thanhtrang

Dụng thần thủ pháp

3 bài viết trong chủ đề này

ThanhTrang trích dẫn lên đây bài "Dụng thần thủ pháp" sưu tầm được từ Nhantrachoc để các anh chị em cùng tham khảo.

----

Phần "Dụng thần thủ pháp", gồm có : Phù, Ức, Thông quan, Điều hậu, Bịnh dược.

Trong khoa Tử Bình cái khó nhất là tìm dụng thần hay gọi là "Dụng Thần thủ pháp". Dụng Thần tức là những gì ẩn tàng trong tháng sinh. Nhật can phối hợp nguyệt lệnh mà thành thể tính; hợp với nhu yếu của thể tính là Dụng Thần. Cái khó nhất trong Mệnh Lý là 12 cách thủ đoán dụng thần: Đối với thập can phối hợp 12 tháng , cùng với mỗi tháng , mọi nhân nguyên dụng sự đều nhất nhất phân biệt và đưa thí dụ. Thủ dụng cũng có phương thức không ngoài lý do chế hoá sinh khắc, gôp lại có thể chia thành 5 loại trên. Những bí quyết khác trong khoa Tử Bình sẽ tùy cơ hội hay tùy ngẫu hứng tôi sẽ tham gia thêm trong khả năng. Những thủ pháp nầy, ít nói đến hay không so với sách "Dự đoán theo tứ trụ".

Trước khi đi vào chi tiết. Đọc lại sách "Dự đoán theo tứ trụ" của Thiệu Vĩ Hoa, trong toàn quyển sách Ông chỉ nói có phần nầy (trang 186) mà Ông không đề cập đến các Thủ pháp - (có chú thích thêm phần "Điều hậu dụng thần (trang 191) , chứng tỏ Ông đã bỏ bớt đi, cũng có tác giả viết là Ông đã dấu đi, không viết ra hết. Trong khi đó thì Ông lại lái qua cách chọn dụng thần của 4 cách: chính tài , chính quan, chính ấn và thương quan mà thôi. Phần giống như vậy tôi có thể trình bày trong mục "Thời cục Dụng Thần Tổng Đàm" nếu có thể được.

DaiSonVuong: Như vậy, qua nghiên cứu các dụng thần thủ pháp em thấy có vấn đề sau cần lưu ý khi chọn dụng thần:

Mỗi lá số có không quá 01 dụng thần là một trong 05 yếu tố Tài; Quan, Sát; Kiêu, Ấn; Tỷ, Kiếp; Thực, Thương (em nói không quá 01 dụng thần vì một số lá số ngoại cách o chọn được dụng thần). Khi lựa chọn Dụng thần phải sử dụng một trong các Dụng thần thủ pháp trên cơ sở Dụng thần phải đem lại lợi ích tối đa cho lá số.

Trước tiên là đem lại lợi ích tối đa cho tứ trụ (làm mạnh các yếu tố tốt; khắc chế, tiết giảm các yếu tố không tốt). Thế nên mới có chuyện khi cần Điều hầu, lúc khác dụng Phù nhật nguyên hoặc Ức nhật nguyên, có khi lại cần phải Thông quan, lúc khác chọn cần Bình dược. Nhưng tựu chung lại là phải lựa chọn thủ pháp đem lại lợi ích tối đa cho tứ trụ.

Ưu tiên thứ nhì là tác động của Dụng thần đến các đại vận, cũng cần phải cân nhắc đến lợi ích tối đa mà Dụng thần đem lại cho tổng thể các đại vận. Có thể yếu tố ta định chọn làm Dụng thần này đem lại lợi ích rất to lớn trong 1, 2 đại vận của lá số, nhưng đến vài đại vận khác nó cũng làm gia tăng rất mạnh các yếu tố công phạt đương số thì chắc chắn không thể hay và đặc biệt là đúng bằng yếu tố đem lại lợi ích ít hơn (so với yếu tố kia) cho lá số trong đại vận này nhưng không gia hại hay gia hại không đáng kể cho lá số trong các đại vận khác.

Đại khái ý em muốn nói là chọn Dụng thần phải quan tâm đến việc tối đa hóa lợi ích tổng thể. Phải cân nhắc xem nên sử dụng thủ pháp nào để lựa chọn được dụng thần đem lại lợi ích toàn cục to lớn nhất cho lá số. Phương hướng theo em là vậy, nhưng việc cân nhắc này mới thực sự là khó khăn . Chính vì vậy, em có mong muốn là các bác đi trước trên này khi chọn Dụng thần nên giải thích rõ những lợi ích đem lại (so sánh lợi ích của dụng thần thủ pháp mình chọn với các thủ pháp khác thì tuyệt nhất rồi ) để mọi người cùng nghiên cứu, đánh giá. Điều này giúp cho bọn hậu học như em được mở mang kiến thức, nhanh chóng tiếp thu tinh hoa lớp trước để lại, phát dương việc nghiên cứu Tử bình. (Hi...hi...hi. Chỗ này em hơi bốc quá thì phải). Vài lời lan man, có gì không phải mong các bác bỏ qua cho kẻ hậu học.

Shevchenko:

Tôi đồng ý với ý kiến của bác Đại Sơn Vương. Xin bổ xung thêm một vài ý kiến.

- Mục đích của chọn dụng thần: mục đích đầu tiên để giải đoán chính xác, sau đó đến giải hạn, chữa bệnh... (phần này không nói đến vì hơi tù mù )

- Đi sâu chi tiết hơn về giải đoán: tốt xấu phụ thuộc vào dụng thần xuất hiện ở đâu, dụng thần xuất hiện ở Tứ trụ, có tác dụng tốt chung cho cả mệnh cục (cả đời), dụng thần xuất hiện Đại vận, tốt trong khoảng thời gian 10 năm, dụng thần xuất hiện ở năm vận là tốt cho năm đó. Tốt xấu đến mức độ nào thì phải căn cứ vào toàn bộ tứ trụ, đại vận, năm vận (thực chất là 6 trụ) để giải đoán.

- Việc chọn dụng thần phải dựa theo các nguyên tắc mà bác Đinh Văn Tân viết trong Dụng thần thủ pháp. Tốt nhất nên chọn kỵ thần trước.

Thông quan thủ dụng pháp

Thông quan là ngoài Nhật chủ ra, lưỡng đầu đối trĩ (đối đầu với nhau), thế quan lực địch , khinh trọng thân sơ ngang nhau chẳng lẽ có chổ lấy có chổ bỏ, duy có cách quan thông cái khí của nó mới có thể là cái Dụng của ta được. Nghi kỵ cần thiết, tạm thời hoãn bàn không phải là không luận mà phải để ý đến cái khẩn cấp trước đã.

Thương Quan , lưỡng đình dụng Tài .

Mâu Dần - Canh Thân - Kỹ Sửu - Giáp Tý

Thu thổ khí hàn nên dụng Bính hỏa không như Dần Thân lưỡng xung , Ấn bị Tài phá chẳng thể là Dụng . Canh kim là khí đương vượng của nguyệt lệnh thấu xuất thiên can Giáp mộc tọa Tý , lâm quan tại Dần và cùng Nhật chủ tương hợp . Quan Thương thế sức ngang ngữa chẳng thể lấy chẳng thể bỏ . Duy có thể dụng Nhâm thủy trong Thân , tiết kim khí để sinh Mộc , vận hành Thủy Mộc tối mỹ . Đây là lấy thu thổ làm Thể . Tài quan làm Dụng . Một ví dụ khác .

Tài Ấn lưỡng đình dụng Quan.

Kỹ Hợi - Bính Tý - Kỹ Tỵ - Canh Ngọ

Kỷ thổ sinh ở trọng đông , thổ đóng băng cho nên đương nhiên dụng Bính . Tỵ Ngọ thành phương , Bính hỏa xuất can dương hòa đã tràn lan mặt đất . Nguyệt lịnh Tài tinh bĩnh lịnh . Hợi Tý thành phương , Tài vượng tổn Ấn . Duy chỉ có Hợi cung Giáp mộc, Quan tinh thông với khí Tài Ấn .

Lấy đông thổ làm Thể . Quan ẩn là Dụng .

Bịnh Dược thủ dụng pháp

Bịnh Dược thủ dụng pháp (dược ở đây là thuốc) là một trong năm Dụng thần thủ pháp. Ngũ ngôn Độc Bộ có nói :

"Có bịnh mới là Quý , không tỗn chẳng là kỳ,

Trong cách mà khữ bịnh , tài lộc lưỡng tương trì".

Thần Phong diễn ra thành thuyết Bịnh Dược , sự thực ra là cái ý doanh hư tiêu trưởng phối hợp hỷ kỵ . Muốn thế tứ trụ cần phải trung hòa , Quý tiện há chỉ ở chổ bịnh dược. Cái ý của Độc bộ là nói : "Có bịnh chưa đủ là hại, được thuốc cứu không trở ngại cho cái quý của nó, há có phải thực sự lấy bịnh cho là Quý đâu".

Thái cường, thái nhược đều là bịnh, phù nó ức nó là dược. Tác dụng của phù ức đã luận rõ ở trên rồi. Đây chỉ nói cái Dụng của Bịnh và Dược.

Là nguyên cục có dụng thần thích hợp nhu yếu mà bị Can khác ức chế khiến cho nó thành bịnh. Chẳng thể dụng cái thần nhu yếu mà cần khử đi cái thần gây bịnh làm dụng thì nó làm được.

Như hạ Mộc hỷ Ấn, nguyên cục kiến Nhâm Quý cực hợp nhu yếu của hạ Mộc không như biệt can thấu Mậu. Cái Mậu thổ nầy là bịnh thần cho nên chẳng thể lấy Nhâm thủy làm dụng mà cần phải lấy Giáp Mộc có khả năng khử Mậu thổ làm dụng. Giáp mộc bèn là dược vậy. Có Giáp chế Mậu, Nhâm Quý mới hiển được cái công nhuận trạch.

Cách dược khữ bịnh nầy, nguyên cục có nó chung thân hoạch phúc. Đại vận có nó thì trọn vận đó thâu hoạch được lợi ích.

Như ví dụ :

Nhâm Tuất - Kỹ Dậu - Đinh Sửu - Giáp Thìn .

Đinh hỏa chiêu dụng tuy sinh Dậu nguyệt chẳng lấy suy kiệt làm kỵ. Nguyên cục có Ấn tương sinh, nguyệt lịnh Tài vượng sinh Quan là mệnh phú Quý song toàn. Không như Kỷ thổ xuất xuất can hổn trọc Nhâm thủy. Chỉ có thể thủ Giáp mộc chế Kỷ làm dụng mà chẳng thể lấy Tài quan làm dụng. Tốt ở chổ cách vị bất hợp đủ để tương chế Sửu Dậu hội cục, phú trọng quý khinh.

Ví dụ 2:

Mậu Tý - Nhâm Tuất - Giáp Dần - Canh Ngọ

Thu mộc khô điêu , Dần Ngọ Tuất hội hỏa cục Mộc thành tro bay. Mộc khô hư, cần được Nhâm thủy phá hỏa cục khả dĩ mới phú Quý được. Không như Mậu thổ xuất can chế thủy là bịnh tất cần Giáp mộc tỷ kiên khữ Mậu làm cứu. Nguyên cục vô Tỷ gọi là hữu bịnh vô dược. Hành Tỷ Kiếp vận khá tốt. Quá về sau gặp nhiều trở trệ là vì nguyên cục bịnh trọng vô dược cho nên Dụng thần thụ chế.

shevchenko

Cảm ơn Bác Đinh Văn Tân không giấu nghề, cao hứng viết tiếp. Tôi sẽ in các bài của bác viết để làm tài liệu cho mình, các bài viết này tương đối cao siêu cần thời gian để xem kỹ.

Ví dụ 1: có thể hiểu nôm na là trường hợp điển hình dùng Ấn để bảo vệ Quan khỏi sự xâm hại của thương quan (Quan và Thương Quan cạnh trụ)

Ví dụ 2: có thể hiểu là dùng Tỷ kiên bảo vệ Ấn khỏi sự xâm hại của Tài tinh (Tài và Ấn cạnh trụ)

Phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp

I. Phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp.

Mệnh lý cần nhất là trung hòa mà trung hòa do ở "phù ức". Bất cập cần sinh phù, thái quá cần ức chế.

- Phù có 2 cách: ấn thụ để sinh, tỷ kiếp để trợ.

- Ức cũng có 2 cách: quan sát để khắc, thực thương để tiết chế.

Nhật nguyên sao có lúc nên phù, lúc nên ức; nguyên do là do ở thể tính.

Xuân mộc, Hạ hỏa, Thu kim, Đông thủy, thể tính thái vượng, lấy quan sát để khắc, thực thương để tiết. Đó là lấy ức làm dụng.

Xuân kim, Hạ thủy, Thu mộc, Đông hỏa thể tính thái nhược, lấy ấn thụ để sinh, hoặc tỷ kiếp để trợ. Đó là lấy phù làm dụng.

a/ Phù nhật nguyên thủ dụng pháp .

Phù nhật nguyên không ngòai dụng Ấn, Kiếp, nhưng cái gì nên dụng Ấn, cái gì nên dụng Kiếp, cần phải xét kỹ.

Thí dụ:

Tài quan vượng, dụng Ấn.

Đinh Hợi - Bính Ngọ - Nhâm Dần - Kỷ Dậu

Nhâm thủy sinh ở Ngọ nguyệt tính cực nhược, kiến thời chi Dậu kim, như tử đắc mẫu, chuyên dụng Ấn thụ sinh Thân, nhưng Dần Ngọ hội cục, Bính Đinh xuất Can, Tài vượng phá Ấn cho nên lấy Nhâm thủy trong Hợi để chế hỏa mới có thể hiểu được cái Dụng của Kim.

Tạo nầy là lấy hạ thủy làm thể, Ấn làm dụng.

maithon

Hay quá bác DVT, Chính Phái (tiêu chuẩn) Tử Bình! MT chờ đọc tiếp "Phù ức nguyệt lệnh thủ pháp". Kính bác một chén trà thơm phức thêm hứng thú

dinhvantan

Quan sát vượng dụng Ấn.

Ví dụ :

Đinh mão - Qúi Sửu - Bính Thân - Mậu Tý

Bính hỏa sinh ở Sửu nguyệt, tuy nói khí tiến nhị dương mà Tý Thân hội cục (thủy), Quý thủy xuất Can là đông vận tể nhật, Bính hỏa cực nhược hỹ được Mậu Qúi, Đinh hỏa ôn ất , mới có thể lấy Ất mộc trong Mão sinh Bính. Tạo nầy lấy Đông hỏa làm thể, Ấn làm dụng.

Cả hai tạo trên (Tài quan vượng) và (Quan sát vượng), tuy cùng lấy kiếp ấn vì quan sát thái vượng cho nên lấy Ấn là chủ, lấy Kiếp làm phụ tá.

------------------

Tài vượng dụng Kiếp.

Ví dụ :

Quý Dậu - Quý Hợi - Mậu Tý - Đinh Tỵ.

Mậu thổ sinh ở Hợi nguyệt, Tài tinh đương vượng, lưỡng Quý xuất Can, thủy vượng thổ đảng, Ấn bị Tài phá cho nên không thể dụng Ấn, chỉ có thể dụng Kiếp.

Tài vượng dụng Kiếp bèn là Phú cách.

Nguyên lý phú có nói :

"Qui Lộc cách đắc tài thu họach được phúc,

Không gặp tài mà qui lộc tất là bần"

Tạo nầy lấy đông thổ làm thể, tỵ lộc làm dụng .

Daisonvuong

dinhvantan đã viết:

I. Phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp .

Mệnh lý cần nhất là trung hòa mà trung hòa do ở "phù ức" . Bất cập cần sinh phù, thái quá cần ức chế.

Phù có 2 cách : ấn thụ để sinh, tỷ kiếp để trợ.

Ức cũng có 2 cách : quan sát để khắc , thực thương để tiết chế .

Em có một thắc mắc là chọn Tài làm dụng thần để Ức nhật nguyên có được không? Nếu được nên chọn trong các trường hợp nào? Rất mong nhận được ý kiến trao đổi của các bác để học hỏi kinh nghiệm

Điều hậu thủ dụng pháp

Theo Điều hậu của Uyên Hải Tử Bình thì “Nhật Quý sinh tháng Tuất nên dùng Tân, Giáp, Nhâm, Quý. Kết luận nên dùng dụng thần Giáp là an toàn hơn cả. Hỷ thần Nhâm Quý.”

Là một trong 5 "Dụng thần thủ pháp. Điều hậu như thế nào ?

- Thổ sinh Kim, nhưng mùa hạ thổ táo, cần phải có thủy nhuận thổ mới sinh kim,

- Kim sinh thủy mà thu đông hàn đống chi kim chẳng thể sinh thủy được cần được hỏa ôn kim mới sinh thủy.

- Mộc sinh hỏa, xuân mộc dương tráng, mộc hỏa tự phàn, cần có thủy nhuận căn bèn là mộc hỏa thông minh,

- Thủy sinh mộc , hàn đông băng đống chi thủy, thủy chẳng thể sinh mộc cần hỏa chiêu nõan mộc mới phu vinh. Về thể chất mà nói , hạ lệnh chẳng thể không có thủy, đông lệnh chẳng thể không có hỏa. Chẳng phải tương sinh mới là sinh, khắc tiết cũng là sinh, đó là điều Trích thiên tủy nói: "Nhi năng sinh mẫu".

Chỉ lúc cần điều hậu lấy điều hậu làm trọng, mấy cái khác tạm thời gác bỏ một bên, hoãn luận.

Ví dụ:

Quý Mão - Ất Sửu - Kỷ Hợi - Kỷ Tỵ

Kỷ sinh sửu nguyệt băng đống trì đường, đống thủy , khô mộc. Cái gì có thể khắc Thổ được - có Tỵ cung Bính hỏa ám tàng không chỉ có công nõan thổ mà nhân đó là một điểm dương hỏa, tài quan mới có thể sinh; cho nên không dùng Bính hỏa chẳng thể được. Đông thổ kiến Bính hàn cốc hồi xuân. Điều hậu là cấp, Tài quan hoãn luận.

(Trích từ tuvilyso.com / bác dinhvantan)

Share this post


Link to post
Share on other sites

trong đây đúng là mục "tử" bình, không có người bàn người luận, chỉ cóp và nhặt từ các trang khác về, nhưng cũng thành tàng thư các thì cũng được :rolleyes:

Share this post


Link to post
Share on other sites

trong đây đúng là mục "tử" bình, không có người bàn người luận, chỉ cóp và nhặt từ các trang khác về, nhưng cũng thành tàng thư các thì cũng được :rolleyes:

Bác Fujisu nếu biết về Tử bình hoặc có nhã hứng xin tham gia vài dòng góp vui, để biến "tử" thành "kinh" vậy. Bình có nghĩa là quân bình, bằng phẳng thôi thì Thanhtrang lấy quẻ cho Tử bình là Tử Đại an và mong muốn biến nó thành Kinh Đại an hì hì.

TT

Share this post


Link to post
Share on other sites