Thiên Sứ

Quán vắng!

4.609 bài viết trong chủ đề này

"Quốc gia khởi nghiệp", quyển sách "hớp hồn" CEO Đặng Lê Nguyên Vũ

Thứ bảy 06/07/2013 06:35

(GDVN) - Để hiểu rõ hơn vì sao quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” có thể “hớp hồn” vị CEO đứng đầu Tập đoàn cà phê Việt nổi tiếng này, báo Giáo dục Việt Nam xin trích đăng nguyên văn 3 chương (6,7 và 11) trong quyển sách này đến đông đảo độc giả:

LTS: Vào lúc 9h, ngày 5/6/2013, tại khách sạn Movenpick - 83 Lý Thường Kiệt (Hoàn Kiếm, Hà Nội), cùng với Đại sứ Israel tại Việt Nam - bà Meirav Eilon Shahar, Chủ tịch Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ đã chính thức giới thiệu cuốn sách "Quốc Gia Khởi Nghiệp", phiên bản tiếng Việt của cuốn "Start-up Nation" với đông đảo bạn đọc nhằm giúp người Việt giải mã hiện tượng Israel thông qua nhiều câu chuyện kỳ thú làm toát lên phẩm chất vượt trội của con người và đất nước Israel, từ đó khởi động tâm thế và tinh thần kiến quốc khởi nghiệp của người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.

“Bạn hãy đọc sách và mài chí để hành động cho một Việt Nam Hùng Mạnh, Ảnh Hưởng và Trường Tồn, trước mọi mối đe dọa-thiên tạo lẫn nhân tạo. Người Khác Làm Được Thì Ta Làm Được. Nước Khác Làm Được Thì Nước Ta Làm Được. Ta nhất định làm được. Tôi nguyện sát cánh bên bạn”, ông Đặng Lê Nguyên Vũ chia sẻ.

Để hiểu rõ hơn vì sao quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” có thể “hớp hồn” vị CEO đứng đầu Tập đoàn cà phê Việt nổi tiếng này, báo Giáo dục Việt Nam xin trích đăng nguyên văn 3 chương (6,7 và 11) trong quyển sách này đến đông đảo độc giả:

CHƯƠNG 6: MỘT CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP HIỆU QUẢ

"Thật không đơn giản khi phải thuyết phục mọi người rằng nuôi cá trên sa mạc là việc làm có ý nghĩa", GIÁO SƯ SAMUEL APPELBAUM.

Câu chuyện về phương thức giúp Israel đạt được thành tựu như hiện nay – tăng trưởng kinh tế 50 lần trong vòng 60 năm – không chỉ xoay quanh nét lập dị trong văn hóa của người Israel, bản lĩnh kinh doanh được tôi luyện trên chiến trường hay yếu tố ngẫu nhiên mang tính địa chính trị. Trong câu chuyện này phải tính đến hiệu quả của các chính sách do chính phủ ban hành, có khả năng thích nghi tương tự như quân sự và dân sự của Israel, và cũng trải qua nhiều bước ngoặt của số phận.

Lịch sử của nền kinh tế Israel là một trong hai bước tiến vĩ đại, bị chia cắt bằng một giai đoạn kinh tế đình trệ và lạm phát tăng cao. Những chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của đất nước rồi đảo ngược nó và giải phóng nó theo những cách mà ngay cả chính phủ cũng không bao giờ mong đợi.

Bước tiến vĩ đại đầu tiên diễn ra từ năm 1948 đến 1970, giai đoạn thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp bốn lần và dân số Israel tăng gấp ba lần, thậm chí giữa giai đoạn Israel đang tham gia ba cuộc chiến lớn.

Posted Image

Quốc gia khởi nghiệp” là câu chuyện viết về sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Israel từ lúc lập quốc cho đến khi trở thành quốc gia có nền công nghệ hàng đầu thế giới....

Lần thứ hai là từ năm 1990 đến nay, giai đoạn Israel chuyển mình từ một vùng ao tù nước đọng trở thành trung tâm hàng đầu của các chương trình sáng tạo toàn cầu. Người ta đã áp dụng những biện pháp hoàn toàn khác biệt – gần như đối lập: Giai đoạn đầu tiên của việc mở rộng được thực hiện thông qua một chính phủ khởi nghiệp mà thống trị khối doanh nghiệp tư nhân nhỏ bé và thô sơ; giai đoạn thứ hai là thông qua khối doanh nghiệp tư nhân kinh doanh phát đạt mà ban đầu được xúc tác bằng những hành động của chính phủ.

Gốc rễ của giai đoạn tăng trưởng kinh tế đầu tiên đã xuất hiện từ trước ngày lập quốc vào cuối thế kỷ 19. Ví dụ, trong những năm 1880, một nhóm khai hoang người Do Thái đã cố gắng xây dựng cộng đồng nông nghiệp tại một thị trấn mới thành lập – Petach Tikva – cách Tel Aviv ngày nay vài dặm. Đầu tiên nhóm người tiên phong này sống trong những căn lều tạm, sau đó đã thuê dân Ả-rập địa phương xây những căn chòi vách đất cho họ. Nhưng khi trời mưa, căn chòi này bị dột còn tệ hơn cả lều; còn khi nước sông tràn bờ, các kết cấu này bị nhão ra. Vài người trong nhóm bị kiết lỵ và sốt rét. Rồi chỉ sau vài mùa đông, tiền tiết kiệm của nhóm nông dân đã cạn kiệt, lối mòn dẫn ra đường cái bị xói lở, và gia đình họ gần như chết đói.

Tuy nhiên, vào năm 1883, mọi việc bắt đầu sáng sủa hơn. Nhà từ thiện kiêm chủ ngân hàng người Pháp gốc Do Thái Edmond de Rothschild đã cấp cho họ khoản hỗ trợ tài chính cần thiết. Một chuyên gia nông nghiệp khuyên nhóm người khai hoang trồng cây khuynh diệp ở những đầm lầy do nước lũ tràn vào, các rễ cây sẽ hút nước trong đầm lầy. Tỉ lệ mắc bệnh sốt rét giảm rõ rệt, và ngày càng nhiều gia đình chuyển đến sống với cộng đồng đang phát triển này.

Bắt đầu từ những năm 1920 và trong suốt thập kỷ đó, năng suất lao động ở Yishuv – cộng đồng Do Thái tiền nhà nước Palestine – đã tăng 80%, tạo ra lượng sản phẩm quốc gia nhiều gấp bốn lần cùng dân số Do Thái tăng gấp đôi. Ấn tượng hơn, trong suốt cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 1931 đến 1935, tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm của người Do Thái và Ả-rập ở Palestine lần lượt là 28% và 14%.

Những cộng đồng nhỏ do những người khai hoang lập ra, như Petach Tikva, không bao giờ có thể tự mình đạt được sự tăng trưởng bùng nổ đó. Họ được bổ sung bằng làn sóng dân nhập cư mới, những người không chỉ đóng góp về mặt số lượng, mà còn mang theo những đặc tính tiên phong đã lật đổ nền kinh tế dựa trên lòng thiện nguyện.

Một trong số những người nhập cư đó là luật sư 20 tuổi David Gruen, đến từ Ba Lan vào năm 1906. Khi đến nơi, anh đổi sang tên Do Thái là Ben-Gurion – tên một vị tướng Do Thái từ thời đế chế La Mã, vào năm 70 sau Công Nguyên – và nhanh chóng nổi lên để trở thành lãnh đạo không thể chối bỏ của cộng đồng Yishuv.

Tác giả người Israel Amos Oz đã viết: “Trong những năm đầu của nhà nước mới, nhiều người Israel xem ông như sự kết hợp của Moses, George Washington, Garibaldi và Chúa Toàn Năng”.

Ben-Gurion còn là doanh nhân quốc gia đầu tiên của Israel. Theodore Herzl có thể đã khái niệm hóa tầm nhìn cho chủ quyền của người Do Thái và bắt đầu khích động cộng đồng Do Thái tha hương bằng khái niệm lãng mạn của một nhà nước chủ quyền; song chính Ben-Gurion mới là người tổ chức tầm nhìn này từ một ý tưởng để trở thành một nhà nước – dân tộc có năng lực vận hành. Sau Thế chiến II, Winston Churchill gọi Đại tướng Mỹ George Marshall là “người tổ chức sự thắng lợi” của lực lượng Đồng Minh. Diễn giải theo cách nói của Churchill, Ben-Gurion là “người tổ chức chủ nghĩa Phục quốc Do Thái”; hoặc theo thuật ngữ kinh doanh, Ben-Gurion là một “người vận hành”, người đã thật sự xây dựng đất nước Israel.

Thách thức Ben-Gurion phải đối mặt trong lĩnh vực quản lý vận hành và lên kế hoạch hậu cần là vô cùng phức tạp. Xem xét chỉ riêng một vấn đề: Làm thế nào để tiếp nhận làn sóng dân nhập cư. Từ những năm 1930 cho đến khi kết thúc nạn thảm sát người Do Thái (Holocaust), hàng triệu người châu Âu gốc Do Thái bị chuyển đến các trại tập trung, một số đã tìm cách đào tẩu đến Palestine. Tuy nhiên, những người trốn thoát lại bị nhiều nước từ chối cho tị nạn và buộc phải sống chui lủi, thường là trong những điều kiện khủng khiếp.

Posted Image

Start-up Nation nhằm giúp người Việt giải mã hiện tượng Israel thông qua nhiều câu chuyện kỳ thú làm toát lên phẩm chất vượt trội của con người và đất nước Israel, từ đó khởi động tâm thế và tinh thần kiến quốc khởi nghiệp của người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Sau năm 1939, chính phủ Anh khi đó, vốn là siêu cường thuộc địa phụ trách Palestine, đã ban hành lệnh cấm hà khắc lên làn sóng nhập cư với một chính sách được biết đến với tên gọi “Bạch Thư” (White Paper). Nhà cầm quyền Anh từ chối hầu hết những người muốn tị nạn tại Palestine. Đáp lại, Ben-Gurion phát động hai chiến dịch tưởng chừng trái ngược nhau. Đầu tiên, ông thuyết phục và thu xếp cho khoảng 18 nghìn người Do Thái đang sống ở Palestine quay về châu Âu để gia nhập quân đội Anh trong “Tiểu đoàn Do Thái” chống Đức Quốc xã. Cùng lúc đó, ông tạo ra một cơ quan ngầm để bí mật vận chuyển người tị nạn Do Thái từ châu Âu sang Palestine, thách thức chính sách nhập cư của Anh.

Ben-Gurion, một mặt cùng chiến tuyến với người Anh ở châu Âu; mặt khác chống lại người Anh ở Palestine. Hầu hết lịch sử của kỷ nguyên này tập trung vào những cuộc tranh đấu quân sự và chính trị để dẫn đến sự ra đời của nhà nước Israel vào năm 1948. Trong suốt quá trình đó, đã nổi lên một huyền thoại xung quanh khía cạnh kinh tế trong câu chuyện này: Ben-Gurion là một người theo chủ nghĩa xã hội và Israel được sinh ra dưới hình hài một nhà nước xã hội chủ nghĩa triệt để.

Nguyên nhân của huyền thoại này rất dễ hiểu. Ben- Gurion bị đắm chìm trong môi trường chủ nghĩa xã hội của kỷ nguyên đó, và chịu ảnh hưởng sâu sắc sự trỗi dậy của chủ nghĩa Mác và cuộc Cách mạng Nga năm 1917. Rất nhiều người Do Thái trong thời kỳ tiền nhà nước Palestine đến từ Liên bang Xô Viết và Đông Âu là những người theo chủ nghĩa xã hội, và họ đều chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa này. Nhưng Ben-Gurion tập trung một cách khác thường vào việc xây dựng nhà nước, bằng mọi phương tiện. Ông không đủ kiên nhẫn để thí nghiệm những chính sách mà ông tin rằng được tạo ra đơn giản chỉ để công nhận giá trị hệ tư tưởng Mác xít.

Trong quan điểm của ông, mọi chính sách – kinh tế, chính trị, quân sự hoặc định cư là cách duy nhất để đảm bảo chủ quyền tương lai của Israel. Nếu không, những khu vực không có hoặc ít người định cư sẽ có ngày bị kẻ thù đoạt mất, những kẻ sẽ dễ dàng thuyết phục cộng đồng quốc tế nếu người Do Thái không có mặt tại những khu vực tranh chấp. Hơn nữa, sự tập trung dày đặc ở các đô thị – trong các thành phố và thị trấn như Jerusalem, Tiberias và Safed sẽ biến những nơi này thành mục tiêu rõ ràng cho lực lượng không quân thù địch, đây cũng là một lý do khác để phân tán dân số rộng rãi. Ben-Gurion cũng hiểu mọi người sẽ không chịu chuyển đến các khu vực kém phát triển, cách quá xa trung tâm thành thị và cơ sở hạ tầng cơ bản nếu chính phủ không đi đầu trong việc giải quyết và khuyến khích tái định cư. Ông biết nhiều nhà tư bản tư nhân sẽ không muốn phải chịu rủi ro cho những nỗ lực như vậy.

Song sự tập trung cao độ vào công cuộc phát triển này cũng tạo ra di sản là một chính phủ không chính thức can thiệp vào nền kinh tế. Sự chuyên chế của Pinchas Sapir rất tiêu biểu. Trong suốt những năm 1960 và 1970, Sapir giữ nhiều trọng trách như Bộ trưởng Tài chính hay Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp. Phong cách quản lý của Sapir vi mô đến mức ông đã thiết lập những tỉ giá ngoại tệ khác nhau cho từng nhà máy khác nhau – với tên gọi “phương pháp xã hội – đều phải phục vụ cho mục tiêu xây dựng quốc gia. Ben-Gurion là một hình mẫu bitzu’ist cổ điển, đây là một từ trong tiếng Hebrew có nghĩa gần với “người theo chủ nghĩa thực dụng”, nhưng có thêm nhiều phẩm chất của một nhà hoạt động. Bitzu’ist là người làm việc tới nơi tới chốn.

Chủ nghĩa bitzu’ là trung tâm của những đặc tính tiên phong và là động lực của tinh thần khởi nghiệp Israel. “Gọi một người là bitzu’ist tức là khen ngợi người đó một cách sâu sắc”, tác gia kiêm biên tập viên Leon Wieseltier viết. “Bitzu’ist là người xây dựng, người tưới ruộng, phi công, kẻ buôn lậu súng và là người khai hoang. Người Israel công nhận loại hình xã hội: Cộc cằn, tháo vát, nôn nóng, mỉa mai, hiệu quả, không cần nghĩ nhiều mà cũng không cần ngủ nhiều”.

Tuy Wieseltier đang miêu tả một thế hệ người tiên phong, song từ ngữ của ông cũng phù hợp để nói về bất cứ ai dám mạo hiểm mọi thứ để thành lập những công ty “khởi nghiệp”. Chủ nghĩa Bitzu’ là chủ đề đi từ những con người dám đối mặt với kẻ cướp và tát cạn đầm lầy cho đến những doanh nhân tin rằng họ có thể bất chấp những điều kỳ quặc và nòng súng để biến ước mơ thành hiện thực. Đối với Ben-Gurion, nhiệm vụ chủ yếu là làm sao để dàn trải người dân trên mảnh đất sau này sẽ trở thành Israel.

Những nhà sử học đã gọi nông trang là “hoạt động công xã thành công nhất thế giới”. Tuy nhiên vào năm 1944, bốn năm trước thời điểm lập quốc của Israel, chỉ có 16 nghìn người sống trong các kibbutzim (kibbutz nghĩa là “tập hợp” hoặc “hợp tác”, kibbutzim là số nhiều, còn những thành viên gọi là kibbutznik).

Posted Image

Kibbutzim được tạo ra như các khu định cư nông nghiệp nhằm xóa bỏ sự tư hữu và đem lại bình đẳng cho toàn dân, phong trào đã phát triển trong suốt 20 năm tiếp theo, lên thành 80 nghìn người sống trong 250 cộng đồng, song con số này vẫn chỉ chiếm 4% dân số Israel.

Được tạo ra như các khu định cư nông nghiệp nhằm xóa bỏ sự tư hữu và đem lại bình đẳng cho toàn dân, phong trào đã phát triển trong suốt 20 năm tiếp theo, lên thành 80 nghìn người sống trong 250 cộng đồng, song con số này vẫn chỉ chiếm 4% dân số Israel.

Tuy nhiên ngày nay, các nông trang đã đóng góp 15% thành viên của Knesset, tên gọi dành cho Quốc hội Israel, và một con số còn lớn hơn thế cho lực lượng sĩ quan và phi công của quân đội Israel. Một phần tư trong số 800 lính Israel hy sinh trong Cuộc chiến Sáu ngày năm 1967 là các kibbutznik – khoảng sáu lần trong dân số chung.

Mặc dù viễn cảnh về một công xã chủ nghĩa xã hội có thể mang hình ảnh của một thứ văn hóa du mục, nhưng điều này không đúng với nông trang lúc ban đầu. Những nông trang viên bắt đầu biểu tượng hóa sự chịu đựng gian khổ và loại bỏ tính lễ nghi, sự theo đuổi bình đẳng triệt để của họ đã sản sinh ra chủ nghĩa khổ hạnh. Ví dụ tiêu biểu là Abraham Herzfield, một lãnh đạo phong trào nông trang trong những năm đầu tiên của nhà nước Israel, người cho rằng việc xả nước nhà 100 tỉ giá hối đoái” – và theo dõi tất cả tỉ giá này bằng cách ghi vào một quyển số nhỏ màu đen.

Theo Moshe Sanbar, Thống đốc thứ hai của Ngân hàng Israel, Sapir nổi danh với hai cuốn sổ. “Một trong hai cuốn sổ là Cục Thống kê trung ương của riêng ông: Sapir yêu cầu mọi nhà máy lớn phải báo cáo lại họ đã bán được bao nhiêu, bán cho ai, đã tiêu thụ bao nhiêu điện… Và đây là cách ông ta nắm rõ, trước khi những số liệu thống kê chính thức được lưu lại, nền kinh tế đang diễn ra như thế nào".

Sanbar cũng tin rằng hệ thống này chỉ hiệu quả trong một quốc gia lý tưởng, luôn cố gắng phấn đấu và có diện tích nhỏ: Không có chính phủ minh bạch, nhưng “một chính trị gia lúc bấy giờ qua đời trong cảnh nghèo khó… Họ can thiệp vào thị trường, quyết định bất cứ điều gì họ muốn, nhưng không lấy trong túi ai dù chỉ một xu”[6], Sanbar cho biết...

* Còn nữa...

======================

Nội dung tiếp theo của chương 6:

NÔNG TRANG (KIBBUTZ) VÀ CUỘC CÁCH MẠNG NÔNG NGHIỆP

P.V (trích từ sách Quốc gia khởi nghiệp)

Quốc gia khởi nghiệp, quyển sách "hớp hồn" CEO Đặng Lê Nguyên Vũ (P2)

Thứ bảy 06/07/2013 14:47

(GDVN) - Để hiểu rõ hơn vì sao quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” có thể “hớp hồn” vị CEO đứng đầu Tập đoàn cà phê Việt nổi tiếng này, báo Giáo dục Việt Nam xin trích đăng nguyên văn 3 chương (6,7 và 11) trong quyển sách này đến đông đảo độc giả:

NÔNG TRANG (KIBBUTZ) VÀ CUỘC CÁCH MẠNG NÔNG NGHIỆP

Trung tâm của cú nhảy vĩ đại đầu tiên là là một phát kiến xã hội và một phát kiến mà quy mô không hề tương xứng với tầm ảnh hưởng địa phương và quốc tế của chính nó: Nông trang (kibbutz).

Ngày nay, tuy chiếm chưa đến 2% dân số Israel, song những nông trang viên sản xuất đến 12% lượng hàng hóa xuất khẩu của cả nước. Sự trỗi dậy của nông trang một phần là kết quả của những đột phá trong công nghệ và nông nghiệp do các nông trang và trường đại học của Israel thực hiện. Sự chuyển dịch từ những khó khăn khắc nghiệt và những lý tưởng không thể lay chuyển của thế hệ lập quốc cũng như chuyển dịch từ việc cày bừa sang công nghiệp tiên tiến là điều có thể quan sát được tại một nông trang như Hatzerim.

Nông trang này, cùng với 10 khu định cư nhỏ và biệt lập khác, đã được dựng lên chỉ trong một đêm tháng 10 năm 1946, khi Haganah, lực lượng quân sự chính của nhà nước tiền Do Thái muốn thiết lập sự hiện diện của mình tại những điểm chiến lược ở khu vực phía Nam sa mạc Negev. Khi bình minh ló dạng, năm người phụ nữ và 21 người đàn ông được phái đến để xây dựng cộng đồng, thấy mình đang đứng trên một ngọn đồi khô cằn và hoang dã chỉ thấy một cây keo duy nhất ở phía chân trời. Phải mất một năm trước khi nhóm quản lý xây dựng đường ống có đường kính 6 inch7 dẫn nước từ khu vực cách đó 40 dặm.

Trong suốt Cuộc chiến Độc lập năm 1948, nông trang Hatzerim đã bị tấn công và cắt đứt nguồn nước. Thậm chí sau khi cuộc chiến kết thúc, do đất bị nhiễm mặn, khó canh tác mà vào năm 1959, những thành viên nông trang đã tranh cãi 7. 1 inch = 2,54 cm vệ sinh là sự suy đồi không thể chấp nhận được. Ngay cả trong một nước Israel nghèo khổ và bị vây hãm của những năm 1950, khi những nhu yếu phẩm cũng bị giới hạn, bệ xí xả nước vẫn được xem là tiện nghi phổ thông trong mọi khu dân cư và thành phố của Israel. Người ta đồn rằng khi chiếc bệ xí đầu tiên được lắp tại một nông trang, Herzfield đã tự tay dùng rìu phá tan nó. Nhưng đến những năm 1960, ngay cả Herzfield cũng không thể chống lại sự tiến bộ, và hầu hết các nông trang đều lắp đặt nhà vệ sinh có xả nước.

Mô hình nông trang có tính chất tập trung và dân chủ cao độ. Mỗi câu hỏi của vấn đề tự quản, như trồng cây gì hay thành viên có nên sở hữu tivi đều được đưa ra thảo luận không dứt. Shimon Peres nói với chúng tôi: “Tại nông trang không có cảnh sát, không có tòa án. Thời tôi làm thành viên ở đó, người ta không có tiền riêng; và thậm chí còn không có cả thư riêng trước lúc tôi đến. Thư gửi đến và ai cũng được đọc”. Có lẽ điều gây tranh cãi nhất là việc trẻ em tại nông trang được tất cả mọi người nuôi dưỡng. Tuy mỗi nơi mỗi khác, nhưng hầu hết các nông trang đều có những “nhà trẻ”, ở đó trẻ em cùng chung sống và được các thành viên trong nông trang chăm sóc. Tại hầu hết các nông trang, trẻ con được gặp cha mẹ của chúng vài tiếng mỗi ngày, nhưng chúng ngủ cùng bạn bè, chứ không phải ở nhà cha mẹ.

Những khó khăn về mặt môi trường mà các nông trang phải đối mặt cuối cùng lại vô cùng hiệu quả, giống như những mối đe dọa an ninh của Israel. Ngân sách lớn chi cho việc phát triển và nghiên cứu để giải quyết các vấn đề quân sự thông qua công nghệ cao – bao gồm công nghệ nhận diện giọng nói, thông tin liên lạc, quang học, phần cứng, phần mềm và nhiều lĩnh vực khác – đã giúp Israel khởi động, đào tạo và duy trì khối công nghệ dân sự.Bất lợi của quốc gia khi có một phần lãnh thổ bị sa mạc hóa đã được chuyển hóa thành của cải. Nhìn vào Israel hôm nay, hầu hết du các khách sẽ ngạc nhiên khi biết 95% diện tích của đất nước bị xếp vào nhóm nửa khô hạn, khô hạn hoặc rất khô hạn, dựa vào lượng mưa hằng năm.

Thật vậy, khi mới lập quốc, sa mạc Negev đã tràn lên phía Bắc, giữa Jerusalem và Tel Aviv. Vẫn là vùng đất lớn nhất Israel, nhưng tiến trình xâm thực của sa mạc Negev đã bị đảo lộn khi vùng đất phía Bắc của nó đã phủ đầy các cánh rừng và các cánh đồng nông nghiệp do con người trồng. Phần lớn điều này đạt được là nhờ các chính sách thủy lợi sáng tạo từ thời của Hatzerim. Israel ngày nay dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải: Hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp ba lần tỉ lệ tại Tây Ban Nha, quốc gia đứng vị trí thứ hai.

Về chuyện đóng cửa Hatzerim để chuyển đến địa điểm khác có môi trường thân thiện hơn. Nhưng rồi cộng đồng này đã quyết định ở lại khi nhận ra vấn đề đất nhiễm mặn không chỉ ảnh hưởng đến Hatzerim mà hầu như là toàn bộ vùng Negev. Hai năm sau, thành viên quản lý nông trang Hatzerim đã rửa đất đai tới mức có thể trồng trọt được. Tuy nhiên, đây chỉ mới là những đột phá đầu tiên của Hatzerim cho chính họ và cho cả quốc gia.

Vào năm 1965, kỹ sư thủy lợi Simcha Blass đến Hatzerim với ý tưởng cho một phát minh ông muốn thương mại hóa: Công nghệ tưới nhỏ giọt. Đây là khởi đầu của cái mà sau này đã trở thành Netafim, công ty toàn cầu về kỹ thuật tưới tiêu nhỏ giọt.

Giáo sư Ricardo Hausmann đứng đầu Trung tâm Phát triển Quốc tế tại Đại học Harvard, và là nguyên Bộ trưởng Phát triển trong chính phủ Venezuela. Ông cũng là chuyên gia nổi tiếng thế giới về các mô hình phát triển kinh tế quốc gia. Mọi quốc gia đều có khó khăn và hạn chế, ông nói với chúng tôi, nhưng điều gây kinh ngạc của Israel chính là thiên hướng tiếp nhận các vấn đề – như sự thiếu nước – và biến chúng thành tài sản – như trong trường hợp này là dẫn đầu trong các lĩnh vực nông nghiệp vùng hoang mạc, tưới nhỏ giọt và khử mặn. Mô hình nông trang luôn ở vị trí hàng đầu trên khắp đất nước, nhưng lớn nhất và có lẽ cũng là phi thường hơn cả chính là rừng Yatir.

Năm 1932, Yosef Weitz trở thành quan chức lâm nghiệp hàng đầu tại Quỹ quốc gia Do Thái, một tổ chức tiền nhà nước chuyên mua đất và trồng cây trên mảnh đất mà sau này là Israel. Weitz mất hơn 30 năm để thuyết phục chính tổ chức và chính phủ của mình trồng rừng trên khu đồi ở rìa sa mạc Negev.

Hầu hết đều nghĩ việc này là bất khả thi. Giờ đây ở đó có khoảng 4 triệu cây trồng. Hình ảnh từ vệ tinh cho thấy khu rừng vươn ra như một bản sắp chữ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, bao quanh là sa mạc và đất khô ở một nơi khu rừng lẽ ra không thể tồn tại. FluxNet, một dự án nghiên cứu môi trường toàn cầu phối hợp cùng NASA thu thập dữ liệu từ hơn 100 tháp theo dõi trên khắp thế giới. Chỉ có một ngọn tháp nằm giữa một khu rừng trong vùng bán khô hạn: Rừng Yatir.

Rừng Yatir sống nhờ nước mưa, mặc dù lượng mưa hằng năm tại đây chỉ đạt 280mm, tương đương 1/3 lượng mưa hằng năm ở Dallas, Texas. Thế nhưng các nhà nghiên cứu phát hiện cây trồng trong rừng Yatir có tốc độ sinh trưởng tự nhiên nhanh hơn kỳ vọng, và lượng hấp thụ khí carbon dioxide từ không khí của chúng tương đương với những khu rừng ở vùng ôn đới.

Posted Image

Những thành viên nông trang Mashabbe Sade đã tìm ra cách sử dụng nước tái chế không chỉ một mà những hai lần.

Nông trang Mashabbe Sade, cũng trong sa mạc Negev còn đi xa hơn: Những thành viên nông trang đã tìm ra cách sử dụng nước tái chế không chỉ một mà những hai lần. Họ đã đào giếng sâu bằng chiều dài mười sân bóng đá – gần nửa dặm – và phát hiện nguồn nước vừa ấm vừa mặn. Điều này không có vẻ gì là tuyệt vời, cho đến khi họ tham khảo ý kiến từ giáo sư Samuel Appelbaum của trường Đại học Ben-Gurion tại Negev: Ông ấy nhận ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm.

“Không đơn giản khi phải thuyết phục người ta rằng nuôi cá trên sa mạc là việc làm có ý nghĩa”, nhà ngư học Appelbaum nói. “Nhưng việc đập tan ý nghĩ rằng đất đai cằn cỗi đồng nghĩa với vô dụng và không màu mỡ lại rất quan trọng.”

Các nông trang viên bắt đầu bơm nguồn nước nóng 37 độ vào trong các bể chứa cá rô phi, cá chẽm và cá vược để sản xuất thương mại. Sau khi được dùng trong bể cá, chỗ nước chứa chất thải của cá giờ lại là nguồn phân bón hoàn hảo cho các rặng cây chà là và ôliu. Các nông trang cũng tìm ra cách trồng rau và cây ăn trái được tưới trực tiếp bằng nguồn nước ngầm.

Một thế kỷ trước, Israel đã được Mark Twain và nhiều du khách khác miêu tả là vùng đất đa phần cằn

cỗi. Giờ đây nơi này có khoảng 240 triệu cây xanh do hàng triệu người cùng trồng. Rừng cây được trồng năm 1960.

Nền kinh tế Israel không chỉ mở rộng, mà còn trải qua điều mà Hausmann gọi là “cú nhảy vọt”, diễn ra khi một nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách thu nhập đầu người với những quốc gia giàu có ở thế giới thứ nhất.

Trong khi những giai đoạn tăng trưởng kinh tế rất phổ biến ở hầu hết các nước, thì những cú nhảy vọt lại hiếm hoi hơn. Một phần ba nền kinh tế thế giới đã trải qua giai đoạn tăng trưởng trong 50 năm qua, nhưng chưa tới 10% số này đạt được một bước nhảy vọt. Tuy nhiên, nền kinh tế Israel đã tăng thu nhập bình quân đầu người của mình từ mức chỉ bằng 25% Mỹ vào năm 1950 lên thành 60% vào năm 1970. Điều này có nghĩa Israel đã tăng gấp đôi tiêu chuẩn sống so với Mỹ chỉ trong vòng 20 năm.

Trong suốt giai đoạn này, chính phủ đã không có nỗ lực nào để khuyến khích tinh thần khởi nghiệp tư nhân, và nếu có, cũng chỉ là cường điệu sự thù địch sâu sắc với lợi ích của khối tư nhân. Mặc dù phe đối lập của chính phủ bắt đầu phản đối bàn tay kinh tế nặng nề và thái độ chống thị trường tự do của chính phủ, những cũng chỉ một thiểu số lên tiếng chỉ trích. Nếu chính quyền biết trân trọng và tìm cách mở đường cho các sáng kiến dành cho khối tư nhân, nền kinh tế đã có thể tăng trưởng còn nhanh hơn.

Dan Yakir là nhà khoa học tại Viện Weizmann, người quản lý trạm nghiên cứu FluxNet tại Yatir. Ông cho biết khu rừng không chỉ chứng minh rằng cây cối có thể phát triển ở những khu vực bị xem là hoang mạc, mà còn cho thấy chỉ cần trồng rừng trên 12% diện tích đất bán hoang mạc của thế giới là có thể giảm một tỉ tấn carbon ở tầng khí quyển mỗi năm – tương đương với lượng khí CO2 thải ra từ 1000 nhà máy nhiệt điện công suất 500 MW hằng năm. Một tỉ tấn carbon cũng góp vào một trong bảy “nhân tố bình ổn” mà giới khoa học cho là sẽ cần thiết để cân bằng lượng carbon trên tầng khí quyển ở mức hiện tại.

Tháng 12 năm 2008, Đại học Ben-Gurion chủ trì một hội nghị chống sa mạc hóa lớn nhất thế giới do Liên Hợp Quốc tài trợ. Các chuyên gia đến từ 40 nước háo hức được tận mắt chứng kiến tại sao Israel là quốc gia duy nhất mà sa mạc đang dần bị đẩy lùi.

* Còn nữa...

Nội dung tiếp theo của chương 6: CÚ NHẢY VỌT CỦA ISRAEL

P.V (trích từ sách Quốc gia khởi nghiệp)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quốc gia khởi nghiệp, quyển sách "hớp hồn" CEO Đặng Lê Nguyên Vũ (P3)

Thứ hai 08/07/2013 07:02

(GDVN) - Để hiểu rõ hơn vì sao quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” có thể “hớp hồn” vị CEO đứng đầu Tập đoàn cà phê Việt nổi tiếng này, báo Giáo dục Việt Nam xin trích đăng nguyên văn 3 chương (6,7 và 11) trong quyển sách này đến đông đảo độc giả:

CÚ NHẢY VỌT CỦA ISRAEL

Câu chuyện nông trang chỉ là một phần của quỹ đạo chung trong cuộc cách mạng kinh tế Israel. Dù theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phát triển hay lai giữa hai loại, thành tích kinh tế của Israel trong 20 năm đầu vẫn rất ấn tượng.

Từ năm 1950 đến hết năm 1955, kinh tế Israel tăng trưởng khoảng 13% mỗi năm, mức tăng trưởng hằng năm chỉ quanh quẩn dưới 10% những tưởng với Chính phủ Israel vào những năm 1950, phản ứng họ nhận được đi từ sự hoài nghi đến giễu cợt. Vào thời điểm đó, hàng hóa thiết yếu như sữa và trứng vẫn còn khan hiếm, và hàng ngàn người tị nạn mới đến vẫn phải sống trong lều, nên không có gì ngạc nhiên khi hầu hết các vị bộ trưởng đều nghĩ rằng Israel không đủ khả năng và cũng khó thành công với nỗ lực đó.

Nhưng Peres đã thuyết phục được David Ben-Gurion rằng Israel có thể bắt đầu sửa chữa các máy bay còn lại từ Thế chiến II. Họ thành lập một doanhnghiệp mà lúc đó là lớn nhất ở Israel. Bedek cuối cùng trở thành Israel Aircraft Industries, doanh nghiệp dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực hàng không.

Trong suốt giai đoạn phát triển này của Israel, các doanh nghiệp tư nhân có thể không có vai trò quan trọng, do những nhu cầu lớn và cấp bách nhất của nền kinh tế là rất rõ ràng. Song hệ thống này đã sụp đổ khi nền kinh tế dần trở nên phức tạp hơn. Theo nhà kinh tế học người Israel, Yakir Plessner, một khi chính phủ làm nền kinh tế bị bão hòa với ngân sách lớn dành cho cơ sở hạ tầng, chỉ có thể trông cậy vào các doanh nhân để thúc đẩy tăng trưởng; chỉ họ mới có thể tìm thấy “những ngách hẹp của lợi thế tương đối”.

Việc chuyển đổi từ phát triển tập trung sang nền kinh tế tư nhân lẽ ra đã phải xuất hiện vào giữa những năm 1960. Khoảng thời gian 20 năm từ 1946 đến 1966. Tuy nhiên, khi nhìn lại quá khứ, rõ ràng màn trình diễn của nền kinh tế Israel một phần là nhờ sự can thiệp của chính phủ, thay vì để nó tự phát. Trong suốt những giai đoạn đầu của bất cứ nền kinh tế sơ khai nào, luôn có nhiều cơ hội dễ nhận biết cho đầu tư quy mô lớn: Đường xá, hệ thống nước, nhà máy, cầu cảng, mạng lưới điện và xây dựng nhà cửa.

Những khoản đầu tư khổng lồ của Israel dành cho các dự án như hệ thống dẫn nước quốc gia Israel, dẫn nước biển Galilee từ phía Bắc xuống vùng Negev khô hạn ở phía Nam đã giúp kích thích tốc độ tăng trưởng cao. Sự phát triển thần tốc của nhà cửa ở các nông trang đã tạo ra tăng trưởng trong xây dựng và các ngành dịch vụ. Nhưng điều quan trọng khi không khái quát hóa chính là: Nhiều nước đang phát triển khi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng lớn đã lãng phí lượng ngân sách nhà nước khổng lồ vì tham nhũng và sự thiếu hiệu quả của chính phú.

Israel cũng không phải là một ngoại lệ. Mặc dù các dự án cơ sở hạ tầng có lẽ là yếu tố dễ nhận thấy nhất, song điều gây ấn tượng hơn cả là sự hình thành một cách thận trọng của các ngành công nghiệp, chẳng hạn các dự án kinh doanh từ bên trong nhà nước.

Shimon Peres và Al Schwimmer, một người Mỹ từng buôn lậu máy bay và vũ khí vào Israel trong suốt Cuộc chiến Độc lập đã nuôi giấc mơ tạo dựng ngành công nghiệp hàng không của Israel. Khi họ trình bày ý tưởng khác diễn ra sáu năm sau đó, cuộc chiến Yom Kippur năm 1973, đã không không mang lại sự thúc đẩy kinh tế tương tự. Israel đã hứng chịu con số thương vong nặng nề (ba ngàn người chết và hàng ngàn người khác bị thương) và thiệt hại to lớn về cơ sở hạ tầng.

Trong tình cảnh buộc phải huy động số lượng lớn quân dự bị, quân đội Israel đã kéo hầu hết lực lượng lao động khỏi nền kinh tế trong sáu tháng. Ảnh hưởng của một đợt tổng động viên dai dẳng như vậy đã làm tê liệt các công ty và thậm chí toàn bộ các ngành công nghiệp. Hoạt động kinh doanh cũng bị ngưng trệ. Trong bất cứ môi trường kinh tế bình thường nào, thu nhập cá nhân của giới lao động trong nước cũng sẽ bị giảm theo.

Posted Image

Cuộc chiến Sáu ngày xảy ra, từ ngày 6 tháng 6 năm 1967, Israel đã chiếm Bờ Tây, Dải Gaza, bán đảo Sinai và cao nguyên Golan.

Nhưng ở Israel lại không thế. Thay vì để cho tiền lương rơi tự do, chính phủ đã chống đỡ bằng một phương tiện mà kết quả là dẫn đến mức nợ công rất cao. Để cố gắng bù đắp cho khoản nợ mỗi ngày một phình to, mọi mức thuế – bao gồm cả thuế đánh vào vốn đầu tư – đều tăng. Các khoản nợ ngắn hạn có lãi suất cao được sử dụng để tài trợ cho các khoản thâm hụt tài chính, về sau đã làm tăng khoản trả lãi.

Tất cả những điều này trùng hợp với sự suy giảm số dân nhập cư thuần. Người nhập cư mới luôn là nguồn sinh lực chủ yếu cho nền kinh tế của Israel. Đã từng có tăng trưởng ròng số lượng nhập cư khi khi các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn đã được thực hiện.

Vào năm 1966, khi không còn mục tiêu đáng kể để đầu tư, Israel lần đầu tiên nếm trải mức tăng trưởng kinh tế gần như bằng không. Điều này lẽ ra đã đủ để thuyết phục chính phủ Israel mở cửa nền kinh tế cho các doanh nghiệp tư nhân. Nhưng thay vào đó, những sự cải cách cấp bách lại bị trì hoãn vì Cuộc chiến Sáu ngày.

Chỉ trong một tuần kể từ ngày 6 tháng 6 năm 1967, Israel đã chiếm Bờ Tây, Dải Gaza, bán đảo Sinai và cao nguyên Golan. Tổng diện tích của các vùng lãnh thổ này gấp ba lần đất nước Israel. Bỗng nhiên, một lần nữa, chính phủ Israel lại bận rộn với các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn. Và bởi vì quân đội Israel cần thiết lập vị trí tại những vùng lãnh thổ mới, các khoản ngân sách khổng lồ được dành cho các công trình quốc phòng, an ninh biên giới và những cơ sở hạ tầng tốn kém khác. Đây là một chương trình “kích thích” kinh tế khổng lồ.

Kết quả là từ năm 1967 đến 1968, đầu tư cho thiết bị xây dựng đã tăng 725%. Thời điểm xảy ra cuộc chiến đã giúp củng cố bản năng sống còn của những chuyên gia hoạch định kế hoạch trung ương của Israel.

* Còn nữa...

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quốc gia khởi nghiệp, quyển sách "hớp hồn" CEO Đặng Lê Nguyên Vũ (P4)

Thứ ba 09/07/2013 07:19

Chương 6: “THẬP KỶ MẤT MÁT” CỦA ISRAEL

Dẫu vậy, nền kinh tế của Israel lúc đó vẫn đang sống trong một thời kỳ vay mượn. Một cuộc chiến như một vùng đất đầy cát, đầm lầy và bệnh sốt rét, song du khách trong những năm 1970 vẫn có thể tưởng như họ vừa hạ cánh xuống một nước thuộc thế giới thứ ba.

Những trường đại học và kỹ sư tài năng của Israel trong thời kỳ này đã khá tiên tiến, nhưng hầu hết cơ sở hạ tầng đều đã lỗi thời. Sân bay thì nhỏ, kỳ dị và tồi tàn. Một người đến Israel và làm thủ tục nhập cảnh sẽ cảm thấy ngay phong vị lợi kiểu Xô Viết. Không có con đường chính nào đủ tiêu chuẩn đường cao tốc. Tín hiệu truyền hình thì chập chờn, nhưng cũng không thành vấn đề vì khi đó chỉ có duy nhất một đài truyền hình của chính phủ bằng tiếng Hebrew, cùng một số kênh truyền hình Ả-rập mà một ăngten đủ mạnh có thể bắt được sóng từ Jordan hoặc Liban.

Quốc gia khởi nghiệp” là câu chuyện viết về sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Israel từ lúc lập quốc cho đến khi trở thành quốc gia có nền công nghệ hàng đầu thế giới....

Không phải ai cũng có điện thoại ở nhà riêng, không phải vì họ đều có điện thoại di động, vì thứ này chưa tồn tại khi đó. Nguyên nhân là việc kéo đường dây điện thoại được một cơ quan có thẩm quyền cấp rất chậm, và phải đợi rất lâu mới đến lượt.

Các siêu thị, không giống những chợ thực phẩm phổ biến ở các khu phố, là điều rất mới mẻ và nó không có nhiều hàng hóa quốc tế. Các chuỗi cửa hàng bán lẻ quốc tế cũng chưa xuất hiện. Nếu cần thứ gì đó từ nước ngoài, bạn phải tự đến đó mua hoặc nhờ ai đó mang về hộ. Thuế hải quan cao – nhiều người ủng hộ chính sách cố gắng làm hài số người nhập cư tăng gần 100 nghìn người vào giữa năm 1972 và 1973. Nhưng con số này giảm xuống còn 14 nghìn người vào năm 1974 và gần như bằng không vào năm 1975.

Điều đã khiến sự hồi phục của Israel trở nên khó khăn – nếu không muốn nói bất khả thi – là sự độc quyền thị trường vốn của chính phủ Israel. Như chính Ngân hàng Trung ương Israel đã miêu tả vào lúc đó: “Sự tham gia của chính phủ đã vượt quá những gì từng được biết tại những nước dân chủ”.

Chính quyền Israel đã thiết lập các điều khoản và mức lãi suất cho mọi khoản vay và công cụ nợ dành cho đối tượng khách hàng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp. Những ngân hàng thương mại và quỹ hưu trí bị buộc phải dùng tiền gửi để mua trái phiếu không được phép chuyển nhượng của chính phủ, hoặc phải tài trợ cho các khoản vay của doanh nghiệp tư nhân để thực hiện các dự án dành riêng cho chính phủ. Đây là tình trạng của nền kinh tế Israel trong suốt giai đoạn thường được giới kinh tế học mô tả là “thập kỷ mất mát” của Israel, kéo dài từ giữa những năm 1970 đến giữa những năm 1980.

Ngày nay, quyết định của Intel trong việc tìm kiếm các kỹ sư tài năng ở Israel có vẻ như một động thái rõ ràng. Thế nhưng một Israel mà Intel tìm thấy vào năm 1974 lại hoàn toàn không giống hiện tại.

Một ủy ban thẩm tra công khai được chỉ định, dẫn đến việc sa thải Tham mưu trưởng quân đội Israel, Giám đốc tình báo và nhiều quan chức an ninh cao cấp khác. Tuy được ủy ban miễn tội, nhưng Thủ tướng Golda Meir đã nhận trách nhiệm cho những gì được xem là thất bại và xin từ chức chỉ một tháng sau khi công bố bản báo cáo của ủy ban. Nhưng người kế nhiệm bà, Yitzhak Rabin đã bị buộc từ chức thủ tướng vì phu nhân của ông bị phát hiện sở hữu tài khoản ngân hàng nước ngoài vào năm 1977.

Vào đầu những năm 1980, Israel còn bị ảnh hưởng từ lạm phát phi mã: Đi siêu thị đồng nghĩa với việc tiêu hàng ngàn đồng shekel vô giá trị. Lạm phát tăng từ 13% vào năm 1971 lên 111% vào năm 1979. Một phần là do giá dầu tăng vào thời điểm đó, nhưng nạn lạm phát ở Israel vẫn tăng vọt hơn nhiều nước khác, từ 133% vào năm 1980 lên 455% vào năm 1984, và gần đạt mức bốn con số trong vòng một hay hai năm tiếp theo. Dân chúng tích trữ thẻ điện thoại, vì giá trị của chúng không thay đổi khi giá cả các mặt hàng khác liên tục tăng; cũng như khẩn trương đi mua nhu yếu phẩm trước khi giá dự kiến tăng.

Posted Image

Thủ tướng Golda Meir đã nhận trách nhiệm cho những gì được xem là thất bại và xin từ chức chỉ một tháng sau khi công bố bản báo cáo của ủy ban.

Theo một câu chuyện tiếu lâm thời đó, đi từ Tel Aviv đến Jerusalem bằng xe taxi thì tốt hơn bằng xe buýt, vì bạn có thể trả tiền ở cuối chặng, lúc đó đồng shekel đã kịp giảm giá trị rồi. Các nhà sản xuất địa phương – khiến hầu hết hàng hóa nhập khẩu hết sức đắt đỏ. Xe hơi trên đường là một mớ tẻ nhạt, một số được sản xuất tại Israel (chúng đã trở thành đối tượng trong các câu truyện cười, giống như xe hơi Nga sản xuất ở Nga) và các mẫu xe rẻ tiền nhất, chủ yếu của Subaru và Citroen, hai công ty dũng cảm hoặc tuyệt vọng tới mức dám thách thức lệnh tẩy chay kinh tế của khối Ả-rập.

Hệ thống ngân hàng và các quy định tài chính của chính phủ cũng lỗi thời như ngành công nghiệp ôtô.Việc đổi tiền USD là phạm pháp ở bất cứ đâu, ngoại trừ các ngân hàng, vốn dùng tỉ giá hối đoái do nhà nước thiết lập. Thậm chí có tài khoản ngân hàng ở nước ngoài cũng là bất hợp pháp. Tâm trạng chung khi đó khá khắc khổ.

Sự hưng phấn có được nhờ thắng lợi chấn động năm 1967 – được một số người so sánh như là được ân xá tử hình rồi thắng xổ số – nhanh chóng tiêu tan sau cuộc chiến Yom Kippur 1973 và bị thế chỗ bằng thứ cảm giác mới của sự bất an, bị cô lập, và có lẽ tệ hơn tất cả là sai lầm bi kịch. Quân đội Israel hùng mạnh đã hoàn toàn bị bất ngờ và tổn thất nặng nề. Sự an ủi hiếm thấy lúc đó, theo thuật ngữ quân sự, là Israel đã chiến thắng trong cuộc chiến. Nhưng người Israel cảm thấy các lãnh đạo chính trị và quân đội đã làm họ thất vọng hoàn toàn.

Hiện nay, Israel có tỉ lệ sở hữu điện thoại di động tính trên đầu người cao hơn bất cứ đâu trên thế giới. Hầu hết trẻ em khoảng mười tuổi đã có điện thoại di động cũng như máy tính cá nhân trong phòng. Đường phố tràn ngập các xe hơi đời mới nhất, từ Hummers cho đến xe Smart của châu Âu đỗ kín gần nửa các bãi đỗ xe.

Gần đây CNNMoney.com đã đặt câu hỏi này trong bài viết liệt kê Tel Aviv là một trong “những nơi tuyệt nhất để kinh doanh trong thế giới mạng thực”. “IBM, Intel, Texas Instruments và nhiều gã khổng lồ công nghệ khác đã đổ xô đến Israel vì sự hiểu biết công nghệ của chính nơi này… Địa điểm tuyệt nhất để kết thúc thương vụ là Yoezer Wine Bar, với bộ sưu tập các loại rượu vang phong phú, cùng món bò hầm kiểu Pháp hảo hạng.”

Mặc dù vậy, vào năm 1990, không hề có một chuỗi cửa hàng cà phê, và tất nhiên là không hề có lấy một quán rượu vang hay nhà hàng sushi tao nhã nào, MacDonald’s, Ikea, hay bất cứ cửa hàng thời trang ngoại quốc nào tại trên khắp nước Israel. Cửa hàng McDonald’s đầu tiên mở cửa ở Israel là vào năm 1993, ba năm sau khi chuỗi cửa hàng lớn nhất mở tại Moscow, và 22 năm sau cửa hàng McDonald’s đầu tiên tại Sydney, Úc. Giờ đây McDonald’s có gần 150 cửa hàng tại Israel, nhiều gấp đôi so với Tây Ban Nha, Ý hay Hàn Quốc tính theo bình quân đầu người.

Lý do chính của nạn lạm phát phi mã, trớ trêu thay, lại chính là một trong những biện pháp mà chính quyền mất nhiều năm để đối phó với lạm phát: Lập các chỉ số. Hầu hết phương diện của nền kinh tế – quỹ lương, giá cả, giá thuê nhà – đều liên quan đến Chỉ số giá tiêu dùng một thước đó của lạm phát. Việc lập chỉ số nhằm bảo vệ công chúng khỏi cảm thấy ảnh hưởng của lạm phát, vì khi đó thu nhập của họ sẽ tăng cùng chi tiêu. Thế nhưng cuối cùng, việc lập chỉ số lại càng nuôi dưỡng vòng xoáy lạm phát.

CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ HỒI PHỤC?

Trong bối cảnh này, việc Intel mở chi nhánh tại Israel đặc biệt gây kinh ngạc vào những năm 1970. Tuy nhiên, một bí ẩn còn lớn hơn là việc làm thế nào Israel đã chuyển đổi bản thân từ một quốc gia tỉnh lẻ và bị cô lập để trở thành một quốc gia thịnh vượng về mặt công nghệ tinh xảo ở ba thập kỷ sau.

Ngày nay, du khách đến Israel đặt chân lên một sân bay hiện đại hơn rất nhiều so với sân nay mà họ đã rời đi. Các đường dây điện thoại mới, với số lượng không giới hạn có thể được lắp đặt trong vài giờ chỉ với một thông báo, điện thoại Blackberry không bao giờ mất sóng, và Internet không dây có ở tiệm cà phê gần nhất. Sóng Internet không dây dư thừa tới mức trong suốt cuộc chiến Liban năm 2006, người Israel còn mải so sánh loại dịch vụ Internet nào là tốt nhất.

Cú chuyển mình thứ hai bắt đầu sau năm 1990. Cho đến lúc đó, nền kinh tế Israel có năng lực hạn chế để huy động vốn đầu tư vào những tài năng khởi nghiệp được nuôi dưỡng bằng văn hóa truyền thống và môi trường quân đội.

Năm 1985, Bộ trưởng Tài chính Shimon Peres triển khai kế hoạch bình ổn. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ để tạo ra một nền kinh tế doanh nghiệp tư nhân năng động cho Israel.

Và việc tiếp tục bóp nghẹt khối tư nhân đã kéo dài thời kỳ lạm phát phi mã, vốn không được giải quyết cho tới năm 1985, khi Bộ trưởng Tài chính Shimon Peres triển khai một kế hoạch bình ổn do Ngoại trưởng Mỹ George Shultz, nhà kinh tế học thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Stanley Fischer, và cựu Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế Herbert Stein của nguyên Tổng thống Mỹ Richard Nixon phát triển.

Kế hoạch này đột ngột cắt giảm nợ công, hạn chế chi tiêu chính phủ, bắt đầu tư hữu hóa và cải cách vai trò của chính phủ trong thị trường vốn. Nhưng điều này vẫn chưa đủ để tạo ra một nền kinh tế doanh nghiệp tư nhân năng động cho Israel.

Để nền kinh tế có thể thật sự cất cánh đòi hỏi ba nhân tố bổ sung: Một làn sóng người nhập cư mới, một cuộc chiến mới và một ngành đầu tư mạo hiểm mới.

* Còn nữa..

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quốc gia khởi nghiệp, quyển sách "hớp hồn" CEO Đặng Lê Nguyên Vũ (P6)

Thứ tư 10/07/2013 07:42

(GDVN) - Để hiểu rõ hơn vì sao quyển sách “Quốc gia khởi nghiệp” có thể “hớp hồn” vị CEO đứng đầu Tập đoàn cà phê Việt nổi tiếng này, báo Giáo dục Việt Nam xin trích đăng nguyên văn 3 chương (6,7 và 11) trong quyển sách này đến đông đảo độc giả:

"NHÀ NƯỚC ISRAEL SẼ MỞ CỬA CHO NGƯỜI NHẬP CƯ DO THÁI"

Israel trở thành quốc gia duy nhất trong lịch sử dứt khoát nêu trong văn kiện lập quốc sự cần thiết của một chính sách nhập cư tự do. Năm 1950, chính phủ mới của Israel củng cố bản tuyên ngôn bằng Luật Hồi quốc, đến tận ngày nay vẫn đảm bảo “mọi người Do Thái đều có quyền đến với đất nước này”, mà không có hạn ngạch số lượng.

Luật này cũng định nghĩa một người Do Thái là “một người sinh ra từ mẹ là người Do Thái, hoặc đã cải đạo sang đạo Do Thái”. Quyền công dân Israel cũng được cấp cho cả vợ hoặc chồng không phải người Do Thái, cho trẻ em không phải người Do Thái và cháu của người Do Thái cũng như vợ hoặc chồng của họ.

Ở Mỹ, một cá nhân phải chờ năm năm trước khi nộp đơn xin nhập tịch (ba năm nếu có vợ hoặc chồng là công dân Mỹ). Luật Hoa Kỳ cũng yêu cầu người nhập cư muốn trở thành công dân phải chứng tỏ năng lực tiếng Anh và vượt qua kỳ thi về quyền công dân.

Quyền công dân Israel có hiệu lực ngay trong ngày đầu tiên người nhập cư đến, bất kể họ sử dụng ngôn ngữ gì, và không phải trải qua bài kiểm tra nào cả. Như David McWilliams đã miêu tả, hầu hết người Israel đều nói tiếng Hebrew cùng với một ngôn ngữ những năm 1930 và đầu những năm 1940 là Mỹ không phải nước duy nhất hạn chế người Do Thái, mà ngay cả nhiều nước Mỹ Latin cũng mở cửa rất giới hạn, trong khi những nước châu Âu, vào thời điểm tốt nhất cũng chỉ chấp nhận cho hàng ngàn người tị nạn được “quá cảnh” tạm thời như một phần những kế hoạch mơ hồ để định cư ở nơi khác.

Thậm chí sau khi Thế chiến II kết thúc, và nạn diệt chủng người Do Thái được biết đến nhiều hơn, các nước phương Tây vẫn không sẵn lòng chào đón những người Do Thái sống sót. Chính phủ Canada đã bắt đúng cảm nghĩ của nhiều nước khi một quan chức Canada phát biểu: “Không một ai cũng đã là quá nhiều!”

Hạn ngạch của Anh dành cho người nhập cư đến Palestine cũng bị thắt chặt hơn rất nhiều. Với nhiều người Do Thái lúc đó, họ thật sự không còn chốn dung thân, theo đúng nghĩa đen. Nhận thức sâu sắc lịch sử này, khi chế độ thuộc địa của Anh ở Palestine hết hiệu lực; vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, “Bản Tuyên ngôn Lập quốc của Nhà nước Israel” đã được Hội đồng nhân dân Do Thái ban hành.

Trong đó nêu rõ: “Thảm họa gần đây ập lên số phận người Do Thái – vụ thảm sát hàng triệu người Do Thái ở châu Âu – là một minh chứng rõ ràng về sự cấp bách. Không giống Sở Di trú Hoa Kỳ, duy trì một trong những chức năng chính là giữ người nhập cư ở ngoài; còn Bộ Tiếp nhận và Nhập cư Israel chỉ tập trung vào việc mang người nhập cư về nước.

Nếu người Israel nghe thấy trên đài phát thanh rằng lượng người nhập cư trong năm giảm, đây được xem là tin xấu, giống như việc năm đó thiếu lượng mưa cần thiết. Trong suốt mùa bầu cử, các ứng viên cho chức thủ tướng từ nhiều đảng phái khác nhau đều thường xuyên cam kết sẽ “mang đến một triệu người nhập cư nữa” trong nhiệm kỳ của họ.

Ngoài các máy bay chở người Ethiopia, lời cam kết này từng được thực hiện một cách liên tục và có lúc rất quyết liệt. Một ví dụ tiêu biểu là Chiến dịch Thảm bay thần kỳ, trong đó chính phủ Israel đã bí mật vận chuyển 49 nghìn người Yemen gốc Do Thái đến Israel bằng máy bay vận chuyển dư thừa của Anh và Mỹ. Đây là những người Do Thái nghèo khổ không có phương tiện nào để tự đi đến Israel.

Hàng ngàn người khác thì không thể sống sót trong chuyến đi kéo dài 3 tuần để đến một bãi đáp máy bay của Anh ở Aden. Nỗ lực mang người nhập cư về ít được biết đến nhất liên quan đến Romania hậu Thế chiến II. Khoảng 350 nghìn người Do Thái sống ở Romania vào cuối những khác, chính là thứ tiếng duy nhất họ biết khi đến Israel.

Tại vài thị trấn ở Israel, ông cho biết, “có một tờ báo hằng ngày bằng tiếng Tây Ban Nha ở Ladino, thứ tiếng Tây Ban Nha cổ được sử dụng bởi người Do Thái Sephardi – tộc người vốn bị Ferdinand và Isabella trục xuất khỏi vùng Andalucia vào năm 1492…. Còn tại Phố Dizengoff náo nhiệt ở Tel Aviv, các quán cà phê cổ ngân nga tiếng Đức. Những người nhập cư lớn tuổi gốc Đức vẫn tán gẫu bằng tiếng Hoch Deutsch – thứ ngôn ngữ của Goethe, Schiller và Bismarck…

Ở cuối con phố là khu Tiểu Odessa. Những biển hiệu tiếng Nga, thức ăn Nga, báo chí phát hành bằng tiếng Nga, thậm chí kênh truyền hình tiếng Nga là bình thường. Giống như Shai và Reuven Agassi, hàng triệu người Israel có nguồn gốc từ thế giới Ả-rập Hồi giáo. Vào thời điểm Israel độc lập, khoảng 500 nghìn người Do Thái đang sống tại các nước Ả-rập Hồi giáo. Nhưng khi làn sóng chủ nghĩa dân tộc Ả-rập quét qua những quốc gia này sau Thế chiến II, cùng với làn sóng tàn sát, đã khiến người Do Thái phải bỏ trốn. Phần lớn là chạy đến Israel.

Điều quan trọng nhất là việc Israel có thể là nước duy nhất tìm cách tăng lượng nhập cư, và không chỉ cho người thuộc dân tộc thiểu số hoặc kinh tế kém, như chiến dịch nhập cư người Ethiopia là một ví dụ. Công việc chào đón và khuyến khích nhập cư có

Posted Image

David McWilliams đã miêu tả, hầu hết người Israel đều nói tiếng Hebrew cùng với một ngôn ngữ những năm 1930 và đầu những năm 1940 là Mỹ không phải nước duy nhất hạn chế người Do Thái, mà ngay cả nhiều nước Mỹ Latin cũng mở cửa rất giới hạn...

Trung tâm Tiếp nhận khoa học có nhiệm vụ phối hợp các nhà khoa học mới đến với những người lao động Israel, và Bộ Tiếp nhận điều hành các trung tâm khởi nghiệp, hỗ trợ vốn để lập công ty khởi nghiệp.

Còn có nhiều chương trình tiếp nhận nhập cư do chính quyền hỗ trợ nhưng do người dân Israel tổ chức độc lập. Ví dụ, Asher Elias tin rằng có một tương lai dành cho người Ethiopia trong ngành công nghệ cao lừng danh của Israel. Cha mẹ của Elias đến Israel vào năm 1960 từ Ethiopia, gần 20 năm trước những đợt nhập cư ồ ạt của người Ethiopia gốc Do Thái vào Israel. Chị gái của Asher, Rina là người Israel gốc Ethiopia đầu tiên được sinh ra tại Israel.

Sau khi hoàn tất chuyên ngành quản trị kinh doanh tại Đại học Quản lý ở Israel, Elias làm công việc tiếp thị tại một công ty công nghệ cao và theo học Đại học Selah, khi đó ở Jerusalem, để học kỹ thuật phần mềm – anh luôn là một người nghiện máy tính. Nhưng Elias đã bị sốc khi thấy chỉ có bốn người Ethiopia làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao của Israel. “Không có cơ hội nào cho người Ethiopia”, anh nói. “Con đường duy nhất dẫn đến lĩnh vực công nghệ cao là thông qua chuyên ngành khoa học máy tính tại các trường đại học công hoặc các trường kỹ thuật tư thục.

Năm 1940, và mặc dù vài người đã trốn đến Palestine, chính quyền Cộng sản Romania đã bắt những người muốn ra đi làm con tin. Đầu tiên Israel cung cấp thiết bị khoan và đường ống cho ngành dầu khí Romania để đổi lấy 100 nghìn thị thực xuất cảnh. Nhưng vào đầu những năm 1960, nhà độc tài Nicolae Ceausescu của Romania đòi tiền mặt bằng ngoại tệ mạnh mới cho người Do Thái rời Romania.

Giữa năm 1968 và 1989, chính phủ Israel đã trả cho Ceausescu 112.498.800 USD để đổi lấy tự do của 40.577 người Do Thái, tương đương 2.772 USD cho mỗi người.

Trong bối cảnh đó, chính quyền Israel đã xem việc giúp người nhập cư hòa nhập vào xã hội là mục tiêu chính của Bộ Tiếp nhận và Nhập cư Israel. Đào tạo ngôn ngữ là một trong những ưu tiên khẩn cấp và toàn diện của chính phủ này. Ngày nay, cơ quan này vẫn tổ chức những khóa học tiếng Hebrew miễn phí cho dân nhập cư: Năm tiếng mỗi ngày, trong ít nhất sáu tháng. Chính quyền thậm chí còn cung cấp một khoản trợ cấp cho phí sinh hoạt trong thời gian học tiếng, để người nhập cư có thể tập trung vào việc học ngôn ngữ mới thay vì bị phân tâm chỉ học cho xong.

Để công nhận nền giáo dục nước ngoài, Bộ Giáo dục Israel duy trì Phòng Đánh giá bằng cấp nước ngoài. Chính quyền cũng tiến hành những khóa học để giúp người nhập cư chuẩn bị cho các kỳ thi chứng chỉ.

Đúng là vào năm 1945, Tổng thống Harry Truman đã yêu cầu một cuộc điều tra hành vi đối xử với người tị nạn Do Thái của chính phủ Mỹ, vốn có nhiều người làm việc trong những công xưởng quản lý bởi quân đội Mỹ. “Kết quả của bản báo cáo chi lại sự đối xử tàn tệ gây sốc với những người tị nạn đã một lần bị hành hạ, đồng thời kêu gọi cánh cửa vào Palestine cần được mở ra”, Leonard Dinnerstein

viết trong America and the Suvivors of the Holocaust.

Sau nhiều nỗ lực thuyết nước Anh cho phép người Do Thái vào Palestine không thành công, Truman yêu cầu Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cho phép chuyển một số lượng người này vào Mỹ.

Khi dự thảo của Truman được thông qua vào năm 1948, năm khai sinh nước Israel; một nhóm các nhà làm luật, dẫn đầu bởi thượng nghị sĩ bang Nevada Pat McCarran đã thao túng việc phác thảo từ ngữ trong bản dự luật, để khiến nó hóa ra lại kỳ thị người Do Thái gốc Đông Âu.

* Còn nữa...

Nội dung tiếp theo của chương 11: PHẢN BỘI VÀ CƠ HỘI

P.V (trích từ sách Quốc gia khởi nghiệp)

=======================

"Còn nữa"!

Vậy chờ xem tiếp.Tôi không có thói quen nhận xét trước khi biết người ta muốn nói gì.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thị trưởng 4 tuổi tranh cử nhiệm kỳ hai

Thứ năm, 11/7/2013 14:31 GMT+7

Những người ủng hộ ngài thị trưởng nhỏ tuổi và đáng yêu của thị trấn Dorset, Mỹ, sẽ có cơ hội thể hiện tình cảm khi "ông" quyết định tái tranh cử.

Bé 4 tuổi làm thị trưởng ở Mỹ

Posted Image

Thị trưởng tự tin và đáng yêu của thị trấn Dorset. Ảnh: AP

Robert "Bobby" Tufts chỉ mới 3 tuổi khi đắc cử chức thị trưởng thị trấn Dorset, bang Minnesota. Thị trấn du lịch xinh xắn có dân số dao động từ 22-28 người, tùy thuộc vào gia đình mục sư có lúc ở tại đó, có lúc chuyển đi. [/color]

Dosert tự xưng là Thủ phủ Nhà hàng của thế giới vì có số nhà hàng bình quân trên đầu người nhiều nhất, nhưng không có chính quyền chính thức. Hàng năm, trong lễ hội "Hương vị Dosert", thị trấn sẽ bốc thăm người giữ chức thị trưởng danh dự. Mọi người đều có thể bỏ lá thăm vào thùng phiếu chỉ với 1 USD/phiếu, không giới hạn số lượng.

Bobby nay đang đi vận động tranh cử nhiệm kỳ hai với cuộc bỏ phiếu diễn ra vào ngày 4/8. Bobby vận động nhiều người bỏ lá phiếu tên cậu và nhiều khả năng hôm đó sẽ không có phiếu nào ghi tên người khác.

Bobby được mọi người hỏi thăm và "Chào ngài thị trưởng" khi đi vòng quanh thị trấn để phát tờ rơi trong chiến dịch tranh cử. Một mặt tờ rơi có ảnh Bobby với mái tóc đen chải chuốt và mặc áo cánh nâu, mặt khác in ảnh Bobby ngồi xích đu với cô bạn thân Sophie.

"Nó đang làm rất tốt, đang quảng bá rất nhiều cho thị trấn", mẹ của Bobby, cô Emma Tufts, 34 tuổi, nói.

Chức vụ thị trưởng của Bobby thu hút rất nhiều khách đến thăm Dorset, trong khi du lịch và dịch vụ là nguồn thu nhập chính ở đây. Thị trấn nằm giữa rừng thông và những chiếc hồ ở phía bắc bang Minnesota, cách thành phố Minneapolis 240 km, với những nhà hàng phong cách Italy, Mexico.

Hoạt động chính thức của Bobby trên cương vị thị trưởng từ trước đến nay chỉ là đặt kem lên hàng đầu tiên trong tháp dinh dưỡng. "Chocolate, vanilla, dâu, kẹo bông, cầu vồng trái cây", ngài thị trưởng nói về các loại kem mà mình yêu thích.

Nhưng vào một buổi sáng mùa hè này, Bobby dẫn đầu một nhóm 20 trẻ em và người lớn đi bộ đến đường Heartland để quyên góp tiền cho quỹ từ thiện Ronald McDonald House. Bobby đội mũ phớt màu đen được gắn kèm chiếc cần câu nhỏ cùng một huy hiệu in ảnh của mình và dường như rất hăng say với công việc.

"Tôi nghĩ cậu bé khá dễ thương và nhiều người cũng nghĩ vậy. Cậu bé có cá tính và cũng không ngại thể hiện điều đó. Tôi nghĩ như vậy rất tuyệt", Cory Aukes, cảnh sát trưởng hạt Hubbard nói.

Video: Thị trưởng 4 tuổi vận động tranh cử

http://vnexpress.net...ai-2847506.html

Vũ Hà

=======================

Nếu không có một hệ thống luật pháp chặt chẽ, không có một chuẩn mực xã hội rõ ràng, không có một nền văn hóa nhất quán về những hành vi được tôn trọng thì không thể có một thị trưởng 4 tuổi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Triết lý pháp luật hiện đại của Radbruch

TS. Nguyễn Minh Tuấn

10:47-09/07/2013

Gustav Radbruch (1878–1949)

Gustav Radbruch (1878–1949) là ông tổ của ngành triết học pháp luật ở Đức, đồng thời là một trong những nhà triết học pháp luật có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Nói đến Radbruch, người ta vẫn thường nhắc đến một bài viết rất ngắn, nhưng cũng rất nổi tiếng được xuất bản vào tháng 9/1945: bài viết “Năm phút triết học pháp luật” (Fünf Minuten Rechtsphilosophie). Chỉ với “năm phút”, nhưng Radbruch đã khái quát hóa được “năm triết lý”, “năm yêu cầu” cơ bản nhất của pháp luật hiện đại, xuất phát từ nền tảng pháp luật tự nhiên, trên cơ sở phê phán những luận điểm của trường phái thực chứng pháp luật.

Luật pháp hiện đại: chống lại sự tùy tiện

Trường phái pháp luật thực chứng cho rằng: “Mệnh lệnh cũng là luật và ở nơi nào có quyền lực thì ở đó tồn tại pháp luật.”1

Radbruch phản bác lại rằng hiểu như vậy rất nguy hiểm, vì đó chính là việc cổ súy cho tư tưởng độc tài, đặt bạo quyền đứng trên luật pháp. Ông phê phán: “Cách tư duy này đã làm cho các luật gia và cũng như người dân đang dần mất đi khả năng tự vệ, chống lại những hành vi của công quyền hành xử độc ác, không cần đến luật pháp.”2

Xuất phát từ những lập luận đó, ông đã đưa ra nhận định luật pháp hiện đại phải có chức năng chống lại sự tùy tiện. Muốn chống lại sự tùy tiện thì một đạo luật phải được ưu tiên áp dụng chung cho tất cả các trường hợp liên quan và công quyền không được phép hành động, nếu luật pháp không cho phép.3

Luật pháp hiện đại: chống lại chế độ độc tài và bạo quyền

Trường phái thực chứng pháp luật cho rằng: “Luật pháp là những gì đem lại lợi ích cho con người.”4

Radbruch phản bác lại và cho rằng: khái niệm “lợi ích” ở đây rất mơ hồ. Ông đưa ra hàng loạt các câu hỏi để cùng suy ngẫm như: Phải chăng việc vi phạm hợp đồng, những việc làm trái với lẽ phải cũng sẽ đều là “luật”, miễn sao nó phục vụ cho “lợi ích của con người”? Mà “con người” ở đây là ai? Phải chăng bất kể những gì mà cơ quan công quyền cho rằng nó có lợi cho con người thì đó đều là luật, bao gồm cả sự chuyên quyền và tùy tiện, xử phạt không cần luật hay tống giam, đàn áp không cần xét xử và tuyên án? Thế nào là lợi ích công và lợi ích tư? Điều gì xảy ra khi luật pháp chỉ phục vụ lợi ích của một người hay một nhóm người có trong tay quyền lực, nhưng lại ẩn dưới danh nghĩa là “lợi ích công”?5

Radbruch khẳng định: “Không, nhất định pháp luật phải có vai trò chống lại sự độc quyền và bạo quyền.”6 Từ đó, ông đi đến nhận định không phải tất cả mọi thứ mà đem lại lợi ích cho con người thì đều là luật. Mà những gì là luật, chỉ khi đó là lẽ phải7 và có ích cho tất cả mọi người.8 Kết luận này cho thấy tư tưởng của Radbruch xuất phát từ động cơ bảo vệ nền dân chủ, chống lại bạo quyền; tư tưởng này rất khác so với quan điểm nặng về tính giai cấp của pháp luật, coi pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị.

Luật pháp hiện đại: Chống lại sự bất công, hận thù và những hành động phi nhân tính

Trường phái pháp luật thực chứng cho rằng: con người là khác nhau về địa vị, xuất thân, nhiệm vụ…do vậy pháp luật phải làm rõ sự khác biệt này. Radbruch không phản đối một thực tế là con người khác nhau, nhưng ông lại có quan điểm khác, ông cho rằng mục đích tối thượng của luật pháp không phải là khoét sâu sự khác biệt hay khoảng cách giữa những con người, mà cần hướng đến sự công bằng (Gerechtigkeit).9 Khi xây dựng hay áp dụng pháp luật cần phải dựa trên những tiêu chuẩn chung, đảm bảo sự vô tư. Sự vô tư không thể có khi pháp luật hay việc áp dụng pháp luật không mang trong đó tính thiện, mà chứa đựng lòng hận thù, sự phân biệt đối xử hay những hành động phi nhân tính. Radbruch nêu ví dụ: nếu một ai đó cổ vũ cho việc ám sát các đối thủ chính trị, hoặc cổ vũ cho những mệnh lệnh giết những người của những chủng tộc khác, thì tất cả những điều này không phải là sự công bằng và cũng không được hiểu là luật.10

Như vậy một trong những tiêu chí của pháp luật hiện đại đó chính là sự công bằng. Pháp luật, ngoài nghĩa là lẽ phải, nó phải thể hiện sự công bằng, tính vô tư, đồng thời là công cụ để chống lại lòng hận thù hay những hành động phi nhân tính.

Luật pháp hiện đại: Chống lại sự không ổn định và không an toàn

Radbruch quan niệm rằng con người không ai hoàn thiện và vì vậy pháp luật do con người làm ra cũng không hoàn thiện, có thể còn có những điểm chưa hợp lý. Tuy nhiên, cần phải ưu tiên tính hợp pháp, vì pháp luật mang tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức, không ai có thể nại ra rằng do luật chưa hợp lý theo quan điểm cá nhân nên không thi hành.11

Ngoài ra pháp luật phải đảm bảo sự an toàn pháp lý (Rechtssicherheit) bao gồm các tiêu chí như: tính ổn định, tính tường minh, tính được đảm bảo thi hành và tính có thể tiên liệu trước. Radbruch đưa ra đề xuất rằng muốn hoàn thiện hệ thống pháp luật thì nhân dân và đặc biệt là các nhà luật học có trách nhiệm phải chỉ ra những điểm còn bất hợp lý, chưa công bằng của luật, đề xuất để bãi bỏ.12

Thực chất Radbruch đã đưa ra một triết lý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của pháp luật, theo hướng ưu tiên tính hợp pháp. Ngày nay, sự hài hòa giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật là rất quan trọng và cần thiết. Hai tiêu chuẩn này tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, thống nhất và bổ trợ cho nhau. Radbruch đã chỉ ra mâu thuẫn có thể có giữa hai yêu cầu này và đặt ra trách nhiệm xã hội rất lớn đối với những nhà luật học trong việc chỉ ra những hạn chế, những điểm còn chưa hợp lý của pháp luật.13

Luật pháp hiện đại: Chống lại việc đi ngược lại những nguyên tắc pháp luật tự nhiên

Radbruch đánh giá rất cao những nguyên tắc của pháp luật tự nhiên (jus naturale). Ông cho rằng: “Có những nguyên tắc pháp luật còn quan trọng hơn bất cứ một văn bản pháp lý nào, vì khi một đạo luật mà xung đột hay mâu thuẫn với những nguyên tắc này chúng sẽ không có hiệu lực pháp luật. Người ta gọi những nguyên tắc này là pháp luật tự nhiên hay luật duy lý.”14

Radbruch là người ủng hộ trường phái pháp luật tự nhiên (jus naturale). Pháp luật tự nhiên là những qui luật khách quan, tồn tại độc lập với luật lệ do con người đặt ra. Pháp luật do con người đặt ra phải tuân thủ luật tự nhiên, không thể có điều ngược lại.15 Con người ngay từ khi sinh ra vốn dĩ đã có những quyền con người một cách tự nhiên, những quyền con người ấy có trước cả khi có Hiến pháp hay luật. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trải qua đêm dài ác mộng về sự tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, Luật cơ bản (Hiến pháp) Đức tại Điều 1 Câu 1 đã tuyên bố và vĩnh viễn hóa giá trị cao nhất của Hiến pháp này đó chính là vấn đề bảo vệ phẩm giá của con người.16 Để không rơi vào luận điểm của chủ nghĩa duy tâm, Radbruch cũng phê phán rằng việc khẳng định Chúa là tối cao, cần phải vâng lời đức Chúa là luận điểm rất mơ hồ. Nếu coi đức Chúa quyết định tất cả, chỉ có đức Chúa là đúng, thì quyền lợi của con người sẽ bị gạt ra một bên. Từ đó, ông đề xuất cần phải nhìn nhận lại, cần coi việc bảo vệ quyền con người là việc bảo vệ những giá trị khách quan, thiêng liêng và quan trọng nhất của pháp luật.17

Bài viết của Radbruch không giản đơn chỉ là để dành cho năm phút thuyết giảng, mà ông đã thực sự nêu lên được năm triết lý, năm chức năng căn bản nhất của pháp luật hiện đại. Những triết lý về pháp luật của Radbruch sở dĩ được thừa nhận rộng rãi và gây được ảnh hưởng mạnh mẽ vì cách tiếp cận của ông rất mới mẻ, không bị bó hẹp bởi định kiến giai cấp hay phạm vi dân tộc tính, mà đã hướng tới những chuẩn mực chung, phổ quát của pháp luật đó là: lẽ phải, sự công bằng, sự ổn định, tính khách quan, giá trị nhân văn, chống lại sự tùy tiện, bạo quyền và những hành động phi nhân tính.

---

1 - 3 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.

4-5 Xem: Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.

6Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.

7 Từ Luật (das Recht) trong tiếng Đức còn có một nghĩa khác đó là lẽ phải, sự đúng đắn.

8-14Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 209.

15 Ngày nay trường phái pháp luật tự nhiên được nhiều người ủng hộ do tính hợp lý của nó, theo nguyên tắc sự vật như nó có, vì nó vốn như thế, cái xấu phải tránh, cái tốt phải được thực hiện.

16 Điều 1 Câu 1 Luật cơ bản (Hiến pháp) của Đức qui định: “Phẩm giá của con người là bất khả xâm phạm.”

17 Gustav Radbruch, Rechtsphilosophie, Studienausgabe, 2. Aufl., 2003, S. 210.

====================

Không bao giờ có một xã hội hoàn hảo chỉ vì một yếu tố duy nhất là luật pháp hoàn chỉnh. Cái này lý học Việt nói lâu rồi.

Ông Radbruch có thê đúng trong giới hạn của góc nhìn luật pháp. Nhưng có lẽ cần thêm 30 phút nữa để nói về những hình thái ý thức xã hội liên quan.

Posted Image

Tam Dương khai thái

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phát hiện thực vật làm toán cực siêu

Cập nhật lúc 16h24' ngày 24/06/2013

Nghiên cứu mới của các nhà khoa học tại Trung tâm John Innes (Anh) cho thấy, các loài thực vật đã thực hiện nhiều phép tính số học phức tạp nhằm đảm bảo chúng có đủ chất dinh dưỡng cần thiết để sống qua đêm.

Posted Image

Chồi non mùa xuân in bóng lên Mặt trăng ở Washington, Mỹ.

Thực vật không thể thực hiện các phản ứng hóa học tổng hợp chất dinh dưỡng vào ban đêm vì thiếu năng lượng mặt trời (ánh nắng). Do đó, chúng phải tính toán lượng năng lượng cần dự trữ và điều chỉnh tốc độ tiêu thụ để có thế sống sót vào ban đêm.

Martin Howard, nhà toán học của Trung tâm John Innes (JIC), cho biết: "Thực vật có thể điều chỉnh tốc độ tiêu thụ tinh bột để phòng ngừa thiếu chất dinh dưỡng vào ban đêm. Đây là ví dụ rõ ràng về một phép tính số học phức tạp trong quá trình sinh học cơ bản".

Ban đêm, cơ cấu bên trong các lá đo lượng tinh bột dự trữ và ước tính thời gian từ lúc đó đến khi bình minh. Thông tin về thời gian đến từ một đồng hồ nội bộ, tương tự như đồng hồ sinh học của con người.

Alison Smith, nhà sinh học của JIC, nói: "Khả năng tính toán số học rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và năng suất của thực vật. Tìm hiểu về cách thực vật tiếp tục phát triển trong bóng tối có thể gợi ý cho chúng ta những phương pháp mới để tăng năng suất cây trồng".

Theo Dân Việt, Reuters

====================

Thực vật thì không thể có sự nhận thức và phát triển hệ thống tri thức với tư duy toán học. Chính quy luật phát triển của thiên nhiên tạo ra những sự vận động tế vi chính xác được phản ánh trong kiến thức toán học của con người.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chất chơi triệu đô của nhà sư xài máy bay riêng

Cập nhật lúc 07:50, 12/07/2013

(ĐVO) - "Chất chơi" của nhà sư Thái Lan Luang Pu Nenkham Chattigo (34 tuổi) vừa được củng cố thêm khi Cục Điều tra Đặc biệt Thái Lan (DSI) khám phá ra vị sư này đã bỏ 3 triệu USD để mua 22 chiếc xe Mercedes từ năm 2009-2011.

31 nhà sư Thái Lan dùng ma túy đá

Sư xài máy bay riêng "quan hệ với trẻ vị thành niên"

Nhà sư đi chuyên cơ có tài khoản hàng trăm tỷ đồng

Hai sư trẻ Thái Lan môi giới mại dâm cho trụ trì

Nhà sư xài máy bay riêng

Giám đốc DSI cho biết, ông Korrawat Panprapakorn, Giám đốc Trung tâm Hoạt động khu vực đã tới tỉnh Ubon Ratchathani, quê của nhà sư dùng toàn hàng hiệu Luang Pu Nen Kham (tên chính thức là Phra Wirapol Sukphol) và phát hiện vị sư này đã dùng đến 95 triệu baht (gần 3 triệu USD) để mua 22 chiếc ô tô sang trọng từ trung tâm dịch vụ Mercedes-Benz của tỉnh này.

Ông Tarit nói, Phra Wirapol Sukphol sử hữu 21 chiếc xe trong đó. Chiếc còn lại là dòng S300 trị giá 7.590.000 baht (tương đương 245.000 USD) được giao cho Pansang Chumang, một học trò của nhà sư trên.

Trước đó, Văn phòng chống rửa tiền Thái Lan (AMLO) đã điều tra tài khoản của nhà sư và phát hiện ông có 16 tài khoản ngân hàng với tổng giá trị tiền gửi 200 triệu baht (6,4 triệu USD). AMLO đã cấm nhà sư và các đệ tử thực hiện bất kỳ giao dịch nào với số tài khoản này vì phát hiện những vi phạm tài chính.

Posted Image

Nhà sư Thái Lan Luang Pu Nenkham Chattigo (34 tuổi).

Trong ngày 10/7, DSI tiến hành xét nghiệm ADN với một bé trai 11 tuổi ở Si Sa Ket. Cậu bé được cho là con trai của nhà sư Luang Pu Nenkham Chattigo, được sinh ra sau lần ông quan hệ tình dục với một thiếu nữ chỉ mới 14 tuổi. Kết quả xét nghiệm sẽ được công bố trong vòng hai ngày tới.

Trước đó, nhà sư Luang Pu Nenkham Chattigo đã bị cảnh sát Thái Lan để mắt tới khi một đoạn clip thể hiện độ chịu chơi và sành điệu của nhà sư bị phát tán trên các website và mạng xã hội.

Trong đoạn clip có hình ảnh nhà sư này cùng các đồng sự sử dụng máy bay riêng đi công cán. Họ đeo kính mát thời trang, mang theo một túi du lịch hàng hiệu, sử dụng điện thoại đắt tiền và đeo tai nghe không dây trông rất hiện đại. Tất cả hình ảnh này khiến Phật tử khắp Thái Lan lên tiếng phản đối.

Theo một nguồn tin, nhà sư Luang Pu Nenkham và ba đệ tử đã kết thúc chuyến du lịch châu Âu và vừa rời Pháp đến Mỹ hôm 10/7.

Văn phòng Phật giáo quốc gia (NBO) cho biết nếu thông tin này được xác thực thì họ sẽ liên hệ với chính quyền Mỹ để yêu cầu dẫn độ nhà sư về nước. NBO cũng đang tìm cách thu hồi hộ chiếu của nhà sư.

Nhất Nam (Tổng hợp)

===================

Đi tu kiểu này sướng nhỉ! Sướng hơn đi lang thang "mần" phoengshui nhiều. Lão Gàn chưa đủ 'duyên" để tu kiểu nàyPosted Image.

Bởi vậy, Lão Gàn thấy những người nói chuyện tu hành thì cũng phải xem xem họ tu kiểu gì đã.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tiết lộ thêm về nhà sư Thái biển thủ 9 tấn vàng

Cập nhật lúc 09:48, 14/07/2013

(ĐVO) – Một nhóm 40 nhà sư tại một ngôi chùa ở quận Thawi Walthana cùng nhà hoạt động Songkran Atchariyasup đã gửi đơn kiện lên Ủy ban Ngăn ngừa Tội phạm CSD, tố cáo Phra Wirapol biển thủ tới 9.000 kg vàng công đức.

Nhóm này còn cáo buộc nhà sư này lừa đảo người dân quyên góp tiền cho dự án xây dựng một tòa nhà phục vụ việc điều trị bệnh cho các nhà sư tại bệnh viện Roi Et - một công trình không bao giờ được xây dựng.

Siêu xe để đi lại trong khuôn viên chùa

Hiện nhà sư Phra Wirapol (còn có tên khác là Luang Pu Nen Kham Chattiko), sư trụ trì chùa Wat Pa Khanti Dhamma (Thái Lan) đang bị điều tra sau khi đoạn băng ghi lại cảnh ông này đi máy bay riêng và xách túi hàng hiệu xuất hiện trên mạng.

Ông Seehanat Prayoonrat, Tổng thư kí cơ quan chống rửa tiền Philippines (Amlo) cho biết cơ quan này nghi ngờ nhà sư Phra Wirapol có 2 tài khoản ở Mỹ và sở hữu 1 ngôi nhà ở California (Mỹ).

Tuy nhiên, theo tiết lộ của ông Piya Tregalnon, Giám đốc Trung Tâm hàng không Bangkok, nơi thường xuyên tìm thuê máy bay riêng cho Phra Wirapol, gia tài của nhà sư này còn "khủng' hơn thế.

"Suốt 3 năm qua, tôi luôn tự hỏi vì sao nhà sư đó lại có số tiền và tài sản lớn như thế. Ông ta thậm chí cũng không phải là một nhà sư có tiếng... Khi ông ta bị chú ý, tôi quyết định phải nói ra mọi chuyện vì tôi nghĩ sự giàu có của ông ta rất đáng ngờ".

Posted Image

Ông Piya Tregalnon (áo trắng bên phải) đã đăng tải bức ảnh chụp mình cùng nhà sư Phra Wirapol lên Facebook của mình.

Theo ông Piya, nhà sư Phra Wirapol luôn trả tiền mặt - 300.000 baht - cho mỗi lần thuê máy bay riêng và lúc nào cũng quan tâm tới việc tìm mua máy bay riêng. Tại Thái Lan, một chiếc máy bay mới có giá khoảng 500 - 700 triệu baht, còn máy bay đã qua sử dụng ít nhất cũng phải có giá 100 triệu baht.

Posted Image

Có lần, Phra Wirapol đã lôi ra hàng tập 100 USD và nói với đối tác Piya rằng bên trong túi còn có cả vàng thỏi. Không chỉ khoe khoang 2 cuốn sổ ngân phiếu tại các ngân hàng Mỹ - tất cả đều được in tên Phra Wirapol, vị sư này còn tiết lộ ông ta có thể rút hơn 10 triệu USD từ mỗi ngân phiếu vì bản thân đang có rất nhiều tiền gửi trong ngân hàng.

Ông Piya cũng nói rằng Phra Wirapol cũng tỏ ra đầy tự hào khi nhắc tới những chiếc xe siêu sang của mình: Maybach, Mercedes-Benz 500, BMW X6 và Mini Copper - tất cả đều chỉ để đi lại trong khuôn viên chùa. Thậm chí, Phra Wirapol còn khoe rằng mình có cả du thuyền.

Ông Tarit Pengdith, Giám đốc Cục Điều tra Đặc biệt Thái Lan (DSI) cho biếtvị sư này đã dùng đến 95 triệu baht (gần 3 triệu USD) để mua 22 chiếc ô tô sang trọng từ trung tâm dịch vụ Mercedes-Benz của tỉnh này.

Posted Image

Nhà sư sành điệu tạo kiểu chụp ảnh trong siêu thị

Ông Tarit nói, Phra Wirapol Sukphol sử hữu 21 chiếc xe trong đó. Chiếc còn lại là dòng S300 trị giá 7.590.000 baht (tương đương 245.000 USD) được giao cho Pansang Chumang, một học trò của nhà sư trên.

Biển thủ công quỹ, "quan hệ" với trẻ vị thành niên

Một nhóm 40 nhà sư tại một ngôi chùa ở quận Thawi Walthana cùng nhà hoạt động Songkran Atchariyasup đã gửi đơn kiện lên Ủy ban Ngăn ngừa Tội phạm CSD, tố cáo Phra Wirapol biển thủ tới 9.000 kg vàng công đức (?) và cáo buộc nhà sư này lừa đảo người dân quyên góp tiền cho dự án xây dựng một tòa nhà phục vụ việc điều trị bệnh cho các nhà sư tại bệnh viện Roi Et - một công trình không bao giờ được xây dựng.

Trong khi đó, 3 nhà buôn bán trang sức Thái Lan cũng kiện Phra Wirapol không trả tiền cho số trang sức mà ông ta mua - tổng trị giá lên tới khoảng 200 triệu baht.

Mới đây, một cựu môn đệ thân cận với nhà sư này còn khai với Cơ quan Điều tra đặc biệt Thái Lan DSI rằng Phra Wirapol uống rượu, dùng ma túy và quan hệ tình dục với các thiếu nữ tuổi vị thành niên.

Thực tế, Phra Wirapol đang đối mặt với lời cáo buộc của một phụ nữ 25 tuổi rằng cô đã bị nhà sư này cưỡng hiếp năm 15 tuổi và rằng cậu con trai 11 tuổi của cô chính là con đẻ của ông. Mặc dù bố mẹ của Phra Wirapol từ chối cung cấp mẫu ADN giúp xác định huyết thống giữa con trai họ và cậu bé kia, song trung tá Pong-in Intarakhao của DSI cho biết họ đã có đủ bằng chứng để chứng minh rằng hành vi đồi bại của ông Phra Wirapol.

Posted Image

Bức ảnh Luang Pu đang ngủ với 1 người lạ mặt bị rò rỉ lên mạng

Báo cáo trên truyền thông mới đây tiết lộ nhà sư Luang Pu có “các mối quan hệ thân mật” với 8 phụ nữ và ông còn có con với 2 trong số 8 phụ nữ đó.

Cục Điều tra đặc biệt Thái Lan (DSI) cũng khẳng định họ đã tìm thấy chứng cứ rõ ràng về việc nhà sư sành điệu Luang Pu Nen Kham Chattiko quan hệ tình dục với một bé gái 14 tuổi và có thể đối mặt án tù 20 năm nếu bị kết tội.

Phương Nguyên (Tổng hợp)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Điểm mặt nữ dâm quan

Cập nhật lúc 10:39, 14/07/2013

(ĐVO)- Tuần qua, báo chí Trung Quốc xôn xao khi tấm màn bí ẩn về những nữ dâm quan bị trừng phạt đã được vén lên kể từ sau vụ việc “bà chúa đất” La Á Bình bị thi hành án tử hình về tội tham nhũng.

Lý Khải Hồng, “Thị trưởng tốt nhất Trung Quốc” ngã ngựa

Tháng 12/2009, Lý Khải Hồng, sinh năm 1954, Phó Bí thư thành ủy, Thị trưởng Trung Sơn (Quảng Đông) được bầu chọn trong danh sách “10 thị trưởng tốt nhất Trung Quốc năm 2009”, nhưng đến tháng 5/2010 bà ta bị cách chức để điều tra.

Ngày 27/10/2011, tòa án tỉnh Quảng Đông đã tuyên phạt Lý 11 năm tù về tội giao dịch nội bộ cổ phiếu, tiết lộ thông tin giao dịch và nhận hối lộ, tịch thu tài sản 10 vạn NDT, nộp phạt 20 triệu NDT. Ở độ tuổi 56 nhưng bà ta có hơn chục tình nhân, kinh khủng nhất là trong số tình nhân có cả…anh con rể.

Nữ Phó thị trưởng Sán Vĩ: Không cho ai bỏ ta

Xuất thân nhân viên điện lực, nhưng vận đỏ nên khi từ Quý Châu đến Quảng Đông làm ăn, Mã Hồng Muội đã dần leo lên được ghế Phó thị trưởng Sán Vĩ. Có người bạn trai tri kỷ kém 6 tuổi là Diệp Kim Viễn, ở tuổi 52, Mã quyết không buông tha người này. Lô-gic của Mã là: “Trên tình trường, chỉ có ta bỏ chứ quyết không cho ai bỏ ta”.

Sau 7 năm cặp bồ, Diệp Kim Viễn muốn chia tay người tình già để lập gia đình, nhưng Mã quyết không chịu, Diệp bỏ trốn, Mã đã lùng tìm bằng được và tìm cách cho người tình cũ vào nhà đá, kết quả Mã cũng nhận án 10 năm tù về tội nhận hối lộ.

Nữ Phó tổng giám đốc sở hữu 40 người tình

Sinh năm 1959, Tưởng Diễm Bình là Phó Tổng giám đốc Tập đoàn xây dựng Kiến Công Hồ Nam (hàm Phó giám đốc cấp Sở) năm 2001 đã bị kết án tử hình về các tội nhận hối lộ, tham ô, môi giới đưa hối lộ, có tài sản bất minh lớn; đến tháng 2/2003 được giảm án thành tử hình hoãn thi hành.

Posted Image

Nữ Phó Tổng giám đốc Tưởng Diễm Bình.

Là người có chút sắc đẹp, Tưởng đã lợi dụng triệt để “vốn tự có” để tiến thân. Tính ra có tới hơn 40 vị mày râu đã bị Tưởng Diễm Bình dụ lên giường để mở đường cho mụ từ chỗ là thanh niên nông thôn ở huyện Trà Lăng hẻo lánh leo lên đến ghế lãnh đạo một tổng công ty lớn.

Đối tượng đầu tiên gục gã dưới chân Tưởng khi Tưởng mới 17 tuổi là vị lãnh đạo công xã nhiều hơn 31 tuổi ở nơi Tưởng bị hạ phóng. Với cú hiến thân này, Tưởng đã được giới thiệu về Tương Đàm làm công nhân một nhà máy.

Trong số những người bị Tưởng hạ gục có Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch tỉnh và Cục trưởng Bưu điện tỉnh Hồ Nam. Đổi lại những lần lên giường là việc Tưởng nhận được những hợp đồng xây dựng béo bở và những công việc, vị trí công tác tốt cho người thân. Khi đã bị tạm giam tại Trại giam huyện Hán Thọ, Tưởng Diễm Bình vẫn dùng “vốn tự có” hạ gục được Vạn Giang, giám thị trại giam để được tuồn thông tin ra ngoài.

An Huệ Quân, nữ Cục trưởng dâm loạn

Tháng 6/2005, An Huệ Quân, sinh năm 1955, Cục trưởng Phân cục cảnh sát khu La Hồ (Thâm Quyến) bị Tòa án thành phố kết án 15 năm tù về tội nhận hối lộ. Thủ đoạn kiếm tiền của An Huệ Quân là nêu chiêu bài “tinh giản cơ cấu” để buộc cấp dưới chạy ghế, chạy chức.

Posted Image

Nữ Cục trưởng An Huệ Quân.

Bà ta lập ra đề án giảm số đồn cảnh sát trong khu từ 25 xuống 8 (được chấp thuận 10 đồn). Cả khu La Hồ có 1.500 cảnh sát, trong đó có tới 500 cán bộ cấp phòng, ban được bổ nhiệm, cứ 2 lính có 1 quan. Tổng cộng An Huệ Quân đã vơ vét được 16,4 triệu tệ, 530 ngàn HKD, 1 ngàn USD và nhiều quà hối lộ của cấp dưới.

Không chỉ nhận tiền, An Huệ Quân còn đòi hối lộ tình. Lấy danh nghĩa đi khảo sát, mỗi lần đi công tác ngoài địa bàn, An Huệ Quân lại yêu cầu một cấp dưới trẻ khỏe, đẹp trai đi theo và đòi “phục vụ”. Nếu ai chấp thuận lên giường với bà ta thì khi về Thâm Quyến, người đó được cất nhắc; ai không chịu lập tức bị bà ta điều về nơi khó khăn, gian khổ để “rèn luyện thêm”.

Theo TPO

Share this post


Link to post
Share on other sites

Mất số điện thoại, 'bay' luôn hàng chục triệu trong ngân hàng


Anh Hải chưa kịp định hình tại sao sim số mình đang dùng lại bị khóa thì chỉ trong vòng một tiếng, 30 triệu đồng trong tài khoản ngân hàng của anh đội nón ra đi.


Câu chuyện anh Đặng Thanh Hải (TP HCM) chia sẻ trên một diễn đàn mạng đang gây xôn xao hai ngày qua. Anh là chủ thuê bao của Viettel, và cũng là khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng Hàng hải Việt Nam (Maritime Bank).

Khoảng 20h ngày 10/7, bỗng dưng anh Hải nhận được tin nhắn từ đầu số 155 của Viettel, cho biết số thuê bao anh đang sử dụng sẽ được đổi sang sim mới. Ngay lập tức, thẻ sim trên máy điện thoại của anh bị khóa và không thể sử dụng được. Liên hệ với tổng đài, thuê bao được biết có người đã thông báo mất sim và xin cấp lại chính chiếc sim anh đang dùng. Số điện thoại bị "cướp" đã được anh đăng ký để sử dụng các giao dịch Internet và SMS banking.

Posted Image

Ngay sau khi nhận được tin nhắn này, sim của anh Hải bị vô hiệu hóa. Ảnh chụp màn hình.


Chột dạ và nghi ngờ có thể bị mất tiền, ngay trong đêm đó anh ra ATM của Maritime Bank và kiểm tra phát hiện tài khoản đã "bốc hơi" 30 triệu đồng. Còn lại 14 triệu đồng, anh nhanh chóng rút nốt để ngăn chặn thiệt hại lớn hơn.
Hôm sau, ra ngân hàng yêu cầu sao kê các giao dịch, anh Hải phát hiện trong thời gian từ 20h21 đến 20h55 tối đã có 3 giao dịch đáng ngờ và tổng số tiền thanh toán lên tới 30 triệu đồng. Các giao dịch này thực hiện trong vòng một tiếng kể từ khi anh nhận được tin nhắn báo khóa sim.

Posted Image

3 giao dịch thanh toán online được thực hiện chóng vánh trong 50 phút và nạn nhân bị mất 30 triệu đồng. Ảnh chụp màn hình.


Sáng hôm sau, anh lên trung tâm khách hàng của Viettel và được cấp lại số điện thoại ngay sau đó. Nhưng những nghi vấn anh đặt ra về việc cấp sim dễ dàng và thiệt hại tài chính của anh vẫn chờ câu trả lời.


"Tại sao số điện thoại tôi đang dùng bình thường lại có thể tùy tiện cắt và cấp cho một người nào đó (kẻ gian) mà đến nay vẫn chưa có câu trả lời cũng như hướng giải quyết thỏa đáng", anh Hải đặt nghi vấn. Anh cũng yêu cầu nhà mạng có câu trả lời về số tiền trong tài khoản của anh đã mất, nhưng được yêu cầu chờ đợi. "Nữ nhân viên cho biết tối đa trong 20 ngày sẽ có phản hồi", anh Hải kể.

Theo tìm hiểu của anh Hải có thể kẻ gian đã giả mạo chứng minh nhân dân (CMND) với họ tên, ngày sinh, địa chỉ của anh tới phòng giao dịch và báo mất sim. Quy định hiện nay, khi báo mất và cấp lại sim, nhà mạng sẽ yêu cầu chủ thuê bao kê khai 5 cuộc gọi đến và đi trong vòng 3 tháng. Trao đổi với VnExpress.net, anh Đặng Thanh Hải cho biết, anh buôn bán online từ lâu và việc những số máy lạ gọi điện đến sim của anh thường xuyên. Không loại trừ việc kẻ gian đã cố tình đóng giả khách hàng để lấy được những truy vết gọi đến, gọi đi này và khai báo với nhà mạng.

Một giả thiết được nạn nhân đưa ra là kẻ gian đã lấy tiền bằng cách thanh toán online. Không chỉ có thẻ tín dụng quốc tế, các ngân hàng Việt Nam hiện đều cung cấp dịch vụ thanh toán online cho thẻ ghi nợ nội địa (thẻ ATM). Để thanh toán mua hàng hóa online, chủ tài khoản chỉ cần 3 yếu tố. Thứ nhất là số điện thoại di động - chủ thẻ phải đăng ký số điện thoại này với ngân hàng để xác thực giao dịch và nhận các thông báo của ngân hàng. Thứ hai là số thẻ (series in trên mặt trước thẻ). Và thứ ba là mã xác nhạn OTP (mật khẩu một lần).

Mỗi khi mua hàng, thanh toán dịch vụ, khách hàng vào trang web thanh toán online, chọn ngân hàng có tài khoản thanh toán, nhập họ tên chủ thẻ, mã số thẻ. Sau đó, hệ thống sẽ tự động gửi OTP về số điện thoại đã đăng ký Internet Banking của chủ tài khoản. Nhập mật khẩu này xong, giao dịch được hoàn tất.

Tên chủ thẻ và số thẻ, kẻ gian không khó tìm kiếm nếu chủ thẻ sơ sẩy để lộ thông tin. Nhưng muốn có OTP, kẻ gian phải có được số điện thoại đã đăng ký với ngân hàng và một khi đã có sim số đó, khả năng mất tiền trong tài khoản ngân hàng hoàn toàn có thể xảy ra.

Posted Image

Nạn nhân cho biết, khi thanh toán online chỉ yêu cầu nhập thông tin đơn giản như họ tên và mã số thẻ in ở mặt trước. Ảnh chụp màn hình.


VnExpress.net
đã liên lạc với đại diện hãng viễn thông Viettel, đơn vị này cho biết sẽ sớm có câu trả lời về vụ việc.


Đại diện một công ty cung cấp giải pháp và dịch vụ thanh toán online cho ngân hàng và các đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa (trong đó có cả Viettel) cho rằng có hai kẽ hở trong vụ việc đáng tiếc vừa xảy ra. Thứ nhất là thông tin chủ thẻ bị lộ và thứ hai, nhiều khả năng quy trình cấp lại sim số đã bị lợi dụng. Chủ thẻ thường chủ quan để lộ tên, số chứng minh thư và số thẻ ngân hàng mà không ngờ một ngày những thông tin này sẽ bị kẻ gian sử dụng.

"Việc cấp lại sim thuận tiện cho khách hàng nhưng dễ dàng bị lợi dụng nếu ai đó cố tình giả mạo chứng minh thư, chứng minh vài cuộc gọi đi gọi đến. Điều này càng nguy hiểm khi các bên tham gia cung cấp dịch vụ thanh toán online. Thanh toán online mới ở giai đoạn đầu phát triển, nếu ngay từ lúc này các bên không tuân theo các chuẩn mức an toàn, rủi ro sau này sẽ rất lớn", vị này nói. Theo đại diện công ty, trường hợp tương tự đã xảy ra với thuê bao của một hãng viễn thông khác.

Bản thân nạn nhân - anh Hải cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến sự việc đáng tiếc này nằm ở việc anh bị mất sim di động và để kẻ gian thoải mái nhận mã OTP và lấy tiền. "Tại sao nhà mạng lại để xảy ra những sai sót nghiêm trọng như thế này và quy trình cấp lại sim như vậy quá lỏng lẻo", anh Hải thắc mắc.

Đến chiều 16/7, đại diện Viettel cho biết chưa có bình luận nào về vụ việc lần này. "Chúng tôi đang phối hợp với các cơ quan điều tra để tìm hiểu và xác minh thông tin, đồng thời làm việc thêm với khách hàng", một đại diện của Viettel nói.

Thanh Lan - Anh Quân

================
Không biết phải cảnh giác như thế nào luôn

Share this post


Link to post
Share on other sites

Vướng gì mà không loại thủy điện Đồng Nai 6, 6A?

Cập nhật lúc 06:00, 19/07/2013

(ĐVO) – 'Có tới hơn 300 dự án thủy điện Bộ Công thương thống nhất loại khỏi quy hoạch, vậy cớ gì mà Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A lại không?'

Thủy điện Đồng Nai 6,6A ’nuốt’ hàng trăm ha rừng giàu có

Số liệu phá rừng làm thủy điện:’Tin hay không thì...tùy’

Thủy điện phá rừng: "Chặt một cây ngoài mốc giới, bắt ngay!"

Thủy điện phá rừng: Vụ trưởng bảo không, báo cáo nói có

Ai tiếp tay cho thủy điện lợi dụng phá rừng?

Ông Trương Văn Vở, Phó trưởng ban Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai, Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai bức xúc lý giải thêm khi tỉnh này vừa tiếp tục có văn bản kiến nghị lên Quốc hội, Chính phủ dừng dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.

Đừng nói rừng nghèo rồi phá!

Trước đó, ngày 3/7, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Quốc Thái đã ký văn bản số 5222 về việc kiến nghị Quốc hội và Chính phủ cho dừng dự án thủy điện Đồng Nai (ĐN) 6 và 6A. Theo đó, UBND tỉnh Đồng Nai đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - môi trường có báo cáo và kiến nghị Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ cho dừng và loại bỏ hai dự án thủy điện này ra khỏi quy hoạch thủy điện trên sông Đồng Nai.

Theo bản kiến nghị này Dự án thủy điện ĐN6 và ĐN6A đã vi phạm Luật Di sản văn hóa và làm phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lý chứa đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù của Khu di tích Vườn quốc gia Cát Tiên.

'Hàng trăm ha rừng tự nhiên giàu có, đa dạng sinh học bị nhấn chìm dưới lòng hồ thủy điện ĐN6 và ĐN6A, hình thành hồ chứa nước lớn kéo dài trên một đoạn sông sẽ làm thay đổi đáng kể môi trường sống của các loài động thực vật đặc hữu tại đây', UBND tỉnh nêu trong bản kiến nghị.

Posted Image

Khu vực sẽ triển khai dự án thủy điện mà chủ đầu tư nói rằng đây là rừng nghèo

Tuy nhiên khi lập dự án này, Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai, chủ đầu tư 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A cho rằng sẽ phá những khu rừng nghèo của Vườn Quốc gia Cát Tiên để tạo hệ sinh thái thủy vực mới.

Về ý này, ông Trương Văn Vở kịch liệt phản đối. Ông Vở nói: 'Đừng bao giờ nói chuyện rừng nghèo rồi phá đi làm thủy điện. Điều này hết sức vô lý và đi ngược với cơ sở pháp lý đã được quy định'.

Câu chuyện về 2 dự án thủy điện này đã đưa đi, kéo lại tới 6 năm trời nhưng đến nay vẫn chưa thể có một quyết định cuối cùng.

Ông Vở đặt câu hỏi, "Bộ Công thương và 20 địa phương mới đây đã thống nhất loại khỏi quy hoạch 338 dự án thủy điện với tổng công suất 1.088,9 MW (gồm 2 dự án thủy điện bậc thang và 336 dự án thủy điện nhỏ); đồng thời không tiếp tục xem xét đưa vào quy hoạch 169 vị trí tiềm năng thủy điện (362,5 MW), vậy cớ gì mà không thể loại cả thủy điện ĐN6 và ĐN6A được?"

Khúc mắc ở đâu?

Trước đó từ năm 2011, khi phản biện dự án này Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) cho rằng dự án có ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến môi trường và vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên và dòng chảy sông Đồng Nai.

Theo PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Tổng thư ký VACNE thì khu vực này do bị rải chất diệt cỏ trong chiến tranh, phần lớn là sinh cảnh rừng mọc lại, lồ ô và cây bụi, lại bị khai hoang làm nương rẫy nhiều.

'Cho nên nếu nói đây là rừng nghèo thì cũng là hợp lý. Tuy nhiên tôi muốn nhắc lại, vì dự án đụng đến rừng, diện tích rừng nên phải làm các bước theo đúng quy trình, đánh giá tác động môi trường và ảnh hưởng của dự án như Vacne đã đề xuất trước kia. Từ bấy đến nay cũng là 2 năm rồi. Đã đến lúc các cơ quan chức năng phải có số liệu, quan điểm và đưa ra quyết định cuối cùng', TS Hòe nói.

Nhắc tới ý kiến này, ông Vở phản bác: ' Đã là Vườn quốc gia thì là Vườn quốc gia, kể cả đó chỉ là tre, nứa chứ đừng nói là cây nhỏ cũng phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Thêm nữa theo Nghị quyết 49 của Quốc hội, dự án sử dụng trên 50ha đất rừng của Vườn Quốc gia thì phải xin ý kiến Quốc hội. Tức là Vườn được luật pháp được bảo vệ rõ ràng, không thể làm ngơ'.

Theo TS Đào Trọng Tứ, Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, những lo ngại của Đồng Nai về 2 dự án thủy điện này là có lý.

TS Tứ cho rằng, hiện nay nhìn tổng quát cả môi trường, sinh thái và luật pháp, tuy dự án không lớn nhưng đụng đến Vườn Quốc gia và tác động lâu dài là rất lớn.

'Khi sông ngòi dày đặc thủy điện nên xem xét lại. Đông Nai lo ngại là đúng vì khi tất cả các hồ đều điều tiết thì sẽ phải giải quyết như thế nào. Đây là câu chuyện khó mà phải chứng minh được bằng thực tiễn, trong khi hệ thống sông Đồng Nai dày đặc thủy điện', TS Tứ lo lắng.

Ngày 16/7, tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Nam, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên khẳng định sẽ yêu cầu Bộ Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam chỉ đạo các ban quản lý dự án thủy điện đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thực hiện tốt công tác dự báo, vận hành và điều tiết nước trong các hồ, đập.

Đặc biệt là việc hỗ trợ kinh phí đầu tư, nâng cấp các công trình kết cấu hạ tầng tại các khu tái định cư. Với các thủy điện đang triển khai, nếu thấy có thể gây hậu quả lớn thì nên dừng lại.

Bích Ngọc

Share this post


Link to post
Share on other sites

Công cụ mới của tình báo Mỹ?

> Mỹ tài trợ 3 chương trình nghiên cứu khoa học Việt Nam

TP - Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đang tài trợ cho nghiên cứu khoa học nhằm tìm ra cách thay đổi khí hậu. Kỹ thuật tạo mưa từng được không quân Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Posted Image

CIA đang tài trợ dự án tác động thời tiết, khí hậu. Ảnh: Getty Images.

Viện Khoa học Quốc gia Mỹ (NAS) sẽ thực hiện dự án kéo dài 21 tháng để tìm hiểu xem con người có thể tác động đến thời tiết như thế nào, đánh giá hiểm họa tiềm tàng của việc làm xáo trộn thời tiết, làm rõ nội hàm an ninh quốc gia khi tác động vào khí hậu.

Tổng chi phí 630.000 USD được lấy từ ngân sách NAS và tiền tài trợ từ CIA, Cục Khí quyển và Đại dương Quốc gia, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ. Trang web của NAS nói rằng “cộng đồng tình báo Mỹ” đang tài trợ cho dự án, và William Kearney, phát ngôn viên của NAS, cho biết cụm từ này ngụ ý CIA.

Quyết định của CIA trong việc tài trợ dự án khoa học về địa kỹ thuật chắc chắn sẽ kích động những người theo học thuyết âm mưu. Lần gần đây nhất chính phủ Mỹ tham gia nghiên cứu liên quan khí quyển nhằm bảo vệ các vệ tinh khỏi bụi phóng xạ, nhưng lại bị nhiều người đồn là nhằm tạo ra loại vũ khí giết người, vũ khí kiểm soát ý nghĩ, thời tiết…

Edward Price, phát ngôn viên của CIA, từ chối xác nhận vai trò của cơ quan này đối với nghiên cứu, nhưng lại nói: “Cơ quan chúng tôi quan tâm vấn đề như biến đổi khí hậu là lẽ tự nhiên, nên chúng tôi sẽ làm việc với các nhà khoa học để hiểu rõ hơn về các hiện tượng và ý nghĩa của những hiện tượng ấy đối với an ninh quốc gia”. CIA đóng cửa trung tâm nghiên cứu khí hậu và an ninh quốc gia hồi năm ngoái, sau khi Quốc hội Mỹ cho rằng cơ quan này không nên nghiên cứu vấn đề biến đổi khí hậu.

Mục đích nghiên cứu của NAS (do CIA tài trợ) là “đánh giá kỹ thuật về một vài kỹ thuật can thiệp khí hậu được đề xuất”, theo thông báo trên website của NAS.

Các nhà khoa học sẽ cố gắng tìm ra kỹ thuật khả thi, đồng thời đánh giá tác động và nguy cơ của từng biện pháp. Một trong các đề xuất được đưa ra là phương pháp quản lý bức xạ mặt trời - khái niệm chỉ kỹ thuật bơm các hạt nhỏ vào tầng bình lưu để hắt ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất ngược trở lại.

Trên lý thuyết, quản lý bức xạ mặt trời có thể khiến khí hậu toàn cầu mát mẻ hơn, hoặc ít nhất là làm chậm quá trình trái đất ấm lên. Nghiên cứu này cũng sẽ khảo sát các phương pháp loại bỏ hết carbon dioxide khỏi khí quyển.

Từng áp dụng trong chiến tranh Việt Nam

CIA chưa cho biết tại sao họ tài trợ cho một dự án tưởng chừng không liên quan an ninh quốc gia như vậy, nhưng mối quan tâm rõ ràng của chính phủ Mỹ đối với việc thay đổi khí hậu không phải điều gì mới mẻ.

Thay đổi thời tiết được dùng như một chiến lược quân sự từ thời chiến tranh Việt Nam, khi không quân Mỹ sử dụng kỹ thuật phun mây tạo mưa để biến đường mòn Hồ Chí Minh thành bùn lầy, để từ đó chiếm ưu thế chiến thuật.

Trong giai đoạn 1962 - 1983, các kỹ sư thời tiết nỗ lực thay đổi cách hoạt động của bão bằng việc sử dụng bạc iođua. Dự án mang tên Project Stormfury đó do Hải quân và Bộ Thương mại Mỹ chỉ đạo thực hiện.

Văn phòng Biến đổi thời tiết của Trung Quốc cũng từng tạo mây trước Thế vận hội Bắc Kinh 2008, với hy vọng mưa chỉ xảy ra các vùng ngoại ô, tránh những sân vận động Olympic.

Dù những nỗ lực trước đây nhằm thay đổi khí hậu và thời tiết thường bị chế nhạo, nhưng nhiều đề xuất địa kỹ thuật “về cơ bản là thực hiện được với chi phí tương đối và có vẻ giảm đáng kể rủi ro khí hậu”, ông David Keith, nhà khoa học nghiên cứu sâu về địa kỹ thuật, công tác ở Đại học Havard, nhận xét.

Russ George, cựu giám đốc Planktos, một công ty phát triển công nghệ đối phó hiện tượng khí hậu ấm lên, từng rải bột sắt xuống vùng biển ngoài khơi Canada thuộc Thái Bình Dương nhằm kích thích sinh vật phù du phát triển mạnh để hút carbon dioxide từ không khí.

Sẽ hạn chế quyền của cơ quan tình báo

Một nhóm nghị sỹ Mỹ hôm qua cáo buộc các cơ quan tình báo nước này xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, cảnh báo rằng sẽ hạn chế quyền hạn của chính phủ trong việc bí mật thu thập dữ liệu của công dân Mỹ. Theo họ, Quốc hội cần sửa Đạo luật Yêu nước, nhằm đảm bảo việc chỉ thu thập dữ liệu của các đối tượng tình nghi hoặc mối đe dọa đặc biệt.

TRÚC QUỲNH

Theo Washington Post, CNN

========================

Hì! Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sư ‘hổ mang’ hãm hại thiếu nữ đến có bầu

Cập nhật lúc 07:46, 20/07/2013

(ĐVO) - Theo tin từ Công an huyện Tân Phú, Đồng Nai, cơ quan này đang điều tra vụ việc một nhà sư đã lợi dụng sự lệ thuộc về kinh tế và tín ngưỡng tôn giáo để nhiều lần hại đời thiếu nữ.

Điều tra nhà sư bấm huyệt sưng vùng kín phụ nữ

Lộ hình ảnh sư thầy đi chuyên cơ riêng

Tiết lộ thêm về nhà sư Thái biển thủ 9 tấn vàng

Chất chơi triệu đô của nhà sư xài máy bay riêng

31 nhà sư Thái Lan dùng ma túy đá

Cụ thể, Phạm Viết Ty, 36 tuổi, trú tại Tam Anh, Núi Thành, Quảng Nam xuất gia tu hành tại chùa Liên Hoa, Đồng Nai. Đến năm 2003, Ty vận động một số phật tử phát tâm cúng dường khu đất tại ấp 3, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai để xây tịnh thất tu hành.

Tuy nhiên, Ty không tham gia vào các hoạt động của giáo hội, vi phạm đạo hạnh, không giữ giới luật nhà phật, thường xuyên ăn mặn uống bia, tự ý xây tịnh thất nên năm 2007, Ty bị giáo hội Phật giáo Đồng Nai tước tăng tịch và khai trừ ra khỏi hội.

Tuy nhiên, Ty lại giấu kín chuyện này, vẫn đứng giảng đạo pháp, xưng thầy với các phật tử và gọi những phật tử lớn tuổi bằng con.

Vào tháng 8/2012, Tỵ đã dở trò đồi bại khi lừa gạt thiếu nữ, đồng thời là con gái nuôi tên Lê Thị Ánh H, 16 tuổi (ngụ tại ấp 3, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) vào nhà nghỉ sau đó ép buộc quan hệ tình dục khiến H có thai.

Sau đó, Tỵ còn nhiều lần dọa nạt, ép buộc H. phải quan hệ với mình thêm nhiều lần khác. Không chịu được sự ép buộc đó, H đã tố cáo hành vi đồi bại của Tỵ với chị gái và mẹ mình.

Đến tháng 10/2012, Tỵ bị cơ quan công an huyện Tân Phú - Đồng Nai bắt giữ và điều tra. Tại cơ quan công an, Tỵ không thành khẩn khai báo, cưỡng dâm nhiều lần, làm nạn nhân có thai là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, bằng những bằng chứng không thể chối cãi, Tỵ đã phải cúi đầu nhận tội trước cơ quan pháp luật.

Sư ông "bấm huyệt" sưng vùng kín phụ nữ bị đuổi khỏi chùa

Liên quan đến sự việc Vũ Ngọc Liễm (65 tuổi), hiệu là Tì kheo Thích Long Tịnh (nguyên quán: xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), tu ở chùa Cao Linh (quận Lê Chân - Hải Phòng) đã lợi dụng khả năng khám bệnh để sàm sỡ bệnh nhân điều trị tại khoa Thần Kinh - Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng vào ngày 9 và 10/7, trụ chì chùa Cao Linh cho biết: Hiện đã đuổi Vũ Ngọc Liễm ra khỏi chùa.

“Dù cơ quan pháp luật có làm rõ hay không về vấn đề của ông Tịnh làm xôn xao dư luận đang ảnh hưởng đến nhà chùa, thì tôi cũng đã loại bỏ, yêu cầu ông ấy ra khỏi chùa và ông ấy đã phải trả lại tất cả những đồ vật liên quan cho nhà chùa từ cách đây 3 ngày rồi” - Đại đức Thích Giác Nghiên - Trụ chì chùa Cao Linh cho biết.

Đại đức Thích Giác Nghiên nói thêm: “Về việc của sư Tịnh tôi mong cơ pháp luật nhanh chóng làm sáng tỏ hành vi, những người ở trong nhà chùa mà làm những chuyện như vậy là đang phá Đạo.

Còn việc ông Tịnh có như vậy thật hay không thì tôi chưa nhìn thấy, nhưng đã nhiều lần tôi nghe người ta nói ông Tịnh này có tính xấu, thường dùng những lời lẽ, hành động mang tính dâm tục đối với phái nữ".

Nhất Nam

Share this post


Link to post
Share on other sites

“Khu vườn bí mật” của quan chức Trung Quốc

Thứ Năm, 18/07/2013 22:20

Những trang trại cung cấp thực phẩm siêu sạch cho giới chức Trung Quốc đang trở thành “cái gai” trong mắt đại bộ phận người dân

Được giám sát chặt chẽ, những “khu vườn bí mật” khắp Trung Quốc là nguồn cung cấp thực phẩm an toàn cho quan chức chính phủ.

Yêu cầu khắt khe

Mọi tiêu chuẩn đều kín kẽ do mối lo về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Trung Quốc đang ở mức báo động. Theo Tổ chức Môi trường Hòa Bình Xanh, Trung Quốc là quốc gia sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu nhiều nhất thế giới. Từ chỗ quá nguy hại, vấn đề an toàn thực phẩm tại Bắc Kinh trở thành tâm điểm mỉa mai của người dân. Hễ có bê bối nào xảy ra, nhiều người lại đùa cợt chua cay: “Chưa phải là điều tồi tệ nhất, chỉ mới là tồi tệ hơn thôi”.

Sau Thế vận hội Bắc Kinh 2008, 103 nhà sản xuất thực phẩm siêu sạch tiếp tục chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho giới chức chính phủ và các tổ chức cấp cao Trung Quốc. Một nguồn tin giấu tên cho trang tin Want China Times (Đài Loan) biết cách đây 2 năm, một quan chức được mời ăn tối tại phòng ăn tự phục vụ trong tòa án dân sự tối cao tỉnh Thiểm Tây. Người ta cho ông biết tòa án có hẳn một trang trại cung cấp thực phẩm an toàn tuyệt đối nằm cách TP Tây An 30 km.

Posted Image

Những trang trại cung ứng lương thực cho quan chức kín cổng cao tường và được canh gác kỹ càng. Ảnh: PHỤNG HOÀNG

Ngoài Thiểm Tây, tỉnh Quảng Đông cũng có “khu vườn bí mật” tương tự, không chỉ cung cấp các loại rau củ quả mà còn nuôi cả heo, cá và gà vịt.

Trại chăn nuôi Tân Thế Kỷ tại Bắc Kinh từng là nơi cung cấp trứng gà cho Thế vận hội Bắc Kinh 2008. Theo chủ trang trại họ Tôn, nguồn nước, thức ăn chăn nuôi và chất lượng không khí tại đây đều phải trải qua các cuộc kiểm tra nghiêm ngặt của chính phủ từ 10 năm trước. Do đó, lâu nay, sản phẩm chăn nuôi trong trang trại của ông Tôn được “tiến cống” vào bếp ăn của các quan chức cấp trung ương.

Cả họ được lợi

Với các bức tường xây cao 2 m bao quanh diện tích rộng hơn 200 ha cùng 5 nhân viên bảo vệ có mặt ngày đêm, rõ ràng những trang trại như thế này vượt xa một nông trại thông thường. Theo Nam Phương Tuần báo có trụ sở tại TP Quảng Châu, trang trại trồng rau Hải quan và Câu lạc bộ nhà nước đã cung cấp rau cho Văn phòng Hải quan Bắc Kinh hơn 10 năm qua. Để tránh nhiễm hóa chất độc hại, họ dùng chất thải động vật làm phân bón và ngay cả loại thuốc trừ sâu phun trong các “khu vườn bí mật” đều có nguồn gốc hữu cơ. Các sản phẩm nông nghiệp từ những trang trại này bảo đảm 100% nguồn gốc hữu cơ và an toàn tuyệt đối.

Vào tháng 7-1960, ông Tề Yến Minh, Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, ra quyết định nguồn cung cấp thực phẩm cho các quan chức cấp cao và giới trí thức chuyển từ “nguồn cung thực phẩm phụ” sang “nguồn cung đặc biệt”. Kể từ đó, “nguồn cung đặc biệt” đã trở thành chủ đề bí ẩn đối với người dân Trung Quốc. Không chỉ bếp ăn của các tổ chức chính phủ Trung Quốc sở hữu nguồn thực phẩm siêu sạch từ những “khu vườn bí mật”, nhiều gia đình quan chức cũng được “ăn theo” đặc quyền trên.

Hầu hết những trang trại được chọn làm nhà cung ứng thực phẩm cho chính phủ Trung Quốc đều cảm thấy tự hào và dĩ nhiên, được bảo đảm nguồn thu nhập. Tuy nhiên, những khu vườn chỉ dành riêng cho giới chức sắc như thế này đang trở thành “cái gai” khó chấp nhận đối với đại đa số người dân. Một số cư dân mạng thắc mắc tại sao quan chức chỉ lo ôm khư khư những “khu vườn bí mật” mà không nhân rộng ra để bảo đảm sức khỏe cho mọi người?

GIA HÒA

Share this post


Link to post
Share on other sites

http://vnexpress.net...et-2854163.html

23/7/2013 17:25 GMT+7

40 người xô nghiêng tàu hỏa, cứu phụ nữ bị kẹt

Hàng chục hành khách Nhật Bản hôm qua cùng nhau đẩy nghiêng một toa tàu hỏa nặng 32 tấn để giải cứu một phụ nữ bị trượt chân rơi xuống khe hở sát đường ray.

Posted Image40 hành khách cùng đẩy tàu để cứu người phụ nữ bị kẹt. Ảnh: AP

AP cho hay người phụ nữ khoảng 30 tuổi bị trượt chân ngã xuống một khe hở chỉ rộng 20 cm, nằm giữa tàu hỏa và hành lang đứng đợi tàu của hành khách.

Khoảng 40 người có mặt tại ga JR Minami-Urawa, phía bắc Tokyo, đã đồng ý hỗ trợ các nhân viên nhà ga nhấc bổng một bên toa tàu lên, khi họ nghe thông báo về sự cố của nữ hành khách trên. Con tàu có một hệ thống treo, cho phép tàu có thể nghiêng sang hai bên.

Một nhiếp ảnh gia của Yomiuri Shimbun có mặt tại hiện trường kể rằng, mọi người đã cùng vỗ tay chúc mừng khi người phụ nữ trên được giải cứu thành công và không bị thương gì.

Hành động anh hùng của 40 hành khách vào giờ cao điểm cũng đã được nhiếp ảnh gia này chụp lại và được đăng tải trên phiên bản buổi chiều của nhật báo Yomiuri.

Sau 8 phút trì hoãn vì sự cố, chuyến tàu đã tiếp tục hành trình.

Nhân Mã

Ý KIÊN BẠN ĐỌC:

Người Nhật rất đoàn kết, đó chính là lý do tại sao họ giàu mạnh và là một cường quốc ! Tất cả đều bắt đầu từ giáo dục và ý thức !

khazh - 17 giờ trước

Người dân Việt Nam chúng ta nên học tập họ rất nhiều... đặc biệt là ý thức...

leducanh07 - 12 giờ trước

Việc này nước nào chẳng cứu, có người quay phim cũng có người giải cứu thôi. nếu bạn là người như vậy thì bạn đừng quá là ưu ái cho người nước ngoài. nơi đâu cũng có người này người nọ, bạn đủ lớn để nhìn hết xã hội không ...

lifequietly - 4 giờ trước

Thật ra trước đây những năm đầu 2000 khi ở nhật các phương tiện di động bùng nổ thì chuyện 40 người chụp hình cô gái bị kẹt là thường xảy ra. Nhưng ngay sau 1 vài trường hợp điển hình, giới văn hoá xã hội và truyền thông nhật bản đã có những hình thức khác nhau lên tiếng phê phán hành động này rất quyết liệt và sự việc trên đã không còn xảy ra nữa.

thaison7c3 - 7 giờ trước

Tôi cũng là người khâm phục người Nhật, nhưng tôi nghĩ những hành động thế này thì ở các nước khác cũng có, kể cả Việt Nam. Mọi người đề cao người Nhật quá.

matrixncv - 12 giờ trước

Share this post


Link to post
Share on other sites

Mất 220 triệu đồng vì tin thầy cúng

Thứ tư, 24/7/2013 10:30 GMT+7

Cầm 220 triệu đồng để lo “chạy” việc nhưng thầy cúng mang đi trả nợ, ăn tiêu rồi bỏ trốn.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, Hà Nội vừa khởi tố bị can và tạm giam Nguyễn Văn Hiệp (36 tuổi, trú xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm) về hành vi lừa đảo chiếm tài sản.

Tháng 5/2011, biết Hiệp làm thầy cúng và nghe nói có khả năng chữa bệnh bằng phương pháp công lực, một phụ nữ tại quận Hà Đông đã mời anh ta về Nghệ An chữa trị cho người thân.

Posted Image

Nguyễn Văn Hiệp tại cơ quan điều tra.

Vài tháng sau, chị kể với Hiệp rằng có em họ vừa tốt nghiệp trương trung cấp phòng cháy chữa cháy Hà Nội (hệ dân sự) đang có nhu cầu xin vào làm việc tại cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy. Thấy vậy, Hiệp nhận có khả năng “chạy” việc với số tiền 220 triệu đồng.

Trong các lần gặp gỡ sau đó, Hiệp đã nhận toàn bộ số tiền, hồ sơ. Anh ta hẹn sau một tháng nếu không “chạy” được việc sẽ hoàn trả kinh phí. Tuy nhiên khi quá hẹn, bị thúc giục, Hiệp đã lần lữa và bỏ trốn khỏi địa phương.

Mới đây, Hiệp đã đến Công an quận Hà Đông đầu thú. Theo đó, do nợ một số tiền lớn, Hiệp tự nhận có khả năng xin việc hòng chiếm đoạt 220 triệu đồng.

Theo An ninh thủ đô

================

Mới đọc cái tít cứ tưởng người này lợi dung "mê tín dị đoạn", cúng bái để lừa đảo. Hóa ra là lửa chạy việc.

Vậy cái tít này đáng nhẽ phải viết: "Lừa chạy việc 220 triệu đồng".

Share this post


Link to post
Share on other sites

Một cảnh sát khóc nức nở khi phải đối mặt nhân dân

Cập nhật lúc 07:17, 25/07/2013

(ĐVO) - Một viên cảnh sát chống bạo động ở Philippines đã trở nên nổi tiếng sau khi anh bật khóc trong lúc ngăn cản người biểu tình sử dụng bạo lực.

Viên cảnh sát chống bạo động Philippines Joselito Sevilla đã gây xúc động mạnh trong dư luận và góp phần thúc đẩy hòa bình ở đất nước này sau khi những hình ảnh đầy nhân văn của anh được đưa lên mạng.

Được phóng viên ảnh Rem Zamora đặt tên là “cảnh sát khóc”, viên sĩ quan này cùng với hàng chục đồng đội khác được triển khai tới thành phố Quezon vào sáng hôm thứ Hai (22/7) để giải tán một cuộc biểu tình chống chính sách giảm đói nghèo của Tổng thống Benigno Aquino.

Vào buổi sáng thứ Hai, cuộc biểu tình vẫn diễn ra trong hòa bình và êm đẹp. Người dân chưng ra biểu ngữ và kêu gọi chính quyền đáp lại những mong muốn của mình. Thậm chí phía bên kia hàng rào, cảnh sát đã bắt đầu ngồi nghỉ ngơi.

Tuy nhiên, tình hình bắt đầu xấu đi vào giờ trưa khi người biểu tình tỏ ra giận dữ, hò hét và đập phá, xe vòi rồng và dây thép gai đã được chưng ra, dấu hiệu của mọi việc đang diễn ra với tình huống rất xấu.

Posted Image

Sevilla giơ hai ngón tay yêu cầu người biểu tình bình tĩnh

Khoảng 11h trưa (giờ địa phương), những người biểu tình bắt đầu bạo động, họ nhanh chóng phá bỏ hàng rào thép gai và tràn về phía những người cảnh sát. Người biểu tình ném gạch đá về phía cảnh sát, và cảnh sát buộc phải phản công. Trong tình cảnh hỗn loạn đó, phóng viên Zamora cho biết: “Một cảnh sát giơ hai ngón tay thể hiện cử chỉ hòa bình về phía người biểu tình và yêu cầu họ bình tĩnh. Anh ấy hối thúc người biểu tình đối thoại thay vì kích động bạo lực.” Một người biểu tình tiến về phía anh cảnh sát Sevilla và đòi được biết vì sao cảnh sát sử dụng vũ lực. Anh trả lời: “Tôi là một cảnh sát, tôi chỉ làm công việc của mình thôi.” Rồi sau đó viên cảnh sát này bật khóc nức nở trong khi vẫn đứng vững tại vị trí của mình, khiên và dùi cui vẫn cầm chắc trong tay. Phóng viên Zamora tiếp cận với Sevilla, và viên cảnh sát này cho biết đây là lần đầu tiên anh tham gia nhiệm vụ chống bạo động. Khi được hỏi vì sao lại khóc, Sevilla trả lời: “Vì đói và thiếu ngủ. Chúng tôi không được nghỉ ngơi và đã trụ ở đây hai ngày rồi, giờ thì cuộc biểu tình lại trở nên bạo lực.” Cảnh sát Sevilla không hề đánh đập người biểu tình nào, thậm chí một vài người biểu tình còn đến an ủi anh. Hai người biểu tình ôm lấy anh, một phụ nữ còn đưa cho anh chiếc khăn tay để lau nước mắt. Vài giây sau, những cảnh sát khác phát hiện sự việc đang diễn ra và lôi Sevilla ra khỏi hàng đầu.

Posted Image

Viên cảnh sát bật khóc nức nở nhưng anh vẫn đúng vững tại vị trí vì nhiệm vụ của mình

Đối với phóng viên Zamora, cảnh sát Sevilla đã cho anh một bài học rằng “chúng ta vẫn có thể làm công việc của mình, đứng vững ở vị trí, nhưng vẫn thể hiện sự hòa bình và không làm tổn thương người khác; ngay cả hai nhóm đối đầu nhau vẫn có thể thể hiện lòng yêu thương với nhau.” Những hành động bất ngờ của Sevilla đã nhận được rất nhiều sự cảm thông và ủng hộ trên khắp Philippines. Một người bày tỏ: “Nước mắt và nỗi đau gợi cho chúng ta nhớ về lòng nhân đạo. Đó là ý nghĩa đích thực của sự tiến bộ.” Một cư dân mạng của Philippines nhận xét: “Chỉ có sự cảm thông và lòng nhân đạo mới có thể hòa giải được mọi việc, còn tranh chấp, đàn áp sẽ không thể mang lại kết cục tốt đẹp”.

Minh Tú (Tổng hợp ĐVO, KP)

=====================

Dù đây là một sự kiện thật , hay là một kịch bản được dàn dựng bởi một đạo diễn rất giỏi - thì người Phi Luật Tân sẽ bảo vệ được lãnh thổ của mình trước Tàu. Đất nước này sẽ đoàn kết trước sự lấn chiếm của Tàu với lãnh thổ của họ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

http://vnexpress.net...et-2854163.html

23/7/2013 17:25 GMT+7

40 người xô nghiêng tàu hỏa, cứu phụ nữ bị kẹt

Hàng chục hành khách Nhật Bản hôm qua cùng nhau đẩy nghiêng một toa tàu hỏa nặng 32 tấn để giải cứu một phụ nữ bị trượt chân rơi xuống khe hở sát đường ray.

Cập nhật lúc 18:13, 24/07/2013

Hà Nội: Xe buýt đang chạy bỗng thành ngọn đuốc

(ĐVO) - Đang di chuyển trên đường Chùa Bộc (Hà Nội), chiếc xe buýt số 44 bỗng dưng bốc cháy khiến hành khách hoảng loạn.

Posted Image Xe buýt số 44 cháy tại đường Chùa Bộc. Vụ hỏa hoạn xảy ra khoảng 11h sáng 24/7, trên đường Chùa Bộc, đoạn gần khách sạn Asean. Chiếc xe buýt BKS 29LD-2663 đang lưu thông bất ngờ phát hỏa ở phía sau, khiến cho hành khách cũng như người dân xung quanh tá hỏa. Lái, phụ xe buýt và những người dân quanh hiện trường vụ việc đã dùng bình chữa cháy mini nhanh chóng dập tắt ngọn lửa. Người dân chứng kiến cho biết, chiếc xe đang đi tự dưng bốc cháy, không hề có vụ nổ hay va chạm gì. Vụ cháy bắt nguồn ở phần đuôi xe sau đó bốc lên khoang khách. Lửa bùng lên khá nhanh, tuy nhiên ngay lập tức được dập bằng 4 bình cứu hỏa, trong đó xe có 2 bình và 2 bình được cửa hàng quần áo gần đó mang ra cứu trợ. Khi xảy ra sự việc, hành khách náo loạn chạy thoát khỏi xe. Hiện trường ngay lập tức sau đó được thu dọn, chiếc xe buýt được người dân đẩy vào ven đường và không có thiệt hại nào về người. Vụ cháy xe buýt đã gây tắc đường bộ, nhưng sau đó lực lượng chức năng đã sớm xuất hiện để điều tiết giao thông.

Posted Image Lửa và khói bốc lên ở phần đuôi xe buýt. Posted Image Lái, phụ xe buýt và người dân nhanh chóng dập lửa..

Posted Image Chiếc xe bốc khói ngùn ngụt khiến cho hành khách cũng như người dân xung quanh tá hỏa.

Posted Image Vụ cháy xe buýt đã gây tắc đường bộ. Posted Image Hiện trường lập tức được xứ lý

Hồ Huyền (Tổng hợp) +++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Người Việt ... thường rất năng động trước nghịch cảnh! Posted ImagePosted ImagePosted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

Ngày đăng : 19:00 25/07/2013 (GMT+7) http://kienthuc.net.vn/binh-luan/tai-sao-vu-khi-nga-gap-kho-o-an-do-248188.html

Tại sao vũ khí Nga gặp khó ở Ấn Độ?

(Kienthuc.net.vn) - Việc Nga không giành thắng lợi trong một số gói thầu vũ khí lớn ở Ấn Độ một phần vì những yếu tố chính trị.

Trang mạng Russian Army Messenger đăng bài bình luận về nguyên do tại sao vũ khí Nga ngày càng gặp nhiều khó khăn ở thị trường Ấn Độ. Qua đó, vấn đề được đưa ra không phải là vũ khí Nga đắt đỏ, hay kém hiện đại mà do chính sách của Nga tăng cường hợp tác với Trung Quốc và Pakistan.

Theo đó, bài viết cho rằng, để ngăn chặn Trung Quốc, Ấn Độ đang “xa lánh” Nga, tích cực tăng cường hợp tác công nghệ quân sự với Mỹ và Nhật Bản. Vì vậy, Nga đang đối mặt với sự lựa chọn lớn: tiếp tục thúc đẩy chính sách ngoại giao không có ý nghĩa hay là tập trung xây dựng trục chính trị quân sự Nga - Ấn.

Gần đây, mối quan hệ hợp tác giữa Ấn Độ và Mỹ được tăng cường rõ rệt. Trong chuyến thăm Ấn Độ từ ngày 23-24/6 của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, một loạt các vấn đề quan trọng như xung quanh diễn biến khu vực châu Á, hòa giải ở Afghanistan, hợp tác công nghệ quân sự song phương đã được hai bên trao đổi và đạt được sự thống nhất chung trong việc tiếp tục mở rộng hợp tác năng lượng, công nghệ cao, an ninh quốc phòng.

Cần phải nhấn mạnh là, vấn đề thảo luận của Mỹ và Ấn Độ không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với Nga, mà còn liên quan trực tiếp đến lợi ích chiến lược của Nga. Ấn Độ lực chọn hợp tác với Mỹ trong những vấn đề này, không phải là hợp tác với Nga cho thấy những tính toán sai của ngoại giao Nga.

Posted Image Ấn Độ tăng cường quan hệ với Mỹ để đối phó Trung Quốc.

Dù vậy, Việc Ấn Độ giảm nhập khẩu vũ khí Nga, các doanh nghiệp sản xuất và chuyên gia Nga thông thường xem như là vấn đề kỹ thuật như giá sản phẩm, yêu cầu về đổi mới và công nghệ của Ấn Độ đối với vũ khí trang bị tăng cao. Tuy nhiên, đây không hẳn là vấn đề chính dẫn tới việc Ấn Độ giảm nhập khẩu vũ khí Nga.

Trên thực tế, nếu Nga coi Ấn Độ là thị trường tiêu thụ vũ khí lớn nhất, thì cần phải xác định một kế hoạch thúc đẩy quân sự chính trị tương ứng. Đối với nguyên nhân cơ bản khiến Ấn Độ thể hiện sự tăng cường hợp tác công nghệ quân sự với Mỹ và NATO, chuyên gia Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ Nga cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là yếu tố chính trị thay vì vấn đề công nghệ.

Vị chuyên gia này cho rằng, Ấn Độ lo ngại về sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế và thực lực quân sự của Trung Quốc, hy vọng thông qua các đơn hàng mua vũ khí lớn của Mỹ, củng cố mối quan hệ đối tác quân sự chính trị với Mỹ để kiềm chế Trung Quốc hơn nữa. Và đây đã trở thành xu hướng ưu tiên trong chiến lược toàn cầu của Ấn Độ.

Hiện nay Ấn Độ tích cực xây dựng liên minh quân sự chính trị, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước như Mỹ và Nhật Bản, mục đích chính là ngăn chặn Trung Quốc. Việc Nga thúc đẩy chính sách ngoại giao toàn diện, ưu tiên phát triển quan hệ hợp tác chiến lược với Trung Quốc, rõ ràng không phải là phương thức tốt nhất để củng cố quan hệ Nga - Ấn.

Posted Image Việc Nga bán vũ khí mới nhất cho Trung Quốc đã làm Ấn Độ phật ý.

Việc Nga bán vũ khí hiện đại cho Trung Quốc cũng đã làm cho Ấn Độ không hài lòng. Ngày 24/12/2012 Nga và Ấn Độ ký một số hiệp định hợp tác công nghệ quân sự với tổng trị giá 2,9 tỷ USD, bao gồm việc cung cấp giấy phép sản xuất linh kiện phụ tùng 42 tiêm kích Su-30MKI cho Ấn Độ

. Ngày 17/6/2013 các phương tiện truyền thông Nga cho biết, Nga sẽ cung cấp cho Trung Quốc một lô tiêm kích đa năng Su-35 kiểu mới. Đây là loại máy bay tiêm kích đa năng siêu cơ động thế hệ 4++, về tính năng kỹ chiến thuật rõ ràng ưu việt hơn Su-30MKI.

Trong khuôn khổ chính sách ngoại giao toàn diện, Nga còn có ý xuất khẩu vũ khí sang Pakistan. Chuyên gia Nga cho rằng phương châm tương tự này là sai, Nga tăng cường mối quan hệ với Pakistan, đặc biệt là hợp tác trong lĩnh vực quân sự chính trị là không triển vọng. Đối với việc cung ứng vũ khí trang bị cho Pakistan có thể sẽ mang lại hậu quả tiêu cực. Pakistan không quá hy vọng vào việc nhập khẩu vũ khí của Nga nâng cao khả năng phòng vệ, mà là để phá vỡ mối quan hệ quân sự chính trị Nga - Ấn.

Nga thua cuộc trong vụ đấu thầu mua 126 máy bay tiêm kích đa năng của Ấn Độ năm 2011 đối với MiG-35 và không hài lòng với việc Ấn Độ có ý muốn mua linh kiện vũ khí từ nước thứ 3 và việc Nga bán vũ khí cho Pakistan là một cách để Nga trừng phạt Ấn Độ, có thể sẽ làm cho Ấn Độ có những phản ứng mạnh mẽ.

Hơn nữa, xem xét từ phương diện doanh nghiệp, khả năng chi trả của Pakistan thấp, doanh thu xuất khẩu vũ khí của Nga đối với Pakistan cũng không thể cao. Dưới tác dụng của các yếu tố trên, tầm ảnh hưởng quân sự, chính trị và kinh tế của Nga đối với Ấn Độ giảm dần là điều bình thường.

Ngoài ra, Ấn Độ còn tăng cường hợp tác với Nhật Bản, nội dung quan trọng trong hiệp định hợp tác Ấn – Nhật chính là hợp tác kỹ thuật quân sự, hai bên thảo luận và xác định việc tổ chức diễn tập quân sự chung trên biển, công ty Nhật Bản còn có thể cung ứng máy bay quân sự và lò phản ứng hạt nhân cho Ấn Độ. Thực tế này một lần nữa cho thấy trong tương lai doanh nghiệp xuất khẩu vũ khí của Nga sẽ gặp phải đối thủ cạnh tranh mạnh mới.

Bằng Hữu

Share this post


Link to post
Share on other sites

Luật KHCN sửa đổi: Năm điểm đột phá

Nguyễn Ngọc Châu*

08:57-26/07/2013

Luật KHCN sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ năm 2014 với khá nhiều thay đổi1, trong đó có một số thay đổi mang tính đột phá so với luật hiện hành và được nhiều người kỳ vọng tạo bước phát triển mới cho KHCN của Việt Nam. Vậy thực chất các thay đổi đó như thế nào qua phân tích năm vấn đề quan trọng lần đầu tiên được luật hóa.

1. Phương thức đầu tư cho KH&CN

Ngoài đầu tư của nhà nước tối thiểu bằng 2% tổng chi ngân sách (Điều 49), bắt buộc các doanh nghiệp phải dành một phần lợi nhuận trước thuế của họ đề đầu tư lại cho nghiên cứu R&D thông qua việc thành lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp (Điều 55, 56). Nên biết rằng ở các nước phát triển, phần lớn tiền đầu tư cho nghiên cứu KHCN đến từ các doanh nghiệp, nhà nước chỉ chiếm khoảng 25-30% để chi cho các nghiên cứu cơ bản và các đề án nghiên cứu ứng dụng có tầm quan trọng chiến lược. Việc các doanh nghiệp dành kinh phí cho các nghiên cứu R&D bằng hình thức tự tổ chức triển khai nghiên cứu và/hoặc đặt hàng cho Phòng thí nghiệm của các Viện/trường đại học triển khai nghiên cứu không chỉ được quy định thành luật mà còn là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp trong việc đổi mới sáng tạo để cạnh tranh ở quy mô quốc gia và quốc tế. Còn ở ta, do năng lực các doanh nghiệp còn nhỏ, nhu cầu đổi mới sáng tạo để tồn tại và phát triển chưa cao nên không mấy doanh nghiệp tự ý thức được việc này. Nay dù muốn hay không doanh nghiệp cũng phải trích một phần lợi nhuận để tái đầu tư cho các nghiên cứu R&D nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm (Điều 55, 56, 63).

2. Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước cho nghiên cứu KHCN

Được đổi mới về căn bản thông qua Quỹ Phát triển KH và CN quốc gia và các Quỹ Phát triển KH và CN của các Bộ, ngành, cũng như ở các tỉnh (Điều 59, 60, 61). Mô hình Quỹ Phát triển KH và CN, thực chất là mô hình quản lý và sử dụng ngân sách tiên tiến, được hầu hết các nước áp dụng. Mô hình Quỹ cho phép quản lý và sử dụng kinh phí theo phương thức khoán đến sản phẩm cuối cùng mà bỏ qua lối quản lý hành chính, thanh quyết toán theo năm kế hoạch, vừa phức tạp, nhiêu khê, chiếm quá nhiều thời gian công sức của nhà khoa học và cả nhà quản lý. Phương thức quản lý Quỹ và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng (Điều 52), thậm chí có thể sử dụng ngân sách để mua sản phẩm KHCN của nhà khoa học. Những quy định mang tính đột phá này không chỉ nâng cao trách nhiệm của nhà khoa học chân chính mà còn khắc phục được nhiều kẽ hở cho những ai đội lốt nghiên cứu khoa học để trục lợi.

3. Tổ chức KHCN

Mọi tổ chức cá nhân đều có quyền đề xuất ý tưởng nghiên cứu dưới dạng các đề tài, dự án, trên cơ sở đó Tổ chức KHCN sẽ tập hợp, sàng lọc và đặt hàng cho nhà khoa học (Điều 26). Mô hình đặt hàng đối với nhà khoa học, được coi là phương thức tối ưu nhằm gắn mục tiêu của nghiên cứu KHCN với những vấn đề thực tiễn, tránh được tình trạng kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu nằm lưu trong tủ mà không đến với thực tiễn. Khi được đặt hàng, dương nhiên, với các điều kiện ràng buộc, nhà khoa học phải có trách nhiệm hoàn thành mục tiêu, sản phẩm nghiên cứu và bàn giao kết quả cho Tổ chức KHCN đã đặt hàng.

4. Vị trí, chức năng tổng tư lệnh ngành KHCN

Luật KHCN sửa đổi lần đầu tiên quy định Bộ KH&CN với các quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng trong việc toàn quyền hoạch định từ các kế hoạch 5 năm, đề xuất nguồn kinh phí thực thi nhiệm vụ KHCN, đến việc quản lý, giám sát sử dụng kinh phí có hiệu quả trên phạm vi toàn quốc. Các Bộ ngành khác chỉ đóng vai trò tham gia, phối thuộc những vấn đề thuộc phạm vi Bộ, ngành mình.

5. Chính sách sử dụng và đãi ngộ cho cán bộ KH&CN

Là một trong những điểm khá đột phá. Luật sửa đổi đã cụ thể hóa hàng loạt chính sách đãi ngộ về lương, phụ cấp trách nhiệm, đi dự các Hội nghị quốc tế, v.v. đối với nhà khoa học đầu ngành, trình độ cao, nhà khoa học đang chủ trì các đề tài, đề án quốc gia (Điều 23). Đặc biệt, quy định tạo điều kiện cho nhà khoa học đẳng cấp được đầu tư cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để tổ chức nghiên cứu, thực hiện ý tưởng đặt ra. Luật sửa đổi cũng khuyến khích nhà khoa học trẻ có tài được thăng tiến trong việc đề bạt, bỏ qua rào cản lâu nay là “sống lâu lên lão làng”, nay nhà khoa học trẻ, có trình độ và thành tích xứng đáng có thể được bổ nhiệm lên vị trí cao mà không cần đủ thâm niên như trước đây. Nhà khoa học được ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân từ các khoản thu nhập từ hoạt động KHCN. Luật cũng cụ thể hóa nhiều chế độ đãi ngộ đối với nhà khoa học là Việt kiều, chuyên gia quốc tế tham gia trong các chương trình đề án nghiên cứu với Việt Nam (Điều 24).

Và những hạn chế

Bên cạnh những điểm mới đột phá như trên, Luật KHCN sửa đổi vẫn còn một số vấn đề chưa được đề cập hoặc chưa quan tâm đúng mức, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất để có được một KHCN phát triển chính là yếu tố con người nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ (scientific researcher/engineering researcher) và tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Scientific research / research development systems) hầu như chưa được luật hóa.

Nghiên cứu KHCN là loại hình lao động đặc thù của trí óc, chỉ dành cho những ai say mê sáng tạo, được đào tạo bài bản và có bằng cấp thích hợp mới có khả năng tạo ra sản phẩm trí tuệ đích thực. Vì không có tiêu chí rõ ràng đánh giá “nhà khoa học” hay “người nghiên cứu” mà hiện nay có đến 70% “cán bộ nghiên cứu KHCN” đang ngồi nhầm chỗ, và phần lớn những người này còn trở thành vật cản vô hình trong các tổ chức nghiên cứu KHCN. Một khi không có tiêu chí ràng về công chức KHCN thì việc xác định nhà KHCN hàng đầu, chuyên gia cấp cao, v.v… để tôn vinh và đãi ngộ như quy định tại các điều 22, 23, 24, 77, 78. cũng trở nên vô nghĩa hoặc tôn vinh, đãi ngộ “nhầm đối tượng”, không chỉ gây lãng phí nguồn tài chính quốc gia và còn gây sự phản cảm trong cộng đồng khoa học.

Muốn có một nền KHCN thật sự phát triển thì trước hết phải có, nói đúng hơn phải đào tạo cho được đội ngũ người nghiên cứu KHCN chuẩn mực và tinh thông. Đó là những người biết chấp nhận mạo hiểm, thích tìm tòi và dám “xả thân” cho KHCN. Do vậy cần thay đổi tận gốc rễ nền giáo dục đào tạo để tạo ra những lớp người biết hoài nghi để sáng tạo ra cái mới; đồng thời phải kiến tạo môi trường nghiên cứu tốt với một hệ thống tổ chức nghiên cứu KHCN tối ưu và đồng bộ để hỗ trợ nhau cùng phát triển chứ không ngáng chân, kìm nhau trong quá trình hoạt động như tình trạng hiện nay. Tiếc thay cả hai vấn đề cốt lõi này chưa được luật hóa đầy đủ hoặc chưa coi trọng đúng mức trong Luật KHCN sửa đổi lần này.

Một bất cập khác là tiêu chí xét duyệt đầu vào của đề tài và tiêu chí đánh giá nghiệm thu đề tài hầu như chưa được đề cập rõ ràng. Một khi chưa có tiêu chí rõ ràng thì việc đánh giá, xét duyệt vẫn dựa theo cảm tính của người thẩm định và đó sẽ là cơ hội để nhiều đề xuất kém chất lượng, không có tính khả thi lọt lưới.

***

Mặc dù còn một số vấn đề chưa kịp thay đổi hoặc không thể đổi thay một sớm một chiều, nhưng Luật KHCN sửa đổi với một số quy định có tính đột phá sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý trong quản lý KHCN theo thông lệ quốc tế, góp phần đưa nghiên cứu khoa học vào thực chất hơn, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn đất nước.

========================

* Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(1) So với luật KHCN 2000 (với 8 Chương, 59 điều), Luật KHCN sửa đổi 2013 (gồm 81 điều, được chia thành 11 chương), bỏ 17/59 điều, sửa đổi 42/59 điều, đồng thời bổ sung 39 điều mới).

========================

Phải định nghĩa thế nào là "Khoa học" đã. Chứ "khoa học" mà là "cái gì tôi phải nhìn thấy tôi mới tin"; hoặc ở một tầm mức cụ thể với một nội hàm nhỏ hơn "cơ sở khoa học" là gì thì cũng chỉ nói cho oai, còn chưa định nghĩa được. Chưa có định nghĩa rốt ráo về khái niệm khoa học thì khái niệm "phát triển khoa học" chỉ là một khái niệm mang tính cảm nhận.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Gặp “lâm tặc” có biệt tài nói chuyện với chim trời

Dantri.com.vn

Chủ Nhật, 28/07/2013 - 09:56

Trương Cảm - kiểm lâm viên Vườn quốc gia Bạch Mã - từng là một “lâm tặc” có tiếng với chiến tích từng bị… kiểm lâm Thừa Thiên - Huế bắt khi bẫy chim trĩ sao mang đi bán lấy tiền đong gạo.

Sau đó ông “hoàn lương” và trở thành người giữ cửa rừng hơn 25 năm nay. Nhưng người đàn ông 45 tuổi này nổi tiếng không phải ở sự “hoàn lương”, mà bởi biệt tài nhại tiếng hót của cả trăm loài chim. Không chỉ vậy, Trương Cảm còn hiểu được ngôn ngữ của chim để gọi, “chuyện trò” với chúng…

Một thời… “lâm tặc”

Posted Image

Ông có thể nhại tiếng hót của trăm loài chim.

Trương Cảm ngồi trước mặt tôi là người đàn ông tầm thước, dáng dấp như lực điền, nói chuyện lại bộc trực, thẳng thắn. “Ông trở thành kiểm lâm từ khi nào?” - tôi bắt đầu câu chuyện với ông bằng câu hỏi. “Từ sau vụ bán chim trĩ bị kiểm lâm bắt được” - Trương Cảm cười hiền từ. Ông kể, hồi những năm 80 của thế kỷ trước, cũng như bao người dân khác của thôn Phú Thạnh (xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) - vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã, tuổi trẻ của ông gắn với núi rừng, chim thú. Tốt nghiệp lớp 12, vì nghèo nên ông từ bỏ giấc mơ đại học để ở nhà làm ruộng, đi rừng đốn gỗ, bẫy thú, chim rừng đem bán đổi lấy cơm. Thời đó, dân làng thi nhau lên rừng giăng bẫy đánh chim, đó cũng là công việc hết sức bình thường như…Làm ruộng, bởi khái niệm “lâm tặc” lúc đó chưa tồn tại ở vùng đất này.

Và Trương Cảm chính là người đầu tiên trong thôn bị cơ quan chức năng xác nhận là… “lâm tặc”. Số là, trong lần đem hai con trĩ sao bẫy được lên thành phố Huế bán, ông được hai vị khách ra giá rất cao kèm theo điều kiện phải đưa chim về bán tận nhà. Chẳng phút nghi ngại, ông đồng ý lên xe về nhà khách giao chim thì bị khách… chở thẳng về trụ sở Kiểm lâm Bình - Trị - Thiên cũ. Trương Cảm bị lập biên bản, tịch thu hai con chim trĩ sao mà chẳng hiểu chuyện gì đang xảy đến với mình. Chỉ đến khi kiểm lâm viên lôi luật ra đọc một lèo, ông mới ngơ ngớ mường tượng ra hình thù của một “lâm tặc” là mình. Chính lần chẳng may bị bắt đó lại là cơ duyên để Trương Cảm - “lâm tặc” trở thành Trương Cảm - kiểm lâm như bây giờ.

Đó là vào năm 1988, lần đầu tiên đoàn của Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã thế giới vào Huế tìm hỏi chuyện chim trĩ sao. Bí quá, ông Huỳnh Văn Kéo-Trưởng ban bảo vệ rừng cấm Bạch Mã (hiện là Giám đốc Vườn quốc gia Bạch Mã)-dắt đoàn tìm Trương Cảm. Cảm nói rành rọt về loài chim trĩ sao khiến cả đoàn lẫn ông trưởng ban bảo vệ rừng cấm ngạc nhiên, khen nức nở. Sau cuộc gặp đó, ông Kéo nảy ra sáng kiến mời “lâm tặc” về làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nhớ lại chuyện hơn 20 năm trước, vị giám đốc vẫn còn sung sướng với quyết định gây sốc của mình.

Ông lý giải: Đó chính là “lấy độc trị độc”, bởi chỉ có lâm tặc mới tường tận từng hang cùng ngõ hẻm của vùng rừng núi Bạch Mã. Cũng chỉ có lâm tặc mới biết nơi nào có bẫy thú, chim, nơi nào rừng đang bị hạ sát. Cái tên của “lâm tặc” đầu tiên mà ông Kéo nghĩ và tìm đến lại là Trương Cảm. “Hôm đó, tui đang gặt lúa ông Kéo đứng trên bờ ruộng gọi hỏi có muốn đi bảo vệ rừng cấm không? Tui hỏi lại rứa có cơm ăn không? Nói thiệt hồi đó sức khỏe của tui quá mạnh, đòi hỏi cái ăn ghê lắm. Ông Kéo nói đủ rứa là tui theo ông về Bạch Mã làm nhân viên bảo vệ rừng” - ông Cảm nhớ lại.

Công việc đầu tiên mà ông được giao là nuôi chim, thú để nghiên cứu. Ông đan lồng, dựng chuồng, mang hết số chim bẫy được trong thời gian làm lâm tặc, cùng với đó là mua chim, thú về nuôi. Nhưng chỉ sau thời gian ngắn, ông Kéo nhận ra sự bất ổn trong cách nghiên cứu chim theo kiểu giam cầm, quyết thả hết chim trở lại rừng. Ông Cảm hết nhiệm vụ. Những ngày tiếp theo đó, trong đầu ông Cảm là hàng loạt câu hỏi về tương lai rằng liệu có còn được ở lại làm cán bộ, hay về nhà tiếp tục làm ruộng, trở lại làm lâm tặc. Lại lần nữa, ông Kéo gọi lên hỏi có đi bắt lâm tặc không. Vậy là hôm sau, ông Cảm mang hành lý lên rừng đi dỡ bẫy, rình bắt lâm tặc.

Ông Cảm “chim” trổ tài

Thời gian tiếp theo là những ngày đêm ông lang thang khắp hang cùng ngõ tận của vùng rừng cấm Bạch Mã. Bằng kinh nghiệm của người từng đi phá rừng, ông đã cứu không biết bao nhiêu thú rừng thoát khỏi “nanh vuốt” của lâm tặc. Ông kể: Mùa chim trĩ sao động dục thường là vào tháng 3, đây chính là thời gian lâm tặc đến đặt bẫy nhiều nhất. Biết được thế, bẫy họ cứ đặt xuống dính là mình đi tháo giải vây. Còn như loài gấu ngựa thích đồ thối. Lần theo mùi thối trên rừng, y chang như rằng hoặc là phát hiện bẫy gấu, hoặc là một con thú nào đó bị dính bẫy đã chết…

Posted Image

Ông Cảm đang “tán tỉnh” với chú chim khứu nuôi trong nhà 15 năm nay.

Trong cảnh ăn ở riết giữa rừng, ông tiếp nhận, thu thập thông tin về tất cả các loài chim, thú, để rồi tự dưng nó trở thành niềm đam mê lúc nào chẳng rõ. Giờ đây, ông có cho riêng mình một kho kiến thức sống động về các loài chim: “Không phải nói khoe, nói trạng chứ giờ lắng tai nghe tiếng chim vỗ cánh, hoặc nhìn bóng chim in lên mặt đất là tui biết đó là loại chim gì, nằm ở đâu trong danh mục các loài chim. Lâu ngày nó trở nên gần gũi quá cho nên mình biết” - ông Cảm nói.

Cũng có những lúc vô công rỗi nghề, ông chăm chú lắng nghe tiếng kêu của các loài chim, rồi bắt chước nhại theo. Lâu dần “tiếng chim” của ông trở nên giống, quen thuộc lắm khiến chim rừng đáp lời trở lại. Ông nói: “Thật ra thì ai cũng có thể huýt sáo nhại tiếng chim, nhưng để nhại đúng phải biết “tông” của chúng. Tui hiểu được rằng tất cả các loài chim đều có ngôn ngữ riêng của nó. Tiếng chim gọi bầy, tán tỉnh nhau, tiếng chim mẹ mớm mồi cho con khác nhau hoàn toàn. Ngôn ngữ của loài chim cũng như con người vậy, cũng có ghen tuông, giận dữ, cũng biết hơn thua đủ cả”. Không chỉ có vậy, nghe tiếng chim, ông có thể dự báo được thời tiết. Ông nói: “Hôm nào tiếng chim cu rốc kêu rầm rộ, trời hôm ấy nắng to. Còn nếu mình gọi mà nó không ư hử gì thì y như rằng ngày mai mưa như thác đổ…”.

Cái khiếu nhại tiếng chim của ông cũng đã khiến người Tây nể phục. Đó là trong lần theo học khoá tập huấn ở Vườn quốc gia vùng Nor Pas De Pais, về cách thức thu hút động vật hoang dã của con người. Vào một buổi chiều, trong lúc tham quan vườn, ông trổ tài gọi chim cho những người bạn Pháp thưởng thức. Nào ngờ, sau một hồi gọi, con quạ từ từ đáp lên vai ông trước sự ngạc nhiên của nhiều người. Giám đốc vườn-ông Didier-đã phải thốt lên: “Tuyệt! Lần đầu tiên tôi chứng kiến điều thú vị này”. Ông Cảm bảo, có thể đó là sự trùng hợp tình cờ, cũng có thể do mình gặp may. Hôm ấy, trong tiếng nhại theo tiếng kêu của con quạ, ông đang cô đơn, lẻ loi trên đất khách. Có lẽ con quạ đang mang tâm trạng tương tự nên đến tìm bạn chăng?

Giờ đây, trong 320 loài chim ở Vườn quốc gia Bạch Mã này, ông đều hiểu và nhại được tiếng hót của chúng. Ông cất tiếng hót loài nào thì ắt hẳn từ rừng rậm chim trời vọng đáp lời… Mười lăm năm qua, thành thói quen, sau một chuyến đi rừng dài ngày trở về, ông Cảm dành gần một tiếng đồng hồ để “tán tỉnh” với chú chim khứu được ông đưa về làm bạn trong nhà . Ông kể, con khứu đang nuôi là giống đực và chỉ có khứu cái mới có thể làm cho nó hót ngay. Nói xong, ông chụm môi cất lên tiếng hót của chú chim khứu cái. Ngay lập tức, chú khứu trong lồng cất tiếng đáp lại. “Bất kể loài chim gì, hễ bắt được sóng đôi nam nữ thì chim sẽ đáp lời ngay, tình cảm lắm. Để tui thử cho anh xem”. Dứt lời, ông Cảm nhại giọng tranh giành tình cảm của khứu đực. Giọng ông chưa kịp dứt, chú khứu xù lông, xòe cánh đáp trả bằng giọng hót giận dữ như đang oán trách ai.

Đợt rồi, Vườn quốc gia Bạch Mã mở cửa đón khách trở lại. Ngoài vai trò là một kiểm lâm, ông còn là người thuyết trình tour du lịch. “Gọi chim trời ngắm bình minh”. Công việc có phần bộn bề hơn, nhưng mà được cái là vui. Đoàn khách nào đến cũng đòi ông dắt đi gọi chim. Ông nói việc mình đang làm là bất đắc dĩ. Ông nói: “Tui đâu có được học hành ở trường du lịch mô. Biết chi làm nấy, gọi chim cho khách xem, nghe là chính”. Tôi hỏi: Thế đã lần nào bị “bể show” chưa? Ông quả quyết: “Gọi chim về không có dễ. Phải nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm và canh thời gian ngày chim hót mạnh nhất mới dám dẫn khách đi. Thời gian chuẩn không cần chỉnh để gọi chim là từ 5 đến 8 giờ sáng thì gọi chim gì cũng có”. Và ông đặt cược rằng khi Cảm “chim” đã vào rừng cất tiếng gọi mà nếu như không có loài chim nào trả lời thì chắc chắn sẽ không dám ngửa tay lấy tiền của khách dù chỉ một đồng xu.

Theo Đăng Khoa

Lao động

=====================

Ông Cảm cần phải mở khóa đào tạo cho mọi người có nhu cầu học tiếng nói của loài chim. Sẽ thật đáng tiếng nếu kiến thức của ông không truyền đạt lại được. Nhưng qua câu chuyện này mới thấy rõ hơn "vạn vật hữu tình". Hạn chế sát sinh thôi!

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites

http://vietf.vn/2013...ml#.Ufb3tKwnb98

Đối thủ gạo Campuchia đe dọa Việt Nam

Thứ 2, 29/07/2013 -

SGTT.VN – Có khách hàng ở 34 nước Âu, Á, Phi; chất lượng gạo đồng nhất…, gạo Campuchia đang có nhiều ưu điểm hơn gạo Việt.

Một số doanh nghiệp (DN) xuất khẩu gạo Việt Nam cho rằng Campuchia sẽ còn lâu mới có thể cạnh tranh xuất khẩu lại vì những yếu kém về công nghệ chế biến, hạ tầng giao thông và cảng biển, số lượng gạo xuất khẩu ít…

Tuy nhiên, ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), cho biết ngoài Myanmar, Campuchia đang nổi lên như là một đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu gạo.

Cạnh tranh toàn diện

Một nhà máy sản xuất, chế biến gạo chất lượng cao ở Campuchia. Nguồn ảnh: www.agrifoodconsulting.com. Ông Nguyễn Thọ Trí, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2), cảnh báo các DN xuất khẩu gạo Việt Nam chớ nên coi thường các nhà xuất khẩu gạo Campuchia. Nước này có các điều kiện về tự nhiên, nhân lực, vật lực để trở thành nước xuất khẩu gạo như Việt Nam.

Với hơn 80% dân số làm nông nghiệp, Campuchia sản xuất 9,3 triệu tấn lúa, trừ đi lượng tiêu thụ nội địa thì có khoảng 3 triệu tấn gạo xay cho xuất khẩu. Để thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo, chính phủ Campuchia bảo lãnh 50% rủi ro để các ngân hàng thương mại cho vay vốn sản xuất, chế biến và dự trữ gạo.

Nhận định thêm về đối thủ, ông Trương Thanh Phong (VFA) cho biết khách hàng mua gạo của Campuchia trong năm 2013 lên đến 34 nước, tỏa rộng cả ba khu vực châu Á, châu Phi và châu Âu. Riêng với thị trường châu Âu, Campuchia được miễn thuế xuất khẩu do được xếp vào nhóm các quốc gia kém phát triển. Điều kiện này đã tiết kiệm cho các DN xuất khẩu gạo Campuchia khoảng 195 USD mỗi tấn gạo. Cho nên không chỉ DN Việt Nam mà các nước xuất khẩu gạo khác cũng khó cạnh tranh lại Campuchia tại thị trường cao cấp này.

Và với lượng xuất khẩu gạo tăng lên, nước này đang nhắm đến thị trường Đông Nam Á. Những động thái gần đây cho thấy Campuchia sẽ tham gia mạnh mẽ hơn theo hình thức cung cấp gạo theo cấp chính phủ, cạnh tranh với các hợp đồng tập trung của Việt Nam.

“Điều đáng nói nữa là giá chào bán gạo xuất khẩu 5% tấm của Campuchia có thời điểm đạt 480 USD/tấn, cao hơn 75 USD/tấn so với giá gạo cùng phẩm cấp của Việt Nam. Đó là nhờ chất lượng với tỉ lệ hạt gạo đồng nhất, loại nào ra loại đó, không phải như Việt Nam một bao gạo 5% tấm nhưng trộn đủ loại trong đó” – GS Võ Tòng Xuân.

Cụ thể, nước này đang chuẩn bị chiến lược xuất khẩu gạo nhắm đến các thị trường Trung Quốc, Philippines và Indonesia. Trung Quốc đã ký thỏa thuận với Campuchia cho phép DN Trung Quốc có một số điều kiện thuận lợi khi xuất khẩu gạo từ Campuchia.

Campuchia cũng tiếp xúc với Philippines tìm giải pháp xuất khẩu một khối lượng gạo lớn sang đây với ít nhất 100.000 tấn gạo/năm. Indonesia cũng xúc tiến mua gạo khối lượng lớn của Campuchia. Chưa hết, hồi đầu tháng 7-2013, Campuchia ký hợp đồng xuất khẩu gạo với Brunei bán 3.000 tấn gạo thơm/năm.

Cái còn thiếu là thương hiệu

Cũng theo ông Trí, điều cần nhất để tăng năng lực cạnh tranh đối với gạo Việt Nam xuất khẩu lúc này chính là thương hiệu. Muốn làm được điều đó phải có giống lúa quốc gia chất lượng, có thể lấy giống lúa đặc sản hoặc có tiếng ở địa phương như ST, Nàng Thơm Chợ Đào, Tài Nguyên… để phát triển lên; dẹp nạn gạo trộn ở khâu thương lái, tạo chất lượng gạo đồng nhất.

GS Võ Tòng Xuân cho biết thêm trước đây gạo “chảy” từ Campuchia về miền Tây để chế biến và xuất khẩu ra thế giới nhưng hiện đã đi theo chiều ngược lại. Mỗi vụ thu hoạch, hàng trăm ngàn tấn gạo “chảy” qua biên giới vào Campuchia. Không khéo Việt Nam lại thành nước cung cấp gạo nguyên liệu cho Campuchia và các nước đối tác đầu tư Trung Quốc, Ấn Độ chế biến xuất khẩu.

Theo thông tin từ Vinafood 2 thì Cofco, hãng kinh doanh lớn về lương thực và dầu ăn của Trung Quốc, đang có ý định đầu tư vào lĩnh vực chế biến và xuất khẩu gạo Campuchia. Amira, tập đoàn xuất khẩu lúa gạo của Ấn Độ, cũng đầu tư 40 triệu USD vào khu vực nông nghiệp ở Campuchia với dự kiến mở nhà máy xay xát lúa gạo, thuê 25.000 ha đất nông nghiệp.

Nguy cơ thiếu trầm trọng nguồn nước

Việc Campuchia kêu gọi đầu tư mở rộng, phát triển diện tích lúa gạo; Lào và Myanmar cũng tích cực tăng sản lượng lúa đồng nghĩa với việc lượng nước sông Mê Kông được khai thác rất lớn cho tưới tiêu đồng ruộng. Hậu quả lớn nhất có thể là hạ nguồn Việt Nam đối mặt với mối nguy thiếu nước trầm trọng cho sản xuất lúa. Một hệ thống thủy lợi bền vững là rất cần thiết cho vựa lúa của cả nước lúc này.

GS VÕ TÒNG XUÂN

“Mới đây, tại hội chợ triển lãm sản phẩm nông nghiệp quốc tế có tiếng ở Thái Lan, không hề có bóng dáng gian hàng gạo Việt Nam. Trong khi Campuchia có tới 20 DN gạo tham gia giới thiệu sản phẩm, thương hiệu riêng. Tại sao Campuchia làm được mà Việt Nam không làm được? Vẫn là câu trả lời cũ vì thiếu liên kết. DN Việt phải đồng lòng, phải nắm thị trường, khối lượng xuất, chất lượng, truy nguyên xuất xứ ra sao…”

“DN chuẩn bị đầy các đủ thông tin đó rồi khoanh vùng, đầu tư vùng nguyên liệu theo kỹ thuật nông nghiệp cao. Từ đó, nông dân mới sản xuất đúng theo yêu cầu cho DN thu mua, chế biến, đăng ký thương hiệu và xuất khẩu” – GS Xuân nhấn mạnh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

http://kienthuc.net....ang-249670.html

Ngày đăng : 10:03 31/07/2013 (GMT+7)

Mặt trời kỳ lạ xuất hiện ở Đà Nẵng

Khoảng 9h30 sáng 30/7, nhiều người ở Đà Nẵng bất ngờ phát hiện bao quanh mặt trời là một vòng tròn ánh sáng khác thường thỉnh thoảng chuyển sang một số màu sắc khác.

Hiện tượng này kéo dài đến khoảng 10h30.

Theo nhiều người dân, đây lần thứ 3 trong vòng vài năm trở lại đây, tại Đà Nẵng có thể nhìn thấy ánh hào quang như vậy bằng mắt thường. Năm 2008 và 2009, hiện tượng xuất hiện và nhìn thấy rõ tại khu vực chùa Linh Ứng và tượng Phật Quan Thế Âm (quận Sơn Trà) gây xôn xao dư luận.

Posted Image

Một số tài liệu khoa học lý giải, đây là hiện tượng tự nhiên rất hiếm gặp ở Việt Nam và hiếm khi quan sát được. Hiện tượng khúc xạ gần giống như cầu vồng, khi ánh sáng mặt trời truyền qua khí quyển, do điều kiện hơi nước, ánh sáng bị tán sắc thành 7 màu rực rỡ.

Theo Viện Vật lý Địa cầu, như những lần mặt trời tỏa ánh hào quang ở Đà Nẵng trước đây, hiện tượng này xảy ra trong tầng khí quyển, không phải hiện tượng mặt trời, bởi nếu là hiện tượng mặt trời thì mắt thường không thể nhìn thấy.

Theo Tiền Phong

Share this post


Link to post
Share on other sites

Giáo dục: Đổi mới hay là chết!

Thứ Tư, 31/07/2013 22:30

PGS Văn Như Cương đã nhấn mạnh như vậy khi nói về việc phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam tại hội nghị nêu giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam

Ngày 31-7, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức hội nghị nêu ý kiến và kiến nghị của nhân dân với Đảng, nhà nước, MTTQ Việt Nam về “Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay”.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cùng đông đảo đại diện của Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), Ban Khoa giáo Trung ương… cùng các chuyên gia giáo dục đã tham dự hội nghị góp ý quan trọng này.

Nhiều lệch lạc, thất bại

PGS Văn Như Cương, Hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội), thẳng thắn cho rằng chương trình phổ thông hiện hành đang có 2 lệch lạc. Một là quá chú trọng đến kiến thức văn hóa nói chung, bắt trẻ học những thứ mà sau khi tốt nghiệp không bao giờ gặp phải trong cuộc sống. Hai là các môn học “làm người” không được chú trọng, những quy tắc đơn giản nhất trong cộng đồng, thái độ đối với môi trường, thiên nhiên, những điều thiện cần làm, tính trung thực, vị tha, tôn trọng pháp luật… đều không được dạy dỗ một cách có hệ thống.

Posted Image

Theo Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, ở bậc tiểu học cần tập trung vào dạy người và học lễ cho học sinh.

Trong ảnh: Học sinh Trường Tiểu học Võ Trường Toản, quận 10, TP HCM trong một giờ học Ảnh: TẤN THẠNH

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá đạo đức học sinh hiện nay xuống cấp đến mức báo động. Theo bà Doan, nếu muốn thay đổi sản phẩm đào tạo thì cần chỉ thẳng vào khiếm khuyết, phải xác định thực tế mục tiêu giáo dục của từng cấp học, xem khiếm khuyết cái gì thì sửa cái đó. Ví dụ, ở bậc tiểu học, giáo dục nhân cách phải được chú trọng vì nó chi phối tất cả quá trình sau này, bậc tiểu học cần tập trung vào dạy người và học lễ...

Ở bậc THPT, PGS Văn Như Cương cho rằng nếu đặt câu hỏi “học phổ thông để làm gì?”, câu trả lời đồng loạt sẽ là “để thi vào ĐH”. Theo ông, chương trình phân ban đã thất bại, vì thế sau THPT, chỉ có con đường duy nhất nhưng lại rất lệch lạc là thi lên ĐH và CĐ. Cách sửa sai ở đây chỉ có thể là xác định lại mục tiêu của bậc học phổ thông, thay đổi mạnh mẽ chương trình và cấu trúc lại hệ thống bậc phổ thông với thời gian học là 11 năm. Theo đó, sau 5 năm tiểu học, 4 năm trung học cơ sở, học sinh có thể chia 2 nhánh, một là học tiếp THPT (khoảng 40%) để thi vào ĐH, số còn lại (60%) vào học các trường trung học nghề.

Trông chờ SGK mới

PGS Trần Thị Tâm Đan, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, đã đưa ra 8 giải pháp đổi mới giáo dục phổ thông, trong đó nhấn mạnh đến việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK). Theo bà Tâm Đan, chương trình và SGK mới phải được xây dựng theo hướng giảm tải tối đa, tinh gọn, cập nhật và khả thi, giải quyết những vấn đề mà chương trình hiện nay chưa giải quyết xong, đó là phương thức thực hiện giáo dục thể chất, giáo dục mỹ học, phân hóa ở cấp THPT. Tuy nhiên, trên thực tế, các chuyên gia giáo dục đang rất lo lắng vì ngành giáo dục đang “hết sức chậm chạp” trong việc đổi mới này.

Bộ GD-ĐT cho biết năm 2015 sẽ có chương trình và SGK đổi mới. Tuy nhiên, PGS Văn Như Cương cho rằng đó là “điều khó tin” vì đề án đổi mới chương trình và SGK mới chưa được thông qua và cũng chưa được phổ biến rộng rãi để lấy ý kiến các giới, ngành.

Bỏ thi tốt nghiệp THPT?

Liên quan đến cải cách thi cử, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã đề nghị Bộ GD-ĐT nghiên cứu bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT. Lý do, theo bà, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp trên toàn quốc năm nào cũng đạt 95% - 96%. “Chỉ một năm khi thực hiện cuộc vận động “2 không” là thắt chặt, có trường chỉ đỗ tốt nghiệp 10%-20%, thậm chí có lớp không có học sinh nào đỗ. Liệu có thắt chặt mãi được không? Nếu thắt thì phải thắt khâu quản lý, thắt quá trình dạy và học để bỏ kỳ thi này” - Phó Chủ tịch nước phân tích.

Một lý do nữa cũng được Phó Chủ tịch nước nêu ra, đó là kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ được tổ chức quá gần nhau gây căng thẳng cho thí sinh cũng như tốn kém cho xã hội. “Hai kỳ thi quá gần nhau vừa khổ cho gia đình vừa khổ cho nhà trường” - bà Doan nói.

Quan điểm của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan được nhiều chuyên gia giáo dục dự hội nghị đồng tình.

Phải đổi mới căn bản, toàn diện

Cùng ngày, Chính phủ đã nghe và cho ý kiến về đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” (gọi tắt là đề án).

Trình bày dự thảo đề án, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho biết ngoài mục tiêu đến năm 2030, giáo dục Việt Nam trở thành nền giáo dục mở, chất lượng cao, đạt trình độ giáo dục tiên tiến trong khu vực và hội nhập quốc tế..., đề án cũng thẳng thắn nhìn nhận hàng loạt hạn chế, yếu kém như chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội...

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến phân tích: Đề án phải có các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra “sản phẩm” khỏe cả về thể chất lẫn tâm hồn. Bà Tiến cũng dẫn ví dụ Singapore “hóa rồng” là do họ ý thức rất lớn về phổ cập tiếng Anh cho người dân nhưng đây lại là điểm yếu của nền giáo dục Việt Nam. Bà Tiến dẫn ví dụ 2 người con trong gia đình bà cho thấy sự khác biệt rất lớn do trình độ tiếng Anh cũng như cách học, nơi học: “Một đứa học trường chuyên, chương trình rất nặng, thân thể không lớn nổi; một đứa thì chỉ tập trung học tiếng Anh nhưng kiếm được học bổng ở nước ngoài”.

Cho ý kiến về đề án, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục là vấn đề khó nhưng phải cố gắng”. Thủ tướng đề nghị ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát lại bố cục, nội dung của đề án, đặc biệt mục tiêu đổi mới, các nhiệm vụ và giải pháp... “Vấn đề mấu chốt là đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức để đề án đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” - Thủ tướng nhấn mạnh.

Bảo Trân

YẾN ANH

========================

Mấy vấn đề cải cách, đổi mới, canh tân.... giáo dục này bàn hình như cả ...20 năm nay. Lão Gàn này cũng có vài bài bàn rồi thì phải. Hình như cũng ở trong cái "Quán zdắng" này!

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay