triết gia Hán Nho buộc phải giải thích toàn câu trong Hệ từ thượng nói trên bằng các danh từ có nội hàm đồng đẳng. Tức là những khái niệm tổng hợp trừu tượng thuộc sự mô tả của một học thuyết là:

-  Âm Dương để giải thích cho khái niệm "Lưỡng nghi".

- Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương thay thế cho "Tứ tượng".

- Bát quái là mô hình biểu kiến thuộc tư duy trừu tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, kết thúc của toàn câu trên.

Như vậy toàn bộ nội hàm của danh từ mô tả khái niệm "Thái cực"; "Lưỡng nghi"; "Tứ tượng" không được giải thích. Và nó chỉ là sự đánh tráo khái niệm. Cụ thể  ở đây với cách giải thích của Hán Nho và trong nguyên văn kinh Dịch thì toàn bộ chuỗi khái niệm trên thực chất là khái niệm của tư duy trừu tượng, tổng hợp và mô tả mối tương quan của sự vận động và không phản ánh thực tại cụ thể. Trong trường hợp này là sự mô tả trạng thái diễn biến thực tại cụ thể của sự khởi nguyên của vũ trụ, bắt đầu Thái Cực.

Một trong những tiêu chí khoa học để xác định một lý thuyết được coi là khoa học phát biểu rằng:

Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quán xét được.

 

Vậy thì với chuỗi khái niệm trừu tượng của một học thuyết được giải thích theo các nhà nghiên cứu Hán Nho và đoạn kết trong toàn câu của Hệ Từ thượng trong bản văn chữ Hán "Tứ tượng sinh Bát quái" mô tả một thực tại nào trong sự khởi nguyên của vũ trụ?

Nhưng chính vì sự mặc định nền văn minh Hán là cội nguồn của văn minh Đông phương, nên tất cả những gì ghi nhận trong các bản văn chữ Hán liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, được coi như là một thành tựu và không thể bác bỏ. Và họ đành phải chấp nhận "Tứ tượng sinh Bát quái".

Như vậy, mở đầu câu này: "Thị cố Dịch hữu Thái cực" thì nội hàm của danh từ "Thái Cực" với tính hợp lý lý thuyết,  cũng phải là một khái niệm thuộc hệ thống lý thuyết và là hệ quả của tư duy trừu tượng. Vậy thì một thực tại nào là đối tượng quán xét của thuyết Âm Dương Ngũ hành được mô tả ngay trong bản văn cổ nhất của kinh Dịch?

Còn nếu coi Thái Cực là sự miêu tả trạng thái khởi nguyên của vũ trụ ("dịch hữu Thái cực") thì không lẽ ngay sau trạng thái thực tại khởi nguyên (Giây "O" của vũ trụ) là kết quả của tư duy trừu tượng "Thái cực sinh Âm Dương"?

Rõ ràng đây là điều phi lý vì tính không đồng đẳng của nội hàm chuỗi khái niệm trong việc giải thích sai lầm của các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua.

 Nhưng điều đáng chú ý hơn là sai lầm ngay trong nội dung bản văn chữ Hán cổ nhất về kinh Dịch, vốn mặc định là của nền văn minh Hán, qua phân đoạn cuối của câu này: "Tứ tượng sinh Bát quái".

Cần phải khẳng định ngay rằng:  đây chính là bằng chứng "hóa thạch" từ hơn 2000 năm trước của sự Hán hóa một cách sai lệch nền văn minh huyền vĩ Việt, khi sụp đổ ở miền nam Dương Tử từ thế kỷ thứ III BC.

Hàng ngàn năm trôi qua, nền văn minh Đông phương đã lưu truyền những bản văn chữ Hán nói về thuyết Âm Dương Ngũ hành, một cách mơ hồ và bí ẩn. Cho đến ngày nay, khi xu thế hội nhập toàn cầu đã liên kết hầu hết những nền văn minh nhân loại, thì có thể nói rằng cả thế giới này đã mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành  cốt lõi của nền Lý học Đông phương, thuộc về nền văn minh Hán.

Kết quả của sự mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hán,  sẽ nghiễm nhiên được coi đó là những thành tựu thuộc về nền văn minh này và không thể thay đổi. Do đó, với đoạn kết "Tứ tượng sinh Bát quái", nó có vẻ mang tính đồng đẳng trong nội hàm khái niệm và một sự hợp lý hình thức với chuỗi giải thích với các khái niệm mô tả các cặp phạm trù biểu kiến của một học thuyết, là: "Âm Dương", "Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương" (Tứ tượng) và "bát quái". Nhưng tất cả những chuỗi khái niệm này lại không phải chuỗi khái niệm đồng đẳng với nội hàm khái niệm "Thái Cực", vốn xác định trạng thái khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành ("Dịch hữu Thái cực"). Vậy thì một thực tại, chỉ có thể sinh ra một thực tại khác được định danh, chứ không thể sinh ra một khái niệm biểu kiến thuộc tư duy trừu tượng.

Do đó, chỉ với thực tế tồn tại trên bản văn chữ Hán của câu nổi tiếng trong Hệ từ : “Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”, nhưng đến ”tứ tượng sinh Bát quái", cũng đủ cho thấy sự vô lý trong cấu trúc toàn câu này.

Hơn nữa, sự mô tả toàn bộ trạng thái khởi nguyên vũ trụ, mà tri thức khoa học hiện đại gọi là "giây 'O' trước Big bang" và thuyết Âm Dương Ngũ hành mô tả là "Thái cực", không phải tri thức nền tảng của thời cổ đại, trung đại của nền văn minh  Hán từ hơn hai thiên niên kỷ trước. Thậm chí cho đến tận ngày nay, khi người viết đang viết những dòng chữ này, tri thức khoa học hiện đại vẫn đang bế tắc ở trần thời gian 10 -47s sau giây "O". Do đó, những nhà nghiên cứu Hán Nho đến tận ngày hôm nay, không thể giải thích được trạng thái khởi nguyên vũ trụ cũng không có gì là lạ.

Trong khi đó các khái niêm "Thái Cực", "Lưỡng Nghi", "Tứ tượng", với ngay hình thức của danh từ và cách phát âm dù được dịch ra bằng tiếng nước nào, cũng khác hẳn các danh từ "Âm Dương; "Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương" và "Bát quái". Tất yếu nó phải mang một nội hàm khái niệm khác hẳn. Chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn nội hàm của những khái niệm này trong các phần sau, khi mô tả những giá trị minh triết Việt.

Như vậy, trong cổ thư chữ Hán thì ngay từ sự miêu tả khởi nguyên vũ trụ, đã thể hiện tính không đồng đẳng trong khái niệm, khi họ giải thích câu trên trong Hệ từ Thượng của kinh Dịch. Nói nôm na và hình ảnh thì nó tương tự với một nội dung như sau: "Ông bà sinh ra cha mẹ; cha mẹ sinh ra con cái; con cái đẻ ra con vịt".

Không những vậy, vấn đề đặt ra cho câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện  và cách giải thích của các nhà nghiên cứu cổ kim từ hàng ngàn năm qua, là:

Ngũ hành nằm ở đâu trong cái "Thái cực; Âm Dương; Thái Âm,Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương (Tứ Tượng; theo cách giải thích của Hán Nho) và cuối cùng là Bát quái?

Còn nếu giải thích như ông Chu Đôn Di trong "Thái Cực đồ thuyết" như sau:

"Vô cực nhi Thái cực.Thái cực động nhi sinh Dương. Động cực nhi tĩnh. Tĩnh nhi sinh Âm. Tĩnh cực phục động. Nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn. Phân Âm, phân Dương, lưỡng nghi lập yên. Dương biến, Âm hợp nhi sinh Thủy, Hỏa,Mộc, Kim, Thổ.Ngũ khí thuận bố, tứ thời hành yên.

Ngũ hành nhất: Âm Dương dã; Âm Dương nhất: Thái cực dã. Thái cực bản Vô cực dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp nhi ngưng..."

Vô cực mà là Thái Cực. Thái cực động sinh Dương. Động cực chi tĩnh. Tinh sinh Âm. Tĩnh cực lại động. Một động, một tĩnh làm căn bản cho nhau. Khi đã phân chia Âm Dương thì "Lưỡng nghi" thành lập. Đến lúc Dương biến, Âm hợp thì Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó, nếu được sắp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều đặn.

Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Âm Dương. Âm Dương hợp nhất thì thành Thái Cực. Thái cực có gốc là Vô cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính duy nhất. Cái chân không của Vô cực, cái tính chất của Âm Dương và Ngũ hành tất cả phối hợp một cách kỳ diệu và kết tụ lại với nhau.

 

(Bản dịch của Gs Nguyễn Hữu Lượng. Kinh Dịch và Vũ trụ quan Đông phương).

Với cách giải thích này: "Âm Dương sinh ra Ngũ hành". Vậy Tứ tượng và Bát  quái lại biến đi đâu trong chính văn của Hệ từ Thượng truyện: "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡngnghi sinh tứ tượng"?

Hàng ngàn năm đã trôi qua, cho đến tận bây giờ, ngay cả lịch sử và nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, hình thành và ra đời như thế nào trong lịch sử văn minh Trung Hoa, vấn đề này vẫn là những bí ẩn thách đố trí tuệ của nền văn minh nhân loại.

Nhưng những di sản còn lại trong văn hóa dân gian Việt Nam đến ngày nay, lại có một sự mô tả và kết luận đầy minh triết, xác định đoạn cuối khác hẳn câu trên trong Hệ từ của cuốn Chu Dịch lưu truyền trong bản văn chữ Hán. Và nó được mô tả trong một câu chuyện cười dân gian Việt Nam dưới đây.

Từ sự hiệu chỉnh đầy tính minh triết sâu sắc từ nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, sẽ làm sáng tỏ những giá trị đích thực của nền văn minh huyền vĩ này.

Chúng tôi sẽ trình bày ngay sau phần tiếp theo đây.

 

IV. 2. MINH TRIẾT VIỆT: "TỨ TƯỢNG BIẾN HÓA VÔ CÙNG".

“Tứ tượng biến hóa vô cùng” không phải là một câu có trong sách cổ chữ Hán nói về những vấn đề liên quan đến kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mà nó ở trong một câu chuyện cười dân gian Việt Nam. Đó là câu chuyện “Thày đồ tham ăn”. Có thể nói hầu hết người Việt Nam đều biết câu truyện này.

Câu chuyện kể lại như sau:

 Có một thày đồ dạy chữ trong làng. Một hôm thày được gia đình học trò cho một đĩa bánh rán tẩm mật. Ăn hết bánh, thấy mật còn nhiều trên đĩa thầy thấy thèm. Nhưng trước mặt học trò không lẽ cứ liếm mật thì còn gì là thể thống người thày nữa. Thày bèn nghĩ ra một mẹo. Thày nói:
- Này các con. Sau này các con lớn lên thành lương đống của triều đình, sẽ phải qua thi cử ngặt nghèo. Những sĩ tử đi thi qua nhiều bài khó và những câu hỏi mẹo khắt khe để thử trí thông minh. Nay thầy tập cho các con và thử trí thông minh của các con để các con sau này quen với nhưng câu hỏi khó.
Đám học trò chú ý nhìn thày. Thày lè lưỡi liếm vòng quanh đĩa mật và giơ lên hỏi:
- Cái gì đây?
Đám học trò ngơ ngác.
- Hic! Thế mà cũng không biết! Đây chính là ngôi Thái Cực.
Nói xong thầy lại lè lưỡi liếm ngang chiếc đĩa và giơ lên:
- Cái gì đây?
Đám học trò lại ngơ ngác.
- Thái cực sinh lưỡng nghi. Thày dõng dạc bảo. Xong thày lại lè lưỡi liếm dọc chiếc đĩa.
- Cái gì đây? Biết học trò mình có thể có thằng biết, nên thày nói ngay:
- Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Thày gằn giọng nói tiếp:
- Còn đây là "Tứ tượng biến hóa vô cùng"
. Nói xong thày lè lưỡi liếm sạch cái đĩa.

( Nxb Nguyễn Du in năm 1956 , hoặc 1958).
Nghe xong câu chuyện, ai cũng cười ông thày giáo tham lam, lợi dụng chữ nghĩa thâm thúy, cao xa của Thánh hiền, chỉ để làm một việc rất tầm thường là liếm sạch cái đĩa.

Cứ thế câu chuyện truyền từ đời này sang đời khác, trong văn hóa truyền thống Việt không biết tự bao đời, mang lại tiếng cười vui vẻ cho con người nơi thôn xóm đến tận bây giờ.

Nhưng, cũng như bao di sản văn hóa truyền thống Việt, ngoài tác dụng trực tiếp gây cười , như câu chuyện cười dân dã trên đây thì hầu hết đều ẩn chứa một giá trị minh triết sâu xa, mô tả những giá trị đích thực những bí ẩn của nền văn hóa Đông phương.

Câu chuyện cười dân gian Việt mà người viết trình bày ở trên có một câu kết gây hài, có vẻ như gần giống với đoạn trong Hệ từ Thượng của Chu Dịch, mô tả sự khởi nguyên vũ trụ, nhưng khác phần cuối.  Hệ từ trong Chu Dịch viết: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quáivà đã được những nhà nghiên cứu Hán Nho lý giải một cách mơ hồ, như đã trình bày ở trên.

  Nhưng  trong câu chuyện cười dân gian Việt Nam nói trên, qua chuỗi liên kết những di sản văn hóa truyền thống Việt, mà người viết đã lần lượt trình bày ở các phần trên, thì câu này lại được miêu tả là: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng – Tứ tượng biến hóa vô cùng”.

Và chính câu kết với sự khác biệt của câu truyện dân gian Việt này, so với chính văn trong kinh Dịch, được coi là có nguồn gốc Hoa Hạ, đã cùng với những di sản văn hóa truyền thống Việt khác, làm nên một nội dung minh triết nhất quán, hợp lý do tính đồng đẳng, trong toàn bộ chuỗi khái niệm mô tả quá trình phát sinh, phát triển từ thực trạng sự khởi nguyên của vũ trụ, được miêu tả bắt đầu bằng khái niệm "Thái cực" , mà chúng tôi đã lần lượt trình bày ở phần trên..

Với một nội hàm mới từ minh triết Việt, mô tả nội dung câu trên của Hệ từ, nhưng khác hẳn phần cuối, đã góp phần là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành và xác định học thuyết này mô tả một thực tại toàn bộ lịch sử vũ trụ, từ sự khởi nguyên cho đến mọi hiện tượng và sự kiện liên quan đến thiên nhiên, cuộc sống và con người. 

 

IV. 3. "TỨ TƯỢNG BIẾN HÓA VÔ CÙNG" XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ MINH TRIẾT VIỆT TRONG VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG.

Kỳ lạ thay! Sự hiệu chỉnh cả một nền minh triết lâu đời lại nằm trong một câu truyện cười dân gian Việt.

Như vậy, so sánh với câu trên trong Hệ từ của Chu Dịch thì chúng khắc hẳn về tính miêu tả nội dung:
Việt: Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng.Tứ tượng biến hóa vô cùng”.
Hán: Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái.

Đây cũng chính là nguyên lý để bức tranh “Lưỡng nghi sinh tứ tượng”, mà chúng tôi miêu tả ở trên, không gắn kết chung với đồ hình Âm Dương. Tức là coi đồ hình Âm Dương chỉ là hình tượng biểu kiến và sự biến hóa của Tứ tượng, theo minh triết Việt không phải là Thiếu Dương, Thiếu Âm, Thái Dương, Thái Âm.

Nội dung câu chuyện cười dân gian Việt, miêu tả hoàn toàn khác với sách hàn  lâm về Dịch của các trí giả mũ cao áo rộng, cân đai nghiêm chỉnh của bao thế hệ Hán Nho, qua các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên.....

Qua hàng ngàn năm đô hộ Bắc phương, nền văn hiến Việt tộc phải chìm đắm và ngụy trang để tồn tại. Đến khi nước Việt hưng quốc, những giá trị văn hiến Việt bị Hán hóa trong hàng ngàn năm đó, đã trở ngược lại trong văn hiến Việt và nghiễm nhiên bị ngộ nhận có nguồn gốc Hán. Nhưng những giá trị minh triết Việt vẫn lưu truyền rải rác trong dân gian cho các thế hệ mai sau tìm về nguồn cội và phục hồi lại chính gốc của một lý thuyết cổ xưa đầy huyền bí.

Trăm năm bia đá thì mòn.

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Ca dao Việt.

Câu chuyện cười dân gian Việt đầy tính minh triết này, đã hiệu chỉnh và đưa một kết luận khác hẳn cho toàn bộ câu trong Hệ từ Thượng truyện ở điểm khác biệt của đoạn cuối và xác định rằng:

Tính minh triết của toàn bộ những di sản văn hóa truyền thống Việt, từ đồ hình Âm Dương, bức tranh "Lưỡng nghi sinh Tứ tượng" và cuối cùng là "Tứ tượng biến hóa vô cùng" , đã xác định toàn bộ khái niệm trong câu: "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi,lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng”, hoàn toàn nhất quán và đồng đẳng về tính chất của nội dung chuỗi khái niệm, mô tả một thực tại diễn biến của vũ trụ từ trạng thái khởi nguyên là "Thái cực" - mà khoa học hiện đại gọi là "giây 'O" trước Big Bang - cũng như lịch sử tiến hóa của nó.

Bắt đầu từ cơ sở xác định nội hàm của câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện, được hiệu chỉnh từ minh triết Việt và là sự tiếp tục minh chứng tính phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, chúng tôi mô tả thực tại diễn biến khởi nguyên của vũ trụ , nhân danh Lý học Đông phương có cội nguồn từ văn hiến Việt, ngay trong chương tiếp theo đây.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

 TỨ BẤT TỬ

TIN NGƯỠNG VÀ TỤC THỜ THẦN THÁNH

TRONG DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT

 

Thay lời giới thiệu.

Trong di sản văn hóa truyền thống Việt có một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng, độc đáo và rất riêng của nền văn hiến Việt. Đó chính là hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt. Hệ thống tín ngưỡng Việt này cũng mang đậm dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có thể nói rằng: Trong hầu hết những di sản văn hóa truyền thống liên quan đến tín ngưỡng của người Việt, đều liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Từ mâm ngũ quả, chiếc lư đồng đốt nhang trầm trên bàn thờ; tục thờ Tam tòa Thánh Mẫu; tục thờ Tứ phủ, Ngũ phủ công đồng, ba mươi sáu giá chầu trong hầu bóng...cho đến cặp rồng chầu mặt nhật, hình trang trí long, lân, quy, phượng trong các đình đền, đều là sự thể hiện những mệnh đề liên quan đến học thuyết này.
Trong tiểu luận này, chúng tôi mô tả nội dung chủ yếu là những giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành được phản ánh từ nội dung minh triết trong di sản văn hóa truyền thống Việt. Do đó, mối liên hệ của học thuyết này với những biến thể của nó trong tín ngưỡng truyền thống - một thành tố quan trọng trong di sản văn hóa Việt - lại là một bằng chứng khác, chứng tỏ sự phổ biến của chính thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cuộc sống xã hội Việt, từ thời cổ đại.

Bởi vậy, sẽ là một thiếu sót, nếu như trong tiểu luận này không giới thiệu một luận điểm về tín ngưỡng Việt, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính những thần tượng được tôn thờ trong tín ngưỡng truyền thống, mang dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành, cho thấy tính hệ thống, nhất quán và bao trùm có tính chi phối mọi giá trị xã hội của học thuyết này trong nền văn hiến Việt. Đồng thời hệ thống tín ngưỡng đó cũng xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã rất phổ biến và chi phối toàn bộ hoạt động của xã hội Việt cổ, ngay cả trong tín ngưỡng của người Việt, qua những hình tượng được tôn thờ.
Bài viết dưới đây mô tả một sự suy tôn các bậc danh thần Lạc Việt của tác giả Nguyễn Thế Trung, thành viên nghiên cứu và cũng là thành viên chủ chốt trong ban điều hành Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương thực hiện, chứng tỏ điều này.
Nội dung của bài viết này, bổ sung và giới thiệu với bạn đọc mối liên hệ giữa tín ngưỡng truyền thống và thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhằm chứng minh tính chủ đạo và chi phối toàn diện của học thuyết này trong nền văn hiến Việt, qua hệ thống tin ngưỡng của tục thờ "Tứ bất tử". Tức là bốn vị thánh đứng đầu trong hệ thống thần thánh trong tín ngưỡng của Việt tộc, chỉ sau Thượng Đế. Chính quyền năng và vị trí của bốn vị thánh "Tứ bất tử" này trong tín ngưỡng Việt, lại là sự mô tả và thể hiện dưới một hình thức khác tính chất tương tác của "Tứ tượng biến hóa vô cùng", ngay sau sự xuất hiện tính phân biệt từ khởi nguyên của vũ trụ là "Thái cực" theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự kiện này trong tín ngưỡng truyền thống Việt cho thấy: Nội hàm khái niệm "Tứ tượng" không chỉ duy nhất thể hiện trong một mô thức là truyện dân gian Việt, mà còn thể hiện ngay trong cả các lĩnh vực xã hội khác liên quan, trong các di sản văn hóa truyền thống Việt.

Những tri thức tiên tiến nhất của nền văn minh hiện đại đã đặt vấn đề: "Phát hiện một lực tương tác liên quan đến các hiện tượng tâm linh".Hay nói một cách đầy đủ hơn: Một lý thuyết thống nhất phải giải thích được những hiện tượng tâm linh. Bài viết của tác giả Thế Trung về sự liên quan giữa thuyết Âm Dương Ngũ hành và bốn vị thần cao cấp nhất trong hệ thống tín ngưỡng thuộc văn hóa truyền thống Việt - "Tứ Bất tử" - cho thấy một mối liên hệ của vấn đề mà tri thức khoa học đã đặt ra.

Xin trân trong giới thiệu.


BỘ TỨ NGUYÊN LÝ CHỦ CHỐT VÀ CÓ GIÁ TRỊ VĨNH CỬU
- SỰ HUYỀN DIỆU CỦA NỀN VĂN HIẾN VIỆT.

Nguyễn Thế Trung
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương



Tháng chạp năm Nhâm Thìn, cũng đã vào tiết xuân năm Quý Tỵ, tâm tưởng tôi chợt lóe lên một ‎tia chớp về từ "Gióng" – tên của vị thánh mà từ bé tôi đã luôn thầm ngưỡng mộ. Với kinh nghiệm nhiều lần được chứng kiến những ý niệm cao cả được các cụ truyền lại trong dân gian một cách thật bình dị, tôi bỗng thấy rằng từ "Gióng" không phải là gióng tre như một vài giải thích đâu đó, mà khái niệm sâu xa của chữ "Gióng" là một ý niệm bất tử, như chính ngài đã được tôn vinh thành "Tứ Bất tử" của dân tộc Việt. Và từ đó, một liên tưởng đến ý niệm từ "Tứ Bất tử" cũng hình thành một cách tự
nhiên.
Thức thời một chút, tôi tìm trên internet, và được câu chuyện về "Tứ Bất tử" của dân tộc Việt như sau:


Tứ bất tử

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Tứ bất tử (chữ Hán: 四不死) là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn thánh, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng tử, và Liễu Hạnh Công chúa.
·        Tản Viên Sơn thánh, hay Sơn tinh, là vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), núi tổ của các núi nước Việt Nam. Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên, chiến thắng thiên tai.
·        Thánh Gióng, hay Phù Đổng Thiên Vương tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.
·        Chử Đồng tử, (còn được gọi là Chử Đạo tổ) tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự sung túc giàu có.
·        Liễu Hạnh, hay Mẫu Thượng Thiên, tượng trưng cho cuộc sống
tinh thần, phúc đức, sự thịnh vượng, văn thơ.

 

 

Trong bốn vị trên, ba vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu. Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mới được đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê.
Những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn và đều khẳng định tứ bất tử gồm: Tản Viên Sơn thánh, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng tử, và Liễu Hạnh Công chúa. Ví dụ như Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện "Trên đỉnh non Tản" in trong tập "Vang bóng một thời", có viết:

“... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng tử, và Phù Đổng Thiên vương”.
Và có một bài trên báo Lao Động cách đây chừng 2 năm của tác giả Quỳnh Chi:

 

Lý giải về Tứ bất tử
Lao Động

Trong tư duy của người Việt, con số bốn mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại. Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy.
Lý giải về Tứ bất tử
Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương v.v.. Có thể thấy rằng mọi cơ cấu giá trị vật chất tinh thần nhiều khi được bắt đầu bằng “bộ tứ”. Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại. Từ bất tử cũng là
một tập hợp như vậy.

Thánh Tản Viên
Theo các nhà nghiên cứu (Lê Đức Thịnh 2001, Trần Ngọc Thêm 2001), Thánh Tản Viên được coi là vị thánh được nhắc tới đầu tiên. Trong tâm thức dân gian của người Việt, Tản Viên là vị thánh biểu đạt cho những khả năng to lớn và vĩnh viễn của cộng đồng trong lao động sáng tạo ra nguồn của cải vô tận và trong chiến đấu chống thiên tai (lũ lụt) để bảo vệ cuộc sống chung.
Tuy nhiên, đã có hai quan niệm và cách giải thích nguồn gốc của vị Thánh này. Các học giả thời phong kiến (các sử gia, các nhà trước tác) cho Tản Viên là "hạo khí anh linh của trời đất sinh ra" (Kiều Phú, trong Lĩnh Nam chích quái), hoặc cho "Tản Viên là 1 trong 50 người con của Lạc Long Quân, Âu Cơ theo cha xuống biển " (đúng ra thì phải là chắt
khoảng đời thứ 19). Các tác giả Lịch triều Hiến chương (Phan Huy Chú) và Việt sử Thông giám cương mục ... cũng đều có những quan niệm tương tự. Trong khi đó theo quan niệm của mọi người, được thể hiện qua các bản thần thích thần phả ở các làng trong vùng Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh (Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú) thì Thánh Tản Viên lại là người có thực, xuất thân từ tần lớp nghèo khổ trong dân chúng. Chàng tên thực là Nguyễn Tuấn, có tài “hô phong hoán vũ”, dũng cảm, được Hùng Vương
kén làm rể, gả con gái Mỵ Nương. Sau đó, Thủy Tinh vì không được chọn, đã nổi giận đem binh đến đánh, xảy ra các cuộc chinh chiến trong nhiều năm trời. Rốt cuộc, Thủy Tinh luôn là kẻ bại trận... Quan niệm này phù hợp với những quan niệm chung đã có về các thánh bất tử trong tâm thức dân gian, bởi vì chính quan niệm ấy đã tạo nên một
hình tượng "Thánh Tản Viên" có tính nhất quán và hoàn chỉnh.


Thánh Gióng
Thánh Gióng là một vị Thánh quá quen thuộc với nhân dân ta. Truyền thuyết này gắn bó và lưu truyền với mọi thế hệ người Việt. Thông qua một câu chuyện một đứa trẻ kì lạ, lên 3 rồi mà chẳng biết nói cười gì cả. Vậy mà khi giặc Ân từ phương Bắc tới thì cậu bé tầm thường kia bỗng nhiên đổi khác, đứng dậy nói năng hết sức dõng dạc và mau chóng lớn thành một tráng sĩ. Vị tráng sĩ này cưỡi ngựa sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt ... một mình xông ra giữa trận tiền. Đánh tan giặc Ân, vị anh hùng bỏ lại tất cả, một mình một ngựa bay thẳng lên trời. Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là hào khí của bản hùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại. Niềm tự hào, kính trọng về
sức mạnh đoàn kết của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử, về trách nhiệm của mỗi con người đối với tổ quốc.

Chử Đồng tử
Huyền thoại Chử Đồng tử (Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm. Cốt lõi huyền thoại cũng như tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thần tiên để tế độ và truyền dạy cho người khác.
Chử Đồng Tử đi vào tâm thức dân gian không chỉ là người con hiếu thảo, nhân ái, mà còn là biểu tượng của một chí hướng phát triển cộng đồng: mở mang khai phá đồng bằng trũng lầy thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải và phát triển các ngành nghề khác, đặc biệt nghề buôn bán. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã mở một hướng mới cho sự phát triển dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài.  

 

Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Trong những huyền thoại của dân tộc, dân gian vẫn tin rằng Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng; vì phạm lỗi bị đầy xuống trần gian. Trong hệ thống điện thần Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử, là vị thánh của tín ngưỡng tứ phủ, mà bản chất của nó là tín ngưỡng thờ Mẫu, một tín ngưỡng có cội nguồn lâu đời và độc đáo của Việt Nam.
Trong tiềm thức của nhân dân, Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượng của khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình. Đó cũng là ý thức hệ nhân sinh của người dân Việt Nam đã được ký thác niềm tin vào biểu tượng người mẹ. Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Liễu Hạnh và quá trình hội nhập vào Tứ bất tử:
Theo nghiên cứu của TS Nguyễn Xuân Diện, trước kia, khi Liễu Hạnh chưa xuất hiện (giáng thế) thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là một trong Tứ bất tử. Khi Liễu Hạnh “giáng sinh” vào khoảng thế kỷ XVI cũng chính là lúc ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái. Thực trạng xã hội loạn lạc, chiến tranh giết tróc, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, khao khát cháy bỏng về một cõi tâm linh an lạc,
siêu thoát.
Liễu Hạnh “giáng thế” đáp ứng nhu cầu thỏa mãn tâm linh của mọi giai tầng trong xã hội, phù hợp với tâm thức dân gian Việt Nam. Nếu so với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không thì sự phụng thờ Liễu Hạnh bắt nguồn sâu xa từ trong tín ngưỡng thuần Việt của tâm thức dân gian, rồi lại xâm thực và hòa đồng vào tín ngưỡng Tứ phủ, nên tín ngưỡng này mang nhiều hơi hướng thời đại, cập nhật và phù hợp với thực tại.
Từ đó đến nay, tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ luôn luôn là một trong những trung tâm tín ngưỡng của tâm thức dân gian. Ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh mang tính bao trùm, có phạm vi rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không là điều đã khẳng định trong dân gian.
Qua thời gian, cùng với sự xuất hiện những yếu tố mới, mang tính thời đại về tư tưởng, triết lý, quan niệm thì niềm tin, tín ngưỡng, quan niệm về Tứ bất tử có sự thay đổi, dẫn đến việc Thánh Mẫu Liễu Hạnh thay thế Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đứng vào hàng Tứ bất tử như là một tất yếu.

Quỳnh Chi (TH)

 

 

Đây đều là những câu chuyện thật hay, thật đẹp, nhưng đó phải chăng đã là tất cả những ý‎ nghĩa của bốn vị Thánh Bất tử?
Từ những tìm hiểu cá nhân của tôi liên quan đến văn hóa cổ và sự minh triết của nền văn minh Đông phương, tôi có một suy nghĩ riêng của mình với hiện tượng Tứ Bất tử trong văn hóa truyền thống Việt Nam.
Tôi muốn bắt đầu từ sự kỳ diệu của tiếng Việt, đã được nói đến rất nhiều trong những câu chuyện liên quan đến cổ sử, như là một ngôn ngữ cao cấp nhất, vì có khả năng chỉ dùng một đơn âm để diễn tả những ‎ ý niệm phức tạp và trừu ượng. Trong mạch tư duy như vậy, tôi suy ngẫm về tên của các vị và chọn ra những từ đặc trưng nhất đó là:  Tản Viên, Gióng, Đồng Tử, Mẫu. Và … hình như đây không chỉ là những tên gọi thiêng liêng, mà một có thể nói một cách bình dị và nôm na nhất: đây là bốn ý niệm quan trọng, được cô đọng trong những danh từ này. Chúng ta hãy quán xét từng từ một:

1.  Tản Viên.
Nếu bỏ qua định kiến về tên núi thì "tản" chính là mô tả một hình tượng của sự "tản ra", lan truyền, phát tán.... và "viên" chính là sự viên mãn, trọn vẹn, tràn đầy. Đó phải chăng chính là sự mô tả của trạng thái sau Thái cực, là sự khởi nguyên của vũ trụ. là biểu hiện sự vận động, là một nhân sinh quan cuộc sống đã thấm đẫm ngàn đời trong văn hiến Việt.

 

2.    Gióng.
Ngay từ đầu bài viết tôi đã đặt vấn đề đây là chìa khóa mở. Bởi vì trong công việc liên quan nhiều đến mô hình quản lý hiện đại, chúng tôi đã liên tục phải dịch một từ rất thời thượng trong tiếng Anh đó là Alignment – Vâng! Đó là chính là "gióng". Giống như chúng ta gióng hàng cho thẳng hàng ngang, hay hàng dọc vậy.
Trong ngôn ngữ phổ thông cách đây hơn nửa thế kỷ, khi mà các bà, các chị quẩy quang thúng với chiếc đòn gánh trên vai, thì cũng phải "gióng" gánh.
Tức là phải "gióng" sao cho cân bằng, chỉnh chu cho một trọng lực phía trước và phía sau quang gánh, trước khi cùng đôi quang gánh bôn ba trên mọi nẻo đường đời.
Vậy "gióng", tức là đưa vào chuẩn mực, làm cho cân bằng để tiếp tục sự phát triển. Trong Lý học gọi là "cân bằng Âm Dương"; một tiêu chí quan trọng của sự tồn tại và phát triển.
Và hãy cùng quay trở lại câu chuyện một chú bé ba tuổi có thể gắn kết được toàn dân để chiến thắng, không phải những gióng tre, mà chính là sự gióng hàng - tập hợp, đoàn kết sức mạnh của toàn dân, đến một mục tiêu. Đó chính là bí quyết của chiến thắng, của sự chuyển đổi. Vậy "gióng" chính là một nguyên tắc quan trọng nữa của thế giới này. Tập hợp vào những chuẩn mực  – "Gióng" là bí quyết của chuyển đổi. Các nhà chiến lược đều nắm rõ việc này, và mỗi cá nhân chúng ta cũng đều đã ít nhiều trải qua những cảm giác thăng hoa, khi dồn hết tâm sức vào thực hiện mục tiêu nào đó. Sự khác biệt, sự chuyển đổi, sự thăng hoa chỉ đạt được khi mọi nguồn lực được gióng trong những chuẩn mực.

 

3. Đồng Tử.
Câu chuyện tình đẹp nhất trong văn hóa Việt và mang đậm màu sắc Đạo giáo và hẳn không vô cớ khi Ngài chọn cho mình một tên riêng "Đồng tử". Từ "đồng tử", ngoài nghĩa "con mắt" khi là từ ghép thì còn có một ý nghĩa rất phổ thông là “cùng đi đến cái chết”; mội sự kết thúc đều trở về với cát bụi. Toàn bộ nội dung câu chuyện, cho thấy Ngài từ lúc không có gì, cả "Cái khố không có mà mang", cho đến khi đạt đến tột đỉnh vinh quang với đầy đủ thành quách, lâu đài thì cũng chỉ là hư vô, kết thúc trong thoáng chốc. Phải chăng đây chính là lời nhắn nhủ cho thế nhân của Đạo giáo về nguyên tắc vĩnh cửu nữa: Hãy luôn biết rằng dù là ai, dù là gì trên thế giới này thì tất cả cũng đều sẽ kết thúc để trở về với hư vô và từ đó chúng ta giác ngộ.

 

4. Mẫu.
Trong 4 từ thì có lẽ từ Mẫu dễ hiểu hơn cả đã được chấp nhận rộng rãi hơn cả. Mẫu là gì đó chung nhất trong mọi thứ, vạn vật trong vũ trụ đều có chung một mẫu, đều có liên kết. Chính vì thế mà Mẫu không là một người cụ thể mà luôn là các phiên bản khi giáng thế. Mẫu là mẹ, là cái chung, là sự che chở, hòa hợp, là hạnh phúc và như vậy Mẫu cũng chính là nguyên tắc vĩnh cửu thứ tư: vạn vật đều kết nối – đó là hình ảnh của Mẫu.
Đến đây tôi chợt nhận thấy một sự liên hệ hợp lý của bộ tên gọi các ý niệm thiêng liêng này. Và trong sự thăng hoa của những ý tưởng, tôi nghĩ đến một báu vật tri thức khác của nền văn hiến Việt. Đó là suy xét liên hệ với lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành – lý thuyết nền tảng Lý học Đông phương - và cũng là của nền văn minh này.
Tứ là "tứ tượng", mà tứ tượng này không phải do lưỡng nghi chia ra mà thành (theo cách hiểu của những nhà nghiên cứu Trung Quốc). Mà tứ tượng (theo phát hiện của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh), chính là bốn phân loại (tượng) của tương tác. "Tứ tượng" nó xuất hiện ngay sau khi "Thái Cực" thay đổi thành"Lưỡng nghi", vì cứ nhiều hơn một là có tương tác. "Lưỡng nghi" đã tương tác với nhau và rồi kết quả của sự tương tác này lại nhanh chóng tương tác trở lại với từng cái riêng trong "Lưỡng nghi", mà vì vậy mà tứ tượng biến hóa vô cùng, để "trùng trùng duyên khởi", tiến hóa với hình thành lịch sử vũ trụ.
"Tứ tượng" trong Lý học Đông phương - thuộc về nền văn hiến Việt - có bốn trạng thái là: Tương sinh, tương khắc, tương thừa (nghĩa là sinh quá đỗi) và tương vũ (nghĩa là khắc không nổi, mà bị phản phục lại).
Hiểu như vậy thì "Tứ tượng" không chỉ là hiện tượng sinh ra từ "Lưỡng nghi", mà nó chính là sự phân loại hoàn chỉnh mọi tương tác trong vũ trụ này, kể từ khi vũ trụ được sinh ra (rời khỏi trạng thái ban đầu là "Thái Cực"). Cho nên nó trở thành bốn trạng thái "bất tử". Tức "Tứ bất tử".
Sự phân loại bốn trạng thái tương tác theo thuyết Âm Dương Ngũ hành từ
văn hiến Việt, là duy nhất và toàn vẹn. Do đó, việc so sánh "Tứ bất tử" với "Tứ tượng", hoàn toàn là sự liên hệ hợp lý, như một tính tất yếu, khi thuyết Âm Dương Ngũ hành với nội dung của nó được xác định của người Việt.
Chúng ta hãy cùng quán xét:
- Tương sinh; Thánh Tản Viên:
Đây là nguyên lý của sự phát triển.
- Tương khắc; Thánh Gióng:
"Gióng" là tính cân bằng của những chuẩn mực cho mọi sự vận động của thế gian, vượt trên các mâu thuẫn và là bí quyết của chuyển đổi. Hình tượng Thánh Gióng thắng giặc Ân, cũng chính là tính hợp lý của sự cân bằng, chuẩn mực, gióng lại hàng ngũ để ổn định và khắc chế ("tương khắc") ngoại thù.
- Tương thừa; Thánh Chử Đồng Tử:
Sự giác ngộ và siêu thoát là mục tiêu cuối cùng. Tức là vượt ra ngoài những giá trị vật chất của đời thường, mà những tham vọng quá đỗi cũng kết thúc để trở về với cát bụi.
- Tương vũ; Thánh Mẫu:
" Vạn vật tương hỗ","vạn vật đồng nhất thể" là những mệnh đề căn để của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Do đó, mọi sự bon chen với những tham vọng, đều chứa trong đó sự phản phục.
Trên cơ sở này, vấn đề liên hệ hợp lý tiếp tục được đặt ra, nếu chúng ta chia "Tứ bất tử" thành hai cặp là: Tản Viên – Đồng Tử và Gióng – Mẫu; ta lại thấy có sự liên quan Âm Dương tương ứng, như sau:
- Cặp Tản Viên (Dương) – Đồng Tử (Âm): sự sinh và sự tử là hai mặt song hành.
- Cặp Gióng (Dương) – Mẫu (Âm): sự kết nối là nền tảng (Mẫu) và những giá trị của nhận thức từ thực tại để tạo sự cân bằng, chuẩn mực (Gióng) cho mọi mối quan hệ tương tác, mâu thuẫn để phát triển.
Có thể nói rằng: Hình tượng "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng và văn hóa truyền thống vủa Việt Nam, chính là những thực tại trong lịch sử Việt (Tháng Gióng, Chử Đồng tử; Thánh Tán Viên) và sự kết nối với những tín ngưỡng (Mẫu), được thần thánh hóa, từ nền tảng tri thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành, trong sự mô tả liên kết hợp lý những hiện tượng, có cùng một xuất xứ là cội nguồn của những giá trị văn minh Đông phương.
Đến đây, chúng ta cũng đã tạm yên tâm về tính hợp lý trong việc lý giải hình tượng "Tứ bất tử". Nhưng điều này sẽ mang lại một ý nghĩa thực tiễn ứng dụng nào trong cuộc sống hiện đại?
Từ vấn đề được đặt ra, chúng ta so sánh để thấy rằng: Nếu phương Tây có luật của tự nhiên (Natural Law) thì bộ "Tứ bất tử" - mô tả bốn trạng thái tương tác căn bản "tứ tượng biến hóa vô cùng" - chính là giá trị nhận thức những nguyên lý căn bản của quy luật tự nhiên, trong sự vận dụng huyền vĩ, những tinh túy với phương pháp hiệu quả nhất, để giúp con người phát triển hài hòa với tự nhiên, thuộc về nền văn hiến Việt.
Bài viết này là một ý tưởng của cá nhân - có thể là một sự gợi mở hữu ích cho một xu hướng tư duy nghiên cứu - với hy vọng sao cho mỗi con người đều lớn lên trong một thế giới quan gắn chặt với sự hài hòa của sự sống (Tản Viên), tính chuẩn mực, sự hợp lực để chuyển đổi (Gióng), sự giác ngộ về mục đích của cuộc sống (Đồng tử) và cuối cùng là sự gắn kết của vạn vật giữa thiên nhiên, đời sống và xã hội (Mẫu). Đấy chính là ý nghĩa huyền diệu, đầy tính minh triết qua hình tượng được tôn thờ - tức mục đích hướng tới - của "Tứ bất tử".
Với những câu chuyện này, từ trong tiềm thức ( khi mà nhận thức còn chưa đầy đủ), những đứa bé Việt Nam đã thấm nhuần những tư tưởng thật đúng đắn và tinh tế. Và vì thế mà phải chăng những người mang ấn tượng lớn lao về Thánh Gióng như tôi đã chọn khoa học tự nhiên làm nghiệp, để dành triết học cho đệ tử của Thánh Tản Viên, để dành Đạo học cho đệ tử của Thánh Chử Đồng tử, và để dành khoa học xã hội cho con cái của Thánh Mẫu?
Những thế hệ tiếp nối của dân tộc Việt, sẽ còn ngàn lần thán phục những thành tựu của nền văn hiến Việt, và đây chính là nền tảng cho một tương lai tươi sáng của dân tộc, tôi tin chắc là như vậy.

Viết xong tại Hanoi. Giờ Sửu, ngày 10 tháng Một năm Quý Tỵ

Thế Trung

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em.

Trong phần IV.1 tôi có dẫn chứng tính minh triết Việt qua câu chuyện dân gian "Thày đồ tham ăn" với nội dung mô tả khác hẳn nội dung trong câu của Hệ từ Thượng truyện, để minh chứng cho gía trị đích thực phản ánh một thực trạng trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ của thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt; đồng thời xác định sự phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, là: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được". Hay mô tả một cách rộng hơn, là:

Một lý thuyết khoa học phải phản ánh một thực tại mà nó quan sát và tổng hợp được. Đồng thời phải giải thích thực tại theo hệ thống phương pháp luận của nó.

Có một học giả cho rằng: chứng cứ qua câu truyện dận gian của tôi là chưa đủ thuyết phục, vì câu truyện dân gian này chỉ xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ XVII. Trong khi Hệ từ thượng trong Kinh Dịch của nền văn minh Hán được xác định ít nhất theo các văn bản còn lại là do Khổng Tử viết từ thế kỷ thứ V BC.

Rất tiếc, vì tôi quên mất tên vị học giả này, nên tôi không biện minh ở đây. Nhưng tôi hy vọng những luận cứ phản biện này sẽ được thể hiện trong những tham luận trong một cuộc hội thảo khoa học, nếu được tổ chức.

Tuy nhiên, nhân đây tôi cũng biện minh một luận cứ phản biện tương tự của tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện trong buổi giới thiệu sách tại do báo Tia Sáng tổ chức tại Hanoi. Ông Nguyễn Xuân Diện cho rằng: Những luận điểm phân tích truyện Tấm Cám của tôi trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" chưa có sức thuyết phục (Video clip của buổi giới thiệu sách đã đưa lên diễn đàn).

Tôi hoàn toàn thông cảm với tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, vì như ông ta đã xác định: mới chỉ xem sơ qua tại chỗ cuốn sách. Trong cuốn sách - và trong các bài viết trên diễn đàn - tôi luôn xác định rằng:

Tôi không coi việc giải mã (Phân tích, tổng hợp) những di sản văn hóa truyền thống Việt là luận cứ khoa học cho việc minh chứng Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn hiến Việt.

Tương tự như vậy cho luận điểm phản biện của vị học giả mà tôi quên mất tên, là: Cho dù câu truyên dân gian "Thày đồ tham ăn" mới chỉ xuất hiện đầu thế kỷ XX (Chưa nói đến thế kỷ XVII) thì nội dung của nó cũng chỉ là sự gợi ý cho tôi trong việc chứng minh sai lầm của Hệ từ thượng truyện.

Hoặc cũng có nhiều vị học giả cho rằng: những di sản văn hóa dân gian, những truyền thuyết, truyện cổ tích...vv.... đều không phải là bằng chứng thuyết phục chứng minh cho Việt sử gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn của văn minh Đông phương.

Thưa quý vị và anh chị em.

Là người chứng minh cho Việt sử gần 5000 năm văn hiến, trước cả một "cộng đồng khoa học thế giới" và "hầu hết những nhà khoa học trong nước" đang hừng hực phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt - thì - tôi cũng biết rất rõ rằng: những di sản văn hóa dân gian, những truyền thuyết, truyện cổ tích...vv.... đều không phải là bằng chứng để thuyết phục họ. Bởi vậy, tôi mới xác định rằng:

Tôi không coi việc giải mã (Phân tích, tổng hợp) những di sản văn hóa truyền thống Việt là luận cứ khoa học cho việc minh chứng Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn hiến Việt.

 

Tóm lại, các quý vị học giả đang phản biện vào chốn hư vô, những đã vội hô hoán lên rằng: luận điểm của tôi là chưa thuyết phục. 

Nhưng những luận cứ đích thực minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương thì hoặc họ không đủ khả năng để nhận ra, hoặc cố tình phớt lờ để biện minh cho quan điểm phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt.

Bài viết này không nằm trong nội dung cuốn sách.

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG V

THÁI CỰC - SỰ KHỞI NGUYÊN VŨ TRỤ THEO THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

TỪ MINH TRIẾT VIỆT.

Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng.

Di sản văn hóa truyền thống Việt.

MỞ ĐẦU

Như vậy, trong bốn chương liên tiếp của phần II.I, chúng tôi đã chứng minh sự sai lệch về cả hình thức thể hiện lẫn nội dung của câu: "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái" trong bản văn cổ chữ Hán. Đồng thời chúng tôi cũng chứng minh cách giải thích mơ hồ của các nhà nghiên cứu Hán Nho, từ hơn 2000 năm qua, khi cố gắng tìm những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, vốn tự nhận là của họ.

Cũng trong những chương trên, chúng tôi cũng nêu rõ tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học là:

Những khái niệm, mô hình biểu kiến của một lý thuyết khoa học phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được.

Hay nói cách khác là: Bất kể một hệ thống lý thuyết nào, nhân danh bất cứ một cái gì, đều phải mô tả một thực tại và giải thích thực tại. Một lý thuyết tôn giáo thì nhân danh Thượng Đế, giải thích tất cả từ nguồn gốc vũ trụ, cho đến mọi vấn đề thiên nhiên, xã hội và con người, nhân danh quyền năng của Thượng Đế. Tất nhiên nó vẫn có thể đáp ứng một số tiêu chí là: Tính hệ thống, tính nhất quán, tính hoàn chỉnh. Nhưng nếu là một lý thuyết nhân danh khoa học nó phải bảo đảm tính hợp lý, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

Tương tự như vậy, thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng phải có đối tượng quán xét của nó. Đó là toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ từ giây "O" ("Thái cực"), đến mọi quy luật phát triển và tiến hóa của vũ trụ. Đây cũng là nội dung chính của phần II. I mà chúng tôi đã nói ở phần trên.

Do đó, khi các nhà nghiên cứu Hán Nho lấy ngay khái niệm biểu kiến có tính tổng hợp của nhận thức thuộc tư duy trừu tượng là: Âm Dương, Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Bát quái thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành, để giải thích nội hàm những khái niệm phản ánh một thực tại khách quan,  vốn đã được tổng hợp và mô tả bằng chính những khái niệm của một học thuyết đó thì chỉ là sự đánh tráo khái niệm. Nếu "Lưỡng Nghi" là "Âm Dương", như các nhà Lý học Hán Nho mô tả thì "Âm Dương" là cái gì? Không lẽ lại giải thích "Âm Dương" là "Lưỡng nghi"?

Cho nên, khi chúng tôi xác định và hiểu chỉnh sự mô tả của thực trạng khởi nguyên vũ trụ nhân danh nền văn hiến Việt, phủ nhận cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán nho, thì một hệ quả tất yếu và mang tính nhất quán, có tính hệ thống và phù hợp với tiêu chí khoa học, là: Chúng tôi phải giải thích bản chất của thực trạng khởi nguyên của vũ trụ, trong câu trên của Hệ từ , theo cách mô tả của thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt. Hay nói cách khác: Chúng tôi phải mô tả một thực tại mà học thuyết này phản ánh.

Trước khi chúng tôi trình bày luận điểm của mình về nội hàm câu trên của Hệ từ, chúng tôi mô tả cách giải thích của những nhà nghiên cứu Hán Nho về khái niệm "Thái cực" (Trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, tức "giây O", trước Big bang , theo mô tả của tri thức khoa học hiện đại).

 

V.1. THÁI CỰC THEO CÁCH LÝ GIẢI CỦA HÁN NHO.

 Từ "Thái Cực" cổ nhất, chính thức xuất hiện trong bản văn chữ Hán của kinh Dịch, trong  câu của Hệ từ Thượng truyện (Chương VI, Tiết 3): "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi....".   Sau đó từ thời Hán đến nay, trải hơn 2000 năm - rất nhiều nhà nghiên cứu Hán Nho bàn về nội hàm của khái niệm này.

Từ thời Hán, đã có người cho "Thái Cực" là "Thái Nhất"; có người gọi là "Thái Hư". Nhưng đều bị phản bác. Cho đến thời Tống, triết gia nổi tiếng là ông Chu Đôn Di mô tả khái niệm về "Thái Cực" trong "Thái Cực đồ thuyết" như sau:

"Vô cực nhi Thái cực.Thái cực động nhi sinh Dương. Động cực nhi tĩnh. Tĩnh nhi sinh Âm. Tĩnh cực phục động. Nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn. Phân Âm, phân Dương, lưỡng nghi lập yên. Dương biến, Âm hợp nhi sinh Thủy, Hỏa,Mộc, Kim, Thổ.Ngũ khí thuận bố, tứ thời hành yên.

Ngũ hành nhất: Âm Dương dã; Âm Dương nhất: Thái cực dã. Thái cực bản Vô cực dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp nhi ngưng..."

Vô cực mà là Thái Cực. Thái cực động sinh Dương. Động cực chi tĩnh. Tinh sinh Âm. Tĩnh cực lại động. Một động, một tĩnh làm căn bản cho nhau. Khi đã phân chia Âm Dương thì "Lưỡng nghi" thành lập. Đến lúc Dương biến, Âm hợp thì Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó, nếu được sắp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều đặn.

Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Âm Dương. Âm Dương hợp nhất thì thành Thái Cực. Thái cực có gốc là Vô cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính duy nhất. Cái chân không của Vô cực, cái tính chất của Âm Dương và Ngũ hành tất cả phối hợp một cách kỳ diệu và kết tụ lại với nhau.

 

(Bản dịch của Gs Nguyễn Hữu Lượng. Kinh Dịch và Vũ trụ quan Đông phương).

 Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Do không nhận thức được bản thể của Thái cực, nên các nhà nghiên cứu Hán Nho đã thay thế "Thái Cực" bằng những danh từ khác để mô tả. Nhưng bản thể nội hàm khái niệm "Thái cực" với chính danh từ của nó là gì thì cho đến nay vẫn là một sự mơ hồ.

Cũng qua đoạn trích dẫn này, một lần nữa xác định sự nhầm lẫn từ ngay bản văn chữ Hán và cách giải thích của Hán Nho về tính đồng đẳng của chuỗi khái niệm trong câu "Thái cực sinh lưỡng nghi....", trong Hệ từ thượng. Ông Chu Đôn Di vẫn coi Âm Dương, Ngũ hành là một khái niệm phản ánh thực tại. Trong khi thực chất đây là những phạm trù, mô tả và phân loại thuộc tư duy trừu tượng của một học thuyết. Tính mơ hồ trong cách giải thích của Chu Đôn Di thể hiện sự nhầm lẫn khi xác định:

 

"Năm khí đó, nếu được sắp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều đặn".

 

Với cách giải thích của ông Chu Đôn Di thì vấn đề đặt ra là: Ai sắp đặt Ngũ hành thuận hợp để bốn mùa vận hành đều đặn? Trong khi đó thì chính thực tại vận động có tính quy luật của bốn mùa trên Địa cầu là cơ sở để phân loại theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong đó mùa Xuân thuộc Mộc, mùa Hạ thuộc Hỏa, mùa Thu thuộc Kim và mùa Đông thuộc Thủy. Hành Thổ là sự kết thúc của tứ hành vào các tháng cuối của mỗi mùa.

Chính vì nền tảng của văn minh phương Đông không thuộc về văn minh Hán, cho nên chính những nhà nghiên cứu Hán Nho, trải hơn 2000 năm, vẫn không thể hiểu được chính những giá trị đích thực của những khái niệm này.

 

V.2. THÁI CỰC TRONG VĂN HIẾN VIỆT.

2.1. BẢN NGUYÊN VŨ TRỤ - GIÂY "O" - TRONG MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG.

 

Trong hơn 1000 năm chìm đắm bởi sự đô hộ của Bắc phương với toàn bộ di sản văn hóa bị Hán hóa, chỉ còn những di sản lưu truyền trong dân gian. Do đó, có thể xác định ngay rằng một định nghĩa chính thống về khái niệm "Thái cực" là không có.

Nhưng trong di sản văn hóa truyền thống Việt và từ một sự minh triết khác ẩn chứa trong "Sự tích cây Nêu" của nền văn hóa truyền thống Việt được giải mã, theo chủ quan của chúng tôi là:

1/ Hình ảnh cây Nêu vươn thẳng lên trời và hòa nhập với vòng tròn phia trên của hình tượng cây Nêu truyền thống, cho thấy một sự thoát tục theo Đạo Giáo.

2/ Phủ bóng lên vòng tròn phía trên cây nêu là chiếc áo cà sa của Đức Phật.

Những hình tượng này hàm chứa một nội dung hướng dẫn chúng tôi đã đi tìm nội hàm của khái niệm Thái cực trong khái niệm "Đạo" trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử và trong khái niệm nội hàm của "Tính Thấy" trong Phật giáo, cụ thể là trong tạng kinh "Thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm".

Trên cơ sở này, sự xác định nội hàm của toàn câu được phục hồi từ di sản truyền thống của nền văn hiến Việt: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng" ; nhằm mô tả một thực tại vũ trụ từ trạng thái khởi nguyên (Giây "O") và sau giây "O" , thì cần phải xác định bản thể Thái Cực như một thực tế tồn tại.

Phân tích từ "Thái cực" với đúng nguyên nghĩa của nó thì đó là một tính từ theo khái niệm Việt. Trong đó "cực" là sự giới hạn, hoặc chuẩn mực để có thể so sánh đối chiếu. "Thái" là sự vượt qua sự giới hạn, vượt ra ngoài mọi chuẩn mực để có sự so sánh đối chiếu. Nghĩa đen của "Thái cực", nếu phân tích khái niệm từng chữ theo nguyên nghĩa tiếng Việt chỉ có vậy. Nhưng vì sự xác định "Thái cực" là thể bản nguyên đầu tiên của vũ trụ thì có thể xác định rằng:

Bản thể "Thái cực" không có sự đối đãi, không có so sánh, không có sự phân biệt. Bởi vì, không có cái gọi là lớn, để so với cái gọi là nhỏ; không có nhanh, vì không có cái chậm để phân biệt....tóm lại là không không gian, không thời gian và không có lượng số.

Đối chiếu nội hàm này, từ việc diễn giải nguyên nghĩa "Thái cực" theo tiếng Việt với các khái niệm liên quan của các khái niệm minh triết học Đông phương khác là Phật giáo, Đạo Giáo ; khi mô tả về trạng thái đầu tiên của vũ trụ, chúng có một nội hàm tương đồng:

 

2.1.1. "Tính Thấy" - Giây "O" của vũ trụ - trong Phật giáo:

Đoạn trích dẫn dưới đây trong tạng Kinh nổi tiếng của Phật giáo: “Kinh Thủ lăng nghiêm trực chỉ” ("Thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm") do thiền sư Hàm Thị dẫn giải và dịch giả là hoà thượng Thích Phước Hào (Do Thành hội Phật giáo T/p HCM, xuất bản năm 1991).

ĐOẠN III – CHỈ HAI MÓN CĂN BẢN CHIA RIÊNG MÊ NGỘ
Đức Phật bảo Anan:


”Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay; các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác xoa. Các ngườI tu hành không thành được đạo Vô Thượng Bồ Đề; mà chỉ thành Thanh văn; Duyên giác; ngoại đạo; chư thiên;Ma vương và quyến thuộc của ma; đều chẳng biết hai món căn bản; tu tập sai lầm. Cũng như nấu cát mà muốn thành cơm thì dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Thế nào là hai thứ căn bản? Anan! Một là căn bản sinh tử từ vô thuỷ. Chính hiện nay ông và chúng sanh đang dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ. tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hay sinh các duyên mà bị duyên bỏ rơi. Do chúng sinh bỏ rơi tính bản minh này; nên trọn ngày trong động dụng mà chẳng tự biết; uổng trôi vào trong các cõi.

 

 

 

Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy Đức Phật đã nói tới khái niệm Căn bản sinh tử từ vô thuỷ”.  Khái niệm "vô thủy" nghĩa đen theo Việt ngữ là cái có trước cả cái đầu tiên trong vũ trụ tính theo thời gian. Tức tương ứng với trạng thái đầu tiên trong Lý học là "Thái cực". Trong khoa học hiện đại diễn đạt dưới khái niệm "giây O" là thời gian có trước tất cả khái niệm thời gian tạo ra một vũ trụ như hiện nay.

Cũng trong tạng Kinh này, Đức Phật đã mô tả về bản thể "Nguyên thủy thanh tịnh từ vô thủy" là: ra ngoài nghĩa "Phải và không phải" (Mục III. Sđd). Tức là không có trạng thái phân biệt. Cho dù đó là sự phân biệt của tư duy trừu tượng. Hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành: Trong Thái cực không có sự phân biệt, như người viết đã trình bày ở trên.

2.1.2. "Đạo" - Giây "O" của vũ trụ - trong Đạo Đức Kinh

Trong Đạo Đức Kinh cũng được coi là của chính nền văn minh Hán, đã mô tả khái niệm "Đạo" như sau:

Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải. Chu hành nhi bất đãi. Khả dĩ vi thiên hạ mẫu.

Ngô bất tri kỳ danh. Tự chi viết "Đạo". Cường vị chi danh viết "Đạo".

Có một vật hỗn độn mà thành, trước cả trời đât. Nó yên lặng, trống không, đứng một mình mà không thay đổi.Vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng. Có thể coi đó là mẹ của thiên hạ. Ta không biết gọi tên nó là gì. Tạm đặt tên là "Đạo". Miễn cưỡng gọi nó là lớn (vô cùng).

 

(Bản dịch Nguyễn Hiến Lê, "Lão Tử và Đạo Đức Kinh". Nxb VHTT 1994).

Về thuộc tính của Đạo, Lão Tử viết:

"Ở trên không sáng,ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt. Nó lại trở về với cõi vô vật. Cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi".

(Chương 14 - Lão tử và Đạo Đức Kinh - sđd)

"Đạo chỉ là cái gì mập mờ thấp thoáng.Thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng. Mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật. Nó thâm viễn tối tăm , mà bên trong có tinh túy. Tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin.

(Chương 21 - Lão tử và Đạo Đức Kinh - sđd).

Như vậy, cả Đạo Đức Kinh và Phật pháp đều mô tả trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, tương ứng với nguyên nghĩa "Thái cực" trong tiếng Việt. Điều này hoàn toàn khác hẳn các giải thích của những nhà nghiên cứu Hán Nho, mà điển hình là ông Chu Đôn Di, một triết gia hàng đầu đời Tống và đã lập ra hẳn một hệ thống gọi là Tống Nho, phân biệt với Hán Nho. Nhưng với tư duy bậc thầy của ông ta cũng không giải thích được nguyên nghĩa của "Thái cực", như người viết trình bày ở trên.

Ở đây, ngay cả các triết gia và các nhà nghiên cứu tên tuổi thời nhà Tống như Vương An Thạch, được coi là bậc túc Nho, sau này làm nên đến tể tướng cũng hoàn toàn sai lầm khi giải thích về Đạo Đức Kinh như sau:

Nguyên văn trong các bản cổ nhất của Đạo Đức kinh, trước Vương An Thạch , viết như sau:

Đạo khả Đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh,phi thường danh.

Vô danh thiên hạ chi thủy. Hữu danh vạn vật chi mẫu.

Câu sau: "Vô danh thiên hạ chi thủy. Hữu danh vạn vật chi mẫu",  có thể hiểu là: Không có tên để đặt cho trạng thái khởi nguyên của vũ trụ; nhưng đó chính là trạng thái sinh ra tất cả vạn vật có thể gọi tên.

Nhưng ông Vương An Thạch lại thêm dấu "phẩy" sau chữ "Vô" và "Hữu" thành ra câu này được viết như sau:

Vô,  danh thiên hạ chi thủy. Hữu, danh vạn vật chi mẫu.

Và ông ta giải thích rằng: "Không" là tên gọi của cái bản thủy của trời đất. "Có" là mẹ sinh ra vạn vật. Tất nhiên, tể tướng đã nói thì cứ phải từ đúng trở lên. Cho nên cách hiểu của Vương An Thạch được coi là chính thống từ thời Tống đến nay. Mặc dù, cách giải thích của Vương An Thạch, tự mâu thuẫn với nội dung mà chính vị được coi là Lão Tử mô tả:

"Danh khả danh phi thường danh". Do đó, nếu gọi được nó bằng cái danh "Vô" ("Không") thì nó lại không phải là "Không"! Nói rõ hơn, như Lão Tử diễn đạt: Nếu cái danh của "Đạo" mà gọi ra được là "Đạo" thì nó là "Phi thường danh".

Ở đây ông Vương An Thạch, đơn giản hóa cho dễ hiều: đặt tên nó là "Không"!? Sự mâu thuẫn này không chỉ ngay với nguyên cả đoạn đã trích dẫn, mà là sự mâu thuẫn có tính hệ thống với toàn bộ sự mô tả của Lão Tử về bản thể của "Đạo" trong toàn bộ cuốn sách: Cái "không" chỉ được coi là "Không" khi phân biệt với cái "Có" ra đời.

Tương tự như cách giải thích "Thái cực" của ông Chu Đôn Di vẫn lưu truyền đến bây giờ. Không ít các nhà nghiên cứu, khi viết về những vấn đề liên quan đến kinh Dịch và câu "Thái cực sinh lưỡng nghi...." trong Hệ từ Thượng truyện, lặp lại quan niệm của Chu Đôn Di; "Thái cực bản vô cực dã"!?

 

2.2. THÁI CỰC - BẢN NGUYÊN VŨ TRỤ - TRONG MINH TRIẾT VIỆT.

Như vậy, trong toàn câu của Hệ từ thượng truyện, phải viết lại theo minh triết Việt là:

"Thị cố dịch hữuThái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng".

Từ đó, trên cơ sở tổng hợp những gía trị minh triết Đông phương, trong Phật pháp và Đạo Đức Kinh, căn cứ theo nguyên nghĩa tiếng Việt của từ "Thái cực" - vượt ra ngoài mọi sự giới hạn -  thì nội hàm khái niệm "Thái cực", cần phải hiểu là:

1/ "Thái cực" là một thực tại ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. có thể tính.

2/ Trong "Thái Cực" không có sự phân biệt không gian và thời gian và là trạng thái tuyệt đối.

Như phần trên chúng tôi đã trình bày:

Với sự giải thích nội hàm "Thái cực" là một thực tại ở giai đoạn khởi nguyên vũ trụ thì toàn bộ câu trong Hệ từ thượng được hiệu chỉnh từ nền văn hiến Việt, là: "Thái cực sinh lưỡng nghi; lưỡng nghi sinh tứ tương, tứ tượng biến hóa vô cùng", chính là sự mô tả toàn bộ quá trình vận động của vũ trụ từ giây "O" và sự diễn tiến của vũ trụ ngay sau giây "O".

Tính hợp lý trong sự lý giải của nền minh triết Việt, không chỉ giới hạn trong ngay cấu trúc khái niệm đồng đẳng trong chuỗi liên hệ của toàn câu, nhằm mô tả những trạng thái liên tiếp diễn biến của vũ trụ sau giây "O" . Nó còn là sự mô tả liên quan đến những bí ẩn của vũ trụ mà khoa học hiện đại đang bế tắc vì đụng trần thời gian: 10 47 s, sau giây "O".

Tất cả những điều này, được trình bày ngay sau đây. Tất nhiên nó được trình bày trong hệ thống Lý học Việt về thuyết Âm Dương Ngũ hành từ sự xác định, hiệu chỉnh và hệ thống hóa của chúng tôi, đối chiếu với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng và tiêu chí xác định một lý thuyết phải mô tả một thực trạng quan sát là cơ sở cho hệ thống lý thuyết đó.

Chúng tôi cũng cần xác định một lần nữa và đây cũng là điều mà chúng tôi đã nói tới ở phần trên, để xác định rằng:

Chúng tôi đang phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa đã thất truyền và đã tồn tại trên thực tế. Do đó, chỉ có thể dùng tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, làm chuẩn mực để thẩm định tính chân lý của nó. Những sự kiểm chứng thông qua những phương tiện kỹ thuật sau đó, chỉ là để xác định sự phản ánh thực tại liên quan đến giả thuyết, hoặc hệ thống lý thuyết này. Nếu kết quả trùng khớp thì được coi là đúng; kết quả sai thì hệ thống lý thuyết phải hiệu chỉnh, hoặc bị coi là sai.

 

CHƯƠNG VI.

MINH TRIẾT VIỆT MÔ TẢ SỰ HÌNH THÀNH VŨ TRỤ SAU GIÂY O.

 

VI.1. KHỞI NGUYÊN VŨ TRỤ THEO GIẢ THUYẾT CỦA TRI THỨC KHOA HỌC HIỆN ĐẠI.

Một giả thuyết rất phổ biến trong tri thức khoa học hiện đại cho rằng:

Vũ trụ này bắt đầu từ một điểm kỳ dị với mật độ vật chất cực lớn.

Trên Wikipedia, bách khoa toàn thư mở viết về sự khởi nguyên vũ trụ theo giả thuyết phổ biến của khoa học hiện đại như sau:

Thuyết Vụ Nổ Lớn là một lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng và được cộng đồng khoa học chấp nhận rộng rãi. Nó đưa ra cách giải thích hoàn thiện về nhiều loại hiện tượng quan sát thấy trong vũ trụ, bao gồm sự có mặt của những nguyên tố nhẹ, bức xạ nền vi sóng vũ trụ, cấu trúc vĩ mô của vũ trụ, và định luật Hubble đối với siêu tân tinh loại Ia.[11] Những ý tưởng chính trong Vụ Nổ Lớn—sự giãn nở của vũ trụ, trạng thái cực nóng lúc sơ khai, sự hình thành của heli, và sự hình thành các thiên hà— được suy luận ra từ những quan sát này và những quan sát khác độc lập với mọi mô hình vũ trụ học. Các nhà vật lý biết rằng khoảng cách giữa các đám thiên hà đang tăng lên, và họ lập luận rằng mọi thứ đã phải ở gần nhau hơn khi trở về quá khứ. Ý tưởng này đã được xem xét một cách chi tiết khi quay ngược trở lại thời gian đến thời điểm vật chất có mật độnhiệt độ cực cao.

 

Như vậy, tri thức khoa học đã giải thích sự khởi nguyên vũ trụ bắt đầu từ những quan sát trực quan từ những hiện tượng vũ trụ, dẫn tới một suy luận được coi là hợp lý của thuyết Bic Bang.

Mặc dù thuyết Bic Bang được sự ủng hộ rộng rãi của giới khoa học. Nhưng thuyết Bic Bang không phải đã giải thích được tất cả các câu hỏi cần giải đáp liên quan tới nó. Điều này, nhà khoa học vật lý thiên văn nổi tiếng S.W.  Hawking cũng đã đặt ra trong cuốn "Lược sử thời gian" nổi tiếng của ông.

Nhưng nền minh triết Việt với quan niệm về Thái cực lại giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ bằng một nội dung khác.

 

VI.2. THÁI CỰC - SỰ KHỞI NGUYÊN VŨ TRỤ - TỪ MINH TRIẾT VIỆT TRONG THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

Thái Cực trong minh triết Việt mô tả một thực tại ở trạng thái khởi nguyên vũ trụ và không phải là một hệ quả của tư duy trừu tượng. Điều này người viết đã chứng minh ở trên.

Nguyên nghĩa của "Thái cực" theo tiếng Việt rất đơn giản là: Vượt qua mọi sự giới hạn. Như vậy ở trạng thái này không có không gian, thời gian và lượng số. Không có phân biệt so sánh. Không có nhanh để nói đến cái chậm; không có to, để nói đến cái nhỏ; tràn ngập, viên mãn. Và cần xác định là "trạng thái tuyệt đối" và có thể tính.

Nếu theo Đạo Đức kinh thì:

Nó thâm viễn tối tăm , mà bên trong có tinh túy. Tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin.

Nếu theo Phật pháp thi đó chính là "Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ", "Tính thấy".

Tính chất không không gian, không thời gian và không lượng số của "Thái cực", đã sinh ra một cái không phải nó. Đây chính là thời gian sau "giây "O" và Lý học Việt gọi là "Lưỡng nghi".

"Lưỡng nghi", giải thích theo nguyên nghĩa tiếng Việt là hai trạng thái phân biệt khó miêu tả. Điều này được mô tả bằng bức tranh "Lưỡng nghi sinh tứ tượng" mà người viết đã trình bày ở trên: Hai em bé với bốn thân hình gắn kết và khó phân định thân hình nào thuộc về em bé nào.

Và trên cơ sở sự mô tả của những giá trị minh triết Việt thì trạng thái "Lưỡng nghi" chính là sự phân biệt giữa trạng thái khởi nguyên là "Thái cực" - giá trị của sự tuyệt đối - với một cái do chính nó sinh ra và không phải nó - Cái gần tuyệt đối. Nên gọi là "Lưỡng nghi".

Sự xuất hiện của một hiện tượng ra ngoài sự tuyệt đối  - "lưỡng nghi" - chính là sự bắt đầu của thời gian đầu tiên của vũ trụ, sau "giây "O". So với cái tuyệt đối trước đó là "Thái cực", thì cái sinh ra về thể tính phải có thuộc tính là sự vận động. Khi "Lưỡng nghi" xuất hiện thì vũ trụ đã có sự phân biệt, giữa cái tuyệt đối là "Thái Cực" và cái không phải nó.

Tất nhiên ngay lập tức có sự tương tác giữa hai trạng thái của cái tuyệt đối "Thái cực" với cái từ sự tuyệt đối sinh ra (“Lưỡng nghi”). Tính tương tác tạo nên lịch sử vũ trụ đã được trí thức khoa học thừa nhận (Đã trích dẫn). Do đó, sự miêu tả của minh triết Việt qua bức tranh "Lưỡng nghi sinh tứ tượng", chính là mô tả sự tương tác ngay từ khởi nguyên của vũ trụ khi "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng.....".

Tất nhiên, tiếp theo đó là sự tiếp tục phát triển của lịch sử vũ trụ:

"Tứ tượng biến hóa vô cùng".

 

VI.3. KẾT LUẬN

Như vậy, toàn bộ câu trong Hệ từ Thượng truyện của kinh Dịch trong bản văn chữ Hán cổ : "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái" , được phục hồi và hiệu chỉnh nhân danh nền minh triết Việt thành: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng" . Thực chất đó là sự mô tả một thực tại của giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ sau giây "O" của lịch sử vũ trụ của một học thuyết cổ xưa, nhân danh nền văn hiến Việt , mà chúng ta quen gọi là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Sự mô tả trạng thái khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, từ những giá trị minh triết Việt còn lại trong những di sản văn hóa truyền thống, khác biệt với thuyết Bic Bang xuất phát từ nền tảng của tri thức khoa học hiện đại. Nhưng nó có được sự thừa nhận như là một  giá trị nền tảng trong tương lai của tri thức khoa học hiện đại, để giải thích sự hình thành vũ trụ thay thế cho thuyết Bic Bang hay không, sẽ không phải đề tài bàn trong tiểu luận này.

Tuy nhiên, người viết cần xác định rằng: Ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ theo lý giải từ thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt,vẫn thừa nhận một sự bùng vỡ trong vũ trụ sau giây "O", rất tương đồng. Tức không phủ nhận với những điều quan sát được của tri thức khoa học hiện đại, dẫn đến việc hình thành thuyết Big Bang, mà chúng tôi đã trích dẫn ở trên từ trang thư viện Wikipedia. Nhưng cách giải thích có đôi điều khác biệt giữa thuyết Âm Dương Ngũ hành và thuyết Bic Bang ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Tức giây "O" và thời gian 10 - 47 s sau giây "O".

Trong sự mô tả từ khởi nguyên vũ trụ thì tính tất yếu của "Tứ tượng biến hóa vô cùng" , cũng như chuỗi hệ quả của nó, là sự tiếp tục lịch sử tiến hóa và hình thành vũ trụ với tất cả tính quy luật và bản chất tương tác của nó, phải được thể hiện trong một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh để giải thích toàn bộ mọi trạng thái vận động của lịch sử vũ trụ này.  Đó chính là nội dung của học thuyết Âm Dương Ngũ hành , một học thuyết cổ xưa nổi tiếng trong nền văn minh Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt.

Hay nói cách khác: Đối tượng quán xét của thuyết Âm Dương Ngũ hành là toàn bộ lịch sử hình thành và sự tiến hóa của vũ trụ, từ giai đoạn khởi nguyên (giây "O"), cho đến mọi hiện tượng, sự vật, sự việc trong thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và mọi hành vi của con người với khả năng tiên tri. Đây cũng chính là nội dung chủ yếu của phần II. I, mà chúng tôi đã xác định từ mở đầu của tiểu luận này, về mối liên hệ nhân quả giữa một thực tại được nhận thức và sự tổng hợp nhận thức làm nên nội dung một học thuyết.

Khi nguồn gốc đích thực của nền tảng văn minh Đông phương xác định thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương tử, mà hậu duệ chính là các dân tộc ở Việt Nam hiện nay, sẽ phục hồi lại những giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Chúng tôi sẽ trình bày tiếp trong Phần II. II với nội dung này.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

1. VIỆT DỊCH TRÊN BÃI ĐÁ CỔ SAPA

Trong phần II. I của tiểu luận này, người viết đã hân hạnh trình bày với bạn đọc về thực tại ở trạng thái khởi nguyên vũ trụ , là đối tượng được mô tả từ nội dung minh triết qua những di sản văn hóa phi vật thể truyền thống Việt, trong nội dung học thuyết Âm Dương Ngũ hành, hoàn toàn khác hẳn cách giải thích của những nhà nghiên cứu Hán Nho, từ hàng ngàn năm nay.

Nhưng không chỉ có vậy, một di sản khác thuộc về nền văn hiến Việt, cũng mang một nội dung mô tả lịch sử khởi nguyên và quá trình phát triển của vũ trụ liên quan và hoàn toàn trùng khớp đến nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành và hệ thống ký hiệu bát quái, mà chúng tôi mô tả giai đoạn khởi nguyên, ở phần trên.  

Đấy chính là những hình khắc trên những phiến đá ở bãi đá cổ Sapa. Có thể nói rằng: bãi đá cổ Sapa là một kỳ quan về sự bí ẩn trong những hình khắc và gây nhiều tranh cãi của những nhà nghiên cứu.

Một trong những hình khắc trên bãi đá cổ Sapa đã thể hiện điều này. Bạn đọc xem hình dưới đây:

 

131134_zps1a934df6.jpg

Hình trên được chép lại từ bản dập của các nhà nghiên cứu người Pháp từ thập niên 20 của thế kỷ trước. Và là một hình tượng được chạm khắc trên khoảng 200 phiến đá ở nơi đây. Những con số trên hình vẽ do người viết thực hiện, để bạn đọc tiện theo dõi sự mô tả nội dung của người viết.

Có thể đã có nhiều người giải thích sự bí ẩn của hình chạm khắc này. Nhưng người đầu tiên mà người viết được biết, đã giải mã hình tượng này là nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn. Ông mô tả đã mô tả nội dung hình trên như sau:

“ Nổi bật trên búc chạm đá là hình mặt trời 1 (Số 6 trên hình - số 1 trong nguyên văn của tác giả; số 6 là của tôi hiệu chỉnh vì một sự lý giải khác. Trong đoạn trích dẫn này; số của tác giả ghi nguyên văn; số của người viết trên hình trong ngoặc kế bên); 2 Trái đất (3) bố cục ở hai phía Đông Tây; nhưng hơi chếch nhau, phải chăng là sự diễn tả cao thấp khác nhau của các hành tinh này theo sự nhận biết của con ngườI lúc đó. Bao quanh trời đất là hai dải các hình song song không khép kín; bên trái gồm ba giảI song song không đều nhau; chạy dài liên tục bắt đầu từ Tây Bắc chạy xuống sát gần Trái Đất rồI hơi uốn lượn về phía Đông Nam 9 (2). Bên phải cũng là ba giải song song 10, bắt đầu từ giữa hình khắc; rồI uốn vòng lên theo xích đạo Trái Đất; uốn vòng lên theo hướng Đông Bắc; bao lấy mặt trời ở phía Đông. Nửa trên của các dải này chỉ còn hai dải song song kéo dài liên tục lên Đông Bắc kết thúc ở điểm cao ngang vớI mặt trời và ba dải ở phía Tây Bắc. Dải thứ 3 ở ngoài cùng bên Đông chỉ có một đoạn vòng cung đến ngang tầm điểm cực Bắc của Trái Đất thì kết thức. Dải này có 3 đoạn dài ngắn ko đồng đều; đoạn ngắn nhất ở khoảng giữa có hai vạch đứt ở hai đầu.
Sách Dịch cổ cho ba dải số 9 (2) là Nội Quái tượng trưng cho các lớp vỏ trái Đất; còn ba dải số 10 là Ngoại Quái tượng trưng cho các giải sông Ngân hà.. Nhà nghiên cứu Dịch học Hống Quang cho đây là Lục Quyển bao gồm: Vũ Quyển nói về thờI kỳ hỗn mang chưa có hình dáng cụ thể ban đầu; Khí Quyển; Tầm Quyển; Sinh Quyển;Trí Quyển; Linh Quyển thuộc về giai đoạn vũ trụ đã định hình từ trạng thái hỗn mang Vô Cực đã thành Thái Cực….

[…lược một đoạn nói về lịch sử thiên văn học Tây Phương…]

Nhận thức của nhân loại đến thời Trung Cổ; mớI cách chúng ta khoảng 400 trăm năm mà còn tranh cãi quyết liệt nhức nhối như vậy (Các vấn đề liên quan đến tri thức Thiên văn phương Tây vào thời cổ và Trung cổ. Người viết). Thế mà từ 3000 – 4000 năm trước CN tổ tiên ta đã chạm khắc “mô hình vũ trụ” vào đá cổ Sapa; khẳng định cả Mặt trời và trái Đất đều là khối cầu tròn và đang quay. Chiều quay của Trái Đất từ Tây sang Đông ngược chiều kim đồng hồ; đúng như chiều quay của các hình đúc trên mặt trống đồng cổ kính của dân tộc. Sự chuyển động được biểu hiện bằng hình xoáy ốc từ tâm ra ngoài thật độc đáo. Đó là biểu trưng sức mạnh nội tâm của tinh cấu; không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Ở vòng xoáy ốc ngoài cùng nẩy lên một nhánh cây; phải chăng đây là biểu hiện của sụ sống; của Sinh Quyển. Nhánh cây này có hai chòm lá ngả về phía Đông là phía mùa xuân. Như vậy quá đúng với triết lý Âm Dương Ngũ hành của các vị kỳ lão hiền triết Phục Hy; Thần Nông thời thượng cổ. Vòng xoay của mặt trờI cũng do nội lực xoáy ốc từ trong ra ngoài; ngược hướng với chiều quay của trái Đất từ Đông sang tây. Một chi tiết cần được chú ý là tổ tiên ta mô tả Mặt Tròi và Trái Đất đường kính gần ngang nhau; như một “cặp sao đôi”. Đây là ngẫu nhiên hay có chủ định từ trước? Từ nguồn trí thức linh giác nào mà ông cha ta khắc như vậy? Điều này rất đáng được suy nghĩ.
Bên cạnh trái Đất tròn còn có một hình vuông nhỏ 3 (4). Đây không lặp lại sai lầm của Hoa tộc thờI cổ là “trời tròn đất vuông” (Một số ngườI tới nay còn giải thích chuyện “bánh chưng bánh dày” theo hướng này là không đúng). Ở đây hình vuông đặt cạnh Đất tròn thì làm sao nói chệch đi là trời tròn cho được? PhảI thấy ở đây người nghệ nhân vô danh đã nắm kinh Dịch rất vững và đã chuyển hình chạm khắc sang một đề tài mớI: "Mẹ tròn con vuông”. Theo luận thuyết Âm Dương đất thuộc về Âm; về người mẹ; còn trời thuộc về Dương; thuộc về người cha. Thành ngữ tiếng Việt nói cha Trời ; mẹ Đất chính là vì vậy. Trong hình khắc mảnh vuông nhỏ đặt cạnh mẹ Đất phải hiểu là “Mẹ tròn con vuông”; một thành ngữ nói lên sụ mong mỏi; coi như lờI chúc tụng đối với các bà mẹ bước vào kỳ sinh nở phải được “vuông tròn” nghĩa là thuận lợI; không gặp rủI ro trắc trở khi vượt cạn một mình. Ý nghĩa nhân văn ở đây quá rõ; nó hoàn toàn khác vớI quan điểm tĩnh tại “Trời tròn đất vuông” của ngườI Trung Hoa cổ đại.

[..lược một đoạn…]

Trở lại với “Mô hình vũ trụ” (Hình đã dẫn – Người viết); cả mảng giữa của hình khắc dành cho con người. Tư tưởng chủ đạo ở đây là sự thể hiện rất rõ “luận điểm tam tài” của kinh Dịch.
Ở đây dưới ký hiệu quẻ Càn 7 (8) gồm ba vạch liền xếp chồng chéo lên nhau đặt hơi chếch về hướng Tây Nam – Đông Bắc là hai hình ngườI một nữ một nam được thể hiện bằng hình song song mang tính ước lệ nhiều hơn tả thực. Người nữ 4 (7) đứng hai chân giang rộng phía trên giải ngoại quái; bộ phận sinh dục khuyếch đại rất rõ. Tư thế chếch theo hướng Đông Bắc – Đông Nam; đầu nhô gần sát vạch giữa quẻ Càn. Tay phải cầm một khí cụ dài giơ thẳng chếch ở khoảng trống giữa Mặt trời và ký hiệu quẻ Càn. Người Nam 5 (1) đứng ở tư thế khom lưng trên giải Nội quái; song từ phần ngang hông trở xuống ko được thể hiện. Bộ phận sinh dục ở đây cũng phóng to hơn bình thường. Phía trên đầu ngườI nam là ký hiêu quẻ Sơn Địa Bác 8 (9) gồm quẻ Chấn chồng lên quẻ Khôn; đặt xoay dọc giữa quẻ Ngoại quái và hình vuông nhỏ. Ký hiệu cuối cùng đặt ở dưới vòng cung ngoại quái; phía bên hông gần đoạn ngắn ở giữa nối với hai đoạn dài hai bên là ký hiệu phồn thực 6.

 

 

Qua đoạn trích dẫn ở trên, người viết trân trọng giới thiệu với bạn đọc về sự giải mã hình vẽ trên bãi đá cổ Sapa của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn. Có thể có nhiều nhà nghiên cứu đã giải mã hình tượng này, vốn đã có từ khi bãi đá cổ được phát hiện (khoảng năm 1924 – 1926, do các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử người Pháp). Nhưng cho đến mãi gần đây mới có những ý kiến liên hệ những hình vẽ này với một học thuật cổ Đông phương là kinh Dịch qua đoạn trích dẫn của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn , đã trình bày ở trên.
Nhưng với cách nhìn của người viết thì hình vẽ này mô tả một nội dung khác hẳn sự kiến giải của nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn.

 

131134_zps1a934df6.jpg

Với những ký hiệu bằng số ở hình vẽ trên, người viết lần lượt giải mã theo thứ tự dưới đây:

 

1) Người đàn ông biểu tượng của tính thuần Dương ở giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ, theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau": "Thái cực" trở thành Dương trong cặp phạm trù Âm Dương, khi xuất hiện sự phân biệt với chính nó là "lưỡng nghi". Đã trình bày ở trên.

2) Trong kinh Dịch quái Càn (953102210_zps3afdaa02.jpg) thuộc Dương, ba vạch dài biểu tượng tính thuần Dương không có giới hạn. Đây chính là sự mô tả tính vô lượng, vô biên, không không gian, không thời gian, không lượng số của Thái Cực.

3) Tính "động" xuất hiện ("Lưỡng nghi") tạo vòng xoáy ngược chiều kim đồng hồ. Đây cũng là chiều vận động của các Thiên hà hiện nay, trong đó bao gồm cả các sao và hành tinh. Đồng thời cũng là chiều quay của chính Thái Dương hệ và trái Đất. Đây cũng là hình tượng mô tả trạng thái "Thái cực sinh lưỡng nghi". Đây cũng là biểu tượng của chữ "Vạn" ngược và cũng chính là sự mô tả đồ hình Âm Dương Lạc Việt.

4) Hình vuông bên cạnh vòng xoáy xác định: khi tính động xuất hiện  ("lưỡng nghi"), tức là sinh Âm (Động thuộc Âm, theo minh triết Việt "Dương tịnh, Âm động") và nằm trong phạm trù Âm Dương , đối đãi với trạng thái tĩnh khởi nguyên, "Dương trước, Âm sau" ("Mẹ tròn, con vuông").

5) Khi Âm xuất hiện thì sự vận động, tương tác tạo nên sự phát triển tiến hoá trong vũ trụ bắt đầu. Điều này được hình tượng bằng một cái cây tiếp nối từ sự vận động của vòng xoáy.

6) Sự xuất hiện của "Lưỡng nghi" thì vũ trụ bắt đầu phát triển do tính tương tác. Điều này người viết đã mô tả ở phần trên qua nội dung minh triết từ những di sản văn hiến Việt. Vòng xoáy thuận chiều kim đồng hồ là biểu tượng cho thấy sự tương tác của vũ trụ theo chiều ngược với chiều vận động của các thiên thể. Đây cũng chính là chiều vận động của Hà đồ.
Chữ Vạn có chiều thuận chính là biểu tượng của chiều tương tác vũ trụ. Xin các bạn lưu ý là: Qua các di vật khảo cổ có niên đại xấp xỉ 10.000 năm cho thấy chữ “Vạn” đã tồn tại rất lâu trong văn minh nhân loại.

7) "Dương tiêu, Âm trưởng", đây là nguyên lý của Dịch, được biểu tượng bằng người đàn bà.

8) Khi Âm cực thịnh, "Âm tiêu, Dương trưởng", đây là nguyên lý của Dịch, được biểu tượng bằng quái Càn trên đầu người đàn bà.

9) Hình số 9 trong bức tranh khắc đá trên, so sánh với những ký hiệu dịch sẽ có hình tương tự như sau:

 

image081_zps91a8d9f2.jpg           

 

Ký hiệu quẻ Dịch trên bãi đá cổ           Hình mô tả

Theo nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Liễn là quẻ Sơn Địa Bác, nếu lật theo chiều thuận kim đồng hồ:


7.jpg

 

8.jpg

 

Nhưng theo người viết thì đây là quẻ Địa Lôi Phục, nếu lật 90 độ theo chiều ngược kim đồng hồ là chiều vận động của các thiên thể trong vũ trụ. Theo kinh Dịch thì ý nghĩa của quẻ này là "sự trở lại". Như vậy với hình tượng của quẻ Địa Lôi Phục cho thấy vũ trụ vận động tới cực điểm: "Âm cực thịnh, nhất Dương sinh" , sẽ là sự quay trở về trạng thái ban đầu.

 

8.jpg

 

4.jpg

 

Hay nói một cách khác:
Toàn bộ bức tranh này nói về nguyên lý của sự vận động vĩ mô từ khời nguyên cho đến kết thúc và có tính chu kỳ của toàn thể vũ trụ.
Trong hình vẽ trên, sự trùng khớp trong cách lý giải nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành và nội hàm của hệ thống ký hiệu "bát quái", được mô tả qua những di sản văn hóa truyền thống Việt trong tiểu luận này: từ sự khởi nguyên và chu kỳ vận động cuả vũ trụ trên bãi đá cổ Sa pa với nội dung những hình tượng chạm khắc thể hiện trên bãi đá cổ Sa pa, đã chứng tỏ sự hợp lý bao trùm trên những sự kiện và vấn đề liên quan.

Hay nói một cách khác: Sự trùng khớp hợp lý giữa những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong nền văn hiến Việt, hệ quả của những giá trị nhận thức thuộc tư duy trừu tượng, thể hiện dưới những hình thức khác nhau, không thể coi là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Vì chúng đều là hệ quả của tư duy trừu tượng phản ánh sự nhận thức vũ trụ và cuộc sống. Đó chính là những nhân chứng, vật chứng bổ sung cho nhau và là chứng nhân của nhau, trong vấn đề minh chứng cho những giá trị đich thực của nền văn minh Đông phương thuộc về văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử.

Với những ký hiệu quẻ trùng khớp với ý nghĩa của bức chạm trên bãi đá cổ Sapa, đã chứng tỏ: hệ thống bát quái trong Dịch học, một hệ thống ký hiệu siêu công thức tích hợp hữu cơ của thuyết Âm Dương ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt. Điều này cũng chứng tỏ rằng tên gọi đích thực của cuốn kinh Dịch, có nội dung từ "Lạc thư" phối với "Hậu thiên Văn vương”, nên còn gọi là “Chu Dịch”; mà phải gọi đúng tên của nó là: “Lạc thư chu dịch”. Tức là sách của người Lạc Việt nói về sự vận động tuần hoàn của vũ trụ.
Chúng tôi không bao giờ coi sự giải mã là bằng chứng cho một luận cứ nhân danh khoa học. Nhưng sự hợp lý bao trùm lên mọi lĩnh vực chính là sự phù hợp với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực cho một giả thuyết nhân danh khoa học trong việc phản ánh một chân lý.

 

II. CÔNG ÁN NỔI TIẾNG TRONG PHẬT GIÁO VÀ "THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI".

"Thái cực sinh lưỡng nghi...." được giải thích từ những di sản văn hiến Việt, không chỉ dừng lại ở sự mô tả trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, nhằm chứng minh và so sánh với tiêu chí khoa học về một lý thuyết phải mô tả và giải thích những thực tại liên quan tới nội dung của nó. Mà nó còn giải thích một công án nổi tiếng của Phật giáo. Công án này có nội dung như sau: "Thế nào là tiếng vỗ tay của một bàn tay?".

Đây là một công án nổi tiếng lưu truyền qua nhiều thế hệ, được nhắc tới cả trong điện ảnh (Phim "Con voi trắng") và cả sách của ông Thích Nhất Hạnh trước 1975. Nhưng vẫn chưa có một giải thích thấu đáo. Nhưng chính sự mô tả về "Thái Cực", nhân danh nền văn hiến Việt, đã cho thấy chính "Thái cực" với nội hàm mô tả tính tuyệt đối của trạng thái khởi nguyên vũ trụ, là "một bàn tay", là "Tính thấy", là "căn bản sinh tử từ vô thủy", ra ngoài nghĩa "phải và không phải". Do đó, "Thái cực sinh lưỡng nghi" chính là "tiếng vỗ tay của một bàn tay". Hiểu được công án này, chính là hiểu được "Tính thấy" và là điều kiện để hòa nhập "thức tính nguyên minh" có trong mỗi con người, điều kiện để đạt đến sự giải thoát tuyệt đối theo quan niệm Phật giáo.

Công án này cho đến ngày nay chưa có một đáp án rốt ráo. Chính vì trạng thái khởi nguyên của vũ trụ cũng chưa được giải quyết một cách rốt ráo, cho đến nay vẫn còn trong sự tìm hiểu của chính tri thức khoa học hiện đại và của cả một thời gian Hán hóa trải hàng thiên niên kỷ trong văn minh Đông phương, ngoại trừ văn hiến Việt.

Sự tích hợp nguyên nghĩa tiếng Việt của từ "Thái cực" với những khái niệm tương đồng trong Đạo giáo, Phật giáo, đã mô tả trạng thái khởi nguyên vũ trụ và nó đã giải thích một cách hợp lý ngay chính công án nổi tiếng của Phật giáo. Điều này chứng tỏ tính phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên.

Một lý thuyết thống nhất phải mô tả được những vấn đề tôn giáo và tâm linh.

Đây là một tiêu chí hoàn toàn chính xác, ngoài những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất, mà nhà vật lý lý thuyết SW Hawking mô tả trong cuốn "Lược sử thời gian" của ông.

Sự tích hợp trạng thái khởi nguyên vũ trụ "Thái cực" với sự khởi nguyên của hai tôn giáo lớn nhất thuộc văn minh Đông phương cổ đại là Đạo giáo và Phật giáo, đã chứng tỏ sự phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết thống nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt. 

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN II.II

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ TỪ MINH TRIẾT VIỆT.

Một học thuyết cổ xưa sẽ quay lại với nền văn minh nhân loại.

Nhà tiên tri Vanga

 


138_zpscd1a015b.jpg

Pháp đại uy nỗ

Tranh thờ Ngũ Hổ phường Hàng Trống.

 

 

 

MỞ ĐẦU

Trong phần II.I, người viết đã trình bày với bạn đọc đối tượng quán xét của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là toàn bộ sự vận động của vũ trụ, mà bắt đầu từ sự khởi nguyên của vũ trụ qua câu: "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng biến hóa vô cùng", phục hồi từ những giá trị minh triết Việt.

Đối tượng quán xét của một hệ thống lý thuyết và cấu trúc của hệ thống lý thuyết mô tả tổng hợp và giải thích đối tượng là hai yếu tố cấu thành, làm nên nội dung thực tế của học thuyết đó. Những phân tích từ giá trị minh triết Việt đã minh chứng và xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ cội nguồn văn hiến Việt có đối tượng quán xét là toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ, từ thực tại khởi nguyên ("Thị cố dịch hữu Thái Cực...."), cho đến mọi vấn đề liên quan đến vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống xã hội và con người, thể hiện trong tất cả các phương pháp ứng dụng, như: Đông y, Phong thủy, dự báo.....

Khi một học thuyết được xác định: có khả năng mô tả bao trùm lịch sử tiến hóa của vũ trụ và ứng dụng một cách có hiệu quả hàng thiên niên kỷ trong nền văn minh Đông phương, hiển nhiên nó phải có một nội dung hoàn chỉnh với một nguyên lý căn để, những mô hình biểu kiến, những công thức và nguyên lý cục bộ, những định đề và những khái niệm trong cấu trúc của hệ thống học thuyết đó.

Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày: thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền từ khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Nền văn hóa Hán đã tiếp thu một cách sai lệch, không hoàn chỉnh những giá trị đích thực của học thuyết này từ nền văn hiến Việt. Do đó, chỉ có nền văn hiến Việt, dù tan nát với bao thăng trầm của Việt sử, nhưng chính bề dày của nền văn hiến đó, khiến cho chỉ những gì còn lại thể hiện trong di sản văn hóa truyền thống Việt, cũng đủ để phục hồi lại nguyên giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Trong phần II.II này, chúng tôi tiếp tục trình bày với bạn đọc về sự phục hồi những giá trị nội hàm đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, từ những di sản văn hóa truyền thống Việt. Tức là phần nội dung chủ yếu của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Sự phục hồi một học thuyết cổ xưa, chính là sự đặc thù và rất riêng biệt trong lịch sử văn minh nhân loại. Đây là điều mà chúng tôi đã trình bày ngay phần trên của tiểu luận này.

Nền tảng tri thức và những phương tiện kỹ thuật của nền văn minh chủ nhân đích thực tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành, không thuộc về lịch sử văn minh hiện đại. Do đó, những thực tại mà người xưa nhận thức được không phải là cái mà người ngày nay nhận thức được; những khái niệm của người xưa mô tả hiện tượng, sự vật không phải khái niệm của ngày nay...Điều này, cũng đủ để làm nên sự bí ẩn trải hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn minh nhân loại. Do đó, Ngay cả khi thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại một cách hoàn chỉnh trong nền văn minh hiện tại, cũng không thể dùng phương tiện kỹ thuật và những lý thuyết của nền văn minh hiện đại, như là điều kiện đủ duy nhất  để lặp lại những nhận thức trực quan, hoặc thực nghiệm những hiểu biết của người xưa. Cũng không thể dùng những khải niệm hiểu biết của ngày nay là điều kiện đủ để mô tả cách hiểu của người xưa. Huống chi thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền và sai lệch, khiến nó trở nên huyền bí.

Do đó, chúng tôi cần phải lấy tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thuộc về nền văn minh hiện đại, làm chuẩn mực để thẩm định, so sánh, đối chiếu với những giá trị nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, một lý thuyết cổ xưa trong lịch sử văn minh nhân loại.

Việc phục hồi những giá trị nội hàm căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, cũng là một trong ba tiêu chí khoa học làm cơ sở thẩm định chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành:

 Tính hợp lý, nhất quán và hoàn chỉnh trong nội dung hệ thống lý thuyết và không có mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của hệ thống lý thuyết đó.

Đây cũng là nội dung chủ yếu của phần II.II. Đó là sự phục hồi những giá trị đích thực nội hàm cấu trúc của thuyết Âm Dương Ngũ hành, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt. Và đó cũng là sự liên hệ nhân quả xác định Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương.

 

CHƯƠNG I.

TÓM LƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỪ BẢN VĂN CHỮ HÁN CỔ

 & SỰ XÁC ĐỊNH CỦA NỀN VĂN HIẾN VIỆT

VỀ NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ TRONG ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

 

I.1.  SƠ LƯỢC LỊCH SỬ THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH & NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH TỪ CỔ THƯ CHỮ HÁN.

 

Ngay phần đầu của tiểu luận này, chúng tôi đã tóm lược lịch sử, nội dung cấu trúc thuyết Âm Dương Ngũ hành từ các bản văn chữ Hán. Trong phần II. I chúng tôi đã chứng minh và xác định rằng: Nền văn minh Hán không phải chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành . Những bản văn chữ Hán mô tả học thuyết này hoàn toàn mâu thuẫn, sai lầm so với những giá trị thực của nó. Khiến cho toàn bộ những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương trở thành huyền bí với góc nhìn từ tri thức của nền khoa học hiện đại.

Một trong những yếu tố quan trọng có tính nguyên lý căn để của học thuyết này trong cổ thư chữ Hán,  chính là hai mô hình biểu kiến được mô tả trong cổ thư chữ Hán và chúng tôi cũng bắt đầu từ hai đồ hình này. Đó là:

1/ Đồ hình Hà đồ phối Tiên thiên bát quái.

2/ Đồ hình Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư.

 

1.1. XUẤT XỨ HÀ ĐỒ VÀ TIÊN THIÊN BÁT QUÁI TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN.

Xuất xứ của đồ hình Hà đồ, trong truyền thuyết và các bản văn cổ chữ Hán xác định là:

Do vua Phục Hy (khoảng 3000 năm BC) đi tuần trên sông Hoàng Hà, thấy con Long Mã. Từ những xoáy trên thân hình con Long Mã, nên vua Phục Hy làm ra đồ hình Hà đồ. Căn cứ trên Hà đồ, ngài sáng tạo ra đồ hình Tiên thiên Bát quái phối hợp với Hà đồ. Nhưng tất cả những đồ hình này lại chỉ được mô tả vào thời Tống, sau nội dung mô tả về thời gian của các bản văn chữ Hán cổ về hiện tượng này, là khoảng 4000 năm.

Dưới đây là đồ hình Tiên thiên Bát quái và Hà đồ được coi là do vua Phục Hy tìm ra.

 

image003_zps20871950.gif

 

Mô hình Hà đồ điểm

 

 

1421_zpsa5761ef0.jpg

Mô hình Tiên thiên bát quái

 

 

image116_zps48fa5a8a.jpg

 

Mô hình Tiên thiên bát quái phối Hà đồ điểm

 

52h.jpg

Mô hình Tiên thiên Bát quái phối Hà đồ cửu cung

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

1.2. XUẤT XỨ LẠC THƯ & HẬU THIÊN BÁT QUÁI TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN.

Xuất xứ của đồ hình Lạc thư và Hậu thiên Bát quái trong truyền thuyết và các bản văn cổ chữ Hán xác định là:

Do vua Đại Vũ đi tuần trên sông Lạc thủy, nhìn thấy rùa thần với các chấm trên lưng rùa và làm ra Lạc thư với Hồng phạm cửu trù. Trong Hồng phạm cửu trù thì trù thứ nhất mô tả về Ngũ hành. Do đó, theo nội dung bản văn thì mặc nhiên thuyết Ngũ hành ra đời vào thời vua Đại Vũ (Hơn 2000 năm BC).

 Dưới đây là đồ hình Lạc thư được coi là do vua Đại Vũ tìm ra liên quan đến vị trí các chấm trên lưng rùa.

 

1431_zps7ef3bace.jpg1432167175_zpsb9d92b27.jpg

Mô hình Lạc thư điểm sự tương quan những chấm trên lưng rùa theo mô tả của truyền thuyết và các bản văn cổ chữ Hán.

 

Đoạn trích dẫn sau đây trong sách "Kinh Dịch - Vũ trụ quan Đông phương " của Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng, chứng tỏ điều này:

Trong thư tịch cổ, Thượng thư, Cố mệnh là sách ghi chép sớm nhất về Hà đồ, chép rằng sau khi Văn Vương chết, tại chái nhà phía đông có trưng bày Hà đồ, Cố mệnh truyện gắn Hà đồ với Bát quái; Hà đồ Bát quái; Phục Hi cầm đầu thiên hạ, có con long mã nhô lên mặt nước, do đó phỏng theo văn của nó mà vẽ Bát quái, gọi là Hà đồ. “Xuân thu vĩ” thì tán thưởng: “Hà đồ thông với Càn (trời), nhô lên hoa thần; Lạc chảy vào Khôn (đất), nhả địa phù”. Ngay cả “Chu Dịch. Hệ từ” cũng chép: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân  lấy đó làm chuẩn tắc”.

 

 

Cũng theo truyền thuyết và các bản văn cổ chữ Hán thì 1000 năm sau đó, vua Chu Văn Vương bị Trụ Vương giam ở ngục Dữu Lý. Trong thời gian bị giam giữ, ông ta lấy đồ hình Tiên thiên Bát quái của vua Phục Hy sửa đổi lại vị trí thành Hậu thiên Bát quái Văn Vương và lấy đồ hình Lạc thư của vua Đại Vũ phối với nhau. Trên cơ sở này ông sáng tạo ra Chu Dịch , được hiểu là kinh Dịch của nhà Chu.

Dưới đây là đồ hình Hậu thiên Bát quái Văn Vương và Hậu thiên Bát quái Văn Vương phối Lạc Thư.

 

HauthienlLacViet01.jpg

 

Hậu thiên Văn Vương

 

LacthuHTVV03.jpg

Mô hình Hậu thiên Văn Vương phối Lạc Thư điểm.

 

Lacthu11.jpg

Mô hình Hậu thiên Văn Vương phối Lạc Thư cửu cung

 

Mô hình "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư", từ đó được coi là nguyên lý căn để của hầu hết những phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương, như: Phong thủy, Thái ất, Độn giáp...vv....Và nó còn được mô tả để lý giải một số hiện tượng trong các môn ứng dụng như: Tử Vi, Dịch học...vv....

Tuy nhiên, bản chất Hà đồ, Lạc thư là gì thì ngay cả những nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa, tức là có sự kế thửa nền tảng trí thức của nền văn minh Hán từ hơn 2000 năm trước, cũng chưa hiểu được bản chất Hà đồ, Lạc thư và căn cứ nào để nó có thể tích hợp với Bát quái trong Dịch học?!

Bạn đọc xem những đoạn trích dẫn dưới đây, chứng tỏ điều này:

“Về Hà đồ Lạc đồ có đủ các loại truyền thuyết thần kỳ. Tương truyền ở xã hội nguyên thủy Trung quốc, các lãnh tụ bộ lạc thời Phục Hy có con Long Mã nổi lên ở sông Hoàng Hà, lưng mang Hà đồ; có rùa thần xuất hiện ở Lạc Thủy, lưng mang Lạc thư. Phục Hy sau khi được đã căn cứ vào các điểm âm Dương trên “Hà đồ”, “Lạc đồ” mà vẽ ra Bát quái. Về sau Chu Hy đã thần hóa, nói “Hà đồ” , “Lạc đồ” là “Dịch của trời đất”.

 

Thuyết “Hà đồ” “Lạc đồ” trong cuốn “Thượng thư” của Tiên Tần, “Luận ngữ” của Mạnh tử và trong “Hệ từ” đều có ghi lại. Nhưng “Đồ” và “Thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước đời Tống, không ít “Dịch” gia khi viết về “Dịch”, rất ít nói đến “Hà đồ”, “Lạc đồ”, một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ”, “Lạc thư” vào những năm Thái bình hưng quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn). Do đó, từ đời Tống về sau, đối với thuyết “Hà đồ” “Lạc thư” luôn có hai dòng ý kiến khác nhau. Các học giả dịch học đời nhà Thanh như Hồ Vị, Hoàng Tôn Nghĩa đều phản đối cách nói của các nhà nho đời Tống.”

 

“Hà đồ, Lạc thư là gì? Từ xưa đến nay có rất nhiều người thử tìm hiểu mong tìm ra câu giải đáp, đã hình thành môn Hà đồ học, nhưng chưa có ai giải đáp được câu hỏi này.

 

 

 

Chú thích: "Chu Dịch và dự đoán học", Thiệu Vĩ Hoa, Nxb VHTT 1995.

Từ thời Hán đến thời Tống, luôn luôn có những cuộc tranh luận về Hà đồ Lạc thư. Đến khi Chu Hi biên soạn “Dịch học khởi mông”, thì mới có kết luận sơ bộ, còn như thời Tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không, thì vẫn là một câu hỏi.”

 

 

Chú thích: Bí ẩn của Bát quái, Nxb VHTT 1993 - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường, người dịch Trần Đình Hiến từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do Nhân Dân Quảng Tây xuất bản xã.

 

Chưa hết, chính những nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cũng cho rằng "không có cơ sở nào để Bát quái có xuất xứ từ Hà đồ, Lạc thư", như cổ thư chữ Hán nói tới.

 

Từ sau đời Tống, phàm là các sách về chú Dịch,luận Dịch, trị Dịch, đều lấy các hình Hà Đồ, Lạc Đồ làm một bộ phận quan trọng của Chu Dịch. Thậm chí có người nói bát quái là căn cứ vào Hà đồ, Lạc đồ mà vẽ ra. Ban đầu Chu Dịch dựa vào Đồ,Thư mà làm ra. Vì người ta cho rằng Phục Hy đã dựa vào Hà Đồ mà làm ra bát quái. Cho nên trong Sơn kinh hải có nói: Phục Hy được Hà đồ, nên người Hạ do đó mà nói rằng "Liên sơn dịch". Nhưng tôi (Tức ông Thiệu Vĩ Hoa/Nguyễn Vũ Tuấn Anh) cho rằng: Bát quái trong sách Liên Sơn có thể ra đời từ nhà Hạ. Nhưng bát quái không nhất thiết từ Hà đồ làm ra. Vì trong nguyên văn của kinh Dịch, không thấy nói đến Hà đồ,Lạc đồ".

 

Chu Dịch và dự đoán học, Thiệu Vĩ Hoa,Nxb VHTT 1995

 

Từ những nhận xét của chính những nhà nghiên cứu Trung Hoa hiện đại cho thấy rằng: Nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành được mô tả trong cổ thư chữ Hán, hoàn toàn mâu thuẫn vì tính bất hợp lý trong mối liên hệ nội hàm của nó khi tích hợp "Tiên thiên bát quái với Hà đồ""Hậu Thiên Bát quái với Lạc thư".

Ngay cả nhà nghiên cứu nổi tiếng về Dịch học ở Việt Nam là Nguyễn Hiến Lê, trong cuốn "Kinh Dịch - Đạo của người quân tử" của ông cũng phải thốt lên:

 

Nhất là so sánh những hình đó (Hà đồ, Lạc thư/ Người viết) với hình Bát quái thì giàu trí tưởng tượng đến mấy, cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được."

 

 

Tất cả những nhận xét này của các nhà nghiên cứu Dịch học tên tuổi của cả Trung Hoa và Việt Nam, cho thấy một cấu trúc nội hàm rất bất hợp lý trong cổ thư chữ Hán trong sự tích hợp giữa Bát quái với Hà đồ và Lạc thư, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chúng tôi sẽ chứng minh rõ hơn điều này ở phần sau.

Hơn nữa, Hà đồ trong cổ thư chữ Hán, ngoài việc mô tả có liên quan đến Tiên thiên Bát quái (tức "Hà đồ phối Tiên thiên Bát quái" ), thì không hề thể hiện được tác dụng gì trong mối liên hệ ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, trải 6000 năm, kể từ thời vua Phục Hy đến tận ngày hôm nay. Nếu tính Hà đồ chính thức xuất hiện trong các bản văn chữ Hán từ thời Tống thì cũng cả ngàn năm nay. Hay diễn đạt một cách cụ thể hơn: "Hà đồ phối Tiên thiên bát quái" của vua Phục Hy, trong 6000 năm qua - kể từ khi nó xuất hiện đến tận ngày hôm nay, khi người viết đang gõ hàng chữ này - chỉ để xem chơi. Tất nhiên, đấy là sự vô lý không thể chấp nhận được từ những trí thức nền tảng của khoa học hiện đại.

Xuất phát từ những sai lầm ngay từ nguyên lý căn để và hoàn toàn mang tính mặc định, cho tất cả mọi mô hình biểu kiến và nguyên lý cục bộ khác, cho nên cả hệ thống di sản còn lại của thuyết Âm Dương Ngũ hành được mô tả trong cổ thư chữ Hán, đều mâu thuẫn đến khó hiểu và trở thành huyền bí. 

Nhưng ngược lại, chính nền văn hiến từ quốc gia Văn Lang, nhà nước đầu tiên của Việt tộc, một thời huyền vĩ ở bờ nam sông Dương tử, mà hậu duệ là các dân tộc trên đất Việt hiện nay, qua những di sản văn hóa truyền thống lại chứng tỏ một khả năng tiềm ẩn để có thể phục hồi lại toàn bộ những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương.

Những phần tiếp theo tiếp tục minh chứng điều này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

I.2. SỰ XÁC ĐỊNH CỦA NỀN VĂN HIẾN VIỆT VỚI HÀ ĐỒ LẠC THƯ.

 

Tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học xác định rằng:

Một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì mô hình biểu kiến của nó phải mô tả một thực tại có thể quan sát được.

Trong sách đã xuất bản "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" (Nxb Tổng hợp T/p HCM. 2006), chúng tôi cũng xác định và minh chứng rằng:

Hà đồ chính là mô hình biểu kiến, mô tả qui luật vận động của ngũ tinh và mặt Trời, mặt Trăng là: Sao Kim, sao Thủy, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, tương tác với trái Đất. Điều này được thể hiện qua đoạn đã trích dẫn trong "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt", từ sách "Chu Dịch - Vũ trụ quan" Nxb Giáo Dục - 1995, trang 44 - 51, của Giáo sư Lê Văn Quán, như sau:

Lạc thư Hà đồ.

Hà đồ và Lạc thư được phát hiện từ trong quan trắc hiện tượng thiên văn, cấu tạo giản đơn rất tiện cho việc ghi nhớ và lưu truyền. Theo truyền thuyết:

"Đồ xuất hiện trên sông Hà đời Phục Hy, Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ".

Hệ từ Thương, chương thứ XI đã viết:

"Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tác chi, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi, thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi. Hà xuất đồ, Lạc xuất thư thánh nhân tác chi" (Cho nên trời sinh thần vật, thánh nhân áp dụng theo. Trời đất biến hóa, thánh nhân bắt chước. Trời bày ra hình tượng, hiện ra sự tốt xấu, thánh nhân phỏng ra ý tượng. Bức đồ hiện ra ở sông Hoàng Hà, hình chữ hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo).

Hệ từ Thượng, chương IX lại viết:

"Thiên nhất, địa nhị; thiên tam, địa tứ;  thiên ngũ, địa lục; thiên thất , địa bát; thiên cửu, địa thập. Thiên số Ngũ, địa số ngũ. ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chỉ số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hóa, nhi hành quỷ thần dã"

(Trời số 1, đất số 2; trời số 3, đất số 4; trời số 5, đất số 6; trời số 7, đất số 8; trời số 10. Trời có 5 số (1, 3, 5, 7, 9, những số lẻ; đất có 5 số (2, 4, 6, 8, 10, những số chẵn). Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1+ 3 + 5 + 7 + 9); đất có 30 (2 + 4 + 6 + 8 + 10). Tổng số trời đất có 55 (25 + 30). Do đó mà thành ra biến hóa và hành động như quỷ thần.

Ở đầu sách "Chu Dịch Bản nghĩa", khi giới thiệu hai hình vẽ Hà Đồ, Lạc Thư. Chu Hy cũng đã trích dẫn đoạn Hệ từ trên để chú thích. Ông viết tiếp và chỉ cho mọi người thấy:

"Thử Hà đồ chỉ sô dã, Lạc thư cái thủ quy tượng, cố kỳ số đái cửu,lý nhất tả tam hữu thất,nhi tứ vi kiên, lục bát vi túc".

(Đó là số Hà đồ, Lạc thư lấy tượng rùa, cho nên số của nó là đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai là 2, 4, chân là 6, 8)

Rõ ràng là miêu tả hình Lạc thư.

A. Kết cấu Lạc thư
Như trên đã nói, Lạc
thư cấu tạo bởi những vòng tròn đen trắng: đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai bên trái 4, vai bên phải 2, chân trái 8, chân phải 6, lưng (ở giữa) 5.Vòng tròn đen là số âm (xem hình vẽ). Con số Lạc thư vốn từ Cửu cung, dùng số biểu diễn hình tượng sao. Thực tế là tượng trời của Lạc thư, có thể xem “Lạc thư cửu tinh đồ” (hình Lạc thư 9 sao) đời xưa truyền lại:

 

148_zps55d4dc74.jpg
Hình Lạc Thư cửu tinh đồ

 

Qua hình vẽ chúng ta thấy phương vị và con số của 9 chòm sao, tức là phương vị và con số của Lạc thư. Cung giữa 5 sao gọi là “toà Ngũ đế”, là đầu ngũ hành, ở giữa và giám ngự bốn phương. Dưới “toà Ngũ đế” là ngôi sao “Bắc cực”, luôn luôn ở phương Bắc, lấy đó định vị trí, Bắc cực đối với phía nam cung là chín sao “Thiên kỷ”. Chính giữa phía đông là ba sao “Hà bắc”. Chính giữa phía tây là bảy sao “Thất công”. Bên trái “Thiên kỷ” là bốn sao “Tứ phụ”, bên phải “Thiên kỷ” là hai sao “Hổ bôn”. Bên trái “Bắc cực” là tám sao “Hoa cái”, bên phải “Bắc cực” là sáu sao “Thiên trù”.
Con số 9 cung của Lạc
thư 1, 3, 7, 9 là số lẻ, gọi là số dương: 2, 4 , 6, 8 là số chẵn, gọi là số âm. Số dương là chính, vị trí ở bốn điểm chính giữa, đại biểu khí trời. Số âm là phụ, vị trí ở bốn góc, đại biểu khí đất. Số 5 ở giữa thuộc khí đất (thổ), là tổ của ngũ hành, vị trí ở cung giữa.
Các nhà thuật số cho cung ở giữa là hư số, là số không, để quan trắc và tính toán điểm cơ bản của bốn mùa bát tiết. Con số Lạc thư nhiều ít là tiêu chí biến đổi khí hậu ấm, lạnh, mạnh, yếu của ngày đêm, sớm tối.

B. Kết cấu Hà đồ

 

Hà đồ lấy 10 số hợp với ngũ phương (năm phương), ngũ hành, âm dương, trời đất. Hình tròn trắng số lẻ, dương, là trời, chấm đen số chẵn, âm, là đất, và lấy trời đất hợp với ngũ hành (xem hình vẽ), kết cấu của nó có mấy đặc điểm như sau:
Số 1 và số 6 cùng dòng họ, ở phương Bắc, vì trời 1 sinh thuỷ, đất 6 thành nước. Số 2 và số 7 là bằng (bè bạn), ở phương nam, vì đất 2 sinh hoả, trời 7 hoá thành lửa. Số 3 và số 8 là bạn bè (hữu), ở phương đông, vị trời 3 sinh mộc, đất 8 hoá thành gỗ. Số 4 và số 9 là đồng đạo (cùng đường), ở phương tây, vì đất 4 sinh kim, trời 9 hoá thành vàng. Số 5 và số 10 trông giữ nhau, ở giữa, vì trời 5 sinh thổ, đất 10 hoá thành đất. Đúng như Chu tử đã nói:
“Thiên dĩ nhất sinh thuỷ nhi địa dĩ lục thành chi. Địa dĩ nhị sinh hoả nhi thiên dĩ thất thành chi. Thiên dĩ tam sinh mộc nhi địa dĩ bát thành chi. Địa dĩ tứ sinh kim nhi thiên dĩ cửu thành chi. Thiên dĩ ngủ sinh thổ nhi địa dĩ lập thành chi”.
(Trời lấy 1 sinh thuỷ mà đất lấy 6 thành nước. Đất lấy 2 sinh hoả mà trời lấy 7 thành lửa. Trời lấy 3 sinh mộc mà đất lấy 8 thành gỗ. Đất lấy 4 sinh kim mà trời lấy 9 thành vàng. Trời lấy 5 sinh thổ mà đất lấy 10 thành đất).
Vẽ thành Hà đồ là căn cứ vào 5 sao lặn, mọc, lấy 55 số diễn hình tượng 5 sao. Năm sao xưa gọi là “ngũ vị”, là 5 hành tinh trên trời : Mộc gọi là “Tuế tinh”, Hoả là “Huỳnh hoặc”, thổ là “Chấn tinh”, kim là “Thái bạch”, thủy là “Thần tinh”. Năm sao vận hành, phân chia bởi nhị thập bát tú (28 ngôi sao), do quỹ đạo của nó không xa đường mặt trời, cho nên người xưa dùng để ghi ngày. Năm sao vận hành, thời tiết đều biến đổi, nói chung theo tuần tự Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ, kế tiếp nhau xuất hiện ở bầu trời Bắc cực. Mỗi sao đều vận hành 72 ngày, năm sao vận hành tròn vòng trời 360 độ. Đường quỹ đạo của ba sao: Mộc, Hoả, Thổ lớn cho nên ở ngoài, vừa khéo hợp với số 216 thẻ Kiền. Đường quỹ đạo của hai sao Kim, Thuỷ nhỏ cho nên ở trong, vừa khéo hợp với số 144 thẻ Khôn. Vì 5 sao định giờ lặn, mọc có quy luật như dưới đây, cho nên cấu tạo thành hình Hà đồ như đã giới thiệu ở trên .

 Hằng ngày sao Thuỷ
(* )
: Giờ thứ 1 (giờ Tý) và giờ thứ 6 (giờ tỵ) xuất hiện ở phương Bắc.
- Hàng tháng ngày 1, 6; 11, 16; 21, 26; mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thuỷ ở phương Bắc.
- Hằng năm: Tháng 11, tháng 6 lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.
Cho nên nói “Trời 1 sinh thuỷ, đất 6 mà thành nước”.

 Hàng ngày sao Hoả: Giờ thứ 2 (giờ Sửu) và giờ thứ 7 (giờ Ngọ) xuất hiện ở phương nam.
- Hàng tháng ngày 2, 7 (tức là mồng 2, mồng 7, 12, 17, …) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Hoả ở phương Nam.
- Hàng năm tháng 2, tháng 7, lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.
Cho nên nói: “Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi” (đất hai sinh hoả, trời bảy thành lửa).

Hằng ngày sao Mộc: Giờ thứ ba (giờ Dần) và giờ thứ 8 (giờ Mùi) xuất hiện ở phương Đông.
- Hàng tháng ngày 3, ngày 8 (mồng ba, mồng 8, mười ba, mười tám…) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.
- Hàng năm tháng 3, tháng 8, lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông.
Cho nên nói “Trời ba sinh mộc, đất tám thành gỗ”.

 Hằng ngày sao Kim
(* ): Giờ thứ 4 (giờ mão) và giờ thứ 9 (giờ thân) xuất hiện ở phương Tây, - Hằng tháng ngày 4, 9 (mồng 4, mồng 9…) mặt trời, mặt trăng gặp sao kim ở phương Tây.
- Hằng năm tháng 4, tháng 9, lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.
Cho nên nói “Đất 4 sinh Kim, trời 9 hoá thành vàng”.

 Hằng ngày sao Thổ: Giờ thứ 5 (giờ Thìn) và giờ thứ 10 (giờ Dậu) xuất hiện ở giữa.
- Hằng tháng, ngày 5, 10 (mồng 5, mồng 10…) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.
- Hằng năm tháng 5, tháng 10 lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.
Cho nên nói: “Trời 5 sinh thổ, đất 10 hoá thành đất”.

Qua đó, có thể thấy, Hà đồ không phải do con người tuỳ ý vẽ vạch. Vạch ra như vậy, là căn cứ vào tượng trời, năm sao lặn và mọc, đó cũng là nguồn gốc của ngũ hành: Thuỷ, Hoả, Thổ, Kim, Mộc. Vì hằng năm tháng 11 trước tiết Đông chí, sao Thuỷ thấy ở phương Bắc, đang lúc giao thời mùa đông, muôn vật ngủ đông (ở ẩn), trên mặt đất chỉ có băng tuyết và nước. Khái niệm hành “Thuỷ” hình thành là như vậy.
Tháng 7, sau tiết Hạ chí sao Hoả thấy ở phương Nam, đang lúc giao thời mùa hè, trên mặt đất khô nóng. Khái niệm hành “Hoả” ra đời là như vậy.
Tháng 3 Xuân phân, sao Mộc thấy ở phương Đông, đương lúc giữa thời mùa xuân, cây cỏ nảy mầm sinh trưởng. Khái niệm hành “Mộc” hình thành là như vậy.

Tháng 9 Thu phân, sao Kim thấy ở phương Tây, đời xưa lấy kim loại tôi luyện thành binh khí, cho nên lấy “Kim”biểu thị mùa thu khí trời sát phạt. Khái niệm hành “Kim” hình thành là như vậy.

Tháng năm sao Thổ thấy ở giữa trời, biểu thị lúc bấy giờ đất ẩm thấp, Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ đều lấy cái đó làm điểm giữa, sao Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ lặn mọc dẫn đến khi hậu bốn mùa biến đổi, đều là quan trắc từ mặt đất, khái niệm hành “Thổ” hình thành là như vậy.
Trên đây, chúng tôi đề cập kết cấu Hà đồ và Lạc thư theo thiên văn
.

 

* Chú thích: Xin lưu ý: Sao Kim trong thiên văn học hiện đại chính là sao Thủy, trong thiên văn cổ Đông phương; Sao Thủy trong thiên văn học hiện đại, chính là sao Kim trong thiên văn cổ Đông phương. Theo Ban Cố, "Tiền Hán thư".

Qua đoạn trích dẫn trên cho chúng ta thấy một cơ sở về thiên văn học cho nguồn gốc của Hà đồ, Lạc thư. Tư liệu này không thấy giáo sư tác giả cho biết đã trích dẫn hoặc sưu tầm từ đâu, mà chỉ nói một cách đơn giản: “Lạc thư cửu tinh đồ” (hình Lạc thư 9 sao) đời xưa truyền lại". Nhưng trên cơ sở những tài liệu tham khảo ở cuối sách, người viết cho rằng: Nguồn tư liệu này có thể có xuất xứ từ Nhật Bản.

Nhưng tư liệu này, dù xuất phát từ nguồn gốc như thế nào, cũng đã phủ nhận trên thực tế tất cả những bản văn chữ Hán cổ mô tả về nguồn gốc Hà đồ, Lạc thư từ thời Hán đến tận ngày hôm nay, khi người viết đang gõ những hàng chữ này.

 Bản vẽ “Lạc thư cửu tinh đồ” đã chứng tỏ rằng đây là một tư liệu tối cổ vì danh từ “Lạc thư” cho tên gọi của bản vẽ này. Chính bản đồ này với tên gọi Lạc thư chứng tỏ sự phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học là:

"Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được".

Những căn cứ từ sự phát hiện của giáo sư Lê Văn Quán thể hiện những yếu tố căn bản sau đây:
* Hình mà chúng ta quen gọi là Lạc
thư trong sách cổ chữ Hán chính là hình biểu tượng qui ước của Lạc thư cửu tinh đồ. Và chính “Lạc Thư cửu tinh đồ” với nội dung của nó phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ, vốn được coi là trên lưng rùa thần của sông Lạc, của đồ hình mà chúng ta vẫn quen gọi là Lạc thư.

 

 

 

148_zps55d4dc74.jpg1432167175_zpsb9d92b27.jpg

 

So sánh Lạc Thư cửu tinh đồ và Lạc thư trên lưng rùa từ cổ thư chữ Hán.

 

Đồng thời cũng chính bản đồ thiên văn với tên gọi “Lạc thư cửu tinh đồ” đã cho thấy xuất xứ Lạc Việt của nó. Bởi chính tên Lạc Thư trong tên gọi của bản đồ Cửu tinh này, không còn có thể giải thích là đồ hình từ trên lưng rùa hiện ra ở sông Lạc Thuỷ. Sự giải thích hợp lý hơn cả là sách của người Lạc Việt. Với sự giải thích này có tính nhất quán và hoàn chỉnh với khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan. Đây cũng chính là tiêu chí khoa học để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng, có xuất xứ từ nền văn minh hiện đại.

* Cũng từ tư liệu trích dẫn ở trên cho thấy: Hà đồ, chính là mô hình biểu kiến cho sự vận động có tính qui luật của Ngũ tinh trên bầu trời. Nội dung này đã phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của đồ hình mà chúng ta vẫn quen gọi là Hà đồ. Khi hàng ngàn năm qua các bản văn chữ Hán cho rằng xuất xứ từ trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà.
Để kiểm chứng tính chính xác của tư liệu đã trích dẫn, chúng ta chỉ cần chịu khó nhìn lên bầu trời, lặp lại hiện tượng mà tổ tiên người Việt đã làm và bị thất truyền theo lịch sử thăng trầm của người Lạc Việt:
“Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn”, thì chúng ta sẽ thấy ngay tính hiện thực của nội dung: “Hà xuất đồ”.

 Từ nay, câu "Hà xuất đồ" sẽ được hiểu rằng: Những phương vị và sự vận động của các vì sao trên Thiên hà của chúng ta (Ngân Hà) mang tính qui luật của sự tương tác trong vũ trụ và được ghi nhận trong sách của nền văn hiến Lạc Việt: “Lạc xuất thư”. Điều này chứng tỏ tính hướng dẫn của chòm sao Tiểu Hùng tinh trên tranh thờ Ngũ Hổ của người Lạc Việt, mà chúng tôi sẽ trình bày ngay sau đây.

Cho đến năm 2005,  chúng tôi được biết đến trình thiên văn Skymap pro . Chúng tôi đã sử dụng trình thiên văn này để kiểm chứng qui luật vận động của Ngũ tinh, được mô tả trong tư liệu của giáo sư Lê Văn Quán và xác định đó chính là nội dung của Hà đồ và phủ định xuất xứ của Hà đồ từ các bản văn chữ Hán từ hàng ngàn năm qua.

Như vậy, Hà đồ là một mô hình biểu kiến mô tả sự vận động và tương tác có tính quy luật của ngũ tinh được phân loại Kim, Thủy, Mộc, Hỏa theo thuyết Âm Dương Ngũ hành của Thái Dương hệ, trong sự liên quan với mặt Trời (Dương), mặt Trăng (Âm) đến Địa cầu. Hoàn toàn không phải như những bản văn chữ Hán mô tả từ hàng ngàn năm nay mang tính mặc định:

Do vua Phục Hy đi tuần ở sông Hoàng Hà, thấy con Long Mã hiện lên. Nhà vua căn cứ vào những vết xoáy trên lưng Long Mã làm ra Hà đồ.

Vấn đề còn lại là đồ hình Lạc thư, hay Hà đồ, có xuất xứ từ nền văn minh Lạc Việt và là một thực tại quan sát được sẽ tích hợp với Tiên thiên hay Hậu thiên bát quái?

Trong những sách đã xuất bản, như "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt", "Tìm về cội nguồn kinh Dịch", chúng tôi đã xác định rằng: "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt"  là nguyên lý căn để cho toàn bộ những giá trị của phương pháp ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Và cũng từ nguyên lý căn để này, là cơ sở để xác định:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành, thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ nguyên lý khởi nguyên, cho tới các phương pháp ứng dụng liên quan đến mọi vấn đề cuộc sống, xã hội và từng hành vi của con người, như: dự báo (gồm nhiều phương pháp dự báo, là: Tử vi, Thái ất, bốc Dịch, Tứ trụ, Lạc Việt độn toán... cho mọi hiện tượng từ thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và từng hành vi của con người); Đông Y (Sức khỏe, phòng, chữa bệnh); Phong thủy (Kiến trúc, xây dựng)...

Cũng trên cơ sở nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", những mệnh đề căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng được xác định, đã chứng tỏ tính hợp lý trong toàn bộ nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành , nhân danh nền văn hiến Việt, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh , tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri. Hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực thẩm định là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Nhưng cần phải khẳng định rằng: Những giá trị minh triết Việt, tồn tại trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, có chức năng như những chiếc chìa khóa mở những cánh cửa của kho tàng bí ẩn thuộc về nền văn minh Đông phương huyền vĩ, liên quan đến một nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương với khả năng phục hồi một cách có hệ thống thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây cũng là chủ đề chính của tiểu luận này và chúng tôi tiếp tục chứng minh qua những phần tiếp theo đây.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG II

TRANH THỜ NGŨ HỔ & HÀ ĐỒ

NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG ỨNG DỤNG

TỪ VĂN MINH LẠC VIỆT

 

II.1. LẠC THƯ PHỐI HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG - NGUYÊN LÝ  CĂN ĐỂ TRONG CÁC PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG TỪ CỔ THƯ CHỮ HÁN VÀ MÂU THUẪN TRONG NỘI HÀM CẤU TRÚC.

 

Trong chương 1 của Phần II.II, chúng tôi đã xác định rằng: Nguyên lý căn để trong mọi phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán là "Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương"  và nó hoàn toàn mâu thuẫn ngay trong nội hàm của mô hinh này. Đồng thời, nó cũng rất mâu thuẫn với các vấn đề liên quan trong toàn bộ sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành.  Điều này chúng tôi đã chứng minh rất kỹ trong tiểu luận "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" (Nxb Tổng hợp T/p HCM 2006), được mô tả ở các phần trên trong tiểu luận này.

Ở đây chúng tôi xin tóm lược như sau:

 

1.1. MÂU THUẪN TRONG LỊCH SỬ XUẤT HIỆN.

* Lạc thư hoàn toàn mang tính mặc định khi nó xác định trong các bản văn cổ chữ Hán về xuất xứ từ con rùa thần trên sông Lạc Thủy.

*"Hậu thiên Văn Vương" theo các bản văn cổ chữ Hán được phỏng theo Lạc thư (vốn mang tính mặc định) và bản thân nó cũng hoàn toàn mang tính mặc định, khi được coi là của Chu Văn Vương nghĩ ra trong ngục Dữu Lý, mà không hề có  mối liên hệ hợp lý giữa "Hậu thiên Văn Vương" với "Thiên thiên Phục Hy" từ 3000 năm trước.

Sự xuất hiện cùa Hà đồ, Lạc thư, Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái trong cổ thư chữ Hán, không có xuất xứ từ một hệ thống lý thuyết, hay một nền tảng tri thức nào vào thời cổ đại của nền văn minh Hán, làm cơ sở để tạo dựng nên đồ hình này với tư cách là mô hình biểu kiến có tính nguyên lý căn để trong phương pháp ứng dụng của một học thuyết. Cho nên nó phải giải thích nguyên nhân từ con Long mã với con rùa thần, và được coi là một thành tựu bí ẩn từ hàng ngàn năm qua trong lịch sử văn minh Hán.

Chính vì vậy, sự tích hợp giữa Tiên thiên Bát quái với Hà đồ và Hậu thiên Bát quái Văn Vương với Lạc thư, đã tạo ra những mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc. Điều này khiến cho các nhà nghiên cứu hiện đại đã xác định: không có cơ sở nào để tích hợp những đồ hình này, mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Chúng tôi trình bày rõ hơn với hình minh họa trong phần tiếp theo như sau:

 

1.2. MÂU THUẪN TRONG NỘI HÀM CẦU TRÚC.

* Mâu thuẫn lớn nhất cũng chính là lịch sử xuất xứ từ trên lưng con rùa thần.

* Cấu trúc Lạc thư mang tính chất của Ngũ hành tương khắc theo chiều ngược kim đồng hồ. Bắt đầu từ hành Thủy (Màu Xanh dương. Độ số 1 - 6.) khắc Hỏa (Màu đỏ. Độ số 2 - 7); Hỏa khắc Kim (Màu trắng. Độ số 4 - 9); Kim khắc Mộc (Màu xanh lá cây. Độ số 3 - 8). Mộc khắc Thổ (Trung tâm, màu vàng. Độ số 5)

Bạn đọc xem hình dưới đây:

390_zps97e37c12.jpg

Nhưng ngược lại, cái gọi là đồ hình "Hậu thiên Văn Vương" lại là chiều tương sinh của Ngũ hành thuận theo chiều kim đồng hồ, tính trên bốn quái chính tại bốn phương vị Đông, Tây, Nam, Bắc, là: Đoài Kim (Màu trắng) phương Tây, sinh Khảm Thủy (Màu xanh Dương) phương Bắc, sinh Chấn Mộc (Xanh lá cây) phương Đông, sinh Ly Hỏa (Màu đỏ) phương Nam.

Xin xem hình dưới đây:

157267274_zps7c1a6e97.jpg

 

 

 

Trong khi đó, mô hình biểu kiến Lạc thư lại thể hiện nội dung Ngũ hành tương khắc, như chúng tôi đã trình bày ở trên. Do đó, sự phối hợp Ngũ hành tương khắc trong mô hình Lạc thư, không thể tích hợp được với mô hình ký hiệu Hậu thiên Bát quái được coi là của Văn Vương có nội hàm Ngũ hành tương sinh, mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tất nhiên, chúng tạo ra sự mâu thuẫn ngay trong nội hàm của mô hinh biểu kiến này.

Một mệnh đề ứng dụng phổ biến trong thuyết Âm Dương Ngũ hành xác định rằng:

Độ số Hỏa là 2 - 7; độ số Kim là 4 - 9 và Đoài thuộc Kim, Ly thuộc Hỏa (Được xác định ngay trong bản văn kinh Dịch). Nhưng bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy rằng: Trong đồ hình dưới đây thì Đoài Kim, độ số 9 lại ở vị trí của hành Hỏa trên Lạc Thư với độ số 7 và Ly Hỏa độ số 7 lại ở vị trí  Kim trên Lạc thư với độ số 9!?

Bạn đọc xem lại mô hình Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương dưới đây - Qua sự hiển thị màu của Ngũ hành sẽ nhận ra ngay sự mâu thuẫn trong sự phối hợp hai đồ hình này. Đây cũng chính là nguyên nhân để các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng Hà đồ, Lạc thư không phải cơ sở của bát quái Tiên thiên và Hậu thiên, mà chúng tôi đã trích dẫn ở trên.

 

158198201258_zpsd7088b67.jpg

 

 

1.3. HỆ QUẢ BẾ TẮC VÀ MÂU THUẪN TRONG TƯƠNG QUAN CÁC MỆNH ĐỀ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TỪ CỔ THƯ CHỮ HÁN.

 Đương nhiên với những mâu thuẫn bất hợp lý ngay từ cội nguồn xuất xứ và cả cấu trúc nội tại của nguyên lý căn để là "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư", theo cổ thư chữ Hán thì tất yếu nó mâu thuẫn với những mối liên hệ tương quan với những mệnh đề căn bản của toàn bộ học thuyết.

Chính vì những mâu thuẫn, sai lệch ngay từ nguyên lý căn để, nên không có cơ sở nào cho sự phối hợp giữa Hà đồ, Lạc thư với bát quái, mà chúng tôi đã dẫn chứng từ ngay nhận xét của các nhà nghiên cứu hiện đại ở phần trên.

Cũng từ sự sai lầm khi mặc định bản chất cội nguồn của một trí thức nền tảng của một nền văn minh và lịch sử thực sự của nó thuộc về văn minh Hán, nên việc khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương  đã bế tắc từ hàng ngàn năm nay. Sự bế tắc này, không chỉ giới hạn trong những nhà nghiên cứu hiện đại Việt Trung, mà là cả các nhà nghiên cứu trên thế giới, khi hai nền văn minh Đông Tây hội nhập, trong việc tìm bản chất nền tảng trí thức của văn minh Đông phương cổ đại.

Người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai.

Vậy nguyên lý căn để đích thực của tất cả những phương pháp ứng dụng thuộc thuyết Âm Dương Ngũ hành trong nền văn minh Đông phương là gì?

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites