Thiên Sứ

Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương

119 bài viết trong chủ đề này

13343134_10201834958951571_3863802114461

Dbinh Nguyen Chùa Cầu Hội An, Quảng Nam.

 

 

13422303_1016789111723655_25142274380761

Và âm dương Việt trên nghê cổ gác đền Đuổm- Thái nguyên. Chỉ tiếc là việc phục dựng lại cái đuôi quá xấu.

Ảnh Hoàng Triều Hải.

13445436_1016786365057263_12212473583909

Đồ hình Âm dương Việt trên tranh thờ Cô Chín đền Sòng, Thanh Hoá.

Ảnh Hoàng Triều Hải.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Di chỉ văn hóa Lương Chử là kinh đô nước Xích Quỷ?

Hà Văn Thùy

Posted on February 27, 2015

27-2-2015 (Văn hóa học) — Trong tất cả những nền văn hóa tiền sử được phát hiện trên đất Trung Hoa, văn hóa Lương Chử có vai trò đặc biệt quan trọng. Là nền văn hóa có diện tích bao phủ lớn nhất, với lượng hiện vật lớn và tiến bộ nhất, với ký tự vào loại sớm nhất được phát hiện và đặc biệt là tòa thành lớn, được xây dựng vững chắc nhất… Lương Chử là di tích của kinh đô nhà nước cổ đại đầu tiên ở phương Đông. Do vậy, đó là nền văn hóa góp phần quyết định soi sáng lịch sử phương Đông.

Trong bài này, cùng với việc giới thiệu những nét tiêu biểu của văn hóa Lương Chử, người viết lần đầu tiên đưa ra nhận định về vai trò của nó trong lịch sử.

 

I. Giới thiệu văn hóa Lương Chử (1)

Văn hóa Liangzhu được phát hiện năm 1936 tại trấn Lương Chử, huyện Dư, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, là nền văn hóa khảo cổ Hậu kỳ Đá Mới, tồn tại từ 3300 tới 2200 năm TCN, do văn hóa Mã Gia Bang và văn hóa Tung Trạch phát triển lên.

Văn hóa Liangzhu phân bố chủ yếu ở Thái Hồ, thuộc lưu vực sông Dương Tử, nơi người Việt cổ định cư, bao gồm Dư Hàng Liangzhu, Nam Gia Hưng, Đông Thượng Hải, Tô Châu, Thường Châu, Nam Kinh. Di chỉ còn được mở rộng ra phía tây đến An Huy, Giang Tây, phía bắc tới bắc Giang Tô, lan tỏa tới gần Sơn  Đông. Văn hóa Lương Chử còn ảnh hưởng tới phía nam Sơn Tây. Vào thời điểm đó, sức mạnh của Liangzhu chiếm một nửa Hoa lục, nếu trình độ kinh tế và văn hóa không cao, thì không thể thực hiện được.

Văn hóa ngọc Lương Chử đại diện cho làn sóng thứ hai của nền văn hóa ngọc bích thời tiền sử phương Đông (làn sóng đầu tiên là văn hóa ngọc Hồng Sơn, lưu vực sông Lao Hà, vùng Nội Mông). Ngọc bích có tông, việt, hoàng (ngọc bán nguyệt), ngọc hình vương miện, ngọc hình đinh ba, vòng tay, ngọc hình ống, Amanda, mặt dây chuyền, ngọc hình trụ, hình nón, nhẫn ngọc. Ngọc thờ cúng (tông, bi, rìu) được đề cao, sau này được các vương triều Trung Nguyên thừa kế.

Công cụ bằng đá khai quật ở Liangzhu có đá hình lưỡi liềm, đầu mũi tên, dáo, rìu đục lỗ, dao đục lỗ, đặc biệt là cày đá và dụng cụ nhổ cỏ được sử dụng, cho thấy nông nghiệp bước vào giai đoạn dùng cày. Đồ gốm đánh bóng màu đen là đặc điểm của gốm Lương Chử.Trên gốm và ngọc bích xuất hiện một số lượng lớn các ký tự đơn hoặc nhóm mang chức năng văn bản, các học giả gọi là “văn bản gốc.” “Văn bản gốc” cho thấy giai đoạn bắt đầu trưởng thành của ký tự tượng hình. Ký tự là dấu hiệu quan trọng của xã hội văn minh (2).

Di tích thành phố cổ Liangzhu có thể được gọi là “thành phố phương Đông đầu tiên”, là cái nôi của nền văn minh Trung Hoa, “bình minh của nền văn minh” phương Đông, là thánh địa của văn minh phương Đông, được xếp vào “Danh sách Di sản thế giới”

Thành phố cổ ở phía bắc và phía nam thuộc về một nhánh của dẫy Thiên Mục Sơn. Các bức tường thành được dựng ở phía tây nam và đông bắc, vì vậy các chuyên gia kết luận rằng người xưa xây dựng thành phố về mặt địa lý một cách cẩn thận và có quy hoạch.

Thành phố cổ có bức thành theo hướng đông tây dài 1.500-1.700 m, chiều Bắc-Nam khoảng 1.800-1.900 mét, hình chữ nhật hơi tròn. Một số phần của bức thành còn lại cao 4 mét, mặt cắt 40 mét bề mặt, đáy 60 mét (so sánh với bức tường thành phố cổ Tây An được xây dựng trong những năm Hồng Vũ nhà Minh, chân thành 18 mét mặt rộng 15 m) bằng đất hoàng thổ nguyên chất, đưa từ nơi khác tới, được đầm nén kỹ. Thành phía tây dài khoảng 1000 m, có mặt cắt từ 40 đến 60 mét, phía nam liền với Phượng Sơn, bắc tiếp Đông Thiều Hoát. Tiếp theo, bức tường phía nam, bức tường phía bắc và bức tường phía đông, ở dưới đáy đều có móng bằng đá, cùng khối lượng lớn hoàng thổ được đầm nén. So với bức tường phía tây, ba mặt kia của bức tường tương đối phức tạp hơn: rất nhiều nền đá được khai quật, những bức tường đá bên ngoài tương đối lớn, bên trong nhỏ hơn. Thành đắp bằng hoàng thổ, đôi khi thêm một lớp đất sét màu đen, tăng khả năng chống thấm. Các nhà khảo cổ cho rằng những dấu vết còn lại chứng tỏ bức thành phía tây được xây dựng đầu tiên, cho đến khi có kinh nghiệm xây dựng ba bức thành kia.

Từ vị trí, sự bố trí và đặc điểm cấu trúc của thành cổ Liangzhu được phát hiện, các chuyên gia tin rằng có những cung điện, nhà vua và giới quý tộc sống, chính là kinh đô của thời kỳ Liangzhu. Các nhà khảo cổ tin rằng thành phố cổ đó thực sự là “nhà nước Liangzhu cổ đại.” Việc phát hiện thành phố cổ Liangzhu khiến cho một số người nghĩ rằng thứ thế các triều đại của Trung Quốc nên được viết lại: hiện nay các triều đại Hạ, Thương, Chu được coi là sớm nhất, nhưng vai trò này cần được trả cho Liangzhu!

Năm 1986-1987, di chỉ Phản Sơn Liangzhu được phát hiện. 11 ngôi mộ lớn được khai quật, thu hơn 1200 miếng gốm, đá, ngà voi và ngọc khảm sơn mài. Trong những năm gần đây, di chỉ văn hóa Liangzhu được tìm thấy tăng từ 40 lên đến 135 địa điểm, với những làng, nghĩa trang, bàn thờ và các di tích khác. Một số lượng lớn vật tùy táng được khai quật từ các ngôi mộ, chiếm hơn 90% là ngọc bích, một biểu tượng của sự giàu có và quyền thế. Ngọc rìu là một biểu tượng của sức mạnh quân sự và cung cấp thông tin có giá trị. Đây là bộ sưu tập ngọc lớn nhất thế giới được tái xác định, đặt tên, vì vậy đã đính chính sự nhầm lẫn lúc đầu cho là thuộc thời Hán Vũ đế (thực sự là ngọc Liangzhu) đẩy lịch sử về phía trước 2000 năm.

Năm 1994 cũng tìm thấy các cơ sở xây dựng siêu khổng lồ, có diện tích hơn 300.000 m2, xác nhận sự bồi đắp nhân tạo của hoàng thổ, dày tới 10,2 mét, kỹ thuật và quy mô rộng lớn của nó vào loại hiếm trên thế giới.

Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy giai đoạn văn hóa Liangzhu, nông nghiệp đã bắt đầu tiến vào thời kỳ cày đất, thủ công mỹ nghệ trở nên chuyên nghiệp hơn, công nghiệp chế tác ngọc đặc biệt phát triển. Việc xuất hiện lượng lớn ngọc bích thờ cúng đã mở ra khúc dạo đầu nghi thức xã hội, sự phân biệt giữa lăng mộ lớn của quý tộc và mộ dân thường cho thấy sự gia tăng của phân tầng xã hội. Ý nghĩa của sự phân biệt giàu nghèo cho thấy là thông qua một số loại quyền lực xã hội đè lên xã hội gia tộc mà hình thành. Công trình xây dựng số lượng lớn các ngôi mộ lớn đòi hỏi một mức độ nhất định trật tự xã hội được đảm bảo, nếu không khó có thể thực hiện. Việc xây dựng một xã hội có sự khác biệt tầng lớp tạo ra được liên kết chặt chẽ. Có thể nói, trong giai đoạn văn hóa Liangzhu, gia tộc và bộ tộc đã nổi lên với các nhà lãnh đạo chính quyền tập trung, một số lượng lớn sức lao động được tổ chức, hình thành một cấu trúc xã hội quy mô lớn.

Sự tồn tại của quyền lực xã hội cũng được phản ánh đầy đủ trong sản xuất ngọc bích. Chế tác ngọc là một quá trình lao động nhiều bước phức tạp, do đó, ngọc bích là một sản phẩm thủ công mỹ nghệ chuyên nghiệp. Các đồ trang trí thủ công đẹp nhất, cho biết mỗi miếng ngọc bích thể hiện rất nhiều thành quả lao động, với trình độ cao. Điều này chứng tỏ sự phân công giữa lao động trí óc và chân tay đã hình thành.

luongchu01.jpg?w=594

 

Trong văn hóa ngọc Liangzhu có một mô hình rất bí ẩn liên tục xuất hiện, một motipe đặc biệt khốc liệt của chiến trận, không thể không gợi nhớ tới chiến binh Si Vưu. Si Vưu là lịch sử cổ xưa của Đông Nam man huyền thoại, chiến đấu và chiến thắng lặp đi lặp lại, tôn kính như vị thần chiến tranh. Văn hóa rìu đá Liangzhu phát triển cao, cho thấy rằng người Liangzhu có vũ khí tinh nhuệ và dũng mãnh trong chiến trận.

Sau khi Si Vưu bị vương triều Hoàng Đế đánh bại, văn hóa Liangzhu bước vào thời kỳ suy thoái. Truyền thuyết nói một vài bộ lạc liên minh với Si Vưu gồm nhóm Đông Di, Sơn Đông và các bộ lạc sống trong lưu vực sông Dương Tử. Tù trưởng bộ tộc Si Vưu có một liên minh bộ lạc lớn được gọi là Cửu Lê, phạm vi của nó bao gồm tất cả các nền văn hóa Liangzhu bản địa, người Lê Liangzhu mạnh mẽ nên đứng đầu Cửu Lê. Trong Cửu Lê có một chi gọi là Vũ nhân hoặc Vũ dân. Họ suy tôn chim, thú, làm tổ tiên, và do đức tin đó, thờ phượng chim, thú. Theo mô hình bí ẩn trên nền văn hóa ngọc bích Liangzhu, con chim con thú, là vật tổ của người Liangzhu. Vì vậy, rất có thể người Liangzhu là Vũ nhân hoặc Vũ dân.

Trong các di chỉ lớn của nền văn minh tiền sử phương Đông, thì Liangzhu lớn nhất, mức phát triển cao nhất. Các nhà khảo cổ ngày 29-11-2007 tại Hàng Châu, thông báo rằng 5000 năm trước, thành phố cổ diện tích hơn 2.900.000 m2 đã được tìm thấy trong vùng lõi của di tích Liangzhu. Giáo sư Đại học Bắc Kinh Nghiêm Văn Minh và các nhà khảo cổ khác chỉ ra rằng đây là các di chỉ thành phố giai đoạn văn hóa Liangzhu lần đầu tiên được phát hiện ở khu vực sông Dương Tử, có thể được gọi là “thành phố phương Đông đầu tiên.” Thành phố cổ Liangzhu cho thấy nền văn hóa Liangzhu 5.000 năm trước đã bước vào một giai đoạn phát triển trưởng thành của nền văn minh thời tiền sử. Nằm trong lãnh thổ Dư huyện, “nhóm di chỉ Liangzhu” là trung tâm văn hóa Liangzhu. Ban Di sản Quốc gia cho biết: nhóm di sản Liangzhu sẽ trở thành đền thờ năm ngàn năm của nền văn minh Trung Quốc.

 

luongchu02.jpg?w=906 luongchu03.jpg?w=906

II. Khảo cổ soi sáng lịch sử

 Từ những tri thức hiện có cho phép đưa ra nhận định sau:

Cho tới 5000 năm trước, trên lục địa Đông Á, người Việt cổ đã xây dựng nền nông nghiệp phát triển. Do cày được đưa vào trồng trọt nên năng suất lao động tăng, lương thực dư thừa, kích thích hoạt động thủ công và thương mại. Một mạng lưới buôn bán ngọc bằng đường biển hình thành, đưa ngọc được khai thác từ các mỏ ở Đài Loan tới các quốc gia quanh Biển Đông.

Do phải chung tay trị thủy hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử nên các bộ tộc nông nghiệp phải liên minh với nhau và nhà nước cổ đại hình thành từ rất sớm. Thời kỳ này các tộc du mục ở bờ bắc Hoàng Hà và phía tây tăng cường cướp phá khu vực dân cư nông nghiệp trù phú. Do yêu cầu chống xâm lăng nên sự liên minh giữa các bộ lạc người Việt, cùng huyết thống, cùng tiếng nói và văn hóa trở nên chặt chẽ hơn.

Có thể lúc này hai nhà nước cổ ra đời: phía tây là nhà nước Ba Thục gồm vùng đất Ba Thục phía tây Trung Quốc và Thái Lan, Miền Điện do vị vua thần Can Công lãnh đạo. Ở phần còn lại của Hoa lục, cùng với Đông Dương là nhà nước do Thần Nông trị vì. Vương quốc của Thần Nông rất rộng lớn, gồm lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo tiến trình Bắc tiến của người Việt, lưu vực sông Dương Tử điều kiện tự nhiên thuận lợi và được khai thác sớm nên có sự phát triển trước, trở thành trung tâm lớn mạnh về kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự. Do vị trí đặc biệt của nó nên vùng Lương Chử của Thái Hồ trở thành kinh đô của các vương triều Thần Nông.

Khoảng năm 4879, Đế Minh, hậu duệ của Thần Nông chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi cai quản lưu vực Hoàng Hà và Kinh Dương Vương cai quản lưu vực Dương Tử. Như trong truyền thuyết, Kinh Dương vương lập nước Xích Quỷ, địa giới phía bắc tới nam Dương Tử, phía đông là Biển Đông, phía Tây giáp Ba Thục và phía nam tới miền Trung Việt Nam.

Trong thời kỳ này, các bộ lạc du mục phía bắc tăng cường cướp phá phía nam Hoàng Hà. Tình thế này buộc nhà nước của Đế Nghi và Kinh Dương Vương và sau này là Đế Lai và Lạc Long Quân tăng cường vũ trang và liên minh với nhau chống giặc.

Khoảng năm 4698, liên quân của các bộ lạc Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở cuốc tấn công lớn vào Trác Lộc bờ nam Hoàng Hà. Liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân chống trả ngoan cường nhưng rồi thất bại. Đế Lai tử trận.

Một kịch bản tôi từng đề xuất là, sau thất bại này, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Nghệ An. Tại đây ông được người địa phương đón tiếp, sau đó tôn con trưởng của ông lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lập kinh đô ở Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang. Dựa vào địa giới trùng nhau của Văn Lang và Xích Quỷ, có thể cho rằng, đây là việc dời đô và đổi quốc hiệu của triều đình Lạc Long Quân. Tại kinh đô Việt Trì, các triều đình của Hùng Vương tiếp tục lãnh đạo dân Văn Lang-Xích Quỷ xây dựng đất nước và chi viện cuộc kháng chiến trường kỳ của người dân lưu vực Hoàng Hà. Khoảng năm 4300, do cuộc xâm lăng của vương triều Hoàng Đế, nhà nước Hùng Vương không còn quản lý được vùng đất này, kinh đô Lương Chử bị bỏ phế. Văn hóa Lương Chử suy vong…

Trên đây là sự đoán định của tôi về quá trình hình thành và tan rã của nhà nước đầu tiên ở phương Đông mà kinh đô là Lương Chử. Sự đoán định dựa trên cơ sở sau:

1. Về thời điểm: văn hóa Lương Chử nảy sinh, suy đồi trùng với thời gian truyền thuyết về việc xuất hiện vua Thần Nông rồi Đế Minh chia đất, phong vương cho Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Tiếp đó và việc hình thành nhà nước Văn Lang.

2. Về địa giới: văn hóa Lương Chử phân bố rộng trong địa giới của nhà nước Xích Qủy huyền thoại.

3. Truyền thuyết về nhà nước Xích Quỷ rất phổ biến trong các tộc người phương Đông. Điều này cho thấy, chỉ duy nhất nhà nước Xich Quỷ từng xuất hiện nơi đây trong quá khứ.

4. Hình trong ngọc Lương Chử thường khắc “thần nhân thú diện 神人獸面” để tôn thờ mà ngày nay các nhà nghiên cứu nghĩ rằng đây là Viêm Đế hoặc Si Vưu v v… Cái mà người ta gọi là ” thú diện” thì đây chính là gương mặt của con rồng, từ thời Tần, Hán cho đến ngày nay người ta vẫn vẽ gương mặt của con rồng như vậy. Đây chính là dấu ấn “con Rồng cháu tiên” như truyền thuyết của người Việt. Học giả Trung Quốc gọi dân cư Lương Chử là “Vũ nhân hay Vũ dân.” Do bàng cùng thuộc về chim nên có thể hiểu người dân thờ chim này nhận mình là Hồng Bàng, như trong truyền thuyết về họ Hồng Bàng.

5. Dân cư Lương Chử là hai chủng người Việt cổ Indonesian và Melanesian. Đó cũng chính là hai chủng người Việt từ 40.000 năm trước đi lên khai phá Trung Hoa, đã mang công cụ đá mới Hòa Bình lên, rồi sáng tạo đồ gốm đầu tiên và cây lúa đầu tiên ở di chỉ Động Người Tiên phía Nam Dương Tử.

6. Qua nhiều ký tự được khắc trên ngọc Lương Chử cho thấy, vào thời Lương Chử, chữ của người Việt đã trưởng thành. Chữ Lương Chử thô sơ hơn Giáp Cốt văn Ân Khư và có trình độ tương đương với chữ khắc trên đá Cảm Tang, cho thấy, có sự thống nhất về văn hóa rộng lớn trong quốc gia Xích Quỷ ở phía nam Dương Tử. Chữ Lương Chử, Cảm Tang là tiền bối của Giáp Cốt văn Ân Khư.

7. Trong tài liệu Về Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh, bác sĩ Trần Đại Sĩ ghi cuộc điều tra điền dã của ông như sau:

“Thiên-đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang…

Tại thư viện Hồ-nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi: “Thiên-đài di sự lục. Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.” Trinh-quán là niên hiệu của vua Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sĩ năm nào ?

Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh-Văn, phần chép tiếp theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772).

Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên-đài núi cũng mang tên Thiên-đài sơn. Minh-Văn còn kể thêm :

« Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Dương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sa. Khi rút tới Quế-dương ông cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đây ».(5)

Tài liệu này là chứng cứ cho thấy truyền thuyết Đế Minh tuần thú phương Nam, tới núi Thiên Đài lập đàn tế cáo trời đất xuất hiện từ xa xưa và phổ biến ở vùng Giang Nam. Đó cũng là thêm bằng chứng về việc ra đời nước Xích Quỷ.

8. Thục Thư trong Tam Quốc Chí viết rằng, Hứa Tịnh là người phía bắc, tỵ nạn xuống miền nam, sau này làm quan viết sử cho Lưu Bị, lên tới chức Tư đồ (司徒). Trước trận Xích Bích, Tào Tháo sai người do thám hậu phương của Lưu Bị và Tôn Quyền. Vì nể tình quen biết với người của Tào Tháo đã cậy nhờ nên Hứa Tịnh viết thư vắn tắt cho Tào Tháo biết rằng: Ông đã đi từ Hội Kế (Cối Kê – Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán.

[许靖给曹操的信说:从会稽“南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地” – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.]

Bốn chữ bất kiến Hán địa (不见汉地 ) của Hứa Tịnh chứng tỏ rằng: Phía nam, dù đã nằm trong quốc gia Hán mấy trăm năm nhưng không phải là đất Hán mà thực tế vẫn là Việt! Đến cuối thời Hán, vùng Giang Nam vẫn là đất Việt thì hàng nghìn năm trước đây đã là đất Việt.

Có thể kể thêm những điều nói lên sự tương đồng giữa vương quốc Lương Chử và nhà nước Xích Quỷ nhưng theo tôi, với những chuyện xảy ra 4000 – 5000 năm trước, có được chứng cứ như vậy đã là quá đủ!

III. Kết luận

Dù không ít hoài nghi. Dù bị sử gia triều Nguyễn cho là “ma trâu thần rắn” hoang đường. Dù bị coi là “sản phẩm của văn hóa Tàu”… thì từ bao đời nay, Hồng Bàng thị truyện vẫn như ngọn hải đăng tỏa ánh sáng và sức nóng, vừa chỉ đường, vừa tiếp sức cho dân tộc Việt trong cuộc gian truân bơi ngược dòng lịch sử tìm lại cội nguồn. Đến nay, rất may mắn, trí tuệ nhân loại giúp ta tìm được những bằng chứng vững chắc xác định hơn 5000 năm trước, nước Xích Quỷ là một thực thể tồn tại với bề rộng mênh mông, khối dân cư đông đảo,  sức mạnh kinh tế lớn lao cùng nền văn hóa rực rỡ. Không chỉ kiến trúc thành trì đồ sộ, chế tác số lượng lớn đồ ngọc tinh xảo mà chữ viết đã trưởng thành. Phát hiện ra kinh đô Lương Chử để từ đó khẳng định Xích Quỷ – Văn Lang là nhà nước có thật từng tồn tại trong quá khứ là khám phá trọng đại nhất của tộc Việt. Hy vọng rằng, từ đây người Việt sẽ nhìn lại mình để sống xứng đáng với tổ tiên.

                                                             Sài Gòn 20-10-2014
Hà Văn Thùy

Tài liệu tham khảo:

1. 良渚文化_互动百科 – www.baike.com/wiki/良渚文化

2. Liangzhu culture – http://en.wikipedia.org/wiki/Liangzhu_culture

3. 良渚文化甲骨文

4. 良渚文化玉器 – https://www.google.com.vn/search?q=%E8%89%AF%E6%B8%9A%E6%96%87%E5%8C%96%E7%8E%89%E5%99%A8&;biw=693&bih=572&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=eL9FVO-rJYStmAXijoLoBQ&ved=0CCUQ7Ak

5. Trần Đại Sĩ. Về Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh. – http://www.vietnamvanhien.net/NuiNguLinh.pdf

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG VIỆT Ở NEW ZEALAND

Nguôn Fb Hoàng Triều Hải

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Sự phát hiện ra ngày càng nhiều bằng chứng về sự tồn tại của đồ hình Âm Dương Việt ở khắp mọi nền văn hóa cổ đại đã chứng tỏ một chân lý: Đã có một nền văn minh toàn cầu tồn tại trên trái đất này - thể hiện ở đồ hình Âm Dương Lạc Việt - và tập trung nhiều nhất ở nền văn hiến Việt - cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương. Đồng thời những di sản này của nền văn hiến Việt lại được xác định nội dung của nó chính là toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã từng là một học thuyết bao trùm lên nền văn minh này với dấu ấn còn lại trên khắp thế giới.

Sự phát hiện ngày càng nhiều những di sản mang dấu ấn đồ hình Âm Dương Lạc Việt, đã xác định một cách chắc chắn cho chân lý Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương và đó chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước.

 

13450211_1022917454444154_91268663572948

 

13528726_1022918831110683_42191011301745

Chú thích của Hoàng Triều Hải - Phó giám đốc thường trực của TTNC LHDP:

Vũ khí này tên là wanhaika của người Maori , thổ dân New zealand. Chiếc này chạm khắc bằng tay từ thế kỷ thứ 18 và có điều gì đó rất hay, có ai nhận ra không nhỉ

Share this post


Link to post
Share on other sites

TƯ LIỆU THAM KHẢO

Nguồn Fb.

Nguyễn Lực Có rất nhiều mà thầy! Những về đạo Mẫu(theo bác Lãn Miên: Mẹ Âu = Mẫu mà Âu Cơ lại là con Đế Lai) con đọc được đều có liên quan tới địa danh Động Đình Hồ. Như đền Đồng Bằng mà ai biết đạo Mẫu cũng biết thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình("Dưới thoải phủ giang hà ngoại hải.Chốn Động Đình Bát Hải Long Vương" theo con hiểu chính là Long Vương Lạc Long Quân - Cha Rồng). Lời chầu văn trong đạo Mẫu đề cập đến Động Đình rất nhiều. Ông Hoàng Bơ là con thứ 3 đức Vua cha với những lời văn da diết về Động Đình, ví dụ:"Động Đình Hồ, nước bạc, long lanh.Xôn xao sóng vỗ, thác ghềnh trăng soi"...Từ khi con tìm hiểu sử Việt, đọc những bài của thầy, tìm hiểu trên mạng,... con thấy ít ra lịch sử về dân tộc theo truyền thuyết, đạo Mẫu và Âm dương ngũ hành có sự gắn bó mật thiết(cách bài trí, thờ cúng trong đạo Mẫu)dường như đều tuân theo ADNH), đều nói lên rằng ADNH do người Bách Việt sở hữu, cương thổ của dân Bách Việt bắc giáp Động Đình Hồ.

 

Share this post


Link to post
Share on other sites
HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT TRÊN ĐÁ CỔ 10. 000 NĂM Ở IRELAND
NGUỒN Fb HOÀNG TRIỆU HẢI

Đây là viên đá cổ thuộc kỳ đồ đá mới Neolithic 10200 năm BC và kết thúc khoảng 4500BC được tìm thấy ở Knowth- Ireland, được gọi là viên đá mặt trăng . Trên viên đá màu là cách tính lịch mặt trăng được tính chính xác và chi tiết về viên đá này sẽ được viết trên diễn đàn lý học đông phương. Lại là đồ hình Âm Dương Việt xuất hiện và có lẽ là di chỉ cổ xưa nhất được phát hiện tới thời điểm này.

 

13438915_1030191050383461_25021962586395
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites
Kính thưa quý vị và anh chị em.
Trong cuốn "Minh triết Việt và văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức 2014) cùng với nhiều cuốn sách đã xuất bản, Thiên Sứ tôi đã xác định:
"Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về một nền văn minh toàn cầu đã từng tồn tại trên thế giới này, trước lịch sử nền văn minh của chúng ta và chính là Lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm".
Một trong những dấu ấn tuyệt vời chứng minh điều này, chính là đồ hình Âm Dương Lạc Việt. Đồ hình này là biểu tượng minh triết tuyệt vời mô tả sự vận hành của vũ trụ và cũng là biểu tượng của cả một hệ thống học thuyết Âm Dương Ngũ hành được chứng minh có cội nguồn văn hiến Việt.
Chính những di vật khảo cổ có từ hàng chục ngàn năm BC, ghi dấu ấn của biểu tượng Âm Dương Lạc Việt được phát hiện ngày càng nhiều từ các nền văn minh cổ trên thế giới đã cho thấy rằng:
Đã có một nền văn minh toàn cầu trên thế giới này, chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, qua biểu tượng đặc trưng của nó xuất hiện ở khắp các nền văn minh cổ trên thế giới và tập trung dày đặc ở những di sản văn hóa truyền thống Việt, cho đến tận ngày hôm nay. Điều này đã xác định một  sắc sảo và hòan toàn đầy đủ những chứng lý khoa học - cho dù khái niệm khoa học được định nghĩa dưới bất cứ hình thức nào, chứng minh cho chân lý này.
 
Một hệ thống lý thuyết thống nhất huyền vĩ nằm ngoài mơ ước của cả một nền văn minh, không thể ra đời vào thời đại đồ đá mông muội trong lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện đại. Cho nên nó phải xuất hiện vào một nền văn minh khác đã từng tồn tại trên trái đất này. Những di vật khảo cổ, ghi lại biểu tượng Âm Dương Lạc Việt trên khắp các nền văn minh cổ xưa trên Địa cầu đã chứng minh điều đó.
Thưa quý vị và anh chị em.
Tôi không tin rằng cả một lịch sử phát triển của nền văn minh hiện đại, với bao nhiêu công sức, tri não và cả xương máu với những sự hy sinh của những nhà  khoa học để đạt được những thành tựu khoa học có được như ngày hôm nay - Mà con người lại có thể bỏ qua cả một kho tàng tri thức huyền vĩ của người xưa để lại một cách ngu xuẩn như vậy.
Phát hiện dưới đây của Hoàng Triều Hải - Phó giám đốc thường trực của TTNC LHDP đã góp phần sắc xảo cho luận điểm này.

Con Cá Vettersfelde hay là witaszkowo ( một thành phố tại Ba lan) nơi con cá được tìm thấy. Đây là con cá được làm khoảng 500 năm trước cong nguyên do người Scythians (gốc iran) chế tạo từ vàng nguyen chất.
Lại một lần nữa, đồ hình âm dương Việt được thể hiện.
Đồ hình âm dương Việt mô tả sự vận động của Vũ trụ và gọi là Â D Việt để phan biệt với đồ hình âm dương Tàu . Đồ hình này chắc chắn thuộc về một nền văn minh đã bị hủy diệt và người Việt cổ là người nắm giữ bí ẩn của thuyết ADNH , not Chinese !

13590423_1030845366984696_88717225108110

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites
 

Trang trí trên bộ giáp của lính Roman tìm thấy tại leicester- Anh quốc , được xác định vào niên đại thế kỉ 2-4 sau CN. Một đồ hình biểu kiến xuyên thời gian!

13615234_1032158633520036_62358178339945

 

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

HÌNH ÂM DƯƠNG LẠC VIỆT TRONG NỀN VĂN MINH MAYA

Cần phải khẳng định một cách chắc chắn rằng: Tất cả những nền văn minh cổ đại được phát hiện trên thế giới này, hầu hết đều ghi dấu ấn biểu tượng Âm Dương Lạc Việt. Sự kiện này, cùng với những dấu ấn khác - như các kim tự tháp có mặt ở khắp nơi trên thế giới, các thành phố cổ có cấu trúc đá tìm thấy ở nhiều nơi, kể cả dưới đáy đại dương... - đã khẳng định một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ từng tồn tại trên trái Đất này. Đây chính là nền văn minh chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành - Mà Việt tộc với lịch sử gần 5000 năm văn hiến đã lưu giữ được trong nền văn hóa truyền thống của mình. Và chỉ có Việt tộc - nền văn minh đã lưu giữ những giá trị của học thuyết này - mới đủ khả năng phục hồi lại một cách hoàn chỉnh.
Thưa các bạn.
Một hệ thống lý thuyết vượt trội - bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong mọi không gian và thời gian lịch sử của vũ trụ - tất nhiên nó không thể ra đời vào thời mông muội với những bộ lạc và những người dân "ở trần đóng khố". Do đó, nó phải ra đời trong một nền văn minh đã phát triển rực rỡ và vượt xa nền văn minh hiện đại đầy tự hào của chúng ta hiện nay. Những dấu ấn còn lại từ các nền văn minh cổ xưa đã chứng tỏ điều này.
Chia sẻ với các bạn tư liệu từ Hoàng Triều Hải, như một minh chứng nữa vào những luận cứ của tôi.

Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

13619939_1042955205773712_19213977438708

Nguồn Fb Hoàng Triều Hải.

 
39 phút gần Ba Lang, Thanh Hóa, Việt Nam ·
 
Cổ vật từ nền văn minh maya cổ đại tìm thấy tại Ecuador. Lại là đồ hình âm dương Việt xuất hiện từ nền văn minh cổ nhân của nhân loại .
1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Di Chỉ Tam Tinh Đôi Khiến Lịch Sử Trung Quốc Phải Viết Lại

Tác giả: April Holloway, www.ancient-origins.net |

Dịch giả: Nhóm biên tập Việt Nguyên

15 Tháng Tám , 2014
 
4 / 4
 

Vũ Trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Tùy bạn quyết định!

 

Tại một ngôi làng vắng vẻ mang tên Tam Tinh Đôi, một góc thanh bình của tỉnh Tứ Xuyên ở Trung Quốc, đã có một khám phá nổi bật, ngay lập tức thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế và khiến lịch sử nền văn minh Trung Quốc phải được viết lại. Hai di chỉ tế thần khổng lồ đã được khai quật, trong đó có chứa hàng ngàn hiện vật bằng vàng, đồng, ngọc, ngà voi và đồ gốm có hình thức khác thường và không giống với bất cứ thứ gì từng được tìm thấy ở Trung Quốc trước đó. Các nhà khảo cổ chợt nhận ra rằng họ vừa mở ra cánh cửa đến với một nền văn hóa cổ xưa có niên đại trong khoảng 3.000 đến 5.000 năm trước.

Vào mùa xuân năm 1929, một người nông dân khi đào giếng đã phát hiện ra nơi cất giấu rất nhiều các cổ vật làm bằng ngọc. Đây là manh mối đầu tiên đưa đến khám phá về một triều đại cổ xưa bí ẩn. Nhiều thế hệ các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tìm kiếm khu vực này nhưng vô vọng, cho đến năm 1986, các công nhân đã vô tình tìm thấy các di chỉ này, nơi chứa hàng ngàn đồ vật đã bị vỡ, bị đốt cháy và sau đó được chôn cất cẩn thận.

shutterstock_235985771.jpg

Quảng cáo

Hình ảnh: Một bức tượng đồng 3.000 năm tuổi được tìm thấy tại làng Tam Tinh Đôi, Trung Quốc. (Shutterstock)

Việc phát hiện ra các hiện vật mở ra một thế giới đầy lý thú. Các cổ vật được tìm thấy trong các di chỉ tế thần này bao gồm các tác phẩm điêu khắc hình mặt động vật và các mặt nạ có tai rồng, há miệng và nhe răng; các hình đầu người với mặt nạ bằng vàng lá; các hình động vật trang trí bao gồm hình rồng, rắn, và các loài chim; một cây quyền trượng khổng lồ, một bàn thờ tế thần, một cây bằng đồng cao 4 mét (13 feet); rìu, các bảng khắc, nhẫn, dao và hàng trăm vật phẩm độc đáo khác. Trong số các cổ vật này, có tượng người đứng thẳng bằng đồng được bảo tồn tốt nhất và lớn nhất thế giới, có kích thước 2,62 mét (8 feet).

Tuy nhiên, cho đến nay những phát hiện nổi bật nhất là hàng chục mặt nạ và tượng đầu người lớn, bằng đồng, được trang trí với các đặc điểm đôi mắt hình quả hạnh được phóng đại, chiếc mũi thẳng, khuôn mặt vuông, và đôi tai rất lớn, những đặc điểm không hề giống người dân Châu Á.

Bằng phương pháp carbon phóng xạ, các hiện vật được xác định là có niên đại  trong khoảng thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 11 trước Công nguyên. Chúng đã được tạo ra bằng cách sử dụng công nghệ đúc đồng khá tiên tiến, công nghệ này kết hợp giữa đồng và thiếc, tạo ra một hợp chất chắc hơn, có thể tạo nên các vật thể lớn hơn và nặng hơn nhiều, chẳng hạn như bức tượng to bằng người thật và cái cây có chiều cao 4 mét (13 feet).

shutterstock_2182041111.jpg

Hình ảnh:  Một bức tượng đồng 3.000 năm tuổi được tìm thấy tại làng Tam Tinh Đôi, Trung Quốc. (Shutterstock)

Một số mặt nạ có kích thước rất lớn – một trong số đó có kích thước đáng kinh ngạc với chiều rộng 1,32 mét (4,33 feet) và chiều cao 0,72 mét (2,36 feet), đây là chiếc mặt nạ bằng đồng lớn nhất từng được tìm thấy. Ba chiếc mặt nạ lớn nhất này có các chi tiết mang nhiều tính siêu nhiên nhất trong số  tất cả các hiện vật tại Tam Tinh Đôi, với đôi tai như động vật, con ngươi khổng lồ nhô ra, hay có thêm một cái thân được trang trí rất công phu.

Các nhà nghiên cứu đã rất sửng sốt khi tìm thấy một phong cách nghệ thuật hoàn toàn chưa từng được biết đến trong lịch sử nghệ thuật Trung Quốc – nơi được coi là cội nguồn của lịch sử và các hiện vật thuộc nền văn minh sông Hoàng Hà.

Khám phá ngoạn mục ở Tam Tinh Đôi năm 1986 đã khiến Tứ Xuyên trở thành trung tâm nghiên cứu về Trung Quốc cổ đại. Các di vật khảo cổ được tìm thấy trong hai di chỉ được xác định là thuộc triều đại Thương, vào cuối thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, khi xã hội văn minh ban đầu được phát triển mạnh mẽ ở thung lũng sông Hoàng Hà, phía bắc Trung Quốc, cách tỉnh Tứ Xuyên hàng ngàn dặm. Không có phát hiện nào tương tự ở bất cứ nơi nào khác, và cũng không có chỉ dẫn nào tại di chỉ Tam Tinh Đôi làm sáng tỏ về nền văn hóa nơi này, đây rõ ràng là một nền văn minh đồ đồng đặc biệt, không được ghi chép trong các văn bản lịch sử và chưa từng được biết đến. Phát hiện này góp phần làm thay đổi cơ bản, chuyển từ quan niệm truyền thống về một trung tâm văn minh duy nhất ở phía bắc Trung Quốc, sang việc ghi nhận sự tồn tại của nhiều nền văn minh truyền thống trong khu vực, trong đó Tứ Xuyên rõ ràng là một trong những nơi dễ nhận thấy nhất.

Nền văn hóa đã làm nên các hiện vật này hiện nay được gọi là nền Văn hóa Tam Tinh Đôi, và các nhà khảo cổ coi nó thuộc về vương quốc cổ đại của thời nhà Thục, và liên hệ các hiện vật được tìm thấy tại di chỉ này với các vị hoàng đế truyền thuyết thuở ban sơ. Rất hiếm có các tư liệu về đáng tin cậy về nhà Thục (được ghi chép trong Thư Kinh và Sử Ký là đồng minh với nhà Chu trong cuộc chiến lật đổ nhà Thương), nhưng truyền thuyết về các vị hoàng đế huyền thoại có thể được tìm thấy trong các biên niên sử địa phương.

Theo biên niên sử của Hoa Dương được biên soạn vào triều đại nhà Kim (265-420 sau Công nguyên), triều nhà Thục được thành lập bởi Tàm Tùng. Tàm Tùng được mô tả là có đôi mắt lồi, một đặc điểm được tìm thấy trong các hình tượng ở Tam Tinh Đôi. Những vị hoàng đế khác được đề cập trong biên niên sử của Hoa Dương bao gồm Bác Quán, Ngư Phù và Đỗ Vũ. Nhiều trong số các vật thể là hình cá và chim, và những vật này cho thấy đó là các biểu tượng của Bác Quán và Ngư Phù (tên Ngư Phù thực ra có nghĩa là chim cốc cá).

shutterstock_235985741.jpg

Ảnh: Một bức tượng đồng 3.000 năm tuổi được tìm thấy tại làng Tam Tinh Đôi, Trung Quốc. (Shutterstock)

Từng là một đô thị lớn, trải rộng khoảng ba cây số vuông (1,8 dặm vuông), Tam Tinh Đôi đã có nền nông nghiệp rất phát triển, có khả năng sản xuất rượu, công nghệ làm gốm sứ và các công cụ hiến tế, khai thác khoáng sản. Theo các phát hiện khảo cổ học, Tam Tinh Đôi đột nhiên bị bỏ hoang vào khoảng năm 1.000 trước Công nguyên. Vì những lý do chưa được biết đến, thời kỳ hoàng kim của văn hóa Tam Tinh Đôi đã đột ngột kết thúc.

Các vật tế thần được cho là các đồ vật mà người dân Thục cổ đại dâng lên Thiên, Địa, núi, sông, và các vị thần khác. Những hình tượng giống người, các mặt nạ động vật với đôi mắt lồi và mặt nạ động vật bằng đồng có thể là các vị thần được người Thục tôn thờ.

Ông Ao Tianzhao thuộc Bảo tàng Tam Tinh Đôi, người đã nghiên cứu văn hóa Tam Tinh Đôi trong suốt nửa thế kỷ cho biết: “Qua việc xem xét nhiều hình tượng con người và các vật thể dùng cho tang lễ, có thể thấy, triều đại Tam Tinh Đôi cổ xưa đã thống nhất và cai trị thông qua tôn giáo nguyên thủy. Họ tôn thờ thiên nhiên, vật tổ và tổ tiên của họ. Dường như, Triều đại Thục cổ đại đã thường xuyên tổ chức các hoạt động tế thần lớn để thu hút các nhóm tôn giáo khác nhau từ khắp nơi xa gần đến thờ cúng”. Ông tin rằng số lượng lớn các hiện vật bằng đồng ở Tam Tinh Đôi cho thấy rằng di chỉ này từng là một thánh địa của những người hành hương.

Kể từ khi được phát hiện, các hiện vật đã giành được sự quan tâm và chú ý rất lớn của cộng đồng quốc tế. Chúng đã được trưng bày tại các viện bảo tàng nổi tiếng thế giới như Bảo tàng Anh, Bảo tàng Cung điện Quốc gia Đài Bắc, Triển lãm Nghệ thuật Quốc gia (Washington), Bảo tàng Guggenheim (New York), Bảo tàng Nghệ thuật Châu Á (San Francisco), Triển lãm Nghệ thuật New South Wales (Sydney ) và Bảo tàng Olympic ở Lausanne (Thụy Sĩ). Một số hiện vật được lựa chọn đang trên đường tới Bảo tàng the Bowers tại Santa Ana, California, nơi sẽ diễn ra triển lãm ‘Nền văn minh bị thất lạc của Trung Quốc: Bí ẩn Tam Tinh Đôi’, được tổ chức từ ngày 19/10/2014 đến ngày 15/3/2015.

Việc phát hiện ra Tam Tinh Đôi đã làm chấn động thế giới, nhưng lai lịch của các hiện vật vẫn còn là một bí ẩn. Chỉ có nội dung trên hai di chỉ phản ánh nền văn minh thượng cổ rực rỡ của Triều đại Thục – kể từ đó chưa có hiện vật nào giống như vậy được tìm thấy. Không có ghi chép lịch sử hay văn bản cổ đại nào nói về các di vật này, điều này khiến các chuyên gia không khỏi băn khoăn về mục đích của các hiện vật này là gì, nền văn hóa này bắt nguồn từ đâu, và họ đã đi đâu sau khi chôn cất kho báu quý giá của mình. Nền văn minh Tam Tinh Đôi là một trang sử độc đáo trong lịch sử lâu dài của Trung Quốc và tới nay nó vẫn còn là một bí ẩn.

Đăng lại với sự cho phép của Ancient-Origins.net.

Share this post


Link to post
Share on other sites

E4775CR-d1.jpg

Thưa quý vị.

Đây là chiếc mũ được tìm thấy vào thời nhà Liêu - Thế kỷ X - XI BC. Hình Âm Dương Lạc Việt hiện rõ trên đỉnh mũ với tư cách là một  dấu ấn của quyền lực tỏa sáng.

http://www.mfa.org/collections/object/headdress-decorated-with-two-dragons-confronting-a-flaming-jewel-19217

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hy vọng rằng quý vị và các bạn sẽ không coi những mô hình Âm Dương Lạc Việt tồn tại và ghi dấu ấn ở khắp nơi trên thế giới là một hiện tượng ngẫu nhiên trùng hợp. Khi những biểu tượng này được thực hiện ở những vị trí quan trọng của những vật thể mang theo nó.

 

86-14.jpg

Hùng Nguyễn Cốc, điêu khắc, thời kỳ Archaic - Hy Lạp. Thế kỷ 6 TCN.

http://www.mfa.org/collections/object/cup-sculptural-154307

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thiên Địa Nhân đã thêm 3 ảnh mới.

Một đất nước Bhutan xa xôi với Việt Nam, gần như tách bạch với xh văn minh ồn ào, nhưng tại sao Quốc huy và Quốc hiệu lại có Rồng và lưỡng nghi của người Việt. Lạ thật

 

13876306_159021414523861_431116815357453

 

13886418_159021421190527_786126919270193

 

Nguồn Fb Thiên Địa Nhân.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites


ƯỚC MƠ CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ.

Nguồn Fb Thiên Sứ

 



Tranh Tam Đa và Thất đồng thuộc dòng tranh dân gian Hàng Trống. Đây là loại tranh Cát tường, mô tả những ước mơ của người Việt cổ. Sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, nó bị Hán hóa và ghép cho có nguồn gốc của Trung Quốc. Nhưng dấu ấn Lạc Việt vẫn ghi đậm trong nội dung bức tranh này. Đó chính là tính minh triết của Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt  - được thể hiện trong nội dung của nó.

 

13876442_1025082560939765_76263065608950

 

THẤT ĐỒNG

 



Trong bức tranh thứ nhất Thất Đồng - mô tả bẩy chú bé đang hái đào với nhiều động tác khác nhau. Tại sao lại 7 chú bé để thành chính tên gọi của bức tranh?



Đây chính là độ số 7 của hành Hỏa và của cung Ly Hỏa trên Hà Đồ - nhân danh nền văn hiến Việt (Sách Tàu Ly Hỏa độ số 9 trên Lạc Thư). Hỏa khí thuộc phương Nam và là nguyên cớ của hình tượng bảy chú bé xuất hiện trong bức tranh.



Những nhà nghiên cứu Dịch học đều biết rằng Ly Hỏa phương Nam là biểu tượng cho văn hóa, giáo dục, Nên được biểu tượng bằng 7 đứa trẻ (Độ số của Hỏa) đang tìm tới những giá trị mơ ước của nó (Tri thức, giáo dục)...vv....

 

13906662_1025082580939763_45934781853378



 

TAM ĐA

 

Bức tranh thứ hai: Tam Đa. Bức tranh mô tả ba ông già, gồm một ông quan (Ông Lộc), biểu tượng của danh vọng và tài lộc. Một ông thanh phú - chứ không phải trọc phú, được thể hiện qua chiếc áo màu xanh (Nhà giàu, áo xanh/ Thanh) bế đứa trẻ, biểu tưởng của phúc đức trong đời người (Ông Phúc). Và cuối cùng là ông Thọ tay luôn cầm trái đào, biểu hiện sự trường tồn.



Phía trên ba ông này là hai kiều nữ theo hầu. Trong bức tranh này còn có hình tượng của 5 đưa trẻ, tất cả đều là con trai.



Đây chính là một biểu tượng khác của một quẻ mô tả chu kỳ phát triển của cuộc sống và sự phú túc trong xã hội và con người: Đó chính là quẻ Địa Thiên Thái, và trong Dịch học, còn mô tả là Tam Dương khai thái.



Trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" tôi đã chứng minh người Trung Quốc chẳng hiểu gì về ý nghĩa của "Tam Dương khai thái", khi họ mô tả bằng 3 con dê. Thật vô cùng ngớ ngẩn, khi chỉ thể hiện một cách máy móc sự đống âm của con Dê - Dương - với Tam Dương khai thái. Cứ theo cách hiểu của nền văn minh Hán thì người nuôi cả đàn dê chắc phải "thái" nhiều lắm. Híc.



Nhưng ở bức tranh Phúc Lộc Thọ này của dòng tranh Hàng Trống, chúng ta thấy rất rõ Tam Dương được mô tả bằng ba ông già. Đây chính là hình tượng đắc cách của Tam Dương. Hình tượng hai cô gái phía trên chính là hình tượng của quái Khôn (Âm/ Địa/ Đất) có độ số 2 trên Hà Đồ - và cùng với tam Dương chính là sự mô tả hoàn hảo của quẻ "Địa Thiên Thái".



Vậy còn 5 đứa trẻ đồng Nam có vai trò gì trong bức tranh đầy minh triết này?



Độ số 5 chính là độ số Dương 5 của Trung cung Hà Đồ. Nên biểu tượng bằng 5 đồng Nam (Dương) và mô tả sự bắt đầu trong chu kỳ sinh vương mộ, bằng hình tượng 5 đứa đồng nhi. Trong Hà Đồ ở Trung cung còn có độ số Âm 10. Nhưng ước mơ thuộc trạng thái tinh thần, thuộc Dương nên lấy số 5 Dương và mô tả bằng 5 đồng nhi Nam.



Toàn bộ bức tranh cho thấy Phúc Lộc Thọ và Địa Thiên Thái là sự thể hiện một cách nhân bản toàn bộ - trung tâm - mơ ước của con người trong đời sống xã hội. Một ước mơ được mô tả một cách trân trọng đầy nhân bản qua bức tranh này.



PS: Anh chị em Địa Lý phong thủy Lạc Việt cao cấp thân mến. Trong những bài giảng về "yếu tố tương tác thứ V", tôi đã nói về tính trấn yểm và kích hoạt khí trong tranh dân gian Việt Nam. Bức tranh Phúc Lộc Thọ nên treo ở phòng khách. Bức tranh Thất đồng nên treo ở phòng ngủ vợ chồng, phòng học con cái. Nhưng tôi cũng lưu ý rằng: Mọi vật thể trấn yểm, kích hoạt chỉ phát huy tác dụng, nếu phong thủy đã chuẩn. Những doanh nghiệp muốn chứng tỏ sự đồng cảm và phục vụ khách hàng cũng nên treo tranh Phúc Lộc Thọ này ở phòng tiếp tân.



Xin cảm ơn vì đã chia sẻ.

 


8 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thưa quý vị và anh chị em quan tâm.

Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử, là một chân lý đã được chứng minh ngay trong sách "MInh triết Việt trong văn minh Đông phương"và nhiều bài viết sách đã được xuất bản của tôi. Chân lý ngày càng sáng tỏ khí chính những học giả Trung Quốc cũng phải thừa nhận khi học phát hiện ra những bằng chứng khách quan không thể chối cãi.

Bài viết dưới đây thêm một bằng chứng sắc sảo nữa xác định chân lý này.

Cảm ơn quý vị và anh chị em quan tâm.

===================

NGỌC HÌNH RỒNG Ở DI CHỈ VĂN HÓA HỒNG SƠN TRUNG QUỐC CÓ GỐC TỪ LẠC VIỆT ?

-FANZUNG-

 

Ngọc hình rồng ở di chỉ văn hóa Hồng Sơn Trung Quốc có gốc từ Lạc Việt ?

Published 16/02/2013 | By admin

 

Dẫn nhập:

Nghi án về việc người Việt “thấy người sang bắt quàng làm họ”, đã nhận bừa là dòng dõi vua Thần Nông[1], là “con rồng cháu tiên”, và “ăn cắp” hình tượng con “long” của nền văn hóa Trung Hoa về làm con “rồng” trong tiếng Việt là điều mà người viết băn khoăn lâu nay. Về cứ liệu ngôn ngữ, nhà ngôn ngữ học đương đại nổi tiếng William H. Baxter (người Mỹ) đã phục nguyên âm Hán thượng cổ của chữ Long 龍/龙 là b-rjoŋ, còn nhà ngôn ngữ học Trung Quốc là Trịnh Trương Thượng Phương phục nguyên b·roŋ…  tức là khá gần âm “rồng” của người Việt, chỉ cần đọc lướt tiền âm tiết theo xu hướng đơn tiết hóa của tiếng Việt là thành “rồng”. Như thế rõ ràng chính người  Hán đã “đọc trại” âm r- thời thượng cổ ra l-,  chứ không phải dân Việt học chữ “long” của người Hán trong thời Bắc Thuộc rồi đọc trại ra “rồng”, chính âm “rồng” của tiếng Việt hiện nay mới gần âm thượng cổ của chữ  Long  龍/龙 hơn là tiếng Hán hiện đại. Tuy nhiên dầu sao đó cũng chỉ là cứ liệu ngôn ngữ, còn cần thêm các cứ liệu khảo cổ, phân tích di truyền nhiễm sắc thể ADN v.v. để xác minh, và đây là cứ liệu khảo cổ:

 

Cuối năm trước (2012, nghĩa là vừa mới trước Tết Quý Tỵ), trang Lạc Việt Văn Hóa (http://www.luoyue.net) của Trung Quốc vừa đưa lên một thông tin giật gân, phát biểu nguyên văn như sau:
红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙

“Hồng Sơn văn hóa ngọc trư long chi tổ: Cổ Lạc Việt ngọc trư long” (Tổ của ngọc trư long của văn hóa Hồng Sơn : là ngọc trư long Lạc Việt)

Văn hóa Hồng Sơn có niên đại hơn 5000 năm trước ở vùng Hồng Sơn, phía tây tỉnh Liêu Ninh, nằm ở thành phố Xích Phong, Nội Mông Cổ, núi ở khu vực này có màu đỏ nên được gọi là Hồng Sơn. Ngày nay, giới khảo cổ lấy vùng chu vi 200.000 kilomet vuông với Hồng Sơn làm trung tâm gọi chung là khu vực Văn hóa Hồng Sơn. Hiện vật khảo cổ đặc trưng nhất của nền văn hóa này là ngọc trư long tức là ngọc có đầu hình lợn, thân hình rắn, và ngọc rồng hình chữ C, một số tác giả cho đây chính là xuất phát của biểu tượng con rồng trong nền văn minh phương Đông. Lưu ý rằng ngọc rồng hình chữ C đã được Ngân hàng Hoa Hạ của Trung quốc lấy làm biểu tượng (xem: http://www.hxb.com.cn/chinese/images/logo.gif).

Xem chi tiết các hiện vật khảo cổ ngọc trư long Lạc Việt ở trang : http://www.luoyue.net/show.aspx?tid=1148 , tiếc là trang này chỉ đưa lên các hình ảnh hiện vật cùng cái tiêu đề “giật gân” ở trên mà không thấy thảo luận hay thông tin gì cả:

image002.jpg

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙.  Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 image004.jpg

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙 . Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

image006.jpg

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙. Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 image008.jpg

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙. Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

 image010.jpg

 

红山文化玉猪龙之祖:古骆越玉猪龙.

Tổ của ngọc trư long văn hóa Hồng Sơn : ngọc trư long Lạc Việt

***

 

Các ảnh hiện vật trên đều không ghi rõ xuất xứ, riêng hình sau ghi rõ là ở huyện Long An, Quảng Tây:

 

image012.jpg

隆安新发现的骆越玉猪龙 (Long An tân phát hiện đích Lạc Việt ngọc trư long)

 

Về địa lý thì huyện Long An ở phía tây thành phố Nam Ninh tỉnh Quảng Tây, sát cạnh huyện Bình Quả là nơi phát hiện chữ Lạc Việt cổ niên đại 4000-5000 năm, (trước chữ giáp cốt của Trung Quốc đến hơn ngàn năm ! tham khảo: http://fanzung.com/?p=483 ). Hai huyện này chỉ cách biên giới Việt Nam gần 100km trong khi cách xa vùng văn hóa Hồng Sơn đến gần 2000km.

Bây giờ xin các bạn so sánh kiểu dáng của ngọc trư long khai quật được ở huyện Vũ Minh, giáp phía bắc thành phố Nam Ninh (http://baike.baidu.com/picview/5264786/5294561/963762/b29f8282cb95b5df6d81190a.html#albumindex=2&picindex=5) , với ngọc Rồng hình chữ C ở văn hóa Hồng Sơn:

 

image014.jpgimage016.jpg

 

Bên trái màu vàng nhạt là ngọc trư long Lạc Việt, bên phải màu xanh đen là ngọc Rồng hình C Hồng Sơn. Nhìn qua thấy kiểu dáng rất giống nhau, nhưng trư long Lạc Việt dáng tròn mập và ít chi tiết sắc sảo hơn ngọc trư long Hồng Sơn, dạng tròn mập này cũng cho thấy sự chuyển tiếp từ ngọc trư long sang ngọc Rồng hình C.

Các điểm giống nhau:
– Dạng chung có hình chữ C
– Mũi rồng hơi vếch lên
– Có mào ở gáy
– Kiểu dáng mào cũng giống nhau
– Có lỗ xỏ dây nằm ngay giữa chữ C, khá cân đối ở vị trí trọng tâm.

Tham khảo thêm một số hình ngọc trư long trên mạng của TQ (có lẽ là ở Hồng Sơn, http://baike.baidu.com/view/57983.htm):

玉猪龙图片集(18张图片) . . .

Còn tiếp


NGỌC HÌNH RỒNG Ở DI CHỈ VĂN HÓA HỒNG SƠN TRUNG QUỐC CÓ GỐC TỪ LẠC VIỆT ?

-FANZUNG-

Tiếp theo

 

image018.jpgimage020.jpgimage022.jpgimage024.jpgimage026.jpg

image028.jpgimage030.jpgimage032.jpgimage034.jpg

image036.jpgimage038.jpgimage040.jpgimage042.jpg

image044.jpgimage046.jpgimage048.jpgimage049.jpgimage051.jpgimage053.jpg

image055.jpg

 

 Và so sánh với ngọc hình rồng Lạc Việt (http://www.luoyue.net/show.aspx?tid=717 ) khai quật được ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây, trong cương vực của nhà nước Văn Lang của Hùng Vương theo sử Việt, nguyên tiêu đề trang đó là :

骆越龙文化中国最古老的龙文化文物集萃
(Văn hóa Rồng Lạc Việt – sưu tập văn vật của Văn hóa Rồng Trung Quốc tối cổ)

 

image057.jpg

邕江出水的新石器时代早期石龙 (Đá hình rồng thời sơ kỳ đồ đá mới, vớt được từ dưới nước ở Ung Giang)

 

image059.jpg

中国最古老的龙凤图腾刻画纹 (Tranh khắc nổi trên đá hình rồng phượng, tối cổ ở Trung Quốc)

Còn tiếp

3 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Khoa đẩu thiết Khẩu

Đăng lại bài viết của Văn Nhân và bổ sung hình ảnh các thể chữ cổ trên đồ đồng ở Việt Nam.

Năm Quang Tự thứ 25 (1899) nhà Thanh Giáp cốt văn được phát hiện tại khu vực làng Tiểu Đốn, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Giáp cốt văn có nghĩa là chữ viết (văn) được khắc trên mai rùa (giáp) và xương thú (cốt). Giáp cốt văn chỉ hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh, được phát triển và sử dụng vào cuối đời Thương (thế kỷ 14-11 TCN).

 

Giap-cot-1.jpg

Chữ khắc trên yếm rùa.

 

Chữ Giáp Cốt nhà Thương – Ân (1600-1100 TCN) tiếp tục được phát triển qua các thời:
• Nhà Chu 周 (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 金文), còn gọi là chung – đỉnh văn là chữ viết trên các chuông và vạc bằng đồng.
• Chiến Quốc 戰國 (403-221 TCN) và thời nhà Tần 秦 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 隸書).
• Nhà Hán 漢 (Tiền Hán 206 TCN-8 CN), có chữ Khải (Khải Thư 楷書).
Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ trước đây có thể được minh họa bằng chuỗi sau:
Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải.

 

Cam-Tang.jpg

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả.

 

Khám phá khảo cổ học quan trọng vào bậc nhất về văn hóa Trung hoa là mới đây đã tìm ra loại chữ đặt tên là chữ Lạc Việt ở Cảm Tang, huyện Bình Quả sát biên giới Việt Trung. Chữ Lạc Việt được xác định đã có từ 3-4 ngàn năm TCN, tức vào hàng hàng tổ mẫu của Giáp cốt văn nhà Thương Ân.
Với sự việc này đã có thể bổ sung và trưng ra sự phát triển chữ Nho từ tận ngọn ngành, chỉ ra những văn tự tiền Giáp cốt: Chữ điểu thú → chữ nút vạch → chữ Lạc Việt (thạch văn) → chữ Giáp cốt→ Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải…
Chữ Khải (khải thư hay chính thư 正書): phổ biến vào thế kỷ III TCN. Có thể coi đây là kiểu chữ chính thức của Thiên hạ từ triều đại Lưu Bang. Loại chữ này chuẩn mực, dễ nhận biết, dễ đọc nhất, mỗi chữ mặc nhiên tồn tại trong 1 hình vuông chuẩn nên chữ Khải được coi như chuẩn mực của loại chữ Vuông vẫn là phổ thông nhất trong các kiểu viết chữ Nho hiện nay (chữ Nôm cũng được xếp vào loại hình chữ Vuông).

 

Chu-vuong.jpg

 

Người viết bài này canh cánh bên lòng hơn 40 năm về món nợ văn hóa quan trọng bậc nhất đối với dân tộc kể từ ngày bắt được những dòng tin:
* Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.


* Sách Thông giám cương mục do Chu Hy đời Tống soạn, chép: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 TCN) có Nam di Việt Thường thị đến chầu hiến con rùa lớn”.
Sự việc được nói rõ hơn trong tư liệu khác :
Thông chí” (通志) của Trịnh Tiều (鄭樵) có một đoạn nói về việc nước Việt Thường dâng rùa thần (神龜 thần quy) cho Đế Nghiêu, được “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Tiền biên, quyển 1 dẫn lại như sau: “Đời Đào Đường (陶唐), phương Nam có Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”.


* Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư; phần : Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng…
Trong chuỗi xích phát triển Hán văn không có chỗ cho chữ Khoa đẩu, cảm tính tự nhiên nhìn nhận Khoa đẩu là chữ của Việt tộc. Nhiều nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm chữ Khoa đẩu, cho tới nay tựu trung về 3 hướng:

 

Dai-Loan.jpg

1. Chữ Khoa đẩu là loại chữ dấu chân chim tìm thấy ở Đài Loan.

Xuyen.gif

 

2. Chữ Khoa đẩu là mẹ đẻ của loại chữ viết của nhiều nước Đông Nam Á.
Nhà ngôn ngữ học Paul Rivert cho rằng nền văn hóa Hòa Bình cùng với lối chữ con nòng nọc này đã được truyền bá khắp nơi góp phần tạo nên các chữ viết của các dân tộc Thái Lan, Lào, Chăm, Cao Miên (Cambodia), Nam Dương (Indonesia), Miến Điện (Myannmar), Tây Tạng, Ấn Độ, Srilanka, Đại Hàn và Nhật Bản.

 

Xuyen-2.jpg

 

3. Đây là loại chữ nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền cho là chữ Việt cổ tồn tại trong các sắc tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam.

Nay bất ngờ  chợt nhận ra : Việc nghiên cứu về chữ khoa Đẩu đang đi chệch hướng do định kiến đối kháng sẵn có … cho chữ Khoa đẩu là loại chữ của cổ nhân Việt trước khi bị Hán tộc xâm lăng đô hộ nên dĩ nhiên chẳng dính dáng gì với Hán văn…
Tốn mấy chục năm suy nghĩ để ngộ được điều vô cùng đơn giản …
Theo phép phiên thiết Hán văn … khoa đẩu thiết Khẩu.

Chu-Khau.png

Rõ ràng ý chỉ loại chữ vuông, tức chữ Khải thời Lưu Bang Hán Cao tổ 200 năm trước CN đến nay. ‘Khải’ chỉ là tam sao thất bản của ‘Khẩu’. Chữ Khoa đẩu là chữ khẩu 口, tức loại chữ Vuông là một cách gọi chữ Nho, tức loại chữ đang bị người Thiên hạ sai lầm gọi là chữ Hán. Khi Lục Lâm thảo khấu dấy loạn, lập nên Hãn quốc đầu tiên trong lịch sử, thì người Hán mới chỉ biết đến cái lều và con ngựa, du thủ du thực rày đây mai đó kiếm sống thì làm quái gì có thì giờ mà nặn ra được con chữ. Khoa đẩu thiết khẩu, tức Khải chính là loại chữ Vuông của người Việt…
Tư liệu cổ Trung Hoa … Việt Thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Sử thuyết Hùng Việt cho khởi thủy Thiên hạ chỉ có đất Đào và đất Đường hay Thường. Đất Đào là miền Thanh Nghệ Tĩnh, đất Đường hay Việt Thường là miền 3 sông nay là Hồng – Đà – Lô. Đoạn tư liệu cổ trên thực sự nói lên chữ Khoa đẩu thiết Khẩu là chữ của cư dân vùng này và được dùng là … “quốc ngữ chữ nước ta vào thời đế Đường Nghiêu”.
Có điều cực kì quan trọng :
… Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là quy lịch (龜歴, lịch rùa)”…
….Một chi tiết lịch sử vô cùng quý giá để từ đó chúng ta có thể lần ra đầu mối. Trong văn hóa dân tộc Mường, người Mường coi “rùa” là tổ tiên của mình trong việc giúp xây nhà, làm lịch và vì vậy họ không bao giờ ăn thịt rùa. Truyền thuyết dân tộc Mường liên quan “con rùa” thì rất hay và độc đáo. Trong đó, đặc biệt và siêu đặc biệt duy nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay: đó là Lịch Rùa hay còn gọi là Lịch Đá Rò. Nó cũng khác hoàn toàn so với Lịch Âm đang sử dụng. Người Mường đã sáng tạo ra bộ lịch trừ đả ro, có nơi gọi là: Trừ tả rò, dịch phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
Rò trong tiếng Mường chỉ con con rùa, song còn nghĩa khác đó là sự dò tìm, phán đoán đoán. Đả trong tiếng Mường là đại từ nhân xưng chỉ bậc bề trên như ông nội hay những người có vai vế tương đương trở lên. Trừ trong tiếng Mường có nghĩa đen là kiểu phép tính trừ, bỏ đi, song nó còn có nghĩa khác kiểu như thuật bấm độn, đoán trước. Dịch đúng nghĩa trong tiếng phổ thông đó là thuật bấm độn của ông rùa, nay xin gọi vắn tắt phiên âm sang tiếng phổ thông là trừ đá rò.
(Trích nghiên cứu của nhà nghiên cứu Bùi Huy Vọng (Hương Nhượng, Lạc Sơn) đăng trên internet).
Sự nối kết Quy lịch và ‘trừ đá rò’ hay Lịch Rùa của người Mường là sự kiện chứng vô cùng quý giá cho Sử thuyết Hùng Việt. Sự nối kết này chỉ ra người Mường chính là hậu duệ của dân thời Đường Nghiêu Trung Hoa. Nói thẳng ra: toàn bộ cổ sử Trung hoa là cổ sử của người Việt Nam. Chính tư liệu cổ Trung Hoa viết: Đế Nghiêu tên là ông Giao Thường là Đường vương, trước khi lên ngôi đế (Giao thường nghĩa là Nam phần đất Giao – giữa).
con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau
1 cái mai rùa liệu khắc được mấy chữ mà có thể… ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau…? Thực ra đây là cách nói ám chỉ Dịch học. Dịch là biến dịch, là sinh sinh chi vị Dịch, sinh sôi nảy nở ra mãi gọi là Dịch. Tất cả diễn biến tưởng là vô tận ấy có thể gói gọn vào Bát quái đấy chính là ý câu: việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… Con rùa thần lưng khắc chữ Khoa đẩu chỉ là cách ám chỉ đồ hình 8 quẻ sắp xếp trong đồ hình bát giác :

Bat-quai-1.jpg

Chữ Khoa đẩu dùng chép việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau… thực ra là khắc 8 quẻ Dịch.
Thượng thư thiên Vũ cống nói: … Kinh châu miền Cửu giang … khi có lệnh thì cống rùa lớn.
Cửu giang ý xưa nay vẫn hiểu là 9 con sông … Thực ra ‘Cửu giang’ là cách gọi khác của ‘Trường giang’ mà thôi. Ngày nay, người ta đã tìm được loại rùa mà yếm dùng khắc chữ gọi là Giáp cốt văn thời Thương Ân tìm thấy ở bờ Bắc Hoàng Hà chỉ sống ở miền Trường Giang. Đấy chính là loại rùa mà miền Cửu giang Kinh châu đem cống vua khi có lện. Phải chăng là mai rùa hay yếm rùa cống vua được dùng để khắc chữ? Nếu thế thì Giáp văn có từ thời nhà Hạ 2000 TCN không phải mãi đến nhà Ân mới có.
Với người Việt thì không có Hán tự chỉ có chữ Nho mà thôi. Chữ Nho còn được gọi là chữ thánh hiền vì …  đấy là loại chữ đức Không dùng chép kinh ….
Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu
Khoa đẩu văn là con của chữ Cóc, cóc là góc … chỉ có thể là góc hình vuông trong quan niệm trời tròn đất vuông … Chữ Cóc chính là chữ Vuông vậy.
Người Việt xưa đã tốn hao không biết bao nhiêu công sức trí tuệ để tạo ra bức tranh ‘lão OA giảng độc’ làm di ngôn nhắn cho đời sau biết về chữ cóc – văn Khoa đẩu chính là văn tự do cha ông mình sáng tạo ra chẳng phải mượn, chẳng phải học ai cả …

 

Lao-Oa.jpg

Tranh Lão OA giảng độc.

Có việc tưởng như vô cùng đơn giản nhưng mãi nghĩ không ra, tìm không thấy… Đấy là …
Nước Hán chỉ ra đời sau cuộc nổi loạn của bọn Lục Lâm thảo khấu khoảng đầu Công nguyên, trong khi Khoa đẩu văn đã có từ thời Đường Nghiêu đế trước Công nguyên cả 3000 năm thì dính dáng gì đến người Hán mà nhận quàng.
Thực là sự trùng hợp diệu kì… Phải chăng chữ Lạc Việt mới khám phá ở miền biên giới Việt Trung và được coi là cố tổ của chữ Hán ngày nay chính là chữ Khoa đẩu mà Việt Thường thị dâng vua Nghiêu?
Chung quanh chuyện chữ Khoa đẩu ngoài những thông tin trên còn có bức tranh ‘Lão Oa giảng độc’.
Oa là biến âm của ếch tiếng Việt không phải là cóc. Tên gọi bức tranh Đông Hồ này phải đổi lại là thày đồ ếch mới chính xác. Cóc Hán văn là thiềm thừ, ếch và cóc là loài lưỡng cư , sinh ra trứng ở dưới nước, trứng nở ra nòng nọc hay khoa đẩu sống trong nước không khác gì loài cá. Nòng nọc lớn lên rụng đuôi thành cóc – ếch lên bờ biến ra loài sống trên cạn.
… Cóc → góc, góc là giao điểm của Tròn – Vuông, của đất trời và của hữu hình – vô hình. Hữu hình là cái hình tượng con người thấy được và vô hình là ý nghĩa chứa trong hình tượng ấy. Hình tượng mang ý nghĩa ấy gọi là chữ. Chữ cũng là chứa trữ vậy.
Nhưng tại sao hình tượng con cóc lại được dùng làm biểu tượng của chữ viết? Trong điểu thú văn con cóc nghĩa là chữ vì như dân gian Việt giải thích trong bức tranh “Lão Oa giảng độc”. Oa là con cóc nhưng oa cũng là ‘chứa trữ’ tức chữ (viết). Lão Oa chính là thày Chữ, là thày chữ nên mới đọc hiểu và giảng dạy tri thức – đạo nghĩa.
Cóc – ếch đẻ ra nòng nọc tức khoa đẩu.
Chữ (cóc – oa – trữ ) đẻ ra văn.
Cũng có thông tin:
Vào đời Chu Thành Vương, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng…
Giống như oa – trữ – chữ, Trĩ cũng chỉ là biến âm của Trữ – chữ mà thôi. Ý của đoạn tư liệu là …quốc ngữ chữ nước ta thời nhà Châu cũng là loại chữ của tộc Việt Thường (di duệ còn lại là người Mường).
Tại sao 1 bức tranh mà nét vẽ nguệch ngoạc như người mới tập vẽ phải nói thực là chẳng có gì đẹp, chẳng thấy ý nghĩa thâm trầm sâu sắc gì cả mà lại có thể sống dai như thế trong lòng người Việt?
Phải chăng là bức tranh dân gian … ‘Lão Oa giảng độc’ được những cái đầu bác học làm ra vì thông tin về chữ Khoa đẩu trong tư liệu văn minh cổ Trung Hoa…
Lão Oa giảng độc chỉ là để khẳng định: chữ Khoa đẩu là chữ của người Việt. Khoa đẩu – nòng nọc là con của Lão Oa – thày đồ Cóc, mà thầy Cóc – Oa – Chữ là sản phẩm của những cái đầu Việt thì con nó đẻ ra là nòng nọc – khoa đẩu đương nhiên phải là sản phẩm của người Việt… Dù chỉ trở nên thịnh hành được dùng phổ biến từ thời Lí Bôn – Lưu Bang về sau thực ra khởi đầu loại chữ này đã có từ thời Đường Nghiêu 3000 năm TCN (chữ LạcViệt ?).
Khi khẳng định: chữ Khoa đẩu – chữ Khẩu – chữ Vuông chính là chữ Khải mà xưa nay đa số sai lầm gọi là chữ Hán, là loại chữ thịnh từ thời Nam Việt đế Lí Bôn – Lưu Bang đến nay, là chữ viết của người Việt, không có nghĩa nói những hướng nghiên cứu chữ cổ Việt khác là sai lạc vì Khoa đẩu văn có thể không phải là loại chữ cổ Việt duy nhất… Ngay trong bản văn dùng nghiên cứu ở đây cũng có thể đặt câu hỏi: trước khi đế Đường Nghiêu nhận con rùa thần hay vua nhà Châu nhận con chim trĩ trắng do người Việt Thường dâng cho thì triều chính Đường Nghiêu và nhà Châu dùng loại văn tự gì?… Rất có thể Thiên hạ còn nhiều loại văn tự cổ khác nữa.

——–

Bách Việt trùng cửu bổ sung ảnh minh họa.

Kim-van-582x1024.jpg

Chữ Kim văn trên đồ đồng thời Ân Thương thấy ở Việt Nam.

 

Dai-trien.jpg

Chữ Đại triện trên một chiếc nắp đồng ở Việt Nam.

 

P1200150-1024x768.jpg
Chữ Tiểu triện trên nắp một chiếc phương đồng ở Việt Nam.

 

P1100140-768x1024.jpg

Chữ trên chuông đồng Đông Sơn.

This entry was posted in Tư liệu on March 22, 2016

.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

THÁI CỰC ĐỒ (ÂM DƯƠNG ĐỒ HÌNH)

Hoàng triều Hải

1. Dấu tích lịch sử:

Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại thì Thái cực đồ hình (Taijitu  太極圖) được biết tới do Chu Đôn Di  Zhou Dunyi (周敦頤 1017–1073) đời Tống (960-1279) sáng tạo ra cùng với cơ sở Học thuyết Thái cực . Đồ hình Thái Cực này được coi là đồ hình đầu tiên mô tả Thái Cực sinh Lưỡng Nghi do được ghi chép và lưu giữ nguồn gốc. Đồ hình H1 là đồ hình được Joseph Adler chụp từ nguyên gốc trong cuốn Thông Thư (通書) của Chu Đôn Di.

Trong suốt thời kì nhà Minh (1368–1644), Đạo giáo lúc đó rất phát triển và dựa trên nền tảng Đạo giáo đã có rất nhiều sáng tạo Thái Cực đồ hình mô tả  cơ sở học thuyết của họ lúc đó.

Trong khi nguyên gốc đồ hình của Chu Đôn Di sử dụng các vòng tròn thì trong thời kì nhà Minh (1368-1644)  bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy.Đồ hình có vòng xoáy sớm nhất được cho là của Triệu Huy Khiên - Zhao Huiqian (趙撝 , 1351–1395) trong cuốn Lục Thư Bản Nghĩa viết năm 1370s thuộc bộ Tứ Khố Toàn Thư. Đồ hình này được ghép thêm với bát quái và được được gọi là Thái Cực Hà Đồ . Tới cuối đời nhà Minh thì mới xuất hiện thêm hai chấm bên trong thay bởi hai hình  giọt nước, và được sử dụng rộng rãi trở thành Vũ Trụ Quan của người Trung Hoa.

Taijitu-1_zpsxu0oy5m1.gif

H1: Chu Đôn Di đồ hình                                                                         

Bagua_Zhao_Huiqian_zpswwfcxyyv.jpg

H2: Triệu Huy Khiêm Đồ hình

 

LAI TRÍ ĐƯC (來瞿唐 / 来瞿唐, 1525–1604) sau đó lại thiết kế lại Thái Cực Hà Đồ dựa trên khuôn mẫu của biểu tượng Phật giáo Tây tạng Gankyil

Taijitu_Lai_Zhide_zpstnsjviup.pngTibetan_Dharmacakra_zps7sqh9jgz.png

H4: Lai Zhide vs Gankyil

Tiên thiên thái cực đồ và vô cực đồ được phát triển và sử dụng nhiều nhất vào thời kì nhà Thanh (1644–1912)

                                                                                                                                             

thien%20dia%20tu%20nhien%20chi%20do_zps2

 

THÁI CỰC ĐỒ HIỆN ĐẠI

Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người Trung Hoa công bố rộng rãi Thái Cực đồ hình với hai vòng xoáy của thời Minh và gọi đó là Đồ Hình Âm-Dương. Khoảng từ những năm 1960 thì Âm Dương Đồ Hình được thêm vào hai chấm ở mỗi xoáy cùng kết hợp với Hà Đồ được sử dụng rộng rãi. Đồ hình này được dùng trong thiết kế và nhận diện của môn Thái Cực Quyền từ những năm 1970 để thể hiện tinh thần của bộ môn này.

Yin_yang.svg_zps5zn0izhx.png

 

 

2. DẤU HIỆU TỪ ĐẾ CHẾ LA MÃ

Tại Rome, người ta tìm thấy dấu tích của Âm Dương Đồ Hình trên khiên và phù hiệu của Kỵ Binh của đế chế La Mã (AD 430).  Trong bài viết "The Ying-Yan Among The Insignia of The Roman Empire - Âm Dương Đồ Hình bên trong dấu hiệu của Đế Chế La Mã" của Giovanni Monastra, người đã phát hiện ra dấu hiệu của Đồ Hình này từ thư tịch cổ có tên là  "Notitia Dignitatum Omnium tam Civilium quam Militarium " được viết  từ cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5.

Trong cuốn thư tịch cổ này, ngoài việc viết về các đơn vị hành chính và quân sự của Đế chế La Mã người ta tìm thấy rất nhiều ký hiệu và đồ hình cùng 4 màu sắc Đỏ-Xanh-Vàng-Trắng thể hiện thế giới Siêu hình, Tôn giáo và Tri thức.

fig1_zpsad9wu4bk.gif500px-Armigeri_defensores_seniores_shiel

Ở trang tiếp theo, người ta lại tìm thấy Thái Cực Đồ của Chu Đôn Di theo hình ảnh dưới đây (hình thứ ba hàng thứ ba từ dưới lên)

notia%20dignitatum_zpsbputq4j9.gifTaijitu-1_zpsxu0oy5m1.gif

 

 

Theo tác giả, không có một nhà nghiên cứu La Mã Cổ nào kể cả nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông Franz Cumont phát hiện và đặt ra câu hỏi nghi vấn này ? liệu có phải đây là Thái Cực Đồ hay Âm Dương Đồ Hình của Á Đông xuất hiện trong Đế chế La Mã.

Ngay cả đối với giới khoa học và nghiên cứu khảo cổ tại Châu Âu, không một ai đề cập tới vấn đề này và chủ yếu họ tìm hiểu sự giao thoa giữa các nền văn hóa cổ đại và tác giả cho rằng đây là một sai lầm.

 

3. Quốc Kỳ Hàn Quốc

Ra đời đầu tiên vào thời kì Joseon 1882, được nói rõ sử dụng "BAT QUAI DO" cho Hoàng Gia. Vậy từ thế kỉ 18, Thái Cực Đồ của người Việt đã được biết tới và sử dụng tại Hàn Quốc

706px-Flag_of_the_king_of_Joseon.svg_zps

Taegukgi of the Joseon dynasty (before 1800)                                  

1882_11__zps3xw3hlxe.jpg

Taegukgi by Park Yeong-hyo (September 1882)                                             

Flag_of_Joseon_1893_zpscmmkosob.png

Taegukgi (1910)              

     Flag_of_South_Korea_1945-1948.svg_zps26p                                                                                

from 1945 to 1948;

4. Đặt lại vấn đề

Trong cuốn " Reconstructing the confucian dao" của Adler Joseph tạm dịch là Tái Thiết Đạo Khổng, chương năm trang 153, tác giả viết :" Mặc dù cho tới nay, sự xuất hiện của học thuyết Âm Dương được coi là nguồn gốc của Thái Cực Đồ vào thời Chu Hi ( 朱熹, October 18, 1130 – April 23, 1200) và Chu Đôn Di (周敦頤; Zhou Dunhyi; 1017–1073) có được học thuyết này từ Đạo Giáo. Chu Đôn Di và những người theo ông ta luôn khẳng định Chu Đôn Di là người sáng tạo ra Thái Cực Đồ. Chu Hi thì không chấp nhận học thuyết của Chu Trấn -hay Chu Hoàng - Hậu Lương Mạt Đế (Zhu Zhen (朱瑱) (October 20, 888–November 18, 923) cũng như đồ hình từ Đạo Giáo bởi theo Chu Hy, nó phá hoại tính đặc thù của Khổng Giáo.

Trang 154, tác giả lại viết " Câu hỏi đặt ra là Thái Cực Đồ Hình của Chu Đôn DI lại được đem ra tranh luận kịch liệt suốt từ thế kỷ thứ 12. Theo ghi chép thì học thuyết đáng lưu ý nhất là của Chu Hoàng, và truyền cho Đôn Di thông qua Mục Tu ( Mu Xiu 穆修, 979–1032).  Mục Tu là quan Trung phẩm chết khi Chu Đôn Di mới 15 tuổi: Mục Tu nhận được từ Chủng Phóng ( Chong Fang 种放956-1015) là một quan lại triều đình từ quan ẩn dật. Chủng Phóng học được Trần Đoàn Lão Tổ.

Trần Đoàn ghi lại rằng, ông thu nhận được rất nhiều đồ hình trong đó bao gồm Quẻ, Quái trong Kinh Dịch được truyền bá rộng rãi bởi Thiệu Ung ( 邵雍 Shao Yung; 1011–1077) và Chu Hy . Một điều khá quan trọng là Tiên Thiên Đồ của Phục Hy được cả Thiệu Ung và Chu Hi.

Chu Trấn đã đưa các đồ hình vào lý thuyết này từ trước, tới năm 1134 tức là 61 năm sau khi Chu Đôn Di chết thì những nguồn gốc lý thuyết của ông ta đều không xác định và tính xác thực về những gì ông ta đưa ra đáng để tranh luận.

Thêm một sự liên hệ rõ ràng tới Đạo giáo là một khả năng Thái Cực Đồ bị ảnh hưởng từ Phật giáo bởi Chu Đôn Di được biết là Thầy cũng như bạn của Ông ta đều theo đạo Phật. Người được nhắc tới nhiều nhất là Thọ Nhai (Shou Ya) chùa Helin tại Runzhou (tỉnh Jiangsu), nơi Chu Đôn Di sống một thời gian những năm 20 tuổi.  Theo Triều Thuyết Chi (Chao Yuezhi 1059-1129), Thọ Nhai dạy Chu Đôn Di nhưng dạy những gì thì không biết và Chu có phải là người KHÔNG theo Đạo Phật  cũng đầy hoài nghi .

Có một yếu tố đặc trưng của Phật giáo  ảnh hưởng tới Thái Cực Đồ, là Guifeng Zongmi  (圭峰 宗密 780-841) là nhà người Nhật dạy Phật giáo thời nhà Đường, là ông Tổ của Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông. Một trong những  tựa hay sử dụng trong tác phẩm về Thiền Tông chính là Đồ hìnhcủa sự Khai Sáng, yếu tố Siêu Hình đại diện cho tàng Vô Thức. Nó chính là sự nhận diện cho Thái Cực Đồ. Tuy nhiên, Chu Hi bỏ hình tròn nhỏ vào giữa Đồ hình này và nói rằng nó đại diện cho Thái Cực.

tsungmi%20diagram_zpsb7ou2ncd.jpg

(Đồ hình của Tsungmi )

Đồ hình này được tìm thấy từ tàng thư tại hang Mogao, Dunhuang xác định là năm 952.

Như vậy, đây là bằng chứng cho thấy Đồ hình Chu Đôn Di có nguồn gốc từ Phật giáo.   

Như vậy, chúng ta có thể thấy đồ hình ÂM DƯƠNG ngày nay chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu TK 20. Nó không thể hiện được tính minh triết của lý thuyết Âm Dương mà là thể hiện qua tư duy và lý thuyết của Đạo giáo. Thế nhưng rất nhiều tác giả vẫn khăng khăng cho là, hai chấm đen trong lưỡng nghi thể hiện Thiếu Âm và Thiếu Dương là từ thời Chu Đôn Di, khi mà ngay cả Chu Đôn Di cũng không được coi là người tạo ra Thái Cực Đồ.

ti%20xung_zpsjwfiyrey.jpg

Thái Cực Đồ hay ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG được lưu giữ từ nền văn hóa Việt trải gần 5000 năm Lịch sử , mô tả đầy đủ triết lý của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã cho ta thấy, người Việt mới là người nắm giữ đầy đủ học thuyết này.

(Còn tiếp tục bổ xung)

Mạnh Đại Quân

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phát hiện tình cờ cho thấy khu kim tự tháp Teotihuacan là một cơ sở năng lượng

4 hours trước 150 lượt xem

 
 

Theo bộ phim tài liệu Những vị vua thất lạc của Teotihuacan (Teotihuacan’s Lost Kings), kĩ thuật xây dựng tiên tiến đã tạo nên một hệ thống đường hầm ngay phía dưới kim tự tháp Teotihuacan nổi tiếng của Mexico.

Khi nhóm nghiên cứu ngày càng khai quật sâu vào các đường hầm, người xem có thể chiêm ngưỡng thứ được coi là nội thất của một cỗ máy cổ đại, nơi các hóa chất, nước và khoáng chất (và có thể là cả trường điện từ) được kết hợp để tạo ra một loại năng lượng nào đó. Người ta vẫn chưa biết năng lượng này dùng vào việc gì và như thế nào, nhưng dựa trên kiến trúc của khu phức hợp, chúng ta có thể phỏng đoán về cách hoạt động của cả quần thể này.

Dưới đây là các phát hiện đáng kinh ngạc của các nhà khảo cổ.

Teotihuacan, Mexico (ảnh: Public Domain) Teotihuacan, Mexico (ảnh: Public Domain)

 

Đường hầm bí ẩn

Năm 2003, nhà khảo cổ Sergio Gomez đang đi bộ ở đền thờ thần rắn Quetzalcoatl thì nhận thấy một vết nứt lớn khoảng 6m trên mặt đất, ngay cạnh chân của cầu thang đi lên. Nước mưa đã làm sụp một mảng đất, để lại rãnh sâu có thể làm bị thương du khách. Gomez đã làm việc ở địa điểm này trong hơn 30 năm, ông xem xét vết nứt và khẳng định rằng có gì đó nằm ở phía dưới.

Teotihuacan được xem là một công viên khảo cổ và hầu như các nhà nghiên cứu đều biết rằng mỗi mét vuông đất ở đây có thể lưu giữ các cổ vật và bằng chứng quan trọng về quá khứ.

Gomez, thành viên của Viện nhân loại học và lịch sử quốc gia (INAH), sau đó đã được cho phép tiến hành điều tra khu vực, một nhóm các chuyên gia đã đến để bắt đầu dọn các lớp đất đá ở phía trên. Khai quật khảo cổ là một quá trình chậm và khi tiến xuống sâu, họ phát hiện ra một đường thông hình tròn, giống như một cái giếng, được làm hoàn chỉnh bằng xi măng và đá.

Gomez đang được hạ xuống bên trong cái giếng, sâu 4,3m, bên dưới lại là một hang động sâu khác. (ảnh chụp/Youtube) Gomez đang được hạ xuống bên trong cái giếng, sâu 4,3m, bên dưới lại là một hang động sâu khác. (ảnh chụp/Youtube)

Họ vô tình đã phát hiện ra lối vào chính trong thiết kế ban đầu của khu phức hợp, kéo dài sâu xuống khoảng 12m nữa. 400 tấn đất và xà bần đã được lấy ra trong quá trình này, nhóm nghiên cứu đã cẩn thận để tìm cổ vật có thể có.

Khi đến hang động, họ nhận thấy nơi này đã được khéo léo cắt ra khỏi đá móng cứng và mở ra một đường hầm lớn khác. Trước khi nhóm nghiên cứu bắt đầu đào đất đá cản lối vào đường hầm, Gomez đã cho chụp laser khu vực này để xác định độ sâu và các dấu vết về quá trình xây dựng. Ảnh scan cho thấy đường hầm này được cắt rất chính xác và nằm 100m dưới kim tự tháp. Ảnh scan cũng cho thấy trên đường hầm chính có những vết lõm tựa như căn phòng nhỏ.

Nhóm bắt đầu khai quật đường hầm, và tìm thấy những cổ vật và dụng cụ đầu tiên – thuộc về những người đã xây nên nơi này, theo các nhà khảo cổ. Ở khoảng 30m dưới mặt đất, họ đã tìm thấy 50.000 cổ vật và cho rằng hẳn một ngôi mộ hoàng gia phải ở đâu đây.

duong ham
Một phần của đường hầm chính, với bằng chứng về mực nước nằm ở cao gần tới đỉnh. Đường hầm được chia thành những ô âm vào mặt đất, có lẽ chứa những kim loại nặng và để trong những trạm pha trộn trước khi truyền dẫn điện hay phản ứng hóa học đến một khu trung tâm ngay bên dưới kim tự tháp. Các nhà khảo cổ tỏ ra hoàn toàn không biết về những kiến thức khoa học mà một thời từng đóng vai trò quan trọng trong khu phức hợp kim tự tháp này. (ảnh Digital Journal)

Tìm thấy những quả cầu Pyrit kì lạ

Nhóm khai quật cũng tìm thấy một số ống hóa chất và khoáng chất chôn trong đất. Hàng trăm quả cầu vàng đã được khai quật ở các mức phân hủy khác nhau. Chúng được tạo thành từ Pyrit (khoáng vật có ánh kim và sắc vàng nên thường được gọi là “vàng của kẻ ngốc”) và hỗn hợp gạch sống và đá dăm.

Một quả cầu Pyrit rất tinh xảo và rất hiếm ở Peru (ảnh: Rob Lavinsky, iRocks.com /CC BY-SA 3.0) Một quả cầu Pyrit rất tinh xảo và rất hiếm ở Peru (ảnh: Rob Lavinsky, iRocks.com /CC BY-SA 3.0)

Gomez cũng nhận thấy các bức tường được phủ Pyrit, làm cho một số đoạn đường hầm tỏa ra thứ ánh sáng kỳ lạ. Khi cẩn thận xem xét khu vực còn lại, Gomez yêu cầu quét laser một lần nữa để xác định địa hình khu vực phía trước. Ngạc nhiên thay, những đường hầm kết thúc ở một khu vực khép kín giống như chữ X, mà tâm điểm đặt ngay phía dưới trung tâm của kim tự tháp.

 

3D-laser-scan teotihuacan
Quét laser 3D bằng máy bay drone cho thấy độ sâu và chiều dài của đường hầm nằm trong đá móng cứng. Những lỗ nhỏ (phía dưới nền) trong đường hầm có thể là các khoang trộn hóa chất, vì đã phát hiện được sự có mặt của nước, pyrit, thủy ngân và khí radon ở đây. (ảnh: La Razón)

Cuộc khai quật tiếp tục tìm kiếm ngôi mộ hoàng gia, nhưng lại phát hiện một số điều quan trọng cho thấy mục đích thật sự của hệ thống đường hầm này. Đầu tiên, người ta tin rằng các cổ vật và đồ cúng tế đã được những người tái phát hiện Teotihuacan hơn 1.800 năm trước để lại, và không liên quan gì tới thiết kế ban đầu của hệ thống. Một số bằng chứng quan trọng hé lộ cho chúng ta biết mục đích ban đầu của khu phức hợp kim tự tháp này và các thành phần của nó.

Địa từ trường và các kim tự tháp

Những khám phá gần đây trong lĩnh vực xây dựng kim tự tháp cổ đại cho thấy một số lượng lớn công trình có mục đích là để tạo ra năng lượng, bởi nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới.

>> Trường năng lượng bí ẩn xung quanh các công trình cự thạch linh thiêng

Ở một số nơi, bao gồm Trung và Nam Mỹ, các kĩ thuật xây dựng là khá tương đồng. John Burke, một nhà khoa học và doanh nhân, đã có phát hiện quan trọng về năng lượng điện từ kim tự tháp năm 2005. Burke đã phát hiện sự phóng điện địa-từ trường tại một số công trình cự thạch và gò đất, bao gồm vòng tròn đá Stonehenge, ụ đất hình rắn (Serpent Mound) ở Ohio, và nhiều vòng tròn đá nhỏ khác ở bờ biển phía Đông Hoa Kỳ. Dùng các thiết bị chụp quét tối tân (các máy do từ kế và vôn kế tĩnh điện), Burke đã kết luận rằng mỗi địa điểm đều được chọn vì chúng có dòng năng lượng đất một cách tự nhiên, được tỏa ra các công trình hay khu vực lân cận.

Ụ đất hình rắn ở Ohio (ảnh: geocaching.com) Ụ đất hình rắn ở Ohio (ảnh: geocaching.com)

Người ta vẫn còn đang suy đoán về mục đích của những công trình này, nhưng giờ thì chúng ta đã biết, ít nhất thì chúng có tác dụng tích cực lên sinh lý con người và tăng mạnh sức nảy mầm cho các hạt giống. Điều khó hiểu là làm sao những người xây dựng cổ đại biết được dòng năng lượng đất này, khi không có thiết bị hiện đại?

>> Nghiên cứu khoa học về ‘Con mắt thứ ba’ – P2: Con mắt thoái hóa trong bộ não người

Cho rằng năng lượng điện từ có thể được tăng lên nữa, Burke tiếp tục tiến hành chụp quét trên các khu phức hợp kim tự tháp ở Trung Mỹ – vốn được thiết kế với độ chính xác cao. Ông còn khám phá ra rằng một kim tự tháp ở Tikal, thành phố Maya cổ đại ở Guatemala, còn được người dân địa phương tận dụng để bảo dưỡng hạt giống. Đây là kim tự tháp Mundo Perdido (“Thế giới bị mất” theo tiếng Tây Ban Nha), được xem là lâu đời nhất trong khu phức hợp (600 TCN).

Burke và cộng sự Kaj Halberg đã phát hiện ra những dấu vết điện từ trường đặc trưng với điện tích cao ấn tượng tại đỉnh kim tự tháp. Chỉ số trung bình là 908 vôn trong một thời gian ngắn, tập trung cao vào đầu buổi sáng.

Burke nói, “Điện áp này nghe có vẻ nguy hiểm, và nếu là dòng điện ở nhà thì đúng là như thế. Nhưng tĩnh điện trong không khí là một dạng khác và hàng ngàn vôn thì cũng không nguy hiểm.” Phát hiện của ông về trường điện từ của kim tự tháp quả là thú vị, nhưng thật ra ông đã tìm thấy một phương thức sản sinh và có lẽ là truyền tải năng lượng điện từ trong khu phức hợp kim tự tháp.

Kim tự tháp Mundo Perdido (ảnh: CC BY-SA 3.0) Kim tự tháp Mundo Perdido (ảnh: CC BY-SA 3.0)

Chúng ta không biết kim tự tháp “Thế giới bị mất” có những yếu tố khác trong công trình hay không, tương tự như Kim tự tháp Teotihuacan. Chúng ta đã biết rằng một số kim tự tháp Maya có những thành phần chính hoạt động như những bộ khuếch đại, giúp tạo ra, khuếch đại và phân phối năng lượng đất:

  • Nước: chảy trong tự nhiên, các con sông và sông ngầm (như ở El Castillo, Chichen Itza) hay các kênh đào và đường hầm nhân tạo, như ở Đền Khắc Chữ (Temple of Inscription) ở Palenque.
  • Địa-từ trường: Các dòng năng lượng đất có chu kỳ lên xuống theo ngày và đêm.
  • Thiết kế kim tự tháp: Hình dáng đặc thù của kim tự tháp dường như tăng cường mạnh mẽ dòng năng lượng đất, được đẩy lên và tràn vào trung tâm của công trình.
  • Vật liệu bên trong của kim tự tháp: Ở một số kim tự tháp, loại đá (có thể dẫn điện-từ tốt) được dùng để xây, giúp tăng cường dòng năng lượng. Các tảng đá có những mạch thạch anh, granite, và đặc tính dẫn điện khác có vẻ được chuộng dùng.

Các phát hiện về hóa chất và khoáng chất của Gomez tại kim tự tháp Teotihuacan có nhiều tính chất giống với các kim tự tháp Maya, chỉ có một vài khác biệt.

Điều gì cung cấp năng lượng cho kim tự tháp Teotihuacan?

Khi Gomez và nhóm cộng sự khai quật đường hầm, họ tìm thấy vết mực nước cao ở trên tường, kéo dài suốt đường hầm, cho thấy trước đây nơi này luôn chứa đầy chất lỏng. Các vết nước gần như màu đen, dường như là tác động một loại hóa chất cô đặc nào đó.

Nước được vận chuyển từ mặt đất, qua đường hầm của cái giếng đá, và chảy trực tiếp vào những khu vực khác nhau của đường hầm.

Trưởng dự án khai quật, Sergio Gomez, xem xét một phần bức tường đá của đường hầm. Vết nước ở cao, kéo dài suốt chiều dài đường hầm, cho thấy nước là một thành phần quan trọng trong một phản ứng nào đó (ảnh: The Yucatan Times) Trưởng dự án khai quật, Sergio Gomez, xem xét một phần bức tường đá của đường hầm. Vết nước ở cao, kéo dài suốt chiều dài đường hầm, cho thấy nước là một thành phần quan trọng trong một phản ứng nào đó (ảnh: The Yucatan Times)

Những phát hiện gần đây về cặn hóa chất và khoáng chất, cộng với thiết kế của hệ thống đường hầm, hang động, cho phép người ta kết luận rằng đây là hệ thống ngầm dùng để tạo ra một loại phóng điện nào đó, có thể xảy ra ở căn phòng nhỏ dẫn lên khu vực giao lộ chữ X ở cuối đường hầm.

Trong những năm gần đây, các hợp chất hóa học và khoáng chất đã được tìm thấy số lượng lớn trong suốt chiều dài hệ thống đường hầm, một điều mà những nhà khảo cổ – vốn chỉ định khai quật như Gomez – hoàn toàn bất ngờ.

 

Pyrit và các hồ thủy ngân đã được tìm thấy, một vài năm sau, khí Radon đã được phát hiện đang di chuyển trong một vài khu vực của đường hầm, làm cho các nhân viên phải đeo mặt nạ phòng hơi độc. Nếu bạn kết hợp những nguyên tố này và một dòng năng lượng địa-từ trường, kết quả có thể lớn gấp nhiều lần con số Burke đo được ở kim tự tháp “Thế giới bị mất”.

Đây là một khám phá có ý nghĩa to lớn. Khoa học cổ đại và huyền bí đã thiết kế ra các công trình kim tự tháp để thu thập năng lượng, quả là thú vị và cần được phân tích kĩ hơn nữa. Thật không may, chúng ta có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Ai đã xây dựng nên Teotihuacan?

Video phim tài liệu Những vị vua thất lạc của Teotihuacan:

 

 

Cliff Dunning, Ancient-Origins.net
Đăng tải với sự cho phép
Phong Trần biên dịch

Xem thêm:

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites