Thiên Sứ

Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương

119 bài viết trong chủ đề này

II.2. HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

QUA DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT.

 

Từ những mâu thuẫn trong cổ thư chữ Hán, mô tả nội hàm cấu trúc tích hợp giữa Bát quái và Hà đồ, Lạc thư, nên như phần trên, chúng tôi đã đặt vấn đề là:

"Đồ hình Lạc thư, hay Hà đồ - có xuất xứ từ nền văn minh Lạc Việt và là một thực tại quan sát được  sẽ tích hợp với Tiên thiên hay Hậu thiên bát quái?".

Những vấn đề này cũng chỉ có thể xác định được từ những di sản văn hóa truyền thống Việt.

 

2.1. HÀ ĐỒ - MÔ HÌNH BIỂU KIẾN MÔ TẢ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA NGŨ TINH TRONG THÁI DƯƠNG HỆ - LÀ NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CHO MỌI PHƯƠNG PHÁP ỨNG DUNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

Một trong những di sản văn hóa phi vật thể truyền thống của Việt tộc, mang màu sắc tâm linh huyền bí, chính là những bức tranh thờ Ngũ hổ của phường tranh Hàng Trống và của làng tranh nổi tiếng Đông Hồ. Theo truyền thống, đây là loại tranh thờ, mang tính linh thiêng, nên không được bày bán đại trà như những tranh dân gian khác, mà chỉ khi có người đặt, nghệ nhân mới thực hiện.

Bạn đọc lần lượt xem các tranh thờ Ngũ hổ dưới đây:

 

160_zpse73a560c.gif

Tranh Ngũ hổ làng Đông Hồ

 

160166_zps97423427.jpg

Tranh thờ Ngũ hổ phường hàng Trống

Những bức tranh dân gian được trình bày ở trên chắc không xa lạ với các bậc huynh trưởng. Đó là bức

 

tranh thể hiện tín ngưỡng của người Lạc Việt về một sức mạnh thiên nhiên huyền bí.

 

Những gia đình có thờ “Ông Ba mươi” thường đặt bức tranh này dưới tranh tượng thờ thần thánh hoặc thờ Phật. Bản thân trong nhà người viết, trước đây cũng có một am hai tầng: tầng trên thờ Phật, tầng dưới thờ Ngũ hổ. Vào những ngày rằm, mùng một hoặc lễ chạp, ngoài hương hoa, oản chuối, các cụ còn cúng một miếng thịt heo sống trên ban thờ “Ông Ba mươi” một cách rất tôn kính. Hồi còn nhỏ, người viết đã bị bậc sinh thành rầy la, chỉ vì trước ban thờ các ngài, dám phạm húy gọi ngài là “con hổ”.

Trong tục thờ,  có gia đình thờ tranh Ngũ Hổ; có gia đình chỉ thờ một ông Hổ. Trong trường hợp này, tùy theo mạng vận của gia chủ thuộc hành nào trong Ngũ hành mà thờ “Ông Ba mươi” có màu sắc của hành đó, hoặc hành tương sinh với bản mệnh của gia chủ. Thí dụ: gia chủ mạng Hỏa, có thể thờ  Ông Ba mươi mầu đỏ,  hoặc xanh lá cây… Tất nhiên, tất cả những người thờ phượng Ngài đều tin rằng được một sức mạnh siêu  nhiên phù hộ cho gia trạch bình an, loại trừ tai nạn.

 

Đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: tục thờ này bắt nguồn từ  một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, thì hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người. Do đó, con người thờ hổ.

Có người giải thích từ “Ông Ba mươi” vì phát hiện ra ở một vùng miền núi ngày xưa có hổ hay làm hại người. Quan huyện sở tại treo giải ba mươi quan tiền cho ai giết được một con hổ. Vì vậy hổ được gọi là “Ông Ba mươi”. Từ những nhận định này, rõ ràng mâu thuẫn với thực tế hình tượng ngũ sắc của tranh thờ Ngũ hổ. Cho nên để giải thích màu sắc của các “Ông Ba mươi” theo quan niệm này, người ta cho rằng: Trong thiên nhiên hổ vàng đông hơn cả, nên được vẽ to và ở giữa tranh; hổ đen và hổ trắng là sự tả thực hai loại hổ hiếm vốn có trên thực tế do biến dị sắc tố; còn hổ đỏ và xanh lá cây thì được giải thích là vẽ cho đẹp và cân đối bức tranh (?)(*).

Với cách giải thích như trên sẽ không lý giải được một số vấn đề liên quan trực tiếp trong ngay nội dung bức tranh, chưa nói đến những vấn đề liên quan khác trong đời sống văn hóa còn lưu truyền trong dân gian.

 

Thực ra bức tranh thờ Ngũ hổ có xuất xứ từ một nền minh triết, mà nền tảng là học thuyết vũ trụ  quan cổ là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hổ là một biểu tượng được lựa chọn thể hiện cho sự vận động của Ngũ hành và sức mạnh thiên nhiên trên thực tế. Chính vì sự huyền vĩ của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nên nó đã được thần thánh hóa và trở thành một tín ngưỡng trong văn hóa truyền  thống. Bản thân tranh "Ông Ba mươi",  không ra đời  với mục đích giành cho  tục thờ Ngũ Hổ.

 

Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Ngũ hành là một khái niệm  phân loại, mô tả những đặc tính tổng hợp của những dạng tồn tại và sự vận động vật chất từ  sau giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Sự tương tác vận động được mô tả theo khái niệm Ngũ hành trong sự chi phối của Âm Dương, tạo nên sự hiện hữu của vũ trụ hiện nay. Mỗi hành có một màu đặc trưng: hành Hỏa màu đỏ; hành Thủy màu xanh dương; hành Thổ màu vàng; hành Kim màu trắng; hành Mộc màu xanh lá cây. Cũng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì hành Thổ là sự qui tàng của bốn hành kia trong chu kỳ vận động và phát triển của Ngũ hành. Đó là nguyên nhân để tạo màu trong tranh thờ Ngũ hổ và là nguyên nhân để hổ vàng thuộc hành Thổ đứng giữa và lớn hơn cả.

Nhưng hình tượng trong tranh thờ Ngũ hổ lưu tryền trong di sản văn hóa truyền thống Việt, không chỉ dừng tại đây, mà nó chính là sự thể hiện cho nội dung của hai đồ hình bí ẩn nhất trong văn hóa Đông phương cổ. Đó là đồ hình Lạc thư và Hà đồ, mô hình biểu kiến căn để  của nền Lý học Đông phương.

 

Nếu chúng ta chồng đồ hình cửu cung lên hai bức tranh Ngũ hổ của làng Đông Hồ và Hàng Trống thì chúng ta sẽ nhận thấy một sự trùng khớp như sau:

A/ Tranh Ngũ hổ làng Đông Hồ có chiều Ngũ hành tương khắc như trong đồ hình của Lạc thư.

 

163_zps620984b9.gif

Chiều Ngũ hành tương khắc ngược kim đồng hồ trong tranh Ngũ Hổ Đông hồ - tương đồng với Lạc Thư.

 

Trong tranh Ngũ hổ Đông Hồ thì Hổ vàng ở giữa, chân trước đặt lên hòm ấn có khắc sáu vạch. Nếu chúng ta lật ngược lại 90 độ thì đây chính là ký hiệu của quẻ Bát thuần Càn trong kinh Dịch. Quẻ Bát thuần Càn là biểu tượng của cực Dương.

 

163_zps1d81f061.jpg

 

Ý nghĩa ký hiệu này cho thấy những vấn đề sau đây:

1/  Lạc thư thuộc Dương (tổng độ số chấm trắng thuộc Dương trong Lạc thư là 25 trội hơn tổng độ số chấm đen trong Lạc thư là 20).

2/ Vì Lạc thư thuộc Dương qua ký hiệu quẻ Bát thuần Càn, cho nên phải có trước Hà đồ, theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau".

Điều này phủ nhận những bản văn cổ chữ Hán cho rằng Hà đồ có trước (đời Phục Hy khoảng 4000 năm BC), Lạc thư có sau (đời Đại Vũ khoảng 2200 năm BC).

3/ Qua ký hiệu quẻ Bát thuần Càn trong tranh Ngũ hổ Đông Hồ liên quan đến Lạc thư cho thấy:

 

* Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là nền tảng căn bản của Kinh Dịch.

 

* Ký hiệu Dịch là quẻ Bát thuần Càn, vốn là quẻ đầu tiên trong hệ thống 64 quẻ của hệ thống Hậu Thiên,  đặt trên hòm ấn đóng kín được bảo vệ bằng một sức mạnh siêu nhiên qua hình tượng Ngũ hổ cho thấy: những bí ẩn của kinh Dịch chỉ có thể tìm được trong sự vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính biểu tượng này cho thấy trong bản văn chữ Hán của Chu Dịch, lưu truyền hàng ngàn năm nay không nói đến Ngũ hành đã chứng tỏ sự sai lệch của nó.

4/ Những hình tượng như: Mặt trời,  năm  lá cờ ngũ  sắc và năm thanh kiếm có trong tranh Ngũ hổ Đông Hồ cũng như tranh Ngũ hổ Hàng Trống sẽ được giải mã chung ở phần sau.

B/ Tranh Ngũ hổ Hàng Trống có chiều Ngũ hành tương sinh như trong đồ hình của Hà đồ. Bạn đọc xem hình dưới đây:

 

165_zps776e1f93.gif
Chiều Ngũ hành tương sinh thuận theo chiều kim đồng hồ trong tranh Ngũ Hổ Hàng Trống - tương đồng với Hà đồ.

 

1/ Trong tranh Ngũ hổ Hàng Trống có chiều Ngũ hành tương sinh như trong cửu  cung Hà đồ. Trong tranh này thì Hổ vàng không chặn lên hòm ấn mà ôm lấy miếng phù ghi dòng chữ: “Pháp đại uy nỗ”. Dịch theo ngôn ngữ hiện đại có thể hiểu là: "qui luật chủ yếu bao trùm".

Điều này cho thấy chính Hà đồ là đồ hình căn bản trong sự vận động tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên Trái đất.

2/ Đặc biệt là bảy chấm tròn đầy bí ẩn trên đầu Hổ vàng trong tranh Ngũ hổ Hàng Trống. Đây chính là yếu tố quyết định để tìm về cội nguồn đích thực và bản chất của Hà đồ. Đó là ký hiệu của chòm sao Tiểu Hùng tinh và là chòm sao Thiên cực Bắc trên bầu trời hiện tại. Hay nói một cách khác đây là chòm sao định vị chuẩn cho việc quan sát sự vận động của vũ trụ nhìn từ Trái đất.

Đây cũng là điều mà những bản văn chữ Hán trên 2000 năm nay, chưa hề nói tới về nội dung của Hà đồ (**). Mặc dù nó được coi là phát minh của nền văn minh Hán qua vua Phục Hy đã 5000 năm cách ngày nay. Tính thể hiện quy luật chủ yếu bao trùm, qua quy luật vận động của ngũ tinh trong Thái Dương hệ là các sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Biểu tượng này lại trùng khớp với sự mô tả trong tư liệu đã trích dẫn của giáo sư Lê Văn Quán,mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên.

Bạn đọc xem hình sau đây:

 

169_zps8403e691.jpg

 

Như vậy, biểu tượng Hà đồ, Lạc thư đã được làm sáng tỏ và là nhưng mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mô tả quy luật vận động của vũ trụ ảnh hưởng tới Địa cầu và thực tại quan sát được từ trái Đất. Hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học đã xác định:

"Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải mô tả một thực tại có thể quan sát được".

Với tranh Ngũ hổ Đông Hồ thuộc Dương là cái có trước, đương nhiên Hà đồ phải là cái có sau thuộc Âm, theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau". Điều này phù hợp với độ số vòng tròn trắng thuộc Dương là 25 trong Lạc thư, nhiều hơn độ số vòng tròn đen thuộc Âm là 20. Tức tính Dương vượt trội.

Nhưng ở mô hình Hà đồ thì số vòng tròn đen là 30 và số vòng tròn trắng là 25, tức tính Âm vượt trội. Cho nên Hà đồ là cái có sau và Hậu thiên Bát quái cũng là cái có sau Tiên thiên Bát quái. Do đó, Hà đồ phải là mô hình tích hợp của Hậu Thiên bát quái. (*).

Xin xem lại và so sánh hai đồ hình này:

 

  image001_zpsb0761895.gif   1432167175_zpsb9d92b27.jpg

Mô hình Hà đồ điểm                        Mô hình Lạc thư điểm

Trên đồ hình Lạc thư, chấm tròn trắng, vốn được coi là ở trên đuôi con rùa, trong cổ thư chữ Hán, lại chính là sao Bắc cực và được mô tả qua chòm sao Tiểu Hùng tinh,là chòm sao định vị sao Bắc cực trong tranh Ngũ hổ Hàng Trống.

 

Từ những nội dung của hai tranh thờ Ngũ hổ đã trình bày ở trên, cùng với đồ hình Âm Dương Lạc Việt, cho thấy nguồn gốc của nó không thể bắt đầu từ khi có lịch sử làng tranh Đông Hồ và Hàng Trống, tức là chỉ khoảng vài trăm năm nay, để gọi là ảnh hưởng văn minh Hán. Mà phải xác định một cách hợp lý và phù hợp với mọi vấn đề liên quan đến nó là: Tranh thờ Ngũ hổ đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử văn hiến Lạc Việt. Bằng chứng thuyết phục nhất cho nhận xét này, chính là dấu ấn của chòm sao Tiểu Hùng tinh trên tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống,  phù hợp với một thực tại quan sát được, theo tiêu chí khoa học.

Dấu ấn này không chỉ có trong tranh Ngũ hổ Hàng Trống mà trong các tranh Hổ khác thuộc dòng tranh này cũng có. Dưới đây là hình một “Ông Ba Mươi” với hình tượng chòm sao Tiểu Hùng tinh.

 

168_zpsc8cc1d91.jpg

 

Mặc dù chỉ là những dấu chấm tùy tiện được nối với nhau bởi những đường thẳng, do tính thất truyền của nội dung đích thực của những dấu chấm này. Nhưng chúng vẫn đủ bảy chấm là số sao của chòm sao Tiểu Hùng tinh. Những gạch nối giữa các sao trong một chòm sao cũng là cách thể hiện những chòm sao trên bầu trời từ thởi cổ đại và của ngay nền văn minh hiện đại. Điều này, cần phải xác định rằng: không thể khiên cưỡng phủ nhận những chấm có trên tranh Ngũ hổ là một sự ngẫu nhiên do nghệ sĩ tùy hứng chấm vào. Bởi vì, đây là một hiện tượng phổ biến và lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Do đó, chứng tỏ những chấm này là biểu tượng được lựa chọn có ý thức của tác giả những bức tranh. Sự liên hệ với những vấn đề liên quan cho nội dung của Hà đồ, Lạc thư về sự vận hành các vì sao trong Thái Dương hệ và vị trí các sao  trong Thiên hà, đã chứng tỏ nó chính là biểu tượng của chòm sao Tiểu Hùng Tinh, chính là sự liên hệ và lý giải hợp lý, nhất quán và có tính hệ thống  với những vấn đề liên quan đến nó.

 Vấn đề không chỉ dừng tại đây. Chúng ta hãy xem những cái chấm trên lưng ông Khiết mà dân gian gọi là “con cóc Tàu”, được coi là thuộc về văn hóa dân gian Hoa Hạ. Những chấm này cũng hoàn toàn trùng khớp với bố cục chòm sao Tiểu Hùng tinh. Sự liên hệ này đã cho thấy: biểu tượng của chòm sao Tiểu Hùng tinh trên ông Khiết và trong tranh Ngũ hổ Việt Nam phải có cùng một cội nguồn văn hóa. Cũng không thể giải thích rằng nó bắt nguồn từ văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, nếu từ văn minh Hoa Hạ thì Hà đồ, Lạc thư đã không bắt đầu trên lưng Long mã trên sông Hoàng Hà và Rùa thần trên sông Lạc.

Xin bạn đọc xem hình dưới đây:

 

169_zps8403e691.jpg

 

Hình thể hiện chòm sao Tiểu Hùng tinh trên bầu trời hiện nay, so sánh với chòm sao trên bức tranh thờ Ngũ hổ và trên lưng Ông Khiết.

 

Việc sử dụng một cách nhất quán hình tượng chòm sao Tiểu Hùng tinh trong các di sản văn hóa dân gian ở khắp miền nam sông Dương tử và trong văn hóa Việt, cho thấy sự nhất quán về một giá trị văn hóa phi Hán đã tồn tại ở vùng này. Và điều này cũng chứng tỏ nó phải tồn tại từ rất lâu trong nền văn minh Văn Lang một thời bao trùm lên miền nam sông Dương Tử.

Ông Khiết biểu tượng của nền văn minh Khoa đẩu với tri kiến vũ trụ quan kỳ vĩ bị Hán hóa trở thành “con cóc Tàu”. Hiện tượng ngày nay ông Khiết được coi là sản phẩm của văn minh Hoa Hạ, cũng như sự phố biến của hình Âm Dương Lạc Việt trên khắp các vùng lãnh thổ liên quan, lại cho thấy: trung tâm văn minh Lạc Việt trước đây không phải ở miền Bắc Việt Nam.

Hiện tượng chòm sao Tiểu Hùng tinh trên tranh thờ Ngũ Hổ, cùng với sự hiệu chỉnh sự mô tả toàn câu trọng Hệ từ Thượng ở phần trên, còn cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một học thuyết vũ trụ quan mà nội hàm của nó mô tả vũ trụ, thiên nhiên cuộc sống và con người. Vì chòm sao Tiểu Hùng tinh chính là chòm sao Thiên cực Bắc để định hướng sự quan sát thiên văn từ Địa cầu.

Cùng với hình Âm Dương Lạc Việt trong Hội Quán Phúc Kiến ở Hội An - mà chúng tôi đã minh chứng ở trên - đã xác định một nền văn minh phi Hán ở Nam Dương tử.

C/ Cả hai tranh Ngũ hổ đều có những hình tượng sau:

Mặt trời đỏ, năm lá cờ ngũ sắc và năm thanh kiếm. Những hình tượng này lần lượt thể hiện những ý nghĩa sau đây:

 

1/ Mặt trời đỏ là biểu tượng của Thái cực và xuất xứ phương Nam (phương Nam màu đỏ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành) của nền văn hóa Đông phương. Hay nói một cách khác, chính nền văn minh Lạc Việt là cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành và những ký hiệu của Dịch học là một siêu công thức của học thuyết này.

 

2/  Hình ảnh của cờ lệnh và kiếm trong hai tranh Ngũ hổ thể hiện sức mạnh của tự nhiên trong qui luật vận động của Âm Dương Ngũ hành, chi phối sự vận động của vũ trụ và sự tương tác với Trái đất. Trong kinh Dịch, Thuyết quái truyện đã sử dụng từ “lệnh” khi nói đến sự vận động của bốn mùa. Đương nhiên muốn ra lệnh phải có quyền lực thể hiện bằng ấn kiếm và cờ tiết.

Tất cả những hình tượng trong hai tranh Ngũ hổ đã cho thấy xuất xứ từ rất lâu đời của hai tranh này. Từ đó cho chúng ta một cơ sở để kết luận rằng: Hà đồ, Lạc thư là một thực tế đã tồn tại từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương, cụ thể là trong nền văn minh Lạc Việt. Khi nước Văn Lang sụp đổ, nền văn minh Hoa Hạ đã tiếp thu một cách không hoàn chỉnh và rời rạc những mảnh vụn của nền văn minh này và đã đẩy tất cả di sản văn hóa đó vào một trạng thái huyền bí.

Kết quả của sự tiếp thu không hoàn chỉnh này là sự giải thích mơ hồ của nền văn minh Hán, qua hình ảnh "con Long Mã hiện lên trên sông Hoàng Hà, vua Phục Hy làm ra Hà Đồ", "con Thần Quy hiện lên trên sông Lạc Thủy, vua Đại Vũ làm ra Lạc Thư". Trong khi đó, từ những giá trị minh triết Việt đã cho thấy Hà đồ, Lạc thư thực chất là mô hình biểu kiến mô tả những thực tại, sự vận động và quy luật tương tác căn bản trong Thái Dương hệ với Địa cầu.

  Người viết cần xác định rằng:

Chính hình tượng thể hiện trong nội dung của các bức tranh thờ Ngũ Hổ, lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt Nam, đã hướng dẫn chúng tôi định hướng một giả thuyết:

"Hà đồ là đồ hình biểu kiến, mô tả một quy luật vũ trụ tương tác với trái Đất này và là nguyên lý căn để của nền Lý học Đông phương".

Sự xác định Hà đồ là nguyên lý căn để của tất cả các phương pháp ứng dụng thuộc Lý học Đông phương, mới chỉ là một thành tố trong mô hình biểu kiến tích hợp giữa Hà đồ và ký hiệu Hậu thiên Bát quái.

Chưa hết, ngay trong bản văn cổ nhất mô tả kinh Dịch vốn được coi là của Khổng tử trước tác vào thế kỷ V BC, cũng xác định gián tiếp Hà đồ, Lạc thư do quan sát thiên văn dưới danh tử mô tả "trời" ("Thiên"). Bạn đọc xem lại đoạn trích dẫn sau đây:

Hệ từ Thương, chương thứ XI đã viết:

"Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tác chi, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi, thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi.Hà xuất đồ,Lạc xuất thư thánh nhân tác chi" (Cho nên trời sinh thần vật, thánh nhân áp dụng theo. Trời đất biến hóa, thánh nhân bắt chước. Trời bày ra hình tượng, hiện ra sự tốt xấu, thánh nhân phỏng ra ý tượng. Bức đồ hiện ra ở sông Hoàng Hà, hình chữ hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo).

 

Nhưng, những nhà nghiên cứu Hán Nho, bắt đầu từ Khổng An Quốc, thời Tây Hán,  thế kỷ II BC. cho đến tận ngày hôm nay với các nhà nghiên cứu hiện đại, đã giải thích "trời" như một thế lực siêu nhiên. Và Hà đồ, Lạc thư có xuất xứ từ con Long Mã và con rùa thần, như chúng tôi đã trình bày.

Cũng ngay trong Hệ từ Thượng đã xác định gián tiếp Hà đồ chính là đồ hình biểu kiến và là nguyên lý căn để của Lý học Đông phương. Bạn đọc xem lại đoạn trích dẫn dưới đây:

Hệ từ Thượng, chương IX viết:

"Thiên nhất, địa nhị; thiên tam, địa tứ;  thiên ngũ, địa lục; thiên thất , địa bát; thiên cửu, địa thập. Thiên số Ngũ, địa số ngũ. ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chỉ số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hóa, nhi hành quỷ thần dã"

(Trời số 1, đất số 2; trời số 3, đất số 4; trời số 5, đất số 6; trời số 7, đất số 8; trời số 10. Trời có 5 số (1, 3, 5, 7, 9, những số lẻ; đất có 5 số (2, 4, 6, 8, 10, những số chẵn). Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1+ 3 + 5 + 7 + 9); đất có 30 (2 + 4 + 6 + 8 + 10). Tổng số trời đất có 55 (25 + 30). Do đó mà thành ra biến hóa và hành động như quỷ thần.

 

Bạn đọc cũng nhận thấy con số 30 vòng tròn đen (Được mô tả là "địa"/ đất, "Âm") và 25 vòng tròn trắng (Được mô tả là ""thiên"/ "trời" , Dương), chính là số của Hà đồ. Xin xem lại hình dưới đây:

 

image001_zpsb0761895.gif

Hà đồ điểm với 55 vòng tròn, trong đó có 30 vòng tròn đen và 25 vòng tròn trắng.

 

Do đó, từ cội nguồn của nền văn minh Đông phương, qua những giá trị minh triết từ những di sản văn hóa Việt đã xác định: Hà đồ chính là nguyên lý căn để của Lý học Đông phương. Và cũng chính từ bản văn cổ nhất của kinh Dịch cũng gián tiếp thừa nhận điều này. Một lần nữa, ngay từ trong bản văn cổ chữ Hán của kinh Dịch, cụ thể là của "Hệ từ Thượng, chương XI"  là bằng chứng hóa thạch cho thấy:

Hà đồ mô hình biểu kiến mô tả quy luật vận động tương tác của những hành tinh trong Thái Dương hệ (Đã trích dẫn của giáo sư Lê Văn Sửu), mới đích thực là nguyên lý căn để trong tất cả các mô hình biểu kiến trong các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương.

Kể từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử, những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương đã trở nền huyền bí và nền văn minh Hán với kiến thức từ hơn hai ngàn năm trước, đã tiếp thu một cách sai lệch, không hoàn chỉnh những giá trị đích thực của nó.

Do đó, vấn đề còn lại tiếp theo chính là vế thứ hai trong nội dung của nguyên lý căn để này. Đó là "Hậu thiên Bát quái Lạc Việt", ký hiệu siêu công thức toán học của thuyết Âm Dương Ngũ hành  phối "Hà đồ". Và vấn đề này, cũng được định hướng từ những giá trị của nền minh triết trong di sản văn hóa truyền thống Việt .

=================

*Chú thích: Hiện nay, do sự tam sao thất bản, nên rất hiếm tìm thấy một bức tranh có chiều Ngũ hành tương khắc trong tranh Ngũ hổ Đông Hồ, hoặc Hàng Trống. Nhưng người viết vẫn khẳng định: tranh Ngũ hổ Đông Hồ nào không phản ánh chiều Ngũ hành tương khắc là sự sai lệch so với nội dung nguyên thủy. Sự khẳng định này được trình bày bởi một lập luận và nhận xét như sau: Đồ hình Lạc thư và Hà đồ cửu cung  thực tế chỉ khác nhau ở hai vị trí hành Hỏa (đỏ) và Kim (trắng). Do đó, trải hàng thiên niên kỷ thăng trầm của lịch sử, chỉ cần sự sai lệch vị trí của hai hành này hoặc hai hành tương sinh của nó là Mộc (xanh), Thủy (đen) sẽ tạo ra chiều tương sinh trong tranh Đông Hồ. Nhưng sự thay đổi đó chỉ tạo ra một chiều Ngũ hành tương sinh ngược chiều kim đồng hồ. Đây chính là yếu tố chứng tỏ sự sai biệt do thất truyền.

* * Bạn đọc có thể tham khảo những nhận định về tranh thờ Ngũ Hổ của những nhà nghiên cứu trong cuốn Amanach năm Mậu Dần - 1998 (Nxb Phụ Nữ).

 

1_zps81cee4f4.jpg

Hình minh họa trang trí: Thiên Sứ

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm
Tiểu luận "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" đã xác định nội dụng của nó ngay trong tựa đề: mô tả tính minh triết trong di sản văn hóa Việt, liên quan đến những giá trị tri thức nền tảng của nền văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái, được mô tả trong kinh Dịch. Cuốn  "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" đã chứng tỏ được nội dung sự liên hệ này. Và nó xác định rằng: Chỉ có nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương mới có đủ tư cách phục hồi một cách hoàn chỉnh nền văn minh Đông phương huyền bí, qua mối liên hệ giữa những di sản văn hóa truyền thống với những giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái.
Tuy nhiên, không ít những học giả đã cho rằng tác giả của cuốn sách đã dựa vào truyền thuyết và việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống để chứng minh nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương là mơ hồ và không thuyết phục. Bởi vậy, ngay trong bài đầu tiên giới thiệu cuốn sách này trên diễn đàn, tôi đã đặt vấn đề:

 

Trong sự thể hiện nội dung của cuốn sách trên diễn đàn, tôi sẽ làm rõ hơn phương pháp chứng minh của tôi.

 

Trước khi trình bày phương pháp chứng minh của tôi, tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ khoa học Hoa Kỳ Nguyên Đông, đã xem rất kỹ cuốn sách của tôi nhiều lần, mới hạ bút viết lời giới thiệu với nhũng nhận xét tốt đẹp. Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đối với giáo sư vật lý lý thuyết tên tuổi của Việt Nam là Đào Vọng Đức đã quan tâm viết lời giới thiệu và cả bình luận trên báo Tia Sáng về cuốn sách này. Giáo sư Đào Vọng Đức cũng là người duy nhất lên tiếng bày tỏ niềm tin vào sự xác định của tôi về thời tiết Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Cổ thư viết, đại ý: "Kẻ sĩ phải biết ơn người tri kỷ". Tất nhiên tôi không thể phụ lòng những bậc trí giả đích thực như giáo sư Đào Vọng Đức và nhà khoa học Nguyên Đồng. Do đó, tôi cần phải nói rõ hơn những vấn đề liên quan trong nội dung cuốn sách và phương pháp chứng minh của tôi trong bài viết này, để quý vị và anh chị em quan tâm thấy rõ rằng tôi hoàn toàn không mơ hồ.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Trong cuốn sách này, nếu tôi nhớ không nhầm thì ít nhất là hai lần tôi xác định rằng:

"Tôi không bao giờ coi việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt là luận cứ khoa học chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn văn minh Đông phương".

 

 

Còn ở trên diễn đàn thì sự xác định này của tôi không dưới vài chục lần. Trên diễn đàn, tôi còn nhiều lần nói rõ - Đại ý - rằng: "Tôi biết rất rõ hiện nay, tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại chưa có tiêu chí xác định một sự giải mã như thế nào là đúng. Cho nên tôi không coi sự giải mã những di sản văn hóa truyền thống là luận cứ khoa học chứng minh cho Việt sử".

Trong tọa đàm khoa học do báo Tia Sáng tổ chức, tôi cũng công khai xác định rằng: "Việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt để dẫn tới một định hướng nghiên cứu chỉ dành cho cá nhân tôi". Tức là nó hoàn toàn chủ quan.

Tôi mô tả sự giải mã của cá nhân tôi trong nội dung cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" là để chia sẻ cái cảm nhận chủ quan đó của riêng tôi với bạn đọc. Và tôi hy vọng rằng sự chia sẻ này của tôi sẽ có ai đó cảm nhận được , để rồi tiếp tục sự hoàn chỉnh những giá trị của nền văn minh Đông phương, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt.

Nhưng vấn đề chứng minh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử và là cội nguồn của nền văn minh Đông phương hoàn toàn là một phương pháp khác, và tôi cũng chia sẻ với quý vị và anh chị em trong bài viết này.

 

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Trong hệ thống luận cứ của tôi chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến luôn có hai phần. Đó là:

1/ Phần giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt.

Trong phần này, sự giải mã hoàn toàn mang tính chủ quan và cá nhân tôi cũng không bao giờ coi đó là luận cứ để chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Và tôi cũng nhắc nhở điều này không dưới hai lần trong cuốn sách của tôi. Phần giải mã này chỉ nhằm mục đích chỉ ra mối liên hệ giữa nền văn hóa truyền thống Việt với nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương thể hiện trong di sản văn hóa truyền thống Việt.

2/ Sự xác định Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn Khôn) và liên hệ với Hà Đồ - được tôi xác định là nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Nền văn minh hán coi nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành là "Hậu thiên Văn Vương phối hợp với Lạc Thư". Đấy mới chính là luận cứ quan trọng của tôi nhân danh khoa học chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương. Chuẩn mực để thẩm định tính khoa học của luận cứ quan trọng này, chính là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tôi cũng xin lặp lại tiêu chí khoa học đó ở đây:

 

"Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri".

 

Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, tôi đã xác định tính bất hợp lý của nguyên lý "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư". Và không phải chỉ có mình tôi - đã chứng minh cụ thể tính bất hợp lý trong nội hàm của nguyên lý này - mà tất cả những nhà nghiên cứu Việt Hán đều thừa nhận tính bất hợp lý đó (Đã dẫn chứng trong sách). Cũng từ chuẩn mực là tiêu chí khoa học - căn cứ vào sự hướng dẫn của di sản văn hóa truyền thống Việt được tôi giải mã - tôi đã xác lập một giả thuyết là "Hậu Thiên Lạc Việt (đổi chỗ Tốn khôn/ so với Hậu Thiên Văn Vương) phối hợp với Hà Đồ", là nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Giả thuyết này thỏa mãn tất cả những yếu tố cần trong tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày.

Nhưng cũng căn cứ theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học thì nguyên lý "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" phải tiếp tục giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Do đó, để chứng tỏ sự phù hợp hoàn toàn với chuẩn mực tiêu chỉ khoa học, tôi đã liên hệ với tất cả các bộ môn ứng dụng, chuyên ngành - hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - là: Phong thủy, Tử Vi, Dịch học.....thì nguyên lý "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" đã chứng tỏ sự thỏa mãn hoàn toàn với chuẩn mực đối chiếu của nó, đã xác định đó là một giả thuyết nhân danh khoa học hoàn toàn đúng. Tức là nó đã tập hợp và hệ thống hóa toàn bộ ngành Phong thủy Đông phương với danh xưng Phong Thủy Lạc Việt, hiệu chỉnh Lục thập hoa giáp hoàn toàn bí ẩn trong sách Hán thành Lạc Thư Hoa giáp, từ đó hiệu chỉnh Tử Vi Lạc Việt...vv....

Đấy mới chính là hệ thống luận cứ khoa học của tôi để chứng minh cội nguồn văn minh Đông phương thuộc về Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, trên cơ sở chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Tôi chưa bao giờ coi việc liên hệ những đồ hình Âm Dương Lạc Việt có ở khắp nơi trên thế giới là cơ sở để chứng minh cội nguồn văn minh Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Vâng! Chưa có một dòng chữ nào xác định điều đó. Việc liên hệ đồ hình Âm Dương Lạc Việt ở khắp nơi trên thế giới, tôi muốn trình bày một luận điểm nhằm xác định với độc giả rằng:

Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một hệ quả của tư duy trừu tượng, tất nhiên nó là kết quả của một sự nhận thức vũ trụ - liên hệ với nhận thức mới nhất của khoa học hiện đại, cũng dùng một mô hình biểu kiến tương tự như đồ hình Âm Dương Lạc Việt để mô tả sự vận động từ khởi nguyên của giải Ngân Hà (Đã dẫn chứng) -  nhằm xác định một nền văn minh phi Hán có liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chứ không phải để xác định nền văn minh Việt là chủ nhân của một học thuyết qua đồ hình Âm Dương Lạc Việt. Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là mô hình biểu kiến, mang tính biểu tượng của một học thuyết. Nó không phải nội dung của một học thuyết - mong rằng quý vị học giả không nhầm lẫn khi phản biện như vậy.

Bởi vậy, tôi viết bài này để xác định với quý vị và anh chị em quan tâm rằng: Chuẩn mực nhân danh khoa học của tôi là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học để thẩm định tất cả những giả thuyết và những luận cứ trong hệ thống phương pháp luận của tôi. Căn bản của những luận cứ nhân danh khoa học này là "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và mối liên hệ hợp lý của nó trong tất cả các vấn đề liên quan trong Phong thủy, Tử Vi, Dịch học....vv......liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng căn bản của văn minh Đông phương.

 Một tiêu chí khoa học đã xác định rằng:

"Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học bị coi là sai, nếu như người ta có thể chỉ ra một mắt xích mâu thuẫn với toàn thể hệ thống đó, mà nó không thể biện minh được".

 

 

Do đó, nếu như quý vị học giả nào quan tâm và có nhã ý phản biện để làm sáng tỏ vấn đề thì xin hãy chỉ ra một mắt xích sai trong hệ thống luận cứ này. Còn nói rằng việc tôi sử dụng những di sản văn hóa truyền thống Việt để giải mã là mơ hồ, thì tôi đành nhắc lại lần thứ tư khi mô tả lại nội dung sách này ở đây là:

"Tôi không bao giờ coi việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt là luận cứ khoa học chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn văn minh Đông phương".

 

 

Tôi đã xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước. Vấn đề đã được đặt ra ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Tất cả các vị học giả quan tâm trong và ngoài nước có thể phản biện điều này.

Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh chị em.

==================

PS: Qua sự phản biện hời hợt của một số học giả, mới thấy tinh thần khoa học thật sự của nhà khoa học Nguyên Đồng khi xem đi xem lại cuốn sách của tôi vài lần, mới hạ bút viết lời bình luận. Bởi vậy tôi rất cảm ơn vì sự quan tâm khoa học của ông.

Xin lưu ý:

Bài này không có trong nội dung cuốn sách.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

I. TRUYỀN THUYẾT "CON RỒNG CHÁU TIÊN" VÀ LẠC THƯ HÀ ĐỒ.

Những hình tượng di sản văn hóa truyền thống Việt mô tả nội hàm nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, không chỉ có riêng ở các tranh thờ Ngũ hổ. Mà ngay trong huyền thoại mở đầu cho cội nguyền Việt sử từ gần 5000 trước cũng đã mô tả điều này. Đó chính là truyền thuyết "Con Rồng, cháu Tiên"; hay còn gọi là"Truyền thuyết trăm trứng, nở trăm con".

Đây là một truyền thuyết độc đáo của Việt tộc, mô tả thời kỳ lập quốc qua một nội dung đầy huyền thoại. Nhưng chính truyền thuyết này lại hàm chứa sự tích hợp nhiều nội dung rất độc đáo và bí ẩn. Một trong những nội dung quan trọng ẩn chứa chính là mô tả Lạc thư, Hà đồ và mối liên hệ tương quan giữa các nguyên lý, mệnh đề căn bản thuộc thuyết Âm Dương Ngũ hành, liên quan đến nội dung của tiểu luận này.

Truyền thuyết "Con rồng, cháu Tiên" được hầu hết người Việt thuộc lòng, nên chúng tôi xin được trình bày tóm tắt như sau:

Kinh Dương Vương đi tuần ở Động Đình Hồ, gặp bà Vụ Tiên sinh Lạc Long quân, Tổ phụ Lạc Long Quân thuộc giống Rồng lấy Tổ mẫu Âu Cơ thuộc giống Tiên, sanh được một bọc chứa 100 trứng, nở thành 100 người con trai. Tổ phụ đưa 50 người con xuống biển. Tổ mẫu đưa 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang và người con cả lên ngôi vua là Hùng Vương thứ nhất. Nước Văn Lang chia làm 15 bộ…..

Đây là hình ảnh biểu tượng được thần thoại hóa, ngoài ý nghĩa trực tiếp mô tả giai đoạn đầu lập quốc, nhưng trong đó còn gửi gấm những ý tưởng của cha ông truyền lại cho đời sau về nguồn gốc Lạc thư – Hà đồ và thuyết Âm Dương Ngũ hành, khẳng định sự kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang, niềm tự hào của người Lạc Việt. Hình ảnh biểu tượng này được lý giải và trình bày như sau:
1/  Cái bọc trứng là sự thể hiện tính bao trùm của vũ trụ với sức mạnh kỳ vĩ trong đó chứa đựng tri thức của một nền văn minh mà sự phát xuất nguyên thủy của nó chính là Thái cực. Tượng của Thái cực là hình tròn, đồng thời là Dương khi phân biệt Âm Dương.
2/  Một trăm quả trứng (tức là 100 vòng tròn): Đó là tổng độ số của Lạc thư,  Hà đồ, gồm: Độ số của Lạc thư là 45; độ số của Hà đồ là 55; tổng độ số của Lạc thư , Hà đồ đúng 100 vòng tròn. Trong đó có 50 vòng tròn đen thuộc Âm, tương ứng với 50 người con trai theo Tổ mẫu Âu Cơ và 50 vòng tròn trắng thuộc Dương, tương ứng với 50 người con trai theo Tổ phụ Lạc Long Quân.
3/ Lạc thư thuộc Dương (cái có trước) với độ số Dương 25 so với độ số Âm là 20; nhưng thể hiện lý tương khắc thuộc Âm. Hà đồ thuộc Âm (cái có sau) với độ số Âm là 30 so với độ số Dương là 25. "Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm" là nguyên lý bản căn của lý học Đông phương; tương ứng với 50 người con theo Mẹ (Âm) lên núi (Dương). Và 50 người con theo Cha (Dương) xuống biển (Âm).
* Âm thuộc hình thể nên những người con theo Mẹ lên lãnh đạo đất nước Văn Lang.

* Con số 50 (50 người con theo Cha và 50 người con theo Mẹ), lại chính là số "Đại diễn" trong phương pháp bốc Dịch. Cùng với quẻ "Bát thuần Càn" trong tranh thờ Ngũ hổ, điều này còn cho thấy sự liên hệ giữa ký hiệu Bát quái với thuyết Ấm Dương Ngũ hành từ thời cổ xưa. Hoàn toàn không phải là hai sự phát triển khác nhau giữa Chu Dịch với thuyết Âm Dương Ngũ hành và hòa nhập vào đời Hán, như các nhà nghiên cứu hiện đại mô tả.
Trong truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” thì
* Rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ.
*Tiên là biểu tượng của sự thông thái, sáng suốt thuộc về tri thức của con người.
* Sự kết hợp Rồng Tiên là hình ảnh biểu tượng của sự kết hợp giữa tri thức con người và sức mạnh vũ trụ; bắt nguồn từ sự nhận thức của con người với sự vận động của vũ trụ, mà tiền đề căn bản của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành với  Lạc thư Hà đồ.
* Sở dĩ 100 trứng không nở ra 50 con trai (Dương) và 50 con gái (Âm), vì Lạc thư Hà đồ thuộc giá trị tinh thần nên được hình tượng bằng con trai (Dương). Con số 15 bộ hành chính của nước Văn Lang, chính là tổng độ số của ma phương Lạc thư khi cộng ngang, dọc, chéo. Đây là sự vận dụng những qui luật vũ trụ trong việc điều hành đất nước. Trong Lạc thư Hà đồ đã bao gồm lý của Âm Dương Ngũ hành như đã trình bày ở trên. Xin xem hình sau đây:

 

1432167175_zpsb9d92b27.jpg

Độ số Lạc thư = 45

Trong đó có 20 vòng tròn đen và 25 vòng tròn trắng.

 

image001_zpsb0761895.gif      

Độ số Hà đồ = 55

 

Trong đó có 30 vòng tròn đen và 25 vòng tròn trắng.

1432167175_zpsb9d92b27.jpgimage001_zpsb0761895.gif

 

271_zps0bf41568.jpg2542256276_zps714df4c8.jpg

Tổng số vòng tròn trong Lạc thư và Hà đồ bằng 100
Trong đó:
50 vòng tròn đen (Âm) và 50 vòng tròn trắng (Dương)

 

Phả hệ của vua Hùng còn liên hệ với chu kỳ các sao Thiên cực Bắc được trình bày như sau:
Theo các nhà thiên văn hiện đại thì các chòm sao Thiên cực Bắc thay đổi với chu kỳ 26000 năm. Trong đó:
* Khoảng hơn 7000 năm BC là sao “t”, thuộc chòm sao Vũ Tiên.
* Gần 3000 năm BC là sao “a”, thuộc chòm sao Thiên Long
*Hiện tại là sao “a”, thuộc chòm sao Tiểu Hùng Tinh.
(Theo sách Vũ trụ quanh em, tập I – Nxb Giáo Dục – 1998, trang 23)
So sánh với phả hệ của vua Hùng , chúng ta lại thấy một sự trùng khớp sau đây:
Thế hệ thứ nhất:
– Hoàng hậu Vụ Tiên và chòm sao Vũ Tiên
Thế hệ thứ hai:
– Tổ phụ Lạc Long Quân và chòm sao Thiên Long.
Thế hệ thứ ba:

 

– Quốc tổ Hùng Vương và chòm sao Tiểu Hùng Tinh.
Như vậy, qua phần chứng minh trên, bạn đọc cũng nhận thấy sự trùng khớp hoàn toàn của truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” trong sự lý giải những nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành và những sự vận động của các chòm sao trong vũ trụ gần gũi với Địa cầu. Bạn đọc cũng lưu ý rằng việc phát hiện ra các chòm sao thiên cực Bắc của khoa học hiện đại chỉ khoảng một hoặc hai thế kỷ gần đây. 
Giả thuyết về Lạc thư , Hà đồ phát hiện ngay từ thời đầu lập quốc được bổ trợ bằng một di vật khảo cổ là một chiếc rìu đá tìm thấy ở Bắc Sơn, trên đó khắc chòm sao Vũ Tiên (Hercules), có niên đại từ 5000 năm tr.CN, được minh họa ở bên. (theo Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Gs. Trần Ngọc Thêm - Nxb T/p Hồ Chí Minh, In lần thứ 2,1997). Khoa thiên văn học hiện đại đã xác nhận: Chòm sao Vũ Tiên cách đây 7000 năm chính là chòm sao Thiên cực Bắc trên bầu trời nhìn từ trái Đất. Điều này chứng tỏ rằng: từ thời tối cổ, những con người đầu tiên ở vùng đất này đã quan sát thiên văn, để hơn 2000 năm sau đến khoảng đầu thiên niên kỷ thứ  III BC đã tạo dựng nên một nền văn minh kỳ vĩ với bề dày tính bằng thiên niên kỷ còn truyền lại đến tận bây giờ.

177_zpsec37644e.jpg
Sự vận động của vũ trụ (cái có trước – Dương – Rồng) kết hợp với tri thức của con người (cái có sau – Âm – Tiên) đã mở đầu cho nền văn minh Văn Lang kỳ vĩ. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và những tri kiến qua việc tìm hiểu thiên văn với những hiệu ứng vũ trụ tác động lên thiên nhiên, cuộc sống và con người chính là nền tảng căn bản của nền văn hiến Văn Lang.

Sự kết hợp của Rồng Tiên chính là niềm tự hào của người dân Lạc Việt. Dân tộc Việt Nam hoàn toàn xứng đáng với niềm tự hào đó. Theo sự lý giải trên thì thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, Lạc thư, Hà đồ phải xuất hiện đồng thời và là giá trị của nền văn minh Văn Lang đã có ngay từ buổi đầu lập quốc. Nền văn minh ấy bao trùm trên một vùng rộng lớn: Bắc giáp Động Đình hồ; Tây giáp Ba Thục; Nam giáp Hồ Tôn; Đông giáp Đông Hải. Đất nước ấy dưới quyền cai trị của các thời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì, bắt đầu từ thời Hùng Vương thứ I. Cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Tôi luôn khẳng định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và bát quái mô tả trong kinh Dịch chỉ là ký hiệu siêu công thức mô tả sự vận động có tính quy luật của vũ trụ thể hiện trong nội dung của học thuyết này. Thuyết ADNh là nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương, chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước, thuộc về Việt tộc trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử.

Nhiều người đặt vấn đề cho rằng:

"Mặc dù người Trung Quốc thừa nhận thuyết ADNh và bát quái không thuộc về nền văn minh của họ, nhưng điều đó không có nghĩa nó thuộc về Việt Nam, Những di sản liên quan đến thuyết ADNh cũng có ở nhiều quốc gia trên thế giới, như: Hàn Quốc, Nhật Bản...Thậm chí cả ở Peru. Vậy tại sao họ không thể là chủ nhân của thuyết ADNh?"

Ở đây tôi xin nhắc lại luận điểm của tôi là: Những biểu tượng liên quan đến thuyết ADNh trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nó không phải là nội dung của học thuyết ADNh. Cho dù đất nước Nhật lưu giữ Lạc thư cửu tinh đồ và nguyên lý lập thành Hà Đồ qua sự vận động có tính quy luật của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ - thì đó cũng chỉ là những hiện tượng phản ánh một thực tế của mô hình biểu kiến của học thuyết này là Lạc thư, Hà đồ, chứ không phải nội dung của học thuyết đó.

Sự phục hồi một cách hoàn chỉnh học thuyết này chỉ có thể từ những di sản văn hóa truyền thống Việt của những người Việt không bị Hán hóa hoàn toàn, trong cuộc di cư khổng lồ xuống vùng đất Bắc Việt Nam hiện nay. Thâm chí, những di sản văn hóa còn lại ở vùng đất Việt cũ ở Nam Dương tử cũng không đủ khả năng phục hồi học thuyết này.

Những luận cứ nhân danh khoa học của tôi hoàn toàn căn cứ vào tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Nội dung của sự minh chứng này chính là sự hiệu chỉnh từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và tính hợp lý lý thuyết bao trùm tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến học thuyết này trong Đông y, Phong thủy, và tất cả các môn dự báo Đông phương. Trong khi đó, chính nền văn hóa Hán đã không thể làm được điều này từ hơn 2000 năm qua. Tất nhiên với những tư liệu đồ sộ, nhưng không hoàn chỉnh và sai lệch của nền văn minh Hán đã không thể phục hồi được thuyết ADNh, thì những di sản còn lại của các nền văn minh khác cũng không thể thực hiện được điều này.

Bài này không có trong sách "Minh triêt Việt trong văn minh Đông phương".

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG 2.

Tiếp theo

 

II. TÍNH MINH TRIẾT TRONG TRÒ CHƠI LÒ CÒ CỦA TRẺ EM VIỆT & TÍNH ỨNG DỤNG CỦA HÀ ĐỒ TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.

 

Lời giới thiệu

Không chỉ duy nhất trong tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống với danh xưng "Pháp đại uy nỗ", mô tả Hà đồ chính là mô hình biểu kiến và là nguyên lý căn để của các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà ngay trong những trò chơi của trẻ em Việt, như: Ô ăn quan, trò chơi lò cò phổ biến từ Bắc vào Nam, cũng mô tả Hà đồ là một đồ hình ứng dụng phổ biến. Bài viết dưới đây của tác giả Bùi Anh Tuấn, ký danh Thiên Đồng , thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương,  giới thiệu với bạn đọc sự liên hệ giữa hình tượng của Hà đồ và trò chơi lò cò của trẻ em Việt.

 Những hình ảnh biểu tượng và cách chơi trò "lò cò" của trẻ em Việt, một lần nữa chứng tỏ những di sản văn hóa truyền thống Việt là hệ quả đích thực của những giá trị tri thức thuộc văn minh Đông phương. Giới thiệu tính minh triết liên quan đến những gía trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt, chúng tôi muốn mô tả một sự phổ biến của nền tảng tri thức Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh này.

 

TÍNH MINH TRIẾT TRONG TRÒ CHƠI LÒ CÒ CỦA TRẺ EM VIỆT.

Thiên Đồng  Bùi Anh Tuấn
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương

 

Một trò chơi của trẻ em rất phổ biến trong di sản văn hóa truyền thống Việt, có hình tượng mà ẩn giấu phía sau nó những mật ngữ  làm sáng tỏ hơn cho một lý thuyết học thuật cổ Đông phương,  đầy tính minh triết thuộc nền văn hiến Lạc Việt trải  gần 5000 năm, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương Tử.

1. SƠ LƯỢC VỀ TRÒ CHƠI
1. Trò lò cò ở Nam Bộ Việt Nam.
Dưới đây là đồ hình trong trò chơi "Lò cò" phổ biến ở Nam bộ Việt Nam.

179_zpsaf128150.jpg

Khi chơi, trẻ em thường vẽ hình trên dưới đất bằng que vạch, hoặc phấn trắng trên nền gạch với diện tích đủ chơi.
Đồ hình gồm 10 ô từ 1 đến 10, gọi là 10 mức. Một ô với hình bán nguyệt trên cùng gọi là ô Trời hay mức Trời. Ba đường thẳng có chia đuôi gọi là đuôi chuột, nhằm phân ranh giới trái phải của vị trí khởi hành và kết thúc.

 Điều kiện chơi:
* Vẽ hình trên mặt đất như hình trên

* Vật dụng: gọi là “chàm” thường là một viên đá, gỗ hay những vật tương tự có bề mặt tròn dẹt, phải dùng chân đứng để di chuyển chàm qua các ô khi chơi.
* Ô 1, 2, 3, 4 và 7, 8, 9, 10 buộc phải lò cò (Di chuyển bằng một chân, chân kia co lên).
* Ô 5 và 6 thì được phép đứng 2 chân, không phải lò cò.

* Đối tượng chơi: không phân biệt nam nữ, ấu lão, có thể lực có thể tham gia.
* Hình thức: thi đấu từng người hay chia nhóm.

Cách chơi
Người chơi đến lượt mình vào vị trí khởi hành, thảy chàm bắt đầu từ ô số 1 và nhảy vào ô số 1 với một chân co một chân đứng (lò cò), dùng chân đứng di chuyển viên chàm từ ô số 1 lần lượt sang ô số 2, cứ thế thuận tự cho đến hết 10 ô. Đi đến ô nào bị phạm lỗi theo quy định thì phải ngừng chơi và nhường lượt người khác.

Khi quay lại đến lượt mình thì bắt đầu từ ô đã đi được trong lần trước.
Khi đi hết các ô từ 1 đến 10 thì người chơi thảy chàm sao cho vào ô Trời rồi di chuyển bằng cách nhảy dạng hai chân từ ô 1-10, 2-9, 3-8, 4-7, 5-6, rồi quay ngược lại dừng lại ở ô 5-6, vẫn ở vị trí chàng hảng, nhưng ngồi xổm xuống thấp, lòn tay qua dưới 2 chân mò tìm chàm cho được mới thôi. Xong, người chơi di chuyển bằng cách như lúc đầu về vị trí khởi hành.
Ở vị trí khởi hành, người chơi lại tiếp tục đi những thử thách tiếp theo, gọi là mụt ghẻ ở tay, ở chân, ở đầu và gánh nước bằng cách để viên chàm ở mu bàn tay, mu bàn chân, vai, đầu rồi di chuyển qua từng ô từ 1 đến 10, mà không lò cò sao cho chàm không rơi. Hết một vòng khi trở về vị trí khởi hành, người chơi tung viên chàm lên không rồi đưa tay bắt lấy, nếu rớt chàm thì dừng chơi, chờ lượt đi lại.
Hết những thử thách, người chơi được quyền “cất nhà”, bằng cách đứng dạng hai chân ở vị trí khởi hành và vị trí dừng, quay lưng lại với vị trí hình vẽ rồi tung chàm ngược ra sau. Chàm được phép rơi vào một trong 10 ô, không cán mức, không văng ra ngoài đồ hình thì coi như thành công. Chàm ở ô nào thì ô đó gọi là “nhà” và người chơi đi đến đó thì có quyền đứng 2 chân, không được co chân. Nếu lỡ co chân là “cháy nhà”.

Những người chơi khác, hoặc không cùng phe, không được quyền đứng hai chân ở nhà người khác, hoặc phe khác.
Cất nhà xong, người chơi trở lại mức khởi điểm là mức 1 và tiếp tục một chu trình mới.
Cuộc chơi ngừng khi các ô trở thành nhà của mình hoặc của đối thủ. Những ô đã trở thành nhà thì không phải thảy chàm vào ô đó. Ai hoặc phe nào nhiều nhà nhất được coi là thắng cuộc.


Điều kiện ngừng chơi:
* Khi di chuyển chàm bằng chân trong lúc chơi, nếu chàm phạm vạch thì phải ngừng chơi và đến lượt người khác.
* Chân chạm ranh giới giữa các ô, hay chàm dừng ở ranh giới giữa các ô hay văng ra khỏi đồ hình. Tuy nhiên chàm văng vào giữa hai đuôi chuột thì không bị phạm điều kiên này.
* Lò cò vào ô 5 hay 6 thì người đi bị dừng chơi.
* đứng hai chân ở các ô 1,2,3,4,7,8,9,10.
* Cuộc chơi ngừng khi cả hai bên đồng ý ngừng.


2. Trò lò cò ở Bắc Bộ Việt Nam.

181_zps2753327f.jpg

Sự khác nhau giữa hình trò chơi ở miền Bắc với miền Nam - ở trên - là chỗ nơi ô Trời có hình tam giác, vẽ lớn hay nhỏ tùy theo người chơi. Nội dung quy định và cách thức chơi, đại để giống như ở miền Nam, nhưng vài điểm khác như sau:
* Khi đi đến mức 5 thì người chơi đẩy cho viên chàm vào “ô Trời”, đồng thời cũng nhảy lò cò vào ô đấy.
Có 2 trường hợp xẩy ra:
- Trong ô Trời chỉ được phép dùng chân đứng (lò cò) đẩy chảm một lần sang ô số 6. Nếu phải đẩy chàm hơn một lần thì phải đi lại từ ô thứ nhất.

- Nếu chàm rơi đúng hình tam giác thì ngưới chơi phải đẩy chàm ra khỏi khu vực tam giác, rồi mới được đẩy tiếp chàm sang ô 6. Nhưng nếu chàm vẫn còn vướng lại trong tam giác, hay vướng ở biên của tam giác thì phạm quy, như trường hợp trên, gọi là “Xê xích thủ”, buộc người chơi phải đi lại từ ô 01 đầu tiên.

Trò chơi chỉ đơn giản như vậy, nhưng mang đầy tính chất thể thao, nghệ thuật và trí tuệ. Bởi khi người tham gia cuộc chơi cần phải có thể lực ổn định, tinh thần nhạy bén, cảm ứng tốt, giúp cho sự vận động và quan sát để thực hiện cách chơi. Đồng thời cần phải có sự khéo léo trong những động tác, hành động di chuyển để thắng cuộc. Vì vậy có thể nói trò chơi dân gian Việt, ngoài việc mang ý nghĩa lợi ích về tinh thần và thể lực cho người chơi thì nó lại chính là một loại hình văn hóa mang đậm nét trí tuệ sâu sắc của dân tộc Việt.

 Tuy nhiên, nếu nó chỉ dừng lại ở tác dụng của một trò chơi thì nó không phản ánh được một tư duy đầy minh triết của một dân tộc có một nền văn hiến đầy tự hào với lịch sử trải gần 5000 năm. Bởi nội dung của trò trơi đó lại chuyển tải những mật ngữ, những thông điệp bí ẩn về một tri thức nền tảng của nền văn minh này.

2. GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN TRONG TRÒ CHƠI

 

182_zpsd76522d8.jpg

Từ những tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, “Định mệnh có thật hay không?”,Hà đồ trong văn minh Lạc Việt”, “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam”…của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Người viết lấy cảm hứng từ những sự hiệu chỉnh về nguyên lý lý thuyết học thuật cổ Đông phương, hay sự giải mã của ông về những bí ẩn từ cặp bánh chưng, bánh dầy - linh vật của nền văn minh Lạc Việt; hoặc những câu ca dao; những trò chơi dân gian “Ô ăn quan”…và cũng là sự học tập từ một người Thầy, thử khám phá thêm những bí ẩn đằng sau những trò chơi dân gian. Cụ thể là trò “Lò cò”  với hy vọng thể hiện một cách phong phú hơn cho sự nhận thức về một hệ thống lý thuyết thuộc nền văn minh Lạc Việt, từ những di sản văn hóa truyền thống Việt.

 

Bánh chưng, bánh dầy - Linh vật của nền văn hiến Việt.
Câu chuyện bánh chưng, bánh dầy lưu truyền trong tâm thức người dân Việt từ ngàn xưa, như một mặc khải cho một hình tượng thiêng liêng của nền văn hiến Việt, dân tộc duy nhất trên thế giới dùng thực phẩm làm biểu tượng chuyển tải một giá trị minh triết Đông phương, một tri thức về vũ trụ quan sâu sắc thì trò chơi dân gian, cụ thể là trò chơi lò cò xủn, là một phương thức khác âm thầm truyền lưu những tri thức ấy và như là một “dấu ấn” minh chứng cho chủ nhân của nền văn minh này.

Từ bao đời nay, trong những ngày xuân mới, Tết đến, người dân Việt, con cháu Rồng Tiên với cả lòng thành kính dân lên tổ tiên Lạc Hồng đôi bánh Chưng – bánh Dầy, biểu hiện cho tâm thức người Việt. Một chi tiết tinh tế cũng như là một nghi thức chuẩn xác rằng khi đặt đôi linh tượng bánh Chưng – bánh Dầy lên bàn thờ tổ tiên Lạc Hồng thì luôn luôn chiếc bánh Dầy được đặt chồng lên trên chiếc bánh Chưng. Cũng theo cách giải thích của người xưa cho hậu nhân rằng: Trời ở bên trên, đất ở bên dưới, bánh Dầy để trên bánh Chưng là ý đó. Một chiếc bánh bằng nếp giã trắng tinh, hình tròn với vòng cung vồng lên hình bán nguyệt biểu thị cho Trời trên, một bánh Chưng hình khối vuông, gói bởi lá xanh biểu thị cho Đất dưới. Đây chính là nguyên lý "Dương trên, Âm dưới" của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Lạ lùng thay được tái hiện lại một cách thông minh tuyệt vời bằng đồ hình của trò lò cò, truyền lại cho hậu thế bằng một loại hình trò chơi dân dã, chứa đựng tài tình nội dung một nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Một ô hình cung bán nguyệt bên trên một ô lớn hình vuông chứa 10 ô nhỏ là một cách tái hiện rất giản đơn, nhưng tinh tế và rất cũng vô cùng bí ẩn hình tượng của bánh Dầy để trên bánh Chưng. Hay nói chính xác hơn là một đôi phạm trù Âm Dương. Trong trí nhớ của những trẻ nhỏ chơi trò lò cò, trong đó có cả người viết - vốn sinh ra trên mảnh đất Nam bộ - ô hình cung bán nguyệt, theo quy định của trò chơi, được gọi là “ô Trời” hay “mức Trời” và 3 đường tua rua gọi là “đuôi chuột”, chính sự quy định này như là một mật ngữ, như là một chìa khóa để cho người viết khám phá ẩn ý đằng sau trò chơi.


Ẩn Ngữ “Dương trước, Âm sau”:
Vòng cung bên trên, theo một sự hiển nhiên, được đám trẻ nít của bao đời gọi là “ô Trời”, 3 tua rua cuối gọi là “đuôi chuột”. Hai chi tiết nhỏ nhưng qúy báu. Ô vòng cung được gọi là Trời đối lập với cái khác nó là hình vuông hay hình chữ nhật, tùy theo cách vẽ của người chơi, lẽ dĩ nhiên sẽ gọi là Đất theo sự giải mã. Chi tiết còn lại là 3 tua rua “đuôi chuột”.
Chi Tý tức là chuột, con giáp đứng đầu trong 12 con giáp, gọi là Địa Chi thì ngay trong trò chời Lò cò xủn được nhắc đến, được dùng làm ranh giới cho mốc khởi đầu và kết thúc lượt chơi. Nhưng chi tiết này chỉ nêu một phần của chuột. Đó là “đuôi chuột”, tức cái phía sau của chuột. Như vậy cái đối lập với Trời, là ô vuông, được gắn kết một chi tiết phụ là “đuôi”, nghĩa là muốn nói cái có “sau”, là Đất, đối đãi với cái có trước là Trời. Cặp phạm trù Trời – Đất được mã hóa bằng đồ hình của trò chơi, cũng chính là một cách vẽ giản lược của hình ảnh bánh Dầy trên bánh Chưng, rõ ràng đây là hình tượng ám chỉ ý một nguyên lý nữa của thuyết Âm Dương Ngũ hành: “Dương trước, Âm sau”.
Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ đầy, khi đằng sau nó còn mang một nội dung sâu sắc hơn…

 

Ẩn ý “ Dương tịnh, Âm động” và “ Mẹ tròn,con vuông”
185_zpsba075f45.jpg


Khi vạch xong 10 ô, trẻ nhỏ hay người chơi không quên đánh số thứ tự vào từ 1 đến 10. Đây lại là một bí ẩn từ hàng ngàn năm trước...

Thuận tự của các số được đánh số từ dưới đi lên, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, hết một vòng theo đúng chiều thuận, chiều kim đồng hồ…. cho thấy rằng 10 con số trùng hợp với 10 Thiên Can. Khi người viết mạo muội cho áp theo thứ tự của 10 Can theo thứ tự 10 số thì chiều tương sinh của ngũ hành hiển thị chiều tương tác chủ yếu trong sự vận động của của Thiên Hà, được diễn giải cô đọng trên nguyên lý căn để là Hà Đồ. Từ sự giải mã của phần trên, cho rằng đồ hình trò chơi lò cò là đồ hình giản lược của hình tượng bánh Dầy trên bánh Chưng, linh vật của nền văn hiến Việt, biểu thị cho sự lý giải về thể bản nguyên vũ trụ  (tức bánh Dầy) và một trạng thái đối đãi có sau nó (tức bánh Chưng) thì ngay trong trò chơi, tính trạng của hai thể đối đãi này được diễn tả trực thị qua quy định và hoạt động của trò chơi.

Quy định của trò chơi, người chơi chỉ “đi”, tức mọi hoạt động di chuyển và diễn biến của trò chơi, chỉ diễn ra trong phạm vi hình vuông, 10 ô số, và chiều di chuyển của người chơi là chiều thuận của chiều kim đồng hồ cũng chính là chiều tương sinh của Ngũ hành. Một cách trực kiến, ô hình vuông được diễn tả ý nghĩa “động” qua những hoạt động của người chơi, theo chiều biểu kiến của người “đi” nước lò cò, là chiều biểu kiến sự vận động tương tác thuận của ngũ hành được thể hiện trên Hà đồ. Nói một cách khác, phần ô vuông trên đồ hình của trò chơi là diễn tả bằng một hình thức khác đồ hình của Hà đồ, tức diễn tả trạng thái sau khởi nguyên của vũ trụ là Âm động, đối đãi có sau so với Dương tịnh có trước. Ý nghĩa Dương tịnh, tức Thái Cực chí tịnh là bản nguyên của vũ trụ khi chưa có cái đối đãi, được giản đơn bằng một ô bán nguyệt cung tròn viên mãn, gọi là “mức Trời”, mà nơi đó người chơi không được phép “đi”, tức ô Trời được để trống không, yên tịnh, nhằm diễn tả nghĩa Tịnh của cái Dương, cái Thái Cực.
Ẩn ý “Dương tịnh, Âm động”, "Mẹ tròn con vuông” được mã hóa một cách khéo léo, bí ẩn và giản đơn thông qua mô hình giản lược, một trò chơi của trẻ nhỏ lột tả hết nội dung của một nguyên lý lý thuyết học thuật cổ Đông phương và dường như trong trò chơi còn diễn giải những ẩn ý về sự nhận thức vũ trụ.


Ẩn ý về sự nhận thức vũ trụ:

“Tính Thấy trong minh triết cổ Đông phương”.
Trong cách thức chơi, có một quy định về một “nước đi” như sau: “Khi đi hết các mức từ 1 đến 10 thì người chơi thảy chàm sao cho vào ô Trời rồi di chuyển bằng cách nhảy chàng hảng hai chân từ ô 1-10, 2-9, 3-8, 4-7, 5-6, rồi quay ngược lại dừng lại ở ô 5-6, vẫn ở vị trí chàng hảng nhưng ngồi xổm xuống thấp, lòn tay qua dưới 2 chân mò tìm chàm cho được mới thôi. Xong, người chơi di chuyển bằng cách như lúc đầu về vị trí khởi hành.”. Hoạt động của trò chơi chủ yếu diễn ra trên ô vuông lớn chứa 10 ô theo quy định, riêng ô Trời không được đi vào đó, nhưng khi đi hết 10 ô thường thì được phép thảy chàm vào “ô Trời”, muốn lấy chàm thì phải nhảy cóc bằng 2 chân trong 2 ô, rồi dùng sự phán đoán mà nhặt chàm.
Từ những sự giải mã trên, “ô Trời” là mật thư cho hình tượng bánh Dầy, là ý niệm về cái Dương, là Thái Cực, đó là trạng thái về bản nguyên của vũ trụ. Có thể tổ tiên Lạc Hồng với nền văn hiến Lạc Việt gần 5000 năm, kể từ năm Nhâm Tuất 2879 trc CN, muốn chuyển tải một ẩn ngữ rằng “Sự nhận thức về một thực tại khởi nguyên của vũ trụ không thể thông qua sự logich lý trí, mà phải nhận thức thực tại ấy bằng một tư duy trừu tượng cao cấp ngay từ bản nguyên và gốc rễ của nó”
Chi tiết trong trò chơi cho thấy rõ, người chơi không nhìn trực tiếp để nhặt chàm. Nếu quay lưng lại, không nhìn ra sau, thì phải lòn tay qua hai chân mà không lòn tay ra sau lưng, do vậy phài cần đến sự phán đoán của tư duy trừu tượng. Đđây chính là sự nhận thức sự khởi nguyên của vũ trụ tại giây /0/ tuyệt đối. Cũng tương tự như sự khởi sinh của một con người thoát ra từ bụng mẹ thì hành động lòn tay qua hai chân dưới và ngang bộ phận sinh dục, bộ phận khởi sinh những “tiểu vũ trụ” là con người, thì đó lại là một ẩn ngữ cho biết rằng có một lý thuyết toàn diện giải thích thực tại từ sự khởi nguyên của vũ trụ và muốn nhận thức thực tại ấy, không gì khác hơn rằng phải dùng tư duy trừu tượng nhận thức lại từ căn nguyên thực tại ấy. Đó gọi là tính “Thấy” hay gọi là Tính “Biết” được diễn từ hằng ngàn năm trong Lý học Đông phương. Hành động người chơi phải nhảy cóc hai chân trên hai ô, hai hành Âm Dương, có thể là một ẩn ngữ cho biết rằng muốn tiến tới một nhận thức tuyệt đối là bản nguyên vũ trụ, tính “Thấy” hay tính “Biết” phải vượt qua tâm lý nhị nguyên, phải đạt được trạng thái của sự cân bằng Âm Dương thì mới có thể tiệm cận đến trạng thái tuyệt đối ấy.

 

187_zpsbf26b2d8.jpg
Lòn tay ra sau lưng tìm chàm. Hình: Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn

Tịnh & Động là tương đối sau khởi nguyên vũ trụ
185_zpsba075f45.jpg


Ở cách chơi phổ biến vùng Nam Bộ Việt Nam, trò chơi diễn tả rõ bản chất của Dương tịnh và Âm động qua những biển hiện cụ thể của trò chơi. Nhưng trờ chơi lò cò ở vùng Bắc bộ Việt Nam thì có chút khác biệt về hình thức thể hiện đồ hình, chính sự khác biệt này lại diễn tả một ý khác của Lý học đông phương: Tịnh động là tương đối sau sự khởi nguyên của vũ trụ.
So với cách chơi và đồ hình trò chơi vùng Nam bộ thì cách chơi vùng Bắc bộ người chơi được phép lò cò vào “Ô Trời”, nhưng không được phép dịch chuyển chàm nhiều lần trong ô này, khác với ô 1 đến 10 được phép dịch chuyển nhiều lần có thể. Như vậy nhìn chung, cả đồ hình, mọi chỗ đều thể hiện tính chất “động”, tuy vậy tiền nhân đã ý nhị sắp sẵn sự quy định sự di chuyển ở “ô Trời” bị hạn chế hơn 10 ô còn lại, chi tiết này thật tinh tế. Người viết cho rằng đó là sự diễn tả ý nghĩa “Tịnh động tương đối”.

Xin khảo qua một đoạn trong “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp”, tác giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trang 33:

 

“Người xưa cho rằng khởi thủy của vũ trụ là Thái Cực. Thái Cực vốn chí tịnh, thuần khiết không phải là một cái cực lớn và cũng không phải là cái cực nhỏ; trong đó không có sự phân biệt. tức là không có cái “Có” để nói đến cái “Không”. Tượng của thái cực hình tròn thể hiện tính tràn đầy viên mãn…”

 

Có thể hiểu, mặt trời tỏa sáng và tịnh so với Trái đất, nhưng ngay trong bản thân mặt trời, các hiện tượng sôi sục, cháy bỏng, bão mặt trời vẫn diễn ra quyết liệt ngay trong nội tại. Sự nhìn nhận cái “Động/ Tịnh” phải được xem xét trong cái toàn thể và trong mối tương quan đối đãi thì mới thấy được tính chân lý của vấn đề. Hay nói cách khác là sự phân biệt Động/ Tịnh mang tính đối đãi so sánh và tùy từng hệ quy chiếu.

Tri thức nhân loại tiến tới sự nhận thức Bản nguyên Vũ Trụ
Trong đồ hình trò chơi vùng Bắc bộ, phần ô Trời được vẽ thêm hình tam giác và khi người chơi không dịch chuyển được chàm ra khỏi tam giác này bằng một lần đẩy duy nhất thì bị phạm quy, gọi là “xê xích thủ”. Yếu tố bí ẩn lại được tăng thêm khi xuất hiện chi tiết này.
Các cụ ngày xưa đều biết, khi vẽ hình tượng tam giác là một hình tượng mang ý nghĩa thô tục xấu xa.

 

190_zpsadfce4f0.jpg

Một hình tam giác được vẽ trên vách tường nhà, kế bên là câu chửi.

Tranh cổ của Hăng-ri -Óc – ghê,  đầu thế kỷ XX.

 

Một hình tam giác được vẽ ở vách một ngôi nhà để “chửi” hay có ý nghĩa mĩa mai một ai đó như ngày nay người ta vẫn vẽ trên tường những câu thô tục vẫn thường thấy. Bởi hình tượng tam giác trong hiện tượng văn hóa dân gian của người Việt thể hiện cho sinh thực khí nữ, hay nói đúng hơn là bộ phận khởi sinh cho những “tiểu vũ trụ” con người. Hình vòng cung bán nguyệt “ô Trời” như một cái bụng bầu của người phụ nữ, điểm xuyết thêm một tam giác và như vậy hình ảnh phồn thực khi phụ nữ lâm bồn, chuyển dạ được cách điệu tinh tế thông qua khả năng trừu tượng của người quan sát. Một chi tiết thật bất ngờ và bí ẩn, ngay cả khi người viết nhận ra hình tượng này, thán phục trước sự tinh tế của tiền nhân Lạc Việt. Từ sự quán xét hình tượng trên, có thể đây hiểu rằng đây là một hình tượng cô động diễn tả nội dung của của nguyên lý học thuật cổ đông phương về sự khởi nguyên của vũ trụ, cái bản nguyên duy nhất và trước nhất mà mật ngữ dân gian Việt thường gọi “Mẹ tròn”, nay sự điểm xuyết của hình tượng tam giác nâng lên hay khẳng định “tính mẹ” của khái niệm, nghĩa là vũ trụ được khởi sinh từ một thể bản nguyên viên mãn, như một đứa con sinh ra từ bụng người mẹ.
Cũng giống như hành động lòn tay qua hai chân của người chơi trong cách chơi thứ nhất, ý nghĩa của hình cung tròn và tam giác muốn chuyển tải một ẩn ngữ diễn đạt về sự nhận thức một thực tại vũ trụ phải thông qua một tư duy trừu tượng mới có thể nhận thức được thực tại đó cho mọi sự khởi nguyên.

 

HinhUSD.jpg

Hình tam giác trên chóp Kim tự tháp trên tờ đô la.Hình từ internet.

 

192_zps649d2723.jpg

Hình kim tự tháp Ai Cập và nhân sư. Nguồn từ internet

 

Mặt khác, hình tượng tam giác được nhìn thấy ở nhiều dân tộc trên thế giới như các Kim tự tháp Ai Cập, Hy Lạp, Kim tự tháp Inca, Maya, như chóp tam giác có hình con mắt trên tờ dollar…là biểu tượng sự thông minh, sự huyền bí hay những tri thức chưa được biết đến. Bằng một óc tưởng tượng giản đơn: một hình ảnh của kim tự tháp nào đó hiện ra dưới vòm trời bao la được giản lược qua đồ hình của trò lò cò. Sự trùng lặp đôi khi có hay không có nguyên do, nhưng nếu chỉ gói gọn trong trò chơi dân gian Việt, trong phạm vi giải mã của trò chơi thì tam giác và cung tròn cũng đủ tạo nên một hình tượng “con mắt huyền bí” chứa đựng những ẩn ngữ cho một lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, lý thuyết học thuật cổ đông phương, lý thuyết thống nhất vũ trụ. Do vậy một mật mã cuối cùng của trò chơi được giải nghĩa rằng:
“Phải nhận thức bản nguyên của vũ trụ là cái toàn thể, cái duy nhất một, cái mang tính Mẹ với sự viên mãn, chí tịnh khởi sinh vạn hữu và “cái đó” được khái niệm gọi rằng tính Thấy hay tính Biết được diễn giải trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương từ bao đời nay.”

 

3. LỜI KẾT
Sự giải mã không nhằm làm bằng chứng chứng minh, mà nhằm khám phá những bí ẩn đằng sau những dấu ấn văn hóa vật thể hay phi vật thể còn phổ biến hay âm thầm tồn tại trong xã hội người Việt hằng ngàn năm. Những thăng trầm của Việt sử, cũng là sự thăng trầm của một học thuyết cổ Đông phương, đã làm cho lý thuyết ấy bị thất truyền thì những giá trị được che giấu, hay ít ra là trùng lấp ẩn sau những văn hóa vật thể hay phi vật thể, như: ca dao, hò vè, tục ngữ, dân ca, hình tượng, biểu tượng hay những trò chơi dân gian…sẽ là sự định hướng cho việc làm hoàn chỉnh, hay nhận thức đúng đắn một lý thuyết cổ Đông phương mà nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh từng khẳng định đó là một “Lý thuyết thống nhất vũ trụ”, một lý thuyết mà các nhà khoa học hiện đại từng mơ ước:

“Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích được mọi sự kiện bao quanh con người, từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ”.

 

( trích “Định mệnh có thật hay không”, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trang 56)

Hay như SW Hawking, nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới, đã từng viết:

 “ Nếu một lý thuyết hoàn chỉnh được phát minh thì chỉ còn là vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.”

 

( trích “Định mệnh có thật hay không?”. Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trang 59)

Nhưng thật thú vị, những quy luật vũ trụ thuộc một lý thuyết cho sự nhận thức về thực tại vũ trụ lại được diễn tả cô đọng và sinh động chỉ trên một trò chơi trẻ nhỏ của người Việt. Chỉ có thể có ở một sự thông minh linh hoạt của những chủ nhân của nền học thuật cổ Đông phương thuộc nền văn minh Lạc Việt, mới có thể mã hóa một cách xúc tích những ẩn ý của lý thuyết cao cấp ấy. Đó chính là câu trả lời cho sự băn khoăn của nhà khoa học hàng đầu SW Hawking, khi ông đặt vấn đề:

vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

 

Lý thuyết ấy được tập cho trẻ em Lạc Việt ngay từ khi còn thơ ấu qua trò chơi Lò cò, ô ăn quan , bánh chưng, bánh dầy......

Viết xong tại T/p HCM. 16/12/2010


 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG III

HẬU THIÊN BÁT QUÁI LẠC VIỆT - MÔ HÌNH BIỂU KIẾN TRONG NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.

Ngay từ những chương đầu của cuốn sách này, chúng tôi đã giới thiệu một mệnh đề nổi tiếng trong Lý học Đông phương, được mô tả trong Hệ từ Thượng truyện trong bản văn chữ Hán cổ:

 "Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát quái".

Chúng tôi cũng đã chứng minh rằng: Đây là một sai lầm ngay từ bản gốc của kinh Dịch trong bản văn chữ Hán cổ. Đây chính là dấu ấn hóa thạch chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: nền văn minh Hán không thể là chủ nhận của kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mà nó chỉ là sự sao chép không hoàn chỉnh từ một nền văn minh khác.

Từ sai lầm này, những nhà nghiên cứu Hán Nho, những triết gia tài ba và nổi tiếng của nền văn minh Hán,  trải qua hàng ngàn năm, không thể tìm ra bản chất của mọi vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành và không thể phục hồi được học thuyết này.

Bởi vậy, trong chương này, chúng tôi mô tả tiếp tục bản chất của đồ hình Hậu thiên Bát quái và tiếp tục minh chứng sự sai lầm của hiện tượng này, trong sự tiếp thu một cách không hoàn chỉnh của văn hóa Hán, sau khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền Nam sông Dương tử. Từ đó xác định sự tích hợp của Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ, chính là mô hình biểu kiến cho nguyên lý căn để của Lý học Đông phương.

Chúng tôi xin bắt đầu từ nhưng bản văn chữ Hán viết về nguồn gốc của Bát quái.

 

III.1. BÁT QUÁI TRONG BẢN VĂN CỔ CHỮ HÁN.

Nếu bạn đọc quan tâm đến những vấn đề của Lý học Đông phương có thể tham khảo cuốn "Kinh Dịch và vũ trụ quan Đông phương" của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng. Cuốn sách này là sự tổng hợp rất nhiều tư liệu về những sự kiện và vấn đề căn bản nhất, liên quan đến nội dung và lịch sử kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán. Trong những cuốn sách đã xuất bản của người viết, cũng trích dẫn rất nhiều từ cuốn sách này.

Trong phạm vi của phần này, chúng tôi chỉ dẫn những kiến thức được phổ biến về Bát quái đã được dẫn rất nhiều trong các sách liên quan.

 

1.1. ĐỒ HÌNH TIÊN THIÊN BÁT QUÁI CỦA PHỤC HY.

Về xuất xứ của Bát quái Tiên thiên, trong bản văn cổ chữ Hán - kinh Dịch, Hệ từ Thượng truyện, chương XI, viết:

"Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi,thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi. Thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi. Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi".

 

Với đoạn văn trên, hầu hết các sách viết về kinh Dịch từ thời Hán trở lại đây đều giải thích như sau:

"Trời sinh ra thần vật, thánh nhân áp dụng theo. Trời đất biến hóa, thành nhân bắt chước. Trời bày ra hình tượng, hiện ra sự tốt xấu. Thánh nhân phỏng theo ý tượng....".

Riêng câu "Hà xuất đồ; Lạc xuất thư,thánh nhân tắc chi"; được giải thích là "Bức đồ hiện ra trên sông Hoàng Hà, hình chữ hiện ra trên sông Lạc Thủy, thánh nhân áp dụng theo".

Cũng trong kinh Dịch, Hệ từ Hạ, chương II, tiết 1, viết:

 

"Cổ giả Bào Hy thị chi Vương thiên hạ dã. Ngưỡng tắc quan thượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa,quan điểu thú chi văn, dữ địa chi nghi, cận thủ chi thân,viễn thủ chư vật. Ư thị thủy tác Bát quái dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vật chi tình".

"Vua Phục Hy khi làm vua thiên hạ. Ngửa xem tượng trời, cúi xem phép tắc dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông, cùng với thích nghi của trời đất. Gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật thể, rồi mới làm ra Bát quái để thông suốt cái đức của thần minh và phân loại các tính của vạn vật".

 

Nhà nghiên cứu và chú giải Dịch học đầu tiên của nền văn minh Hán, là Khổng An Quốc đã viết:

"Đời vua Phục Hy, có con Long Mã hiện trên sông Hoàng hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch ra bát quái, gọi là Hà Đồ".

 

Cũng Khổng An Quốc viết:

"Đời vua Vũ, có con thần quy xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua bèn nhân đó mà xếp đặt để làm thành chín loại(Hồng phạm cửu trù/Người viết), gọi là Lạc Thư".

 

(Kinh Dịch - Vũ trụ quan Đông phương. Sách đã dẫn)

 

Từ hàng ngàn năm trôi qua, các nhà nghiên cứu kinh Dịch Hán Nho - từ thời Hán - cũng xác định rằng: Hậu thiên Bát quái do vua Chu Văn Vương, khi bị giam ở ngục Dữu Lý đã căn cứ vào Lạc thư để làm ra Hậu Thiên Bát quái.

Dưới đây là đồ hình Tiên thiên Bát quái, được các bản văn chữ Hán liên quan đến kinh Dịch, mô tả như sau:

 

image116_zps48fa5a8a.jpg

Đồ hình tiên thiên bát quái phối Hà Đồ điểm

 

52h.jpg

 

Đồ hình tiên thiên bát quái phối Hà Đồ cửu cung.

 

 

 

1.2. MÔ HÌNH HẬU THIÊN BÁT QUÁI CỦA CHU VĂN VƯƠNG.

Đồ hình dưới đây là Hậu Thiên bát quái, được cho là của vua Chu Văn Vương làm ra:

BQHauthienVV01.jpg

Đồ hình Hậu Thiên bát quái Văn Vương.

(Xin lưu ý vị trí của hai quái Tốn - Khôn)

 

 

LacthuHTVV03.jpg

 

Đồ hình Hậu Thiên bát quái phối Lạc thư điểm.

 

Lacthu11.jpg

Đồ hình Hậu Thiên Bát quái phối Lạc Thư cửu cung.

 

Nếu chỉ xét bốn quái chính tại bốn phương chính, được mô tả và ứng dụng trong tất cả các sách liên quan đến kinh Dịch, là: Khảm Thủy (Màu xanh dương); Đoài Kim (Màu trắng); Chấn Mộc (Màu xanh lá cây) và Ly Hỏa (Màu đỏ) , và để bạn đọc khỏi lật lại trang sách, chúng tôi mô tả lại  tính chất của Ngũ hành trong bốn quái chính Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư như sau:

 

157267274_zps7c1a6e97.jpg

Người viết đã trình bày những điểm căn bản lịch sử hình của Bát quái Tiên thiên và Hậu thiên, cùng với hai đồ hình Hà đồ và Lạc thư mà chúng phối hợp, theo truyền thuyết và bản văn cổ chữ Hán.

Nhưng tất cả những giá trị mà cổ thư chữ Hán mô tả về hai đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái trong cổ thư chữ Hán đều mang tính mặc định và huyền bí, chưa nói đế sự mâu thuẫn trong nội hàm của những đồ hình Hậu thiên Bát quái và lịch sử hình thành của nó, mà người viết đã chứng minh ở trên.

Chúng tôi tiếp tục chứng minh rõ hơn điều này về các vấn đề liên quan đến Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái trong phần dưới đây.

 

III.2. MÂU THUẪN NỘI HÀM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN BÁT QUÁI TỪ CỔ THƯ CHỮ HÁN

Các phần trên, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc về tính mâu thuẫn trong nội hàm của sự liên hệ giữa Bát quái Tiên, Hậu thiên với hai đồ hình Hà đồ và Lạc thư trong bản văn chữ Hán. Trong phần này, chúng tôi tiếp tục chứng minh rõ hơn những mâu thuẫn trong vấn đề này.

 

2.1. MÂU THUẪN TRONG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA  MÔ HÌNH TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN.

1/ Mâu thuẫn về tương quan hai đồ hình trong khoảng cách thời gian lịch sử.

Theo bản văn chữ Hán thì khoảng cách xuất hiện giữa đồ hình Tiên thiên do vua Phục Hi phát hiện, cho đến khi vua Văn Vương nhà Chu làm ra Hậu thiên Văn Vương tương đương 3000 năm. Đây là khoảng cách ước tính từ thời Phục Hy là 6000 năm BC, cho đến Chu Văn Vương là 3000 năm BC. Vậy trong khoảng 3000 năm đó, đồ hình Tiên thiên Bát quái phối Hà đồ như cổ thư chữ Hán miêu tả đã tồn tại và được ứng dụng như thế nào, khi nó không thể hiện tính ứng dụng cho đến tận ngày hôm nay?!

2/ Mâu thuẫn về thời điểm xuất hiện thực tế của Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái trong lịch sử văn minh Hán.

Trong khi đó, sự xuất hiện trên thực tế của tất cả các đồ hình Tiên thiên, Hậu thiên, cũng như hai đồ hình Hà đồ và Lạc thư lại chỉ chính thức được biết đến trong nền văn minh Hán vào thời Tống , 1000 năm AC. Tức là sau 2000 năm kể từ khi vua Chu Văn Vương làm ra Hậu Thiên Bát quái và 5000 năm sau khi vua Phục Hy làm ra Tiên Thiên Bát quái và phát hiện ra Hà Đồ.

Đoạn trích dẫn sau đây trong sách "Chu Dịch và dự đoán học", do nhà Dịch học nổi tiếng Trung Quốc hiện đại - Thiệu Vĩ Hoa - viết, chứng tỏ điều này:

"Thuyết Hà Đồ", "Lạc đồ" trong cuốn Thượng Thư của Tiên Tần,"Luận Ngữ" của Mạnh tử và trong Hệ Từ đều có ghi lại. Nhưng Đồ, Thư thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước thời Tống,không ít Dịch gia khi viết về Dịch, rất ít nói đến "Hà đồ", "Lạc đồ", một vài người nói đến, cũng chỉ lướt qua.Phong trào nói đến "Hà đồ", "Lạc thư" vào những năm Thái Bình hưng quốc (Niên hiệu Tống Thái Tôn). Do đó, từ thời Tống về sau, đối với thuyết "Hà đồ, Lạc thư" luôn có hai dòng ý kiến khác nhau. Các học giả Dịch học đời nhà Thanh, như: Hồ Vị, Hoàng Tôn Nghĩa đều phản đối cách nói của các nhà Nho đời Tống".

 

(Sách đã dẫn. Trang 21)

Qua đoạn trích dẫn trên thì bạn đọc cũng nhận thấy sự phi lý trong thực tế tồn tại của đồ hình Hà đồ, Lạc thư và Bát quái trong lịch sử nền văn minh Hán. Và điều phi lý hơn là: chính những học giả Hán trước Tống không hề biết đến hai đồ hình này. Cho đến tận ngày hôm nay, những hậu duệ của nền văn minh Hán  cũng không hề biết đến nội dung thật của chúng là gì.

Một trong những tiêu chí xác định một học thuyết thuộc về nền văn minh nào thì nền tảng tri thức của nền văn minh đó phải là cơ sở hình thành nên chính học thuyết đó.

Trong trường hợp này, ngay nguyên lý căn để của một học thuyết mà người Hán tự nhận là của họ, những chính họ lại không hiểu nó là cái gì?!

Nhưng hiện tượng đồ hình Hà đồ, Lạc thư và Bát quái xuất hiện vào đời Tống trong lịch sử văn minh Hán, cho thấy rằng: những đồ hình này phải được lưu truyền dưới một hình thức bản văn phi ngôn ngữ Hán, thuộc vùng lãnh thổ thuộc Trung Hoa ngày nay, tức Nam Dương Tử, nơi địa bàn sinh sống của Bách Việt từ hàng ngàn năm trước đó. Và nó chỉ xuất hiện dưới hình thức văn tự Hán, trong quá trình Hán hóa hàng ngàn năm sau đó vào đời Tống.

Đây chính là sự giải thích hợp lý và hoàn toàn mang tính hệ thống - phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học - trong vấn đề minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương.  Đó chính là nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ là những dân tộc đang sống ở Việt Nam hiện nay.

 

2.2. MÂU THUẪN TRONG NỘI HÀM CẤU TRÚC CỦA HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG.

1/ Mâu thuẫn tính chất Ngũ hành được mô tả trong Bát quái từ cổ thư chữ Hán với đồ hình Lạc thư.

Trong cổ thư chữ Hán mô tả thuộc tính các quái trong mô hình Hậu thiên Văn Vương như sau: Cấn thuộc Thổ, Chấn Mộc, Tốn thuộc Mộc, Ly thuộc Hỏa, Khôn Thổ, Đoài Kim, Càn Kim, Khảm Thủy.

Nhưng bạn đọc xem  lại đồ hình dưới đây thì thấy ngay sự mâu thuẫn trong nội hàm của tính chất quái khi phối Lạc Thư:

 

158198201258_zpsd7088b67.jpg

Những mâu thuẫn rõ nét nhất giữa sự mô tả thuộc tính các quái theo cổ thư chữ Hán và vị trí tương quan Ngũ hành trên Lạc thư trong sự tích hợp này là: Cấn được coi là Thổ nằm ở vị trí Mộc trên Lạc thư; Tốn được coi là Mộc nằm ở vị trí Kim trên Lạc thư; Ly Hỏa nằm ở vị trí Kim trên Lạc thư. Đoài Kim nằm ở vị trí Hỏa trên Lạc thư.

Rõ ràng không hề có sự đồng đẳng trong tương quan Ngũ hành giữa Bát quái Văn Vương với đồ hình Lạc thư với một cái nhìn hoàn toàn trực quan. Và cũng không hề có một sự lý giải hợp lý lý thuyết từ bất cứ một bản văn chữ Hán nào trong hàng ngàn năm qua. Chúng tồn tại như một sự mặc định. Đây cũng chính là nguyên nhân để các nhà nghiên cứu Việt Trung đã xác định rằng: Không có cơ sở nào để có sự liên hệ giữa Hậu thiên Văn Vương với Lạc thư và Tiên thiên Bát quái với Hà đồ (Đã trích dẫn. Nguyễn Hiến Lê; Thiệu Vĩ Hoa).

Nhưng thật kỳ lạ, khi những truyền thuyết, thần thoại còn lưu truyền ở miến nam sông Dương tử - tức vùng đất của Bách Việt xưa, và được coi là thuộc Trung Hoa sau này và những di sản trong văn hóa truyền thống Việt, lại có những yếu tố phản bác các tác giả của Bát quái, Hà đồ và Lạc thư trong kinh Dịch.

Đồng thời nội dung của nó lại chỉ ra những sai lầm của mô hình nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành theo cổ thư chữ Hán. Những vấn đề này sẽ được mô tả trong các phần tiếp theo đây.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, một trong hệ thống luận cứ quan trọng của tôi để chứng minh cội nguồn Lý học Đông phương thể thuộc về văn minh Trung Hoa chính là căn cứ vào hệ thống tiêu chí khoa học để xác định nền văn minh Trung Hoa không phải cội nguồn của Lý học Đông phương , mà nền tảng của thuyết ADNh.

Đó là các tiêu chí sau đây:

1/ Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống lý thuyết, được xác định thuộc về một nền văn minh nào thì nó phải có tính liên hệ hợp lý trong lịch sử phát triển của nền văn minh đó.
2/ Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết thuộc về nền văn minh đó.
3/ Tính hợp lý, nhất quán và hoàn chính trong nội dung hệ thống lý thuyết và không có mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của hệ thống lý thuyết đó.

Căn cứ vào ba tiêu chí này, chúng tôi đã chứng minh nền văn minh Hán không thể là cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương mà nền tảng tri thức là thuyết ADNh.

Một ví dụ cụ thể - tôi xin lặp lại hình mô tả và luận cứ sau đây cho tiêu chí thứ ba - mà tôi vửa thể hiện ở bài trên:
 

2.2. MÂU THUẪN TRONG NỘI HÀM CẤU TRÚC CỦA HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG.

1/ Mâu thuẫn tính chất Ngũ hành được mô tả trong Bát quái từ cổ thư chữ Hán với đồ hình Lạc thư.

Trong cổ thư chữ Hán mô tả thuộc tính các quái trong mô hình Hậu thiên Văn Vương như sau: Cấn thuộc Thổ, Chấn Mộc, Tốn thuộc Mộc, Ly thuộc Hỏa, Khôn Thổ, Đoài Kim, Càn Kim, Khảm Thủy.

Nhưng bạn đọc xem  lại đồ hình dưới đây thì thấy ngay sự mâu thuẫn trong nội hàm của tính chất quái khi phối Lạc Thư:

 

158198201258_zpsd7088b67.jpg

Những mâu thuẫn rõ nét nhất giữa sự mô tả thuộc tính các quái theo cổ thư chữ Hán và vị trí tương quan Ngũ hành trên Lạc thư trong sự tích hợp này là: Cấn được coi là Thổ nằm ở vị trí Mộc trên Lạc thư; Tốn được coi là Mộc nằm ở vị trí Kim trên Lạc thư; Ly Hỏa nằm ở vị trí Kim trên Lạc thư. Đoài Kim nằm ở vị trí Hỏa trên Lạc thư.

Rõ ràng không hề có sự đồng đẳng trong tương quan Ngũ hành giữa Bát quái Văn Vương với đồ hình Lạc thư với một cái nhìn hoàn toàn trực quan. Và cũng không hề có một sự lý giải hợp lý lý thuyết từ bất cứ một bản văn chữ Hán nào trong hàng ngàn năm qua. Chúng tồn tại như một sự mặc định. Đây cũng chính là nguyên nhân để các nhà nghiên cứu Việt Trung đã xác định rằng: Không có cơ sở nào để có sự liên hệ giữa Hậu thiên Văn Vương với Lạc thư và Tiên thiên Bát quái với Hà đồ (Đã trích dẫn. Nguyễn Hiến Lê; Thiệu Vĩ Hoa).

 

Tương tự như vậy, cho hệ thống luận cứ chứng minh và xác định rằng: nền văn minh Hán không thể là chú nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành, khi đối chiếu với hai tiêu chí còn lại. Những hệ thống luận cứ này, hoàn toàn không căn cứ và không hề căn cứ vào việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống. 

Bởi vậy, những phản biện cho rằng tôi căn cứ vào việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt là hoàn toàn chứng tỏ sự thiếu phân tích và tổng hợp khi quán xét về hệ thống luận cứ của tôi. Cho đến ngày hôm nay, sau hơn 15 năm xác định về cội nguồn văn minh Đông phương thì chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa đã thừa nhận: Nền văn minh Trung Hoa không thể là chú nhân đích thực của thuyết ADNh. Cá nhân tôi chỉ coi đó là chứng nhân cho tính chân lý đã được mô tả trong hệ thống luận cứ của tôi. Và tôi cũng không cần coi sự xác định của những nhà nghiên cứu Trung Hoa, như là một yếu tố chứng minh cho luận điểm của tôi - Không phải bây giờ mà đã từ nhiều năm trước khi giáo sư Trần Ngọc Thêm sang hội thảo về văn hóa tại Trung Quốc, vào năm vài năm trước, những nhà nghiên cứu Trung Hoa đã thừa nhận thuyết Âm Dương và kinh Dịch không phải của họ.

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2110&Itemid=94

Còn đến bây giờ thì sự thừa nhận của họ là qúa rõ ràng.

Nhưng tôi cũng rất xin lưu ý quý vị và anh chị em quan tâm rằng:

1/ Ngay cả khi nền văn minh Hán thừa nhận thuyết ADNh không thuộc nền văn minh văn minh này, thì điều đó cũng mới là một yếu tố có tính định hướng để đi tìm bản chất của học thuyết này từ một nền văn minh khác. Hoàn toàn không phải là yếu tố để phục hồi chính nội dung đích thực của học thuyết ADNh.

2/ Sự phục hồi thuyết ADNh và minh chứng đó chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ - nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử - không phải là việc đi tìm một trạng thái tồn tại của vật chất để mà cần "di vật khảo cổ" và nó phải cần đến những phương tiện kỹ thuật hiện đại để thẩm định một cách trực quan. Đây là một hệ thống lý thuyết, thuộc sản phẩm của tư duy trừu tương, nên nó cần phải được thẩm định từ những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nếu chỉ căn cứ vào di vật khảo cổ, văn bản cổ thì các cổ thư chữ Hán với đầy đủ các tác "dởm", như Không tử, Chu Văn Vương....vv.....đã nói về điều này từ lâu rồi. Nhưng rõ ràng nó không làm nên nội dung học thuyết này, như chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa đã thừa nhận.

3/ Sử dung tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, là phương pháp nhất quán, có tính hệ thống, để mô tả nội dung học thuyết ADNh thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử.

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Việc giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu của Việt Nam theo lời giới thiệu của nhạc sĩ Dương Thụ - phản biện tính hợp lý trong tiêu chí khoa học mà tôi đề cập và ông ta cũng đặt vấn đề mục đích đi tìm cội nguồn thuyết ADNh không hiểu để làm gì...? Tôi đã trả lời về bản chất của sự tồn tại tính hợp lý trong tiêu chí khoa học để thẩm định một lý thuyết khoa học, còn câu hỏi của ông ta về mục đích đi phục hồi kinh Dịch và thuyết ADNh, thì hôm nay(*) tôi trả lời ông ta như sau:

1/ Thuyết ADNh và kinh Dịch xuất hiện - chí ít trên các văn bản từ cổ thư chữ Hán - xác định sự ra đời từ thời Phục Hy - 6000 năm cách ngày nay - trên lưng con Long mã. Nó có trước tất cả mọi tri thức khoa học và mọi sự hình thành nên nền văn minh hiện nay trên nền trảng tri thức khoa học có xuất xứ từ Tây phương. Nó có trước tất cả những mưu đồ chính trị, vinh quang trong khoa học và khái niệm về danh, lợi của thế gian được hình thành trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Nó là một thực tế tồn tại khách quan trong di sản văn minh nhân loại. Bởi vậy, mục đích của việc phục hồi này là trả lại những giá trị đích thực cho một chân lý. Do đó, câu hỏi của giáo sư Trọng, tôi có thể dùng chính nội dung đó để đặt vấn đề cho tất cả những phát minh khoa học có tính lý thuyết cho toàn bộ nền văn minh nhân loại. Thưa giáo sư Trong: Nó có mục đích gì? Phải chăng mọi phát minh khoa học trước khi hình thành, những nhà khoa học hàng đầu như ông đều phải đặt vấn đề về mục đích của nó? Phải chăng với cách hỏi của ông thì tất cả các ý tưởng phát minh khoa học phải đợi người ta thẩm định xong cái mục đích gì mà ông đặt ra?

=====================

* Chú thích: Câu hỏi này của giáo sư Trọng công khai trong buổi trao đổi tại Cafe Trung Nguyên, nhưng vì ông nói quá dài, tôi không thể nhớ hết nội dung. Sau này xem lai video tôi mới nghe được câu hỏi chất vấn này. Bởi vậy, hôm nay mới trả lời.

Bài này không có trong cuốn sách

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III.3. MINH TRIẾT VIỆT VÀ HẬU THIÊN LẠC VIỆT.

Trong những di sản văn hóa truyền thống còn lưu truyền ở Nam Dương Tử,  thuộc về nền văn minh Lạc Việt từ hơn 2000 năm trước,  có một câu truyện thần thoại từ ngàn xưa, gọi là "Sự tích Nữ Oa vá trời". Câu chuyện có nội dung tóm lược như sau:

Thần nước Cộng Công và thần lửa Chúc Dong đánh nhau. Thần nước thua trận bèn húc đầu vào núi Bất Chu, khiến cột trời đổ gẫy. Trời nghiêng về phía Tây Bắc, đất lệch về phía Đông Nam. Nước từ trên trời đổ xuống, gây ngập lụt khắp nơi. Bà Nữ Oa bèn xuống biển lấy đá Ngũ sắc để vá trời và lấy cỏ Lư đốt thành tro ngăn nước, đem lại bình yên cho thế gian.

 

 

Câu chuyện thần thoại này được các tri thức Hán Nho coi như là một mảng trong sự minh triết Đông phương được thừa nhận trên thực tế. Đoạn trích dẫn dưới đây trong bộ sách nổi tiếng của nền văn hóa Trung Hoa là cuốn “Tam Quốc Chí”, tác giả La Quán Trung, dịch giả Phan Kế Bính, Nxb Đại Học & Giáo Dục chuyên nghiệp Hà Nội 1988, tập 6, trang 167, hồi thứ 86), chứng tỏ điều này:

 

“Tần Bật biện bác hỏi vặn Trương Ôn.
Từ Thịnh hỏa công phá quân Ngụy chủ”

... Khi ấy Tần Bật ứng đối trôi chảy, nói năng hoạt bát, cả đám ngồi đều kinh. Trương Ôn không hỏi vặn được câu gì nữa. Bật mới hỏi lại rằng:
- Tiên sinh là danh sĩ Đông Ngô, đã lấy việc trên trời ma hỏi, tất là hiểu sâu lẽ trời. Khi xưa lúc hỗn độn mới mở, Âm Dương chia biệt, khí nhẹ mà trong thì bay lên thành trời; khí nặng mà đục thì đọng xuống dưới thành đất. Đến đời họ Cung Công đánh trận thua, húc đầu vào núi Bất Chu thì cột trời đổ gẫy mà rường đất sứt mẻ, trời nghiêng về phía Tây Bắc, đất đổ về phía Đông Nam. Trời đã là khí nhẹ mà trong, làm sao lại còn nghiêng về phía Tây Bắc? Vả lại, ở ngoài lần khí nhẹ mà  trong còn có  vật gì nữa, xin tiên sinh dạy cho tôi được biết?

Trương Ôn không biết đối đáp ra sao mới đứng dậy tạ rằng:
- Tôi không ngờ trong Thục lắm người tuấn kiệt thế này, nghe lời ngài giảng luận, khiến tôi mở được đường ngu dốt...

 

Qua nội dung truyền thuyết nói trên, người viết nhận xét thấy có một sự liên quan khá chặt chẽ đối với xuất xứ của Bát quái Tiên thiên và Hậu Thiên như sau:

 

203_zpsb37e0881.jpg

 

Xét sự sắp xếp của 8 quái trong Tiên thiên ở hình vẽ trên (tương truyền do vua Phục Hy phát hiện - 6000 năm BC) thì quẻ Càn (trời) ở trên; Khôn (đất) ở dưới, ứng với đoạn đầu của truyền thuyết: Khí nhẹ và trong bay lên thành trời; khí nặng và đục tụ xuống thành đất.
Xét đồ hình Bát quái Hậu thiên Văn Vương như hình vẽ sau đây:

 

1971203_zps51f43345.jpg

Hậu thiên Văn vương theo cổ thư chữ Hán
 

Theo truyền thuyết thì trong Hậu thiên Bát quái, Chu Văn Vương đưa quẻ Càn (trời) về phía Tây Bắc.Nhưng ứng với truyền thuyết thì sự nghiêng lệch của trời đất lại do cột trời đổ gẫy. Cột trời có tên là "Bất Chu", hiểu theo một nghĩa khác thì "Bất Chu" nghĩa là không phải nhà Chu làm trời lệch sang phía Tây Bắc. Qua hình vẽ dưới đây, bạn đọc sẽ thấy trong hình Hậu thiên, quẻ Càn (Trời) lệch về phía Tây Bắc. Phía trên thay thế vị trí quẻ Càn (Trời) là quẻ Khảm (thuộc Thủy, nước) ứng với truyền thuyết: Nước từ trên trời đổ xuống gây lụt lội khắp nơi. Chi tiết khác nhau duy nhất theo truyền thuyết thì đất lệch về hướng Đông Nam; nhưng ở hình Hậu thiên Bát quái Văn Vương thì quẻ Khôn (tượng Đất) lệch về phía Tây Nam.

Đây chính là một mật ngữ hướng dẫn cho việc đi tìm những bí ẩn của văn hóa Đông Phương. Nếu ta theo truyền thuyết đưa quẻ Khôn (Đất) về vị trí Đông Nam và quẻ Tốn đang ở phía Đông Nam về vị trí Tây Nam của quẻ Khôn, thì sẽ mang tính đối xứng qua tâm của hình Hậu thiên Bát quái. Qui luật đối xứng (cân bằng Âm Dương) là nguyên lý căn bản của Lý học Đông phương.

Bạn đọc xem hình vẽ dưới đây:

 

204_zpsb522c20f.jpg

Hậu thiên bát quái Lạc Việt
Đã sửa vị trí Tốn, Khôn theo truyền thuyết
“Đất lệch về phía Đông Nam”

 

Truyền thuyết này xác định: Hậu thiên Bát quái không phải do Chu Văn Vương làm ra, qua hình tượng "Cột chống trời Bất Chu". Tức không phải do nhà Chu làm ra Hậu thiên Bát quái.

Người viết xin một lần nữa lưu ý bạn đọc là: chúng tôi không coi việc giải mã như là một luận cứ nhằm chứng minh luận điểm của chúng tôi. Việc mô tả một truyền thuyết dân gian liên quan đến cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái, chỉ nhằm chứng tỏ tính minh triết trong văn hóa dân gian Việt liên quan đến một mô hình biểu kiến nổi tiếng của Lý học Đông phương với khả năng phục hồi lại những gía trị đích thực của nền văn minh này. Nội dung minh triết đó, hoặc trực tiếp mang lại sự kiến giải khác hẳn nội dung kiến giải của các nhà nghiên cứu Hán Nho; hoặc đưa đến một giả thuyết đúng được minh chứng trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Vấn đề đổi chỗ Tốn Khôn, phục hồi đồ hình "Hậu Thiên Lạc Việt" từ những giá trị minh triết Việt, phủ nhận một sự mặc định sai lầm từ hàng ngàn năm qua cho rằng: Hậu thiên Bát quái do Chu Văn Vương sáng tạo, chỉ được coi là đúng, nếu nó mang tính hệ thống và phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Tức là: Nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

Tất nhiên, hệ quả của sự phản ánh chân lý, tức nội dung đích thực của học thuyết này, nhân danh nền văn hiến Việt, phải là sự tiếp tục hoàn chỉnh những giá trị của một lý thuyết đã tồn tại trên thực tế.

 

CHƯƠNG IV

NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT

MANG NỘI DUNG MINH TRIẾT

LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐỔI CHỖ TỐN/ KHÔN TRONG HẬU THIÊN LẠC VIỆT.

Truyền thuyết "Nữ Oa vá trời" vốn được coi là truyên dân gian Trung Quốc, thực chất là những chuyện của nền văn minh Bách Việt ở Nam Dương Tử bị Hán hóa. Không chỉ có một chuyện này, mà rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại Việt bị Hán hóa. Sự đồ sộ của những di sản Việt ở bờ nam Dương Tử còn huyền vĩ cho đến tận đời nhà Đường, khiến cho nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn minh Hán phải ngỡ ngàng mà mơ ước được sống trong huyền thoại Việt, qua bài thơ nổi tiếng của ông: "Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt". Chúng tôi sẽ giới thiệu bài thơ này ở phần phụ chương.

Nhưng không riêng gì truyền thuyết "Nữ Oa vá trời", mà còn nhiều truyền thuyết huyền thoại Việt còn lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt, cũng có nội dung định hướng cho việc thay đổi vị trí Tốn Khôn và liên hệ với Hà Đồ trong tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Một trong những câu truyện cổ tích nổi tiếng của Việt Nam là chuyện "Con Tấm, con Cám" cũng có nội dung liên hệ này.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

 

IV. 1. TÍNH MINH TRIẾT VIỆT TRONG CHUYỆN TẤM CÁM 
& VẤN ĐỀ VỊ TRÍ TỐN KHÔN TRONG HẬU THIÊN BÁT QUÁI LẠC VIỆT

Chuyện Tấm Cám là một câu chuyện nổi tiếng trong văn hoá dân gian Việt Nam, vốn được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Chuyện Tấm Cám có kết cấu rất hoàn chỉnh và mang một nội dung sâu sắc với nhiều tình tiết phức tạp. Những dị bản của loại chuyện như thế này có nhiều ở những nền văn hoá lâu đời của nhân loại và nội dung của chuyện Tấm Cám cũng có nhiều chi tiết tương đồng với những câu chuyện cổ tích của các dân tộc khác trên thế giới. Thí dụ như: tình tiết phục sinh từ quả thị trong Tấm Cám thì trong “Già Thu gặp tiên”, “Tú Uyên Giáng Kiều”….hoặc một số truyện trong "1000 một đêm lẻ", Chuyện “Nàng Bạch Tuyết và bẩy chú lùn”, chuyện "Cô bé Lọ Lem"...cũng có nhiều nét tương đồng với chuyện Tấm Cám. Nhưng có thể nói, chỉ có truyện Tấm Cám của Việt Nam mới có nhiều tình tiết trong một mạch truyện xuyên suốt, mang tính minh triết liên quan đến lý thuyết và những phương pháp của Dịch học, thông qua những hình tượng của nó, hơn hẳn những chuyện dị bản của những nền văn hoá khác. Điều này chứng tỏ chuyện Tấm Cám của dân tộc Việt có cội nguồn từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại. Riêng truyện Tấm Cám có nhiều tình huống và chi tiết mang hình tượng văn hoá đặc thù của người Lạc Việt, như: Trầu cau, chiếc rìu, quả thị, nằm võng..vv..Điều này chứng tỏ nó thuộc loại văn chương bác học và bị khuyết danh vì những thăng trầm lịch sử, chứ không phải là loại văn học bình dân và được sáng tạo và phát triển bởi quần chúng. 

Sự tồn tại của truyện Tấm Cảm trải qua bao thăng trầm của lịch sử Việt, đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt từ ngay trong nội dung câu truyện, vì tính minh triết tuyệt vời của nó trong nền văn minh phương Đông.

 

 Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, tuổi thơ của bao thế hệ đã đi qua thời thơ ấu trong không gian của truyền thống văn hoá Việt do thế hệ trước truyền lại. Đó chính là những chiếc bánh chưng, bánh dầy, những bức tranh dân gian đầy màu sắc sinh động, những trò chơi trẻ em như “Ô ăn quan”, “Chi chi chành chành”…hoặc những câu chuyện đượm màu huyền thoại như: "Thạch Sanh", "Trương Chi , Mỵ nương”….. Tất cả hầu như đều mang một ý nghĩa minh triết Việt. Chuyện Tấm Cám cũng là một câu chuyện như vậy.

Trong chuyện Tấm Cám, cũng như hầu hết những câu chuyện dân gian Việt, cái thiện luôn thắng cái ác và kẻ ác phải trả giá cho việc làm của họ. Đây chính là sự hướng tới những giá trị nhân bản trong việc giáo dục những thế hệ tiếp nối của nền văn hiến Việt. Câu chuyện Tấm Cám không chỉ mang một triết lý nhân sinh về tính nhân quả gần gũi với giáo lý Phật giáo, mà còn chứa đựng trong đó cả một giá trị minh triết Đông phương. Đó là sự minh triết Việt Dịch.

Có thể khẳng định rằng: Hầu hết những di sản văn hoá phi vật thể Việt để lại cho hậu thế đều mang tính minh triết rất sâu sắc. Mỗi câu ca dao tục ngữ đều là một châm ngôn về con người và cuộc sống, về cách xử thế hàng ngày, hoặc đó là những lời khuyên khôn ngoan về các tri thức thiên nhiên, xã hội và con người.

Trong những di sản văn hoá độc đáo ấy, chúng ta nếu chịu suy nghĩ và tìm tòi, còn thấy cả những chìa khóa giải mã những bí ẩn của giá trị của nền văn minh Đông phương

Những nội dung của các câu chuyện này đều có một mục đích thống nhất và trùng khớp về những giá trị bí ẩn của văn minh Đông phương, có tính hệ thống. Chứ không phải là những hiện tượng riêng lẻ, ngẫu nhiên trùng lặp. Câu chuyện “Con Tấm. Con Cám” của dân tộc Việt, cũng không ngoại lệ. Chính vì nội dung rất sâu sắc và tính minh triết của câu truyện này, đã khiến cho tác phẩm có một sức sống vượt thời gian, trải hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử Việt.

Mở đầu câu truyện, chúng ta thấy cảnh ngộ của Tấm thật là bi đát: 

Cha mẹ mất sớm và ở với dì ghẻ.Đây là những mâu thuẫn đầu tiên của con người, trong mối quan hệ xã hội. Đối tượng chính trong câu truyện này là bà dì ghẻ, mẹ của Cám và Tấm, con riêng của chồng bà. Cô Cám chỉ là một cái cớ để câu truyện diễn tiến. Sự tồn tại của ba nhân vật nữ chính và sự bi đát của cô Tấm cho thấy một hoàn cảnh thuần Âm, được biểu tượng bằng ba người đàn bà trong gia đình. Đó chính là tượng của quẻ Thuần Khôn:

queKhon.jpg
 
và địa vị của cô Tấm, trưởng nữ, tượng của quẻ Tốn theo mô tả của kinh Dịch.

 QTON.jpg

Mâu thuẫn xã hội là một thực tại và nó phát triển theo quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Mâu thuẫn đầu tiên và sơ khai nhất chính là mối quan hệ gia đình. Hoàn cảnh của cô Tấm trong câu chuyện là một ví dụ. Nếu câu chuyện giải quyết theo hướng người mẹ kế của cô Tấm có ý thức nhân đạo, nuôi cô Tấm như con đẻ của mình. Như vậy, sẽ có Dương (Ý thức thuộc Dương) trong Âm (Ba người đàn bà) thì Âm Dương được cân bằng và câu chuyện bi thương này diễn biến theo chiều hướng khác. Nhưng bà mẹ của Cám lại sống theo bản năng của người đàn bà trong mối quan hệ giữa con mình và con không do mình đẻ ra. Trong giai đoạn đầu, tính thuần Âm chỉ đạo toàn bộ sự diễn tiến và phát triển của câu truyện. Âm càng phát thì mâu thuẫn ngày càng tăng.

Chuyện bắt đầu chỉ là con tép, rồi lên con cá. Sau đó, khi mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển trong lịch sử tiến hóa của loài người thì nhu cầu về ăn mặc cũng phát triển. Phần Dương trong một hoàn cảnh thuần Âm này chỉ là mơ ước của Tấm với hình tượng ông Bụt hiện lên mỗi khi hoạn nạn. 

Với những người nghiên cứu về kinh Dịch, chúng ta đều biết rằng: Trong một quẻ 6 hào thì quái Thượng: gồm ba hào trên 4. 5. 6 , trên là Dương; quái Hạ:  gồm ba hào dưới 1. 2. 3, dưới là Âm, Theo nguyên lý “Dương trên, Âm dưới”.

Qua ba giai đoạn gian truân trong  gia đình và phát triển từ thấp đến cao, chính là ba hào Âm của quái Hạ trong quẻ Thuần Khôn:

 

queKhon.jpg

Ba sự kiện đó là giỏ tép bị tráo (Hào sơ lục), cá bống bị giết (Hào Lục nhị) và sự đau khổ của Tấm khi phải nhặt thóc một cách vô vọng cho ước mơ của mình (Hào Lục tam). Đây chính là hình tượng ba hào Âm cuối của quẻ thuần Khôn. Trong giai đoạn này, đến Hào hai (“Hào Lục nhị”) là hào Âm chính vị theo lý Dịch, hình tượng của con cá bống mỗi khi Tấm cho ăn có một câu ca kỳ lạ: 

Bống bống bang bang 

Bống ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta. 
Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người.


Câu ca nổi tiếng này được các bà mẹ Việt truyền từ đời này sang đời khác, qua bao thăng trầm của giống nòi, khi kể lại câu truyện cho đứa con thơ dại. Mỗi khi đọc bài ca này, mắt mẹ lại ánh lên nhìn vào mặt con, như muốn truyền cảm tình yêu mái ấm gia đình mà mẹ là người chở che, bao bọc. 

Cũng như chuyện thằng Bờm, sự quay cuồng bão tố của không. thời gian lịch sử không làm thay đổi một chữ. Ở đây, trong bài ca này của cô Tấm, cũng không hề bị sửa chữa bởi một ý thức hàn lâm ngớ ngẩn.

Tại sao thể nhỉ? Ông cha ta dùng ngoa ngữ chăng? Cơm của Tấm cũng là cơm, lại là cơm của con nhà nghèo, làm sao gọi là "cơm vàng, cơm bạc" được? 

Đây chính là hình tượng, nhắc nhở hậu thế đừng vội quay lưng với những di sản của ông cha. Mà trong đó, ẩn chứa những giá trị vô giá không thể so sánh với những giá trị vật chất tầm thường. 

Khi Tấm cưỡi ngựa hồng, mặc áo đẹp, đội nón quai thao, mang hài đi dự lễ hội, thoả mãn ước mơ của mình thì câu chuyện bước sang một cấu trúc khác. Mâu thuẫn của mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, được chuyển sang mâu thuẫn trong quan hệ xã hội: Mâu thuẫn về danh vọng và quyền lực.Tấm đang ở trong hào Lục tứ (Hào Âm chính vị) của quái Thượng, trong quẻ thuần Khôn thuộc Âm (*). 

 

 QKHON.jpgQuái Khôn thượng - Hào Lục tứ (Hào thứ tư, đếm từ dưới lên. Bắt đầu từ quái Khôn hạ)

 

QKHON.jpg Quái Khôn Hạ

 

Xã hội loài người liên tục phát triển thì mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển với những hình thái mới của nó. Qua giai đoạn thuần Âm của ba hào quẻ Khôn hạ, mâu thuẫn xã hội trong gia đình, chuyển sang một hình thái mới là Dương trong Âm của ba hào trong quái Khôn thượng của quẻ Thuần khôn.

 Diễn biến của câu truyện từ lúc này về sau, không có hình ảnh của ông Bụt (Tính Dương trong quái Khôn hạ thuần Âm). 
Trong hào Lục tứ chính vị, Tấm được tấn phong hoàng hậu chỉ dưới hào Cửu Ngũ là hào của vua. Nếu như lúc Tấm trở về làng, mẹ con nhà Cám phục tùng hoàng hậu, giữ đạo quần thần. Tức là có ý thức trong mối quan hệ xã hội (Thuộc Dương) thì câu truyện có thể chấm dứt ở đây. Và đây cũng là kết thúc của một câu chuyện dị bản tương tự của văn hoá cổ Châu Âu trong câu chuyện Lọ Lem.

Nhưng nền văn minh cổ của người Việt đã tiếp tục câu chuyện sâu sắc hơn nhiều, theo đúng tinh thần của Dịch học: Quẻ thuần Khôn chưa đi hết 6 hào của nó và mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển. Tấm bị mẹ con nhà Cám lừa giết chết, khi đang trèo lên cây cau và biến thành con chim vàng anh. Đây là lần biến hoá thứ nhất của hào Lục Tứ.

Sự tranh chấp quyền lực - mâu thuẫn trong quan hệ xã hội - vẫn tiếp tục xảy ra và Âm vẫn thắng Dương: Con chim vàng anh hoá thân của Tấm bị giết. Đến đây sự kiện chuyển sang hào lục ngũ, Âm không chính vị. Cám thay chị làm hoàng hậu. Linh hồn của Tấm biến thành cây xoan tiếp tục oán than. Cám tiếp tục truy sát, chặt cây làm khung cửi. Sự kiện tột cùng của hào Thượng lục trong quẻ thuần Khôn và cũng là lúc tính thuần Âm của quẻ Thuấn Khôn đạt đến đỉnh cao nhất: Tấm trở thành cái khung cửi và là một công cụ của Cám.

Chúng ta cũng nhận thấy rằng: Trong giai đoạn sau được diễn tả thông qua 3 hào thượng của quẻ Thuần Khôn - từ lục tứ đến thượng lục - không có hình ảnh của Bụt trong câu chuyện. Linh hồn của Tấm, thuộc Dương trong Âm (Hồn người chết), trực tiếp tham gia diễn biến câu truyện, thay thế cho hình tượng ông Bụt. Nhiềư nhà phê bình văn học đã cho rằng: Đây là hình ảnh chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo. Nhưng người viết cho rằng: đây chính là sự minh hoạ đặc sắc cho tính vi diệu của Dịch học, có sự tương đồng với Phật Pháp. Để chứng tỏ điều này, chúng ta có thể xem lại bản văn sau đây trong kinh Dịch: 
Hệ Từ thượng truyện. Chương V. Tiết 2 viết:

Ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái  cớ của sáng tối. Quay về nguyên thuỷ của vạn vật, theo đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết . Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật . Hồn thoát ra tạo nên sự biến hóa, nên biết được tình trạng của quỉ thần.

 

Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên Hồn thoát ra tạo nên sự biến hóa", cho thấy tinh thần của Dịch rất gần gũi với giáo pháp của Phật về sự luân hồi, qua hình tượng Bụt. Cho nên, có sự ngộ nhận chuyện Tấm Cám ảnh hưởng của Phật giáo. Điều này cũng giống như sự tích "Đầm Nhất Dạ" với Chử Đồng Tử, hoặc "Sự tích Cây Nêu", đều có hình ảnh của Đức Phật.

Nhưng hình tượng cây Nêu trong "Sự tích cây Nêu" là một giá trị văn hoá phi vật thể thuần Việt: Chỉ có ở văn hoá Việt Nam mới có cây Nêu. Còn những quốc gia ảnh hưởng Phật pháp khác, không có hình tượng này. Điều này cho thấy hình tượng cây nêu là một sản phẩm văn hoá thuần Việt và không có nguồn gốc từ Phật giáo. Nhưng chính tính gần gũi của tư tưởng Dịch học và Phật pháp với những giá trị minh triết trong văn hoá truyền thống Việt, nên trong "Sự tích cây Nêu" đã dùng hình ảnh chiếc áo cà sa của Đức Phật phủ lên cây Nêu.

 Đây là một biểu tượng sự che chở của Phật Pháp, mang tính mật ngữ cho thấy những giá trị văn hoá Việt trong sự bi tráng của lịch sử giống nòi. Hình ảnh chiếc áo cà sa của Phật, trùm lên vòng tròn phía trên cây Nêu truyền thống, còn cho biết phải đi tìm bản thể vũ trụ  - "Thái cực" ,vòng tròn phía trên cây Nêu truyền thống - trong minh triết của Phật Pháp và Đạo Đức kinh (Đạo giáo).

Quay trở lại với nội dung câu chuyện Tấm Cám, chúng ta thấy rằng: Mâu thuẫn đã lên đến tột đỉnh trong quan hệ xã hội của con người. Đó là mâu thuẫn ở đỉnh cao của quyền lực: Tấm và Cám trong sự tranh giành địa vị Hoàng Hậu. Âm tính đã phát triển đến hào Thượng Lục trong quẻ thuần Khôn. Vì tính thuần Âm, nên mâu thuẫn không được giải quyết. Linh hồn của Tấm vẫn khắc khoải với sự đau khổ, oan trái của mình. Nhưng về lý Dịch thì sự việc phải chuyển hóa. Chiếc khung cửi bị Cám đốt hoá thành tro để chuyển hóa câu chuyện sang một hoàn cảnh mới: Nhất Dương sinh, theo nguyên lý cực Âm sinh Dương của Dịch.

Hình ảnh "quả thị" là một biểu tượng tuyệt vời trong trường hợp này. Đây là một loại quả (trái cây) chỉ dùng trong việc thờ cúng của văn hoá truyền thống Việt. Quả thị chỉ có mùi hương (mùi vị thuộc Dương,  hình thể thuộc Âm) và không ăn được.

Thị ơi! Thị à!Thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi, chứ bà không ăn!

Các bà mẹ Việt Nam kể lại câu chuyện này, cũng giải thích rằng: Chính vì vậy mà quả thị từ đó về sau không ăn được.

Linh hồn của Tấm nấp trong quả thị và phục sinh từ quả thị. Đây là hình tượng của quẻ Phục: Nhất Dương sinh

QuePhuc.jpg
  Hào sơ cửu trong quẻ Phục. Nhất Dương sinh.

Tấm đã sống lại và ở với bà lão. Như vậy, khi linh hồn cô Tấm nằm trong quả thị và hàng ngày bước ra giúp dọn việc nhà thì câu chuyện đã đang ở trong hào Nhất Dương, sơ Cửu của quẻ Phục. Khi bà lão rình phát hiện được Tấm và xé bỏ quả thị đi thì cô Tấm hoàn Dương. Cô Tấm sống với bà lão. Đây là hình tượng của hào Cửu Nhị của quẻ Lâm và câu chuyện đang diễn biến trong nội hàm của nó: Ngôi Dương của hào cửu nhị không đắc chính. Tấm còn đang chịu cảnh đất khách quê người.

 

QueLam.jpg

 Hào Cửu nhị của quẻ Lâm. Biến lần hai.

 

Câu chuyện tiếp diễn khi nhà vua tình cờ vi hành qua hàng nước của bà lão. Một tình tiết rất độc đáo ở giai đoạn này và có lẽ cũng là lời giáo huấn của tiền nhân, chính là hình ảnh của miếng trầu têm cánh phượng. 

Trầu cau là một giá trị đặc thù của văn hoá Việt. Trầu têm cánh phượng chính là hình tượng của một giá trị cao nhất của nền văn hoá đó. Và chỉ có cô Tấm mới thực hiện được điều này. Toàn bộ đoạn này, cha ông ta đã gửi gấm lại cho đời sau một thông điệp: 

Chính những giá trị văn hoá Việt là tiền đề cho sức sống và sự phát triển của dân tộc Việt.

Bởi vậy, những thế hệ tiếp nối nền văn hiến Việt phải có trách nhiệm bảo tồn những giá trị văn hóa Việt. Khi nền văn minh toàn cầu hội nhập thì dân tộc nào có giá trị văn hóa cao cấp, chính là dân tộc được trân trọng trên thế giới.
Trở lại với câu truyện Tấm Cám, chúng ta thấy rằng:
 Nhờ miếng trầu têm cánh phượng, nhà vua đã đưa cô Tấm trở về hoàng cung và là chính cung hoàng hậu. Câu chuyện đang diễn biến ở hào Cửu Tam. Dương đắc ngôi dương.

Nhưng đến đây nếu chúng ta vội cho rằng: 3 hào Âm của quẻ Thuần Khôn đã biến thành ba hào Dương là tượng của quẻ Địa Thiên Thái thì thật sai lầm. Đây chưa phải là quẻ Địa Thiên Thái.

 

QueThai.jpg

Quẻ Địa Thiên Thái trong Dịch học.

 

Một trong những giá trị căn bản của câu chuyện này, chính là ở đoạn cuối của câu chuyện.
Về tượng quái thì quẻ Khôn trong Địa Thiên thái và trong quẻ thuần Khôn đều giống nhau. Nhưng là những người đã tìm hiểu về Dịch thì chúng ta sẽ thấy rằng: Ý nghĩa của cùng một quái nhưng ở hai quẻ khác nhau sẽ khác nhau.

 

queKhon.jpg.........................QueThai.jpg

Quái thượng Khôn.................Quái thượng Khôn

trong quẻ Thuần Khôn..........trong quẻ Địa Thiên Thái

 

Quái thượng Khôn trong quẻ Thuần Khôn và quái thượng Khôn trong quẻ Địa Thiên Thái, mặc dù giống về hình tượng, nhưng không thể cùng một nội dung. Sự tuần hoàn của tạo hóa khiến mỗi quẻ ở vị trí khác nhau trong vòng tuần hoàn vô tận, sẽ không giống nhau dù giống về hình tượng. Bởi vậy, quái Khôn trong quẻ Thuần Khôn tượng là bà mẹ của Cám, nhưng quái Khôn trong quẻ Địa Thiên Thái thì lại khác hẳn về tính chất.  Cho nên, câu chuyện chưa chấm dứt ở đây khi mới đến sự chuyển hóa lần thứ nhất về tính chất của quẻ Lục tứ là hào Âm chính vị trong quẻ thượng Khôn. với hình tượng cô Tấm hồi cung lên làm hoàng hậu.

Câu chuyện diễn biến đến hình tượng của hào Lục ngũ, Âm không chính vị.  Đó chính là sự chuyển hoá tính chất khi những sự kiện diễn biến liên tục ở đoạn cuối. Cám đang làm vợ vua không chính danh vì đoạt quyền của chị, đã chết vì tham vọng vô độ. Cô ta không từ một cách nào để đạt mục đích. Lòng tham đã dẫn đến sự ngu xuẩn, thể hiện bằng hành động tự nhảy vào vạc dầu sôi của chính mình. Hình ảnh cô Cám tự nhảy vào vạc dầu sôi, vì nóng ruột muốn nhanh chóng làm đẹp, hòng giữ ngôi vị hoàng hậu, còn cho thấy một giá trị minh triết về lòng tham của con người chính là vạc dầu sôi tự hủy diệt. Đây cũng là điểm tương đồng giữa minh triết Việt với Phật pháp.

Chuyển sang hào Lục thượng của quái Thượng Khôn. Tấm lấy muối ướp xác em đưa về quê an táng. Bà mẹ Cám tưởng là mắm của con mình gửi về, lấy ăn dần. Bà mẹ Cám ăn thịt con mà không biết. Đây là một hình tượng rất ấn tượng vì tính khủng khiếp của nó. Nhưng về tính minh triết của hình tượng này lại cho thấy: Chính bà mẹ Cám đã giết dần con mình khi xui con lao vào tội ác và những tham vọng quyền lực. Bà mẹ Cám đã ăn thịt chính con bà từ lâu. Đến khi thấy hậu quả tội ác của chính bà thì bà ta cũng chết.

Chính vì hình ảnh ấn tượng này lại là sự cảnh tỉnh cho lòng tham của con người nhắc nhở cho thế hệ sau. Và đây cũng chính là một hình tượng được giải mã tuyệt vời nhất cho sự hoán vị Tốn Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt so với Hâu thiên Văn vương: Khi bà mẹ Cám, tượng cho quái Khôn trong quẻ thuần Khôn chết và Tấm (trưởng nữ, tượng quái Tốn), chính thức thay thế trong vị trí hoàng hậu làm Mẫu nghi thiên hạ. Đây là một nội dung khác của quái Khôn thì tính chất của quái Khôn mới thay đổi để cuộc đời mở ra với quẻ Địa Thiên thái. Và cũng chính hình tượng này lại cho thấy vị trí của Tốn (Trưởng Nữ - Tấm) phải thay thế cho quái Khôn - mẹ Cám trong Việt Dịch với "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ".

 Câu truyện Tấm Cám đã sống với nền văn hoá dân tộc Việt trải hàng thiên niên kỷ, còn chứa đựng nhiều nội dung sâu sắc thuộc về nền minh triết Lạc Việt. Nhưng do khả năng người viết có hạn nên không phân tích được hết ý.

Hy vọng các bậc cao nhân sẽ tiếp tục khám phá và tìm ra những gía trị đích thực của nó.

 

IV.2 . BÍ ẨN THUYẾT QUÁI TRUYỆN VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI TỐN KHÔN.

Người viết đã hân hạnh giới thiệu với bạn đọc về những gía trị minh triết Việt liên quan đến sự chuyển đổi vị trí hai quái Tốn Khôn trong cái gọi là Bát quái Văn Vương. Nhưng còn một hiện tượng xác định một cách gián tiếp về việc chuyện đổi Tốn Khôn lại nằm ngay trong chính văn bản của kinh Dịch, còn gọi là Chu Dịch, vốn hàng ngàn năm qua được hiểu là Dịch của nhà Chu, do Chu Văn Vương phát minh.

Đoạn kinh văn trong bản Chu Dịch (Kinh Dịch) nói trên nằm trong phần "Thuyết quái truyện". Tiết 5, Thuyết quái truyện viết:

"Đế xuất hồ Chấn"; "Tề hồ Tốn"; "Tương kiến hồ Ly"; "Trí dịch hồ Khôn"; "Thuyết ngôn hồ Đoài"; "Chiến hồ Càn"; "Lao hồ Khảm", "Thành Ngôn hồ Cấn".

Đồ hình Hậu thiên Văn Vương, được các nhà nghiên cứu Hán Nho cho rằng xuất hiện vào đời Tống, hoàn toàn trùng khớp với thứ tự của đoạn kinh văn này. Bạn đọc xem hình mô tả do người viết thực hiện dưới đây bắt đầu từ quái Chấn, theo hình mũi tên:

215_zps803419e0.jpg

Chính các nhà nghiên cứu Lý học hiện đại cũng cho rằng: các Đạo gia thời Tống đã căn cứ vào đoạn kinh văn trên để làm ra Hậu Thiên Văn Vương.

Nhưng bạn đọc cũng nhận thấy nội dung đoạn kinh văn trên không trực tiếp diễn đạt nguyên lý cấu hình Hậu thiên Văn Vương, mà chỉ là sự trùng hợp theo thứ tự diễn đạt. Và bản thân nội dung đoạn kinh văn trên, không cần chứng minh  cũng xác định ngay rằng: Nó không thể là nguyên lý cho cấu trúc hình Hậu Thiên Văn Vương. Vậy nó mang hàm nghĩa gì?

Nhà nghiên cứu Dịch học hiện đại nổi tiếng Trung Quốc hiện nay là ông Thiệu Vĩ Hoa, đã giải thích đoạn kinh văn này như sau:

1/ Đế xuất hồ Chấn: Vũ trụ vận động bắt đầu từ quẻ Chấn (Quẻ Chấn là phương Đông, lệnh của tháng Hai, mùa xuân. Mặt trời phía Đông mọc lên là thời kỳ tỏa chiếu cho vạn vật sinh trưởng).

2/ Tề hồ Tốn: Vận hành đến quẻ Tốn, vạn vật đã đầy đủ, hưng vượng (Quẻ Tốn là Đông Nam, lệnh của tháng Ba, tháng Tư. Mặt trời đã lên cao, chiếu rọi vạn vật rõ ràng).

3/ Tương kiến hồ Ly: Quẻ Ly là tượng trong ngày, ánh sáng rực rỡ, mọi vật đều thấy rõ (Quẻ Ly là phương Nam, lệnh của tháng 5, chính là lúc mặt trời ở trên cao, nhìn rõ mọi vật đang sinh trưởng).

4/ Chí dịch hồ Khôn: Thiên đế (chỉ vũ trụ) giao cho đất (Khôn) trọng trách (dịch) nuôi dưỡng vạn vật (Quẻ Khôn là phương Tây Nam, lệnh của tháng 6, tháng bảy; Khôn là đất, nuôi dưỡng vạn vật, thời kỳ vạn vật đã phát triển đầy đủ).

5/ Thuyết ngôn hồ Đoài: Là lúc vạn vật tươi vui ("thuyết" tức tươi vui), bèn ứng ở quẻ Đoài (Quẻ Đoài là phương Tây, lệnh của tháng 8, chính là lúc hoa quả trĩu đầy,lúc mừng được mùa).

6/ Chiến hồ Càn: Thời khắc tương ứng với Càn là lúc vạn vật mâu thuẫn, đối lập, đấu tranh (Quẻ Càn là phương Tây Bắc, lệnh của tháng 9, tháng 10, là lúc tối sáng, Âm Dương đấu tranh lẫn nhau.

7/ Lao hồ Khảm: Khi vũ trụ vận hành đến Khảm, mặt trời đã lặn, vạn vật mệt mỏi (Quẻ Khảm là phương Bắc, lệnh của tháng 11. Khảm là nước, không ngừng chảy, nghĩa là lao khổ. Mặt trời ở phương này hoàn toàn không có, vạn vật mệt mỏi, là lúc lúc yên nghỉ).

8/ Thành ngôn hồ Cấn: Vũ trụ vận hành đến Cấn là đã hoàn thành một chu kỳ và sắp  bước sang một chu kỳ mới (Quẻ Cấn là phương Đông bắc, lệnh của tháng 12 và tháng Giêng, tức giao thời của Đông và Xuân, đen tối sắp qua, ánh sáng sắp tới, vạn vật đến đây đã kết thúc một ngày, cũng là lúc ngày mới sắp bắt đầu)(*)

 

* Chú thích: Chu Dịch với dự đoán học. Thiệu Vĩ Hoa. (Sách đã dẫn.Trang 20).

Rõ ràng những giải thích của ông Thiệu Vĩ Hoa cũng hoàn toàn không hề làm sáng tỏ hơn nội dung của đoạn kinh văn trên và nó vẫn không thể chứng tỏ được đoạn kinh văn trên là nguyên lý cấu thành đồ hình Hậu thiên Bát quái Văn Vương. Vậy đoạn kinh văn trên ra đời nhằm mục đích gì?

Người viết nhận thấy rằng: Đây cũng chính là một mật ngữ nữa, ngay trong chính văn của kinh Dịch theo bản văn chữ Hán, nhằm  xác định một cách rõ nhất và gần như là lời khuyên trực tiếp phải đổi chỗ Tốn Khôn.

Người viết trình bày nội dung này theo cách hiểu như sau:

 

1/ Đế xuất hồ Chấn: Vua ra cửa Chấn. Mang một nội dung phục dựng lại lịch sử Văn Lang dưới triều đại các vua Hùng (Đế), sẽ gây ra sự chú ý của dư luận. Hàm nghĩa quái Chấn là sấm sét, là sự kinh động.

 

2/ Tề hồ Tốn: Từ "tề" trong câu "Tề hồ Tốn", hoàn toàn vẫn dùng một cách phổ biến trong ngôn ngữ của đồng bào Nam bộ Việt Nam hiện nay, nghĩa đen là cào bằng, làm bằng, làm cho cùn. Như vậy nghĩa đen rất cụ thể của từ này theo đúng ngôn ngữ Việt là "cào bằng cửa Tốn".

 

3/ Tương kiến hồ Ly: Quẻ Ly ở phương Nam, là tượng trưng cho sự minh triết, tính văn hóa, giáo dục, thuộc hành Hỏa. Nghĩa đen của câu này là gặp gỡ ở phương Nam. Tất nhiên là như vậy. Vì chỉ có nền văn hiến Việt ở phương Nam mới có thể xác định được điều này.

 

4/ Chí dịch hồ Khôn: Nghĩa đen của câu này rất rõ ràng: Có ý chí, hoặc trí tuệ để chuyển (Dịch) quái Khôn. Còn chuyển đi đâu nữa, khi đã "tề hồ Tốn" ở Đông Nam thì chỉ còn có vị trí đó để chuyển quái Khôn ra đấy và quái Tốn thay vào vị trí Tây Nam của quái Khôn.

 

5/ Thuyết ngôn hồ Đoài: Nghĩa đen của câu này có nghĩa là nói chuyện ở phương Đoài, tức phương Tây. Câu này mang một hàm nghĩa sâu sắc hơn cho thấy: phải lấy chuẩn mực khoa học của phương Tây - nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại - để chứng minh cho việc chuyển đổi này.

 

6/ Chiến hồ Càn: Càn là trời, là vũ trụ. Do đó, việc chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan cổ xưa sẽ xảy ra cuộc tranh luận khó khăn.

 

7/ Lao hồ Khảm: Nghĩa đen của câu này là "vất vả ở cửa Khảm" . Quái Khảm ở phương Bắc. Nội dung của câu này chắc không cần giải mã. Tất nhiên với 2000 năm mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái của người Hán (Phương Bắc) thì việc chứng minh của Việt tộc không dễ dàng gì!

 

8/ Thành ngôn hồ Cấn: Mọi chuyện sẽ kết thúc khi xác định được rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là học thuyết vũ trụ quan, mô tả sự vận động tương tác có tính quy luật của vũ trụ liên quan đến Địa Cầu. Quái Cấn chính là biểu tượng của Địa cầu(*)

 

*Xin xem thêm: "Nguyên lý quái Cấn ở trung cung" , trong "Tìm về cội nguồn kinh Dịch". Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Xuất bản lần thứ 1. Nxb Đại học quốc gia 2001. trang 353. Hoặc "Tìm về cội nguồn kinh Dịch". Xuất bản lần thứ 2. Nxb VHTT. 2002. trang 281.

 

Trong quá trình chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, người viết đã nhận thấy mọi việc đang diễn ra đúng như vậy.

Trong nội dung của bản văn kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán, hiện tượng tự phản biện này không phải lần duy nhất xác định kinh Dịch không phải của người Hán. Chính dấu ấn hóa thạch của câu trong Hệ từ thượng truyện "Thị cố dịch hữu Thái cực...." và kết thúc "Tứ tượng sinh bát quái" cũng đã xác định điều này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

1V. 3. TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ NHỮNG CÂU ĐỐI CỔ.

Ngoài những dấu ấn di sản liên quan đến việc đổi chỗ Tốn Khôn nằm ngay trong cả những di sản văn hóa Đông phương nói chung, kể cả trong kinh Dịch, mà người viết đã trình bày ở trên thì còn rất nhiều những di sản văn hóa truyền thống Việt khác lưu truyền trong dân gian mang nội dung này.

Những di sản mang một nội dung xác định vị trí Tốn Khôn trong Hậu Thiên Bát quái thuộc về người Lạc Việt nằm trong những tình tiết cấu thành trong những câu chuyện cổ tích Việt Nam.

 

 3.1. TRUYỆN TRẠNG LỢN VÀ CẤU ĐỐI CỦA TRẠNG

Có lẽ những người Việt  qua nhiều thế hệ, ham nghe, đọc chuyện cổ tích Việt, đều biết những câu chuyện về trạng nổi tiếng của Việt Nam. Một trong những câu chuyện ấy là chuyện "Trạng Lợn". Trong một tình tiết của câu chuyện mô tả:

Một lần, ông Tú Cát là hàng xóm của trạng, sang nhà chơi. Thấy trạng thông minh, nhưng hiếu động, ông bẹo tai trạng và bắt phải đối về đối mà ông đưa ra.

Vế ra đầu tiên của ông Tú cho trạng là:

"Trời sinh ông Tú Cát".

Trạng đối lại ngay:

"Đất nứt con bọ hung".

Ông Tú Cát tím mặt và ra một vế tiếp theo:

"Lợn cấn ăn cám tốn"

Trạng lập tức đối lại:

"Chó khôn chớ cắn càn".

Tính minh triết Việt thể hiện ý nghĩa độc đáo trong tình tiết này của câu truyện cổ tích Việt trong hai cặp câu đối này.

Bắt đầu từ cặp câu đối thứ hai, cho thấy:

Tên gọi Bát quái trong kinh Dịch: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Khôn, Ly, Tốn, Đoài, hoàn toàn là những danh từ phổ biến của ngôn ngữ sinh hoạt trong đời sống của dân tộc Việt.

Có thể nói: Bất cứ danh từ mô tả Bát quái nào, đều được sử dụng rất thông dụng trong ngôn ngữ sinh hoạt nhiều mặt của người Việt. Đây là một thực tế rất trực quan và có lẽ người viết không cần phải chứng minh. Ngược lại trong ngôn ngữ Hán thì danh từ mô tả Bát quái chỉ giới hạn trong chính tên gọi của những quái đó. Không phải chỉ bây giờ, mà là từ hàng ngàn năm trước.

Chỉ riêng điều này, cũng đủ xác định rằng: Chính nền văn hiến Lạc Việt là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch; bởi tính phổ biến của các danh từ liên quan trong đời sống xã hội.

Riêng trong cặp câu đối này thì có bốn từ mô tả bốn quái thuộc tứ duy của kinh Dịch.

Đó là các quái:

Càn (queCan.jpg); Khôn (queKhon.jpg); Cấn (queCans.jpg); Tốn (queTon.jpg)

Người viết so sánh những nguyên tắc, niêm luật trong câu đối phổ biến trong văn hóa truyền thống Việt với cặp câu đối trên để bạn đọc so sánh tính chất đối của cặp này trong sự liên hệ với vị trí Tốn Khôn của Hậu thiên Lạc Việt và Hậu thiên được gán cho vua Văn Vương trong lịch sử văn minh Hán, quen gọi là "Hậu Thiên Văn Vương":

Nếu cặp câu đối trên được mô tả theo Hậu thiên Văn Vương sẽ như sau:

 

BQLonton01.jpg

 

Rõ ràng và rất trực quan, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Với cấu trúc của Hậu thiên Văn Vương liên quan đến các quái Càn, Khôn thì vế đối của cặp câu đối này phải đọc ngược từ dưới lên trên. Và đó là chiều duy nhất được mô tả với cấu trúc Hậu thiên Văn Vương. Đương nhiên không thể gọi là câu đối được. Mặc dù nếu loại trừ mối liên hệ với Hậu thiên Văn Vương và chỉ giới hạn trong phạm vi niêm luật của câu đối thì chúng đối nhau chan chát. Nó chỉ không hoàn chỉnh nếu liên hệ với Hậu thiên Văn Vương.

Nhưng ngược lại, nếu so sánh cặp câu đối này trong cấu hình Hậu thiên Lạc Việt với hai vị trí Tốn Khôn đã đối chỗ cho nhau, thì có thể nói rằng: Một cặp câu đối hoàn chỉnh trên mọi phương diện, ngay từ cội nguồn xuất xứ của nó là các quái vị với danh xưng trong sự liên hệ với ngôn ngữ Việt thể hiện ở nội dung cặp câu đối này. Bạn đọc xem hình mô tả dưới đây:

 

BQLonton06.jpg

 

Tính hoàn chỉnh và đối xứng của mối liên hệ các danh từ liên quan đến Bát quái của cặp đôi trong tứ duy, được mô tả trong hình trên đã cho thấy tính chất đối xứng hoàn chỉnh trong mọi phương diện. Không những vậy, cặp đối này còn chứng tỏ tính đối xứng Âm Dương được xác định trong mối liên hệ trong trục Tuyệt Mạng (Hung: Cấn - Tốn) và Phúc Đức (Cát: Càn - Khôn) trong Phong thủy Lạc Việt.

Đến đây, chúng ta quay trở lại với cặp đối thứ nhất:

Trời sinh ông Tú Cát.

Đất nứt con bọ hung.

Từ đó quán xét tính cát hung của Cấn Tốn chính là trục Tuyệt Mạng trong Phong thủy Lạc Việt (Hung) và trục Càn Khôn chính là trục Phúc Đức của Phong thủy Lạc Việt sau khi đổi chỗ Tốn Khôn mà chúng tôi trình bày ở phần trên. Như vậy cặp câu đối trên xét về ý nghĩa liên quan đến Hậu Thiên Lạc Việt còn chỉnh ngay cả với nội dung sâu sắc của nó.

Vấn đề cũng chưa dừng lại ở đây. Người viết giới thiệu với bạn đọc một câu truyện cổ tích Việt Nam khác, cũng liên quan đến câu đối và mô hình Hậu Thiên Bát quái tiếp theo đây:

 

3.2 TRUYỆN NỮ HÀNH GIÀNH BẠC.

 

Trong di sản văn hóa truyền thống Việt Nam, có câu chuyện cổ tích "Nữ hành giành bạc". Nội dung câu chuyện cũng ly kỳ hấp dẫn, nhưng đáng chú ý là yếu tố làm nên nội dung của câu mô tả một cặp câu đối có nội dung như sau:

Vế ra:

Chồng phương Đông, vợ phương Tây. Hòa hợp cùng nhau, đừng lòng Nam Bắc.

Vế đối:

Trai phương Cấn, gái phương Tốn. Chớ nên cãi lộn, trái đạo Càn Khôn.

 

Xét về mặt hình thức thì hai về đối này rất chuẩn về đối chữ: Đông Tây Nam Bắc là bốn hướng chính trong tám phương, đối với bốn hướng phụ được mô tả trong mô hình Bát quái là Cấn, Tốn, Càn, Khôn, là: Tây Bắc, Đông Nam, Đông Bắc và Tây Nam. Về luật bằng trắc và ý cũng chỉnh luôn. Nhưng vấn đề là khi sử dụng các phương vị Hậu thiên Văn Vương theo cổ thư chữ Hán thì lại không chuẩn. Theo các phương vị của câu đối thứ nhất (vế ra) theo Hậu thiên Bát quái Văn Vương sẽ sắp xếp như sau:

1/ Vế ra: "Chồng phương Đông (Chấn*), vợ phương Tây (Đoài*). Hòa hợp cùng nhau, chớ lòng Nam(Ly*) Bắc" (Khảm*) - theo phương vị Hậu thiên Văn Vương từ cổ thư chữ Hán, được mô tả như sau:

BQLonton02.jpg

 

 

Từ mô hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy các phương Đông Tây/ Tuyệt Mạng, cắt đối xứng với Nam Bắc là Phúc Đức trạch của người Đông trạch, trong nội dung vế ra. Nhưng vế đối, cũng theo phương vị Hậu thiên Văn Vương từ cổ thư chữ Hán thì chúng được mô tả như sau:

2/ Vế đối: "Trai phương Cấn, gái phương Tốn. Chớ nên cãi lộn, trái đạo Càn Khôn"

 

BQLonton04.jpg

 

Rõ ràng và rất trực quan, bạn đọc cũng thấy rằng: Nếu theo phương vị Hậu Thiên Bát quái Văn Vương thì vế đối không chuẩn với vế ra. Bởi vì các cặp Đông/ Tây, Nam/ Bắc xếp thành hình đối xứng chéo. Còn các cặp Càn/ Khôn, Cấn / Tốn xếp thành hình đối xứng dọc. Như vậy sao gọi là đối?

Ngược lại, nếu các phương vị bát quái Hậu Thiên đổi chỗ Tốn Khôn, tức Hậu Thiên Lạc Việt  thì câu đối rất chỉnh với vế ra.

Bạn đọc xem hình minh họa như sau:

1/ Vế ra: "Chồng phương Đông, vợ phương Tây. Hòa hợp cùng nhau, chớ lòng Nam Bắc"

Trong vế ra, so sánh với cấu trúc theo phương vị Hậu thiên Lạc Việt thì vẫn thể hiện tính đối xứng qua tâm các phương vị Đông/ Tây, Nam/ Bắc, so với Hậu thiên Văn Vương từ cổ thư chữ Hán.

 

BQLonton02.jpg

 

 

Từ đó chúng ta so sánh với vế đối:

2/ Vế đối: "Trai phương Cấn, gái phương Tốn. Chớ nên cãi lộn, trái đạo Càn Khôn" trong cấu trúc Hậu thiên Lạc Việt, thì chúng rất hoàn chỉnh sự chuẩn mực đến tuyệt vời của nghệ thuật câu đối: Đối chữ, đối bằng trắc, đối nội dung và đến câu này đối cả hình tượng và đối chan chát ngay cả trong lĩnh vực ứng dụng liên quan đến Phong Thủy. Bạn đọc xem hình dưới đây:

 

BQLonton05.jpg

 

Qua mô hình Hậu thiên Lạc Việt, bạn đọc cũng thấy tính chất của cặp câu đối này sẽ hết sức hoàn chỉnh: Trục Đông/ Tây là trục Tuyệt mạng của vế ra, đối với trục Cấn/ Tốn là trục Tuyệt Mạng của vế đối (Theo Hậu thiên Lạc Việt).

Trục Nam Bắc là trục Phúc Đức của vế ra, đối với Càn Khôn là trục Phúc Đức của Hậu thiên Lạc Việt. Và vấn đề căn bản của câu đối này chính là cả hai trục thể hiện trong câu đối theo Hậu thiên Lạc Việt đều đối xứng qua tâm. Còn mô tả theo Hậu thiên Văn Vương thì không thể gọi là câu đối, nếu xét về phương vị.

Điều này chứng tỏ rằng: Sự thay đổi vị trí Tốn Khôn từ văn minh Lạc Việt, không chỉ là một sự thay đổi hợp lý từ căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái.Mà nó còn là một sự thể hiện xuyên suốt cho đến tận những chi tiết trong di sản văn hóa truyền thống Việt.

Đây là không phải là một hiện tượng duy nhất khẳng định nền văn minh Lạc Việt chính là cội nguồn văn hóa Đông phương. Và chỉ có nền văn minh Lạc Việt và hậu duệ là dân tộc Việt Nam hiện nay, mới có khả năng phục hồi lại một cách hoàn chỉnh một học thuyết lớn đã tồn tại lâu nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.

Một vấn đề nữa cần lưu ý là: Việc sử dụng câu đối trong những câu truyện cổ tích dân gian Việt, liên quan đến cấu trúc Hậu thiên Lạc Việt, đã chứng tỏ việc dùng câu đối, hoành phi phổ biến trong nền văn minh Đông phương phải có từ rất lâu trong nền văn hóa Việt và phải có từ trước thời Hán với sự xuất hiện của cái gọi là "Hậu thiên Văn Vương", để gọi là ảnh hưởng văn hóa Hán qua việc sử dụng hoành phi câu đối như một di sản truyền thống.

Từ đó có thể kết luận rằng: Hoành phi, câu đối hoàn toàn là một sản phẩm văn hóa Việt và bị Hán hóa từ khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miền nam Dương Tử từ thế kỷ thứ III BC.

Tất nhiên, như một hệ quả không cần thiết phải chứng minh, vì là điều hiển nhiên: Nền văn hiến Việt đã có hệ thống chữ viết với những cấu trúc ngôn ngữ phong phú để lưu truyền và phát triển nền văn minh.

=====================

*Chú thích: Chữ màu nâu là do tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh thêm vào cho dễ hiểu, không có trong sách.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, với những trang sách đã thể hiện, hy vọng quý vị và anh chị em quan tâm đã thấy rõ rằng: Những di sản văn hóa truyền thống Việt đều liên quan đến những vấn đề căn bản nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành và khác hẳn những điều mà cổ thư chữ Hán mô tả. Đó là sự khác biệt giữa các vấn đề mà tôi đã nêu ra như sau:

1/ Bản chất của Hà đồ, Lạc thư.

2/ Sự mô tả nội dung của câu trong Hệ từ "Thái cực sinh lưỡng nghi....."

3/ Cấu trúc của Hậu Thiên Bát quái giữa Hậu thiên Lạc Việt và Hậu thiên Văn Vương.

4/ Sự phối hợp giữa "Hậu Thiên Lạc Việt với Hà đồ" và "Hậu thiên Văn Vương với Lạc Thư"

Sở dĩ có những điều này là do sự giải mã trực tiếp của cá nhân tôi qua những di sản văn hóa truyền thống Việt, công với những tài liệu và những nghiên cứu liên quan.

Tuy nhiên tất cả những sự giải mã - như tôi đã trình bày: Tôi không coi đó là luận cứ khoa học để chứng minh cho Việt sử 5000 năm văn hiến và là cội nguồn của Lý học Đông phương.  Bởi vì: Tất cả những sự giải mã đó và cả những dấu ấn của đồ hình "Lưỡng Nghi Lạc Việt" trên khắp thế giới trên những vùng đất đã ghi dấu ấn của những nền văn minh cổ đại, tự nó chưa thể hiện nội dung của thuyết ADNh.

Bản chất của những luận cứ khoa học được thẩm định trên cơ sở tiêu chí khoa học làm chuẩn mực, bắt đầu từ sự sửa đổi nguyên lý căn để của học thuyết này là : "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt".

Nguyên lý căn để ""Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", được chứng minh tính khoa học của nó căn cứ vào tiêu chí khoa học về sự hợp lý nội hàm của chính nó và khả năng giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó trong tất cả mọi lĩnh vực một cách có hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri, như: Phong thủy, Tử Vi, dự báo, Đông y....Chứ nó không căn cứ vào"Tranh thờ Ngũ Hổ" làm "cơ sở khoa học" để chứng minh. Tranh thờ Ngũ Hổ và tất cả những di sản văn hóa truyền thống Việt, tự nó không phải là nội dung thuyết ADNh - thưa quý vị và anh chị em.

Sự giải mã những di sản văn hiến Việt trong văn hóa truyền thống Việt, chỉ chứng tỏ mối liên hệ của những giá trị minh triết Việt liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành và tất cả những vấn đề của văn minh cổ Đông phương khác.

Bài này không có trong cuốn sách

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

1. TÍNH MINH TRIẾT TRONG SỰ TÍCH THẰNG CUỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI CHỖ TỐN & KHÔN TRONG HẬU THIÊN LẠC VIỆT

 

Lời giới thiệu

Không chỉ có sự tích "Bà Nữ Oa vá trời"; chuyện "Tấm Cám", mà còn rất nhiều những di sản văn hóa truyền thống Việt, mô tả vị trí Tốn Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt. Bài viết dưới đây với sự phân tích những hình tượng trong truyện "Sự tích thằng Cuội" - một di sản trong văn hóa truyền thống Việt - của tác giả Bùi Anh Tuấn, ký danh Thiên Đồng, thành viên nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã thể hiện nội dung này .
Có thể nói đây là những bài viết với cái nhìn độc đáo của tác giả Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Qua bài viết này, chúng ta lại thấy một sự liên hệ chặt chẽ giữa những di sản văn hóa truyền thống Việt với những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành và mối liên hệ với những gía trị văn hóa phi vật thể truyền thống khác còn lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt; như: Bánh chưng bánh dầy, ô ăn quan...vv....
Từ những sản phẩm của trí tuệ thể hiện qua những hình thức trò chơi dân gian tưởng chừng như đơn giản ấy, chúng ta lại nhận thức được mối liên kết hữu cơ rất chặt chẽ của những di sản văn hiến phi vật thể Việt với một lý thuyết đồ sộ và bí ẩn, làm tốn biết bao giấy mực của các nhà nghiên cứu quốc tế từ hàng thiên niên kỷ.

Chính vì thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái là nền tảng tri thức phổ biến của xã hội Văn Lang. Cho nên, mới có thể ghi dấu ấn trong khắp những di sản văn hóa còn lưu truyền của Việt tộc, qua hàng ngàn năm lịch sử.

Điều này càng thấy rõ một chân lý khách quan minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ ở bờ nam sông Dương tử và là chủ nhân đích thực của nền Lý học Đông phương.
 

TRUYỆN SỰ TÍCH CHÚ CUỘI

& VỊ TRÍ ĐỐI TỐN KHÔN TRONG HẬU THIÊN LẠC VIỆT.
Bùi Anh Tuấn
Thành viên nghiên cứu

Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương.

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt, những câu chuyện cổ sinh động giúp cho bao thế hệ trẻ em Việt Nam mở rộng một thế giới tưởng tượng huyền ảo lung linh, mở rộng nhận thức thế giới quan thông qua những hình tượng và nội dung đầy uyên áo. Nhưng đằng sau nội dung của các câu truyện cổ là sự ẩn tàng những minh triết cổ Đông phương.
Người viết xin trình bày việc hoán vị Tốn – Khôn dựa trên sự giải mã một ẩn ngữ như một thông điệp thông qua câu truyện “Sự tích Chú Cuội” - một câu chuyện nổi tiếng trong kho tàng cổ tích Việt Nam.


Nội dung câu chuyện như sau:
Ngày xưa, có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, Cuội vác rìu vào rừng chặt cây kiếm củi. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp, có có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao.
Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa dập bã trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt.

 Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.
Trên đường về, gặp một ông lão ăn mày nằm chết, Cuội liền bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già. Mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội kể lại đầu đuôi. Nghe xong, ông lão nói:
- Đây chính là cây "cải tử hoàn sinh" đây. Trời cho con để giúp thiên hạ. Con hãy trồng ở vườn phía Đông và chăm sóc cho cây. Nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời!

Nghe lời ông lão, Cuội về nhà trồng cây ở góc vườn phía đông và ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.
Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội mang lá cây đến tận nơi cứu chữa.

Một hôm, Cuội qua sông gặp một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi lấy lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.
Một lần khác, có một phú ông ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, xin Cuội cứu cho con gái mình vừa chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Phú ông cũng vui lòng gả con cho Cuội.
Vợ  chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm.  Bỗng một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng chơi ác. Giết vợ Cuội, rồi moi ruột người đàn bà vứt xuống sông. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì thiếu bộ ruột.

Thấy chủ khóc, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất,rồi đặt vào bụng chó, nó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.
Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ:
"Có đái thì đái bên Đông,
Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời!".
Nhưng vợ Cuội, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.
Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào phía Tây gốc cây quý mà xả. Không ngờ chị ta vừa xả xong thì mặt đất chuyển động, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.
Vừa lúc đó,Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng, chạy đến toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây uống. Nhưng cây vẫn cứ bay lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay lên đến cung trăng.
Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn,khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng.

Ngày nay, mỗi khi trăng sáng, nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ, có người ngồi dưới gốc. Mọi người bảo: Đấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa....

Sự trùng hợp với cung Sức khỏe

Đồ hình dưới đây được một Phong thủy gia Đài Loan công bố vào khoảng những năm 60 của thế kỷ 20.

 

BCungTau07.jpg

Đồ hình Bát cung hóa khí

Do phong thủy gia Đài Loan công bố vào những năm 60.

 

Đồ hình này, căn cứ theo "Lạc Thư phối Hậu Thiên Văn Vương" - quan niệm rằng:
Cung Khảm - chính Bắc = Sự Nghiệp.
Cung Cấn - Đông Bắc = Tri Thức.

Cung Chấn - Chính Đông = Sức Khỏe.
Cung Tốn - Đông Nam = Phú Quý.
Cung Ly - Chính Nam = Danh tiếng - Địa vị.
Cung Khôn - Tây Nam = Hôn nhân.
Cung Đoài - Chính Tây = Con cái.
Cung Càn - Tây Bắc = Quí Nhân.

 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã chỉ ra tính bất hợp lý của đồ hình này là: Người Đông trạch với các cung hiển thị màu vàng, sẽ không có cung "con cái" (Vị trí bên trái, phương Tây, màu đỏ). Và người Tây trạch với các cung thể hiện màu đỏ, sẽ không có cung "Phú quí" (Vị trí phía dưới, bên phải; Đông Nam, màu vàng).
Nhưng, trên cơ sở Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ mà nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã chỉnh lý từ việc chuyển đổi Tốn - Khôn thì mọi vấn đề trở nên hợp lý với cơ sở lý luận là tính thừa khí giữa các cung chuyển tiếp và ý nghĩa các cung vẫn không thay đổi. Cung Chấn, phương Đông vẫn mang nội dung "sức khỏe". Tính hợp lý của đồ hình "Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn Khôn) phối Hà đồ", là chúng luôn có thừa khí của cung bên cạnh, mô tả đồng màu ở vị trí 24 sơn tầng thứ 2, tính từ bên ngoài, trong ứng dụng của Phong thủy Lạc Việt. Hiện tượng này xác định tính hợp lý, nhất quán và hoàn chỉnh, tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đến từng phương pháp ứng dụng trong văn minh Đông phương, mà nền tảng tri thức là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nhưng trên đồ hình Bát quái Hậu thiên. không kể Lạc Việt hay cổ thư chữ Hán, phương Đông vẫn thuộc Dương Mộc ứng với quái Chấn: Biểu tượng của cây to - được xác định là cây đa - và ứng với cung "Sức khỏe".  Đó cũng là biểu tượng liên quan đến: mạnh, yếu, bệnh tật, sống chết... trong đời sống con người.

Ta xem đồ hình sau:

 

BCungViet07.jpg

 

Một chi tiết quan trọng trùng hợp với phương Đông Chấn Mộc và cung "sức khỏe" nói trên, là cây thuốc "cải tử hoàn sinh" được Cuội trồng ở phía Đông của khu vườn. Sách “Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 46 có đoạn:
 

“Tượng Chấn
Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả,là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hươu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâm vào, là trống, là ra, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là giơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh,là lời cáo, là vui, là kế giữ, là xuất chinh.”

 


Như vậy, ngay trong chú giải ý nghĩa quái Chấn của sách “Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, cũng thể hiện một ý nghĩa tương đồng với nội dung câu truyện nói về công dụng hiệu lực của cây thần có khả năng cứu chữa “cải tử hoàn sinh”, chết đi có thể cứu sống lại, là “sống, khởi đầu, sống lại”.
Theo luận điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh -  “thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc nền văn hiến Việt và bát quái là ký hiệu siêu công thức mô tả qui luật tương tác của vạn vật”  - thì sự tương hợp về hình tượng và ý nghĩa giữa những chi tiết cây thần “Cải tử hoàn sinh” của câu truyện dân gian người Việt và sự giải thích tượng Chấn từ Hán thư, mà có thể là một thông điệp cần được giải mã, hướng dẫn cho việc mở ra một bí ẩn của nguyên lý học thuật cổ Đông phương.

Thông điệp giải mã chuyển đổi Tốn – Khôn:
Một chi tiết quý báu đẩy câu truyện “Chú Cuội” lên cao là câu dặn dò cho người vợ không được bình thường hay quên, được nhắc rõ bằng câu lục bát vần điệu:

"Có đái thì đái bên Đông
Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời”

Chính ngay câu thơ này trong câu truyện trên, người viết cho rằng đây là mật ngữ - cùng với nhiều nội dung minh triết khác trong di sản văn hóa truyền thống Việt - nhằm xác định phải chuyển đổi hai quái Tốn Khôn - mà nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh là người đầu tiên khởi xướng, dẫn đến việc xác định một nguyên lý căn để và hoàn chỉnh trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương, là "Hậu thiên Lạc Việt phối với Hà đồ". Điều này, đã tạo niềm cảm hứng cho người viết, khi nhận ra những sự tương hợp, trong những câu truyện dân gian Việt Nam: "Sự tích chú Cuội".
Hình ảnh cây thần “cải tử hoàn sinh” đã được xác định với sự trùng hợp là: quái Chấn thuộc Dương Mộc, phương Đông (Vị trí trồng cây của chú Cuội) và cung "Sức khỏe" với ý nghĩa "cải tử hoàn sinh" của cây này, trong nội dung của câu chuyện.

Nhưng hình tượng này liên quan gì đến việc hoán vị Tốn Khôn?
Để bắt đầu cho sự giải mã tiếp theo, người viết xin trích dẫn đoạn sau đây trong cuốn “Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 45, nói về nội hàm của quái Khôn và Tốn, như sau:


 

Tượng Khôn
Khôn là đất, là sau, là thần, là vợ, là dân. Là bầy đàn, là số đông, là tiểu nhân, là thị dân, là bọn trộm cướp, là mẹ, là phụ nữ, là dì, là thành trì, là ruộng, là một bang, là nhà cửa, là gia trạch, là trên bộ, là bùn, là bế quan, là bò, là ngựa con, là xe lớn, là hông,là bình đựng, là đức dày, là ngọt, là béo, là thân thể, là cái cung, là mình, là tự mình, là vương (vua nước chư hầu), là yên, là trinh, là lợi, là giàu, là tích tụ, là đến, là dùng, là quy về, là nội dung, là kinh doanh, là dối lận, là mê, là muốn, là cú, là hại, là chết, là tang, là loạn, là chiều tối, là mười năm, là bạn, là tiền tài, là hàng hóa, là vuông vức, là quang minh chính đại,là thuận theo, là được về sau, là có kết thúc, là vô biên cương, là sự nghiệp
.

 

 

Tượng Tốn
Tốn là gió
, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung, là người đi buôn, là trường mộc, là cỏ tranh, là thuốc, là gà, là cá, là súc vải, là giường, là cây cuốc, là dây, là liên hệ, là bắp đùi,là cánh tay, là tay, là nhìn xuống, là múa, là hát, là giải thoát, là trắng, là cao, là nhập vào, là phục ẩn, là tiến thoái, là không quyết, là mệnh, là hành sự, là hiệu lệnh, là phong tục, là nhìn thấy, là của cải.

 

Qua hai đoạn trích dẫn giải ý nghĩa của tượng quái thì sự trùng hợp giữa hai quái đều có nghĩa là vợ, tương đồng với chi tiết vợ của Cuội. Như vậy, yếu tố thứ hai để xác định cho chìa khóa giải mã là hình tượng vợ của Cuội tức là nguyên nhân cho cao trào câu chuyện.
Tượng Khôn là đất và là vợ và tượng Tốn là gió. Mối tương tác để gây nên bi kịch là người vợ và cây thần “Cải tử hoàn sinh”, nghĩa là một ẩn ngữ cho biết mối tương quan về vị trí Tốn Khôn mà trong đó vị trí này phải lấy Đông mộc, quái Chấn là mốc. Hình tượng người vợ của Cuội là hình tượng của mối tương tác, tương quan của vị trí hai quái Tốn – Khôn. V
à hành động “xả” dưới gốc cây của người vợ là hình tượng của vị trí hai quái này phía dưới quái Chấn (Dưới gốc cây). 

Nếu xả dưới gốc cây phía Đông, tức chính vị của người vợ (Tượng quái "Khôn") thì mọi chuyện yên ổn và không có phần kết của câu chuyện này. Nhưng ngược lại, nếu xả dưới gốc cây phía Tây, tức là dưới quái Đoài (Tượng quái "Tốn") là "Gió" thì "cây bay lên trời".
Chúng ta so sánh hai đồ hình Bát quái Hậu Thiên được cho là Văn Vương tạo tác và Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn Khôn so với Hậu Thiên Văn Vương) để thấy vị trí của Tốn (Gió, trong chi tiết thổi cây bay lên trời) và vị trí quái Khôn, đất nơi nương tựa của cây):

 

BQHauthienLV01.jpg  .............. BQHauthienVV01.jpg

.......Mô hình Hâu thiên Lạc Việt .......................................................Mô hình Hậu thiên Văn Vương
Rõ ràng với đồ hình Hậu thiên Lạc Việt thì quái Tốn ở phía Tây dưới quái Đoài (Dưới gốc cây phía Tây), tượng cho "gió", nên cây bay lên trời.

So sánh với nội dung câu chuyện thì với Hậu thiên Văn Vương chẳng nói lên được điều gì. Và tính bất hợp lý của Hậu thiên Văn Vương khi phân bố trạch mệnh trong đồ hình "Bát cung hóa khí" của chính phong thủy gia Đài Loan đã được chứng minh ở phần trên.

Như vậy, câu chuyện "Sự tích chú Cuội" là một mật ngữ lưu truyền trong di sản văn hóa truyền thống Việt từ hàng ngàn năm trước - so sánh với công bố mới nhất của đồ hình "Bát cung hóa khí" do phong thủy gia Đài Loan - một lần nữa xác định rằng: Việc đổi chỗ hai quái Tốn, Khôn của "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ", chính là sự hợp lý lý thuyết ngay trong nội hàm của mô hình biểu kiến, khi giải thích hầu hết những vấn đề và mọi hiện tượng liên quan đến nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

Lời kết:
Người viết cho rằng truyện “Sự tích chú Cuội” là một câu truyện dân gian đặc sắc của di sản văn hóa truyền thống Việt, mang tính minh triết, chứa đựng mật ngữ cho việc tìm về những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương. Đồng thời xác định rằng: chủ nhân đích thực cho cội nguồn văn minh Đông phương thuộc nền văn minh Văn Lang rực rỡ với 5000 năm văn hiến với lịch sử dựng nước ở miền nam sông Dương Tử.
Hình tượng của cây đa thần dược, có khả năng "cải tử hoàn sinh", cũng chính là sự xác định chính những di sản văn hóa truyền thống Việt, mới có khả năng phục hồi lại những gía trị đích thực của nền văn minh Đông phương. Cây Đa, giếng nước là biểu trưng của nền văn hiến Việt.

Sự sống được phục hồi mô tả trong câu chuyện "Sự tích chú Cuội", cũng là một hình tượng mang ý nghĩa của sự phục hồi những gía trị tri thức đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành - "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nền văn minh nhân loại", như lời nhà tiên tri Vanga, người Bungari đã nói tới.

Theo luận điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, người viết cũng không coi sự giải mã như là một bằng chứng khoa học. Nhưng là một sự gợi mở cho việc tìm lại cội nguồn của một nền văn minh đã bị lãng quên trong quá khứ.

Viết xong, ngày 19. tháng 5. Tân Mẹo Việt lịch.


=======================
Tài liệu tham khảo:

- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007
- Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003
- Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam.
- Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ.
- Dịch học ngũ linh, tg Cao Từ Linh, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006.
- Nhập môn chu dịch dư đoán học, tg Thiệu Vỹ Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996.

- www.wikipedia.org

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Tôi xin lấy ngay bài viết của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn làm ví dụ cho sự giải mã di sản văn hóa truyền thống và chuẩn mực so sánh đối chiếu nhắm xác định tính khoa học của một giả thuyết, lý thuyết khoa học, để quý vị và anh chị em nhận thấy rất rõ rằng: Chúng là hai phần tách biệt.

1/ Phần giải mã chuyện "Thằng Cuội" liên quan đến việc chuyển đổi Tốn Khôn giữa "Hậu thiên Lạc Việt" và "Hậu thiên Văn Vương".

Tất nhiên tôi xin nhắc lại một lần nữa là lần thứ sáu trong topic thể hiện cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" là:

Tôi không bao giờ coi sự giải mã là "cơ sở khoa học" (*) cho việc chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Bởi vì, tôi biết rất rõ rằng: Nền tảng tri thức khoa học của cả nền văn minh hiện nay chưa có được một chuẩn mực khoa học để xác định một việc giải mã di sản như thế nào là đúng. Cho nên nó hoàn toàn mang tính chủ quan dành cho cá nhân tôi khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thuyết ADNh.

2/ Trên cơ sở việc giải mã, hình thành một giả thuyết. Trong bài viết trên, giả thuyết được hình thành chính là sự xác định đổi chỗ Tốn Khôn, làm nên sự khác biệt giữa "Hậu Thiên Văn Vương" và "Hậu thiên Lạc Việt". Và bắt đầu từ đây, nó mới nhân danh khoa học bởi tính hơp lý nội hàm của nó. 

Quí vị và anh chị em xem kỹ lại hai mô hình "Hậu thiên Lạc Việt" và "Hậu thiên Văn Vương" dưới đây:

 

 

BQHauthienLV01.jpg  .............. BQHauthienVV01.jpg

.......Mô hình Hâu thiên Lạc Việt .......................................................Mô hình Hậu thiên Văn Vương

 

Từ giả thuyết nhân danh khoa học và chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết, một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, chính là tiêu chí khoa học liên quan, đã phát biểu rằng:

Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó có tính nhất quán, có tính hệ thống, tính hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

 

Từ đó - giả thuyết nhân danh khoa học về sự đổi chỗ Tốn Khôn trong "Hậu Thiên Lạc Việt phối với Hà Đồ", phải chứng tỏ tính khoa học của nó - không chỉ trong nội hàm cấu trúc riêng nó. Mà nó phải giải thích một cách hợp lý - theo tiêu chí khoa học - toàn bộ những vấn đề liên quan đến nó, cho toàn bộ những sách vở còn lại vô cùng đồ sộ liên quan đến học thuyết còn đầy bí ẩn của nền văn minh Đông phương , bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực, vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và từng hành vi của con người. Đó là: Tất cả các bộ môn dự báo của học thuyết này, gồm: Tử Vi, Bốc Dịch, Kỳ môn độn giáp, Thái Ất, Đông y, Phong thủy....vv....

Cá nhân tôi đã thực hiện việc này - theo tiêu chí khoa học làm chuẩn mực so sánh để hiệu chỉnh tất cả các ngành khoa học liên quan đến thuyết ADNh, trong những lĩnh vực liên quan đến nó.

Một ví dụ trong bài viết của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn về sự giải thích hợp lý các vấn đề liên quan...theo tiêu chí khoa học, là vấn đề sau đây:

 

 

BCungTau07.jpg

 

Hình trên là của một phong thủy gia Đài Loan công bố vào những năm 60 của thế kỷ trước và được ứng dụng theo phong thủy cổ thư chữ Hán rất phổ biến trong giới Phong thủy.

Thưa quý vị và anh chị em

Đồ hình trên rất vô lý chính vì vị trí Tốn Khôn - cho dù cá nhân tôi đã ứng dụng những hiểu biết của mình về sự vận động của vũ trụ vào đồ hình này với tên gọi là phương pháp "thừa khí du niên" - thì cũng không thể giải thích được do tính bất hợp lý của nó (Xin tham khảo bài "Bát cung hóa khí" trong Hội thảo "Phong thủy là khoa học", do TTNC Lý học Đông phương tổ chức ngày  15. 12. 2009, tại Hanoi, do Châu thế Vinh trình bày. Kiếm được đường link tôi sẽ đưa lên đây). Cụ thể là:

Người có phương vị Đông trạch (Thể hiện màu đỏ theo phong thủy Tàu), sẽ không thể kích hoạt được cung "con cái" cho tốt lên; ngược lại, với người Tây trạch thì không thể kích hoạt được cung "phú quý". Bởi vì cung tốt của người Đông trạch là cung xấu của người Tây trạch và ngược lại.

Nhưng khi ứng dụng Hậu thiên Lạc Việt vào đồ hình này thì mọi vấn đề trở nên hợp lý và giải thích được hầu hết nhựng vấn đề liên quan tơi nó. Quý vị và anh chị em xem hình dưới đây, thể hiện Hậu thiên Lạc Việt trong đồ hình này:

 

 

BCungViet07.jpg

.....

Như vậy, nếu ứng dụng thừa khí du niên theo phương pháp của tôi thì tất cả các sơn liền kề của người Đông Tây trạch, chính là sơn ứng dụng phương pháp này. Thí dụ: Sơn Canh trong cung "con cái" của người Tây trạch là "thừa khí du niên" của cung "hôn nhân" của người Đông trạch. Và cung Thân trong cung "hôn nhân" của người Đông trạch, chính là "thừa khí du niên" của cung con cái thuộc người Tây trạch.....vv.....

 

Thưa quý vị và anh chị em.

Trên đây chỉ là một ví dụ về sự giải thích một cách hợp lý những vấn đề liên quan - chỉ ngay trong một bài viết của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn - và không phải duy nhất. Tính hệ thống thể hiện ở cách giải thích toàn bộ hệ thống; tính nhất quán thể hiện ở tính chỉ sử dụng một mô hình duy nhất là "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt"; tính hoàn chỉnh thể hiện ở sự giải thích hợp lý tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Tính quy luât, tính khách quan và khả năng tiên tri hoàn hỏa hơn nhiều so với "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư".

Đối chiếu với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng thì nó hoàn toàn thỏa mãn.

Qua đó, quý vị và anh chị em đã nhận thấy rất rõ rằng: Giữa việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt và chuẩn mực khoa học để thẩm định một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học của tôi hoàn toàn tách biệt.

Nó hoàn toàn không hề "mơ hồ" vì liên quan đến truyền thuyết và huyền thoại, như một số kẻ cố tình xuyên tạc, hoặc không hiểu.

Tiến sĩ Alan Phan viết trên web của ông một câu cách ngôn của một học giả như sau:

 

Có 2 cách để bị lừa dối. Một là tin vào những điều không thực; hai là không chịu tin vào những điều thực – There are two ways to be fooled. One is to believe what isn’t true; the other is to refuse to believe what is true – Soren Kierkegaard.

 

Có nhiều người - có học vị cao - cho rằng: Cần có di vật khảo cổ mới có "cơ sở khoa học" (*) chứng minh thuyết ADNh là của Việt tộc.

Tôi thật sự không muốn tranh luận về một luận điểm rất ngớ ngẩn như cái "cơ sở khoa học" này.

Bởi vì: Thuyết ADNh là một hệ thống lý thuyết, thuộc phạm trù của tư duy trừu tượng. Bởi vậy, không thể có một "di vật khảo cổ" nào có thể mô tả được nội dung của học thuyết này. Các bản văn chữ Hán - và những di sản liên quan - chính là những "di vật", nhưng đã không giải quyết được vấn đề gì từ hơn 2000 năm nay.

===================

* Chú thích: Cụm từ "cơ sở khoa học" do giáo sư Viện sĩ (Hẳn viện hàn lâm khoa học Pháp quốc) Phan Huy Lê sử dụng trong cuộc hội thảo liên quan đến chữ Việt cổ của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền. Tôi không hiểu nó là cái gì, nên có thắc mắc công khai trên diễn đàn từ nhiều năm nay, những vẫn chưa có sự giải thích của ông về cái nội hàm "cơ sở khoa học" này. Có một người bạn tôi cũng tiến sĩ và giải thích với tôi là: "cơ sở khoa học" trong nghiên cứu lịch sử là phải có "di vật khảo cổ" để chứng minh.

Vậy thì tôi xin nói ngay: Đấy là "cơ sở khoa học" của riêng ngành khảo cổ, liên quan đến lịch sử, chứ nó không phải "cơ sở khoa học" của tất cả những ngành khoa học nói chung. Cho dù nó là đúng  thì nó chỉ đúng trong ngành khảo cổ (Đấy chỉ là giả thuyết, chứ riêng tôi đây là sự sản phẩm của một tư duy rất hạn chế, mà tôi thường gọi là tư duy "ở trần đóng khố"). "Di vật khảo cổ"  không phải là "cơ sở khoa học" cho mọi ngành khoa học.

Xin lỗi! Tôi chưa thấy ai đòi bổ để toán học của giáo sư Ngô Bảo Châu phải có "di vật khảo cổ" để chứng minh "cơ sở khoa học" của bổ đề này cả. Bởi vậy, với hệ thống chữ Việt cổ của nhà nghiên cứu Khánh Hoài và thuyết ADNh, là sản phẩm có tính hệ thống của tư duy trừu tượng, nên nó cần tính hợp lý trong nội hàm và những chuẩn mực theo tiêu chí khoa học, chứ nó không cần di vật khảo cổ. Ngay cả việc các nhà khoa học Trung Hoa xác định thuyết ADNh và Bát quái không thuộc nền văn minh Hán thì cũng chỉ là chứng nhân cho luận điểm của tôi, nó không phải "cơ sở khoa học" cho hệ thống luận điểm này. Ngay sau khi tôi gõ xong hàng chữ này, tất cả các nhà khoa học Trung Hoa và trên thế giới có đồng thanh thừa nhận thuyết ADNh và bát quái là của văn minh Hán thì tôi vẫn không cần sửa chữa lại hệ thống luận điểm của mình.

Hoặc một kiểu phản biện nữa của giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Văn Trọng (Theo lời giới thiệu của nhạc sĩ Dương Thụ), là: Trừ toán học và lý thuyết vật lý của Newton còn các lý thuyết khoa học không cần tính hợp lý. Và lại còn "mục đích gì" nữa chứ. Híc! Oải quá.

Có một nhà khoa học cho rằng: nếu có hội thảo về cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", cần có ít nhất 5 nhà khoa học tham gia. Tôi thật sự không tin vào khả năng hội thảo với điều kiện này. Bởi vậy, tôi coi như không có hội thảo gì về cuốn sách này.

Bài viết này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

2. NGUYÊN TẮC ỨNG DỤNG CỦA VIỆC LUẬN DỊCH, LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG GIẢI MÃ TRUYỆN TẤM CÁM.

Trong phương pháp ứng dụng Dịch thì có tất cả 64 quẻ Dịch, trong hệ thống Dịch Hậu Thiên, được cấu tạo bởi 8 quái căn bản gồm:

 

 QCAN.jpg.....QKHAM.jpg........QCAAN.jpg.........QCHAN.jpg

.........Càn...............Khảm....................Cấn.................... Chấn

 

QKHON.jpg......QLY.jpg........QTON.jpg.........QDOAI.jpg
.......Khôn.................Ly.......................Tốn......................Đoài.

 

Một quẻ gồm hai quái bất kỳ. Thí dụ:

 

 

QThang.jpg

 

Quẻ Địa Phong thăng:
 

Gồm hai quái là:

1/ Khôn QueKhon03.jpg   phía trên, gọi là quái Thượng Khôn.

2/ Tốn  QueTon03.jpg  phia dưới, gọi là quái Hạ Tốn.

 

Tên của quẻ gọi theo tính chất cấu tạo của quẻ. Khôn tượng đất, nên gọi là "Địa", Tốn tượng gió, nên gọi "Phong". Gọi tên thì từ trên xuống dưới, nên là "Địa Phong thăng".

Trong một quẻ có sáu hào, được đánh số thứ tự từ dưới lên. Những hào mang số lẻ gọi là hào "Cửu", gồm 1, 3, 5. Những hào mang số chẵn gọi là hào Lục".

Cách gọi tên các hào này thì hào dưới, không gọi là "nhất" mà gọi là sơ. Tùy theo hào đó là Âm (QueAm03.jpg), hay Dương (QueDuong03.jpg ), mà gọi là "sơ lục", hay "sơ cửu".

Tương tự như vậy, hào trên cùng , thứ sáu. Không gọi theo thứ tự của từ Việt Nho: Nhất, nhị, tam, tứ,ngũ , lục, để gọi là hào lục (Thứ sáu). Mà gọi là hào "thượng". Cũng tùy tính chất hào Âm, hay Dương mà gọi là "thượng lục" hay "thượng cửu". Các hào ở các vị trí khác vẫn gọi là:  nhị, tam, tứ, ngũ.

Những hào Dương nằm đúng ở vị trí các con số lẻ theo thứ tự trên là 1, 3, 5 gọi là "hào Dương chính vị"; những hào Âm nằm ở các vị trí 2, 4, 6 gọi là các hào Âm chính vị. Sai lệch vị trí gọi là "không đắc chính".

Khi luận dịch, còn gọi là phép biến dịch thì tính từ dưới lên.

Những nguyên tắc mà người viết trình bày ở đây, để tiện cho bạn đọc chưa có dịp tìm hiểu về phương pháp ứng dụng quẻ Dịch để tham khảo. Và bạn đọc cũng thấy phương pháp này hoàn toàn trùng khớp một cách hợp lý với sự phân tích câu chuyện Tấm Cám ở trên.

 

3. MỘT DỊ BẢN KHÁC CỦA TRUYỆN TẤM CÁM, LƯU TRUYỀN TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT.

Có thể nói hầu hết những truyền thuyết, huyền thoại, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích...vv...của dân tộc Việt đều lưu hành trong văn hóa Việt bằng hình thức truyền miệng. Bởi vậy không tránh khỏi tam sao, thất bản trong quá trình lưu hành hàng ngàn năm với lịch sử thăng trầm của Việt tộc.

Hiện nay, không ít người ngộ nhận đoạn kết của câu truyện Tấm Cám là một hình tượng man rợ của một cô Tấm dội nước sôi vào cô Cám.làm mắm đưa về cho mẹ kế với hình ảnh người mẹ ăn thịt con. Người ta giải thích rằng: Đây là kết quả của sự trả thù của cô Tấm trong sự truy sát của Cám trong nội dung câu chuyện. cách giải thích này có vẻ hợp lý hình thức với cách nhìn trực quan thực tế cuộc sống về sự thù hận và trả thù của con người.

Nhưng đây là một câu chuyện mang một nội dung đầy minh triết, mà người viết hân hạnh trình bầy với bạn đọc ở trên. Do đó, mọi hình ảnh của câu chuyện tuy gần gũi với đời thường, nhưng mang tính biểu tượng rất cao. Cho nên, sẽ hoàn toàn không hợp lý với mạch minh triết của câu chuyện, nếu được mô tả chính cô Tấm dội nước sôi vào em gái mình.

Một dị bản của câu chuyện này, chính tôi được nghe kể lại từ thời còn thơ ấu, khác ở đoạn cuối,là:

 

Khi thấy cô Tấm sống lại quá đẹp thì cô Cám hỏi phương pháp làm đẹp. Khi được trả lời là do tắm dầu đang sôi. Cô Cám về cung bắt quân hầu lập tức nấu dầu sôi đến cực độ và tự nhảy vào tắm với mong muốn đẹp như cô Tấm để tranh ngôi Hoàng hậu. Cô Cám chết. Cô Tấm lấy muối ướp xác em đưa về quê chôn cất. Nhưng mụ dì ghẻ, lại tưởng là mắm do con gái mình gửi về - vì không biết con minh đã chết, mà vẫn cho là đang ở ngôi đương kim hoàng hậu  - nên dùng để ăn. Khi phát hiện ra đã ăn thịt con mình, mụ lăn ra chết.

 

Tính hợp lý của dị bản mà tôi được biết chính là mạch minh triết so sánh tính thiện ác và hệ quả của cái ác tự tiêu diệt. Đây cũng chính là nội hàm rất nhân bản của hầu hết những câu chuyện minh triết Việt: Không có sự trả thù của nạn nhân và các nhân vật liên quan. Thí dụ như Thạch Sanh tha chết cho mẹ con Lý Thông.

Trong nội dung dị bản mà tôi trình bày, đã xác định một giá trị minh triết là: Những tham vọng điên cuồng của con người tự hại chính mình. Hình ảnh người mẹ ăn thịt con mô tả rằng: chính bà ta đã giết con bà từ lâu, khi hướng dẫn con mình đến với những tham vọng điên cuồng.

Một mạch truyện mang tính minh triết sâu sắc thì hình tượng phải mô tả một nội dung tương tự xuyên suốt kết cấu câu chuyện. Nếu từ cái nhìn trực quan đời thường để hiểu là cô Tấm dội nước sôi vào em mình và làm mắm cho bà dì ăn, sẽ là cách giải thích đơn giản về một hành vi cụ thể trong cách trả thù của cô Tấm. Trong điều kiện mô tả trực quan thì cô Tấm có thể sử dụng những hành vi cụ thể khác để trả thù. Thí dụ: cho lính chém, treo cổ, uống thuốc độc, bỏ rọ dìm xuống sông.... không cần phải dụ cô Cám đồng ý dội nước sôi.

Hy vọng các bậc trí giả xem xét lại nội dung một di sản văn hóa phi vật thể truyền thống Việt với những giá trị nhân bản đích thực của nó, nhưng bị tầm thường hóa, dẫn đến phủ nhận toàn bộ giá trị câu chuyện nổi tiếng trong di sản văn hóa truyền thống Việt, để không bị mai một với thời gian.

 

4. BÀI THƠ CỦA LÝ BẠCH - XÁC ĐỊNH NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT LƯU TRUYỀN Ở NAM DƯƠNG TỬ - LIÊN QUAN ĐẾN VỊ TRÍ TỐN KHÔN TRONG HẬU THIÊN LẠC VIỆT.

 

Lý Bạch sống vào đầu thế ký thứ VIII AC (có tài liệu xác định là sinh từ năm 701 và mất năm 762). Ông là một trong những nhà thơ danh tiếng nhất đời nhà Đường và lưu danh trong lịch sử Trung Hoa. Người đời tôn vinh ông là Thi Tiên. Ông đã để lại cho đời hàng ngàn bài thơ bất hủ. Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của ông là bài "Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt". Đây chính là bài thơ xác định cả một hệ thống những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết và huyền thoại của người Việt, còn tồn tại ở Nam Dương Tử. Cùng với những tư liệu khác, như: "An Nam chí Lược", "Lĩnh ngoại đại đáp" ...vv....xác định  di sản văn hóa Việt vẫn lưu dấu ở Nam Dương tử, như: áo cài vạt bên trái còn tồn tại cho đến thế kỷ I AC, trước cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (sách "An Nam chí lược"); hoặc tục ăn trầu đến thế kỷ thứ X (sách "Lĩnh ngoại đại đáp")… thì bài thơ của Lý Bạch chính là sự xác định một nền văn hóa truyền thống của Việt tộc truyền thuyết, huyền thoại và những câu chuyện cổ tích Việt còn tồn tại đến tận thế kỷ thứ VIII AC.

Như vậy, từ những lĩnh vực khác nhau: Nghiên cứu sinh hoạt xã hội, như ""Lĩnh ngoại đại đáp"; lịch sử, như: "An Nam chí lược", "Sử ký" của Tư Mã Thiên và trong văn hóa nghệ thuật, qua bài thơ của Lý Bạch, cùng với rất nhiều chứng lý khác  mà người viết đã trình bày, cho thấy sự xác định có tính hệ thống, nhất quán về nền văn minh Việt tộc một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử từ hơn 2000 năm trước. Bài thơ này của thi tiên Lý Bạch có nội dung như sau (Những chữ in đậm, gạch dưới do người viết thực hiện)

 

MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT

Thơ Lý Bạch

Hải khách đàm Doanh Châu,
Yên đào vi mang tín nan cầu
Việt nhân ngữ Thiên Mụ,
(*)
Vân hà minh diệt hoặc khả đổ.
Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành,
Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành.

Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng,
Đối thử dục đảo Đông Nam khuynh.
(**)
Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt,
Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt.

Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh,
Tống ngã chí Diễm Khê.
Tạ công túc xứ kim thượng tại,
Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề.
Cước trước Tạ công lý
Thân đăng thanh vân thê.
Bán bích kiến hải nhật
Không trung văn thiên kê
Thiên nham vạn hác lộ bất định,
Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính,
Hùng bào long ngâm âm nham tuyền.
Lật thâm lâm hề kinh tằng điên.
Vân thanh thanh hề dục vũ,
Thuỷ đạm đạm hề sinh yên.
Liệt khuyết tích lịch,
Khâu loan băng tồi.
Động thiên thạch phi,
Hoanh nhiên trung khai.
Thanh minh hạo đãng bất kiến để,
Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài.
Nghê vi y hề phong vi mã,
Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ.
Hổ cổ sắt
(***)hề loan hồi xa,
Tiên chi nhân hề liệt như ma.
Hốt hồn quý dĩ phách động,

Hoảng kinh khởi nhi trường ta.
Duy giác thì chi chẩm tịch,
Thất hướng lai chi yên hà.
Thế gian hành lạc diệc như thử.
Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ,
Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ?
Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian.
Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn.
An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý,
Sử ngã bất đắc khai tâm nhan!

 

MƠ ĐI CHƠI NÚI THIÊN MỤ, LÀM THƠ LÚC TỪ BIỆT.

Dịch nghĩa: Khương Hữu Dụng

Khách đi biển kháo nhau về Doanh Châu,
Khói sóng mù mịt, tin rằng khó tìm được.
Nay người Việt nói về núi Thiên Mụ,
(*)
Mây ráng khi tỏ khi mờ cũng có thể nhìn thấy.
Thiên Mụ liền trời mà vươn chắn ngang trời,
Có cái thế vượt Ngũ Nhạc, ép cả Xích Thành.

Núi Thiên Thai cao bốn vạn tám nghìn trượng,
Trước nó cũng bị áp đảo mà nghiêng về Đông Nam.
(**)
Ta muốn nhân đó mơ về Ngô Việt,
Một đêm bay qua vầng trăng hồ Kính.

Trăng hồ soi bóng ta,
Đưa ta đến Diễm Khê.
Ở đấy nay vẫn còn nhà của Tạ Linh Vận,
Nước biếc rập rờn, vượn kêu lanh lảnh.
Chân mang giày Tạ công,
Mình đi lên thang mây xanh.
Đến lưng chừng vách núi thấy mặt trời ngoài biển,
Nghe gà trời gáy vang không trung.
Nghìn núi muôn khe, khó xác định đường đi,
Say mê ngắm hoa đứng tựa núi đá, bỗng trời sập tối.
Gấu thét rồng gào vang dội núi đá, suối khe,
Rừng sâu chấn động, núi thẳm kinh hoàng.
Mây xanh xanh chừng sắp mưa,
Nước mờ mờ như bốc khói.
Chớp giật sấm vang,
Núi tan gò lở.
Động trời cửa đá
Rầm rầm mở ra ở giữa.
Xanh mờ thăm thẳm không thấy đáy,
Mặt trời mặt trăng lấp lánh soi lầu vàng gác bạc.
Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa,
Thần mây bời bời bay xuống.
Cọp gảy đàn,
(***) loan kéo xe,
Người tiên đông như cỏ gai.
Bỗng hồn kinh phách động,
Tỉnh dậy sợ hãi mà than dài…

Chỉ thấy chăn gối lúc đó,
Khói ráng vừa qua biến mất.
Những cuộc vui trên đời cũng như vậy thôi !
Mọi việc xưa nay trôi qua như nước chảy về đông.
Giã từ anh ra đi, biết bao giờ trở lại ?
Hãy thả con hươu trắng nơi ghềnh núi xanh.
Hễ cần thì cỡi ngay ngựa, thăm núi nổi tiếng,
Chứ sao lại cúi mày khom lưng thờ bọn quyền quý,
Khiến ta không sao mở lòng mở mặt !

 

MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

 Cảm tác thơ Lý Bạch

 

 Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu.
Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển
.

Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa. (*)
Nơi ấy.
Lồng lộng trên cao
Thiên Mụ chắn ngang trời.
Giữa huyền không bời bời.
Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi.
Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây.
Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng
chao đảo...

Ngậm ngùi vận hạn đất trời.

Trời nghiêng Tây Bắc, đất dời Đông Nam(**)

Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt.
Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính.
Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh.
Về Diễm Khê thanh bình.
Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân.
Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn.
Hạc kêu, vượn hót
Gió giục mây vần.
Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân.
Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng.
Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông
Đường đi mênh mông.
Mây buông ráng hồng.
Chợt trời sập tối.
Sầm sập mây trôi.
Nghe Kỳ lân gào thét.
Tiếng Rồng gầm vang khe.
Gió giật chớp loè.
Núi tan, non lở.
Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở.
Thăm thẳm huyền vi.
Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc.
Thiên thần lừng lững bay.
Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng.
Cưỡi thần mã phi nhanh như gió.

Cõi trời huyền thoại Việt.
Toàn người đẹp nghiêng thành.
Ảo huyền như trăng thanh.
Dáng tiên thanh tú .
Đông như cỏ manh.

Nghe hổ chơi đàn.
Hồn Bá Nha chứa chan.
Chợt nhìn phượng múa.
Vũ khúc Nghê Thường mê man…

Giật mình tỉnh giấc mơ vàng.
Mang mang như khói hương tàn trôi đi.
Ngàn thu qua có nhắc gì?
Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu.
Đất trời nhắc cuộc bể dâu.
Nào mơ danh tướng công hầu mà chi.

 

Như vậy, loại trừ bài thơ của người viết, xuất phát từ cảm hứng chủ quan thơ và không coi là chứng cứ trong lý luận học thuật. Nhưng nội dung cả bài thơ nguyên bản và dịch nghĩa, bạn đọc cũng thấy rất rõ rằng: bài thơ nổi tiếng của thi tiên Lý Bạch xác định cả một cõi trời huyền thoại Việt còn lại ở miền Nam Dương Tử, đã làm nên cảm hứng của ông, được mô tả trong bài thơ này (Trong ghi chú: *).

Điều đặc biệt hơn nữa (Trong ghi chú:**) là: Chính trong bài thơ, thi tiên Lý Bạch đã xác định truyền thuyết "Nữ Oa vá trời" với chi tiết: "Đất lệch Đông Nam", cũng được mô tả trong hệ thống truyền thuyết, huyền thoại Việt. Đây cũng chính là luận điểm của người viết về xuất xứ cội nguồn Việt tộc của truyền thuyết này ở phần trên, trong việc giải mã và đổi chỗ Tốn Khôn của Hậu Thiên Lạc Việt.

Đặc biệt có một chi tiết rất đáng chú ý (trong ghi chú: ***)."Hổ gẩy đàn". Và hình tượng này lại tìm thấy trong văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc Nhật Bản. Bạn đọc xem hình dưới đây:

 

241_zps6b65a40c.jpg

Hổ chơi đàn. Tranh cổ Nhật Bản.

Nguồn: daibieunhandan.vn.

link dẫn nguồn: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=37572

 

Hiện tượng này cho thấy rằng: Nguồn gốc của câu chuyện "Hổ gẩy đàn" có xuất phát từ văn hiến Việt ở Nam Dương Tử , qua bài thơ của thi tiên Lý Bạch. Nhưng hình minh họa lại xuất hiện trong di sản văn hóa truyền thống Nhật. Cùng với những di sản văn hóa truyền thống khác và những vấn đề liên quan, chúng tôi đã cho rằng: Nguồn gốc của dân tộc Nhật chính là một sắc tộc đã sinh sống trên đất nước Văn Lang, nhưng do biến động lịch sử khốc liệt dưới thời Hai Bà Trưng, nên những phần tử ưu tú của dân tộc này đã di tản sang dảo Phù Tang và lập quốc ở đấy.

Xin được bạn đọc lưu ý là: Lịch sử  dân tộc Nhật chỉ rõ ràng từ thế kỷ thứ III AC. Và người Nhật hiện nay vẫn đang đi tìm nguồn gốc đích thực của họ. Chúng tôi cũng đặt vấn đề với giả thuyết rằng: Cội nguồn dân tộc Nhật vốn có xuất xứ từ quốc gia Văn Lang ở Nam Dương tử.

Tuy nhiên, vấn đề không phải đề tài chính trong tiểu luận này. Nên chúng tôi chỉ giới thiệu về sự liên kết những di sản văn hóa truyền thống liên quan.
Chính những di sản văn hóa phi vật thể có cội nguồn từ nền văn minh Việt một thời huy hoàng ở Nam Dương tử, đã xác định có tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh trên mọi phương diện của luận điểm cho rằng: Nền văn hiến Việt chính là nền tảng đích thực của văn minh Đông phương. Chính vì sự bao trùm của những di sản văn hóa Việt trên khắp các lãnh thổ , quốc gia thuộc văn minh Đông phương cổ.

Bạn đọc có thể tham khảo những luận cứ của chúng tôi về đề tài này theo đường linhk dưới đây

http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/index.php?app=forums&module=post&section=post&do=reply_post&f=80&t=480:

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG V

MINH TRIẾT  VIỆT VÀ HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

 

MỞ ĐẦU

Một trong những luận điểm của người viết  đã trình bày trên các sách đã xuất bản và các bài viết trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn,  về nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là: “Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ”. Đây là mô hình biểu kiến và là nguyên lý căn để cho toàn bộ các bộ môn ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, khác hẳn trong cổ thư chữ Hán cho rằng: Hậu thiên bát quái do Chu Văn Vương làm ra và phối hợp với Lạc thư.

Tất cả những luận cứ minh chứng cho vấn đề nêu trên, người viết đã mô tả trong các sách đã xuất bản. Trong phạm vi chủ đề của cuốn tiểu luận này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến những di sản văn hóa truyền thống của nền văn hiến Việt, mang nội dung minh triết liên quan đến mô hình Hậu thiên Bát quái và Lạc thư, Hà đồ là những mô hình bí ẩn của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong nền văn minh Đông phương.

Trong các phần trên của tiểu luận này, chúng tôi đã mô tả tính minh triết Việt trong những di sản văn hóa truyền thống Việt và từ đó chứng minh những sai lầm căn bản từ các bản văn cổ thư chữ Hán liên quan đến những khái niệm căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.

Do không hiểu bản chất của học thuyết này, vì không phải cội nguồn đích thực của nền văn minh phương Đông, nên những bản văn chữ Hán cổ đã có những hiện tượng sai lệch rất căn bản trong nội dung của nó. Đó cũng là nguyên nhân để họ đã nhầm lẫn về khái niệm mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính vì vậy, đã khiến cho toàn bộ những giá trị đích thực của hệ thống tri thức nền tảng của văn minh Đông phương trở nên huyền bí, từ cái nhìn của tri thức khoa học hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây phương.   

Cũng từ những giá trị minh triết Việt, chúng tôi đã chứng minh giá trị tri thức  của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã mô tả từ toàn bộ lịch sử vũ trụ khởi nguyên đến suốt diễn biến  lịch sử vũ trụ, là đối tượng quán xét của học thuyết này, bắt đầu từ sự xác định nội dung câu trong Hệ từ Thượng truyện: "Thị cố dịch hữu Thái cực, thị sinh lưỡng nghi,lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng", đến cấu trúc hợp lý của đồ hình Hậu thiên bát quái Lạc Việt và bản chất của Hà đồ (mô hình biểu kiến và là yếu tố cấu thành nguyên lý căn để) trong tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Nhưng mọi việc sẽ không chỉ dừng lại ở đây, nếu như một nguyên lý của học thuyêt Âm Dương Ngũ hành không được làm sáng tỏ.

Đó chính là nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" . Một mô hình biểu kiến, được tích hợp bởi Hậu thiên Bát quái Lạc Việt và Hà đồ, mô tả toàn bộ quy luật tương tác của vũ trụ ảnh hưởng tới trái Đất và chi phối toàn bộ những phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương  với tính hiệu quả của nó đã vượt thời gian hàng thiên niên kỷ tồn tại đến ngày nay.

Chính tính hiệu quả của những phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương với khả năng tiên tri, đã làm nên sự huyền vĩ của nền văn minh này, trước những giá trị của nền văn minh hiện đại.

 

V. 1. HẬU THIÊN LẠC VIỆT

Một trong nhưng mô hình biểu kiến của Lý học Đông phương, chính là đồ hình Hậu Thiên bát quái được mặc định là do vua Chu Văn Vương làm ra. Chúng tôi đã chứng minh tính bất hợp lý ở các phần trên. Từ những giá trị minh triết Việt, định hướng chúng tôi đặt vấn đề trong một giả thuyết về sự đổi chỗ Tốn Khôn của Hậu thiên trong cổ thư chữ Hán với danh xưng: “Hậu thiên Lạc Việt”. Phần minh chứng đầy đủ nhân danh khoa học với chuẩn mực là tiêu chí khoa học về một giả thiết khoa học được coi là đúng, chúng tôi đã trình bày chi tiết trong các sách đã xuất bản.

 Trong tiểu luận này, chúng tôi chỉ giới thiệu đồ hình Hậu thiên Lạc Việt , so sánh với Hậu thiên Văn Vương, để bạn đọc có khái niệm về sự hoán vị hai vị trí Tốn Khôn của hai đồ hình này, từ những giá trị minh triết Việt và sự mô tả tổng quát những minh chứng theo tiêu chí khoa học trong các sách đã xuất bản ở phần III, để bạn đọc tiện tham khảo.

Bạn đọc xem lại hai đồ hình Hậu thiên Bát quái so sánh dưới đây:

 

BQHauthienLV01.jpg.......................BQHauthienVV01.jpg

...................ô hình Hâu thiên Lạc Việt ..........................................................Mô hình Hậu thiên Văn Vương

Sự thay đổi vị trí Tốn Khôn để xác định tính hợp lý của một mô hình biểu kiến, chỉ là một yếu tố cấu thành nên nguyên lý căn để của mọi phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vì, như người viết đã trinh bày ở phần trên:

Bát quái chỉ là một dạng ký hiệu tương tự như ký hiệu toán học. Nó không phải là ký tự ngôn ngữ, cho nên nó phải là ký hiệu mô tả liên quan và phải được tích hợp với một đồ hình biểu kiến có khả năng phản ánh một thực tại quan sát được. Trong cổ thư chữ Hán thì đồ hình này là Lạc thư. Và chúng tôi đã chứng minh tính mâu thuẫn trong tương quan tính chất của đồ hình Lạc Thư và Bát quái Văn Vương ở phần trên.

Trên cơ sở định hướng của những giá trị minh triết Việt trong di sản văn hóa truyền thống, chúng tôi đưa ra một giả thuyết về sự phối hợp "Hậu Thiên Lạc Việt với Hà đồ". Giả thuyết chỉ được coi là đúng, nếu nó phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học. Và điều này, chúng tôi đã chứng minh đầy đủ trong các sách đã xuất bản về tính hợp lý của đồ hình "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ" trong mọi mối liên hệ liên quan đến các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, tức tính hợp lý với những vấn đề liên quan đến nó, trên cơ sở đối chiếu với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nhưng chúng tôi sẽ mô tả tiếp tục với sự tóm tắt từ những sách đã xuất bản trong phần III của trong tiểu luận này,

Ngoài bức tranh dân gian phường Hàng Trống - mà chúng tôi trình bày ở trên đã xác định: "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", chính là mô hình biểu kiến cho những ứng dụng của Lý học Đông phương  với danh xưng "Pháp đại uy nỗ" thì trong  văn hóa dân gian Việt còn nhiều di sản khác mô tả điều này.

Chúng tôi xin tiếp tục trình bày sau đây:

 

V. 2. MINH TRIẾT CỦA CẶP BÁNH CHƯNG BÁNH DÀY

LINH VẬT CỦA NỀN VĂN MINH LẠC VIỆT

Bánh chưng, bánh dầy là một biểu tượng văn hoá đặc trưng, độc đáo của người Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại, biểu tượng văn hoá này có nguồn gốc từ cuối thời Hùng Vương thứ VI mà con dân Lạc Việt lưu truyền trải đã hàng ngàn năm, đến tận bây giờ.

Hầu hết mọi người quan tâm đến “Truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy” đều thống nhất nhận thấy ở trong đó thể hiện vũ trụ quan của dân tộc Việt. Nhưng cũng hầu hết những ý kiến đều cho đó là quan niệm thô sơ của người xưa: “Trời tròn, đất vuông”. Trời như cái vung úp xuống đất, đất bằng phẳng và chung quanh là biển. Hoặc cũng có người cho rằng bánh chưng, bánh dầy là thể hiện những giá trị đạo lý của người xưa đối với cha mẹ: “Trời sinh là cha, đất dưỡng là mẹ”. Bánh chưng tượng đất, chứa đựng những hình tượng về sự phú túc của đất mẹ nuôi dưỡng con người (trong bài tựa “Lĩnh Nam Chích Quái” của Vũ Quỳnh, thời Hồng Đức cũng nói đến ý này)...

Nhưng nếu hình vuông và tròn của bánh chưng và bánh dầy chỉ là hình tượng để thể hiện một ý niệm đơn giản như trên, thì trong những thực phẩm khác cũng có thể lý giải tương tự: đĩa xôi, bánh chay, bánh trôi cũng tròn như bánh dầy. Hoặc bánh gai, bánh cốm, bánh giò... trong các món ăn Việt cũng gồm đủ những yếu tố dinh dưỡng và hình thức tương tự như ở bánh chưng.

 Do đó, nếu chỉ với ý nghĩa và hình tượng đơn giản được gán cho bánh chưng, bánh dầy thì sẽ khó bền vững qua thời gian hơn 2000 năm, chỉ tính với thời gian ít nhất là từ khi Nam Việt của Triệu Đà bị tiêu diệt.

Với cách giải thích đơn giản trên cho thấy chúng thiếu tính hợp lý về nội dung trong mối liên hệ với những sự kiện và mọi hiện tượng tương quan đến nó. Chưa nói đến việc cặp bánh chưng, bánh dầy được vua Hùng chấm giải nhất trong cuộc thì và được coi là linh vật dâng cúng tổ tiên trong văn hóa truyền thông Việt. Đây chính là một tiêu chỉ trong việc thẩm định một giả thiết khoa học được coi là đúng về tính hợp lý trong việc giải thích hầu hết các vấn đề liên quan đến nó. Bởi vậy, nó phải được giải thích theo một hệ thống luận cứ khác, phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học.

Trên thực tế hiện nay, vì chiếc bánh chưng, bánh dầy đã mất ý nghĩa nguyên thủy đích thực, nên sự tồn tại của nó chỉ là một phong tục truyền thống và sự cảm nhận thiêng liêng đối với tổ tiên, hơn là một sự tiếp nối những giá trị tư tưởng mà bánh chưng, bánh dầy thể hiện.

Do đó, ý nghĩa đích thực của bánh chưng, bánh dầy phải thể hiện một nội dung minh triết hết sức sâu sắc, nó mới được lưu truyền với tư cách là "linh vật của nền văn hiến Việt" trong ngày thiêng liêng nhất của Việt tộc là ngày lễ Tết Nguyên đán. Vậy ý nghĩa đích thực của cặp bánh chưng, bánh dày là gì?

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

2.1. BÁNH CHƯNG, BÁNH DẦY: BIỂU TƯỢNG CỦA CẶP PHẠM TRÙ ÂM DƯƠNG

TRONG THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

 

Trước hết, chúng ta đặt vấn đề bắt đầu từ hình tượng bánh chưng vuông và bánh dầy tròn.

 Hình tượng vuông tròn này đã được sử dụng một cách phổ biến trong ngôn ngữ dân gian, cách đây hơn 20 năm trở về hàng ngàn năm trước. Đó là câu: “Mẹ tròn, con vuông”. Từ trước đến nay, câu “Mẹ tròn, con vuông” thường sử dụng như là một thành ngữ để chúc lành cho sản phụ sinh nở; do đó ngày nay không còn mấy ai nhắc tới, bởi vì sự khó hiểu của nó. Trong truyện Kiều của cụ Nguyễn Du cũng dùng hình tượng vuông tròn nhiều lần. Đó là những câu:

Sắn, bìm chút phận cỏn con

Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

Hoặc:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Khuôn xanh biết có vuông tròn cho chăng?

Hay là:

Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.

Vậy hình tượng vuông tròn thể hiện cho cái gì?

 Để tìm hiểu về vấn đề này, người viết xin bắt đầu bằng sự trình bày về những ý niệm của vũ trụ quan cổ Đông phương. Những sách Lý học Đông phương khi lý giải về sự hình thành vũ trụ cho rằng:

“Khởi thủy của vũ trụ là Thái Cực”.Theo Chu Hy, nhà Lý học đời Tống nói:  “Thánh nhân gọi là Thái Cực để chỉ cái bản căn của trời đất muôn vật” (Đại cương Triết học Trung Quốc, Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1992).

Một số nhà Lý học Trung Hoa từ cuối thời Hán về sau còn diễn đạt trạng thái ban đầu của vũ trụ dưới các ý niệm khác là: Thái Hư (Hư - sự trống rỗng, Thái - vượt ra ngoài sự trống rỗng) hoặc Thái Vô (Vô - không, Thái - vượt ra ngoài cái không). Những ý niệm này đều nhằm mục đích giải thích rõ hơn cho ý niệm của Thái Cực. Theo sách Đại cương Triết học Trung Quốc (sách đã dẫn) thì quan niệm Thái Cực của các nhà Lý học Trung Hoa chưa có sự thống nhất:

Trịnh Khang Thành cắt nghĩa: “Thái Cực là đạo Cực Trung, là cái khí thuần hòa còn chưa chia” (Văn tuyển chú dẫn). Ngu Phiên thì nói: “Thái Cực là Thái Nhất nghĩa là theo thuyết cũ của Hán Nho cho 4 câu này (Dịch hữu Thái Cực) là nói cái quá trình hình thành vũ trụ.  Chu tử đời Tống thì cho rằng 4 câu này là quá trình tập hợp quái của cổ nhân. Thuyết của Chu tử sau bị Lý Thứ Cốc đời sau phản bác. Theo Chu Hy thì “Thái Cực đem phân ra chỉ là Âm Dương” (Thái Cực phân khai chỉ thị lưỡng cá Âm Dương). Qua đó thì thấy rõ là những giải thích của Hán Nho cổ kim rất mơ hồ. Chính những cách giải thích khác nhau và mâu thuẫn đó cho thấy văn minh Hán không thể là chủ nhân của nền văn minh Đông phương, vì chính họ chẳng hiểu gì cả. Sự giải thích lộn xộn và mâu thuẫn chứng tỏ điều này.

Nhưng điều này lại được hình tượng hóa rất rõ ràng trong chính chiếc bánh chưng, bánh dày của nền văn hiến Việt huyền vĩ : “Trời tròn , đất vuông” lại có một ý nghĩa minh triết sâu sắc khác hẳn:

Trời – Dương/ Khí Dương, theo Lý học cổ Đông phương có tính thuần khiết, viên mãn và thông biến, nên tượng của Dương hình tròn; Đất – Âm/Khí Âm, tụ đục giới hạn, nên hình tượng của Âm được biểu hiện bằng hình vuông.

Như vậy, hình tượng cặp bánh chưng, bánh dày của nền văn hiến Việt chính là hình tượng mô tả cặp phạm trù Âm Dương trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Câu nói của người Việt được lưu truyền: “Mẹ tròn, con vuông” thường là để chúc lành cho sản phụ sắp sinh nở sẽ rất khó hiểu về ý nghĩa thực tế: "Mẹ tròn" làm sao sinh "con vuông" được?! Nhưng nếu coi đó là câu tục ngữ mà ông cha lưu truyền cho đời sau sự nhận thức về vũ tru, thì đó chính là biểu tượng của Âm Dương với một ước mơ hài hòa Âm Dương thì vạn sự mới phát triển và tồn tại, nên dành để chúc lành cho sản phụ khi sinh nở.

"Mẹ tròn, sinh con vuông" còn là một nguyên lý của Lý học Đông phương: "Dương trước, Âm sau". Đương nhiên "mẹ" là thực thể có trước là Dương, "con" là thực thể có sau do mẹ sinh là Âm, qua hình tượng vuông tròn của Âm Dương thể hiện ở cặp bánh chưng, bánh dày.

Bởi vậy, câu tục ngữ "Mẹ tròn, con vuông" còn là một hình tượng mô tả một nguyên lý trong tương quan của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Sự ước mơ về tính hài hòa của Âm Dương là nguồn gốc của mọi sự phát triển tốt đẹp (theo ý nghĩa của câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông”) thể hiện vũ trụ quan của người Việt.

Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì khái niệm của cặp phạm trù Âm Dương mang tính so sánh, phân biệt và bao trùm từ sự khởi nguyên vũ trụ sau Thái Cực, cho đến mọi sự vận động, phát sinh, phát triển của vũ tru. Dương bao gồm: Trời, cha, đàn ông... Âm bao gồm: Đất, mẹ, đàn bà...vv…. mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên.

Như vậy, hình tượng vuông tròn và tính chất của bánh chưng, bánh dầy hoàn toàn đầy đủ điều kiện để biểu tượng cho Âm Dương:

Bánh dầy có màu trắng, không vị của nếp giã thể hiện sự thuần khiết; tính dẻo thể hiện sự thông biến; hình tròn của bánh dầy thể hiện sự viên mãn của Thái cực và là Dương khi sinh "Lưỡng nghi". Bánh chưng hình vuông là tượng của Âm. Bánh chưng, bánh dày còn là biểu tượng của Lưỡng nghi, trong cặp phạm trù Âm Dương. Khi bánh dày tượng cho Thái cực tròn, đầy, viên mãn và bánh chưng vuông là sự phân biệt với trạng thái khởi nguyên (Tròn).

 

2501_zpsd2044748.jpg

2502_zps0f5aeab1.jpg

Hình ảnh cặp bánh chưng, bánh dày trong nghi thức lễ hội văn hóa truyền thống Việt. Ảnh: web hodo.vn. web nguoicaotuoi.vn

 

Nhưng những vật liệu cấu tạo nên bánh chưng là một vấn đề đáng chú ý khi hình tượng vuông tròn của bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương trong vũ trụ quan cổ Đông phương.

 

2.2. BÁNH CHƯNG, BÁNH DẦY

MÔ TẢ TƯƠNG QUAN CẶP PHẠM TRÙ ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH

 TRONG THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

 

2.2.1. Tương quan Âm Dương và Ngũ hành trong văn minh Hán.

Cho đến tận ngày hôm nay, lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn rất mơ hồ trong lịch sử văn minh Hán. Các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua, chưa thể mô tả và lý giải một cách hợp lý bản chất thật sự của khái niệm Âm Dương và Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành của nó. Người viết đã chứng minh điều này trong các sách đã xuất bản và những bài viết trên các diễn đàn liên quan. Trong tiểu luận này, người viết trích dẫn những luận điểm của các nhà nghiên cứu hiện đại của cả Việt Nam và Trung Hoa, chúng tỏ với bạn đọc về vân đề này.

Trong sách "Chu Dịch vũ trụ quan" (Nxb Giáo Dục Hanoi. Giáo sư Lê Văn Quán) viết:

"Qua các tài liệu Tả Truyện, Quốc Ngữ ở thời đại Xuân Thu, ngũ hành chỉ năm loại vật chất không thể thiếu trong sinh hoạt. Tư tưởng Ngũ hành đầu tiên lưu hành ở hai nơi Yên, Tề, miền biển phía Đông Trung Quốc. Thời đại này sinh sớm nhất, không trước Trâu Diễn một thế kỷ, vào thế kỷ thứ V trước CN. Thời đại sinh thời của Trâu Diễn khoảng 350 đến 370 trước CN. Nếu ông ta không phải người duy nhất khai sáng ra thuyết Ngũ hành, thì ít nhất cũng là người hệ thống hóa và cố định thêm những tư tưởng có liên quan đến loại này."

 

Cũng trong sách trên, giáo sư Lê Văn Quán viết:

THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH DUNG HÒA

Thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành phát triển đến thời Tần Hán, đã có sự phân biệt khá rõ rệt. Thuyết Âm Dương thiên về nguyên lý sinh thành vũ trụ. Thuyết Ngũ hành thiên về phấn loại hiện tượng sự vật trong vũ trụ và hệ thống quan hệ giữa những thuộc tính. Hai cái đó hòa vào nhau và trở thành hệ thống giải thích hiện tượng sinh thành vũ trụ, cuối cùng hoàn thành từng bước ở đời Hán.

 

Trong sách "Đại cương triết học sử Trung Quốc" (Phùng Hữu Lan. Nxb Thanh niên 1999. Người dịch: Nguyên Văn Dương), tác giả viết:

Tại Trung quốc xưa có hai luống tư tưởng đã cố giải thích cấu tạo và nguồn gốc vũ trụ. Một luồng tư tưởng dựa trên những trứ tác của Âm Dương gia, và luồng tư tưởng kia dựa trên vài phần trong "Dịch truyện", do các nhà Nho khuyết danh, đưa phụ vào bản kinh Dịch nguyên thủy. Hình như hai luồng tư tưởng ây, đã tiến triển độc lập, không kiên quan với nhau. Trong thiên "Hồng Phạm" và thiên"Nguyệt lệnh" mà ta đã xét, Ngũ hành được đề cập mà thấy không nói tới Âm Dương: trong "Dịch truyện", trái lại, chỉ thấy nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ hành. Nhưng về sau, hai luồng tư tưởng ấy hợp làm một. Sự hợp nhất ấy đã thấy vào thời Tư Mã Đàm (Chết năm 110 trước CN), khiến cho ông đã gom lại trong bộ Sử Ký, dưới tên Âm Dương gia.

 

Qua sự trích dẫn trên, cho thấy tương quan nội hàm của phạm trù Âm Dương với nội hàm Ngũ hành trong các văn bản chữ Hán cổ rất mơ hồ. Đồng thời, những nhận xét về của các nhà nghiên cứu hiện đại đã gián tiếp phủ nhận toàn bộ phủ nhận nội dung các bản văn cổ chữ Hán mô tả về lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành , được coi là xuất hiện trong nền văn minh Hán. Tức là phủ nhận tất cả những thời gian lịch sử được gán ghép cho những tác giả Hán phát minh ra thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong văn minh Hán: bắt đầu từ Phục Hy (6000 năm cách ngày nay), được coi là phát minh ra Hà đồ và Tiên thiên Bát quái trên lưng Long Mã; Hoàng Đế  (5000 năm cách ngày nay), được coi là cùng các quần thần của ông đã hệ thống hóa toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ hành ứng dụng trong Đông y; Đại Vũ (4000 năm cách ngày nay), được coi là phát minh ra Lạc thư và "Hồng phạm cửu trù", trong đó trù thứ nhất nói về Ngũ hành; Chu Văn Vương, Chu Công Đán (3000 năm cách ngày nay),  được coi là phát minh ra "Hậu thiên Bát quái Văn Vương" và liên hệ với Lạc thư. Khổng tử (2500 năm cách ngày nay ), được coi là biên soạn lại kinh Dịch và hoàn tất cuốn Chu Dịch lưu truyền đến ngày nay.

Như vậy, với lịch sử của thuyết Âm Dương và Ngũ hành được miêu tả trong cổ thư chữ Hán với những nhân vật lịch sử được coi là "tác giả" của nền văn minh Hán nói trên, hoàn toàn đã bị phủ nhận chính từ những nhà nghiên cứu hiện đại của chính nền văn minh Trung Hoa, mà chúng tôi đã trích dẫn ở trên.

Sự phủ nhận này là kết quả cuối cùng xác định lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành không thể thuộc về nền văn minh Hán.

Nhưng ngược lại, từ nền văn hiến Việt, những di sản văn hóa truyền thống lại minh định một cách rất rõ ràng tính hệ thống, nhất quản, hoàn chính của học thuyết này và các hệ thống ký hiệu Dịch chính là những siêu công thức mô tả nội hàm của học thuyết này.

Các phần tiếp theo chúng tôi tiếp tục minh chứng điều này.

 

2.2.2. Mối tương quan của Ngũ Hành và Âm Dương trong cặp bánh chưng , bánh dày.

Trong sự mô tả và thực tế ứng dụng hệ thống phương pháp luận của học thuyết Âm Dương Ngũ hành mà cổ thư chữ Hán nói đến: sự chuyển hóa Âm Dương sinh ra năm dạng vật chất căn bản được định danh, là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, gọi chung là Ngũ hành. Năm dạng vật chất này tương tác lẫn nhau trong sự chi phối của Âm Dương tạo nên vạn vật.

Sự tương tác, vận động của Ngũ hành trong thuyết Âm Dương Ngũ hành rất phức tạp, nhưng khởi thủy từ hai dạng vận động chính là tương sinh và tương khắc được thể hiện ở hình vẽ sau.

 

Nguhanhsinh01.jpg.........………Nguhanhkhac02.jpg

 

................Ngũ hành tương sinh ……………….........................................Ngũ hành tương khắc

 

Nhìn chung Ngũ hành tương sinh theo quan niệm Lý học Đông phương là nguồn gốc của mọi sự phát sinh và phát triển trong sự chi phối hài hòa của Âm Dương. Ngũ hành tương khắc là nguồn gốc của mọi sự ngưng trệ. Tượng của Ngũ hành khi thể hiện ở màu sắc là: Hỏa màu đỏ; Thổ màu vàng; Kim màu trắng; Thủy màu đen, hoặc xanh dương; Mộc màu xanh lá cây.

Xét cấu tạo của chiếc bánh chưng gồm bốn vật liệu chính và phải luộc bánh (dụng Thủy) thì có thể khẳng định đó là biểu tượng của Ngũ hành được sắp xếp theo lý tương sinh từ trong ra ngoài: thịt lợn (heo) sắc hồng thuộc Hỏa; sinh Thổ (sắc vàng của đậu xanh); Thổ sinh Kim (sắc trắng của gạo nếp); Kim sinh Thủy (dịch chất của gạo nếp và diệp lục tố của lá dong tạo nên màu xanh trên mặt bánh khi luộc); Thủy dưỡng Mộc (lá dong bọc bên ngoài bánh).

Bạn đọc xem hình mô tả dưới đây:

 

Banhchung02.jpg

 

Ngũ hành tương sinh trong cấu tạo chiếc bánh chưng

 

2522_zps6466233b.jpg

Hình mô tả thực tế chất liệu bên trong chiếc bánh chưng thuộc nền văn hiến Việt.

 

Qua hình tượng mô tả cặp phạm trù Âm Dương của cặp bánh chưng, bánh dày và nguyên lý mối tương quan của cặp phạm trù này: "Dương trước (Mẹ tròn), Âm sau (Con vuông) , với Ngũ hành thuộc Âm trong bánh chưng vuông và chiều ngũ hành tương sinh, cho thấy: tất cả những mối liên hệ phát sinh, phát triển sau khởi nguyên vũ trụ là Thái cực thì đều thuộc phạm trù mô tả sự vận động với bốn trạng thái tương tác của Ngũ hành thuộc Âm, nằm trong bánh chưng vuông (Âm vuông), so với trạng thái khởi nguyên - Thái cực - là Dương.

Chiều Ngũ hành tương sinh, chính là một trong bốn trạng thái tương tác, mà chúng tôi đã mô tả ở trên ("Lưỡng nghi sinh Tứ tượng"). Và từ đó, chúng ta có thể có một sự liên hệ hợp lý tiếp theo, là: bốn trạng thái tương tác được mô tả trong kinh Dịch, lại chính là các hình thức tương tác của các trạng thái phân loại theo Ngũ hành. Nhưng trong kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán lại không nói đến điều này. Bởi vỉ trong nội dung kinh Dịch, do tiếp thu không hoàn chỉnh từ văn hiến Việt, không hề thể hiện Ngũ hành như những khái niệm mô tả trạng thái phân loại. Điều này cũng chẳng có gì khó hiểu, khi nền văn minh Hán cũng không thể diễn giải được nội hàm khái niệm Tứ tượng, trong chính bản văn kinh Dịch.

Nhưng, hình tượng chiếc bánh chưng, bánh dày và chiều Ngũ hành tương sinh, đã chứng tỏ điều này.

 

2.2.3. Bánh chưng,  bánh dày mô tả mối tương quan của Hà đồ  - "pháp đại uy nỗ" và xác định giá trị nền tảng của văn minh Đông phương thuộc về văn hiến Việt.

 

Mối liên hệ nội hàm của bánh chưng với Hà đồ và Hậu thiên Lạc Việt.

Hình thức bên ngoài của chiếc bánh chưng Lễ truyền thống là hai cặp sợi lạt hồng, buộc từng cặp song song và vuông góc với nhau chia bánh chưng thành 9 hình vuông. Đây chính là hình tượng của cửu cung Hà đồ, một đồ hình bí ẩn trong văn hoá Đông phương cổ. Người viết xác định hình tượng cửu cung trong cách buộc bánh chưng như trên thuộc về Hà đồ, mà không phải Lạc Thư cửu cung, chính vì nội dung thể hiện vật liệu bên trong chiếc bánh chưng mang hình tượng Ngũ hành tương sinh phù hợp với nội dung của Hà đồ, mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Xin xem hình dưới đây:

   2532259_zps39cd5298.jpg.....274_zps0af6f030.jpg

Hình thức bên ngoài của cách buộc bánh chưng lễ truyền thống và chiều Ngũ hành tương sinh thuận kim đồng hồ của Hà đồ.

Nhưng vấn đề chưa dừng lại ở đây.

Chiếc bánh chưng với cách sử dụng truyền thống còn xác định một cách hoàn chỉnh mô hình căn để của Lý học Đông phương là "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

Bốn sợi lạt hồng dùng để buộc bánh chưng, sau khi bóc bánh, sẽ được đặt xéo hai sợi ở 4 góc và hai sợi ở hai cạnh hình vuông.  Người cắt bánh sẽ cầm hai đầu của một sợi dây, kéo và xiết những sợi lạt hồng để chiếc bánh được cắt và chia làm 8 miếng như hình dưới đây.  Với cách cắt bánh chưng này, đây chính là 8 phương vị được mô tả bát quái trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bạn đọc xem hình dưới đây:

 

254_zpsbe889c3b.jpg

Hình mô tả cách cắt bánh chưng truyền thống trong văn hóa dân gian Việt.

 

So sánh với phương vị của Hà đồ, là mô hình biểu kiến mô tả sự tương tác của Ngũ tinh với các phương vị trên bầu trời Ngân hà nhìn từ trái Đất (Đã chứng minh ở trên. Tư liệu Giáo sư Lê Văn Quán).

Qua sự so sánh vị trí của bát quái trong 8 phương vị của Hà đồ với cách cắt bánh chưng như trên, đã xác định mối liên hệ giữa Hà đồ và đồ hình Bát quái của Dịch học, mô tả tám phương vị được phân định trong vũ trụ và Địa cầu và xác định từ cội nguồn Việt sử của học thuyết này. Nhưng vấn đề được đặt ra: "Tại sao Hà đồ lại phối với Hậu thiên Bát quái?"

Thuyết Âm Dương Ngũ hành mà bản chất nguyên thủy là một học thuyết có hệ thống, nhất quán miêu tả từ sự khởi nguyên của vũ trụ và mọi vấn đề liên quan đến con người. Bát quái chỉ là ký hiệu siêu công thức, mô tả hệ thống học thuyết này, khi nó không phải là ký hiệu ngôn ngữ. Cho nên điều kiện tất yếu nó phải gắn kết tích hợp với một mô hình biểu kiến liên quan đến một thực tại có thể quan sát được thể hiện nội dung của nó.

Trong cổ thư chữ Hán thì Hà đồ phối với Tiên thiên Bát quái, do vua Phục Hy tìm thấy trên lưng Long mã từ 6000 năm BC và không hề được coi là nguyên lý căn để trong sự ứng dụng cụ thể trong toàn bộ các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương cho đến ngày hôm nay. Còn đồ hình căn bản trong sự ứng dụng phổ biến trong cổ thư chữ Hán liên quan là "Lạc thư phối với Hậu Thiên Văn Vương", mà người viết đã trình bày những mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của nó ở phần trên.

Nhưng ngay với khái niệm "Tiên thiên" là cái có trước, "Hậu thiên" là cái có sau. Đương nhiên, "Hậu thiên bát quái" là cái có sau thì nó phải gắn kết với một mô hình biểu kiến có sau, mà  chính hình tượng vuông thuộc Âm (Theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau"; "Mẹ tròn, con vuông") và mang dấu ấn của Ngũ hành tương sinh, nội hàm của Hà đồ, mới là mô hình biểu kiến đích thực và liên hệ với Hậu thiên bát quái.  Sự liên hệ này chính là mối liên kết hợp lý ngay trong nội hàm của chiều tương sinh của Hậu thiên với phương vị ngũ hành trên Hà đồ. Chúng tôi đã chứng minh ở phần trên về tính hợp lý trong cấu trúc tương hợp khi tích hợp giữa "Hậu thiên Bát quái Lạc Việt với Hà đồ". Chúng tôi lặp lại những đồ hình mô tả ở đây để bạn đọc tiện tham khảo đối chiếu.

Bạn đọc xem lại hình dưới đây:

hdcct22.jpg

Hà đồ cửu cung

Ngũ hành tương sinh

 

HTLacViet02.jpg

 

274_zps0af6f030.jpg

Đồ hình mô tả Hậu thiên Lạc Việt tích hợp Hà đồ.

 

Sự xác định nguồn gốc của thuyết Âm Dương Ngũ hành có cội nguồn từ nền văn hiến Việt qua hình tượng bánh chưng, bánh dày với những vấn đề liên quan.

Hình thức bên ngoài của chiếc bánh chưng lễ trong văn hóa truyền thống Việt, như sau:

 

2532259_zps39cd5298.jpg

 

Hình thức bên ngoài của chiếc bánh chưng lễ.

 

Qua hình ảnh trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Bốn sợi lạt hồng buộc bánh chưng được nhuộm màu hồng (Đỏ). Trong phát âm của người Việt, nhiều địa phương vẫn phát âm tuy khác nhau, nhưng đều mô tả nội dung giống nhau: "sợi lạt" và "sợi lạc". Bởi vậy, bốn sợi "Lạc Hồng" buộc bánh chưng trong di sản truyền thống độc đáo này, chính là sự xác định thuộc cội nguồn của nền văn minh Lạc Hồng của ngôn ngữ Việt vẫn tự hào là: "Con Lạc, cháu Hồng".

“Sự tích bánh chưng, bánh dầy”  theo truyền thuyết kể lại , đã được chấm giải nhất trong cuộc thi, không phải là ngon hơn các món ăn khác mà là tính biểu tượng cao của nó. Vì vậy, chiếc bánh chưng, bánh dầy không chỉ thể hiện quan niệm vũ trụ quan một cách đơn giản theo cách hiểu của đời sau, khi truyền thuyết này phải xuyên qua thời gian, không gian lịch sử thăng trầm của Việt tộc được tính bằng thiên niên kỷ.

 Với cấu trúc và nội dung của chiếc bánh chưng, bánh dày đã thể hiện nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mới chứng tỏ được tính biểu tượng độc đáo của nó và mang tính minh triết cô đọng của cả một học thuyết đã được tôn vinh từ lâu trong xã hội và cuộc sống của đất nước Văn Lang, một thời huy hoàng ở bờ nam sông Dương tử. Đồng thời, chính vì là biểu tượng minh triết của cả một học thuyết cơ sở của Lý học Đông phương, nên nội hàm trong hình tượng của chiếc bánh chưng, bánh dày, bao trùm luôn những cách hiểu đơn giản của đời sau. Theo quan niệm lý học cổ Đông phương thì Âm Dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh là nguồn gốc của sự phú túc, phát triển trong tự nhiên, xã hội và con người.

 Bánh chưng, bánh dầy được vua Hùng chấm giải nhất, vì tính biểu tượng độc đáo, thể hiện nội dung của thuyết Âm Dương Ngũ hành, hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống trong nền văn minh Văn Lang và là một hệ thống lý thuyết căn bản của Lý học Đông phương.

 

2.2.4. Bánh chưng, bánh dầy và những di sản văn hóa Việt trong mối tương quan với những nguyên lý của cặp phạm trù Âm Dương.

Các phần trên, căn cứ vào những di sản văn hóa truyền thống Việt, người viết đã trình bầy với bạn đọc:

Âm Dương là một cặp phạm trù thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành, mô tả mọi sự phân biệt và tương tác, trong tương quan so sánh của mọi trạng thái tồn tại của quá trình phát triển trong không gian và thời gian của lịch sử vũ trụ.

Với một nội dung hàm chứa mang tính bao quát vũ trụ tất nhiên, nó phải có những nguyên lý trong mối liên hệ tương quan nội tại của cặp phạm trù này.

Trong cổ thư chữ Hán cũng có nói tới một số nguyên lý tương quan, nhưng do nhầm lẫn khái niệm, nên cách giải thích của họ rất mơ hồ và mâu thuẫn khi liên hệ giữa các vấn đề, sự kiện và mọi hiện tượng liên quan.

Người viết trình bày một số nguyên lý lý thuyết căn bản trong sự tương quan của cặp phạm trù Âm Dương, cũng được cổ thư chữ Hán nhắc tới, nhưng rất mơ hồ. Vì chính họ chưa hiểu rõ khái niệm Âm Dương thì họ cũng không thể xác định được một cách rõ ràng những tương quan nội hàm của nó. Những nguyên lý có tính cục bộ liên quan đến các chuyên ngành của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong ứng dụng, tạm thời chúng tôi chưa đề cập đến trong tiểu luận này, như: "Âm co, Dương duỗi"; "Âm thăng, Dương giáng"...vốn ứng dụng trong Đông y, phong thủy...Vì sự thất truyền, nên nó thiếu danh từ định tính chuyên ngành của các nguyên lý cục bộ này. Thí dụ: Trong phong thủy, định tính đầy đủ của nguyên lý "Âm thăng, Dương giáng" phải là "Khí Âm thăng, khí Dương giáng". Hy vọng chúng tôi sẽ có dịp đề cập trong một đề tài chuyên sâu khác liên quan.

Trong những nguyên lý phổ biến được trình bày, có những nguyên lý được thừa nhận từ cổ thư. Nhưng cũng có những nguyên lý do các nhà nghiên cứu Hán Nho đời sau tự suy nghiệm và bổ sung. Chúng tôi cũng sẽ chỉ đề cập đến sâu những nguyên lý loại này so sánh với di sản văn hóa truyền thống Việt. Những nguyên lý này được thể hiện như sau:

 

1/ Dương trước, Âm sau.

Đây là nguyên lý theo hệ quy chiếu của thời gian. Cái có trước là nguyên nhân của cái có sau thì cái có trước là Dương.

 

2/ Âm thuận tùng Dương.

Nguyên lý này là hệ quả của nguyên lý "Dương trước, Âm sau". Nó mang mối liên hệ nhân quả.

 

3/ Dương trên, Âm dưới.

Đây là nguyên lý căn cứ vào hệ quy chiếu không gian. Tất nhiên, suy cho cùng thì không gian vũ trụ tự nó không có phân biệt "trên, dưới" mà nó phụ thuộc vào vị trí quan sát, hoặc vị trí quy ước.

 

4/ Âm Dương chuyển hóa.

Đây là một nguyên lý phức tạp nhất trong những nguyên lý ứng dụng của cặp phạm trù Âm Dương. Những nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua, đã rất lúng túng khi ứng dụng hoặc giải thích nguyên lý này. Vì nó mô tả sự vận động của mọi sự kiện, vấn đề, hiện tượng từ vi mô, đến vĩ mô trong vũ trụ. Do đó, nguyên lý này tùy thuộc vào khá nhiều yếu tố. Trong đó bao gồm đối tượng, nhóm đối tượng quan sát để vận dụng những tri thức trong hệ thống của thuyết Âm Dương ngũ hành phân tích, nhận định kết quả.  Nó không đơn giản như cách giải thích của Hán Nho từ hàng ngàn năm qua, khi họ cho rằng:

Dương (Hoặc Âm ) cực thịnh thì là Lão Dương,hoặc Thái Dương nên "nhất Âm sinh" (Hoặc "nhất Dương sinh"gọi là "Thiếu Dương"....(Đã trích dẫn)

Với cách giải thích này thì sự chuyển hóa Âm Dương mô tả một thực tại nào, khi họ nhầm lẫn giữa khái niệm của tổng hợp của tư duy trừu tượng với khái niệm mô tả thực tại quan sát được. Bởi vì cứ Thái Âm thì đến Thiếu Dương, rối tăng trưởng đến Thái Dương lại Thiếu Âm, mà họ gọi là tứ tượng thì vũ trụ này luẩn quẩn quá. Đấy là một cách giải thích của các nhà nghiên cứu Hán Nho, mà trong văn hóa truyền thống Việt gọi là "mồm bò, chẳng phải mồm bò, nhưng lại là mồm bò". Sau đó những nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua cho rằng sự chuyển hóa Âm Dương mà họ gọi là "tứ tượng" này lại sinh ra Bát quái?! Vậy Ngũ hành nằm ở đâu trong sự chuyển hóa Âm Dương này? Bởi vậy, cho đến tận bây giờ, cách nhà nghiên cứu hiện đại vẫn không thể giải thích được thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời vào thời điểm nào trong nền văn minh Trung Hoa (Đã mô tả qua các đoạn trích dẫn luận điểm của các nhà nghiên cứu Việt Trung, ở trên).

 

5/ Trong Âm, có Dương, trong Dương có Âm.

Đây là một nguyên lý phổ biến. Như người nam khí chất thuộc Dương, nhưng hình thể thuộc Âm; nữ khí chất thuộc Âm, nhưng hình thể thuộc Dương.

Với năm nguyên lý tương đối phổ biến mà người viết trình bày ở trên, chúng tôi không bàn sâu. Bởi vì đây là những nguyên lý đã được lập thành và ghi nhận, không có mâu thuẫn nội hàm và không mâu thuẫn với những di sản văn hóa truyền thống Việt. Vấn đề chỉ còn là nội dung của nó.

 

6/ Âm Dương tịnh, động?

Đây là một nguyên lý mà người viết cho rằng rất quan trọng trong mối liên hệ tương quan của cặp phạm trù Âm Dương và không có trong các bản văn tối cổ chữ Hán. Nhưng nó là một yếu tố cấu thành căn bản cho việc quán xét các hiện tượng và sự việc từ nội hàm của cặp phạm trù Âm Dương. Do đó, nó được các nhà nghiên cứu đời sau, cụ thể là Chu Hy, triết gia vào đời Tống đã nói tới.

Mối liên hệ "Động, tĩnh" của Âm Dương là một mối liên hệ tương tác mang tính phân biệt, so sánh của mọi hiện tượng, sự kiện, sự vật....trong vũ trụ, cuộc sống, thiên nhiên và con người trong phạm trù chi phối của Âm Dương. Trong khi đó, Âm Dương với nội hàm căn bản là sự phân biệt tùy theo đối tượng quan sát mọi sự vận động, từ vi mô đến vĩ mô trong vũ trụ  thì tất yếu tính tịnh động của tương quan của cặp phạm trù này là hết sức quan trọng.

Chu Hy cho rằng: "Dương động, Âm tịnh". Ông viết trong "Thái cực đồ thuyết" như sau:

"Vô cực mà là Thái cực.Thái cực động thì sinh Dương. Động cực thì tĩnh. Tĩnh thì sinh Âm. Tĩnh cực lại động. Một động,một tĩnh làm căn bản cho nhau".

 

(Kinh Dịch và Vũ trụ quan Đông phương. Nguyễn Hữu Lượng. Sách đã dẫn. trang 32).

 

Chính từ cách giải thích mơ hồ của Chu Đôn Di, nên hàng ngàn năm nay, mặc nhiên, nguyên lý "Dương động, Âm tịnh" được coi là một trong những nguyên lý căn bản cho cặp phạm trù Âm Dương. Hầu hết các sách  nghiên cứu liên quan đến nguyên lý này đều lặp lại luận điểm của Chu Đôn Di, bậc thánh Nho đời Tống.

Nhưng đây lại là sai lầm rất căn bản của triết gia đời Tống này, vì tính mâu thuẫn trong mọi mới liên hệ tương quan với các nguyên lý khác liên hệ với cặp phạm trù Âm Dương. Tất nhiên, nó không phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học.

 

Bây giờ, chúng ta trở lại với hình tượng vuông tròn của cặp bánh chưng, bánh dày và câu thành ngữ "Mẹ tròn, con vuông" trong văn hóa dân gian truyền thống của Việt Nam. Từ đó liên hệ với câu nổi tiếng trong Hệ từ Thượng truyện, mà chúng tôi đã đề cập ở trên: "Thị cố Dịch hữu Thái cực. Thị sinh lưỡng nghi....".

Cặp bánh chưng, bánh dầy là biểu tượng của Âm Dương. Bánh dày tròn thuộc Dương và là cái có trước, theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau" và tương ứng với câu thành ngữ "Mẹ tròn"/ cái có trước; "con vuông"/ cái có sau".  Bánh dầy - biểu tượng của Thái cực - là trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, tất yếu là Dương theo nguyên lý "Dương trước", khi có sự so sánh,phân biệt với nó. Vậy, nếu "Dương động" theo quan điểm của Chu Đôn Di thì Thái cực động so với cái gì? Nếu cho rằng Thái Cực có xuất xứ từ "Vô cực" , là một khái niệm mà ông Chu Đôn Di tự ý thêm vào thuyết Âm Dương Ngũ hành thì "Vô cực" là cái có trước, nó tĩnh so với cái gì, khi nội hàm cặp phạm trù Âm Dương mô tả mọi trạng thái phân biệt và chỉ khi bắt đầu có sự phân biệt thì mới nằm trong phạm trù Âm Dương. 

Bởi vậy, căn cứ vào những gía trị của nền văn hiến Việt còn lại trong nhưng di sản văn hóa truyền thống Việt, chúng tôi xác định rằng:

Nguyên lý tương quan của cặp phạm trù Âm Dương là:

"Dương tịnh, Âm động".

Nguyên lý "Dương tịnh, Âm động" được xác định từ nền văn hiến Việt, hoàn toàn là một cấu trúc hợp lý, có tính hệ thống với các nguyên lý và cấu trúc tổng thể của thuyết Âm Dương hành, phù hợp với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để xác định một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Trong khi quán xét mọi hiện tượng trong không thời gian của lịch sử hình thành vũ trụ,  tức là một phân đoạn trong qúa trình này, mang tính cục bộ so với tính toàn thể, đã không ít ngộ nhận về ứng dụng những nguyên lý này để quán xét hiện tượng.

Người viết trình bày với bạn đọc một hiện tượng như sau:

Trên trái Đất, ban ngày là Dương, ban đêm là Âm. Nhưng vào ban ngày thì mọi sinh vật đều vận động. Ban đêm thì hầu hết đều ngủ. Và không ít nhà nghiên cứu Lý học cho rằng: Đó là bằng chứng cho "Dương động, Âm tịnh".

Đây là một sai lầm, vì những nguyên lý của một hệ thống lý thuyết mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ, như thuyết Âm Dương Ngũ hành, không chỉ riêng cho trái Đất. Sự vận động của mọi sinh vật trên trái Đất là một hoạt động đặc thù liên quan đến ban ngày của Địa cầu, không phải là vì "Dương động" nên sinh hoạt mới bắt đầu.

Nhưng vấn đề sẽ không dừng ở đây, khi cặp phạm trù Âm Dương mang nội hàm của sự so sánh, phân biệt đối đãi. Nó sẽ không phải là một học thuyết, nếu như chỉ có riêng sự tồn tại của cặp phạm trù Âm Dương, để lý giải toàn bộ mọi trạng thái tồn tại trong quá trình phát triển của lịch sử vũ trụ. Bởi vậy, nó phải có một hệ thống phân loại, để mô tả một cách cụ thể hóa những mối tương quan của cặp phạm trù Âm Dương. Đó chính là hệ thống Ngũ hành.

Người viết xin được tiếp tục trình bày với bạn đọc về vấn đề này , ngay phần tiếp theo đây.

 

2.2.5. Bánh chưng, bánh dầy – Mô tả mối liên hệ giữa Âm Dương và Ngũ hành - là những phạm trù có tính hệ thống và tính phân loại trong cấu trúc của một lý thuyết vũ trụ hoàn chỉnh.

Hàng ngàn năm trôi qua, vấn đề mối liên hệ nội hàm giữa khái niệm Âm Dương và Ngũ hành và lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời như thế nào trong văn minh Hán, đến tận ngày hôm nay, tất cả các nhà nghiên cứu đều bế tắc và chưa giải quyết được. Mặc dù hệ thống phương pháp luận của nó thể hiện trong các phương pháp ứng dụng một cách có hiệu quả trên thực tế trong nền văn minh Đông phương, thể hiện dưới hình thức bản văn chữ Hán, trải hàng thiên niên kỷ.

Nhưng cũng chính những di sản văn hiến Việt còn lại trong văn hóa truyền thống đã xác định mối liên hệ nội hàm giữa khái niệm Âm Dương và Ngũ hành. Sự huyền vĩ trong di sản văn hóa truyền thống ấy, chính là nền tảng tri thức của học thuật cổ Đông phương. Người viết cũng xin được bắt đầu bằng chiếc bánh chưng, bánh dày.

Trong sự phân biệt giữa bánh dày tròn thuộc Dương (Thái cực, mô tả trạng thái khởi nguyên vũ trụ), thì Ngũ hành hoàn toàn nằm trong chiếc bánh chưng vuông thuộc Âm. Điều này xác định rằng:

Ngũ hành trong nội hàm Âm của cặp phạm trù Âm Dương và mang thuộc tính Âm động so với khởi nguyên vũ trụ (Thái cực/ bánh dày thuộc Dương), khi có sự phân biệt với chính nó ("Lưỡng nghi").

So sánh với quan niệm minh triết về sự vận động của vật chất thì toàn bộ sự vận động này hàm chứa trong sự vận động biểu kiến của Ngũ hành trong sự chi phối của Âm Dương.

Như vậy, chính hình tượng đầy minh triết của cặp bánh chưng, bánh dày đã xác định:

Ngũ hành là một khái niệm căn bản của tư duy trừu tượng thuộc hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành, mang tính phân loại và là đối tượng chủ thể của bốn trạng thái tương tác ("Tứ tượng") cho mọi thuộc tính của vật chất và mô tả mối quan hệ tương tác trong lịch sử vũ trụ sau giây "O", nằm trong nội hàm của cặp phạm trù Âm Dương của lý thuyết này

Sự xác định nội hàm của khái niệm Ngũ hành, từ cặp bánh chưng, bánh dày , di sản truyền thống của nền văn hiến Việt, cũng xác định cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về Việt tộc và chứng tỏ trên thực tế ứng dụng từ hàng ngàn năm qua trong nền văn minh Đông phương.

 

2.2.6. Bánh chưng, bánh dầy – Linh vật của nền văn hiến Việt

Biểu tượng độc đáo của cặp bánh chưng, bánh dày không chỉ dừng lại ở thể hiện biểu tượng của Âm Dương Ngũ hành, mà người viết đã minh chứng ở trên. Có thể nói rằng sự minh triết vô cùng sâu sắc của hai hình tượng này đã đưa cặp biểu tượng bánh chưng, bánh dày lên hàng linh vật của nền văn minh Lạc Việt. Đây chính là di sản phi vật thể truyền thống của nền văn hiến Việt, đã xác định dân tộc Việt là dân tộc đầu tiên và duy nhất trên thế giới, từ hàng ngàn năm trước, cho đến tận ngày hôm nay, dùng thực phẩm làm một biểu tượng của những giá trị văn hiến Việt, chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong văn hóa truyền thống của dân tộc từ thời lập quốc Văn Lang ở miền nam sông Dương tử.

Như vậy, sự trùng khớp hợp lý giữa biểu tượng được lựa chọn là cặp bánh chưng, bánh dầy, sử dụng như một vật thể thiêng liêng trong văn hóa truyền thống Việt với những nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành được xác định có cội nguồn Việt tộc, đã xác định nguyên nhân để hai linh vật của nền văn hiến Việt lưu truyền thiên thu từ thời Hùng Vương thứ VII (khoảng 1500 năm BC), đến tận bây giờ.

Chỉ với những vật liệu đơn sơ, dân dã, dễ kiếm, những bậc trí giả Lạc Việt đã lưu truyền trong nền văn hiến Việt biểu tượng cô đọng nhất những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, phản ánh đầy đủ những thực trạng từ sự khởi nguyên của vũ trụ : "Thái cực sinh lưỡng nghi..." cho đến mọi sự tương tác và phát triển của vũ trụ được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đồng thời cũng thể hiện những ước mơ đầy nhân bản của con người về một cuộc sống yên bình trong quan hệ giữa con người với con người và hài hòa với thiên nhiên, thể hiện trong sự hài hòa Âm Dương và sự tương sinh của Ngũ hành, trong cặp bánh chưng, bánh dày.

Dịch viết: “Trí thì cao siêu, lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời, thấp là bắt chước đất” . Đó chính là sự minh triết tuyệt vời qua hình ảnh biểu tượng của cặp bánh chưng, bánh dày, linh vật của nền văn hiến Việt và tính đơn giản khi thực hiện bằng những chất liệu phổ biến trong đời sống của nền văn minh nông nghiệp.

Cặp bánh chưng, bánh dày, linh vật của nền văn hiến Việt, đã sống mãi với thiên thu, trong lịch sử thăng trầm của Việt tộc.

Mỗi khi năm hết, Tết đến, cặp bánh chưng, bánh dầy lại được mọi gia đình Việt Nam dâng lên bàn thờ tổ tiên trong những ngày thiêng liêng của một năm mới bắt đầu. Ngắm nhìn cặp bánh chưng, bánh dầy với tất cả ý nghĩa minh triết sâu xa mà tổ tiên truyền lại, mỗi con người Việt Nam lại trào dâng một niềm tự hào của dòng giống Lạc Hồng với Việt sử 5000 văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương tử.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Trong phần III. 3, phần cuối của chương III, trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã viết:
 

Người viết xin một lần nữa lưu ý bạn đọc là: chúng tôi không coi việc giải mã như là một luận cứ nhằm chứng minh luận điểm của chúng tôi. Việc mô tả một truyền thuyết dân gian liên quan đến cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái, chỉ nhằm chứng tỏ tính minh triết trong văn hóa dân gian Việt liên quan đến một mô hình biểu kiến nổi tiếng của Lý học Đông phương với khả năng phục hồi lại những gía trị đích thực của nền văn minh này. Nội dung minh triết đó, hoặc trực tiếp mang lại sự kiến giải khác hẳn nội dung kiến giải của các nhà nghiên cứu Hán Nho; hoặc đưa đến một giả thuyết đúng được minh chứng trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Vấn đề đổi chỗ Tốn Khôn, phục hồi đồ hình "Hậu Thiên Lạc Việt" từ những giá trị minh triết Việt, phủ nhận một sự mặc định sai lầm từ hàng ngàn năm qua cho rằng: Hậu thiên Bát quái do Chu Văn Vương sáng tạo, chỉ được coi là đúng, nếu nó mang tính hệ thống và phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Tức là: Nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

 

 

 

Như vậy là đã quá rõ ràng. Vậy tại sao, không ít các học giả vẫn phán rằng: Việc tôi dựa vào truyền thuyết, chuyện cổ tích....để giải mã và liên hệ đến việc phục hồi một học thuyết cổ xưa là "mơ hồ" và không thuyết phục? Bởi vậy, đây là một phản biện sai hoặc do cố tình, hoặc do sự hời hợt thiếu nghiêm túc và dốt nát trong nghiên cứu khoa học.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

V.III. "CHI CHI CHÀNH CHÀNH"

- BÀI ĐỒNG DAO VỚI HÀ ĐỒ VÀ HẬU THIÊN BÁT QUÁI LẠC VIỆT
Trong cổ thư chữ Hán đã ghi nhận vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ để làm ra Tiên thiên Bát quái; vua Chu Văn Vương căn cứ vào Lạc thư để làm ra Hậu thiên Bát quái. Nếu cứ theo cổ thư chữ Hán ghi nhận thì điều này đã xảy ra trên 6000 năm (vào thời vua Phục Hy) và trên 3000 năm (vào thời Chu), được nhắc đi nhắc lại cho đến tận hôm nay. Những độc giả am hiểu Chu Dịch đều biết rằng trong 4 quái ở 4 phương chính thì quái Đoài thuộc Kim (phương Tây), quái Khảm thuộc Thủy(phương Bắc), quái Chấn thuộc Mộc (phương Đông), quái Ly thuộc Hỏa (phương Nam). Và bốn quái này có Ngũ hành đi thuận theo chiều tương sinh từ trái sang phải. Giữa Hậu thiên Lạc Việt và Hậu thiên Văn Vương đều có cùng tính chất này, khác nhau chỉ là vị trí Tốn Khôn và tính chất quái khí.

Xin xem hình dưới đây:

 

HTLacViet02.jpg

 

Nhưng trong các cổ thư chữ Hán lưu truyền cho đến tận ngày hôm nay, chưa hề có sự lý giải từ nguyên lý nào để chúng có thuộc tính nêu trên. Điều này đã khiến cho nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không có cơ sở nào để có sự liên hệ giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái, Lạc thư với Hậu thiên Bát quái.
Thậm chí ngay cả những nhà nghiên cứu Dịch học nổi tiếng như Thiệu Vĩ Hoa cũng cho rằng: Hà đồ, Lạc thư không liên quan gì đến Bát quái.

Đoạn trích dẫn tiêu biểu sau đây trong sách "Chu Dịch và dự đoán học" của nhà nghiên cứu Dịch học nổi tiếng Trung Quốc hiện đại là Thiệu Vĩ Hoa, cũng cho rằng đồ hình Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái không liên quan đến hai đồ hình là Hà Đồ Lạc thư.

Từ sau đời Tống, phàm là các sách về chú Dịch,luận Dịch,trị Dịch, đều lấy các hình Hà Đồ, Lạc Đồ làm một bộ phận quan trọng của Chu Dịch. Thậm chí có người nói bát quái là căn cứ vào Hà đồ, Lạc đồ mà vẽ ra. Ban đầu Chu Dịch dựa vào Đồ,Thư mà làm ra. Vì người ta cho rằng Phục Hy đã dựa vào Hà Đồ mà làm ra bát quái. Cho nên trong Sơn kinh hải có nói: Phục Hy được Hà đồ, nên người Hạ do đó mà nói rằng "Liên sơn dịch". Nhưng tôi (Tức ông Thiệu Vĩ Hoa/Nguyễn Vũ Tuấn Anh) cho rằng: Bát quái trong sách Liên Sơn có thể ra đời từ nhà Hạ. Nhưng bát quái không nhất thiết từ Hà Đồ làm ra. Vì trong nguyên văn của kinh Dịch,không thấy nói đến Hà Đồ,Lạc đồ".

 

(Sách đã dẫn. trang 21).

Sự phủ nhận cả Hà đồ, Lạc thư liên hệ với Bát quái trong đoạn trích dẫn tiêu biểu của ông Thiệu Vĩ Hoa, cho thấy ngay cả những nhà nghiên cứu Dịch học hiện đại vào hàng thượng thừa của nền văn minh Hán và cũng là kết tinh và sự thừa hưởng tri thức của một quá khứ trải hơn 2000 năm của nền văn minh này,  cũng chẳng hiểu gì về bản chất của Lạc thư, Hà đồ. Việc trích dẫn sách của ông Thiệu Vĩ Hoa cũng chỉ mang tính minh họa. Vì không phải duy nhất một mình ông Thiệu Vĩ Hoa có nhận định này.Trong hàng ngàn năm nghiên cứu của Hán Nho về thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, rất nhiều ý kiến trái chiều về nội dung Hà đồ, Lạc thư trong văn minh Hán. Và tất cả những ý kiến trái chiều này, chúng đều  có điểm đồng nhất là cùng mơ hồ như nhau. Thí dụ như đoạn trích dẫn sau đây:

Trong thư tịch cổ, Thượng thư, Cố mệnh là sách ghi chép sớm nhất về Hà đồ, chép rằng sau khi Văn Vương chết, tại chái nhà phía đông có trưng bày Hà đồ, Cố mệnh truyện gắn Hà đồ với Bát quái; Hà đồ Bát quái; Phục Hi cầm đầu thiên hạ, có con long mã nhô lên mặt nước, do đó phỏng theo văn của nó mà vẽ Bát quái, gọi là Hà đồ. “Xuân thu vĩ” thì tán thưởng: “Hà đồ thông với Càn (trời), nhô lên hoa thần; Lạc chảy vào Khôn (đất), nhả địa phù”. Ngay cả “Chu Dịch. Hệ từ” cũng chép: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân lấy đó làm chuẩn tắc”.
Từ thời Hán đến thời Tống, luôn luôn có những cuộc tranh luận về Hà đồ Lạc thư. Đến khi Chu Hi biên soạn “Dịch học khởi mông”, thì mới có kết luận sơ bộ, còn như thời Tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không, thì vẫn là một câu hỏi.” (*)

 

 

* Chú thích: Bí ẩn của Bát quái, Nxb VHTT 1993 - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường, người dịch Trần Đình Hiến từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do Nhân Dân Quảng Tây xuất bản xã.

 

Tất nhiên, điều này chứng tỏ những mâu thuẫn nội hàm trong sự mô tả của sách Hán cổ về mối liên hệ "Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương""Hà đồ phối Tiên Thiên bát quái" mà người viết đã trình bày tóm lược ở phần trên và trong các sách đã xuất bản. Chính sự sai lầm căn bản của việc phối "Hậu Thiên với Lạc Thư""Tiên thiên với Hà đồ", đã khiến cho các nhà nghiên cứu Hán Nho hiện đại cũng nhận thấy sự vô lý của nó và phủ nhận ngay chính những di sản được coi là của nền văn minh Hoa Hạ.

Nhưng nền văn hiến Việt , chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành , lại có một sự xác định khác hẳn. Đó chính là sự xác định Hà đồ là đồ hình biểu kiến mô tả sự vận động của vũ trụ gần trái Đất và quy luật tương tác của nó. Bát quái Hậu thiên chính là ký hiệu siêu công thức phi ký tự ngôn ngữ để mô tả giản lược mô hình Hà đồ (Xin xem thêm: "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt". Nxb Tổng hợp T/p HCM).

Vấn đề "Hà đồ phối Hậu thiên Bát quái Lạc Việt" cũng đã ghi dấu ấn chuyển tải trong một bài đồng dao bí ẩn của văn hóa truyền thống Việt. Đó là bài đồng dao "Chi chi, chành chành", trong một trò chơi trẻ em, mà hầu như tất cả người Việt đều biết
Bài đồng dao "Chi chi, chành chành" có nhiều dị bản trong quá trình lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt. Mỗi bản có vài chi tiết sai lệch. Nhưng căn bản nội dung giống nhau. Chúng tôi lựa chọn bài đồng dao có nội dung tương ứng phù hợp với nội dung sự giải mã của chúng tôi. Đồng thời cũng chính là bài mà người viết hay hát hồi còn nhỏ với các bạn cùng phố.

Bài đồng dao "Chi chi, chành chành" của trẻ em Việt qua bao thế hệ của nền văn hóa truyền thống Việt, có nội dung như sau:

 

Chi chi, chành chành.

Cái đinh (đanh)thổi lửa.

Con ngựa chết trương.

Ba Vương Ngũ Đế.

Bắt dế đi tìm.

Ù à! Ù ập.

 

Bài đồng dao có 6 câu tương ứng với 6 hào của quẻ Dịch bất kỳ trong hệ thống 64 quẻ. Nếu chúng ta tính thứ tự từ dưới lên theo đúng cách tính thứ tự sáu hào của quẻ Dịch, thì chúng ta sẽ được một thứ tự từ dưới lên như sau:

 

Số 6/ Hào thượng - Chi chi chành chành.
Số 5/ Hào ngũ – Cái Đinh (Đanh) thổi lửa.
Số 4/ Hào tứ - Con ngựa chết trương .
Ba câu trên, ứng với ba hào trên và tương ứng với quái Thượng trong một quẻ Dịch.
Số 3/ Hào tam – Ba Vương Ngũ Đế .
Số 2/ Hào nhị - Bắt Dế đi tìm .
Số 1/ Hào sơ – Ù à ù ập.

Ba câu dưới, ứng với ba hào dưới và tương ứng với quái Hạ trong một quẻ Dịch.
Nếu giải mã từ dưới lên trên theo thứ tự các hào trong phương pháp đoán quẻ Dịch và chia làm hai phần tương ứng với hai quái trong một quẻ Dịch, ta sẽ được một ý nghĩa như sau:

1/Giải mã quái Hạ
Hào sơ/ Số 1:
Ù à ù ập = giống như câu: Ú a ú ớ thể hiện sự bế tắc khi không trả lời được một vấn đề gì đó.
Hào nhị/ Số 2:
Bắt Dế (hay Dê) đi tìm = Không thể tìm thấy một cái gì đó.
Hào tam/ Số 3:

Ba Vương, ngũ Đế = 3 x 5= 15 là tổng độ số của ma trận Lạc thư khi cộng theo chiều ngang, dọc, chéo.

Tổng hợp giải mã quái Hạ có thể hiểu là:

Không thể có một cơ sở lý luận hợp lý, khi giải thích những vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, nếu căn cứ vào đồ hình Lạc Thư (Ba Vương, Ngũ đế = 3 x 5 = 15. Đây là tổng số ngang dọc chéo của ma trận cấp 1 Lạc Thư)

Xin xem hình dưới đây:

 

 

390_zps97e37c12.jpg

 

Đồ hình Lạc thư cửu cung

Độ số ngang, dọc, chéo đều 15

 

2/Giải mã quái Thượng:

Hào tứ/ Số 4:
Con ngựa chết trương = Con ngựa: Ngọ, tương ứng với Ly – Hỏa; chết trương: sự khẳng định chết trong nước; nước: Khảm – Thủy.
Hào ngũ/ Số 5:
Cái đanh (Đinh) thổi lửa = Cái : giống cái thuộc Âm; Đanh trong tiếng Việt còn gọi là Đinh: Đinh đóng làm bằng kim loại, đồng âm với Đinh trong thập Thiên can; Cái Đinh: Âm Kim – vị trí của thiên can Đinh, độ số 4 trên Hà đồ. Thổi: Gió – Quái Tốn; Hỏa: Lửa – Ly,
Hào thượng/ Số 6:
Chi chi chành chành = Chi: cái gì? Chi chi : nhiều việc khó hiểu cần hỏi; Chành: rành, chành chành: rành rành, sự rõ ràng.

Tổng hợp giải mã quái Thượng có thể hiểu là:

Không thể có sự rõ ràng ở đồ hình Lạc thư (Đã giải mã ở trên), thì cần phải đi tìm một đồ hình mà ở đó phương vị Dương – Hỏa (Cung Ngọ – Ngựa), độ số 7  trùng khớp và đối xung với Dương Thủy (Nước), độ số 1 (Chết trương là chết dưới nước). Đồ hình này có vị trí thiên can Đinh nằm ở Âm Kim, độ số 4 và là vị trí của quái Tốn (“Gió” – theo Thuyết quái). Mọi vấn đề khó hiểu (Chi chi) sẽ được giải quyết rõ ràng (chành chành = rành rành).

Để  bạn đọc tiện tham khảo, người viết xin trích đoạn những thuộc tính của những quái liên quan trong việc giải mã bài đồng dao này, gồm: Quái Ly (Lửa); Khảm (Nước) và Tốn (Gió), được mô tả trong Thuyết quái truyện của kinh Dịch .

Thuyết quái truyện , tiết 10, xác định những thuộc tính nội hàm của các quái trên như sau:

 

Tượng Tốn
Tốn là gió, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung, là người đi buôn, là trường mộc, là cỏ tranh, là thuốc, là gà, là cá, là súc vải, là giường, là cây cuốc, là dây, là liên hệ, là bắp đùi,là cánh tay, là tay, là nhìn xuống, là múa, là hát, là giải thoát, là trắng, là cao, là nhập vào, là phục ẩn, là tiến thoái, là không quyết, là mệnh, là hành sự, là hiệu lệnh, là phong tục, là nhìn thấy, là của cải.

Tượng Khảm

Khảm là nước, nước chảy trong mương máng, nước ngầm, quanh co, uốn lượn. Với người là người hay âu lo,lo toan, có tâm bệnh, bệnh tim mạch. là cung nỏ, là bánh xe. là ngựa có lưng đẹp, hình dáng đẹp. nhưng cũng là ngựa gầy, ốm yếu phải lao lực vất vả. là xe chạy qua đường hiểm. là cây có lõi cứng, là mặt trăng, là đạo tặc, lừa đảo. là con trai thứ.

Tượng Ly

Ly là lửa, là mặt trời,là con gái giữa, là giáp trụ, là các loại sinh vật có vỏ cứng bên ngoài, ốc, rùa, ba ba....

 

 

Qua nội dung của thuyết quái được trích dẫn thì vấn đề còn lại là "con ngựa" ở đâu?

Trong khoa Tử Vi và tất cả những bộ môn ứng dụng liên quan đến Địa chi đều xác định phương Ngọ là phương chính Nam. Và trong 12 Địa chi của Đông phương thì ai cũng biết năm Ngọ là năm con Ngựa.

Bạn đọc xem hình mô tả dưới đây:

 

164h.jpg

 

 

Căn cứ vào những thuộc tính của các quái trên và vấn đề "con ngựa" liên quan đến quái Ly, chúng ta so sánh với nội dung của bài đồng dao thì đồ hình thỏa mãn điều kiện trên, chính là đồ hình mà cổ thư chữ Hán quen gọi là Hà đồ.
Trong cổ thư chữ Hán, phương vị của Hà đồ ngược với phương vị bản đồ hiện đại. Nếu ta xoay lại đồ hình Hà đồ 180o theo phương vị bản đồ hiện đại và đặt lên đồ hình cũ thì Thủy – Hỏa sẽ chồng lên nhau: Ly Hỏa, Ngọ, Dương Hỏa bị Khảm Thủy khắc ("Con ngựa chết trương").  Đặt Bát quái Hậu thiên,  đã đổi vị trí Tốn & Khôn (Tức “Hậu thiên bát quái Lạc Việt”) lên đồ hình Hà đồ (thay vì đặt lên Lạc thư, không lý giải được: "Bắt dế đi tìm"), ta sẽ thấy sự trùng khớp của Ngũ hành trên Hà đồ và Bát quái Hậu thiên Lạc Việt.

Xin xem hình dưới đây:

274_zps0af6f030.jpg

Như vậy, đến đây, bạn đọc thấy rằng: trong Hậu thiên Bát quái thì quái Tốn ("gió") luôn nằm cạnh quái Ly ("lửa"), dù trên Hà đồ hay Lạc thư, thuộc sách Hán cổ hay Lạc Việt. Và nó luôn thỏa mãn được hình tượng Tốn / Gió - Thổi - "Lửa"/ Ly.

Bạn đọc xem lại hai hình dưới đây, kể cả "Hậu thiên Văn Vương" và "Hậu thiên Lạc Việt" thì thấy rằng: Quái Ly (Lửa) luôn nằm cạnh quái Tốn (Gió).

 

HTLacViet02.jpg,,,,,,,,,,,,,,HTVanvuong02.jpg

 

Nhưng vấn đề ở đây là: "cái đinh thổi lửa". Vậy "cái đinh" ở đâu để "thổi lửa"?

Đây là chính là chiếc chìa khóa của vấn đề đặt ra.

Để tiếp tục vấn đề này, người viết trình bày với bạn đọc một bài phú truyền bí ẩn từ cổ thư chữ Hán có nội dung như sau:

 

Nhất lục cộng tông (Một – Sáu cùng họ);
Nhị thất đồng đạo (Hai – Bảy cùng đi một đường);
Tam bát vi bằng (Ba – Tám như nhau);
Tứ cửu vi hữu (Bốn – Chín là bạn bè);
Ngũ thập đồng đồ (Năm – Mười cùng một loại).

 

Cùng với bài phú trên và có độ số tương đồng mô tả độ số trên liên quan đến Ngũ hành, vốn được coi là một nguyên lý ứng dụng được Chu Hy công bố vào đời Tống như sau:

 

Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi.

Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi.
Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi.
Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi.
Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi.

 

Tuy nhiên, trong cổ thư chữ Hán lưu truyền chỉ ghi nhận điều này và sử  dụng hạn chế trong một số phương pháp ứng dụng, nhưng không thể giải thích được nội dung của nó.

Nhưng cũng trên cơ sở lấy Hà đồ làm đồ hình nguyên lý căn để của mọi phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương, từ những giá trị minh triết Việt, chúng ta lại thấy sự tương quan hợp lý với độ số của Thập  Thiên can, vốn là một yếu tố cấu thành trong mọi lĩnh vực của học thuật cổ Đông phương (Thiên Can, Địa chi và vận khí ứng dụng phổ biến trong phân loại thời gian của học thuật cổ Đông phương).

Chúng ta sắp xếp thập Thiên can theo lý Âm Dương và Ngũ hành tương sinh, đánh số thứ tự từ 1 đến 10 từ Giáp đến Quí, ta sẽ được một bảng sau:

 

275_zpsc445104a.jpg

 

Qua bảng trên bạn đọc cũng nhận thấy: tất cả các số của thập Thiên can đều là những số có trên Hà đồ.

hdcct22.jpg

 

Sự trùng hợp này chắc chắn không phải là một sự ngẫu nhiên, khi chúng là những nền tảng căn bản của một học thuyết nhất quán. Vì vậy, khi sắp xếp thập Thiên can, trên cơ sở độ số theo thứ tự của ở bảng trên vào vị trí có độ số tương ứng của Cửu cung Hà đồ ta được bảng sau:

 

HadoCan02.jpg

Độ số Hà đồ phối độ số Thiên Can

 

Như vậy, trên cơ sở độ số của Thiên can tương ứng với độ số của cửu cung Hà đồ, ta sẽ có sự giải mã bài phú truyền bí ẩn  "Nhất lục cộng tông....", bởi tính tương hợp độ số cùng hành như sau:

1 / Giáp (1) hợp Kỷ (6) trong hành Thủy.Tương ứng với câu:

"Nhất lục cộng tông" (Một – Sáu cùng họ) "Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi".

2/  Canh (7) hợp Ất (2) trong hành Hỏa. Tương ứng với câu:

"Nhị thất đồng đạo" (Hai – Bảy cùng đi một đường) và "Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất" thành chi.

3/ Bính (3) hợp Tân (8) trong hành Mộc. Tương ứng với câu:

 "Tam bát vi bằng"  (Ba – Tám như nhau) và "Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi"

4/  Nhâm (9) hợp Đinh (4) trong hành Kim. Tương ứng với câu:

Tứ cửu vi hữu (Bốn – Chín là bạn bè) và "Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi".
 5/ Mậu (5) hợp Quí (10) trong hành Thổ. Tương ứng với câu:
"Ngũ thập đồng đồ" (Năm – Mười cùng một loại) và "Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi".

 

Như vậy, với độ số tương hợp với thập thiên can mà người viết đã chứng minh ở trên và sự phối hợp của nguyên lý căn để đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành là "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", bạn đọc sẽ dễ dàng nhận thấy, hình ảnh của "Cái đinh thổi lửa". "Con ngựa (Ngọ thuộc Ly hỏa) chết trương", trong đồ hình dưới đây với sự liên quan của thiên can Đinh và quái Tốn (Hàm chứa thuộc tính của "gió") ở vị trí Tây Nam trên Hà đồ:

.112h.jpg

Mô hình phối hợp độ số Thiên can trên Hà đồ.

Trong đó Thiên can Đinh, nằm ở vị trí Tây Nam trên Hà đồ.

 

Trên đồ hình này, là sự phối hợp của thập Thiên can và Hậu thiên Bát quái Lạc Việt (Đổi vị trí Tốn Khôn) với Hà đồ. Bạn đọc sẽ thấy rõ ý nghĩa hoàn hảo của câu: "Cái đinh thổi lửa", khi quái "Tốn", có một trong những thuộc tính nội hàm là "Gió", được mô tả trong Thuyết quái truyện của kinh Dịch, nằm ở vị trí Thiên can Đinh trên Hà đồ.

Như vậy, qua di sản văn hóa truyền thống Việt được giải mã, một lần nữa xác định Hà đồ chính là đồ hình nguyên lý căn để biểu kiến của tất cả mọi vấn đề và hiện tượng của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong văn minh Đông phương. Đồng thời nó cũng xác định không phải Lạc thư, như cổ thư chữ Hán nói tới. Bởi vì Lạc thư sẽ không có độ số 10, để phối với Thiên can Quý.

Trong sách "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt", chúng tôi đã chứng minh tính ứng dụng một cách nhất quán, có tính hệ thống, tính quy luật tính khách quan và sự giải thích một cách hợp lý mọi hiện tượng và vấn đề liên quan đến cấu trúc của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tức là hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, để đã xác định rằng:

"Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" chính là nguyên lý căn để của mọi phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương.

*

Sự phục hồi lại giá trị đích thực mang tính nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành là "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" trong nội hàm cấu trúc hợp lý và hoàn chỉnh của nó, từ những giá trị minh triết Việt, phù hợp với tiêu chí khoa học đã xác định:

Nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, chính là chủ nhân đích thực của lý học Đông phương.

Nhưng nếu như việc phục hồi lại những giá trị của một nền văn minh cổ xưa và lịch sử của nó, mà không có những giá trị ứng dụng trên thực tế thì đó cũng chỉ là một việc tương tự như sự phục dựng một tượng đài tôn vinh một quá khứ.

Sự phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành, nền tảng căn bản của văn minh Đông phương huyền vĩ, không phải chỉ được chứng minh tính hợp lý trong nội hàm nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" . Nếu như vậy, đó sẽ là một  sự chứng minh không hoàn hảo. Bởi vì thuyết Âm Dương Ngũ hành là một hệ thống lý thuyết, không chỉ mô tả bắt đầu từ sự khởi nguyên của vũ trụ, mà còn bao trùm lên mọi lĩnh vực của thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và đến từng chi tiết mô tả hành vi của con người với khả năng tiên tri.

Do đó, để chứng tỏ tính chân lý của nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", được phục hồi nhân danh những giá trị trong văn hóa truyền thống Việt, nó phải giải thích một cách hợp lý bao trùm lên tất cả mọi phương pháp ứng dụng trong mọi ngành liên quan đến học thuyết này trên cơ sở đối chiếu với tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Trong phần III tiếp theo đây, chúng tôi sẽ trình bày tiếp tục hệ quả này.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, sự giải mã bài đồng dao "Chi chi, chành chành" đã là một chứng nhân nữa xác định việc đổi chỗ Tốn Khôn từ "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" sang "Hậu Thiên Lạc Việt và phối Hà Đồ". Nhưng bản thân sự giải mã - mà từ đó dẫn tới sự kiện "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ" - không phải là luận cứ khoa học để chứng minh tính khoa học của nó. Những luận cứ khoa học của toàn bộ vấn để thể hiện ở:

1/ Tính khoa học thể hiện ở luận cứ chứng minh tính bất hợp lý của "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư " và qua sự dẫn chứng những luận điểm xác định tính phi lý của nó qua các nhà nghiên cứu cổ kim Việt Trung, như: Nguyễn Hiến Lê, Thiệu Vĩ Hoa...vv....

2/ Tính khoa học thể hiện ở sự tương quan hợp lý nội hàm cấu trúc "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" và khả năng giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan và những chuẩn mực theo tiêu chí khoa học cho nguyên lý căn để này - nhân danh nền văn hiến Việt.

Tất cả sự chứng minh tính khoa học của nguyên lý căn để , nhân danh nền văn hiến Việt - chính là sự phù hợp với tiêu chí khoa học là chuẩn mực để thẩm định tính khoa học của một lý thuyết, hoặc một gỉa thuyết nhân danh khoa học.

Trong phần III của cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" sẽ mô tả tính hợp lý trong việc giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến nó theo chuẩn mực thẩm định một lý thuyết hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học theo tiêu chí khoa học:

Một lý thuyết hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

Phần này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

 

 

PHẦN III.

TÍNH HỆ THỐNG, NHẤT QUÁN VÀ HOÀN CHỈNH

TRONG SỰ TƯƠNG QUAN HỢP LÝ GIỮA

NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT VỚI CẤU TRÚC HỆ THỐNG TRONG CÁC PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

Mở đầu

Như chúng tôi đã trình bày: nếu sự việc chỉ dừng lại ở việc chứng minh một thực tại được quán xét và phục dựng nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" thì ngoài việc chứng minh tính hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của nguyên lý này so với "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư" ; nó còn cần phải chứng tỏ tính phù hợp với chuẩn mực của tiêu chí khoa học cho hầu hết những vấn đề liên quan đến nó.

Tiêu chí này xác định rằng:

Một lý thuyết (Hay một giả thuyết) nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.

Căn cứ vào tiêu chí khoa học này, nguyên lý căn để được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" , phải chứng tỏ sự phù hợp với những tiêu chí khoa học, trong mọi lĩnh vực liên quan đến tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã tồn tại trong xã hội Đông phương cổ từ hàng ngàn năm qua. Đó là các lĩnh vực,  như: Phong thủy, Đông y, các phương pháp dự báo liên quan đến thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và con người.

Chúng tôi đã chứng minh những vấn đề này trong cuốn sách đã xuất bản "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt"; "Tìm về cội nguồn kinh Dịch"; "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp" và thể hiện qua các bài viết trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn. Nhưng chúng tôi sẽ tóm lược, bổ sung ngay trong phần III của tiểu luận này để bạn đọc tiện tham khảo. Đồng thời cũng chứng tỏ sự phù hợp hoàn hảo của nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đối chiếu với tiêu chí khoa học, thể hiện sự nhất quán và tính liên tục về khả năng phục hồi một cách hoàn chỉnh một lý thuyết nền tảng của nền văn minh Đông phương huyền vĩ, nhân danh nền văn hiến Việt.

Đây chính là nội dung của phần III được trình bày với bạn đọc.

 

 

CHƯƠNG I

HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ HOA GIÁP.

Có lẽ hầu hết những người Việt lớn tuổi đều biết mình tuổi Âm lịch là năm con gì và mạng thuộc về hành nào trong hệ thống phân loại của Ngũ hành theo đơn vị gian là năm Âm lịch. Đó chính là hệ quả ứng dụng mang tính phân loại trong thời gian của Âm lịch, qua phương pháp nạp âm trong bảng Hoa giáp với chu kỳ bội số chung nhỏ nhất là 60 năm.

Mô hình phân loại vận khí trong bảng 60 hoa giáp này rất quan trọng trong hầu hết các phương pháp ứng dụng, dự báo của học thuật cổ Đông phương với số phận của từng sự vật, hiện tượng, thiên nhiên và con người. Tính phân loại thời gian theo Ngũ hành của bảng này, có chu kỳ 60 năm, nên quen gọi là "Bảng Lục thập hoa giáp".

Tất nhiên, bảng Hoa giáp này cũng được mặc định là có xuất xứ từ văn minh Hán.

Nhưng bảng nạp âm hoa giáp với chu kỳ 60 năm, được mô tả trong cổ thư chữ Hán, cũng không tránh khỏi một hiện tượng chung cho tất cả các phương pháp ứng dụng khác của thuyết Âm Dương Ngũ hành, là: không có một nguyên lý lý thuyết là tiền đề cho sự tồn tại của nó.

Hàng ngàn năm trôi qua, cũng đã có nhiều học giả Hán Nho tìm cách lý giải nguyên lý nạp âm Ngũ hành trong 60 hoa giáp. Nhưng cho đến nay họ vẫn bế tắc.

Chính ông Thiệu Vĩ Hoa, một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại, đã phải thừa nhận rằng:

 

Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định, người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng, đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”

 

(Trích trong sách: "Chu Dịch và dự đoán học". Trang 68. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Văn Hoá Thông Tin 1996.

Bức màn huyền bí của văn minh Đông phương chỉ có thể được hé mở khi tìm về cội nguồn đích thực của nó là lịch sử 5000 văn hiến của người Lạc Việt.

Bây giờ chúng ta ứng dụng nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" để tìm hiểu bí ẩn của bảng 60 hoa giáp, vốn là một bảng lập thành biểu kiến phân loại thời gian cho hầu hết các phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương.

 

I.I. NGUYÊN TẮC NẠP ÂM

CỦA LỤC THẬP HOA GIÁP TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu Lý học Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng tôi đã xác định được rằng:

Nguyên tắc nạp âm của bảng 60 hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, chính là sự chuyển dịch của một hành trong Ngũ hành với chu kỳ 24 năm. Kết thúc chu kỳ thì chuyển sang hành khác, theo chiều ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ.

Người viết mô tả điều này qua mô hình dưới đây:

 

60namtauhd.jpg

 

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LỤC THẬP HOA GIÁP

Theo chiều ngược kim đồng hồ với mô hình Hà đồ, có xuất xứ từ cổ thư chữ Hán. Nhưng chính các nhà nghiên cứu Hán Nho cũng không hiểu nguyên tắc này.

Sự chuyển dịch được miêu tả cụ thể , bắt đầu từ hành Kim (Giáp Tý, Ất Sửu), như sau:

1) Hành Kim:

Giáp Tí - Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh (Mạnh), cách 8 năm (Nguyên lý: "Cách bát sinh tử") đến Nhâm Thân – Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương (Trọng), cách 8 năm đến Canh Thìn – Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ (Quý).

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ, 24 năm của hành Kim - nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ - cách 8 năm tiếp theo tới hành Hoả là:

2) Hành Hoả:

Mậu Tí – Kỷ Sửu = Tích Lịch Hoả (Sinh), cách 8 năm đến: Bính Thân – Đinh Dậu = Sơn hạ Hoả (Vượng), cách 8 năm đến: Giáp Thìn - Ất Tỵ = Phúc Đăng Hoả (Mộ).

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ, 24 năm của hành Hoả, nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc là:

3) Hành Mộc:

Nhâm Tí – Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh), cách 8 năm đến Canh Thân - Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn - Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ, của 24 năm của hành Mộc, nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Thuỷ là:

4) Hành Thuỷ

Bính Tí – Đinh Sửu = Giáng hạ Thuỷ (Sinh), cách 8 năm đến: Giáp Thân - Ất Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn – Quý Tỵ = Trường Lưu Thuỷ ( Thủy mộ).

Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ, 24 năm của hành Thủy, nghịch  theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là:

5) Hành Thổ

Canh Tí – Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh), cách 8 năm đến: Mậu Thân - Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng), cách 8 năm đến Bính Thìn – Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ. Chu kỳ được lặp lại với Giáp Tý, Ất Sửu.

Qui luật "Cách bát sinh tử"nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Kim sinh) tiếp tục cho đến hết 60 năm của một hoa giáp.

Như vậy, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc tính quy luật và nguyên tắc trong việc sắp xếp nạp âm 60 hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán. Nhưng chính các học giả Hán Nho lại không phát hiện ra điều này từ hàng ngàn năm qua (Sách đã dẫn)

Tính qui luật là một trong những tiêu chí cần trong sự thể hiện của một lý thuyết khoa học. Nhưng đó lại chưa phải là yếu tố quyết định. Sự sai lầm của tính qui luật và nguyên tắc này trong việc lập thành bảng 60 hoa giáp từ cổ thư chữ Hán, thể hiện ở những điểm sau đây:

1/ Hà đồ là một đồ hình biểu kiến cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu theo chiều thuận kim đồng hồ. Do đó, không thể căn cứ trên đồ hình căn nguyên của nó mà lại đi theo chiều ngược với chính nguyên lý căn để của nó.

2/ Chính vì sai lầm của nguyên tắc ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, nên chính qui luật "cách bát sinh từ" chỉ thể hiện giới hạn trong chính hành đó (Sinh - Vượng - Mộ), trong chu kỳ 24 năm, mà không thể hiện được ở các hành tiếp nối. Thí dụ:

Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Kim: Giáp Tí/Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh, cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân/ Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương, cách 8 năm đến Canh Thìn/ Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim thì đáng lẽ sau đó phải là hành Thuỷ (Con do Kim sinh, theo quy luật tương sinh của Ngũ hành, là: Kim sinh Thuỷ). Nhưng  trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hành Hoả!?

Sự phục hồi những nguyên lý, mô hình biểu kiến và những định đề căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ có thể thực hiện từ nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ chính là dân tộc Việt Nam hiện nay.

 

I. II. HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN LẠC THƯ HOA GIÁP

Trong phần trên, người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm của bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán là:

Chu kỳ "cách bát sinh tử" của một hành vận động qua 24 năm thì kết thúc và chuyển sang hành khác – theo chiều ngược kim đồng hồ trên Hà đồ.

Người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là một nguyên tắc sai và mâu thuẫn với chính những nguyên lý tạo nên nó là Hà đồ và chu kỳ "cách bát sinh tử". Mặc dù bề ngoài, nó mang tính quy luật hình thức (Quy luật ngược chiều kim đồng hồ của Hà đồ).

Bây giờ, chúng ta căn cứ vào chính ngay Hà đồ, có nội hàm mô tả chiều tương sinh của Ngũ hành, nguyên lý căn để của Lý học Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt  và quy luật "cách bát sinh tử" đã ứng dụng trên thực tế, để hiệu chỉnh lại một hệ thống phân loại thời gian của thuyết Âm Dương Ngũ hành, là bảng 60 Hoa giáp.  này.

Bảng hiệu chỉnh và khôi phục nội dung chu kỳ 60 hoa giáp, chúng tôi đã dịnh danh và ứng dụng gọi là "Lạc thư hoa giáp".

Chúng ta cũng bắt đầu từ hành Kim với năm đầu tiên của bảng 60 hoa giáp, là Giáp Tý:

1) Hành Kim:

Xin lưu ý: Chu kỳ 24 năm của hành này không thay đổi, khi so sánh với bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán.

Giáp Tí - Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh, cách 8 năm ("Cách bát sinh tử") đến Nhâm Thân – Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vượng, cách 8 năm đến Canh Thìn – Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ.

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của Kim, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo ("Cách bát sinh tử") tới hành Thủy (Thủy là con do Kim sinh), là:

2) Hành Thủy:

Mậu Tí – Kỷ Sửu = Giáng hạ Thuỷ: Thủy sinh, cách 8 năm đến: Bính Thân – Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ: Thủy vượng, cách 8 năm đến: Giáp Thìn - Ất Tỵ = Trường Lưu Thuỷ: Thủy mộ.

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thủy, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc  (Mộc là con do Thủy sinh), là:

3) Hành Mộc:

Xin lưu ý: Chu kỳ 24 năm của hành này không thay đổi, khi so sánh với bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán.

Nhâm Tí – Quý Sửu = Tang đố Mộc: Mộc sinh, cách 8 năm đến Canh Thân - Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc: Mộc vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn - Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc: Mộc mộ.

Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Mộc, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa là:

4) Hành Hỏa:

Bính Tí – Đinh Sửu = Tích Lịch Hoả (Hỏa sinh), cách 8 năm đến: Giáp Thân - Ất Dậu = Sơn hạ Hoả (Hỏa vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn – Quý Tỵ = Phúc Đăng Hoả (Hỏa mộ).

Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa, Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là:

5) Hành Thổ

Xin lưu ý: Chu kỳ 24 năm của hành này không thay đổi, khi so sánh với bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán.

Canh Tí – Tân Sửu = Bích thượng Thổ: Thổ sinh, cách 8 năm đến: Mậu Thân - Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ: Thổ vượng, cách 8 năm đến Bính Thìn – Đinh Tỵ = Sa trung Thổ: Thổ mộ.

Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật "Cách bát sinh tử" với Sinh - Vượng - Mộ, được minh hoạ bằng hình dưới đây:

 

60namviethd.jpg

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP

Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ.

 

Bảng lập thành hoa giáp là mô hình biểu kiến phân loại thời gian theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đó là một thành tố rất quan trọng trong hầu hết các phương pháp ứng dụng của học thuyết này. Tất nhiên nó là hệ quả của một hệ thống lý thuyết và mang tính lý thuyết, nhằm mô tả qui luật vận động tương tác của tự nhiên theo thời gian, được phân loại với khái niệm Ngũ hành. Do đó, nó phải được thẩm định trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Tính phù hợp với tiêu chí khoa học của "Lạc thư hoa giáp", không chỉ thể hiện trong nguyên tắc nạp âm với nguyên lý tương sinh của Hà đồ và qui luật "Cách bát sinh tử". Mà bảng "Lạc thư hoa giáp" còn thể hiện tính quy luật toàn diện cho những nguyên lý khác tương quan với nó trong Lý học Đông phương nói chung. Tức phù hợp với tiêu chí khoa học, chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết nhân danh khoa học.

Để chứng tỏ điều này, người viết xin được thể hiện chu kỳ của hai bảng "Lạc thư hoa giáp", nhân danh nền văn hiến Việt  và "Lục thập hoa giáp" lưu truyền qua cổ thư chữ Hán bằng  hình tròn, để bạn đọc so sánh, như sau:

 

LucthapHG05.jpg

Mô hình chu kỳ của bảng Lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán.

 

LacthuHG05.jpg

Mô hình chu kỳ bảng Lạc thư hoa giáp, phục hồi từ nền văn hiến Việt.

 

Qua hai đồ hình ở trên và những luận điểm chứng minh cho nguyên tắc và qui luật tạo thành bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán, so sánh với bảng Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt, bạn đọc cũng nhận thấy tính qui luật và sự trùng khớp hợp lý của những giá trị nội hàm của bảng Lạc thư hoa giáp,  hệ quả trực tiếp từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Đồng thời, bạn đọc cũng nhận thấy tính bất hợp lý trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán.

Tính phù hợp của bảng "Lạc thư hoa giáp" còn thể hiện cho thấy tính chất của "ngũ vận" trong một kỷ (30 năm) và tính quy luật của "Lục khí" trong một vận của ngũ vận. Còn bảng "lục thập hoa giáp" từ cổ thư chữ Hán không thể hiện được điều này. Và chính người Hán, thậm chí còn không nhận ra quy luật ngược chiều kim đồng hồ của của Hà đồ trong bảng Lục thập hoa giáp, vốn tự nhận có xuất xứ từ nền văn minh Hán.

Đó chính là nguyên nhân để hàng ngàn năm trôi qua, biết bao học giả cổ kim thuộc văn minh Hoa Hạ không thể khám phá ra bí ẩn của nó.

 

Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng, đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”

 

Thiệu Vĩ Hoa (Sách đã dẫn).

 

Như vậy, người viết đã chứng minh nguyên tắc của bảng nạp âm trong lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán và sai lầm của nó. Đồng thời cũng chứng minh tính hợp lý cho sự liên hệ nội tại của những vấn đề liên quan đến sự lập thành bảng này từ văn minh Lạc Việt. Đây là bằng chứng nữa về cội nguồn văn hoá phương Đông thuộc về văn minh Lạc Việt, cơ sở của niềm tự hào về truyền thống lịch sử gần 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.

Hành Hoả và Thuỷ phải đổi chỗ cho nhau trong "Lục thập hoa giáp" để trở về với cội nguồn của nó là "Lạc thư hoa giáp", tức là sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ vận động có tính qui luật, nhất quán, hoàn chỉnh trong vận hành của vũ trụ liên quan với Địa cầu, có khả năng giải thích tất cả mọi vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó.

 

I. III.LẠC THƯ HOA GIÁP VÀ TÍNH HỢP LÝ LÝ GIẢI CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.

Tuân thủ theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Bắt đầu từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" để minh định và thể hiện tính hợp lý trên mọi vấn đề liên quan đến nó thuộc về nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành . Từ đó, đã xác định và hiệu chỉnh một mô hình căn bản có tính phân loại Ngũ hành theo thời gian là bảng "Lạc thư hoa giáp" , vốn minh chứng cho sự phù hợp với tiêu chí khoa học của Hà đồ thì bản thân nó cũng phải chứng tỏ tính phù hợp với tiêu chí khoa học cho các vấn đề liên quan. Nội dung phần tiếp theo đây thể hiện điều này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, quý vị và anh chị em quan tâm cũng nhận thấy rất rõ rằng: Nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" hoàn toàn thể hiện tính khoa học,  bởi tính hợp lý lý thuyết ngay trong cấu trúc nội hàm, so với cấu trúc nội hàm của "Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương", từ cổ thư chữ Hán.

Tính hợp lý lý thuyết của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" không phải căn cứ trên tranh thờ Ngũ hổ, cũng không phải từ sự giải mã bài đồng dao "chi chi chành chành"...vv...và ....vv.....

Từ nguyên lý căn để này - nhân danh nền văn hiến Việt, vì nó không thuộc về những bản văn "cổ thư chữ Hán" - lẽ tất nhiên là như vậy, vì "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" thì rõ ràng không phải "Lạc thư phối Hậu Thiên Zdăng Zdương" theo "cổ thư chữ Hán" - nếu chỉ dừng lại đây thì chưa đủ xác định cái "cơ sở khoa học"(*) của nó. Bởi vậy, nó chỉ được coi là đúng theo tiêu chí khoa học có xuất xứ từ nền văn minh Tây phương - đang là nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại - làm chuẩn mực để đối chiếu xác định một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Tôi xin nhắc lại một lần nữa nội dung tiêu chí khoa học này là:

Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

 

Trên chuẩn mực khoa học này, mô hình biểu kiến nhân danh nền văn hiến Việt "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" phải chứng minh được khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến thuyết ADNh trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến nó, Tức là nó phải giải thích được những bí ẩn từ hàng ngàn năm qua liên quan đến nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bài viết trên đã chứng tỏ sự giải thích hợp lý khi ứng dụng nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" trong việc giải thích cấu trúc nội hàm của bảng Lục thập Hoa giáp theo "cổ thư chữ Hán" - vốn bí ẩn từ hàng ngàn năm qua - là sai lệch, dẫn đến sự hiệu chỉnh hợp lý cấu trúc nội hàm của "Lạc thư hoa giáp", nhân danh nền văn hiến Việt, thể hiện ở sự đổi chỗ Thủy Hỏa.

Bảng Lạc thư hoa giáp nhân danh nền văn hiến Việt, hoàn toàn đáp ứng được chuẩn mực thẩm định theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học. Và nó cũng chứng tỏ tính thỏa mãn những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để xác định tính đúng đắn của nguyên lý căn để của thuyết ADNh - nhân danh nền văn hiến Việt , là "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Và ngay bảng Lạc Thư Hoa giáp và nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", phải tiếp tục chứng tỏ sự phù hợp với tiêu chí khoa học khi giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, thuộc về các ngành ứng dụng vốn là hệ quả của học thuyết này.

Đây cũng chính là nội dung của phấn III của cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", mà sự mở đầu bằng bảng "Lạc Thư hoa giáp", nhân danh nền văn hiến Việt.

Đương nhiên, tất cả những sự liên hệ hợp lý theo tiêu chí khoa học này, không hề căn cứ vào cái mà họ gán cho tôi - cố tình hay từ sự hời hợt, thiếu nghiêm túc trong học thuật - là sử dụng truyền thuyết, cổ tích, di sản văn hóa dân gian là "mơ hồ", không có "cơ sở khoa học" (*). Ngoại trừ những người này, cố tình phản bác thì không nói làm gì. Đây cũng là một động cơ hợp lý trong hoàn cảnh họ đã lỡ trắng trợn phủ nhận nền văn hiến Việt, vì một nguyên nhân nào đó phi khoa học. Tôi cảm thấy thất vọng khi nghĩ đến phải có 5 nhà khoa học tham gia hội thảo. Những hiện tượng phản biện công khai và cả sau lưng, khiến cho tôi nghĩ rằng: Con số này là xa xỉ so với thực tế hiện nay.

Bởi vậy, tôi thực sự không còn muốn tham gia một cuộc hội thảo nào liên quan đến các luận điểm của tôi. Tôi sẽ đưa hết nội dung cuốn sách này lên đây với những giải thích cụ thể. Và đây là những cố gắng cuối cùng của tôi chứng minh: Việt sử 5000 năm văn hiến, cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương và thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Ai cũng vậy, muốn trao đổi học thuật một cách nghiêm túc, chứ không thể đồng hạng với những thủ thuật giả khoa học, dốt nát và ích kỷ.

Phần này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

==================

* Xin đừng ai cật vấn tôi về cái thuật ngữ "cơ sở khoa học" này. Tôi không muốn mất lòng ai cả.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

I. III.LẠC THƯ HOA GIÁP VÀ TÍNH HỢP LÝ LÝ GIẢI CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.

 

Tuân thủ theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Bắt đầu từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" để minh định và thể hiện tính hợp lý trên mọi vấn đề liên quan đến nó thuộc về nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành . Từ đó, đã xác định và hiệu chỉnh một mô hình căn bản có tính phân loại Ngũ hành theo thời gian là bảng "Lạc thư hoa giáp" , vốn minh chứng cho sự phù hợp với tiêu chí khoa học của Hà đồ thì bản thân nó cũng phải chứng tỏ tính phù hợp với tiêu chí khoa học cho các vấn đề liên quan. Nội dung phần tiếp theo đây thể hiện điều này.

 

III.1. ĐỘ SỐ CỤC TRONG TỬ VI VÀ LẠC THƯ HOA GIÁP VỚI HÀ ĐỒ.

Vấn đề tiếp theo của Lạc thư hoa giáp là khả năng lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Chúng tôi bắt đầu từ độ số cục liên quan đến Ngũ hành trong Tử Vi.

Hầu hết những người có tìm hiểu về Tử Vi đều biết cục số của Tử Vi lưu truyền trong cổ thư chữ Hán là:

Thuỷ nhị Cục.
Mộc tam Cuc.
Kim tứ Cục
Thổ ngũ Cục

Hoả lục Cục


Sự ứng dụng của cục số này là hệ quả của bảng nạp âm 60 năm Hoa giáp. Nhưng căn cứ vào đâu để có độ số cục này cổ thư chữ Hán không hề nói tới. Và người viết đã chứng minh với bạn đọc về cơ sở của bảng nạp âm Hoa giáp – dù theo cổ thư chữ Hán, hay cội nguồn của nó là văn minh Lạc Việt – thì cũng có căn nguyên từ Hà đồ.

Bây giờ chúng ta cùng quán xét trên Hà đồ và độ số của nó với độ số cục do sách Tàu viết lại thì chúng khác nhau ở cục số của hai hành Thuỷ và Hoả.
Điều này được mô tả như sau:

 

SỐ CỤC TRONG TỬ VI------------ĐỘ SỐ HÀNH TRÊN HÀ ĐỒ
(Theo cổ thư chữ Hán)
......................(Nguyên lý căn để của Lý học Việt)

Thủy "nhị" cục  ---------.....-------------- Thuỷ "lục" cục
Mộc tam cuc.------------------------Mộc tam cục
Kim tứ cục--------------------------- Kim tứ Cục
Thổ ngũ cục
-------,,,,,,,,------------------ Thổ ngũ Cục
Hoả "lục" cục------------------------ Hoả "nhị" cục

 

Xin xem lại để so sánh độ số cục và đồ hình Hà đồ dưới đây:

 

HadoHTLV.jpg

 

Như vậy, so sánh với độ số trên Hà đồ là nguyên lý căn để của Lý học Đông phương,  chúng ta cũng nhận thấy rằng sự sai lệnh này ở đúng vị trí của hai hành Thuỷ và Hoả. Tức là hai hành có vị trị chuyển đổi giữa "Lục thập hoa giáp" theo cổ thư chữ Hán và "Lạc thư hoa giáp" thuộc về nền văn hiến Việt.

Tất cả những người tìm hiểu về môn Tử Vi đều biết rằng:
Hành của cục trong Tử Vi chính là hành của tháng an Mệnh theo năm sinh của đương số.
Bởi vậy, khi Thuỷ và Hoả đã đổi chỗ cho nhau giữa "Lục thập hoa giáp" so với "Lạc thư hoa giáp" thì hành của cục cũng sẽ đổi Thuỷ & Hoả. Điều này được miêu tả như sau:

CỤC SỐ TRONG TỬ VI-------------ĐỘ SỐ HÀNH TRÊN HÀ ĐỒ
(Theo Lạc Thư hoa giáp)

* Hoả nhị Cục (Sách Hán Thủy nhị cục)* Hoả nhị Cục
Mộc tam Cuc.-------------------------------- Mộc tam Cục
Kim tứ Cục----------------------------------- Kim tứ Cục
Thổ ngũ Cục--------------------------------- Thổ ngũ Cục

*
Thuỷ lục Cục (Sách Hán Hỏa lục cục)*Thuỷ lục Cục

Như vậy, với sự thay đổi vị trí thủy Hỏa, chúng ta lại thấy một sự trùng khớp hợp lý giữa độ số cục trong "Lạc thư hoa giáp" với Hà đồ - vốn là nguyên lý căn để của nó. Tất nhiên nó cũng hoàn toàn phủ hợp với tiêu chí khoa học là chuẩn mực để xác định một học thuyết khoa học được coi là đúng.  Còn bảng "Lục thập hoa giáp" lưu truyền qua cổ thư chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào tạo ra nó. Cho nên hoàn toàn mang tính mặc định và mâu thuẫn trong những vấn đề liên quan đến nó.
Người viết đã hân hạnh trình bày về tính qui luật và khả năng tiên tri, là hai trong số những tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học.
Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri.

Xét về góc độ khoa học thì khả năng tiên tri là hệ quả tất yếu của một lý thuyết khoa học đã hoàn chỉnh. Bởi vậy, tính qui luật là không thể thiếu được, là yếu tố cần trong một lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Điều này không thể tìm thấy trong các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay, vì một lý thuyết tiền đề bị thất truyền. Khả năng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng từ các cổ thư này bị hạn chế bởi những sai lệch.

Tính qui luật này trong các mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chỉ có thể được xác định từ văn minh Lạc Việt, cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III.2. LẠC THƯ HOA GIÁP & VẬN KHÍ TRONG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN

"Giáp hợp Kỷ hoá Thổ…"

 

Tính hợp lý của "Lạc thư hoa giáp", không chỉ giới hạn ở sự ứng dụng liên quan đến phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các cổ thư chữ Hán, được công bố sau thời Hán. Ngay cả đối với chính cổ thư chữ Hán, mà theo nội dung bản văn có từ trước Hán, cũng chứng tỏ tính hợp lý của nó. Đó chính là sự lý giải của "Lạc thư hoa giáp" trong một nguyên lý bí ẩn được lưu truyền sau đây, trong cổ thư chữ Hán:
 

Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.
Ất hợp Canh hoá Kim
Mậu hợp Quí hoá Hoả
Nhâm hợp Đinh hoá Mộc
Bính hợp Tân hoá Thuỷ.

 


Tiền đề này được ghi nhận trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn – một cuốn sách được coi là cổ nhất trong các sách liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, có từ thời Hoàng đế với niên đại ước tính 3000 năm BC, tức 5000 năm cách ngày nay. Trước cả thời vua Đại Vũ tìm ra Lạc thư trên lưng rùa và phát minh ra thuyết Ngũ hành khoảng 2000 năm (Xét theo danh tính nhân vật thể hiện trong lịch sử từ nội dung bản văn). Tất nhiên đây là điều vô lý! Các nhà nghiên cứu hiện đại, trong đó có cả Trung Hoa cho rằng: Thời đại ra đời của cuốn Hoàng Đế nội kinh chỉ có thể xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước CN. Họ có quyền đưa ra những luận cứ để tìm một giả thuyết hợp lý cho niên đại xuất hiện của cuốn Hoàng Đế nội kinh. Nhưng với bất cứ giả thuyết nào thì đó cũng là sự phủ nhận giá trị niên đại lịch sử  thời Hoàng Đế , theo nội dung cuốn sách. Đây sẽ là một hiệu ứng dây truyền dẫn đến sự xét lại toàn bộ giá trị lịch sử của tất cả các thư tịch cổ chữ Hán liên quan đến học thuật cổ Đông phương.

Điều này đã xảy ra trên thực tế, bởi chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa, do tính mâu thuẫn nội tai trong nội dung tương quan thể hiện thời gian lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán và họ đã phản bác Đông y, vốn được coi là sản phẩm của chính nền văn minh Hán (Đã dẫn).

Trong tiểu mục "chi chi chành chành", người viết đã mô tả độ số Hà đồ với nguyên lý tương hợp của thập Thiên can, qua bài phú truyền bí ẩn "Nhất lục cộng tông...". Điều mà từ cổ thư chữ Hán cho đến những nhà nghiên cứu hiện đại cũng rất mơ hồ (Đã chứng minh).
Nhưng trong phần này, một lần nữa cho thấy chính những nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm trước và cho đến tận bây giờ cũng chưa thể giải thích được bài phú truyền bí ẩn "Giáp hợp Kỷ lại hoá Thổ...", được ghi nhận trong "Hoàng đế nội kinh tố vấn"

Bạn đọc tham khảo đoạn trích dẫn, trong cuốn "Dự đoán theo tứ trụ" ông Thiệu Vĩ Hoa có đưa ra hai cách lý giải như sau::


 

1. Cách lý giải thứ nhất:

*  "Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ" là năm Giáp, năm Kỷ lấy Bính làm đầu, Bính Dần là tháng giêng của năm Giáp, năm Kỷ. Bính là Hỏa, Hỏa sinh Thổ nên Giáp hợp Kỷ hóa Thổ.
*  "Ất hợp với Canh hóa Kim" là nói năm Ất, năm Canh lấy Mậu làm đầu, Mậu Dần là tháng giêng của năm Ất, năm Canh. Mậu là Thổ, Thổ sinh Kim nên Ất hợp Canh hóa Kim.
*  "Bính hợp với Tân hóa Thủy" là nói năm Bính, năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng của năm Bính, năm Tân. Canh là Kim, Kim sinh Thủy nên Bính hợp với Tân hóa Thủy.
* "Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc" là nói năm Đinh, năm Nhâm là lấy Nhâm làm đầu, tức Nhâm Dần là tháng giêng của năm Đinh, nămNhâm. Nhâm là Thủy, Thủy sinh Mộc nên gọi Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc.

* Mậu hợp Quí hóa Hỏa, tức là năm Mậu, năm Quí lấy Giáp làm đầu, Giáp Dần là tháng giêng của các năm Mậu, năm Quí. Giáp là Mộc, Mộc sinh Hỏa nên Mậu hợp Quí hóa Hỏa.

2. Cách lý giải thứ hai:

Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định. Mười can hóa hợp là Dương hợp với Âm , Âm hợp với Dương, là Âm Dương hóa hợp. Sách “Chu dịch” có câu: “Một Âm, một Dương gọi là một đạo.” Âm Dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

 


Trong sách "Hoàng Đế Nội kinh với suy đoán vận khí", tác giả Đàm Thành Mậu cũng nhắc tới tiền đề trên, mà ông đã ứng dụng trong việc suy đoán vận khí cho những lý luận trong y học. Ông lý giải như sau:
 

“Tại sao thuộc tính của Thiên can hóa năm vận lại không đồng nhất? Đó là bởi vì Thiên can ghép với Ngũ hành là lấy quan hệ năm phương, năm mùa để xác định, mà năm vận thì căn cứ vào biến hóa tượng Trời, cũng chính là sự biến hóa của các sao trên trời” .

 

Qua phần trích dẫn, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Cho đến tận bây giờ , trải hàng thiên niên kỷ, các nhà lý học Trung Hoa hiện đại cũng chỉ có những sự lý giải mơ hồ tiền đề nói trên. Mặc dù nền văn
minh Hán tự nhận là cội nguồn của nền Lý học Đông phương, nhưng những hậu duệ tài năng của nền văn minh Hoa Hạ trong suốt hàng ngàn năm, vẫn không thể lý giải được bí ẩn những giá trị văn hoá mà họ cho là của chính họ. Không chỉ một hiện tượng này, mà hàng loạt những hiện tượng tương tự khác, đã chứng tỏ không hề có tính thừa kế trong sự hình thành và phát triển, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Hán. Hay nói một cách khác: Nền tảng tri thức của nền văn minh Hán, không phải là cơ sở để tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nhưng với những di sản còn lại , dù đã tan nát với thời gian từ hơn hai ngàn năm trước của nền văn minh Lạc Việt, những bí ẩn đó lại được lý giải một cách hợp lý, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính qui luật và khả năng tiên tri hoàn hảo,  hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học là chuẩn mực thẩm định cho một hệ thống lý thuyết nhân danh khoa học. Điều này cũng bắt đầu từ "Lạc thư hoa giáp"  mà nguồn gốc của nó từ đồ hình huyền bí trong nền lý học Đông phương là Hà đồ, "Pháp Đại uy nỗ"  trong văn minh Lạc Việt.

Trước khi đi vào chứng minh cho luận điểm này, xin bạn đọc quan tâm xem lại đồ hình Lạc Thư Hoa giáp của người Lạc Việt thể hiện bằng hình tròn dưới đây:

 

LacthuHG05.jpg

 

Qua đồ hình này quí vị cũng nhận thấy rằng:
Một chu kỳ Lạc
Thư Hoa giáp (Một Kỷ/30 năm) được chia làm năm phần (Ngũ Vận) và một vận gồm 6 năm (Lục khí: Tam Âm, Tam Dương - ba năm Âm, ba năm Dương). Điều này không bao giờ có thể được thực hiện ở bảng lục thập Hoa giáp trong cổ thư chữ Hán vì sự sai lệch giữa hành Thuỷ và Hoả.
Trên cơ sở lục khí và ngũ vận theo Lạc Thư hoa giáp, chúng ta so sánh với chu kỳ một kỷ 30 năm vận khí, được thể hiện trong sách Hoàng Đế nội kinh Tố vấn như sau:

Xin lưu ý: Trong bảng dưới đây, hành Thổ thể hiện màu vàng, Kim màu trắng, Thủy màu xanh bleu; Mộc màu xanh lá cây. Hỏa màu đỏ.

 

Nguvan01.jpg


 

Qua bảng trên cho chúng ta thấy một sự trùng khớp hoàn toàn những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành với Ngũ vận và lục khí trong "Lạc Thư hoa giáp" và cũng là sự giải thích hoàn hảo cho tiền đề bí ẩn "Giáp hợp Kỷ hoá Thổ....", là luận đề của mục này.

Người viết xin được trình bày rõ hơn như sau:

Trong bảng mô tả trên thì chu kỳ được mô tả ở phần giữa, đóng khung màu vàng cam đã thể hiện như sau:

1.  "Giáp hợp Kỷ hoá Thổ".
Từ Giáp Tý đến Kỷ Tỵ (Một vận/6 năm). Bắt đầu từ "Thái Cung Thổ vận"

kết thúc ở "Thiếu Cung Thổ vận" (Hiển thị màu vàng, xem phần giữa trên bảng).
2. "Ất hợp Canh hoá Kim".
Từ Canh Ngọ đến Ất Hợi (Một vận/6 năm). Bắt đầu từ "Thái Thương Kim vận" kết thúc ở "Thiếu Thương Kim vận"  (Hiển thị màu trắng, xem phần giữa trên bảng).

2.  "Bính hợp Tân hoá Thuỷ".
Từ Bính Tý đến Tân Tỵ (Một vận/6 năm). Bắt đầu từ Thái Vũ Thuỷ vận
kết thúc ở Thiếu Vũ Thuỷ vận (Hiển thị màu xanh bleur, xem phần giữa trên bảng)..
4. "Nhâm hợp Đinh hoá Mộc".
Từ Nhâm Ngọ đến Đinh Hợi (Một vận/6 năm). Bắt đầu từ Thái Giác Mộc vận

kết thúc ở Thiếu Giác Mộc vận (Hiển thị màu xanh lá cây, xem phần giữa trên bảng)..

5. Mậu hợp Quý hoá Hoả.
Từ Mậu Tý đến Quý Tỵ (Một vận/6 năm). Bắt đầu từ Thái Chuỷ Hoả vận

kết thúc ở Thiếu Chuỷ Hoả vận (Hiển thị màu đỏ, xem phần giữa trên bảng).

Qua bảng trên, bạn đọc cũng nhận thấy rất rõ rằng: Chu kỳ Ngũ vận hoàn toàn theo nguyên lý tương sinh của Hà đồ.Bắt đầu từ "Giáp hợp Kỷ hỏa Thổ" sinh Kim; sinh Thủy, sinh Mộc và sinh Hỏa.

Hiện tượng của một tiền đề bí ẩn trong
các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương,  một lần nữa lại cho thấy chỉ có thể lý giải từ Lạc thư hoa giáp được phục hồi từ văn minh Lạc Việt, bởi tính chất thể hiện Ngũ vận và Lục khí trong một Kỷ của nó. Trong bảng "Lục thập Hoa giáp" lưu truyền từ cổ thư chữ Hán không thể nào thể hiện được điều này. Do đó, người ta không thể nào có sự liên hệ so sánh. Đó là nguyên nhân chính để các nhà nghiên cứu Lý học Đông phương cổ kim, trải qua hơn 2000 năm không phát hiện được sự bí ẩn của bài phú truyền nói trên. Sự tương ứng ngũ âm vận của bài phú truyền với ngũ vận trong Lạc thư hoa giáp lại chứng tỏ rõ nét tính đồng đẳng trong sự tuơng quan giữa vận khí trong một vận với Thiên can.

Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng:
Tính hợp lý trong việc giải thích những vấn đề liên quan đến nó, một cách toàn diện, phù hợp với tiêu chí khoa học của Lạc thư hoa giáp, dựa trên nền tảng căn bản của nó là Hà đồ đã chứng minh quan điểm cho rằng: Hà đồ là nền tảng ứng dụng của khoa Thiên văn cổ Văn Lang, hệ quả và sự phát triển của hệ thống vũ trụ quan Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, khẳng định tính nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết này đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội Đông phương cổ và cội nguồn của nó không thể bắt đầu từ nền văn minh Hoa Hạ. Sự phục hồi và hiệu chỉnh từ những vấn đề có tính căn để của học thuyết này qua phương pháp ứng dụng, từ những di sản văn hóa truyền thống của nền văn minh Lạc Việt đã chứng tỏ rằng: Nền văn minh Văn Lang đã tồn tại huy hoàng gần 3000 năm. Đó là một sự lý giải hợp lý cho thời gian hình thành, phát triển của một học thuyết tầm cỡ mà sự ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người một cách sâu sắc vi diệu.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG
Giải mã bài khẩu quyết cách nhớ nạp âm trong môn Tử vi.

 

Những ai ngay từ khi nhập môn học khoa Tử vi, đều biết đến bài khẩu quyết sau đây:
 

Ngân đăng giá bích câu
Yên mãn tự chung lâu
Hán địa siêu sài thấp.

 

Từng chữ trong bài thơ trên, đều có thể hiện một hành trong bảng "Lục thập hoa giáp" từ cổ thư chữ Hán và người học bài khẩu quyết này để nhớ nhanh qui luật nạp âm của bảng lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán này.
Ngân (Kim); Đăng (Hỏa); Giá (Mộc);  Bích (Thổ); Câu (Kim).
Yên (Hỏa); Mãn (Thủy); Tự (Thổ); Chung (Kim); Lâu (Mộc).
Hán (Thủy); Địa (Thổ;) Siêu (Hỏa;) Sài (Mộc); Thấp (Thủy).

 

Ứng dụng của bài khẩu quyết này là:

Người mới học Tử vi, nhưng không nhớ vận khí nạp âm theo bảng "Lục thập hoa giáp" từ cổ thư chữ Hán, cần học thuộc bài thơ này và đồng thời bấm trên đốt ngón tay. Bắt đầu từ chữ "Ngân" mở đầu bài khẩu quyết trên. Cứ hai năm thì dịch chuyển một đốt ngón tay, cho đến năm muốn biết. Thí dụ:

Muốn biết năm Canh Ngọ có vận khí thuộc hành nào (Tức mệnh người sinh vào năm Canh Ngọ thuộc hành nào), người ta bắt đầu từ chữ "Ngân" (Kim) ứng với hai năm Giáp Tý, Ất Sửu"; đến chữ "Đăng" (Hỏa) ứng với hai năm Bính Dần, Đinh Mão; đến chữ "Giá" (Mộc) ứng với hai năm Mậu Thìn, Kỷ Tỵ; đến chữ "Bích" (Thổ) ứng với hai năm Canh Ngọ, Tân Mùi. Như vậy, ngươi sinh năm Canh Ngọ có mệnh thuộc hành Thổ. Cụ thể là "Lộ bàng Thổ" ("Đất trên mặt đường lộ").

Nhưng nếu chúng ta quan sát sâu thêm một chút nữa thì bài thơ này thuộc thể thơ "Ngũ ngôn tứ tuyệt". Và nếu như vậy thì nó thiếu một câu cuối. Hơn nữa, do tính đồng âm khác nghĩa của từ Việt Nho trong bài khẩu quyết trên. Nên nội dung bài thơ trên, ngoài ý nghĩa trực tiếp là để tìm vận khí từng năm trong "Lục thập hoa giáp" từ cổ thư chữ Hán thì còn có thể hiểu theo một nghĩa khác:

 

"Ngân đăng giá bích câu" . Có thể hiểu là: Ngọn đèn bạc làm lạnh bức tường vàng.
"Yên mãn tự chung lâu" . Có thể hiểu là:  Lửa đã cháy từ bên trong
lâu đài.
"Hán địa siêu sài thấp" . Có thể hiểu là: Đất nhà Hán đã nghiêng tràn đến chỗ thấp nhất.

Như vậy, với cách hiểu nêu trên  thì nội dung bài thơ này đã mô tả một thực trạng. Thực trạng này có thể miêu tả như sau: Giá trị giả (Đèn bạc) đã thay thế giá trị thật (Lạnh bức tường vàng). Nguyên nhân của sự việc này là do sự sụp đổ của một nền văn minh (Lửa cháy ngập từ trong lâu đài). Và đất của nhà Hán đã chiếm lĩnh toàn bộ những gì còn lại (của Bách Việt ở Nam Dương tử).

Như vậy, bài thơ "Ngũ ngôn tứ tuyệt" này thiếu câu kết cho thực trạng mà nội dung của nó đã đặt ra.

Người viết vốn không phải là nhà thơ, vốn chữ Việt Nho (Quen gọi là chữ Nho) cũng không nhiều. Nhưng cũng xin mạn phép, theo niêm luật của thơ ngũ ngôn với vần "âu" và hình thức thể hiện của bài thơ này, để thêm một câu cuối, như sau:
Viêm thuỷ lạc
kim âu.

 Như vậy, toàn bộ bài thơ sẽ có kết cấu như sau:

Ngân đăng giá bích câu.
Yên mãn tự chung lâu
Hán địa siêu sài thấp.

Viêm thủy lạc kim âu.

 

Câu thơ cuối được thêm vào một cách rất chủ quan của người viết, chính là sự giải mã liên quan đến sự chuyển đổi vị trí Thủy Hỏa trong bảng "lục thập hoa giáp" từ cổ thư chữ Hán. Nó cũng là sự kết luận hoàn chỉnh của bài thơ cho thực trạng được nêu, theo cách hiểu khác của người viết và cả nội dung trực tiếp trong ba câu đầu của bài thơ này. Câu cuối được thêm vào cũng hoàn toàn phủ hợp với niêm luật thơ và cấu trúc hình thức của bài thơ là mỗi chữ thể hiện một hành trong Ngũ hành: Viêm (Hỏa), Thủy (Thủy), Lạc (Mộc), Kim (Kim), Âu (Thổ).

Chúng tôi không bao giờ coi sự giải mã những di sản văn hóa truyền thống là bằng chứng khoa học. Nhưng nó là sự định hướng cho chúng tôi để hướng tới một giả thuyết tìm về những giá trị đích thực của cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Và sự chứng minh cho giả thuyết đó được thẩm định dựa sự thẩm định của các tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

 

Như vậy, trong chương I của phần ba, chúng tôi đã minh chứng với bạn đọc tính nhất quán, tính hệ thống và hoàn chỉnh khi ứng dụng mô hình "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đã giải thích một cách hợp lý khi hiệu chỉnh và làm sáng tỏ quy luật trong bảng Lạc thư hoa giáp. Đồng thời cũng chứng tỏ tính hợp lý phù hợp với các vấn đề liên quan của bảng "Lạc thư hoa giáp" trong việc giải thích các vấn đề liên quan đến nó.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Tôi đang chứng minh cho một hệ thống lý thuyết đã tồn tại trên thực tế trong nền văn minh Đông phương, chứ không phải tôi đi tìm một sự tồn tại trên thực tế của một dạng vật chất nào đó qua một giả thuyết khoa học, như kiểu lý thuyết Higg đi tìm "Hạt của Chúa"; hoặc như lý thuyết Dây mô tả sự liên kết giữa các phần tử vật chất và phải đi tìm những dạng tồn tại và liên kết vật chất liên quan đến lý thuyết đó....vv...và ...vv....Hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Cụ thể là: sự tiếp tục tiến hóa của nền văn minh hiện đại là tiếp tục phát triển để ngày càng tiệm cận đến chân lý qua những khám phá trực quan thông qua những phương tiện kỹ thuật và từ đó hình thành những học thuyết khoa học hiện đai. Sau đó, những học thuyết này lại tiếp tục được kiểm chứng qua những phương tiện, Còn tôi, nhân danh cá nhân, đang chứng minh cho một hệ thống lý thuyết đã tồn tại trên thực tế của nền văn minh Đông phương. Đó là thuyết ADNh.

Do đó, nó không thể sử dụng những phương tiện hiện đại để kiểm chứng một dạng tồn tại của vật chất, như nền văn minh hiện đại dùng các phương tiện kỹ thuật để xác định một cách trực quan các hệ thống lý thuyết hiện đại mà tôi đã trình bày ở trên.

Hay nói cách khác: Không thể dùng các phương tiện kỹ thuật của nền văn minh hiện đại để kiểm chứng thuyết ADNh. Mà phải dùng một phương pháp khác hẳn, vì tính đặc thù của vần đề khám phá và phục hồi một hệ thống lý thuyết đã tồn tại mà thời gian được tính bằng đơn vị Thiên niên kỷ. Đó là phải lấy những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết danh khoa học được coi là đúng làm chuẩn mực để thẩm định

Điều này tôi đã xác định rất rõ ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", mà tôi đang tiếp tục đưa lên trong đề tài này.

Và những gì trong nội dung cuốn sách này, mà tôi đang đưa lên, tôi hy vọng qua những diễn giải bổ xung của tôi, quý vị và anh chị em quan tâm đã nhận thấy: Tôi hoàn toàn không hề căn cứ vào sự giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt làm luận cứ khoa học để chứng minh cho luận điểm của mình.

Hay nói rõ hơn cho dễ hiểu:

Tất cả những đồ hình Âm Dương Lạc Việt, trong tất cả những di sản vật thể, phi vật thể ở tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới - trong đó có Việt Nam - nó chỉ xác định một hệ thống tư duy phổ biến có một khái niệm khác hẳn nền văn minh Hán đã thể hiện về khái niệm Âm Dương. Tự thân những đồ hình Âm Dương này cũng không hề mô tả hệ thống thuyết ADNh. Nó chỉ là một trong những bằng chứng trực quan, xác định nền văn minh Hán không phải chủ nhân của thuyết ADNh, chứ nó không hề chứng minh và xác định, mô tả toàn bộ hệ thống học thuyết này. Bức tranh "Đàn lợn" và tất cả những di sản trên khắp thế giới có hình Âm Dương Lạc Việt" không hề mô tả nội dung thuyết ADNh.

Còn tôi, đang chứng minh cho một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán đã tồn tại trong nền văn minh Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt. Rất mong quý vị và anh chị em quan tâm lưu ý và phân biệt điều này.

Hay nói rõ hơn: Ngay cả khi loại hẳn tất cả những đồ hình Âm Dương Lạc Việt ra khỏi trí nhớ của mọi người trên thế giới này; loại luôn tất cả những sự giải mã trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" thì nội hàm trong cuốn sách này, thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn tiếp tục được chứng minh giá trị nội hàm của nó, là một học thuyết hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri, trện tất cả những lĩnh vực liên quan đến nó, trên cơ sở "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", qua sự thẩm định của những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Và nó chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Tất nhiên, vẫn nhân danh nền văn hiến Việt.

Hy vong sự trình bày của tôi sẽ được sự chia sẻ của quý vị và anh chị em quan tâm.

 

======================

PS: Như tôi đã trình bày: Việc phục hồi và chứng minh thuyết ADNh không thuộc về văn minh Hán và là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh có tính hệ thống là một trường hợp đặc thù của nền văn minh hiện đai, nên phải dùng một phương pháp hoàn toàn khác với những gì mà nền văn minh hiện đại dùng để xác định những dạng tồn tại và tương tác của vật chất qua những giả thuyết, hoặc lý thuyết liên quan đến nó. Đó là phương pháp sử dụng những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học làm chuẩn mực để thẩm định.

Như vậy, những học giả nhân danh khoa học quan tâm, muốn đặt vấn đề phản biện để làm sáng tỏ chân lý, tôi nghĩ cần phải:

1/ Hoặc là chứng minh các tiêu chí khoa học mà tôi căn cứ vào đó để chứng minh là sai. Như trường hợp giáo sư vật lý lý thuyết Nguyễn Văn Trọng cho rằng: Lý thuyết khoa học - trừ toán học và thuyết vật lý cổ điển Newton - không cần yếu tố hợp lý. Rất tiếc! Ông ta không đủ chứng lý để phản biện tiêu chí này.

2/ Hoặc là chứng minh phương pháp của tôi đã sai, khi sử dụng "tiêu chí khoa học của nền khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng"

3/ Hoặc là phát hiện ra một mắt xích sai trong toàn bộ hệ thống luận cứ của tôi. Trường hợp này, một tiêu chí khoa học đã xác định rằng: Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học bị coi là sai, nếu như người ta có thể chỉ ra một mắt xích bất hợp lý trong chuỗi hệ thống luận cứ của nó, mà giả thuyết, hoặc lý thuyết đó không biện minh được.

Nếu những nhà khoa học nào phản biện được chỉ cần một trong ba điều kiện trên thì toàn bộ hệ thống lý thuyết của tôi sụp đổ.

Đương nhiên điều đó hoàn toàn không hề dễ dàng.

Còn với những người cố tình phủ nhận hoặc chưa đủ khả năng phân tích và tổng hợp và chỉ dùng những danh từ như "mơ hồ", "không thuyết phục" với những chứng lý tầm phào của họ ...thì những luận cứ kiểu này có thể dùng cho bất cứ một giả thuyết , hoặc một lý thuyết khoa học nào.

Tôi không có ý định thuyết phục bà bán cháo vịt, hoặc một ông bán mỳ gõ nào đó về một lý thuyết thống nhất vũ trụ nhân danh nền văn hiến Việt.

Bài này không có trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Tóm lại để nói rõ hơn cho tất cả những vấn đề mà tôi đưa ra trong cuốn"Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" có ba phần là:

 

1/ Chứng minh nền văn hóa Hán không phải chủ nhân của những gía trị của nền văn minh Đông phương.

Để thực hiện điều này là những chứng lý liên quan đến ba tiêu chí khoa học thẩm định một lý thuyết khoa học và nền văn minh liên quan đến sự hình thành nên nó. Tất nhiên nó không cần đền sự giải mã những di sản văn hóa truyền thống, hoặc căn cứ vào những di sản văn hóa truyền thống Việt. Trong đó có sự đối chiếu với các đồ hình Âm Dương Lạc Việt

Đến nay, chính những nhà khoa học Trung quốc hiện đại đã thừa nhận điều này.

 

2/ Giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt, mô tả sự liên hệ với một học thuyết cổ xưa, mà học thuyết này chính là những gía trị còn bí ẩn của nền văn minh Đông phương. Nhưng tự những nội dung giải mã này và bản thân nội hàm những di sản văn hóa truyền thống Việt được giải mã không phải là nội hàm có tính hệ thống cho sự tồn tại trên thực tế của học thuyết này. Và vì tri thức khoa học hiện đại chưa có một tiêu chí xác định nội dung đúng cho sự giải mã. Nên nó không thể là "cơ sở khoa học" để chứng minh cho toàn bộ thuyết ADNh.

 

3/ Giả thuyết nhân danh khoa học bắt đầu từ nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" trong việc phục hồi và hiệu chỉnh tất cả những di sản còn lại của học thuyết này của mọi ngành học liên quan đến nó, từ : Tử Vi, Bốc dịch, Đông y, Phong thủy....vv...và ...vv....Để chứng minh vấn đề này, tôi căn cứ vào tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

 

Bởi vậy, quý vị học giả nào quan tâm và nhã ý muốn phản biện để làm sáng tỏ vấn đề thì căn cứ vào sự phân biệt ba vấn đề trên và phương pháp phản biện theo những gì mà tôi  đã trình bày ở bài trên.

Tôi nghĩ rằng: Cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt Nam là một điều rất đáng quan tâm và lý thuyết thống nhất vũ trụ là một mục đích rất đáng chú ý của tất cả tri thức thuộc nền văn minh hiện đại.

Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị.

 

Bài này không có trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

CHƯƠNG II

HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT - LÝ GIẢI VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TRONG CÁC PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

 

Mở đầu

Bạn đọc đều biết rằng: thuyết Âm Dương Ngũ hành bao trùm lên hầu hết mọi mặt của cuộc sống, thiên nhiên, xã hội và con người với khả năng tiên tri. Cụ thể là các ngành: Xây dựng, kiến trúc (Phong thủy); Sức khỏe, bệnh tật (Đông y); khoa học tự nhiên và xã hội: khoa dự báo với nhiều phương pháp....Tất cả những ngành này đều tập hợp một khối lượng tri thức hết sức đồ sộ và phong phú. Do đó, trong khuôn khổ của một cuốn tiểu luận, người viết chỉ có thể mô tả một cách giới hạn ở những ngành phổ biến trong Lý học Đông phương, có tính nguyên lý lý thuyết và không bàn sâu về các chi tiết ứng dụng mang tính chuyên ngành.

Người viết xin được bắt đầu từ khoa Tử Vi. 

 

II.1 - MÔ HÌNH TỬ VI VÀ HÀ ĐỒ.

Khoa Tử Vi Đông phương, theo truyền thuyết được mặc định là do Trần Đoàn Lão Tổ phát minh vào đời Tống, thuộc nền văn minh Trung Hoa, cách đây khoảng 1000 năm. Nhưng với những chứng lý đã mô tả trong tiểu luận này ở các phần trên về một tri kiến thiên văn kỳ vĩ của nền văn hiến Việt, khi mô tả trạng thái khởi nguyên của vũ trụ và tính tiếp thu không hoàn chỉnh của nền văn minh Hán với những di sản còn lại của nền văn hiến Việt. Bởi vậy, họ không thể nào giải thích được những nguyên lý căn bản và nội hàm những khái niệm trong chính thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Trong khi đó, khoa Tử Vi Đông phương, lại là hệ quả chuyên ngành của một lý thuyết đã thất truyền. Cho nên, người viết có lẽ không cần phải chứng minh với những tri thức khoa học thật sự về sự vô lý, khi khoa Tử Vi Đông phương được gán cho phát minh của Trần Đoàn Lão tổ vào thời Tống cách đây 1000 năm.

 Tất cả những yếu tố chứng minh trong tiểu luận này và ngay trong tiểu mục này, mà bạn đọc đang xem,  tự nó đã bác bỏ tác giả được gán ghép của nền văn minh Hán là Trần Đoàn Lão tổ. Thực chất, Trần Đoàn Lão tổ chỉ là người đầu tiên chuyển tải học thuật Tử Vi từ nền văn minh Lạc Việt đã sụp đổ từ hàng ngàn năm trước ở miền nam Dương Tử, sang nền văn minh Hán bằng ngôn tự Hán. Đây là một giải thích hợp lý và phù hợp với tiêu chí khoa học cho những phần minh chứng tiếp theo đây.

Dưới đây là mô hình biểu kiến của khoa Tử Vi Đông phương với khả năng dự báo chi tiết cho đến từng hành vi của con người, quen gọi là "lá số Tử Vi", hay “Thiên bàn Tử Vi”. Trong Thiên bàn này, các cung Hợi, Tý thuộc hành Thủy; Dần, Mão thuộc hành Mộc; Tỵ, Ngọ thuộc hành Hỏa; Thân Dậu thuộc hành Kim. Chúng ta so sánh các hành trong Ngũ hành của Thiên Bàn Tử Vi với Hà Đồ thấy chúng hoàn toàn trùng khớp về chiều Ngũ hành tương sinh. Xin xem hình minh họa dưới đây:

 

Thienbantuvi01.jpg

 

Mô hình Thiên bàn Tử Vi

Khoa dự báo nổi tiếng đến từng hành vi của con người trong văn minh Đông phương.

(Trong đồ hình này, người viết đã đặt hướng Bắc lên phía trên, phù hợp với cách thể hiện của bản đồ hiện đại).

 

Từ mô hình Tử Vi này, bạn đọc so sánh với mô hình Hà đồ dưới đây:

 

Thienbantuvi01.jpg.....HadoHTLV.jpg(*)

 

Tính trực quan nhận thức về sự trùng khớp của hai đồ hinh này, đã cho thấy khoa Tử Vi Đông phương dựa trên nền tảng căn bản là Hà đồ .  Hay nói rõ hơn: Hà đồ chính là mô hình biểu kiến căn để cho mọi phương pháp ứng dụng. cụ thể là Tử Vi Đông phương.

 

1. 1. NỘI HÀM CỦA KHOA TỬ VI LẠC VIỆT

VÀ NHỮNG MÔ HÌNH HIỆU ỨNG TƯƠNG TÁC TỪ VŨ TRỤ.

Trong quá trình nghiên cứu khoa Tử Vi và các vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương, mà nền tảng cốt lõi là thuyết Âm Dương Ngũ hành; Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã tập hợp hầu hết những trường phái Tử Vi trong các bản văn liên quan, để hiệu chỉnh, san định và kết quả bước đầu đã tạo ra một mô hình Tử Vi, dựa trên nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Chúng tôi định danh là "Tử Vi Lạc Việt".

Trên cơ sở nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", chúng tôi đã xác định rằng: Mô hình Tử Vi Đông phương, chính là sự mô tả qui luật vận động và tương tác của những vì sao và các hành tinh gần gũi với trái đất và ảnh hưởng đến trái Đất.

Bạn đọc so sánh mô hình "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và mô hình biểu kiến mô tả mối liên hệ giữa Địa cầu và các phương vị liên quan, như sau:

 

HadoHTLV.jpg............164h.jpg

 

Chúng tôi đã xác định với bạn đọc về mô hình Hà đồ chính là mô tả quy luật vận động của ngũ tinh trong Thái Dương hệ, qua tài liệu của giáo sư Lê Văn Quán. Do đó, sự mô tả mối liên hệ giữa Địa cầu với Hà đồ hoàn toàn là một sự liên hệ hợp lý. Và trên cơ sở mối liên hệ này, chúng ta lại thấy nó hoàn toàn trùng khớp với mô hình Tử Vi Lạc Việt. Bạn đọc tiếp tục so sánh hai đồ hình dưới đây:

 

Thienbantuvi01.jpg..........164h.jpg

 

Mô hình Tử Vi so sánh với mô hình Hà đồ mô tả tương quan trái Đất và các phương vị liên quan đến vũ trụ (*).

 

Chúng ta đang sống trong một vũ trụ với sự tương tác từ những sự vận động trong vũ trụ và của thiên nhiên trên trái Đất của chính chúng ta. Trí thức khoa học hiện đại đã chính thức xác nhận điều này. Từ đó, so sánh với khoa Tử Vi, chúng ta thấy rằng:

1/ Khoa Tử Vi cũng như tất cả các khoa dự báo cổ Đông phương, đều bắt đầu những dữ kiện đầu vào là: Ngày, tháng, năm và giờ sinh của một con người cần luận đoán, tức là yếu tố thời gian. Sau đó là nội dung dự báo với phương pháp dự báo, thông qua một mô hình biểu kiến lập thành là mô hình Tử Vi hoặc quẻ Dịch. cuối cùng là một kết quả có thể kiểm chứng được.

Với yếu tố dữ kiện đầu vào là thời gian, tất nhiên nó phải phản ánh một không gian vũ trụ tương ứng với nó.

2/ Mặc dù bị thất truyền và có những sai lệch cục bộ trong việc mô tả phương pháp coi Tử Vi, thể hiện ở những trường phái Tử Vi khác nhau. Nhưng, bản chất khoa Tử Vi Đông phương là một phương pháp dự báo hoàn toàn có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Hay nói cách khác: Khoa Tử Vi Đông phương hoàn toàn là một phương pháp dự báo phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, một phương pháp, hoặc một lý thuyết khoa học. "Không nhận thức được tính quy luật thì không có khả năng tiên tri".

3/ Vì là một phương pháp, nên khoa Tử Vi Đông phương hoàn toàn có khả năng chuyển tải những gía trị của nó và lưu truyền trong nền văn minh. Đây cũng là một tiêu chí khoa học nữa xác định một phương pháp khoa học. Trên thực tế khoa Tử Vi Đông phương đã lưu truyền với chính hiệu quả dự báo của nó hàng thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương.

Như phần trên, chúng tôi đã trình bày: Bất cứ một học thuyết nào và nhân danh bất cứ một cái gì ,  Thượng Đế hay khoa học  thì phải bắt đầu mô tả thực tại và giải thích thực tại mà nó nhận thức được. Với một học thuyết nhân danh khoa học thì nó phải phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học. Tất yếu, thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu siêu công thức mô tả học thuyết này là hệ thống Bát quái, phải phản ánh và mô tả một thực tại nhận thức được và giải thích thực tại trên cơ sở hệ thống phương pháp luận của nó.

Ở phần trên, chúng tôi đã chứng minh với bạn đọc: thuyết Âm Dương Ngũ hành, được phục hồi từ những giá trị minh triết Việt, có đối tượng quan sát là toàn thể lịch sử hình thành vũ trụ, bắt đầu từ trạng thái khởi nguyên của vũ trụ là "Thái cực" (Tương đương "giây O" trong khoa học hiện đại).

Do đó, tính tất yếu và là một hệ quả hợp lý, có tính hệ thống và nhất quán, hoàn chỉnh , là sự xác định rằng: Khoa Tử Vi chính là mô hình biểu kiến mô tả sự tương tác phức tạp có tính quy luật từ vũ trụ lên Địa cầu, trong lịch sử tiến hóa của vũ trụ. Sự so sánh giữa mô hình Tử Vi với Hà đồ và Địa cầu đã chứng tỏ điều này.

Tính hiệu quả của sự luận đoán trong khoa Tử Vi, không phải chỉ thể hiện sự kiểm chứng qua khả năng bói toàn của một vài vị thầy Tử Vi. Mà là đã hàng thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương. Không có tính hiệu quả này, nó không thể lưu truyền với thời gian lịch sử hàng thiên niên kỷ như vậy.

Tổng hợp lại chúng ta thấy rằng: Khoa Tử Vi chính là mô hình biểu kiến mô tả sự tương tác có tính quy luật của một không gian vũ trụ tương ứng với thời gian,  là dữ kiện đầu vào và sự mô tả diễn biến cuộc đời của một con người tương ứng với thời gian của tương lai cho đương số, trong luận đoán Tử Vi.

Do đó, mặc dù nền khoa học hiện đại chưa có những phương tiện khoa học để thẩm định , nhưng so sánh với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một phương pháp, một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thì cần xác định: khoa Tử Vi Đông phương chính là một bộ môn dự báo hoàn toàn mang tính khoa học, mô tả sự vận động có tính quy luật của sự tương tác liên quan giữa Địa cầu với sự vận động.

Và không chỉ duy nhất có khoa Tử Vi, mô tả sự vận động có tính quy luật những tương tác từ vũ trụ liên quan đến Địa cầu có thể tiên tri. Những di sản của văn minh Đông phương tồn tại trong nền văn hiến Việt, còn một hiện tượng lưu truyền gọi là "Giờ Quan sát" là vấn đề mà có lẽ các bà mẹ lớn tuổi đều biết. Mô hình hóa hiện tượng này, chúng ta lại thấy một hiệu ứng vũ trụ liên quan

 

 1. 2. GIỜ QUAN SÁT VÀ MÔ HÌNH HIỆU ỨNG TƯƠNG TÁC TỪ VŨ TRỤ.

Hiện tượng trẻ em sinh phạm giờ "Quan sát", được giáo sư Lê Văn Sửu đề cập tới trong tác phẩm của ông “Nguyên lý thời sinh học cổ Phương Đông” (Nxb VHTT 1996. Giáo sư Lê Văn Sửu) Giáo sư Lê Văn Sửu mô tả như sau:

 

GIỜ QUAN SÁT

Bài ca về giờ sinh phạm giờ Quan Sát :
Chính, thất, sơ sinh Tỵ, Hợi thì
Nhị, bát Thìn, Tuất bất thậm nghi
Tam, Cửu, Mão, Dậu đinh thượng nhiên
Tứ, Thập Dần, Thân kỷ định kỳ
Ngũ, đồng thập nhất Sửu, Mùi thượng
Lục đồng thập nhị Tý, Ngọ chi,

Nghĩa là: giờ Quan Sát theo tháng Âm lịch và giờ địa chi
* Tháng giêng / giờ Tị * Tháng bảy / giờ Hợi
* Tháng hai / giờ Thìn * Tháng tám / giờ Tuất
* Tháng ba / giờ Mão * Tháng chín / giờ Dậu
* Tháng tư / giờ Dần *Tháng mười / giờ Thân
* Tháng năm / giờ Sửu * Tháng mười một / giờ Mùi
* Tháng sáu / giờ Tý * Tháng Chạp / giờ Ngọ

Người xưa cho rằng trẻ em sinh phạm giờ Quan Sát khi nhỏ thường ốm yếu khó nuôi, lớn lên thì đầu trộm đuôi cướp. Những bậc làm cha mẹ khi có con sinh giờ Quan Sát thường vô cùng đau khổ. Theo những điều tôi thâu lượm được bấy lâu nay thì những trẻ sinh phạm giờ Quan Sát thường có chức năng gan không ổn định, số lớn dễ bị mắc bệnh viêm gan khi có dịch truyền nhiễm bệnh này (Giáo sư Lê Văn Sửu chuyên ngành về Y khoa/ Người viết). Để tìm hiểu giá trị thật của giờ Quan Sát ta tiến hành mô hình hóa giờ Quan Sát trong một đồ như sau. Trong đồ trên chúng ta thấy điểm giờ Tý của tháng đều ở trên quả đất có hướng đối chiếu với Mặt trời qua tâm quả đất, từ đó theo các tháng vị trí giờ Quan Sát đều có hướng gần đối chiếu với hướng Bắc của quỹ đạo năm. Như vậy giờ Quan Sát có giá trị là thời điểm nơi sinh đứa trẻ chịu tác động ảnh hưởng vũ trụ từ ngoài Mặt trời.

 

1547vp4.jpg

 

Hình trên đây, hoàn toàn do người viết thực hiện lại dựa trên ý tưởng mô hình hóa của giáo sư Lê Văn Sửu. Qua đồ hình trên thì vị trí giờ Quan Sát trên trái đất tương ứng với nhau vẫn không thay đổi so với Mặt trời. Tức là đường nối từ tâm trái đất với vị trí giờ Quan Sát, vẫn tạo thành những đường thẳng song song như hình vẽ trên. Như vậy bạn đọc sẽ nhận thấy một hiệu ứng vũ trụ đã tác động lên con người sinh ra ở các vị trí giờ Quan Sát.

Qua sự phát hiện của Gs. Lê Văn Sửu và đồ hình trình bày ở trên, chứng tỏ rằng: nền văn minh cổ Đông phương đã phát hiện hiện tượng trái đất vận động quanh Mặt trời. mà còn phát hiện ra Mặt trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Để nói lên được điều này, những người tiên phong của nền thiên văn học hiện đại đã phải ra tòa hoặc lên giàn hỏa thiêu. Đó là trường hợp của Galile và Bruno ở nước Ý vào thế kỉ 15 - 16.

Không thể coi hiện tượng giờ Quan sát lưu truyền trong cuộc sống Việt từ hàng ngàn năm trước là một "kinh nghiệm" dân gian; cũng không thể coi đó là một cách tính ngẫu nhiên của một người chơi trò súc xắc. Bởi vì, hiện tượng giờ Quan sát là một hiệu quả được báo trước là bệnh viêm gan, nhưng hiệu quả này không phải duy nhất bởi nguyên nhân giờ Quan sát.

Hiện tượng giờ Quan Sát nêu trên, qua mô hình được thể hiện đã chứng tỏ rằng: tri thức của nền thiên văn cổ Văn Lang đã ứng dụng trong cuộc sống, qua khoa Tử Vi và hiện tượng "Giờ Quan sát", đã vượt xa khả năng của tri thức thiên văn học hiện đại, khi xác định một hiệu ứng tương tác từ vũ trụ với đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ ảnh hưởng đến con người, được mô hình hóa và khả năng tiên tri.

Tính hợp lý và bao trùm trong sự ứng dụng của "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt",  "Pháp đại uy nỗ" nhân danh nền văn hiến Việt , không chỉ duy nhất chứng tỏ trong khoa Tử Vi với những mô hình vũ trụ liên quan. Mà nó còn là một sự liên hệ hợp lý phù hợp với tiêu chí khoa học cho tất cả những vấn đề liên quan. Những mô tả tục sau đây, chứng tỏ điều này.

=====================

* Chú thích: Tôi bổ sung những hình vẽ trong bài viết này so với bản thảo cuối cùng trong máy của tôi. Có thể không có trong sách Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Việc bổ sung chỉ để tiện so sánh hơn, không ảnh hưởng đến nội dung của cuốn sách.

Share this post


Link to post
Share on other sites