vodanhlaonhan

CON NGƯỜI LÀ AI XUỐNG CÕI TRẦN LÀM CHI

1 bài viết trong chủ đề này

CHƯƠNG THỨ BA

TẠI SAO CÓ SỰ SAI BIỆT GIỮA QUẦN CHÚNG ?

Trong đạo đức dạy rằng : Không phải chúng ta sinh ra lần thứ nhất ở cõi trần dâu ?

Khi cái xác thịt này chúng ta đã trải qua nhiều kiếp Luân hồi, làm sắt đá, hết sắt đá tới cỏ cây, hết cỏ cây tới thú vật, hết thú vật mới tới kiếp làm người bây gi. Chúng ta mang cái lốt người đã mấy triệu năm rồi, chúng ta đầu thai đi, đầu thai lại biết mấy lần, mỗi lần ta nhờ sự kinh nghiệm học hỏi mà tiến hóa một bậc. Cõi trần và luân cả vũ trụ là một trường học lớn. Trời sinh ra để dạy dỗ các loài, từ tinh chất cho đến các hạng thiên thần, không phải chỉ để riêng cho con người mà thôi. Ta hãy xem trường sơ đẳng chia ra năm lớp : lớp năm, lớp bốn, lớp ba, lớp hai, lớp một. Mỗi một lớp đều có vài chục học trò, mấy trò này từ tính nết cho đến tri thức, không đồng bậc với nhau, có trò hiền, có trò dữ, có trò khôn, có trò dại, có trò láo xược, có trò thật thà, có trò siêng năng, có trò biếng nhác, có trò sáng láng, có trò mê muội. Tại sao có sự khác nhau như vậy ?

Nói về phần thiêng liêng hay là chân thần, thì không có ai lớn, ai nhỏ, ai cao, ai thấp, song về phần linh hồn thì có những linh hồn đã già, những linh hồn còn trẻ, bởi vì các linh hồn không đi đầu thai một lượt với nhau. Những linh hồn nào đã xuống cõi trần cả chục triệu năm trước và đầu thai nhiều kiếp rồi thì biết được những điều hơn thiệt, những lẽ thị phi, học hỏi được những sự khôn khéo thì tự nhiên phải giỏi kinh nghiệm nhiều và làm nhiều đièu lành hơn những linh hồn đi đầu thai mới có vài triệu năm. Cũng như đúa học trò lớp nhì giỏi hơn đứa học trò lóp tư vậy, mấy linh hồn sau này chưa được sáng suốt cho nên thường làm nhiều viẹc chẳng lành. Những bài nào mà kiếp trước đã học hỏi rồi, kiếp này ta gặp lại thì ta hiểu liền mau lẹ hơn mhững người mới học mấy bài đó lần thứ nhất.

Nếu hiểu được nguyên nhân của sự sai biệt giữa quần chúng và sự tiến hóa bất đồng bởi các linh hồn không sinh đồng thời với nhau thì ta chỉ biết thương xót, khoan dung và lo giúp đỡ những người nào còn tối tăm, còn thô lỗ, còn hung dữ, còn ích kỷ, còn tham lam,...vv..., bởi họ là những linh hồn còn thơ chứ không nên ghét hay trách móc họ. Và cũng không còn phiền hà sao ông trời bất công nữa nếu nói không có Luân hồi thì lấy đâu ra cắt nghĩa "Tại làm sao có mấy vị thần đồng ?"

Duyên cớ đó tôi xin giải ra sau đây.



NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG

Không phải con người học hỏi lúc còn sống ở cõi trần mà thôi, sau khi thác rồi, lên cõi Trung giới và Thượng giới còn học thêm nữa. Những bậc thiên tài, mà ta trầm trồ khen ngợi bây giờ, mấy vị ấy đã nhiều kiếp chuyên môn về những khoa học, hoăc toán học, hoặc âm nhạc, hoặc thiên văn, hoặc văn chương, hoặc mỹ thuật,...vv.... Bởi các môn học thức đều truyền lại đời sau, nên mới có những vị thần đồng để khai sáng cho đời trên con đường học vấn. Sau đây là những vị thần đồng mà thế giới biết danh.



NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG BÊN ÂU - MỸ

CÁC NHẠC SĨ



Hồi thế kỷ 17, Haended mới có mười tuổi mà đặt những bài thánh ca băng tiêng la tin để hát trong nhà thờ Halle.

Mozart nổi tiếng hồi bốn tuổi vì đã khảy một khúc cầm nhạc, tới 11 tuổi thì dặt hai bài ca kịch Finta simpkice, Bastien và Bastienne rồi từ đó về sau danh tiếng lẫy lừng.

Bêthoven mà người ta gọi là thần đồng âm nhạc, 10 tuổi đã đánh những khúc đờn tuyệt diệu.

Paganini mới 9 tuổi mà đã trong một cuộc hòa nhạc tại thành Génes (Ý) đánh đàn vi-o-lông (violon) hay đến nỗi mà thiên hạ đều vỗ tay khen ngợi.

Meyerbeer mới 6 tuổi mà đã trổ tài trong những cộc hòa nhạc.

Liszt hồi nhỏ đã nổi tiếng kỳ tài, vừa mới 14 tuổi đã diễn một bài ca kịch, có một hồi gọi Don Sanche hay là Châuteau d'amour (Lâu đài tình ái).

Ông Gariel Delanne gặp tai hội nghị tâm lý học, năm 1900, cậu bé Petio Ảiola mới có 3 tuổi rưởi đánh đàn bi-da-nô (piano) trong lúc xuất kỳ bát ý, biến hóa nhiều khúc thâm trầm.

Năm 1911, cậu bé Ferreros mới có 4 tuổi rưởi mà điều khiển đội âm nhạc ổ Folies Bergères một cách chắc chắn và khéo léo.



CÁC HỌA SĨ



Michel Ange mới có 8 ruổi mà thầy của ngài là ông Ghirlandajo quả quyết rằng không còn vấn đề gì để dạy ngài nữa.

Hồi còn bé thơ, Rembrandt ham mê nghề vẽ cho đến nỗi Lombroso chắc chắn rằng cậu bé này vẽ hay như mộit họa sư, trước khi cậu biết đọc. Nhà họa sĩ Marcel Lavallard, bức tranh đầu tiên của ngài được đem chưng bày nơi phòng triển lãm hồi ngài có 12 tuổi.

Câu. Van de Kèkhỏe de Brugé thác ngày 12-8-1873 lúc cậu mới có 10 tuổi 11 tháng để lại 350 bức tranh mà vài cái, theo lời ông Adolphe Siret có chân trong hàn lâm viên khoa học, văn chương và mỹ thuật ở nước Bỉ nói, có thể ký tên lên các họa sĩ trứ danh như Diaz, Salvator Rosa, Corot ...vv...



CÁC BÁC SĨ, VĂN SĨ VÀ THI SĨ



Hermozène mới 15 tuổi đã dạy khoa tu từ học (Rhétorique) cho vua Mảc Aurèle.

Hồi 13 tuổi Passcal tự một mình tìm lại được 32 đề nghị d'Euclide ; ngài là nhà kỷ hà học, vật lý học, triết học, và kiêm văn sĩ một lượt. Ngài đứng đầu hết thảy các bậc thiên tài trong thế kỷ 17.

Pierre de Lamoignon mới 13 tuổi đã đặt thi văn bằng chữ Hy Lap và chữ La tin rất hay. Ngài cũn giỏi về pháp luận cũng như văn chương vậy.

Gauss de BrúnƯick nhà thiên văn và toán học kỳ tài, hồi có 3 tuổi đã giải quyết những bài toán đố rồi.

Ericson thác năm 1869 giỏi về cơ giới học, cho đến nỗi mới 12 tuổi đã được chính phủ phong làm thanh tra cái kênh lớn đào thông ra biển ở Thụy Điển (Suède). Một mình ngài điều khiển sáu trăm dân phu.

Victor Hugo mới 13 tuổi được tao đàn ở Toulouse thưởng về những bài thi phú của ngài làm.

Năm 1837, cậu bé chăn cừu "Vita Mangiamel" đã làm cho mấu vị thông thái trong hoàn cầu phải hết súc ngạc nhiên vì cậu tính toán hay một cách lạ thường. Có một số nhà toán học đố cậu câu này : "Vậy chứ con số nào mà nó nhân cho nó 3 lần (élevé au cube) rồi cộng với 5 lần nó nhân cho nó (5 fois son caré) thì bằng 42 lần nó cộng với 40". Không đầy một phút cậu trả lời : "Ấy là số 5".

NHỮNG VỊ BIẾT NHIỀU THỨ TIẾNG

Wiliam Sidis xứ Etat de Massachussets biết đọc và viết hồi 2 tuổi, tớt 4 tuổi biết nói bốn thứ tiếng, 12 tuổi được vào học trường Massachussets Intitute of Technology, là nơi muốn được nhập học phải đúng 21 tuổi. Ngài diễn thuyết tại đại học đường Harward cho các vị giáo sư khoa cao đẳng toán học nghe về vấn đề "Bề thứ tư của không gian" (tứ nguyên không gian 4e diménion) làm cho các thích giả lắng nghe kinh dị vô cùng.

Yuong, người tưởng tượng ra thuyết ánh sáng truyền đi như sóng dợn, hồi 2 tuổi đã hoc trôi chảy, 8 tuổi biết cặn kẽ sắu thứ tiếng. Cậu bé khác tên là Villiam Hamilton học tiếng hê-brơ (hébreu) hồi 3 tuổi ; tới 7 tuổi sự học thức của cậu còn rộng hơn nhiều vị đi thi lấy bằng cấp thac sĩ. Tới 13 tuổi biết 12 thứ tiếng. Lúc 8 tuổi cậu làm cho những người xung quang hết sức ngạc nhiên cho đến nỗi một nhà thiên văn yệt-lăng-đe (Irlandais) nói rằng : "Tôi không nói nó sẽ, tôi nói nó là nhà số học hạng nhất trong đời nó".

Cậu Jaqué Chiston người xứ Ê-cốt ( Ecossais) mới 15 tuổi mà tranh biện bằng tiếng la tin, tiếng Hy Lạp, tiếng hê brơ, và tiếng a rập bất kỳ là vấn đề nào.

Pic de la Mirandole hồi còn bé đã làu thông tiếng la tin, tiếng Hy Lạp, rồi kế đó tiếng hê brơ và tiếng a rập. Tới 20 tuổi sự thông minh của ngài không ai so sánh kịp trong thời đại đó.

Barattier Jean Philippe sinh năm 1721 tại Schwabach trong Magraviad d'Auspach thác năm 1740, hồi 7 tuổi đã thạo tiếng a-lơ-măng, tiếng Pháp, tiếng la-tin, tiếng hê-brơ, 2 năm sau ngài làm quyển từ điển những tiếng khó hết sức. Tới 13 tuổi ngài dịch cuốn "Cuộc hành trình của Bengamin Tudèle" bằng tiếng hê-brơ ra tiếng Pháp, rồi năm sau ngài lại được làm giáo sư tại đại học đường Halle.Cũng trong lúc ấy ngài xuất bản nhiề bài bình luận rất uyên bác, trong tàng thư viện Dức quốc. Ngài làm việc quá nên chết về lao tổn năm 1740 hồi mới 19 tuổi.

Heri de Hanneke sinh tại Lubeck năm 1721 mới đẻ đã biết nói. Tới 2 tuổi đã biết ba thứ tiếng. Cậu học viết trong vài ngày, và tập làm những bài diễn văn vắn tắt. Tới 2 tuổi rưỡi cậu cho khảo hạch về địa dư và sử ký cận đại. Cậu sống là nhờ sữa của bà vú. Người ta muốn dứt sữa cậu, cậu héo mòn rồi chết ngày 17-6-1725 tại Lubeck và quả quyết có hy vọng về kiếp sau.

Trong số các nhà từ ngữ hiện đại nên kể ông Trombetti vì ngài giỏi hơn các bậc tiền nhân. Lúc còn bé ngài học ở trường tiếng Pháp và tiếng a-lơ-măng, ngài học sách của Voltaire và Goethe. Ngài chỉ đọc cuốn sách nói về đời của Abdel-Kader mà ngài thuộc tiếng a-rap. Một người Ba-tư có diệp đi ngang qua Bologne dạy ngài biết tiếng Ba-tư trong vài tuần lễ. Hồi 12 tuổi ngài học một lượt tiếng la-tin, tiếng Hy-lạp và tiếng hê-brơ. Từ đó ngài học gần hểt các sinh ngữ và tử ngữ trong toàn cầu. Các thân bằng của ngài quả quyết rằng bây giờ ngài thuộc ba trăm thổ ngữ Đông-Phương.



NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG ĐỜI NAY

MỘT ÔNG LƯƠNG Y NĂM TUỔI



Chuyện này mới nghe qua lạ lùng lắm, song là sự có thật. Thái y viện thành Nouvelle Orléans bên Hoa Kỳ có cấp bằng cho một học viên học sinh mới có 5 tuổi tên Villie Gwin, vốn con của một lương y ở tại đó. Các vị giám khảo nói rằng : từ thuở giờ không có một vị cử tử nào học bộ xương cốt con người bằng đứa nhỏ này. Nó thông thạo một cách lạ thường lắm.



MỘT VỊ THẦN ĐỒNG TẠI NƯỚC ĐAN MẠCH (Dannemark)

Có một cậu bé con tên là Bant-Stromtrens năm nay độ 16, 17 tuổi, mà đã là một nhà trứ danh trong khoa học giới ở Âu Châu. Mỗi khi có bài ngôn luận của cậu xuất bản thì các nhà khoa học gianh giá ở Anh, Pháp đều khen ngợi lắm.

Mới đây, người Na-uy (Norvège) lại mua bản quyền một bộ sách thiên văn học của cậu để tiến đến ấn hàng cho nhân dân học. Bộ sách này cậu biên tập từ ngày mới 13 tuổi, phong vân tinh tú rất tinh tường, ngôn luận rất đích xác, lại có nhiều điều chiêm nghiệm mới, ý tưởng mới, giải thuyết mới có thể giải được những vấn đề nghi nan của thiên văn giới xưa nay, nên hàn lâm viện nước Na-uy lấy làm kinh phục mới ấn hành để làm giáo khoa thơ. Người ta nói rằng cái cách học thức của cậu là nhờ về gia đình giáo dục nhiều, nguyên ông thân sinh cậu là mộy nhà thiên văn học có tiếng, nên khi cậu còn nhỏ thì đã luyện tập kỹ càng rồi, cậu lại là người thông minh tuyệt thế nên học hành mau tấn tới lắm.

(Lục Tỉnh Tân Văn ngày 25-5-1926)



MỘT NHÀ KHOA HỌC BÉ CON

Tại Luân-đôn có một người tên Sa đức mới 11 tuổi mà thông minh lạ thường. Cậu ta là con một nhà khoa học trứ danh, nên khi còn nhỏ mà cậu đã tinh thông được sự nghiên cứu của khoa học. Mỗi khi cậu luận thuyết bài nào thì cũng được các nhà khoa học khen ngợi lắm. Về đường toán học, nghệ học thì cậu lại càng giỏi nữa, những bài toán khó hay nhiều con số đến đâu mặc lòng cậu cũng tính miệng ngay đi được. Mới đây cậu lại chế ra một máy bay để đi liệng trên mặt thành Luân-đôn, ai cũng khen tài giỏi. Chính phủ có cấp cho cậu một cái bằng kỹ sư và một cái thẻ bằng vàng để khuyến khích cho người khác ; hội khoa học cũng mời cậu vào dự một chân trong hội.

K.H

(Công Luận 26-7-1926)



MỘT NHÀ ĐẠO ĐỨC BÉ CON



Tại làng Trawaddv Delta ở Rangoon có hai vợ chồng người kia chuyên nghề mạ bạc, sinh được một đứa con trai đặt tên là Tun-Tyin. Năm nay nó được 9 tuổi. Trước trán nó có hai cục bứu rất lớn, còn đằng sau ót có một cục cũng to. Cặp mắt nó tinh rhần lắm. Hồi nó 5 tuổi thì nó còn giảng đạo còn hay hơn các vị hòa thượng. Có nhiều ông sư đem mấy chỗ khó khăn của triết lý đạo phật vấn nạn nó thì nó trả lời xuôi rót và giải rành rẽ nữa. Nó đọc nhiều đoạn kinh mắt mỏ bằng tiếng Ba-li (Pali) rồi dịch thuộc lòng bằng tiếng Bụt-mết (Burmesse). Ngày 28-5-1924 nó ngồi xe hơi đi từ Par-myde tới Prome đường dài 40 cây số. Dọc đường bá tánh đua nhau đón xe chật nức đặng nghe thuyết pháp. Tới Prome nó leo len cao rồi đúng giữa trời dạy đạo từ 12h30 - 14h30. Trời nắng chan chan mà nó không hề biết mệt mỏi. Nếu Tun-Tyin đầu thai qua nước Nam chắc là thiên hạ theo làm đệ tử đông lắm.(1)



(1): Bài này đăng vào thần linh tạp chí (Revue Spirite) nhưng vì thời cuộc tôi đã mất số đó nên không chắc được ngày tháng. Mấy bài kia cũng như vậy, nếu tên riêng có viết sai xin các bạn miễn nghị.



THẦN ĐỒNG 4 TUỔI



Bên nước Mỹ mới phát hiện một đứa trẻ thần đồng mới có 3 năm 10 tháng mà về đường thí nghiệm tâm lý dẫu các giáo sư và học trò trường đại học cũng không bằng. Đứa trẻ đó đã thuộc chữ Hy Lạp. đã biết cách thức phương trình và hóa học, lại nói được tên các danh nhân trong thế giới và tên các kinh đo các nước, đem nào nó cũng xem sách đến 11 giờ mới ngủ. Người cha làm quản lý một nghề bảo hiểm, ông ta nói chuyện với người ta rằng : Con tôi một năm nữa sẽ vào trường cao đẳng tiểu học. Đó là điện tín Nữu Ước, cứ như tin ấy thì đứa bé này đáng gọi là thần đồng thật, nhưng theo lời người cha, thì ra bên Mỹ không hạn tuổi thi tốt nghiệp và tuổi vào trường cao đẳng tiểu học ư.

(Annam tạp chí số 19 năm Tân Vị -2 S. Mars 1931)

NHỮNG VỊ THẦN ĐỒNG BÊN PHƯƠNG ĐÔNG



Bên Tàu đời Tần Thủy Hoàng, Cam La mới 12 tuổi mà làm thừa tướng. Bên Nam mình có ông Nguyễn Hiền quê quán tại tỉnh Nam Định, huyện Thượng Thiên, đời Trần Thái Tông, năm Thiên Ứng Chánh Bình, 1225 ngài mới được mười hai tuổi mà học hành thông minh lắm. Nên thiên hạ gọi là thần đồng. Nhưng còn biết bao nhiêu vị khác nữa mà tiếc rằng không biết tên.



NHỮNG NGƯỜI NHỚ CHUYỆN KIẾP TRƯỚC

mấy việc sau Như tôi đã nói khi nãy, con người thác rồi bậc trung là năm trăm năm mới đi đầu thai. Nhưng có vài trường hợp, vì một lẽ nào chẳn rõ mà một ít lâu trở lại cõ trần nữa. Mấy vị này nhớ lại việc kiếp trước như đây :



I- CHUYỆN QUAN THIẾU TÁ WELSH :

Báo Le Journal ngày 18-9-1907 đăng bài này : "Dân chúng Anh ở Rangoon rất chấn động về những lời biểu lộ của một đứa con nít. Báo giới ở hải ngoại có thuật một chuyện gọi là gọi rằng luân hồi có xảy ra tại Rangoon. Quan thiếu tá Welsh từ trần gần thành này năm 1903".

Mới đây một đứa nhỏ ba tuổi làm cho cha mẹ nó sửng sốt, vì nó nói một cách nghiêm nghị rằng : nó là quan thiếu tá Welsh đầu thai lại. Nó mới tả rành mạch chỗ ở của thiếu tá, nó kể lại những công việc của ngài làm và số ngựa tơ của ngài nuôi khi trước. Chác chắn hơn nữa, nó thuật lại cách chết quan thiếu tá trong jhi ngài đang du lãm trên hồ Mektelea với hai người khác. Cha mẹ nó mới hết sức kinh ngạc, vì cậu bé nào có biết quan thiếu tá và gia quyến ngài đâu. Thiên hạ đồn rùm chuyện kì dị này, họ bàn tán xôn xao làm cho bận lòng các giới khoa học nước Anh.



II - TRÍCH LỤC LỜI TƯỜNG THUẬT CỦA BÁC SĨ DE HERI HENDSOLD, SAU KHI NGÀI VIẾNG ĐỨC HOẠT PHẬT Ở TÂY TẠNG TẠI THÀNH LAS-SA (GRAND LAMA À LHASSA) :



Cách năm chục năm nay, hai đứa trẻ, một trai, một gái sinh tại làng OK Kshitgon, một ngày với nhau, trong hai nhà kế cận. Chúng nó lớn lên thường chơi giỡn với nhau tới tuổi trưởng thành thì kết làm vợ chồng.

Chúng nó lập một gia đình cày cấy cánh đồng khô khan bao phủ Okshitgon để nuôi sống chúng nó. Chúng nó thương yêu nhau lắm rồi cũng chết một lượt với nhau. Người ta chôn chúng nó ngoài làng rồi quên phức chúng nó đi vì lúc đó thời cuộc khó khăn ; đó là năm sau khi thành Măn-đa-lay (Mandalay) bị thất thủ, toàn xứ Miến Điện đều nổi loạn. Trong xứ, dân chúng đều mang khí giới, đường xá rất nguy hiểm. Ban đêm nhiều xóm bị lửa cháy đỏ trời, ấy là buổi thảm đạm cho những người yêu chuộng hòa bình. Nhiều kẻ bỏ nhà chốn vào những chỗ đông người và gần những cơ quan chính trị. Okshitgon ở vào chính giữa của một trong những khu tàn phá ; nhiều người trong làng chốn đi, trong đó có một người tên Maung Kan và vợ anh còn trẻ. Hau vợ chồng này tới ngụ tại Kabyn. Hồi còn ở Okshitgon vợ Maung Kan đẻ sinh đôi hai đứa con trai trước khi đi tị nạn ít lâu. Đứa đầu lòng tên Maung Gyi nghĩa là anh cả, đứa nhỏ tên là Maung Ngé. Hai đứa ở Kabyn lớn lên, lớn lên biết ăn, biết nói, thì cha mẹ chúng nó lấy làm lạ mà thấy chúng nó không kêu nhau bằng Maung Gyi và Maung Ngé mà xưng hô là Maung San Nyein và Ma Giroin. Ma Giroin là tên đàn bà. Hai vợ chồng Maung Kan mới sực nhớ lại hai tên đó vốn là tên của hai vợ chồng người kia chết tại Okshitgon, cùng một lúc sinh hai đứa nhỏ. Hai vợ chồng nghĩ rằng : cáhc linh hồn của hai người chết đầu thai làm hai đứa nhỏ, bèn dắt chúng nó về Okshitgon để thử chúng nó coi. Khi về Okshitgon hai đứa nhỏ biết hết đường xá, nhà cửa dân chúng và nhìn được quần áo chún mạc kiếp trước. Không còn diều gì ngờ vực nữa. Đứa nhỏ nhớ lại kiếp trước, hồi nó còn làm Ma Giroin nó có mượn hai ru-bi (roupies) của cô Mathet, chồng nó không hay biết, mà nó cũng chưa trả số tiền đó.

Mathet còn sống, người ta hỏi cổ thì cổ trả lời việc đó có thật. Tôi không nghe cha hai đứa nhỏ trả hai ru-bi cho cô Mathet. Tôi có gặp chúng nó trong cơ hội đó. Chúng nó bây giờ được sáu tuổi. Đứa lớn thì mập lùn, đứa nhỏ thì yếu hơn, có vẻ trầm ngâm như con gái.

Chúng nó thuật lại với tôi nhiều việc kiếp trước của chúng nó. Chúng nó nói rằng sau khi thác rồi, chúng nó phiêu phiêu phưởng phưởng ở trên không chẳng có xác thân và phải trốn tránh trong cây cối, vì tội lỗi chúng đã làm, rồi vài tháng sau chúng nó đầu thai làm hai anh sinh đôi. Đứa lớn thì nói : Hồi trước thì rõ ràng tôi nhớ được cả thảy, mà mấy việc đó phai lần lần bây giờ tôi không còn nói như trước nữa.



III- TRÍCH LỤC SỰ ĐIỀU TRA CỦA BÁC SĨ DE CALDẺONE TỪ TRƯỜNG THUẬT CỦA BÁC SĨ DR. MOUTIN :



Lối năm 1906 báo Paisai Akhabar ở Lahore có thuật chuyện một đứa con gái lối 7 tuổi sinh tại làng Pendjab, thuộc về gia quyến đạo Hồi Hồi, bỗng nhiên trở nên nghiêm nghị và nói như một người đàn bà có chồng. Cô bé cho biết rằng cô bé có một kiếp trước mà bây giờ cô nhớ rành rẽ các chi tiết của kiếp đó. Kiếp đó cô là vợ của một người Ấn Độ, cô nói lớn tiếng và năn nỉ người ta dắt cô lại nhà chồng cũ của cô để cô giải quyết một chuyện hệ trọng. Ban đầu người ta không để ý mấy tới mấy lời đó, nhưng bởi cô khăng khăng một mực, cha mẹ cô phải đem cô lại chỗ cô chỉ, một phần là tại chiều theo cô vì cô làm rày và hăm he, một phần tại tính tọc mạch. Khi tới chỗ thì cô bé đi ngay vào nhà nó đã nói như biết rành rẽ vậy. Khi nó gặp người chồng kiếp trước thì nó nói nhiều việc làm cho người này kinh ngạc và nó biểu anh ta cưới nó. Muốn chỉ đủ bằng chứng rằng nó là vợ trước của anh, nó mới biểu người ta đem một cái rương cũ của nó lại mà từ hồi nó chết tới giờ rương đó vẫn khóa chặt. Nó kể đủ mấy món đồ trong đó. Chừng mở rương ra quả in như vậy. Người chồng cũ và cha mẹ bây giờ không tán thành việc gả cưới vì nó vô đạo Hồi Hồi, còn chồng cũ nó là người đạo bà la môn. Vì vậy đứa nhỏ bị cha mẹ ép phải trở về nhà.

Bác sĩ Moutin hỏi thêm rằng : muốn cho rõ sự thật tôi có viết thư cho cgủ nhiệm báo Lahore xin ổng cho biết coi chuyện đó có đáng tin hay không và xin ổng cho thêm chi tiết. Ông chủ nhiệm vui vẻ trả lời rằng ông quả quyết những tin tức ông đăng ra quả có thật như vậy, và khi nào ổng tiếp dể cho những chi tiết thêm, thì ông sẽ gởi đến cho tôi liền. Cách ít lâu tôi viết thư nhắc ổng thid ổng trả lời rằng : "Ổng có hỏi thử nhiều lần chuyện đó, song những người dính vào chuyện đó đều thủ khẩu như bình, vì lẽ rằng những tin tức họ đăng ra làm cho họ áo não, thân bằng họ bực tức, và nếu còn đăng tiếp việc đó trên báo mãi, thì khi cô bé đúng tuổi trưởng thành họ chác khó kiếm một người chồng cho nó".

Ông Dr Mountin còn nói tiếp rằng : có một chuyện tương tự như vậy xảy ra hồi năm 1906 có đăng ở các báo chính ở Ben Gate cách hai năm nay (tôi lấy ý nghĩa dịch ra) Ramshadon Guin 45 tuổi vốn dòng Bratyks hertéria là một người dân ở Krolbéria, thuộc về tài phán của Thannah Bhangore khu 24, Parganas. Vợ ông tên Manmohini Dassi chết vì bệnh dịch tả đã 12 năm rồi ; ông thân ông là một người Dpchand Mandal trong làng Baota. Sau khi Manmohini thác rồi thì dì của Manmohini ở Balgorh sinh ra một gái. Hôm tháng tám tây vừa rồi, cô gái nhỏ ấy tới viếng Bamoumuller với mẹ nó. Tình cờ đi ngang qua Krolbéria, cô mới chỉ cái nhà của Ramshadon và nói rằng : "Cái nhà cái vườn, cái hồ nước vốn là của chồng đời trước tôi". Mẹ cô và cô mới vô nhà. Cô bé vái chào một bà già ở đó rồi nói rằng : "Bà này là mẹ chồng của tôi hồi đời trước, phòng này là phòng của tôi, còn mấy đứa trẻ kia là con của tôi." Cô bé mới nói với Ramshadon : "Anh là chồng của tôi" và nài nỉ : "Anh hãy cưới tôi, không thì tôi tự vận tôi chết". Ramshadon mới biểu cô bé đem vài chứng cứ ra. Cô bé nói : "Lúc tôi chết, người ta may sáu rupi(roupie) trong áo dài tôi, mà anh lác lấy đi, anh hãy nhớ lúc tôi năm trên giường chờ chết, tôi hỏi một chút ít tiền bạc và đồ trang sức cho đứa con trai đầu kòng của tôi. Tôi để lại cho anh một cái chậu đỏ và vài miếng ru-băn(ruban) để cột tóc ở trên vách tường và hai cây trâm cài đầu ở trong rương." Ramshadon tìm gặp hai cây trâm đã dính đầy bụi.Cô bé mới biểu Ramshadon kiếm trong rương coi cái áo nhiểu của cô còn tốt không. Ramshadon kiếm gặp mà rách hau chỗ. Cô bé bèn biểu cắtnghĩa xem tại sao vạy, hồi cô mạc nó chỉ rách một chỗ mà thôi. Người ta hỏi ra mới biết con dâu của Ramshadon mạc áo đó làm rách một chỗ nữa.

Cô bé nhìn biết mấy đứa con, và những người bà con khác và cô kể tên ra. Một người đàn bà hỏi cô bé : "Cô có biết tôi là ai không ?" Cô bé trả lời rằng : "một ngày kia dì gần chết đói, đi lại xin tôi đồ ăn. Tôi cho dì một bát cơm, dì gọi tôi là mẹ dì, bây giờ dì có nhìn ra tôi được không ?" Ramshadon mới nói với cô bé, ông không thỉa thuận về sự cưới cô lại, vì ông đã 45 tuổi mà cô bé mới vừa 11 tuổi, nhưng cô bé nài nỉ nói rằng : "Sau khi cô đi thì mấy đứa con cũng quyết định như cổ". Cổ không muốn về nhà cha mẹ cổ, cổ kêu cha mẹ cổ bằng dì dượng, cha mẹ cổ ép buộc cổ về nhà. Nhưng một ít lâu sau Ramshadon băng lòng cưới cô.

Krolbéria ở cách thành Calcuttacó mười dặm anh, cái gì thuộc về hộ tịch thì về quyền tài phán của Séaldah. Người ta mới nhờ ông Babu Taraknath Riswar, giám đốc văn phòng Séaldah, điều tra việc này cho chắc sự thật. Ngày 17 tháng Baisah mới rồi, Ramshadon cùng vài người ở Krolbéria đi qua Séaldah để ghi giấy tờ. Babu Taraknath thừa diệp đó bèn hỏi thăm sự tích. Ramshadon trả lời rằng : "Những diều mà các báo đăng ra đều đúng với sự thật, và những người khác ở chung một làng với ông đều chứng kiến mấy điều đó như ông vậy." Ông quả quyết rằng cô bé biết mặt hết những người trong làng mà kiếp trước nó có giao thiệp. Khi cô bé nghe Ramshadon không cưới cô thì cô thường khóc lóc. Rashadon và hương chức mỗi ngày đều được thư tứ phương của người ta gởi đến hỏi thăm cho biết sự rành rẽ ấy. Bởi mấy ổng chẳng thể trả lời riêng cho từng người, nên nhờ ông Taraknath kiếm dùm một phương cách để làm họ vừa lòng. Taraknath liền chiệu lãnh phần trách nhiệm cho thiên hạ biết đích xác câu chuyện luân hồi này để cho các nhà thông thái Âu Châu lấy đó làm vấn đền học hỏi. Tờ chứng nhận in ra và ký tên : Amabika Gupta.



NHỚ CHUYỆN KIẾP TRƯỚC

Trong thành Havane (Cuba) có hai vợ chồng ông Esphugas Cabrera sinh được một trai tên là Edourd năm nay được 4 tuổi. Thằng bé này sáng lám, và có tính nói nhiều. Chỗ ngụ của Esphugas vẫn luôn luôn ở đường San-José số 44 tại Havane. Nơi đó Torquato Esphugas hùm với một người khác làm chủ một nhà in : "Thạch bản". (Typo-lit-ho-graphi-que), cậu bé Edouard sinh tại nhà này. Cách ít lâu, cậu bé nói với mẹ nó là bà Cécile Cabrera như vầy : "Má, tôi có một cái hà khác hơn cái nhà này, hồi trước tôi ở trong một cái nhà sơn màu vàng tại đường Campanario số 69 ; tôi nhớ chắc chắn như vậy". Lúc đó bà Cabrera không cho mấy lời này là quan trọng, song vài bữa cậu bé lại nhắc lại một lần nữa, làm cho cha mẹ nó để ý đến. Hỏi nó có nhiều câu thì nó trả lời như sau : "Hồi tôi còn ở Campanario số 69, cha tôi tên Pierre Saco, mẹ tôi tên Amparo. Tôi nhớ tôi có hai người em nhỏ tên Mercédès và Jean, tôi thường chơi giỡn với chúng nó. Lần cuối cùng tôi ra khỏi nhà sơn màu vàng, ấy là ngày chủ nhật 28 Février 1903 và người mẹ khác của tôi khóc dữ lắm và từ ngày đó tôi đi xa nhà của tôi. Người mẹ khác đó da trắng, tóc đen, bả làm những nón. Lúc ấy tôi 13 tuổi và tôi mua thuốc của nhà thuốc người Mỹ, vì họ bán rẻ hơn. Tôi để xe máy tôi ở phòng phía dưới, khi tôi đi chơi về. Tôi không phải tên Edouard như bây giờ mà tên Pancho."

Nghe lời tường thuật rành rẽ với một vẻ vùa chắc chắn vừa lạ lùng của một đứa trẻ 4 tuổi, cha mẹ Edouard không ngần ngại không biết tính sao. Lại một nỗi Edouard chưa hề đến nhà số 69 đường Campanario bao giờ. Sự cảm xúc vừa qua rồi thì hai vợ chồng Esphugas Cabrare mới suy tính coi trong những lời tường thuật của đứa nhỏ có sự thật hay không. Vài ngày sau cha mẹ Edouard dẫn nó đi chơi, sau khi qua một khúc quẹo thì tới trước nhà số 69 đường Capanario mà Edouard và cha mẹ của nó cũng không biết nữa. Nhưng khi đi tới thì Edouard nhận ra được liền. Nó la lên : "Đây này, cái nhà tôi ỏ hồi trước đó." Cha nó mới nói : "Nếu quả thật thì con hãy vào đó đi." Cậu bé chạy vào trong, đi lại thang leo lên lầu, vào trong mấy cái phòng dường như nó quen biết từ lâu rồi. Nhưng nó trở xuống ngay lập tức, buồn buồn vì nó không gặp được cha mẹ nó, mà gặp những người lạ mặt khác. Nó cũng không kiếm được đò chơi mà hồi trước nó chơi rất vui với hai em nó là Mercédès và Jean.

Hai vợ chồng Esphugas Cabrera thấy cái kết quả cảu cuộc thử lần đầu tiên như thế, bèn tìm kiếm thêm nữa để cho đủ những bằng chứng xác thật. Nhờ có chính phủ giúp sức cái kết quả của cuộc điều tra như vầy :

1- Căn nhà số 69 đường Campanario vốn có Antonio Saco mướn ở đó cho đến sau tháng Février 1903 một ít lâu ; hiện giờ Antonio Saco không có mặt tại Havane.

2- Vợ của Saco là Amparo sinh ba đứa con trai tên là Mercédès, Jean và Pancho.

3- Trong tháng Février Pancho chết, sau đó gia quyến ông Saco thôi ở nhà đó.

4- Gần nhà đó có một cái tiệm thuốc mà cậu Edouard quả quyết rằng nó có đi tới đó. Nhiều tờ báo thần linh bên Mỹ Châu như Fiat Lux de Ponce (Porto-Rico), Constancia de Buenos Ayres Réformador de Rio de Janeiro, ...vv..., đều có đăng bài này năm 1907.



CHUYỆN CON ÔNG HOÀNG EMILE DE VV

Ngày 18-9-1874, ông hoàng Emile de VV ở Vervey, nước Thụy Sỹ (Suisse) có viết cho toàn soạn báo thần linh (Revue Spirite) bức thư này để gởi cho biết hiện tượng lạ lùng xảy ra cho đứa con trai thứ nhì của ông mới có 3 tuổi.

"Cách vài tuần nay, đứa con trai tôi dang chơi và nói chuyện ở trong phòng làm việc của tôi, bỗng chút tôi nghe nó nói tới nước Anh, theo tôi dược biết thì không ai nói nước Anh cho nó nghe cả, tôi lắng nghe và tôi hỏi nó : "con biết nước Anh sao ?" Nó bèn trả lời : À biết chứ. Ấy là xứ tôi ở hồi đó, lâu lắm rồi.

- Con còn nhỏ như bây giờ phải không ?

- Không, tôi lớn hơn và có râu dài.

- Mẹ con và cha con có ở bển không ?

- Không, tôi có một người cha và một người mẹ khác.

- Con làm gì ở đó ?

- Tôi thích chơi lửa lắm, rồi có một lần kia tôi bị phỏng nặng quá, nên chết đi."



ĐẦU THAI LÀM CON HAI LẦN

I - Báo Banner of Light tại Boston ngày 15-10-1892 có đăng chuyện này vốn của ông Issaac G. Forster là một người có danh giá thuật lại.

Mười hai năm trước tôi ở tại địa phận Effingham (Illinois) tôi có bỏ một đứa con gái tên Mari tuổi vừa cập kê. Năm sau tôi không ở Effingham nữa, tôi qua ngụ tại Dakota, vợ tôi sinh một gái đặt tên Nên-Ly (Nellie) năm nay được chín tuổi. Hồi nó biết nói cho đến bây giờ nó không chịu nó tên Nên-Ly, nó cứ nói tên Mari mà thôi. Mới đây tôi có việc nên trở về Effingham tôi có dẫn con Nên-Ly theo. Tới đó nó liền biết nhà cũ của tôi và nhiều người mà con Meri quen thuộc hồi trước. Con Nên-ly không thấy cảnh trường của con Meri học khi xưa lần nào mà nó tả hình dáng đúng hết. Trường này cách nhà cũ của tôi khoảng 1,5 km. Con Nên-Ly xin tôi dẫn nó lại trường đó ; đến nơi nó chạy lại chỗ chị nó ngồi hồi trước và nói rằng : "Chỗ này là chỗ của con đây".

Chuyện này cũng có đăng vào báo "Globe Démocrat" ở Saint Louis ngày 20-11-1892 và báo Le Brooklyn Eagle, báo Le Milwankee Sentinel ngày 25-11-1892.

II - Năm 1912 ông quan ba Florindo Batista có gởi bức thư này cho chủ bút báo Ultra bên Ý để đăng cho thiên hạ xem (1):

Nhằm 8-1905 một đêm kia vợ tôi nằm trong phòng chưa ngủ, bỗng thấy đứa con gái nhỏ của tôi thác ba năm trước, hiện ra bộ dạng vui vẻ chạy lại nói với má nó như vầy "Má ơi ! con trở về đây...."Vợ tôi giật mình ngồi dậy thì con tôi đã biến mất. Lúc ấy bả có thai được ba tháng rồi. Đến khi tôi về vợ tôi hồi hộp, nói thuật chuyện lạ lùng đó cho tôi nghe. Trong trí tôi tưởng bả bị hôn mê nên nói như vậy, song tôi không muốn cãi cọ với bả làm gì. Tôi cũng bằng lòng nếu sau này bả sinh con gái thì lấy tên Bạch đặt cho đứa nhỏ (2).

Lúc ấy tôi không biết dạo là gì, ai nói với tôi có sự luân hồi thì tôi cho là điên, vì tôi chắc một khi thác rồi thì không hề đầu thai lại bao giờ. Sáu tháng sau, nhằm tháng hai, năm 1906 vợ tôi sinh một đứa con gái giống y như đứa trước, con mắt cũng lớn và đen huyền, tóc cũng rậm và quăn. Tuy giống như vậy chứ trong lòng tôi cũng không tin, mà vợ tôi mừng lắm vì chắc điềm chiêm bao ứng nghiệm, con nhỏ trước đầu thai lại. Bây giờ đây con nhỏ được 6 tuổi rồi, nó mạnh dạn và cũng khôn ngoan như chị nó.

Lúc trước khi con trước tôi còn sống, tôi có mướn một người đàn bà nước Thụy Sĩ (Suisse) tên Mari giữ nó. Người này nói ròng tiêngd Langsa và có một bài ca rất êm tai, hễ cất tiếng ca một lát thì con tôi ngủ liền.

Khi nó thác rồi, cô Mari trở về xứ sở, hai vợ chồng tôi không cho trong nhà ca bài đó nữa, vì nghe đến thid động lòng nhớ con tôi vô hạn. Đã chín năm rồi, hai vợ chồng tôi đã quên bài ca đó rồi. Nhưng tuần rồi đây, hai vợ chồng tôi đang ở trong phòng viết, gần phòng con "Bạch" ngủ, bỗng nghe văng vẳng bài ca đó.

Ban đầu hai vợ chồng tôi không biết là tiếng của con bé, đến khi lại gần phòng thì thấy nó ngồi trên giường ca rành rẽ tiếng Langsa. Bài ca này không ai dạy nó.

Nó không biết tiếng Langsa đâu, nó chỉ nghe mấy chị nói có một hai tiếng mà thôi. Vợ tôi làm bộ như thường và hỏi rằng : "Con ca bài gì đó ?". Nó trả lời : "Con ca một bài ca Tây". Mẹ nó hỏi thêm : "Ai dạy con đó ?" Nó nói "Không ai dạy con hết. Con tự biết." Nói rồi nó ca tiếp hết bài ca đó coi bộ vui vẻ lắm và dường như trọn đời nó không có bài ca nào hay hơn bài đó nữa.

Chư vị khách quan xem bài này tự ý muốn luận cách nào cũng được. Phần tôi, tôi nói :

"CON NGƯỜI THÁC RỒI ĐẦU THAI LẠI"







(1): Bài ca này dịch ra tiếng Langsa và đăng vào thần linh tạp chí năm 1912.

(2): "Bạch" "Blanche" là tên đứa con gái đã thác.





DÙNG PHÉP THU THẦN HỎI VIỆC QUÁ KHỨ VÀ CHUYỆN VỊ LAI

Quên chuyện kiếp trước đó là một lẽ thường, song sau khi bi thu thần ngủ mê man rồi thì con người có thể thuật lại những chuyện đã làm lúc mấy năm về trước, lúc còn nhỏ và luôn cả kiếp đã qua rồi. Như chuyện dưới đây :



SÁT PHU QUẢ BÁO

Ông hoàng Adam de Wiszincwski nhà số 7 đường Débarcadère Pais có thuật cho tôi chuyện sau đây. Có vài người chứng kiến vụ này còn sống và chỉ chịu kể tên ra bằng mấy chữ đầu mà thôi. "Ông hoàng Galitzin, hầu tước B, công tước R, trong mùa hè năm 1862 hội hiệp với nhau tại suối Hombourg.

Một buổi chiều kia sau khi đi dùng cơm trễ lắm, ba vị mới đi dạo trong hoa viên rạp hát Casino. Bỗng gặp một người đàn bà nghèo khổ nằm trên băng. Ba vị mới lại gần hỏi thăm cô đó, rồi mời cô lại nhà hàng dùng cơm tối. Cô ăn coi ngon lành lắm, xong rồi ông Hoàng Galitzin lại có ý thu thần cô. Ngài xèo bàn tay đưa qua đưa lại trên mình vài ba cái thì cô ngủ. Khi cô ngủ mê man rồi thì cô vụt phát nói tiếng Langsa rất giỏi làm cho mấy người có mặt tại đó hết sức ngạc nhiên, bởi ngày thường cô chỉ biết nói tiếng thổ ngữ A-lơ-măn song dở lắm. Cô thuật lại rằng cô đầu thai ngheồ khổ đền tội ác của cô đã làm trong kiếp trước hồi thế kỷ 18. Lâu đài cổ ở tại Bretagne gần mé biển, vì cô ngoại tình nên cô xô chồng cô từ trên gành té xuống biển chết tươi để cô được rảnh tay. Cô chỉ chỗ cô phạm tội một cách rành rẽ. Nhờ mấy lời chỉ điểm đó ông Hoàng Galitzin và hầu tước B đi đến Bretagne chia nhau điều tra hai phía, cái kết quả vẫn y như nhau. Ban đầu Ngài hỏi thăm nhiều người, không có ai cho được tin tức gì cả sau gặp mấy ông kỳ lão, mấy ổng nhớ chuyện có nghe cha mẹ thuật chuyện một tiểu thư đài các, nhan sắc mặn mà, xô chồng xuống biển chết đi. Những điều của người đàn bà khốn khổ ở Hombourg thuật lại, được nhìn nhận là đúng với sự thật. Ông Hoàng Galitzin trở lại Pháp đi ngang qua Hombourg có hỏi thăm quan cảnh sát về người đàn bà đó, thì quan cảnh sát trả lời cô ấy dốt đặc, chỉ biết nói tiếng thổ ngữ A-lơ-măn và sống nhờ vào cách đi lại với bọn lính.

Trong cuốn "Những kiếp luân hồi" (Les vies successive), quan đại tá (Colonel) de Rochas có thuật những thí nghiệm của ngài với 19 người đồng tử. Có nhiều chuyện hay những vị nào muốn tham khảo về những việc huyền bí, nên xem cuốn đó. Tôi xin thuật chuyện đại tá thu thần một vị đồng tử hỏi chuyện vị lai cho các bạn nghe.

Hồi năm 1900, đại tá hỏi thăm đồng tử những việc đồng tử sẽ làm từng ngày, từng giờ cho đến năm 1917, đồng tử trả lời vắn tắt về tương lai của mình. Đại tá hỏi đồng tử "Ngài còn giúp việc với tôi không ?". Đồng tử lấy làm lạ trả lời rằng : "Làm việc với ông hả ! Tôi có biết ông là ai đâu ?"

- Ủa ngài không biết tôi sao, coi kìa ?

- Ừ ông giống một cách kỳ lạ mà tôi có quen biết, mà tôi không biết ông thật. Ông là ai ?

- Sao vậy ! Ngài không biết tôi là đại tá Rochas sao ?

- Đồng tử vùng bật cười khan. Không mà. Ai cũng biết ông Rochas thác đã ba năm rồi. Câu trả lời đó làm cho ông Rochas sửng sốt đến nỗi ông phải gọi đồng tử tỉnh lại liền, bỏ luôn cuộc thí nghiệm.

Quả thật ông Rochas thác nhằm tháng 10-1914. Tôi xin nói thêm rằng dùng phép thu thần hỏi chuyện quá khứ vị lai đều nguy hiểm đến tính mạng đồng tử. Phải biết phương pháp và kinh nghiệm hai ba chục năm mới nên thử, người mới học không nên thí nghiệm mà mất nhân mạng có ngày.

Nói đến kiếp luân hồi thì có nhiều người lo sợ, vì kiếp này đau khổ đã nhiều, e cho kiếp sau cũng không tránh được tai nạn. Luật trời rất công bằng, nếu ta không gieo trồng giống xấu thì bao giờ gặt những trái đèo. Không những chỉ riêng có con người mới Luân hồi mà thôi, vạn vật đều phải chịu luật thay hình đổi dạng.

Các ngôi tinh tú đang vận chuyển trên không trung bây giờ đây đến một ngày kia sẽ tan ra nguyên khí rồi đúng ngày giờ thì sinh hóa lại như cũ. Cũng như hết ngày thì đến đêm, hết đêm trở lại ngày. Nước sông biển bị nắng rút, thành hơi bay lên hóa mây. Mây gặp luồng gió lạnh đặc lại rới xuống đất thành mưa, nước mưa chảy xống sông biển rồi hóa ra hơi như trước.

Trong trời đất không có vật gì là bền bỉ cả.



Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay