Thiên Sứ

Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương

119 bài viết trong chủ đề này

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

 

Bắt đầu từ phần III và ngay chương I, tôi đã chứng tỏ với quy vị và anh chị em quan tâm về một mối liên hệ của "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" trong việc giải thích một hệ thống bí ẩn từ hàng Thiên niên kỳ trong lịch sử văn minh Đông phương. Đó chính là bảng "Lục thập hoa giáp" từ các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay. Mối liên hệ hợp lý của nguyên căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đã dẫn đến sự hiệu chính hợp lý liên quan đến nội hàm và cấu trúc đích thực của nó và xác định một mô hình quy ước chuẩn cho toàn bộ sự ứng dụng của thuyết ADNh - nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương - liên quan đến sự phân loại theo thuyết Âm Dương Ngũ hành của toàn bộ thời gian Âm lịch Đông phương. Đó chính là bảng  "Lạc Thư hoa giáp", nhân danh nền văn hiến Việt.

Và vấn đề này lại xác đinh và minh chứng sự phù hợp với tiêu chí khoa học là chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như tôi đã trình bày: Bảng "Lạc thư hoa giáp" nhân danh nền văn hiến Việt, chính là mô hình quy ước chuẩn cho toàn bộ những ứng dụng liên quan đến sự phân loại thời gian quy ước theo thuyết Âm Dương Ngũ hành của toàn bộ thời gian Âm lịch Đông phương. Hay nói rõ hơn: Nó phản ánh một quy luật vận động với phương pháp phân loại theo ADNh của học thuyết này, trong không gian vũ trụ với chu kỳ 60 năm theo Âm lịch Đông phương.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Sự tiếp tục chứng minh bảng "Lạc thư hoa giáp" nhân danh nền văn hiến Việt, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để đối chiếu thẩm định tính khoa học của một hệ thống lý thuyết, thống nhất, hoàn chỉnh, qua những vấn đề liên quan đến nó là những bí ẩn trong cuốn sách lý luận Đông Y nổi tiếng "Hoàng đế nội kinh tố vấn" và các vấn đề liên quan. Mối liên hệ giữa nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" đã chứng tỏ tính hợp lý trên mọi lĩnh vực liên quan đến nó, lại chính là mô hình biểu kiến mô tả sự vận động của vũ trụ có tính quy luật của các hành tinh trong Thái Dương hệ liên quan đến địa cầu.

Hay nói rất rõ hơn là:

Mô hình biểu kiến "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" chi phối mọi ứng dụng của thuyết ADNh, đã thể hiện một  tri kiến thiên văn vượt trội của nền văn minh cổ xưa, chi phối có tính quy luật tương tác của vũ trụ liên quan đến Địa cầu.

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Ngoài tiêu chí khoa học mang tính tổng quát mà tôi đã mô tả - "Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích một cách hợp lý...." - thì còn rất nhiều tiêu chí khoa học mang tính thẩm định cụ thể hơn. Trong đó có một tiêu chí là:

 

Một lý thuyết nhân danh khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh thực tại có thể quan sát được".

 

 

Thưa quý vị.

Hà đồ chính là một mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành, bộ phận cấu thành của nguyên lý căn để chi phối toàn bộ mọi giá trị của học thuyết này, phản ánh một thực tại là những quy luật vận động của ngũ tinh trong Thái Dương hệ có thể quan sát được. Quý vị và anh chị em có thể dùng trình Thiên văn Skymap Pro để xác định quy luật vận động này.

Nhưng mọi vấn đề chưa dừng lại ở đây.

Bài đầu tiên của chương II, phần III, tôi mô tả sự liên hệ hợp lý của nguyên lý căn đề "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" qua mô hình biểu kiến của thiên bàn Tử Vi - một dự đoán học nổi tiếng của nền văn minh Đông phương. Tôi đã chứng tỏ với quý vị và anh chị em quan tâm rằng: Mô hình Tử Vi Đông phương chính là hệ quả từ mô hình Hà Đồ - tính hợp lý trong việc giải thích những vấn đề liên quan đến nó và - khi đối chiếu với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" với Đia cầu là trung tâm - chúng ta thấy rất rõ một thực tại vũ trụ vận động quanh Địa cầu và được mô tả qua các danh từ mô tả các sao trong môn Tử Vi Đông phương.

Xin quý vị và anh chị em xem lại và so sánh các hình dười đấy:

 

........

HadoHTLV.jpg

 

Mô hinh Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt với sự xác định phương Bắc của quái Khảm

 

Thienbantuvi01.jpg

Mô hình thiên bàn Tử Vi, hoàn toàn trùng khớp về tính chất Ngũ hành của các cung liên quan đến Hà Đồ.

 

164h.jpg

So sánh mô hình Tử Vi với Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt

Nguyên lý căn để của nền Lý học Đông phương.

 

Rất rõ ràng và dễ hiểu về mô hình biểu kiến của "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" với mô hình Tử Vi Lạc Việt, phản ánh một thực tại quan sát được, chính là sự vận động của những vì sao qua trục Hoàng đạo - tức mặt phẳng Hoàng đạo của Địa cầu - là hai cung Thìn Tuất. Hầu hết những trung tinh của môn Tử Vi Lạc Việt đều xuất phát từ hai cung này.

Qua đó - cũng là bằng chứng chứng minh - Tôi có thể xác định luôn rằng: Nền thiên văn học cổ Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt là một hệ thống tri thức vượt trội hơn hẳn và có một khoảng cách rất xa so với tất cả những tri thức của nền văn minh hiện đại. Tất nhiên, hệ thống lịch pháp , quen gọi là Âm Dương lịch Đông phương . cũng phản ánh một tri thức tương tác vũ trụ hết sức phức tạp và được phân loại rất chi tiết - theo thuyết ADNh.

Chỉ cần so sánh hệ thống lịch pháp của nền văn minh hiện đại với Âm Dương lịch Đông phương - tức Việt lịch, nhân danh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam Dương Tử - cũng cho thấy khoảng cách quá xa so với tri thức thiên văn học hiện đại. 

Cụ thể: Lịch pháp hiện nay - Dương lịch, chỉ phản ánh sự vận động đơn tuyến trong sự tương quan giữa mặt trời và trái Đất. Và thực ra nó cũng chỉ là kiến thức thiên văn căn bản cách đây khoảng 300 năm trong lịch sử khoa học hiện đại. Còn trước đó - thế kỷ XVI - nền văn minh Trung Cổ Châu Âu đã khiến Galilei phải phát biểu rất khẽ tại tòa án Giáo hội: "Dù sao trái Đất vẫn quay". Nhưng Việt lịch - tức Âm lịch Đông phương - đã ít nhất phối hợp chu kỳ vận động của mặt Trời và mặt Trăng từ hàng thiên niên kỷ trước (Trong Hoàng đế nội kinh đã ghi rất rõ dấu ấn của Âm lịch Đông phương); qua chu kỳ vận động của mặt Trời liên quan đến Địa cầu để làm ra Âm Dương lịch Đông phương.  Chưa dừng lại ở đấy, họ còn biết rất rõ quy luật tương tác, vận động của các sao trong Thái Dương hệ và cả trong Ngân hà tương tác với Địa cầu , để lập nên những môn dự báo Đông phương cực kỳ huyền diệu, thông qua thời gian quy ước trong Âm Dương lịch Đông phương - Tức Việt lịch. Nền văn minh Hán không có cửa để dây dưa, ngoại trừ một phần phương pháp tính lịch mang tính ứng dụng tiếp thu được từ văn minh Lạc Việt, khi sụp đổ ở Nam Dương tử tử hơn 2000 năm trước. Tức là: Kiến thức thiên văn của nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt vượt rất xa nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, khi nghiên cứu về Âm Dương lịch Đông phương đã thừa nhận những mối liên hệ phức tạp của các hành tinh và các sao trên Ngân Hà và trong Thái Dương hệ liên quan đến Âm Dương lịch Đông phương.

Vậy mà có vài học "giả" với nhận thức trực quan đơn giản, đã lên tiếng phản bác đòi xóa bỏ Việt lịch trong đời sống xã hội Việt. Họ viện dẫn, nước Nhật đã xóa bỏ Âm lịch từ thời Nhật hoàng Minh Trị và là một trong những nguyên nhân để nước Nhật thành công và trở thành một siêu cường trên thế giới. Nhưng với tôi thì đây là sai lầm lớn nhất của nước Nhật trong cuộc cải cách Minh Trị từ thế kỷ XVII.

Nhân bài viết này, tôi bày tỏ mong muốn một sự hợp tác với những nhà khoa học Nhật trong việc phục hồi lại những kiến thức thiên văn kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương; mà từ những tri kiến này, tôi đã xác định rằng: "Không có Hạt của Chúa". Tôi tin rằng, nước Nhật lúc đó sẽ nhận ra ngay sai lầm vì đã bỏ Âm Lịch Đông phương, trong lịch sử cải cách vĩ đại của Nhật Hoàng Minh Trị.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" đã không chỉ thể hiện một cấu trúc hợp lý lý thuyết trong nội hàm cấu trúc của nó, mà còn thể hiện tính giải thích hợp lý với tất cả những vấn đề liên quan tới nó, so với sự thẩm định của tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nó hoàn toàn không hề mơ hồ và không hề khó hiểu. Tính chân lý thể hiện ở sự giải thích tất cả những vấn đề liên quan từ ngay trong thuyết ADNh, cho đến cả những tri thức khoa học hiện đại nhất. Nếu như không phải là một chân lý thì nó không thể có một sự hợp lý bao trùm như vậy.

Còn vấn đề mà không ít người đặt ra với tôi : "Nó ứng dụng vào việc gì?" - tuy là một câu hỏi rất ngớ ngẩn của những người cố thể hiện sự hiểu biết của mình - nhưng tôi cũng xin vui lòng trả lời: Nó ứng dụng từ việc đi bán mỳ gõ cho đến các nghiên cứu đầu bảng của các Viện Hàn lâm khoa học đẳng cấp quốc tế. Bởi vì thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất , mà nhân loại đang mơ ước.

Tôi luôn nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học và có trách nhiệm với những phát biểu của mình.

============

PS: Câu hỏi: "Ứng dụng vào việc gì?", cũng như "Có mục đích gì?"; hoàn toàn ngớ ngần và phi học thuật. Thuyết ADNh ứng dụng cả ngàn năm nay đến bà bán ve chai cũng biết "Thìn Tuất Sứu Mùi tứ hành xung", hoặc mỗi khi có bệnh đi khám Đông Y khi mà Tây Y chưa xuất hiện ở xã hội Đông phương...vv...vậy mà còn hỏi, ứng dụng vào việc gì và mục đích gì thì nếu không phải dở hơi cũng là tỏ vẻ. Nếu cực đoan hơn nữa thì phải chăng họ muốn tìm một mục đích chính trị cho những nghiên cứu này?

Câu hỏi này đặt ngược lại với "hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "cộng động khoa học quốc tế" phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt, là "Nó có mục đích gì?" và " Ứng dụng vào việc gì?". 

Tôi tin rằng họ sẽ không thể trả lời được câu hỏi đã giành cho tôi.

Bài này không có trong sách Minh triết Việt trong văn minh Đông phương

 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

II.2. HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN
HÀ ĐỒ & NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Tất cả những nhà nghiên cứu Đông y đều biết rất rõ rằng: Nội dung của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” thể hiện hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Đông y . Qua những đoạn trích dẫn ở trên, chúng ta có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm Dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp can chi). Như vậy, thuyết Âm Dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn". Tức là từ thời Hoàng Đế, trước cả Lạc thư do vua Đại Vũ phát hiện cả ngàn năm (niên đại của Hoàng Đế ước tính khoảng 3000 năm BC, vua Đại Vũ khoảng 2000 năm BC). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý trong lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành được mặc định từ nền văn minh Hán.
Dấu ấn của Hà đồ trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" đã xác định chính Hà đồ là nguyên lý căn để trong tất cả mọi phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương. Chứ không phải là Lạc thư như những mô tả trong các cổ thư chữ Hán.
Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành – như là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái đất với đời sống con người. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ. Trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được.  
Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý. Nội dung bí ẩn của mệnh đề “Giáp hợp Kỷ hoá Thổ …” đã chứng minh ở phần trên, cũng từ cuốn sách này.

Nhưng một hiện tượng đặc biệt quan trọng rất đáng lưu ý là:
Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn lại ghi nhận dấu ấn của Hà đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập (Nhà thuốc Hồng Khê Hanoi. Xuất bản 1954, dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần "Kim quỷ chân ngôn luận":


 

Hoàng Đế hỏi:
- Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gì không ?

Kỳ Bá thưa:
1)- Đông phương sắc xanh, thông vào can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở can. phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài Thảo Mộc, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với Tuế tinh, xuân khí thuộc về bộ phận đầu, thuộc về âm là tiếng Giác, thuộc về số là số 8, thuộc về mùi là mùi hôi, do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.

2)- Nam phương sắc đỏ, thông vào với tâm khai khiếu lên tai, tàng tinh ở tâm. bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về Hỏa, thuộc về lục súc là dê, thuộc về ngũ cốc là thử, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh Hoặc, thuộc về âm là tiếng Chủy, thuộc về số là số 7, thuộc về mùi là mùi hắc, do đó biết là thường sinh bệnh ở mạch.

3)- Trung ương sắc vàng, thông vào với tỳ, khai khiếu lên miệng. tàng tinh ở tỳ. bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt, và thuộc về Thổ, thuộc về lục súc là bò, thuộc về ngũ cốc là tắc, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn, thuộc về âm là cung, thuộc về số là số 5, thuộc về mùi là mùi thơm, do đó, biết là thường sinh bệnh tại thịt.

4)- Tây phương sắc trắng, thông vào với phế, khai khiếu ở mũi, tàng tinh ở phế, bệnh phát sinh ở vai, về vị là cay và thuộc về Kim, thuộc về lục súc là ngựa, thuộc về ngũ cốc là đạo, thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch, thuộc về âm là Thương, thuộc về số là số 9, do đó biết là thường sinh bệnh tại bì mao.

5)- Bắc phương sắc đen, thông vào với thận, thông khiếu ở nhị âm, tàng tinh ở thận, bệnh phát sinh ở khê, về vị là mặn và thuộc về Thủy, thuộc về lục súc là lợn, thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Thần (Sao Thuỷ. Tức sao Kim bây gìơ.Thiên Sứ), thuộc về âm là Vũ, thuộc về số là số 6, thuộc về mùi là mùi húc mục, do đó biết là thường sinh bệnh ở xương.

 

 

Qua phần trích dẫn trên, chúng ta quán xét độ số và hành ở các phương vị sẽ thấy là:
1) Phương Đông thuộc Mộc: sắc xanh - Độ số 8
2) Phương Nam thuộc Hoả: sắc đỏ - Độ số 7
3) Trung ương thuộc Thổ: sắc vàng - Độ số 5
4) Tây phương thuộc Kim: sắc trắng - Độ số 9
5) Bắc Phương thuộc Thuỷ: sắc đen - Độ số 6
So sánh phương vị / hành và độ số nói trên với Hà đồ
, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Xin lưu ý quí vị quan tâm là: Lạc thư không thể hiện được điều này. Xin xem hình vẽ sau:

 

HadoHTLV.jpg

 

Từ mô hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong “Hoàng Đế nội kinh” với Hà đồ.
Qua phần chứng minh ở trên, chúng ta cũng thấy rằng Hà đồ đã được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

Không chỉ dừng lại ở đây. Dấu ấn của Hà đồ còn xuất hiện trong các cuốn sách khác từ cổ thư chữ Hán.

 

II. 3. LÃ THỊ XUÂN THU VÀ DẤU ẤN CỦA HÀ ĐỒ

“Thời tiên Tần có Hà Đồ, Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi ?”.

(Sách đã dẫn)

Đoạn trich dẫn trên cho thấy hoàn toàn không có sự kế thừa từ một nền tảng tri thức tạo nên thuyết Âm Dương Ngũ hành từ nền văn minh Hán. Bởi vì từ hơn 2000 năm qua, hậu duệ của nền văn minh này không hể phát hiện ra dấu ấn của Hà đồ, chí ít cũng từ cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn". Và còn ngay trong cuốn cổ thư nổi tiếng thời Tiên Tần. Đó chính là cuốn Lã Thị Xuân Thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi - tể tướng nhà Tần vào cuối thời Chiến Quốc (Tiên Tần).

Bạn đọc xem đoạn trích dẫn sau đây, trong "Lời giới thiệu" trong sách "Lã Thị Xuân thu" do Phan Văn Các dịch - Nxb Văn Học & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:

 

"Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành "bát lãm" và "lục luận", "thập nhị kỷ" cộng hơn hai mươi vạn chữ, coi là có đủ "thiên địa vạn vật cổ kim chi sự", đặt tên là Lã Thị Xuân Thu, và "đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng".

"Hán thư nghệ văn chí” đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của "tạp gia", đánh giá rằng về học thuật, sách ấy "kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mặc gia, ghép cả Danh gia với Pháp gia)

Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn "kiệm thính tạp học" không có tinh thần tinh thần sáng tạo. nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.

Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: "Sách này không đặt tên Lã tử, mà đặt tên Lã Thị Xuân thu, hẳn là Văn
Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử. Sử Ký nói rằng: Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã Thị Xuân thu cũng đã coi đó là sử. Tựa niên biểu mười hai chư hầu trong Sử ký đặt ngang hàng Lã Thị Xuân thu với Tả Thị Xuân thu và Ngu Thị Xuân thu, chứng tỏ Sử công cũng coi sách đó là sử rồi".

Trong nội dung của sách Lã Thị Xuân thu có nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng sử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 kỷ. Đoạn trích dẫn dưới đây chứng tỏ điều này:

Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: Mạnh, Trọng, Quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng. Xuân chủ sinh, Hạ chủ trưởng, Thu chủ thu, Đông chủ tàng (*).

 

Trong cuốn Lã Thị Xuân Thu (Sách đã dẫn), dấu ấn của Hà đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:

 

Mạnh Xuân Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu xuân: mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp Ất (phương Đông). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Mộc thần Câu Mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vảy, thanh âm tháng này lấy âm Giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong
lục luật).
Con số đối ứng với tháng này là số 8 (số của Thiếu Dương),

Vị đối ứng của tháng này là vị chua, mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh.

Mạnh Hạ Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa hạ: mặt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào Hỏa đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hỏa thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chủy (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ.
Con số đối ứng tháng này là số
7.
Đặc điểm của tháng này là lễ tiết.

Mạnh Thu Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa thu: mặt trời ở vị trí của sao Dực. buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Canh Tân ( phương Tây). Vị đế vương ứng với tháng này là họ Thiếu Hạo (lấy đức Kim mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần nhục thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loài thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật).
Con số đối ứng tháng này là số
9 (số của Thiếu Âm).
Vị tương ứng tháng này là vị cay. mùi tương ứng tháng này là mùi tanh.  

Mạnh Đông Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa đông: mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính Nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thủy mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh
(thủy thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với Ứng chung (một trong lục lã).
Con số của tháng này là số 6.
Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi mục. Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự, trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng Bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen, trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. ăn kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng.

 

 

Qua đoạn trích dẫn trên quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:
Nếu chúng ta lấy độ số và hành của của 4 mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông, ứng với Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ và liên hệ với Hà đồ thì một lần nữa nó lại trùng khớp.

 

HadoHTLV.jpg

 

Chưa hết ! Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân thu chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký, cũng vốn được coi là của Khổng tử viết ; tất yếu cũng có dấu ấn Hà đồ. Tất cả những sách này đều thuộc về Tiên Tần.

Một hiện tượng rất đáng chú ý là: ngay trong chính văn cuốn Kinh Dịch nổi tiếng vốn được coi là sản phẩm của nền văn minh Hán đã nói đến Hà đồ.

Bạn đọc xem tiếp phần sau đây minh chứng điều này.

 

II.4. HÀ ĐỒ TRONG CHÍNH VĂN KINH DỊCH.

Kinh Dịch vốn được coi là của nền văn minh Hán và do Phục Hy, Văn Vương, Chu Công Đán (Con trai của vua Văn Vương) và Khổng tử trước tác. Các nhà nghiên cứu Hán Nho từ hàng ngàn năm qua, coi cuốn sách này như sự mở đầu của thuyết Âm Dương, nhưng không nói đến Ngũ hành. Và tất nhiên, họ cũng không thể tìm thấy dấu ấn của Hà đồ, vốn mang nội hàm tổng hợp của cả Âm Dương và Ngũ hành  ngay trong cuốn kinh Dịch. Bởi vậy, cho đến ngay hôm nay, khi người viết đang gõ hàng chữ này, những nhà nghiên cứu Hán Nho vẫn còn hoài nghi:

"Thời Tiên Tần, có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?'

 

(Sách đã dẫn).

Nhưng, như  người viết đã trình bày: Ngay trong cuốn kinh Dịch  (tức Chu Dịch) nổi tiếng được mặc định là của nền văn minh Hán, đã ghi nhận dấu ấn của Hà đồ. Bạn đọc xem lại đoạn trích dẫn sau đây:

Hệ từ Thượng, chương IX viết:

"Thiên nhất, địa nhị; thiên tam, địa tứ;  thiên ngũ, địa lục; thiên thất , địa bát; thiên cửu, địa thập. Thiên số Ngũ, địa số ngũ. ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chỉ số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hóa, nhi hành quỷ thần dã"

(Trời số 1, đất số 2; trời số 3, đất số 4; trời số 5, đất số 6; trời số 7, đất số 8; trời số 10. Trời có 5 số (1, 3, 5, 7, 9, những số lẻ; đất có 5 số (2, 4, 6, 8, 10, những số chẵn). Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1+ 3 + 5 + 7 + 9); đất có 30 (2 + 4 + 6 + 8 + 10). Tổng số trời đất có 55 (25 + 30). Do đó mà thành ra biến hóa và hành động như quỷ thần.

 

Trong đoạn trích dẫn trên, những số gọi là số trời là số lẻ thuộc Dương (số Trời),  thể hiện bằng vòng tròn trắng. Những số chẵn thuộc Âm (số Đất), thể hiện bằng vòng tròn đen. Bạn đọc xem hình Hà đồ điểm dưới đây và so sánh với số trên Hà đồ cửu cung:

 

HadoHTLV.jpg................312_zps87871744.jpg

.......................Hà đồ cửu cung                              ...........                            Hà đồ điểm 

 

Qua sự so sánh trọng đoạn trích dẫn từ Hệ từ Thượng, chương IX với Hà đồ điểm, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Trên hình Hà đồ điểm có đúng 25 vòng tròn trắng (Số trời Dương) và 30 vòng tròn đen (Số Âm đen). Và Hà đồ điểm cũng chính là đồ hình Hà đồ cửu cung được mô tả dưới một hình thức khác. Đây là bằng chứng hóa thạch rõ ràng và sắc xảo nhất, cho thấy rằng:

1/ Hà đồ chính là đồ hình mô tả nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chính bản văn cuốn kinh Dịch đã ghi nhận. Khi đoạn trích dẫn trên, ở phần cuối đã viết:

"Do đó mà thành ra biến hóa và hành động như quỷ thần".

Nhưng nền văn minh Hán lại không thể nhận ra điều này, dù là với những tinh hoa tri thức của nền văn minh này từ hơn 2000 năm qua. Bởi vì, sự Hán hóa từng phần những di sản của nền văn hiến Việt không đồng bộ và sai lệch. Nên chúng không theo thuận tự thời gian trong lịch sử văn minh Hán. Chính vì sự Hán hóa không đồng bộ này, khiến cho lịch sử thuyết Âm Dương Ngũ hành xuất hiện không theo một quy trình hợp lý. Nó trở thành một thứ hỗn tạp, mà ông cha ta đã nhắn gửi lại đời sau:

Sinh con rồi mới sinh cha.

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

 

 

2/ Dấu ấn của Hà đồ ngay trong chính văn kinh Dịch, là một bằng chứng "hóa thạch" xác định tính chân lý của sự minh triết Viết, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt, nền tảng tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương.

 

Những bằng chứng đó cũng xác định một cách rất rõ ràng rằng:

Nền văn minh Hán không bao giờ là chủ nhân đích thực với chức danh là nền văn minh đã sản sinh ra thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái. Bởi vì, nó  không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính phát triển liên tục của một nền văn minh. Những tinh hoa tri thức của nền văn minh Hán trải hơn 2000 năm - kể từ khi văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương tử, đã không có khả năng phục hồi được những gía trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mặc dù họ tự nhận là của họ.

Đó cũng là nguyên nhân để cho đến tận bây giờ , trải đã hàng thiên niên kỷ , những hậu duệ của văn minh Hán vẫn chưa biết gì về bản chất và sự ứng dụng thực tế của Hà đồ.

Tất cả những chứng minh trên, đã xác định rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan với khả năng tiên tri trải hàng thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương và thuộc về nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử. Đây chính là nền văn minh duy nhất có khả năng phục hồi lại thuyết Âm Dương ngũ hành - "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nền văn minh nhân loại", như nhà tiên tri Vanga đã nói tới.

 

II.5. HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT

 MÔ HÌNH BIỂU KIẾN MÔ TẢ MỘT THỰC TẠI TƯƠNG TÁC GIỮA VŨ TRỤ VÀ ĐỊA CẦU.

Tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng đã xác định rằng:

"Một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì mô hình biểu kiến của nó phải mô tả một thực tại có thể quan sát được".

"Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư" đã được chúng tôi chứng minh rằng: Hoàn toàn không hề là một mô hình biểu kiến thể hiện được bất cứ một thực tại có thể kiểm chứng được. Ngoại trừ người ta coi là một thực tại theo nội dung truyền thuyết do con rùa trên sông Lạc Thủy và do vua Chu Văn Vương tự nghĩ ra trong ngục Dữu Lý. Nhưng ngược lại, bạn đọc có thể quán xét một cách rất trực quan, mô hình biểu kiến của "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - nhân danh nền văn hiến Việt - trong tương quan với Địa cầu, dưới đây:

 

164h.jpg

Mô hình miêu tả sự liên quan giữa Địa Cầu và "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt"

 

Từ đồ hình trên, được thể hiện bằng hình vành khăn và chia làm 8 cung - phối Hậu thiên Lạc Việt,  tương ứng với Ngũ hành và trung cung thuộc Thổ (Phối Địa cầu), bạn đọc cũng thấy rằng:

1/Trục Địa cầu: Bắc/ Nam chính là đường phân giác biểu kiến của hai phương Bắc / Nam (45 độ / 2 = 22 độ 5 . Đó chính là trục biểu kiến cho độ nghiêng của trục Địa cầu là 21 độ 5).

2/ Mặt phẳng Hoàng Đạo:  chính là mặt phẳng biểu kiến của trái Đất chia Hà đồ thành hai phần: Trên / dưới.
3/ Mặt phẳng Bạch đạo: chính là mặt phẳng biểu kiến của trái Đất vuông góc với mặt phẳng Hoàng Đạo qua trục Sửu / Mùi.
4/ Phần trên của Địa cầu: là Dương (theo nguyên lý "Dương trên, Âm dưới"). Do đó, phần Dương trên thực tế Địa cầu là phần Âm về Lý của Hà đồ (Nguyên lý "trong Âm có Dương" và ngược lại). Được thể hiện bằng nửa vành khăn đen cho 4 cung trên Hà đồ trong hình minh hoạ).  Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Âm 6 / 8 cho hai hành thuộc Âm là Thuỷ / Mộc ở phía trên Hà đồ (Đã trích dẫn "Hà đồ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn""Lã thị Xuân thu" ở trên).
5/ Phần dưới của Địa cầu: là Âm (theo nguyên lý "Dương trên, Âm dưới"). Do đó, phần Âm trên thực tế Địa cầu là phần Dương về lý của Hà đồ (Nguyên lý "trong Âm có Dương" và ngược lại" (Được thể hiện bằng nửa vành khăn hồng  cho 4 cung phía dưới Hà đồ trong hình minh hoạ).  Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Âm 7 / 9 cho hai hành thuộc Âm là Hỏa/ Kim ở phía dưới Hà đồ (Đã trích dẫn "Hà đồ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn""Lã thị Xuân thu" ở trên).

Mô hình biểu kiến "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", không chỉ giải thích về một thực tại tương tác liên quan đến Địa cầu từ vũ trụ. Mà còn sự giải thích hợp lý đến mọi sự kiện và vấn đề liên quan đến  nó theo tiêu chí khoa học. Phần tiếp theo đây tiếp tục minh chứng điều này.

===================
* Chú thích trong sách đã dẫn: Thập nhị kỷ chính là thiên nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng, chết có giá trị. bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải Kỷ, các "Kỷ" ở sau đều như vậy.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, trong cuốn "Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương" đã lần lượt chứng minh với quý vị và anh chị em quan tâm, một giả thuyết nhân danh khoa học và lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định và phục hồi toàn bộ những gía trị đích thực của nền văn minh Đông phương huyền bí. Những luận cứ nhân danh khoa học để làm sáng tỏ và chứng minh sự phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thiết nhân danh khoa học được coi là đúng, bắt đầu từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt".

Tôi nhắc đi nhắc lại điều này qúa nhiều lần. Nhưng rất mong quý vị và anh chị em xem topic này thông cảm và chia sẻ. Bởi vì, với một tần suất nhắc đi, nhắc lại nhiều lần như vậy, mà họ vẫn không cần quan tâm và tôi vẫn cứ bị phản biện lặp đi lặp lại một cách gần như cố tình, là: "Tôi căn cứ vào truyền thuyết và những di sản văn hóa truyền thống là "mơ hồ", "không thuyết phục"; mà những người phản biện đâu phải "người phàm". Toàn giáo sư tiến sĩ cả mới đau lòng cò chứ! Trong khi rất rõ ràng là phần chứng minh nội dung thuyết ADNh thuộc về Việt tộc có nội dung khác hẳn và rất rõ ràng thì bị phớt lờ.

Bởi vậy, tôi cần xin phép quý vị và anh chị em quan tâm, để nhắc lại một lần nữa, là:

Tính hợp lý từ trong nội hàm  của nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và sự giải thích một cách hợp lý tất cả những vấn đề liên quan đến nó, một cách hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, mô tả được tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri trong tất cả các bộ môn ứng dụng của học thuyết này , từ hàng nhiều thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương, phù hợp với tiêu chí khoa học, chính là tính khoa học và mô tả tính chân lý của học thuyết này nhân danh nền văn hiến Việt.

Tôi hy vọng rằng, những học giả quan tâm phản biện sẽ xem kỹ những gì tôi đã trình bày và phản biện đúng trọng tâm của vấn đề.

Cũng có ý kiến cho rằng tôi có vẻ căng thẳng và bức xúc với những phản biện của các học giả quan tâm. Về vấn đề này, tôi cũng một lần nữa mong được sự chia sẻ của quý vị và anh chị em. Bởi vì vấn đề tôi trình bày, không đơn giản chỉ là một học thuyết theo kiểu thuyết Tương Đối của Eistein, thuyết Lượng tử, hoặc vấn đề như Bổ để toán học của giáo sư Ngô Bảo Châu....Sự công bố những lý thuyết như vậy, nó có thể đúng, có thể sai và sự phản biện khoa học là bình thường cho một lý thuyết cục bộ, trong quá trình phát triển của nền văn minh. Mà những gì tôi trình bày là một lý thuyết thống nhất vũ trụ - tôi khẳng định điều này - và đằng sau nó là cả một cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Những luận cứ của tôi chỉ được coi là sai khi chính những luận cứ nhân danh khoa học của tôi (Bắt đầu từ "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt") được chứng minh là sai.

Huống chi hiện nay, chưa có một phản biện nào có tính thuyết phục để chứng minh tôi sai. Đã vậy còn đầy rẫy những phản biện sai và không ít những phản biệt phi học thuật, hoặc thủ đoạn mang tính áp đặt phi khoa học.

Hơn nữa, về phía chủ quan của tôi, tôi không được phép sai lầm, khi mục đích cuối cùng của tôi là chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử. Nói đúng hơn là: tôi không được phép thất bại, kể cả trước những nhà khoa học đầu bảng của nền văn minh hiện đại. Tôi sẽ trả lời tất cả những câu hỏi của họ về thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất, nhân danh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến.

Xin cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và anh chị em.

Bài này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

II. 6. HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT VÀ KHOA PHONG THỦY ĐÔNG PHƯƠNG.

 

6.1. SƠ LƯỢC VỀ PHONG THỦY THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN.

Khoa phong thủy nổi tiếng của nền văn minh Đông phương, hiện đã phổ biến trên toàn thế giới trong cuộc hội nhập của nền văn minh toàn cầu. Đó là một khoa chuyên ngành với một khối lượng kiến thức vô cùng đồ sộ, liên quan đến những qui luật tự nhiên và vũ trụ với những mối tương tác ảnh hưởng đến ngôi gia và con người, liên quan đến kiến trúc xây dựng của nền văn minh cổ Đông phương. Cũng như các chuyên ngành khác liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, như: Dự báo (Gồm nhiều bộ môn), Đông y....thì Phong thủy cũng có rất nhiều nguyên lý, quy tắc, tiêu chí, những mô hình biểu kiến và những khái niệm mô tả phương pháp ứng dụng chuyên ngành.

Chính vì kiến thức rất đồ sộ của ngành học chuyên sâu này, nên người viết không có tham vọng mô tả phân tích chi tiết chỉ trong một cuốn tiểu luận có tính tổng hợp. Do đó, chúng tôi chỉ có thể mô tả một cách khái quát và chỉ phân tích những yếu tố cấu thành căn bản.

Cùng chung số phận với những di sản khác của nền văn minh Đông phương cổ, vốn được mặc định có xuất xứ từ văn minh Hán, ngành Phong thủy Đông phương cũng hoàn toàn chỉ còn những phương pháp ứng dụng mang tính mặc định. Và người ta cũng bất lực trong việc giải thích những nguyên nhân thực tế và nền tảng một học thuyết hoàn chỉnh đã tạo dựng nên ngành Phong thủy Đông phương, khi mà những cơ sở của hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng rất mơ hồ.

Trong ngành phong thủy lưu truyền từ những bản văn chữ Hán, xác định sự tồn tại của bốn trường phái. Đó là:

 

1 - Phái Bát trạch: Trường phái này phổ biến hơn cả. Trường phái này phân loại người thành Đông Trạch và Tây trạnh. Từ đó làm cơ sở để xét hướng nhà, hướng bếp...tốt hay xấu, trên cơ sở phân định mặt bằng thành 8 hướng ảnh hưởng đến ngôi gia và con người. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập.

Theo bản văn chữ Hán thì trường phái này xuất hiện trong văn minh Hán vào cuối thế kỷ thứ III BC. 

Đồ hình dưới đây mô tả 8 phương hướng tốt xấu trong phái Bát trạch theo cổ thư chữ Hán  cho hai loại người là Tây trạch thể hiện màu đỏ, và Đông trạch thể hiện màu trắng.

 

320348_zps7ce57a38.jpg

 

2 - Phái "Dương trạch Tam yếu":

Trường phái này lấy cấu trúc hình thể ngôi gia và tương quan nội thất của ngôi gia là phương pháp chủ đạo. Cụ thể trường phái này coi ba yếu tố quan trọng trong phong thủy ngôi gia là: Cửa, phòng chủ trong ngôi gia và bếp. Gọi là "Dương trạch tam yếu".

Nhưng những phương pháp của trường phái này mô tả rắc rối, khó hiểu, nên gần như không còn nhiều người ứng dụng. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập

Theo bản văn chữ Hán thì trường phái này xuất hiện trong văn minh Hán vào thế kỷ V AC (Cuối đời Đường).

 

3 - Phái Loan Đầu:

Trường phái này coi trọng ảnh hưởng của môi trường xung quanh ngôi gia để xét ảnh hưởng của môi trường với ngôi gia và con người trong ngôi gia. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái với phương pháp ứng dụng độc lập.

Theo bản văn chữ Hán thì trường phái này xuất hiện trong văn minh Hán vào thế kỷ V AC (Cuối đời Đường).

 

4 - Phái Huyền không:

Trường phái này dùng cửu cung Lạc thư và sự vận động có tính quy ước, biểu kiến của 9 đại lượng, được coi là các ngôi sao trên trời với định tính qui ước của các sao, để quán xét sự thịnh suy của ngôi gia theo thời gian. Ảnh hưởng của sự vận động các hành tinh gần gũi trái Đất lên ngôi gia vào thời điểm xây cất và nhập trạch. Cổ thư chữ Hán gọi là "trường phái Huyền không".Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái với phương pháp ứng dụng độc lập.

Theo bản văn chữ Hán thì trường phái này xuất hiện trong văn minh Hán vào thế kỷ XV AC (Vào đời nhà Minh, bên Trung Quốc) và hoàn thiện vào thể kỷ XVII AC (Đầu đời nhà Thanh, bên Trung Quốc).

Tất cả các trường phái phong thủy và các phương pháp ứng dụng rời rạc khác không thuộc trường phái nào theo cổ thư chữ Hán, đều căn cứ vào "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư" là nguyên lý căn để trong phương pháp ứng dụng trong ngành phong thủy học. Những cái gọi là trường phái này có nhiều điểm mâu thuẫn lẫn nhau trong phương pháp ứng dụng. Và đặc điểm chung là chấp nhận sự mặc định của các mô hình và nguyên tắc ứng dụng không giải thích được.

Điều này không có gì là khó hiểu, khi cả một hệ thống lý thuyết đã thất truyền; một nguyên lý căn để "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư " mâu thuẫn ngay trong nội hàm của nó thì việc chia tách thành các trường phái mâu thuẫn lẫn nhau cũng không có gì là lạ.

Tất nhiên, họ phải chấp nhận sự vô lý khi cùng là hệ quả của một lý thuyết, mà sản phẩm của nó lại trở thành bốn trường phái có những mâu thuẫn nhau về tính ứng dụng. Chưa nói đến lịch sử hình thành các trường phái cũng đầy mâu thuẫn, tương tự như lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán.

 

Tôi lấy một ví dụ như sau: Trong trường phái Bát trạch, chia làm hai loại người là Đông và Tây trạch. Họ có hẳn một bảng phân định sẵn theo chu kỳ 9 năm, xếp loại theo Bát quái. Như: người Nam năm giáp Ngọ 1954 thuộc cung Khảm, Đông tứ trạch. Người nữ năm Giáp Ngọ 1954 thuộc cung Khôn Tây tứ trạch. Sự phân loại này hoàn toàn mang tính lý thuyết và mang tính mặc định. Cơ sở cho sự phân loại này có dữ kiện đầu vào là năm sinh trong ứng dụng Bát trạch, theo lịch sử phong thủy Hán ra đời vào cuối thế kỷ thứ III trước CN.
Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi thì sự phân loại cung bản mệnh Bát trạch đó, chính là quy luật phi tinh Huyền không trên cửu cung Lạc thư. Nam là Dương nên phi nghịch là Âm; Nữ là Âm nên phi thuận là Dương. Nhưng qui luật phi tinh Huyền không theo lịch sử phong thủy Hán thì sớm nhất vào đời nhà Minh 1500 sau CN, được hoàn chỉnh bởi Thẩm Trức Nhưng vào đầu đời Thanh 1700 năm sau CN. Tức là sự ứng dụng phi tinh Huyền không trong việc phân cung bản mệnh theo Bát trạch, đã có trước đến ít nhất 1700 năm khi nó ra đời!? Rõ ràng đây là điều cực phi lý!
Bản thân phương pháp của cái mà người Tàu gọi là "trường phái" Huyền không học đó cũng mang tính mặc định thuần túy lý thuyết. Mô hình biểu kiến của nó chính là cửu cung phi tinh. Dữ kiện của nó chính là yếu tố thời gian được phân loại theo: niên, vận, tam vận, đại vận, hội....

 

6.2. TÍNH NHẤT QUAN, TÍNH HỆ THÔNG , SỰ HOÀN CHỈNH VÀ SỰ HỢP LÝ TRONG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CỦA PHONG THỦY LẠC VIỆT.

Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương và cổ văn hóa sử của Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ", chúng tôi đã hiệu chỉnh, tập hợp và chứng tỏ rằng:

Ngành phong thủy học Đông phương, gồm cả Âm trạch và Dương trạch, chính là một hệ thống phương pháp ứng dụng hoàn chỉnh, nhất quán, đáp ứng đầy đủ những tiêu chí cho một hệ thống phương pháp luận ứng dụng mang tính khoa học. Những mô hình biểu kiến và các quy tắc, nguyên lý ứng dụng hoàn toàn thể hiện những quy luật tương tác của thiên nhiên, môi trường và ngôi gia với con người. Đồng thời chúng tôi cũng xác định được rằng: Bốn trường phái phong thủy được mô tả trong cổ thư chữ Hán thực chất là 4 yếu tố tương tác căn bản trong Phong thủy. Những mô thức mô tả 4 yếu tố tương tác có hệ quy chiếu riêng trong hệ tương tác của nó và hoàn toàn không hề có mâu thuẫn về mặt lý thuyết. Đây chính là sự khác biệt căn bản với những di sản của ngành phong thủy còn lưu truyền trong cổ thư chữ Hán.
Bốn yếu tố tương tác chủ yếu đó là:

1 - Loan Đầu : Cấu trúc cảnh quan môi trường, thiên nhiên chung quanh ngôi gia với những quy luật tương tác được mô hình hóa và ảnh hưởng đến ngôi gia, có thể tiên tri.
2 - Cấu trúc hình thể ngôi gia: Bao hàm những cơ sở của Dương trạch Tam yếu . Tức là hình thể ngôi gia, bên ngoài và bên trong. Ảnh hưởng của những quy luật tương tác của yếu tố này với con người sống trong ngôi gia có tính quy luật có thể tiên tri.
3 - Ảnh hưởng của địa từ trường trái Đất lên con người thông qua ngôi gia.

Mô hình dưới đây mô tả 8 phương hướng tốt xấu trong trong Bát trạch Lạc Việt cho hai loại người là Tây trạch thể hiện màu đỏ, và Đông trạch  thể hiện màu trắng, có nguyên ủy từ "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

 

322350_zpsaff81909.jpg

 

4 - Ảnh hưởng của sự vận động các hành tinh gần gũi trái Đất lên ngôi gia vào thời điểm xây cất và nhập trạch, cũng như sự vận đông có tính quy luật của các hành tinh trong mô hình Huyền không phi tinh tác động lên ngôi gia theo thời gian. Còn gọi là vận nhà.

Sự tích hợp các trường phái phong thủy, từ những di sản còn lại của nền văn hiến Việt thể hiện từ cổ thư chữ Hán và những di sản tri thức phong thủy lưu truyền trong dân gian, từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", cho thấy:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành , mà nguyên lý căn để là "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt"  thể hiện trong phương pháp ứng dụng là ngành phong thủy học, hoàn toàn là học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, hoàn chỉnh và hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học, cho một lý thuyết nhân danh khoa học.

Điều này được mô tả cụ thể trong phần tiếp theo đây.

 

6. 2.1. La kinh và Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt.  

Sự nhất quán và tính hệ thống của "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" trong phong thủy, bạn đọc cũng có thể nhận thấy ngay một cách rất trực quan về sự trùng hợp phương vị Ngũ hành trên chiếc La kinh với Hà đồ. La kinh là vật đo phương vị, như một dữ kiện đầu vào tất yếu của ngành phong thủy.

Hình La kinh dưới đây mô tả theo cổ thư chữ Hán, nhưng phương vị ngũ hành lại theo Hà đồ. Cụ thể phương Tây thuộc Kim (Màu trắng), phương Nam thuộc Hỏa (màu đỏ), hoàn toàn trùng khớp với các phương vị và tính chất các quái khí ở bốn phương chính (Đã chứng minh ở trên).trên Hà đồ. Xin xem hình minh họa dưới đây:

 

3231_zps2af9b052.jpg

La kinh theo cổ thư chữ Hán & Hà đồ trong văn minh Lạc Việt

 

Ngược lại. cũng với hình La kinh trên lại không hề trùng khớp với Ngũ hành của mô hình "Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương". Xin xem hình minh họa dưới đây:

 

 

3232_zps56f4caee.jpg

La kinh theo cổ thư chữ Hán & Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương.

 

So sánh hai mô hình này, bạn đọc cũng thấy rất trực quan rằng: Phương Tây thuộc hành Kim trong ứng dung phong thủy, thể hiện màu trắng trên La kinh. Nhưng nó lại liên hệ với nguyên lý căn để theo cổ thư chữ Hán là Lạc thư thì lại là hành Hỏa, màu đỏ.

Căn cứ theo độ số của Lạc thư thì phương Nam lại mang độ số của hành Kim 4 - 9; và phương Tây lại thuộc hành Hỏa: 2 - 7. Đây là sự thể hiện tính không nhất quán trong các phương pháp ứng dụng liên quan thuộc thuyết Âm Dương Ngũ hành. Điều nay chúng tôi đã chứng minh ở trên.
Do đó, trên những luận cứ đã trình bày,  người viết xác định tính khoa học của hệ thống phương pháp luận trong ngành phong thủy, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương, chính là tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh, phản ánh tính quy luật, khách quan và khả năng tiên tri. Hoàn toàn phủ hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học.  

 

6. 2.2. Sự phù hợp với tiêu chí khoa học của Phong thủy Lạc Việt

từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt".  

Để xác định tính khoa học, so sánh với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, giữa Phong thủy Lạc Việt và những di sản phong thủy từ cổ thư chữ Hán thì chỉ có Phong thủy Lạc Việt hoàn toàn thỏa mãn. Bởi những yếu tố phù hợp với tiêu chí khoa học sau đây:

 

1/ Tính hệ thống.
Phong thủy cổ thư chữ Hán không mang tính hệ thống. Cụ thể: các cái gọi là "trường phái" mang tính độc lập và mâu thuẫn nhau với sự hoàn toàn khác biệt trong phương pháp ứng dụng.
Trong khi đó Phong thủy Lạc Việt hoàn toàn mang tính hệ thống trong mối liên hệ hệ quả với thuyết Âm Dương Ngũ hành và các mối liên hệ liên quan đến các nguyên tắc, tiêu chí và các khái niệm...vv..trong hệ thống phương pháp luận và những mô hình biểu kiến của nó. Nó tổng hợp được bốn yếu tố tương tác,  gọi là "trường phái" từ những di sản trong cổ thư chữ Hán.

Tính hệ thống của phong thủy Lạc Việt không chỉ giới hạn trong nội hàm của hệ thống phương pháp luận chuyên ngành (gồm cả 4 yếu tố tương tác) , mà còn có tính hệ thống với những nguyên lý căn để và các nguyên lý, định đề khác liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 

2/ Tính nhất quán.
Phong thủy theo cổ thư chữ Hán hoàn toàn không thể có tính nhất quán , khi mâu thuẫn ngay từ nguyên lý căn để của hệ thống này là "Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương", mà chúng tôi đã chứng minh.

Tất nhiên toàn bộ sự ứng dụng Phong thủy từ cổ thư chữ Hán, hoàn toàn không thể mang tính nhất quán. Điều thể hiện rõ nhất chính bởi sự cấu thành căn bản của nó là cái gọi là bốn trường phái mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn ngay trong nội tại của hệ thống ứng dụng trong từng trường phái.
Thí dụ ngay trong phương pháp tính tuổi cất nhà  (không biết thuộc "trường phái" nào), cũng có nhiều cách khác nhau và mâu thuẫn lẫn nhau để tính. Hoặc như phương pháp phi tinh sơn, hướng trong Huyền không cũng có nhiều cách, chẳng biết cách nào đúng.
Hoặc liên quan đến những di sản Lý học nói chung là môn Tử vi, cũng có nhiều phương pháp an sao khác nhau và tính chất một số sao cũng mâu thuẫn. Cái nào đúng?
Ngược lại Phong thủy Lạc Việt hoàn toàn mang tính nhất quán . Về tính tổng hợp thì tất cả mọi cái gọi là "trường phái" mang tính độc lập trong cổ thư chữ Hán , chỉ được coi là bốn yếu tố tương tác căn bản trong tính hệ thống của ngành Phong thủy Lạc Việt. Chúng là những hệ thống phương pháp luận riêng phần mô tả cụ thể quy luật tương tác từ hệ quy chiếu của nó, được mô hình hóa, biểu kiến hóa và không mâu thuẫn lẫn nhau.

Tính hệ thống và nhất quán của phong thủy Lạc Việt từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" cho đến mọi chi tiết trong ứng dụng của chuyên ngành này.

3/ Tính hoàn chỉnh.
Do xuất phát từ hai nền văn minh khác nhau từ nền tảng tri thức và cơ sở phương tiện kỹ thuật, xã hội khác nhau. Nên không thể gọi là hoàn chỉnh ,nếu xét một cách chi tiết đến từng khái niệm liên quan  trong qúa trình phục hồi toàn bộ hệ thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành nói chung và Phong thủy Lạc Việt nói riêng.
Nhưng những giá trị được phục hồi đã xác định tính hoàn chỉnh của học thuyết này và cụ thể ở ngành Phong thủy Lạc Việt trong quá khứ. Và nó chứng tỏ được rằng một khả năng hoàn chỉnh hoàn toàn trong tương lai. Bởi chính tính hệ thống và nhất quán đã được chứng tỏ. Tính hoàn chỉnh và khả năng hoàn chính của Phong thủy Lạc Việt nói chung và của tất cả mọi ngành ứng dụng liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành, như: Tử Vi, kinh Dịch.... chính là sự xác định từ tính hệ thống và nhất quán của nó với khả năng phục hồi hoàn chỉnh.
Ngược lại, những di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Lý học nói chung, kể cả Đông y, không có khả năng phục hồi và phát triển về tính hoàn chỉnh , chưa nói đến phát triền. Tất nhiên nó chìm đắm trong bức màn huyền ảo, huyền bí. Không phải bây giờ mà đã hơn 2000 năm đã trôi qua. Tất cả tri thức của nền văn minh nhân loại vẫn đang bị thách đố bởi những bí ẩn của văn minh Đông phương.
Ngay cả những nhà khoa học của chính Trung Quốc,  nơi tự nhận là cái nôi của nền văn minh Đông phương kỳ vĩ, cũng bất lực khi tìm hiểu về những gía trị thật của nó. Sự bất lực này thể hiện ở sự tự phủ nhận những di sản tự nhận là của chính họ.

 

4/ Tính hợp lý khi giải thích các vấn đề liên quan.
Từ sự phục hồi toàn bộ những giá trị của nền văn minh Đông phương , nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử gần 5000 năm (2879 BC - 2012), cho nên chúng tôi đã định nghĩa lại những khái niệm mơ hồ, san định, chuẩn hóa, hiệu chỉnh sai lệch trong các văn bản chữ Hán liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành nói chung, trên cơ sở những di sản văn hóa truyền thống Việt đã trình bày trong tiểu luận này.  Cụ thể như "Khí" trong Lý học.... được chúng tôi định danh và mô tả định nghĩa về khái niệm này với sự ứng dụng như một gía trị để quán xét, đối chiếu và hệ thống hóa một cách nhất quán; lý giải một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan trong tính hệ thống và nhất quán trong từng khái niệm ứng dụng trong hệ thống. Tất cả những vấn đề này được thực hiện trong bộ môn phong thủy.

 

5/ Tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.
Tiêu chí khoa học phát biểu rằng:

"Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri".

 Chính khả năng tiên tri của Lý học Đông phương đã chứng tỏ một quy luật vũ trụ được tổng hợp và mô tả qua những mô hình biểu kiến, siêu công thức của nó, đã xác định những quy luật vũ trụ và cơ chế tương tác của toàn thể vũ trụ liên quan đến con người.
Tính quy luật trong Lý học Việt hoàn hảo hơn nhiều so với di sản cổ thư chữ Hán. Một ví dụ trong trường hợp này là Tử Vi Lạc Việt và bảng Lạc Thư hoa giáp....
Xét về toàn cục thì tất cả những bộ môn khác nhau của Lý học Đông phương, được hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt là một hệ thống hoàn chỉnh và phù hợp với tiêu chí khoa học. Khả năng tiên tri và tính khách quan rõ ràng được xác định hoàn toàn minh bạch và rõ nét.

Nếu như những tri thức khoa học hiện đại trong kiến trúc và xây dựng, là sự thể hiện những nhận thức kỹ thuật kiến trúc và kết cấu xây dựng với tính thẩm mỹ theo nhãn quan thẩm mỹ thời đại, thì Phong thủy Lạc Việt chính là một hệ thống tri thức, mô tả quy luật tương tác của tự nhiên với ngôi nhà, được hệ thống hóa, chuẩn hóa và phân loại thành những quy tắc, nguyên lý, tiêu chí và các mô hình biểu kiến trong sự ứng dụng của từng hệ quy chiếu, để quán xét ảnh hưởng của những tương tác này đối với ngôi gia và con người có khả năng tiên tri.

Căn cứ vào những tiêu chí và nguyên tắc, quy ước này, các phong thủy gia sẽ thiết kế, bài trí nội thất và tiến hành xây dựng căn nhà, hoặc các công trình xây dựng khác. Tùy theo sự hiểu biết và khả năng của các phong thủy gia, mà có thể cùng một hệ thống kiến thức về phong thủy, căn nhà vẫn có những thể hiện kiến trúc hình thức khác nhau. Tương tự như cùng một khóa kiến trúc sư ra trường và cùng thiết kế một ngôi nhà với chức năng sử dụng như nhau, mỗi người vẫn có thể đưa ra phương án kiến trúc khác nhau. Miễn là đồ án của họ phù hợp với những tiêu chí trong kiến trúc và xây dựng.
Kiến thức phong thủy được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt và kiến trúc hiện đại hoàn toàn không hề có mâu thuẫn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng nếu chỉ sử dụng kiến thức của kiến trúc và xây dựng hiện đại thì người kiến trúc sư sẽ thiết kế dễ hơn rất nhiều. Vì họ không bị buộc phải tuân thủ một số tiêu chí, và quy định bởi kiến thức phong thủy vốn khá chặt chẽ. Nhưng trong trường hợp này, nếu phạm phải những tiêu chí xấu trong phong thủy thì gia chủ, hoặc người thân của họ có thể gặp phải những điều không may mắn có thể tiên tri.
Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã tổ chức một cuộc hội thảo "Phong thủy là một ngành khoa học" vào ngày 15. 12. 2009 tại khách sạn La Thành, phố Đội Cấn Hnoi. Nội dung chính của cuộc hội thảo là chứng minh tính khoa học của ngành phong thủy Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt (Phong thủy Lạc Việt).

Cơ sở để xác định tính khoa học của ngành Phong thủy Lạc Việt là sử dụng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực, so sánh để xác định tính khoa học trong toàn bộ hệ thống phương pháp luận ứng dụng trong phong thủy Lạc Việt.

Chỉ có phong thủy Lạc Việt với nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", mới có thể tích hợp tất cả các di sản rời rạc, mâu thuẫn của ngành phong thủy được mô tả trong cổ thư chữ Hán, trong quá trình Hán hóa một cách không hoàn chỉnh nền văn hiến Việt, bị sụp đổ vào thế kỷ thứ III BC, ở Nam Dương Tử. Không những vậy, ngành Phong thủy Lạc Việt còn có khả năng tích hợp ngay cả hệ thống kiến thức trong kiến trúc và xây dựng của nền khoa học hiện đại.
Phong thủy là một ngành học với một lượng tri thức vô cùng đồ sộ, người viết chỉ có thể mô tả một cách khái quát để xác định tính nhất quán, tính hệ thống của nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" trong tất cả mọi lính vực liên quan đến nó.

Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số vấn đề liên quan trong phần phụ chương dưới đây, để làm sáng tỏ thêm khi mô tả đến từng chi tiết liên quan trong ứng dụng phong thủy.

 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quý vị và anh chị em thân mến.

Như vậy, cho đến bài trên trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", quý vị và anh chị em cũng nhận thấy rất rõ rằng: Sự liên hệ hợp lý của "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" với hầu hết những vấn đề liên quan đến nó trong toàn bộ hệ thống ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành hoàn toàn là mối tương quan hợp lý và phù hợp hoàn toàn với tiêu chí khoa học. Và đây cũng chính là hệ thống luận cứ nhân danh khoa học của tôi chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương với nền tảng tri thức là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Vậy tại sao không ít người cho rằng: Những lập luận của tôi chứng minh Việt sử 5000 văn hiến và chính là cội nguồn văn hóa Đông phương là căn vào sự giải mã những truyền thuyết và di sản văn hóa là mơ hồ?

Điều này chỉ có thể giải thích rằng:

Đó là nhận định hồ đồ, dốt nát, hoặc cố tình xuyên tạc.

Bởi vì, những gì mà tôi đã trình bày từ nhiều năm nay - không chỉ trong sách đã xuất bản - là cả một hệ thống luận cứ nhất quán và hoàn chỉnh, khi nó bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực kể cả những lý thuyết khoa học mới nhất với khả năng tiên tri cho hầu hết những vấn đề liên quan. Tất nhiên nó nhân danh khoa học và hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

 

Thưa quý vị.

Để phản biện và chỉ ra sai lầm của "hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "công đồng khoa học thế giới" đang xúm xít phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt, quả là một việc rất khó khăn cho một cá nhân, không tên tuổi, không bằng cấp như tôi. Nhưng tôi đã làm được điều này và kết luận cuối cùng của tôi là: Những luận cứ của họ, hoàn toàn không hề xuất phát từ một hệ thống tư duy khoa học với những chuẩn mực để thẩm định. Nó chỉ là kết quả của sự hoài nghi khi thiếu những chứng cứ theo cách nhìn của họ và họ không đủ khả năng để chứng minh mà thôi.

Nhưng, tôi cũng xin bày tỏ một ý kiến rất chủ quan như thế này:

SW Hawking đã nhận xét: "Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?". Và "Hy vọng một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm ra một lý thuyết thống nhất, nếu chúng ta có đủ tài năng" (Lược sử thời gian).

Phát biểu của ông SW Hawking đã cho thấy tất cả nền tảng của tri thức khoa học hiện đại (Trong đó có đám lôm côm "hầu hết" và "cộng đồng" phủ nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến), cũng chưa thể chạm được đến kiến thức sơ đẳng của lý thuyết thống nhất. Đây là một thực tại khách quan.

Còn đây là sự chủ quan của riêng một mình tôi và nhân danh cá nhân: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất.

Bởi vậy, phản biện hệ thống luận cứ này cũng rất khó khăn và coi như là viễn tưởng trong khả năng của cả nền văn minh hiện nay và 100 năm sau.

Bởi vậy, mỗi bên đều có những khó khăn để vượt qua.

Cá nhân tôi, luôn có thiện chí nhân danh khoa học và sẵn sàng chia sẻ. Nhưng với những phát biểu này, tôi đã thật sự không cho rằng có thể tổ chức một cuộc hội thảo với những nhận định khoa học nghiêm túc. Không thể phản biện được thì không lẽ hội thảo chỉ để công nhận tính khoa học của hệ thống luận cứ của tôi? Với những người đã lao sâu vào sự phủ định một cách cực đoan truyền thống văn hóa sử Việt, chắc sẽ cho rằng "Những luận điểm của tôi chưa được khoa học công nhận".

Còn phản biện sau lưng với những luận cứ theo kiểu: "Tôi gặp may", rồi với sự xác định không có "cơ sở khoa học" theo kiểu "mơ hồ", "chưa thuyết phục" thì không nói làm gì. Bởi vậy, tất cả những buổi nói chuyện, hội thảo tôi đều quay phim và ghi âm rất chu đáo. Tôi luôn công khai và không cần thiết phải mờ ám.

Bài này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

=================

PS: Tôi mới nhận được băng ghi âm của một thính giả và cũng là học viên lớp Địa Lý Lạc Việt cao cấp tham dự buổi nói chuyện tại Cafe Trung Nguyên, ngày 30.8. Tôi sẽ nghe lại và sẽ đưa lên topic "Trao đổi tại cafe Trung Nguyên" để quý vị và anh chị em quan tâm có thể quán xét toàn bộ buổi trao đổi này, một cách khách quan và tự kết luận. Nếu tôi phát hiện được thêm những luận cứ phản biện nào của giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu - theo lời giới thiệu của nhạc sĩ Dương Thụ, mà tôi chưa có dịp biện minh thì tôi sẽ tiếp tục biện minh, nếu rảnh.

Đã gọi là tính thần khoa học thì cần chí ít là công khai, rõ ràng.

Tôi cũng có ghi âm riêng của mình để phục vụ quay phim, nhưng khi được trao lại thì đã bị xóa thành băng trắng.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

Lời giới thiệu.

 

Sự xác định đổi chỗ Tốn Khôn trong Hậu thiên Bát quái Văn Vương và liên hệ "Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ" - với tư cách là nguyên lý căn để trong hầu hết các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương - trong phong thủy, không chỉ thể hiện trong những di sản văn hóa ở Nam Dương Tử. Mà "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ" còn chứng tỏ sự hiện diện ở nhiều di sản văn hóa truyền thống Việt khác và cũng chứng tỏ tính phù hợp với tiêu chí khoa học, khi so sánh, đối chiếu với những vấn đề liên quan đến nó, mà chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc ở trên.

Hai bài viết dưới đây của nhà nghiên cứu Bùi Anh Tuấn, là thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, sẽ mô tả với bạn đọc một câu chuyện dân gian độc đáo khác của nền văn hóa Việt và những vấn đề liên quan đến ngành phong thủy. Nội dung bài viết sẽ bổ sung rõ hơn đến những chi tiết trong ứng dụng, cụ thể là trong phong thủy Lạc Việt và so sánh những vấn đề liên quan trong cổ thư chữ Hán. Từ đó, làm sáng tỏ thêm tính khoa học của ngành phong thủy Lạc Việt, khi lấy chuẩn mực là tiêu chí khoa học so sánh với những vấn đề liên quan đến nó.

Đó chính là sự tích "Mèo dạy võ cho Hổ". Trong câu chuyện này, tác giả nêu rõ một ẩn ngữ liên quan đến vị trí Tốn Khôn trong Hậu Thiên Lạc Việt và so sánh với những công bố mới nhất về di sản phong thủy được phát hiện.

Sự trùng khớp hợp của nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" trong hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, so sánh với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, một hệ thống lý thuyết, sẽ xác định và minh chứng cho tính chân lý của luận điểm này.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

I. NHỮNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT

& SỰ LIÊN HỆ BÁT TRẠCH LẠC VIỆT TRONG PHONG THỦY.

Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn
Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương

Lấy cảm hứng theo phương pháp tiếp cận, giải mã của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh và được sự hướng dẫn gợi ý của ông, người viết xin đưa ra đây thêm một vài trường hợp trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, để thêm những sự xác định rằng: Chính những di sản văn hóa dân gian Việt là những chiếc chìa khóa giải mã, định hướng cho việc mở cánh cửa kho tàng bí ẩn của Lý học Đông phương.

Để tiếp tục vấn đề này, người viết trình bày nội dung và phân tích, giải mã hai câu truyện cổ tích sau đây.

I.1. SỰ TÍCH MÈO DẠY HỔ.

"Ngày xưa, muông thú đều tôn Mèo là thầy, vì Mèo rất tài giỏi.Mèo dạy cho muông thú các môn võ nghệ để phòng thân và tồn tại. Như trâu biết húc, gà biết mổ và đá, ngựa biết chạy và lúc gặp kẻ thù nguy hiểm thì biết đá hậu…

Khi ấy Hổ chưa biết ngón nghề võ nào, thấy muông thú đều được học thì cũng muốn lắm, ngặt nỗi không biết làm sao, bèn tìm cách học lén khi những con thú học với Mèo. Mèo một lần bắt gặp, Hổ thấy thế xin:
-Xin Thầy thương tình mà truyền cho các ngón nghề võ nghệ phòng thân.
Nghe thế Mèo đồng ý nhận Hổ làm học trò, rồi ngày ngày dạy các môn võ nghệ và truyền tất cả các ngón nghề. Mỗi lần học, Hổ lại nài nỉ:
-Thầy còn tuyệt nghệ nào xin truyền hết đi.
Thế là Mèo lại truyền môn “ra oai” bằng những chiêu gầm gừ, gầm rống và xù lông làm đối phướng khiếp vía kinh hải.

Ngày qua ngày, Hổ đã học được hết tất cả các môn võ nghệ. Muông thú đều sợ hãi và đều thất bại dưới móng vuốt của Hổ mỗi khi tỉ thí. Tính tham lam và cao ngạo lên cao, nhìn lại thấy chỉ còn Mèo là Hổ chưa tỉ thí và nghĩ Mèo quá nhỏ thó so với Hổ, nếu thắng Mèo nữa thì sẽ là chúa tể muôn loài. Vậy là Hổ thẳng thừng thách đấu với Mèo.
Mèo nghe tin ấy không tỏ vẻ sợ hải hay ngạc nhiên. Đến ngày thi đấu, Mèo đến, Hổ đã chờ sẳn. Không nói không rằng, Hổ liền bất ngờ tấn công Mèo. Mèo biết trước, nhanh nhẩu né tránh và trèo thoăn thoắt lên cây cao. Hổ bị bất ngờ nên tức lắm, ở dưới gốc cây gầm rống vang cả núi rừng. Mèo ở trên cây cười và bảo:
-Meo mẻo mèo meo, ta còn võ trèo, ta chẳng dạy cho.
Hổ càng tức điên, nhưng cố bình tĩnh, nhại lại Mèo, nghiến răng nói:
-Meo mẻo mèo meo, ta bắt được Mèo ta ăn cả cứt!
Từ ấy, Hổ tuy mạnh mẽ nhưng lại không biết leo trèo, cũng từ ấy dòng dõi nhà Mèo đều phải đào hố và giấu phân của mình."

Câu chuyện kết thúc với hình ảnh một con hổ dưới gốc cây đang ấm ức trước con mèo trên cành cây. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt, đều tìm thấy ở đây một nội dung xét trên quan niệm truyền thống của người Việt Nam là muốn nhắc nhở người đời rằng: Phải biết “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”. Điều này dường như đã đủ đối với cái nhìn xã hội nhân văn. Nhưng lạ lùng thay! Khi bằng nhãn quan của lý thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc nền văn hiến Việt thì lại có sự trùng khớp đầy minh triết, liên quan đến những gía trị ứng dụng của học thuyết này. Cụ thể là trong Phong Thủy Lạc Việt.

Trong mười hai cung Địa Chi, người xưa quy định: Dần, Mão thuộc mùa Xuân, thuộc Mộc, câu chuyện kết thúc với hình ảnh gồm 3 yếu tố: Hổ - Dần; Mèo – Mão và Cây – Mộc. Đây là môt sự trùng khớp với tính qui ước Dần – Mão thuộc Mộc (Biểu tượng là cây, mô tả bằng màu xanh lá cây), trong Lý học Đông phương. Khi quán xét thêm ba yếu tố này trên nguyên lý "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" trong 24 sơn hướng Bát trạch Lạc Việt thể hiện trong đồ hình Bát cung hóa khí" của Phong Thủy Lạc Việt, sẽ thấy như sau:

 

BQBatcungViet01.jpg

Đồ hình "Bát cung hóa khí" theo Phong Thủy Lạc Việt.

 

HadoHTLV.jpg

Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt

Qua 2 đồ hình minh họa để so sánh ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Mão (Mèo) trụ tại phương chính Đông thuộc Dương Mộc, độ số là 3 Dương trên Hà đồ và quái Chấn chủ quản chính Đông phương. Hình ảnh con Mèo trèo lên cây cao, trùng khớp với Mão trụ ở Đông phương và cây cao to đã phát triển là Dương Mộc. Vì ý nghĩa Mèo có khả năng trèo lên cây cao to lớn trong câu chuyện nên có thể chứng tỏ sự biểu đạt ý nghĩa của việc gắn kết mật thiết hiển nhiên Mão – Mộc, chính Đông, gồm ba sơn là: Giáp - Mão (Mèo) - Ất.
Còn lại là hình ảnh con Hổ ngồi dưới gốc cây, vì không học được khả năng leo trèo. Hổ là Dần, thuộc phương Đông Bắc, Âm Mộc, gồm ba sơn là: Sửu - Cấn - Dần (Hổ), thuộc thứ phương, độ số là 8 Âm trên Hà đồ. Hổ và Mèo tạo thành sự đối lập Âm Dương rõ rệt trong cùng hành Mộc.

Mão – Mèo đại diện cho chính Đông, Dương Mộc; Hổ - Dần đại diện cho thứ phương Âm Mộc. So với sự tương quan Hổ - Dần, Mão – Mèo thì Dần đứng hàng thứ 3 trong 12 địa chi (Tính từ cung Tý (Chuột), cũng tương ứng với sơn Dần là sơn Dương và Mão đứng hàng thứ 4 trong 12 địa chi, tương ứng với sơn Mão Âm trong 24 sơn Bát Trạch Lạc Việt.

Theo nguyên lý ứng dụng trong phong thủy Lạc Việt: “Âm thăng, Dương giáng”, “ Âm nhô cao, Dương trũng thấp” trong ứng dụng của Phong thủy Lạc Việt , thì Mão – Mèo là Âm thể hiện trong câu chuyện Mèo có khả năng trèo lên cao, Hổ - Dần thuộc Dương thể hiện trong câu chuyện là không học được khả năng trèo lên cao và phải ngồi ở dưới gốc cây, ở dưới thấp.

Câu truyện Hổ và Mèo kể chuyện Hổ đi học võ nghệ để có được khả năng và sức mạnh, đó là muốn nhấn mạnh sức mạnh và tri thức, cũng như sức mạnh của tri thức. Lạ lùng thay! Sự trùng lặp ý nghĩa này khi xét trong đồ hình "Bát cung hóa khí" lưu truyền thì hai cung "Tri thức" và "Sức khỏe" nằm liền nhau: "Tri thức" thuộc Cấn âm Mộc, cung có Dần (Hổ) ở; "Sức khỏe" (Sức mạnh) thuộc Chấn Dương Mộc, cung có Mão(Mèo) trụ.
Có sức khỏe chưa chắc đã mạnh, điều này chắc chắn đúng và được thể hiện ngay trong nội dung câu truyện, Mèo không thể thắng được sức mạnh võ biền của Hổ nên đã nhanh nhảu trèo lên cây. Đây là sự thể hiện của sức mạnh trí tuệ linh hoạt, khi tri thức chỉ là phương tiện để nhằm mục đích đạt được cái cao hơn.
Vậy cái cao hơn là gì? Câu truyện chắc hẳn không chỉ chuyển tải ý nghĩa đạo lý “tôn sư trọng đạo” mà ở chiều sâu còn gửi gắm hàm ý thâm trầm hơn khi quán xét theo lý Dịch.
Sách “Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 46 có đoạn nói về quái Chấn - (tọa vị tại phương Đông, gồm ba sơn: Giáp - Mão - Ất; mà người viết đã trình bày ở trên) - như sau:


 

Tượng Chấn
Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả, là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hưu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâm vào, là trống, là ra, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là dơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh, là lời cáo, là vui, là kế giữ, là xuất chinh.”

 

Cùng trích từ sách “ Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 47 có đoạn nói về quái Cấn - (Tọa vị tại Đông Bắc, gồm ba sơn: Sửu  -  Cấn - Dần; mà người viết đã trình bày ở trên) - như sau:

 

“Tượng Cấn
Cấn là núi, là đá, là cát, là miếu thờ, là môn đình, là cung thất, là thành trì, là nhà trọ, là ngõ hẻm, là đường tắt, là huyệt, là gò đồi, là thung lũng, là khô, là thiếu nam, là quân tử, là hiền nhân, là người thâm trầm, là đệ tử, là tiểu nhân, là cô đơn, là trẻ thơ ngây, là chúa, là lỗ mũi, là tay, là ngón tay, là lưng, là ngày cuối tháng, là đêm, là đuôi, là da, là hổ, là báo, là chuột, là ngôi sao nhỏ, là ngày kết thúc, là gỗ nhỏ, là quả to, là ngô, là hoa lệ, là ngừng, là thận trọng, là tiết lễ, là chấp chính, là dẫn dắt, là chọn lấy, là cầu tìm, là đưa dắt, là nạp vào, là nắm lấy, là nhiều, là dày, là trung thành thật thà, là tích đức, là biết nhiều, là tin, là nhớ đến, là nhỏ là xấu hổ, là nghỉ, là nhàn, là ở, là thôi, là đề phòng, là ngôi thứ.”

 

Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta lại thấy một sự trùng hợp giữa hình tượng của Mèo và Hổ, liên quan đến tính chất nội hàm của hai quẻ này:

Tượng Chấn thì nghĩa là tổ, là quân tử, là nhân nghĩa , ứng với Mèo là người dạy cho muôn loài võ nghệ, đem cái tri thức, kiến thức, sở học của mình mà giúp cho muôn loài tồn tại và tiến triển. Và chỉ có người có cái tâm bao dung, rộng lớn đầy nhân nghĩa mới làm được điều đó, luôn cả đối với học trò, dù biết trước sẽ là phản đồ. Điều này rõ ràng hơn khi nghĩa của quẻ Cấn tương ứng với hình tượng Hổ trong câu truyện:

là đệ tử,là tiểu nhân, là cầu tìm, là tích đức.

 

Hổ đã tìm đến để cầu học với Mèo và được Mèo truyền thụ võ nghệ, là truyền thụ tri thức. Nhưng Hổ lại không chịu tích đức, không hiểu ra được điều nhân nghĩa, mà luôn dùng võ lực, oai danh, những điều đã học được để đe dọa trấn áp thiên hạ, muôn loài. Khi tham vọng lợi ích, quyền lực che mờ cả lý trí thì sẳn sàng quay trở ngược lại đánh người thầy, phản thầy một cách thẳng thừng. Tham vọng của kẻ nghịch đồ càng cao, càng mờ mắt vì danh lợi, vì quyền hạn thì tất yếu dẫn đến những hành động bỉ ổi xuất phát từ tư tưởng hèn kém mà mọi việc hạ cấp hay ti tiện nào cũng có thể làm, đó là:
“-Meo mẻo mèo meo, ta bắt được Mèo ta ăn cả cứt!”
Rõ ràng và đích thực, đây là dạng tiểu nhân. Quẻ Cấn bao gồm hai nghĩa song song là “tiểu nhân” và “quân tử”, nhưng cũng hàm chứa nghĩa “tích đức”, do vậy tiểu nhân hay quân tử chỉ khác nhau một chữ “Đức” mà thôi.

Hình ảnh Mèo trên cây, đại diện cho quẻ Chấn bên trên và Hổ dưới đất  đại diện cho quẻ Cấn bên dưới, xét theo cảm ứng tượng quẻ. Khi lấy hai tượng Chấn chồng lên Cấn thì được quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá. Đây lại là một sự tương ứng nữa giữa Dịch học và hình tượng được mô tả trong câu chuyện này, khi xét nghĩa quẻ sau đây:
Trích từ sách “ Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 52:

“Tiểu quá, Quá tức là vượt qua. Có thể vượt qua điều thường tình mới đủ sức làm việc lớn.”
Hổ muốn thị oai, muốn làm chúa tể muôn loài, nghĩa là muốn mưu cầu việc lớn. Nhưng Hổ không thể vượt qua được điều rất bình thường là thu phục lòng muôn loài, không chịu tích đức, không hiểu ra được cái tuyệt chiêu tối thượng cần phải cầu học là "nhân nghĩa", "tích đức". Do vậy mà Hổ phải chịu thất bại trước Mèo, trước sức mạnh linh hoạt của tri thức, của lòng nhân nghĩa. Và Mèo được muôn loài tôn và trọng không phải vì tài nghệ hay sức mạnh võ biền mà là vì cái tâm nhân nghĩa truyền thụ đạo học.


Vả lại, khi trích từ sách “Chu Dịch”, tác giả Sào Nam Phan Bội Châu, nhà sách Khai Trí, xuất bản năm 1969,  trang 1081-1082, nói về quẻ Tiểu Quá có đoạn như sau:

 

Soán Từ
“Khả tiểu sự, bất khả đại sự, phi điểu duy chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ đại cát.
Việc trong thiên hạ hay dở cốt ở thì, vì xê xích cho đúng với thì. Nên có khi phải quá chút đỉnh, nhưng chỉ dùng cách quá ấy vào chuyện nhỏ, không nên dùng cách quá ấy vào chuyện lớn.

Bởi vì, những việc nhỏ ấy, thì gian ngắn gủi, phạm vi chật hẹp, dầu có quá chút đỉnh, mà việc vừa đúng với thì, thời quá mới hanh thông được.”

 

Cũng sách trên, trang 1084 có đoạn như sau:

 

Soán Truyện

“Cương thất vị nhị bất trung, thị dỉ bất khả đại sự dã.

Còn như việc lớn, tất cần có tài dương cương mà đắc vị mới làm được, đương cương là đại, quẻ này hai hào dương thảy thất vị, mà không được ở vị trung.

Vậy nên, không làm nổi việc lớn. nhu đắc trung là tiểu nhân đắc thì, cương thất vị, là quân tử thất thì, nên quái từ rằng: khả tiểu sự, bất khả đại sự, cũng có ý rằng: ở về thì tiểu quá chính hợp với việc tiểu nhân, mà không thích hợp với việc quân tử.”

 

 

Hổ không thể đánh bại được Mèo đã thể hiện cái thị dĩ bất khả đại sự dã. Vì Tiểu Quá là “có khi phải quá chút đỉnh, nhưng chỉ dùng cách quá ấy vào chuyện nhỏ, không nên dùng cách quá ấy vào chuyện lớn.”, nghĩa là đối với việc hay dở ở đời nếu là chuyện nhỏ thì có thể vừa sức mình, còn việc lớn thì sẽ không thể thành công, bởi lẽ “bất nghi thượng, nghi hạ đại cát”, đích thị muốn có ý chỉ ra rằng người nào việc nấy mà tùy theo khả năng của mình mà làm đó vậy. Do đó việc Hổ đánh Mèo, thực sự là trò đánh thầy,  thì việc đó đã có “quá”, và vì muốn soán ngôi thầy để mà “làm thầy thiên hạ” mà lại mất “nhân nghĩa”,  thiếu “đức”, nên thất bại, bởi chuyện làm tôn sư của thế nhân không phải là chuyện cỏn con. Cái nhìn của Hổ quả là thiển cận.

Câu chuyện ngoài việc muốn chuyển tải ý nghĩa nhắn nhủ rằng: Tri thức của nền văn minh phương Đông chỉ truyền lại cho những ai học được điều nhân nghĩa và nền tảng của tri thức phương Đông này lấy chữ Nhân đứng đầu trong Ngũ đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Ngoài ra câu chuyện còn chuyển tải hàm ý xác định tính chất hai cung Cấn và Chấn là hai cung Tri Thức và Sức Khỏe (sức mạnh) trong "Bát cung hóa khí" Lạc Việt, muốn nhấn mạnh núi (Cấn) tri thức phương Đông là phương tiện hướng đến một sức mạnh lý trí linh hoạt của Đông phương, phải dựa trên nền tảng nhân nghĩa sâu sắc.

 

I.2. TRÍ KHÔN CỦA TA ĐÂY!

Hay là: "Sự tích bộ lông vằn của hổ, hàm răng trên bị khuyết của trâu".

Câu chuyện kể rằng:

Ngày xửa, ngày xưa, loài cọp không có bộ lông vằn như bây giờ. Và loài trâu có đủ hai hàm răng.

Một hôm, có một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào mông. Cọp lấy làm ngạc nhiên. Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi:
- Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
- Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
- Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
- Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!
Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
- Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
- Trí khôn tôi để ở nhà. Ðể tôi về lấy cho anh xem. Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít.
Cọp nghe nói, mừng lắm.
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
- Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:
- Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm.
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây. Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp,rồi châm lửa vừa đốt vừa cầm gậy nện Cọp tới tấp và quát:
- Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào.
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại.
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả."


Câu truyện cổ tích này được truyền khẩu từ bao đời nay, đã làm cho biết bao tâm hồn trẻ thơ, luôn cả những người lớn lấy làm thú vị, vì cách giải thích nguyên nhân bộ lông cọp bị vằn và hàm răng trâu không có hàm trên. Qua đó cũng diễn đạt ý nghĩa sâu hơn của câu truyện là trí khôn chỉ có ở con người. Với trí khôn chính là việc ứng xử với thiên nhiên và môi trường xung quanh một cách linh hoạt. Đây là ý nghĩa minh triết đầu tiên của câu truyện
Nhưng nội dung câu chuyện không chỉ dừng ở đây. Từ cái nhìn của Lý học Đông phương, với sự minh triết của nền văn hiến Việt, chúng ta lại thấy một nôi dung sâu sắc khác.
Từ "Khôn" trong "trí khôn" là một từ thuần Việt, tự nó đồng âm với quái Khôn trong bát quái. Trí "Khôn" của con người thể hiện khi con cọp bị trói dưới gốc cây, cho thấy nó phải ở dưới cung Chấn Mộc - cây to. Hình tượng con người dùng lửa đốt cọp, cho thấy "Khôn" có thuộc tính Hỏa. Và hình tượng này lại trùng khớp với quái Khôn trong Hậu Thiên Lạc Việt nằm ở Đông Nam với độ số 2 - độ số của Hỏa - trên Hà đồ.

Xin xem hình "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" dưới đây:

 

 

HadoHTLV.jpg

 

Một hình tượng nhấn mạnh nữa chính là hình ảnh con trâu trong câu chuyện này. Trâu cũng là thuộc tính của quái "Khôn" .

Thuyết quái truyện, tiết 8, viết:

 

Càn vi mã. Khôn vi ngưu

 

Như vậy, quái Khôn được xác định ý nghĩa là trâu. Từ đây một sự ngẫu nhiên thú vị! Theo như câu truyện, hình ảnh con Trâu bên gốc cây, trong khi Trâu thuộc tượng quái là Khôn, mà lại quái Chấn thuộc Mộc, do đó rõ ràng mật ngữ của người xưa muốn chỉ dẫn “quái Khôn bên dưới quái Chấn”.

Một mật mã được nhắn gửi từ ngàn xưa trong nền tri thức Việt cổ rằng quái Khôn chính thật phải ở phương Đông Nam!

 

1.3. MẬT MÃ SAU CÙNG.

I. 3.1. Đồ hình "Bát cung hóa khí"  và "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

Sự chuyển đổi vị trí quái Khôn sang Đông Nam của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ còn một nội dung sau đây, liên quan đến đồ hình Bát cung hóa khí dùng trong phong thủy. Đồ hình này do một phong thủy gia Đài Loan công bố vào những năm 60 của thế kỷ trước. Nhưng nó chỉ mang tính hợp lý khi hiệu chỉnh trên nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt".

Xin so sánh hai đồ hình dưới đây:

 

 

BCungTau06.jpg

Đồ hình "Bát cung hóa khí" từ cổ thư chữ Hán

(Trong đó những cung thuộc Tây trạch thể hiện màu vàng, Đông trạch thể hiện màu đỏ)

 

BCungViet05.jpg
Đồ hình “Bát cung hóa khí” Lạc Việt
(Trong đó những cung thuộc Tây trạch thể hiện màu vàng, Đông trạch thể hiện màu đỏ).

 

Theo quan niệm của phong thủy, cung “Phú Quý” tức là cung tài lộc, tiền tài…nói chung là gia sản, là vật chất, là của cải.

Ở đồ hình Bát cung hóa khí từ cổ thư chữ Hán, cung Đông Nam có vai trò là cung “Phú quý”. Nhưng quái thì lại là quái Tốn ngụ tại cung này. Còn ở đồ hình Bát cung hóa khí Lạc Việt thì cung “Phú quý” vẫn ở Đông Nam, nhưng quái khí thì là lại quái Khôn. Chính sự khác biết này xác định tính hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt trong những vấn đề liên quan, như sau:

Sách “Nhập môn Chu Dịch dự đoán học”, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, NXB VHTT, 1996, trang 45 có đoạn như sau:

 

Tượng Khôn
Khôn là đất, là sau, là thần, là vợ, là dân. Là bầy đàn, là số đông, là tiểu nhân, là thị dân, là bọn trộm cướp, là mẹ, là phụ nữ, là dì, là thành trì, là ruộng, là một bang, là nhà cửa, là gia trạch, là trên bộ, là bùn, là bế quan, là bò, là ngựa con, là xe lớn, là hông,là bình đựng, là đức dày, là ngọt, là béo, là thân thể, là cái cung, là mình, là tự mình, là vương (vua nước chư hầu), là yên, là trinh, là lợi, là giàu, là tích tụ, là đến, là dùng, là quy về, là nội dung, là kinh doanh, là dối lận, là mê, là muốn, là cú, là hại, là chết, là tang, là loạn, là chiều tối, là mười năm, là bạn, là tiền tài, là hàng hóa, là vuông vức, là quang minh chính đại,là thuận theo, là được về sau, là có kết thúc, là vô biên cương, là sự nghiệp.

 

 

Với những ý nghĩa như trên của tượng Khôn là đất, ruộng, nhà cửa, gia trạch, giàu, tích tụ, tiền tài, sự nghiệp,là vua nước chư hầu…thì rõ ràng quái Khôn hoàn toàn phù hợp với cung “Phú quý’, thuộc phương Đông Nam! Hình ảnh Trâu bên dưới gốc cây.

Hơn nữa trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước thuộc văn minh phương đông, con trâu, ruộng nương, nhà cửa…lục súc được coi là tài sản, sự nghiệp và là của cải tài lộc của con người, cho nên tục ngữ của người Việt mới có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Tức cung "Phú quý".

Ngược lại, với ý nghĩa của quái Tốn được mô tả như sau:

 

Tượng Tốn
Tốn là gió, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung, là 4người đi buôn, là trường mộc, là cỏ tranh, là thuốc, là gà, là cá, là súc vải, là giường, là cây cuốc, là dây, là liên hệ, là bắp đùi,là cánh tay, là tay, là nhìn xuống, là múa, là hát, là giải thoát, là trắng, là cao, là nhập vào, là phục ẩn, là tiến thoái, là không quyết, là mệnh, là hành sự, là hiệu lệnh, là phong tục, là nhìn thấy, là của cải.

 

 

Như vậy, với những thuộc tính của quái Tốn được mô tả trong thuyết quái Truyện thì rõ ràng ngoài ý nghĩa của cải ra, không có gì để thể hiện "Phú quý"

Như vậy, ngay trong công bố mới nhất liên quan đến Phong thủy, cũng cho thấy tính hợp lý của quái Khôn ở Đông Nam và sự xác định bởi chính nội hàm của quái Khôn ở cung "Phú quý".

Vấn đề cũng chưa dừng lại ở đây. Việc vị trí quái Khôn ở Đông Nam của "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ", còn giải thích một cách hợp lý phương pháp tính năm làm nhà theo phong thủy

 

3.2. Phương pháp tính Kim lâu và Hậu Thiên Lạc Việt.

Trong phương pháp tính tuổi Kim Lâu, khi tính tuổi làm nhà, xây sửa nhà cửa, nếu tuổi gia chủ phạm cung tuổi “Kim lâu Thê" thì thông tin cho biết rằng nếu xây tuổi vào năm phạm cung ấy, sẽ gặp tổn hại về vợ.

Đồ hình dưới đây cho thấy: Khim lâu Thân (Hai gia chủ) bắt đầu từ cung Cấn, gồm ba sơn trong phong thủy là: Sửu, Cấn, Dần. Cổ thư viết:

 

Trời sinh ở Hội Tý, Đất thành ở Hội Sửu, Người sinh ở Hội Dần.

 

 

Bởi vậy, lấy Dần bắt đầu là "Kim lâu thân" hoàn toàn có sự liên hệ hợp lý. Và với vị trí quái Khôn ở Đông Nam - tượng cho vợ - thì "Kim lâu Thê" hoàn toàn hợp lý. Còn nếu cung Tốn tại Đông Nam - theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư thì đáng nhẽ phải là "Kim lâu con gái trưởng".

Xin xem hình dưới đây:

 

 

341_zpsacc464da.jpg

 

Như vậy hình ảnh Trâu bên gốc cây là mật mã chỉ dẫn đến việc chuyển đổi hai quái Tốn và Khôn nhằm hoàn thành một cách hợp lý đồ hình Bát cung hóa khí Lạc Việt với cơ sở là Hậu thiên Lạc Việt thì mọi sự tương thích và phù hợp giữa 8 cung với 8 quái thật sự rõ ràng và hoàn chỉnh.

Điều này chỉ thực hiện được với nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

 

4. Kết lại.

Người viết không coi việc giải mã là một minh chứng. Mà chỉ trình bày một cái nhìn riêng của mình, khi liên hệ những yếu tố của kho tàng văn hóa truyền thống Việt với tri thức Lý học Đông phương, nhằm tạo một sự hứng khởi trên con đường nghiên cứu khám phá trong biển bờ Lý học Đông phương huyền vĩ. Không dám cho rằng là đúng khi tính bao hàm của cơ sở Lý học Đông phương quá rộng lớn so với sự nhận thức hạn hữu của con người.

 

(Còn tiếp)
 

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

Tiếp theo

 

II. NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

& BÍ ẨN THIÊN MÔN ĐỊA HỘ

VỚI SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ
 

Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn
Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương.


Tiêu chí khoa học hiện đại xác định rằng:

 “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.”

 

Trong những tri thức liên quan đến phương pháp của học thuật cổ Đông phương, cụ thể là phương pháp Bát trạch trong phong thủy, tồn tại những khái niệm bất biến như Thiên Môn, Địa Hộ, Quỷ Môn, Nhân Môn, Nam Quỷ Môn, Nữ Quỷ Môn…Nhưng đi kèm với những định danh này thì không có sự tương hợp, tương xứng cho từng định vị hay sự tương thích trong cùng mối liên hệ, để tạo nên sự nhất quán cho một hệ thống lý thuyết mang tính hoàn chỉnh. Do vậy, điều nghịch lý tồn tại hằng ngàn năm được mặc định, cần được giải linh, khơi sáng nỗi tồn nghi.

II.1. NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

& BÍ ẨN THIÊN MÔN - ĐỊA HỘ.

Sách Phong Thủy toàn thư, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, nhà xuất bản Thời Đại ấn hành năm 2009, trang 128, hướng dẫn về cách xem tướng nhà và phương vị nhà cửa, có tái hiện phương vị la bàn bằng đồ hình như sau:


QuymonTau21.jpg


Trang 176, sách cùng tựa, có đoạn như sau:

 

"Các đường nối Đông và Tây, Nam và Bắc, Đông Nam và Tây Bắc, Đong Bắc và Tây Nam có đường trung tâm.
Đường nôi giữa 45 độ của Đông và Bắc, Tây và Nam là đường Quỷ môn.
Mặt khác, đường nối giữa 45 độ của Đông và Nam, Tây và Bắc, Nam và Bắc, Tây và Nam gọi là đường tứ ngung. Trong đó, đường tứ ngung nối 45 độ của Đông và Bắc, Tây và Nam chính là đường Quỷ môn.
Đơn giản mà nói, tuyến chính giữa là đường trung tâm cùa phương vị sao sinh như Tý (Bắc), Ngọ (Nam), Mão (Đông), Dậu (Tây), đường tứ ngung vẫn là đường xuyên suốt Cấn (Đông Bắc), Khôn (Tây Nam), Càn ( Tây Bắc), Tốn (Đông Nam)."

 

 

Đây là lời giải thích trong sách của tác giả Thiệu Vĩ Hoa cho việc xác định đường Tứ ngung, đường Trung tâm, đường Quỷ môn.
Người viết một lần nữa ghi nhận rõ hơn rằng:
Đường trung tâm, có hai đường, được xác định trên la bàn.

1/ Là trục Bắc Nam, từ Bắc "0 độ", qua tâm đến Nam "180 độ".

2/ Là trục Đông Tây, từ Đông "90 độ", qua tâm đến Tây "270 độ".

Sách viết gọi là Trục trung tâm.
Đường tứ ngung, nghĩa là đường bốn góc, có hai đường, được xác định trên la bàn.

1/ Là đường từ Đông Bắc "45 độ", qua tâm đến Tây Nam "225 độ".

2/ Là đường kéo dài từ Tây Bắc "315 độ", qua tâm đến Đông Nam "135 độ". Sách viết gọi là Trục tứ ngung.

Trong đó, đường Quỷ môn là đường nối từ Đông Bắc "45 độ", qua tâm đến Tây Nam "225 độ". Sách viết gọi là Trục Quỷ môn.
Xin xem hình sau:


2625ace8-892b-4ca2-9a68-1f65de99c9cc.jpg

 Một tư liệu còn ghi lại từ cổ thư chữ Hán mà chính tác giả Thiệu Vĩ Hoa đã trưng ra và dẫn giải, người viết vẽ lại đồ hình tổng hợp sau:

BQQuymonTau02.jpg


Dễ dàng nhận thấy rằng hai đường trung tâm (Trục trung tâm) vuông góc của bốn phương chính vuông góc là Nam – Bắc và Đông – Tây, còn lại là hai đường tứ ngung (Trục tứ ngung), nghĩa là đường bốn góc, như cái tên của nó, vuông góc nhau ở bốn phương góc Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam.
Từ đây, những bí ẩn đặc trưng vì tính mặc định, nhưng vẫn được chấp nhận như một lẽ đương nhiên của Hậu thiên Bát quái Văn Vương. Và điều nghịch lý từ Hậu thiên Văn Vương thê hiện rất rõ như sau:

Chúng ta cùng quán xét:

Phương Cấn – Đông Bắc gọi là Quỷ môn với danh cụ thể là Nam quỷ môn. Ở đây, chứng tỏ được sự đồng nhất giữa định danh "Nam quỷ môn" với quái Cấn (QCAAN.jpg ), là tượng thứ nam và ý nghĩa về tượng quái này trong Bát quái của Dịch.

Nhưng ngược lại, phương Tây Nam có chủ quái là Khôn (QKHON.jpg), lại không đồng danh vị với danh Nữ quỷ môn. Bởi lẽ, hai định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn đã thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái. Nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng Âm Dương và không mang tính đối lập đồng đẳng:

Quái Cấn tượng là thiếu nam, trai út hợp với định danh Nam quỷ môn, nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái Khôn, tượng là mẹ, đàn bà, bà lão, là Lão Âm. Và chính quái Khôn cũng không thể tương hợp với định danh Nữ quỷ môn. Lẽ ra phải gọi là Lão quỷ môn thì mới hợp với danh và quái. Nhưng như thế cũng không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Đông Bắc và Tây Nam, tức giữa Cấn và Khôn, tức giữa lão bà và con trai út (con nít!).

Vì thế, dĩ nhiên là không có sự đối xứng Âm Dương, cân bằng Âm Dương thể hiện qua từng hào của quái, nghĩa là đối lập âm dương giữa các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Cấn - Khôn hoàn toàn không có thể hiện để tạo sự đối lập, đối xứng nào.

Cũng như vậy, chúng ta quán xét tiếp:

Phương Càn – Tây Bắc gọi là Thiên môn có sự đồng nhất giữa danh vị và tượng quái Càn (QCAN.jpg), có tượng là trời, là cha, là lão ông..về ý nghĩa của tượng quái này trong Bát quái của Dịch. Nhưng ngược lại, phương Đông Nam - theo cổ thư chữ Hán - có chủ quái là Tốn ( QTON.jpg ), lại không mang nội hàm với danh Địa hộ. Hai định danh Thiên môn và Địa hộ trong mối quan hệ đồng trục, thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái, nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng Âm Dương và không mang tính đối lập đồng đẳng. Bởi, quái Càn tượng là trời với định danh Thiên môn (cửa trời), nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái khí Tốn tượng trưởng nữ, người con gái cả và ngay cả chính quái Tốn cũng không thể tương hợp với định danh Địa hộ. Như thế, có việc không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Tây Bắc và Đông Nam, tức giữa Càn và Tốn, tức giữa lão ông và con gái cả, giữa trời và gió!

Do vậy, có thể xác định rằng: Đồ hình "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư" ứng dụng trong phong thủy, hoàn toàn tỏ ra mâu thuẫn, bất hợp lý ngay trong cấu trúc thể hiện mô tả các vấn đề liên quan. Xét kỹ đến từng hào quái, cũng không có sự đối xứng, cân bằng Âm Dương thể hiện qua các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai cặp quái đối xứng là: cặp Càn  – Tốn   (Trục Thiên môn, Địa hộ) và cặp Cấn  - Khôn  (Trục Nam Nữ quỷ môn).

Tính cân đối và hài hòa Âm Dương trong mô hình trình bày ở trên, chỉ thể hiện được ở hai trục trung tâm của các cặp: Bắc - Nam, là Khảm (QKHAM.jpg) - Ly (QLY.jpg); và Đông - Tây là Chấn (QCHAN.jpg ) – Đoài (QDOAI.jpg ). Ở hai trục này chúng có tính quy luật rõ ràng và phù hợp cả về danh vị, tính chất quái.

Nhưng, xét trên tổng thể 8 quái, mối tương quan của từng cặp về quái khí và danh tính của phương vị thì tổng thể bát quái "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư" không thể hiện được tính nhất quán có tính quy luật ngay trong nội hàm của nó. Do vậy mà sự bất hợp lý cũng như bí ẩn về hai cặp phạm trù đối lập "Thiên môn - Địa hộ"; "Nam quỷ môn - Nữ quỷ môn", vẫn tồn tại một cách bí ẩn.

 

2. NGHỊCH LÝ TRONG TƯƠNG QUAN PHỐI TRẠCH MỆNH TRONG ỨNG DỤNG PHONG THỦY THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN.

Tính thiếu nhất quán còn thể hiện ngay trong quy luật tương phối quái khí thể hiện trong phương pháp Bát trạch và Dương trạch tam yếu về phần Phiên tinh phối quái.
Phương pháp Bát trạch cổ thư - là một trường phái ứng dụng của khoa Phong thủy theo cổ thư chữ Hán - xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe: phe Đông trạch và phe Tây trạch.

Đông trạch theo cổ thư chữ Hán, gồm bốn phương tốt là: Bắc, Nam, Đông và Đông Nam. Tương ứng với các quái Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Ngược lại Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với các quái Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch.

Xem hình dưới đây - trong đó Tây trạch thể hiện màu đỏ; Đông trạch thể hiện màu trắng:

320348_zps7ce57a38.jpg

 

Theo đó người mệnh cung Ly nhà hướng Khảm, hay ngược lại người cung mệnh là Khảm, nhà hướng Ly thì đều phương Phúc đức. Cũng tương tự như vậy, theo phương pháp Phiên tinh phối quái của trường phái "Dương trạch Tam yếu" thì nhà hướng Ly, sơn hậu là Khảm, hay ngược nhà hướng Khảm mà sơn hậu là Ly thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng cũng đều được Phúc Đức, gọi là Phúc Đức trạch.

Như vậy, điều đương nhiên trên Bát quái Văn Vương chỉ tồn tại một trục tốt nhất, là trục Bắc Nam của phe Đông trạch gọi là trục Phúc Đức. Điều này dễ nhận biết ngay trên bát quái với trục Bắc - Nam, chính trục từ 0 độ đến 180 độ, gọi là trục trung tâm, tức trục Khảm – Ly, tức là Phúc Đức trạch hay gọi là trục Phúc Đức.

Tuy vậy, ở phe Tây trạch, chính ở tương quan Tây trạch xuất hiện sự bất nhất, bất hợp lý được hiển hiện ngay trên đồ hình tám cung quái.
Theo phương pháp Bát trạch của cổ thư, mệnh cung Khôn (Tây Nam), nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Khôn thì đều được Sinh Khí. Vẫn như vậy, nếu hướng nhà là Cấn, sơn hậu là Khôn hoặc là nếu hướng nhà là Khôn mà sơn hậu là Cấn thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng thì đều đước Sinh Khí, gọi là Sinh Khí trạch hay là trục Sinh Khí.

Xin xem hình dưới đây:

 

BQuaiTrucTau02.jpg

 

 

Rõ ràng, có sự không đồng nhất giữa định danh phương trục và tính chất của phương vị, cung quái của hai phương Cấn – Tốn này, bởi gọi là trục Quỷ môn nhưng khi xét tính chất phối quái hai phương đồng trục thì lại được trục Sinh Khí? Tính không nhất quán là ngay ở điểm này. Đồng một lý như vậy với trục tứ ngung, trục Thiên/ Càn – Địa/ Tốn, theo cổ thư: nếu nhà hướng Càn, mệnh cung Tốn; hoặc giả: nhà hướng Tốn, mà mệnh cung Càn thì đều được phương Họa Hại theo Bát trạch cổ thư. Cũng như vậy - theo "Dương trạch tam yếu" từ cổ thư chữ Hán - với phối quái phiên tinh: nếu hướng là Càn, sơn hậu là Tốn, hay hướng là Tốn mà sơn hậu Càn thì đều gặp Họa Hại, gọi là trục Họa Hại hay Họa Hại trạch.
Hơn nữa, với cái nhìn tổng quan, trạch Phúc Đức là trạch tốt nhất trong điều kiện Bát trạch và Dương trạch thì theo đồ hình tổng thể trên thấy rằng chỉ có phe Đông trạch mới có Phúc đức trạch hay trục Phúc Đức.Ngược lại phe Tây trạch chỉ có Sinh Khí trạch hay trục Sinh Khí. Do vậy đây cũng chính là sự biểu hiện tính không đồng đẳng, tính mất cân xứng và tính bất cân bằng trong quy luật Âm Dương. Nếu nói theo chuẩn mực khoa học thì rõ ràng "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư", hoàn toàn mâu thuẫn trong tương quan các vấn đề liên quan đến nó.
Từ những phân tích trên về hai cặp khái niệm "Thiên môn - Địa hộ", "Nam quỷ môn - Nữ quỷ môn" với tính chất bất tương hợp và không nhất quán của nó về định danh và quái khí, cho thấy một sự nghịch lý hay một bí ẩn trong quy luật sắp xếp của tám quái cần phải được chỉnh lý, để trở về với một trật tự hoàn hảo, mang tính nhất quán của một hệ thống lý thuyết.

Nhưng ngược lại, với "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ", chúng ta có thể thấy tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính hệ thống với sự hợp lý hoàn hảo của các vấn đề liên quan đến nó, được trình bày trong phần tiếp theo đây.

Còn tiếp

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHỤ CHƯƠNG

Tiếp theo

 

 2. SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ
Trên cơ sở phân tích những bất hợp lý về hai trục Thiên Địa và Quỷ Môn và sự cấu thành tương quan trạch mệnh từ cổ thư chữ Hán, người viết đi tìm một sự hợp lý cho những vấn đề tồn nghi. Và, người viết nhận thấy rằng những bí ấn, nghịch lý và tồn nghi được giải trừ, bằng sự lý giải hoàn trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
Theo tiêu chí khoa học hiện đại xác định rằng:
“Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhât quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”.
Nguyên lý lý thuyết căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", chứng tỏ tính nhất quán và hợp lý của nó trong việc giải mã những bí ấn và nghịch lý của khái niệm trục Thiên – Địa và trục Quỷ Môn.

Xin xem lại đồ hình "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", trong phân cung Đông - Tây trạch - Trong đó Tây trạch thể hiện màu đỏ; Đông trạch thể hiện màu trắng:

 

320348_zps7ce57a38.jpg

Đồ hình phân cung Bát trạch theo Phong thủy Lạc Việt

Trên nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ"

 

HadoHTLV.jpg

Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ.

Từ đồ hình Hậu thiên Lạc Việt do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh phục hồi, người viết họa lại đồ hình với hai trục khái niệm Thiên – Địa và Quỷ Môn như sau:

BQQuymonViet02.jpg

Một sự phân cung hợp lý có thể nhận ra rằng: phương Cấn – Đông Bắc vẫn là Quỷ môn với định danh là Nam quỷ môn. Điều này có sự đồng nhất giữa danh vị "Nam quỷ môn" và tượng quái Cấn (QueCaan01.jpg ) là thứ nam, trong nghĩa về tượng quái của Bát quái trong Dịch. Đồng thời đối ứng trong mối tương quan với phương Tây Nam là quái Tốn, với danh vị Nữ quỷ môn. Bởi quái Cấn tượng là thiếu nam, con trai út hợp với định danh Nam quỷ môn, lại đồng đẳng với sự định danh "Nữ quỷ môn" của quái Tốn (QueTon01.jpg), tượng là trưởng nữ, con gái cả.

Tiếp theo, xét cặp khái niệm Thiên Môn - Địa Hộ với căp quái Càn - Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt.
Cùng lý như vậy, phương Càn (
QueCan01.jpg ) Tây Bắc gọi là Thiên môn, nghĩa là cổng trời, đồng nhất giữa danh vị và tượng quái là Càn, tượng là trời, là cha, là lão ông trong nghĩa về tượng quái Càn của Bát quái trong Dịch. Đối với phương Đông Nam chủ quái là Khôn (QueKhon01.jpg) - của Hậu thiên Lạc Việt - hoàn toàn tương hợp với danh vị là Địa hộ. Thuyết quái truyện, viết:

"Càn vi thiên, Khôn vi Địa".

 

Do đó, với "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", ứng dụng trong hiện tượng định danh Thiên Môn và Địa Hộ,  cho thấy rõ ràng tính hợp lý một cách toàn diện về mọi mặt,  đến từng chi tiết ứng dụng , trong việc khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, mà nền tảng tri thức là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 Chưa hết! Chúng ta tiếp tục quán xét phương pháp Bát trạch Lạc Việt, một phần ứng dụng của khoa Phong thủy Lạc Việt, so sánh với Bát trạch theo cổ thư chữ Hán. Bát trạch Lạc Việt, cũng xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe, phe Đông trạch và phe Tây trạch. Nhưng do sự hoán vị Tốn – Khôn, nên Đông trạch sẽ gồm bốn phương tốt là Bắc, Nam, Đông và Tây Nam và tượng quái vẫn không đổi là Khảm, Ly, Chấn, Tốn, ngược lại Tây Bắc, Đông Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với tượng quái là Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch. Nhưng từ đó, chúng ta thấy được sự hoàn hảo của các vấn đề qua hình mô tả sau đây:
 

BQuaiTrucViet01.jpg

Đồ hình mô tả tương quan trạch mệnh của Bát trạch Lạc Việt.

Trên nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

Qua đồ hình trên, bạn đọc vẫn nhận thấy trục Phúc Đức của phe Đông trạch vẫn là trục Khảm (Bắc) – Ly (Nam), theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt và sơn hướng phối quái của phiên tinh Lạc Việt. Chính do sự chuyển đổi Tốn – Khôn, Hậu thiên Lạc Việt cho thấy sự xuất hiện trục Phúc Đức của người Tây trạch, ngay ở trục Thiên Môn – Địa Hộ (trục Càn – Khôn), thể hiện tính hợp lý đồng đẳng giữa phe Đông và Tây trạch, mà "Bát quái Văn Vương phối Lạc thư" không thể hiện được điều này (Ở Bát trạch theo cổ thư chữ Hán là "Sinh khí trạch". Đã trình bày ở trên).
Một sự hoàn chỉnh hợp lý khác được mở ra khi quán xét hai trục còn lại trên đồ hình Hậu thiên Lạc Việt. Trục Đông Bắc – Tây Nam với hai quái Cấn – Tốn là trục Quỷ môn với định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn, khi được xét theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt thì mệnh cung Tốn, nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Tốn thì đều phạm Tuyệt Mạng. Và theo phương pháp Phiên tinh Lạc Việt, sơn hướng phối quái sơn hậu Cấn phối Tốn hướng hoặc sơn hậu Tốn phối Cấn hướng đều là Tuyệt Mạng, gọi là Tuyệt Mạng trạch và rõ ràng đây là trục Tuyệt Mạng. Khái niệm trục Quỷ Môn đến lúc này trở nên thật tương xứng với tính chất nội tại của nó là trục Tuyệt Mạng và như vậy giữa danh và tính đã có sự hợp lý hoàn hảo mà "Hậu thiên Bát quái Văn Vương phối Lạc thư" không thể hiện được điều này.


Cùng một lý như vậy, trục Đông – Tây / Chấn – Đoài vẫn thể hiện là trục Tuyệt Mạng trên Bát quái Hậu thiên Lạc Việt.
Một cách tổng thể nhận xét "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" sẽ thấy rõ rằng:
Với hai trục trung tâm, hay gọi là đường trung tâm thì trục Thủy (Khảm) – Hỏa (Ly) hợp thành trục Phúc Đức vuông góc trục trung tâm Đông – Tây, Chấn – Đoài là trục Tuyệt Mạng thể hiện tính đối lập Âm Dương giữa một trạch – trục mang tính chất tốt nhất với một trach – trục mang tính chất xấu nhất.


Cũng như vậy với trục tứ ngung Thiên – Địa là trục Phúc Đức vuông góc, đối lập với trục trục tứ ngung, là trục Quỷ môn với nội tính là trục Tuyệt Mạng thể hiện sự đối lập Âm Dương trên tổng thể đồ hình.
Mặt khác, xét về tương quan quan ngũ hành giữa từng cặp phương đối xứng đồng trục thì tất cả đều tuân thủ theo nguyên lý ngũ hành tương khắc, như Thủy ( Khảm) – Hỏa (Ly), Kim (Đoài) – Mộc (Chấn), Cấn thuộc Mộc tương khắc với Tốn thuộc Kim - theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt - Càn là Âm kim đới thủy tương khắc với Khôn là Âm hỏa đới thổ vẫn thể hiện lý tương khắc cho một căp hành quái trên nguyên lý "Bát quái Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ". Và chính ngay khi phối các các quái lên cung vị của Hà đồ thì tính chất tương khắc về ngũ hành cung vị Hà đồ vẫn thể hiện được tính đồng nhất và tương hợp với bát quái, một cách tổng quát các quái khí đồng trục đều theo một lý tương khắc hoàn toàn nhất quán và hoàn chỉnh.

Xin xem hình mô tả dưới đây:

 

BQuaiTrucViet02.jpg

Hình mô tả tương quan phối hợp trạch mệnh trong Bát trạch Lạc Việt.

Trên nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt"

 

Từ nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", còn thể hiện quy luật cân bằng Âm Dương cho hai trục: Phúc Đức Âm với độ số Hà đồ là 6 (Càn) - 2 (Khôn), cho phe Tây trạch. Và Phúc Đức Dương với độ số là 1 (Khảm) - 7 (Ly) cho phe Đông trạch. Cùng với hai trục Tuyệt Mạng Âm với độ số 8 (Cấn) - 4 (Tốn) và Tuyệt Mạng Dương với độ số 3 (Chấn) - 9 (Đoài), cho hai phe Đông – Tây trạch.
Như vậy, sự hoàn chỉnh tuyệt vời cho việc giải mã bí ẩn, nghịch lý trục Quỷ Môn và trục Thiên Môn – Địa Hộ tồn tại từ trong cổ thư và sư phân bố tổ chức hợp lý các phương quái, đã chứng minh tính hợp lý, hoàn chỉnh và nhất quán của nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" thuộc về nền văn hiến Việt với 5000 năm lịch sử huyền vĩ.
Hơn nữa, xét theo trục từ trường Trái Đất, trục Khảm - Ly trùng với trục từ trường Bắc - Nam của quả đất dành riêng cho phe Đông trạch. Trục Tây Bắc - Đông Nam tương hợp với trục nghiêng của Trái đất cũng thể hiện là một trục chính với chiều tương tác quan trọng đồng chất dành riêng cho phe Tây trạch. Một lần nữa "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ" thể hiện tính ưu việt của nó, trong việc mô tả một thực tại tường quan giữa trái Đất và vũ trụ.

 

3. LỜI KẾT
Phong thủy là một hệ thống tri thức ứng dụng chuyên ngành vô cùng đồ sộ, hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Các vấn đề được nêu lên trong bài viết này về trục Quỷ Môn, Thiên Môn, Địa hộ chỉ là những chi tiết ứng dung trong phong thủy. Nhưng sự hiệu chỉnh với tính hợp lý hoàn hảo đến từng chi tiết này, đã chứng minh cho tính hoàn chỉnh của nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việc phối Hà đồ", được công bố bởi nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, nhân danh nền văn hiến Việt.

Tính hợp lý toàn diện từ tổng thể đến từng chi tiết của nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", trong việc phục hồi thuyết Âm Dương ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt, căn cứ theo chuẩn mực là các tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, đã chứng tỏ tính chân lý của nó.

Điều này đã xác định rằng: Chính nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, mà tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã xác định.

19 tháng Dậu năm Tân Mẹo (2011)
=================================
Tham khảo:
- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt. Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb Tổng Hợp T/p HCM 2007
- Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại. Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb Tổng Hợp T/p HCM 2003
- Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam.
- Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ.

- Chu Dịch.  Sào Nam Phan Bội Châu nhà sách Khai Trí,XB 1969.
- Nhập môn Chu Dịch dự đoán học. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Văn Hóa Thông Tin,
1996.
- Phong thủy toàn thư. Thiệu Vĩ Hoa, Nxb Thời Đại, 2009
.
- www.wikipedia.org

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy qua phần phụ chương do Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn mô tả, chắc quý vị và anh chị em cũng đã thấy rất rõ hai phần là:

1/ Việc giải mã chuyện dân gian Việt Nam liên hệ tới các cung sức khỏe, tri thức...của một mô hình biểu kiến được công bố mới nhất của phong thủy gia Đài Loan vào những năm 60 của thế kỷ XX, cũng không nằm ngoài những tri kiến từ hàng thiên niên kỷ trước của tri thức Việt. Đồng thời cũng là sự hướng dẫn hiệu chỉnh chính xác của mô hình biểu kiến trong phong thủy từ ngàn xưa mới được phát hiện gần đây. Sự kiện này nói lên điều gì?

Sự phát hiện của phong thủy gia Đài Loan vào những năm 60 của thế kỷ trước mà chính họ không hiểu nguyên lý nào lập nên mô hình biểu kiến đó, đã xác định một luận điểm của tôi, rằng: Sự sụp đổ từ hàng ngàn năm trước của nền văn minh Việt bên bờ nam sông Dương tử và bị Hán hóa từng phần trong hơn hai Thiên niên kỷ Bắc thuộc, khiến nó bị ngộ nhận thuộc về văn minh Hán. Và nền văn minh Hán chỉ là sự tiếp thu không hoàn chỉnh, mang tính cục bộ, rời rạc. Sự Hán hóa tiếp tục đến ngày nay, qua mô hình công bố mới nhất của phong thủy gia Đài Loan - nhưng chính họ lại không hiểu tại sao như vậy - đã chứng tỏ điều này.

2/ Di sản văn hóa truyền thống Việt từ hàng ngàn năm trước - dù cho ai có khó tính đến mấy, đặt vấn đề về niên đại ra đời của câu chuyện dân gian Việt Nam - thì nó cũng cũng có trước mô hình biểu kiến của phong thủy gia Đài Loan công bố vài trăm năm - đã giải mã mô hình này và một lần nữa nó xác định giả thuyết nhân danh khoa học của việc đổi chỗ Tốn Khôn.

Nhưng như anh Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn - cũng xác định rằng: Không coi sự giải mã là luận cứ khoa học. Nhưng sự giải mã này cho thấy một lần nữa - cho riêng những ai quan tâm đến cội nguồn dân tộc Việt, như một đề tài khoa học - kể cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, Urugoay, Burundi. Mễ Tây cơ, Ma rốc, Tuy Ni di, Nhật Bản, Brazin...chứ không nhất thiết cứ phải là những nhà khoa học Việt Nam - rằng: Những di sản văn hóa truyền thống Việt có mối liên hệ chặt chẽ với một nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương. Và những di sản văn hóa truyền thống đó, khi được giải mã sẽ đưa ra những giả thuyết được chứng minh bằng tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học được coi là đúng.

Tính khách quan khoa học của vấn đề cho thấy: Tinh thần yêu nước và tính khách quan khoa học là hai vấn đề khác nhau. Mỗi người đều có cách thể hiện lòng yêu nước của mình, không thể nhầm lẫn giữa tinh thần yêu nước với việc đi tìm chân lý như một vị quan khách đã công khai tại buổi trao đổi ở Cafe Trung Nguyên, cho rằng tôi chứng minh Việt sử chỉ vì lòng yêu nước. Tôi đã công khai trả lời ông ta - đại ý: Người Việt thì ai cũng yêu nước. Hồ Chủ Tịch đã nói: "Dân ta có lòng yêu nước nồng nàn...", cho nên không nhất thiết cứ phải chứng minh Việt sử 5000 văn hiến mới là yêu nước. Nếu tôi là người Mỹ gốc Anh, và có tư liệu và tư duy như tôi thì tôi cũng chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến và là cội nguồn của nền văn minh Đông Phương.

Tôi rất khó chịu về những nhận định không phản ánh đúng chân lý, nên mong quý vị và anh chị em bỏ qua những bức xúc của tôi. Những nhà khoa học Trung Quốc khi thừa nhận thuyết ADNh không phải của họ, không phải vì ủng hộ tinh thần yêu nước của tôi. Ngay cả việc này, tôi cũng không coi là một luận cứ khoa học, mà chỉ coi là một chứng nhân. Hệ thống luận cứ của tôi đủ chặt chẽ trên cơ sở chuẩn mực khoa học, mà không cần các nhà khoa học Trung Quốc thừa nhận.

Cũng trong bài viết của Thiên Đồng, cho thấy sự bất hợp lý của mô hình do chính nhà nghiên cứu dịch học hàng đầu Thiệu Vĩ Hoa - đây mới chính là hàng đầu được công nhận và có danh hiệu là "ngôi sao Bắc đẩu của Dịch học Trung Hoa", cũng chỉ biết đưa ra một mô hình ứng dụng và không hiểu tại sao như vậy. Đây cũng không phải là trường hợp duy nhất mà chính ông Thiệu Vĩ Hoa cũng không hiểu gì cả. Và Thiên Đồng đã chứng minh rằng: "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" mới chính là cơ sở hợp lý trong ứng dụng đên chi tiết của ngành phong thủy học. Đây chính là luận cứ nhân danh khoa học, khi đối chiếu với tiêu chí khoa học.

Một tiêu chí khoa học phát biểu rằng:

"Một giả thuyết nhân danh khoa học thì người ta có thể phản biện được từ những tri thức khoa học".

Trên cơ sở này, một vấn đề được đặt ra:

Những hệ thống phương pháp luận của tôi chứng minh thuyết ADNh thuộc về Việt tộc và chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học, không nằm trong hệ thống phương pháp luận của nền tảng tri thức khoa học hiện đại. Nên không có sự chia sẻ giữa những nhà khoa học và phương pháp chứng minh của tôi.

Vấn đề này được đặt ra trong một cuộc trao đổi bàn trà của tôi với một nhà khoa học có học vị tiến sĩ.

Tôi có trả lời, đại ý như sau: Trong một tập hợp A và một tập hợp B có thể có mâu thuẫn. Nhưng nếu có một tập hợp bao trùm lên cả hai tập hợp này thì sẽ giải quyết được mâu thuẫn.

Đây là điều tôi đã mô tả nhiều lần trong diễn đàn. Và thực tế ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã xác định rằng: Nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại là chuẩn mực thể hiện ở những tiêu chí cho một lý thuyết, hoặc giả thuyết khoa học, để thẩm định tính khoa học của việc mính chứng Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương với thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất mà những tri thức hàng đầu của nền văn minh hiện đại đang mơ ước. Bởi vậy, nếu cho rằng những luận cứ trong hệ thống minh chứng của tôi khác với hệ thống luận cứ khoa học hiện đại, nên không chia sẻ được thì hoàn toàn là một nhận xét không chính xác. Tất cả những nhà toán học, có phải ai cũng hiểu được bổ đề toán học của gs Ngô Bảo Châu đâu? Đâu phải tất cả những nhạc sĩ nào cũng nhận thấy tiếng đàn uyên ảo của Đặng Thái Sơn?

Rõ ràng nó còn tùy khả năng nhận thức. Trong khí đó, tôi đã xác định rõ ràng: Chuẩn mực để thẩm định và sự hội nhập giữa hai nền văn minh trện cơ sở nền tảng tri thức khoa học hiện đại có xuất xứ từ Tây phương, thông qua những tiêu chí khoa học của chính nền văn minh này, làm chuẩn mực để đối chiếu.  Đâu phải tự phong là giáo sư hàng đầu mà không hiểu thì nó phải sai và không chia sẻ được?

Bởi vậy, việc đặt vấn đề hai nền tảng tri thức khác nhau nên không chia sẻ được là sai. Vì chuẩn mực thẩm định chính là nền tảng tri thức khoa học hiện đại.

Hy vọng rằng khi tôi xác định không có sự sống trên sao Hỏa và Nasa xác nhận đúng như vậy, thì tôi nghĩ ở đấy cũng nhiều giáo sư hàng đầu.

Bởi vậy, đây là những cố gắng cuối cùng của tôi. Cái khó khăn nhất của tôi phải vượt qua, không phải là thứ lởm khởm, theo kiểu "Đồng hồ Tây không bao giờ sai", mà chính là sự kiêu ngạo nhận thức của những người tự cho mình là hàng đầu, hoặc bị cho là hàng đầu, nhưng họ không hiểu thì tất cả đều sai.

Không cần hội thảo, tôi hy vọng những ai - trong nước và quốc tế - có tâm huyết với một giá trị tri thức đích thực về một lý thuyết thống nhất vũ trụ có thể viết bài phản biện tôi một cách nghiêm túc ngay trên diễn đàn này. Những bài viết có giá trị phản biện cao, hoặc có tinh thần khoa học nghiêm túc (Dù phản biện sai), tôi sẽ đưa lên đây và biện minh. Còn những bài viết lởm khởm, kiểu "mục đích gì?"; "ứng dụng vào việc gì?"...thì tôi đề nghị ông Nguyễn Văn Trọng hãy gửi thư hỏi SW Hawking.

Ngay các phần sau đây trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" sẽ trình bày thêm những ứng dụng của thuyết ADNh trong nền văn minh Đông phương, ngoài những ứng dụng thể hiện rất rõ từ hàng thiên niên kỷ, như: Đông y, phong thủy, dự báo.....

===============

PS: Có một nhà khoa học  - tuy không phải hàng đầu, những cũng đứng đầu một tổ chức khoa học - nghiên cứu cái bàn xoay tự nhiên khi người ta đặt hờ bàn tay lên đấy, bằng cách dùng những quả cầu làm nó không quay và tuyên bố hùng hồn "Mê tín dị đoan". Báo đăng rầm rầm. Hôm nào có dịp tôi đề nghị các nhà khoa học Nasa dùng keo dính chuột bơm vào vài bộ phận điện tử nhạy cảm của tên lửa vũ trụ, nếu nó không bay lên được thì cũng thành "mê tín dị đoan".

Bài này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Trong buổi trao đổi tại Cafe Trung Nguyên 19 B Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Vật lý lý thuyết hàng đầu Nguyễn Văn Trọng đã đặt câu hỏi không hiểu tôi chứng minh Kinh Dịch và thuyết ADNh của Việt Nam để làm gì, có mục đích gì...

http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/33293-trao-doi-tai-cafe-trung-nguyen-30-8-2014/

Nhưng ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương",chúng tôi đã mô tả rất rõ mục đích của cuốn sách này là minh chứng để xác định: Việt sử gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Đồng thời chính những giá trị đích thực này của nền văn minh Đông phương, là cơ sở để có sự hội nhập giữa hai nền văn minh. Bởi vì, thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất mà những tri thức hàng đầu của nền văn minh nhân loại đang mơ ước. Mục đích và ứng dụng của lý thuyết thống nhất vũ trụ đã được nhà vật lý lý thuyết hàng đầu thứ thiệt nói tới trong tác phẩm của ông "Lược sử thời gian". Đó chính là SW Hawking, khi ông xác định rằng:

 

Vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó (Lý thuyết thống nhất) được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

S.W. Hawking

 

Nhận định của ông hoàng vật lý lý thuyết SW Hawking đã được trích dẫn ngay từ đầu trong Chương III của phần III của cuốn sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", mà quý vị và anh chị em sẽ xem tiếp dưới đây. Mọi chuyện rất rõ ràng, rành mạch.

Vậy tại sao một giáo sư vật lý lý thuyết được giới thiệu là hàng đầu của Việt Nam như giáo sư Nguyễn Văn Trọng, lại đặt vấn đề mục đích của cuốn sách? Tại sao một nhà nghiên cứu Đông Y cũng có tên tuổi lại đặt vấn đề về lòng yêu nước cho cá nhân tôi? Hay nói cách khác: Họ hướng tới cá nhân tôi hơn là một phản biện khách quan khoa học.

Họ làm việc này có mục đích gì?

Bởi vậy, tôi công khai đăng tải toàn bộ nội dung cuốn sách này trước các nhà khoa học và các nhà nghiên  cứu quan tâm, trong nước và quốc tế để có nhận xét khách quan. Tất nhiên nó không phải để bán qua mạng điện tử với vài cent. Tôi không phải không cần tiền. Nhưng tôi cần làm sáng tỏ chân lý.

Bài này không có trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương"

 

 

CHƯƠNG III

TÍNH ỨNG DỤNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI.

Vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó (Lý thuyết thống nhất) được thấu triệt

và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định

về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

S.W. Hawking

MỞ ĐẦU

Trong phần II.II, chúng tôi đã chứng minh tính hợp lý toàn diện của nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", nhân danh nền văn hiến Việt và được phục hồi từ những di sản của nền văn hóa truyền thống Việt, trong cấu trúc nội hàm của nguyên lý này.

Trong phần III, ở các chương đầu, chúng tôi đã chứng minh trên cơ sở lấy chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, thể hiện khả năng giải thích một cách hợp lý của "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" một cách toàn diện, trên khắp các vấn đề liên quan của các phương pháp ứng dụng thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành: Từ cơ sở ứng dụng của Lý học là bảng tuần hoàn phân loại thời gian theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, vốn bí ẩn hàng ngàn năm qua, đã sáng tỏ với danh xưng "Lạc thư hoa giáp"; cho đến mọi vấn đề trong các phương pháp ứng dụng có tính lý thuyết là: Đông y, Phong thủy, đến các môn dự báo: Tử Vi, bốc Dịch...Sự giải thích hợp lý và toàn diện trên mọi lĩnh vực liên quan này, hoàn toàn nhất quán, có tính hệ thống, tính hoàn chỉnh, tính quy luật, khách quan và khả năng tiên tri.

Hay nói cách khác:

Nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đã thể hiện tính khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, trên cơ sở đối chiếu với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Hà đồ - "Pháp đại uy nỗ" - nhân danh nền văn hiến Việt được phục hồi từ những di sản văn hóa truyền thống Việt, đã chứng tỏ là một mô hình biểu kiến tích hợp với những ký hiệu mô tả những quy luật tương tác của vũ trụ với Địa cầu là "Hậu thiên Lạc Việt",  nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chi phối mọi sinh hoạt đời sống của con người của một học thuyết bao trùm lên mọi phương diện với khả năng tiên tri.

Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, không chỉ dừng lại ở sự miêu tả những qui luật tương tác của tự nhiên trong không gian vũ trụ đối với đời sống con người, đến từng hành vi qua các mô hình tiên tri. Mà nó còn mô tả tính quy luật của tự nhiên được ứng dụng trong các vấn đề văn hóa, xã hội với  mọi mối quan hệ xã hội liên quan đến cuộc sống của từng con người và đến toàn thể xã hội loài người.

Trong những cố gắng đi tìm một lý thuyết thống nhất có thể mô tả toàn thể quy luật tương tác của vũ trụ, chi phối mọi vận động của lịch sử vũ trụ, tự nhiên và cuộc sống của con người, nhà vật lý thiên văn tên tuổi SW Hawking đã đặt vấn đề:

 

Vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó (Lý thuyết thống nhất) được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

(Lược sử thời gian. S.W. Hawking).

 

 

Do đó, sẽ là một khiếm khuyết, nếu như trong tiểu luận này, chúng tôi không để cập đến những quy luật vũ trụ được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã ứng dụng trong những quy luật xã hội và cuộc sống của con người với khả năng tiên tri, trong tất cả các vấn đề hình thái ý thức xã hội trong mọi lĩnh vực. Từ tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục và các vấn đề liên quan đến những hình thái ý thức xã hội khác liên quan đến cuộc sống con người từ thuyết Âm Dương Ngũ hành. 

Cho nên, trong chương III. Phần II. II, thông qua những di sản văn hóa truyền thống Việt,  chúng tôi tiếp tục mô tả những định đề, nguyên lý và những khái niệm.... của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan đến mọi giá trị hình thái ý thức xã hội và chi phối cuộc sống con người. 

 

 

III.1.  TAM DƯƠNG KHAI THÁI

TRONG DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT

 

Trong những di sản văn hóa truyền thống Việt còn lại, sau hàng ngàn năm thăng trầm của Việt sử, có một bức tranh rất độc đáo thuộc về dòng tranh làng Đông Hồ. Bức tranh đẹp về hình tượng miêu tả là hai con gà trống co chân nhìn vào nhau, được cách điệu rất xuất sắc với gam màu nóng như rực lửa. Trong bức tranh có hàng chữ chú thích: "Tam Dương khai thái".

 

3602367_zps6544c88d.jpg

Tam Dương khai thái

Tranh dân gian Đông Hồ

 

Nhưng "Tam Dương khai thái" là gì?

 

1.1. "TAM DƯƠNG KHAI THÁI" TRONG DI SẢN VĂN HÓA HÁN.

Từ trước đến nay, có nhiều cách hiểu về "Tam Dương khai thái".

Người Hán cho rằng: Dương là con Dê. Và họ mô tả "tam dương" là ba con dê sẽ mang lại những điều tốt đẹp. Trong khoa bói toán chuyên ngành của Đông Phương là Tứ Bình (Còn gọi là "Tứ trụ"), trong các sách chữ Hán hiện đại cũng dịch một yếu tố gọi là "Kình Dương", nghĩa là "sống dê".

Với hình tượng ba con dê mang lại sự may mắn trong cuộc sống, văn hóa Hán đã mô tả như sau:

 

3591366_zps3805ea56.jpg

Tranh "tam Dương khai thái" theo quan niệm từ văn hóa Hán.

 

Trong văn hóa Hán, người ta còn cho rằng với hình tượng ba con dê sẽ đem lại điềm lành trong việc kích hoạt khí tốt trong nhà theo quan niệm phong thủy từ cổ thư Hán.

3601_zps4f2db336.jpg

Hình tượng "Tam Dương khai thái" được coi là tốt lành dùng trong phong thủy từ văn hóa Hán.

Nguồn web noithat108.com

 

Không chỉ dừng lại ở đây, do cái gọi là "ảnh hưởng văn hóa Hán" (thực chất do tính biến thái vì hiểu sai khi tiếp thu một nền tri thức kỳ vĩ của nền văn hiến Việt từ hàng ngàn năm trước); cho nên, ngay trong các hình ảnh trình bày trên lịch của ngay năm 2014, người ta cũng mô tả "tam dương khai thái" là ba con dê:

 

361_zps369e519d.jpg

 

1.2.  TAM DƯƠNG KHAI THÁI THEO CÁCH GIẢI THÍCH KHÁC.

Ngoài cách hiểu có xuất xứ từ nền văn hóa Hán mà người viết đã mô tả ở trên, thì cũng có người cho rằng "Tam Dương khai thái" là mô tả phương Đông thuộc Chấn Mộc, có độ số 3 Dương theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Trong tranh Đông Hồ mô tả hai con gà trống. Tức là gà gáy thì mặt trời mọc ở phương Đông  (số 3, Dương) và khi mặt trời mọc thì cuộc sống của một ngày mới bắt đầu với hy vọng của sự tốt lành, cho nên gọi là "Tam Dương khai thái".

 

Nhưng không lẽ cả một bức tranh với tựa đề “Tam Dương khai thái”, với chữ Dương được mô tả là một vế của phạm trù Âm Dương của cả một nền tri thức học thuật cổ Đông phương trong chủ đề của bức tranh, lại chỉ để chúc cho một ngày tốt lành hay sao?

Mâu thuẫn trong cách lý giải này là có đến hai con gà trống đối nhau. Nếu gà gáy mặt trời mọc thì chỉ cần một con gà trống là đủ:

 

362_zpsa6aa6b08.jpg

Gà trống.

Tranh dân gian phường Hàng Trống

 

Với bức tranh thể hiện một con gà trống như trên, nếu mô tả là "Tam Dương khai thái" thì có thể giải thích theo cách đơn giản là gà gáy sáng mở đầu cho một ngày mới bắt đầu với hy vọng một ngày mới tốt lành.

Nhưng ở đây lại là hai con gà trống đối mặt nhau? Chứng tỏ người vẽ phải gửi gấm một ý tưởng trong hình tượng này.

 

1.3.  TAM DƯƠNG KHAI THÁI TRONG DI SẢN VĂN HÓA VIỆT

VÀ QUẺ ĐỊA THIÊN THÁI TRONG KINH DỊCH.

Trước khi giải mã bức tranh, người viết xin được trình bày một hiện tượng trong kinh Dịch như sau:

Trong 64 quẻ Dịch thuộc hệ thống Hậu thiên Bát quái có một quẻ tên là “Địa Thiên Thái” có ký hiệu như sau:

 

QueThai.jpg

Trong quẻ này có 3 vạch liền (QueCan01.jpg ), đó là 3 hào thuộc Dương gọi là quái Càn và 3 vạch đứt (QueKhon01.jpg ) là ba hào thuộc Âm gọi là quái Khôn. Tên bức tranh “Tam dương khai thái” đã nói đến ba hào Dương này, còn 3 hào Âm ở đâu?

Chúng ta bắt đầu từ biểu tượng mặt trời mọc ở phía lưng giáp đuôi hai con gà. Biểu tượng mặt trời cho thấy toàn bộ bức tranh này thuộc về hành Hỏa. Trong kinh Dịch cũng nói quẻ Ly thuộc phương Nam, hành Hỏa và là biểu tượng của mặt trời.

Thuyết quái viết: “Ly vi Hỏa, vi Nhật…”.

Bây giờ chúng ta trở lại với đồ hình Hậu thiên bát quái. Trong bản văn cổ chữ Hán cho rằng Hậu thiên Bát quái do vua Chu Văn Vương tạo ra căn cứ trên đồ hình Lạc thư:

Lacthu11.jpg

 

Về vấn đề này, người viết đã chứng minh với bạn đọc ở phần trên về tính bất hợp lý của đồ hình Hậu thiên Bát quái trong bản văn cổ chữ Hán và phải đổi vị trí của hai quẻ Tốn và Khôn. Đồng thời, sau khi đã đổi chỗ hai quẻ Tốn và Khôn, đồ hình Hà đồ chính là đồ hình tích hợp một cách hoàn chỉnh với Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt.

HadoHTLV.jpg

Qua đồ hình trên, bạn đọc sẽ nhận thấy rằng: Quẻ Ly nằm ở vị trí Dương Hỏa phù hợp với vị trí của nó mà Thuyết quái đề cập đến (“Ly vi Hỏa, vi Nhật…”). Đồng thời quẻ Khôn nằm ở vị trí Âm Hỏa, độ số là 2. Nếu đặt vấn đề là: Trong trường hợp Hậu thiên Bát quái liên hệ với Lạc thư, như cổ thư chữ Hán nói đến, thì quái Khôn vẫn nằm ở vị trí Âm Hỏa độ số 2. Điều này đúng như vậy. Và đây cũng chính là sợi tóc cản trở góp phần tạo nên sự bí ẩn trải hàng thiên niên kỷ cho cuốn kỳ thư Đông phương này , khi nó đã thiếu khuyết hẳn một hệ thống lý thuyết cho nó, khiến rất khó phát hiện ra sự sai lệch của nó qua phương pháp ứng dụng. Do độ số (2) và tính chất (Âm Hỏa) không đổi, nó chỉ sai lệch khi ứng dụng trong sự vận động liên quan đến phương vị của quái Khôn. Sự thay đổi phương vị của quái Tốn & Khôn là một trong những sự thay đổi có tính căn để trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái. Đó cũng là sự thay đổi phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học, mà chúng tôi đã chứng minh trong tiểu luận này qua những di sản văn hóa truyền thống Việt.

Trong trường hợp này là sự hợp lý với hình tượng được thể hiện trong bức tranh dân dã Lạc Việt nói trên: Mặt trời biểu tượng của quái Ly thuộc Hỏa, lại là một bộ phận của chính con gà được cách điệu thành hình mặt trời. Do đó, nó phải liên quan và cùng hành Hỏa của quái Ly. Trong khi đó, nếu theo cổ thư chữ Hán thì mặc dù số của quái Khôn (queKhon.jpg ) cũng có độ số 2 và thuộc Âm Hỏa; nhưng lại liên quan và đồng hành với quái Đoài thuộc Kim (trong hành Hỏa trên Lạc thư).

Như vậy, bức tranh này chính là biểu tượng của quẻ Địa Thiên Thái và cho biết quái Khôn phải cùng hành với quái Ly thuộc Hỏa, được biểu tượng bằng 2 con gà quay mặt vào nhau (đối xứng âm dương) có mặt trời phía sau. Tương ứng với độ số của quái Khôn trong "Hậu thiên Bát quái Lạc Việt phối Hà đồ".

Như vậy, bức tranh Gà của làng tranh Đông Hồ với sự mô tả “Tam Dương khai thái” có thể giải thích là: bắt đầu từ ba hào dương (queCan.jpg ) hãy tìm vị trí của quái Khôn ( queKhon.jpg) trở thành quẻ “Địa Thiên Thái” là một quẻ cho vận hạn tốt của vũ trụ. Đây cũng chính là nội dung sâu xa của bức tranh này.

Vấn đề tiếp tục được đặt ra:

Tại sao lại là "Tam Dương khai thái" và quẻ Địa Thiên Thái có nội dung gì?

Trong kinh Dịch, quẻ Địa Thiên Thái là quẻ thứ 11 trong hệ thống 64 quẻ của Hậu thiên Bát quái Lạc Việt.

Tự quái truyện viết:

"Có lệ, mới có yên. Cho nên tiếp tục là quẻ Thái. Thái là thông".

Thoán truyện viết:

"Thái, tiểu vãng, Đại lai, cát hanh. Như thế trời đất giao nhau mà vạn vật thông vậy. Trên dưới giao nhau mà chí hướng như nhau. Dương ở trong, mà Âm ở ngoài. Trong mạnh mà ngoài thuận. Quân tử ở trong,mà tiểu nhân ở ngoài. Đạo quân tử lớn lên, đạo tiểu nhân tiêu đi".

Đại tượng truyện viết:

"Trời đất giao nhau là Thái. Nhà vua lấy đó mà phân ra và hoàn thành đạo trời đất, quy định phân phối các món quà của trời đất mà giúp dân".

Như vậy, với chính văn của Tự quái truyện, Thoán truyện và Đại tượng truyện trong kinh Dịch, hoàn toàn mô tả mối quan hệ giữa hình thái ý thức xã hội và các mối quan hệ xã hội, được quyết định bởi thượng tầng kiến trúc xã hội:

"Nhà vua lấy đó mà phân ra và hoàn thành đạo trời đất, quy định phân phối các món quà của trời đất mà giúp dân".

Như chúng tôi đã trình bày và chứng minh: hệ thống Bát quái chính là những ký hiệu mô tả sự tuần hoàn của vũ trụ thể hiện quy luật vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự tích hợp của mô hình Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ (Mô hình biểu kiến phản ánh quy luật vận động của các hành tinh trong Thái Dương hệ . Đã chứng minh). Do đó, quẻ Địa Thiên Thái cũng chính là một trong chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ, phản ánh quy luật của vũ trụ trong sự tương tác với trái Đất và con người. Nhận thức được quy luật của vũ trụ, con người ứng dụng trong các sinh hoạt cuộc sống, xã hội và mọi mối quan hệ xã hội của con người. Nên chính văn trong kinh Dịch đã lý giải như trên.

Như vậy, nội dung quẻ Địa Thiên Thái hoàn toàn mô tả sự ứng dụng những quy luật vũ trụ trong việc thể hiện mối tương quan giữa hinh thái ý thức xã hội và các mối quan hệ xã hội.

Điều này hoàn toàn phù hợp với sự mô tả của SW. Hawking thể hiện trong cuốn "Lược sử thời gian" nổi tiếng của ông:

 

Vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó (Lý thuyết thống nhất/ Người viết) được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.

 

Sự trùng khớp khi so sánh đối chiếu với chuẩn mực là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất nhân danh khoa học, đã chứng tỏ thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất, với ngay cả sự ứng dụng trong giả thuyết của nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng của nền văn minh hiện đại.

Nhưng "Tam Dương" là gì?

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Có một vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành hết sức quan trọng, mà tôi chưa mô tả những nét chính có tính chuyên đề  trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Nhân gân đây, rộ lên những thắc mắc trong dư luận xã hội Việt về tháng Chín nhuận trong năm Giáp Ngọ Việt lịch, khiến tôi nhận thấy cần bổ sung thêm về vấn đề này. Tức các nội dung khái quát liên quan đến Việt lịch (Tức Âm lịch Đông phương). Và cũng qua vấn đề này, mục đích làm sáng tỏ tính vượt trội những giá trị của nền tri thức Đông phương cổ đại, so với kiến thức thiên văn của nền văn minh hiện đại. Tất nhiên, nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử.

Tôi xin được bắt đầu từ bài viết được đăng tải trên web khoahoc.com.vn và lời bình của tôi đã thể hiện trong chuyên mục "Quán vắng", diễn đàn lý học Đông phương.

 

Tính tháng nhuận trong âm lịch như thế nào?

Khoahoc.com.vn

Cập nhật lúc 08h20' ngày 28/ 10/ 2014

 

Để tính tháng nhuận cũng như tính âm lịch nói chung, con người phải xác định các điểm Sóc và các điểm trung khí, tức là phải tính chính xác vị trí của Mặt trăng cũng như Trái đất trên quỹ đạo chuyển động.

Cách tính tháng nhuận âm lịch

 

Ông Trần Tiến Bình, chuyên gia nghiên cứu về lịch, từng làm ở Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam gửi VnExpress bài viết về cách tính tháng nhuận trong năm, đồng thời chỉ ra những điều ngộ nhận thường thấy trong cách tính lịch:

Mọi người thường nhắc đến ngày mồng Một âm nhưng không phải ai cũng rõ ý nghĩa vật lý của ngày này. Ngày mồng Một âm là ngày mà Trái đất, Mặt trăng và Mặt trời theo thứ tự nằm thẳng hàng. Mặt trăng quay nửa tối về phía Trái đất (nên người ta thường nói tối như đêm 30). Thời điểm này gọi là Sóc. Nếu hai thời điểm Sóc kế tiếp (sau khi làm tròn đến ngày) cách nhau 29 ngày thì tháng đó thiếu; còn cách nhau 30 ngày thì là tháng đủ.

Nếu lịch chỉ gồm việc xác định các điểm Sóc liên tiếp thì ta sẽ có lịch âm giống như lịch Hồi giáo và lịch này sẽ bị lệch một cách hệ thống so với năm thời tiết (dương lịch) vì 12 tháng âm tổng cộng chỉ có trung bình xấp xỉ 354,36 ngày.


thang-nhuan-am-lich.jpg

Tháng 9 thứ hai trong năm là ngày 24/10 dương lịch.

 

Để có lịch không những tuân theo tuần trăng mà còn phù hợp với thời tiết khí hậu, người xưa đưa vào lịch cả các yếu tố liên quan đến vị trí của Trái đất trên quỹ đạo quanh Mặt trời (hay vị trí của Mặt trời di chuyển trên Hoàng đạo nếu nhìn từ Trái đất). Do vậy lịch chúng ta đang dùng, gọi chính xác là lịch âm dương, thay vì âm lịch, vì người xưa ví Mặt trăng đại diện cho âm và Mặt trời là dương.

Các yếu tố liên quan đến vị trí của Trái đất trên quỹ đạo quanh Mặt trời được thể hiện qua khái niệm gọi là Khí, mà con người hay gọi là Tiết khí. Có 24 khí trong năm dương lịch tương ứng với 24 vị trí của Trái đất quanh Mặt trời, 24 khí bao gồm 12 tiết khí và 12 trung khí xen kẽ nhau như xuân phân là trung khí, tiếp theo thanh minh là tiết khí, kế đến cốc vũ lại là trung khí...

Trong 24 khí thì 12 trung khí đặc biệt dùng để tính lịch, còn 12 tiết khí kia chỉ đánh dấu thêm thời tiết, mùa vụ trong năm. 12 trung khí tính từ Đông chí (khoảng 21/12 dương lịch) của năm này đến Đông chí năm sau vừa vặn một vòng quay của Trái đất quanh Mặt trời.

Người xưa so sánh 12 tháng âm lịch với 12 trung khí để cho năm âm lịch không bị lệch với thời tiết khí hậu. Nếu trong khoảng giữa hai Đông chí chỉ có 12 điểm Sóc tương ứng với 12 tháng âm thì năm đó không có tháng nhuận. Còn nếu trong khoảng thời gian này có 13 điểm Sóc thì sẽ xuất hiện một tháng âm dư ra không tương ứng với trung khí nào và tháng đó sẽ là tháng nhuận.

Như vậy tính các điểm Sóc thì ta biết được các ngày trong tháng, nhưng để biết tháng đó là tháng mấy thì phải tính thêm các trung khí để biết có tháng nhuận trong năm hay không. Ngoài ra tháng 11 âm luôn luôn chứa trung khí có tên là Đông chí, đây là cơ sở để đánh số các tháng khác.

Nói nôm na vậy, còn định nghĩa chính xác thì tháng đầu tiên không chứa trung khí sẽ là tháng nhuận và có tên trùng với tháng trước nó. Thí dụ năm nay tính từ Đông chí 2013 đến Đông chí 2014 có 13 tháng âm và tháng sau tháng 9 âm không có trung khí nên là tháng 9 nhuận.

Như vậy để tính tháng nhuận cũng như tính âm lịch nói chung, ta phải xác định các điểm Sóc và các điểm trung khí, tức là phải tính chính xác vị trí của Mặt trăng cũng như Trái đất trên quỹ đạo chuyển động.

Tại sao phải tính chính xác chứ không lập bảng biểu hay nhẩm số dư trong phép chia? Trong dẫn chứng ở trên điểm Đông chí năm 1984 xảy ra vào lúc 23h23 ngày 21/12 giờ Hà Nội, tức 0h23 ngày 22/12 giờ Bắc Kinh. Do lệch một ngày mà giữa hai điểm Đông chí năm đó theo lịch Việt Nam chỉ có 12 điểm Sóc, tức không có tháng nhuận còn lịch Trung Quốc lại nhuận tháng 10.

Việc tính chính xác đến phút các điểm Sóc hay trung khí là một bài toán cơ học không hề đơn giản, nhất là trong trường hợp Mặt trăng chịu ảnh hưởng nhiễu loạn không những từ sức hút của Trái đất hay Mặt trời mà còn của nhiều thiên thể khác như sao Mộc, sao Thổ....

Cũng không thể cứ cho rằng việc tính lịch đã chính xác từ hàng triệu năm rồi. Khi áp dụng các mô hình thiên văn hiện đại phát triển trong vài chục năm gần đây, những nhà nghiên cứu đã thấy là lịch Việt Nam năm 1997 bị sai một chỗ, đó là ngày mồng Một âm rơi vào 23h56 ngày 29/12, chứ không phải phải là ngày 30/12 như công bố, nhưng vì là quá khứ nên không xét lại. Ngay cả lịch Trung Quốc do Đài thiên văn Tử Kim Sơn công bố cũng có điểm sai lệch so với dữ liệu của Đài thiên văn Naval (Mỹ).

====================

Tôi nghĩ tất cả những ai có tìm hiểu dù chỉ chút ít về Lý học Đông phương đều biết rằng: Một giờ theo Lý học - được mô tả bằng 12 con giáp, tức 12 giờ một ngày - bằng hai giờ trong "Đồng hồ Tây", tức 24 giờ một ngày. Và người xưa tính Âm lịch theo cách tính giờ Đông Phương. Cho nên từ 23g khuya hôm trước đến 1g sáng hôm sau được coi là giờ Tý và bắt đầu một ngày mới (Tùy từng tháng và địa phương có thể xê xích tối đa tới 40 phút theo đồng hồ Tây). Do đó, với cách tính theo đoạn trích dẫn trên thì điểm Đông chí dù xảy ra vào 23g 23 phút giờ Hanoi, 21/ 12; hay Bắc Kinh  0g 23, ngày 22/ 12 - thì đều rơi vào giờ Tý của ngày 22/ 12. 1984. Tức là Trung khí rơi vào ngày hôm sau theo giờ Đông phương - ứng dụng trong phương pháp tính lịch Đông phương khi chưa có "đồng hồ Tây". Bởi vậy, đáng nhẽ ra phải có nhuận tháng 10 âm mới đúng.

Do phương pháp tính sai - "Lấy giờ Tây, tính lịch Tàu, theo lối Ta" - cho nên thật buồn cười khi Âm lịch Việt Trung chênh nhau một tháng. Mùa Đông Tàu đến muộn hơn mùa Đông Việt cả một tháng lận. Đây là một phương pháp sai vì thiếu tính nhất quán và tính hệ thống, cho nên nó mới lởm khởm trên thực tế phản ánh thời tiết như vậy.

Khổ nỗi, "Đồng hồ Tây thì không bao giờ sai". Nên ứng dụng "lấy giờ Tây, tính lịch Tàu theo lối Ta". Đã vậy còn lôi cả đài Thiên văn Mỹ vào cuộc nữa cho nó đủ văn minh Âu Mỹ, Đông Tây hội nhập. Híc!

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Từ khi văn minh phương Tây tràn vào Việt Nam và chưa được "Lý học công nhận", các cụ nhà ta - tức tổ tiên của người Việt - thường phân biệt lịch Ta với lịch Tây. Chứ không bao giờ gọi là "lịch Tàu" với lịch Tây cả. Chẳng qua sau này, khi cái nền khoa học hiện đại của Thái Tây, được phổ biến trên xứ Việt trở thành nền tảng tri thức xã hội - Tây gọi là "văn minh khai hóa" - và các trí giả Tây học, "nói tiếng Tây ngậu xị cả phố" (Ấy là cụ Nguyên Công Hoan mô tả thời Tây còn xâm lược nước ta),  tiếp thu cái gọi là văn minh Thái Tây, mới phân biệt lịch Tây với Âm lịch và gọi là "lịch Tàu". Ấy là họ ý muốn thể hiện nguồn gốc lịch Ta từ Tàu mà ra, để thể hiện kiến thức cứ tưởng là hàn lâm, nhưng thực ra dốt nát của họ. Chứ gốc của xứ Việt từ ngày xưa vẫn chỉ nói "Lịch Ta", chứ chưa bao giờ nói "lịch Tàu".

Các cụ nhà ta nói thì rất có "cơ sở pha học" - tức là cứ từ đúng trở lên - chứ không hàm hồ như mấy ông viện sĩ, giáo sư sau này. Một trong những bằng chứng - và không phải là duy nhất - là các tháng thứ 11, 12 và tháng 1 Việt lịch, các cụ không bao giờ gọi theo thứ tự là tháng 11 , tháng 12, và tháng 1, mà goi là tháng "Một"( 11); "Chạp" (12) và "Giêng" (1). Cách gọi này khác hẳn lịch Tàu và nó có nguyên nhân của nó, xin trình bày sau.

Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nước Tàu tiếp tục làm lịch theo cách của quốc gia Văn Lang xưa, kéo dài tiếp theo 1000 năm sau đó, khi Việt tộc hưng quốc ở vùng lãnh thổ Việt Nam hiện này. Nên những vị học giả "vờ", với cách nhìn trực quan, cứ ngỡ là Tàu là nguồn gốc của Âm lịch. Nhưng phương pháp làm lịch và hiểu bản chất của Âm lịch là hai vấn đề khác nhau. Về bản chất của Âm lịch thì chính người Tàu cũng chẳng hiểu gì cả.

 

Ai về nhắn họ Hy Hòa.

Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh.

Ca dao Việt

 

Họ Hy, họ Hòa là hai người theo truyền thuyết được coi là của Tàu, tuân lệnh vua Nghiêu làm lịch (Có sách nói là vua Thần Nông). Mà các cụ nhà ta còn có câu ca dao thách đố như vậy, đủ hiểu tri thức thiên văn của người Việt cổ sâu sắc như thế nào.

Tri thức của nên văn minh hiện đại, vài trăm năm trở lại đây, mới biết mỗi năm trái Đất quay quanh mặt trời là 365 ngày + 1/4 ngày (6 giờ tương đương 3 canh giờ Âm lịch) - Tức "vài trống canh". Vậy mà các cụ nhà ta đã biết từ xưa và thách đố một biểu tượng của lịch Tàu là họ Hy, Hòa một vài trống canh này.

Bởi vì, tri thức thực tế và lý thuyết của riêng ngành Lịch học cổ Đông phương - quen gọi là Âm lịch - vô cùng phong phú và cao cấp. Nó không đơn giản như cách hiểu hời hợt của các học giả "vờ" mần lịch hiện nay của nền văn minh hiện đại và cả những nhà làm lịch Tàu ở Tử Kim Sơn, tọa lạc tại Nam Kinh bên Tàu, từ hàng ngàn năm nay.

 

Purple_mountain.jpg

Đài Thiên văn Tử Kim Sơn ở Nam Kinh, tức Nam Dương Tử, thuộc Trung Quốc hiện nay.

Đài thiên văn này có một lịch sử rất lâu đời, nó đã trở thành phế tích từ hàng ngàn năm trước và được phục hồi lại sau này. Đã có một thời các nhà khoa học và chính trị gia Trung Quốc lục địa đòi phế bỏ đài thiên văn này, nhưng ngài Mao Trạch Đông không đồng ý.

 

Thưa quý vị và anh chị em.

Từ vài trăm năm trở lại đây, nền văn minh Tây, nhờ sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật, mới có nhiều tiến bộ trong ngành Thiên văn học. Họ xác định được các điểm Đông chí, Hạ chí... trong tương quan vận động giữa trái Đất và mặt trời. Họ cũng xác định chính xác trái Đất quay quanh mặt Trời hết 365 ngày +1/4 và xác định được chu ký mặt trăng quay quanh trái Đất. Cho nên, họ xác định được Việt lịch hiện nay chính xác là Âm Dương lịch. Tức là lịch kết hợp chu kỳ mặt trăng và mặt trời liên quan đến Địa cầu. Nhưng mọi nhận thức của nền văn minh hiện đại mới chỉ dừng lại ở đây và không có tiến bộ gì thêm trong vòng 50 năm trở lại đây với nhận thức thiên văn liên quan đến lich pháp Đông phương - tức Việt lịch.

Bởi vậy - từ một cách nhìn đơn giản, thiển cận với sự sùng bái văn minh Tây phương - nên không thiếu gì những học giả, cũng bằng cấp lùng bùng, lớn tiếng đòi xóa bỏ Âm lịch Việt để hội nhập trọn vẹn với thế giới văn minh Tây phương. Họ còn dẫn chứng một cách khập khiễng, rằng:

Nhật Bản trong cuộc cải cách của Nhật Hoàng Minh Trị đã xóa bỏ Âm Lịch  và cải cách xã hội, nên theo kịp đà tiến hóa của văn hinh hiện đại. Mặc dù, chẳng có mối liên hệ nào giữa sự thành công trong cải cách của Nhật Hoàng Minh Trị với sự xóa bỏ Âm lịch cả. Chế độ quân chủ lập hiến theo truyền thống Nhật vẫn tồn tại đến ngày hôm nay trong một nước Nhật hùng mạnh. Thái Dương Thần nữ vẫn là cội nguồn của dân tộc Nhật Bản, siêu cường thứ ba của thế giới văn minh. Truyền thống văn hóa Nhật Bản vẫn là cội nguồn và là nền tảng cho sự phát triển của Nhật Bản. Không như đám Tây học nửa mùa tầm nhìn và khả năng tư duy hạn chế, hơi một tý nhẩy dựng lên phủ nhận những giá trị, thâm chí phá hoại cả những giá trị văn hóa truyền thống Việt, nhân danh nền văn minh hiện đại.

Cách đây 25 năm, tôi chơi một trò chơi điện tử có tên "Chính phục vũ trụ". Mở đầu trò chơi là hình ảnh một cô gái Nhật, mặc bộ y phục truyền thống bước đến một cái cồng gõ một tiếng. Tiếng cồng âm vang, mở đầu cho hình ảnh những con tàu vũ trụ lao vào không gian và trò chơi bắt đầu. Tất nhiên, không phải người dân Nhật nào cũng có ý thức như vậy. Nhưng hình ảnh trong trò chơi này, đã chứng tỏ những trí giả Nhật rất có ý thức về những di sản văn hóa Nhật là nền tảng cho sự phát triển.

Có thể nói, hầu hết những quốc gia phát triển bền vững và là siêu cường, đều rất tôn trọng và bảo vệ những di sản văn hóa của đất nước họ.

Thâm chí người Pháp trong Đại chiến thế giới lần II, đã rút khỏi Paris, để tránh cho thành phố có nhiều di sản văn hóa này bị phá hoại. Có lẽ tôi cần phải minh họa một cách cụ thể như thế này: Một lần tôi đi bộ xuống lòng đường ở một khu phố cũ tại New Yoork. Tôi vấp phải một cái cục nhựa đường gồ lên trên mặt đường, do nắng nóng làm nó bị chảy, bánh xe làm nó gồ lên. Tôi phàn nàn: "Ở một thành phố hiện đại vào bậc nhất thế giới, mà cái lòng đường rải nhựa cũng không nên hồn". Người đi cùng với tôi nói: "Không phải đâu anh ạ! Đây là khu phố cổ, đã có hơn 100 năm tuổi. nên họ giữ lại cả cái vết nhựa đường chảy từ ngày xưa thôi".

Đấy là một khu phố cổ kiểu Mỹ, nên nó chỉ hơn 100 năm tuổi, đã là cổ lắm rồi và họ trân trọng đến cả cái vết trồi của nhựa đường nóng chảy từ hơn 100 năm trước.

Tất cả những gì tôi trình bày là những di sản vật thể, còn Âm lịch chính là di sản phi vật thể và hơn thế rất nhiều, nó ẩn chưa trong nội hàm của nó toàn bộ những tri thức thiên văn với mối liên hệ tương tác vô cùng đồ sộ và liên quan đến cả một học thuyết Âm Dương Ngũ hành với sự vượt trội hơn hẳn tri thức thiên văn của nền văn minh hiện đại. Trong khí đó, sự phân loại thời gian theo Dương lịch của nền văn minh hiện đại chỉ là sự phân loại đơn giản từ cái nhìn trực quan với một chu kỳ vận động cơ học của trái Đất quay quanh mặt trời và dừng lại ở đây. Còn Việt lịch có cả một học thuyết liên quan đến nó với mối tương tác rất phức tạp của cả Thái Dương hệ với những sự vận động của các chòm sao gần gũi trong giải Ngân hà. Đây chính là nội dung của bài viết này trình bày với quý vị và anh chị em quan tâm.

 

Quý vị và anh chị em quan tâm thân mến.

Vấn đề đâu tiên là lịch sử của Việt lịch - tức Âm lịch Đông phương - đã có từ thời xa xưa. Cuốn sách được coi là cổ nhất chính là cuốn "Hoàng đế nội dung kinh tố vấn" với nội dung niên đại của nó thể hiện từ thời Hoàng Đế, được coi là có niên đại hơn 5000 năm cách ngày nay. Trong cuốn sách này, dấu ấn của Âm lịch Đông phương với sự liên hệ can chi theo thuyết ADNh đã thể hiện rất đầy đủ. Khái niệm Âm Dương và Ngũ hành đã được nói đến trong "Hoàng đế nội kinh tố vấn" trước cả thời vua Đại Vũ - được coi là khoảng 3000 năm cách ngày nay - theo truyền thuyết Tàu được coi là của văn minh Hán - tìm ra Lạc Thư trên lưng rùa và sáng tạo ra "Hồng Phạm cửu trù", trong đó trù thứ nhất nói về Ngũ hành.

Điều này không chỉ phủ nhận lịch sử thuyết ADNh trong lịch sử văn minh Hán - vì không thể một học thuyết ra đời sau hơn 2000 năm, mà lại được ứng dụng trước đó hơn 2000 năm. Mà qua nội dung cuốn "Hoàng đế nội kinh tố vấn", còn chứng tỏ thuyết ADNh đã ứng dụng vào Âm lịch Đông phương trong việc phân loại thời gian theo học thuyết này, từ hơn 5000 năm trước.

Sự ứng dụng của thuyết ADNh trong Việt lịch (Từ này trong tất cả các bài viết của tôi, sử dụng từ "Việt lịch" là chính, khái niệm "Âm  lịch Đông phương" chỉ là minh họa cho thói quen trở thành tiềm thức), cho thấy mối liên hệ tương tác của sự vận động vũ trụ mô tả trong Việt lịch. Vì Âm Dương Ngũ hành chính là những khái niệm minh triết mô tả mối tương quan tương tác của tất cả các dạng tồn tại, vận đông tương tác của vũ trụ đã được phân loại theo khái niệm của Âm Dương và Ngũ hành trong học thuyết (*) này.

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Tri thức khoa học hiện đại đã xác định qua tiêu chí khoa học rằng:

 

"Một lý thuyết khoa học thì những mô hình biểu kiến phải phản ánh một thực tại quan sát được".

 

 

Thực ra tiêu chí khoa học này chỉ là một hệ quả mô tả của một trường hợp cụ thể của tiêu chí khoa học tồng quát mà tôi thường trình bày trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, là:

 

Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

 

 

Tất nhiên,  việc "giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó" đã hàm chứa nội dung "phản ánh một thực tại quan sát được". Bởi vì: Bất cứ một học thuyết nào, nhân danh tôn giáo hay khoa học thì nó phải giải thích thế giới tự nhiên mà con người quan sát được. Sự khác nhau giữa khoa học và tôn giáo chính là ở "tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri" theo tiêu chí khoa học.

Tôi đang phục hồi và mô tả một học thuyết nhân danh khoa học, nhưng không thuộc về nền tảng trí thức của nền văn minh hiện đại có xuất xứ gọi là "văn minh phương Tây"; hay "văn minh Âu Mỹ"; nên vì tính đặc thù này, tôi phải lấy tiêu chí khoa học hiện đại - là tri thức tiêu biểu của nền văn minh hiện đại - làm chuẩn mực để so sánh, đối chiếu với những giá trị tri thức của nền văn minh Đông phương.

Trên cơ sở này, thì Việt lịch chính là một sự phân định thời gian mô tả những vận động và tương tác của vũ trụ hết sức phức tạp trong không gian của Ngân Hà liên quan đến Địa cầu. Và sự tương tác và vận động này của được mô tả theo thuyết Âm Dương Ngũ hành trong sự phân loại thời gian của nó, cho đến đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ trong Việt lịch với đầy đủ sự kết hợp Âm Dương Ngũ hành. Thí dụ: Giờ Tý (Từ 23g đến 1g khuya) có thể là giờ Nhâm Tý, hay Bính Tý....và với tính chất kết hợp của Thiên Can và Địa chi sẽ xác định bản chất Ngũ hành của giờ Tý. Như Nhâm Tý thuộc Tang Đố Mộc theo Lạc Thư hoa giáp.

Chính tính chất phân loại theo Âm Dương Ngũ hành trong Việt lịch, mô tả sự tương tác và quy luật vận động của không gian vũ trụ gần trái đất liên quan đến sự vận động và phát triển trên Địa Cầu, có khả năng tiên tri.

Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt, có hẳn một bộ môn tiên tri liên quan đến sự phân loại thời gian theo thuyết ADNh , là Tử Bình (Hay còn gọi là "Tứ trụ"). Cũng như Tử Vi, bộ môn tiên tri này có khả năng tiên tri đến từng giai đoạn sống và hành vi của một con người.

Tôi cũng đã hân hạnh trình bày với quý vị và anh chị em quan tâm về những mô hình biểu kiến của "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" mô tả sự vận động của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ liên quan tới Địa cầu và sự sắp xếp các đại lượng tương tác liên hệ tới khoa Tử Vi Đông phương có khả năng tiên tri; hiệu ứng giờ Quan sát - mô tả lại ý tưởng của giáo sư Lê Văn Sửu -  bản chất của Hà Đồ trong nền văn hiến Việt....vv...Tất cả đều cho thấy một tri kiến thiên văn kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương thể hiện một thực tế quan sát được theo tiêu chí khoa học và cả những quy luật tương tác của vũ trụ có khả năng tiên tri, được mô tả theo thuyết ADNh của nền văn minh Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử.

Do đó, Việt lịch chính là một hệ thống phân loại thời gian, gắn liền với một học thuyết mô tả những quy luật tương tác rất phức tạp của những hành tinh trong hệ mặt Trời với trái Đất và cả những chòm sao gần gũi với Thái Dương hệ. Nó không đơn giản như lịch Tây thuần túy mô tả sự vận động cơ học của chu kỳ trái Đất quay quanh mặt trời.

Việc tính tháng nhuận trong Việt lịch cũng không đơn giản thuần túy mang tính cơ học như Dương Lịch, là cộng thêm 1 ngày sau 4 năm, khi nền văn minh hiện đại phát hiện ra chu kỳ chính xác của sự vận động trái Đất quay quanh mặt Trời là 365 ngày +1/4.

Với cái nhìn trực quan của các nhà làm lịch theo tư duy của nền văn minh hiện đại, chỉ nhận thấy sự kết hợp đơn giản giữa chu kỳ mặt Trăng và chu kỳ trái Đất quay quanh mặt Trời của Việt lịch. Nhưng họ không thể nhìn sâu hơn - ít nhất với những gì đã công bố sự nhận thức của họ - những tri thức của nền văn minh Đông phương qua tri thức thành lập hệ thống Việt lịch. 

Nếu như nền thiên văn hiện đại, cách đây vài trăm năm, còn chật vật trong sự mô tả trái Đất quay quanh mặt Trời, với hình ảnh Galileo ra tòa án Giáo hội, thì Việt lịch chí ít đã cho thấy sự kết hợp của chu kỳ trái Đất quay quanh mặt trời và sự vận động của chu kỳ mặt Trăng để làm nên Việt lịch với thời gian tính bằng thiên niên kỷ trước. Do đó, it nhất, chỉ cần sự kết hợp giữa hai chu kỳ này trong phương pháp làm lịch, cũng đủ để cho thấy sự vượt trội về tri thức thiên văn từ hàng ngàn năm trước của tri thức thiên văn Đông phương. Và vấn đề không chỉ dừng tại đây.

Như phần trên tôi đã trình bày, truyền thống văn hóa Việt gọi tháng thứ 11 là tháng "Một", tháng thứ 12 là tháng "Chạp" và tháng thứ 1 là tháng "Giêng". Bởi vì đây là ba tháng đặc biệt không bao giờ có tháng nhuận trong Việt lịch rơi vào những tháng này. Sở dĩ có quy ước này, chính vì nó liên quan đặc biệt đến chu kỳ sao Thiên cực Bắc, gồm: sao Bắc cực (Chòm sao Thiên cực Bắc hiện nay), Thiên Lang và Vũ Tiên. Các chòm sao Thiên cực Bắc này cứ hơn 6400 năm lại thay đổi cho trục trái Đất liên quan đến bầu trời phương Bắc quan sát từ trái Đất. Khi chòm sao thiên cực Bắc thay đổi thì khí hậu của trái Đất cũng thay đổi theo chu kỳ này. Do đó, các tháng "Một", "Chạp", "Giêng" chính là các tháng đầu năm - mùa Xuân - khi chòm sao Thiên cực Bắc thay đổi cho mỗi chu kỳ. Và cách gọi "Một"; "Chạp"; "Giêng" trong văn hóa truyền thống Việt, chính là sự mô tả các tháng đầu năm khi các chòm sao định vị thiên cực Bắc thay đổi theo chu kỳ. Và đó cũng là nguyên nhân để không bao giờ có nhuận vào các tháng "Một"; "Chạp"; "Giêng", cho dù những tháng này không có trung khí, như quy ước làm lịch Đông phương. Nếu như đến năm nhuận, mà các tháng "Một"; "Chạp"; "Giêng" không có trung khí thì quy ước của Việt lịch luôn đặt vào tháng 10, hoặc tháng 2 Việt lịch. Quy ước này để bảo đảm rằng sau mỗi chu kỳ của sao Thiên cực Bắc, kéo dài hơn 6400 năm, thì các tháng "Một"; "Chạp; "Giêng" luôn rơi vào các tháng đầu năm.

Qua đó quý vị và anh chị em cũng thấy rằng sự vượt trội hơn hẳn của những tri kiến thiên văn của Việt lịch. Chưa hết, Chu kỳ Đại vận hội của Việt lịch là 12. 960 năm. Đây chính là một chu kỳ Âm, hoặc Dương của một chu kỳ vũ trụ là 12. 960 x 2 (Âm Dương) = 25. 920 năm. Chu kỳ này tương đương chu kỳ được phát hiện của nền thiên văn hiên đại là 26000 năm, cho một vòng của hệ mặt Trời quay quanh giải Ngân Hà.

Do đó, chỉ cần với sự thống kê hết sức cơ học qua những phương pháp làm lịch Việt với những chu kỳ vũ trụ, đã cho thấy một kiến thức vượt trội của nền văn minh Đông phương trong sự nhận thức chu kỳ vận động của vũ trụ, từ hàng chục ngàn năm trước. Tính tri thức vượt trội này càng sâu sắc đến mức kỳ vĩ khi tất cả những quy luật vận động cơ học này - dễ dàng nhận thức một cách trực quan qua các bản văn cổ - còn thể hiện ở sự phân loại thời gian theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - mô tả những quy luật tương tác của vũ trụ ảnh hưởng đến từng hành vi của con người trên trái Đất có thể tiên tri.

Tôi không hề chủ quan khi xác định rằng: Chỉ cần nghiên cứu về Việt lịch với những giá trị văn hóa truyền thống Việt, cũng đủ xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất, nhân danh nền văn hiến Việt, vì hệ thống tri thức thiên văn đồ sộ của nền văn minh này.

Xin cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và anh chị em.

 

=====================

* Việc định danh của các nhà nghiên cứu cho thuyết "Âm Dương Ngũ hành" là sử dụng những khái niệm chủ yếu của học thuyết này để định danh cho nó. Nhưng bản chất nguyên thủy của học thuyết này có thật gọi là thuyết "Âm Dương Ngũ hành" hay không thì lại là một vấn đề khác. Thực ra, cần phải gọi đúng với khái niệm thực sự của nó phải là: Sách của người Lạc Việt viết về sự tuần hoàn và tương tác của vũ trụ", gọi tắt là "Lạc Thư Chu Dịch". Tất nhiên nó là lý thuyết thống nhất vũ trụ.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

PS: Bài trên tôi xin được bổ xung như sau: Trong Việt lịch còn chia thời gian thành từng Hội, mỗi Hội là 1080 năm. Một nửa chu kỳ vận động của Thái Dương hệ quanh Ngân hà là 12 Hội,  đặt tên theo 12 con giáp. Tổng cộng thời gian là 12. 960 năm. Tức là bằng: 1080 x 12 =  12. 960 năm. Khi đủ 12 Hội thì chuyển sang một Đại vận hội khác. Cộng hai Đại vận hội bằng một chu kỳ Thái Dương hệ quay quanh giải Ngân hà, tương đương 26.000 năm của tri thức khoa học hiện đại. Con số 26. 000 năm thì cho đến cuối thế kỷ trước khoa học hiện đại mới công bố thừa nhận thì Việt Lịch đã ứng dụng từ lâu rồi.

Việt sử chép: Nước Văn Lang lập quốc vào năm thứ 8 vận bẩy, Hội Ngọ - tức tương đương 2879 BC - là vậy.

Tuy nhiên, những gì tôi đã trình bày chỉ là sự vận động cơ học thuần túy (Nhưng cũng đủ để thấy tính vượt trội của nền văn minh Đông phương, nhân danh văn hiến Việt). Chính sự liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành đã cho thấy một quy luật tương tác phức tạp của những chu kỳ vận động của vũ trụ lên trái Đất có thể tiên tri, được mô tả theo bản chất tương tác của khái niệm Âm Dương và Ngũ hành.

Bản chất của tính tương tác có quy luật này - qua sự phân loại biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành - từ nền văn hiến Việt mới là điều cần quan tâm. Còn giương cái ống dòm to, quen gọi là kính thiên văn lên bầu trời để "dòm" và thấy vũ trụ vận động như thế nào thì mô tả như vậy, tôi nghĩ không cần đến giáo sư tiến sĩ hàng đầu về lý thuyết. Người ta có thể lập trình cho robot thực hiện việc này.

Chính vì tính mô tả bản chất tương tác có tính quy luật của vũ trụ qua sự phân loại thời gian của thuyết Âm Dương Ngũ hành có thể tiên tri đến từng hành vi của con người - và thực tế nó đã thể hiện khả năng này từ hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn minh hiện đại, nhận thức được - đã cho thấy đây chính là học thuyết thống nhất mà cả nền văn minh hiện đại đang mơ ước.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III.2.  "TAM DƯƠNG KHAI THÁI"

TRONG DI SẢN VĂN HÓA ĐÔNG PHƯƠNG.

Tất nhiên khái niệm "tam dương" trong nền văn hiến Việt không phải là ba con dê được mô tả trong văn hóa Hán. Mà là mô tả phạm trù Dương trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Bạn đọc xem lại và so sánh hai hình dưới đây:

 

TranhTamDuong-big.jpg

Tranh "Tam Dương khai thái" theo quan niệm từ văn hóa Hán.

Chữ Dương trong bức tranh có nghĩa là "con dê".

 

3602367_zps6544c88d.jpg

"Tam Dương khai thái".

Tranh dân gian Đông Hồ.

 

Chữ Dương trên bức tranh Đông Hồ mô tả một vế trong cặp phạm trù Âm Dương của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Như vậy, với sự mô tả quẻ Địa Thiên Thái trong chính văn kinh Dịch, mà chúng tôi trình bày ở trên, thì "tam Dương" chính là những hình thái ý thức xã hội điều hành xã hội theo quy luật của tự nhiên, từ những chuẩn mực xã hội được quyết định từ thượng tầng kiến trúc.

Đại Tượng truyện viết:

"Trời đất giao nhau là Thái. Nhà vua lấy đó mà phân ra và hoàn thành đạo trời đất, quy định phân phối các món quà của trời đất mà giúp dân".

 

 

Phân tích câu này cho thấy: "trời đất" chính là biểu tượng mô tả Âm Dương. Sự cân bằng Âm Dương trong mối quan hệ xã hội là điều kiện để ồn định xã hội và phát triển. Dương chính là hình thái ý thức xã hội; Âm là các mối quan hệ xã hội phát triển từ đời sống kinh tế xã hội. Do đó, "vua mới lấy đó mà phân ra", theo quy luật của tự nhiên ("hoàn thành đạo trời đất"), trong việc ổn định xã hội và phát triển ("quy định phân phối các món quà của trời đất mà giúp dân").

Phần tiếp theo đây, người viết trình bày với bạn đọc về mối tương quan giữa hình thái thức xã hội thuộc Dương với các mối quan hệ xã hội, thuộc Âm, trong Lý học Đông phương.

 

2. 1. CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI

 

Khái niêm "cân bằng Âm Dương" trong mối quan hệ xã hội được nói tới sớm nhất trong "Sử ký" của Tư Mã Thiên, truyện "Trần Thừa tướng thế gia". Sự mô tả khái niệm Âm Dương liên quan đến hình thái ý thức xã hội, qua lời tâu của Tể tướng Trần Bình, trong Sử ký" như sau:

" Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ không kể thần tài hèn sức mọn, cho thần lạm giữ chức thừa tướng. Chức vụ thừa tướng, trên thì giúp thiên tử chính lý Âm Dương, làm cho bốn mùa thuận; dưới thì nuôi vạn vật được thỏa thích. Bên ngoài thì trấn áp, vỗ về tứ di, chư hầu. Bên trong thì làm thân với trăm họ,làm cho quan khanh và đại phu ai cũng đảm nhiệm tốt chức vụ của mình".

 

("Sử Ký". Tác giả Tư Mã Thiên. Nxb Văn Học 1988)

 

Như vậy, quan niệm về cân bằng Âm Dương trong việc điều hành xã hội được chính thức ghi nhận trong "Sử ký" của Tư Mã Thiên (145 - 86 BC). Nhưng bản thân khái niệm Âm Dương trong điều hành xã hội từ "Sử ký" cùng chung số phận với khái niệm Âm Dương được mô tả trong các sách cổ chữ Hán liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành rất mơ hồ và bị hiểu sai nội hàm khái niệm của nó. Nó bị nhầm lẫn khái niệm trong tính ứng dụng từng hệ quy chiếu khác nhau giữa điều hành xã hội và mô tả tự nhiên. Bởi vậy, 1500 năm sau, ngay cả các bậc túc Nho đời Trần cũng tỏ ra lúng túng trong việc miêu tả trách nhiệm của tể tướng trong việc "cân bằng Âm Dương". Đại Việt Sử ký toàn thư. Mục "Minh Tông Hoàng đế" chép:

Tháng 6 hạn hán.

Bấy giờ Trần Khắc Chân làm Hành khiển (Tương đương chúc vụ Tể tướng). Ngự sử dâng sớ nói:

"Chức vụ tể tướng, trước hết phải điều hòa Âm Dương. Nay Khắc Chung ở ngôi tể tướng, không biết phối hợp đất trời cho khí tiết điều hòa, để đến nỗi mưa nắng trái thời. Thế là làm quan không được công trạng gì"

Khắc Chung nói:

"Tôi lạm giữ chức tể tướng, chỉ biết cố làm những việc mà chức vụ phải làm. Còn như hạn hán thì hỏi Long Vương. Khắc Chung đâu phải là Long vương mà đổ tội được?"

Sau nước sông lên to. vua đích thân đi xem đắp đê. Quan Ngự sử tâu:

"Bệ hạ nên chăm sửa đức chính. Xem làm gì việc đắp đê nhỏ nhặt".

Khắc Chung nói:

"Khi dân bị nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp tai nạn khẩn cấp. Sửa đức chính, không gì lớn hơn điều đó. Cần gì phải ngồi làm thinh, tư lự, rồi bảo "sửa đức chính".

 

(Đại Việt Sử ký toàn thư. Quyển II. Nxb Khoa học Xã hội. 2004)

Qua đoạn trích dẫn trên, cho thấy nội hàm của cụm từ "Cân bằng Âm Dương" ứng dụng trong các mối quan hệ xã hội từ hàng ngàn năm qua, hoàn toàn mơ hồ và được hiểu là một khả năng siêu nhiên của những con người có quyền lực từ thượng tầng kiến trúc:

 

"Chức vụ thừa tướng, trên thì giúp thiên tử chính lý Âm Dương, làm cho bốn mùa thuận; dưới thì nuôi vạn vật được thỏa thích" 

 

("Sử ký". đã dẫn).

 

Thực chất khái niệm "Cân bằng Âm Dương"  ứng dụng trong xã hội , là mối quan hệ tương tác giữa hình thái ý thức xã hội thuộc Dương với các mối quan hệ xã hội phát triển, trên cơ sở đời sống kinh tế xã hội, thuộc Âm.

Đương nhiên, việc ấn định những hình thái ý thức xã hội thuộc về quyền lực của thượng tầng kiến trúc xã hội. Từ hàng ngàn năm trước thì nó chính là quyền lực của triều đình với ngôi vị tể tướng, hoặc nhà vua.

Mặc dù được mô tả từ một cách hiểu sai của tể tướng Trần Bình, nhưng dù sao thì Sử Ký cũng là cuốn sách cổ nhất từ cổ thư chữ Hán, ghi nhận khái niệm Âm Dương ứng dụng trong việc điều hành xã hội. Sự ghi nhận này của "Sử Ký" có tác dụng như việc tìm thấy một mảnh vụn trong tài sản tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương; sau khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở Nam Dương Tử từ năm 258 BC.

Để tìm hiểu giá trị đích thực của khái niệm "Tam dương khai thái", cần phải có sự tổng hợp của tất cả những di sản còn lại của nền văn hiến Việt, mà chủ yếu từ những giá trị văn hóa truyền thống thống Việt. Điều này sẽ lại là một bằng chứng nữa xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành  bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực. Nó có thể mô tả từ những quy luật tương tác của tự nhiên với khả năng tiên tri, cho tới mọi lĩnh vực trong các mối quan hệ xã hội.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

2.2. NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CẶP PHẠM TRÙ ÂM DƯƠNG

TRONG QUAN HỆ XÃ HỘI.

Đó là những nguyên lý được ghi nhận rời rạc trong cổ thư chữ Hán:

 

1/ Nguyên lý "Dương thịnh, Âm suy tắc bế".

Đây là một nguyên lý mô tả tính tất yếu của mọi sự kiện trong quá trình hình thành và phát triển trong vũ trụ, được phân loại theo khái niệm của cặp phạm trù Âm Dương. Tương ứng với tính "tương thừa" trong "Tứ tượng" của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chúng tôi đã mô tả ở phần trên.

Ứng dụng trong các mối quan hệ xã hội, nếu luật pháp, những chuẩn mực đạo đức xã hội, hình thức nghi lễ.... quá khắt khe, áp đặt phi lý, chủ quan, không hợp lý toàn diện, mâu thuẫn...Trường hợp này rơi vào tính trạng gọi là "Dương thịnh, Âm suy tắc bế". Xã hội không phát triển được.

Đương nhiên khi không phát triển được thì bị diệt vong, nếu không do nội loạn thì cũng do ngoại xâm.

 

2/ Nguyên lý "Âm thịnh, Dương suy tắc loạn".

Đây cũng là một nguyên lý mô tả tính tất yếu của mọi sự kiện trong quá trình hình thành và phát triển trong vũ trụ, được phân loại theo khái niệm của cặp phạm trù Âm Dương. Tương ứng với tính "tương vũ" trong "Tứ tượng" của thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà chúng tôi đã mô tả ở trên.

Bắt đầu từ nguyên lý căn bản "Dương tịnh, Âm động" và "Dương trước, Âm sau" thì đời sống của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội và kinh tế xã hội luôn phát triển một cách tự nhiên và liên tục tạo ra những mối quan hệ xã hội mới. Tất cả những yếu tố phát triển này thuộc Âm. Thí dụ:
Do sự phát triển tự nhiên ("Âm động" ) của nền văn minh, đã phát sinh những tri thức khoa học và phương tiện kỹ thuật, dẫn đến khả năng sinh nở không theo những quy luật thuần túy của tự nhiên như vài chục năm về trước. Ngày nay, một người phụ nữ có thể mua tinh trùng từ một người đàn ông và trứng của một người đàn bà khác, rồi nhờ một người đàn bà thứ ba đẻ giúp. Thì đây chính là sự phát triển tự nhiên của xã hội, làm xuât hiện những mối quan hệ xã hội mới ("Âm thịnh"). Do đó, nếu hình thái ý thức xã hội không có những chuẩn mực xã hội mới (do "Dương tịnh"), hoặc chuẩn mực không rõ ràng, thiếu tính đồng bộ, chặt chẽ trong các cấu trúc hệ thống: luật pháp, đạo đức và nghi lễ cho mối quan hệ mới này, thì rơi vào tình trạng gọi là "Âm thịnh, Dương suy tắc loạn".
Một hệ thống hình thái ý thức xã hội được coi là "cân bằng Âm Dương", trước tiên là những chuẩn mực của nó phải hài hòa với các quy luật của tự nhiên với các mối quan hệ xã hội luôn luôn phát sinh, phát triển và phải cân đối, hoàn chỉnh và hợp lý có tính hệ thống với chính nó (Tức là nó cũng phải phù hợp với tiêu chí khoa học, cho một lý thuyết khoa học. Ở đây là những điều khoản của luật pháp, đạo lý, nghi lễ...).

Đời sống kinh tế và xã hội luôn phát triển thì các mối quan hệ xã hội cũng luôn phát triển ("Âm động"). Bởi vậy, những hình thái ý thức xã hội luôn phải tiếp tục bổ sung để cân đối trong việc tiếp tục ổn định và phát triển. Đó là công việc của thượng tầng kiến trúc xã hội. Ngày xưa trách nhiệm này thuộc về vua và triều đình, mà đứng đầu là tể tướng. Bởi vậy, Trần Bình mới trình bày trách nhiệm của tể tướng là "Cân bằng Âm Dương". Nhưng bản thân ông ta cũng chỉ nói theo sách và chẳng hiểu gì cả. Nên khái niệm cân bằng Âm Dương trong ứng dụng xã hội vẫn mơ hồ đến ngày hôm nay.

Vấn đề còn lại là:

Tại sao gọi là "tam Dương"?

 

III.3.  "TAM DƯƠNG KHAI THÁI" TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT

VÀ HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI

Không thể tìm được nội hàm của khái niệm "Tam Dương khai thái" từ những gía trị thuộc về nền văn minh Hán. Điều mà chúng tôi đã chứng minh ở trên.

Tổng hợp những di sản còn lại của nền văn hiến Việt trong di sản văn hóa truyền thống, các bản văn chữ Hán cổ ghi nhận một cách rời rạc, mơ hồ những di sản của văn hiến Việt bị Hán hóa, chúng tôi xác định rằng: Tam Dương chính là ba mô thức thuộc hình thái ý thức chủ yếu của xã hội. Ba mô thức đó là: Đức trị, Lễ trị và Pháp trị.

Sự tuần hoàn với những quy luật của vũ trụ được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, hoàn toàn được ứng dụng trong việc ổn định và phát triển xã hội, mà SW Hawking đã mô tả.

Trong khi đó, thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt, đã ứng dụng điều này trong mọi lĩnh vực liên quan đến mọi lĩnh vực thuộc quan hệ xã hội. Và quẻ Địa Thiên Thái cũng chỉ là một giai đoạn phát sinh, phát triển trong chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ có tính lặp lại, trong nội hàm của 64 quẻ Dịch trong hệ thống Hậu thiên Lạc Việt. Hay nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại: Quẻ "Địa Thiên Thái" chỉ là một phần tử trong một tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó.

Tập hợp lớn hơn bao trùm lên nó chính là mô hình tích hợp của Hậu thiên Bát quái Lạc Việt, được mô tả như sau:

97h.jpg

 

 

 

image189_zpscf1d8528.jpg

Mô hình tích hợp của Hậu thiên Bát quái Lạc Việt

 

Mô hình trên là sự tích hợp giữa hai cặp điên đảo Dịch là Cấn/ Chấn và Đoài/ Tốn của Hậu thiên Bát quái Lạc Việt. Và chỉ có "Hậu thiên Bát quái Lạc Việt" mới có thể có sự tích hợp này. Do các cặp Điên đảo dịch là "Cấn/Chấn" và "Đoài/Tốn" cùng hành với nhau.

Với sự tích hợp này bạn đọc sẽ thấy rất rõ chúng được phân loại thành hai cụm Âm Dương, mỗi cụm tạo nên một hình tam giác trong mô hình trên gồm:

1/ Cụm Dương gồm: Càn (queCan.jpg ), Cấn/ Chấn(queCans.jpg /queChan.jpg )  và Ly (queLy.jpg ).

Trong cụm này có 7 hào Dương và 5 hào Âm.

2/ Cụm Âm gồm: Khôn (queKhon.jpg ) , Đoài/ Tốn (queDoai.jpg / queTon.jpg) và Khảm (queKham.jpg ).

Trong cụm này có 7 hào Âm và 5 hào Dương.

Mô hình tích hợp từ nguyên lý căn để này của Hậu thiên Lạc Việt, cũng trùng khớp với tất cả những giá trị văn hóa và tín ngưỡng của các nền văn minh tối cổ trên thế giới. Đó là nền văn minh Do Thái với những di sản ngay trên quốc kỳ của quốc gia này.

 

image198_zpsc6f70747.gif

Hoặc với nền văn minh Sumer, qua những di sản khảo cổ là những miếng đất sét, có ký tự, được tìm thấy được của nền văn minh này, có niên đại ước tính từ 6000 đến 8000 năm BC. Nhưng ngôn từ ghi trên những di sản này có nội dung như sau:

 

"Ai là kẻ thanh cao trên trời?
Chỉ có ba!
Ai là kẻ thanh cao dưới đất?
Chỉ có ba!"

 

So sánh nội dung trên với di sản từ văn minh Sumer thì mô hình tích hợp của Hậu thiên Lạc Việt cũng hoàn toàn trùng khớp với nguyên lý Tam Dương (Trên Trời) và Tam Âm (Dưới đất).

 

image199_zpse649a9e4.jpg

image200_zps90b6c513.jpg
 
 

Vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở bản văn cổ Sumer, mà các tín ngưỡng, tôn giáo cổ đều có con số 3 như là một nguyên lý rất căn bản. Chúng ta có thể thấy điều này qua Thiên Chúa giáo với khái niệm Chúa Ba ngôi, tượng Đế Thiên Đế Thích ba mặt, hoặc trong Phật giáo cũng nói đến Tam thế Phật....Hoặc ngay cả Đạo giáo trong Đạo Đức kinh cũng mô tả: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, Nhi sinh tam. Tam sinh vạn vật"

Đây là bằng chứng nữa, cho thấy sự trùng hợp những nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành với tất cả những giá trị của các nền văn minh cổ xưa có tính tín ngưỡng tôn giáo, trong lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện đại. Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một học thuyết vũ trụ quan tối cổ với nội hàm bao trùm lên khắp các lĩnh vực và nó không thuộc về lịch sử nền văn minh hiện đại, mà nền tảng hiện nay có xuất xứ từ văn minh Tây phương.

Lý học Đông phương với thuyết Âm Dương Ngũ hành , trong mối liên hệ giữa thời gian và không gian vũ trụ,  cũng nhiều lần nhắc đến khái niệm tam Âm, tam Dương và ứng dụng trong mọi lĩnh vực và rõ nét nhất trong Lạc Thư hoa giáp (Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ liên quan đến địa cầu), đó chính là khái niệm "Lục khí" (Gồm Tam âm, Tam Dương) tương tác với Địa cầu.

Như vậy, nguyên lý tương tác của Tam Âm, Tam Dương theo thuyết Âm Dương Ngũ hành , nhân danh nền văn hiến Việt,  mô tả từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ với toàn bộ sự hình thành, phát sinh, phát triển của lịch sử và quy luật tương  tác hình thành vũ trụ. Mà trong đó, quẻ Địa Thiên Thái chỉ là một phần tử trong một tập hợp lớn hơn, mô tả một cách cụ thể tính ứng dụng của các hình thái ý thức xã hội trên cơ sở ổn định và phát triển xã hội theo quy luật của tự nhiên.

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở những hình thái ý thức xã hội, liên quan đến quyền lực của thượng tầng kiến trúc và tất cả mọi vấn đề liên quan đến các tiêu chí khoa học được đặt ra cho thuyết Âm Dương Ngũ hành mà người viết đã mô tả trong tiểu luận này, gồm: bản chất của trạng thái khởi nguyên vũ trụ, những nguyên lý, định đề, những khái niệm, mô hình biểu kiến...mô tả những quy luật tương tác của vũ trụ; sự liên hệ đến các mô thức tư duy mới nhất của nền văn minh hiện đại, các tôn giáo, tín ngưỡng... thì  có vẻ nó chưa phải là một bức tranh hoàn chỉnh của nền văn hiến Việt với những giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các mối tương quan của các vấn đề xã hội và con người.

Một trong những giá trị khác của hình thái ý thức xã hội và là nền tảng lưu truyền của một nền văn minh chính là vấn đề văn hóa, giáo dục được thể hiện trong nền văn hiến Lạc Việt. Chúng tôi sẽ trình bày ngay trong phần tiếp theo đây, như là một cố gắng mô tả những nét đặc trưng hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành, bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, xã hội và con người, thể hiện trong những di sản văn hóa của nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ ở bờ nam sông Dương tử .

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III. 4. TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT VÀ THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

Mở đầu

Các nhà khoa học hàng đầu của nền văn minh hiện đại, khi đặt vấn đề về một lý thuyết thống nhất, đã xác định những tiêu chí cho nó là:

Một lý thuyết mô tả từ sự hình thành vũ trụ đến mọi sự vận động tương tác của vũ trụ. có khả năng mô tả từ những hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. Giải thích tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên, xã hội, cuộc sống cho đến từng hành vi của con người.

 

Trong những vấn đề được đặt ra với nội hàm của một lý thuyết thống nhất, là nó phải giải thích mọi hiện tượng xã hội và cuộc sống của con người - một cách cụ thể hơn: Đó là vấn đề tín ngưỡng và tâm linh, là những thành tố đã cấu thành trong cuộc sống và xã hội của con người từ thời cổ đại.

Trong hội nghị tổng kết 10 kỷ niệm hoạt động của Tổng Cty DTT, giáo sư Chu Hảo trình bày trong hội nghị một cách cụ thể mục đích của khoa học hiện đại: "Phát hiện một lực tương tác liên quan đến các hiện tượng tâm linh". Đây là vấn đề của tri thức khoa học hiện đại mà giáo sư Chu Hảo trình bày. Dưới đây là hình hiển thị luận đề của giáo sư Chu Hảo trong buổi nói chuyện.

image201_zpsb6d8dd6c.jpg

Những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết thống nhất hoàn toàn hợp lý cho nội hàm của một lý thuyết thống nhất. Và hệ quả tất yếu cũng rất hợp lý là lý thuyết đó phải giải thích được các vấn đề tín ngưỡng và tâm linh.

Về vấn đề này, người viết cũng xác định luôn rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt với những mô tả khái quát trong tiểu luận này, hoàn toàn chứng tỏ được khả năng của nó trong việc giải thích các vấn đề tín ngưỡng và tâm linh. Trên thực tế với những tìm hiểu của người viết thì cần xác định ngay rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt, có khả năng giải thích cả những tôn giáo từ những nền văn minh cổ đại. Nhưng đây sẽ là một đề tài chuyên sâu và nằm ngoài nội dung của cuốn tiểu luận này. Trong phần này của chương III, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu mối liên hệ trong những định đề, nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành với hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống của người Việt.

 

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thì tục thờ các vị thần như: Tứ trụ Thiên Vương hộ quốc, chính là sự mô tả bốn yếu tố tương tác ban đầu chi phối toàn bộ lịch sử vũ trụ, theo mô tả của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt (Xem bài viết ở trên của tác giả Nguyễn Thế Trung trong tiểu luận này). Ở đây chúng tôi mô tả phần những di sản tín ngưỡng chưa được để cập đến, lần lượt như sau:

 

4.1. TAM TÒA THÁNH MẪU

Tục thờ Mẫu là một tín ngưỡng của Việt tộc đã có từ rất lâu đời. Tam tòa thánh Mẫu thờ ba Ngài như sau:

1/ Mẫu đệ nhất Thượng Thiên.

2/ Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn.

3/ Mẫu đệ tam Thủy phủ.

Xin xem hình dưới đây:

 

image202_zps8e547154.jpg

Tam tòa thánh Mẫu.

Tranh dân gian Hàng Trống.

 

image203_zpsef8b6c0c.jpg

Một điện thờ ba vị thánh Mẫu trong tín ngưỡng dân gian Việt.

 

Như chúng tôi đã trình bày: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và những nguyên lý căn bản của nó, bao trùm lên mọi lĩnh vực và cả trong tín ngưỡng, tâm linh Việt. Việc thờ ba vị tam tòa thánh mẫu, chính là xuất xứ từ nguyên lý "Tam Âm, tam Dương" có nguồn gốc từ "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt", được mô tả như sau:

3312337364_zps0770f318.jpg

 

Mô hình Tam Âm Tam Dương mô tả bằng màu sắc Ngũ hành trên Hà đồ như sau:

image204_zps0fdea02c.jpg

Trong đó:

1/ Tam Dương có màu sắc đặc trưng Ngũ hành như sau:

Càn: Âm kim đới Thủy - Xanh Dương, Cấn Chấn: Mộc - Xanh lá cây, Ly Hỏa:  Đỏ.

image205_zps9c116b08.jpg

Mô hình Tam Dương

 

2/ Tam Âm có màu sắc đặc trưng Ngũ hành như sau:

Khôn: Âm Hỏa đới Thổ - Màu đỏ, Đoài Tốn: Kim - Trắng; Khảm: Thủy - Xanh Dương.

 

image206_zps0d531bef.jpg

 

 

Mô hình Tam Âm

 

 

Bạn đọc sẽ nhận thấy một cách rất trực quan về vị trí Tam Âm là các quái: Khôn (Âm Hỏa đới Thổ), Tốn/ Đoài (Âm Dương Kim) và Khảm (Dương thủy). Trong đó quái Khôn thuần Âm, tượng cho : Đất, mẹ...đứng đầu các quái Âm. Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành có xuất xứ từ văn hiến Việt thì tam Âm trong sự tương tác của khí Âm, biểu tượng bằng Mẫu/ Mẹ thuộc Khôn thuần Âm và trở thành Tam tòa thánh Mẫu trong tín ngưỡng Việt Nam.

Y phục của Tam tòa Thánh Mẫu cũng trùng khớp với màu của Tam âm trong "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ".

1/ Y phục của Mẫu đệ nhất Thượng Thiên mang sắc đỏ. Đây chính là mầu đỏ, biểu tượng ngũ hành của quái Khôn - trên "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" . Quái Khôn (Đất) - đứng đầu các quái Âm trong Bát quái - nên là biểu tượng của Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên.

 2/ Y phục của Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn mang sắc trắng. Đây chính là mầu trắng biểu tượng ngũ hành của cặp phối quái Tốn/ Đoài. Quái Khôn - trên "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và một thành tố nằm trong Tam Âm của bát quái quái Hậu thiên Lạc Việt. Khôn - Âm Hỏa đới Thổ, sắc Đỏ (Mẫu đệ nhất) sinh Kim (Sắc trắng), nên Mậu Đệ nhị Thượng Ngàn mang y phục trắng.

 

3/ Riêng Mẫu đệ Tam Thoải Phủ, thể hiện trong trang phục của tranh, tượng hiện đại đôi khi là màu xanh lá cây? Nếu đúng theo nguyên lý trên thì y phục của Mẫu đệ tam Thoải Phủ (Tức "Thủy Phủ" /biểu tượng của quái Khảm là "nước" trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và Dịch và trong hệ thống Tam Âm nói trên) - thì mầu áo của Đức Mẫu đệ tam phải là xanh Dương, xanh nước biển, hoặc xanh lục....tượng cho hành Thủy. Nhưng y phục Mẫu Thoái màu xanh lá cây chỉ xuất hiện trong những tượng hiện đại. Người viết giả thiết do "tam sao thất bản".

Tuy nhiên, tính chất của Mẫu hoàn toàn trùng hợp với tính chất các quái, trong mô tả Tam Âm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nguyên lý Kim sinh Thủy / Thoải (Khảm), nên mẫu Đệ tam là Đức Mẫu Thoải (Thủy). Trong những tranh thờ riêng Đức Mẫu Thoải (Thủy) - Bà Chúa Ba - thì y phục đúng là màu xanh Dương, nước biển. Như hình trình bày trong tiểu mục tiếp theo đây.

 

4. 2. SỰ TÍCH ĐỨC MẪU THOẢI & VÀ HUYỀN SỬ VIỆT.

Đức Mẫu Thoải là vị Mẫu thứ ba trong Tam tòa thánh Mẫu trong tín ngưỡng Việt.

 

image207_zps66ae5367.jpg

 

Tranh thờ Đức Mẫu Thoải

Tranh dân gian Hàng Trồng. Y phục màu xanh Dương. Trong đó các sinh vật thuộc về Ngài đều là thủy tộc được mô tả phía dưới tranh.

 

Qua hàng ngàn năm thăng trầm của Việt sử, sự tích về Đức Mẫu Thoải cũng có nhiều truyền thuyết khác nhau. Nhưng truyền thuyết phổ biến trong di sản văn hóa truyền thống Việt thì Đức Mẫu Thoải là công chúa thứ ba của Đức Lạc Long Quân, ở Động Đình hồ. (Có nơi chép là công chúa thứ 9).

 

Bà có chồng là Kình Xuyên hoàng tử. Chồng bà có vợ bé là Thảo Mai. Thảo Mai vốn là người đàn bà điêu ngoa, xảo trá hay dèm pha nói xấu bà làm chồng bà đầy bà vào nơi rừng sâu, núi thẳm, mặc cho sơn lam, chướng khí, thú dữ đe dọa.

Vì bản tính nhân hậu, nên bà được muông thú dâng nạp đồ ăn thức uống và sống qua ngày. Về sau có một sĩ tử tên là Liễu Nghi đi ngang qua nơi bà ở. Bà nhờ gửi thư đến Lạc Long Quân bày tỏ nỗi oan ức. Đức Lạc Long quân nổi giận bắt Kình Xuyên và trừng trị Thảo Mai. Sau này bà hay hiển thánh cứu giúp dân lành, nên được phong là "Thủy tinh Động Đình Công chúa" và là một trong Tam Tòa Thánh Mẫu theo tín ngưỡng của người Việt.

Trong thành ngữ của người Việt thường hay ví người đàn ông bạc tình là "Đồ Sở Khanh". Đấy là tích từ Truyện Kiều của Nguyên Du. Nhưng khi nói tới những người đàn bà điêu ngoa, nanh ác thì người ta hay ví với "con Thảo Mai". Đấy là từ sự tích bà Chúa Ba - Đức Mẫu Thoải - trong tín ngưỡng Việt.

Ngay bây giờ, ở vùng nông thôn xa thành thị của Việt Nam, hoặc ngay tại những vùng nông thôn tại Hanoi mới đô thị hóa, khi nói đến người đàn bà điêu ngoa, những người lớn tuổi vẫn ví với "con Thảo Mai".

Từ câu chuyên này - loại suy sự tam sao thất bản của các truyền thuyết - thì đều thống nhất Đức Mẫu Thoải là con gái của Đức Lạc Long Quân (Hoặc Long Vương Bắc Hải). Câu chuyện này cho thấy:
1/ . Hiện tượng Đức Lạc Long Quân có con gái
là Đức Mẫu Thoải, đã khẳng định truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” với nội dung ghi nhận:

Tổ phụ Lạc Long Quân lấy Tổ mẫu Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra 100 người con trai (không có con gái), chỉ là một biểu tượng mang tính mật ngữ về cội nguồn lịch sử và văn hóa của người Lạc Việt (Người viết đã trình bày ở phần trên).

2/ Nước Văn Lang xưa của người Việt giáp Đông Đình Hồ.

 Truyền thuyết về Đức Mẫu Thoải khẳng định cội nguồn xuất xứ của dân tộc Việt từ hàng ngàn năm, như truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên” đã ghi nhận: Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải.

Hơn hai thiên niên kỷ trôi qua trên đất Việt xưa bên Động Đình hồ, truyền thuyết về Đức Mẫu Thoải nơi đây đã bị Hán hóa. Nhưng trong di sản văn hiến Việt vẫn lưu truyền về câu thành ngữ "con Thảo Mai", chính là di sản phi vật thể chứng nhận việc này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

4.3. TỤC THỜ NGŨ VỊ TÔN ÔNG.

Ngũ vị tôn ông - còn gọi là "Ngũ vị tôn quan"có một vị trí rất trang trọng trong hệ thống tín ngưỡng bách thần Việt tộc. Có thể nói Ngũ vị tôn ông có vị trí chỉ sau Tam tòa Thánh Mẫu.

"Ngũ vị tôn ông" gồm:

1/ Quan Lớn Đệ Nhất Thượng Thiên. Y phục màu đỏ (Thuộc Hỏa).

2/ Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn. Y phục màu xanh lá cây (Thuộc Mộc).

3/ Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ. Y phục màu trắng (Thuộc Kim).

4/ Quan Lớn Đệ Tứ Khâm Sai. Y phục màu vàng (Thuộc Thổ).

5. Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Y phục màu lam (Thuộc Thủy).

Hình ảnh của Ngũ vị tôn ông thể hiện trong tín ngưỡng dân gian Việt qua những bức tranh, tượng thờ và màu sắc y phục dưới đây:

 

image208_zps8d94b605.jpg

Tranh thờ Hàng Trống về Đạo Mẫu của Việt tộc.

Trong đó có Ngũ vị tôn ông. Hàng thứ 4 từ trên xuống

 

 

image209_zpsfbe580f4.jpg

Tranh thờ Ngũ vị tôn ông của dân tộc Sán Dìu

 

 

image210_zpsd334c1ed.jpg

Tượng thờ Ngũ vị tôn ông trong tín ngưỡng Việt.

Nguồn: vatgia.com. Internet

 

Qua hình tượng Ngũ ông và y phục phù hợp với Ngũ hành được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, cho thấy tín ngưỡng thờ Ngũ ông hoàn toàn là hệ quả của một học thuyết Âm Dương Ngũ hành.

 

4. 4. BA MƯƠI SÁU GIÁ ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG VIỆT VÀ 36 CHÒM SAO THIÊN CANG.

 

Trong các thư tịch cổ Đông phương thường nhắc đến 36 sao Thiên Cương và 72 sao Địa sát. Ba mươi sau sao Thiên Cương lần lượt có tên gọi là:

1. Thiên Khôi Tinh ; 2. Thiên Cương Tinh;  3. Thiên Cơ Tinh;  4. Thiên Nhàn Tinh; 5. Thiên Dũng Tinh;  6. Thiên Hùng Tinh; 7. Thiên Mãnh Tinh; 8. Thiên Uy Tinh;  9. Thiên Anh Tinh;  10. Thiên Quý Tinh;  11. Thiên Phú Tinh; 12. Thiên Mãn Tinh; 
13. Thiên Cô Tinh;  14. Thiên Thương Tinh; 15. Thiên Lập Tinh; 16. Thiên Tiệp Tinh ;17. Thiên Ám Tinh; 18. Thiên Hữu Tinh; 19. Thiên Không Tinh; 20. Thiên Tốc Tinh; 21. Thiên Dị Tinh; 22. Thiên Sát Tinh; 23. Thiên Vị Tinh; 24. Thiên Cứu Tinh; 25. Thiên Thoái Tinh;

26. Thiên Thọ Tinh;27. Thiên Kiếm Tinh; 28. Thiên Bình Tinh; 29. Thiên Tội Tinh; 30. Thiên Tổn Tinh; 31. Thiên Đại Tinh; 32. Thiên Lao Tinh; 33. Thiên Tuệ Tinh; 34. Thiên Bảo Tinh; 35 Thiên Khốc Tinh; 36. Thiên Xảo tinh.

Đây là tên gọi phân loại của các chòm sao có thật trên bầu trời. Nhiều danh từ mô tả các sao nói trên dùng trong các bộ môn dự báo của văn minh Đông phương, như: Trong Tử Vi có: Thiên Cơ, Thiên Khốc, Thiên Khôi, Thiên Thọ, Thiên Sứ ...vv....Trong Thái Ất thần kinh có: Thiên Anh, Thiên Bồng....

Hiện tượng ba mươi sáu chòm sao Thiên Cương được mô tả trên bầu trời và ảnh hưởng tương tác của các sao này theo quan niệm của thuyết Âm Dương ngũ hành - được huyền thoại hóa từ lâu trong văn minh Đông phương và sự liên hệ với ba mươi sáu giá đồng trong tín ngưỡng Việt, cho thấy: Những tín ngưỡng Việt từ việc thờ Tứ bất tử (Tứ trụ Thiên Vương hộ quốc), Tam toà Thánh mẫu, Ngũ vị Tôn ông, Ba mươi sáu giá đồng, đều có xuất xứ từ thực tế nhận thức vũ trụ và mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và sau đó là cơ sở thần thoại hóa hình thành tín ngưỡng Việt.

 

4. 5. TÍN NGƯỠNG THỜ ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO

Từ cội nguồn minh triết Việt và thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Rất nhiều người quan niệm rằng tục cúng Ông Táo là của người Hán du nhập vào văn hóa Việt. Thậm chí nó được không ít các học giả trình bày một cách rất nghiêm túc.

Nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại! Chính nền văn hiến Việt trải gần 5000 huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử là nguồn gốc của phong tục cúng ông Công, Ông Táo. Khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở Nam Dương Tử và bị Hán hóa trải hàng ngàn năm; khiến ngày nay người ta ngộ nhận tục cúng ông Công, Ông Táo của người Hán.
Nhưng khi cội nguồn thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch đã xác định từ nền văn hiến Việt và tục thờ Ông Công, Ông Táo lại gắn liền với những giá trị liên quan của học thuyết này, cho thấy: Tục thờ ông Công, Ông Táo, hoàn toàn có nguồn gốc Việt từ lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử.

Nội dung mô tả trong phần này là sự tiếp tục chứng tỏ khả năng giải thích của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan đến những hiện tượng, tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh. Đây là một tiêu chí cho Lý thuyết thống nhất khoa học. Mối liên hệ nhân quả từ tương quan những định đề của thuyết Âm Dương Ngũ hành với tín ngưỡng thờ Ông Công, Ông Táo của Việt tộc, người viết tiếp tục được minh chứng sau đây. 

4. 4. 1. Ông Táo trong truyền thuyết và phong tục Việt.
Cứ mỗi khi năm hết Tết đến, vào ngày 23 tháng Chạp (Tháng 12 Âm lịch), mọi gia đình Việt Nam theo phong tục lại làm lễ cúng Ông Táo về trời. Đây là một phong tục thuần Việt có từ thời Hùng Vương dựng nước và còn giữ lại trong truyền thống văn hóa Việt đến ngày nay.

Bẳng chứng gián tiếp cho điều này là từ thời Hùng vương thứ VI, vua Hùng đã chấm giải nhất cho hoảng tử Lang Liêu là người kế vị và bánh chưng, bánh dày do hoàng tử Lang Liêu sáng tạo, được vị vua Hùng Vương cuối cùng của thời Hùng Vương thứ VI ấn chứng và quyết định là lễ vật đặc biệt, dùng cúng tổ tiên trong ngày Tết.
Từ đó, chúng ta dễ dàng suy ra rằng: Ít nhất lễ Tết Nguyên đán của người Việt, có từ trước thế kỷ XV BC - tương đương thời vua Bàn Canh của Ân Thương. Bằng chứng là tục cúng bánh chưng, bánh dày dâng lên tổ tiên trên ban thờ những ngày Tết, còn đến tận ngày nay. Từ đó, mối liên hệ hợp lý tiếp theo là tục thờ Ông Công, Ông Táo về trời vào ngày 23 tháng Chạp, liên hệ đến ngày giáp Tết phải là phong tục của người Việt từ thời xa xưa.

Bởi vì, khi nền văn minh Hán  tiếp quản được nền văn minh ở Nam Dương Tử, đã Hán hóa những giá trị văn hóa Việt trong hơn 1000 năm và tiếp tục duy trì đến bây giờ, ở vùng đất cũ của Văn Lang xưa, khiến không ít người ngộ nhận tục cúng ông Táo của người Hán. Nhưng tục thờ Ông Công, Ông táo của người Hán chỉ là một tín ngưỡng thuần túy và không mang một nội dung minh triết liên hệ với nó.

Ngược lại, truyền thuyết của dân tộc Việt với hình ảnh Táo quân "Hai ông, một bà" và nội dung của nó lại trùng khớp hoàn toàn về nội dung với những giá trị minh triết Đông phương của chính cái mà người ta gọi là có nguồn gốc Hán.
Chúng ta hãy xem lại truyền thuyết có dấu ấn cổ xưa nhất về ông Táo còn lưu truyền trong văn hóa Việt, tóm lược như sau:


Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Ngọc Hoàng cảm động trước mối chân tình của cả ba người, (2 ông, 1 bà), và cũng cảm thương cái chết trong lửa nóng của họ, ngài cho phép họ được ở bên nhau mãi mãi bèn cho ba người hóa thành “ba đầu rau” hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp của người Việt ngày xưa. Từ đó, ba người ấy được phong chức Táo Quân, trông coi và giữ lửa cho mọi gia đình, đồng thời có nhiệm vụ trông nom mọi việc lành dữ, phẩm hạnh của con người. Táo Quân, còn gọi là Táo Công, là vị thần bảo vệ cho cuộc sống gia đình, thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp.

 

Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình ở trần gian với Ngọc Hoàng. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình.
Vị Táo Quân quanh năm ở trong bếp nên biết hết mọi chuyện hay dở tốt xấu của mọi người. Cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa Ông Táo về chầu Ngọc Hoàng rất trọng thể. Người ta thường mua hai mũ Ông Táo có hai cánh chuồn và một mũ dành cho Táo Bà không có cánh chuồn, ba cái áo bằng giấy cùng một con cá chép còn sống, để làm phương tiện cho “Vua Bếp” lên chầu trời. Ông Táo sẽ tâu với Ngọc Hoàng về việc làm ăn, cư xử của mỗi gia đình dưới hạ giới. Lễ cúng thường diễn ra trước 12h trưa, sau khi cúng xong, người ta sẽ hóa vàng đồ lễ, nếu có cá sống thì sẽ đem thả xuống sông, hồ, biển hay giếng nước, tùy theo khu vực họ sinh sống.
Càng tiến dần vào trong Nam thì tục cúng ông Táo về trời có một chút thay đổi. Nhưng lễ cúng Táo Quân ở miền Bắc với một nghi lễ không thể thiếu là Cá Chép là mang tính nguyên thủy hơn cả.

Qua truyền thuyết của dân tộc Việt truyền lại, chúng ta thấy rằng hình ảnh hai ông một bà - tức một Âm hai Dương hoàn toàn trùng khớp với quẻ Ly trong Bát quái của kinh Dịch.


QLY.jpg
Quẻ Ly trong Bát quái

Quẻ Ly: Gồm hai hào Dương (Hai ông) và một hào Âm (Một bà) ở giữa. Hình ảnh táo quân: Hai ông, một bà chính là hình tượng của quẻ Ly.

 

image212_zps8acc1d75.jpg

 

Tranh thờ Táo quân.

Tranh dân gian Việt

 

Thuộc tính của quẻ Ly trong Bát quái được mô tả thuộc Hỏa ("Ly vi Nhật, vi Hỏa..."). Đây chính là hình tượng của cái bếp trong mỗi gia đình, thuộc hành Hỏa, trong phân loại của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Ba vị Táo quân trong phong tục Việt cũng phù hợp với thực tế cái bếp xưa của Việt tộc cũng chỉ có ba miếng đất gọi là: Ông Đầu rau.

417_zps9a22069b.jpg
Ba ông Đầu rau trong bếp Việt xưa.

Nguồn internet

Một trong những nét độc đáo khi tạo ba ông đầu rau để nấu bếp là: khi nặn ba ông đầu rau, bao giờ người thợ nặn cũng lấy ngón tay ấn nhẹ vào giữa một trong ba ông này, tạo thành một vết lõm tròn. Và ông đầu rau có vết lõm đó bao giờ cũng đặt vào giữa.

Thời hiện đại, nấu bếp với ba ông Đầu rau bằng đất đã thuộc về lịch sử. Xưa nhất cũng là cái kiềng ba chân bằng sắt phổ biến ở thành thị. Ông Đầu rau bằng đất dù ở vùng sâu, vùng xa cũng chắc không còn nữa. Huống chi một vết nhấn tròn giữa một ông đầu rau, chắc chẳng ai còn nhớ. Cho nên, điều mà người viết nói ở đây, may ra chỉ còn trong ký ức của những người cao niên, ở một miền quê xa xôi nào đó.
Ý nghĩa của vết lõm này, chính là dấu hiệu của tính bao trùm mà tiếng cổ Việt ngày xưa gọi là "Cái'. Tức Táo bà. Quẻ Ly thuộc Dương, nhưng lại ở phía dưới Hà đồ, nên tính Âm mới bao trùm lên tất cả. Bởi thế tính Âm mới làm "cái" trong ba ông Đầu rau. Chính vì vậy mà quẻ Ly - ngoài ý nghĩa là Hỏa (Lửa), còn là Trung Nữ.
Trong bức tranh dân gian Việt mà các bạn thấy ở trên Táo bà ngồi giữa hai ông thì trong quẻ Ly hào Âm cũng đứng giữa. Quẻ Ly thuộc Hỏa nên biểu tượng cho bếp cũng thuộc Hỏa. Biểu tượng trong truyện dân gian "
cả ba người cùng chui trong đống lửa" đấy chính là hình tượng của ba ông đầu rau trong bếp mỗi nhà.

4.4.2. Hệ thống 64 quẻ Hậu thiên trong phong tục cúng Táo Quân của người Việt.
Một hình ảnh gắn liến với lễ Táo Quân chính là con cá chép. Tại sao về trời mà Táo quân lại cưỡi cá chép? Sao không phải là cưỡi chim? Ông cha ta có lầm lẫn gì không?

Con cá chép thuộc hành thủy. Trong những di sản văn hóa phi vật thể là những bức tranh dân gian Việt, chúng ta thấy tranh đàn lợn với một lợn mẹ và năm lợn con. Đây chính là hình tượng của "Thiên nhất sinh thủy. Địa lục thành chi". Chúng ta cũng thấy hình tượng này trong tranh cá chép phướng Hàng Trống (*): Một con cá mẹ với năm con cá con.

1507.jpg
Lý Ngư vọng Nguyệt

Tranh dân gian Hàng Trống
Thiên nhất sinh thủy . Địa lục thành chi.


Cá thuộc hành Thủy, tượng của quẻ Khảm:

467233_zpsdb51d407.jpg

 

Và hình tượng Táo quân cưỡi cá chép, chính là biểu tượng của quẻ Hỏa Thủy Vị tế trong kinh Dịch. Đây là quẻ cuối cùng kết thúc một chu kỳ 64 tư quẻ Dịch. Biểu tượng cho chu kỳ tuần hoàn của tạo hoá trong một năm đã kết thúc và chuyển sang một chu kỳ mới và mọi việc vẫn còn tiếp tục để một năm mới tốt lành. Đó là tinh thần của quẻ Vị Tế.

 

463233_zps8263bd70.jpg

 

467233_zpsdb51d407.jpg

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế.

Biểu tượng của Táo Quân (Ly - Hỏa) cưỡi trên lưng cá chép (Khảm - Thủy).

 

Tại sao Ông Táo lại về trời lại là ngày 23 tháng Chạp mà không phải là ngày 30? Ngày này là ngày mà lý học Đông phương cho là ngày Nguyệt Kỵ. Đặc biệt ngày 23, tháng Chạp lại là ngày Đại kỵ.Vậy Táo quân lại chọn đúng ngày này lên trời liệu có sái không?

Những kiến thức cổ lưu truyền trong dân gian, chỉ ghi nhận mùng 5, 14, 23 là ngày Nguyệt kỵ và không một lời giải thích. Trong truyền thuyết dân gian Việt thì cho rằng "Đó là những ngày vua đi, nên kiêng ra đường".

Thực ra, đây chính là phương pháp phiên tinh ngày, tính theo tháng của phương pháp phi tinh Huyền không trong phong thủy. Ngày của sao Ngũ Hoàng nhập trung theo chu kỳ cửu cung. "Vạn vật qui ư thổ", hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đây chính là ngày kết thúc chu kỳ của Ngũ hành vào tháng cuối cùng trong năm. Kết thúc chu kỳ Ngũ hành vào ngày 23, đồng thời cũng là kết thúc chu kỳ của 64 quẻ Dịch trong một năm , Hành Thổ thuộc trung cung thuộc ngôi Hoàng cực chi phối Ngũ hành. Theo Lý học Đông phương thì đó là trung cung,  thuộc về Hoàng tộc, nên là chọn là ngày của Vua Bếp, Táo Quân về trời.

4. 4. 3. Y phục của Táo Quân và vì sao Táo Quân không mặc quần?
Bức tranh dân gian Việt ở trên vẽ ba vị Táo Quân, đều mặc quần nghiêm chỉnh, với những hàng chữ Hán phía trên. Bức tranh này hẳn được sáng tác kể hàng ngàn năm sau khi nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử. Bởi vì, trong phong tục còn giữ lại được đến ngày nay trong dân gian Việt thì Táo Quân không mặc quần. Điều này cũng giống như hàng ngàn năm trôi qua, những con rối nước trong văn hóa dân gian Việt được vẽ cái vạt áo bên phải vậy. Nhưng ngày nay, rất hiếm trong kho tàng chất những con rối nước cổ bỏ đi, may ra còn những con rối xưa cài vạt áo bên trái. Vậy Táo Quân không mặc quần có ý nghĩa gì trong truyền thống Việt?
Lịch sử Trung Hoa ghi lại: Chính cái quần là của các dân tộc phía Bắc Trung Hoa và không thuộc về y phục Hán cổ. Vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốc, Triệu Vũ Vương mới đưa cái quần vào làm y phục chính thức của nước Triệu. Và y phục này thích hợp với các chiến binh trong các cuộc chiến liên miên giữa các quốc gia so với vải quây che phần thần dưới trước đó. Sau này chiếc quần mới phổ biến trong Thất Quốc, do các chiến binh mặc và trở thành y phục của Trung Hoa. Nhưng Người Việt, với tư cách là một nhà nước độc lập ở Nam Dương Tử, có một nền văn hiến lâu đời trước cả nền văn minh Hán, tất nhiên không thể tiếp thu một cách nhanh chóng y phục quần của các dân tộc phi Hán ở Phương Bắc Trung Quốc và chỉ xuất hiện sau này.

Điều này cho thấy rằng: Phong tục thờ Táo Quân phải có từ rất lâu, trước cả khi dân tộc Hán bị xâm nhập văn hóa mặc quần của các dân tộc phía Bắc này và còn giữ đến bây giờ. Và điều này như người viết đã phân tích ở trên: Nó phải có trước thời Vua Hùng Vương thứ VI quyết định dùng bánh chưng, bánh dầy vào lễ Tết của dân tộc Việt. Còn nếu như thời Hùng Vương chỉ ra đời vào Thiên niên kỷ thứ nhất trước CN và Tết Việt Nam là văn hóa Hán là chủ nhân đích thực của văn hóa Đông phương thì ông Táo Việt đã mặc quần như bức tranh dân gian sáng tác về sau này mà bạn đọc đã nhìn thấy ở trên.

image216_zps95c14237.jpg
Táo Quân Việt không mặc quần.

Hình minh họa. Nguồn internet

 

Đã có thơ rằng (Hình như của cụ Tản Đà):

Hăm ba, ông Táo dạo chơi xuân
Đội mão, đi hia, chẳng mặc quần
Giời hỏi: làm sao ăn mặc thế?

Thưa rằng: hạ giới nó… duy tân!

 

Qua sự minh chứng và phân tích ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Đằng sau một phong tục cổ truyền của dân tộc Việt, tục cúng "Ông Táo về trời" là cả một sự minh triết liên quan chặt chẽ đến nền Lý học Đông phương, mà chúng tôi i đã minh chứng thuộc về nền văn hiến huyền vĩ Việt, một thời huy hoàng ở miến Nam sông Dương Tử. Có thể nói rằng: Không phải ngẫu nhiên mà có sự trùng khớp hợp lý gần như toàn bộ nhứng nét chính của phong tục cúng ông Công, ông Táo với những quan niệm có tính nguyên lý của học thuật cổ Đông phương. Sở dĩ có sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ này, chính vì nó là hệ quả của nền minh Đông Phương thuộc về nền văn hiến Việt được đưa vào cuộc sống văn hóa Việt, qua phong tục cúng đưa "Ông Công, Ông Táo về trời".

Vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây. Khi chính chiếc mũ Ông Công, Ông Táo được bán đầy ở khắp kẻ chợ , thôn quê vào những dịp cúng Ông Công, Ông Táo ngày nay, lại là một hình tượng được cách điệu bằng giấy của chiếc mũ các vua Hùng trên trống đồng Lạc Việt. Bạn đọc so sánh chiếc mũ Ông Công, Ông Táo và hình trên trống đồng Lạc Việt dưới đây:
image217_zps8ba332cd.jpg
Mũ Ông Công Ông Táo

 trên khắp chợ cùng quê trong nền văn hiến Việt còn đến ngày nay.

424_zps3777261c.jpg
Hình người trên trống đồng Lạc Việt

- với mũ có hình đầu rồng (Bên phải) và hai dải mũ cao vút.

Cùng với các tính ngưỡng trong văn hóa truyền thống Việt, mà người viết đã trình bày ở trên, cho thấy: Tín ngưỡng trong văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn có nền tảng từ thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây chinh là một bằng chứng sắc sảo xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã tồn tại từ rất lâu trong bách Việt, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử.

 

4.4.4. Tục thờ Táo quân trong tín ngưỡng được coi là của người Hán.

Không thể coi tục thờ Táo Quân có nguồn gốc từ văn minh Hán. Điều mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tục thờ Táo từ văn minh Hán hoàn toàn không có một hệ thống minh triết nguyên thủy kèm theo.

Dưới đây là hình ảnh mô tả tục thờ Táo từ văn minh Hán.

 

image219_zps5d77f1dc.jpg

Tranh thờ Táo Quân từ văn minh Hán.

Nguồn Dân Trí.

Chỉ cần qua hình tượng tranh thờ Táo Tầu, cũng cho thấy hoàn toàn không có ý nghĩa minh triết trong tục thờ Táo được coi là thuộc văn minh Hán, liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành và gọi là ảnh hưởng của văn hóa Hán với văn hiến Việt. Bởi vì, thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về nền văn minh Hán.

===========

* Chú thích: Trong sách là hình ảnh minh họa "Đàn cá" tranh dân gian Đông Hồ. Nhưng hình trong photobucket của tôi thì bức tranh nằm ngang, trông không đạt yêu cầu thẩm mỹ, nên tôi thay bằng tranh Lý ngư vọng nguyệt, phường Hàng Trống. Nội dung không có gì thay đổi. Nguyên bản trong tranh gồm 1 cá mẹ và 5 cá con. Trong bức tranh này trên mạng thiếu 1 con cá con, do ảnh bị cắt phần phía dưới ánh trăng , nên thiếu một con cá.

PS: Tôi tìm được tranh Đàn cá - tranh dân gian Đông hồ. Nhưng để quý vị và anh chị em quan tâm không bị chi phối vì sự thay đồi, nên tôi bổ sung vào đây. Trong tranh này có đủ 5 chú cá con và 1 cá mẹ: "Thiên Nhất sinh thủy Địa lục thành chi"

 

419_zpsa10bc040.jpg

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

4.6. GIÁ ĐỒNG CÔ CHÍN VÀ HỔNG PHẠM CỬU TRÙ

Trong tín ngưỡng dân gian truyền thống Việt với 36 giá đồng thì có giá đồng Cô Chín được coi là Thánh tổ dự báo của tín ngưỡng dân gian Việt.

Những người có căn Cô Chín khi nhập đồng mặc áo màu hồng và đặc biệt điện thờ Cô Chín bao giờ cũng phải đặt đằng trước hình tượng một con gà trống.

image220_zps1edea9f0.gif

Hình tượng con gà trống bằng giấy trước điện thờ Cô Chín.

 

image221_zps6f009f83.jpg

Hầu đồng Cô Chín trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Nguồn: Internet

 

Như vậy, hình tượng con gà trong tranh dân gian Việt Nam và con gà trong tín ngưỡng thờ Thánh, cùng có chung một cội nguồn văn hóa Lạc Việt và gắn liền với việc “bói toán”.

Như đã trình bày ở phần trên, hình tượng con gà dùng vào việc bói toán xưa nhất theo bản văn cổ chữ Hán là Hồng phạm cửu trù. Trong đó mô tả trù thứ 7 là "Kê Nghi" tức "Hỏi gà".

Nhưng sử dụng hình ảnh con gà như là một biểu tượng của sự bói toán lại phổ biến trong tín ngưỡng dân gian và trong di sản văn hóa truyền thống Việt Nam. Điều này là một sự minh chứng rõ nét, bổ sung cho quan niệm rằng: Hồng Phạm cửu trù được nhắc tới trong kinh Thư, chính là một di sản văn hóa của người Lạc Việt và là bản hiến pháp cổ nhất của nước Văn Lang, cội nguồn của nền văn hiến trải gần 5000 năm của nước Việt Nam hiện nay. Hình tượng “con gà” trong văn hóa dân gian Việt Nam, chính là sự bảo chứng cho quan niệm này.

Theo truyền thuyết từ văn hóa Hán thì vua Đại Vũ khi trị thủy ở sông Lạc thấy còn rùa lớn. Căn cứ vào các chấm trên con rùa, nhà vua tìm ra Lạc Thư và từ đó định Hồng phạm cửu trù (Đã trình bày ở trên). Nội dung Hồng phạm cửu trù mô tả trong kinh Thư - một trong ngũ kinh - như sau:

 

1. Ngũ Hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.
2. Ngũ Sự: Mạo, Ngôn, Thị, Thính, Tư. (Diện mạo, lời nói, thấy, nghe, suy nghĩ).
3. Bát Chánh: Thực, Hóa, Tự, Tư Không, Tư Đồ, Tư Khấu, Tân, Sư. (Ăn, của cải, cúng tế, quan Tư Không [kho tàng], quan Tư Đồ [giáo dục], quan Tư Khấu [công an], tiếp khách, việc quân).
4. Ngũ Kỷ: Tuế, Nguyệt, Nhật, Tinh thần, Lịch số. (năm, tháng, ngày, các vì sao, lịch số).
5. Hoàng Cực: Làm vua dựng nên mực thước cho dân bắt chước, thì hưởng được 5 phúc lành, dùng để ban khắp cho thứ dân; các thứ dân theo mực thước của vua, giúp vua giữ mãi được mực thước ấy.
6. Tam Đức: Chánh trực, Cương khắc, Nhu khắc. (ngay thẳng, cứng rắn, mềm dẽo).
7. Kê Nghi: Xét những chỗ nghi hoặc bằng phép bói: Bốc là bói bằng mai rùa, Phệ là bói bằng cỏ thi.
8. Thứ Trưng: Mưa, nắng, nóng, lạnh, gió, đều hợp thời, đúng khí hậu, cây cối tốt tươi.
9. Ngũ phúc, Lục cực: Ngũ phúc là: thọ, phú, khang ninh, hiếu đức, chung mệnh. (sống lâu, giàu có, mạnh khỏe bình yên, yêu chuộng đạo đức, già được trọn đời). Lục Cực: hung đoản, chiết tật, ưu, bần, ác, nhược. (hung họa chết non, tật bịnh, lo buồn, nghèo nàn, ác nghiệt, nhu nhược).

 

Trên cơ sở Hà đồ thì Kê Nghi phải nằm ở trù thừ 9 - Lạc thư nằm ở trù thứ 7/ Ly (Đây cũng là ý nghĩa của việc đổi chỗ Ly / Đoài trong Huyền không phong thủy Lạc Việt và những bí ẩn của Huyền không Lạc Việt), do nguyên lý căn để của văn minh Lạc Việt là "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Giá trị của trù thứ 9 chính là những phương pháp bói toán, khả năng bói toán, dự báo trong mọi lĩnh vực,  hệ quả cuối cùng cùng một hệ thống Lý thuyết huyền vĩ, nên nằm ở giai đoạn kết của chu kỳ vận động với độ số 9 thuộc Dương và biểu tượng bằng con gà trống/ cung Dậu / phương Tây/ Đoài/ Thiếu nữ. Tinh thần thuộc Dương và là phương pháp bói toán thì hình tướng thuộc Âm nên gọi là "Cô 9".
Đấy là ý nghĩa huyền vi của danh xưng "Cô 9" và hình tượng con gà trống (Dậu) ở Tây phương.

 

Kết luận

Qua sự trình bày của người viết về sự liên hệ từ những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, hoặc những thực tại nhận thức được từ bầu trời (Ba mươi sáu sao Thiên Cương), so sánh với tín ngưỡng dân gian Việt Nam thấy có một sự liên hệ hết sức chặt chẽ. Nếu không muốn nói rằng: Chính tín ngưỡng dân gian truyền thống Việt có xuất xứ từ học thuyết này. Những tương tác và quy luật vận động của vũ trụ được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được hình tượng bằng chính các vị thần liên quan.

Do đó, hoàn toàn không phải là vội vã khi kết luận rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành đáp ứng đầy đủ những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Và vấn đề cũng chưa ngừng lại ở đây.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

4. 6.  ĐAO ĐỨC VÀ TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC VIỆT

VỚI  THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

 

4. 6. 1. Ngũ Đức và Ngũ hành.

Trong văn hóa truyền thống Đông phương, đạo đức cho mỗi con người trong quan hệ xã hội được chuẩn hóa cụ thể bởi năm thành tố là: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

Năm chuẩn mực đạo đức của văn minh Đông phương cũng xuất phát từ việc ứng dụng quy luật vũ trụ trong điều hành xã hội được miêu tả trong phạm trù của Ngũ hành. Trong đó:

1/ Đức "Nhân" đứng đầu trong Ngũ đức và là thành tố căn bản có tính quyết định các đức tính chuẩn mực khác, thuộc hành Thổ.

2/ Thổ sinh Kim. Đó là đức "Tín".

3/ Kim sinh Thủy.  Đó là đức "Trí".

4/ Thủy sinh Mộc.  Đó là đức "Nghĩa".

5/ Mộc sinh Hỏa.  Đó là đức "Lễ".

Bởi vậy, câu thuật ngữ "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", đọc đúng phải là: "nhân (Thổ), lễ (Hỏa), nghĩa (Mộc), trí (Thủy), tín (Kim)". Đây cũng là chiều tương sinh của Hà đồ từ phải sang trái (Thuận kim đồng hồ).

 

4. 5. 2. "Tiên học lễ, hậu học văn" và nền giáo dục truyền thống Việt.

Truyền thống trong cuộc sống xã hội là người Việt rất ham học. Hình ảnh những bà mẹ quê mót lúa, mò cua, bắt ốc cho con đi học; những người cha đầu tắt, mặt tối, sống trong ống cống, cũng dành dụm để con đi học thành người...không chỉ là những hiện tượng bây giờ mới có, mà là truyền thống của Việt tộc từ ngàn xưa. Từ những di sản truyền thống về việc vinh danh những người tài năng, qua thành ngữ dành cho sự thành đạt, như: "vinh quy bái tổ", hoặc những tấm gương vượt khó để học còn ghi nhận theo truyền thuyết, truyện cổ tích, như: "Trần Minh khố chuối", "Sự tích các trạng"... không có tiền mua tập vở phải viết trên lá chuối khô, hoặc nghèo không có tiền mua dầu đèn phải dùng đèn đom đóm... Dã sử cũng ghi nhận, những làng hiếu học, dân chúng gom tiền cho những trẻ em thông minh đi học với hy vọng thành tài mang lại vinh quang cho dân làng....

Đấy là những mục đích cuộc sống ở nơi dân dã. Từ thượng tầng kiến trúc trong kinh điển của Nho giáo, từ hàng ngàn năm trước cũng ghi nhận:

 

Thiên tử trọng hiền hào.

Văn chương giáo nhĩ tào.

Vạn ban giai hạ phẩm.

Duy hữu độc thư cao.

 

Hai câu trên xác định việc học là một ưu tiên hàng đầu được triều đình - nhà nước - khuyến khích: "Thiên tử trọng hiền hào". Hai câu dưới xác định đọc sách là giá trị tinh thần cao cấp nhất trong cuộc sống của con người.

Từ lâu, đã có những luận điểm phê phán, cho rằng quan điểm của Nho giáo để cao trí thức và hạ thấp những người lao động chân tay. Nhưng trong câu trên, người viết không thấy việc phủ nhận địa vị của người lao động chân tay. Mà chỉ thấy việc khuyến học cho bất cứ tầng lớp nào trong xã hội.

 

image222_zps561b7585.jpg

 

Chăn trâu đọc sách

Tranh dân gian Đông Hồ.

 

Bức tranh dân gian trong truyền thống văn hóa Việt cho thấy tinh thần "duy hữu độc thư cao" không phải chỉ ở tầng lớp trí thức.

 

Cổ thư viết:

 " Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý".

 

Nhưng mục đích của việc học trong truyền thống dân dã Việt và được sự khuyến khích của triều đình, không phải chỉ để vinh thân, phì gia. Mục đích cuối cùng của giáo dục, thông qua khuyến học là để duy trì và phát triển nền văn minh. Đó chính là một trong những thành tố của triết lý giáo dục Đông phương. Nhưng hình tướng của việc khuyến học và sự sụp đổ của một nền văn minh từ hơn hai ngàn năm trước, khiến nó bị biến tướng và trở thành mục đích cá nhân.

 

Thôi có làm chi cái chữ Nho.

Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.

Chi bằng đi học làm thày phán.

Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.

Thơ Trần Tế Xương.

 

Để đạt mục đích duy trì và phát triển nền văn minh trong việc khuyến học thì mục đích đầu tiên của những giá trị văn minh phương Đông, là:

 

"Tiên học lễ, hậu học văn".

 

“Lễ”,  mà chúng tôi đã trình bày, chính là một trong ba mô thức của hình thái ý thức xã hội, được xác định bởi những quy luật vũ trụ trong "Tam Dương khai thái", thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Lễ cũng là một thành tố của Ngũ Đức. Lễ chính là hình thức giao tiếp giữa con người với con người, trong mọi mối quan hệ xã hội. Nếu chỉ hiểu về "Lễ" thông qua những hình thức nghi lễ cầu kỳ được quy định của các triều đại phong kiến xưa và nhận thấy sự rườm rà, không thích hợp với cuộc sống hiện đại, rồi từ đó, phủ nhận việc "học Lễ" là một cách nhìn không toàn diện.

Đúng là những nghi lễ cầu kỳ trong hình thức giao tiếp trong quan hệ xã hội của những thời đại xa xưa, trong nền văn minh Đông phương, cần phải hiệu chỉnh, hoặc bãi bỏ. Nhưng không thể phủ nhận việc "học Lễ".

Nhận xét một cách tổng quát thì người viết cần xác định rằng: Tất cả các sinh vật cao cấp đều có "Lễ" cả. Nhưng chỉ có con người, nhận thức được quy luật tự nhiên và vũ trụ, mới đưa hình thức giao tiếp trở thành một mô thức hình thái ý thức xã hội. Có thể nói: Từ những bộ lạc còn tồn tại ở trạng thái nguyên thủy trong rừng Amadon, cho đến các quốc gia hiện đại, đều có hình thức nghi lễ của họ.

Cho nên vấn đề "Tiên học Lễ" chính là học cách giao tiếp giữa con người với con người và con người với cộng đồng, để hòa nhập với cộng đồng và xác định được vị trí của mình trong cộng đồng. Một số triều đại Việt trong lịch sử vẫn có hẳn một bộ chuyên nghiên cứu và thi hành lễ trong xã hội, gọi là Bộ Lễ. Đứng đầu là quan Thượng thư, tương đương bộ trưởng hiện nay.

Một thí dụ rất đơn giản trong bài học đầu tiên khi đến trường là học sinh phải chào thày, cô giáo khi vào lớp. Đấy chính là "Tiên học Lễ".

Trong ngôn ngữ Việt, Lễ được thể hiện rất rõ qua từ nhân xưng phân biệt vai vế rất phong phú: Anh, em, cậu, cô, chú, bác, ông bà nội ngoại, thím, dì...con, cháu...Và chỉ trong cách xưng hô, người nghe cũng biết được địa vị giữa những người đối thoại. Tức mối quan hệ giao tiếp của họ.

Chỉ riêng hiện tượng phong phú về ngôn ngữ khi xưng hô này, cũng đủ để cho thấy sự phát triển rất cao cấp trong hình thái ý thức xã hội và những quan hệ xã hội chặt chẽ, phong phú của nền văn hiến Việt từ hàng ngàn năm trước.

Sự xác định của người viết là:

Lễ là một thực tế tồn tại theo quy luật tự nhiên, thể hiện hình thức giao tiếp giữa cá thể với cá thể khác trong cộng đồng, xuất hiện dễ nhận thấy ở những sinh vật cao cấp. Con người nhận thức được qui luật tự nhiên đã ứng dụng như một mô thức thuộc hình thái ý thức xã hội.

Trong nền văn minh nhân loại, Lễ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong mối quan hệ xã hội. Đó chính là hình thức giao tiếp  giữa con người với con người và con người với cộng đồng. Mục đích cuối cùng của Lễ là xác định vị trí con người trong quan hệ xã hội và thiên nhiên.

Do đó, trong nền văn hiến Việt , khi nhận thức quy luật tự nhiên được mô tả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành , đã coi Lễ như là một mô thức của hình thái ý thức xã hội với mục đích cân bằng và ổn định các mối quan hệ xã hội để phát triển.

 

4. 5. 3. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và trò chơi của trẻ em Việt.

 

Minh triết Việt trong trò chơi "Ô ăn Quan"
Trong văn hóa truyền thống Việt có nhiều trò chơi trẻ em truyền từ đời này sang đời khác. Có thể nói hầu hết những trò chơi này đều mang một ý nghĩa minh triết sâu sắc liên hệ với những nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Những trò như: "Lò cò", "Chi chi, chành chành".... mà nội dung của nó, chúng tôi đã trình bày ở trên trong những chủ đề liên quan.  Nhưng sẽ là một thiếu sót, nếu chúng tôi không giới thiệu với bạn đọc nội dung minh triết một  trò chơi nổi tiếng trong truyền thống văn hóa Việt. Đó là trò chơi "Ô ăn quan". Có thể nói: người Việt Nam đủ mọi lưa tuổi, hầu như đều đi qua thời thơ ấu trong trò chơi này. Cũng như những bức tranh dân gian cho trẻ em dán lên tường ngày Tết cho vui cửa, vui nhà , nhưng đều mang một ý nghĩa minh triết sâu sắc liên quan đến một học thuyết còn bí ẩn là thuyết Âm Dương Ngũ hành, thì trò chơi "Ô ăn quan" của trẻ em Việt cũng mang một nội dung minh triết liên quan đến học thuyết này.

 

 

385_zpseb4c42fb.jpg

“Chơi Ô ăn Quan”
Bức danh họa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh sáng tác năm 1931

 

Trò này được chơi như sau:

Trên một hình vẽ gồm 10 ô vuông sắp thành hai hàng, mỗi hàng năm ô, trong một hình chữ nhật. Hai đầu hình chữ nhật có hai nửa vòng tròn. Có hai người chơi ngồi hai bên, đối xứng theo trục dọc của hình. Mỗi bên có 25 quân chia cho mỗi ô 5 quân. Mỗi nửa vòng tròn trong đó có một quan. Quân có thể là hạt nhãn hoặc hòn sỏi, quan có thể là hạt vải hoặc hòn sỏi to hơn.

 

 

image224_zpsdf8bd007.jpg

 

Mô hình trò chơi Ô ăn Quan
 

 

Cách chơi:

Lần lượt từng người chơi. Mỗi bên khi bắt đầu chơi, chỉ được phép bốc quân ở một trong năm ô phía bên mình và rải đều mỗi ô một quân theo một chiều nhất định (kể cả ô quan). Khi hết quân trên tay thì bốc tiếp ở ô kế đã rải quân cuối cùng và rải tiếp, cho đến khi ngưng trong những điều kiện sau đây: 
1/  Ô rải quân cuối cùng sát ngay ô quan (nếu ô quan vẫn còn quân hoặc quan trong đó), vì không được phép bốc ô quan. Mặc dù được phép ăn ô quan.
2/ Ô rải quân cuối cùng mà hai ô kế liên tiếp thuận chiều không có quân để bốc.
3/ Kế ô rải cuối cùng không có quân và ô kế đó có quân, tức cách một ô thì được lấy hết quân trong ô cách ô trống ra ngoài. Kể cả đó là ô quan.
Hai trường hợp trên gọi là “Chựng” và phải nhường cho người kia đi. Trường hợp cuối gọi là “Ăn” và sau đó cũng đến lượt người kia đi.
Tính minh triết liên hệ với nội hàm thuyết Âm Dương Ngũ hành ở trò chơi này là: mặc dù cả hai bên đều còn quân để đi, nhưng ô quan không còn quân (đã rải vào trong quá trình chơi) hoặc quan , vì đã bị "ăn" trong quá trình chơi  thì trò chơi vẫn bị ngưng lại. Người chơi hô: “Hết quan, toàn dân kéo về!”. Người nào ăn và còn nhiều quân nhất thì thắng. Trong cách tính điểm thì mỗi quân là  một điểm. Nhưng "quan" thì được tính là 10 điểm.
Từ góc nhìn của người viết thì hình ảnh và cách chơi “Ô ăn Quan” đã thể hiện sự liên quan chặt chẽ mối liên hệ căn bản trong nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành:
1/ Hai quan nằm trong ô tròn biểu tượng hình và tướng của Âm Dương.

Trong đó: Hai nửa vòng tròn hai đầu là biểu tượng của Dương bao hàm Âm. Hình tượng này thể hiện một định đề trong thuyết Âm Dương Ngũ hành: "Dương trước, Âm sau".

2/ Trong khi chơi, được phép ăn ô Quan, nhưng không được phép bốc ô Quan thuộc Dương. Điều này cho thấy sự xác định "Dương tịnh"  không được phép bốc và "Âm động" , khi được phép bốc các quân trong 10 ô của hình chữ nhật thuộc Âm.

3/ Mười ô vuông trong hình chữ nhật chia làm hai cho thấy Ngũ hành nằm trong sự chi phối của Âm Dương và phân biệt Âm Dương: 5 x 2 = 10 (năm Âm Ngũ hành và năm Dương Ngũ hành). .

4/ Trong một ô lại gồm năm quân, cho thấy mỗi hành lại là tập hợp của các phần tử trong tập hợp đó và những phần tử này cũng được phân loại theo Ngũ hành. Điều này được thể hiện bằng mỗi ô có 5 quân (Ngũ hành).

5/ Sự vận động của năm quân trong ô biểu tượng cho sự vận động của Ngũ hành. Trong suốt quá trình chơi là thể hiện sự tiêu trưởng sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.
6/ Trong lúc chơi, khi không còn quân ở hai ô quan (tức là không có Âm Dương) thì trò chơi bị ngưng - Người chơi hô:"Hết quan, toàn dân kéo về". Nghĩa là: không có Âm Dương thì cũng không có sự vận động của Ngũ hành. Hay nói cách khác: Âm Dương, Ngũ hành là những khái niệm trong một lý thuyết nhất quán, có tính hệ thống và hoàn chỉnh.
Trò chơi trẻ em là một sản phẩm sáng tạo của tư duy trừu tượng. Do đó, tính trùng khớp hoàn toàn trong mối liên hệ chặt chẽ với những nguyên lý, mệnh đề của thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi từ nền văn hiến Việt. không thể  coi là sự ngẫu nhiên trùng hợp với nguyên lý của Âm Dương Ngũ hành. Điều này chỉ có thể giải thích rằng: chính là do ông cha ta đã đặt ra để lưu truyền trong đời qua thế hệ mầm non, một ý niệm về Âm Dương Ngũ hành và sự diễn biến, liên hệ chặt chẽ của nó: Âm Dương chi phối Ngũ hành. Ngũ hành thuộc Âm và là cái có. Đồng thời, trò chơi "Ô ăn quan" cũng xác định: thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật và khả năng tiên tri trong trò chới "Ô ăn Quan" của trẻ em Việt.

Trò chơi dân dã của trẻ em Việt hàm chứa những giá trị nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành cho thấy tổ tiên ta đã sử dụng những phương tiện giáo dục nhận thức cho những thế hệ tiếp nối về một tri thức kỳ vĩ của nền văn hiến Việt ngay từ khi còn nhỏ.

 

Minh triết Việt trong trò chơi "Kim. Mộc. Thủy. Hỏa. Thổ".

Nếu như trò chơi "Ô ăn Quan" là một trò chơi rất phổ biến trong các thế hệ Việt, thì trò chơi "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ", hầu như lại ít người biết đến.

Trong di sản văn hóa truyền thống Việt, những trò chơi trẻ em truyền từ đời này qua đời khác của nền văn hiến Việt, không chỉ duy nhất có các trò: "lò cò"; "Ô ăn Quan"; mà còn nhiều trò chơi có sự liên hệ với nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ" là một trò chơi và tự danh xưng của nó đã nói lên điều này.

Trò này được chơi như sau:

Có hai người chơi. Mỗi bên 4 quân được sắp xếp trong một hình chữ thập được cấu tạo do 5 hình vuông như hình dưới đây.

 

3891_zpsd7729dfa.jpg

 

Lần lượt từng người chơi, mỗi lần chơi chỉ đi được một quân. Khi nhấc quân đi thì hô: “Kim, Mộc, Thủy,...” . Mỗi tên một hành khi hô thì đưa quân đi lần lượt vào từng giao điểm của hình vuông, không được đi xéo: giao điểm thứ nhất (không tính vị trí của quân) hô: “Kim”; giao điểm thứ hai hô: “Mộc”... tối đa chỉ được 5 nước, đến Thổ hoặc vướng quân đối phương phải ngừng lại. Không được lùi lại, nhưng những bước đi có thể theo nhiều hướng. Nếu quân đối phương đứng ở vị trí thứ 5 thì được ăn (loại ra ngoài). Người nào hết quân thì thua.
Hàm nghĩa của trò chơi này thể hiện sự liên quan Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư như sau:

1/ Mỗi bên 4 quân tương tự với sự vận động của 4 chòm sao Âm (Màu đen) và bốn chòm sao Dương (Màu trắng) trong "Lạc thư cửu tinh đồ".

 

3892_zpsb83359fc.jpg.....1432167175_zpsb9d92b27.jpg

 

Hình "Lạc thư cửu tinh đồ".                                  .................      Mô hình Lạc thư điểm

 

2/ Tên trò chơi và lời hô: “Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ” chính là chiều tương khắc ngược kim đồng hồ của Ngũ hành bắt đầu từ hành Kim trên Lạc thư cửu cung.

 Xem hình dưới đây:

 

271_zps0bf41568.jpg

Đồ hình Cửu cung Lạc thư
 

Bạn đọc có thể thắc mắc rằng: lời hô trong trò chơi là "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ" thì Hỏa sinh Thổ là hành kế tiếp. Vậy là tương sinh, sao lại gọi là "Ngũ hành tương khắc?". Người viết xin được giải thích như sau:

Trò chơi này trực tiếp dùng danh từ mô tả Ngũ hành trong trò chơi, cho thấy nó liên hệ trực tiếp và là hệ quả của học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây cũng chính là sự khác biệt rất rõ ràng và trực quan về sự liên hệ trực tiếp của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong trò chơi này. Khác hẳn các trò chơi khác, mang tính biểu tượng, như "lò cò", "Ô ăn Quan"....và phải có sự suy luận mối liên hệ giữa các biểu tượng và cách chơi với nội hàm của học thuyết này.

Do đó, trò chơi "Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ" phải có sự liên hệ nội hàm trực tiếp với những mệnh đề căn bản của học thuyết này. Nội hàm đó chính là tính tương khắc của Ngũ hành trên Lạc Thư. Khi hình tượng của trò chơi dùng 5 ô làm điều kiện chơi. Biểu tượng này trùng khớp với Trung cung độ số 5 của Lạc thư. Mà Lạc thư mô tả tính tương khắc của Ngũ hành trên đồ hình. Xét bốn danh từ mô tả tứ hành thì đã có hai hành liên tiếp khắc nhau, là: Kim khắc Mộc và Thủy khắc Hỏa. Từ đó chúng tôi xác định trò chơi này thể hiện sự tương khắc của Ngũ hành và cách gọi có thể nguyên thủy là "Kim, Mộc - Thổ - Thủy, Hỏa". Nhưng do lưu truyền lâu đời nên bị đọc sai thành: "Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ".

3/ Lạc thư cửu cung có 9 ô. Nhưng đồ hình trò chơi dùng năm hình vuông nằm trong chữ thập của trò chơi là sự cô đọng Lạc thư cửu cung (gộp hai cung Âm Dương làm một). Đồng thời mô tả độ số trung cung của Lạc thư là 5. Sự vận động của Ngũ hành trên Lạc thư theo chiều ngược kim đồng hồ (đây cũng chính là chiều vận động của các hành tinh trong Thái dương hệ, thể hiện sự tương khắc của Ngũ hành như sau: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

4/ Trò này rất khó chơi. Bí rì rì vì không gian vận động của các quân mỗi bên rất hạn chế. Ban đầu tối đa đi được ba nước. Mà chỉ đến đếm đến "Thổ" mới được ăn quân đối phương. Nhưng chính tính rất khó chơi ấy, đã gây một ấn tượng về ý niệm tương khắc, làm mọi sự ngưng trệ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đối lập với tương sinh là tính thể hiện về lý thuyết cho mọi sự phát triển.
Hình ảnh những trò chơi trẻ em được mô tả trong sách này, đã cho thấy tổ tiên ta rất chú trọng giáo dục thế hệ ấu thơ tiếp nối nền văn hiến Việt, để tiếp nối nền văn minh. Những nhận thức căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành đều được thể hiện trong mô hình trò chơi và cách chơi.

Đây chính là những phương thức giáo dục nhằm duy trì và phát triển nền văn minh của người Việt. Đây cũng là câu trả lời một vấn đề mà nhà vật lý SW Hawking đặt ra trong cuốn sách "Lược sử thời gian" nổi tiếng của ông:

 

"Vì rằng các lý thuyết luôn thay đổi để phù hợp với những quan sát mới, chúng không thể đơn giản hóa để một người bình thường có thể hiểu thấu. Bạn phải là một chuyên gia. Và dẫu là một chuyên gia thì bạn cũng chỉ hy vọng nắm bắt được một phần các lý thuyết khoa học.

Ngoài ra khoa học tiến nhanh đến mức mà những kiến thức thu nhập được ở học đường, cũng luôn bât cập với thời đại. Chỉ có một số ít người theo được với ranh giới tiền tiêu của tri thức. Và số người đó cũng phải giành toàn bộ những thời gian để làm việc và chuyên sâu vào một lĩnh vực nhỏ. Số đông còn lại ít có khái niệm về những thành tựu tiên tiến của khái niệm về những thành tựu tiên tiến của khoa học và những vấn đề lý thú nảy sinh từ đó. Bảy mưới năm về trước, nếu tin lời Eddington thì chỉ có hai người hiểu được thuyết Tương đối rộng. Nhưng ngày nay hàng vạn sinh viên đại học hiểu được lý thuyết đó. Và hàng triệu người ít nhất cũng đã làm quen với thuyết Tương đối rộng.

Nếu một lý thuyết thống nhất hoàn chinh được chứng minh thì chỉ còn vấn đề thời gian để lý thuyết đó được thấu triệt, rồi đơn giản hóa và giảng dạy trong nhà trường, ít nhất là những nét cơ bản. Và mọi người chúng ta sẽ có đủ khả năng có được một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta".

 

("Lược sử thời gian". SW Hawking. Nxb Khoa học và kỹ thuật.1997. Trang 208).

 

Nội dung đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy một vấn đề được đặt ra cho tương lai của khoa học hiện đại với giả định phát hiện ra một lý thuyết thống nhất. Đó chính là sự đơn giản hóa lý thuyết này và phổ biến giáo dục.

Qua những trò chơi trẻ em Việt trình bày trong tiểu luận này, bạn đọc cũng nhận thấy rất rõ rằng: Những gì mà trí thức khoa học hiện đại quan tâm - trong một tương lai mới chỉ là giả định về sự truyền bá để phổ biến một lý thuyết thống nhất - thì tổ tiên người Việt đã đơn giản hóa thuyết Âm Dương Ngũ hành và thể hiện ngay trong các trò chơi trẻ em, để giáo dục ngay từ nhỏ những ý niệm căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã từ lâu rồi.

 

Vấn đề thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội không dừng lại ở đây. Mà chúng ta có thể thấy ở khắp mọi trạng thái cuộc sống văn hóa của dân tộc Việt. Chúng tôi tiếp tục trình bày vấn đề này tiếp theo đây.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III. 5. ẢNH HƯỞNG CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

TRONG DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT.

Nội dung lời tựa của cuốn tiểu luận trình bày với bạn đọc, tự nó đã xác định về mối liên hệ giữa những di sản văn hóa truyền thống Việt với cả nền văn minh Đông phương. Toàn bộ nội dung tiểu luận đã mô tả tính minh triết Việt trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, từ đó phục hồi lại toàn bộ những giá trị căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành , nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương , đối chiếu với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

Có vẻ không cần thiết phải xác định ảnh hưởng của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, khi chính những di sản đó làm sáng tỏ những giá trị đích thực của nền văn minh Đông Phương. Nhưng những di sản văn hóa truyền thống Việt, không chỉ giới hạn trong sự thể hiện tính minh triết trong nội hàm của nó, để chỉ nhằm mục đích duy nhất phục hồi toàn bộ nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương, là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Sự ảnh hưởng của thuyết Âm Dương Ngũ hành còn chứng tỏ tính phổ biến của nó trong từng nét văn hóa của nền văn hiến Việt. Và cũng chính từ tính phổ biến của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong di sản văn hiến Việt, khiến cho những giá trị di sản văn hiến Việt là cơ sở để phục hồi những nguyên thủy đích thực của nó.

Trong phần này của chương III,chúng tôi không có tham vọng mô tả hết những di sản văn hóa truyền thống vô cùng đồ sộ của nền văn hiến Việt. Chúng tôi chỉ có thể mô tả một cách khái quát. Tất cả những di sản này được phân loại và trình bày dưới đây:

 

5. 1. KHO TÀNG CỔ TÍCH, TRUYỀN THUYẾT, HUYỀN THOẠI VIỆT NAM.

Có thể nói: ngay cả khi trừ đi những truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết của Việt tộc ở bờ Nam sông Dương tử vì bị Hán hóa trong hơn 1000 năm Bắc thuộc và một ngàn năm tiếp sau đó, thì kho tàng cổ tích, truyền thuyết huyền thoại Việt còn lưu truyền trong văn hóa truyền thống Việt cũng rất đồ sộ.

Sự đồ sộ của kho tàng cổ tích Việt Nam  qua những di sản còn lại sau hàng ngàn năm thăng trầm của Việt sử , có thể sánh ngang với tất cả kho tàng cổ tích thần thoại của những dân tộc có nền văn minh lâu đời trên thế giới.

Có thể nói một sự thật hiển nhiên rằng: Tất những dân tộc sở hữu những nền văn minh cổ đại lâu đời trên thế giới như: Ai Cập, nền văn minh Hy La, Lưỡng hà...đều sở hữu một kho tàng cổ tích và huyền thoại phong phú, đồ sộ. Trong đó có dân tộc Việt Nam, cho dù chỉ là những gì còn lại với những thăng trầm khắc nghiệt của lịch sử, so với những dân tộc khác.

Thực tế đã xác định rằng: Chỉ có một nền tảng văn hóa rất vững chắc, đồ sộ, phong phú và lâu đời, mới có thể là cơ sở để xuất hiện những sản phẩm của nó chính là hệ thống những câu chuyện cổ tích, thần thoại.

Kho tàng cổ tích của nền văn hiến Việt có đủ thể loại phong phú. Có thể nói: kho tàng cổ tích Việt phản ánh về mọi phương diện các mối quan hệ trong cuộc sống, con người và xã hội.

Chỉ riêng nội hàm của những giá trị được mô tả trong cổ tích Việt, đã là sự minh chứng sắc sảo cho một nền văn hiến Việt với một nền tảng xã hội vững chắc và một tổ chức xã hội cao cấp, chặt chẽ với những mối quan hệ xã hội và tâm lý phức tạp của con người được mô tả trong các truyện cổ tích, thần thoại.

Ngoài những cổ tích, thần thoại, truyện cười dân gian, mang dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành - mà chúng tôi đã mô tả ở trên - thì có thể nói: hầu hết những câu chuyện đều chịu ảnh hường của học thuyết này qua tên các nhân vật, ngôn ngữ, danh từ... thuộc những khái niệm của học thuyết này. Thí dụ như : Giáp Ất là hai từ mô tả thiên can thường được dùng làm tên các nhân vật trong truyện, hoặc xứ Đông, xứ Đoài...mô tả địa danh.

Đặc biết hầu hết những câu truyện cổ tích Việt đều hướng con người tới một giá trị nhân bản. Chính bởi chữ "nhân" đứng đầu trong "Ngũ đức" - một hệ thống giá trị đạo đức được phân loại theo Ngũ hành.

 

5. 2. NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA VIỆT VÀ SỰ MINH TRIẾT TỪ THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH.

5. 2.1. Những bức tranh dân gian.

 

Bộ tứ bình miêu tả sự vận động của bốn mùa

 

image228_zps62a23759.jpg

Bộ tranh tứ bình

Tranh dân gian hàng Trống, mô tả sự vận động của bốn mùa

 

Bộ tranh Tứ bình trình bày ở trên thuộc dòng tranh dân gian Hàng Trống. Đây là một phương thức thể hiện rất quen thuộc và phổ biến trong văn hóa truyền thống Việt. Nội dung tranh mô tả sự dịch chuyển của bốn mùa. Có nguyên nhân từ quan niệm "Tứ tượng" trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, hệ quả của những trạng thái tương tác của vũ trụ.

Nếu chỉ nhìn nhận một cách cục bộ thì không ít người ngộ nhận nó thuộc về văn hóa Hán. Nhưng với sự trình bày của chúng tôi trong tiểu luận này thì tất cả những giá trị tri thức của nền văn minh phương Đông thuộc về nền văn hiến Việt.

 

Lý ngư vọng nguyệt


1507.jpg
Lý Ngư vọng Nguyệt

Tranh dân gian Hàng Trống

 

Có thể nói bức tranh "Lý ngư vọng nguyệt" hàm chứa một sự minh triết rất sâu sắc. Đây là một bức tranh nổi tiếng trong văn hóa truyền thống Việt.

Hình tượng cá chép trong tranh bắt nguồn từ những truyền thuyết về "cá vượt vũ môn", "cá hóa long" mô tả những tham vọng của con người. Nhưng chính vì những tham vọng đó, khiến con người đi tìm những ảo ảnh của cuộc đời. Và quên mất những giá trị đích thực cần hướng tới.

Hình tượng cá chép trong tranh kết hợp với hình tượng qui ước làm nên tính minh triết của bức tranh. Đó là hình tượng mặt trăng và bóng trăng in đáy nước. Trên thực tế, không có bóng trăng in đáy nước, mà chỉ có bóng trăng soi mặt nước. Bóng trăng in đáy nước trong bức tranh này là một hình tượng qui ước. Đó chỉ là biểu tượng cho ảo ảnh của một giá trị đích thực là mặt trăng trên không gian.

Hình tròn của mặt trăng là biểu tượng của sự hoàn thiện, viên mãn đích thực. Nhưng con cá chép trong tranh lại không tìm về giá trị đích thực, mà lại tìm những ảo ảnh của cuộc đời. Hình ảnh con cá chép trong tranh, như uốn mình với hết tâm sức lao tới ảo ảnh mà nó ngộ nhận và không nhận thức được chân lý đích thực.    

 Phải chăng hàm nghĩa đầu tiên của bức tranh muốn nhắn gửi thế nhân: Hãy tìm về sự hoàn thiện, viên mãn đích thực của con người. Lời chú của bức tranh: “Lý ngư vọng nguyệt”, chính là sự mô tả một ý nghĩa minh triết sâu sắc của bức tranh này, qua biểu tượng tuyệt vời của nó (*).

 

Đức Phật trong khi giảng pháp, đã nói:

"Những lời ta nói như ngón tay chỉ vào mặt trăng. Các người hãy nương theo ngón ta để nhìn mặt trăng. Ngón tay của ta không phải mặt trăng".

 

 

Cách hiểu của người viết tiểu luận này cho rằng: Đức Phật đã xác định lời giảng của Ngài chỉ là mô tả chân lý, mà Ngài nhận thức được, để truyền cho thế nhân và không phải chính là chân lý. Cho nên mọi người phải nương theo sự mô tả của Ngài để tự chiêm nghiệm và nhận thức chân lý.

Giáo lý của Phật pháp rất nhiều sự tương đồng với Lý học Đông phương và chúng ta lại thấy hình ảnh của mặt trăng trong Phật pháp có ở bức tranh này.

Vòng tròn biểu tượng của mặt trăng như là biểu tượng của Thái cực, của chân lý tuyệt đối, của sự giải thoát cuối cùng khi ngộ được tính Thấy, tức Phật tính.

"Thái cực sinh lưỡng nghi", tức là sinh ra cái không phải nó.

Tuy nhiên, thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn ghi dấu ấn của nó trong hình tượng của bức tranh: trên tranh có một con cá lớn và đúng năm con cá con. Đây chính là hình tượng mô tả sự tương tác của vũ trụ và trạng thái vật chất đầu tiên chính là "Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi". Có thể bạn đọc cho rằng: sự trùng khớp hình tượng năm con cá con và một con cá lớn trên bức tranh Hàng Trống với nguyên lý "Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành chi" , chỉ là sự ngẫu nhiên chăng?

Hoàn toàn không phải như vậy. Vì đây không phải bức tranh dân gian duy nhất mô tả một trạng thái vật chất đầu tiên được phân loại theo Ngũ hành. Trong di sản văn hóa truyền thống Việt còn nhiều bức tranh khác, cũng thể hiện hình tượng này:

 

419_zpsa10bc040.jpg

 

Đàn cá

Tranh dân gian Đông Hồ.

 

Trên bức tranh này cũng có một cá mẹ và đàn cá con với đúng năm con. Cá thuộc hành Thủy. Nên hình tượng mô tả "Đàn cá" với một cá mẹ và năm cá con hoàn toàn trùng khớp với một nguyên lý trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ không thể là sự ngẫu nhiên.

Vấn đề cũng chưa dừng lại ở đây. Người viết trình bầy với bạn đọc một bức tranh dân gian nổi tiếng khác, cũng của làng Đông Hồ và cũng mô tả nguyên lý trên. Chắc bạn đọc cũng rất quen thuộc với bức tranh này:

85_zps147ad472.jpg

 

Đàn lợn

Tranh dân gian Đông Hồ

 

Trong bức tranh dân dã này, một hình tượng dễ nhận thấy là vòng tròn Âm Dương trên mình những con lợn. Hình tượng này xác định một nội dung tiềm ẩn liên quan đến liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Và trên bức tranh này cũng có một lợn mẹ và năm chú lợn con. Cá thuộc hành Thủy là hình tượng dễ cảm nhận. Nhưng sao "lợn" cũng được dùng làm hình tượng để mô tả hành Thủy?

Trong sách xưa nhất là “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”, thiên “Kim quỷ chân ngôn luận” khi nói về Bắc phương như sau:

Bắc phương sắc đen, thông vào với Thận, thông khiếu ở nhị âm; tàng tinh ở Thận; bệnh phát sinh ở khê; về vị là mặn và thuộc về Thủy; thuộc về lục súc là LỢN; thuộc về ngũ cốc là đậu; thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Thần; thuộc về Âm là Vũ; thuộc về số là số 6; thuộc về mùi là mùi húc mục, do đó biết thường sinh bệnh ở xương.

 

 

Như vậy, có thể khẳng định rằng: Biểu tượng trong các bức tranh dân gian Việt mô tả về hành Thủy luôn tuân thủ đúng với nguyên lý của hành Thủy qua độ số của nó (Hành Thủy có độ số Dương 1, Âm 6).

Tất cả những minh chứng trên  và chỉ riêng trong tranh dân gian Việt  đã cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành đã hóa thân vào tận những chi tiết cuộc sống và văn hóa của Việt tộc, lưu truyền đến tận ngày nay, dù qua bao thăng trầm của Việt sử.

 

Thiên thanh lộng suy địch

 

404_zpsffcaf8c2.gif

 

Chăn trâu
Tranh dân gian Đông Hồ

 

Bức tranh miêu tả hình ảnh một chú bé ngồi đè lên những bông sen trên lưng trâu, đang say sưa thả hồn theo tiếng sáo. Con trâu (không hề có sự ràng buộc của dây vàm) ngóc đầu lên như muốn đồng cảm với con người. Trên đầu chú bé là một chiếc lá sen được cường điệu lớn hơn bình thường (so với tương quan tỷ lệ thực) nhưng vẫn rất hài hòa cân đối, trong bố cục tổng thể của bức tranh.

 Trong bức tranh này, chúng ta cũng có thể tìm thấy những ý tưởng trí tuệ và nhân bản. Sự an bình của cuộc sống toát ra từ hình tượng của bức tranh, chính là tính nhân bản của bức tranh này. Bạn đọc có thể tìm thấy trong bức tranh này một nội dung mang tính minh triết của Phật giáo: tính phá chấp (ngồi đè lên bông sen), sự chế ngự bản ngã (cưỡi trâu) và sự hoà nhập chân tính của con người với thiên nhiên.

Nhưng từ một góc độ khác, người viết cho rằng bức tranh “Chăn trâu” không xuất phát từ ý tưởng Phật giáo, mà mang một giá trị minh triết từ nền văn minh Lạc Việt. Hình tượng chiếc lá sen che trên đầu chú bé giống hình tượng của cây nêu: biểu tượng của Thái cực. Đó là sự vươn lên dẫn tới hoà nhập hoàn toàn với thiên nhiên; tức là đạt tới bản thể của Tạo hoá. Hình tượng chú bé cưỡi trâu, mô tả một tâm hồn trong sáng chưa bị va chạm với cuộc đời. Và chỉ với tâm hồn trong sáng ấy, mới có thể vô tư hòa nhập với bản thể tự nhiên nguyên thủy của vũ trụ.

Lời chú thích lưu truyền trong dân gian của bức tranh minh hoạ cho ý tưởng này:“Thiên thanh lộng suy địch”; tức là “Trời xanh trong tiếng sáo”. Khi tâm hồn con người thanh thản, vô tư như trẻ nhỏ buông trong tiếng sáo thì bao trùm cả trời xanh, hòa nhập trong vũ trụ. Hình tượng thoát tục của bức tranh này gần gũi với nhân sinh quan Đạo giáo. Nhưng phải chăng tính minh triết Phật học có sự gần gũi với tính minh triết trong xã hội Lạc Việt cổ, nên có thể có sự giải thích riêng cho cùng một hình tượng nghệ thuật?

 

image232_zpsaa1eca3f.jpg

Hình ảnh Lão Tử cưỡi trâu, tiêu biểu cho sự giải thoát theo quan niệm của Đạo giáo

và sự liên hệ với con trâu trong tranh dân gian Việt.

 

 

Nhất tượng Phước lộc  điền 
 

405_zpsc733f1b4.gif

Nhất tượng Phước lộc  điền 
Tranh dân gian Đông Hồ

 

Một hình tượng rất độc đáo, có thể nói theo ngôn ngữ hội họa là: sự cách điệu đến mức không tưởng là chiếc nón vốn đội trên đầu chú bé mục đồng lại bay bổng lên cao. Chiếc nón được nối bằng sợi dây buộc vào quai nón, đầu kia là chú bé cầm.

Hàng chữ trên tranh “Nhất tượng phước lộc điền”, không thể hiểu theo nghĩa là “Một con trâu làm nên sự phú túc nơi đồng ruộng”. Bởi vì chữ “tượng” khó có thể dịch là con trâu. Hiểu theo một cách khác thì bức tranh này là “Một hình tượng cho niềm hạnh phúc ở trần gian”.

Chính hình tượng chiếc nón bay bổng lên không gian, như sự vươn lên của trí tuệ đạt đến sự viên mãn. Nhưng lại liên hệ với sự hạnh phúc của cõi trần gian giữa hình tượng chiếc nón thể hiện tính viên mãn và mối liên hệ với con người nới thế gian chính là sợi dây ràng buộc liên hệ giữa sự thoát tục và cuộc đời .

Đây là cách nhìn của Đạo giáo trong nội dung mà bức tranh này muốn nói tới: Một trong những hạnh phúc của trần gian chính là sự chế ngự được bản ngã và vươn tới sự hòa nhập hoàn toàn với thiên nhiên, từ những nhận thức của trí tuệ.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành luôn đề cao sự hòa nhập giữa con ngươi với thiên nhiên. Bởi vậy, cùng với bức tranh "Thanh thiên lộng suy địch"  thì "Nhất tượng phúc lộc điền" mô tả dưới một góc độ khác sự hòa nhập của con người với thiên nhiên. Đây là điểm gần tương đồng về ý nghĩa minh triết giữa Phật pháp và Đạo giáo của văn minh Đông phương.

Có thể nói ngay rằng: Dù qua bao thăng trầm của lịch sử, dù hoàn cảnh nghèo khó hay chiến tranh liên miên, người Việt vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa của mình. Từ những nét chạm khắc trong đình đền, những bức tranh dân gian, đến những câu chuyện dân gian,ca dao, tục ngữ nơi thôn dã...tất cả đều là những giá trị còn lại của một thời huy hoàng thuộc nền văn hiến Việt.

Từ mái tranh bên đình trong làng. Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống.

 

Hồn Vọng phu - Lê Thương

 

Những di sản văn hóa truyền thống Việt trình bày trong sách này, mang trong nội dung của nó những giá trị minh triết cho cả một nền văn minh phương Đông huyền vĩ. Nhưng cũng chỉ là một phần nhỏ của kho tàng di sản tri thức vô cùng đồ sộ với gần 5000 năm văn hiến, cho dù nó cũng chỉ là phần còn lại, sau sự tan nát với thời gian, qua những thăng trầm của lịch sử.

Trong một tiểu luận nhỏ này, chúng tôi không thể trình bày một cách đầy đủ - dù chỉ là mang tính khái quát nội dung. Nhưng chúng tôi hy vọng giới thiệu với bạn đọc những di sản văn hiến Việt tiêu biểu trong văn hóa truyền thống Việt, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành.

==============

* Chú thích: Nếu bức tranh này được chú là: “Lý ngư vọng nguyệt ảnh” (Cá chép nhìn bóng trăng) thì nó sẽ gần tính hiện thực hơn; nhưng tính minh triết và sự sâu lắng sẽ gần như không còn nữa, khi cũng có nhiều nhận xét khác nhau cho bức tranh này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

III.6. NGÔN NGỮ VIỆT VÀ DANH XƯNG CỦA BÁT QUÁI.

Không chỉ những di sản văn hóa truyền thống thể hiện trong tranh dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, những trò chơi dân gian....mô tả những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương; mà ngay chính ngôn ngữ thông dụng của Việt tộc cũng chứng tỏ sự phổ biến của Dịch học và thuyết Âm Dương Ngũ hành trong đời sống xã hội Việt.

Hiện tượng này là một bằng chứng sắc sảo bổ xung sự xác định tính nền tảng tri thức của văn hiến Việt, chính là nguồn cội của nền văn minh Đông phương.

 

6.1. BÁT QUÁI TRONG NGÔN NGỮ HÁN.

Trong ngôn ngữ Hán, danh từ mô tả bát quái trong Dịch học hoàn toàn là một danh từ riêng để chỉ tám ký hiệu bát quái và có tính chuyên ngành. Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Lãn Miên Lê Duy Dân , thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương mô tả như sau:

 

Càn

Ký hiệu: QueCan01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm là “Can" , phiên âm latin là: “gan”. Trong Hán ngữ, dùng chữ Can nghĩa là khô, rỗng, không thật, phớt lờ. Các từ đồng âm dị nghĩa là: Quấy rối cũng gọi là ‘Can”, cây cột cũng gọi là “Can”, lá  gan cũng gọi là “Can”, ngọt cũng gọi là “Can”, quả cam cũng gọi là “Can”.

Thuyết Quái truyện viết:

 

Càn vi thiên, vi hoàn, vi quân, vi phụ, vi ngọc, vi kim, vi hàn, vi băng, vi đại xích, vi lương mã, vi lão mã, vi tích mã, vi bác mã, vi mộc quả.

Càn là trời, là tròn, là vua, là cha, là ngọc, là vàng, là lạnh, là băng, là màu đỏ xậm, là ngựa tốt, ngựa già, ngựa gầy, ngựa hoang, là trái cây....

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh xưng "càn" với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, không hề là khái niệm ứng dụng trong ngôn ngữ đời sống của nền văn minh Hán. Mặc dù nó có sự đồng âm khi phát âm là "can". Nhưng tiếng "can" sử dụng trong cuộc sống của văn minh Hán lại không hề có sự liên hệ với nội hàm quái "Càn" trong Dịch học đã trình bày ở trên.

 

Khảm

Ký hiệu:QueKham01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ không có âm ngậm môi, không phát âm được vần “am”, nên muốn phiên âm vần “am” thì Hán ngữ phải mượn vần “an” mà Hán ngữ có. Do vậy Hán ngữ đọc chữ Khảm "" là “Khản", phiên âm latin là: "kan”. Các từ đồng âm dị nghĩa khác trong Hán ngữ, là:

Bậc cửa cũng gọi là “Khản”, chặt cây cũng gọi là Khản.

Thuyết Quái truyện viết:

 

Khảm vi thủy, vi câu độc, vi ẩn phục, vi kiều nhu, vi cung luân. Kỳ ư nhân dã vi gia ưu, vi tâm bệnh, vi nhĩ thống, vi huyết quái, vi xích. Kỳ ư mã dã vi mỹ tích, vi chưng tâm, vi hạ thủ, vi bạc đề, vi duệ. Kỳ ư dư dã vi đa sảnh, vi thông, vi nguyệt, vi đạo. Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tâm.

Khảm là nước, là hài rãnh, là mai phục, là uốn nán, là cái cung, là bánh xe. Ở người là buồn rầu, đau tim, đau tai. Là dấu hiệu của máu, là màu đỏ. Ở ngựa là ngựa có lưng đẹp, ngựa can trường, ngựa đầu thả xuống, ngựa có móng, ngựa hụt chân. Ở xe là xe có nhiều phần thiếu, là thấm qua, là mặt trăng, là kẻ trộm. Ở cây là loại cây có lõi cứng và to.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh xưng "Khảm" với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, không hề là khái niệm ứng dụng trong ngôn ngữ đời sống của nền văn minh Hán. Mặc dù nó có sự đồng âm khi phát âm là "Khản". Nhưng tiếng "khản" sự dụng trong cuộc sống của văn minh Hán lại không hề có sự liên hệ với nội hàm quái "Khảm" trong Dịch học đã trình bày ở trên.

 

Cấn

Ký hiệu:QueCaan01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm chữ Cấn là  “Cân" , phiên âm latin là "gen” , chỉ có một nghĩa duy nhất là “tên một quẻ trong bát quái”. Một từ đồng âm dị nghĩa khác là: "Hằng" cũng gọi là “Cân”.

Thuyết Quái truyện viết:

 

Cấn vi sơn, vi kinh lộ, vi tiểu thạch, vi môn quan, vi quả qua, vị hôn tự, vi chỉ, vi cẩu, vi thử, vi kiềm uế chi thuộc. Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tiết.

"Cấn là núi, là đường tắt, là hòn đá nhỏ, là cửa khuyết, là trái cây và hạt, là hoạn quan, là người gác cửa, là ngón tay, là con chó, con chuột và các loại chim mỏ đen. Là loại cây cứng có u bướu.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh xưng "Cấn" với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, không hề là khái niệm ứng dụng trong ngôn ngữ đời sống của nền văn minh Hán. Mặc dù nó có sự đồng âm duy nhất với từ "hằng" được mô tả ở trên. Nhưng tiếng "cân" , ngoài tính đồng âm với từ "hằng" và là nghĩa duy nhất mô tả quái "Cấn" thì không hề có sự sử dụng trong cuộc sống của văn minh Hán.

 

 

Chấn

Ký hiệu:QueChan01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm chữ Chấn là “Trân" , phiên âm latin là: zhen”, chỉ có hai nghĩa là rung động và là “tên một quẻ trong bát quái”. Các từ đồng âm dị nghĩa khác là: Mặt trận cũng gọi là “trân”, thị trấn cũng gọi là “trân”, trấn áp cũng gọi là “trân”, phát chẩn ( “cho dân”= chẩn) cũng gọi là “trân”.

Thuyết quái truyện viết:

 

Chấn vi lôi, vi long, vi huyền hoàng, vi phộ, vi đại đồ, vi trưởng tử, vi quyết tảo, vi thương lương trúc, vi chuy vi. Kỳ ư mã dã vi thiện minh, vi mã túc, vi tác túc, vi đích tang, kỳ ư giá dã vi phản sinh, kỳ cứu vi kiện, vi phiên tiên.

Chấn là sấm, là rồng, là màu vàng sậm, là trương ra, là đường lớn, là con trai cả, là quả quyết và hăng hái, là tre non, là lau sậy. Là loài ngựa hí to, có chân sau trắng , phi nhanh, có ngôi sao trên trán. Là loại cây hữu ích có vỏ, mạnh mẽ, rậm rạp, tươi tốt.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh xưng "Trân" trong ngôn ngữ Hán với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, chỉ có một nghĩa duy nhất , có thể tạm coi là đồng nghĩa với tiếng "chấn" trong tiếng Việt là "trấn áp". Nhưng trong tiếng Việt thì từ "chấn" được sử dụng rộng rãi và một nội hàm phong phú hơn.

 

Khôn

Ký hiệu:QueKhon01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm là “Khun" , phiên âm latin là: "kun”. Các từ đồng âm dị nghĩa khác là: Anh trai (thời cổ) cũng gọi là “khun” (đây là từ cổ, gốc do từ "Pò Khun" của tiếng Lào), sáng sủa (thời cổ) cũng gọi là “khun” (đây là do phát âm lơ lớ từ "khôn" của tiếng Việt, “trí sáng sủa người khôn ngoan”), côn trùng cũng gọi là “khun”. 

Thuyết quái truyện viết:

Khôn vi đại, vi mẫu, vi phủ, vi lận tường, vi quân, vi tử mẫu ngưu, vi đại dư, vi văn, vi chúng, vi nạp. Kỳ dư địa dã vi hắc.

Khôn là đất, là vải, là cái ấm, là đạm bạc, là thăng bằng, là bò cái có con, là xe lớn, là số đông, là cái cán. Trong các loại đất là đất màu đen.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh xưng "Khun" trong ngôn ngữ Hán với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, chỉ có một nghĩa duy nhất - có thể tạm coi là đồng nghĩa với tiếng "khôn" trong tiếng Việt là ""sáng sủa". Nhưng nó chỉ là từ cổ trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt thì từ "khôn" được sử dụng rộng rãi với một nội hàm phong phú hơn. Và vấn đề nó còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại với tư cách là một từ không thể thay thế, có ý nghĩa chủ thể trong việc mô tả phẩm chất tri tuệ.

 

Quái Ly

Ký hiệu:QueLy01.jpg

Văn tự Hán: 

Hán ngữ phát âm là “Lí" -  .

Nghĩa 1: lìa, rời.

Nghĩa 2: Có trong từ ghép "li kì"  .

Nghĩa 3: Tên một quẻ trong bát quái . Các từ đồng âm dị nghĩa khác là: họ Lê gọi là “Lí”, quả lê gọi là “Lí”, cái cày gọi là “Lí”, hàng rào gọi là “Lí”.

 

Quẻ Ly trong bát quái tượng trưng cho "Lửa". Trong Hán ngữ từ "lửa" phát âm là “hủa”.

Thuyết quái truyện viết:

 

Ly vi hỏa, vi nhật, vi điện, vi trung nữ, vi giáp vị, vi phạt binh. Kỳ ư nhân dã vi đại phúc, vì càn quái, vi miết, vi giải, vi phong, vi doanh, vi quy. Kỳ ư mộc dã vi liệu thương cảo.

Ly là lửa, là mặt trời, là chớp, là con gái giữa, là áo giáp, mũ sắt, là giáo, là binh khí. Là người có bụng to, là người có dấu hiệu khô khan. Là con ba ba, là con cua, là con ốc, là con sò, là con rùa. Là loại cây khô ở phần trên và rỗng ruột.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: từ "lý" trong ngôn ngữ Hán với nội hàm khái niệm của nó được mô tả trong Dịch học, chỉ có một số nghĩa - có thể tạm coi là đồng nghĩa với tiếng "ly" trong tiếng Việt là "lìa rời", "ly kỳ". Trong tiếng Việt thì từ "ly" được sử dụng rộng rãi với một nội hàm phong phú hơn. Và vấn đề nó còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại với tư cách là một từ không thể thay thế, có ý nghĩa chủ thể khi cấu trúc với những từ ghép để mô tả những nội hàm đồng đẳng liên quan.

Chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau.

 

 

Tốn

Ký hiệu:QueTon01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm chữ Tốn là “Xuyn" , phiên âm latin là: "xun” và chỉ có một nghĩa là “tên gọi một quẻ trong bát quái”, và đến cả trong Thuyết Văn Giải Tự cũng “ xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự Tốn:  "抱歉!没有收录汉字巽”. Các từ đồng âm dị nghĩa khác là: "huấn" cũng gọi là “xuyn”, "tuần" cũng gọi là “xuyn”, "tuẫn" cũng gọi là  “xuyn”, "khiêm tốn" cũng gọi là “xuyn”, "tấn" cũng gọi là “xuyn”.

Thuyết quái truyện viết:

 

Tốn vi mộc, vi phong, vi trưởng nữ, vi thằng trực, vi công, vi bạch, vi trường, vi cao, vi tiến thoái, vi bất quả, vi xú. Kỳ ư nhân dã vi qủa phát. Vi quảng tang, vi đa bạch nhãn, vi cận lợi thị tam bội,kỳ cửu vi tao quái.

Tốn là cây, là gió, là con gái cả, là chỉ đạo, là công việc, là màu trắng, là dài, là cao, là tiến thoái, là không giải quyết, là mùi, là người có ít tóc, có trán rộng, mắt có nhiều tròng trắng.người thu lợi gấp ba lần ở thị trường, sau cùng la dấu hiệu hăng hái.

 

 

Qua phần mô tả trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: danh từ "tốn" trong ngôn ngữ Hán chỉ có một nghĩa duy nhất là sự mô tả quái Tốn trong Dịch học. Ngoài ra các từ đồng âm nhưng dị nghĩa và không hề có mối liên hệ nội hàm với hàm nghĩa quái Tốn được mô tả trong Dịch học ở trên.

 

Đoài

Ký hiệu:QueDoai01.jpg

Văn tự Hán:

Hán ngữ phát âm chữ Đoài là “Tuây" ; phiên âm Latin “dui” với nghĩa “là tên một quẻ trong bát quái” và nghĩa nữa là phía tây. Nghĩa sau này chỉ là do lấy tích của dịch lý mà thành nghĩa là phía tây. Còn Hán ngữ chỉ phía tây bằng từ “Xi 西”. Các từ đồng âm dị nghĩa khác là : Đổi cũng gọi là “Tuây”, đối cũng gọi là “Tuây”, đội cũng gọi là “Tuây”, cối đạp cũng gọi là “Tuây”.

Từ những trình bày của nhà nghiên cứu Lãn Miên Lê Duy Dân và sự mô tả của Thuyết Quái truyện trong kinh Dịch, bạn đọc cũng thấy rất rõ ràng rằng: Danh từ mô tả bát quái trong Dịch học không hề là ngôn ngữ phổ biến trong Hán ngữ. Những từ  đồng âm khác nghĩa tương đương, hoàn toàn không có mối liên hệ với nội hàm của các quái được mô tả. Nhưng ngược lại, chính hình tượng, nội hàm và các mối liên hệ tương quan của các quái trong Dịch học lại là những từ rất phổ biến trong ngôn ngữ Việt.

Vấn đề tiếp tục được chứng minh sau đây.

 

6.2. BÁT QUÁI TRONG NGÔN NGỮ VIỆT.

 

6.2.1 Tính phát triển cao cấp trong hệ thống ngôn ngữ Việt

Vấn đề đầu tiên chúng tôi đặt ra trên một nhận thức tổng quát, nhằm xác định rằng:

Một ngôn ngữ có khả năng mô tả một cách tế vi những trạng thái trừu tượng, bao gồm cả các vấn đề cảm xúc tâm lý, tư duy, tâm linh... có khả năng mô tả cả những dạng tồn tại cho đến những trạng thái vận động tế vi của vật chất. Đồng thời, ngôn ngữ đó có khả năng chuyển đổi tất cả các ngôn ngữ khác ra ngôn ngữ của nó thì đó là một ngôn ngữ có cấu trúc hệ thống cao cấp.

Đương nhiên, hệ thống ngôn ngữ đó phải là hệ quả của một nền văn minh phát triển với những mối quan hệ xã hội phức hợp do sự phát triển xã hội.

Xét trên cơ sở tiêu chí này thì tiếng Việt chính là một ngôn ngữ cao cấp trong những hệ thống ngôn ngữ hiện nay. Ngôn ngữ Việt có khả năng chuyển đổi, dịch thuật tất cả các hệ thống ngôn ngữ khác ra ngôn ngữ Việt. Ngôn ngữ Việt có khả năng Việt hóa trong tính hệ thống của nó, tất cả mọi danh từ, thuật ngữ, nội hàm những khái niệm của tất các các hệ thống ngôn ngữ khác trong lịch sử văn minh hiện nay, kể cả mọi danh từ, thuật ngữ mới nhất mô tả những khái niệm của nền văn minh hiện đại.

Căn cứ vào tiêu chí đã trình bày ở trên và đối chiếu ngôn ngữ Việt với các hệ thống ngôn ngữ khác, rõ ràng ngôn ngữ Việt hoàn toàn thỏa mãn và là một hệ thống ngôn ngữ cao cấp.

Nhà nghiên cứu Phạm Công Thiện phát biểu:

 

Chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.”

 

 

Nội dung của tiểu luận này không nhằm chứng minh cho tính cao cấp trong hệ thống ngôn ngữ Việt, nên chúng tôi chỉ đặt vấn đề để tham khảo. Chúng tôi hy vọng sẽ có dịp chứng minh hệ thống ngôn ngữ rất cao cấp của tiếng Việt trong nền văn minh hiện nay. Và vấn đề được đặt ra chỉ để xác định một hệ quả tiếp theo của hệ thống ngôn ngữ Việt liên quan đến các từ mô tả bát quái.

Hệ quả tiếp theo là tính cao cấp trong hệ thống ngôn ngữ Việt phải là sản phẩm của một nền văn minh rất phát triển. Bát quái và hệ thống quẻ vốn chỉ là ký hiệu siêu công thức mô tả nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được chứng minh thuộc về nền văn hiến Việt, tất yếu hệ thống ngôn ngữ Việt phải ghi lại những dấu ấn của các từ liên quan, mà ngôn ngữ Hán rõ ràng không thể hiện điều này.

 

4.2. 2. Ngôn ngữ Việt và sự ứng dụng các từ mô tả Bát quái.

Chúng tôi cũng xin được bắt đầu từ quái Càn:

Càn

Ký hiệu:QueCan01.jpg

Càn trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Càn trong Bát quái, nó còn là một tính từ rất thông dụng trong ngôn ngữ Việt. Càn trong tiếng Việt mang tính hàm chứa rất nhiều nghĩa tùy theo từ bổ ngữ mang tính phân loại cho tính chất của khái niệm "càn" như:  

Càn rỡ, càn quấy, càn phá, làm càn, càn quét.

Ngoài sự dùng tiếng Càn như một tính từ mà chúng tôi mô tả ở trên, tính chất của quái Càn còn được ứng dụng trong hệ thống ngôn ngữ Việt với nội hàm tương ứng, như sau:

1/ Hình tượng của quẻ Càn/ Trời:

Ngôn ngữ Nam bộ: "Thằng đó làm trời (Càn)"; ngôn ngữ miền Bắc:"Thằng đó là ông trời (Càn) con"...

2/ Càn: cương, kiện.

Dùng mô tả tính chất của con người: "Thằng đó "cương" (Bướng, ngoan cố) lắm!" .

 

Khảm

Ký hiệu:QueKham01.jpg

Từ "Khảm" trong tiếng Việt, ngoài nghĩa chỉ quái Khảm trong Bát quái, còn là một động từ mô tả hành vi làm cho đầy một chỗ khuyết lõm nhỏ. Thường mô tả hành vi của thợ thủ công, như: Khảm xà cừ, khảm ngọc trai, vàng bạc... Thùa khuy trên vạt áo trước đây cũng gọi là "khảm". Đây chính là ứng dụng hình tượng của quái Khảm: Một vạch Dương nằm chèn giữa hai vạch Âm.

 

Cấn

Ký hiệu:QueCaan01.jpg

Từ "Cấn" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Cấn trong Bát quái, còn là một tính từ mô tả tính chất cản trở. Đây là ứng dụng hình tượng của quẻ Cấn/ Núi còn có nghĩa mô tả sự cản trở. Cấn trong tiếng Việt mang tính hàm chứa rất nhiều nghĩa tùy theo từ bổ ngữ mang tính phân loại cho tính chất của khái niệm "cấn" như: 

Lấn cấn, cấn quá, bị cấn, cấn trừ, cấn bầu...; hoặc đi bị vấp, té ngã bởi vật gì đó, thường được mô tả là "cấn"/ vấp phải vật đó. Thí dụ: "Cấn phải hòn đá nên ngã"...

 

Chấn
Ký hiệu:
QueChan01.jpg

Từ "Chấn" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Chấn trong Bát quái, còn là một động từ mô tả sự áp chế, ngăn chặn, gần đồng âm và hoàn toàn đồng nghĩa với từ "trấn". Đây chính từ ứng dụng hình tượng của quái Chấn: Hai hào Âm, đè một hào Dương. Từ "chấn" hay "trấn" rất phổ biến trong tiếng Việt, như:

Trấn thủ, trấn giữ, thị trấn, trấn áp...; hoặc: chấn xuống (Đè xuống)...

 

Khôn  

Ký hiệu:QueKhon01.jpg

Từ "Khôn" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Khôn trong Bát quái, còn là một tính từ mô tả tính chất trí huệ của một sinh vật. Từ "Khôn" là một từ phổ biến trong tiếng Việt, hàm chứa rất nhiều nghĩa, tùy theo từ bổ ngữ mang tính phân loại cho tính chất của khái niệm "Khôn" như:

Khôn lỏi, khôn vặt, khôn ngoan, trí khôn... 

 

Ly
Ký hiệu:
QueLy01.jpg

Từ "Ly" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Ly trong Bát quái, còn là một tính từ mô tả tính chất, trạng thái của sự vật, sự việc. Từ "Ly" trong tiếng Việt mang tính hàm chứa rất nhiều nghĩa tùy theo từ bổ ngữ mang tính phân loại cho tính chất của khái niệm "Ly", như:

Chia ly, ly quê, ly dị, ly tán... Hoặc là danh từ mô tả vật đựng như "cái ly" trong tiếng Nam bộ. Những từ  này ứng dụng hình tượng của quái Ly: Rỗng ở giữa được mô tả là "cái ly" và hình tượng hai hào Dương bị ngăn trở bởi một hào Âm ở giữa được mô tả là "chia ly".  Trong tiếng Nam bộ, từ "ly" còn một danh từ mô tả con Lân trong tứ linh của văn minh Đông phương. Thay vì tiếng phổ biến thường gọi "Long, lân, qui, phượng" thì người Nam bộ gọi là "Long, ly, qui, phượng".

 

Tốn

Ký hiệu:QueTon01.jpg

Từ "Tốn" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Tốn trong Bát quái, còn là một tính từ mô tả tính chất, trạng thái của sự vật, sự việc. Từ "Tốn" trong tiếng Việt nguyên nghĩa chỉ sự hao tổn nhẹ, kiềm chế, hàm chứa rất nhiều nghĩa tùy theo từ bổ ngữ mang tính phân loại cho tính chất của khái niệm "Tốn", như:

Tốn kém. tốn sức, tốn hao, khiêm tốn, từ tốn, tiêu tốn, tốn tiền, tốn gạo, tốn cơm...

Khái niệm "tốn" trong tiếng Việt dùng hình tượng của quái Tốn: Khuyết hãm phần dưới. Tiếng Hán không có từ này, mà nhà nghiên cứu Lãn Miên đã mô tả ở trên.

Đoài

Ký hiệu:QueDoai01.jpg

Từ "Đoài" trong tiếng Việt ngoài nghĩa chỉ quái Đoài trong Bát quái, còn hàm chứa nhiều nghĩa liên quan và biến thể của từ "đoài" còn có tính biểu tượng mô tả tính chất, trạng thái của sự vật, sự việc. Từ "Đoài" trong tiếng Việt sử dụng nguyên nghĩa là phương Tây (Chính vị quái Đoài ở phương Tây), còn phổ biến trong tiếng Việt, như: "Thôn Đông, thôn Đoài"; hoặc "gái thôn Đoài, trai thôn Thượng"...

Biến thể của từ Đoài trong tiếng Việt còn mô tả sự lưu luyến, ngóng trông, chờ đợi, hoài niệm, hàm chứa rất nhiều nghĩa, như: "đoái hoài"; "đoái trông", "đoái mong"... Tính biểu tượng trạng thái và phương vị của từ "Đoài" trong tiếng Việt từ vị trí của quái Đoài trong sự kết thúc của chu kỳ "Hậu thiên Bát quái phối Hà đồ" với độ số cao nhất là 9 trên Hà đồ (Ở Lý hoc trong cổ thư chữ Hán, quái Đoài mang độ số 7 do phối hợp với Lạc Thư). Do đó, biến thể của Đoài là sự hoài niệm quá khứ.

 

6. 3 . VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG DANH TỪ MÔ TẢ BÁT QUÁI TRONG TIẾNG VIỆT VÀ NGÔN NGỮ VIỆT.

Qua sự trình bày của chúng tôi ở phần trên và so sánh với ngôn ngữ Hán trong việc ứng dụng các từ mô tả Bát quái, đã xác định rằng: Trong ngôn ngữ Việt đã phổ biến những từ mô tả Bát quái so với ngôn ngữ Hán. Nền văn minh tự nhận là chủ nhân của văn minh Đông phương, nhưng lại không hề chứng tỏ tính phổ biến của các từ mô tả Bát quái trong ngôn ngữ của họ.

Đây là một sự kiện nằm trong tính hệ thống đã xác định rằng: Dịch học và thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Việt. Và hiện tượng này đã bổ sung một cách sắc sảo cho thấy di sản của nền văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành đã ghi dấu ấn trong ngôn ngữ Việt do tính sử dụng phố biến của các danh từ mô tả Bát quái.

Sự kiện này cũng xác định rằng: Ngôn ngữ Việt là một ngôn ngữ đã có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại và là mối liên hệ nhân quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành và những ký hiệu Dịch học,  siêu công thức mô tả nội hàm của học thuyết này là Bát quái.  

Trong tiểu luận này, chúng tôi cũng đã xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Từ đó dẫn tới một giả thuyết hợp lý và khả năng phát triển minh chứng là ngôn ngữ Việt chính là một ngôn ngữ tối cổ xuất hiện từ nền văn minh cổ xưa và là nền tảng trong lịch sử văn minh đã hình thành nên thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Từ đó cũng xác định rằng: Một hệ thống ngôn ngữ cao cấp, tất yếu phải có hệ thống ký tự mô tả chữ viết thể hiện ngôn ngữ đó, để lưu giữ và phát triển nền văn minh. Vấn đề được đặt ra đã được nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt cổ Khánh Hoài Đỗ Văn Xuyền, đã chứng minh rằng: Đó chính là hệ thống chữ Khoa đẩu mà ông đã mô tả.

Tuy nhiên, nhân việc này chúng tôi cần xác định rằng:

Những ý kiến cho rằng: Ngôn ngữ Việt có xuất xứ từ ngôn ngữ Hán và là hệ quả của nền văn minh này là một sai lầm rất nghiêm trọng. Những nhận định sai lầm này xuất phát từ nhận thức cục bộ và trực quan khi liên hệ với hệ thống những từ gọi là Hán Việt . Theo thống kê của nhà nghiên cứu Lê Gia thì trên 30.000 từ. Nhưng nếu nhìn từ một cách nhìn tổng quát thì nhận định này hoàn toàn không phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học. Cụ thể là với nhận định cho rằng: Việt ngữ có xuất xứ từ văn minh Hán phải giải thích được hàng loạt những vấn đề sau đây:

Chính nền văn minh Trung Hoa từ hàng thế kỷ nay muốn latin hóa toàn bộ ngôn ngữ Hán những không thực hiện được. Trong khi đó, để gọi là biết đọc, biết viết chữ Hán chỉ cần khoảng 1000 từ phổ thông.

1/ Bản thân từ những từ Hán Việt phát âm hoàn toàn không phải cách phát âm của ngôn ngữ Hán. Vậy thì với 30.000 từ được coi là Hán Việt do tổ chức qui mô quốc gia nào thực hiện trong lịch sử văn minh Đông phương?

2/ Trong ngôn ngữ Hán, từng từ mô tả nội hàm khái niệm rất hạn chế. Nhiều từ viết giống nhau, hoặc phát âm giống nhau, nhưng mô tả nhiều nghĩa khác nhau. Trong khi đó, ngôn ngữ Việt mô tả một cách chi tiết và vô cùng phong phú khi các sự kiện và vấn đề liên quan và có tính hệ thống.

Do đó, việc ngôn ngữ Việt có một hệ thống chữ viết cổ do nhà nghiên cứu Khánh hoài Đỗ Văn Xuyền chứng minh hoàn toàn phù hợp với tính tất yếu và một chân lý hiển nhiên được mô tả. Phương pháp chứng minh của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền là căn cứ trên những tiêu chí khách quan khoa học cho một hệ thống ngôn ngữ thuộc về một dân tộc chủ sở hữu hệ thống chữ viết đó  và đã được chứng minh hoàn toàn phù hợp với những tiêu chí này.

Cá nhân nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền với phương tiện duy nhất là khả năng tư duy thể hiện ở phương pháp nghiên cứu và chứng minh, không hề có sự hỗ trợ vật chất và phương tiện nào. Ông ta không thể tự tạo ra cả một hệ thống chữ viết cho cả một dân tộc, khi đây là điều mà nền văn minh Trung Hoa với tất cả khả năng huy động được, cho đến ngày nay chưa thể  latin hóa ngôn ngữ của họ. Giả thiết trong tương lai họ làm được thì cũng không thể mang tính hệ thống và hoàn chỉnh như ngôn ngữ Việt.

Chúng tôi thiết nghĩ, muốn phản biện hệ thống chữ Khoa Đẩu của nhà nghiên cứu Khánh Hoài Đỗ Văn Xuyền, phải chỉ ra được những mâu thuẫn trong hệ thống luận cứ chứng minh của ông. Không làm được điều này thì mọi sự phản bác đều không thể hiện tính khách quan khoa học.

Như chúng tôi đã trình bày: Tiểu luận này không phải là một chuyên đề về ngôn ngữ và chữ Việt cổ. Nên chúng tôi chỉ giới hạn ở cách đặt vấn đề và mối liên hệ trong việc thể hiện danh từ mô tả Bát quái giữa ngôn ngữ Việt và Hán, như một yếu tố xác định trong hệ thống luận cứ nhằm minh chứng cho chủ đề của tiểu luận này.

 

 

CHƯƠNG IV.

THAY LỜI KẾT PHẦN III.

Sự phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt , một lý thuyết bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực, từ lịch sử vũ trụ ngay từ giai đoạn khởi nguyên, đến tất cả mọi lĩnh vực của thiên nhiên, cuộc sống và con người; chính là một món quà của nền văn hiến Việt chia sẻ với những giá trị tri thức của nền văn minh hiện đại. Đây cũng chính là sự xác định việc phục hồi nền văn hiến Việt, không phải chỉ là việc phục dựng một tượng đài lịch sử trong quá khứ. Mà đó là sự xác định và minh chứng cho một nền văn minh với danh xưng văn hiến, trải gần 5000 năm lịch sử , một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử. Nó có một tác dụng rất lớn trong việc hội nhập giữa các nền văn minh và sự phát triển trong tương lai của con người.

Nhưng sự phục hồi học thuyết này hoàn toàn không đơn giản. Người viết lặp lại nhận xét của Giáo sư Lê Văn Sửu, một học giả có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa cổ Đông phương,  đã nhận xét trong tác phẩm "Nguyên lý thời sinh học cổ Đông phương" của ông, như sau:

 

Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt, như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay. Họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của những di sản văn minh Đông phương này. Thế nhưng sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn.

 

Nhưng những "phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt, như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác" lại không phải là phương pháp đúng để phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vì, mặc dù những phương tiện đó hoàn toàn có đầy đủ khả năng tìm hiểu bản chất của những dạng tồn tại của vật chất. Nó cũng có thể là công cụ để thẩm định một lý thuyết mô tả một thực tại có thể kiểm chứng một hiện tượng được mô tả trong lý thuyết đó. Như trường hợp về sự tương tác của khối lượng với ánh sáng trong thuyết Tương đối của Einstein, khi những phương tiện kỹ thuật hiện đại xác định: ánh sáng bị biến dạng cong khi vượt qua một tinh cầu. Nhưng những phương tiện kỹ thuật hiện đại, mà thực chất là một phương pháp hỗ trợ nhận thức trực quan , lại không phải công cụ để thẩm định cả một hệ thống lý thuyết mô tả bản chất của những quy luật tương tác trong vũ trụ. Để thẩm định một hệ thống lý thuyết cần một sự đặc thù trong phương pháp. Vì chính sự phục hồi một lý thuyết đã có sẵn, tự nó đã là một trường hợp đặc thù trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được, trong giới hạn thời gian lịch sử hạn chế từ 10. 000 năm trở lại đây. Chính tính đặc thù đó của sự phục hồi một hệ thống lý thuyết. Cho nên một yếu tố cần, là phải lấy chuẩn mực thẩm định là tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng.

Người viết với sự cố gắng trong một khả năng hạn chế, đã chứng tỏ với bạn đọc sự hoàn chỉnh, tính hệ thống và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành, như là một sự khẳng định Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến là một chân lý, chủ nhân đích thực của những tri thức thuộc văn minh Đông phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu.

Sự phát triển của nền văn minh hiện đại mà nền tảng chính là những tri thức khoa học hiện đại đã bế tắc. Những nhà khoa học hàng đầu như SW Hawking đã phải thốt lên: "Hai trăm năm nữa, con người phải đi tìm hành tinh khác để ở".

Trong lễ kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng Cty điện tử DTT, giáo sư Chu Hảo cũng nhắc đến vấn nạn này.

 

Slide21_zps19bce45f.jpg

Sự bế tắc trong sự phát triển của nền văn minh hiện đại, khi nó chưa đạt đến một chân lý cuối cùng là lý thuyết thống nhất. Nhưng ngược lại, nền văn minh Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt, đã giới thiệu trong cuộc hội nhập giữa các nền văn minh một lý thuyết thống nhất vũ trụ, khi so sánh với tiêu chí của một lý thuyết khoa học và lý thuyết thống nhất do chính những tư duy khoa học tiên tiến nhất đặt ra chuẩn mực cho nó.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành , nhân danh nền văn hiến Việt với tư cách là một lý thuyết thống nhất bao trùm lên tất cả mọi hiện tượng trong lịch sử hình thành và phát triển của vũ trụ với những quy luật tương tác được mô hình hóa có khả năng tiên tri đến từng hành vi của con người trong tất cả mọi lĩnh vực liên quan, phù hợp với tất cả mọi tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất và khoa học.

Do đó, khi thuyết Âm Dương Ngũ hành trở thành một đối tượng nghiên cứu và tích hợp với nền tảng tri thức của nền văn minh nhân loại hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu, sẽ góp phần giải quyết những vấn nạn của chính xã hội loài người không chỉ dừng lại ở sự nhận thức tự nhiên. Mà những tri thức của một lý thuyết thống nhất, nó còn có khả năng giải quyết mọi vấn nạn trong mối quan hệ xã hội của con người. Từ việc tổ chức, quản lý xã hội, doanh nghiệp, sự phát triển của văn hóa, giáo dục đến những mối quan hệ xã hội cho từng cá nhân.

Chúng tôi sẽ mô tả rõ hơn ở phần IV, tiếp theo đây. 

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHẦN IV

THAY PHẦN KẾT LUẬN:

SỰ HỘI NHẬP GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH TRONG XU HƯỚNG TOÀN CÂU HÓA.

 

I .VA CHẠM GIỮA HAI NỀN VĂN MINH.

Cơ quan văn hóa Liên hợp quốc đã đặt vấn đề về sự đối thoại giữa các nền văn minh. UNESCO đã ra tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa vào tháng 11/2001, lấy ngày 21/5 hàng năm là ngày "Đa dạng văn hóa vì đối thoại và phát triển". Nghị quyết năm 1998 của UNESCO lấy năm 2001 là năm "Đối thoại giữa các nền văn minh".

Đây là một ý tưởng nhân bản xuất hiện trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng thực tế, hai nền văn minh Đông Tây đã va chạm từ hàng nửa thiên niên kỷ trước và kết thúc sự va chạm bằng sự sụp đổ của đế chế Thanh triều vào đầu thế kỷ XX. Một đế chế hùng mạnh, được coi là tiêu biểu cho những gì còn lại của nền văn minh Đông phương.

Nền văn minh Tây phương được hỗ trợ bởi các phương tiện kỹ thuật, hệ quả của tư duy khoa học hiện đại châu Âu chính thức lên ngôi ở châu Á. Mặc dù lúc đó, nền văn minh Tây phương, mới chỉ là những tri thức khoa học ứng dụng là chủ yếu.
Cuộc tranh chấp giữa văn minh Đông phương và Tây phương ở châu Á, đã kết thúc từ cuối thế kỷ XIX với tiếng thở dài của nhà nho Việt:

 

Thôi có làm chi cái chữ Nho.
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co.
Chi bằng đi học làm thày Phán.
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.

(Thơ Tú Xương. 1870-1907)

 

Nền học thuật Đông Phương cổ bị loại khỏi cuộc sống với sự biến mất của ông đồ già, một biểu tượng của tầng lớp tri thức trong xã hội Đông phương , cùng với tiếng thở than:

 

Năm nay hoa lại nở.
Không thấy ông đồ xưa?
Những người muôn năm cũ.
Hồn ở đâu bây giờ.

(Ông đồ già. Vũ Đình Liên.1913- 1996)

 

Nhưng trí thức khoa học chính thống của Tây Phương, nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại lại không loại trừ một cách cực đoan những giá trị còn lại của văn minh Đông phương. Bởi vì, ngưồn gốc khoa học Tây Phương chính là sự giải thoát khỏi các tín điều giáo lý và nhân danh tự do. Đây là một trong những yếu tố mà xã hội Tây Phương tự cân đối để phát triển trong quy luật tự nhiên.

Tất cả những hiện tượng khách quan tồn tại đều được thừa nhận ở xứ sở của nền tảng tri thức khoa học hiện đại, gọi chung là văn minh Tây Phương. Văn minh Đông phương lúc này trở thành đối tượng nghiên cứu của những trí thức thuộc về nền văn minh này. Tất nhiên nó nhân danh những chuẩn mực khoa học của văn minh Tây phương. Chuẩn mực này, tùy vào từng thời kỳ của phát triển của những giá trị nhận thức trong lịch sử phát triển  để đối chiếu, so sánh với những giá trị phương Đông. Và trong quá khứ, ở những giai đoạn lịch sử đầu tiên của sự va chạm giữa hai nền văn minh. những tri thức của nền văn minh Tây phương trong thời kỳ sơ khai, đã nhìn những di sản còn lại của nền văn minh này như một sự huyền bí.

Cái nhìn huyền bí của tri thức khoa học Tây phương với những di sản còn lại cảu văn minh Đông phương, cũng không có gì khó hiểu. Bởi vì, tất cả những phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông Phương, đều chỉ là hệ quả của một hệ thống lý thuyết đã thất truyền và sai lệch, vốn là di sản còn lại từ một nền văn minh đã sụp đổ và không để lại dấu vết từ hơn 2000 năm trước, thế kỷ thứ III BC. Trong nhận thức của lịch sử văn minh hiện tại thì đó chính là nền văn minh mà các nhà khoa học gọi là "Nền văn minh thứ V ở Nam Dương Tử". Tức nền văn minh Lạc Việt mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Xa xôi hơn, theo tìm hiểu của người viết thì đây chính là nền văn minh kế thừa những di sản của một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ, mà tôi tạm đặt tên là "Văn minh Atlantic".
Diễn đạt một cách khác: Nền tảng tri thức với những phương tiện kỹ thuật của nền văn minh  là cơ sở để tạo ra hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành của văn minh Đông phương  đã bị xóa sổ, bởi một giả thuyết hợp lý là một trận Đại Hồng thủy, hoặc do nguyên nhân nào đó trên trái Đất này. Cho nên, ngay cả trường hợp hệ thống lý thuyết của nền văn minh này còn giữ lại một cách hoàn chỉnh đến ngày nay thì cũng sẽ rất mơ hồ, vì thiếu sự liên hệ với nền tảng tri thức của nền văn minh đã tạo nên nó. Huống chi nó còn sụp đổ lần thứ hai. Đó chính là sự sụp đổ của quốc gia Văn Lang, cội nguồn Việt tộc ở bờ Nam Dương Tử. Tiếp sau đó là hơn hai ngàn năm Hán hóa. Khiến cả hệ thống lý thuyết  bị thất truyền và sai lệch mà chúng tôi đã trình bày ở trên.

Do đó, khi nền văn minh Tây phương phát triển và tiếp xúc với nền văn minh Đông phương thì thực chất chỉ tiếp xúc với những phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương với những luận cứ mơ hồ và sai lệch, thiếu tính hệ thống, tính hợp lý lý thuyết, không nhất quán. Và cuối cùng là không có sự liên hệ hợp lý tối thiểu với một hệ thống lý thuyết là nguyên nhân của nó. Chưa nói đến nền tảng trí thức và phương tiện kỹ thuật của cả một nền văn minh

Trong những gíai đoạn tiền hội nhập ban đầu giữ hai nền văn minh, điểm giống nhau là:

Cả hai nền văn minh đều có những hệ quả của những phương pháp ứng dụng được kiểm chứng trên thực tế. Riêng nền văn minh Đông phương thì sự kiểm chứng trải hàng ngàn năm. Phương pháp ứng dụng với dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh Đông phương, trải rộng trên khắp các lĩnh vực cuộc sống, sinh hoạt và xã hội của nền văn minh này. Từ sức khỏe  (Đông y), kiến trúc xây dựng (Phong thủy); khả năng tiên tri (Vốn là sự tổng hợp của những quy luật vật lý, sinh học và vũ trụ) trong mọi lĩnh vực: từ thiên nhiên, xã hội, cuộc sống cho đến từng hành vi con người và mọi sự vận động xã hội với các phương pháp dự báo, được lưu truyền hàng thiên niên kỷ của nền văn minh này. 

Thực tế hiệu quả ứng dụng trải hàng ngàn năm của nền văn minh Đông phương với sự mơ hồ huyễn hoặc, đã làm cho những nhà khoa học Tây phương phải mô tả một nền văn minh Đông phương huyền bí. Họ đã nghiêm túc nghiên cứu nền văn minh này, chính vì những hiệu quả ứng dụng của nó. Nhưng họ đã thất bại. Vì không ai có thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai. Sai lầm lớn nhất chính là sự mặc định: Nền văn minh Đông phương có nguồn gốc từ văn minh Hán.

Do đó, mọi bản văn chữ Hán ghi nhận liên quan đến học thuyết này, mặc dù hầu hết đều mang tính mặc định,  đều được coi như là những thành tựu được chấp nhận. Sự sai lệch và mơ hồ của một hệ thống lý thuyết nhân danh nền văn minh Hán và hiệu quả ứng dụng hiệu quả trên thực tế là nguyên nhân chủ yếu của sự huyền bí Đông phương trong chuẩn mực thực chứng, thực nghiệm của văn minh Tây phương, trong thời gian đầu phát triển từ những thế kỷ trước.

Đấy là sai lầm căn bản và cũng là sự thiếu sót của lịch sử trước khi hình thành những chuẩn mực cho mọi nghiên cứu về Lý học Đông phương.

Sự khác biệt khi va chạm tính ứng dụng của hai nền văn minh trong giai đoạn tiền hội nhập, chính là:

1/ Tất cả những ứng dụng của văn minh Đông phương đều là hệ quả của một hệ thống lý thuyết đã hoàn chỉnh, giải thích tất cả mọi hiện tượng từ lịch sử hình thành khởi nguyên của vũ trụ, cho đến mọi hành vi của con người, có khả năng tiên tri. Nhưng đã thất truyền.

Còn nền văn minh Tây phương với lịch sử tính đến ngày nay, là kết quả của khoa học thực chứng, thực nghiệm, sau đó tổng hợp thành những lý thuyết khoa học riêng phần với khả năng tiên tri hạn chế và cục bộ.

2/ Nền văn minh Tây phương  có một lịch sử phát triển rõ ràng được ghi nhận và bắt đầu từ khoa học thực chứng, thực nghiêm, cho đến sự hình thành những lý thuyết khoa học. Cho nên mọi phương pháp ứng dụng của nền văn minh Tây phương đều có sự liên hệ hợp lý với nền tảng tri thức của nó.

Nhưng điều này không thực hiện được ở những phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương, khi nền tảng tri thức và mọi cơ sở của nền văn minh này đã sụp đổ với một hệ thống lý thuyết. Đó chính là thuyết  Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền và sai lệch qua những di sản thể hiện ở những bản văn chữ Hán. Những quan sát mà nền văn minh Đông phương cổ xưa nhận thức được, không phải thuộc về nền văn minh hiện đại. Bởi vậy, những khái niệm, quy tắc, mô hình biểu kiến, nguyên lý ứng dụng... trong các phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương không có một sự liên hệ hợp lý tối thiểu với một lý thuyết là cơ sở tạo ra hệ thống phương pháp luận của nó. Cho nên, mọi phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương trở nền mơ hồ và huyền bí với những nhà khoa học Tây phương cho đến tận ngày hôm nay.

Đấy chính là điểm khác biệt và giống nhau khi hai nền văn minh Đông Tây va chạm bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước và kết thúc vào đầu thế kỷ XX, mà chúng tôi đã trình bày ở trên.
Vì là sự phục hồi một hệ thống lý thuyết đã có sẵn của nền văn minh Đông phương và đây cũng chính là tính chất nghiên cứu rất đặc thù trong sự phát triển từ thực tế đến lý thuyết trong lịch sử của nền văn minh hiện đại có nguồn gốc từ Tây phương. Hay nói một cách khác: Nghiên cứu những giá trị của nền văn minh Đông phương, chính là nghiên cứu theo chiều ngược lại của sự phát triển của nền văn minh hiện đại: từ sự phục hồi một hệ thống lý thuyết đã có sẵn và đối chiếu với hệ thống phương pháp pháp luận trong ứng dụng của học thuyết này.

Cho nên, khi mà những nền tảng tri thức và cơ sở vật chất hình thành nên lý thuyết đó đã mất đi thì để phục hồi lại lý thuyết này, không thể sử dụng những phương tiện kỹ thuật của nền văn minh Tây phương hiện đại, để chứng nghiệm với những mô tả một cách trực quan những di sản ứng dụng của văn minh Đông phương. Vì nền tảng tri thức và phương tiện của nền văn minh cổ xưa, hình thành nên thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về nền văn minh hiện đại.

Cũng không thể lấy những lý thuyết của trí thức khoa học hiện đại để so sánh đối chiếu. Vì hai nền văn minh có nền tảng tri thức và phương tiện khác nhau.

Vậy thì chúng ta cần một chuẩn mực nào để đối thoại giữa các nền văn minh?

 

II. CHUẨN MỰC ĐỐI THOẠI VÀ HỘI NHẬP GIỮA HAI NỀN VĂN MINH.

Muốn có một cuộc đối thoại giữa hai nền văn minh thì một điều kiện khách quan hiển nhiên là: nền văn minh Tây phương đã trở thành nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại. Bởi vậy, những chuẩn mực của nền văn minh hiện đại sẽ phải được dùng làm chuẩn mực để so sánh, đối chiếu với những giá trị tri thức của nền văn minh Đông phương.

Nhưng đó là những chuẩn mực gì?

Trong lịch sử phát triển của nền văn minh Tây Phương, bắt đầu từ thực chứng, thực nghiệm, trải qua hàng thế kỷ và cho đến đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện những lý thuyết cục bộ, riêng phần chuyên ngành rất phát triển thì những chuẩn mực cho một lý thuyết khoa học đã hình thành. Đó chính là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, được sử dụng để kiểm chứng những lý thuyết khoa học tiếp tục hình thành trong tương lai, sẽ tiếp tục làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học lý thuyết của nền văn minh hiện đại.

Trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng và xét tính đặc thù trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa của nền văn minh Đông phương, chúng tôi xác định rằng:

Chính hệ thống tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng thuộc về nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, sẽ là chuẩn mực để so sánh và phục hồi những giá trị đích thực của học thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, chuẩn mực của nền văn minh hiện đại  cũng chính là chuẩn mực đối thoại để phục hồi những giá trị đích thực của nền văn hiến Việt, cội nguồn của văn minh Đông phương, trong sự hội nhập giữa hai nền văn minh.

 

III. NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯƠNG LAI.

Nếu như chỉ dừng lại ở sự xác định một quá khứ lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn hiến thì công việc này cũng tương tự như việc dựng lại một tượng đài lịch sử nhằm tôn vinh quá khứ và sự tự hào về một truyền thống.

Nhưng vấn đề sẽ không chỉ dừng lại ở đấy. Vì cùng với việc phục dựng lịch sử văn hiến Việt, còn là việc phục dựng một nền tảng tri thức huy hoàng của một nền văn minh huyền vĩ đã tồn tại trên thực tế, đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Việc xác định lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm, chủ nhân đích thực và là cội nguồn của văn minh Đông phương, cũng chính là một trong ba tiêu chí khoa học cần được thỏa mãn để xác định cội nguồn lịch sử của một học thuyết, mà người viết đã trình bày ở trên.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt, so sánh với tiêu chí khoa học, chính là một học thuyết hoàn chỉnh, nhất quán, có tính hệ thống, mô tả những quy luật của vũ trụ, một cách khách quan và khả năng tiên tri.

Nếu so sánh với tiêu trí cho một lý thuyết thống nhất vũ trụ, được giáo sư SW  Hawking công bố trong cuốn "Lược sử thời gian" của ông thì nó cũng hoàn toàn thỏa mãn: Thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử  đã giải thích từ sự hình thành vũ trụ, đến mọi sự vận động của các thiên hà khổng lồ.  Nó bao trùm và ảnh hưởng trong mọi lĩnh vực liên quan đến thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và từng hành vi của con người có thể tiên tri. Nếu nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại thì đây là hệ quả của một mô thức tư duy phức hợp đa ngành. Tất nhiên học thuyết này phải là sự tổng hợp những tri thức của một nền văn minh cao cấp.

Giáo sư Chu Hảo, trong buổi nói chuyện tại hội nghị tổng kết của Tổng Cty điện tử DTT, đã xác định: "Tư duy phức hợp", đa ngành là mô thức của tư duy khoa học trong tương lai.

Slide26_zpse3dfbbfc.jpg

 

Mô hình hiển thị của giáo sư Chu Hảo trong buổi nói chuyện tại hội nghị tổng kết 10 năm hoạt động của Tổng Cty điện tử DTT.

 

Tư duy phức hợp theo miêu tả của giáo sư Chu Hảo là tư duy khoa học của tương lai và sự phát triển của khoa học hiện đại đến ngày hôm nay, mởi chỉ đặt vấn đề với sự mô tả nội hàm của khái niệm này.

Nhưng có thể nói rằng: hệ quả của tư duy phức hợp lại thể hiện ngay chính trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có thể nói: tất cả mọi phương pháp ứng dụng của các ngành học khác nhau thuộc Lý học Đông phương như: kiến trúc (Phong thủy); Y học (Đông y), dự báo… gồm các quy luật vật lý, sinh học và các hiện tượng vũ trụ....đều được giải thích bằng hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Điều này, đã chứng tỏ nó phải là hệ quả của một tri thức rất tổng hợp, đa ngành. Hay nói rõ hơn: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là hệ quả của tư duy phức hợp mà những tri thức khoa học hiện đại coi là một mô thức tư duy của tương lai. Bởi vậy, thuyết Âm Dương Ngũ hành phải là sự tổng hợp của khả năng tư duy và của cả tri thức khoa học trong tương lai.

Chưa hết. Bây giờ chúng ta so sánh thuyết Âm Dương Ngũ hành với một lý thuyết toán học nổi tiếng trong nền văn minh hiện đại là "Nghịch lý Cantor".

Lý thuyết này phát biểu rằng:

1/ Mọi tập hợp đều là phân tử trong một tập hợp lớn hơn.

2/ Có một tập hợp bao trùm lên tất cả mọi tập hợp.

Học thuyết toán học nổi tiếng này được coi là nghịch lý, chính vì vế thứ hai có vẻ mâu thuẫn với vế thứ nhất trong cái nhìn của tri thức khoa học hiện đại. Và nó chưa được công nhận để trở thành nền tảng tri thức của khoa học hiện đại.

Nhưng đối chiếu với thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đây lại chính là một mô thức đã được ứng dụng trong trong toàn bộ học thuyết này. Một thí dụ về sự phân loại thời gian theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chỉ cần quan sát một cách rất trực quan cuốn Việt lịch (Âm lịch), chúng ta cũng có thể nhận thấy rằng: Ngày là phần tử trong tập hợp của tháng. Thí dụ như ngày 23, tháng Chạp, năm Quí Tỵ là ngày Giáp Ngọ. Tức ngày thuộc hành Kim; là phần tử trong tháng Chạp Việt lịch là tháng Ất Sửu; tháng là phần tử của năm Quý Tỵ thuộc Hỏa theo Lạc thư hoa giáp. Thời gian còn tiếp tục được phân loại đến vận, nguyên, đại vận, hội và Đại vận hội. Tât cả đều được phân loại theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cụ thể trong chính sử Việt chép: Việt tộc lập quốc vào năm thứ 8, vận 7. Hội Ngọ.

Sự phân loại thời gian theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - và không phải chỉ có thời gian - đã xác định tính ửng dụng vế thứ nhất của nghịch lý Cantor trong học thuyết này: Mọi tập hợp đều là phần tử trong một tập hợp lớn hơn. Vậy thì vế thứ hai trong nghịch lý Cantor thể hiện trên thực tại nào của vũ trụ trong sự mô tả của lý thuyết toán học này?

Người viết xác định rằng: Đó chính là "giây /O/" của vũ trụ, là "Thái cực" trong thuyết Âm Dương Ngũ hành; là "Tính Thấy" trong Phật pháp; là "Đạo" trong Đạo Đức kinh; và là sự tuyệt đối trong khởi nguyên của vũ trụ: Không thời gian, không không gian và không lượng số.

Sự phù hợp với tiêu chí khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành với nguyên lý căn để là "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", nhân danh nền văn hiến Việt, không chỉ dừng lại trong nội hàm vô cùng đồ sộ của học thuyết này; mà còn là sự hợp lý ngay cả với những tri thức khoa học của nền văn minh hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây Phương. Nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành không phản ánh một chân lý khách quan trong sự vận động tương tác của vũ trụ  thì nó không thể có tính hợp lý bao trùm như vậy.

Bởi vậy, việc phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt chính là việc xác định một nền tảng trí thức của cả một nền văn minh đã từng tồn tại và huy hoàng trong quá khứ. Tất nhiên, nó sẽ đóng góp những gía trị trí tuệ đích thực của nền văn minh Đông phương, trong việc giải quyết mọi vấn nạn mà sự phát triền của nền văn minh mà con người đang quan tâm.

 

IV. LỜI CUỐI SÁCH.

Thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt, chính là ứng cử viên duy nhất của "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại" , mà nhà tiên tri vĩ đại Vanga, người Bungari đã nói tới.

 Nếu như bạn đọc cho rằng: lời tiên tri của bà Vanga là mơ hồ thì người viết cũng chia sẻ với ý tưởng của bạn và chỉ coi lời tiên tri của bà Vanga như là một hiện tượng khách quan đã phổ biến và tồn tại trên thực tế, làm đoạn dẫn cho lời cuối sách.

Do giới hạn của cuốn sách, người viết chỉ có thể trình bày được những nội dung căn bản.

1/ Qua việc xác định cấu trúc và nội hàm đích thực câu trong Hệ từ Thượng truyện: "Thị cố dịch hữu Thái cực. Thị sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng biến hóa vô cùng". Mô tả một thực tại diễn biến lịch sử và những qui luật vũ trụ, từ khởi nguyên của thuyết Âm Dương Ngũ hành, từ những di sản văn hóa truyền thống Việt.

2/ Mô tả nguyên lý căn để của học thuyết Âm Dương ngũ hành: "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", cùng với những nguyên lý và những khái niệm căn bản những nguyên lý, danh từ căn bản  và  những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

3/ Từ những hệ thống luận cứ trên, chứng minh sự phù hợp với tiêu chí khoa học của một lý thuyết nhân danh khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành phục hồi từ nền văn hiến Việt, trong việc liên hệ với mọi vấn đề liên quan đến nó thuộc nội hàm học thuyết này.

Người viết hy vọng rằng: Mặc dù đó chỉ là những giá trị nền tảng ban đầu, nhưng có tính định hướng cho việc phục hồi toàn diện hệ thống học thuyết này, trong mọi lĩnh vực bao trùm của nó. Tuy nhiên,  để phục hồi một cách toàn diện, còn là cả một công việc đồ sộ, cần sự đóng góp của rất nhiều bậc trí giả tâm huyết.

Mặc dù vậy,  với tất  cả nhiệt tình của mình, chúng tôi hy vọng góp phần làm sáng tỏ chân lý đích thực về một nền văn hiến Việt khởi nguồn từ miền nam sông Dương tử với gần 5000 năm lịch sử - chủ nhân đích thực của những gía trị nền tảng của nền văn minh Đông phương. Chúng tôi hy vọng và tin tưởng điều này.

Chúng tôi cho rằng: chính sự tiến hóa của nền văn minh nhân loại cho đến ngày hôm nay là điều kiện cần và đủ để minh chứng cho một chân lý bị khuất lấp hàng thiên niên kỷ trong kho tàng kiến thức của nhân loại.

Một trong những câu truyện kể dân gian Việt Nam đã mô tả có tính tiên tri cho sự phục hồi những giá trị của nền văn hiến Việt, hoàn toàn phủ hợp với kết quả tiên tri của bà Vanga: đó chính là câu truyện "Trê Cóc" nổi tiếng trong nền văn hiến Việt.

Câu chuyện kể rằng:

Cóc mẹ xuống đầm đẻ trứng và nở ra một đàn nòng nọc. Vợ chồng nhà Trê, không có con, thấy đàn nòng nọc giống mình bèn bắt đem về nuôi. Cóc mẹ trở lại đầm thì không thấy con đâu. Biết Trê lấy cắp con mình, bèn đâm đơn đi kiện quan Cá Chép. Nhưng quan Cá Chép xử thắng cho vợ chồng nhà Trê, vì thấy nòng nọc giống Trê hơn giống Cóc.

Mẹ Cóc buồn bã thì cụ đồ Nhái khuyên mẹ Cóc không cần phải lo nghĩ nhiều. "Sự phát triển của tự nhiên, đến một lúc một thời điểm thích hợp thì nòng nọc sẽ phát triển thành cóc và trở về với Mẹ Cóc.

Quả nhiên, sau này, khi đàn nòng nọc lớn lên lại trở thành cóc và về với mẹ Cóc.

 

che_coc_kien%20nhau.jpg

"Trê Cóc" .

Tranh dân gian Đông Hồ trong di sản văn hóa truyền thống Việt.

 

Đây là một câu chuyện mang tính minh triết Việt:

Nền văn minh Hán đã Hán hóa những di sản của nền văn hiến Việt tử hơn 2000 năm trước. Bởi vậy, những di sản ấy mang một hình thức bằng văn tự Hán, làm mọi người cứ tưởng nó thuộc về nền văn hóa Hán. Điều này được mô tả trong câu chuyện bằng hình thức giống Trê của đàn nòng nọc.
Đã hơn hai ngàn năm trôi qua, chính sự phát triển tự nhiên - theo quy luật tiến hóa của nền văn minh nhân loại - là điều kiện cần và đủ để thẩm định một chân lý cổ xưa sẽ quay trở lại với con người. Đây chính là nội dung của thầy Nhái Bén khuyên mẹ Cóc cứ yên tâm; quy luật phát triển của tự nhiên sẽ làm đàn nòng nọc tiến hóa thành Cóc và trở về với nguồn cội.

Chỉ đến ngày hôm nay , đã hơn 2000 năm trôi qua , khi nền văn minh nhân loại đã phát triển và hình thành những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học, mới đủ cơ sở để chứng minh cho nền văn minh Việt chính là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Đàn nòng nọc, biểu tượng của nền văn minh Khoa Đẩu  mới trở về với nguồn cội.

Sự mở đầu và nội dung của toàn bộ cuốn tiểu luận này, mô tả những giá trị minh triết Việt, chứng minh cho toàn bộ những giá trị của nền văn minh Đông phương thuộc về Việt tộc, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, mà hậu duệ chính là các dân tộc ở đất nước Việt Nam hiện nay. Cho nên, khi kết thúc cuốn tiểu luận này, chúng tôi cũng xin mô tả một nội dung minh triết của một câu truyện nổi tiếng trong di sản văn hóa truyền thống Việt - truyện "Trê Cóc" - để chia sẻ với bạn đọc một thông điệp của tổ tiên về sự phục hồi những giá trị văn hiến Việt, như là một quy luật tất yếu của sự phát triển trong tương lai của nền văn minh hiện tại.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ và đóng góp của bạn đọc.

Nguyễn Vũ Tuấn Anh

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

 

Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" kết thúc ở phần IV và tôi đã trình bày xong với quý vị và anh chị em quan tâm ở bài trên.

Tất cả đều rất rõ ràng, công khai minh bạch. Cuốn sách này được in 1000 cuốn, nhưng gần như không bán, mà chủ yếu để đem biếu với sự tài trợ của Công ty Phát triển Văn Hóa Giáo Dục Việt. Và bây giờ, nội dung của cuốn sách này trình bày công khai lên diễn đàn Lý học Đông phương, quý vị và anh chị em quan tâm có thể tham khảo với một tình thần khoa học khách quan và hoàn toàn đọc miễn phí.

Có rất nhiều những ý kiến phản biện trong dư luận về cuốn sách này, mà tôi đã lần lượt dẫn công khai và biện minh cho luận điểm của tôi ngay trong chủ đề này. Có ba luồng ý kiến phản biện với nội dung căn bản như sau:

 

1/ Những di sản liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành có ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ liên quan đến khu vực ảnh hưởng của văn minh Đông phương. Tại sao lại chỉ có văn hóa truyền thống Việt là chủ thể của văn minh Đông phương?

 

2/ Việc sử dụng truyền thuyết, truyện dân gian, giải mã di sản văn hóa phi vật thể là "mơ hồ" và không có "cơ sở khoa học".

 

3/ Hệ thống tri thức khoa học hiện đại với hệ thống tri thức của nền văn minh cổ Đông phương là hai mô thức không tương thích nên không thể trao đổi, phản biện.

 

Hai cách đặt vấn đề trên tôi đã biện minh ngay trong chủ đề này bằng những bài viết thêm.

 

Với phản biện thứ nhất, tôi đã trình bày rằng: Dấu ấn của một học thuyết và hệ thống nội dung của học thuyết là hai vấn đề rất khác nhau. Thí dụ: ngay bây giờ tại Hàn Quốc trưng ra một bộ sách bằng đồng với chính văn tự Hàn Quốc cổ, xác định niên đại cách đây 3000 năm viết về phong thủy thì điều đó cũng không có nghĩa toàn bộ thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về Hàn Quốc. Di vật khảo cổ giả thuyết này, vẫn có thể giải thích bằng một cách khác cho sự tồn tại của nó. Huống chi chỉ với vài dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ hành và một cách hiểu ứng dụng phong thủy mang tính cục bộ lưu truyền trong xã hội Hàn Quốc, chưa đủ để xác định Hàn quốc là chủ thể của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chứng minh tương tự như vậy, cho thấy dù những dấu ấn của đồ hình Âm Dương Lạc Việt trên khắp thế giới, không có nghĩa nước nào có những dấu ấn liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành đồng thời cũng có nghĩa là xác định chủ thể sở hữu của cả một học thuyết.

Hệ quả của một trong ba tiêu chí mà tôi trình bày trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" là:

 


Một nền văn minh chủ thể của một học thuyết thì nền tảng trí thức của nền văn minh đó phải có khả năng phục hồi lại học thuyết đó.

 

 

 

Và tôi đã chứng minh điều này qua những di sản văn hiến Việt để phục hồi lại nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Bắt đầu từ nguyên lý căn để này, tôi đã mô tả tính hợp lý toàn diện trên khắp mọi vấn đề liên quan đến việc phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tính khoa học của hệ thống những luận cứ này thể hiện ở sự phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học được coi là đúng. Bởi vậy.

 

Với phản biện thứ hai: rõ ràng nó chỉ thể hiện một sự hời hợt, vô trách nhiêm và dốt nát, khi cho rằng tôi đã "mơ hồ" và không có "cơ sở khoa học". Những người có ý kiến này đã chỉ lấy ra một bộ phận trong toàn bộ hệ thống luận cứ của tôi để phản biện không có căn cứ. Khi tôi đã công khai xác định, việc dẫn truyền thuyết, di sản văn hóa truyền thống và giải mã....trong hệ thống luận điểm của tôi không coi là luận cứ khoa học.

 

Với phản biện thứ ba: Đây cũng là sự thể hiện một cách trốn tránh trách nhiệm về việc tìm về cội nguồn dân tộc trước một hệ thống luận cứ minh chứng cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và với những vấn đề của một lý thuyết thống nhất vũ trụ. Bởi vì, tôi đã trình bày rất rõ những tiêu chí khoa học của chính nền tảng trí thức khoa học hiện đại làm chuẩn mực thẩm định một giả thuyết khoa học được coi là đúng và ứng dụng rất cụ thể vào tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến học thuyết này. Những tiêu chí này rõ ràng không thuộc về "Lý học Đông phương" - nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương huyền vĩ - mà là nền tảng của tri thức khoa học hiện đại và là chuẩn mực để thẩm đính tính khoa học của một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh tri thức khoa học hiện đại. Điều này được trình bày rất rõ ràng và được lặp lại nhiều lần trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". 

Những giáo sư tiến sĩ có thể căn cứ vào chuẩn mực này để so sánh, đối chiếu, phát hiện ra sai lầm và có thể phản biện. Không lẽ những trí giả bằng cấp lùng bùng giáo sư tiến sĩ không biết đến điều đó? Tôi không tin "hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "cộng đồng khoa học thế giới" đang xúm xít phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt lại không thể hiểu điều này.

Do đó, chỉ có thể giải thích một cách hợp lý - theo tiêu chí khoa học - rằng: Họ bắt buộc phải khăng khăng phủ nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, bằng mọi phương pháp - kể cả chụp mũ đểu, tránh tranh luận, không tạo điều kiện tranh luận và xuyên tạc một cách dốt nát, ngu xuẩn những luận cứ của tôi - nếu không phải như thế thì nó sẽ chứng tỏ sự dốt nát, bất tài của họ.

Nhưng tôi nghĩ họ cũng không nên qúa bi quan và tự ti đến mức khốn khổ như vậy. Bởi vì chính sự dốt nát đó khiến tôi thông cảm. Âu cũng là chuyện thế gian thường tình. Cái nền tảng tri thức của cả một nền văn minh này cũng mới chỉ đến đây, cho nên có vài vị giáo sư tiến sĩ lỡ ngu thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Cho nên những kẻ vì dốt nát mà lỡ chống lại nền văn hóa sử Việt cũng có thể thông cảm, nếu họ còn  đủ tỉnh táo để nhận thức chân lý khi đã có người vạch ra với lương tâm khoa học còn sót lại.

Nếu vài vị giáo sư tiến sĩ nào đó có tự ái thì cũng nên có giới hạn, vì còn dành thời gian thẩm định chân lý. Và những điều tôi nhận xét về sự dốt nát của họ hoàn toàn khách quan và có "cơ sở khoa học", chứ tôi và họ không có quyền lợi mâu thuẫn để phải chê bai như vậy.

Quí vị và anh chị em quan tâm xem một tóm tắt về các vấn đề khoa học hiện đại, mà giáo sư Chu Hảo trình bày ở Hội nghị tổng kết 10 năm hoạt động của DTT. Qua đó để thấy vài giáo sư tiến sĩ dốt nát là rất có "cơ sở khoa học", khi mà nền tảng tri thức của cả một nền văn minh vẫn còn bế tắc và chưa có lối thoát.

 

 

IMG_1083_zps10fab2ad.jpg

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm đang xem chủ đề này.

Qua mô hình tóm tắt của giáo sư Chu Hảo về vấn nạn của khoa học trong hiện tại và cả tương lai, chắc quý vị và anh chị em cũng thấy rất rõ những vấn nạn được coi là mâu thuẫn trong nhận thức của nền tảng trí thức khoa học hiện đại. Mâu thuẫn này thể hiện ở hai quan niêm chi phối bầu trời khoa học hiện đại là lý thuyết về tính Tất định với lý thuyết về tính Bất định. Tất nhiên, những nhà khoa học hàng đầu của thế giới - nói theo ngôn ngữ dân gian Việt - cũng "cãi nhau như mổ bò".

Trên diễn đàn và cả trong "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã trình bày về lịch sử phát triển của tri thức khoa học hiện đại. Sự phát triển này dựa trên căn bản từ những nhận thức trực quan về thế giới vật chất, thông qua những phương tiện kỹ thuật hiện đại. Trên cơ sở này, sự tổng hợp của nhận thức trực quan về những hiện tương vận động của tự nhiên liên quan và từ đó thiết lập những hệ thống lý thuyết khoa học chuyên ngành từ đơn giản đến phức tạp. Những lý thuyết chuyên ngành phát triển nhất trong nền văn minh hiện đại là toán học với cấu trúc căn bản là tính hợp lý lý thuyết. Trong vật lý học thì điển hình là thuyết của New tơn, thuyết Tương đối của Eistein...

Nhưng những thực tế quan sát được từ thế giới vi mô, các nhà khoa học đã cho rằng "vật chất biến mất", khi họ phát hiện ra rằng một số hạt vật chất tồn tại không ổn định. Thí dụ như sự tồn tại lưỡng tính sóng hạt của các hạt ánh sáng. Nguyên lý bất định ra đời và được mô tả như sau trên Wikipedia:

 

Ý nghĩa của nguyên lý bất định

Các hạt vi mô khác với các vật vĩ mô thông thường. Các hạt vi mô vừa có tính chất sóng lại vừa có tính chất hạt, đó là một thực tế khách quan. Việc không đo được chính xác đồng thời cả tọa độxung lượng của hạt là do bản chất của sự việc chứ không phải do trí tuệ của con người bị hạn chế. Kĩ thuật đo lường của ta có tinh vi đến mấy đi nữa cũng không đo được chính xác đồng thời cả tọa độ và xung lượng của hạt. Hệ thức bất định Heisenberg là biểu thức toán học của lưỡng tính sóng hạt của vật chất.

 

 

 

Thuyết Bất định còn được nhiều nhà khoa học nổi tiếng xác định và mô tả từ nhiều lĩnh vực. Để đơn giản vấn đề, tôi giới thiệu bài dịch của dịch giả và là một nhà khoa học là ông Phạm Quang Hưng, để quý vị và anh chị em tham khảo:

http://vietsciences.free.fr/danhngon/anecdotes/hieuungconbuom.htm

Như vậy, chính lý thuyết Bất định cũng hình thành trên cơ sở quan sát trực quan những dạng tồn tại vật chất vi mô. Nhưng về mặt lý thuyết thì khi "hai quan niệm trái ngược nhau giải thích cho cùng một vấn đề thì chỉ có một cái đúng, hoặc cả hai đều sai". Tuy nhiên vấn đề "chỉ có một cái đúng, hoặc cả hai đều sai" chỉ có thể ứng dụng trong những hiện tượng cục bộ trong một tập hợp. Trong trường hợp mâu thuẫn xảy ra trong bầu trời khoa học hiện đại và chưa xác định được một tập hợp lớn hơn bao trùm tất cả nền tảng tri thức của tính Tất Định và Bất Định thì không cho phép "cả hai đều sai".

Bởi vì, nếu trường hợp "cả hai đều sai" xảy ra thì những tri thức nền tảng của nền khoa học hiện đại sụp đổ hoàn toàn về mặt lý thuyết!

Do đó, trong trường hợp đặc thù này thì chỉ có một cái đúng và một cái sai. Như vậy, vấn đề còn lại là tính Tất định hay tính Bất định phản ánh đúng trong sự mô tả vũ trụ?

Như tôi đã trình bày, chỉ có một cái đúng trong hai dạng tồn tại của nhận thức nền tảng của nền văn minh hiện này, là: lý thuyết Tất Định đúng, hay Bất Định đúng? Và không thể cả hai đều sai, nếu như nền văn minh có xuất xứ Tây phương này cần có một nền tảng tri thức để vượt qua sự bế tắc hiện nay.

Tôi cần phải khẳng định luôn rằng: Thuyết Bất Định hoàn toàn chỉ là sự mô tả thực tế nhận thức trực quan - tức hiện tượng khách quan, quan sát được. Những hệ thống gọi là lý thuyết của mô tả tính Bất Định thực chất chỉ là một cách giải thích những nhận thức khách quan của sự vận động vật chất vi mô, được hệ thống hóa. Nó chưa đáp ứng được bản chất của một lý thuyết khoa học.

Bản chất của một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải tuân thủ tiêu chí khoa học để thẩm định. Và nếu các thuyết Bất định được coi là đúng thì nó phải chứng minh tất cả những lý thuyết xác định tính Tất định của vật chất trước đó là sai.

Ngay cả với bài toán "Ba vật thể" của Poincaré cũng chỉ là thể hiện sự bất lực của tri tuệ con người, chứ không phải là sự xác định một chân lý. Không thể vì những nhà toán học hàng đầu của nhân loại bây giờ và tương lai gần không thể giải được bài toàn "ba vật thể", để xác định tính bất định của vũ trụ, mà cho rằng lý thuyết Bất định đúng.

Tôi cần xác định một vấn đề giữa thực tại với lý thuyết mô phỏng thực tại và phản ảnh bản chất thực tại. Tôi sẽ trình bày ngay sau đây.

 

Thực tại bất định và lý thuyết Tất định

Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt đã xác định bản chất của vật chất - gồm cả vật chất có khối lượng và phi khối lượng - luôn vận động và bất định. Tính bất định, hay còn gọi là tính "vô thường" của thế giới vật chất, đã được mô tả trong Lý học Đông phương từ rất lâu với thời gian tính bằng Thiên niên kỷ.

 

Ta về giữa cõi vô thường.

Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa...

................Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh

 

Vấn đề mà lý học xác định tính bất định của vật chất từ vi mô đến vĩ mô - từ có khối lượng đến phi khối lượng - chỉ là thời gian tồn tại của nó tính bằng đơn vị nào? 1/ 1000 tỷ s cho hạt ánh sáng, hàng thiên niên kỷ cho một quả núi, hay hàng ngàn tỷ năm cho một hành tinh, hoặc một ngôi sao....

Nhưng cho dù Lý học Đông phương xác định tính vô thường của vật chất - gồm cả có khối lượng và phi khối lượng; có hình thể và phi hình thể - thì nền văn minh Đông phương vẫn có cả một học thuyết mô tả từ sự hình thành vũ trụ, từ sự vận động của các thiên hà khổng lồ cho đến những cấu trúc vật chất nhỏ nhất, giải thích tất cả mọi hiện tượng vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử.

Nhưng đấy là chuyện của Lý học sẽ bàn sau, quay trở lại với thuyết Bất Định và thuyết Tất định đang là vấn nạn của trí thức khoa học hiện đại. Tôi xác định rằng: Giữa nhận thức thực tại và một lý thuyết mô tả là hai phạm trù rất khác nhau. Tôi trình bày như sau:

Một thực tại quan sát được về mặt hiện tượng, chưa hẳn đã phản ánh bản chất của hiện tượng. Cụ thể sự nhận thức trực quan qua phương tiện kỹ thuật, nhận thấy cấu trúc "sóng - hạt" của hạt ánh sáng, không có nghĩa nó là bản chất phi quy luật của hạt ánh sáng, được nhận thấy của hiện tượng này, khi những hạt ánh sáng chuyển động với tính chất sóng hạt hoàn toàn có định hướng. Do đó, nó phải có một quy luật tương tác để hình thành tính "sóng - hạt" của hạt ánh sáng trong sự vận động của nó. Mô tả quy luật này là thuyết Tất Định. Phản ánh hiện tượng là thuyết Bất định.

Qua đó tôi xác định rằng những lý thuyết Tất định mới chính là một lý thuyết khoa học mô tả sự tổng hợp những hiện tượng của tự nhiên và giải thích tự nhiên với hệ thống phương pháp luận của nó. Còn cái gọi là thuyết Bất định chỉ là sự mô tả tự nhiên được nhận thức chưa hoàn chỉnh của con người và không thể giải thích tự nhiên với sự mô tả hình thức bên ngoài của nó. Do đó, không thể coi những lý thuyết Bất định là một học thuyết.

Một học thuyết khoa học hình thành còn tùy thuộc vào các yếu tố sau:

 

1/ Sự tiến hóa và phát triển của ý thức:

Bắt đầu từ những cảm ứng, đến phản xạ có điều kiện, khả năng phân loại các hiện tượng, sự kiện và vấn đề, tính hợp lý trong sự liên hệ tổng hợp các hiện tượng được phân loại; tư duy biện chứng và cuối cùng là tư duy tổng hợp - hay phức hợp - là tư duy của tương lai.

Trong tất cả những trạng thái tiến hóa của ý thức này đòi hỏi tư duy trừu tượng phát triển và mang tính quy ước tổng hợp những phần tử đã được phân loại. Thí dụ một cách đơn giản là khái niệm về quả cà chua. Khi nói đến "quả cà chua" thì tất cả các bà nội trợ và chính chúng ta đều hình thành một khái niệm trừu tượng có tính tổng hợp về "quả cà chua". Và từ nhận thức trừu tượng về quả cà chua, chúng ta vẫn nhận ra từng quả cả chua cụ thể, cho dù nó có hình thức khác nhau. Nhưng nếu, chúng ta thấy một quả cà chua lạ, mà hình thức của nó không giống bất cứ một giống cà chua nào mà chúng ta đã nhìn thấy - thí dụ nó màu cam và tròn như quả táo chẳng hạn - thì phản ứng đầu tiên là chúng ta không coi đó là một quả cà chua. Mặc dù ngoài hình thức khác biệt thì quả cà chua lạ đó có đầy đủ tính chất của một quả cà chua. Khi chúng ta biết rằng quả cà chua lạ đó, hoàn toàn có đầy đủ tính chất của quả cà chua trong nhận thức trừu tượng tổng hợp của chúng ta về quả cà chua trước đó (Tính hợp lý phân loại liên quan) - thì lúc ấy - hình thức của quả cà chua lạ sẽ được tích hợp trong nhận thức trừu tượng của chúng ta về giống cà chua nói chung.

Tương tự như vậy với một lý thuyết khoa học, nhận thức càng rộng thì khả năng tổng hợp mọi hiện tượng của một lý thuyết càng cao. Trong giới hạn nhận thức của vật chất có cấu trúc vĩ mô và rộng hơn là vật chất có khối lượng ổn định, những lý thuyết khoa học mang tính Tất Định và tính hợp lý lý thuyết đã ra đời trong giai đoạn đầu của lịch sử văn minh hiện đại cho đến gần đây.

Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật đã đưa những nhận thức trực quan của con người ngày càng phong phú. Các nhà khoa học đã nhận thấy "Vật chất (Có khối lượng/ Thiên Sứ) biến mất". Nó tương tự như một bà nội chợ chưa nhìn thấy quả cà chua lạ và loại nó ra nhận thức của mình về quả cà chua. Nhưng tri thức khoa học trong sự tiến hóa của nó là xây dựng những lý thuyết mô tả và giải thích thế giới, từ những thực tại khách quan nhận thức được.

Tất nhiên, một trong những thực tại khách quan nhận thức được chính là tính bất định của vật chất vi mô. Đấy là chưa nói đến hơn 90% các dạng tồn tại của vật chất trong vũ trụ, mà các nhà khoa học gọi là "vật chất tối" chưa được phát hiện bản chất của nó. Tôi giả thiết rằng: Khoa học hiện đại khám phá ra một dạng tồn tại hoàn toàn phi khối lượng trong đám vật chất tối đó, thì vật chất theo khái niệm thông thường chỉ bao gồm vật chất có khối lượng phải định nghĩa lại (Tôi đã định nghĩa rồi, trong "Định mệnh có thật hay không?").

 

2/ Tính quy ước của ý thức.

Trở lại với khái niệm trừu tượng - mà hàng ngày ta cứ tưởng rất cụ thể - là "quả cà chua". Khái niệm "quả cà chua" thực chất là một  khái niệm trừu tượng quy ước của ý thức, nó được tổng hợp từ sự so sánh phân loại quả cà chua với các loại quả khác và đặc tính chung của từng "quả cà chua" cho các loại giống cà chua khác nhau. Tính quy ước trong khái niệm trừu tượng về "quả cà chua" cũng chính là tính quy ước hợp lý lý thuyết của tất cả các lý thuyết khoa học.

Một trong ví dụ điển hình của tính quy ước này trong cả một ngành khoa học nền tảng và là mũi nhọn của nền văn minh hiện nay, chính là khái niệm "điểm" trong toán học. Khái niệm "điểm" trong toán học thực chất là một khái niệm hoàn toàn mang tính quy ước. Nó hoàn toàn không có định lượng. Trong thực tế ứng dụng của toán học, khái niệm "điểm" được quy ước bằng đầu nhọn của cái bút và là sự khởi đầu cho toàn bộ nền tảng tri thức toán học hiện nay.

Như vậy, về bản chất cấu trúc vật chất (gồm cả vật chất có khối lượng từ những hạt vật chất nhỏ nhất đến cả vũ trụ - gồm những thiên hà khổng lồ mà tri thức khoa học hiện đại đã khám phá - và phi khối lượng mà tri thức khoa học hiện đại chưa khám phá ra và gọi là  "vật chất tối"), đều mang tính bất định. Vấn đề là thời gian thể hiện sự bất định, tùy thuộc vào cấu trúc vật chất mà thôi.

Sự nhận thức của con người - vì bị lối mòn tư duy, nên coi vật chất phải là có khối lượng. Nên khi nhận thấy cấu trúc vật chất vi mô - hạt ánh sáng có tính chất lưỡng tính - thì đã quan niệm sai khi cho rằng "vật chất biến mất" và cho rằng vật chất là bất định. Trong khi đó, tính bất định là bản chất của vật chất.

Ngay cả chúng ta cũng "bất định", có điều thời gian là xấp xỉ 100 năm cho một đời người để chuyển sang trạng thái khác. Nhưng khái niệm về con người và tất cả những gì liên quan đến nó lại mang tính tất định.

Tương tự như vậy, mọi lý thuyết đều là sự tổng hợp những khái niệm quy ước, mô tả tính quy luật tất định của mọi sự vận động và tương tác của vật chất trong những cấu trúc tồn tại của nó.

 

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Trong khi nền tảng tri thức khoa học hiện đại đang mâu thuẫn giữa thuyết Bất Định và thuyết Tất định và không thể "cả hai đều sai", tôi đã chứng minh và xác định rằng:

1/ Bản chất của vật chất nói chung, gồm cả vật chất đã nhận thức được - từ những thiên hà khổng lồ đến những hạt vật chất nhỏ nhất -  và chưa nhận thức được (Vật chất tối) đều mang tính bất định. Sự thể hiện tính bất định của vật chất theo thời gian, tùy thuộc vào cấu trúc vật chất.

2/ Do đó, những học thuyết khoa học thật sự - mà bản chất là sự nhận thức của con người với thiên nhiên, qua những khái niệm quy ước - chính là sự phản ánh sự tổng hợp của nhận thức và khả năng tư duy trong qúa trình tiến hóa - nhằm mô tả tính tất định của những quy luật vận động và tương tác khách quan của thế giới vật chất đang chi phối cuộc sống, xã hội và con người của chúng ta.

Do đó, về mặt lý thuyết thì những lý thuyết khoa học khám phá quy luật vận động và tương tác của tự nhiên phải có tính Tất định.

Đây chính là sự mô tả vũ trụ của thuyết Âm Dương Ngũ hành, lý thuyết thống nhất khoa học, nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương tử. Cho nên những lý thuyết khoa học phải mô tả được tính tất định quy ước của mọi sự vận động, tương tác mang tính quy luật của vật chất có khả năng tiên tri.

 

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Tôi đã chứng minh xong về căn bản nền tảng tri thức khoa học hiện đại muốn phát triển thì tính Tất định là yếu tố cấu thành cho mọi lý thuyết khoa học. Không có vấn đề thuyết Bất Định, mà chỉ có bản chất bất định của vật chất.

Sự phát triển của tri thức khoa học hiện đại trong tương lai là sự tiếp tục khám phá những bí ẩn của các dạng cấu trúc vật chất trong vũ trụ và mô tả quy luật vận động tương tác của nó (Tính Tất định) từ những nhận thức mới về cấu trúc vật chất. Đây là điều kiện để đi đến hoàn chỉnh một lý thuyết thống nhất mà tất cả những tri thức hàng đầu thật, đang mơ ước.

 

Thưa quí vị và anh chị em.

Cả một nền tảng tri thức của cả một nền văn minh còn đang bế tắc thì một vài vị giáo sư tiến sĩ dốt nát là hiện tượng hoàn toàn có "cơ sở khoa học" và là vấn đề rất khách quan. Giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu của Việt Nam - ông Nguyễn Văn Trọng - đặt vấn đề với tôi chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến có mục đích gì? Thưa ông! Tất nhiên nó không dùng để bán cafe. Nếu ông xác định rằng một lý thuyết vật lý phải dùng để bán chạy một thương hiệu cafe nào đó mới có tính khoa học, còn không thì những nhà khoa học như ông có quyền nghi ngờ mục đích của nó thì tôi chúc ông thành công trong lĩnh vực này.

Thật buồn cho tôi, khi điều kiện và thời gian của tôi không cho phép tôi mô tả một cách trọn vẹn thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt. Và giả thuyết tôi có mô tả một cách trọn vẹn học thuyết này thì những bí ẩn vũ trụ mà học thuyết này mô tả (Thực tại khách quan mà lý thuyết này phản ánh và giải thích) còn là một vấn đề lớn tiếp theo. Những bí ẩn đấy là nguyên nhân để tôi xác định rằng: "Không có Hạt của Chúa". Trước đây tôi rất nhiệt tình sẵn sàng chia sẻ về mặt lý thuyết nguyên nhân để tôi xác định "Không có Hạt của Chúa". Nhưng bây giờ thì phải có điều kiện, hoặc không bao giờ. Rất nhiều kẻ cho rằng tôi gặp may. Tôi không còn quan tâm nữa và chỉ coi đó là một cách giải thích chưa được "khoa học công nhận".

Hôm nay, tôi nói thẳng: Đẳng cấp như ông Trọng không đủ trình độ để phản biện tôi. Nhưng với danh xưng giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu, nó có tác dụng lớn cho việc gây hoài nghi với những người chung quanh về những hệ thống lý thuyết mà tôi theo đuổi hơn 15 năm nay, chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn của nền văn minh Đông phương, thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ.  Và như mọi người đều thấy rõ: Tôi đủ tự tin để công khai toàn bộ cuộc trao đổi tại cafe Trung Nguyên trên web này.

Đáng nhẽ ra, những người làm khoa học chuyên nghiệp như ông, phải có trách nhiệm khuyến khích những phát kiến. Nếu thấy họ sai thì chỉ ra cái sai, hoặc gợi ý để họ tiếp tục nghiên cứu, nhằm phát triển tri thức khoa học kỹ thuật. Nhưng đằng này, ông lại lấy uy tín học thuật của mình để tạo nên sự hoài nghi trong cộng đồng về động cơ của những người muốn chứng minh cho chân lý. Qua trao đổi với nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, tôi biết rằng ông cũng đặt vấn đề mục đích nghiên cứu của nhà nghiên cứu này - cũng tại cafe Trung Nguyên. Có lẽ những người có cái nhìn như ông cũng rất đông. Nên tôi không hề ngạc nhiên khi các nhà nghiên cứu không bằng cấp - báo chí gọi là "kỹ sư Hai lúa" - phải ngậm ngùi sang ...Campuchia để thể hiện những phát kiến của họ. Nếu như những nhà phát minh kỹ thuật đó sang những nước tiên tiến về khoa học kỹ thuật, như Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Nhật, thậm chí là Trung Quốc thì cũng còn an ủi phần nào, khi giải thích rằng những phát minh của họ vượt quá năng kỹ thuật ở Việt Nam. Nhưng thật buồn, khi ông ta lại sang Campuchia để thể hiện khả năng của mình.

Tôi thành thật khuyên ông hãy xem lại cái cách suy nghĩ và đặt vấn đề "mục đích gì?" của ông cho những cố gắng đi tìm chân lý nhân danh khoa học . Hy vọng rằng, như vậy cuộc sống sẽ đỡ căng thẳng vì hoài nghi lẫn nhau hơn. Tất nhiên, quan hệ con người với con người cũng tử tế với nhau và tốt đẹp hơn, ông ạ!

Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" tôi đã trình bày hoàn chỉnh và công khai ở đây. Nếu ông Trọng và những ai đó có đủ khả năng phản biện thì có thể công khai chỉ ra cái sai trong hệ thống luận cứ của tôi.

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Giải Nobel Vật Lý 2012 và phép biện chứng duy vật

khoahoc.com.vn

 

Giải thưởng Nobel Vật lý 2012 được công bố trao cho hai nhà khoa học: Ha-rốt-chơ (Haroche, Pháp) và Uai-len-đơ (Wineland, Mỹ) vì công trình nghiên cứu của họ được cho rằng “có bước đột phá về vật lý lượng tử”, “có tính khả thi cao trong việc đo lường và kiểm soát riêng rẽ từng hệ thống lượng tử. Đây là một kết quả nghiên cứu mà giới vật lý thế giới đã mong đợi từ lâu và hôm nay, nghiên cứu này đã trở thành hiện thực”.

 

Thậm chí theo Ủy ban Nobel, “Ha-rốt-chơ và Uai-len-đơ đã mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên thực nghiệm mới với vật lý lượng tử khi chứng minh: có thể quan sát trực tiếp các hệ lượng tử riêng rẽ mà không phá hủy chúng”.

Trong đoạn mở đầu ở trên, tác giả đã cố ý đánh dấu chữ “lượng tử” bằng chữ nghiêng. Vậy, “lượng tử” là gì? “Vật lý lượng tử” là cái gì? Và “bản chất của công trình được giải thưởng Nobel vật lý 2012” là gì? Nói ra thì dài nhưng tác giả sẽ cố gắng tóm lược tới mức ngắn gọn nhất có thể dành cho những người không chuyên, theo quan điểm của phép biện chứng duy vật.

Thế giới vật chất trong đó chúng ta đang sống được các nhà vật lý chia ra thành hai “mảng”: “thế giới vĩ mô” bao gồm các vật thể có kích thước lớn hơn nguyên tử, phân tử (có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính viễn vọng), còn “thế giới vi mô” – bao gồm các vật thể nhỏ dưới kích thước đó (không thể nhìn thấy được).

Bằng các thí nghiệm ở nửa đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng giữa “vĩ mô”“vi mô” có một sự đột biến về chất mà không thể nào dung hoà được: Thế giới “vĩ mô” tuân theo cơ học cổ điển của Newton và thuyết tương đối của Einstein (còn gọi là thế giới “tất định”), còn thế giới “vi mô” lại tuân theo “Cơ học lượng tử” (còn gọi là thế giới “bất định”). Nguyên do là vì dường như ở thế giới vi mô, sự trao đổi năng lượng không xảy ra liên tục mà chỉ theo từng “khẩu phần nhỏ” gọi là “lượng tử”. Tính “lượng tử” này còn được thể hiện ở mô men động lượng quỹ đạo của điện tử trong nguyên tử. Và hơn thế nữa, để dung hoà với việc không thể giải thích được các vân sáng tối xen kẽ, được tạo bởi ánh sáng khi đi qua hai khe hẹp (có vẻ như ánh sáng là “sóng”?) với kết quả thí nghiệm quang điện theo đó ánh sáng chắc chắn phải là hạt, người ta buộc phải chấp nhận một khái niệm hết sức phi lý: “lưỡng tính sóng-hạt”.

Và kết quả là dẫn đến việc thừa nhận tính bất định của thế giới hạ nguyên tử: lúc là hạt, lúc lại là sóng. Từ đó, người ta xây dựng nên một “lý thuyết” nhằm lý giải hành xử của thế giới vi mô, nhưng vẫn chấp nhận sự “phi lý” đó gọi là “cơ học lượng tử”, hay như trong bài báo đã nêu là “vật lý lượng tử”. Tuy nhiên, khi đó lại phải chấp nhận những phi lý mới: tính bất định về vị trí trong không gian – người ta không thể biết chắc một hạt ở vị trí nào mà chỉ là xác suất xuất hiện của nó, và tính bất định về thời gian, không tuân theo nguyên lý nhân quả. Chính vì thế, khái niệm “lượng tử” bây giờ còn được hiểu đồng nghĩa với “sự bất định về không gian-thời gian” – đây là tính chất không bao giờ quan sát thấy ở các vật thể vĩ mô.

 

giai-nobel-2012.jpg
Nhà khoa học Serge Haroche (Pháp) và nhà khoa học David J.Wineland (Mỹ) đạt giải Nobel Vật Lý 2012

 

Mặc dù vậy, khái niệm “lượng tử” được sử dụng trong các thông báo về giải Nobel vật lý 2012 lại không liên quan gì tới các tính chất bất định vừa nói tới ở trên; nó chỉ có một nghĩa duy nhất đó là “vi mô”: hạt “lượng tử”, hệ “lượng tử”... đồng nghĩa với hạt “vi mô”, hệ “vi mô”... – nhưng tất cả chúng vẫn tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển là “tính tất định”: có vị trí xác định trong không gian, bởi vậy mới có thể đo lường được chúng, và có quỹ đạo xác định theo thời gian, bởi vậy mới có thể điều khiển được chúng. Thật vậy, theo như bản “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012”, trong thí nghiệm của Uai-len-đơ, i-ôn được giữ bên trong một ống nghiệm bao quanh bởi điện trường tĩnh và điện trường dao động điều hoà. Ông sử dụng chùm xung la-de (laser) tử ngoại để triệt bỏ chuyển động nhiệt của i-on và nhờ điện trường kể trên để điều khiển trạng thái năng lượng của i-ôn: đưa điện tử ngoài cùng của nó lên các quỹ đạo tương ứng với hai tần số có giá trị kề cận sai khác nhau một “lượng tử”.

Ha-rốt-chơ lại có hướng tiếp cận trái ngược: ông kiểm soát và đo các hạt phô-tôn cô lập bằng các nguyên tử Rít-bớc (Rydberg) đã được biết – nó lớn hơn hàng nghìn lần nguyên tử bình thường do điện tử ngoài cùng bị kích thích lên quỹ đạo rất xa hạt nhân và có thể hành xử giống như một hệ hành tinh kiểu như Mặt trời và Trái đất (tức là không có tính “lượng tử” nữa). Bên cạnh đó, ông còn tạo ra hạt phô-tôn vi sóng bật tới và nảy trở lại giữa hai gương cầu “siêu sáng” đặt đối diện nhau trong khoảng thời gian “khá dài”: gần 1/10 giây. Khi thả lần lượt các nguyên tử Rít-bớc bay ngang qua khe giữa hai gương, chúng sẽ lần lượt tương tác rất yếu (nếu có thể) với photon vi sóng “độc nhất” trong đó. Kết quả là sau khi ra khỏi hai gương, nếu nguyên tử nào tương tác được với photon, sẽ thay đổi trạng thái năng lượng và sau khi đi qua gương sẽ được phát hiện nhờ một bộ cảm biến (detector).

Nói cách khác, thí nghiệm của Uai-len-đơ và Ha-rốt-chơ đã thành công trong việc chứng minh tính đúng đắn của các quy luật cơ học cổ điển ngay cả đối với những hạt vi mô như nguyên tử, điện tử, phô-tôn, tức là khẳng định tính “tất định” của thế giới vật chất mà trước đó người ta cho rằng không thể. Cái được gọi là “sự chồng chập” (superpositions) được sử dụng trong bản “Mô tả” chỉ ứng với tác động của các hạt tham gia tương tác, hoặc trạng thái năng lượng của chúng, chứ tuyệt nhiên không phải là chính bản thân các hạt đơn lẻ đó như ở trường hợp “Con mèo Srô-đing-gơ (Schrödinger)” vừa sống, vừa chết(?) – là nghịch lý của cơ học lượng tử khi phải chấp nhận tính bất định về không gian-thời gian. “Sự chồng chập” tác động và trạng thái này vốn là bản chất của thế giới vật chất mà chúng ta đang sống, chứ không chỉ là “đặc quyền” của thế giới vi mô: mỗi chúng ta đồng thời chịu tác động “chồng chập” của Trái đất, Mặt trăng, Mặt trời v.v.. cũng như đang phải tồn tại trong trạng thái năng lượng “chồng chập” với tất cả thế giới đó, nhưng sống là sống, chết là chết chứ không thể vừa sống lại vừa chết được.

Có một điều không thể không nói thẳng ra rằng: giữa vật lý hiện đại và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác hoàn toàn không có một tiếng nói chung nào. Bắt đầu từ những phạm trù cơ bản nhất như vật chất, không gian, thời gian, cho tới các quy luật cơ bản như “đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”, “lượng đổi chất đổi”, cũng như các nguyên lý cơ bản như “nguyên lý thống nhất tính vật chất của thế giới”, “nguyên lý nhân quả”… Sự vi phạm thô bạo những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đưa vật lý của thế kỷ XX đến bờ vực của sự khủng hoảng không lối thoát: không thể giải thích được một cách nhất quán hành xử của các thực thể vĩ mô và vi mô, thậm chí ngay cả ở lĩnh vực vĩ mô cũng chứa đựng đầy rẫy những nghịch lý và bất cập, chấp nhận vô điều kiện những giả thiết phi lý, trái với tự nhiên, bất chấp lô-gíc, bất chấp tính nhân quả… Kết quả là phải thừa nhận chỉ mới hiểu biết được có 4% những gì cấu thành nên vũ trụ mà họ gọi là “vật chất”, còn lại 26% là “vật chất tối” và 70% cái gọi là “năng lượng tối”(?). Ngay trong sơ đồ phân loại “cấu trúc” của vũ trụ này đã cho thấy việc đánh đồng “vật chất” với “năng lượng” (vốn chỉ là một đặc tính của vật chất) đã cho thấy sự lộn xộn trong tư duy của các nhà vật lý theo chủ nghĩa duy tâm siêu hình là như thế nào rồi. Và lẽ đương nhiên nó cũng chỉ là hệ quả của lý thuyết “Vụ nổ lớn” (Big Bang) mà từ “không có gì” đã sinh ra vật chất (bao gồm cả không gian, thời gian) và cả vũ trụ như chúng ta đang quan sát thấy – như thế có khác gì thừa nhận: “Chúa đã sáng thế” đâu?

Vậy là từ những thiếu hiểu biết thế giới vật chất hữu hình và về phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà toán học núp dưới danh “vật lý học” đã vô tình xoá sổ một bộ môn khoa học về thế giới tự nhiên là vật lý để thay thế bởi một thứ “giả vật lý” duy tâm siêu hình: cơ học lượng tử và thuyết tương đối.

Giải thưởng Nobel vật lý năm nay rất may là được trao cho các công trình thực nghiệm chứ không phải lý thuyết, nên mặc dù cách hành văn và diễn giải các thí nghiệm trong “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012” vẫn vay mượn những thuật ngữ của vật lý lượng tử, nhưng không vì thế mà làm thay đổi được bản chất vật chất của thế giới tự nhiên hữu hình: chúng vẫn tuân theo các quy luật của vật lý cổ điển, chỉ có điều ở mức tinh tế hơn theo quy luật lượng đổi chất đổi của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thôi.

Chính vì thế, có thể nói các công trình thực nghiệm được trao giải lần này về thực chất là bằng chứng hùng hồn về sự cáo chung của cái gọi là “vật lý lượng tử”, mở đầu cho sự cáo chung của “vật lý hiện đại” trong thời gian không xa nữa

 

Vũ Huy Toàn

===============

Cá nhân tôi không ý kiến gì về kết luận của tác giả ở đoạn cuối bài. Nhưng rất quan tâm đến phần đầu giới thiệu về vật lý lượng tử và kết luận cuối cùng của giải vật lý Nobel, là:
 

Thậm chí theo Ủy ban Nobel, “Ha-rốt-chơ và Uai-len-đơ đã mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên thực nghiệm mới với vật lý lượng tử khi chứng minh: có thể quan sát trực tiếp các hệ lượng tử riêng rẽ mà không phá hủy chúng”.

Trong đoạn mở đầu ở trên, tác giả đã cố ý đánh dấu chữ “lượng tử” bằng chữ nghiêng. Vậy, “lượng tử” là gì? “Vật lý lượng tử” là cái gì? Và “bản chất của công trình được giải thưởng Nobel vật lý 2012” là gì? Nói ra thì dài nhưng tác giả sẽ cố gắng tóm lược tới mức ngắn gọn nhất có thể dành cho những người không chuyên, theo quan điểm của phép biện chứng duy vật.

Thế giới vật chất trong đó chúng ta đang sống được các nhà vật lý chia ra thành hai “mảng”: “thế giới vĩ mô” bao gồm các vật thể có kích thước lớn hơn nguyên tử, phân tử (có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính viễn vọng), còn “thế giới vi mô” – bao gồm các vật thể nhỏ dưới kích thước đó (không thể nhìn thấy được).

Bằng các thí nghiệm ở nửa đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng giữa “vĩ mô” và “vi mô” có một sự đột biến về chất mà không thể nào dung hoà được: Thế giới “vĩ mô” tuân theo cơ học cổ điển của Newton và thuyết tương đối của Einstein (còn gọi là thế giới “tất định”), còn thế giới “vi mô” lại tuân theo “Cơ học lượng tử” (còn gọi là thế giới “bất định”). Nguyên do là vì dường như ở thế giới vi mô, sự trao đổi năng lượng không xảy ra liên tục mà chỉ theo từng “khẩu phần nhỏ” gọi là “lượng tử”. Tính “lượng tử” này còn được thể hiện ở mô men động lượng quỹ đạo của điện tử trong nguyên tử. Và hơn thế nữa, để dung hoà với việc không thể giải thích được các vân sáng tối xen kẽ, được tạo bởi ánh sáng khi đi qua hai khe hẹp (có vẻ như ánh sáng là “sóng”?) với kết quả thí nghiệm quang điện theo đó ánh sáng chắc chắn phải là hạt, người ta buộc phải chấp nhận một khái niệm hết sức phi lý: “lưỡng tính sóng-hạt”.

Và kết quả là dẫn đến việc thừa nhận tính bất định của thế giới hạ nguyên tử: lúc là hạt, lúc lại là sóng. Từ đó, người ta xây dựng nên một “lý thuyết” nhằm lý giải hành xử của thế giới vi mô, nhưng vẫn chấp nhận sự “phi lý” đó gọi là “cơ học lượng tử”, hay như trong bài báo đã nêu là “vật lý lượng tử”. Tuy nhiên, khi đó lại phải chấp nhận những phi lý mới: tính bất định về vị trí trong không gian – người ta không thể biết chắc một hạt ở vị trí nào mà chỉ là xác suất xuất hiện của nó, và tính bất định về thời gian, không tuân theo nguyên lý nhân quả. Chính vì thế, khái niệm “lượng tử” bây giờ còn được hiểu đồng nghĩa với “sự bất định về không gian-thời gian” – đây là tính chất không bao giờ quan sát thấy ở các vật thể vĩ mô.

 

giai-nobel-2012.jpg
Nhà khoa học Serge Haroche (Pháp) và nhà khoa học David J.Wineland (Mỹ) đạt giải Nobel Vật Lý 2012

 

Mặc dù vậy, khái niệm “lượng tử” được sử dụng trong các thông báo về giải Nobel vật lý 2012 lại không liên quan gì tới các tính chất bất định vừa nói tới ở trên; nó chỉ có một nghĩa duy nhất đó là “vi mô”: hạt “lượng tử”, hệ “lượng tử”... đồng nghĩa với hạt “vi mô”, hệ “vi mô”... – nhưng tất cả chúng vẫn tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển là “tính tất định”: có vị trí xác định trong không gian, bởi vậy mới có thể đo lường được chúng, và có quỹ đạo xác định theo thời gian, bởi vậy mới có thể điều khiển được chúng. Thật vậy, theo như bản “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012”, trong thí nghiệm của Uai-len-đơ, i-ôn được giữ bên trong một ống nghiệm bao quanh bởi điện trường tĩnh và điện trường dao động điều hoà. Ông sử dụng chùm xung la-de (laser) tử ngoại để triệt bỏ chuyển động nhiệt của i-on và nhờ điện trường kể trên để điều khiển trạng thái năng lượng của i-ôn: đưa điện tử ngoài cùng của nó lên các quỹ đạo tương ứng với hai tần số có giá trị kề cận sai khác nhau một “lượng tử”.

Ha-rốt-chơ lại có hướng tiếp cận trái ngược: ông kiểm soát và đo các hạt phô-tôn cô lập bằng các nguyên tử Rít-bớc (Rydberg) đã được biết – nó lớn hơn hàng nghìn lần nguyên tử bình thường do điện tử ngoài cùng bị kích thích lên quỹ đạo rất xa hạt nhân và có thể hành xử giống như một hệ hành tinh kiểu như Mặt trời và Trái đất (tức là không có tính “lượng tử” nữa). Bên cạnh đó, ông còn tạo ra hạt phô-tôn vi sóng bật tới và nảy trở lại giữa hai gương cầu “siêu sáng” đặt đối diện nhau trong khoảng thời gian “khá dài”: gần 1/10 giây. Khi thả lần lượt các nguyên tử Rít-bớc bay ngang qua khe giữa hai gương, chúng sẽ lần lượt tương tác rất yếu (nếu có thể) với photon vi sóng “độc nhất” trong đó. Kết quả là sau khi ra khỏi hai gương, nếu nguyên tử nào tương tác được với photon, sẽ thay đổi trạng thái năng lượng và sau khi đi qua gương sẽ được phát hiện nhờ một bộ cảm biến (detector).

Nói cách khác, thí nghiệm của Uai-len-đơ và Ha-rốt-chơ đã thành công trong việc chứng minh tính đúng đắn của các quy luật cơ học cổ điển ngay cả đối với những hạt vi mô như nguyên tử, điện tử, phô-tôn, tức là khẳng định tính “tất định” của thế giới vật chất mà trước đó người ta cho rằng không thể. Cái được gọi là “sự chồng chập” (superpositions) được sử dụng trong bản “Mô tả” chỉ ứng với tác động của các hạt tham gia tương tác, hoặc trạng thái năng lượng của chúng, chứ tuyệt nhiên không phải là chính bản thân các hạt đơn lẻ đó như ở trường hợp “Con mèo Srô-đing-gơ (Schrödinger)” vừa sống, vừa chết(?) – là nghịch lý của cơ học lượng tử khi phải chấp nhận tính bất định về không gian-thời gian. “Sự chồng chập” tác động và trạng thái này vốn là bản chất của thế giới vật chất mà chúng ta đang sống, chứ không chỉ là “đặc quyền” của thế giới vi mô: mỗi chúng ta đồng thời chịu tác động “chồng chập” của Trái đất, Mặt trăng, Mặt trời v.v.. cũng như đang phải tồn tại trong trạng thái năng lượng “chồng chập” với tất cả thế giới đó, nhưng sống là sống, chết là chết chứ không thể vừa sống lại vừa chết được.

 

 

 

Bởi vì, toàn bộ đoạn giới thiệu nội dung về sự quan hệ giữa thế giới vi mô và vĩ mô, quan hệ tương tác lượng tử qua thí nghiệm trực quan với kết luận:

 

Nói cách khác, thí nghiệm của Uai-len-đơ và Ha-rốt-chơ đã thành công trong việc chứng minh tính đúng đắn của các quy luật cơ học cổ điển ngay cả đối với những hạt vi mô như nguyên tử, điện tử, phô-tôn, tức là khẳng định tính “tất định” của thế giới vật chất mà trước đó người ta cho rằng không thể.

 

 

Điều này cho thấy một phát minh mới nhất của khoa học hiện đại đã xác định tính hợp lý thể hiện trong những quy luật của sự tiến hóa, của mọi mối quan hệ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô. Chính vì tính hợp lý đó mới dẫn đến tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri, trong tiêu chí khoa học mà tôi thường nói đến.

 

Một lý thuyết hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri

 

 

Và điều này Lý học Đông phương đã thể hiện từ lâu , qua nền tảng tri thức của là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Học thuyết này và những ứng dụng của nó mô tả toàn bộ sự phát triển của ý thức trong lịch sử phát triển của vũ trụ: Đó là ý niệm về tính cảm ứng, tính phân loại (Ngũ hành), tính hợp lý , tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng (Mô tả sự vận động và tương tác có tính quy luật của các phạm trù Âm Dương, Ngũ hành), đều được tổng hợp trong học thuyết này. Nó cũng mô tả mọi sự vận động trong lịch sử vũ trụ. Từ trạng thái khởi nguyên (Thái cực) cho đến mọi quy luật vận động của các thiên hà, các hạt vật chất nhỏ nhất và đặc biệt cả những trạng thái vật chất mà nền văn minh hiện đại chưa biết đến....cho đến mọi quy luật vận động của xã hội, cuộc sống , đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri.

Những mô hình biểu kiến của học thuyết này - nhân danh nền văn hiến Việt - hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí khoa học khó tính nhất. cho một lý thuyết.

Giải Nobel vật lý 2012 là một phát minh khoa học mới nhất xác định tính hợp lý trong sự vận động của toàn bộ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô (Tính tất định). Điều này đã xác định tính hợp lý trong tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày và đó cũng là chuẩn mực để xác định tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất - nhân danh nền văn hiến Việt.

=====================

PS: Khái niệm về "tính tất định" trong vật lý lý thuyết thực chất là sự mô tả mối liên hệ có tính hợp lý trong tự nhiên, nó là tiền đề của tư duy biện chứng là một trong giai đoạn phát triển của ý thức. Trước đây, giới vật lý lý thuyết cho rằng trong cấu trúc trạng thái vật chất vi mô không có tính tất định (Hợp lý), mà họ gọi là "bất định". Đấy có thể là nguyên do giáo sư Trọng cho rằng: Chỉ có toán học mới có tính hợp lý. Sau đó, trước sự biện minh của tôi, giáo sư Trọng thừa nhận tính hợp lý có trong vật lý cổ điển Newton (Lý thuyết vật lý cho những vật thể vĩ mô - đã mô tả trong bài báo).

Tuy nhiên giải Nobel vật lý 2012 đã xác định tính Tất định ở cả trong thế giới vi mô và đã mô tả trong bài báo. Hay nó một cách khác: Tri thức khoa học hiện đại cập nhật mới nhất đã xác định mối liên hệ tương tác có tính quy luật tất định ở mọi trạng thái vật chất mà nền khoa học hiện đại nhận thức được chính là tính hợp lý - yếu tố căn bản trong tiêu chí khoa học, mà tôi đã trình bày từ lâu trên diễn đàn.

Đến đây, anh chị em đã nhận thấy rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là lý thuyết thống nhất , và là một hệ thống tri thức vượt trội khi nó mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Tất nhiên nó xác định tính tất định - hợp lý - về các mối liên hệ tương tác trong sự vận động của cả vũ trụ này.

 

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" sẽ được sửa chữa, bổ sung và dịch ra tiếng Anh.

Tôi luôn chịu trách nhiệm về những luận điểm minh chứng Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương với nền tảng tri thức căn bản là thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Tôi sẵn sàng trình bày điều này trước sự phản biện của các viện sĩ các viện hàn lâm khoa học quốc tế qua bản dịch tiếng Anh này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" tôi đã trình bày hoàn chỉnh và công khai ở đây. Nếu ông Trọng và những ai đó có đủ khả năng phản biện thì có thể công khai chỉ ra cái sai trong hệ thống luận cứ của tôi.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Hôm qua, tôi rất hân hạnh được nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy tặng bộ sách gồm hai cuốn của ông là " Tiến trình lịch sử văn hóa Việt" và "Viết lại lịch sử văn hóa Trung Hoa". Đồng thời tác giả cũng thay mặt nhà nghiên cứu tiến sĩ Hà Hưng Quốc ở Hoa Kỳ tặng tôi bộ sách của ông, là: "Nhận diện và phục dựng những di sản văn hóa Việt".

Trong cuốn sách của tiến sĩ Hà Hưng Quốc có một số đoạn phản biện tôi. Trân trọng những ý kiến phản biện học thuật của tác giả, tôi sẽ đưa lên đây và biện minh cho luận điểm của mình (Tôi chưa xem hết cuốn sách này, vì đang bệnh không mấy dễ chịu).

Nhưng những vấn đề sau đây lại sang một lĩnh vực khác. Đó là: Qua nhưng tư liệu trích dẫn của tác giả, cho thấy rất nhiều các bài viết của một số người giải mã tranh thờ Ngũ Hổ đăng ở trong nước, trùng lặp với những gì tôi mô tả trong bức tranh này qua những sách đã xuất bản. Có thể coi là "đạo văn", hoặc họ là chứng nhân của một phát kiến.

Để chứng tỏ điều này, quý vị và anh chị em quan tâm có thể đọc cuốn Amanach Mậu Dần 1998, của Nxb Phụ Nữ. Trong đó có rất nhiều học giả là giáo sư, tiến sĩ cũng phân tích về tranh thờ Ngũ Hổ rất thô sơ. Điều này cho thấy, những nhà nghiên cứu trước năm 1998, không có nhận xét tranh thờ Ngũ Hổ từ góc độ Lý học. Nhưng khi cuốn  "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" tôi xuất bản (2001), mới phân tích tranh thờ Ngũ Hổ từ góc nhìn Lý học và giải mã tranh thờ Ngũ hổ. Do đó, sau này, những phân tích nội dung tranh thờ Ngũ Hổ có nội dung giống như tôi thì mong nhưng ai đó tối thiểu cũng nên so sánh với những phân tích của tôi đã công bố trước đó.

Tôi đã xác định: Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh không giữ bản quyền cho những phát kiến của mình. Do đó, bất cứ ai sử dụng những ý tưởng của tôi để viết lại thành bài của họ, hoặc in sách - kể cả in ngay cuốn sách của tôi với tên tác giả là tôi - đều không coi là vi phạm bản quyền. Việc nhắc đến tôi như là người phát kiến đầu tiên, hoàn toàn chỉ là vấn đề lương tâm. "Ai mua hành tôi thì thương tôi với!". Tuy nhiên, cá nhân tôi vẫn hoàn toàn chịu trách nhiệm với tất cả những phát biểu của mình nhân danh khoa học. Và sẽ biện minh cho hệ thống luận điểm của mình trước tất cả những học giả thật sự trong nước và quốc tế quan tâm trên tinh thần khoa học. Sở dĩ tôi không giữ bản quyền vì tôi quan niệm như sau:

1/ Tôi chỉ phục hồi lại những gía trị đích thực của tổ tiên Việt tộc. Tôi không phải là người sáng tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành và những giá trị của nền văn minh Đông phương.

2/ Từ sau khi cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" được xuất bản (2001), một người bạn tôi đã khuyên tôi nên đăng ký bản quyền. Tôi đã trả lời bạn tôi là: "Chẳng ai đi ăn cắp Kim Tự Tháp Ai Cập đem về nước và tự nhận bản quyền của họ cả". Tôi không hề hợm hĩnh và kiêu ngạo khi phát biểu điều này. Vì chẳng ai có thể xác định rằng: "Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước". Không ai có thể ăn cắp bản quyền của lý thuyết thống nhất vũ trụ cả.

Nền văn minh Hán tự nhận là chủ nhân của nền văn minh Đông phương, nhưng chưa hề có một cuốn sách nào từ hơn 2000 năm nay - tính từ nền văn minh Việt sụp đổ ở miền nam Dương tử - viết về nội dung đích thực của học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chỉ duy nhất có nền văn hiến Việt với di sản văn hóa truyền thống đồ sộ còn sót lại qua bao thăng trầm của lịch sử, mới có thể phục hồi lại học thuyết này. Nhưng để phục hồi một cách hoàn chỉnh phải giải mã một khối lượng di sản văn hóa phi vật thể rất lớn và có những mật ngữ cực kỳ khó giải mã. SW Hawking đã phát biều: "Chúng ta hy vọng một ngày nào đó, chúng ta sẽ tìm ra lý thuyết thống nhất, nếu chúng ta có đủ tài năng". Phát biểu của ngài Hawking có thể nói là tiêu biểu cho nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại. Do đó, để phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành là việc cực kỳ khó khăn. Chưa nói đến việc nó phải được "khoa học công nhận" và phải có "cơ sở khoa học" và còn "có mục đích gì?".

Ngay cả trong trường hợp thuận lợi nhất, là thuyết Âm Dương Ngũ hành do nền văn hiến Việt phục hồi và được công nhận ngay thì vấn đề còn lại là: Học thuyết này phản ánh và mô tả những thực tại nào trong vũ trụ lại là vấn đề tiếp theo phải xác định. Hay nói rõ hơn cho dễ hiểu: Nó phải mô tả được tính chất tương tác và quy luật vận động của toàn thể vũ trụ trong đó có hơn 90% là vật chất tối. Và như vậy mới là Lý thuyết thống nhất.

Bởi vậy, nếu ai muốn nói giống như tôi trong việc này thì chính họ phải chịu trách nhiệm lý giải tất cả những bí ẩn vũ trụ mà tôi đề cập ở trên. Còn nều không đủ khả năng thì đừng "điếc không sợ súng".

Còn tôi thì tất nhiên tôi chịu trách nhiệm về những luận điểm của mình. Nhưng từ bây giờ tôi xác định rằng: Tôi chỉ giải trình những luận điểm của mình với những  trí giả hàng đầu tiêu biểu cho nền văn minh hiện đại. Và từ chối trao đổi với những học giả đại loại phản biện kiểu "mục đích gì?", "ứng dụng vài việc gì?". Lý thuyết thống nhất có tác dụng gì với nền văn minh nhân loại, tôi hy vọng rằng các học giả thật sự sẽ hiểu giá trị của nó, chứ không làm một cuộc khảo sát dư luận với bác bán mỳ gõ.

Lý thuyết thống nhất vũ trụ là cả một vấn đề mà những trí thức nền tảng của cả một nền văn minh hiện đại chưa biết gì về nó. Nhưng thật là buồn khi tôi bị mấy bà bán ve chai phản biện, khi họ khăng khăng xác định rằng; Bà ta mạng Hỏa chứ không phải mạng Thủy như tôi nói. Và rằng "Người mạng Hỏa mà thầy đặt bể cá thuộc Thủy thì chết sao". Tôi không thể khuyên bà bán ve chai đó nên đọc tất cả những cuốn sách của tôi đã chứng minh điều này, khi mà cả nền văn minh hiện đại còn đang bế tắc và tự phủ định khả năng tồn tại của lý thuyết thống nhất (Ngài Hawking gần đây cho rằng: "Không có Lý thuyết thống nhất". Nếu Viện hàn lâm khoa học Anh Quốc quan tâm, tôi sẽ chứng minh luận điểm của ngài Hawking là sai lầm và những gì mà ngài Hawking nói về lý thuyết thống nhất trong cuốn "Lược sử thời gian" trước đây mới là đúng đắn).

Những tri thức tiêu biểu của cả một nền văn minh, còn mơ hồ về một lý thuyết thống nhất. Ngay SW Hawking còn khiêm tốn khi phát biểu "Nếu chúng ta có đủ tài năng". Bởi vậy, những ai có ý tưởng phản biện tôi, nên xem kỹ những gì tôi đã trình bày. Với lý thuyết thống nhất thì giữa hiểu biết của bà ve chai và giáo sư tiến sĩ, sự chênh lệch là không đáng kể.

===========

PS: Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" bản tiếng Anh đầu tiên sẽ xin gửi tặng hai viện Hàn lâm khoa học nổi tiếng quốc tế là Viện Hàn lâm khoa học Hoa Kỳ và Anh quốc.

5 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Đến giờ này, tôi đã xem hết tập I của bộ sách gồm hai tập "Nhận diện và phục dựng những di sản văn hóa Việt" của tác giả Tiến sĩ Hà Hưng Quốc. Có thể nói, gần như mỗi phần tác giả đều dẫn chứng và cho rằng những vấn đề mà tôi đã trình bày, như "Lạc Thư Hoa Giáp", tranh thờ Ngũ Hổ. ....đều chưa đúng. Và ông trình bày mô hình Việt Dịch đồ của ông với những luận cứ chứng minh nhằm xác định đó mới là cơ sở của Dịch học. Đồng thời ông cũng đưa ra khái niệm "thuyết Ngũ hành nguyên thủy" của ông để hiệu chỉnh về "thuyết Ngũ hành phổ cập"....

 

IMG_3357_zps93a47032.jpg

 

Sách của tiến sĩ Hà Hưng Quốc. Xuất bản 29 September 2014. Nxb SG. Hoa Kỳ

 

Tóm lại có thể nói: Những luận cứ của tôi rất hân hạnh được tác giả quan tâm, dẫn chứng và phản biện nhiều lần trong cả hai tập của cuốn sách.

Lúc đầu, khi mới nhận sách, tôi chỉ xem lướt qua, tập II và cứ tưởng tác giả chỉ phản biện lập luận của tôi về tranh thờ Ngũ Hổ. Nhưng hôm nay xem kỹ thì mới thấy tôi được quan tâm nhiều hơn thế.

Tôi thật sự không có thời gian để biện minh quá nhiều như vậy. Bởi vậy, trong trường hợp này, tôi biện minh một cách tổng quát như sau:

Từ khi tôi công bố luận điểm "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" có rất nhiều nhà nghiên cứu Dịch học đưa ra những ý tưởng về cấu trúc Hậu Thiên bát quái. Thí dụ điển hình là Hậu Thiên Âu Lạc của Tiến sĩ Trần Quang Bình...

Nhưng trên chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phát biểu như sau:

Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đền nó, một cách có hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

 

Thì bất cứ một mô hình nào về Dịch học và thuyết Âm Dương Ngũ hành - kể cả Hậu Thiên Văn Vương - phải thỏa mãn được những yếu tố trong tiêu chí khoa học nói trên và rất nhiều tiêu chí khác. Chỉ có "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" mới thỏa mãn được tất cả những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, hoặc một giả thuyết khoa học trong mọi vấn đề liên quan đến nó trong tất cả các ngành thuộc Lý học Đông phương. Không những vậy "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" còn thẩm định luôn cả những tri thức khoa học mới nhất, như: Nghịch lý Cantor, Thuyết Vonfram, xác định không có "Hạt của Chúa", không có sự sống trên sao Hỏa...vv....

Nếu tiến sĩ Hà Hưng Quốc thấy mô hình Việt Dịch đồ và thuyết Ngũ hành nguyên thủy của ông đúng thì nó phải có trách nhiệm mô tả tất cả những vấn đề liên quan đến nó trong Tử Vi, Phong thủy, Đông y, Bốc dịch.....phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng.

 

IMG_3358_zps4cae6479.jpg

Mô hình mô tả thuyết Ngũ hành nguyên thủy của tiến sĩ Hà hưng Quốc so sánh với thuyết Ngũ hành truyền thống ("Ngũ hành phổ cập" theo cách gọi của tác giả)

 

IMG_3359_zpsfa55fc52.jpg

Mô hình Việt Dịch của tiến sĩ Hà Hưng Quốc.

Tôi không bình luận gì về cuốn sách này và chỉ biện minh như trên.

Share this post


Link to post
Share on other sites