laviedt

Chuyện Lạ SƯu TẦm..

288 bài viết trong chủ đề này

Lục địa Atlantis: Huyền thoại hay sự thật?

Hình ảnh lục địa Atlantis, một quốc gia vĩ đại và hùng cường, mà sự thống trị đối với thế giới cổ đại đột ngột chấm dứt chỉ sau một thảm họa, đã kích thích nhiều nhất trí tưởng tượng của nhân loại suốt hơn hai nghìn năm qua. Tất cả bắt đầu từ một huyền thoại về Atlantis.

Mặc dù Atlantis được xem là đạt tới đỉnh cao vinh quang hơn 11 nghìn năm trước, nhưng nó chỉ xuất hiện trong thư tịch khoảng 2.350 năm trước, từ 359 đến 347 năm trước Công nguyên. Cái tên đầy gợi cảm Atlantis xuất hiện trong các cuộc đối thoại của nhà triết học Hy Lạp cổ đại lừng danh Plato, Timaeus và Critias, vốn được đặt theo tên các nhân vật trong hai cuộc trao đổi tưởng tượng giữa Socrates và học trò.
Posted Image
Thành phố Atlantis qua mô tả của Plato (Ảnh: unmuseum.org)
Mở đầu phần đối thoại Timaeus, Socrates nhắc tới cuộc thảo luận hôm trước về một xã hội “hoàn thiện”. Ở đây Plato nhắc tới cuộc đối thoại nổi tiếng nhất của ông, Nền cộng hòa, mà ông đã viết từ nhiều năm trước. Và Plato mượn lời Socrates để kể ra hàng loạt đặc điểm cần có của một chính phủ hoàn hảo mà ông đã mường tượng trong Nền cộng hòa: thợ thủ công và

nông dân tách khỏi quân đội; quân nhân kỷ luật cao, được huấn luyện thể lực và âm nhạc, sống cộng đồng và không có tài sản riêng.

Socrates không dừng cuộc tranh luận ở mặt lý thuyết mà yêu cầu học trò đánh giá trên khía cạnh triết học thực hành. Ông cho rằng họ cần xem xét tính hoàn thiện của một xã hội phù hợp với các quan niệm viết trong Nền cộng hòa bằng cách đặt nó đối diện với một cuộc chiến tranh.

Critias kiểm tra đề xuất của người thầy bằng đề nghị: “Xin (thầy Socrates) hãy nghe một câu chuyện tuy lạ nhưng có thật”. Critias nói rằng, ông nội cũng tên là Critias kể cho anh nghe câu chuyện, và ông nội anh thì nghe người cha là Dropides kể lại. Dropides biết chuyện nhờ nhà hiền triết Hy Lạp Solon, còn Solon được các tu sĩ Ai Cập kể cho biết khi ông ở Ai Cập vào khoảng năm 600 trước Công nguyên. Theo những gì Plato viết trong Critias, cái mà chúng ta biết chính là một dị bản của câu chuyện có nguồn gốc từ hơn 200 năm trước đó.

Quốc gia hoàn thiện, đó là Athens chứ không phải Atlantis

Các tu sĩ Ai Cập kể cho Solon nghe câu chuyện về thành phố Athens cổ, “được quản lý tốt nhất trong tất cả các thành phố trên thế giới”. Đó chính là Athens cổ từ 9.300 năm trước thời Plato, được ông dùng làm mô hình của một quốc gia lý tưởng. Các tu sĩ kể với Solon về chiến công anh dũng nhất của người Athens, họ đã đánh bại một thế lực hùng mạnh đang chuẩn bị tiến hành cuộc viễn chinh chống lại cả châu Âu và châu Á. Họ mô tả quốc gia đang bành trướng đó nằm rất xa giữa Đại Tây Dương (Atlantic). Và đó là lý do của cái tên Atlantis.

Người Atlantis đã tràn qua Bắc Phi trên đường tiến về Ai Cập. Nhưng sau thất bại trước Athens, Atlantis bị các vị thần phá hủy hoàn toàn trong những cơn động đất và đại hồng thủy khủng khiếp, đó là theo lời kể của Critias.

Đảo quốc Atlantis bị phá hủy một phần vì thảm họa tự nhiên
Đảo quốc Atlantis bị phá hủy một phần vì thảm họa tự nhiên (Ảnh: occultopedia.com)
Khi thuật lại câu chuyện về Atlantis, Critias thưa với Socrates: “Hôm qua khi thầy kể về một thành phố trong câu chuyện đã ăn sâu trong óc con, con rất ngạc nhiên nhận thấy rằng, không hiểu vì sự tình cờ bí ẩn nào mà chuyện của thầy trùng khớp với lời kể của Solon”. Trên thực tế, mô tả của Critias về xã hội Hy Lạp cổ trùng hợp hoàn hảo – và không hề ngẫu nhiên – với quan niệm nhà nước lý tưởng của Plato trong tác phẩm Nền cộng hòa.

Nguồn gốc lịch sử của Atlantis?

Plato mô tả đảo quốc Atlantis hay Athens cổ đại dựa trên bằng chứng lịch sử hay chỉ dựa vào hư cấu? Trên thực tế có một nền văn minh rực rỡ tại Địa Trung Hải - đảo Crete của người Minoan, thậm chí còn xa xưa hơn xứ Hy Lạp của Plato - và nó cũng bị phá hủy một phần vì thảm họa tự nhiên.

Nhiều học giả hiện đại cho rằng, mặc dù quy mô và vị trí của Atlantis kém chính xác trong Critias (có thể do dịch sai), câu chuyện của Plato dựa trên vụ núi lửa phun khủng khiếp tại Thera, hòn đảo nằm ở phía đông Hy Lạp và phía bắc Crete trong biển Aege. Miệng núi lửa của lần phun nham thạch tại Thera thế kỷ XVII hay XVI trước Công nguyên có kích thước lớn gấp hai lần dấu vết tại Krakatoa, mà lần phun vào năm 1883 thì đã giết chết hàng chục ngàn người. Tai họa tại Thera chắc chắn thảm khốc hơn nhiều, đến mức mà ngay tại Ai Cập, là nơi chỉ phải chịu ảnh hưởng gián tiếp, người ta cũng nhận biết được.

Với một số người, đảo Crete của người Minoan chính là Atlantis và trong Critias, Plato đưa ra một bức tranh có phần không chính xác về sự tàn phá nó như một hệ quả của núi lửa phun tại Thera. Tuy nhiên, để khẳng định điều đó, ta cần bỏ qua những chi tiết thực tế, hay ít nhất cần giải thích tại sao Crete lại được đặt sai vị trí địa lý, sai kích thước, sai tên, chưa bao giờ gây chiến với Athens và không bị phá hủy trong một thảm họa nào. Chứng cứ khảo cổ học cho thấy, mặc dù các cộng đồng người Minoa sống dọc bờ biển bị sóng thần tàn phá nặng nề sau vụ nổ tại Thera, nền văn minh Minoan không chỉ sống sót mà còn phát triển rực rỡ hơn trong khoảng hai trăm năm nữa.

Nhiều tác giả khác cho rằng, chế độ thuộc địa kỳ diệu của người Minoan tại Thera là mô hình của Atlantis. Rõ ràng là sự định cư của người Minoan tại đây đã bị tàn phá vì núi lửa, nhưng cũng hoàn toàn rõ ràng là, Plato không nói về sự suy tàn của một nền văn minh cổ đại. Trong khi đó, Thera cũng là một địa chỉ sai, quy mô và niên đại sai nên không thể là mô hình trực tiếp của Atlantis.

Atlantis như tưởng tượng của thời hiện đại

Không cuộc tranh luận nào về Atlantis được xem là đầy đủ nếu không nhắc tới những tuyên bố mang tính tưởng tượng trong thế kỷ XIX và XX về lục địa đã mất tích. Hơn bất cứ ai, nghị sĩ bang Minnesota Ignatius Donnelly, người đã hai lần thất bại trong cuộc chạy đua vào chức phó tổng thổng Mỹ và là một nhà sử học nghiệp dư, đã làm huyền thoại sống lại bằng cuốn sách Atlantis: một thế giới trước thời hồng thủy vào năm 1881.

Theo Donnelly, Atlantis của Plato là ngọn nguồn của mọi thành tựu văn hóa và mọi nền văn minh tại Ai Cập, Tây Á, Ấn Độ và châu Âu, cũng như Namvà Bắc Mỹ. Lập luận của Donnelly không dựa trên khoa khảo cổ hay địa lý và không hề có bằng chứng nào về nguồn gốc chung của mọi nền văn hóa. Tuy nhiên so với một số nhà tư tưởng cuối thế kỷ XIX khác, Donnelly vẫn là khuôn mẫu của sự tự kiềm chế.

Phong trào Theosophy (thần triết học) của Helena Blavatsky, một phụ nữ gọi hồn “nổi tiếng” nước Mỹ, giả thuyết rằng cư dân Atlantis di chuyển bằng máy bay và trồng trọt hoa lợi thu được từ người ngoài hành tinh. Gần đây hơn, các nhà tâm linh thế kỷ XX tuyên bố tiếp xúc được với các linh hồn từ lục địa đã mất tích và được họ khuyên nhiều điều hay để giải quyết những bế tắc của cuộc sống hiện đại. Tất nhiên không thể có bằng chứng ủng hộ những tuyên bố huyễn hoặc như thế.
Posted Image
Đã có nhiều câu chuyện về thảm họa tự nhiên tàn phá một quốc gia hùng mạnh hơn 1.000 năm trước thời Plato (Ảnh: occultopedia.com)
Posted Image
Đảo quốc Atlantis bị phá hủy một phần vì thảm họa tự nhiên (Ảnh: occultopedia.com)
Quan điểm của Plato

Đã có nhiều câu chuyện về thảm họa tự nhiên tàn phá một quốc gia hùng mạnh hơn 1.000 năm trước thời Plato

Đã có nhiều câu chuyện về thảm họa tự nhiên tàn phá một quốc gia hùng mạnh hơn 1.000 năm trước thời Plato (Ảnh: occultopedia.com)
Không thể nghi ngờ một sự thật là Plato đã dùng kiến thức lịch sử để dựng nên các cuộc đối thoại về lục địa Atlantis của ông. Dường như đã có nhiều câu chuyện về thảm họa tự nhiên tàn phá một quốc gia hùng mạnh hơn 1.000 năm trước thời Plato, và ông đã dùng chúng để chuyển bức thông điệp của mình.

Tuy nhiên, những người ủng hộ việc thảo luận chỉ riêng trên khía cạnh văn học của Critias cũng nhận thấy rằng, Plato không định viết sử, nhưng một số phần trong truyện đã được dùng có chủ ý như những ẩn dụ đạo đức mà ông muốn thảo luận. Chẳng hạn trong cuốn Atlantis bị phá hủy, Rodney Castleden cho rằng, Atlantis của Plato là tổng hợp của đảo quốc Crete và Thera, cũng như cần nhận thấy rằng, một phần câu chuyện dành để kể về lịch sử đương thời của Hy Lạp, gồm cả cuộc chiến tranh giữa Athens và xứ Sparta.

Cuối cùng cần phải thấy rằng, mô tả Atlantis trong Critias tuy rất gần với thực tiễn của các xã hội cổ đại nhưng lại nằm ngoài chủ đích của Plato. Với Plato, Atlantis không phải là một nền văn minh, mà là một phương tiện truyền bá tư tưởng. Những gì ông đặt vào miệng Critias không được sáng tạo như những bằng chứng lịch sử, mà được dùng cho một chức năng quan trọng hơn đối với ông, vốn là triết gia chứ không phải là nhà sử học. Để lập thuyết, Plato cần hư cấu Atlantis như một đối thủ không thể vượt qua. Mô tả chi tiết về Atlantis là cách Plato gây ấn tượng với người đọc về sự giàu có vật chất, sức mạnh công nghệ và lực lượng quân sự.

Vậy câu chuyện về một Athens nhỏ hơn, nghèo nàn hơn, công nghệ lạc hậu và thế lực yếu hơn mà lại chiến thắng cái đảo quốc hùng mạnh ấy đã chuyển đến cho chúng ta bức thông điệp gan ruột của Critias: Cái quyết định lịch sử không phải là của cải hay sức mạnh mà quan trọng hơn là cách thức quản lý xã hội và con người. Đối với Plato, thành tựu trí tuệ của một xã hội có vai trò quan trọng hơn và luôn luôn vượt trên của cải hay sức mạnh vật chất. Đó chính là điều mà Plato muốn nói với chúng ta.

Theo An ninh thế giới

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cô gái có “đôi mắt X-quang” :)

Với khả năng nhìn thấu nội tạng trong cơ thể, Natasha Demkina sinh năm 1987 ở thành phố Saransk (Nga) được mệnh danh là “cô gái có cặp mắt tia X”. Khả năng chẩn đoán bệnh bằng mắt của cô đôi khi còn chính xác hơn cả những bác sĩ có trang thiết bị y tế hiện đại hỗ trợ, và đã được các khoa học gia ở Anh, Nhật chứng nhận.

"Cặp mắt tôi có 2 cách nhìn. Nếu muốn xem thể trạng sức khỏe của ai đó, tôi có thể dễ dàng chuyển sang cách nhìn thứ hai trong tích tắc. Chỉ cần tập trung suy nghĩ, tôi có thể nhìn rõ toàn bộ cấu trúc trong cơ thể người – vị trí cũng như chức năng của các cơ quan. Thật khó giải thích làm thế nào tôi có thể nhận biết bệnh tật trong cơ thể. Các nội tạng có vấn đề đều sinh ra một loại phóng xạ. Cách nhìn thứ hai của tôi chỉ “làm việc” vào ban ngày” - Natasha mô tả hiện tượng của bản thân như thế.

Năm lên 10, một ngày nọ Natasha nói với mẹ về cấu trúc trong cơ thể của bà. Do không biết dùng thuật ngữ y học nên cô mô tả thận là hạt đậu và ruột là chiếc vòi xếp nếp. Hoảng sợ, mẹ Natasha đưa con đến bác sĩ. Vừa đến phòng mạch, cô đã khiến bác sĩ bối rối khi mô tả các bộ phận trong cơ thể ông. Natasha có thể “siêu âm” từng nội tạng, xác định tình trạng bệnh tật cũng như nhận diện tế bào, vi khuẩn hoặc vi-rút trong cơ thể. Theo báo chí Nga, những chẩn đoán của cô nhiều lúc còn chính xác hơn bác sĩ có trang thiết bị y tế tiên tiến hỗ trợ. Tuy nhiên, giống như câu “Bụt nhà không linh”, Natasha không thể nhìn thấy nội tạng cũng như chẩn bệnh của chính mình.

Posted Image

Natasha hy vọng có thể dùng cặp mắt của mình để cứu người. (Ảnh: mrbadak.com)

Hiện tượng kỳ lạ của Natasha nhanh chóng lan truyền khắp nước Nga và vượt ra biên giới quốc gia. Đầu năm 2004, sau khi tốt nghiệp trung học, em được các chuyên gia y học mời đến Luân Đôn trình diễn khả năng của mình trực tiếp trên truyền hình nước này. Natasha cũng tham gia một cuộc kiểm chứng do báo The Sun tổ chức. Người được chọn là ký giả của The Sun Briony Warden, và Natasha không hề biết cô này bị đa chấn thương trong một vụ lật ô tô cuối năm. Natasha chẩn bệnh trong tình trạng Warden mặc nguyên quần áo.

“Lúc đầu tôi còn hoài nghi cho đến khi cô ấy mô tả đúng các vết nứt trong cơ thể cứ như cô ta đang xem phim X-quang của mình. Đầu tiên cô ấy nói trúng vùng lưng bị thương đang dần hồi phục. Cô ấy mô tả xương chậu của tôi mất cân xứng và chỉ ra bên phải có nhiều vết nứt. Khi nhìn vào hàm của tôi, cô ấy nói nhìn thấy “có vật thể lạ” (Briony được gắn miếng kim loại bằng titan để nâng xương hàm). Tuyệt nhất là lúc cô ấy phát hiện vết thương trong chân trái của tôi. Tôi ngạc nhiên vì cô ấy chỉ ra 2 đoạn gãy ở ống quyển và nói rằng nhìn thấy dấu vết của đinh, vít kim loại trong xương. Không nhìn vết sẹo trên da, cô ấy không thể biết rằng trước đó 2 tuần, chân của tôi đã được “gia cố” với nhiều đinh vít. Cô ấy thậm chí còn cho biết những vết sẹo do đinh vít để lại giờ đã được phủ lớp mô mới. Điều này hoàn toàn chính xác vì phim X-quang mới nhất của tôi đã cho thấy điều đó”, nhà báo Briony kể lại quá trình Natasha chẩn đoán cho mình với vẻ đầy thán phục.

Posted Image

Trong cuộc thử nghiệm tại New York, các bệnh nhân đều mang kính đen đề phòng khả năng Natasha giao tiếp với họ bằng mắt. (Ảnh: www.cfpf.org.uk)

Giáo sư Yoshio Machi của Đại học Tokyo, nổi tiếng là chuyên gia nghiên cứu các khả năng kỳ lạ của con người, năm 2005 mời Natasha sang Nhật thử nghiệm và đã công nhận khả năng của “cô gái có đôi mắt X-quang”. Trong các cuộc thử nghiệm, cô có thể nhìn thấy một bệnh nhân có khớp gối giả, một người có nội tạng nằm ở vị trí không cân xứng, một phụ nữ vừa mới cấn thai và một bệnh nhân bị vẹo xương sống dạng gợn sóng hiếm gặp. Khi đối chiếu hình vẽ của Natasha với phim chụp X-quang cột sống (của bệnh nhân này), các nhà khoa học Nhật không khỏi ngạc nhiên vì cả hai hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, cuộc thử nghiệm chưa dừng lại. Giáo sư Yoshio đưa Natasha đến một bệnh xá thú y, và nhờ cô đoán bệnh con chó bẹc-giê Đức. Sau khi nhìn 5 phút, cô thấy trong chân phải phía sau của con vật có gắn miếng nẹp. Không chỉ vậy, Natasha còn khiến các nhà khoa học xứ Mặt trời mọc ngạc nhiên khi trình diễn khả năng nhìn ra bệnh qua ảnh. Khi được cho xem tấm ảnh khổ làm hộ chiếu của một người, cô nhanh chóng kết luận người trong ảnh mắc bệnh gan (?!).

Mơ ước trở thành bác sĩ để có thể hành nghề cứu người một cách danh chính ngôn thuận, sau khi tốt nghiệp phổ thông năm 2004, Natasha thi vào Đại học Y Mát-xcơ-va. Hiện nay, cô đang làm việc cho Trung tâm Chẩn đoán đặc biệt ở Mát-xcơ-va.

THIÊN LAM (Theo Pravda, Báo điện tử Cần Thơ)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kéo cày trả nợ

Chuyện nầy trích ở "Chuyện cổ nước Nam". Dầu rằng, người ta có thể bảo chuyện cổ là chuyện bịa đặt, nhưng thấy tác giả tin tưởng Luật Nhơn Quả và có dụng ý khuyến thiện, chúng tôi mượn chép ra đây:

Xưa có một người tên Châu Văn Ðịch, làm ăn vất vả, cửa nhà đói kém, nhưng tánh khí hiền lành, ăn ở thật thà có nhơn, có đức.

Trong hạt có một nhà giàu thường cho người ấy vay nợ, năm nào cũng vậy, vay vay, trả trả đã nhiều.

Gặp năm mất mùa, người ấy không trả được nợ, mà ông nhà giàu cũng không hỏi đến. Mấy năm sau, người ấy chết đi, nợ vẫn còn lại. Nên lúc hấp hối còn trối với con rằng:

"Nợ nần chưa trả cho ai,

Hồn nầy thác xuống tuyền đài chưa yên".

Một đêm, ông nhà giàu kia nằm mơ, nghe có tiếng người nói ở bên tai rằng:

"Tái sinh chưa dứt hương thề,

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai".

Sáng ra ông thấy con trâu đẻ ra được con nghé trên lưng có hai chữ "Văn Ðịch".

Con nghé mỗi ngày một lớn, khôn ngoan dễ bảo, cày bừa rất khỏe. Người biết chuyện, ai cũng bảo rằng:

"Người ăn thì còn,

Con ăn thì hết.

Ðã đến lúc chết,

Hãy còn nhớ ơn".

Cách ít năm, hai đứa con Văn Ðịch khôn lớn lên, làm ăn nhờ Trời cũng khá. Một hôm đang cày ngoài đồng, nghe thấy ở thửa ruộng gần đấy có người bảo con trâu rằng:

- Văn Ðịch! Văn Ðịch! Nhanh chơn, mau bước, kẻo đã trưa rồi.

Hai đứa con nghe kêu tên cha, ngạc nhiên chạy sang bên ruộng hỏi thì người kia nói rằng:

- Con trâu nầy từ lúc sanh ra, trên lưng có hai chữ "Văn Ðịch", mà có gọi đúng tên nó như thế, thì nó mới chịu làm.

Lúc về hai đứa con vội vàng sang nhà ông nhà giàu hỏi chuyện tỏ ý muốn mua con trâu, thì ông ấy bảo rằng:

- Trước tên "Châu Văn Ðịch" có vay nợ ta, không trả được ta cũng không đòi? Có lẽ gì vậy, mà phải hóa kiếp làm con trâu nầy trả nghĩa cho ta. Ðã mấy năm nay nó làm ăn chịu khó, trong nhà ta đây cũng được thạnh vượng. Nó trả như thế, ta cho cũng là đủ rồi. Vậy hai người có phải là con, muốn mua chuộc về thì ta để lại cho. Ta lại trả cả văn khế cũ đem về mà hóa kiếp cho yên hồn cha.

Khi hai đứa con chuộc được con trâu về, vừa đem tờ văn khế ra đốt, thì nó lăn ra chết. Thế là nó đã trả sạch được nợ kiếp trước rồi.

Thấy chuyện nầy, người ta mới đặt câu "Kéo cày trả nợ" thành câu tục ngữ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

"Nợ nần chưa trả cho ai,

Hồn nầy thác xuống tuyền đài chưa yên".

Một dị bản khác cho câu trên chính là chuyện tình Trương Chi nổi tiếng trong nền văn hiến Việt. Câu này có ghi như sau:

Nợ tình chưa trả cho ai.

Khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan

Thiên Sứ giới thiệu

Share this post


Link to post
Share on other sites

SỰ KỲ LẠ CỦA ĐÁ THẠCH ANH

Nguồn: vietlove.com

Quả cầu đá thạch anh.

Các nhà trường sinh học cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai...

Viên đá màu nhiệm

Từ thời xa xưa, thạch anh (quarta) đã được coi là một thứ đá màu nhiệm. Thạch anh được gọi là băng tinh, không tan thành nước, trông trong suốt như pha lê, có một đặc tính đáng chú ý: Nó bao giờ cũng mát lạnh khi ta cầm lên tay. Bởi vậy từ xưa, để kiểm tra xem là đồ thật hay đồ giả, thợ kim hoàn thường áp nó vào má xem có lạnh không.

Ngoài ra, các nhà trường sinh học còn cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai...

Hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX việc dùng viên đá thạch anh để bói đã trở thành "mốt" thực thụ ở nước Anh. Đối với một số người nhiệt tình, việc bói này đã mang lại kết quả mỹ mãn và do đó đã trở thành một nghề ăn nên làm ra và rất nổi tiếng. Một trong những thầy bói lừng danh như vậy ở đầu thế kỷ XX là một người Anh tên là Fon Burg. Một loạt vụ việc rắc rối mà Fon Burg khám phá ra nhờ viên đá thạch anh đã làm cho tên ông ta nổi như cồn.

Nhà tiên tri nổi tiếng

Vào những năm 1940 ở Mỹ xuất hiện một nhà nữ tiên tri nổi tiếng tên là Jane Dickson (nguyên họ là Pinkert). Ngay từ lúc mới 5 tuổi, Jane đã biểu diễn cho người thân xem khả năng tiên đoán siêu phàm của mình: em đã tiên đoán những sự kiện tương lai, các món quà mà khách đem đến, cái chết của những người thân thích...

Năm lên 8 tuổi, cô bé đã nhận được một món quà có tính chất định đoạt toàn bộ số phận sau này của em. Sự kiện đáng nhớ này xảy ra trong ngôi nhà của một bà thầy bói người Digan nổi tiếng mà mẹ cô dẫn cô đến để tư vấn. Công việc đầu tiên của bà Digan là xem bàn tay của cô bé: "Cô con gái của bà sẽ trở thành một nhà tiên tri vĩ đại". Sau đó bà ta đưa cho cô bé viên đá thạch anh: "Cháu nhìn thấy gì trong viên đá này?". Jane chăm chú nhìn vào giữa viên đá và bắt đầu miêu tả một địa điểm chưa hề quen biết: một dải bờ hoang dã lởm chởm đá, sóng biển nhấp nhô... "Đấy là quê hương của ta. Ta tặng cháu viên đá này", bà thầy bói Digan nói. Viên đá thạch anh đã lọt vào đúng địa chỉ cần thiết.

Những phỏng đoán chính xác

Chí ít, Jane đã hai lần tư vấn cho Tổng thống Mỹ Roosevelt. Trong cuộc gặp lần thứ nhất vào tháng 11/1944, Roosevelt (bị liệt hai chân phải ngồi trong xe đẩy) hỏi: "Xin cô hãy nói thẳng cho tôi biết liệu tôi còn sống được bao lâu nữa để kết thúc công việc đã bắt đầu?". Jane không thể né tránh câu trả lời: "Nửa năm nữa, thưa ngài tổng thống, mà có thể thậm chí còn ít hơn". Sau cuộc gặp đó được 5 tháng, ngày 12/4/1945, đúng như điều Jane tiên đoán, Roosevelt đã từ trần.

Cuối năm 1956, Jane đã tiên đoán rằng sau chừng 7 năm nữa người kế nhiệm đương kim thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru (1889-1964) sẽ là một người mà tên tuổi họ được bắt đầu bằng chữ "S". Lần này viên đá thạch anh cũng bộc lộ khả năng màu nhiệm của nó: tháng 6/1964 sau khi Nehru qua đời, Lal Bahadur Shatri đã trở thành Thủ tướng Ấn Độ.

Dickson cũng có thể thông báo về số phận của một số người. Chẳng hạn bà đã tiên đoán một cách chính xác tương lai của người nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng Ronald Reagan mà sau này trở thành vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981-1989). Năm 1964, Dickson đã dự báo rằng người Nga sẽ là người đầu tiên đưa con tàu vũ trụ lên mặt trăng, rằng trước năm 2000 bức tường Berlin sẽ bị phá đổ, còn ở La Mã sẽ có vụ ám sát Đức giáo hoàng.

Đặc biệt, Dickson nhìn thấy rất rõ những tấm thảm kịch trong tương lai. Chẳng hạn bà đã báo trước trận động đất năm 1964 ở Aliasca, đã tiên đoán cái chết của J.F.Dales, cái chết của nữ minh tinh Marilyn Monroe, của thủ lĩnh da đen Martin Luther King, của thượng nghị sĩ Robert Kenedy. Bà cũng khuyên can nữ nghệ sĩ Lombard không nên đi máy bay, nhưng Lombard đã coi thường lời cảnh báo tận tình và đã bỏ mạng trong một tai nạn phi cơ.

Danh tiếng trên quy mô thế giới đã đến với Dickson sau vụ ám sát John Kenedy (1917-1963). Sự kiện bi thảm này đã được bà tiên đoán ngay từ năm 1956, khi mà không ai ngờ rằng 5 năm sau vị chính khách ít người biết đến đó sẽ trở thành Tổng thống Mỹ. Song Jane Dickson không chỉ miêu tả cho một nhà báo Mỹ thấy ngoại hình của vị Tổng thống Hoa Kỳ tương lai (mái tóc dày màu hạt dẻ và đôi mắt xanh) mà còn nói rằng kẻ giết ông ta là một người có cái tên bắt đầu bằng chữ "O" hoặc chữ "Q".

Tháng 12/1966, Jane đã làm cho thế giới sửng sốt bằng một lời tiên tri mới: Bà đã báo cho vợ của người phụ trách bộ phận điều khiển các chuyến bay vũ trụ có người lái biết rằng cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ chuẩn bị bay lên mặt trăng. Bà đã cho biết những gì mình nhìn thấy như sau: “Trên sàn quả tên lửa có một cái gì đó rất lạ - nó mỏng trông giống như lá kim loại, nếu có một dụng cụ nào đó rơi vào nó hoặc có ai đó lấy gót giày giẫm lên thì ắt sẽ xảy ra tai họa. Ở phía dưới sàn tôi nhìn thấy một cuộn dây điện rối tung. Cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng linh hồn của họ đang lìa khỏi xác nóng hổi trong những cuộn khói...

Hỡi ôi, và cả lần này lời tiên đoán cũng rất chính xác. Một tháng sau, ngày 27/1/1967 trong khi tập luyện trong con tàu vũ trụ Apollon - 1, 3 nhà du hành vũ trụ Mỹ đã bị thiêu sống. Đó là Virgil Prisom, Edward Wait và Roger Chaffi. Sự cố chập mạch của dây điện ở bên dưới ghế ngồi của Chaffi trong môi trường chứa ôxy nguyên chất lập tức bùng lên thành một ngọn lửa hung hãn. Lời nói cuối cùng mà các nhân viên điều hành vô tuyến điện nghe được là tiếng kêu hấp hối của Roger Chaffi, một thành viên trẻ nhất của phi hành đoàn: "Chúng tôi đang bị thiêu sống! Hãy đưa chúng tôi ra khỏi đây!". Sau 14 giây, một đám khói bao trùm lên buồng điều khiển và con tàu Apollon bị nổ tung vì cháy...

Tiếp cận chân lý

Dickson đã nhiều lần nói rằng sự tiên đoán đến với bà bằng những con đường khác nhau. Đôi khi là do tiếp xúc với một đồ vật mà một người nào đó chạm vào. Đôi khi đó là do nguồn tin "từ trên cao". Nhưng đặc biệt Jane rất coi việc nhìn vào viên đá thạch anh của mình. Bà cho rằng bằng cách khác thì khó mà có được một "bức tranh" chi tiết. Jane Dickson mất ngày 25/1/1997 và đã mang theo sang thế giới bên kia sự bí ẩn đối với các nhà khoa học.

Sự quan tâm đến những hình ảnh hiện ra trên viên đá thạch anh vào những năm gần đây lại dấy lên mạnh mẽ. Điều đó trước hết có liên quan với sự triển khai các công trình nghiên cứu về những khả năng tâm lý của con người. Một loạt thí nghiệm do các nhà khoa học và các bác sĩ tâm lý nổi tiếng của Mỹ tiến hành, cho thấy rằng những hình ảnh hiện lên trên viên đá thạch anh là có thật chứ không là phải là bịa đặt. Những sự việc và những hiện tượng mà các nhà khoa học thâu nhận được trong những cuộc thí nghiệm với những con người cụ thể càng củng cố thêm quan điểm cho rằng thạch anh hay băng tinh có một số tính năng thông tin đặc biệt mà khoa học rồi đây sẽ phải khám phá.

LAVIEDT GIỚI THIỆU

--------------------

http://360.yahoo.com/laviedt

Share this post


Link to post
Share on other sites

KHOA HỌC

Thứ tư, 2/7/2008, 10:44 GMT+7

Nguồn VnExpress

Những vòng tròn kỳ lạ trên cánh đồng ở nam Czech

Cảnh tượng trên không cho thấy những vòng tròn được tạo ra trên một cánh đồng lúa gần thị trấn Liberec, phía bắc cộng hòa Czech, cách thành phố Prague 110 km về phía bắc.

Posted Image

Các hình tròn trong bức ảnh này được chụp xa từ trên máy bay hôm 30/6 vừa qua.

Posted Image

Nguồn gốc của chúng vẫn còn là điều bí ẩn.

(Theo Tân Hoa Xã, Reuters)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sao giống hình bát quái quá. Vòng tròn tâm giữa giống như phân ra âm dương, còn 8 phần ngoài là 8 quái. :P :P

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sao giống hình bát quái quá. Vòng tròn tâm giữa giống như phân ra âm dương, còn 8 phần ngoài là 8 quái. :P :P

Nhận xét rất nhậy cảm.

Thiên Sứ

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chuyện về khúc gỗ đen “kỳ bí”

11/07/2008

Posted Image

Người dân Yên Lạc coi khúc gỗ đen này như một báu vật của quá khứ, gắn liền với cuộc sống hiện tại.

Dù bị lũ cuốn trôi bao xa, khúc gỗ đen ấy cũng biết… tìm đường quay về. Bao nhiêu người tham lam muốn chiếm nó làm của riêng đều gặp những chuyện không may...

Cách Hà Nội chưa đầy 40km, làng Yên Lạc (xã Cần Kiệm, Thạch Thất, Hà Tây) vẫn lặng yên nép mình dưới những bờ tre yên ả, mặc cho trên những con đường vào làng còn ngổn ngang những công trình, dự án nhà máy, khu công nghiệp đang thi công, cát bụi mù mịt.

Câu chuyện nửa thực, nửa hư về khúc gỗ đen nơi đây mà cho đến bây giờ, người dân Yên Lạc vẫn tự hào kể cho nhau nghe khiến không ít người tò mò.

Posted Image

Khúc gỗ "kỳ bí" hiện nay vẫn đang ở bến sông Tích.

Khúc gỗ biết… tìm đường về "nhà"? Khúc gỗ đen nằm trên bến nước sông Tích ngay trước cửa đình, nơi cây đa cổ thụ 9 gốc toả bóng mát. Khúc gỗ có từ bao giờ không ai rõ. Ngay cả những bậc bô lão lớn tuổi nhất trong làng còn bảo rằng, từ ngày bé, họ đã được ông cha kể cho nghe những câu chuyện về nó. Chuyện kể rằng, xưa khi dân làng làm đình, còn thừa một khúc gỗ thông, mọi người đem ra bến nước làm cái bàn giặt. Cái thời ấy từ mấy trăm năm trước rồi, khi dân làng làm lại đình là đâu năm 1452 gì đó. Trước đây, khúc gỗ to và rất chắc. Qua bao nhiêu năm dập vùi sóng nước, nó mòn đi và trở nên đen kịt như bây giờ.

Cụ Từ trông đình năm nay đã ngoại bát tuần, râu tóc bạc phơ. Nhấp chén nước chè, cụ gật gù kể về sự thần bí, linh thiêng của khúc gỗ. Khi nước dâng lên cao, khúc gỗ bị cuốn trôi theo dòng nước. Nhưng sau một thời gian, dân làng lại thấy nó ở nguyên chỗ cũ! Khi con nước lên xuống, khúc gỗ cũng lên xuống theo,

lúc nào cũng ở gần mép nước, không hề lên quá gần bờ hay ngập chìm trong nước.

Posted Image

Trẻ con vẫn vô tư trêu đùa "ông kỳ bí"

Đi khắp làng Yên Lạc, ở đâu chúng tôi cũng được nghe những câu chuyện về sự thần kì của khúc gỗ. Lão chài năm nay đã 87 tuổi thì kể rằng, đêm khuya, lão đi thả lưới về, thỉnh thoảng lại bắt gặp hai nàng tiên nữ mặc áo trắng xoá đang ngồi chơi trên khúc gỗ(?).

Cụ Đồng mấy năm trước cũng từng trông đình thì lại bảo, đêm nằm ngủ, cụ nghe thấy tiếng trẻ con nô đùa, chạy ra thì thấy hai đứa trẻ trần truồng đang vật nhau trên khúc gỗ. Có người đến là chúng biến mất luôn!

Mọi người còn truyền tai nhau câu chuyện về những người tham lam, mang khúc gỗ đó về làm của riêng, đã gặp những chuyện không may, phải mang trả khúc gỗ về lại bến sông. Có người bị tâm thần, có người làm ăn thất bát phải tha hương đi nơi khác.

Anh Kiều Quang Long thì "doạ" chúng tôi bằng câu chuyện anh nghe kể về mấy người bạn anh ở xã bên. Lâu rồi, hơn hai chục năm trước, họ lấy khúc gỗ về định xẻ ra làm cánh tủ. Nhưng xẻ ba lần không được, lần nào cũng gặp tai nạn. Lần đầu gãy cưa, lần thứ hai một người bị khúc gỗ rơi vào gẫy chân, lần thứ ba chính tay ông chủ làm thì máy cưa đã "ăn đứt" năm ngón tay ông!

Không biết những câu chuyện đó có thật không hay chỉ do người lớn tưởng tượng ra để "doạ" trẻ con, khiến chúng sợ không dám ra bờ sông nghịch nước. Bác Tuyết, bố anh Long, còn kể rằng, từ xưa đến nay, bến sông này chưa bao giờ có người chết đuối. Bao nhiêu người rơi xuống, tưởng chết mà vẫn vớt được và được cứu sống.

Câu chuyện tâm linh răn dạy con người

Người dân Yên Lạc vẫn truyền miệng nhau những câu chuyện nửa thực nửa hư ấy và vẫn tin bằng một niềm tin tâm linh không cần lời giải thích.

Cũng có nhiều người cố gắng lý giải cho sự "kỳ bí" của khúc gỗ đen. Người thì cho rằng đó là "khúc gỗ thần"; người thì bảo khúc gỗ ấy lấy từ trong đình ra, được các Thánh đã "yểm bùa", không ai được phạm… Tất cả những lời giải thích ấy thực chất chỉ mang nhiều màu sắc tưởng tượng và không có tính khoa học.

Mấy cụ trong hội người cao tuổi của làng thì cho rằng sự linh thiêng của khúc gỗ đen có liên quan đến bãi đá đen phía cuối làng, cách đình làng và bến nước không xa. Tương truyền rằng, vào cuối thế kỷ thứ IX, một nhà phù thuỷ cao tay của Trung Quốc là Cao Biền đã đến đây trấn yểm. Hiện nay, trên các hòn đá vẫn có hình bước chân trấn yểm của Cao Biền xưa. Trong Bảo tàng tỉnh Hà Tây còn lưu giữ một tấm đồ có đánh dấu những vùng đất trên tỉnh bị Cao Biền yểm mạch.

Posted Image

Cụ Từ trông đình vui vẻ kể chuyện về khúc gỗ "kỳ bí"

Bao nhiêu lời lý giải, song có lẽ thuyết phục nhất là sự giải thích của ông Nguyễn Văn Dậu, Trưởng Ban quản lý khu di tích làng Yên Lạc. Theo ông Dậu, khúc gỗ ấy là gỗ thông, một loại gỗ có khối lượng riêng vào loại trung bình. Khi thả xuống nước, nó không chìm hẳn, cũng không nổi hẳn, chỉ là là mặt đất, mặt nước. Hơn nữa, bến sông bên này lại thoai thoải vì là bên bồi. Chính những điều đó khiến cho khúc gỗ lên xuống cùng dòng nước.

Người dân Yên Lạc vẫn giữ gìn và kể cho con cháu nghe những câu chuyện ấy, không phải để nuôi dưỡng sự mê tín dị đoan mà coi chúng như những câu chuyện dân gian dạy con người biết trọng quá khứ, nhớ tới tổ tiên, không nên tham lam, lấy của chung đem về làm của riêng.

Bao đời nay, người dân Yên Lạc đã quen với sự hiện diện của khúc gỗ đen ấy, gắn bó mật thiết với nó như một thứ không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Các mẹ, các chị vẫn dùng nó làm bàn giặt quần áo.

Về thăm Yên Lạc bây giờ, chúng tôi vẫn bắt gặp hình ảnh những người đi làm đồng về, qua bến sông để chân lên khúc gỗ kỳ cọ; những đám trẻ nhỏ nô đùa với sóng nước, lấy khúc gỗ đen làm cầu, lao mình xuống dòng nước trong veo...

Nơi đây đang chuẩn bị khoác lên mình chiếc áo hào nhoáng "đất thủ đô". Liệu rằng khúc gỗ đen cùng những câu chuyện kì bí có còn "sống" được trong cái ồn ã của cuộc sống thành thị đang ập đến?

Quốc Cường - Tiến Nguyên- báo Dân trí

Nguồn: Hodovietnam.vn

Share this post


Link to post
Share on other sites

Lợn mẹ sinh hạ 'khỉ con'

Posted Image

Chú lợn con quả thực xấu xí.

Ảnh: ifeng.com

Mới đây, một con lợn mẹ tại nhà ông Phùng Trường Lâm, ở Hà Nam, Trung Quốc đã sinh hạ một chú lợn con xấu xí, giống như một con khỉ, đến mức chủ nó cũng cảm thấy bất an.

Chú heo con quả thật có hình thù rất khác thường: mũi hơi dài, luôn bị lật hướng về đỉnh đầu, giữa mũi còn có 2 cái lỗ nhỏ, và còn có thể tự cử động được; mõm của nó thì rộng toang hoác, hàm dưới mọc dài cuộn lên trên, chiếc lưỡi thòi cả ra ngoài; cặp mắt lồi, giống mắt cá vàng, phía trên còn bị che bởi 1 lớp mi mỏng. Bốn chân cũng rất kỳ quặc, chân sau mọc dài hơn chân trước một khúc.

Lợn con ra đời hôm 19/7, nhưng chủ nhà quá kinh hãi nên đã vứt ra cánh đồng ngô ngoài thôn. Không ngờ sau nửa ngày, chú ỉn con lại chạy được lên đường lộ, và sau đó được con ông Phùng đem về, vì đứa trẻ cảm thấy con vật rất thú vị, nhất định không cho bố mẹ vứt chú đi, và thậm chí còn pha sữa cho nó uống.

"Chăm sóc kỹ cho nó, xem nó có thể trưởng thành ra sao”, trong lúc phỏng vấn, có rất nhiều người vừa cười vừa khuyên vợ chồng ông Lâm như thế.

Tịnh Như (theo ifeng.com)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thứ Sáu, 25/07/2008 - 11:52 AM

Cô bé mù 5 tuổi thành thần đồng âm nhạc Hàn Quốc

Posted Image

(Dân trí) - Làng âm nhạc thế giới mới đây bị “rung chuyển” mạnh mẽ sau khi xuất hiện trên mạng internet đoạn video buổi hòa nhạc của một bé gái khiếm thị mới 5 tuổi - thần đồng âm nhạc Hàn Quốc, với hơn 27 triệu lượt người xem.

Cô bé ấy là Yoo Ye-eun. Điều kỳ diệu là cô bé có thể chơi lại bất kỳ bản nhạc nào chỉ sau đúng một lần nghe.

Ngay từ khi chào đời vào năm 2002, cô bé Yoo Ye-eun đã phải chịu nhiều thiệt thòi vì không thể thấy được ánh sáng cuộc đời. Bất hạnh nối tiếp bất hạnh, những người mang nặng đẻ đau ra em rũ áo ra đi trốn tránh trách nhiệm làm cha, làm mẹ của mình. Nhưng rồi may mắn cũng đã đến, khi em được vợ chồng anh Yoo Jang-joo và chị Park Jeong-soon nhận về làm con nuôi.

Tài năng thiêm bẩm của Yoo Ye-eun được phát hiện tình cờ lúc em mới chỉ lên 3. Bố mẹ nuôi của Yoo đã thực sự kinh ngạc khi em bắt đầu chơi một bản nhạc Hàn Quốc mà mẹ nuôi em thường hát khi đệm đàn trên một chiếc piano cũ. Từ giây phút đó Yoo đã tìm được cái đích cho cuộc đời mình là theo đuổi con đường âm nhạc.

Chị Park Jeong-Soon, mẹ nuôi Yoo cho biết: "Khi mới 3 tuổi cháu đã biết chơi đàn piano. Tôi thực sự không biết cháu đã học từ đâu và thật khó có thể tin nổi điều đó. Cháu bị mù và mới có 3 tuổi. Làm sao mà cháu có thể thuộc những phím đàn để chơi được các bản nhạc?".

Yoo đã làm cho hàng triệu người Hàn Quốc phải kinh ngạc và thán phục khi tham dự cuộc thi Ngôi Sao Đế Vương (Star King) trên truyền hình. Với màn trình diễn xuất sắc, em đã giành được giải thưởng trị giá gần 4.000 USD.

Những hình ảnh của em ngay sau đó đã được đưa lên trang web Youtube và ngay lập tức thu hút sự chú ý của hàng chục triệu độc giả.

Ye-eun thậm chí còn được gọi bằng biệt danh “Mozart của Hàn Quốc”. Hiện nay, em nhận được rất nhiều lời mời biểu diễn ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có cả một buổi lễ long trọng tại Singapore với sự tham dự của Thủ tướng Lý Hiển Long.

Hồi tháng 5 năm nay, Ye-eun đã có dịp được so tài với cậu bé Connie Talbot 7 tuổi - thần đồng âm nhạc của nước Anh.

Ye-eun vẫn rất cần mẫn luyện tập piano hàng ngày để thực hiện ước mơ trở thành một nghệ sĩ piano “vĩ đại”. Chính vì thế, trong bản nhạc em chơi còn có có cả những tác phẩm kinh điển của các thiên tài âm nhạc thế giới như Mozart, Beethoven và cả Chopin.

Bạn cón thể xem video buổi biểu diễn của cô bé Ye-eun theo đường link dưới đây:

http://dantri.com.vn/chuyenla/Co-be-mu-5-t...08/7/243144.vip

Anh Nguyễn

Theo Mailonline

Share this post


Link to post
Share on other sites

Hồi tháng 5 năm nay, Ye-eun đã có dịp được so tài với cậu bé Connie Talbot 7 tuổi - thần đồng âm nhạc của nước Anh.

Thật cảm động khi nghe bài hát này. Xin cảm ơn chú Thiên Sứ nhé.

Cô NCM cảm ơn 2 cháu nhé.

You raise me up

When I am down and, oh my soul, so weary;

When troubles come and my heart burdened be;

Then, I am still and wait here in the silence,

Until you come and sit awhile with me.

You raise me up, so I can stand on mountains;

You raise me up, to walk on stormy seas;

I am strong, when I am on your shoulders;

You raise me up: To more than I can be.

<object width="425" height="344"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/watch?v=t0GEGvBt9m4&hl=en&fs=1"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><embed src="http://www.youtube.com/watch?v=t0GEGvBt9m4&hl=en&fs=1" type="application/x-shockwave-flash" allowfullscreen="true" width="425" height="344"></embed></object>

Hình như NCM không chèn file youtube vô được rùi :rolleyes: .

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thật cảm động khi nghe bài hát này. Xin cảm ơn chú Thiên Sứ nhé.

Cô NCM cảm ơn 2 cháu nhé.

You raise me up

When I am down and, oh my soul, so weary;

When troubles come and my heart burdened be;

Then, I am still and wait here in the silence,

Until you come and sit awhile with me.

You raise me up, so I can stand on mountains;

You raise me up, to walk on stormy seas;

I am strong, when I am on your shoulders;

You raise me up: To more than I can be.

<object width="425" height="344"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/watch?v=t0GEGvBt9m4&hl=en&fs=1"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><embed src="http://www.youtube.com/watch?v=t0GEGvBt9m4&hl=en&fs=1" type="application/x-shockwave-flash" allowfullscreen="true" width="425" height="344"></embed></object>

Hình như NCM không chèn file youtube vô được rùi :rolleyes: .

Cô NhatChiMai kính mến .

Cái cháu hướng dẫn đưa khung video lên web bên vietlyso chỉ có tác dụng trong vietlyso vì bên đấy họ có hỗ trợ công cụ này ,còn hiện nay trang web :www.lyhocdongphuong.org.vn tạm thời vẫn chưa hỗ trợ, cho nên cô cứ dẫn đường link yotobe vào trực tiếp web cho mọi người cùng thưởng thức .

Chào cô .

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cô NhatChiMai kính mến .

Cái cháu hướng dẫn đưa khung video lên web bên vietlyso chỉ có tác dụng trong vietlyso vì bên đấy họ có hỗ trợ công cụ này ,còn hiện nay trang web :www.lyhocdongphuong.org.vn tạm thời vẫn chưa hỗ trợ, cho nên cô cứ dẫn đường link yotobe vào trực tiếp web cho mọi người cùng thưởng thức .

Chào cô .

Thank hiepsimathi_1410 nhiều nhé. NCM đã post link bài You raise me up do bé Connie hát và bé Ye Eun đệm piano rùi á.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Những quái vật của biển cả

Với những hình thù kỳ quái và màu sắc lạ thường, nhiều loài sinh vật dưới đại dương trông không khác gì những vị khách đến từ ngoài hành tinh.

> Những quái vật quanh ta

Posted ImagePosted ImagePosted ImagePosted ImagePosted ImagePosted ImagePosted ImagePosted ImagePosted Image

Theo Pravda ( nguồn vnexpress )

Share this post


Link to post
Share on other sites

có 1 con mèo

--------------------------------------------------------------------------------

Có một con mèo đã một triệu năm rồi mà vẫn chưa chết.

Nó đã từng chết đi một triệu lần, rồi sống lại một triệu lần.

Một con mèo vằn bảnh bao.

Posted Image

Có một triệu người đã yêu thương con mèo ấy, và một triệu người đã khóc khi con mèo ấy chết.

Mèo thì chưa khóc lần nào cả.

Có khi người chủ của mèo là một ông vua. Mèo ghét nhà vua lắm.

Nhà vua giỏi chiến trận, lúc nào cũng bày chuyện đao binh. Và ngài nhốt mèo vào một cái cũi thật sang trọng để đem theo mình khi ra trận.

Một ngày nọ, mèo trúng phải một mũi tên bay tới, lăn ra chết.

Nhà vua đã ôm mèo vào lòng mà khóc giữa trận chiến.

Rồi nhà vua bèn ngưng chiến, quay về thành, chôn mèo trong vườn ngự.

Có khi người chủ của mèo là một thủy thủ. Mèo ghét biển lắm.

Người thủy thủ đã đem mèo theo anh ta đi khắp các đại dương và ghé lại tất cả các hải cảng trên thế giới.

Một hôm, mèo bị rơi từ trên tàu xuống biển. Mèo không biết bơi. Người thủy thủ vội vàng thả lưới vớt mèo lên, nhưng mèo đã chết vì ướt sũng.

Người thủy thủ ôm mèo vào lòng, giờ đây bèo nhèo như chiếc giẻ rách ướt mèm, mà khóc òa lên. Rồi anh ta chôn mèo dưới gốc cây trong công viên nơi một thành phố cảng xa lạ.

Có khi người chủ của mèo là một người làm trò ảo thuật trong gánh xiếc. Mèo ghét gánh xiếc lắm.

Ngày ngày, người làm trò ảo thuật nhốt mèo vào một cái hộp, rồi dùng cưa cưa chiếc hộp ra làm đôi, sau đó lại lấy mèo từ trong hộp ra, vẫn còn nguyên vẹn, và khán giả vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.

Một hôm người làm trò ảo thuật đã lỡ tay cưa mèo đứt làm đôi thật. Ông ta cầm xác mèo đã bị đứt làm đôi, mỗi tay một nửa, mà khóc rống lên.

Không ai vỗ tay cả. Người làm trò ảo thuật đã chôn mèo ở đằng sau rạp xiếc bé như cái chòi .

Có khi người chủ của mèo là một tên kẻ trộm. Mèo ghét tên trộm lắm.

Tên trộm đem mèo theo bên mình khi hắn đi rón rén như mèo vòng quanh những góc phố tối tăm.

Tên trộm chỉ vào những nhà có nuôi chó. Trong lúc chó mải gầm gừ với mèo thì tên trộm cậy tủ sắt.

Một hôm, mèo bị chó cắn chết.

Tên trộm ôm mèo cùng với những viên kim cương mà hắn đã ăn trộm được, vừa khóc vừa lầm lũi đi giữa phố khuya. Rồi hắn về nhà chôn mèo trong khu vườn nhỏ.

Có khi người chủ của mèo là một bà cụ già sống cô độc một mình. Mèo ghét cay ghét đắng bà cụ già .

Bà cụ ngày ngày ôm mèo mà nhìn ra ngoài qua khung cửa sổ nhỏ.

Mèo nằm ngủ suốt ngày trên đùi của bà cụ.

Rồi mèo chết vì già yếu. Bà cụ già lụ khụ đã ngồi khóc suốt một ngày bên xác mèo đã già khụ.

Bà cụ chôn mèo dưới gốc cây trong khu vườn nhỏ.

Có khi người chủ của mèo là một cô bé. Mèo ghét cay ghét đắng cô bé.

Cô bé cõng mèo trên lưng, và ôm mèo thật chặt trong tay khi ngủ. Cô chùi mặt vào lưng mèo mỗi khi khóc.

Một hôm, mèo bị sợi dây của chiếc địu sau lưng cô bé vướng vào cổ mà chết.

Cô bé ôm mèo với cái đầu đã bị thắt gẫy nơi cổ mà khóc suốt một ngày. Rồi cô chôn mèo dưới gốc cây trong vườn.

Mèo đã chết không biết bao lần nhưng chẳng hề chi.

Một lần mèo chẳng phải là của ai cả, mà là mèo hoang.

Đó là lần đầu tiên, mèo được là của chính mình. Mèo yêu chính mình lắm.

Là vì mèo đã trở thành một con mèo vằn bảnh bao.

Mèo cái nào cũng mong được mèo để mắt tới.

Có con đem đến cho mèo một con cá lớn. Có con tặng mèo một con chuột hảo hạng.

Có con đem đến tặng mèo cả quả matatabi quý hiếm mà giống mèo rất thích. Lại có con còn liếm cả những đường lông vằn vện của mèo.

Mèo nói:

-Ta đã từng chết một triệu lần rồi chứ bộ. Đâu phải đợi tới bây giờ. Vớ vẩn !

Là vì mèo chỉ yêu chính mình hơn bất cứ ai khác.

Chỉ có một con mèo duy nhất đã không ngó ngàng tới mèo, một con mèo trắng thật đẹp.

Mèo đến bên mèo trắng, bảo:

-Ta đã từng chết một triệu lần rồi đó nghe.

Mèo trắng chỉ đáp :

-Ờ.

Mèo hơi tức mình. Vì mèo yêu chính mình mà lại.

Ngày hôm sau, rồi hôm sau nữa, mèo tới chỗ mèo trắng, hỏi :

- Chưa sống hết một lần, phải không?

Mèo trắng chỉ đáp :

-Ờ.

Một hôm, mèo đến trước mặt mèo trắng, lộn một lúc ba vòng, rồi bảo :

-Ta đã từng ở với một người làm xiếc.

Mèo trắng chỉ đáp:

-Ờ.

-Ta đã ..một triệu lần..

Mèo ấp úng, rồi đánh tiếng hỏi mèo trắng

-Ở bên cạnh được chứ?

Mèo trắng đáp:

-Vâng.

Thế là mèo ở lại bên cạnh mèo trắng

Mèo trắng sinh được một đàn mèo con xinh xắn.

Mèo cũng không bao giờ còn nói:

-Ta đã ..một triệu lần..

Bây giờ mèo đã yêu mèo trắng và bầy mèo con hơn cả chính mình.

Chẳng bao lâu đàn mèo con lớn lên và đi đâu hết cả, mỗi con một ngả.

Mèo mãn nguyện bảo:

-Lũ chúng nó đã khôn lớn cả rồi.

Mèo trắng đáp :

-Vâng.

và dịu dàng kêu nho nhỏ trong cổ .

Mèo trắng đã hơi có dáng vẻ của một bà cụ. Mèo cũng kêu nho nhỏ trong cổ, ra chiều âu yếm đáp lại.

Mèo chỉ mong sẽ sống lâu, mãi mãi cùng với mèo trắng.

Rồi đến một ngày, mèo trắng nằm yên bất động bên cạnh mèo.

Lần đầu tiên trong đời, mèo khóc. Mèo đã khóc từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, rồi lại từ sáng đến tối và rồi lại từ tối đến sáng, cứ thế ..Mèo đã khóc một triệu lần.

Trời sáng, rồi lại tối, mèo cứ khóc mãi, cho đến một hôm mèo không còn khóc nữa.

Mèo đã yên nghỉ bên cạnh mèo trắng.

Mèo không bao giờ còn sống lại một lần nào nữa

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quái vật, ma quỷ và thần thánh: Tại sao chúng ta lại tin? (Phần I).

Tác giả: Robert Roy Britt

Quái vật ngày nay có ở mọi người, niềm tin mà con người dành cho chúng cũng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Điều khó tin hơn là tại sao lại có quá nhiều người bỏ tiền cho những bằng chứng mơ hồ, những mưu đồ mờ ám và những thông tin sai rành rành tuyên truyền về những câu chuyện hoang đường thường chỉ ẩn chứa một sự thật duy nhất, đó là họ đang rút hầu bao của họ vào túi những kẻ cung cấp tin.

Theo một số cuộc phỏng vấn với những người nghiên cứu lĩnh vực này, điều quan trọng là con người muốn tin, lý do rất đơn giản là họ không thể không tin.

Brian Cronk, giáo sư tâm lý học thuộc Đại học miền tây bang Missouri, cho biết: “Rất nhiều người chỉ đơn giản là muốn tin. Bộ não con người luôn luôn cố tìm hiểu căn nguyên xảy ra mọi chuyện, khi lý do chưa rõ ràng, họ có xu hướng bịa đặt ra những lời giải thích kỳ quái”.

Posted Image

Phylis Canion cầm cái đầu của con vật mà bà gọi là con Chupacabra tại nhà của bà ở Cuero, Texas vào thứ 6 ngày 31 tháng 8, năm 2007. Bà phát hiện con vật kỳ lạ nằm chết bên ngoài trại nuôi gia súc, bà nghĩ rằng nó chính là con vật đã giết rất nhiều gà trong trại nuôi của bà. Con vật trông xấu xí có đôi tai lớn được phát hiện vào mùa hè này ở Cuero chẳng phải là con chupacabra hút máu bí ẩn nào cả, mà nó chỉ là một con chó sói đồng cỏ đã già mà thôi. (Ảnh: AP Photo/ Eric Ga0y)

Một câu hỏi có liên quan này sinh lúc này là: Liệu niềm tin vào những điều huyền bí có liên hệ với niềm tin tôn giáo hay không?

Câu trả lời cho câu hỏi trên mang nhiều sắc thái, nhưng các nghiên cứu lại đưa ra một kết luận khá thú vị: những người có tín ngưỡng lại không tin vào những điều huyền bí, mà họ đặt sự trung thành vào một vị thần; trong khi những người không theo tôn giáo nào lại có cơ hội tự do tin vào Bigfoot hay có thể tìm đến các ông đồng, bà đồng.

Giáo sư xã hội học Carson Mencken thuộc đại học Baylor cho biết: “Những người theo đạo Cơ đốc hay các giáo phái tin vào điều huyền bí, vân vân, tất cả họ đều có một điểm chung: định hướng tâm linh tới thế giới”.

Những câu chuyện phóng đại

Tuần trước có ba người đàn ông kể rằng họ có dấu tích của Bigfoot trong một chiếc máy ướp lạnh. Câu chuyện của họ được đưa lên rất nhiều trang web ở mọi nơi từ những bằng chứng cuối cùng của sinh vật cho đến trường hợp thuyết phục để duy trì câu chuyện nhảm nhí tiếp tục lan xa, những chiếc máy đếm tiền dành cho các đồ trang sức có Bigfoot và cả các khác du lịch nữa. Tất cả ba người đàn ông có liên quan đều kiếm tiền từ chính niềm tin vào sự tồn tại của sinh vật Bigfoot. Ngay cả phương tiện truyền thông chính thống cũng thết đãi buổi họp báo thứ 6 với phát hiện lý thú nói trên.

Phản ứng của công chúng cũng rất đa dạng, từ sự tò mò đầy hoài nghi đến niềm tin mù quáng.

Một độc giả đưa ra suy nghĩ về câu chuyện trên LiveScience nghi ngờ những lời khẳng định rằng: “Tôi tin nó có tồn tại, nhưng tôi không chắc chắn. Tôi nghĩ là chúng ta sẽ tìm ra nếu nó ở tít trên cao. Tuy nhiên, tôi biết nó có tồn tại”.

Một cuộc kiểm tra tìm hiểu Bigfoot không đem lại kết quả gì ngoài ADN của con người và thú có túi ôpôt – một sinh vật nhỏ giống mèo.

Cũng trong tuần trước, tại Texas người ta phát hiện con chupacabra – con quái vật tồn tại trong các câu chuyện dân gian của người Mỹ Latin. Dù việc phát hiện ra nó gây chấn động mạnh nhưng vụ việc hoàn toàn có thể được làm sáng tỏ. Tên của con vật có nghĩa là “kẻ hút máu dê”.

Posted Image

Bức ảnh được người thợ săn Rick Jacobs cung cấp vào thứ 2 ngày 29 tháng 10 năm 2007 cho thấy hình ảnh được máy ảnh chụo tự động tại Rừng quốc gia Allegheny, bang Pennsylvania vào ngày 16 tháng 9 năm 2007. Điều chắc chắn duy nhất về sinh vật lọt vào ống kính của người thợ săn là một số người đã đưa ra cái ý niệm về yêu quái khổng lồ, hay còn gọi là bigfoot (chân lớn). Những người khác lại cho rằng đó chỉ là một con gấu bị viêm da nặng. (Ảnh: AP Photo/ Rick Jacobs)

Ellie Carter – thực tập sinh tuần tra tại văn phòng cảnh sát hạt DeWitt – đã nhìn thấy con vật rồi tất nhiên đã loan báo rộng rãi. “Chính là nó, nó nhìn chằm chằm vào chúng tôi. Tôi nghĩ nó là con chupacabra”. Sau khi xem một đoạn phim về con vật do phó phòng cảnh sát thực hiện, nhà sinh học Scott Henke thuộc Đại học A&M Texas nói rằng: “Chắc chắn nó là một con chó”, theo câu chuyện đăng trên trang web của Scientific American.

Trong khi đó, quận trưởng cảnh sát không hề có bất cứ hành động gì để chấn an các suy nghĩ quá khích, thậm chí ông còn để lộ sự vui sướng vì đang có một con quái vật trong tay mình. Quận trưởng cảnh sát Jode Zavesky nói: “Tôi yêu nó vì hạt DeWitt”, có lẽ ông ấy sẽ chỉ rùng mình nếu thả sổng ma cà rồng hay ma sói.

Với lời chứng thực như thế cũng như xu hướng tin của con người về bất cứ điều gì, rõ ràng là Bigfoot và chupacabra chỉ là hai thành viên trong số các nhân vật huyền bí cũng như những truyền thuyết hay ý tưởng đáng ngờ nhưng không bao giờ biến mất.

Trong một nghiên cứu năm 2006, các nhà nghiên cứu phát hiện ra một số lượng các sinh viên đại học cao đáng ngạc nhiên có tin vào tâm linh, phù thủy, khả năng ngoại cảm, và các ý kiến gây thắc mắc khác. 40% các sinh viên tin rằng nhà cũng có thể bị ma ám.

Tại sao con người hứng khởi muốn tin vào những bằng chứng mong manh, bịa đặt về các suy nghĩ, các sinh vật kỳ quái? Tại sao lĩnh vực dị thường, từ dự đoán tâm linh đến việc phát hiện ra UFO, lại hấp dẫn nhiều người đến thế?

Thượng đế chắc đã phát điên

Kể từ khi con người hoàn thiện, họ đã tin vào những gì siêu nhiên, từ thần thánh đến ma quỷ và bây h là bất cứ loại quái vật nào tồn tại giữa hai thái cực.

Christopher Bader – nhà xã hội học thuộc đại học Baylor kiêm cộng sự với Mencken – giải thích: “Trong khi rất khó để biết được chắc chắn thì xu hướng tin vào những điều kỳ quái lại tồn tại ngay từ thuở ban đầu. Cái thay đổi chính là nội dung của những câu chuyện kì lạ. Ví dụ như có rất ít người tin vào các nàng tiên và chú lùn ngày nay. Nhưng khi niềm tin vào các nàng tiên mờ đi thì những niềm tin khác, ví dụ như niềm tin vào UFO, lại nảy sinh và chiếm chỗ”.

Việc tìm hiểu tại sao con người lại đi theo hướng đó quả là một điều khó khăn.

Cronk – giáo sư tâm lý học – trả lời trong một cuộc phỏng vấn thư điện tử như sau: “Đây là đồ tạo tác do khao khát của bộ não chúng ta tạo ra để tìm ra nguyên nhân cũng như hệ quả. Khả năng dự đoán tương lai chính là cái khiến con người chúng ta trở nên ‘nhanh trí’ nhưng nó cũng mang lại hậu quả phụ như bệnh mê tín dị đoan và niềm tin vào những điều khác thường”.

Posted Image

Đây là bức ảnh chụp năm 1977 được tráng rửa từ tấm phim 16 mm của Ivan Max cho thấy hình ảnh Big Foot huyền thoại trên ngọn đồi ở miền bắc California. (Ảnh: AP Photo/File)

Benjamin Radford – tác giả viết sách, điều tra viên về những điều dị thường kiêm biên tập quản lý tạp chí Skeptical Inquirer – cho biết: “Con người đầu tiên bắt đầu tin vào những điều siêu nhiên vì họ đang cố tìm hiểu những gì họ không giải thích được. Nó cũng có quá trình tương tự như thần thoại học: Khi con người không thể hiểu được tại sao mặt trời lại mọc và lặn mỗi ngày, họ đã nghĩ rằng có một chiếc xe ngựa đã kéo mặt trời qua thiên đàng”.

Theo Radford giải thích, trước khi có những lời giải đáp mang tính khoa học hiện đại cho giả thuyết về bệnh dịch, con người không thể hiểu được tại sao bệnh dịch có thể lây truyền từ người này sang người khác. “Họ không hiểu tại sao đứa trẻ bị chết non, hay tại sao hạn hán lại xảy ra, vì thế họ tin rằng những hiện tượng này có nguyên cớ siêu nhiên”.

“Tất cả mọi xã hội đều viện đến những điều siêu nhiên để giải thích mọi vấn đề trước khi họ có thể hiểu được cũng như kiểm soát được, đặc biệt là các sự kiện tốt hay xấu. Ở nhiều nơi, thậm chí đến cả ngày nay, người ta vẫn tin rằng thảm họa hay vận xui là do bị nguyền rủa hay do phù thủy gây ra”.

Điều này làm nảy sinh một câu hỏi lớn hơn: mặc dù khoa học đã giải đáp được nhiều câu hỏi trong vài thế kỉ qua, tại sao niềm tin vào những điều huyền bí vẫn tồn tại mãnh liệt như thế?

Trà Mi (Theo LiveScience)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Quái vật, ma quỷ và thần thánh: Tại sao chúng ta lại tin? (Phần II)

Quái vật ngày nay có ở mọi người, niềm tin mà con người dành cho chúng cũng mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Có liên quan đến tín ngưỡng hay không?

Đôi khi niềm tin vào lời nguyền cũng lan truyền cùng với tín ngưỡng, như trường hợp xảy ra vào năm 2005 khi nhà truyền giáo Tin Lành nổi tiếng John Hagee (lời xác nhận của ông rất có sức hút và được ứng viên tổng thổng John McCain tiếp nhận) nói rằng cơn bão Katrina xảy ra là do Chúa phẫn nộ với đoàn diễu hành khêu gợi được lên lịch diễn ra vào thứ hai đúng ngày xảy ra cơn bão.

Hagee lặp lại niềm tin của mình vào năm 2006 rằng: “Tôi tin rằng New Orleans đã khiến Chúa tức giận, nên họ phải hứng chịu hình phạt của Chúa vì điều đó”.

Điều này có thể khiến mọi người cho rằng tín ngưỡng và các niềm tin kỳ quái có quan hệ với nhau.

Nhưng trong một cuộc khảo sát năm 2004, các nhà nghiên cứu thuộc đại học Baylor lại phát hiện ra điều ngược lại.

Rod Stark – thành viên nhóm nghiên cứu – cho biết: “Niềm tin vào những điều kỳ quái không hề liên quan đến niềm tin tôn giáo”.

Một nghiên cứu khác thực hiện với 391 sinh viên đại học tại Hoa Kỳ thực hiện vào năm 2000 phát hiển a rằng những người tham gia không tin vào đạo Tin Lành lại đa số tin vào thuyết đầu thai, sự liên hệ với người chết, UFO, thần giao cách cảm, tiên tri, trang thái xuất thần hay cứu chữa. Những người có tin vào đạo Tin Lành lại có xu hướng tích trữ những thông tin kỳ quái thấp nhất. Các nhà nghiên cứu thuộc đại học Wheaton viết: “Nghiên cứu phản ánh phần nào quan điểm của những người theo đạo Cơ đốc xem trọng những hình phạt trong kinh thánh đối với các hoạt động dị thường”.

Nhà tâm lý học Cronk cũng đã thực hiện một cuộc khảo sát nhỏ với 80 sinh viên đại học nhưng lại không hề phát hiện ra mối liên hệ nào giữa tín ngưỡng và niềm tin huyền bí.

Nhưng một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2002 tại Canada lại phát hiện ra mối liên hệ giữa niềm tin tôn giáo vào niềm tin huyền bí. Cronk phát hiện ra điều đó trong số nhiều lời giải đáp khác, người Canada không có hệ thống niềm tin giống người Mỹ.

Cronk cho biết: “Tôi đoán rằng tín ngưỡng có liên quan đến cách mà bạn được nuôi dưỡng, nhưng ít liên hệ đến di truyền. Những người có tính nhạy cảm di truyền cao đối với “kiến thức dựa trên niềm tin” có thể có tín ngưỡng mạnh hoặc sẽ có niềm tin vào những điều huyền bí tùy thuộc theo cách mà họ được nuôi dưỡng. Những người ít nhạy cảm với cách hình thành niềm tin nói trên có thể sẽ vẫn có tín ngưỡng mạnh nếu họ sinh trưởng trong một gia đình có tôn giáo”.

Tín ngưỡng và huyền bí

Mencken – nhà xã hội học thuộc đại học Baylor – cho rằng tục hiến tế và dấu thánh (để ngăn các suy nghĩ không xâm nhập vào quy tắc của dòng tộc) đã giúp tín ngưỡng tránh xa những điều huyến bí. Ông có hai bài báo sắp được công bố dựa trên một nghiên cứu quy mô quốc gia với sự tham gia của 1700 người.

Bài báo đầu tiên sẽ được công bố trên tờ Sociology of Religion vào năm 2009 tiết lộ:

“Trong số những người theo đạo Cơ đốc, những người đi nhà thờ thường xuyên (tiếp xúc với dấu thánh và tục tế lễ trong giáo đoàn) rất ít tin vào những điều huyền bí. Ngược lại, những người theo đạo Cơ đốc không thường xuyên đi nhà thờ (chỉ khoảng 1 đến 2 lần trong năm) lại có xu hướng tin vào những điều huyền bí cao nhất”.

Với nhóm thứ ba, ông gọi là những người theo chủ nghĩa tự nhiên, không có quan điểm siêu nhiên, không theo đạo Cơ đốc hay tin vào những điều huyền bí.

Một bài viết khác sẽ được công bố vào tháng 12 trên tờ Review of Religious Research cho thấy những người đi nhà thờ “có xu hướng xem tử vi, xin ý kiến tâm linh, hay mua các vật dụng của giáo phái tin vào những điều thần bí ít nhất”. “Tuy nhiên trong số những người theo đạo Cơ đốc không đi nhà thờ, tỉ lệ những người mang các hiện tượng kể trên cao hơn nhiều”.

Được giáo dục để tin

Tuy nhiên việc định hình một người tin vào Bigfoot đặc trưng lại đầy thử thách cũng giống như việc xác định phương pháp khoa học của tâm linh.

Stark cho biết: “Đáng ngạc nhiên là những người tin vào những điều huyền bí không hề có liên quan đến giáo dục. Ph.D giống như các ký tự bị bỏ rơi trong trường học để mà tin vào Bigfoot, quái vật hồ Loch Ness, ma quỷ, vân vân”.

Nghiên cứu thực hiện với các sinh viên đại học vào năm 2006 do Bryan Farga thuộc đại học thành phố Oklahoma cùng với Gary Steward Jr. thuộc đại học trung tâm Oklahoma đã mang lại kết luận tương tự. Niềm tin vào những điều huyền bí – từ thuật tử vi cho đến việc giao thiệp với người đã chết – tăng lên ở bậc đại học, từ 23% ở sinh viên năm thứ nhất cho đến 31% ở các sinh viên năm sau và 34% ở các nghiên cứu sinh.

Bader – nhà xã hội học thuộc đại học Baylor – cùng các cộng sự đã phối hợp với tổ chức Gallup để thực hiện một khảo sát quốc gia với sự tham gia của 1721 người vào năm 2005. Khảo sát của họ đã có được con số gần 30% số người tham dự tin rằng có thể ảnh hưởng tới thế giới tự nhiên chỉ nhờ ý nghĩ. Khoảng 30% người khôgn chắc chắn về quan điểm này. Trên 20% cho rằng có thể giao tiếp với người đã chết. Gần 40% tin rằng nhà có ma ám.

Khi được hỏi “liệu có ngày nào đó khoa học sẽ phát hiện được các sinh vật như Bigfoot và quái vật hồ Loch Ness hay không”, 18,8% đã đồng ý trong khi 25,9% không chắc chắn.

Trong một ngôi làng xa xôi trên dãy Himalaya, niềm tin vào họ hàng của Bigfoot là người tuyết Himalaya đối với một số người chính là biểu hiện của sự ngu dốt.

Các phương tiên truyền thông đại chúng mất trí

Các tin tức quảng cáo phiến diện có ở khắp nơi về những điều huyền bí ngày nay, dù là ở trên tivi hay trên Internet, đều làm lan truyền những chuyện hoang đường cũng như những chuyện dân gian khéo léo hơn bất cứ một người kể chuyện nào. Những chuyện hoang đường và niềm tin giả trang thành tin tức và sự kiện, đáp ứng cơn khát 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần của những người dễ bị lung lay.

Các nhà khoa học đang phải đối mặt với nhiệm vụ không tưởng: chứng minh một thứ không hề tồn tại. Chúng ta có thể chứng minh viên đá tồn tại. Nhưng chúng ta không thể chứng minh Bigfoot hay ma quỷ hay thần thành không tồn tại. Những người cung cấp các đồ dùng có hình Bigfoot hay ngành tâm linh kiếm ra tiền lại biết điều này rất rõ.

Cronk chỉ ra rằng: “Rất nhiều người có khả năng huyền bí khẳng định năng lực của họ chỉ đôi lúc phát huy, hay năng lực không linh ứng nếu như có người nào đó không tin ở trong phòng”.

Trong trường hợp xét nghiệm ADN của Bigfoot vào tuần trước, người đề xuất Tom Biscardi (mới đây ông vừa sản xuất một bộ phim về Bigfoot, ông cũng có hứng thú với các tin tức báo chí gây tò mò) đã khéo léo né tránh viên đạn làm bùng nổ chuyện hoang đường bằng cách khẳng định mẫu ADN đã bị hỏng.

Tiền thậm chí cũng thúc đẩy cả luật pháp nhìn nhận theo một cách khác.

Về vụ phát hiện con chupacabra tuần trước tại Cuero, Texas, Zavesky – quận trưởng cảnh sát hạt DeWitt nói: “Thật thú vị. Chúng ta vẫn không biết nó là con gì”.

Tất nhiên hạt của ông, đặc biệt là thị trấn Cuero, đã được đặt cho cái tên “Thủ đô Chupacabra của thế giới” đồng thời thu được rất nhiều lợi nhuận từ khách du lịch đến thăm “con quái vật”

Trong khi vị quận trưởng cảnh sát rất lo lắng liệu có con vật hút máu dê ẩn náu trong thị trấn hay không, Zavesky lại chẳng hề vội vã đi bắn con quái vật rồi dập tắt câu chuyện hoang đường. Ông nói: “Nó mang lại cho chúng tôi sự quan tâm của mọi người. Chúng tôi chưa sẵn sàng để chấm dứt chuyện này”.

Trà Mi (Theo LiveScience)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bóng ma xuất hiện trong bức ảnh cưới?

Một "nhiếp ảnh gia nhí" nghiệp dư đã phải giật mình thảng thốt khi xem lại những tấm hình mình chụp trong một đám cưới. Trên một trong số những bức ảnh đã chụp, bỗng dưng xuất hiện một bóng ma mờ ảo dưới ánh sáng của đèn disco.

Jordan Martin, 12 tuổi, khách mời trong một đám cưới, đã rất thích thú được tự do thể hiện tài năng nhiếp ảnh của mình. Thế nhưng, cậu bé chẳng thể nào ngờ được rằng một trong những tấm hình mình chụp lại có thể trở nên nổi tiếng đến vậy trong suốt những ngày gần đây.

Posted Image

Cô dâu chú rể đang vui vẻ trong một điệu nhảy, không mảy may biết đến có một bóng ma đang trôi nổi bên cạnh họ

Jordan cho biết: “Tôi không hề nhìn thấy bóng ma lúc chụp tấm ảnh đó. Phải mấy ngày sau tôi mới mở máy tính để xem ảnh và chọn ra một vài bức đẹp mang đi rửa. Đang mải mê xe từng tác phẩm của mình, tôi bỗng giật mình, không thể tin được khi thấy một bóng sáng mờ ảo giống như mặt người trong ảnh”.

Ngay sau khi phát hiện được sự khác thường trong bức ảnh, Jordan vội vàng tìm và báo cho mẹ cậu biết về sự xuất hiện kỳ lạ của bóng ma này và cũng là để kiếm chứng xem liệu đó có phải đó chỉ là ảo giác của cậu hay không.

Posted Image

"Nhiếp ảnh gia" Jordan 12 tuổi

Jordan nói: “Thật sự mà nói, không ai có thể chắc chắn đó là bóng ma hay chỉ là sự khúc xạ ánh sáng. Tuy nhiên, rõ ràng chẳng ai khẳng định đó là không phải là gương mặt của một người phụ nữ”.

Mẹ của Jordan, bà Ann, nói bà không tin đó là một bóng ma nhưng thừa nhận rằng không thể giải thích được về sự xuất của hình ảnh kỳ lạ xuất hiện trong tấm hình.

Bà nói: “Tôi thật sự sốc khi nhìn thấy bức ảnh đó. Trông rất giống khuôn mặt một người phụ nữ, nhưng tôi vẫn không cho rằng đó là bóng ma. Cháu Jordan nhà tôi thích thú với tấm hình lắm. Thật là kỳ lạ!”

Mới tháng trước, một bức hình gây xôn xao ghi lại hình ảnh bóng ma của một binh sĩ đã chết từ thời nội chiến Anh năm 1645, ngay sau khi được công bố đã nhanh chóng được phát tán trên mạng Internet với hàng triệu lượt người xem.

Đối với khoa học hiện đại, sự tồn tại của một thế giới siêu nhiên ngoài sự sống là có thực hay không vẫn là bí ẩn chưa có lời giải đáp. Chỉ biết rằng đã có tới hàng trăm bức ảnh “bắt” được ma được công bố. Điều đó phần nào đã củng cố được lòng tin mơ hồ về một thế giới sau cái chết là hoàn toàn có thể.

Theo Anh Nguyễn - Dân trí (Dailymail)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Bí ẩn những con tàu ma (phần 1)

Hàng thế kỷ nay, sự thật về những con tàu ma vẫn luôn là nỗi ám ảnh của những người đi biển. Số phận và nguyên nhân biến mất đầy bí hiểm của những thủy thủ đoàn như thế nào?... có lẽ vẫn sẽ là một ẩn số không có lời giải.

“Tôi là người duy nhất còn sống sót….”

Vào khoảng những năm 40 của thế kỷ trước, sự biến mất đầy bí hiểm của toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên con tàu Urang Medana của Hà Lan được cho là một bí ẩn lớn nhất trong lịch sử ngành hàng hải thế giới.

Ở thời điểm đó, một vài trạm rada của Anh đặt tại Singapore và Sumatra (Indonesia) thông báo có nhận được tín hiệu cấp cứu từ tàu Urang Medana của Hà Lan với nội dung: “SOS… SOS tất cả đã chết… tôi là người duy nhất còn sống sót…”, tiếp sau đó là hàng loạt các ký tự lộn xộn và các dấu chấm. Một lát sau tín hiệu được nối lại, nhưng chỉ có một câu duy nhất là “Tôi đang chết dần”, rồi kết thúc bằng một sự im lặng đến ghê rợn.

Posted Image

Con tàu ma Urang Medana.

Các cuộc tìm kiếm cứu hộ nhanh chóng được thiết lập và đã cho kết quả. Con tàu được tìm thấy tại vịnh Malacca, cách nơi phát tín hiệu trước đó khoảng 80 km. Khi bước chân lên Urang Medana, ngay lập tức các nhân viên cứu hộ phải sởn gai ốc trước cảnh tượng kinh hoàng trước những cái chết một cách bất thường của toàn bộ thủy thủ đoàn.

Vị thuyền trưởng nằm ngay tại tại vị trí điều khiển, còn các sĩ quan và thuỷ thủ thì nằm rải rác khắp nơi trên tàu. Một nhân viên điện đài có lẽ là người đã phát ra tín hiệu cấp cứu, đã chết trong trạng thái làm việc. Ngay đến con chó trên tàu phải nhận một cái chết hết sức bất thường khi mõm của nó vẫn còn đang nhe nanh như đe dọa ai.

Điểm chung duy nhất là trên khuôn mặt của tất cả mọi người đều hiện rõ một nỗi sợ hãi khủng khiếp. Càng kỳ lạ hơn, không hề có bất kỳ một dấu hiệu tổn thương nào trên tất cả các tử thi. Giả thuyết về một vụ tấn công của cướp biển ngay lập tức bị loại bỏ bởi toàn bộ những thứ có giá trị trên tầu đều còn nguyên vẹn.

Tuy nhiên, trong suốt chiều dài của thế kỷ 20, đây vẫn chưa phải là thảm hoạ duy nhất.

Vào năm 1955, trên biển Thái Bình Dương người ta còn tìm thấy một chiếc thuyền buồm của Mỹ mang tên MB Elip cũng có những hiện tượng tương tự. Trên tàu, nước ngọt và đồ ăn dự trữ vẫn còn nguyên vẹn, các phương tiện cứu hộ vẫn chưa hề được sử dụng, vậy mà không có lấy một bóng người.

Khoảng 5 năm sau, trên biển Đại Tây Dương cũng xuất hiện hai chiếc thuyền buồm của Anh trôi dạt. Năm 1970, tất cả thuỷ thủ đoàn cùng với con tàu trở hàng của Anh mang tên Minton đột ngột mất tích một cách lạ lùng mà cho đến nay vẫn còn là một ẩn số. Rồi đến năm 1973, một tai nạn đã xảy ra và làm đắm chiếc tàu đánh cá Anna của Na Uy. Những thủy thủ trên những con tàu khác gần đó vô tình chứng kiến vụ tai nạn lấy làm lạ khi sự việc diễn ra, họ không thấy có bất kỳ ai trên boong tàu.

Giọng nói từ biển khơi

Posted Image

Một trong những bức tranh đầu tiên mô tả về việc những thủy thủ Anh trên tàu Jea Grasia phát hiện con tàu ma Maria Chelesta

Trong lịch sử ngành hàng hải, sự mất tích kỳ lạ của toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên con tàu nổi tiếng Maria Chelesta luôn được nhắc đến như một bí ẩn vĩ đại nhất của đại dương. Vào tháng 12/1872, thuỷ thủ trên tàu Jea Grasia của Anh bất ngờ gặp một chiếc thuyền buồm di chuyển một cách không bình thường. Đến khi tiến lại gần, họ rất đỗi ngạc nhiên khi trên boong thuyền Chelesta không có bóng dáng của con người mà vô lăng lái lại không được cố định.

Một hoa tiêu và hai thuỷ thủ người Anh quyết định thâm nhập vào con thuyền này để tìm hiểu tình hình. Không hề có bất kỳ dấu hiệu nào của con người. Vật giá trị nhất mà họ tìm được chính là cuốn nhật ký đi biển, trong đó ngày cuối cùng được đặt bút có đề ngày 24/11/1872 (con thuyền được tìm thấy vào ngày 02/12).

Con thuyền này được đưa về eo biển Gibraltar của Anh để các chuyên gia giàu kinh nghiệm điều tra bí ẩn đã xảy ra với nó, tuy nhiên mọi nỗ lực đều trở nên vô vọng.

Năm 1937, nhà vật lý của Liên Xô là Vladimir Suleykin đã đưa ra một giả thuyết được cho là tương đối thuyết phục. Trong một hành trình trên biển Kaspi trên tàu thuỷ văn Taimưr, một nhà khoa học đi cùng Vladimir Suleykin đã thực hiện thí nghiệm với một quả cầu thám không chứa đầy khí hydro: khi quả cầu này được đưa đến gần ai thì người đó bỗng xuất hiện một cảm giác đau buốt trong màng nhĩ, còn khi đưa ra xa cảm giác đau đớn đó dần tan biến.

Vladimir Suleykin liền để ý tới hiện tượng lạ lùng này để rồi không lâu sau đó đưa ra nhận định của mình trên báo chí rằng, gió thổi qua các cơn sóng trong những ngày biển động đã tạo ra trong không khí các dao động sóng hạ âm mà tai con người không nghe thấy. Sóng hạ âm này rất có hại đối với con người. Trong dải tần thấp hơn 15 héc, sóng hạ âm không chỉ gây tổn thương cho màng, mà còn gây rối loạn hệ thần kinh trung ương và ảnh hưởng đến thị giác. Ở dải tần dưới 7 héc, sóng hạ âm đôi khi gây tử vong đối với con người. Như vậy, nơi nào xuất hiện bão thì ở đó xuất hiện sóng hạ âm. Hiệu ứng này được V. Suleikyn gọi là “âm thanh của biển cả”.

Bí ẩn những con tàu ma (phần 2)

Liệu con người đã tìm ra được bí mật của những con tàu ma xấu số? Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến những cái chết vô cùng bí hiểm của các thủy thủ trên tàu?

Sóng âm gây chết người ?

Trong các nghiên cứu về tác động vật lý của sóng hạ âm có cường độ lớn đối với cơ thể sống, người ta đã phát hiện một hiện tượng đáng kinh ngạc.

Thí nghiệm trên các loài động vật cho thấy, chúng đều có một cảm giác lo lắng, sợ hãi không rõ nguyên nhân. Thí nghiệm trên cơ thể một số người tình nguyện cũng cho kết quả tương tự: họ đều cảm thấy đau đầu, lo lắng với một nỗi sợ hãi khủng khiếp không rõ nguyên nhân.

Theo giáo sư Gavro người Pháp, âm thanh ở tần số 7 héc có thể gây tử vong. Trong thời gian xuất hiện bão trên biển, sóng hạ âm dao động từ 15 héc xuống đến gần 6 héc. Như vậy, cường độ dao động càng thấp thì nguy cơ tử vong đối với con người là khó có thể tránh khỏi, khi đó, họ sẽ phải hứng chịu một cái chết với nỗi khiếp sợ và kinh hoàng không rõ nguyên nhân. Hơn nữa, nếu thân và cột buồm của tàu cộng hưởng trở thành nguồn sóng hạ âm thứ sẽ càng tác động mạnh mẽ lên con người, làm họ mất lý trí để rồi nhảy ra khỏi tàu để trốn chạy hoảng loạn. Không phải vô cớ mà trên nhiều chiếc thuyền, những chiếc cột buồm bị gãy và hỏng trong khi thời tiết được dự báo là không có gió to.

Truyền thuyết về tàu ma xuất hiện từ đâu?

Chúng ta ít nhiều đều đã từng nghe danh một con tàu đã đi vào truyền thuyết với tên gọi “Người Hà Lan bay”. Một con tàu ma không có bóng người. Bất kỳ ai chẳng may gặp nó đều sẽ phải hứng chịu những bất hạnh kinh khủng.

Theo truyền thuyết, trong một cơn bão lớn, viên thuyền trưởng Van Staaten đã vô cùng khó khăn để điều khiển tàu vòng qua được mũi Hảo Vọng. Trong cơn hỗn loạn, toàn bộ thủy thủ trên tàu đều yêu cầu thuyền trưởng quay trở lại. Không thèm để ý đến đề nghị của đa số mọi người, Van Staaten trong cơn tức giận đã bắt đầu phỉ báng chúa trời và tuyên bố rằng sẽ đổ bộ vào mũi Hảo Vọng, thậm chí có phải bơi cho đến ngày chúa tái lâm. Ngay lập tức, một giọng nói khủng khiếp từ trên trời vang lên để đáp trả lời phỉ báng đó: “Được, vậy thì các người hãy bơi đi”. Kể từ đó, con tàu trở thành điềm gở cho bất kể ai vô tình hay cố ý nhìn thấy nó.

Một biên niên sử buồn…

Sự biến mất bí ẩn của con người và các con tàu vẫn tiếp tục trong thế kỷ 21. Liệu có phải, những trường hợp đó đều có liên quan đến “giọng nói từ biển khơi” hay không may chạm trán với “người Hà Lan bay”?

Posted Image

Năm 2003, máy bay thuộc Cục bảo vệ bờ biển Autraulia đã tìm thấy một chiếc thuyền buồm của Indonesia gần bờ biển nước này. Tàu vẫn trong tình trạng hoạt động tốt, khoang chứa đầy cá, thế nhưng trên tàu lại không có một bóng người. (trước đó, tàu ra khơi với 14 thuỷ thủ). (Ảnh trên)

Posted Image

Năm 2006, Cục bảo vệ bờ biển Sardinhia (Italia) nhận thấy một chiếc thuyền buồm hai cột mang tên “Bel Amika” bị trôi dạt tự do mà không có người trên đó. Trên thuyền vẫn còn thức ăn thừa và những tấm bản đồ địa lý của Pháp. Cảnh sát đã nghi ngờ chiếc thuyền đã được những kẻ buôn lậu sử dụng để vận chuyển ma tuý. Tuy nhiên giả thuyết này ngay sau đó bị bác bỏ khi họ sử dụng chó nghiệp vụ để điều tra. Cùng năm đó, cũng cách Australia không xa, người ta lại tìm thấy chiếc tàu chở dầu Yan Seng cũng không có bóng người. (Ảnh trên)

Posted Image

Năm 2007 một chiếc tàu dài 12 m trống không có tên “Kaz II” được tìm thấy khi đang trôi dạt ở vùng biển Đông Bắc Australia. Điều lạ là động cơ của tàu vẫn đang hoạt động, một máy tính xách tay và hệ thống định vị toàn cầu GPS, một bàn ăn đã dọn sẵn. Tất cả các phương tiện cứu hộ vẫn còn nguyên trên tàu. Cánh buồm vẫn được căng lên nhưng đã bị rách nát. (Ảnh trên)

Posted Image

Năm 2008, Cục an ninh biển Nhật Bản thông báo phát hiện một chiếc xà lan đang trôi dạt không có tên có số hiệu và người trên boong. (Ảnh trên)

Theo Anh Nguyễn - Dân trí

Share this post


Link to post
Share on other sites

10 bí ẩn thú vị nhất của các nền văn minh đã mất (Phần 1) :)

Hầu hết các nhà Ai-cập học tin rằng tượng nhân sư Sphinx trên cao nguyên Giza khoảng 4.500 tuổi. Nhưng con số này chỉ là giả thuyết chứ không có bằng chứng xác thực.

1. Tuổi của kim tự tháp và tượng nhân sư Sphinx

Posted Image

Theo Robert Bauval, tác giả cuốn “Tuổi của Sphinx” thì “không hề có bất cứ ghi chép nào, thậm chí chữ khắc trên vách đá, bia mộ hoặc chữ viết trên giấy cói” gắn kết Sphinx với khoảng thời gian trên.

Vậy nó được xây dựng từ khi nào? Học giả John Anthony West đã phủ nhận con số 4.500 tuổi, ông đưa ra bằng chứng là chân tượng bị phong hóa theo chiều thẳng đứng mà nguyên nhân thì chỉ có thể là do ngâm lâu dưới nước (từ những trận mưa lớn).

Mưa lớn tại sa mạc là điều không tưởng trong khoảng thời gian đó và nó chỉ xảy ra cách đây 10.500 năm. Điều này có nghĩa là tuổi của Sphinx gấp hơn 2 lần so với con số 4.500 mà người ta vẫn nghĩ. Bauval và Graham Hancock ước tính Đại kim tự tháp Giza được xây dựng cách đây khoảng 10.500 năm trước Công nguyên - trước khi có nền văn minh Ai Cập. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã xây dựng chúng và tại sao?

2. Những đường kẻ Nazca

Posted Image

Những đường kẻ Nazca nổi tiếng được khắc trên một sa mạc cách thủ đô Lima của Peru 200 dặm về phía tây. Cao nguyên dài 58km, rộng 1,6km, với những đường kẻ và các khối hình khác nhau đã khiến thế giới khoa học đau đầu kể từ khi nó được phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ trước.

Những đường kẻ này rất thẳng, một số đường chạy song song với nhau, nhiều đường giao nhau khiến chúng trông như đường băng của một sân bay khi nhìn từ trên cao. Nhà văn Erich von Daniken đã từng viết trong cuốn sách Chariots of the Gods rằng chúng là những đường băng dành cho tàu vũ của người ngoài hành tinh.

Thú vị hơn là những khối hình khổng lồ của 70 con vật được khắc trên mặt đất trong đó có một con khỉ, nhện và một con chim ruồi nằm giữa những con khác. Điều khó hiểu là những đường kẻ và khối hình này lớn đến nỗi người ta chỉ có thể nhận ra hình thù của chúng từ trên cao. Vậy tầm quan trọng của chúng là gì? Nhiều người tin rằng chúng được dùng cho mục đích thiên văn học trong khi một số khác lại cho rằng người xưa dùng chúng trong các nghi lễ tôn giáo. Một giả thuyết gần đây là các đường kẻ dẫn tới những nguồn nước quý giá. Cho đến nay vẫn chưa ai có lời giải đáp.

3. Vị trí của lục địa Atlantis

Posted Image

Ngày nay có rất nhiều giả thuyết về lục địa Atlantis. Lục địa Atlantis từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới. Dựa trên những tài liệu đáng tin cậy, người ta đã xây dựng rất nhiều những giả thuyết khác nhau về lục địa này.

Mặc dù Atlantis được xem là đạt tới đỉnh cao vinh quang hơn 11 nghìn năm trước, nhưng nó chỉ xuất hiện trong thư tịch khoảng 2.350 năm trước, từ 359 đến 347 năm trước Công nguyên. Atlantis được nhà triết học Hy Lạp cổ đại lừng danh Plato miêu tả là một hòn đảo tuyệt đẹp và phát triển về khoa học công nghệ nhưng vị trí của Atlantis thì rất mơ hồ.

Thế nên nhiều người kết luận Atlantis không thực sự tồn tại. Những người cho rằng nó tồn tại thì đi kiếm tìm bằng chứng và manh mối trên mọi ngóc ngách của trái đất. Nhà tiên tri Edgar Cayce tiên đoán tàn tích của Atlantis nằm đâu đó gần quần đảo Bermuda. Năm 1969, những khối đá nhiều hình thù được tìm thấy gần đảo Bimini khiến người ta tin rằng lời tiên đoán của Cayce là đúng.

Người ta còn cho rằng lục địa Atlantis có thể được tìm thấy ở châu Nam Cực, Mexico, ngoài khơi nước Anh và thậm chí cả ngoài khơi Cuba.

4. Lịch của người Maya

Posted Image

Có nhiều người hiện nay tin rằng, “ngày tận thế” của nhân loại trên Trái Đất chúng ta sẽ là ngày 21/12/2012. Niềm tin của họ dựa trên dấu tích lịch cổ của người Maya - một dân tộc từng sống ở Mexico thời cổ đại.

Người Maya vốn nổi tiếng về sự thông thái trong các lĩnh vực toán học và thiên văn học. Dựa theo chiếc cột vốn là lịch của người Maya, được các nhà khảo cổ tìm thấy tại Mexico, thì người Maya đã tính toán và xây dựng lịch cho tổng cộng… 5126 năm. Điều đặc biệt ở chỗ: ngày cuối cùng của bộ lịch cổ này chính là ngày 21/12/2012.

Theo đó, vào đúng ngày này thì phần trung tâm của dải Ngân Hà chứa Trái Đất của chúng ta sẽ tạo với Mặt Trời một đường thẳng lần đầu tiên trong 26 nghìn năm. Điều này sẽ làm xáo trộn nguồn năng lượng từ Mặt Trời chuyển đến Trái Đất.

Nói cụ thể hơn, nguồn nhiệt của Mặt Trời vào thời điểm như vậy sẽ phóng ra cao hơn bình thường, có thể ảnh hưởng mạnh đến môi trường sống trên Trái Đất.

Liệu Trái Đất của chúng ta có tan tác vào “ngày tận thế” 21/12/2012 hay không? Câu hỏi này vẫn đang được bàn cãi xuất phát từ một nguồn khác là những tài liệu lịch cổ của người Maya. Tài liệu cổ nhất còn giữ lại của nền văn minh này đã được các tu sĩ Tây Ban Nha dịch ra năm 1521 có nói về sự xuất hiện của quỷ dữ và “ngày tận thế”.

5. Xác ướp tại ‘Hang Ma’

Posted Image

Năm 1940, hai vợ chồng nhà khảo cổ học Sydney và Georgia Wheeler tìm thấy một xác ướp tại ‘Hang Ma’, một hang động cách thành phố Fallon, bang Nevada (Mỹ) 15 dặm về phía đông.

Khi bước vào hang, họ phát hiện bộ hài cốt của 2 người được quấn bằng vải tuyn. Một bộ hài cốt được chôn sâu hơn bộ kia, phần đầu và vai phải vẫn còn nguyên vẹn.

Với sự trợ giúp của người dân địa phương, Sydney và Georgia Wheeler đã đào được 67 cổ vật trong hang. Những cổ vật này được giám định tại bảo tàng bang Nevada, người ta ước tính chúng 1.500-2.000 tuổi. 54 năm sau, vào năm 1994, nhà nhân chủng học thuộc trường đại học California R. Erv Taylor đã giám định lại 17 cổ vật trong ‘Hang Ma’ bằng phương pháp ghi phổ khối lượng.

Kết quả thật bất ngờ xác ướp có tuổi thọ vào khoảng 9.400 tuổi. Nghiên cứu thêm cho thấy xác ướp cổ nhất tại Bắc Mỹ này có những đặc điểm của người Aino, một chủng người da trắng sống ở vùng biển Bắc - Nhật Bản. Cho đến nay người ta vẫn chưa giải thích được mối liên hệ này.

Theo Dân Trí

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thứ Bẩy, 29/11/2008 - 4:26 PM

Những bức ảnh kỳ quặc nhất của tháng

Posted Image

(Dân trí) - Chiếc áo lót bằng vàng trị giá 40.000USD, đắt hàng áo ngực dành cho nam giới, mèo mập thi đua giành giải vật nuôi giảm cân nhanh nhất… là những hình ảnh kỳ quặc nhất tháng 11.

Posted Image

Một người hâm mộ bóng đá Anh tới sân bay Schoenefeld ở Berlin, Đức.

Posted Image

Mẫu xe điện Bamgoo với vỏ ngoài làm bằng tre và thân thiện với môi trường được giới thiệu tại Kyoto, Nhật Bản.

Posted Image

Cô y tá Jennie Keen đang bế con mèo mập nhất nước Anh, khoảng 9.8 kg. 8 vật nuôi nặng cân nhất xứ sở sương mù đã tham gia chế độ ăn kiêng kéo dài 100 ngày để giành giải thưởng vật nuôi giảm cân nhanh nhất.

Posted Image

Người mẫu trình diễn một mẫu trang phục của nhà thiết kế Kenje tại tuần lễ thời trang ở Kazakhstan.

Posted Image

Người mẫu giới thiệu một sáng tạo của nhà thiết kế Belarus Olga Rodionova tại Lễ hội Nghệ thuật Tiên phong - Mammoth 2008 - ở thủ đô Minsk, Belarus.

Posted Image

Chiếc áo lót bằng vàng trị giá 40.000USD được trưng bài tại Hội chợ kim hoàn quốc tế Trung Quốc ở Bắc Kinh.

Posted Image

Hãng bán lẻ đồ lót trên mạng Wishroom đã tung ra loại áo lót dành cho nam giới và nó nhanh chóng trở thành mặt bán chạy nhất của công ty này.

Posted Image

Tác phẩm nghệ thuật “những chiếc lưỡi” tại triển lãm nghệ thuật ở Abu Dhabi, các tiểu Vương quốc Ảrập thống nhất.

Posted Image

Các cảnh sát đặc nhiệm bang Punjab, Ấn Độ đang luyện cười trong bài tập yoga.

Posted Image

Một học sinh của trường trung học Vanita Mahavidyalaya tại Hyderabad, Ấn Độ nằm và cho bê tông đè lên ngực để người khác dùng búa đập vỡ.

Posted Image

Phân chim sáo đá phủ kín 2 chiếc xe tại Rome. Chim sáo đá kéo đàn đến hàng ngàn con đã gây ra nhiều rắc rối cho thành phố này và từng khiến một chiếc máy bay của hãng hàng không Ryanair phải hạ cánh khẩn cấp.

Posted Image

Các du khách đi ngang qua một tác phẩm nghệ thuật của nghệ sĩ Anthony Gormley tại Bảo tàng nghệ thuật đương đại MARCO ở Monterrey, phía bắc Mexico.

Lưu Ly

Theo Reuters

Share this post


Link to post
Share on other sites

...

Posted Image

Hãng bán lẻ đồ lót trên mạng Wishroom đã tung ra loại áo lót dành cho nam giới và nó nhanh chóng trở thành mặt bán chạy nhất của công ty này.

...

Mặc để làm gì ? Đâu có cái gì cần phụ kiện nâng giúp đâu?!!! lol

Share this post


Link to post
Share on other sites

Thứ Hai, 24/11/2008 - 10:45 AM

Khỉ làm "vú em" cho hổ con

Posted Image

(Dân trí) - Những bức ảnh chụp cảnh khỉ Anjana chăm sóc ân cần đối với hai chú hổ con tại vườn thú Miami, Mỹ đã khiến hàng triệu người trên thế giới xúc động.

Cô China York, nhân viên sở thú đang trông nom con khỉ Anjana, cho biết Anjana rất thích chăm sóc hai chú hổ con Mitra và Shiva, mới 2 tháng tuổi.

Sở dĩ Mitra và Shiva được đưa tới vườn thú Miami, bang Florida, là do chúng cần một môi trường sống ấm áp và khô ráo hơn tại vườn thú ở Nam Carolina, nơi hổ mẹ đang sống.

Posted Image

Anjana vui đùa với 1 trong 2 con hổ con.

Khỉ Anjana tưởng rằng cô China York đang chăm sóc lũ hổ con nên nó cũng muốn cùng chăm sóc. Cũng theo lời China York, Anjana chăm sóc hai chú hổ rất tốt và còn biết cách dỗ dành khi chúng đòi mẹ.

Ngọc Dung

Theo The Sun

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tạo một tài khoản hoặc đăng nhập để bình luận

Bạn phải là một thành viên để tham gia thảo luận.

Tạo một tài khoản

Đăng ký một tài khoản mới trong cộng đồng của chúng tôi. Dễ thôi!


Đăng ký tài khoản mới

Đăng nhập

Bạn đã có tài khoản? Đăng nhập tại đây.


Đăng nhập ngay