vodanhlaonhan

CON NGƯỜI LÀ AI XUỐNG CÕI TRẦN LÀM CHI

1 bài viết trong chủ đề này

PHỤ THÊM

1.- Chuyện ông Lý Khánh Vân sống 256 tuổi.

2.- Chuyện cô bé Kumải Shati Deci kiếp trước ở Mutha thác rồi tái sinh tại Delhi.

3.- Một chuyện nhớ lại những kiếp trước rất lạ lùng.

Tôi gặp ba chuyện này sau khi đã giao bản thảo cuốn Luâm Hồi cho nhà in xếp chữ. Vì thế tôi đẻ chúng nó vào những trương phụ thêm. Đợi khi tái bản bộ "Con người là ai" tôi sẽ xếp chúng nó lại cho phải chỗ.





I

CHUYỆN ÔNG LÝ KHÁNH VÂN SỐNG 256 TUỔI



Trong cuốn "Con người là thác rồi về đâu" Chương 9 tôi có nói ông Lý Khánh Vân sống 256 tuổi.



Tài liệu đó tôi lấy trong cuốn "HATHA YOGA của C.KERNEIZ chương 54".



Nay nhân có diệp đọc báo "Phụ nữ tân tiến" số 21 ngày 1-6-1933 thấy có trích đăng tin ấy do báo Trung Bắc Tân Văn dịch thuật của báo Siêu Nhiên rất rõ ràng, nên đem vào cuốn này cho các bạn xem.



CHUYỆN BÊN TÀU



Ông Bành tổ đời nay. Một người tên là Lý Khánh Vân sống lâu đến 256 tuổi.

Chuyện ông Bành Tổ chẳng biết co' thật hay không. Nhưng cứ tục truyền thì là một ông đời xưa kia sống lâu lắm.

Chẳng nói đến chuyện sống lâu bằng ổng chứ sống được 100 tuổi cũng đã là khó lắm rồi. nên bên Á Đông cho : "Nhân sinh bất tuế vi kỳ".

Ngờ đâu, ngày nay lại thấy cái tin đó rất lạ : là một người sống co' đến hơn 2 thế kỷ rưỡi. Các báo đều đăng tin ấy, và thấy Trung Bắc Tân Văn có dịch thuật rõ ràng, cái tin ấy của báo Siêu Nhiên, chúng tôi xin mượn cái tin của bạn đồng nghiệp để đọc giả xem cho vui.

Ông Lý Khánh Vân sinh về đời Khang Hy, có mọt người vợ chết đã một thế kỷ, có cháu bốn đời đã được 70 tuổi.

Câu chuyện ông già thọ nhất thế giới này, trong tờ báo đã có mấy lần nói đến, các báo tàu sang kỳ vừa rồi đều đăng tin rằng ông già ấy đã tạ thế ở huyện Khai tỉnh Tứ Xuyên.

Về tuổi thọ của ông già Lý Khánh Vân, mỗi người nói mỗi khác, nhưng cứ như người đã biết rõ thân thế ông già thì đều níu năm nay ông quả đã thọ 256 tuổi. Ông già Lý vốn là người làm ruộng, kiêm làm nghề vào núi hái thuốc. Từ lúc ít tuổi sau khi lấy vợ, vợ chết lại lấy vợ khác, không biết đã mấy lần rồi, mà người vợ ông lây cuối cùng đãtạ thế hơn 100 năm nay. Hiện ông có 70 người cháu, người chắt bé nhất của ông năm nay cũng đã 70 tuổi. Ba năm trước đây có nhiều viên ký giả các báo đến tận nơi thăm ông, thấy ông thể phách còn khỏe, như ông già mới độ 6-70 tuổi. Khi ấy ông già Lý còn nói chuyện với các ký giả rằng ông khéo việc dưỡng sinh, mỗi khi vào núi hái thuốc ngày đi hơn trăm dặm mà không biết mệt nhọc. Trong lúc thiếu niên có một lần vào núi hái thuốc bỗng hái được một thứ cỏ lạ(1), bèn ăn cho đỡ đói, nay ông hưởng được cái tuổi cao ấy, hoặc có vì thế chăng.

Lại một tờ báo Tàu năm Dân Quốc 17 có đăng sơ lược của ông như sau :

Có người quê ở Chính An tên là Lý Khánh Vân ngụ tại Trần Gia Trường huyện Khai tỉnh Tứ Xuyên người ta nói đã thọ hơn 200 tuổi, tháng trước đến Vạn Huyện được các giới hoan nghênh, viên quận trưởng là Dương Sâm cũng có quà tặng. Hỏi tuổi thực thì ông ấy nói sinh năm Mậu Ngọ, năm Khang Hy thứ 17, năm nay vừa 249 tuổi. ông già Lý diện mạo trông rất cổ, tinh thần rất tinh sáng, ngũ quan đều tốt cả, ngững móng tay của ông cắt ra chứa đầy 1 cái hòm, hiện tay hữu ngón giữa ngón thứ tư vf ngón thứ năm móng để dài tới hơn thước. Mỗi ngày đi được hơn trăm dặm, hỏi đạo dưỡng sinh như thế nào, ông chỉ tĩnh tâm mà thôi, hỏi làm sao ông biết thuật ấy được, thì ông nói, cách ngồi như con rùa đi như con hạc nằm như con chó, đều là đều là điều cốt của ông thầy truyền cho. Ông già Lý lại nói lúc mới vào vài tuổi có từng đọc sách viết chữ, khi độ 10 tuổi có người dắt đi các nơi Thiểm Tây, Tân Cương, Cam Túc, Thanh Hải, Tây Tạng, Việt Nam, Xiêm La, để hái thuốc khi trở về Tứ Xuyên đến Trần gia trường đã hơn trăm tuổi rồi. Sau đó ông lại đi đén các tỉnh Hồ Bác, Hà Nam, Hồ Nam, Hán Khẩu, Nam Kinh, Bắc Bình vẫn lấy nghề bán thuốc mưu sinh. Sinh bình trước sau ông lấy 14 đời vợ, con cháu trải đến 11 đời. Cứ lời những ông già ở Trần Gia Đường nói thì kể từ khi ông Lý đến đó cho đến nay diện mạo tinh thần vẫn như thế không thay đổi, người ta hỏi chuyện các đời nhà Thanh và phong tục các nơi ông đều kể vanh vách. Ông già Lý lại nói còn mấy người bạn lại nhiều tuổi hơn ông.

(Trích dịch báo "Siêu Nhiên")



(1)-Trong cuốn cái Phách chương 12 nơi đoạn "Sinh lực theo thuốc men và đồ ăn"tôi có nói : Trong rừng Thiên Trúc và Hy Mã lạp Sơn có cây trường thọ. Nhân dọc bài này. Thấy bên Trung Hoa cũng có một thứ cỏ một loại với cây trường thọ. Chác chác là ông Lý Khánh Vân nhờ ăn nó mà được sống tới 256 tuổi. Nếu tôi không lầm, thì trong truyện thần tiên gọi thứ cỏ đó là cỏ Linh Chi.

Trong trời đất còn biết baonhiêu sự bí mật mà con người chưa khám phá nổi, nhưng một khi con người xứng đáng hiểu được cơ trời thì tùy theo tài đức, Thiên Đình sẽ lần lượt vén màng vô minh lên.



II

CHUYỆN CÔ KIMURA SANTI KIẾP TRƯỚC Ở MURRTRA THÁC RỒI TÁI SINH TẠI DELHI

Chuyện này làm chấn động dư luạn thế giới vì nó có quan hệ tới triết lý của cuộc đời.

Dưới đât là bài diều tra kỹ lưỡng của ba ông : Lala Deshbandhu Gupta chủ nhiệm của báo The Daily Tej, nhà lãnh tụ ái quốc Pandit Neki Pram Sharma và trạng sư Chand Mathur, gởi cho báo chí.

"Sabti tới bốn tuổi cũng như đứa bé câm, không nói. Qua bốn tuổi rồi nó bắt đầu nói những việc mà dường như cái kết quả của sự nhớ lại chuyện kiếp trước do sự liên tưởng mà ra. Tỉ như người ta cho nó ăn thì nó nói : " Tôi ăn bánh nào đó tại nhà tôi ở Muttra". Khi mẹ nó mặc quần áo cho nó thì nó ta? Cách nó mặc hồi kiếp trước tại Muttra. Nó thường nói : "Nó thuộc hạn "Choban" và chồng nó là người buôn bán vải. Nó cho thêm nhũn chi tiết về cái nhà của nó, nó nói nhà nó sơn màu vàng và kế cận thì co' nhiều tiệm đặc biệt". Ban sơ cha mẹ nó tưởng mấy lời lạ lùng này vốn là chuyện nhảm nhí của trẻ con, nên không để ý tới. Nhưng nó lập lại nãi. Cha mẹ nó không muốn khơi chuyện này ra vì theo tục lệ Ấn Độ, đứa nhỏ nào nhớ chuyện kiếp trước thì thường không sống được lâu, nếu mấy chuyện ấy có thật, Cô bé Santi thường tỏ y' muốn đi Muttra/ những người lân cận nói với nó đều rõ biết mấy việc đó.



NHỮNG CÂU TRẢ LỜI CHẮC CHẮN

Cho tới hai năm chót đây, cô bé không tỏ thật tên chồng nó ra (chồng kiếp trước). Khi cha nẹ nó hỏi nó thì nó trả lời một cách rụt rè rằng : nó gặp thì nó biết. Ấy là theo tục lệ bên Thiên Trúc, ai cũng biết người đàn bà vì khiêm tốn nên không hề nói tên chồng mình.

Cách 1 năm rưỡi nay, một ngày kia ông cậu của nó là ông Bishan Chand, giáo sư trường Ramjasschool, Darya Gaji, Delhi, tới thăm nó và biểu nói tên chồng kiếp trước của nó và quả quyết : nếu nó nói thì ngài dắt nó đi Muttra. Con bé liền nói nhỏ bên tai ngài : Ấy là "Pundit Kedar Nath Chau bey". Ông giáo sư hứa để điều tra trước khi dứat nó đi. Lâu lâu thì nó hỏi thănm tin tức sự tìm kiếm đó, nhưng mà ông giáo sư đồng ý với cha mẹ nó nênđể câu chuyện đâu nằm đó, không muốn tìm hỏi cái nhà hồi kiếp trước.

Trong buổi lễ Dushera, ông giáo sư thuật câu chuyện này cho ông Lala Kishau Chand M.A. Vốn là hiệu trưởng đã hồi hưu ở đường số 7 đường Darya Gaji, tại Delhi nghe chơi. Ông này tỏ ý muốn biết đứa nhỏ. Trong cuộc gặp gỡ với ông hiệu trưởng, cô bé mới cho địa chỉ của : "Kedar Nath" và tả hình trạng cái nhà của nó.

Ông Lala Kishau Chand ghi vào sổ địa chỉ của cô bé nói và viết một lá thư cho Pandit Kedar Nath. Ngài và nhiều người khác rất ngạc nhiên khi được thư của Chaubey Kedar trả lời rằng những việc đó có thật. Trong thư Kedar lại đại khái ngỏ ý rằng ông có mộy người bà con tên Pundit Kanji Mal làm trong sở ông Bhana Mal Gulzari tại Delhi và xin cho người này giáp mặy cô bé. Người ta chịu. Chẳng những cô bé nhận được Kanji Nal là bà con còn nhỏ tuổi của chồng kiếp trước cô và cô lại trả lời rất đúng những câu hỏi về việc kính nhiệm trong gia đình. Sự lạ lùng càng tăng thêm ; Kanji bèn kêu anh là Kedar Nath Chaubey từ Muttra đi qua Delhi.

NHỮNG DẤU CHỨNG CÔ BÉ NHỚ CHUYỆN KIẾP TRƯỚC

Pandit Kedar Nath Chaubey đi với đứa con trai 10 tuổi và người vợ sau, tới Delhi ngày 13/12/1935. Mới vừa gặp thì cô bé nhận ra Kedar Nath Chaubey là chồng kiếp trước của mình. Thấy chồng và con cô bèn khóc tấm tức tấm lưỡi trọn một giờ đồng hồ. Kedar Nath Chaubey được phép hỏi co bé vài câu chuyện thầm kín trong gia đình để xác định thử coi ký ức của cô thế nào ? Những câu trả lời của cô đều đúng hết làm cho Kedar Nath động lòng sa nước mắt. Khi người ta hỏi ý kiến ổng thì ổng đáp rằng : "Tôi quả quyết ấy cùng một linh hồn với vợ tôi trước tôi, thác tại Muttra ngày nay đàu thai làm cô bé".

Cô bé nhìn Chaubey và tỏ dấu yêu thương như tình mẹ con. Cô mới xin mẹ ruột của của cô bây giờ cho đứa nhỏ vài món đồ chơi, mà cô nóng nảy cho đến nỗi mà không đợi bà mẹ chọn lựa, cô lấy xâu chìa khóa đi mở cửa phòng lấy cho đứa nhỏ một món đồ chơi và một bộ bài cào.

Khi Kedar Nath và đứa con trai muốn ra khỏi nhà thì cô bé xin cho cô đi theo. Người ta tưởng tốt hơn là kêu xe cho cả thảy lên đi để tránh sự chú y' có thể xảy ra.

Sau khi đi dạo chơi rồi, cô bé trở về, nó nắm tay đứa con nó, theo sau là cha ruột nó là Kedar Nath. Buổi chiều đó nó rất vui vẻ. Theo lời nó xin, kedar Nath và đứa con trai ở lại Delhi 2 ngày nữa, và có nhiều diệp coi chừng cử chỉ của cô bé.

Chiều ngày 15/12/1935 Kedar Nath và đứa con trai phải về Muttra. Khi cô bé hay tin đó thì muốn đi theo, mà cha mẹ cô không bằng lòng. Muốn cho cô quên, người ta mới dắt cô lên xe đi chơi và đi coi hát bóng.

Nhưng cô bé một mực quyết đi Muttra, và từ khi gặp chồng cô tới sau thì cô càng nài nỉ hơn nữa. Cô cứ nói quả quyết rằng nếu người ta dắt cô đi Muttra thì cô biết nhà chồng cô liền.



CÔ BÉ NÓI CÔ CÓ CHÔN GIẤU TIỀN BẠC

Cô bé tả rành mạch tôn miếu Vihrant Gat ở Dwarkadhish, những đường dắt cô đi tới nhà chồng cô, cũng như cô đã sống và ở tại đó. Cô bé lại nói thêm rằng : cô có chôn giấu tiền ở dưới đất trong một cưn phố ở nhà cô tạu Muttravaf cô có nguyện cúng 100 rubi (roupies) trong số đó cho tôn miếu Vihrant Gat. Cô nói chuyện đó cho kedar Nath Chaubey lúc ông này tới Delhi.

Cha mẹ cô bé và bà con cô, giữa phong tục xưa nên không chịu mạo hiểm cho cô đi. Nhưng chúng tôi giải bày cho cha mẹ cô bé nghe, sau cùng ông bà lại bằng lòng, rồi chúng tôi cả thảy mười lăm người, kể luôn ổng bả nữa, đồng đi Muttra ngày 25-12-1935. Chúng tôi đã đem theo một người nhiếp ảnh để chụo những ảnh cần thiết. Khi đứa bé bước lên xe lủa rồi thì chúng tôi xem xét từ cử chỉ của nó và ghi chép kỹ lưỡng. Lúc cô bé lên xe ngồi rồi thì chúng tôi thấy gương mặt nó tỏ vẻ hân hoan, khác hơn ngày thường trọn ba giờ đồng hồ của cuọc hành trình. Xe gần tới Muttra, sự vui mừong của nó lộ ra ... Nó nói rằng : Giờ chúng ta tới (nghĩa là 11 giờ sáng mai) thì tôn miếu Vihrant Gat đã đóng cửa. Những tiếng nói của nó là : "mandir ke pat band ho jeyenge" thường dùng ở Muttra. Khi chúng tôi gần tới ga thì cô bé bỗng trở nên nghiêm nghị dường như hoàn toàn phản động lại nó.

Nó nhìn ra cửa sổ xem coi cả thảy một cách rất kỹ lưỡng, khi xe vô nhà ga thì cô la lên : "Muttra Agai! Muttra Agai!" (Tới Muttra rồi! Tới Muttra rồi!). Dường như người ta biết chúng tôi tới Muttra cho nên có nhiều người và cả thân hào tại đó, tới chực ở bến xe. Nhưng mà những lối đi chúng tôi vạch sẵn rồi. Chúng tôi khuyên mọi người không trong nhóm chúng tôi đứng dan ra xa chúng tôi để chúng tôi đi với cô bé. Thiên hạ nghe theo lời yêu cầu của chúng tôi cũng làm y như vậy, để chúng tôi đi thong thả. Và nên nhìn nhận rằng về phương diện đó người ta vẫn giúp sức chúng tôi.



CHUYỆN LẠ LÙNG



Khi tới Muttra rồi, việc thình lình làm cho chúng tôi chú ý tới, xảy ra ở bến xe.

Ông L. Deshbandhu bồng cô bé. Ông chưa đi được 15 năm trước bỗng có một người trông tuổi ăn mạc theo cách riêng biệt ở thành thị, chen lộn với đám đông tới đứng trước mặt cô bé. Người ta hỏi cô bé có biết ông đó không ?

Cô bé chưa từng gặp ông lần nào, nhưng khi thấy ổng cô liền tuột xuống cúi hôn chân ông đó một cách kính cẩn rồi đứng dựa một bên. Người ta hỏi ông đó là ai, thì cô bé kê miệng vô lỗ tai ông Lala Deshbandhu nói nhỏ rằng : ấy là "Jeth" của cô. Jeth là anh trai của người chồng cổ. Việc đó thình lình làm cho ai nấy đều ngạc nhiên vì ông đó quả thật là anh cả của chồng cổ tên "Babu Kam Chaubey".

Khi ra khỏi bến xe, chúng toi lựa riêng một cỗ xe, không dùng những mấy người đánh xe đi mời chúng tôi. Cô bé ngồi băng trước, và xe chúng tôi dẫn đầu mấy xe kia. Cnhú tôi đã đủ cách đề phòng không cho những người đi bộ chỉ đường. Chúng tôi căn dặn người đánh xe đi theo đường cô bé chỉ, không cần hpải biết chúng tôi đi đâu. Cô bé dẫn chúng tôi đi ngang qua Holi Gat không khó khăn chút nào. Cô bé dùng chỗ đó như chỗ nhắm để từ bến xe vô nhà cô. Chúng tôi có hỏi tên nhiều nhà và nhiều con đường ; cô bé đều trả lờ đúng hết. Thí dụ như cô nói : hồi còn sinh tiền đường nhà ga chưa tráng nhựa, cô chỉ nhều dãy nhà mới và nói : Hồi đó chưa cất, cô tả Holi Gat một cách đúng đắn trước khi chúng tôi tới đó. Cô bé cứ chỉ đường cho tới khi chúng tôi tới đầu một con đường đầy những tiệm tạp hóa. Cô bảo xe ngừng và chỉ một con dường đặc biệt dẫn vào nhà cũ của cô. Dể xe đó chún tôi xuống đi bộ theo cô Shanti.

Chúng tôi lấy làm ngạc nhiên một lần nữa khi cô bé thấy một ông già 75 tuổi, cô cuối đầu rất lễ phép, hôn chân ông và nói ấy là cha chồng cô.



CÔ BÉ CHỈ NHÀ

Cử chỉ tự nhiên của cô làm cho nhiều người đi đường coi lấy làm cảm động lắm. Cách xa đó một chút cô bé chỉ nhà cô dẫu rằng bây giờ nó không phải sơn màu vàng và dãy nhà đó người khác đã mướn. Người ta đem cổ vô có hai vì thân hào ở tại Muttra, chú ý đến sự điều tra của chúng tôi nên đi theo chúng tôi. Cô bé mới chỉ cái phòng của cô thường ở. Muốn thử cổ một vị thân hào mới hỏi cổ có thể chỉ cái "Jai Zarur" của cái nhà không ? Đối với dân chúng tại Delhi, tiếng Jai Zarur là tiếng hê-brơ (hébreu) nghĩa là cầu tiêu.

Các người ở đó đều lấy làm ngạc nhiên khi cô bé nghe hỏi mà không cần suy nghĩ xuống thang lầu chỉ cầu tiên chi vị thân hài coi, dường như trong nhà chõp nào cô cũng biết cả.

Muốn tránh công chúng và muốn được đeo đuổi cuộc điều tra của chúng tôi trong bầu không khí yên lặng. Chúng tôi mới dắt cô bé đến một Dharamsala. Tại đó cổ nhìn được người em năm nay 25 tuổi và một người cậu bà con suôi gia. Một việc làm cho chúng tôi chú ý một cách dặc biệt là cô bé ở Muttra coi rất thơ thới. Thấy chúng tôi ăn chậm rãi, cô bé mới nhắc cô phải đi tới một cái nhà khác, nơi cô đã giấu tiền. Chúng tôi mới dắt cổ đi qua một con đường hẻo lánh để tránh được sự tọc mạch của dân chúng.

Dọc đường chỉ vlà cổ dẫn chúng tôi và cổ nhìn được cái nhà của cổ một cách dễ dàng. Cổ nói, cổ đã ở trong nhà đó hơn nửa đời người, mà nhà đó hiện giờ gia quyến của Pandit Kedar Nath còn ở đó nữa.

Những tấn tuồng diễn ra sau khi chúng tôi vô nhà này phá tan hết tất cả mối hoài nghi về sự chân thật của câu chuyện này. Cô bé vô nhà này cũng như lúc cổ làm chủ. . Pandit Neki Ram biểu cổ chỉ cái giếng mà cổ nói hôm cổ tại Delhi cho ông coi.

Cô bé chạy ra cái sân nhỏ ở trong nhà nhưng cổ lính quýnh khi không thấy giếng đâu, song cổ chắc ý lắm, cổ lấy tay chỉ vào một góc sân và nói : "Kuan Yiham tha" (cái giếng ở đó). Chừng kedar Nath Chaubey lấy cục đá lấy ở miệng bày cái giếng ra, thì cổ tỏ dấu hân hoan vì người ta đã bít miệng giếng mấy năm rồi.

Khi người ta hỏi tiền chôn ở đâu thì cô cổ bảo chúng tôi theo cổ lên từng lầu trên. Diều đó lạ thật vì không có ai tưởng tượng rằng của đem chôn trên lầu được. Nhưng cổ quả quyết lắm, cổ dắt chúng tôi lại phòng của cổ, phòng này bây giờ khóa chặt. Người ta xin Chaubey mở ra. Nhưng phải chờ đi lấy chìa khóa. Cô bé nóng nảy nhìn vô kế vách nói rằng phòng đó của cổ và tiền ở trỏng. Khi vô phòng rồi cô bé nhìn quanh một vòng rồi lấy chân để trên một góc và nói : "Tiền ở đây". Chaubey Kedar Nath ngần ngại một chặp, chúng tôi không hiểu vì lẽ nào, nhưng phải chiều lìng cô bé. Người ta đào chỗ đó lên ba tấc thì gặp một ga-la (galla) (một chỗ theo tục đời xưa để giấu một vật quý) nhưng không có tiền, cô bé không chịu số tiền đó mất, cổ tự bươi đống đất lên, trong vài phút nhưng thất vọng khi không thấy chi cả. Cô cứ nói "Tiền tôi để đó". Về sau, chúng tôi hay rằng Kedar Nath đào lấy số tiền đó khi cô từ trần (kiếp trước).

Khi chúng tôi định từ giã nhà đó đi lại rạch Jum-na thì cô bé vụt nói quần áo cổ để dưới đất. Cô rất buồn bực mà ra khỏi nhà xưa.



CÒN MỘT CHUYỆN LÀM CHÚNG TÔI NGẠC NHIÊN HƠN NỮA

Hồi còn ở Delhi cô không nhớ cha mẹ cô kiếp trước. Chừng chúng tôi dắt lại nhà cha mẹ của cô ở một con dường gần Muttra, thì cô nhìn được nhà và vô nhận được cha mẹ cô, cô đứng chung trong đám đông năm chục người. Cô ôm cha mẹ cô, còn ổng bả thấy cô bé thì khóc than thảm thiết.

Còn chúng tôi, mỗi người đều tưởng rằng : quên chuyện kiếp trước là một hạnh phúc lớn. Chúng tôi thú thật, chúng tôi mang một trách nhiệm nặng nề khi đem cô bé về Muttra. Chúng tôi phải bắt cô bé lìa cha mẹ cổ (cha mẹ kiếp trước) và chúng tôi bỏ chốn đó đi kiền không tìm thêm những bằng cớ khác nữa. Cô bé lên xe đi lại tôn miếu Dwarkadisk. Khi cô thấy tôn miếu thì cô reo lên những tiếng vui mừng. Cổ quỳ trước cửa như kính cẩn tôn trọng một vị thần thánh nào. Chuyện chót mà cô bé đã nhìn biết tại Muttra là Vishrant Ghat trên con rạch linh thiêng Jum-na. Cổ nói hồi kiếp trước, cổ thường tắm ở nơi đó. Khi tới Ghat cô năn nỉ xin múc nước rạch cho cô uống rồi tự nhiên cô lấy bông trong tràng hoa của cổ mang đem cúng. Cô muốn ở lại chốn đó lâu một chút nhưng không thể được.

Lối mười ngàn người hội họp lại trong miếng đất của một trường trung đẳng tại chỗ đó, trong đám ấy có mặt những người đã chứng kiến cuộc điều tra của chún tôi. Chún tôi mới thuật lại những điều đã xảy ra mà chúng tôi đã thấy với cô bé. Dân chún Muttra ngỏ ý muốn cô bé ở lại vài ngày nữa, nhưng chúng tôi không thể làm vừa lòng họ vì những lẽ đương nhiên mà chúng tôi mới kể ra trên đây.

Chiều lại lúc trở về Delhi, cô bé mỏi mệt nằm ngủ, không nói chi hết, đáng lẽ người ta phải để cô bé ở lâu hơn nữa tại Muttra.

Phỏng dịch tờ phúc trình của hội liên minh quốc tế da trắng ở Delhi.

(Rapport de la ligue internationale Aryenne de Delhi)



III



MỘT CHUYỆN NHỚ LẠI NHỮNG KIẾP TRƯỚC RẤY LẠ LÙNG(1)



Từ sáu tháng nay tại Tủin (một thành phố ở nước Ý) những bác sĩ chữa bệnh thần kinh, những nhà sử học, những nhà khảo cổ, những nhà chuyên môn về khoa khuyết sử thời đại tự hỏi : Có phải các ngài bị một tên đại bợm phờ phĩng hay klà đứng trước một hiện tượng mà vì trình độ hiện thời, khoa học không cắt nghĩa được.

Ấy là trường hợp của một người tên Lanfranco Devito. Và nhớ lại đã sống sáu lần trong những thế kỷ đã trải qua. Về mỗi kiếp luân hồi anh ta cho những chi tiết và sự đích thực đem so sánh với sự hiểu biết của những nhà chuyên môn về mấy thời đại đó thì giống nhau.

(Davito, lính cảnh sát số 556 tại Turin). Người ta dựng lên hai thuyết :

a) Hoặc là tên lính số 556 là một người có tính đùa cợt phi thường, học hỏi uyên thâm về các khoa : khuyết sử thời đại, sơ sử thời đại và cổ đại sử, một ông Pic de la Miarandole(2), vì mua vui nên mang áo cảnh sát thành phố.

:P Hoạc là hội bác sĩ đứng trước trường hợp của một người đã sống nhiều lần trên quả địa cầu chúng ta và nhớ lại rõ ràng những kiếp trước của anh ta.

Trước hết Lanfranco là ai ?

Đối với mấy ông chủ anh ta và bạn đòng nghiệp thì Lanfranco Davito là tên lính số 556, chứ không có ai khác hơn nữa. Anh ta ở một căn phố nhỏ số 240 đường Via Fossata, nhà không có tủ sách, sống một cách yên ổn vợ tên Lina. Anh ta làm việc bổn phận đúng đắn, không có ai trách anh về sự ngông cuồng lần nào cả.

Đối với các vị bác sĩ chữa bệnh thần kinh thì Lanfranco là một người tầm thường, không có bệnh hoạn, không có thói dị kì, ăn nói thật thà chất phác, tỏ dấu là một người bậc trung. Còn đối với những vị học thúc uyên thâm thì anh ta là một người chúng kiến lạ lùng đời tối cổ, hồi các đô thị xây trên mặt hồ (cité lacúte) hoặc từng sống hồi đời vua Sennachérile.(3) Những giai đoạn mà anh ta thuật lại về các sinh hoạt của xã hội trải qua trong các thời kỳ liên tiếp của lịch sử, không những phù hợp với những điều mà các nhà bác sĩ đã biết mà lại còn chứa đầy những sự đích thực, mấy việc này không thể nào bịa đặt ra được, nói rằng anh ta tưởng tượng ra thì là vô lý hết sức.

Mà làm sao Lanfranco nhớ lại các quá khứ quái dị ấy ? Theo anh ta thì việc đó xảy ra dễ ợt. Một ngày kia trong năm 1939 anh đi quảng trường Carducci tại Turin ( Place de Carducci) bỗng anh gặp một người sắc nâu lợt mà gương mặt không phải lạ với anh. Anh gặp y hồi nào ? Anh tòm kiếm trong trí nhớ thì đột nhiên một tia sáng hiện ra trong não anh. Anh thấy một cảnh tượng phi thường, lúc ban đầu làm cho anh ta hoài nghi mình không được tỉnh trí. Anh thấy người sác nâu lợt cầm một cái chày vồ đập trên đầu anh một cái hết sức mạnh. Thất sắc mồ hôi trán nhỏ giọt. Lanfranco tên lính số 556 hồi tưởng lại hồi sáu ngàn năm trước, tấm bi kịch đã diễn ra sau khi đó anh bỏ mạng lần thứ nhất. Một dọc hình từ chỗ tối tăm trong ký ức của anh vụt hiện ra rõ ràng dường như anh chàng sắc nâu mà anh gặp tại quảng trường Carducci đã phanh phui ra một cái bí mật, làm cho anh hãi hùng.

Vốn tánh thật thà, Lanfranco phải chống chọi với cơn ác mộng lâu lắm ; anh không dám tỏ nỗi niềm tâm sự cho ai biết. Nhưng mà những hình ảnh càng ngày càng rõ ràng, càng chác chắn và càng đầy đủ. Trước hết anh thấy mình sống ở bờ hồ trong một cái chòi, anh câu cá vf chiến đấu với bộn khỉ. Nhưng kiếp đó thình lình anh bị một người lạ, không phải ở một bộ lạc với anh, tức là người sắc nâu mà anh mới gặp đó, kết liễu bằng một cú chày vồ.

Kiếp kế tiếp đó anh tháy mình sống hồi đời vua Sennachérile. Anh chịu gian nan cực khổ trên mấy con đường ở Chaldée và anh có ra trận mạc ở Judée nữa. Qua kiếp thứ tư anh đầu thai ở Tiểu-Á-Tế-Á (Asie mineure) ...vv...

Được cái kỹ năng lạ lùng này, Lanfranco lấy làm sợ sệt, song anh vượt qua được tính nhút nhát tự nhiên của mình, anh bèn hỏi thăm một bác sĩ chữa bệnh thần kinh về trường hợp của anh. Y sĩ bảo anh thuật lại đầu đuôi rồi ngài mới mời mấy nhà sử học, mấy nhà thông thái chuyên môn khảo cứu về cổ tíchnước Á Thuật (Assyrie) lại chứng kiến. Mấy vị này lại chất vấn Lanfranco cả trăm câu. Lanfranco đều trả lời đúng đến nỗi mà các nhà thông thái đều sửng sốt.

Bây giờ đây, Lanfranco tên lính số 556 là một hiện tượng mà các nhà thông thái nhìn với cặp mắt vừa lạ lùng vừa nghi kị.

Anh đó là người gì mà đã sống 6 lần rồi ?

Mà Lanfranco trong khi canh gác sự thông thương trên quảng trường nhà ga "La Gare" cũng bâng khuâng và tự hỏi : Ừ ! Tôi là ai đây ?

Nhưng vợ anh, cô Lina kết luận :

- Miễn là điều đó giúp nhà tôi lên chức đội.

Phỏng dịch theo báo La Presse số 202

Ngày 26-11-1949

LỜI BÀN

Đọc hai bài này rồi lấy công tâm xét đoán thì thấy chuyện luân hồi là chuyện thật một trăm phần trăm. Những việc siêu hình mà muốn có bằng chứng như những chuyện hữu hình, điều đó không thể nào được. Dù muốn, dù không, con người cũng không thoát khỏi bốn cái khổ : sinh, lão, bệnh, tử. Một khi đã thác rồi, chẳng sớm thì muộn cũng phải luân hồi. Mà tin có luân hồi có ích lợi gì chăng ? Sự ích lợi kể không cùng. Có ai nghĩ rằng nếu các giống dân tộc trên địa cầu đều tin quả quyết : sự luân hồi chác chắn như hai với hai là bốn thì cuộc diện thế giới sẽ thay đổi hẳn từ văn học đến kinh tế và chính trị. Người ta sẽ sửa đổi cách ăn nói hàng ngày ; cách cư xử của nhân quần xã hội sẽ đầy những vẻ thân ái do trong thâm tâm mà ra chứ không phải ở chót lưỡi đầu môi. Những sự đau khổ mà ta thấy trước mắt hàng ngày sẽ lần làn bị tiêu diệt, vì một khi người ta biết rằng : gieo giống gì gặt giống nấy và kiếp này là kết quả kiếp trước, thì ít ai dám gieo giống săn cỏ hay là tiêu ới bao giờ. Chủ ý đó không cần khẩn không cần van vái, cõi trần gian cũng sẽ biến thành cực lạc thế giới.













H Ế T





Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay