Thiên Sứ

Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương

119 bài viết trong chủ đề này

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Tôi đã viết:

1/ Tôi chỉ phục hồi lại những gía trị đích thực của tổ tiên Việt tộc. Tôi không phải là người sáng tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành và những giá trị của nền văn minh Đông phương.

2/ Từ sau khi cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" được xuất bản (2001), một người bạn tôi đã khuyên tôi nên đăng ký bản quyền. Tôi đã trả lời bạn tôi là: "Chẳng ai đi ăn cắp Kim Tự Tháp Ai Cập đem về nước và tự nhận bản quyền của họ cả". Tôi không hề hợm hĩnh và kiêu ngạo khi phát biểu điều này. Vì chẳng ai có thể xác định rằng: "Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước". Không ai có thể ăn cắp bản quyền của lý thuyết thống nhất vũ trụ cả.

 

 

Với lý thuyết thống nhất thì giữa hiểu biết của bà ve chai và giáo sư tiến sĩ, sự chênh lệch là không đáng kể.

 

 

Với những ý tưởng như vậy, sẽ không thiếu gì kẻ lợi dụng chụp mũ tôi là kiêu ngạo, ngông cuồng....tất nhiên là tiếp tục nói xấu tôi đầy ra trên các trang mạng mà họ có thể thể hiện những ý tưởng của họ. Trong khi đó, tôi thật sự chỉ phản ánh một thực tế khách quan. Chính những kẻ dốt nát đó, mới là những kẻ kiêu ngạo. hợm hĩnh vì không nhận thức được mình.

Chúng ta hãy xem xét cả một lịch sử nền văn minh Hán hơn 2000 năm qua, tính từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử - với bao nhiêu nhân tài đủ các thể loại ghi danh trong lịch sử văn minh Trung Hoa - cũng không thể ăn cắp được học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đến nay. hậu duệ của nền văn minh Hán với hơn một tỷ dân và với tất cả trí thức của một siêu cường, cũng đành phải ngậm ngùi xác định: thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về họ. Chỉ riêng một sự thật này đã cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành không phải là một học thuyết đơn giản dễ ăn cắp bản quyền. Khi cả một nền văn minh với tất cả những thiên tài trong lịch sử trải gần 2000 năm phải thúc thủ trước sự vĩ đại của nó.

Chưa hết. Chính nền văn minh hiện đại có xuất xứ từ văn minh Tây phương và đào tạo ra, cùng tất cả những giá trị tri thức nền tảng của nó với những viện Hàn lâm, những viện sĩ danh tiếng và cả những thiên tài khoa học, cũng phải thừa nhận "Đến một ngày nào đó, chúng ta có thể tìm ra lý thuyết thống nhất , nếu chúng ta (Toàn bộ nền văn minh ) có đủ tài năng".

Bởi vậy, tôi không cần phải giữ bản quyền khi hơn 2000 năm qua, tất cả lịch sử của cả một nền văn minh tự nhận là chủ thể của nền văn minh Đông phương không thể ăn cắp bản quyền của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. "Không ai ăn cắp Kim Tự Tháp đem về nước và tự nhận là bản quyền của họ cả". Đấy là một thực tại hoàn toàn khách quan. Còn với cả nền văn minh hiện đại, khi họ mơ ước về một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì tất cả những tri thức hàng đầu của nền văn minh này cũng chưa thể vượt thoát ra khỏi nền tảng tri thức của nền văn minh đó. Cho nên đẳng cấp giáo sư tiến sĩ cũng chưa là cái gì, trước một lý thuyết thống nhất mà chính nền tảng của cả một nền văn minh mới chỉ tưởng tượng và mơ ước về nó. Một ví dụ sinh động là sự phản biện của giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu Nguyễn Văn Trọng tại cafe Trung Nguyên. Một bà ve chai cũng có thể hỏi tôi những câu với nội dung y như vậy bằng thứ ngôn ngữ bình dân hơn.

 

 

Với lý thuyết thống nhất thì giữa hiểu biết của bà ve chai và giáo sư tiến sĩ, sự chênh lệch là không đáng kể.

 

 

 

Bởi vậy, tôi nhận thấy rằng: chỉ có thể có vài người có thể nhận thức được những gì tôi trình bày về thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước. Tất nhiên phải bắt đầu từ những trí thức người Việt vì họ sống trong nền văn hoá Việt - dù ở hải ngoại hay trong nước, bắt đầu từ giáo sư vật lý thiên văn Trần Quang Vũ.

Tôi đã phát biểu: Đây là những cố gắng cuối cùng của tôi. Do đó, để các nhà khoa học hàng đầu và là tinh hoa của nền văn minh hiện nay có thể thẩm định được những gì tôi đã trình bày trong những cuốn sách và các bài viết của tôi, quý vị có thể ứng dụng những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, để so sánh, đối chiếu với những luận cứ của tôi. Lý thuyết thống nhất sẽ ứng dụng vào việc gì chỉ có những tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện nay mới hiểu được.

Nhân đây tôi cũng thành thật khuyên những quý vị có thành tâm phục hồi nền văn hiến Việt - vì tôi luôn cảm tình với các bạn - không nên sa đà vào những mô hình Dịch học, khi các bạn chưa đủ khả năng và hiểu biết về thuyết Âm Dương Ngũ hành. Thí dụ ngay mô hình Việt Dịch đồ của tiến sĩ Hà Hưng Quốc, nếu muốn chứng minh mô hình này đúng, nó phải tiếp tực ứng dụng vào tất cả các ngành ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong nền văn minh Đông phương và nó phải giải thích một cách hợp lý tất cả những vấn đề bí ẩn của tất cả các ngành này, theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Một thí dụ sinh động khác, là: mô hình Hậu Thiên Âu Lạc của tiến sĩ Trần Quang Bình - phát kiến đến nay là hơn 10 năm, nhưng nó chỉ dừng lại ở đấy và không giải thích gì được hơn thế nữa.

Trong khi đó, một tiêu chí khoa học phát biểu - hệ quả của tiêu chí khoa học mà tôi thường nói đến - là:

Một lý thuyết khoa học phải tiếp tục giải thích hầu hết những vấn đề nảy sinh và phát triển liên quan đến nó.

Chỉ có "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" mới thoả mãn được tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, khi nó hiệu chỉnh toàn bộ ngành phong thuỷ Đông phương, hợp nhất tất cả các trường phái và mô tả cả những thực tại vũ trụ liên quan đến nó trong tât cả những lĩnh vực ngoài phong thuỷ, như: Tử Vi, Dịch học (Dự báo nói chung)...vv...và ...vv....Chưa hết, nó còn giải thích luôn tất cả những phát kiến mới nhất của nền khoa học hiện đại và chứng tỏ những sai lầm của nền văn minh hiện đại (Trong đó có nhiều người chắc chắn giỏi hơn giáo sư Nguyễn Văn Trọng), thí dụ: "Không có Hạt của Chúa".

Tôi không phải cầu danh và cầu lợi trong việc lao đầu vào chứng minh Việt Sử trải gần 5000 năm văn hiến và món quà hấp dẫn của nền văn hiến Việt là thuyết Âm Dương ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ. Còn nó có mục đích gì như câu hỏi của giáo sư Trọng thì hôm nay tôi nói thẳng: Nếu "chẳng may" tôi đúng thì nó làm thay đổi cả một nền văn minh và chẳng liên quan đến hình thái ý thức chính trị của bất cứ quốc gia nào. Còn nếu tôi sai và không được "khoa học công nhận" thì dân tộc Việt Nam này tiếp tục có cội nguồn là "một liên minh bộ lạc" với những người dân "Ở trần đóng khố" và nền văn minh Việt phát triển như ngày nay là do ảnh hưởng văn minh Hán (Người đàn bà Đỗ Ngọc Bích đã công khai điều này trên BBC và xác định: Đây là điều mà y thị được học ở nhà trường (Cũng tiến sĩ đấy). Và điều này đã được "hầu hết những nhà khoa học trong nước" với cả "cộng đồng khoa học thế giới thừa nhận" với cái gọi là "cơ sở khoa học" ( "Cơ sở khoa học" là một thuật ngữ, mà cho đến tận ngày hôm nay, người phát ngôn câu này là Viện sĩ giáo sư Phan Huy Lê chưa giải thích công khai nội hàm của nó). Chưa hết. Nếu tôi sai thì cả nền văn minh đầy tự hào này sẽ sụp đổ không quá 200 năm nữa. Đây là phát biểu của SW Hawking.

Tôi cũng chẳng buồn giáo sư Lê và ông Trọng. Nhưng rất tiếc! Những phát biểu của các ông này, tôi phải lấy làm ví dụ cho những luận điểm của tôi.

Luận điểm của ngài Hawking cũng là nhận thức chung của cả cộng đồng khoa học quốc tế:

Slide21_zps19bce45f.jpg

 

Vài lời biện minh.

Cảm ơn quý vị và anh chị em quan tâm.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Trong các bài trên có nội dung ngoài cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã trình bày về "thực tại bất định" và "lý thuyết Tất định" - là vấn nạn hiện nay của cả nền văn minh hiện đại. Đồng thời tôi cũng xác định định rằng: Tính Tất định trong một hệ thống lý thuyết là hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên trong quá trình tiến hóa của nền văn minh. Còn tính bất định là bản chất cấu trúc vật chất của vũ trụ. Tùy thuộc vào cấu trúc vật chất mà tính bất định được xác định bởi thời gian liên quan. Do đó,  về tính chất của một lý thuyết không có lý thuyết Bất định. Mà chỉ có sự mô tả bản chất bất định của cấu trúc vật chất.

Vấn đề tuy có vẻ đơn giản, nhưng nó quyết định sự phát triển tương lai của cả nền văn minh hiện đại. 

Sức khỏe của tôi chưa được phục hồi hoàn hảo, nên không thể viết nhiều hơn. Nhưng tôi hy vọng sẽ được những nhà khoa học hàng đầu thật sự trong nước và quốc tế quan tâm.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quí vị và anh chị em quan tâm.

Chính vì sự nhận thức tính bất định của cấu trúc vật chất vi mô, khiến này sinh một sai lầm trong lịch sử của cả nền văn minh, là: Xuất hiện những hệ thống mô tả tính Bất định, mà tưởng rằng đó là một lý thuyết. Đó là nguyên nhân để ngài Hawking xác định "Không thể có Lý thuyết thống nhất" và phủ nhận sự xác định trước đó về khả năng tồn tại một lý thuyết thống nhất. 

Vâng! Nếu thuyết Bất định đúng thì toàn bộ hệ thống luận cứ của tôi xác định: "Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất" sụp đổ.

Nhưng Thiên Sứ xác định rằng: Đây là một sai lầm của nền văn minh hiện đại, vì thiếu tính tổng hợp của tư duy - (khả năng tư duy phức hợp/ Tư duy của tương lai/ Theo giáo sư Chu Hảo phát biểu trong lễ "Kỷ niệm 10 năm thành lập Tổng Cty DTT"). 

Tôi đã đụng cham đến vấn nạn của cả một nền văn minh. Nhưng tôi rất tự tin khi xác định rằng: Để giải quyết vấn nạn này của nền văn minh hiện đại, dễ hơn nhiều lần so với chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất, mà những trí thức hàng đầu của nhân loại đang mơ ước.

Những gì tôi trình bày, không phải để cho những loại tư duy "Ở trần đóng khố" thẩm định. Nhưng tôi hy vọng những người có trách nhiệm cho sự phát triển của cả một nền văn minh sẽ quan tâm đến vấn đề mà tôi đã đặt ra.

===================

PS: "Không có Hạt của Chúa" là kết luận nhân danh những gía trị của nền văn hiến Việt. Lý thuyết Higg sai.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

image202_zps8e547154.jpg

Tam tòa thánh Mẫu.

Tranh dân gian Hàng Trống.

 

Quí vị và anh chị em thân mến.

Hôm nay, nhìn kỹ lại hình ảnh của Tam tòa Thánh Mẫu - một tín ngưỡng của nền văn hiến Việt, tôi lại thấy hình Âm Dương Lạc Việt ở ngay trong cái quạt mà các ngài cầm trên tay và trên hoa văn của y phục các Ngài mặc, cả trên rem trong điện của các ngài. Đây chính là hình ảnh mô tả sự vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng là thể hiện quyền năng của các Ngài theo tín ngưỡng Việt liên quan đến học thuyết này, mà tôi đã trình bày ở trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương".

Tiêu chí khoa học phát biểu rằng:

Một lý thuyết thống nhất phải phản ánh được những gía trị tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh.

 

Hình tượng Âm Dương Lạc Việt mô tả trong những cái quạt và hoa văn trên y phục mà các Đức Thánh Mẫu, bổ sung thêm cho những luận cứ tôi đã trình bày trong sách này.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quí vị và anh chị em thân mến.

Đáng nhẽ ra bài này tôi đưa vào mục "Quán Vắng"; hay "Tâm sự giao lưu"; "Mạn đàm"...Nhưng tôi lại đưa vòa đây - một đề mục có tính chuyên đề "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Tất nhiên nó có nguyên nhân và rất liên quan đến nhau.  Trước hết quý vị và anh chị em hãy đọc hết bài này trên TuanVietNam:

 

 

Những “gã khổng lồ” thế giới lụn bại vì đâu?

TuanVietNam
21/11/2014 02:00 GMT+7

 

Tại sao trong quá khứ, có nhiều nước hùng mạnh, ngang dọc một thời, vậy mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy có mỗi Trung Quốc nổi lên chút ít?

 

Mỗi dân tộc có lòng tự hào khác nhau về quá khứ. Có dân tộc tự hào về thành tích chiến trận, có nơi tự hào về lãnh thổ rộng lớn, nhưng cũng có dân tộc tự hào về sự phồn thịnh của kinh tế, nghệ thuật, v.v…

Về lãnh thổ, chắc khó có dân tộc nào mà đất đai rộng hơn Đế chế La Mã thời cổ đại; Ba Tư thời hậu Mohamet, hay Mông Cổ thời "Thành Cát Tư Hãn". Về các công trình kiến trúc, Ai Cập cổ đại có thể được xếp vào một trong những dân tộc có một không hai trên thế giới. Nếu xét về sức mạnh  văn hóa, Trung Quốc vẫn được đánh giá là một nước có truyền thống mạnh đến mức có thể đồng hóa và đô hộ ngược lại những ai xâm chiếm họ.

Quá khứ là vậy, còn hiện tại thì họ như thế nào? Trước hết, ngoài TQ đang quay trở lại, Đế quốc La Mã ngày nay chỉ còn lại các di tích khảo cổ rải rác khắp châu Âu; Ai Cập cổ đại bây giờ trơ lại sừng sững mấy ngọn Kim Tự Tháp còn phần lớn các xác ướp và Nhân sư đã bị Anh và Pháp cướp mang về Châu Âu và trưng bày trong các bảo tàng.

Trong khi đó, Bagan (Myanmar) với hàng chục nghìn chùa chiền, miếu mạo cực kỳ giàu có từ TK8 đến TK13, hiện giờ vẫn đang tìm cách giải quyết các vấn đề xung đột sắc tộc và loay hoay xóa đói giảm nghèo. Ở Mông Cổ, người ta đặt tên vị Hoàng đế vĩ đại của họ cho một loại bia như một biểu tượng Quốc gia. Đế chế từng vó ngựa tung hoành khắp Á, Âu này giờ đây còn có hơn hai triệu rưỡi  người, sống yên bình bên những đàn gia súc và đồng cỏ ngút ngàn, bất tận. Có một điều lạ là rất nhiều người Mông Cổ vẫn cất giữ trong nhà họ một tấm bản đồ  vẽ đế chế Mông Cổ thời hoàng kim và thỉnh thoảng mang ra khoe với khách với vẻ mặt rạng ngời về quá khứ dân tộc.

Tại sao trong quá khứ, có nhiều nước hùng mạnh, ngang dọc một thời, vậy mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy có mỗi Trung Quốc nổi lên chút ít?

20141120105223-20112012thegioi-vltt.jpg

Vạn lí trường thành Trung Quốc.

 

Các nước này trước kia phần lớn hùng mạnh là nhờ quân sự. Họ đánh chiếm, xâm lược kẻ khác và bắt người ta thuần phục. Tuy vậy họ lại thiếu hai thứ cơ bản để giữ và đồng hóa những vùng đất chiếm được, đó là (i) thiếu nguồn nhân lực tốt thích hợp với quản trị trong thời bình, khác hẳn với tính võ biền của thời chiến (ii) văn hóa non, yếu hơn nên khi đi cai trị, họ bị ảnh hưởng bởi những thứ văn minh hơn từ những kẻ bị cai trị và dần dần họ tự nguyện bị đồng hóa - như trường hợp Nhà Mãn Thanh đô hộ TQ.

Có một số dân tộc nhờ kỹ nghệ tốt và ưu đãi của thiên nhiên, họ trở nên giàu có hơn xung quanh. Thay vì cố gắng phát triển thêm hoặc tìm các giải pháp chống lại các nguy cơ về ngoại bang hoặc thiên tai, họ say sưa tận hưởng và cho rằng đó là ân huệ của Thượng đế. Để đáp lại, họ xây dựng các đền đài, miếu mạo nguy nga, tráng lệ dâng lên Chúa trời (Bagan, Inca v.v.). Khi khí hậu biến đổi họ bị động và dần dần nghèo đi. Sống lâu trong yên bình và thiếu sự chuẩn bị, khi quân thù đến, họ nhanh chóng bị thất bại, để rồi các đền đài (mà ngay nay chúng ta gọi là di sản) này trở thành phế tích.

Sự tôn sùng thái quá vào các đức tin và quên đi tạo dựng cho mình "sức chống chịu" với ngoại bang và thay đổi của tự nhiên, chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến cho nhiều nền văn hóa bị lụi tàn.

Thường thì sự sụp đổ của một quốc gia này là cơ hội cho một hay nhiều quốc gia khác nổi lên. La Mã sụp đổ đã tạo điều kiện cho các lãnh chúa châu Âu nổi lên. Thừa hưởng được sự giao thoa của các tôn giáo có nguồn gốc La Mã, Do Thái, Hy Lạp, người Châu Âu đã tận dụng thành công các thành tựu khoa học sau thời phục hưng để nhanh chóng xâm chiếm phần còn lại của thế giới. Đến giờ của cải mà họ cướp được cùng với việc tận dụng lợi thế cạnh tranh vẫn đang giúp họ và con cháu họ vững vàng vị thế.

Nhìn vào lịch sử cùng sự thịnh suy của một dân tộc, có thể gợi ý cho chúng ta suy ngẫm về những vấn đề sau:

Một là, quá khứ hào hung của tổ tiên vẫn là… quá khứ, đừng vì thế mà quên mất thực tại là bối cảnh đã khác. Muốn bứt ra khỏi quá khứ, thì tri thức,sự đồng lòng và đặc biệt tinh thần dám làm, dám thay đổi là những thứ chúng ta cần để có thể đứng dậy và tiếp tục bước đi. Tìm lại những gì huy hoàng trong lịch sử là cần thiết nhưng cần hơn cả, đó là những gì có thể mang lại hạnh phúc và yên bình cho nhân dân.

Hai là, những trang sử vẻ vang của dân tộc có thể giúp khích lệ tinh thần khi cần thiết, đặc biệt khi đất nước cần thực hiện những chuyển mình quan trọng.Cần phải có niềm tin mạnh mẽ là chúng ta sẽ làm được khi có thời cơ, cùng sự chuẩn bị sẵn sàng cho một bước tiến dài hơn.

Chúng ta vẫn cần tôn trọng quá khứ và lấy đó làm bài học để không lặp lại các sai làm ngày trước. Để có một đất nước giàu mạnh, tính cầu thị và sẵn sàng hy sinh quyền lợi vì dân, vì nước cần được giác ngộ và được phát huy. Được như vậy, chim PhượngHoàng sẽ lại có thể hồi sinh từ đống tro tàn với một hình hài đẹp đẽ hơn và mạnh mẽ hơn xưa.

Hơn hết, quá khứ giúp chúng ta nhân dạng, còn hiện tại và tương lai được định đoạt bởi chính chúng ta. Hãy nhắc nhở con cháu bạn về sự hào hùng của lịch sử dân tộc, nhưng hãy lấy đó làm động lực chứ không phải mục tiêu, vì thực ra chúng ta có thể làm tốt hơn rất nhiều và dám mơ ước ở bên kia đường chân trời - những thứ vốn chưa bao giờ có thể tìm thấy trong sử sách.

Trần Văn Tuấn

 

 

=======================
 

Chúng ta vẫn cần tôn trọng quá khứ và lấy đó làm bài học để không lặp lại các sai làm ngày trước. Để có một đất nước giàu mạnh, tính cầu thị và sẵn sàng hy sinh quyền lợi vì dân, vì nước cần được giác ngộ và được phát huy. Được như vậy, chim PhượngHoàng sẽ lại có thể hồi sinh từ đống tro tàn với một hình hài đẹp đẽ hơn và mạnh mẽ hơn xưa.

Hơn hết, quá khứ giúp chúng ta nhân dạng, còn hiện tại và tương lai được định đoạt bởi chính chúng ta. Hãy nhắc nhở con cháu bạn về sự hào hùng của lịch sử dân tộc, nhưng hãy lấy đó làm động lực chứ không phải mục tiêu, vì thực ra chúng ta có thể làm tốt hơn rất nhiều và dám mơ ước ở bên kia đường chân trời - những thứ vốn chưa bao giờ có thể tìm thấy trong sử sách.

 

Vâng! Có vẻ như là đúng như vậy! Nhưng nó chỉ đúng trong một góc nhìn, một thứ chân lý cục bộ trong một bối cảnh toàn thể của mọi sự diễn biến. Trong một bài trên tôi đã viết:

 

Có thể nói, hầu hết những quốc gia phát triển bền vững và là siêu cường, đều rất tôn trọng và bảo vệ những di sản văn hóa của đất nước họ.

 

 

Nếu  không có tự hào dân tộc thì con người sẽ không có niềm kiêu hãnh trong sự hòa đồng dân tộc. Thế thì lấy đâu ra cái mà tác giả mô tả:

 

"Để có một đất nước giàu mạnh, tính cầu thị và sẵn sàng hy sinh quyền lợi vì dân, vì nước cần được giác ngộ và được phát huy. Được như vậy, chim PhượngHoàng sẽ lại có thể hồi sinh từ đống tro tàn với một hình hài đẹp đẽ hơn và mạnh mẽ hơn xưa".

 

 

Sự phủ nhận những gía trị văn hóa sử truyền thống của dân tộc lại là một vấn đề rất nghiêm trọng và ảnh hướng rất lớn đến tương lai của dân tộc. Qúa khứ và hiện tại của một dân tộc như thế nào, nó sẽ quyết định tương lai của một dân tộc như thế đó. Lịch sử dân tộc có thể thăng trầm, nhưng không thể vì thế mà qúa khứ đầy kiêu hãnh và tự hào bị quăng sọt rác. Hơn 20 năm nay (1992), kể từ khi luận điểm phủ nhận cội nguồn truyền thống văn hóa sử Việt, độc chiếm các phương tiện truyền thông, xuất bản và cả giáo dục thì dân tộc Việt đã tiến đến đâu trong thế giới này?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu - đại ý:

 

Phải bảo vệ truyền thống văn hóa Việt sử gần 5000 năm văn hiến. Vì nó sẽ quyết định tương lai của dân tộc này.

 

 

(Lời của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng mô tả trong bài viết của Ngọc Giao trong Tập san Kiến thức ngày nay, số ra khoảng từ 1998 đến 1999).

Huống chi luận điểm phủ nhận giá trị truyền thống văn hóa sử Việt hoàn toàn phản khoa học và xuất xứ từ thứ tư duy giẻ rách. nó không hề thể hiện sự:

 

cần tôn trọng quá khứ và lấy đó làm bài học để không lặp lại các sai lầm ngày trước..

 

 

Do đó, đâu phải cứ phủ nhận quá khứ thì sẽ thấy tương lai?! Để một dân tộc phát triển và tồn tại trong tương lai thì cần rất nhiều yếu tố tương tác. Nhưng việc trân trọng và xác định Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử là một yếu tố cần và cực kỳ quan trọng. 

 

Xem kỹ những luận điểm của tác giả thì thấy toàn là chung chung, không có một ý kiến đóng góp cụ thể gì cho sự phát triển tương lai của dân tộc, ngoài việc đưa ra những luận cứ không coi quá khứ của một dân tộc là động lực phát triển.
 

Một là, quá khứ hào hung của tổ tiên vẫn là… quá khứ, đừng vì thế mà quên mất thực tại là bối cảnh đã khác. Muốn bứt ra khỏi quá khứ, thì tri thức,sự đồng lòng và đặc biệt tinh thần dám làm, dám thay đổi là những thứ chúng ta cần để có thể đứng dậy và tiếp tục bước đi. Tìm lại những gì huy hoàng trong lịch sử là cần thiết nhưng cần hơn cả, đó là những gì có thể mang lại hạnh phúc và yên bình cho nhân dân.

Hai là, những trang sử vẻ vang của dân tộc có thể giúp khích lệ tinh thần khi cần thiết, đặc biệt khi đất nước cần thực hiện những chuyển mình quan trọng.Cần phải có niềm tin mạnh mẽ là chúng ta sẽ làm được khi có thời cơ, cùng sự chuẩn bị sẵn sàng cho một bước tiến dài hơn.

 

Có thể nói đây là một lập luận rất ư là phổ thông, thậm chí ở mức ve chai lông vịt: "Một là, quá khứ hào hùng của tổ tiên vẫn là… quá khứ,". Vâng! Nếu không thì gọi nó là " quá khứ" thì gọi là cái gì bây giờ? Cũng ý như bà ve chai nói: "Tôi bán ve chai thì đúng là tôi bán ve chai". Nhưng đấy mới là "một là". Còn cái "hai là" nó như sau:"những trang sử vẻ vang của dân tộc có thể giúp khích lệ tinh thần khi cần thiết". Nó sẽ giúp ích như thế nào để khích lệ tinh thần khi cần thiết, khi người ta phủ nhận cả một qúa khứ lịch sử huy hoàng Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, trở thành một "liên minh gồm 15 bộ lạc" với những người dân "Ở trần đóng khố"? Chúng ta xem lại hình ảnh này:

 

IMG_2094_zpsf120dad0.jpg

Hình trích trong cuốn sách "Lược sử nước Việt bằng tranh" - Nxb Kim Đồng. Hiệu đính Dương Trung Quốc.

 

Qua những hình ảnh phổ biến cho trẻ em Việt như trên thì giữa cái "một là" của tác giả:"quá khứ hào hùng của tổ tiên vẫn là… quá khứ," với cái "hai là" của tác giả: "những trang sử vẻ vang của dân tộc có thể giúp khích lệ tinh thần khi cần thiết, đặc biệt khi đất nước cần thực hiện những chuyển mình quan trọng.Cần phải có niềm tin mạnh mẽ là chúng ta sẽ làm được khi có thời cơ, cùng sự chuẩn bị sẵn sàng cho một bước tiến dài hơn", rất mâu thuẫn khi quá khứ huy hoàng của Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến bị phủ nhận với cái "Nhà nước sơ khai" được mô tả trong cuốn sách trên, do ông Dương Trung Quốc hiệu đính là một ví dụ.

Bởi vậy, người ta đã nhầm lẫn việc chứng minh khoa học cho một qúa khứ huy hoàng mà tổ tiên đã tự hào, để duy trì lòng tự hào dân tộc với việc quá khứ và tương lai là chỉ là sự mô tả về khái niệm thời gian, khi mà nội hàm của quá khứ huyền vĩ của Việt tộc - sự gắn kết cả một quá khứ liên kết hữu cơ với hiện tại và tương lai của cả một dân tộc Việt bị phủ nhận.

Một thí dụ về trường hợp này chính là dân tộc Do Thái. Họ đã gần như bị xóa sổ khỏi lịch sử thế giới khi phải sống lưu vong gần 2000 năm - tất nhiên đây không phải là con số vô cảm để đọc trong một giây -  Nhưng chính lòng tự hào dân tộc và một hoài niệm về qúa khứ huy hoàng của dân tộc Do Thái đã khiến dân tộc này quy tụ lại và trở nên hùng mạnh như ngày nay. Lá cờ của dân tộc Do Thái chính là một biểu tượng niềm tin vào qúa khứ huy hoàng của họ. Tôi cần phải nhắc lại là: Tất cả những siêu cường và những cường quốc ngày nay đều tôn trọng lịch sử dân tộc họ. Lịch sử có thể thăng trầm, nhưng lòng tự hào dân tộc là một yếu tố cực kỳ cần thiết để dân tộc đó tồn tại Thí dụ như sức sống mãnh liệt của dân tộc Do Thái - Tất nhiên, chân lý khách quan khoa học chính là Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ ở miền Nam sông Dương Tử, cội nguồn đích thực của những giá trị văn minh Đông phương.

Chứ nó không phải như thế này:

 

IMG_2094_zpsf120dad0.jpg

 

Có thể nói: Đây là một bài viết mà đầy mâu thuẫn với mục đích đặt ra của tác giả một cách lãng nhách, khi mô tả "quá khứ" đúng là "quá khứ" với một tương lai mà những biện pháp mà tác giả nói tới giống như một khẩu hiệu chung chung theo kiểu "chúng ta cần phấn đấu để cuộc sống tốt hơn", nhưng phấn đấu như thế nào thì không biết.

Tác giả mô tả các ông lớn trên thế giới sụp đổ bởi nguyên nhân:

 

Thay vì cố gắng phát triển thêm hoặc tìm các giải pháp chống lại các nguy cơ về ngoại bang hoặc thiên tai, họ say sưa tận hưởng và cho rằng đó là ân huệ của Thượng đế. Để đáp lại, họ xây dựng các đền đài, miếu mạo nguy nga, tráng lệ dâng lên Chúa trời (Bagan, Inca v.v.). Khi khí hậu biến đổi họ bị động và dần dần nghèo đi. Sống lâu trong yên bình và thiếu sự chuẩn bị, khi quân thù đến, họ nhanh chóng bị thất bại, để rồi các đền đài (mà ngay nay chúng ta gọi là di sản) này trở thành phế tích.

Sự tôn sùng thái quá vào các đức tin và quên đi tạo dựng cho mình "sức chống chịu" với ngoại bang và thay đổi của tự nhiên, chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến cho nhiều nền văn hóa bị lụi tàn.

 

 

Nhưng cái nguyên nhân mà tác giả nói đến cho sự sụp đổ của các "người khổng lồ" lại không liên quan đến sự huy hoàng hay không của quá khứ, mà nó là:

"họ say sưa tận hưởng và cho rằng đó là ân huệ của Thượng đế. Để đáp lại, họ xây dựng các đền đài, miếu mạo nguy nga, tráng lệ dâng lên Chúa trời (Bagan, Inca v.v.)",

 

Như vậy, cái nguyên nhân để các "người khổng lồ" sụp đổ lại không dây dưa gì đến lòng tự hào về quá khứ cả. Bất cứ một quốc gia nào, dù với quá khứ như thế nào, mà như tác giả miêu tả đều sụp đổ. Đây chỉ là sự so sánh liên hệ rất khập khiễng của tác giả. Trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã xác định: Vinh danh Việt sử không phải chỉ để xây dựng một tượng đài - dù chỉ là tượng đài tinh thần trong quá khứ - mà đó chính là động lực cho tương lai.

Nhưng VNN và tác giả đăng bài này để làm gì vậy? Phát biểu một cái nhìn, một luận điểm để thể hiện cái nhìn đa chiều chăng? Xã hội đang cần gì ở bài báo này với luận điểm như vậy? Khi mà mối liên hệ giữa qúa khứ lịch sử và tương lai của cả một dân tộc còn nhiều yếu tổ tương tác phức tạp. Tác giả muốn khẳng định điều gì ở đây với một nội dung mơ hồ như vây? Nó phải có một động cơ gì chứ nhỉ?

Tôi nghĩ ông Nguyễn Văn Trọng - giáo sư vật lý lý thuyết hàng đầu của Việt Nam - nên hỏi lại tác giả: "Ông viết bài này có mục đích gì" thì đúng hơn là hỏi tôi.

Rất tiếc! Ngày xưa ông Nguyễn Anh Tuấn tổng biên tập báo Vietnamnet có ý định đăng một loạt bài của tôi minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, công việc đang ở giai đoạn chuẩn bị thì ông chuyển công tác khác. Cá nhân tôi rất quý trọng ông.

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

 

Bởi vậy, người ta đã nhầm lẫn việc chứng minh khoa học cho một qúa khứ huy hoàng mà tổ tiên đã tự hào, để duy trì lòng tự hào dân tộc với việc quá khứ và tương lai là chỉ là sự mô tả về khái niệm thời gian, khi mà nội hàm của quá khứ huyền vĩ của Việt tộc - sự gắn kết cả một quá khứ liên kết hữu cơ với hiện tại và tương lai của cả một dân tộc Việt bị phủ nhận.

Một thí dụ về trường hợp này chính là dân tộc Do Thái. Họ đã gần như bị xóa sổ khỏi lịch sử thế giới khi phải sống lưu vong gần 2000 năm - tất nhiên đây không phải là con số vô cảm để đọc trong một giây -  Nhưng chính lòng tự hào dân tộc và một hoài niệm về qúa khứ huy hoàng của dân tộc Do Thái đã khiến dân tộc này quy tụ lại và trở nên hùng mạnh như ngày nay. Lá cờ của dân tộc Do Thái chính là một biểu tượng niềm tin vào qúa khứ huy hoàng của họ. Tôi cần phải nhắc lại là: Tất cả những siêu cường và những cường quốc ngày nay đều tôn trọng lịch sử dân tộc họ. Lịch sử có thể thăng trầm, nhưng lòng tự hào dân tộc là một yếu tố cực kỳ cần thiết để dân tộc đó tồn tại Thí dụ như sức sống mãnh liệt của dân tộc Do Thái - Tất nhiên, chân lý khách quan khoa học chính là Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ ở miền Nam sông Dương Tử, cội nguồn đích thực của những giá trị văn minh Đông phương.

Chứ nó không phải như thế này:

 

IMG_2094_zpsf120dad0.jpg

 

 

 

 

 

 

Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc

tgvn.com.vn

Thứ Bẩy, 31/01/2015-12:07 PM

 

Tại sao người Do Thái lại thông minh như vậy? Tại sao cả một dân tộc chịu cảnh “thiên di” phiêu bạt khắp nơi trên thế giới trên 2000 năm nhưng vẫn phục quốc thành công với nguyên bản sắc và tôn giáo của mình?... Đó là một phần nội dung cuộc tọa đàm “Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc” diễn ra sáng 30/1 tại Hà Nội, nhân dịp ra mắt cuốn sách cùng tên.

 

Bia_Cau-chuyen-do-thai_OUT-01.jpg

 

Tới dự buổi tọa đàm có Đại sứ Israel tại Việt Nam Meirav Eilon Shahar, TS. Hoàng Anh Tuấn – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Bộ Ngoại giao; TS.Nguyễn Mạnh Hùng – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty Sách Thái Hà; Th.S Đặng Hoàng Xa cùng Nhóm nghiên Do Thái & Israel là tác giả cuốn sách, và đông đảo các học giả, nhà nghiên cứu, doanh nhân, học sinh, sinh viên…

Chia sẻ tại buổi tọa đàm, diễn giả Hoàng Anh Tuấn cho rằng, có nhiều lý do khiến người Do Thái thông minh hơn, trong số đó có yếu tố ảnh hưởng của đạo Do Thái, niềm tin của người Do Thái vào “số mệnh được Chúa lựa chọn”, thói quen luôn tranh luận từ khi còn nhỏ về những nội dung tưởng như “không thể tranh cãi” như Kinh Torah, và cả việc sử dụng những thức ăn “sạch và thông minh” khiến cho họ có thể rèn luyện được một khí chất đặc biệt…

Đồng ý kiến với ông Hoàng Anh Tuấn, Đại sứ Meirav chia sẻ thêm về chủ nghĩa phục quốc của người Do Thái bắt nguồn từ niềm tin “sẽ quay lại Jerusalem” mà mỗi người họ mang theo mình, bản thân gia đình bà là một ví dụ. Bà Đại sứ cũng cho biết, cách đây 2000 năm, Israel đã rất coi trọng giáo dục. Trong khi thế giới vẫn còn nhiều người chưa biết chữ thì ở Israel đã có quy định bé trai khi đến 6 tuổi bắt buộc phải đi học, phải biết chữ, phải đọc được Kinh Torah…

Trong khi đó, theo diễn giả Nguyễn Mạnh Hùng, chính vì người Do Thái có niềm tin, tầm nhìn nên họ mới thông minh, với giỏi về tài chính đến như vậy.

Về cuốn sách “Câu chuyện Do Thái: Lịch sử thăng trầm của một dân tộc”, theo TS. Hoàng Anh Tuấn, đây là một cuốn khảo cứu “vẽ nên một bức tranh sống động trải dài qua 4000 năm đầy bi thương, nhưng cũng đầy quả cảm của dân tộc Do Thái”. Tác giả Đặng Hoàng Xa đã đưa ra cách nhìn đa chiều về các yếu tố tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị, lịch sử và có những lý giải khá thuyết phục về câu chuyện thành công của người Do Thái cũng như quá trình hình thành và xây dựng đất nước của Nhà nước Israel hiện đại ngày nay.

Cuốn sách cũng là câu trả lời cho những thắc mắc Tại sao Israel ngày nay lại là một điểm “nóng” tại Trung Đông và là tâm điểm chú ý của toàn thế giới, cả về những xung đột đầy bạo lực cũng như những thành tựu về kinh tế, văn hóa và con người đầy ngạc nhiên như thế? Một mảnh đất nhỏ bé và khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, bao quanh bởi các nước láng giềng thù địch, cùng với những câu chuyện thành công đã khiến Israel trở thành một đất nước như huyền thoại. Không chỉ có vậy, với tổng số 16 triệu người, tức chiếm khoảng 0,2% dân số thế giới, người Do Thái đã đứng ở đỉnh cao trong rất nhiều lĩnh vực và có đóng góp to lớn cho nhân loại. Điều đó thể hiện rõ nhất qua việc họ giành được khoảng 30% tổng giải thưởng Nobel trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế và y học từ trước đến nay.

Chìa khóa của những thành tựu của người Do Thái nằm ở đâu nếu không phải là nằm ở nơi những cổ vật quý giá hay ở kích thước địa lý của đất nước và lịch sử? Lần theo câu hỏi này chúng ta phát hiện ra rằng cái đã nâng người Do Thái từ tăm tối lên tới vĩ đại chính là sự khao khát của họ trong việc truy cầu những ý nghĩa lớn lao của cuộc sống. Tuy câu chuyện là của người Do Thái và Nhà nước Israel, nhưng qua đó độc giả sẽ thấy những điểm tương đồng với người Việt Nam. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu về đất nước, con người Israel để từ đó rút ra những bài học hữu ích cho công cuộc phát triển và bảo vệ đất nước.

Box: "Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới đa dạng, nhiều sắc màu. Có những dân tộc bị vùi dập xuống tận bùn đen, rồi ngậm ngùi cho đó là “số phận”. Có những dân tộc luôn sẵn sàng tiến về phía trước, chấp nhận thách thức và nhờ vậy đã thành công, có những phát kiến, đóng góp vĩ đại cho nhân loại. Người Do Thái và Quốc gia Do Thái Israel là một trong số rất ít các ví dụ điển hình.” Trích lời giới thiệu sách của TS Hoàng Anh Tuấn – Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược, Bộ Ngoại giao

Nguyễn Kim

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

Chiến tranh Biên giới 1979:

Không thể quên lãng

17/02/2014 01:00 GMT+7

 

tuanvietnam.gifNhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không thể quên lãng.

  • Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm/Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù/Trung Quốc phải thừa nhận/Thiếu quân chủ lực vẫn đánh thắng/Luận về cuộc chiến, cần sự ngay thẳng

LTS:Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mở đầu Chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2/1979, Tuần Việt Nam ghi nhận ý kiến của các học giả, tướng lĩnh quân đội, nhân chứng… về nguyên nhân, diễn biến quanh cuộc chiến và bài học rút ra cho mối quan hệ Việt – Trung trong hiện tại.

 

20140217000805-anhdaidien.jpg

Ảnh: Mạnh Thường

 

Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện chiến lược, Bộ công an:

Tưởng niệm cuộc chiến 1979: Không có gì nhạy cảm

 

- Sau 35 năm nhìn lại cuộc chiến tranh biên giới (CTBG) phía Bắc năm 1979, theo ông, chúng ta cần vạch ra rõ ràng, dứt khoát về bản chất và vị trí của cuộc chiến này trong lịch sử như thế nào?

Thiếu tướng Lê Văn Cương: Đây là một cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc VN. Về bản chất, nó không khác gì các cuộc kháng chiến oanh liệt trong lịch sử như nhà Lý chống quân Tống, nhà Trần chiến thắng quân Nguyên, nhà Lê tiêu diệt quân Minh, và Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng nhà Thanh.

Làm một phép so sánh thế này, năm 1788 đầu 1789, trong vòng 10 ngày, Quang Trung Nguyễn Huệ đã hành quân thần tốc để giải phóng và tiêu diệt 29 vạn quân Thanh vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789. Hàng năm ta vẫn kỷ niệm sự kiện này trong lễ hội Gò Đống Đa.

 

20140217000759-anh1.jpg

Thiếu tướng Lê Văn Cương. Ảnh: Nguyễn Khánh/TTO

 

Còn cuộc kháng chiến năm 1979, với khoảng thời gian hơn 17 ngày (tính từ 17/2 khi TQ tràn qua biên giới VN đến 5/3/1979 khi TQ bắt đầu rút quân – PV), ta đã đuổi được 60 vạn quân TQ ra khỏi bờ cõi. Một cuộc kháng chiến chống xâm lược như vậy rất oanh liệt, vĩ đại chứ.

-Thế nhưng, nếu như chiến thắng của Quang Trung Nguyễn Huệ đã được ghi lại đậm nét, được tưởng nhớ hàng năm, thì cuộc kháng chiến 1979 đến nay dường như vẫn vắng bóng trong lịch sử VN?

Trong hơn 20 năm nay, có lẽ từ khi bình thường hóa quan hệ Việt Trung năm 1991, chúng ta không tổ chức kỷ niệm, hệ thống truyền thông không đưa tin sự kiện CTBG tháng 2/1979, ngay cả trong những năm kỷ niệm chẵn như 1989, 1994, 1999, 2004, 2009.

 

 

Hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia các cấp học phổ thông, trung học, đại học và sau đại học đều không đưa cuộc kháng chiến này vào. Thế hệ trẻ không biết gì về cuộc chiến này.

Theo tôi, không có gì nhạy cảm ở đây, khi tưởng niệm một chiến công oanh liệt đến thế của dân tộc. Nó hoàn toàn khác và không liên quan gì đến kích động chủ nghĩa dân tộc cả.

Nước nào trên thế giới cũng tổ chức những ngày kỷ niệm tương tự như vậy. Nhật Bản và Mỹ hiện là đồng minh chặt chẽ. Nhưng chẳng hạn với sự kiện Trân Châu Cảng 7/12/1941, hàng năm nước Mỹ vẫn kỷ niệm và thế hệ sau vẫn hiểu rất sâu sắc thảm họa. Còn thanh niên Nhật vẫn tỏ tường tội ác của Mỹ khi ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nước Nhật ghi rõ sự kiện này trong SGK và cũng tưởng niệm hàng năm.

Ở châu Âu, thanh niên Anh, Pháp… vẫn hiểu tường tận tội ác của phát-xít Đức giai đoạn 1940-1945. Tất cả hệ thống sách giáo khoa sử của Mỹ, Nhật, Anh… đều có những trang đen tối như vậy cả, trong khi hiện họ là đồng minh của nhau.

Đối với VN, việc kỷ niệm những sự kiện như chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, chiến thắng Điện Biên Phủ, thống nhất đất nước 1975, CTBG 1979… chính là để các thế hệ hiện tại khắc cốt ghi tâm, tưởng nhớ đến những người đã chiến đấu bảo vệ đất thiêng. Và cũng là để hun đúc cho họ ý chí quật cường yêu nước.

-Vậy chúng ta cần có hành động gì để trả lại vị trí xứng đáng cho cuộc chiến chống xâm lược 1979, và ghi tạc công lao của những người đã ngã xuống vì đất nước?

Có một số việc cần làm:

Đưa sự kiện này vào thành chương/ phần trong giáo trình chuẩn quốc gia tại các cấp học, giống như đã làm với các cuộc kháng chiến khác. Muộn còn hơn không, tôi đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần biên soạn một chương riêng về cuộc chiến, đưa vào hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia (phổ thông, đại học, và sau đại học…).

Tổ chức kỷ niệm trang trọng chiến thắng oanh liệt này. Rà soát tổng kiểm kê lại những người có công trong cuộc kháng chiến.

 

Lên tiếng để thế giới hiểu

-Từ những nghiên cứu của bản thân, xin ông cho biết dư luận thế giới nhìn nhận thế nào về bản chất cuộc chiến 1979, và về TQ trong cuộc chiến tranh này?

Cuộc xâm lược của 60 vạn quân TQ trên toàn tuyến biên giới VN có bằng chứng rõ ràng, được ghi âm, ghi hình, cả thế giới biết và hầu hết đều có cái nhìn thống nhất đó là cuộc chiến tranh xâm lược VN.

Cuộc xâm lược 1979 đã khiến thế giới hiểu rõ bản chất của TQ. Nó khiến họ mất uy tín quốc tế, bộc lộ bản chất bành trướng Đại Hán, bản chất nói một đằng làm một nẻo, không hề chứng tỏ chủ trương “phát triển hòa bình” của TQ khi đó.

Trong khi hơn 20 năm nay chúng ta không tổ chức kỷ niệm CTBG 1979 thì bạn bè tôi đã tập hợp được ở TQ vào những năm kỷ niệm chẵn, họ làm rất rầm rộ. Có hàng 500 – 700 bài báo với tiêu đề kiểu “Chiến công oanh liệt của Quân Giải phóng Nhân dân TQ phản công quân VN xâm lược”, “Quân xâm lược VN đã phải trả bài học đắt giá”, v.v… Một sự xuyên tạc, đổi trắng thay đen.

Còn chúng ta? “Gieo cái gì thì gặt cái đó”, khi chính VN im lặng về một cuộc chiến chính nghĩa như vậy, thì thế giới làm sao bày tỏ sự ủng hộ?

-Qua sự kiện CTBG 1979, theo ông có bài học quan trọng nào chúng ta cần rút ra?

Qua cuộc chiến tranh này, chúng ta phải nhận thức được bản chất của lãnh đạo TQ. Về bản thân người dân TQ, tôi nghĩ về cơ bản là hòa hiếu, muốn giao hảo, hữu nghị với VN.

Là một nước láng giềng chung đường biên giới 1.450 km với chúng ta, không thể không hiểu họ.

Với tập đoàn lãnh đạo TQ vào thời kỳ 1979 và ít ra trong khoảng 10 năm sau đó, toàn bộ hệ thống lý luận Mác - Lê nin không có điểm nào biện minh cho việc lãnh đạo nước này xâm lược VN – một quốc gia trong hệ thống XHCN cả.

Qua cách xâm lược đó, tập đoàn lãnh đạo TQ cho thấy họ là ai? Họ theo Chủ nghĩa Mác hay theo Chủ nghĩa bá quyền nước lớn?

Quan hệ 16 chữ vàng hay cái gì đi nữa cũng sẽ chỉ là “ứng vạn biến”. Còn cái “dĩ bất biến” luôn phải là độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Không được mơ hồ lấy cái “ứng vạn biến” để thay “dĩ bất biến”.

-Có một thực tế mà chúng ta đều hiểu, VN là một nước nhỏ ở bên cạnh một nước lớn như TQ, vậy chúng ta cần một triết lý ứng xử thế nào cho phù hợp?

Đây là một bài toán khó với hầu hết các nước trong tình trạng tương tự. Chẳng hạn Canada, Mexico… khi ở cạnh Mỹ, hay các nước nhỏ xung quanh Nga. Tất nhiên mức độ không như ta ở cạnh TQ.

Trong trường hợp này, tôi thấy có thể dẫn ra 1 câu nói của ông Lý Quang Diệu, mà tôi coi như một trong những câu hay nhất thế kỷ. Đại ý rằng thời nào cũng thế, cá lớn nuốt cá bé. Vì thế Singapore phải biến thành một con cá bé độc, để không ai dám ăn, ăn là chết.

Đó cũng là một gợi ý tốt cho VN. Nhưng làm như thế nào, câu trả lời thuộc về những nhà lãnh đạo!

 

Mỹ Hòa (thực hiện)

 

20140217094336-20140217001917-nguyenthib

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Ảnh tư liệu

 

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù

 

Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ. Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17.2.1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.  Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học. Không thể quên lãng nó.

Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi. Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước XHCN đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua? Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương tổ quốc.

Làm việc với đại diện Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng tình với đề xuất của GS Phan Huy Lê rằng phải đưa mạnh dạn, đầy đủ hơn nữa những tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa đã được kiểm chứng vào sách giáo khoa để giáo dục thế hệ trẻ.

Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ. Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống . Tôi muốn nhấn mạnh rằng: ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù. Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế. Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới. Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.

Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu. Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới. Ta cần hành động theo tinh thần đó. Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu.

Lan Hương(ghi)

 

20140217000759-anh3.jpg

Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979. Ảnh tư liệu

 

Trung tướng Khuất Duy Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu (Bộ Quốc phòng), Tư lệnh Quân đoàn 3:

Thiếu quân chủ lực vẫn đánh thắng

Khi Trung Quốc tràn sang (với vũ khí hiện đại như xe tăng, máy bay), ta chỉ có Sư 3 Sao Vàng là chủ lực, còn lại là dân quân… Thời điểm đó quân chủ lực đang chiến đấu ở Campuchia. Trung Quốc nghĩ rằng ta không có quân chủ lực thì có thể sẽ đánh nhanh, thắng nhanh. Song, tinh thần chiến đấu ý thức giữ vững độc lập chủ quyền của người dân Việt Nam rất cao, nên đã chặn đứng quân Trung Quốc ở biên giới. Chỉ là dân quân địa phương mà đánh như vậy, khi gặp lực lượng chủ lực thì sao?

Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã dạy chúng ta rằng, phải giữ lấy chủ quyền dân tộc, quốc gia nhưng phải tỉnh táo, khéo léo chớ gây ra chiến tranh. Tôi nghĩ rằng, trong năm nay hoặc sang năm phải có cuộc hội thảo xác định rõ cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 là xâm lược Việt Nam, những chiến sĩ, người dân đã hy sinh trong chiến đấu để bảo vệ tổ quốc trong cuộc chiến này phải được công nhận là anh hùng, liệt sỹ. Dân tộc Việt Nam là dân tộc đời đời, bất di bất dịch nguyên tắc giữ vững toàn vẹn lãnh thổ. Đó là bài học mà từ già đến trẻ đều phải nhớ. Dân tộc độc lập thì mới tạo dựng được cuộc sống như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói là không gì quý hơn độc lập tự do. Để giữ được điều đó, về đối nội phải giáo dục cho người dân lòng yêu nước, luôn xây dựng đất nước như mục tiêu chúng ta đã đưa ra xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ văn minh. Về đối ngoại thì thật khôn khéo, tỉnh táo, “lưỡi gươm thật sắc, nhưng bao giờ cũng phải sẵn sàng”. Làm sao cho thế giới hiểu, và đồng tình, giúp đỡ chúng ta. Làm sao cho họ thấy chúng ta là tấm gương độc lập tự do dân chủ, yêu chuộng hòa bình, xây dựng đất nước ngày càng phát triển. 

H.Vũ(ghi)

 

20140217000759-anh2-1-.jpg

Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979. Ảnh tư liệu

 

Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy:

Trung Quốc phải thừa nhận

 

Việc xảy ra cuộc chiến tranh biên giới 17/2/1979 do Tung Quốc phát động, nguyên nhân chủ yếu là do phía Trung Quốc. Họ xứng đáng nhận sự lên án mạnh mẽ. Bởi vì dù cho có bất đồng quan hệ hai nước, TQ không thể mang quân đi đánh một nước láng giềng, từng là đồng minh của Trung Quốc, với một câu nói của Đặng Tiểu Bình là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Suốt 35 năm qua, Trung Quốc không lúc nào ngừng tuyên truyền trong nội bộ họ về cuộc chiến tranh biên giới. Các bài báo, các tác phẩm văn học, các tác phẩm điện ảnh… đều nêu lên một điều là họ đã thắng lớn trong cuộc chiến đó.

Nhưng riêng năm nay, đúng ngày 4.1.2014, mạng Nhân dân Trung Quốc lần đầu tiên đăng một bài viết “Cuộc đánh trả tự vệ thảm liệt năm 1979: Quân đội Trung – Việt trong 19 ngày đều bị tổn thất và thương vong 50 nghìn người”. Sau đó bài này được mạng Phượng Hoàng đăng lại. Tức là lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận rằng trong cuộc chiến tranh cách đây 35 năm trong 20 ngày đầu tiên tổn thất về người của cả hai bên là như nhau, khác hoàn toàn với quan điểm trước đó là Trung Quốc đã thắng cuộc chiến tranh đó.

Như vậy, đấy là sự thực mà trước đây họ che giấu nhân dân Trung Quốc, và họ cuối cùng phải thừa nhận rằng đây là cuộc chiến tranh rất đẫm máu.

H. Phan(ghi)

 

20140217094449-imageview-aspx.jpg

Xe tăng Trung Quốc bị ta bắn hạ tại Cao Bằng, sáng 17-2 - Ảnh: Mạnh Thường

 

Đạo diễn Trần Văn Thủy:

Luận về cuộc chiến, cần sự ngay thẳng

 

Năm 1978, trở về từ Liên Xô sau khóa học về đạo diễn, ông Trần Văn Thủy được giao làm phim về cuộc chiến tranh biên giới. Bộ phim có tên Phản Bội, được giải Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam 1986.  Ông chia sẻ:

Từ khoảng tháng 3/1978, đã bắt đầu có những dấu hiệu bất đồng. Linh tính mách bảo tôi: chiến tranh sẽ xảy ra, thời điểm đó có những vấn đề khác nổi lên như “nạn kiều”, Bắc Luân..  Tất cả các nhà làm phim tài liệu trong Nam ngoài Bắc đều được đưa lên vùng biên giới.

Tình hình xấu đi rất nhanh và cuộc chiến đã xảy ra. Tôi được phân công làm bộ phim tài liệu rất dài, gần 3 tiếng, dài nhất trong lịch sử phim tài liệu Việt Nam, sau này được đặt tên là Phản Bội.

Nỗi mất mát đau đớn của đồng bào 6 tỉnh phía bắc… Với số đông người Việt Nam, họ sững sờ và kinh hoàng không thể tưởng tượng được. Từ Lào Cai sang Cao Bằng, Lạng Sơn… chúng tôi đã chứng kiến và lắng nghe những câu chuyện vô cùng đau đớn. Luận bàn về cuộc chiến này cần nhiều giấy mực, thời gian và cả sự ngay thẳng.

Tính từ thời điểm đó đến nay đã mấy chục năm, nhưng vết đau ấy vẫn không thể xóa. Nếu ngày hôm nay, vì bất cứ lý do gì, mà ta lãng quên đi những con người đã ngã xuống trong một cuộc chiến cực kỳ vô lý và tàn bạo ấy, sẽ là một tội lỗi vô cùng lớn. Tôi đã nói điều này trong cuốn Chuyện nghề của Thủy.

Bộ phim Phản bội khi đó được đón nhận hào hứng. Vào thời điểm đó,  nó phù hợp với thái độ của người dân Việt Nam về chuyện chủ quyền đất nước, và sự phẫn nộ với cuộc chiến tàn bạo. Người xem bất ngờ và đồng tình về sự hấp dẫn, độ chính xác về lịch sử và những vấn đề đặt ra. Có thể nói trong tất cả những bộ phim của tôi chưa từng làm có sự đồng thuận của tất cả mọi người, mọi cấp như thế.  Bộ phim đã được chiếu rất nhiều lần, ở nhiều nơi, được nhận giải vàng Liên hoan phim Việt Nam 1980. 

H. Hường(ghi)

 

Nhóm thực hiện: Mỹ Hòa - Lan Hương - H.Vũ - H.Phan - H.Hường

============================
 

Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

 

 

Tôi hy vọng lời huấn ngôn của nguyên Phó Chủ Tịch nước bà Nguyễn Thị Bình sẽ là câu trả lời cho những ai quan niệm rằng việc chứng minh cho chân lý Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến là việc châm ngòi nổ cho chiến tranh ở biển Đông. Đó hoàn toàn là một việc sòng phẳng với lịch sử.

 

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

MINH TRIẾT VIỆT MÔ TẢ BÍ ẨN LỤC KHÍ TRONG ĐÔNG Y.


Thưa qui vị quan tâm.

Đã rất nhiều lần trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn và ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi đã xác định chuẩn mực thẩm định cho một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.

Những giá trị minh triết Việt trong văn hóa truyền thống Việt đã chỉ thẳng đến đồ hình căn bản của Lý học Đông phương chính là Hà Đồ và mô hình biểu kiến Hậu Thiên Lạc Việt. Sự phối hợp hai đồ hình này chính là nguyên lý căn để của mọi phương pháp ứng dụng trong mọi lĩnh vực của Lý học Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Đương nhiên theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày thì nó phải giải thích một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống hầu hết những vấn đề liên quan đến nó. Trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" - được trình bày và bổ sung trong chủ đề này - tôi đã giải thích theo đúng tiêu chí khoa học cho nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" nhân danh nền văn hiến Việt cho tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến nó.

Nhưng do một nhân duyên từ các học viên lớp Phong thủy Lạc Việt cao cấp là Mục Đồng và Á Châu, đang theo học lớp Đông y, đến gặp tôi và thắc mắc về một bí ẩn trong hệ thống phương pháp luận của Đông y là: Khái niệm vận động của Lục Khí.

Khái niệm này được mô tả qua những thuật ngữ sau đây:

 

Lục khí tam Âm gồm có: Thái Âm thấp Thổ; Thiếu Âm quân Hỏa và Quyết Âm phong Mộc .

 

Lục khí tam Dương gồm có: Thái Dương hàn thủy; Thiếu Dương tướng hỏa và Dương minh táo Kim.

Cũng từ hàng thiên niên kỷ trôi qua - kể từ khi nền văn hiến Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương tử - khái niệm lục khí ứng dụng trong Đông Y vẫn là một bí ẩn không thể giải thích trong tất cả các cổ thư chữ Hán liên quan.

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Không chỉ khái niệm "lục khí", mà có thể nói hầu hết những khái niệm trong hệ thống phương pháp luận căn bản trong Đông y đều hết sức mơ hồ và chính những nhà nghiên cứu Trung Hoa phải lên tiếng bác bỏ Đông Y, vì tính mơ hồ không thể giải thích được từ hàng ngàn năm qua (Đã mô tả trong topic này và trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Nxb Tri Thức). Những khái niệm mơ hồ, như :" Giáp hợp Kỷ hóa thổ"....chúng tôi đã giải thích trên cơ sở "Hà đồ phối hậu Thiên Lạc Việt", Nhưng với khái niệm lục khí, chúng tôi chưa bàn đến.

Bởi vậy, tuân thủ theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và chứng tỏ tính hợp lý lý thuyết bao trùm lên mọi lĩnh vực liên quan, cho nên ở đây, tôi xin được tiếp tục chứng tỏ khả năng giải thích một cách hợp lý của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" với khái niệm lục khí trong Đông Y.

 

Thưa quý vị.

Một lần nữa xin quý vị xem lại đồ hình "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - nguyên lý căn để của mọi phương pháp ứng dụng trong Lý học Đông phương, mà nền tảng chính là thuyết Âm Dương ngũ hành.

 

HadoHTLV.jpg

 

Trên cơ sở nguyên lý căn để này trong đó có Hậu Thiên Lạc Việt, được mô tả qua mô hình sau đây:

 

3019a517-07be-41ec-9c0b-7cd0c36f6d50.jpg

 

Người viết xin lưu ý quý vị rằng: Chỉ có "Hậu Thiên Lạc Việt" mới có thể kết hợp cặp Đoài Tốn và Cấn Chấn - là bốn quái Điên đảo Dịch - thành cặp quái Bất dịch và tạo thành đồ hình tam Âm, Tam Dương như trên.

Đồ hình Tam Âm được mô tả như sau - Đứng đầu là quái Khôn/ Âm Hỏa đới Thổ:

 

71792daf-0dee-47db-a032-c625b9857ee8.jpg

 

Đồ hình Tam Dương được mô tả như sau; đứng đầu là quái Càn/ Dương Kim đới Thủy.

 

aa2a6622-0952-427f-98a0-94aa12d3f334.jpg

 

A/ Trên cơ sở này, chúng ta so sánh, bắt đầu từ đồ hình Tam Âm với ba vận khí Âm mô tả trong Đông y là:

1/ Khôn/ Âm Hỏa đới Thổ, là quẻ thuần Âm, nằm ở phương vị Đông Nam trên Hà Đồ, tương ứng với "Thái Âm thấp Thổ".

2/ Cặp Đoài/ Tốn tương ứng với "Quyết Âm phong Mộc", trong đó có những thuộc tính phân loại của quái Tốn theo kinh Dịch chính là "Phong"/ Gió và "Mộc".

3/ Khảm/ Thủy, nằm ở phương chính Bắc của Hà đồ, tương ứng với "Thiếu Âm Quân Hỏa". Tại sao Khảm/ Thủy lại được coi là "Thiếu Âm Quân Hỏa"? Bởi vì những ai nghiên cứu về Lý học dù chỉ ở trạng thái sơ khai ban đầu đều biết rằng" Thiên nhất sinh Thủy; Địa nhị sinh Hỏa". Như vậy Khảm Thủy là cái có trước Hỏa, nên là vua của Hỏa.

 

B/ Trên cơ sở này, chúng ta so sánh, bắt đầu từ đồ hình Tam Dương với ba vận khí Dương mô tả trong Đông y là:

1/ Càn/ Dương Kim đới Thủy, là quẻ thuần Dương, nằm ở phương vị Tây Bắc trên Hà Đồ, có độ số  6 của hành Thủy, nên tương ứng với "Thái Dương hàn Thủy".

2/ Cặp Cấn/ Chấn tương ứng với "Dương minh táo Kim". Tại sao lại gọi là "Dương Minh", bởi vì quái Chấn phương Đông chính là phương mặt trời mọc, nên gọi là "Dương Minh". Đông Tây (Kim) tuyệt nhau, nên gọi là "táo Kim".

3/ Quái Ly/ Hỏa nằm ở phương chính Nam của Hà Đồ thuộc Hỏa, nên là "Thiếu Dương tướng Hỏa".

 

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Như vậy, nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" - nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử - giải thích có tính hệ thống, nhất quán và hoàn chỉnh và hợp lý tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó. Ngay cả những khái niệm vô cùng bí ẩn trong Đông y từ hơn 2000 năm qua. Không chỉ dừng lại ở những bí ẩn huyền vĩ của lý học Đông phương, mà nhân danh một lý thuyết thống nhất - niềm mơ ước của cả trí thức nhân loại hiện đại - Lý học Đông phương giải thích luôn cả những ý tưởng mới nhất của nền khoa học hiện đại với khả năng tiên tri. Tính hợp lý của lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt thể hiện bao trùm trên mọi lĩnh vực từ thiên nhiên, xã hội, cuộc sống ...cho đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri. Nếu như không phải là một lý thuyết mô tả một chân lý bao trùm thì không thể thực hiện được tính hợp lý trên tất cả mọi lĩnh vực.

Xin cảm ơn quý vị và anh chị em quan tâm.

 

PS: Thưa quý vị quan tâm.

Ứng dụng của khái niệm lục khí trong Đông Y nhân danh nền văn hiến Việt, được sử dụng để mô tả bản chất của hành khí theo sự phân loại của Ngũ hành trong thời gian tương tác của vũ trụ liên quan đến sức khỏe, bệnh tật có thể phát sinh của con người.

7 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Những “gã khổng lồ” thế giới lụn bại vì đâu?

TuanVietNam
21/11/2014 02:00 GMT+7

 

Tại sao trong quá khứ, có nhiều nước hùng mạnh, ngang dọc một thời, vậy mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy có mỗi Trung Quốc nổi lên chút ít?

 

Mỗi dân tộc có lòng tự hào khác nhau về quá khứ. Có dân tộc tự hào về thành tích chiến trận, có nơi tự hào về lãnh thổ rộng lớn, nhưng cũng có dân tộc tự hào về sự phồn thịnh của kinh tế, nghệ thuật, v.v…

Về lãnh thổ, chắc khó có dân tộc nào mà đất đai rộng hơn Đế chế La Mã thời cổ đại; Ba Tư thời hậu Mohamet, hay Mông Cổ thời "Thành Cát Tư Hãn". Về các công trình kiến trúc, Ai Cập cổ đại có thể được xếp vào một trong những dân tộc có một không hai trên thế giới. Nếu xét về sức mạnh  văn hóa, Trung Quốc vẫn được đánh giá là một nước có truyền thống mạnh đến mức có thể đồng hóa và đô hộ ngược lại những ai xâm chiếm họ.

Quá khứ là vậy, còn hiện tại thì họ như thế nào? Trước hết, ngoài TQ đang quay trở lại, Đế quốc La Mã ngày nay chỉ còn lại các di tích khảo cổ rải rác khắp châu Âu; Ai Cập cổ đại bây giờ trơ lại sừng sững mấy ngọn Kim Tự Tháp còn phần lớn các xác ướp và Nhân sư đã bị Anh và Pháp cướp mang về Châu Âu và trưng bày trong các bảo tàng.

Trong khi đó, Bagan (Myanmar) với hàng chục nghìn chùa chiền, miếu mạo cực kỳ giàu có từ TK8 đến TK13, hiện giờ vẫn đang tìm cách giải quyết các vấn đề xung đột sắc tộc và loay hoay xóa đói giảm nghèo. Ở Mông Cổ, người ta đặt tên vị Hoàng đế vĩ đại của họ cho một loại bia như một biểu tượng Quốc gia. Đế chế từng vó ngựa tung hoành khắp Á, Âu này giờ đây còn có hơn hai triệu rưỡi  người, sống yên bình bên những đàn gia súc và đồng cỏ ngút ngàn, bất tận. Có một điều lạ là rất nhiều người Mông Cổ vẫn cất giữ trong nhà họ một tấm bản đồ  vẽ đế chế Mông Cổ thời hoàng kim và thỉnh thoảng mang ra khoe với khách với vẻ mặt rạng ngời về quá khứ dân tộc.

Tại sao trong quá khứ, có nhiều nước hùng mạnh, ngang dọc một thời, vậy mà ngày nay chúng ta chỉ còn thấy có mỗi Trung Quốc nổi lên chút ít?

20141120105223-20112012thegioi-vltt.jpg

Vạn lí trường thành Trung Quốc.

 

Các nước này trước kia phần lớn hùng mạnh là nhờ quân sự. Họ đánh chiếm, xâm lược kẻ khác và bắt người ta thuần phục. Tuy vậy họ lại thiếu hai thứ cơ bản để giữ và đồng hóa những vùng đất chiếm được, đó là (i) thiếu nguồn nhân lực tốt thích hợp với quản trị trong thời bình, khác hẳn với tính võ biền của thời chiến (ii) văn hóa non, yếu hơn nên khi đi cai trị, họ bị ảnh hưởng bởi những thứ văn minh hơn từ những kẻ bị cai trị và dần dần họ tự nguyện bị đồng hóa - như trường hợp Nhà Mãn Thanh đô hộ TQ.

Có một số dân tộc nhờ kỹ nghệ tốt và ưu đãi của thiên nhiên, họ trở nên giàu có hơn xung quanh. Thay vì cố gắng phát triển thêm hoặc tìm các giải pháp chống lại các nguy cơ về ngoại bang hoặc thiên tai, họ say sưa tận hưởng và cho rằng đó là ân huệ của Thượng đế. Để đáp lại, họ xây dựng các đền đài, miếu mạo nguy nga, tráng lệ dâng lên Chúa trời (Bagan, Inca v.v.). Khi khí hậu biến đổi họ bị động và dần dần nghèo đi. Sống lâu trong yên bình và thiếu sự chuẩn bị, khi quân thù đến, họ nhanh chóng bị thất bại, để rồi các đền đài (mà ngay nay chúng ta gọi là di sản) này trở thành phế tích.

Sự tôn sùng thái quá vào các đức tin và quên đi tạo dựng cho mình "sức chống chịu" với ngoại bang và thay đổi của tự nhiên, chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến cho nhiều nền văn hóa bị lụi tàn.

Thường thì sự sụp đổ của một quốc gia này là cơ hội cho một hay nhiều quốc gia khác nổi lên. La Mã sụp đổ đã tạo điều kiện cho các lãnh chúa châu Âu nổi lên. Thừa hưởng được sự giao thoa của các tôn giáo có nguồn gốc La Mã, Do Thái, Hy Lạp, người Châu Âu đã tận dụng thành công các thành tựu khoa học sau thời phục hưng để nhanh chóng xâm chiếm phần còn lại của thế giới. Đến giờ của cải mà họ cướp được cùng với việc tận dụng lợi thế cạnh tranh vẫn đang giúp họ và con cháu họ vững vàng vị thế.

Nhìn vào lịch sử cùng sự thịnh suy của một dân tộc, có thể gợi ý cho chúng ta suy ngẫm về những vấn đề sau:

Một là, quá khứ hào hung của tổ tiên vẫn là… quá khứ, đừng vì thế mà quên mất thực tại là bối cảnh đã khác. Muốn bứt ra khỏi quá khứ, thì tri thức,sự đồng lòng và đặc biệt tinh thần dám làm, dám thay đổi là những thứ chúng ta cần để có thể đứng dậy và tiếp tục bước đi. Tìm lại những gì huy hoàng trong lịch sử là cần thiết nhưng cần hơn cả, đó là những gì có thể mang lại hạnh phúc và yên bình cho nhân dân.

Hai là, những trang sử vẻ vang của dân tộc có thể giúp khích lệ tinh thần khi cần thiết, đặc biệt khi đất nước cần thực hiện những chuyển mình quan trọng.Cần phải có niềm tin mạnh mẽ là chúng ta sẽ làm được khi có thời cơ, cùng sự chuẩn bị sẵn sàng cho một bước tiến dài hơn.

Chúng ta vẫn cần tôn trọng quá khứ và lấy đó làm bài học để không lặp lại các sai làm ngày trước. Để có một đất nước giàu mạnh, tính cầu thị và sẵn sàng hy sinh quyền lợi vì dân, vì nước cần được giác ngộ và được phát huy. Được như vậy, chim PhượngHoàng sẽ lại có thể hồi sinh từ đống tro tàn với một hình hài đẹp đẽ hơn và mạnh mẽ hơn xưa.

Hơn hết, quá khứ giúp chúng ta nhân dạng, còn hiện tại và tương lai được định đoạt bởi chính chúng ta. Hãy nhắc nhở con cháu bạn về sự hào hùng của lịch sử dân tộc, nhưng hãy lấy đó làm động lực chứ không phải mục tiêu, vì thực ra chúng ta có thể làm tốt hơn rất nhiều và dám mơ ước ở bên kia đường chân trời - những thứ vốn chưa bao giờ có thể tìm thấy trong sử sách.

Trần Văn Tuấn

===================

Văn Miếu 271 tỷ ở Vĩnh Phúc nhìn từ trên cao

Lê Hiếu - Hoàng Anh

13/06/2015 10:11

 
lhz-9117-1434164137147-22-0-359-660-crop

 

Công trình gây nhiều ý kiến băn khoăn, trái chiều được xây dựng trên khuôn viên 4,2 ha, tổng vốn đầu tư lên tới 271 tỷ đồng và dự kiến hoàn thành trong năm 2016.

 

van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Văn Miếu tỉnh Vĩnh Phúc có số vốn đầu tư 271 tỷ đồng (nằm tại khu đô thị Hà Tiên, phường Liên Bảo, TP Vĩnh Yên) xây dựng từ năm 2012, dự kiến hoàn thành trong năm 2016.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Công trình đồ sộ có phần cổng Nghi Môn Nội với tứ trụ bằng đá xanh Ninh Vân (Ninh Bình), đây là lối vào đầu tiên của khu Văn Miếu.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Khu hồ Thiền Quang và bia tiến sĩ sắp được hoàn thiện.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Qua cổng Nghi Môn Nội, khách tham quan sẽ thấy toàn cảnh công trình rộng hơn 4,2 ha với các hạng mục như nhà che bia tổng, hồ Thiền Quang, nhà bia hai bên tả - hữu, đại thành môn, gác chuông, sân hành lễ, đền thờ chính, đại bái, hậu cung...
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Trong tờ trình đề nghị phê duyệt dự án, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử - nhà tư tưởng và giáo dục lớn thời cổ đại. Các nước theo Nho giáo trước đây như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam đều xây dựng Văn Miếu.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Phần nhà bia tương tự ở Văn Miếu Hà Nội, mỗi hàng bia gồm 9 tấm bia đá trên lưng rùa, tổng cộng có 18 tấm bia trong hai nhà nằm đối diện nhau. Trong 795 năm tồn tại của nền khoa cử nho học, Vĩnh Phúc tạo lập được truyền thống khoa bảng với 393 người đỗ đạt khoa trường trong đó có 91 vị đỗ đại khoa.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Đi thẳng vào bên trong là cổng chính và hai cổng tả, hữu. Hầu hết tất cả được làm bằng đá được vận chuyển từ Ninh Vân (Ninh Bình) tới.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Công trình sân hành lễ và khu nhà liên quan nhìn từ trên cao trông khá đồ sộ.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Những đường nét trạm trổ trên các mái nhà tả hữu trong khu sân hành lễ.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Khu gác trống giống Văn Miếu - Hà Nội.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Phía trong cùng là khu nhà thờ chính, gồm 2 tòa tiền đường và hậu cung. Tiền đường với quy mô 5 gian 2 dĩ, kết cấu gỗ lim, mái cong lợp ngói mũi hài. Tiền đường là nơi làm lễ trước khi vào hậu cung và cũng là nơi giới thiệu, tôn vinh các danh nhân đương đại của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1945 đến nay.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Nơi dự kiến đặt ban thờ tại nhà tiền đường. Đại diện Sở VHTT và DL Vĩnh Phúc cho biết, việc thờ Không Tử tại đây mới là dự kiến ban đầu. Quyết định cuối cùng còn phải nghiên cứu, cân nhắc. "Sở sẽ tổ chức hội thảo để xin ý kiến các nhà khoa học, lịch sử và cơ quan liên quan xung quanh chuyện này", lãnh đạo Sở này nói.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Đi qua nhà tiền đường, sau đó lên vài bậc cầu thang sẽ tới nhà hậu cung.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Tiền đường nối với hậu cung bởi một nhà cầu hay còn gọi là ống muống, có mái che bằng gỗ sơn son thếp vàng.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Tòa hậu cung gồm 2 tầng, tầng 1 là nhà trưng bày hiện vật và một số đồ thờ.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Toàn bộ lối đi lại đều được sơn son thếp vàng bắt mắt.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Tầng 2 chính điện dự kiến là nơi thờ đức Khổng Tử và 8 vị đỗ hàng Đại khoa đại diện cho 8 huyện, thị của Vĩnh Phúc.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Nhiều hạng mục được làm bằng gỗ lim với hoa văn chạm trổ cầu kỳ.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Công trình Văn Miếu được lãnh đạo Sở VHTT và DL Vĩnh Phúc kỳ vọng như một nơi tôn thờ truyền thống hiếu học của tỉnh, ngoài ra đây còn được coi là một công trình văn hóa trọng điểm.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
Hầu hết vật liệu xây dựng tại công trình này đều là đá và gỗ, khá đắt tiền. Ngoài ra dãy tường rào còn được làm bằng đá ong, một loại gạch xa xưa có nguồn gốc từ Vĩnh Phúc (nổi tiếng cùng ngói Hương Canh). Hiện, công trình vẫn còn ngổn ngang một số hạng mục. Theo lãnh đạo sở VHTT và DL Vĩnh Phúc, đơn vị này sẽ cố hoàn thành vào năm 2016 để phục vụ người dân và du khách tham quan.
van-mieu-271-ty-o-vinh-phuc-nhin-tu-tren
 
Nói về việc xây dựng công trình, nhiều nhà văn hóa, lịch sử bày tỏ sự băn khoăn. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội VN) cho rằng, việc chi tiền ngân sách xây Văn miếu vài trăm tỷ để thờ Khổng Tử là không hợp lý. “Dù Văn Miếu tỉnh Vĩnh Phúc thờ ai đi chăng nữa cũng không có lý do gì chi một số tiền ngân sách để xây một công trình lớn như thế. Đây là việc làm rất lãng phí tiền của. Kể cả khi không dùng tiền ngân sách, cũng không nên xây một công trình Văn miếu khi trong lịch sử không có cơ sở để xây dựng", tiến sĩ Tuấn phát biểu trên báo Tuổi trẻ.
 

theo Zing

======================

Không có ý kiến gì cả. Nhưng việc dựng văn miếu thờ Khổng tử theo ông Trần Văn Tuấn có cần thiết không?

Chúng ta vẫn cần tôn trọng quá khứ và lấy đó làm bài học để không lặp lại các sai làm ngày trước. Để có một đất nước giàu mạnh, tính cầu thị và sẵn sàng hy sinh quyền lợi vì dân, vì nước cần được giác ngộ và được phát huy. Được như vậy, chim PhượngHoàng sẽ lại có thể hồi sinh từ đống tro tàn với một hình hài đẹp đẽ hơn và mạnh mẽ hơn xưa.

Hơn hết, quá khứ giúp chúng ta nhân dạng, còn hiện tại và tương lai được định đoạt bởi chính chúng ta. Hãy nhắc nhở con cháu bạn về sự hào hùng của lịch sử dân tộc, nhưng hãy lấy đó làm động lực chứ không phải mục tiêu, vì thực ra chúng ta có thể làm tốt hơn rất nhiều và dám mơ ước ở bên kia đường chân trời - những thứ vốn chưa bao giờ có thể tìm thấy trong sử sách.

Trần Văn Tuấn

 

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nhân chuyến đi Cambodia, HTH đã đến thăm Angkor wat và tìm thấy trên bức tường cửa sổ ở cổng Chính có chạm khắc hình ảnh của đô hình Âm Dương Việt.

 

cam%2048%20of%201_zpsj4zy3dis.jpg

Angkor Wat là ngôi đền Hindu và do đó mang dấu ấn rất nhiều hình tượng và truyền thuyết của đạo Hindu được xây trọng khoảng thời gian thế kỉ thứ 12 AD. ĐỒ hình Âm Dương Việt chỉ có duy nhất trên cửa sổ tại Cổng Chính phía Tây.

 

am%20duong%20%201%20of%201_zpsgguckzqr.j

Điều đặc biệt, Nghi Âm và Dương được trạm khắc hình Rồng -Phượng, hình ảnh của Quốc Tổ Lạc Long Quân và Quôc Mẫu Âu Cơ.

Xin lưu ý rằng Tất cả các cổng đều chính hướng Đông-Tây-Nam-Bắc. Cổng chính lại là cổng hướng TÂY.

 

huong%20ankorwat_zpsv3lltiyh.jpg

 

Đồ hình bát quái được vẽ theo kiểu Chiêm tinh Vệ Đà 

 

bat%20quai%201_zpsfulehh2b.jpgbat%20quai%202_zpsks8zin4u.jpg

 

Thêm một bằng chứng  sự tồn tại lý học trong tôn giáo mà ở đây là Ấn độ giáo.

Kính thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Hình ảnh trên mô tả hình Âm Dương Lạc Việt và một hình thức mô tả mô hình biểu kiến cho sự vận đông của vũ trụ, do Phó Giám Đốc thường trực của TTNC LHDP Hoàng Triều Hải chụp trong chuyến du lịch Angkor Wat ở Khơ Me.

Cùng với những chứng tích  về đồ hình Âm Dương Lạc Việt, được mô tả trong tiểu phẩm "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" - mô hình biểu kiến tiêu biểu nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành - xuất hiện ở tất cả các nền văn minh cổ đại trên khắp thế giới, đã xác định một cách sắc sảo rằng:

* Thuyết Âm Dương Ngũ hành chắc chắn không thể thuộc về nền văn minh Trung Hoa.

* Nó thuộc về một nền văn minh toàn cầu đã tồn tại trước nền văn minh của chúng ta, nên mang tính phổ biến khắp thế giới trong thời gian của các nền văn minh cổ đại.

* Nội dung của học thuyết này chỉ có thể phục hồi từ những di sản của văn hóa truyền thống Việt. Tất nhiên điều này xác định rằng: Chính nền văn hiến Việt với những di sản của nó liên quan đến một học thuyết đầy bí ẩn - là thuyết Âm Dương Ngũ hành - đã xác định nền văn minh Việt tộc có trước nền văn minh Trung Hoa và chính là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ.

* Thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt và những phương pháp ứng dụng còn lại qua những di sản của nó được mô tả trong bản văn chữ Hán, đã xác định trên cơ sở đối chiếu với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học và tiêu chí xác định một lý thuyết thống nhất vũ trụ, chứng tỏ rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ. mà các nhà khoa học ưu tú của nền văn minh hiện đại đang tìm kiếm.

* Chính sự vượt trội của hệ thống tri thức trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, so với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại, đã cho thấy: Nó không thuộc về lịch sử phát triển nhận thức được của nền văn minh hiện đại. Tất nhiên, nó cũng không thể xuất hiện vào thời đại đồ đá trong nhận thức được của nền văn minh hiện đại.

Tất cả những sự kiện, hiện tượng và những bằng chứng với một hệ thống luận cứ phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, đã chứng minh rằng: Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở bờ nam sông Dương Tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ.

Quý vị và anh chị em thân mến.

Những kẻ phủ nhận chân lý Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, tìm mọi cách và mọi thủ đoạn để ngăn chặn sự xác định chân lý nhân danh khoa học, chứng minh cội nguồn Việt sử. Với những kẻ có chút kiến thức với học hàm, học vị giáo sư tiến sĩ, thì né tránh đối đầu với Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, bằng cách che đậy với lời biện minh: Họ không có chuyên môn sâu về Lý học Đông phương, cho nên không tham gia phản biện.

Nhưng thực chất đấy chỉ là sự thể hiện né tránh trách nhiệm một cách hèn hạ, khi họ đã xúm xít trong một tập hợp gọi là "Hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "cộng đồng khoa học thế giới" phủ nhận những gía trị chân lý của Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Bởi vì, tất cả hệ thống chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến đều có luận cứ nhân danh khoa học. Và nó hoàn toàn không phải là chuyên môn sâu sắc gì trong các ngành chuyên môn sâu , như: Phong thủy, Tử Vi, Đông Y, dự báo....vv....

Họ có thể căn cứ vào những luận cứ của tôi, để phản biện, hoặc công nhận. Cũng như tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - tên thật là Nguyễn Vũ Diệu - không hề có chuyên một sâu về Toán học, nhất là Toán học cao cấp. Trình độ hiểu biết cơ bản về toán học của tôi chỉ hết phổ thông Trung học (10/ 10, mà lại còn học Bổ túc văn hóa nữa, chứ không được học chính quy). Nhưng tôi vẫn xác định một giả thuyết toán học cao cấp là "Nghịch lý toán học Cantor", là hoàn toàn phản ánh đúng sự vận động và phát triển của vũ trụ. Bởi vì - mặc dù không có kiến thức toán học cao cấp - nhưng "nghịch lý toán học Cantor" có luận cứ. Luận cứ của hệ thống này chính là những định đề của nó: "Mọi tập hợp đều là phần tử trong một tập hợp lớn hơn...vv...

Hoặc, tôi không có kiến thức về những lý thuyết vật lý cao cấp, nhưng tôi vẫn xác định rằng "Không có Hạt của Chúa". Và tôi đã đúng trước tất cả cộng đồng khoa học thế giới đang quan tâm đi tìm một thực tại mà họ gọi là "Hạt của Chúa" này. Tất nhiên, trình độ về kiến thức vật lý của tôi, cũng chỉ mới hết phổ thông. Nhưng bởi vì, lý thuyết Higg có luận cứ. Luận cứ của lý thuyết này là: "Có một thực tại duy nhất tạo ra tất cả các hạt vật lý có khối lượng". Vâng! Chỉ thế thôi, nhưng là luận cứ căn bản của lý thuyết Higg. Và như vậy, dù không có kiến thức về vật lý lý thuyết cao cấp - mũi nhọn của nền văn minh hiện đại - đủ để tôi xác định rằng: Lý thuyết này sai - "Không có Hạt của Chúa". Vấn đề chỉ đơn giàn là: Không thể xuất hiện một thực thể vật chất từ một trường, hoặc một dạng tồn tại vật chất duy nhất, mà không có tính tương tác từ nội hàm tính duy nhất của nó, để tạo ra một thực tại khác.

Tương tự như vậy, toàn bộ việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến của tôi, là một hệ thống luận cứ. Và để phản biện hệ thống luận cứ này thì không cần phải có chuyên môn sâu về bất cứ ngành nào của Lý học Đông phương.

Do đó, những kẻ phủ nhận cội nguồn Việt sử, không thể biện minh cho sự né tránh hèn hạ, trơ tráo của họ bằng cách tự nhận mình dốt nát trong những kiến thức về lý học Đông phương, trong việc phản biện Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

Cá nhân tôi trân trọng những nhà khoa học chân chính và những con người có tri thức thật sự - dù không bằng cấp, cho dù họ có thể sai trong nhận thức về một giả thuyết khoa học. Nhưng suy nghĩ của họ là sự cầu tìm một chân lý khách quan. Nhưng tôi thật sự khinh bỉ những kẻ vô liêm sỉ, tự phủ nhận cội nguồn của chính dân tộc họ, nhưng lại trơ tráo nhân danh khoa học. Nhưng khi bị phản biện thì không một cái mặt nào, trong đám lúc nhúc "hầu hết" và "cộng đồng" đứng ra để tự biện minh cho mình.

 

Một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học thì phải có hệ thống luận cứ, mà người ta có thể nhân danh nền tảng tri thức khoa học để chỉ ra cái sai của nó, hoặc công nhận.

Tiêu chí khoa học

 

9 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Vòng tròn bí ẩn của Trái Đất nối các công trình cổ đại nổi tiếng

3 days trước 18,418 lượt xem

  •  
vong-tron-bi-an-640x400.jpg
 
Bạn có biết, Đảo Phục Sinh, các kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát... đều nằm trên 1 đường thẳng? (Ảnh; Internet)
 

Đảo Phục Sinh, các kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát (Angkor Wat) … Hãy tưởng tượng một đường thẳng địa lý kỳ bí kết nối nhiều địa danh trọng yếu của thế giới cổ đại. Trên thực tế, khi các địa danh chủ chốt được đánh dấu trên quả địa cầu, một vòng tròn gần như hoàn hảo sẽ xuất hiện, cho thấy một bí ẩn vẫn chưa có lời giải thông qua khám phá khảo cổ.

 

vong-tron-bi-an-2.gifĐường thẳng địa lý kỳ bí kết nối nhiều địa danh trọng yếu của thế giới cổ đại

Một danh sách đáng kinh ngạc các di chỉ văn hóa quý báu của Trái Đất có thể được tìm thấy trên vòng tròn bí ẩn này khi nó đi qua các hòn đảo nhỏ, một số lục địa, và ngay cả các vị trí tiềm năng của những địa danh trong huyền thoại.

 

Tifinagh_Algeria.jpg

Những hình vẽ trên cao nguyên Tassili, ở khu vực trung tâm sa mạc Sahara. (Ảnh: Wikipedia)

 

Ở châu Phi, vòng tròn này đi qua cao nguyên Tassili trên sa mạc Sahara, các kim tự tháp Ai Cập, và lên phía trên qua các địa danh chủ chốt dọc theo các con sông Tigris, Euphrates và Nin—ba dòng sông có ảnh hưởng lớn nhất thời cổ đại. Khi tiếp tục lần theo đường vòng cung này, bạn sẽ đến kinh đô Persepolis của Đế quốc Ba Tư cổ đại, thành phố cổ Mohenjo-Daro, đền thờ thần Ammon trên ốc đảo Siwa, và thành phố bị thất lạc Petra—một trong bảy kỳ quan mới của thế giới cổ đại.

petra.jpg
Thành phố bị thất lạc Petra. (Ảnh: Pixabay)

 

Tiếp tục đi dọc theo con đường này bạn sẽ đến thành phố Ur của nền văn minh Sumer cổ đại, quần thể đền đài Ăng-co-vát (Angkor Wat) ở Campuchia và Thái Lan, vùng Biển Chết ở gần Địa Trung Hải, dãy núi Himalaya, sông Tiền Đường ở tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc, và khu di tích được một số người nhìn nhận là lục địa Atlantis trong huyền thoại. Điều đáng kinh ngạc là đường tròn bí ẩn này đã liên kết các địa danh này trong một khoảng sai số không vượt quá 1/10 của một độ vĩ độ, với tâm vòng tròn đặt ở miền đông nam bang Alaska, Mỹ.

 

Trong bài viết “Trật tự sắp xếp của các kỳ quan thế giới thời tiền sử” (“The Prehistoric Alignment of World Wonders”), tác giả Jim Alison đã mô tả rất chi tiết nhiều cách hoán vị toán học được tìm thấy bên trong vòng tròn lớn này và các địa danh liên kết với nhau trong đó. Ông viết: “Có thể dễ dàng quan sát trật tự sắp xếp của các địa danh này trên một quả địa cầu mô phỏng Trái Đất thông qua một đường tròn chân trời. Kết nối hai địa danh bất kỳ trên đường tròn chân trời, ta sẽ đồng thời kết nối tất cả các địa danh này trên đường tròn đó. Có thể sử dụng các chương trình phần mềm vẽ bản đồ thế giới 3D để vẽ minh họa vòng tròn lớn này quanh Trái Đất”.

Vậy vòng tròn này biểu thị điều gì? Nhiều người nói rằng những kết nối này cho thấy người cổ đại đã sở hữu một lượng tri thức rộng lớn hơn nhiều so với hiểu biết hiện nay của chúng ta. Những người khác lại cho rằng vì tâm vòng tròn đặt ở Alaska (trên Canada, gần Bắc cực), nên trật tự sắp xếp của nó có thể đã miêu tả vị trí các cực của Trái Đất trước khi chúng được dịch chuyển đến vị trí hiện tại. Ngoài các giả thuyết và phỏng đoán, một điểm chung giữa các địa danh này là tại mỗi khu vực đều tọa lạc các công trình kiến trúc rất tinh xảo. Một số địa danh trên vòng tròn này biểu thị một trình độ công nghệ vượt bậc mà cho đến nay các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn chưa thể giải thích.

 

Lignes_de_Nazca.jpg

Hình vẽ con chim ruồi trên cao nguyên Nazca. (Ảnh: Wikipedia)

 

Các kim tự tháp Ai Cập, thành phố Petra, pháo đài Ollantaytambo, và những nơi khác trên vòng tròn này thể hiện những kỹ nghệ điêu luyện tiếp tục làm chấn động và truyền cảm hứng cho nhân loại ngày nay. Hiệu ứng tương tự cũng có thể được tìm thấy trên cao nguyên Nazca, Peru. Ngôi làng cổ đại này vẫn tiếp tục làm chấn động các nhà nghiên cứu trước cách thức và nguyên nhân những thổ dân thời kỳ tiền Colombo tạo ra hơn 300 hình vẽ khổng lồ trên vùng đất Peru. Cũng giống như chính vòng tròn liên kết khổng lồ, các hình vẽ biểu thị các loài khỉ, chim, nhện, và các loài động vật khác được phát hiện trên cao nguyên Nazca nổi tiếng chỉ có thể được quan sát rõ ràng tại một độ cao đáng kể so với mặt đất. Trong hoàn cảnh không có những cỗ máy bay hiện đại, làm thế nào và vì lý do gì những con người cổ đại này đã tạo nên những mẫu hình to lớn đến như thế?

Xem thêm:

Vào những năm 1920, nhà sưu tầm đồ cổ nghiệp dư Alfred Watkins đã quan sát thấy các địa danh linh thiêng ở Anh nằm đúng trên một chuỗi các đường thẳng liên kết với nhau, mà ông gọi là “các đường Ley” (“ley lines”). Khi được vẽ trên một tấm bản đồ, các vòng tròn đá, đài tưởng niệm, và các khu vực định cư cổ đại được xếp ngay ngắn thành hàng dọc khắp đất nước. Kết quả quan sát đã khiến một số người tin rằng những đường thẳng này tượng trưng cho một hệ thống phong thủy được con người cổ đại sử dụng để xác định vị trí xây dựng các công trình kiến trúc khác nhau.

ley-line.gif

Rất giống với các đường kinh mạch trong cơ thể, những người nghiên cứu các đường Ley này đã nhấn mạnh rằng Trái Đất cũng có hệ thống kinh mạch của riêng mình.

 

Đường Ley St. Michael – một trong những đường Ley lớn nhất tại Anh. (Ảnh: Ancient Wisdom)

 

 

 

Nếu những con người cổ đại đã thực sự sử dụng một hệ thống như vậy để thiết lập vị trí xây dựng, thì bằng cách nào họ xác định được vị trí đặt các đường thẳng? Hơn nữa, phải chăng vị trí của các địa danh được tìm thấy trên vòng tròn lớn này cũng chịu nhận ảnh hưởng của các nguyên lý phong thủy kỳ bí, nhưng trên một phạm vi rộng lớn hơn? Bởi vì các địa danh trên có liên quan đến một số nền văn hóa vốn không đươc biết có bất kỳ mối liên hệ nào với nhau, chúng ta sẽ phải xem xét đến khả năng chúng chỉ đơn thuần phản ứng trước một hệ thống vượt quá sự hiểu biết hiện tại.

 

Bạn có thể xem vòng tròn đi qua 4 điểm chính: Đảo Phục Sinh, kim tự tháp Ai Cập, các hình vẽ trên cao nguyên Nazca ở Peru, quần thể đền đài Ăng-co-vát rõ hơn trong video dưới đây: (từ đầu đến 2:46)

 

 

Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn đang thách đố tri thức của nhân loại. Mục “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên sưu tầm những câu chuyện về các hiện tượng kỳ lạ kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!

Tác giả: Leonardo Vintini, Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh.
Đăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây.
Thanh Hải biên dịch

====================

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

MỘT BẰNG CHỨNG VỀ SỰ PHỐ BIẾN CỦA VĂN HÓA TRẦU CAU


*


*    *


Ảnh: Cuộc sống của "Tây Thi bán trầu" ở Đài Loan

Huy Phong (Theo Daily Mail)

Thứ Năm, ngày 24/09/2015 20:35 PM (GMT+7)

 

(Dân Việt) “Tây Thi bán trầu” là cụm từ dùng để chỉ những cô gái mặc trang phục kiệm vải đứng chào mời khách mua trầu ven các trục đường chính trên khắp Đài Loan (Trung Quốc).


 

   


1443101314-1.jpg


Thiếu nữ mặc trang phục “mát mẻ” đứng chờ khách trong quán bán trầu ở Đài Loan (Trung Quốc). Khách hàng của họ thường là tài xế taxi và xe tải.


1443101314-2.jpg


Có khoảng 60.000 quán bán trầu như thế này ven các trục đường chính trên khắp Đài Loan.


 


1443101314-3.jpg


Tài xế taxi nhận trầu từ một cô gái ăn mặc “thiếu vải". Các tài xế thích ăn trầu vì nó giúp họ tỉnh táo tinh thần trong khi lái xe.


 


1443101314-4.jpg


Một thiếu nữ trong trang phục không thể hở hơn đang chào mời khách qua đường mua trầu.


 


1443101314-5.jpg


Trong thời kỳ hoàng kim vào những năm 1990, ước tính có khoảng 100.000 quán bán trầu trên khắp Đài Loan. Phần lớn những quán này nằm gần các con đường cao tốc.


 


1443101314-6.jpg


Các cô gái bán trầu thường mặc váy hở hang để thu hút sự chú ý của khách hàng.


 


1443101314-7.jpg


Ngoài tác dụng giúp tỉnh táo, trầu cau cũng được cho là một phương thuốc chữa chứng khó tiêu và liệt dương ở đàn ông.


 


1443101314-8.jpg


Mặc dù trầu cau được bán tại nhiều nước ở châu Á, nhưng cách sử dụng những thiếu nữ mặc “thiếu vải” để tiếp thị sản phẩm chỉ có ở Đài Loan.


1443101314-9.jpg


Các cô gái bán trầu thường không được coi trong và dễ trở thành nạn nhân bị quấy rối tình dục bởi những tài xế say xỉn.


 


1443101314-10.jpg


Một cô gái ngồi chờ khách trong quán bán trầu ven đường.


 


1443101314-11.jpg


Các quán bán trầu như thế này đã bị cấm hoàn toàn ở thành phố Đài Bắc từ năm 2007 và chỉ được phép hoạt động ở vùng ngoại ô.


 


1443101314-12.jpg


Những cô gái đứng bán trầu ngoài đường có thể kiếm được khoảng 1.200 USD/tháng, trong khi làm công việc đứng quầy kiếm được khoảng 780 USD/tháng. Họa sĩ Đài Loan Wu Chung đã vẽ bức tranh thể hiện sự tương phản của Tây Thi ngày xưa và ngày nay (phải).


 


1443101314-tay-thi-13.jpg


Nhằm bảo vệ các cô gái khỏi bị quấy rối và giảm sự kỳ thị của xã hội với nghề bán trầu, nhà chức trách Đài Loan đã đưa ra quy định về trang phục đối với các nhân viên bán trầu.


 


1443101314-14.jpg


Mặc dù vậy, ngành bán trầu vẫn gây ra những tranh cãi trong dư luận Đài Loan.


2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Trong cuốn sách "Minh triết Việt và văn minh Đông phương", tôi đã mô tả hình Âm Dương Lạc Việt có khắp nơi trong các nền văn minh cổ của thế giới. Và tôi cũng xác định rằng: Nền văn hóa truyền thống Việt sử dụng hình Âm Dương Lạc Việt một cách phổ biến trong gần như mọi lĩnh vực trong đời sống văn hóa xã hội cho đến tận bây giờ.

Hôm nay tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và anh chị em một video clip mô ta đồ hình Âm Dương Lạc Việt với tư cách là một sự vận động và tương tác từ khởi nguyên của vũ trụ cho đến mọi hình thái của cuộc sống trên trái Đất. Điều này cho thấy một bằng chứng xác đáng nữa về thuyết ADNH và chủ nhân đích thức của nó thuộc về nền văn hiến Việt chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm, vì những mối liên hệ của nó.

5 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em.

Chân lý thật sự không cần được "khoa học công nhận". Mà là tri thức của cả nền văn minh này có nhận thức được nó hay không?

Điều đó sẽ quyết định sự phát triển tiếp tục của nền văn minh hay là sự tự hủy diệt mà không cần đến thiên tai.

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG ĐẠO HINDU

Hoàng Triệu Hải.

Phó giám đốc thường trực TTNC LHDP.

 

images%203_zpsvdjjyn5p.jpeg

 

“Thái cực sinh lưỡng nghi

Lưỡng nghi sinh tứ tượng

Tứ tượng biến hoá vô cùng”

Minh triết Việt

 

903d392ea1a6aa759e5aa832cf9d6cd0_zpswle3

 

Âm Dương Ngũ Hành vỗn vẫn được biết tới là một nền tảng lý thuyết của nền văn minh Đông phương. Tuy nhiên, theo quan điểm từ nhóm nghiên cứu thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương do nhà nghiên cứu- Ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh đứng đầu thì ADNH là một lý thuyết thuộc về một nền văn minh cổ của nhân loại đã bị huỷ diệt, và mỗi một nền văn minh sau này nắm giữ một mảnh của lý thuyết vĩ đại đó.

 

Qua các nghiên cứu cá nhân, tôi vô tình phát hiện ra sự mô tả lý thuyết ADNH trong đạo HINDU, một trong những Đạo lâu đời nhất và cũng là Đạo có nhiều CHÚA Trời nhất (khoảng 33 triệu vị Thần ).

Một trong những biểu tượng có trong các ngôi Đền Hindu, đó là biểu tượng LINGA SHIVA, biểu tượng của sự Huỷ Diệt và Tái  Sinh.

 

Candi_Sambisari_Hindu_Temple_of_Java_Ind

 

Có rất nhiều sự sai lầm về hình tượng này. Một số thì cho rằng đây là Biểu tượng tôn thờ tín ngưỡng phồn thực, rằng đây chỉ là mô tả bộ phận sinh dục của người đàn ông, và ở dưới là hình tượng mô tả bộ phận sinh dục của đàn bà. Trong Hindu giáo, biểu tượng này được gọi là Linga Shiva và cũng có sự hiểu sai lệch rằng đây là hình tượng Dương vật của thần Shiva(một trong những vị Thần vĩ đại nhất trong Hindu giáo), và phía dưới là biểu tượng Âm vật của thần Shakti(Parvati).

 

images%202_zpsx2yparok.jpeg

 

Từ Shiva có nghĩa là Tốt Lành, Linga (hay Lingam) có nghĩa là hình tượng, là dấu hiệu. Và Linga Shiva tức là hình tượng của sự bất tử của Thần Shiva. Đó là biểu tượng của Đấng sáng tạo, là sự tự nhận thức vượt qua sự sinh sôi, sự huỷ diệt, sự tốt-xấu, Thần Linh và Ma Quỉ, thời gian và Vũ trụ. Là điểm khởi nguồn của vạn vật.

Nếu dịch nghĩa từ Dương Vật trong ngôn ngữ Hindi (Sanskrit), thì sẽ là từ SHISHNAM, không phải là từ Linga. Sự hiểu sai ngay từ chính người theo Đạo Hindu cũng do bởi sự cố tình làm sai lệch ý nghĩa, xuất phát từ những kẻ xâm lược và muốn huỷ diệt Hindu giáo.

Biểu tương này là thể hiện sự bất tử của Thần Shiva nhưng từ sự sai lệch dẫn tới từ này mang ý nghĩa khác,

Từ Yoni cũng vậy, có nghĩa là Mẹ Thiên Nhiên, là biểu tượng của sự sinh sôi nhưng lại được hiểu sai thành bộ phận sinh dục phụ nữ. Đây là hình tượng của Thần Parvati, vợ của Thần Shiva.  

 

images%201_zpsogbptidm.jpeg

 

Biểu tượng Linga có hai dạng chính:

1.     Tại Ấn độ, Nepal: Linga hình tròn và Yoni cũng hình tròn. Trên Linga có biểu tượng ba gạch liền và hình tượng Con Mắt thứ Ba ở giữa.  Con mắt này đều xuất hiện trên Trán của Thần Shiva thể hiện sự thông hiểu, là ý thức, nhận thức, là sự xuyên suốt. Đây cũng chính là mô tả hình thái của Vũ Trụ

 

amruteshwar-temple_zpsvuzzopme.jpg

 

Origin%20of%20Shiva%20Lingam_zps8g47doxx

 

2.     Tại Đông Nam Á:  Biểu tượng Linga phức tạp hơn, thể hiện hình tượng của ba vị Thần tối cao trong Hindu giáo. 3 vị thần thể hiện vòng tròn cuộc sống ( Samsara) : SINH-VƯỢNG-MỘ

 

images_zpsbc0nl7hc.jpeg

a.     Thần Shiva-hình Tròn và chạm khắc mặt của vị Thần này- Là vị thần của sự huỷ diệt,sự tái sinh, là công lý, phán xét.

b.     Thần Visnu-Bát giác, là vị thần của sự che trở, bao bọc, bảo vệ

c.      Brahma-hình Vuông. là đấng sang tạo.Là vị thần tạo ra nguồn gốc của con người.

d.     Yuni: địa cầu, đất Mẹ

 

linda.JPG

 

(biểu tượng Linga tại bảo tàng Chăm-Đà Nẵng)

9e9ef52d8200240aa13159f202dd0660.jpg

(Biểu tượng Linga ở tháp Po Sah Inu - Bình Thuận) 

 

Nhìn vào Biểu tượng  Linga , điều nhận thấy đầu tiên đó là hình tượng Quẻ CÀN trong Bát Quái của Lý Học Đông Phương với Tâm là Mặt Trời. Mặt trời là trung tâm của Vũ Trụ, là sự khởi nguồn của mọi sự sống trên Trái đất và cũng có thể huỷ diệt Mọi thứ trong Vũ trụ này.

Đây là tượng của Thần Shiva là Đấng sáng tạo nhưng cũng là vị Thần của sự Huỷ Diệt, và đó cũng chính là ý nghĩa của quẻ CÀN :Hình Trụ/Tròn Là Trời, là Cha, thuộc Dương. Và để tạo ra sự sống thì cần có sức mạnh và năng lượng của phu nhân, cũng là những VỊ thần nữ được tôn sùng và quyền uy tương đương.

sc002ddadc_zpsb8xxm1eg.jpg

Biểu tượng Yoni:  Là tượng của Trái Đất, là Mẹ,thuộc ÂM. Tuy nhiên Yoni ở vùng ĐNA như Campuchia, Vietnam thì lại là hình Vuông – Là quẻ Khôn,.

Vẫn là hình Tròn và Vuông trong Lý Học Đông Phương thể hiện sự Sinh Sôi, Sáng Tạo, là hình tượng của Cha –Mẹ.  Tuy thể hiện qua nhiều hình thể khác nhau do ảnh hưởng của tôn giáo nhưng về bản chất vẫn là sự mô tả nhận thức của con Người với Vũ Trụ quan.

Chúng ta cũng có thể nhận thấy đâu đó có sự xuất hiện của Tứ Tượng trên Linga.  Ví dụ biểu tượng Linga tại Nepal, hình tượng bông hoa Sen là sự "biến hoá vô cùng"

 

Kathmandu%20Patan%20Golden%20Temple%2004

 

 

Theo các tài liệu nghiên cứu thì các vị Thần Hindu giáo được đặt tên cho các Chòm Sao Hoàng Đạo của chiêm tinh học Vệ Đà vào khoảng 5000 năm trước công nguyên. Do đó, Thiên Chúa giáo cũng nhận được ảnh hưởng của biểu tượng Linga (Âm Dương) và hình dưới chính là quảng trường Thánh Peter tại Vatican.

 

640px-Vatican_City_map_EN_zpsxc3lhlmu.pn

vatican-03_zpsxbvm2bnp.jpg

 

Qua những hình tượng Lingam , một biểu tượng đặc trưng của Hindu giáo, chúng ta có thể nhận thấy sức ảnh hưởng rộng lớn của lý thuyết Âm Dương ngũ Hành tới tín ngưỡng và đạo giáo, từ Đạo Phật (qua các nghiên cứu  của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh), Đạo Hidu, Đạo Thiên Chúa  mà tín hiệu đầu tiên chính là quảng trường St Peter tại Vatican. Chúng tôi hy vọng có thể tìm thấy nhiều bằng chứng hơn nữa chứng minh sự ảnh hưởng của ADNH tới Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Hindu giáo… Đó cũng là một minh chứng nữa chứng tỏ rằng người Trung Hoa không phải là chủ nhân của Lý Thuyết vĩ đại này.

 

(tiếp tục bổ xung chỉnh sửa)

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU BỔ SUNG

Bài viết dưới đây của nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy. Ông ta có những chứng lý hỗ trợ rất sắc sảo chứng minh Kinh Dịch là của Việt Nam. Tôi đưa vào đây để tiện việc sử dụng tư liệu, khi phát hành cuốn sách này lần thứ hai , nếu được tái xuất bản.

 

HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT?

 

Hà Văn Thùy

 
4e4b1fc9eeea638a4484d9ff6d1e996c_S.jpg
 

Lời của người viết

Như mọi người đọc Việt Nam khác, tôi rất quan tâm tới những gì học giả nước ngoài viết về đất nước mình bởi hy vọng, họ cung cấp những tư liệu mới và có những khám phá giúp soi sáng lịch sử dân tộc.

Nhưng rồi sớm thất vọng khi thấy có những người bước vào lịch sử Việt với thái độ mục hạ vô nhân, đem cái hiểu biết thiển cận của họ xúc phạm cả một dân tộc.

Chẳng đặng đừng trước hồn thiêng tổ tiên bị lăng mạ, tôi một kẻ không học hàm học vị, cũng chẳng ăn lương của cơ quan nào, buộc lòng phải lên tiếng.

Không nghĩ những gì mình viết hoàn toàn là chân lý, tôi kính mong tác giả và học giả cao minh chỉ ra những điều bất cập để được học hỏi thêm.

 

Sau năm 1975, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Việt Nam của xã hội Mỹ, một lớp nhà Việt học người Mỹ xuất hiện.

Dẫn đầu là Keith W. Taylor. Vốn là cựu chiến binh Việt Nam với vốn tiếng Việt và những trải nghiệm trong chiến tranh, ông đến với môi trường đại học và nhanh chóng trở thành học giả tên tuổi.

Chỉ 8 năm sau, 1983, ông công bố cuốn Việt Nam thời khai sinh (The Birth of Vietnamese).

Tôi đã hồ hởi đón nhận cuốn sách này với hy vọng, từ bên kia Trái đất, bằng nguồn tư liệu riêng, tác giả cung cấp cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam.

Nhưng rồi sớm thất vọng vì đó là cuốn sách nhạt nhẽo, gần như là sự nhai lại những gì đã có trong thông sử Việt, không cung cấp điều gì mới, ngoài một số tư liệu thời Bắc thuộc mà ví tính thứ yếu của nó, các sử gia Việt Nam đã không sử dụng.

Không những thế, tôi buộc phải phản biện những bài Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào (talawas.org 30.4.05), Các xung dột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX (talawas 30.5.05) và Cách nhìn mới về Việt Nam (BBCVietnamese.com 12.9.03)

Một người khác là Liam Kelley, phó giáo sư Đại học Manoa, còn có tên Việt là Lê Minh Khải. Không chỉ viết nhiều mà tác giả còn lập leminhkhaiviet.blog để đăng tải những bài được dịch sang tiếng Việt.

Bài viết này được dành riêng để trao đổi với tác giả.

I. Điểm một số bài viết của Liam Kelley.

1. Về bài: “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại. Regarding article: " Hong Bang Story" as a traditionally was constructed of Vietnamese medieval

Phản bác ý tưởng cho rằng “có thông tin về các giai đoạn xa xưa của lịch sử trong các công trình của người Việt Nam, vốn không tồn tại trong các nguồn tư liệu Trung Hoa, các học giả về cơ bản đã kết luận:

người Việt Nam hẳn đã có những truyền thống lịch sử của riêng mình được họ lưu truyền bằng miệng và rồi cuối cùng được viết ra ngay khi vùng đất của họ thoát khỏi sự cai trị của Trung Hoa,” Liam Kelley viết:

“Tôi cho sự thảo luận về Hồng Bàng thị truyện trong bài tiểu luận này đã chứng minh rằng các vua Hùng không có thật. Thay vào đó, họ được kiến tạo ở thời trung đại với tư cách là một bộ phận của một quá trình trong đó đầu tiên giới trí thức tinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng đã kiến tạo ra, sau đó khớp nối một bản sắc riêng vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa”

 

Để khẳng định luận điểm của mình, tác giả đưa ra những chứng cứ sau:

a. Không hề có một cộng đồng dân cư ổn định ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu tiên trước Công nguyên:

“Các học giả Việt Nam cho rằng những phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng từ thế kỉ đầu trước CN, như các trống đồng Đông Sơn, và những bằng chứng về các cuộc khởi nghĩa trong xấp xỉ một ngàn năm Trung Hoa cai trị, như cuộc khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ đầu sau CN, đều chỉ ra sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định ở khu vực này trong suốt thời kì dài.

Tuy nhiên, kiểu chứng cứ này không nhất thiết ủng hộ cho một tuyên bố như thế.

Thứ nhất, việc kết hợp các di vật khảo cổ với nhóm người đã tạo ra những câu chuyện trongLiệt truyệnđòi hỏi một điều là người ta đã phóng chiếu sự tồn tại của một nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử (“người Việt”) được nhận dạng từ các văn bản trung đại lên những di vật khảo cổ tiền sử…”

“Hệ quả là, các học giả Việt Nam không chất vấn sự tạo dựng [khái niệm] “nhân dân/dân gian” của họ và xem xét mức độ khác biệt của khái niệm “nhân dân/dân gian” với quan niệm của Vũ Quỳnh ở thế kỉ XV.”

b. “Và một vấn đề có can hệ nhiều hơn là:Liệt truyệnđược ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó. Hơn nữa, nếu những cư dân đó sở hữu một kiểu cổ xưa của cái rốt cuộc sẽ trở thành ngôn ngữ tiếng Việt [sau này], như một số học giả ở Việt Nam tin tưởng, thì phải nhận thức rằng thứ ngôn ngữ nói đó đã thay đổi khá đột ngột qua các thế kỉ, đặc biệt là khi khối từ vựng Trung Hoa xâm nhập vào, trước hết là ở một mức độ hạn chế bắt đầu trong thời nhà Hán (206 trước CN – 220 sau CN), và rồi rộng mở hơn trong suốt thời kì trung đại. Vì vậy, nếu những thông tin cốt lõi trong một câu chuyện nhưHồng Bàng thị truyệnbắt nguồn trong các câu truyện dân gian được lưu truyền từ thời viễn cổ, thì các học giả cần phải giải thích làm thế nào có thể xảy ra điều đó, và những sự lưu truyền nào đã chuyển tải các thông tin khi ngôn ngữ tiếng Việt phát triển qua các thế kỉ và khi những thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ.”

c. “Hồng Bàng thị truyện” gần gũi với những văn bản Trung Hoa khác như

Thục chí:

“Rõ ràng như mong đợi, thông tin trong đoạn văn này rất giống với đoạn mở đầu Hồng Bàng thị truyệncủaLiệt truyện.Đặc biệt, cũng nhưHồng Bàng thị truyện,văn bản này tạo nên sự kết nối về phả hệ với một thủ lĩnh Trung Hoa huyền thoại, có một đứa con được sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa một phụ nữ địa phương với một hậu duệ của vị thủ lĩnh ấy, và rồi có những thành viên khác của gia đình cá nhân ấy được phong làm người cai trị địa phương ấy. Nói khác đi, cả Liệt truyệnHoa Dương quốc chítạo ra một câu chuyện giống nhau nhằm kết nối những địa điểm tương ứng với một nhân vật ở thời cổ đại của Trung Hoa.”

Liễu Nghị truyện:

“Tất nhiên, có vô số câu chuyện về rồng và tiên trong văn học Trung Hoa liên quan đến những khu vực phía Nam sông Dương Tử. Theo đó, để xác định xem liệu có bất kì cái gì thống nhất trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ hay không, sẽ là khôn ngoan khi trước hết nên đào xới danh mục các câu chuyện Trung Hoa viết về rồng và tiên. Chỗ tốt nhất để bắt đầu có lẽ làLiễu Nghị truyện,và như đã biết, có những mối liên hệ rõ ràng giữa câu chuyện đó với câu chuyện về Kinh Dương Vương và Thần Long. Và hoá ra, cũng có những sự tương đồng giữaLiễu Nghị truyệnvà đoạn văn trongLiệt truyệnđã dẫn ở trên.Những mối liên hệ ở đây không trực tiếp như những mối quan hệ liên quan đến Kinh Dương Vương và Thần Long, nhưng chúng gợi ý một cách mạnh mẽ rằng câu chuyện này ít nhất gợi một số ý tưởng cho câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ.”

d. “Việt/Yue” như là một khái niệm tự xưng.

“Sự ảnh hưởng của lịch sử và văn học Trung Hoa đối vớiHồng Bàng thị truyệnlà cực kì có ý nghĩa, ở chỗ nó hoàn toàn ủng hộ lập luận rằng câu chuyện này là một kiến tạo thời trung đại. Với sự thật đó, chúng ta cần phải xét lại toàn bộ hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam để điều chỉnh cho đúng với thực tế này. Bằng những gì tiếp theo, tôi sẽ cố gắng phác thảo đại lược một đề cương của một sự diễn giải thay thế về lịch sử Việt Nam thời trung đại và sớm hơn, cái có thể giúp lí giải về người viếtHồng Bàng thị truyệnvà lí do viết.

Thứ nhất, đối lập với niềm tin rằng “nhân dân” của Đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu trước CN đã sở hữu bản sắc nào đó mà họ duy trì suốt cả nghìn năm Trung Hoa cai trị, tôi cho rằng chúng ta có thể nhận thấy xu hướng từ từ trong một phần của giới tinh hoa Hán hoá, những người sống ở một khu vực trải dài từ vùng Bắc Việt Nam ngày nay đến tận Quảng Đông là sử dụng khái niệm “Việt” (Yue) để tự xưng,”

 

Không thể không nói rằng, đó là những chứng cứ có vẻ vững chắc, khiến cho sử gia Việt Nam không có đường phản bác, đành giữ thái độ im lặng.

   Tuy nhiên, trên thực tế, tri thức lịch sử về Việt Nam và phương Đông mà tác giả dựa vào để đưa ra những ý tưởng trên, đã lạc hậu, bị thế kỷ XXI phủ nhận, khiến cho những luận cứ đó trở nên vô giá trị!

   Nếu thế kỷ XX, khoa học nhân văn phương Đông được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Hoa tâm cho rằng, con người xuất hiện tại Tây Tạng sau đó xâm nhập Trung Hoa rồi từ Trung Hoa tràn xuống Việt Nam và Đông Nam Á, đem theo văn minh “khai hóa” vùng đất này; thì vào cái ngày định mệnh 29 tháng 9 năm 1998, khi công trình Quan hệ di truyền của dân cư trung Quốc (Genetic Relationship of population in China) (1) được công bố, nền tảng của cái “khoa học” thống trị một thời ấy đã sụp đổ!

Phát kiến của khoa học thế kỷ mới khẳng định:

-    Người hiện đại Homo sapiens được sinh ra tại châu Phi 180.000 năm trước.

-    70.000 năm cách nay, người tiền sử theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam.

-    50.000 năm trước, người từ Việt Nam di cư ra các hải đảo Đông Nam Á, tới Ấn Độ.

-    40.000 năm trước, do khí hậu phương bắc ấm lên, người từ Việt Nam đi lên khai phá vùng đất ngày nay có tên là Trung Hoa.

Với phát kiến động trời này, tri thức nền tảng về phương Đông đã thay đổi. Xu hướng của lịch sử không phải “Hoa tâm” mà là sự thật ngược lại: Việt Nam chính là trung tâm phát tích của dân cư và văn hóa phương Đông!

Năm 2004, khi tiếp cận thông tin trên, tôi đã dừng mọi công việc văn chương, tập trung toàn tâm lực để khảo cứu thời tiền sử phương Đông. Sau mười năm, cùng hàng trăm bài báo, tôi đã công bố ba cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007); Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008): Tìm cội nguồn qua di truyền học (NXB Văn học, 2011) và cuốn thứ tư đang trên bàn biên tập viên nhà xuất bản Trí thức: Viết lại lịch sử Trung Hoa.

Từ khảo cứu của mình, tôi khám phá rằng, khoảng 5000 năm TCN, tại miền trung Hoàng Hà và cửa sông Dương Tử, do người Việt Australoid tiếp xúc với người Mongoloid phương Bắc (những người cũng từ Việt Nam lên nhưng do di cư riêng rẽ, đã giữ được nguồn gen thuần chủng, sau này sống tập trung trên đất Mông Cổ) sinh ra chủng Mongoloid phương Nam. Người Mongoloid phương Nam tăng nhân số, dần trở thành chủ thể của văn hóa Ngưỡng Thiều, Hà Mẫu Độ và sau đó làm nên văn hóa Long Sơn nổi tiếng. Ở thời điểm này, những thủ lĩnh người Việt là Phục Hy, Thần Nông xuất hiện. Vào khoảng năm 2879 TCN xảy ra việc Đế Minh chia đất và phong vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Là những người đánh cá và đi biển thành thạo, dân cư vùng cửa sông Dương Tử đã giao thương bằng thuyền tới Đài Loan, Indonesia, Philippine, Việt Nam và hiểu các vùng đất này. Sử Trung Hoa ghi, khoảng năm 2700 TCN, xảy ra cuộc xâm lăng của người phương Bắc vào Trác Lộc ở bờ nam Hoàng Hà. Trong trận này, Đế Lai (văn bản Trung Hoa ghi là Si Vưu) tử trận còn Lạc Long Quân đưa đoàn quân dân vùng Núi Thái, Sông nguồn dùng thuyền vượt biển đổ bộ vào Nghệ An Việt Nam. Sau này, do sức ép của quân xâm lăng, người Việt từ vùng Trong Nguồn (nay là Trung Nguyên) và duyên hải phía đông di cư tiếp xuống phương Nam. Người di cư mang nguồn gen Mongoloid phương Nam xuống, chuyển hóa đại bộ phận dân cư Đông Nam Á thành Mongoloid phương Nam. Hiện tượng này được nhân chủng học gọi là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á (2) xảy ra ở nửa sau thiên niên kỷ III TCN. Trên đất Việt Nam, khảo cổ và nhân chủng học xác nhận cuộc di cư này: khoảng 4000 năm trước, người Phùng Nguyên từ mã di truyền Australoid chuyển sang người Đông Sơn Mongoloid phương Nam. Đặc biệt tại di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình, có tuổi trên 2000 năm TCN, phát hiện khu mộ táng với 30 thi hài người Australoid và Mongoloid được chôn chung (3). Đây là chứng cứ vững chắc cho thấy người Mongoloid từ phía bắc xuống chung sống với người bản địa Australoid để rồi chuyển hóa di truyền toàn bộ dân cư sang Mongoloid phương Nam, là tổ tiên người Việt Nam hiện đại. Như vậy, khảo cổ học và nhân chủng học xác nhận, dân cư đồng bằng sông Hồng hiện nay không phải đám trôi sông lạc chợ mà là cộng đồng được hình thành từ hơn 4000 năm trước!

Trên vùng đất chiếm được cùa tộc Việt ở nam Hoàng Hà, người Mông Cổ lập vương triều Hoàng Đế. Do sống chung, họ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Với thời gian, người Hoa Hạ được Việt hóa và thay cha ông Mông Cổ lãnh đạo xã hội vương quốc Hoàng Đế, tạo dựng các triều đại Nghiêu, Thuấn, Vũ… Là con cháu người Việt, sống trên đất đai Việt, người Hoa Hạ thấm nhuần văn hóa Việt, tôn Phục Hy, Thần Nông làm tổ cùng với Hoàng Đế.

Người Việt từ Trong Nguồn (tên cũ của đồng bằng Trung Nguyên) và duyên hải phía đông Trung Hoa di tản về Việt Nam, định cư ở vùng đất cao của đồng bằng sông Hồng đang được bồi tụ, đã mang theo ký ức về Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương… Từ ký ức, họ lập những ngôi mộ gió và sau đó xây đền kính ngưỡng thờ các vị cho đến nay.

Với quá trình lịch sử và sự hình thành dân cư Việt Nam như vậy thì bốn “chứng lý” mà tác giả L. Kelley dẫn trên không những không ủng hộ mà trái lại còn phản bác lập luận của chính ông:

- Không phải là “Không hề có một cộng đồng dân cư ổn định ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu tiên trước Công nguyên” mà đó là khối dân cư đông đảo mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, hình thành từ hơn 4000 năm trước, tiếp nối truyền thống Việt cổ, làm nên văn hóa Đông Sơn.

- Những ghi chép trong Thục Chí, truyện Liễu Nghị hay Hồng Bàng thị truyện… là những phiên bản của truyền thuyết lập nước Xích Quỷ, Văn Lang lưu truyền trong cộng đồng người Việt vùng Ba Thục, Lưỡng Quảng và Bắc Việt Nam.

- “Việt/Yue” như là “một khái niệm tự xưng” là điều hoàn toàn có thật. Bởi lẽ, khoảng 18.000 năm trước, khi sáng tạo ra chiếc rìu đá mới, người Hòa Bình đã tự hào là chủ nhân công cụ tiên tiến của nhân loại nên tự gọi mình là người Việt với chữ Qua (). Khoảng 12.000 năm trước, khi phát minh ra cây lúa nước, người Việt tự xưng là tộc Việt với chữ Việt bộ Mễ (). Và khoảng 4000 năm trước, khi sáng tạo chiếc rìu bằng đồng, người Việt lại tự xưng bằng danh hiệu mới: chữ Việt bộ Tẩu ()!

-    Về thắc mắc quan trọng của tác giả là ngôn ngữ: Liệt truyệnđược ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó...” có thể giải đáp dễ dàng: Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán. Người từ Việt Nam đi lên khai phá đất Trung Hoa đã mang theo tiếng nói của mình. Trải qua lịch sử hàng vạn năm sống trên đất Trung Hoa, đại bộ phận dân cư Trung Hoa là người Việt. Tiếng Trung Hoa là tiếng Việt được nói theo ngữ pháp Mông Cổ(4). Không những vậy, chính chữ tượng hình Trung Hoa cũng do người Việt sáng tạo để ký âm tiếng Việt!(5)

Phân tích ở trên cho thấy, “Hồng Bàng thị truyện” dù được ghi vào thời Trung đại và có những thêm bớt không phù hợp của (những) người chép thì nó vẫn là hồn cốt của sự kiện có thật xảy ra trong quá khứ, được lưu giữ nơi ký ức sâu thẳm của cộng đồng người đông đảo, sống trên địa bàn rộng lớn nay là Trung Hoa và Việt Nam, trong suốt thời gian gần 5000 năm. Đó hoàn toàn không phải một “truyền thống được kiến tạo”!

2. Về bài “Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam”

Trong chuyên luận dài gần 20.000 chữ: “Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam,” L. Kelley do chỗ cho rằng “quan lang”, “mị nương”, “bồ chính”, “cổ”… là những từ gốc Thái đi vào tiếng Việt ở thời Trung đại, đã khẳng định: “Người Thái và người Việt không phải là anh em sống hài hoà thời cổ và sau đó đi những con đường khác nhau. Thay vào đó, họ là những tộc người khác nhau trở thành láng giềng ở thời Trung đại và đấu tranh với nhau cho đến khi người Việt rốt cuộc đã giành được sự thống trị lên người Thái ở khu vực lớn hơn Đồng bằng sông Hồng vào thế kỉ XV.”

Xin thưa rằng, lịch sử văn hóa là hoạt động xã hội của con người trong thời gian và không gian. Do vậy, muốn hiểu lịch sử, văn hóa của một cộng đồng người, điều tiên quyết là phải hiểu biết về họ. Xin hỏi giáo sư: Người Việt là ai? Người Thái là ai? Mã di truyền của họ là gì? Nguồn gốc phát tích từ đâu? Trải qua quá trình lịch sử thế nào để rồi cùng sống trên đất Việt? Tôi dám chắc, giáo sư không trả lời được! Do vậy, việc bàn về từ nào của Việt, từ nào của Thái rồi chuyện họ sống với nhau ra sao trong quá khứ chỉ là chuyện nói mò! Tôi rất thông cảm với giáo sư vì biết rằng, cho tới cuối thế kỷ trước, chưa có lời giải cho những câu hỏi trên! Nhưng theo tôi, sự thể thế này:

- 70.000 năm trước, hai đại chủng người Australoid và Mongoloid từ châu Phi tới Việt Nam. Họ gặp nhau, hòa huyết, cho ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, đều thuộc loại hình Australoid. Sau khi sống chung với nhau ít nhất 30.000 năm trên đất Việt, họ không chỉ có chung huyết thống mà còn chung văn hóa, trong đó tiếng nói Lạc Việt là ngôn ngữ nền. Từ 40.000 năm cách nay, các chủng người Việt chia tay nhau lên khai phá Trung Hoa. Có cơ sở để cho rằng, từ Tây Bắc Đông Dương, một bộ phận người Tày-Thái theo hành lang Ba -Thục lên Tây Bắc Trung Quốc, chiếm lĩnh vùng Thiểm Tây, Sơn Tây, sau này trở thành chủ nhân nền văn hóa Ngưỡng Thiều nổi tiếng. Chính họ đặt tên cho những địa danh có từ “cổ/gu” còn tới ngày nay ở vùng này. Đó cũng là ngôn ngữ và văn hóa tạo nên kinh Thi theo phát hiện của Maspéro như được dẫn trong bài viết. Về người Thái, từ rất sớm, sách sử ghi rằng: vợ Đế Khốc, ông vua thứ tư của vương triều Hoàng Đế là bà Khương Nguyên, một người con gái thị tộc Thái (Thai thị nữ): “Chu Hậu Tắc, tên Khí. Mẹ người thị tộc Thái, tên là Khương Nguyên. Khương Nguyên là nguyên phi của Đế Khốc.” (周后稷,名弃。其母有邰氏女,曰姜原。姜原为帝喾元妃.) Một dòng khác trong Lạc Việt đi lên Trung Hoa, khai phá đồng bằng Trong Nguồn, thuộc Sơn Tây, Hà Nam, nơi sau này là đất phát tích của ông vua sáng lập triều Hán. Vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Hoa Võ Tắc Thiên đặt tôn hiệu của mình là Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金轮圣神皇帝) và Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金轮圣神皇帝). Điều này chứng tỏ bà là người Việt. Căn cước Việt của bà còn ở chỗ tên sữa, tên gọi khi con gái là Mỵ Nương! Như vậy chứng tỏ “mỵ nương” không chỉ là sở hữu riêng của người Thái mà là chung cho các tộc Việt. Cũng vậy, cổ/gu là từ Việt cổ, được biến âm từ “kẻ” rất phổ biến ở Bắc Bộ! Vì thế, Mỵ Nương trong truyện Sơn tinh, Thủy tinh không hề là cô “công chúa người Thái” như L. Kelley tưởng tượng!

 

Có thể lịch sử của một bộ phận người Tày-Thái là thế này: từ Việt Nam, họ đi lên Tây Bắc Trung Quốc, sáng tạo văn hóa Ngưỡng Thiều, Long Sơn. Khi vùng này bị người Mông Cổ xâm lăng, một bộ phận dân cư chung sống với người Mông Cổ, góp phần sinh ra người Hoa Hạ. Một trong những mỵ nương người Thái lấy Đế Khốc, sinh ra tổ nhà Chu. Sau này, do sự xâm nhập, chèn ép của dân du mục phương tây, người Thái làm cuộc di cư lớn từ Thiểm Tây, Sơn Tây vào Hà Nam rồi vượt Trường Giang xuống Quảng Tây. Tiếp đó, họ di cư vào Lào, Thái Lan, Miến Điện. Tại Việt Nam, do số dân Việt quá đông nên người Thái xâm nhập không nhiều và chỉ có thể sống ở vùng ngoại vi. Như vậy là, sau thời gian đằng đẵng đi xa, một bộ phận người Thái trở về đất tổ tiên của mình. Những người từ Trung Quốc trở về Lào, Thái Lan gọi chi thứ tư của Thập nhị chi là Thỏ. Tuy vậy, vẫn có một bộ phận người Thái không di cư mà sống bám trụ tại Việt Nam và các nước khác như Thái Lan, Lào… Người Thái ở Điện Biên là tộc người đã sống từ xa xưa trên đất Việt bởi lẽ trong sổ Chóng Bang (Một kiểu sách bói toán) của họ chép chi thứ tư trong Thập nhị chi là Mẩu, tức Mão. Phát biểu của W.G. Solheim II: “Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay” (2) làm chứng cho việc này!

Như vậy, hoàn toàn không như L. Kelley nghĩ, “họ là những tộc người khác nhau trở thành láng giềng ở thời trung đại và đấu tranh với nhau cho đến khi người Việt rốt cuộc đã giành được sự thống trị lên người Thái.” Đó là quá trình hòa nhập của người Thái vào cộng đồng Việt khi nhà nước Việt hình thành!

 

3. Về bài Kinh Dịch và những thông điệp lạc lõng

Để phản bác bài Kinh Dịch là của người Việt của học giả Nguyễn Thiếu Dũng, L. Kelley viết:

“Gần đây có người chuyển tiếp cho tôi một bài báo xuất hiện trên một tờ báo điện tử giật tít “Kinh Dịch là của người Việt”.

Đã có một nỗ lực trong nhiều năm nay trong bộ phận một nhúm người để chứng minh rằng văn bản cổ ấy do người “Việt” sáng tạo ra. Đó là một nỗ lực rất đậm chất dân tộc chủ nghĩa nhằm cố nói lấy được rằng tri thức và văn hoá “Việt” có trước tri thức và văn hoá “Tàu” và rằng Trung Quốc do đó đã vay mượn từ “Việt”, và không có điều ngược lại, như vẫn thường được tin là vậy.

Tôi cần phải đọc nhiều hơn nữa các công trình của Kim Định, nhưng tôi tin rằng nỗ lực nhằm cho thấy “phương Nam” đã sáng tạo ra nền văn hoá mà giờ đây “phương Bắc” ca ngợi đã bắt đầu từ ông ấy (nhưng có lẽ có những ví dụ sớm hơn về tuyến lập luận này chăng?).

Tôi đã băn khoăn từ lâu về cái gì đã thúc đẩy người ta duy trì nỗ lực tạo ra luận điểm này, khi mà hầu hết mọi người không tin vào những gì họ nói. Có phải nó chỉ là chủ nghĩa dân tộc? Liệu lòng tự ái dân tộc chủ nghĩa có thực sự mạnh mẽ đến thế?

Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng kinh ngạc, một người bạn của tôi làm việc cho NASA đã gửi cho tôi một file âm thanh vào sáng nay về một loại thông điệp mà các máy ghi âm không gian của NASA đã thu thập được từ một nơi nào đó bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Bạn tôi nghĩ kiểu âm thanh đó nghe giống tiếng Việt, nên anh ấy gửi cho tôi.

Có một chút khó nghe, nhưng tôi nghĩ họ đang nói…Kinh Dịch là của người Việt!

Không hề đưa ra một chứng cứ hay luận lý nào để phản bác đối phương mà đã quy kết nặng nề họ là dân tộc chủ nghĩa sao tránh khỏi vội vàng và võ đoán?! Việc “hầu hết mọi người không tin” đâu phải là một chứng lý để phủ định? Biết bao điều nhiều người không tin mà có thật! Nhân loại đã từng không tin là Trái đất tròn thì có gì lạ khi nhiều người không tin kinh Dịch là của người Việt! Của đáng tội, cần gì vị giáo sư đại học phải phí sức đẩy một cánh cửa đã mở sẵn?!

Những câu chữ hùng hồn trên chỉ nói lên rằng: giáo sư chẳng biết gì về điều mình nói! Có sự thực mà giáo sư không ngờ là chính học giả Trung Quốc cũng không dám nhận kinh Dịch là của họ.

Trong một bài được in trên "Thế giới những điều chưa biết" (phần lịch sử, khảo cổ), Nhà xuất bản Giang Tô, Trung Quốc, năm 2008. Sau khi dẫn cổ thư “Bào Hy họa quái”, tác giả đưa ra cật vấn: “người ta liền nảy sinh nghi vấn rằng chẳng lẽ một thứ phức tạp như vậy mà lại do một nhân vật trong truyền thuyết là Phục Hy sáng tạo ra?” Phủ nhận Phục Hy, tác giả dẫn ý kiến cho rằng Bát quái có khả năng là do người triều Thương dùng giáp cốt để chiêm bốc, đã suy diễn từ các đường vân nứt do bị cháy trên mai rùa mà thành, đó là sáng tạo vào đời nhà Thương, chứ không phải là do Phục Hy sáng tạo ra vào thời thượng cổ theo truyền thuyết.”

Thấy thuyết này không ổn, thuyết khác được đưa ra: “Còn “Kinh dịch” thì rất có thể là tác phẩm của thời nhà Chu, rất khó hiểu, cho nên Khổng Tử thời Xuân Thu đọc “Dịch”, vi biên tam tuyệt, tức ban đầu đến cả Khổng Tử đọc cũng không hiểu, đọc đi đọc lại, khiến cho dây da trâu buộc thẻ tre bị đứt tới 3 lần. Cuối cùng khi đã đọc hiểu rồi, Khổng Tử đã chỉnh sửa thêm, và như thế, “Kinh dịch” liền trở thành kinh điển của Nho gia.”

Nhưng lại cũng có những người cho rằng, Bát quái và “Kinh dịch” đại diện cho quá trình diễn tiến nhận thức của người Trung Quốc cổ đại đối với các hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội… Mỗi một giai đoạn phát triển đều không thể chỉ là sự sáng tạo phát minh của một người nào đó, mà là một quá trình diễn tiến có sự kế thừa và phát triển trước sau, liên tục không ngừng. Nói họ Phục Hy sáng tạo ra Bát quái kì thực là đã quá đơn giản hóa vấn đề này.”

Bài viết kết luận: “Giải thuyết cuối cùng trong số 3 giải thuyết trên tuy khá hợp lí, nhưng nó đã phủ định giải thuyết “Bào Hy họa quái” đã được lưu truyền từ mấy ngàn năm nay ở Trung Quốc, nên lại rất khó lòng được mọi người tiếp nhận. Rút cục Bát quái là do ai sáng tạo? Khi còn chưa tìm ra được lời giải đáp tốt hơn, thì vẫn đành phải dựa theo lời trong sách xưa mà qui công về cho họ Phục Hy theo truyền thuyết thôi.”(6)

Ở đây người ta vì sợ “khó được lòng” đám đông nên đã hy sinh chân lý! Rõ ràng luận thuyết cuối cùng là hợp lý nhưng bị bỏ qua để rồi mèo vẫn hoàn mèo, mọi chuyện lại trở về điểm xuất phát! Đúng là Phục Hy khôngg thể làm ra Dịch mà đó là công trình của hàng nghìn người diễn ra trong hàng nghìn hàng vạn năm. Nhưng một khi đã thành tựu, thì theo tập quán xưa, công quy vu trưởng, người ta phong tặng sáng kiến của cả cộng đồng cho vị thủ lĩnh tôn kính, cũng như từng quy cho Thần Nông công “giáo dân nghệ ngũ cốc” hay Hoàng Đế làm ra Nội kinh… Nhưng Phục Hy là ai? Sách nói, ông sống khoảng 4800 năm TCN. Thời kỳ này, đất Trung Hoa hoàn toàn là giang sơn của người Việt. Phải 2000 năm sau, với cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, người Hoa Hạ mới ra đời. Đó là lớp con lai của con cháu Phục Hy, Thần Nông với những chiến binh Mông Cổ của Hoàng Đế. Nhận thức ra gốc gác ấy, người Hoa Hạ gọi mình là Viêm Hoàng tử tôn!

Tại Hội thảo quốc tế Dịch học tại Sơn Đông Trung Quốc năm 2011, học giả Việt Nam Trần Ngọc Thêm đã chứng minh rằng triết lý âm dương hình thành từ thực tiễn đời sống nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, hai từ “âm dương” bắt nguồn từ hai từ “mẹ” và “trời” trong các ngôn ngữ Đông Nam Á (ina – yang). Cặp khái niệm “âm dương” với trật tự âm trước dương sau được hình thành trên cơ sở tổng hợp hai cặp khái niệm quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của người trồng lúa nước là “mẹ cha” và “đất trời”. Nó mang đậm nét dấu tích của một truyền thống văn hoá trọng nữ Đông Nam Á, khác hẳn truyền thống trọng nam   Trung Hoa thể hiện qua hai cặp từ “phụ mẫu” và “thiên địa”. ThS. Nguyễn Ngọc Thơ đưa ra hàng loạt biểu hiện của tư tưởng âm dương ngũ hành trong mọi lĩnh vực phong tục, tập quán, truyền thuyết, v.v... của Việt Nam từ xưa đến nay như những minh chứng cho tính nguyên thủy, tính tự phát của tư tưởng âm dương, lưỡng phân lưỡng hợp trong truyền thống văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á.

 

Bình luận về các báo cáo của đoàn Việt Nam, GS. Ngô Di (Viện nghiên cứu Chỉnh thể học California, Mỹ) nhận xét rằng: “Lâu nay giới nghiên cứu Dịch học thường chỉ dựa vào sách vở xưa và các tư liệu khai quật được từ lăng mộ mà bỏ qua quá trình phát triển lịch sử của nó. Chu dịch chắc hẳn phải là kết quả sự đóng góp của cư dân nhiều vùng, là sản phẩm phát triển qua nhiều thời đại. Do vậy việc tìm hiểu nguồn gốc Dịch học phải được mở rộng ra để nhìn từ nhiều góc độ như các học giả Việt Nam đang làm, chứ không phải chỉ giới hạn ở một nơi, bằng một loại chứng cứ quen thuộc.

Tổng kết phiên hội thảo này, GS. Vương Tuấn Long (Viện nghiên cứu tư tưởng truyền thống Trung Quốc thuộc Đại học Sư phạm Thượng Hải) kết luận: Trong báo cáo của mình, GS. Trần Ngọc Thêm đến từ Việt Nam đã cho thấy rằng nguồn gốc của Kinh Dịch không thể tìm trong truyền thuyết mà phải đi tìm trong sự phối hợp giữa điều kiện tự nhiên với bối cảnh lịch sử - xã hội của thực tiễn cuộc sống. Bằng những nghiên cứu tỷ mỷ, với những dẫn chứng rõ ràng, trên cơ sở phân tích tính đặc thù của cuộc sống nông nghiệp lúa nước, tác giả đã chứng minh có sức thuyết phục về nguồn gốc Đông Nam Á của tư tưởng âm dương. Hai báo cáo của các nhàkhoa họcViệt Nam liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, cho thấy kiểu văn hoá âm dương ưu tiên mẹ hơn cha, địa hơn thiên, với một tư duy lưỡng phân lưỡng hợp rất thú vị. Nó rất khác lạ với truyền thống trọng nam Trung Hoa và khái niệm lưỡng nghi vốn rất quen thuộc ở Đông Bắc Á. (7)

Đó là sự thật mới được khám phá, không hề có trong cổ thư. Cố nhiên, L. Kelly không biết!

Đáng trách là ở cuối bài, giáo sư L. Kelley diễn trò đùa nhả! Điều này chứng tỏ tác giả đã không biết gì về người mình tranh biện. Nay vào tuổi 73, ông Nguyễn Thiếu Dũng từng là giảng viên Đại học Huế. Sau 1975 ông ở nhà làm thày lang chữa bệnh, nghiên cứu Đông y, Dịch lý. Ông đã phát hiện biểu tượng Âm là những dấu chấm …. Còn biểu tượng Dương là vạch liền - trên trống đồng. Trung thiên đồ do ông khám phá được nhiều nhà Dịch học Việt Nam ghi nhận, coi như cống hiến mới cho Dịch học. Trong những comments trao đổi giữa ông Dũng và Kelley, tôi thấy lời lẽ của ông nhu thuận chân tình, thực lòng muốn bàn về học thuật nhưng Kelley lại luôn tránh né! Chơi trò bất nhã với học giả đáng kính, tác giả không khỏi mang tiếng là thiếu lễ!

II. Nguyên nhân những sai lầm của L. Kelley

Có thể thấy hai nguyên nhân dẫn tới sai lầm của vị giáo sư Đại học Manoa. Một là bất cập về phương pháp luận. Tác giả đã áp dụng phương pháp luận là chỉ căn cứ vào văn bản. Phương pháp như vậy có thể phù hợp với phương Tây, nơi mà các quốc gia hình thành muộn và các sự kiện lịch sử được ghi chép khá đầy đủ, lại được lưu trữ tốt. Công việc của sử gia là đọc các văn bản rồi đưa ra những ý kiến của mình. Với Việt Nam, phương pháp như vậy chưa đủ. Bởi lẽ, lịch sử Việt Nam quá dài, trong đó có 1000 năm bị nước ngoài thống trị rồi khi giành được nước thì chiến tranh liên miên. Tài liệu lịch sử của Việt Nam không những ít mà còn bị cướp phá, thiêu hủy. Những gì còn sót lại thì nhiều khi đã bị xuyên tạc. Người phương Tây có ngạn ngữ: nửa chiếc bánh mì là bánh mì nhưng nửa sự thật không còn là sự thật! Do vậy, những văn bản hiện có, dù rất quý nhưng cũng không hẳn là sự thật lịch sử. Một khi cho đó là tất cả lịch sử sao tránh khỏi chủ quan, phiến diện? Vì vậy, viết sử Việt Nam rất khó. Đó không chỉ là những trang giấy mà người viết phải hiểu được hồn của sử! Điều này không dễ đối với học giả nước ngoài vốn xa lạ với văn hóa Việt.

Nguyên nhân thứ hai, quan trọng hơn là, cũng như học giả phương Tây khác, L. Kelley mắc phải cái mà tôi gọi là bẫy kiến thức. Cái bẫy này do chính học giả phương Tây dựng lên trong thế kỷ trước. Đó là việc áp đặt cho phương Đông quan niệm Hoa tâm. Xuất phát từ thuyết con người xuất hiện ở Tây Tạng, đi vào Trung Hoa rồi sau đó xuống Đông Nam Á, học giả của Viễn Đông Bác Cổ cho rằng, Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Người Trung Hoa đã sáng tạo văn minh: tiếng nói, chữ viết, kinh Dịch, Nho giáo, Lễ, Nhạc… rồi truyền bá tới các dân tộc “man di” Đông Nam Á. Quan niệm như thế trở thành gông cùm trói buộc học thuật thế giới suốt thế kỷ XX!

Nhưng sang thế kỷ XXI, một sự thật khác được phát lộ: Không phải Hoa tâm mà chính Việt tâm mới là dòng chảy của lịch sử phương Đông! Không phải từ Bắc xuống mà từ Việt Nam, người Việt mang nguồn gen, tiếng nói, công cụ đá mới, cây lúa, cây kê cùng văn hóa nông nghiệp đi lên xây dựng Trung Hoa! Đấy là khám phá làm đảo lộn quan niệm về lịch sử, văn hóa phương Đông. Nhưng do sức ỳ trí tuệ, không đủ khả năng tiếp nhận thông tin mới, nhiều học giả phương Tây, trong đó có L. Kelley, vẫn ngụp lặn trong tư duy cũ!

III. Kết luận

Lịch sử Việt Nam từng bị xuyên tạc bằng tiếng Tàu, tiếng Tây và bây giờ bằng tiếng Mỹ. Đấy là sự thật đắng cay không ai chối cãi được!

Bằng những bài viết của mình, L. Kelley dường như muốn đập phá tan hoang ngôi đền sử học Việt Nam được gầy dựng từ xưa và dầy công vun đắp suốt trong nửa thế kỷ của nuớc Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó cũng là sự phủ định quyết liệt chính những sử gia Việt Nam hiện đại, là tác giả hay đồng tác giả của cuốn sử Việt hôm nay!

Điều không bình thường là vì sao giới sử gia Việt Nam hoàn toàn im tiếng?!

 

Có lẽ, lời đáp sát hợp nhất là họ không thể trả lời! Không thể bởi lẽ cùng đọc chung những cuốn sách mà họ khai thác khía cạnh này, trong khi đối phương khai thác khía cạnh khác, họ không có lý lẽ để phản bác! Xin dẫn chứng: khi Trần Trọng Dương “eureka” “Kinh Dương Vương chỉ là sản phẩm của văn hóa Tàu” thì các nhà khoa bảng đành ngậm tăm, thậm chí có người còn hùa theo nữa! Điều này cũng giống như trước đây, khi thấy một người tuyên bố: “Những từ như Kẻ, Mơ… chẳng hề là tiếng thuần Việt gì ráo trọi mà tất cả 100% Made in China” thì dù rất bức bối nhưng Trần Quốc Vượng chỉ có thể than thở với Cao Xuân Hạo: “Biết ông ta nói bậy nhưng không làm sao phản bác được!” (8) Sở dĩ vậy vì sử gia Việt và L. Kelley cùng đứng trên hệ quy chiếu Hoa tâm, một hệ quy chiếu chỉ cung cấp cái nhìn lịch sử từ 2000 năm trở lại nhưng là bị nhìn lộn ngược!

Tuy nhiên một khi thoát khỏi hệ quy chiếu này, bước sang hệ quy chiếu Việt tâm, mọi chuyện trở nên sáng rõ. Khi giác ngộ điều này, chắc chắn, L. Kelley sẽ thấy, muốn thành nhà Việt học tử tế, phải viết khác trước! Còn học giả Việt Nam sẽ được trang bị vũ khí tuyệt vời để khám phá lịch sử, văn hóa kỳ vĩ của dân tộc. Thứ vũ khí ấy đã có và mỗi ngày được rèn thêm sắc bén. Nhưng vì sao họ không dùng để đến nỗi trở thành kẻ tội đồ khi không bảo vệ được bát hương trên bàn thờ tổ tiên?

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Một là, quá khứ hào hùng của tổ tiên vẫn là… quá khứ, đừng vì thế mà quên mất thực tại là bối cảnh đã khác. Muốn bứt ra khỏi quá khứ, thì tri thức,sự đồng lòng và đặc biệt tinh thần dám làm, dám thay đổi là những thứ chúng ta cần để có thể đứng dậy và tiếp tục bước đi. Tìm lại những gì huy hoàng trong lịch sử là cần thiết nhưng cần hơn cả, đó là những gì có thể mang lại hạnh phúc và yên bình cho nhân dân.

Vietnamnet. Trần văn Tuấn

 

 

Thưa ông Trần Văn Tuấn. Phải chăng hiện tượng về thời kỳ lịch sử Hai Bà Trưng dưới đây, đúng như ông nói vì là "quá khứ hào hùng của tổ tiên vẫn là… quá khứ", nên không cần biết Hai Bà Trưng đánh giặc nào? Tôi không muốn bình luận thêm vì e sẽ đụng chạm với những người thiếu hiểu biết. Nên chỉ đặt vấn đề vậy thôi.

 

Hai Bà Trưng đánh giặc nào?

 

Trước ngày nhập học, cháu gái tôi hầu như không rời mấy cuốn SGK còn thơm mùi giấy mới. Đang đọc say sưa bỗng nó chạy đến bên tôi, chỉ vào bài tập đọc Hai Bà Trưng (Tiếng Việt 3, tập 2, trang 4, 5) nói ông ơi, cháu đọc hoài mà vẫn không hiểu Hai Bà Trưng đánh giặc nào.

 

Biết ngay “mặt mày” kẻ xâm lược nhưng nghĩ con bé đọc lớt phớt nên không nắm được nội dung, tôi chưa vội chia sẻ mà tranh thủ dạy cho cháu cách đọc sách. Rằng phải đọc từ từ cho thấm, kết hợp đọc với suy nghĩ, đừng đọc theo kiểu lấy được, lướt con mắt cho xong… Giờ cháu đọc lại đi. Làm gì có chuyện viết về khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà không nêu đích danh giặc ngoại xâm.

Con bé nhăn mặt nói cháu đọc kỹ lắm rồi, vẫn không biết hai Bà đánh bọn xâm lược nào. Tôi nhổm dậy, cầm quyển sách, giương mục kỉnh lên. Và chợt ngớ ra: Lời con trẻ đúng quá. Bài học tuyệt không một chữ nào vạch mặt chỉ tên kẻ cướp mà toàn những danh từ nhợt nhạt, mập mờ, chung chung: tướng giặc, quân thù, giặc ngoại xâm, kẻ thù, quân xâm lược.

Viết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc (năm 40 - 43) gắn với tên tuổi Hai Bà Trưng lừng lẫy nhưng SGK không hề dám nửa lời chỉ đích danh bọn xâm lược. Thậm chí cụm từ có tính hàm ngôn “phương Bắc” sách cũng không dám đặt sau cụm từ “kẻ thù”.

Vì sao SGK không cho các cháu biết quân giặc nào đã bắt tổ tiên của chúng lên non tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, để phải làm mồi cho hùm beo, thuồng luồng, cá sấu?

Vì sao SGK không cho các cháu biết giặc ngoại xâm nào đã khiến “lòng dân oán hận ngút trời”?

Và vì sao SGK không nói rõ cho các cháu biết Hai Bà Trưng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược nào, chúng từ đâu đến?

Cốt lõi của lịch sử là sự thật. Mỗi dòng lịch sử nước ta đều được viết bằng mồ hôi và máu của nhiều thế hệ. Nên có thể nói mỗi trang sử là một mảnh hồn thiêng sông núi. Không thể chấp nhận bài học lịch sử… nửa vời với cách trình bày ngắc ngứ, lấp lửng, loanh quanh, thiếu minh bạch, nếu không muốn nói là né tránh, bưng bít như thế.

Ở Lạng Sơn từng xảy ra chuyện tấm bia kỷ niệm chiến thắng của bộ đội ta bị đục bỏ những chữ điểm tên chỉ mặt quân thù. Người ta đã đổ thừa cho mưa nắng, cho sức tàn phá của thời gian. Còn với SGK Tiếng Việt 3, người làm sách đổ thừa như thế nào? Người lớn sao lại làm khuất lấp tên tuổi kẻ thù của Hai Bà Trưng để trẻ con phải băn khoăn? Thật khó giáo dục HS niềm tự hào, lòng yêu nước khi SGK đã thiếu công bằng, thiếu trung thực đối với lịch sử.

Trong lúc hy vọng bài học này sẽ được các nhà làm sách trả lại sự phân minh trắng đen sòng phẳng, tôi phải nói ngay trước đôi mắt mở to của cháu tôi rằng bọn giặc xâm lăng nước ta bị Hai Bà Trưng đánh không còn manh giáp chính là giặc Hán (Trung Quốc).

 

Theo Trần Cao Duyên(Thanh Niên)

================================

Thưa "hầu hết những nhà khoa học trong nước" phủ nhận cội nguồn truyền thống Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và quan điểm của các vị vốn được "cộng đồng quốc tế ủng hộ" - Các vị giải thích thế nào về sự kiện này?

 

 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tiết lộ bí mật của những biểu tượng Celtic dưới góc độ chiêm tinh học

 

Các đường nét hoa văn bí ẩn trên các ngôi mộ cổ hay các họa tiết trên các phiến đá đã lôi cuốn trí tưởng tượng của con người trong hàng trăm năm.

 

Trải qua hàng thập kỉ nó vẫn có một sức hút kì lạ, và chiêm tinh học cổ đã tiết lộ điều gì về chúng. ..

Tại Newgrange, vùng Meath, một ngôi mộ được trang trí bởi các bức tường có hình xoắn ốc Celtic

 

mi-newgrange-celtic-symbols-bb-baaacTDmQ
(Ảnh: Photocall Ireland)
Các biểu tượng trang trí này đã có từ thời tiền sử như Newgrange trong Công ty Meath. Tảng đá lớn ở lối vào của Newgrange cũng được bao phủ trong những hoa văn đậm chất nghệ thuật, hay một số nội thất bên trong căn phòng cũng được khắc rất nhiều các biểu tượng Celtic này.

Các nhà khảo cổ không chắc chắn các biểu tượng này có ý nghĩa gì. Một phần của sự không chắc chắn nằm ở bí ẩn mà Newgrange và các cấu trúc khó hiểu của nó đưa tới. Nó đã tạo ra cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu, liệu Newgrange phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo hay chúng là thứ đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng.

 
 
 

 

mi-double-spiral-graphic-bb-baaad4mdtB.j
Các xoắn đôi được xem là biểu tượng của sự cân bằng.

Mặc dù những bí ẩn, ý nghĩa của biểu tượng đã khơi gợi sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu, bao gồm cả nhà nhân chủng học Avia Venefica từ Whatsyoursign.com đã đưa ra những giả thuyết về ý nghĩa đằng sau một số các ký hiệu thông thường.
 
 

Các xoắn ốc đơn khá phổ biến và có thể đại diện cho sự tăng trưởng, sinh sôi hoặc sự mở rộng của ý thức. Các xoắn đôi được xem là biểu tượng của sự cân bằng cũng như một dấu hiệu của các điểm phân cực. Một số đề xuất các hình xoắn ốc tượng trưng cho mặt trời và mặt xoắn ốc đôi thể hiện chuyển động của mặt trời trong suốt cả năm.

 

mi-triple-spiral-graphic-bb-baaadOeQbn.j
Các xoắn ốc ba là biểu tượng của sức mạnh tạo thành một thế kiềng vững chắc.

 

Việc sử dụng các xoắn ốc ba là khá phổ biến trong các biểu tượng Celtic. Các xoắn ốc ba là biểu tượng được sử dụng phổ biến, và sự tham gia của cả ba đường xoắn ốc đã tạo thành một trung tâm với những nhánh tỏa ra thể hiện một sức mạnh đoàn kết.

Một số ý kiến lại cho rằng ba xoắn ốc đại diện cho bà, mẹ và con gái. Hay nó lại thể hiện sức mạnh thống nhất của ba cường quốc khi kết hợp với nhau. Một số người lại cho rằng nó đại diện cho sự cạnh tranh và tiến bộ của con người. Là một bánh xe mặt trời Celtic hay đại diện cho sự thống nhất của các yếu tố của không khí, nước và đất.

mi-oghran-carved-tablets-bb-baaadBrLxJ.j
Các phiến đá dùng làm bảng tính được khắc bằng các ký hiệu Ogham.
 
Những người sáng tạo của trang Tarot.com cũng đã biên soạn một danh sách các dấu hiệu Celtic dựa trên một cấu trúc tương tự như một danh sách các dấu hiệu Zodiac. Các nhân viên đã được thử nghiệm để tìm sự tương quan khi tìm hiểu một loại cây, các màu sắc, hai hoặc ba đồ vật và đá quý cho từng ký hiệu.

Ngoài ra, mỗi dấu hiệu được đưa ra ở một lá thư từ bảng chữ cái Ogham như là công cụ để tạo ra một kịch bản cổ đại sử dụng ở Ireland. Thể hiện bằng cách đánh dấu vết ở hai bên của một đường để viết thành tên cá nhân, lời nhắn hay sử dụng để chỉ giới hạn sở hữu đất đai.

Những biểu tượng này thường xuất hiện trong đồ trang sức, hình vẽ trang trí nhà… và những họa tiết của chúng luôn hấp dẫn tính tò mò của con người.

 

bài viết:
 
==============================
Celtic là những dấu tích về nền văn minh của người Celt (xen - tơ), một nền văn minh còn đầy bí ẩn, một dân tôc hùng mạnh hơn cả Ai Cập, luôn chiến thắng Ai Cập, nhưng cuối cùng thất bại bởi quân Ai Cập và ly hương đến những vùng đất của Châu âu.
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

 Newgrange: (Passage Mound).

Các Newgrange đoạn-gò nằm ở trung tâm của thung lũng Boyne phức tạp.
 
Cấu trúc gồm 280.000 tấn đá sông cuộn, và granite trắng tạo nên bộ mặt bên ngoài được vận chuyển đặc biệt là từ bờ biển, 50 dặm.

Mặc dù Newgrange đã được hiện đại hóa 
'qua con mắt của một người nghiện bảy mươi thiết kế',
 không khí của trang web vẫn còn mở mắt thời tiền sử.

(Sơ đồ nội thất của Newgrange)

(Kế hoạch trên cao của Newgrange)

 

 

Newgrange:

Được bao quanh bởi một vòng tròn đá (12 còn lại từ một ước tính ban đầu 36), với 97 Kerb-đá, một buồng thập nội bộ và mái corbelled, quy mô hoành tráng của trái đất-công trình tại Newgrange làm cho nó một trong những ngoạn mục nhất của di tích thời tiền sử ở tất cả châu Âu.
 
Việc công nhận rằng nó cung cấp một phương tiện chính xác của đo lường năm dương (để
 trong một biên độ của một vài phút), là minh chứng cho tâm thời tiền sử.

Newgrange hiện đang trong sự chăm sóc của Heritage Ireland, và truy cập là bởi tour du lịch hướng dẫn chỉ.

Theo thần thoại Ailen Newgrange là một trong những sidhe, hoặc cổ tích gò, nơi Tuatha De Danann sống.
 
Nó được xây dựng bởi các thần Dagda, nhưng con trai ông Oengus sau đó lừa cậu ra khỏi nó.
 
Nó được đặt tên theo nữ thần Boann, mẹ của Aengus, người cũng được ghi nhận với việc tạo ra các sông Boyne.

Newgrange đã được đài phát thanh-carbon ngày khoảng 3.200 BC (2)

'Ban
 đầu được xây dựng giữa c.
 
3300 và 2900 trước Công nguyên
 
"- Ref: (wikipedia).

 

Các tính năng xây dựng:

Có rất nhiều tính năng xây dựng trong thiết kế của gò đoạn này mà nổi bật trong chuyên môn kỹ thuật của họ.
 
Trong thực tế, những gì chúng ta thấy ở Newgrange, là phản ứng kỳ đồ đá mới với một mong muốn để đo năng lượng mặt trời năm chính xác, và đó là chính xác những gì họ đã đạt được.
 
Mỗi tính năng thiết kế cá nhân trong và xung quanh các đoạn-gò là kết quả của trí tưởng tượng vượt qua nhiệm vụ này awesome.
Chúng tôi đang cung cấp tại Newgrange, một cơ hội để bước vào tâm trí của những người thợ xây cự thạch.

 

Các tính năng xây dựng chính tại Newgrange kết hợp để tạo ra những hiệu ứng mà một con dao găm nhỏ của ánh sáng mặt trời di chuyển dọc theo sàn đoạn vào buồng trung tâm cho chính xác 17 phút mỗi năm.

Các trang web lần đầu tiên được nghiên cứu bởi antiquarians trong thế kỷ 17 và đã có một số nghiên cứu và khai quật từ đó.

Các hình dạng hiện tại của gò -
 
Đã có rất nhiều tranh cãi về việc xây dựng lại cấu trúc, đặc biệt là các bức tường thạch anh trắng trên đầu của khu vực Đông Nam của lề đường, được dựa trên vị trí của các lớp thạch anh trắng được tìm thấy trong cuộc khai quật giữa năm 1962 và năm 1975. Việc xây dựng lại cuối cùng là
 một giải thích cốt từ một trang web hoàn toàn sụp đổ. 
Các hình dạng của mặt trước cũng không được xác thực, nhưng đã cố tình
 trái thụt vào để nhấn mạnh lối vào. 
Càng sẫm vuông đá trong bức tường bao quanh lối vào cũng
 không được xác thực. 
Tương tự như vậy, các lề đường, đá đã được đặt vào các gò đất, và dưới một ngưỡng cụ thể "để bảo vệ họ.
 
Đó là những thay đổi đã được đưa ra cấu trúc các 'hiện đại' cảm thấy nó có ngày hôm nay.

newgrange%20old1.jpg

Newgrange trước khi phục hồi vào thời điểm chuyển giao thế kỷ.

 

 

Gò đất không phải là một vòng tròn hoàn hảo, nhưng được tạo thành từ một loạt các phần của parabol, hỗ trợ sự khẳng định của hình học của giáo sư A. Thom trong thiết kế. Xung quanh gò đất là 12 viên đá đứng mà được tin là đã được thành lập cùng thời gian. Lề đường đá nằm trước đoạn văn có chạm khắc tương tự như từng thấy trên các Orkneys, và khác được tìm thấy tại Bugibba, Malta.

newgrangekerb3.jpg

 

Các đẹp khắc Kerb-đá ở phía trước lối vào đoạn-gò.

(Lưu ý: Các xoắn ốc xoay chiều kim đồng hồ ở phía bên tay trái của đá, và chống chiều kim đồng hồ bên phải).

 

 

Các Kerb-đá - Tất cả các gò trong thung lũng Boyne có lề đường-đá, The Newgrange gò được bao quanh bởi 97 granite 'Kerb-đá, chạm khắc chỉ có thể nhìn thấy trên một vài. Nó đã được chỉ ra rằng những viên đá với hầu hết các hình khắc trên cũng là thiên văn học đáng kể nhất phù hợp, dẫn đến ý kiến cho rằng các hình khắc có một ý nghĩa thiên văn tự.

 

newgrange%20kerbstonerear1.jpg

 

Mặt sau lề đường đá (K52). Một dòng chia nghệ thuật thành hai nửa.

(Bấm vào đây để hình ảnh cá nhân của từng đá lót đường)

 

The Entrance: Các hình ảnh sau đây minh họa sự thay đổi đã được thực hiện kể từ phục hồi.

 

newgrange%20old.jpg

Các lối vào như nó đã vào thời điểm chuyển giao thế kỷ.

 

newgrange%20before%20rest.jpgnewgrange%20before%20rest1911.jpg

 

Lối vào sau khi phục hồi đầu tiên, mà vẫn chưa Disneyfication của năm 1970.

 

 

The Light-box / Roof-box - Trên đoạn lối vào là một 'ánh sáng hộp', mà chính xác thẳng hàng với mặt trời mọc vào ngày đông chí ngày 21 tháng Mười Hai, để các tia chạm đất ở trung tâm của ngôi mộ trong khoảng 20 phút. Nhiều người trong số những viên đá thẳng đứng dọc theo các bức tường của 19m (62ft) đoạn, trong đó sau sự nổi lên của các ngọn đồi, được trang trí lộng lẫy.

 

newgrange8.JPG

 

Ánh sáng-box kết hợp với các tính năng thiết kế khác để ánh sáng được thu hẹp với kết quả là một "con dao găm 'nhỏ của slide ánh sáng dọc theo sàn của các đoạn về phía căn phòng bên trong, nơi nó chiếu sáng nó cho 17 phút một năm.

 

newgrangeroofbox.jpg

 

Có ý kiến ​​cho mái hộp tại các địa điểm khác ở Anh. Có một lúcCarrowkeel ở Ireland, và các hiệu ứng ánh sáng tương tự được ghi nhận tạiBryn-Celli-DDU ở xứ Wales (Để được xác nhận), và Maes-Howe trên Orkneys.

 

Chạm khắc tương tự như những người được tìm thấy trên mặt trước của cây ngang của hộp mái nhà có thể được nhìn thấy ở gò qua việc khác, chẳng hạn như tại Fourknocks  Gavr'inis, (cả hai hướng thiên văn học), trong đó đã khiến một số người cho rằng thiết kế này có thể có có một ý nghĩa (chứ không chỉ là nghệ thuật trừu tượng).

Các đá ở Newgrange dường như có tám thập trên khuôn mặt của mình, nhưng một sơ đồ của hòn đá trước khi tái thiết (dưới đây), cho thấy có thể đã từng là một chéo trên mặt, mà sẽ làm cho tổng số chín cây thập tự, giống như tại Gavr'inis ..

 

newgrangelintel.JPG

newgrangeeastrecesscorbel.jpg

 

Những phiến đá trên có thể được nhìn thấy trong hốc tường phía đông của buồng thập bên trong Newgrange. Nó rất giống kiểu nghệ thuật nhìn thấy trên cây ngang-đá vào Fourknocks.

(Tìm hiểu thêm về ánh sáng hộp)

 

 

newgrangepassage.jpg

 

Bên trong Mound:

Các đoạn dốc lên trên về phía trung tâm của ngôi mộ để các tầng cấp trong buồng là ở cùng độ cao như mức trần tại cửa ra vào, hành lang cũng undulates từ bên này sang bên kia dọc theo chiều dài của nó. Các hiệu ứng kết hợp của hai tính năng này là ánh sáng đi vào đoạn văn được thu hẹp cả theo chiều dọc và chiều ngang thành một chùm hội tụ ánh sáng nhỏ mà chỉ thâm nhập vào buồng nội bộ cho một vài phút trên đông chí.

Những viên đá mà bao gồm đoạn văn đã kênh nhỏ cắt vào chúng trên phía trên khuôn mặt của họ để giữ khô đoạn. Tương tự như vậy, những viên đá mà soạn mái corbelled của buồng đều dốc xuống ở bên ngoài, cũng có đoán được giữ khô buồng. Những tính năng nổi bật các kỹ năng của các nhà xây dựng, và cho vay nặng đến ý tưởng rằng, công trình được xây dựng để sử dụng lâu dài (chứ không phải là một cấu trúc mộ).

 

 

newgrangeroof.jpg

 

Bên trong trung tâm của gò là một buồng corbelled đơn đã được nhập thông qua các đoạn hướng về phía mặt trời mọc vào ngày đông chí. Các kế hoạch nội bộ là trong các hình thức của một chéo (hình chữ thập), và được lót bằng tấm lớn của đá. Buồng chữ thập bên trong gò thước 6.5 x 6.2m (21ft x 17ft 6in), có ba giải lao, và được đứng đầu bởi một mái corbelled tráng lệ đạt đến độ cao 6m (20ft) ở trên sàn. Trong khung trông ba lưu vực lớn đá (tương tự như những người được tìm thấy trong những ngôi đền trên Malta), và đó có lẽ là phục vụ một số sử dụng nghi lễ. Lưu vực trong hốc tường lại bị hỏng một vài trăm năm trước bởi một thợ săn kho báu. (16). Các cuộc khai quật trong buồng trung tâm sản xuất phần còn lại của hai ngôi mộ và ít nhất ba cơ quan hỏa táng cũng như bảy viên bi, bốn mặt dây chuyền, hai hạt, một mảnh đá lửa, một cái đục xương, và các mảnh vỡ của một số chân xương và các điểm.

 

Mộ đoạn thập mô tả một ví dụ phức tạp của đoạn gò thời tiền sử được tìm thấy ở 
Ai-len,
 
Wales
 và 
Orkneys
 và xây dựng từ thời kỳ đồ đá mới sau 
này, 'từ khoảng 3.500 trước Công nguyên và sau đó 
"(1).

Các hình chữ thập của các phòng nội thất là một tính năng thiết kế thời tiền sử phổ biến, ở một vài cấu trúc thời tiền sử từ các trang web khác nhau ở châu Âu Scotland, Pháp và Malta. Điều thú vị là trong một số các địa điểm, lớn vòng 'dâng bát' đã được tìm thấy. (Chẳng hạn như Maes Howe,Orkneys và Tarxien, Malta).

newgrange%20chambers1.gif

 

Chúng được phân biệt bởi một đoạn dài dẫn vào một căn phòng trung tâm với một mái corbelled. Từ đây, các phòng chôn cất kéo dài trong ba hướng, tạo cảm giác tổng thể trong kế hoạch của một hình dạng bố trí chéo.Một số ví dụ có thêm sub-phòng hàng đầu ra khỏi ba phòng ban. Mạng lưới các phòng được bao phủ bởi một mộ đá để kỷ niệm và lót bên ngoài với lề đường-đá.

Một đặc điểm chung là nghệ thuật cự thạch chạm khắc vào đá của bức tường và mái nhà của căn phòng.
 
Thiết kế trừu tượng được ưa chuộng, đặc biệt là xoắn ốc và zig-zags.

Ví dụ như 
Newgrange,
 
Knowth,
 
Dowth
 và 
Fourknocks
 (số nhiều) ở Ireland, 
Maes Howe
 ở Orkney, 'La Hougue Bie' trên Jersey và Barclodiad-y-Gawres ở Anglesey.

(Phòng hình chữ thập và 'bát rảy')

 

Niên đại - Newgrange đã được đài phát thanh-carbon ngày khoảng 3.200 trước Công nguyên:

'Ban đầu được xây dựng giữa c. 3300 và 2900 trước Công nguyên "- Ref: (wikipedia).

Nó được tên hiện đại của nó từ thực tế là do năm 1142, trang web này đã trở thành một phần của Mellifont Abbey trang trại. Các trang trại này đã được biết đến như Granges, và bởi thế kỷ 14 các trang web đã được biết đến chỉ là "New Grange '. Trong thần thoại đầu Ailen, Newgrange không chỉ là nơi chôn cất cáo buộc của các vị vua thời tiền sử củaTara, mà còn là nhà của một cuộc chạy đua của các sinh vật siêu nhiên Ailen, được gọi là 'Tuatha de Danann': người dân của các nữ thần Danu. Newgrange cũng đã được đưa đến là nhà của thần gia trưởng Dagda.

 

Archaeo thiên văn - (Có thể cho rằng toàn bộ các điểm cấu trúc).

Các tính năng thiên văn đáng chú ý nhất của Newgrange là định hướng của việc thông qua hướng mặt trời mọc đông chí. Mặc dù, trong bản thân này không có nghĩa là chiến công của kỹ thuật. Điều đáng kinh ngạc là các nhà thiết kế quản lý để thu hẹp các chùm ánh sáng mặt trời vào hạ chí như một tia sáng nhỏ, và sau đó có nó truyền lên trên dọc theo kênh về phía buồng. Ngoài ra, ánh sáng-box chính nó đã được thiết kế để nâng cao hiệu quả này. Newgrange là chỉ là một phần của một đài quan sát rất lớn đó là 'thung lũng Boyne phức tạp'.

Newgrange được chú ý hướng về phía Fourknocks, vài km.

(Tìm hiểu thêm về Light-hộp)

(Archaeoastronomy trang chủ)

 

Ví dụ về các xoắn ốc-'art 'ở Newgrange - Có một số xoắn ốc ở Newgrange, cả bên trong cấu trúc và ngoài. Có nghĩa là vẫn chỉ đoán tại, nhưng nó đã được đề xuất rằng chúng liên quan đến chu kỳ mặt trời. Đáng chú ý là những vòng xoắn trên lề đường đá trực tiếp ở phía trước của đoạn văn xuất hiện để xoay chiều kim đồng hồ ở phía bên trái và ngược bên phải.

newgrange1.jpg

 

Thông tin đã nổi lên ủng hộ ý kiến cho rằng họ có một ý nghĩa thiên văn. Một nghệ sĩ người Mỹ dường như đã cho thấy mặc dù thí nghiệm, làm thế nào các tia mặt trời, khi chiếu lên một đối tượng và ghi lại tại một thời điểm mỗi ngày trong vòng một năm đầy đủ, tạo ra các hình dạng của một đôi xoắn ốc (Điều gì sau đó là ý nghĩa của đường xoắn ốc ba?).

newgrangespiral2.jpg newgrangeroofslab.jpg newgrangespiral.jpg

 

Có một số bộ xoắn ốc đôi và gấp ba vào khoang và thông qua các gò đất.

 newgrangekerb1.jpg

 

The Spiral-nghệ thuật trên đá nghịch hẳn với lối đá lót đường. Nghệ thuật là gợi nhớ của rock-nghệ thuật tìm thấy tạiMaes Howe trong Orkneys, Malta (Bugibba đặc biệt), và Gavr'inis tại Pháp.

 

https://translate.google.com/translate?hl=vi&sl=en&u=http://www.ancient-wisdom.com/irelandnewgrange.htm&prev=search

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

NỀN VĂN MINH BÍ ẨN: CELT

 

Tôi tạm đưa ra những nhận định sau đây:

 

Nét tương đồng giữa văn minh, văn hóa người Celt và văn minh,văn hóa Việt cổ:
- Di tích khảo cổ đồ đồng. Nhất là nghề rèn, nghề làm đồng rất tinh xảo.
- Mô típ xoáy âm dương Việt.
- Mô típ chấm và chấm vòng tròn đều giống mô típ trên trống đồng Việt.

 

Thiên Đồng

 

12647505_798279020300275_517958669217781

Tranh Đông Hồ của Việt.

 

12631486_798278533633657_749605042377256

Tranh của văn hóa Celt

12647131_798278530300324_710313458578830

 

12631552_798278556966988_350587090086836

 

12548969_798278573633653_808345841078696

 

XOÁY ÂM DƯƠNG TỒN TẠI TRONG VĂN HÓA NGƯỜI CELT

Văn hóa của người Celt là trung tâm của văn hóa Châu Âu.

Quê hương của họ bắt nguồn từ Trung Âu, phía Bắc sông Danube. Từ đây, họ di chuyển đến nhiều vùng của châu Âu (như Pháp, Anh, Tây Ban Nha,...), và cả Thổ Nhĩ Kỳ.

Sử gia Hy Lạp Ephoros của Cyme ở Tiểu Á, đã ghi lại vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên rằng người Celt đến từ các hòn đảo ở bên kia cửa sông Rhine và bị "đuổi khỏi quê nhà họ bởi những cuộc chiến tranh liên miên và sự dữ dội ngày càng tăng của biển ".

1. Người Celt nổi tiếng thông minh, tàn bạo, dũng cảm. Trước khi bị La mã đánh bại họ là đội quân hùng mạnh nhất châu Âu.

2. Người Celt nổi tiếng về kỹ thuật rèn sắt, họ phát minh ra vành bánh xe ngựa sắt. Nhiều kiểu công cụ Celt còn dùng tới ngày nay như cưa tay, cái đục, cái giũa và những dụng cụ khác. Họ còn đóng góp cho văn minh nhân loại những loại công cụ như lưỡi cày sắt, cối xay bột quay, máy gặt quay, móng ngựa. Họ dùng xà phòng trước người Hi Lạp và La mã.

3. Lễ hội Halloween ngày nay có liên quan đến người Celt.

 

12524189_797203750407802_106978833209560

 

12642716_797203810407796_436245954527280

Ba vòng xoáy âm dương trên đá.

12512541_797203780407799_591779068039867

 

12541036_797203757074468_281953329160464

 

12552890_797203820407795_240231274303496

Gương đồng của người Celt

5 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hay lắm. Những phát hiện rất tuyệt vời với những chứng lý không thể chối cãi về một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ - mà người Việt là nền văn minh duy nhất có được nội dung đích thực với tư cách là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương.

Cảm ơn Thiên Đồng nha.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT VÀ ÁO CÀI VẠT BÊN TRÁI

Trên những di vật khảo cổ của Nhật Bản.

Cập nhật 37 phút trước
 
Trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" khi viết về đồ hình Âm Dương Việt, tôi dẫn chứng đồ hình này có ở khắp nơi trong các nền văn minh thế giới cổ đại. Riêng về Nhật Bản, tôi chỉ trưng dẫn được một hình duy nhất, vì thiếu tư liệu. Bởi vậy, nó có vẻ như khiên cưỡng....Nhưng chân lý bản chất nó không phụ thuộc vào những yếu tố trực quan có tính hiện tượng, mà nó phụ thuộc vào hệ thống luận cứ phản ánh chân lý đó, được mô tả như thế nào. Tất nhiên, khi những luận cứ đó đã xác định và mô tả đúng chân lý, thì những sự kiện xuất hiện sau đó phải ngày càng chứng tỏ hệ thống luận cứ đó đúng, chứ không có tính phản bác. Và những sự kiện sau đây đã chứng tỏ điều này.

https://www.facebook.com/thiensu.lacviet/media_set?set=a.1048248225222203.1073742079.100001111066256&type=3&pnref=story

Share this post


Link to post
Share on other sites

13072920_1059061964140449_45839602636333

Quý vị và anh chị em xem thấy hình Âm Dương Lạc Việt trên chiếc bình của Ai Cập cổ đại.

6 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Giải mã bí ẩn trên sa mạc Nazca từ vũ trụ
Thứ ba, 19/04/2016, 19:04 (GMT+7)
 

(Xã hội) - Nhờ sử dụng các ảnh chụp vệ tinh có độ phân giải cao, các nhà khảo cổ học rốt cuộc đã giải mã được một bí ẩn liên quan đến người cổ xưa ở vùng sa mạc Nazca nổi tiếng của Peru.

 

Đoán mệnh qua ngày sinh – Đúng đến khó tin

 

20160419115109-nasca.jpg

Cận cảnh một hố puquios hình xoắn ốc dị thường ở sa mạc Nasca, miền nam Peru. Ảnh: Shutterstock

 

Bí ẩn bao trùm hàng loạt hố xoắn ốc, được xây dựng cẩn thận và ăn sâu xuống lòng đất ở vùng sa mạc Nasca, miền nam Peru. Những cấu trúc có hình dạng dị thường này được gọi là puquios.

Giới nghiên cứu không thể xác định được niên đại của các puquios thông qua các kỹ thuật định tuổi bằng cácbon truyền thống. Hơn thế nữa, người Nasca không để lại bất kỳ bằng chứng nào hé lộ thời điểm xây dựng chúng. Vì vậy, các nhà khảo cổ học đã mất nhiều thế kỷ để tìm hiểu về mục đích xây dựng các puquios, nhưng đều thất bại.

Hiện, chuyên gia Rosa Lasaponarac đến từ Viện phương pháp luận phân tích môi trường ở Italia dường như đã tìm được câu trả lời cho bí ẩn hóc búa trên nhờ nghiên cứu các hình ảnh chụp puquios từ bên ngoài không gian. Theo BBC, kết quả nghiên cứu đã hé lộ cách hệ thống đường hầm và hang hốc được tạo ra ở Nasca như thế nào.

Nhà nghiên cứu Lasaponarac tin rằng, mục đích chính của các puquios là giúp các cộng đồng dân cư sống sót ở một khu vực liên tục bị hạn hán tấn công. Về cơ bản, chúng được dùng như một hệ thống lưu trữ, rút lấy nước từ các tầng ngậm nước dưới mặt đất.

Bà Lasaponara giải thích: “Có một điều hiển nhiên là, hệ thống puquios trước đây chắc chắn phải phát triển hơn nhiều so với hiện trạng của nó ngày nay. Khai thác một nguồn cung cấp nước vô tận khắp cả năm như hệ thống puquios đã góp phần tạo nên một nền nông nghiệp chuyên sâu ở các thung lũng thuộc một trong những nơi khô hạn nhất thế giới”.

Bà Lasaponara nói thêm rằng, người Nasca chắc chắn đã phải sử dụng “công nghệ chuyên dụng” để xây dựng hệ thống puquios. Các hố hình xoắn ốc phát huy tác dụng bằng cách dẫn gió thổi vào các kênh dưới lòng đất và gió sau đó buộc nước từ các hồ chứa ngầm chảy tới nơi cần nó. Bất kỳ lượng nước còn dư nào sau đó được trữ trong các bể trên bề mặt. Việc xây dựng hệ thống puquios này tốt đến mức một số hố hiện vẫn còn phát huy tác dụng.

Xây dựng được các puquios tiêu chuẩn cao như trên chắc chắn đòi hỏi sự hiểu biết toàn diện về địa chất cũng như các biến đổi về nguồn cung cấp nước hàng năm của khu vực. Điều thực sự gây ấn tượng là những nỗ lực, sự tổ chức và hợp tác quy mô lớn để có thể xây dựng và duy trì được hệ thống này.

(Theo Vietnamnet)

===============================

Trên đây là câu chuyện ở Peru. Còn các bạn xem hình dưới đây về chiếc đĩa cổ ở Tây Tạng, có niên đại khoảng 10.000 - 12.000 năm tuổi. Các bạn sẽ thấy chúng hoàn toàn giống nhau:

 

Dropa_2.jpg
Nhiều giả thuyết cho rằng đĩa cổ Dropa kể về câu chuyện thảm khốc của những người ngoài hành tinh xấu số.Nguồn http://khoahoc.tv

 

20160419115109-nasca.jpg

 

Di sản khảo cổ tìm thấy ở Peru thì các nhà khoa học nhất trí là do con người tạo ra để chống hạn hán, còn cái đĩa cổ Tây Tạng thì cũng các nhà khoa học lại cho rằng nó thuộc người ngoài hành tinh mô tả về họ và nó là cái....đĩa bay.

http://khoahoc.tv/dia-da-co-dropa-bang-chung-ve-nguoi...
Sự kiện này đã một lần nữa xác định rằng: Đã có một nền văn minh toàn cầu tồn tại trên trái Đất này. Và sự trùng hợp các biểu tượng ở những khoảng cách rất xa nhau trên thế giới đã cho thấy phải có một nền văn minh nhất quán đã tạo ra những biểu tượng đặc trưng cho nó. Và biểu tượng này tập trung nhiều nhất trong di sản văn hóa truyền thống của nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương tử. Nền văn minh cổ xưa này đã bị sụp đổ và họ đã biết đến những bí ẩn của vũ trụ, mà nền văn minh hiện đại mới chỉ mon men ở bên ngoài cổng
.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

ĐẠO GIÁO VÀ VIỆT SỬ

Nguồn Fb Thien Sư Lạc Việt

Thưa tất cả các nhà nghiên cứu Kinh Dịch Việt Nam và trên thế giới thân mến.
Thưa tất cả các bạn và anh chị em bạn bè của tôi trên Fb và các thành viên diễn đàn.
Dưới đây là một linh phù trấn trạch trong Đạo Giáo của Đông phương . Các bạn sẽ thấy rõ đồ hình Bát quái trong hình chính là đồ hình Hậu Thiên bát quái Lạc Việt. Tất nhiên, linh phù này đã có từ rất lâu và lưu truyền trong dân gian và hoàn toàn độc lập với mọi tư duy của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh khi chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt với đồ hình nổi tiếng Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
Đây chính là một di sản còn lại trong Đạo Giáo - có nguồn gốc văn hiến Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương - chứng minh một cách sắc sảo Kinh Dịch chính thống thuộc về nền văn hiến Việt.

 
11075147_604060836360225_467547838455743
 
So sánh với hình hậu thiên Lạc Việt theo luận điểm của Nguyễn Vũ Tuấn Anh (đổi chỗ Tốn - Khôn)
hauthienviet2_zpsqtsigoho.jpg
Còn đây là một hình ảnh khác trong Đạo Giáo  mô tả một vị đạo sĩ đang cầm sớ tấu trình lên cõi trên trong nghi thức của Đạo Giáo. Vị đạo sĩ trong hình mặc áo cài Vạt bên trái. Đây chính là y phục cổ xưa của Việt tộc mà tôi đã chứng minh. Điều này một lần nữa xác định luận điểm của tôi đã chứng minh rằng: Đạo Giáo chính là của Việt tộc với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương tử và chính là cội nguồn của nền văn minh Đông phương. Và vị giáo chủ chính là Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong truyền thuyết về thời Hùng Vương.
Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị và anh chị em.
Nguồn Fb https://www.facebook.com/daogiaovn/?pnref=story
11800629_650383511727957_859858079957702

4 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites