VinhL

Ngũ Vận Lục Khí từ Hà Đồ

49 bài viết trong chủ đề này

Phương vị tốt xấu theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy (Tìm về cội nguồn Kinh dịch - Nguyễn Vũ Tuấn Anh)

Trạng thái âm dương ngũ hành thực tại khách quan của mỗi Bản mệnh con người đã được người Việt quy ước thành các cung Thiên Y, Lục sát... (Bát trạch).

Như vậy, dễ dàng hiểu rằng Bát trạch chính là tương tác của từ trường trái đất quay xung quanh trục của nó (tổng thể) và tương tác chi tiết khu vực của trái đất qua mạch khí gọi là con Trạch (trạch nhà).

Trên cơ sở những luận điểm đã trình bày trong cuốn sách này về sự đổi chỗ hai quái Tốn, Khôn và kết hợp Hậu thiên Bát quái nguyên thủy với Hà đồ, chúng ta tiếp tục phân thành bốn cặp cùng hành tương ứng với các phương vị tốt xấu tương quan như sau:

Đồ hình minh họa

Hà đồ và Hậu thiên bát quái nguyên thủy

Posted Image

Chúng ta tiếp tục phân làm 4 cặp cùng hành là:

Cặp cùng hành Thủy gồm: Càn (Âm thủy); Khảm (Dương thủy)

Cặp cùng hành Mộc gồm: Cấn (Âm mộc); Chấn (Dương mộc)

Cặp cùng hành Hỏa gồm: Khôn (Âm hỏa); Ly (Dương hỏa)

Cặp cùng hành Kim gồm: Tốn (Âm kim); Đoài (Dương kim)

Trên cơ sở phân loại này (xem hình trên), chúng ta lần lượt xét tương quan của từng cặp quái cùng hành ở vị trí trung cung với phương

vị tốt xấu tương ứng của bốn cặp theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, chúng ta bắt đầu từ cặp cùng hành Càn Khảm tại trung cung tương ứng với phương vị tốt xấu như sau:

Posted Image Qua cặp cùng hành Càn Khảm chúng ta thấy rằng:

* Khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với chính nó thì ta sẽ được tính chất Lục sát, Phục vị đổi chỗ cho nhau.

* Khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với cặp Cấn, Chấn (Mộc) thì ta sẽ được tính chất Thiên y, Ngũ quỷ đổi chỗ cho nhau.

Quy luật này tiếp tục được lặp lại khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với cặp cùng hành Hỏa (Khôn, Ly) và Kim (Tốn, Đoài). Đây cũng là hai cặp có sự hiệu chỉnh ở vị trí Tốn, Khôn theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy đã trình bày ở trên.

Sự tương ứng của mỗi cặp cùng hành tại trung cung với các cặp cùng hành ở tám phương vị tốt xấu tạo ra tính chất không đổi nhưng hoán vị cho nhau, hoàn toàn đúng trong trường hợp ứng dụng Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Hay nói một cách khác: Ở Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, sự tương ứng những cặp cùng hành tại trung cung với các phương vị tốt xấu tương ứng có qui luật hợp lý cho những vấn đề được đặt ra. Ngoài ra, tính chất đối nghịch Âm Dương ở các phương vị tốt xấu cho các cặp cùng hành cũng hoàn toàn trùng khớp. Điều này không thể thực hiện được ở Hậu thiên Bát quái mà cổ thư chữ Hán ghi nhận vì sự sai lệch phương vị Tốn, Khôn. Xin xem đồ hình minh họa sau:

Posted Image

Posted Image

Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:

@ Tính hợp lý của phương vị Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, không chỉ giới hạn trong Kinh dịch mà ở cả những vấn đề liên quan trong những học thuật cổ Đông phương có ứng dụng thuyết Âm dương Ngũ hành. Cụ thể trong trường hợp này là thuật Phong thủy.

@ Qua sự tương ứng của từng cặp phân theo Ngũ hành và sự tương quan với các hành khác đã chứng tỏ Bát quái chỉ là những ký hiệu siêu công thức thể hiện tính chất của Ngũ hành.

Trong thuật Phong thủy thì quẻ Khôn (tượng Đất – tức Địa) có một ý nghĩa rất quan trọng. May thay, nó lại sai lệch. Có lẽ Cao Biền thất bại từ đấy.

Đã có một bài viết ngắn trên một tạp chí khá phổ biến, giới thiệu về giả thuyết của một nhà khoa học Hoa kỳ cho rằng: “Trái đất là một sinh thể sống”. Giả thuyết này sẽ có khả năng chứng minh đúng, nếu thuật Phong thủy khôi phục hoàn chỉnh những luận thuyết của nó, chứng minh được rằng những sinh khí trong huyệt đạo của Địa cầu liên quan đến sự phát triển của con người.

Ngũ Phúc lâm môn

Share this post


Link to post
Share on other sites

Anh Hoangnt nên có sự phân biệt về trích dẫn sao cho đọc giả biết phần nào là trích dẫn sách, tư liệu, phần nào là bình luận hay nghiên cứu của anh. Rỏ ràng ra. Nhập nhằn như vậy đọc không biết là của ai, tư liệu muốn tham khảo ở đâu?

Vài ý kiến.

Thiên Đồng

Share this post


Link to post
Share on other sites

SH Thiên Đồng.

Ok, cũng đã trích nhưng sẽ phân chia như đã viết, dòng chảy thông tin đang vận động.

Chúng ta chú ý, trong Lạc thư hoa giáp có 60 Bản mệnh cho cả Nam lẫn nữ, tuy nhiên do thuộc tính giữa hai phái là đối nghịch Âm Dương cho nên khi xét tương tác từ một Hệ tương tác nào đấy thì phải đảo nghịch lại tương tác lại.

Chẳng hạn Nam sinh 1975 là Đông tứ trạch thì nữ sinh 1975 (cùng năm) phải là Tây tứ trạch.

Điều này áp dụng cho mọi Hệ tương tác nếu có dùng Bản mệnh, chẳng hạn Huyền không phi tinh.

Mặt khác, nếu xét nội tại của Bản mệnh chẳng hạn cho Nam hoặc nữ thi sao? Đông y chẳng hạn? Rõ ràng không phải như vậy, mà có thể là tương khắc và tương sinh?. Hai quy tắc hoàn toàn khác nhau.

Ngũ Phúc lâm môn

Share this post


Link to post
Share on other sites

SH Thiên Đồng.

Ok, cũng đã trích nhưng sẽ phân chia như đã viết, dòng chảy thông tin đang vận động.

Chúng ta chú ý, trong Lạc thư hoa giáp có 60 Bản mệnh cho cả Nam lẫn nữ, tuy nhiên do thuộc tính giữa hai phái là đối nghịch Âm Dương cho nên khi xét tương tác từ một Hệ tương tác nào đấy thì phải đảo nghịch lại tương tác lại.

Chẳng hạn Nam sinh 1975 là Đông tứ trạch thì nữ sinh 1975 (cùng năm) phải là Tây tứ trạch.

Điều này áp dụng cho mọi Hệ tương tác nếu có dùng Bản mệnh, chẳng hạn Huyền không phi tinh.

Mặt khác, nếu xét nội tại của Bản mệnh chẳng hạn cho Nam hoặc nữ thi sao? Đông y chẳng hạn? Rõ ràng không phải như vậy, mà có thể là tương khắc và tương sinh?. Hai quy tắc hoàn toàn khác nhau.

Ngũ Phúc lâm môn

Vậy anh giải thích thế nào với Nam 1982 : phi cung Đoài và Nữ 1982 phi cung Càn? Cả 2 đều cùng năm sinh và cùng Tây Tứ Trạch.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Vậy anh giải thích thế nào với Nam 1982 : phi cung Đoài và Nữ 1982 phi cung Càn? Cả 2 đều cùng năm sinh và cùng Tây Tứ Trạch.

Trong quá trình phân tích, rất cần phản biện.

Quá khứ, các cao nhân không thể hoàn thành bởi lý do không đủ dữ liệu và nghiên cứu 1 mình.

Nhờ Thiên Luân giải thích thêm.

Thân

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tôi điều chỉnh lại nhận định như sau:

Kết quả lý luận Lạc thư hoa giáp của Bác Vô Trước chính xác.

- Trường khí từ ngoài Hệ mặt trời tác động tới là không thay đổi do thời gian vận động của Âm dương Ngũ hành của các trường khí là qúa lớn và trùng nhau, cho nên trường khí gọi chung là từ Vũ trụ: Nguyên khí. Có thể hình dung như cái quạt với nhiều nan quạt, tương ứng phần giữa 2 nan là một hệ vận động..: .Thiên can - Thiên khí. Xích đạo trời.

- Trường khí từ Hệ mặt trời tác động vào Trái đất + Trường khí do Trái đất tự quay quanh trục: Địa chi - Địa khí (Sinh vượng mộ).

Thiên can tác động vào Địa chi qua quy tắc hòa, sinh, khắc, bị sinh, bị khắc. Vòng Hoàng Đạo.

- Bản mệnh là do Địa chi sinh ra mà không theo quy tắc 5 trạng thái trên, do con người sống trên Trái đất - hai chân tiếp đất: Nhân khí.

- Nhịp sinh học do trường khí Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất tác động, vị trí Mặt trăng giữa trái đất và mặt trời trong chu kỳ vận động của nó tạo ra giờ Thần hợp và giờ Quan sát, trong đó xem xét tính Tam hợp. Lục hợp... của Âm dương ngũ hành. Vòng Bạch đạo, tạo độ chênh khoảng 5 độ so với Hoàng Đạo.

Vấn đề Lục thập hóa giáp sẽ được phát triển trên cơ sở Bát trạch.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Tổng hợp các đồ hình liên quan đến việc xây dựng Lạc thư hoa giáp và Bát trạch:

Posted Image

* Chú thích: Lý Ngũ hành tương sinh thuộc Dương, nhưng vật thể hiện lý thuộc Âm; theo nguyên tắc trong Âm có Dương và ngược lại. Điều này đã minh chứng ở phần trên”Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và Lạc thư Hà đồ”: Tổ Mẫu biểu tượng của Âm sinh; “lên núi“ biểu tượng của Dương.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Trong bảng Lạc thư hoa giáp, chúng ta có 60 Bản mệnh (âm/ dương), tuy nhiên khi xem xét hướng hợp trong Bát trạch chỉ có 8 trường hợp của Bản mệnh ứng Kim Mộc Hỏa Thủy, trong khi đó theo Lạc thư còn có Bản mệnh hành Thổ? Vậy thì Bản mệnh Nam/ Nữ hành Thổ này được xem xét như thế nào? trong các quan hệ:

- Thiên can - tương tác từ ngoài Hệ mặt trời (vũ trụ). Năm

- Địa chi - tương tác từ Hệ mặt trời tới trái đất. Tháng

- Tương tác từ Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất. Ngày

- Tương tác do từ trường Trái đất quay quanh trục. Giờ

Năm - tháng - ngày - giờ sinh chính là tổ hợp các tương tác trên trong luận đoán mệnh Tử Vi...

Share this post


Link to post
Share on other sites

Để xác định được trường hợp Bản mệnh Nam/ Nữ hành Thổ ứng với các hướng thuận lợi trong Bát trạch, điều bắt buộc là chúng ta phải hiểu rõ các quy ước tương tác, chủ thể và khách thể trong mối quan hệ quy luật vận động, vì vậy tôi xác nhận lại một số ý để cùng ACE cùng tham gia cho ý kiến:

- Tương tác từ toàn bộ các Hệ vận động ngoài hệ Mặt trời (Vũ trụ) được xem là đồng nhất, do vậy tương tác tới cấp thấp hơn sẽ chỉ được quy ước là Khí âm và Khí dương mà thôi - Nguyên khí.

- Thiên Can là quy ước tương tác từ toàn bộ các hành tinh trong Hệ mặt trời tới Trái đất (không Mặt trời).

- Địa chi là quy ước tương tác từ Mặt trời tới Trái đất. Hướng hợp trong Bát trạch chỉ có 8 trường hợp của Bản mệnh ứng Kim, Mộc, Hỏa Thủy, còn hành Thổ thì cổ thư nói Nam - thuộc Khôn và Nữ - thuộc Cấn..

- Bản mệnh (Tuổi) là quy ước thuộc tính tổng thể của một sinh vật hữu tình (con người Nam/ Nữ) được sinh ra bởi Địa chi. Trong bảng Lạc thư hoa giáp, chúng ta có 60 Bản mệnh (30 âm/ 30 dương).

- Tương tác từ Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất trong chu kỳ khoảng 1 tháng. 6Ngày tương ứng Ngũ vận lục khí.

- Tương tác do từ trường Trái đất quay quanh trục trong 1 ngày.

Một số chú ý:

- Trong Hệ mặt trời: Trái đất thuộc hành Âm Mộc (Cấn).

- Bản mệnh Thổ luôn do Địa chi Hỏa sinh ra.

- Hành Thổ luôn tương hợp với mọi Hành khác hay mọi hướng Bát trạch khi xem xét về mặt tổng thể nhưng về chi tiết + Nam/ Nữ.

- Mặc dù Trái đất thuộc Âm Mộc nhưng thuộc tính được xác định theo tương sinh từ Mặt trời trong vòng vận động 1 năm.

- Bản mệnh do Địa chi sinh nhưng Địa chi lại có mối quan hệ không tách rời với Thiên Can. Do vậy, giữa Bản mệnh và Thiên can sẽ xảy ra các trường hợp sinh, khắc, hòa...

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phận tích:

- Hành Thổ luôn tương hợp với mọi Hành khác hay mọi hướng Bát trạch khi xem xét về mặt tổng thể nhưng về chi tiết thì cần phải phân tích.

- Như vậy, trong 8 hướng Bát trạch sẽ phải có sự tương hợp hoặc xung khắc phân cấp, chúng ta đi vào chi tiết hơn qua Âm Thổ (Nữ) và Dương Thổ (Nam).

- 8 phương sẽ tương ứng:

Càn Khảm Cấn Chấn: Âm - ứng Âm Thổ, tương hợp Cấn - dương nhất trong Âm.

Khôn Ly Tốn Đoài: Dương: ứng Dương Thổ, tương hợp Tốn - âm nhất trong Dương.

Theo cổ thư, Nam Khôn và Nữ Cấn, cổ thư sai độ số Tốn Khôn, do vậy kết quả đúng là Nam Tốn Nử Cấn.

Posted Image

Posted Image

Quán xét biểu đồ, hoàn toàn hợp lý.

Vậy, Nam Tốn và Nữ Cấn (đối xứng quan Trung cung)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chúng ta kiểm tra lại các quy ước tứ Dương trạch, Bốc dịch... (Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt và Tìm về cội nguồn Kinh dịch - Nguyễn Vũ Tuấn Anh):

Thuận tự nạp chi các quái Dương và Âm

trong Hậu Thiên Văn Vương

Posted Image

Tốn Khôn cần đổi chỗ.

Đồ hình minh họa

Tính chất quái tượng

qua Hậu Thiên bát quái nguyên thủy và Hà đồ

Posted Image

Như vậy chúng ta hiểu rằng, quy ước:

Càn, Khảm, Cấn, Chấn: Quái Dương.

Khôn, Ly, Tốn, Đoài: Quái Âm.

Nữ (Âm Thổ) hợp với quái Dương, vượng nhất ứng rất dương là quái Cấn.

Nam (Dương Thổ) hợp với quái Âm, vượng nhất ứng rất âm là quái Tốn.

Do vậy, Nếu bản mệnh Thổ, nam ứng Tốn và nữ ứng Cấn.

Chúng ta tiếp tục kiểm tra lại phương pháp Huyền không phi tinh là tương tác từ Hệ mặt trời tới một vị trí địa lý của Trái đất (quái Cấn) có gì sai khác theo quy ước hay không.

Share this post


Link to post
Share on other sites

[

Những nguyên lý căn bản của Huyền Không Lạc Việt và phương pháp ứng dụng

Thứ hai 16/05/2011 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Phạm Hữu Để - Hoàng Triều Hải

Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương

I - LỊCH SỬ HUYỀN KHÔNG VÀ HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT

I - 1. Giới thiệu sơ lược về lịch sử Huyền Không từ cổ thư chữ Hán.

Trường phái Huyền không ứng dụng trong phong thủy ngày nay, tương truyền do Thẩm Trức Nhưng sống vào cuối đời nhà Thanh, đầu thời Trung Hoa Dân quốc biên soan và lưu truyền. Nó được giới phong thủy Trung Hoa coi như là bô kinh điển phong thủy cuối cùng của các phương pháp ứng dụng trong khoa Phong thủy Đông phương. Thẩm trức Nhưng nghiễm nhiên được coi là ông tổ của phái Huyền Không, bởi sự công bố của ông. Cuốn sách được phổ biến ở Việt nam hiện nay là: "Thẩm thị Huyền không học - Phong thủy trong bối cảnh kiến trúc hiện đại" , do Nguyễn Anh Vũ dịch và được Nxb Văn Hóa Thông Tin phát hành năm 2003, đã xác nhận tác giả chính là Thẩm Trức Nhưng. Tuy nhiên, những tài liệu khác lại ghi rõ nguồn gốc của phương pháp này không phải do Thẩm Trức Nhưng sáng tạo với tư cách là một tác giả. Trong cuốn: " Cổ Dịch Huyền không học" - Nxb Đại Học Quốc gia 2001 viết: Vào mùa hè năm Quí Dậu 1873 thời vua Đồng Trị. Thẩm Trức Nhưng cùng học trò là Hồ Bá An, đến Vô Tích đã dùng khoản vàng lớn biếu hậu duệ của Chương Trong Sơn để mượn đọc. Hai người trong một ngày đêm đã có chép lai mang về. Qua ngghiên cứu, chỉnh lý rồi biên nhập vào sách "Thẩm thị huyền không học", sau đó để lại cho đời. Trường phái này căn cứ trên những quy ước về sự vận động của cửu tinh trên 9 phương vị (8 phương và ở giữa – Trung cung), tùy theo thuộc tính quy ước của cửu tinh và vị trí của nó để luận cát hung cho ngôi gia. Cho đến ngày nay, phương pháp Huyền Không rất phổ biến và được ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia và vùng lãnh thổ có ảnh hưởng văn hóa Đông phương cổ.

Nhưng cho đến ngày hôm nay, những nhà nghiên cứu Phong Thủy vẫn chưa thể biết được vì nguyên nhân nào để có những nguyên lý và khái niệm cũng như phuơng pháp luận của phương pháp Huyền không. Bởi vì, ngay cả sách của Thẩm Trức Nhưng cũng chỉ được coi là một bản thảo chưa hoàn chỉnh, mà cuốn sách chính thức được dịch ở Việt Nam - mà chúng tôi trình bày ở trên - được coi là do được nhiều môn đồ bổ chú và hoàn chỉnh. Như vậy, lịch sử Huyền Không được coi như xuất hiện vào thời cận đại của nền văn hóa Hán trải hàng ngàn năm và được coi là bộ kinh điển phong thủy cuối cùng được công bố.

Nhưng chính vì lịch sử xuất hiện của nó vào thế kỷ XIX, nhưng chính nó lại mâu thuẫn với dự kiện quan trong ban đầu của khoa Bát trạch Minh Cảnh - được coi là ra đời vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Đó là cách tính mệnh cung theo năm của gia chủ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã minh chứng rằng: Cách tính mệnh cung của gia chủ trong phái Bát Trạch chính là nguyên tắc phi tinh Huyền Không theo nguyên lý Nam Dương phi nghịch là Âm và Nữ Âm phi thuận là Dương. Một sự nghịch lý về nội dung trong lịch sử có xuất phát từ cổ thư chữ Hán: Cái có sau hàng ngàn năm là Huyền Không lại là cơ sở của cái ra đời từ hàng ngàn năm trước. Trong khi đó, những bản văn chữ Hán cho thấy rằng khoa Huyền không học trong phong thủy có khả năng tồn tại trước cuối đời Thanh trong văn hóa Hán.

Theo “Địa lý chính tông” Trần Đoàn chân truyền cho Ngô Khắc Thành những bí ảo của địa lý thiên văn. Ông truyền cho Ngô Khắc Thành cuốn “Thanh Nang”, Ngô Khắc Thành truyền cho con là Ngô Cảnh Loan, Ngô Cảnh Loan vì không có con trai nên truyền cho con gái, người con gái này truyền ra ngoài cho Liêu Vũ (Liêu Kim Tinh – Liêu Công). Liêu công vì chuyện gia đình đau buồn mà chết, lúc đương thời khi ông còn thưc hành phong thủy, có 2 người hầu không biết chữ nhưng nhớ được bí quyết của ông, họ tiếp tục thực hành và truyền bá qua 11 đời sau thì tới Lưu Bá Ôn. Thời nhà Minh có phong thủy gia, nhà thuật số phương đông nỗi tiếng phù tá Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh là Lưu Bá Ôn. Sau Lưu Bá Ôn thì ngày càng mai một do nhiều yếu tố và nhất là quy luật “bảo mật” của tông phái, mãi đến cuối thời Minh, Vô Cực Tử hiệu là Khởi Ông, truyền học thuật cho Tưởng Đại Hồng. Tưởng Đại Hồng là người ở Trấn Hưng Trạch huyện Tùng Giang tỉnh Giang Tô, hiệu là Đỗ Lăng Phu tử, sinh vào giờ Thìn ngày 27 tháng 12 năm Bính Thìn (1616). Tưởng Đại Hồng truyền cho Khương Diêu, nhưng dặn không “tiết lộ thiên cơ”.

Cuối thời nhà Thanh, huyền không có 6 phái: phái vô thường của Chương Trọng Sơn, phái Thượng Ngu của Trương Tâm Ngôn, phái Tô Châu của Chu Tiểu Hạc, phái Tương Sở của Y Hữu Bản, phái Quãng Đông của Sài Dân Sơn, phái Điền Nam của Phạm Nghi Tân. Trong 6 phái đó thì Chương Trọng Sơn là nỗi bật nhất vì sự luận đoán cực kỳ chính xác và thuật phong thủy cao siêu.

Chương Trọng Sơn tức Tuệ Tây Vô Tăng Đạo Nhân, thông hiểu dịch số đại huyền không, viết nhiều tài liệu khảo sát thực địa, chỉ để lại cho con cháu sử dụng. Thẩm Trúc Nhưng kết thân với con trai Chương Trọng Sơn, mượn tài liệu quý đã ngộ ra những điều tiền nhân chưa nói rõ hoặc tối nghĩa, như trước tác “Thanh Nang Áo Ngữ” của Dương Quân Tùng. Họ Thẩm người Tiền Đường, tên Thiệu Huân, hiệu Trúc Nhưng, ông là người say mê môn phong thủy, do sự tác động của người Thầy nói rằng: “Phái Huyền Không không phải là chính phái, không đáng học”, nên đương thời ông xem Huyền Không như con thú dữ cần tránh xa và ông xem Tưởng Đại Hồng được tôn là đầu não của phái Huyền Không là đại địch. Do tình cờ biết được thực tế ứng dụng có hiệu quả của phái Huyền Không, nên sau đó Thẩm Trúc Nhưng không dám khinh thường phái Huyền Không nữa và ông đã bỏ tâm sức để tìm hiểu về phái Huyền Không.

Thẩm Trúc Nhưng thường hay oán giận tiên sinh Tưởng Đại Hồng, vì họ Tưởng được Vô Cực chân truyền môn Huyền Không, nhưng họ Tưởng bị chấp trước câu: “Thiên cơ bất khả tiết lậu”, nên chỉ bí mật truyền thụ cho một số ít đệ tử và cấm đệ tử của mình phổ biến rộng rãi cho mọi người. Cuối đời Thanh, bộ “Thẩm Thị Huyền Không Học” do Thẩm Trúc Nhưng trước tác, được xem là tập đại thành và đặt dấu chấm hết cho thời kỳ bí truyền của phái Huyền Không.

Như vậy, chúng ta cũng thấy tính tam sao thất bản và sự lưu truyền không hoàn chỉnh của riêng phái huyền không (Gồm sáu phái trong một phương pháp) và sự mâu thuẫn với các phái khác. Huyền không lúc đầu không được coi là "Danh môn, chính phái". Bởi vậy, mặc dù hiệu quả của phong thủy trên thực tế chính là nguyên nhân để nó tồn tại trong xã hội Đông phương. Nhưng chính vì tính mâu thuẫn, mơ hồ và thất truyền – nên một thời rất dài khi tiếp xúc với nền văn minh Phương Tây, trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại ở buổi đầu sơ khai - khoa Phong thuỷ đã bị liệt vào loại “mê tín dị đoan”. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý rằng: Phong thuỷ chính là một phương pháp ứng dụng nhất quán, hoàn chỉnh và là hệ quả của một tri thức về thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ và con người được lý thuyết hoá - đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Học thuyết này đã thất truyền khi văn minh Lạc Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Những giá trị của nền văn minh này bị tan tác và lưu truyền trong dân gian. Bộ môn phong thuỷ Lạc Việt là một sự tổng hợp tất cả các phương pháp ứng dụng rời rạc trong cổ thư chữ Hán và các phương pháp còn lưu truyền trong dân gian với một nguyên lý căn để nhất quán là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". Trong bài tham luận này, người viết xin được trình bày nguyên lý căn để của Phong thủy Lạc Việt và phương pháp ứng dụng của một thành tố tương tác quan trong trong phong thủy Lạc Việt đó chính là Huyền không Lạc Việt.

I - 2. Nguyên lý căn để của Phong Thủy Lạc Việt.

Vởi những thành quả nghiên cứu mới nhất của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã chứng minh rằng:

Hà đồ là qui luật vận động của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ. Gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong mối liên hệ với Mặt trời, Mặt trăng được quan sát từ trái Đất. Hoàn toàn không như cổ thư chữ Hán miêu tả là do những vòng xoắn trên lưng con Long Mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, vua Phục Hy thấy được làm ra Hà Đồ.

Tính hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ cũng được chứng minh trong các công trình nghiên cứu đã xác định rằng: Đó là đồ hình nhất quán xuyên xuốt trong mọi ứng dụng liên quan đến Lý học Đông phương.

Nhất quán với nguyên lý xuyên suốt này - tính nhất quán là tiếu chí khoa học - Phong thủy Lạc Việt phi tinh trên cửu cung Hà Đồ, không phi tinh trên cửu cung Lạc Thư như phương pháp Huyền Không từ các bản văn văn chữ Hán liên quan đến Huyền không trong Phong thủy.

CỬU CUNG LẠC THƯ..................................................CỬU CUNG HÀ ĐỒ

Phối Hậu Thiên Văn Vương ..................................Phối Hậu Thiên Lạc Việt

Posted Image Posted Image

Trên cở sở này và tính hợp lý của mọi vấn đề và các hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương, Phong thủy Lạc Việt đã ứng dụng trong phương pháp Huyền Không Lạc Việt phi tinh. Phương pháp phi tinh theo Huyền Không Lạc Việt khác trên Lạc Thư từ cổ thư chữ Hán được so sánh trên đồ hình sau:

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Qua sự trình bày trên, chúng ta thấy rằng: Sư khác biệt giữa Huyền Không lạc Việt với Huyền Không trong cổ thư chỉ ở các phương vị phía Nam của Hà Đồ. Đây cũng là khác biệt chủ yếu của phương pháp Huyền Không Lạc Việt khi phi tinh, còn tất cả mối quan hệ phân tích tương quan các sao trong Huyền không và các mối tương quan khác và phương pháp luận trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành không thay đổi. Phần tiếp theo đây, chúng tôi giới thiệu về tuính ứng dụng cụ thể của Huyền Không lạc Việt để các nhà nghiên cứu về phong thủy tiện so sánh cụ thể những luận điểm và phương pháp ứng dụng của Huyền Không Lạc Việt với cổ thư chữ Hán.

II - PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT

Vũ trụ vận động không ngừng, tiền nhân đã phát hiện sự vận động đó có tính quy luật theo cửu tinh, được xem như 9 trường khí của 9 tinh thể lớn ảnh hưởng đến sự sống và các hoạt động trên trái đất. Người đời sau không hiểu biết tạo ra sự nhầm lẫn dẫn đến tệ mê tính dị đoan trong các môn lý học đông phương, nhất là không hiểu biết về sự tương tác của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ lên trái đất chúng ta đang sống. Sự tương tác này được gọi là “Thiên khí”, vận hành theo chiều thuận là dương số lẻ, là chiều từ số nhỏ đến số lớn. Còn khí của quả đất gọi là “Địa khí” có tính chất đục nặng vận hành theo chiều nghịch là âm số chẳn, chiều từ các số lớn đến các số nhỏ. Tiền nhân đã thể hiện hai chiều quay đó trong Hà đồ, tuy con người không nhìn thấy sự tương tác, nhưng vẫn biết sự tương tác đó tác động đến đời sống muôn vật, tạo nên sự thịnh suy của muôn vật.

II - 1. Tính chất của cửu tinh:

- Số 1: Nhất bạch Tham lang: Là cát tinh đứng đầu.

* Âm dương, ngũ hành: Dương thuỷ

* Màu sắc: Xanh đen.

* Cơ thể: Thận, tai, máu huyết

* Về con người: là con trai thứ

- Số 2: Nhị hắc Cự môn: là sao xấu, hung.

* Âm dương, ngũ hành: Âm hoả đới thổ.

* Màu sắc: Nâu đỏ.

* Cơ thể: bụng và dạ dày

* Về con người: Là người mẹ, người vợ.

- Số 3: Tam bích Lộc tồn: Là sao xấu.

* Âm dương, ngũ hành: dương mộc.

* Màu sắc: màu xanh lá cây đậm.

* Cơ thể: mật, vai và tay

* Về con người: là con trai trưởng

- Số 4: Tứ lục Văn xương: là sao tốt.

* Âm dương, ngũ hành: âm kim.

* Màu sắc: Xám trắng.

* Cơ thể: đùi và 2 chân.

* Về con người: con gái trưởng.

- Số 5: Ngũ hoàng Liêm trinh: Là sao xấu nhất, còn gọi là đại sát tinh.

* Âm dương, ngũ hành: Thổ

* Màu sắc: màu vàng

* Về cơ thể: không

* về người: không

- Số 6: Lục bạch Vũ khúc: Là sao tốt.

* Âm dương, ngũ hành: Âm kim đới thuỷ.

* Màu sắc: màu xanh da trời.

* Cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già

* Về con người: Là người cha, người chồng, người đứng đầu.

- Số 7: Thất xích Phá quân: Là sao xấu.

* Âm dương, ngũ hành: Dương hoả.

* Màu sắc: màu đỏ

* Cơ thể: mắt, tim, ấn đường.

* Về con người: con gái giữa.

- Số 8 : Bát bạch Tả phù: Là sao tốt.

* Âm dương, ngũ hành: Âm mộc.

* Màu sắc: màu xanh lá cây nhạt.

* Vơ thể: lưng, ngực và lá lách.

* Về con người: con trai út.

- Số 9: Cửu tử - Hữu bật: là sao trung tính.

* Âm dương, ngũ hành: Dương kim.

* Màu sắc: màu trắng.

* Cơ thể: phổi, miệng, lưỡi

* Về con người: con gái út.

II -2. Tam nguyên cửu vận:

Cửu tinh tương tác tạo nên ảnh hưởng đến mọi mặt trên trái đất, cái dễ cảm thấy nhất đó là khí hậu hàng năm, và chi phối đến tháng ngày giờ, sự chi phối này có chu kỳ nguyên vận hay là đại vận là một giáp 60 năm, tiểu vận hay là Vận khí 20 năm, mỗi nguyên có 3 vận, tam nguyên cửu vận có 180 năm vừa đúng với cửu tinh chín vận.

Ví dụ ta lấy tam nguyên cửu vận gần đây nhất:

Thượng Nguyên:

* vận 1: 1864 - 1883,

* vận 2: 1884 - 1903

* vận 3: 1904 - 1923

Trung Nguyên:

* vận 4: 1924 - 1943

* vận 5: 1944 - 1963

* vận 6: 1964 - 1983

Hạ Nguyên:

* vận 7: 1984 - 2003

* vận 8: 2004 - 2023

* vận 9: 2024 - 2043

Đại vận:

Theo Huyền không Lạc Việt dựa theo phép tính lấy thời điểm năm hành tinh Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cùng mặt trăng, mặt trời tạo thành một đường thẳng gọi là thất tinh hợp bích làm điểm khởi đầu của năm đầu kỷ nguyên niên lịch, nên năm giáp tý đầu tiên tương ứng với nhất bạch thuỷ tinh, như vậy lấy năm Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm tuất 2897 trước công nguyên đến nay thì đã trãi qua 84 đại vận. Đại vận 84 này thuộc hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, tức là đại vận của Tam bích mộc tinh.(vẽ bảng số 43 trang 222 sách "Tam nguyên cửu vận" của Giáo sư Hoàng Tuấn)

Tiểu vận:

Mỗi tiểu vận là 20 năm, hiện nay đang là hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, kéo dài từ năm 1984 đến năm 2043 thuộc đại vận Tam bích mộc tinh. Hạ nguyên có 3 tiểu vận, đó là vận 7, vận 8, vận 9. Năm 2009 thuộc tiểu vận 8 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2024 của hạ nguyên.

II -3. Đường di chuyển của cửu tinh (Lường Thiên xích).

Hà đồ và Lường Thiên Xích: Hà đồ thực chất là qui luật tương quan biểu kiến của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ với mặt trời và mặt trăng. Các sao này được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt mà 9 cung của Hà đồ đã thể hiện, đây cũng là bàn phi tinh cố định, như trong hình vẽ sau:

Posted Image

Chúng chỉ thay đổi theo không gian và thời gian với một đường đi cố định được gọi là quỹ đạo chuyển động cố định của các sao còn gọi là phi tinh, mà người xưa gọi là Lường Thiên Xích. Trong hình vẽ trên, những số trong 9 ô vuông là số của sao phi tinh. Ô vuông ở giữa gọi là Trung cung còn các cung khác đại diện cho 8 cung ở 8 hướng xung quanh theo nguyên lý " Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ". Ta có thứ tự như sau:

- Từ trung cung số 5 đi lên Tây bắc số 6.

- Từ Tây bắc số 6 xuống Nam số 7.

- Từ Nam số 7 lên Đông bắc số 8.

- Từ Đông bắc số 8 đến Tây số 9.

- Từ Tây số 9 lên Bắc số 1.

- Từ Bắc số 1 xuống Đông nam số 2.

- Từ Đông nam số 2 lên Đông số 3.

- Từ Đông số 3 qua Tây nam số 4.

- Tư Tây nam số 4 về lại trung cung số 5.

Lường Thiên Xích chia ra làm 2 loại đó là loại Thuận và loại Nghịch. Loại thuận bắt đầu từ Trung cung là số 5 rồi đi theo chiều tăng đến 6, 7, 8, 9, 1, 2, 3, 4. Lường Thiên Xích Nghịch thì lại bắt đầu từ số 5 rồi đi theo chiều giãm xuống đến 4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6. Tam nguyên long Huyền không coi vấn đề thuần khí như là một trong những yếu tốt bắt buộc, vì thế, nó được xem như là yếu tố xác định họa phúc, tốt xấu của một ngôi gia. Khi một ngôi gia có được một tinh bàn vượng sơn vương hướng rồi thì cũng nên chú ý đến việc thuần khí theo tam nguyên long, nghiã là cần xem cấu trúc hình thể trong ngôi gia đó có theo được sự kết hợp tốt theo tam nguyên long hay không, ví dụ như cổng, cửa, bếp, phòng … Tam nguyên long cũng chỉ là một yếu tố trong các yếu tố xem xét một ngôi gia tốt xấu mà thôi.

1 - Thiên nguyên long.

* 4 sơn dương: Càn , Khôn, Cấn, Tốn.

* 4 sơn âm: Tý , Ngọ, Mão , Dậu.

2 - Nhân nguyên long.

* 4 sơn dương: Dần, Thân, Tỵ, Hôi.

* 4 sơn âm: Ất, Tân, Đinh, Quý.

3 - Địa nguyên long.

* 4 sơn dương: Giáp, Canh, Nhâm , Binh.

* 4 sơn âm: Thìn, Tuất, Sửu , Mùi.

II - 4. Tinh bàn:

-Vận bàn:

Cần xác định vận bàn:

* Năm xây dựng mới ngôi gia.

* Năm sửa lại đa phần lại ngôi gia.

* Năm bắt đầu dọn vào ở trong ngôi gia.

Khi đã xác định được năm của ngôi gia rồi thì xem năm đó thuộc vận nào trong tam nguyên cửu vận. Xác định được vận thì đem số sao của vận đó vào Trung cung rồi di chuyển theo Lường Thiên Xích thuận mà sắp xếp các sao ở chín cung.

Ví dụ: Năm 2009 nằm trong vận 8 (2004-2024) thuộc hạ nguyên của tam nguyên cửu vận. Đưa sao Bát bạch vào trung cung di chuyển theo chiều thuận.

- Sơn tinh:

Còn gọi sơn bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương toạ của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, căn cứ theo tam nguyên long ở phương toạ là âm hay dương để di chuyển sao phi tinh theo chiều thuận hay nghịch. Sao phi tinh sơn bàn thường đặt bên trái của sao phi tinh vận bàn.

-Hướng tinh:

còn gọi là hướng bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương hướng của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, di chuyển thuận nghịch theo tam nguyên long âm dương ở hướng. Sao phi tinh hướng bàn thường đặt bên phải của sao vận bàn.

II - 5. Địa bàn:

Là bàn cố định của phi tinh hay còn gọi là cửu tinh đồ căn bản được sắp xếp theo các cung của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Sự chuyển động của khí trong vũ trụ là không ngừng theo năm, tháng, ngày, giờ. Cổ nhân đã dùng cửu tinh làm chủ cho sự thay đổi của thời gian đó. Mỗi sao của cửu tinh sẽ làm chủ một khoảng thời gian là năm tháng ngày giờ, vì vậy mỗi năm, tháng, ngày, giờ có một sao chủ. Sao chủ xếp vào vị trí trung cung của cửu cung và các sao khác di chuyển theo lường thiên xích thuận.

-Niên tinh:

Là sao quản năm, dùng cửu tinh phối với năm, ví dụ năm 2009 là sao cửu tử nhập trung cung và cũng là sao quản năm.

-Nguyệt tinh:

Là mỗi tháng có một sao phi tinh làm chủ quản lý chi phối tháng đó. Ví dụ từ ngày 7 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 12 năm 2009 là sao ngũ hoàng quản.

-Nhật tinh, Thời tinh:

Cũng tương tự như niên nguyệt, thi ngày và giờ cũng có một sao làm chủ và nó chi phối khoảng thời gian mà nó làm chủ.

Sự ảnh hưởng của niên nguyệt tinh mạnh nhất thường là những nơi có sự hoạt động thường xuyên và mạnh, như cửa, cổng ra vào, phòng bếp, phòng ngủ. Ngoài ra còn xét kết hợp với sao sơn hướng tinh ở khu vực chúng đến để xem xét tốt xấu tuỳ theo tính chất của sao niên nguyệt tinh.

II - 6. Chính thần & Linh thần

Đồ hình của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ có cửu tinh bài bố như sau:

- Chính thần là dùng nơi cao sơn của sao đương vận mà thu nhận khí. Như vận 8 thì lấy phương vị Bát bạch Cấn - làm chính thần.

Phương vị của Chính Thần cần có cao sơn thực địa.

- Linh thần là phương đối lại của chính thần. Phương vị LinhThần cần sông nước, trũng thấp.

Thí dụ: Như vận 8 phương đối lại của chính thần là phương vị Tứ - Tốn (Tây nam) làm linh thần.

Chính thần quàn 10 năm đầu của vận 20 năm. Linh thần quản 10 năm sau.

Riêng vận 5 có 20 năm, mười năm đầu lấy Nhị Khôn làm Linh thần và mười năm sau lấy Bát (Cấn) làm Chính thần.

Coi về Chính thần, Linh thần của đương vận là coi về vượng suy của một thành phố hay khu dân cư, ví dụ : vận 8, phương vị của Linh thần nằm ở phía Tây Nam. Do đó, nếu khu vực đó của thành phố hay khu dân cư ... mà có sông, hồ hoặc biển... thì rất tốt, chủ vượng phát về mọi mặt. Ngược lại, nếu khu vực đó lại có thế núi, thế đất tiến dần cao thì ngôi làng hay đô thị đó sẽ gặp nhiều việc không tốt. Còn về ngôi gia cư thì lấy sơn tinh đương vượng làm Chính thần và hướng tinh đương vượng làm Linh Thần. Phương Linh thần nên có Thuỷ, thấp trũng hay đường đi. Nếu phương vị của Hướng tinh sinh, vượng khí lại vào vị trí của Linh thần đương vận mà có thuỷ, thấp trũng hay đường đi thì tốt lại càng thêm tốt, đã vượng càng thêm vượng. Hướng tinh sinh vượng khí vào vị trí Chính thần của đương vận thì vẫn cần có thuỷ thì mới vượng phát được, còn gặp cao sơn thì suy.

II - 7. Cấu trúc hình thể với phi tinh:

Khi lựa chọn đựơc một mảnh đất hay một khu đất để quyết định xây một ngôi gia, hay một ngôi gia đã hoặc đang ở, ta kiểm tra hướng, xem hướng của ngôi gia có bị kiêm hướng hay bị phạm điêù gì không, sau đó ta cần chú ý đến cấu trúc hình thể trong và ngoaì ngôi gia có hợp với phi tinh Huyền Không Lạc Việt hay không, để hiệu chỉnh cho thích hợp.

Cấu trúc hình thể bên trong ngôi gia với phi tinh: Cấu trúc hình thể bên trong của một ngôi gia cần được điều chỉnh sắp xếp cho phù hợp với phi tinh, nghĩa là ở những nơi có phi tinh hướng sinh khí, vượng khí thì nên bố trí lối đi, hành lang, cầu thang, vật chứa nước, hồ cá, vòi nước, tranh ảnh thuỷ mặc… Còn ở những nơi là sinh vượng khí của sơn tinh nên làm phòng ngũ, bếp, bàn làm việc.

Cấu trúc cảnh quan bên ngoài ngôi gia với phi tinh: Cảnh quan xung quanh ngôi gia phối với phi tinh cũng rất quan trọng, ở những khu vực có hướng tinh sinh vượng khí thì cần trống thoáng, như có hồ nước hay đường đi làm hư thủy làm cho hướng tinh được đắc cách mà tốt hơn. Ngược lại tại khu vực sinh vượng của hướng tinh mà có núi đồi, nhà cao, cây cao áp sát ngôi gia thì hướng tinh bị thất cách làm cho ngôi gia không hưởng được khí sinh vượng của phi tinh nên không tốt. Còn ở những khu vực có sơn tinh sinh vượng khí thì cần có cao sơn thực địa như núi đồi, nhà cao tầng, cây cao…còn ngược lại thì không tốt. Tùy theo tinh bàn của từng ngôi gia mà cần có bố trí cho thích hợp, ví dụ như ngôi gia có tinh bàn thướng sơn hạ thủy thì cần có sự bố trí ngược lại mà người xưa gọi là cách đảo kị long, hoặc theo cách thu sơn xuất sát.

II - 8. Phân cung.

Bắt đầu từ tâm nhà chia mặt phẳng diện tích làm 8 phương vị:

1) Bắc: Từ 337, 5 độ - 0độ (Chính Bắc) - 22, 5 độ; Quái Khảm quản.

2) Đông Bắc: 22,5 độ - 45 độ (Chính Đông Bắc) - 67, 5 độ. Quái Cấn quản.

3) Đông: 67,5 độ - 90 độ (Chính Đông) - 112,5 độ. Quái Chấn quản.

4) Đông Nam: 112, 5 độ - 135 độ (Chính Đông Nam) - 157, 5 độ.Quái Khôn quản.

5) Nam: 157, 5 độ - 180 độ (Chính Nam) - 202,5 độ.Quái Ly quản

6) Tây Nam: 202,5 độ - 225 độ (Chính Tây Nam) - 247.5 độ. Quái Tốn quản

7) Tây: 247,5 độ - 270 độ (Chính Tây) - 292, 5 độ. Quái Đoài quản.

8) Tây Bắc: 292,5 độ - 315 độ (Chính Tây Bắc) - 337, 5 độ. Quái Càn quản.

- 24 Sơn hướng.

Tám cung đó tính từ Càn thuận chiều kim đồng hồ là:

Càn , Khảm , Cấn , Chấn , Khôn , Ly , Tốn , Đoài .

Trong Phong thủy mỗi phương quản 45 độ. Nhưng thực tế cho thấy do những yếu tố tương tác khác nhau, mà không thể có nhà nào chính hướng và có những sai lệch. Sự sai lệch này cũng có những tương tác khác nhau trong cùng một phương. Bởi vậy trong phong thuỷ người ta mới chia nhỏ mỗi phương thành 3 vị trí khác nhau gọi là sơn hướng. Do đó, 8 phương có tổng cộng là 24 sơn hướng. Mỗi cung như vậy lại chia làm 3 sơn. Mỗi sơn quản 15 độ. Tên gọi của các sơn hướng lần lượt như sau:

1: Càn: Gồm ba sơn Tuất - Càn - Hợi.

2: Khảm: Gồm ba sơn Nhâm - Tý - Quí.

3: Cấn: Gồm ba sơn Sửu - Cấn - Dần.

4: Chấn: Gồm ba sơn Giáp - Mão - Ất.

5: Khôn: Gồm ba sơn Thìn - Khôn - Tỵ.

6: Ly: Gồm ba sơn Bính - Ngọ - Đinh.

7: Tốn: Gồm ba sơn Mùi - Tốn - Thân.

8: Đoài: Gồm ba sơn Canh - Dậu - Tân.

Chúng ta đều biết rằng:

Hợi Tý Nhâm Quý thuộc Thủy - Màu xanh dương;

Giáp Ất Dần Mão thuộc Mộc - Màu xanh lá cây;

Tỵ Bính Ngọ Đinh thuộc Hỏa - Màu đỏ;

Thân Canh Dậu Tân thuộc Kim - Màu trắng

Nguyên lý này trùng khớp một cách hợp lý giữa La Kinh và Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt.

- Phân độ:

Mỗi phân độ chiếm chỉ 5 độ trên La bàn. Gọi là 72 phân kim ứng với 72 Địa sát trên toàn Thiên Bàn. Ngoài ra các vòng La Kinh còn chia 60 phân mạch Bảo châu. Mỗi phân mạch Bảo châu chiếm 6 độ Địa bàn.

Sự phân chia các phương vị trên La kinh còn nhiều phức tạp khác, Nhưng chỉ dùng nhiều trong Âm Trạch. Trong Dương Trạch thì chúng ta chỉ cần đến sự phân độ như trên và nắm vững cách tính một số vòng sao.

12 địa chi sơn trong tam hợp bàn, mỗi sơn có 5 ô Giáp tý, khi nạp âm thì ngũ hành của mỗi hoa giáp sẽ khác nhau, như Tý sơn có Giáp Tý (kim), Bính Tý (Thuỷ), Mậu Tý (Hoả), Canh Tý (Thổ), Nhâm Tý (Mộc). 12 sơn cộng lại 60 giáp tý, còn gọi 60 Thấu địa long, hoặc ngũ tý khí. Phép lập hướng phải biết tiết chế bớt khí quá vượng và bổ sung khí cho khí quá yếu.

- Phân Kim :

Phương pháp phân kim cụ thể như sau:

-Sơn Tý có: Giáp Tý (Kim), Bính Tý (Hỏa), Mậu Tý (Thủy), Canh Tý (thổ), Nhâm Tý (mộc).

-Sơn Sửu có: Ất Sửu (Kim), Đinh Sửu (Thuỷ), Kỷ Sửu (Thủy), Tân Sửu (thổ), Quí Sửu (mộc)

-Sơn Dần có : Bính Dần (Thủy), Mậu Dần (thổ). Canh Dần (mộc), Nhâm Dần (kim), Giáp Dần (Thuỷ).

-Sơn Mão có : Đinh Mão (Thủy), Kỷ Mão (thổ), Tân Mão (mộc), Quý Mão (kim), Ất Mão (Hỏa).

-Sơn Thìn có : Mậu Thìn (mộc), Canh Thìn (kim), Nhâm Thìn (Hỏa), Giáp Thìn (Thủy), Bính Thìn (thổ).

-Sơn Tỵ có : Kỷ Tỵ (mộc), Tân Tỵ (kim), Quý Tỵ (Hỏa), Ất Tỵ (Toả), Đinh Tỵ (thổ).

-Sơn Ngọ có : Canh Ngọ (thổ), Nhâm Ngọ (môc), Giáp Ngọ (kim), Bính Ngọ (Hỏa), Mậu Ngọ (Thủy).

-Sơn Mùi có : Tân Mùi (Thổ), Quý Mùi (Mộc), Ất Mùi (Kim), Đinh Mùi (Hỏa), Kỷ Mùi (Thủy).

-Sơn Thân có : Nhâm Thân (kim), Giáp Thân (Hỏa), Bính Thân (Thủy), Mậu Thân (thổ), Canh Thân (mộc)

-Sơn Dậu có : Quý Dậu (kim), Ất Dậu (Hỏa), Đinh Dậu (Thủy), Kỷ ̉ Dậu (thổ), Tân Dậu (mộc).

-Sơn Tuất có: Giáp Tuất (Thủy), Bính Tuất (thổ), Mậu Tuất (mộc), Canh Tuất (kim), Nhâm Tuất (Hỏa).

-Sơn Hợi có: Ất Hợi (Thủy), Đinh Hợi (thổ), Kỷ Hợi (mộc), Tân Hợi (kim), Quí Hợi (Hỏa).

Nguyên tắc sử dụng phân kim là ở chỗ vượng thì tiết giảm, suy thì bổ cứu, tránh hung theo cát, tức tránh tương khắc (nếu khắc xuất là tiết), theo cát (sinh nhập, ngang hoà là cát, sinh xuất là tiết). Tóm lại là phải vận dụng linh hoạt. Ngoài ra cần lưu ý đến làn ranh phân kim, nếu phạm sẽ dẫn đến ngũ hành lẫn lộn mà có nhiều hung sát

II - 9. Cách bố trí sơ đồ nhà kết hợp phi tinh.

-Phòng bếp:

Bếp là nơi chế biến nguồn dinh dưỡng cho mọi người, chủ về nhân đinh, cho nên nó có tầm ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong một ngôi gia về sức khoẻ, sự bình an và tài lộc vì thế bếp phải đặt tại phương vị tốt (Vị trí tọa tốt) có các sao là sơn tinh sinh vượng tiến khí và các sao tốt. Hướng bếp phải là hướng tốt, có các sao là hướng tinh sinh vượng tiến khí.

Hướng nhà và vị trí bếp hay hướng bếp phải cùng Tam nguyên long, cụ thể là hướng nhà là Thiên nguyên long thì vị trí bếp, hướng bếp là Thiên nguyên long hoặc là Nhân nguyên Long. Hướng nhà là Nhân nguyên long thì hướng bếp và vị trí bếp là Nhân nguyên long hoặc là Thiên nguyên long. Còn Địa nguyên long chỉ nên phối với Địa nguyên long, không kết hợp được với Nhân nguyên long hay Thiên nguyên long, nếu kết hợp sẽ không được tốt.

- Không nên đặt bếp tại Hướng tinh 2; 5 vì hoả sinh thổ. Sao 5 là Ngũ Hoàng Liêm trinh: chủ bệnh tật hao tài. Sao 2 là nhị hắc bệnh phù: Chủ bệnh tật.

- Không nên đặt tại nơi có vượng sinh tiến khí của hướng tinh. Nếu đặt thì dễ bị hao hụt về tài chính. Vị trí đặt bếp là tính theo 24 sơn tính từ tâm nhà, chứ không tính theo tâm phòng bếp.

- Dời bếp vào hướng phạm thái tuế: Nếu là cung có sơn tinh đang vượng thì rất tốt, còn không thì tai hoạ. Chỉ nên tránh vào tháng phạm thái tuế và trực xung thái tuế (Thí dụ: năm 2009, thái tuế cung Sửu thì nên tránh tháng, ngày, giờ Sửu và Mùi (trực xung).

Hướng bếp nên hướng về hướng tinh là:

* Nhất bạch: Hành thuỷ là thuỷ hoả ký tế nên là bếp cát

* Tam bích, bát bạch: Mộc sinh hoả là bếp cát.

* Nhị hắc, ngũ hoàng: Nhị hắc là bệnh phù, ngũ hoàng là đại sát nên kỵ

-Phòng khách:

Là nơi tụ hợp các thành viên trong gia đình, nơi tiếp khách, nghĩ ngơi tạm thời, chổ ngồi, nằm, uống trà, hút thuốc, tụ tập nói chuyện, thư giãn, nghe nhạc, xem truyền hình, đọc sách, làm việc, vì thế nó có vai trò cũng quan trọng. Do những ngôi nhà trong thành phố thường bị hạn chế về diện tích sử dụng, thì phòng khách thường cũng là phòng ăn. Vị trí tốt thường bố trí ở trung tâm ngôi gia, ở khu vực có sơn tinh sinh khí xa, ví dụ như vận 8 là sơn tinh nhất bạch, vận 7 là sơn tinh cửu tử, vận sáu là bát bạch…

II - 10. Các loại sao sát và những kiêng kỵ.

Thần sát:

-Sao bản mệnh: là sao quản năm sinh của một người nào đó, ví dụ: nếu người đó sinh năm 2009, thì sao bản mệnh là cửu tử.

-Bản mệnh sát và đích sát: Trong phi tinh của niên, nguyệt, nhật, thời, ở tại phương vị nào có phi tinh là sao bản mệnh thì gọi là bản mệnh sát, phương vị đối lập với phương bản mệnh sát tức là đối xung gọi là “đích sát”.

Phương bản mệnh sát và phương đích sát đều là các phương đại hung, không được phạm đến.

- Ám kiến sát:

Sao phi tinh của niên nguyệt nhật thời nhập trung cung, phương vị có số sao phi tinh nhập trung cung thì gọi là phương vị ám kiến sát của niên nguyệt nhật thời đó. Phương vị ám kiến sát cũng là phương đại hung.

-Thái tuế:

Thái Tuế - vật thể thuộc Âm - là sao lớn nhất gần trái Đất và nhóm sao II ngoài vòng Thiên Thạch. Thái tuế là mộc tinh (Jupiter) lớn nhất trong thất tinh, nên khi nó đi tới đâu thì nó sẽ kéo hết dương khí về nơi đó. Theo quan niệm về "Khí" của Phong thủy Lạc Việt: Tất cả khí ngoài trái Đất đều thuộc Dương so với trái Đất. Nên sự tương tác rất mạnh về Dương Khí. Dương khí vượng ở hướng tất suy ở sơn và Âm khí vượng ở Sơn tất suy ở hướng. Mà hướng là dương, tọa là âm vì thế mà kỵ hướng, tuế phá ngược lại vì do dương khí bị kéo hết về nơi thái tuế nên tuế phá hoàn toàn là âm khí nên kỵ tọa. Thái tuế kỵ hướng không kỵ tọa, bởi vì thái tuế tính dương động kỵ hướng là do nơi hướng thường là nơi hoạt động vào ra của con người nên động càng thêm động, vì thế cũng kị mở cửa theo hướng của năm sinh để tránh không xung phạm Thái tuế. Thí dụ người tuổi Sửu không mở cửa hướng Sửu, người tuổi Tý không mở cửa hướng Tý, các tuổi khác cũng như vậy, để tránh tới năm tuổi Thái tuế đến cửa mà gây ra nhiều chuyện phiền toái.

-Xung Thái tuế:

là Thái-tuế xung khắc với năm sinh của chủ nhà. Thí dụ người sinh năm Dần thì niên canh Thái-tuế của người đó là Dần. Dần lại tương xung với Thân nên gặp năm Thân, tức là năm “niên canh xung Thái-tuế” thì người này phải tránh hành động tại 2 cung Dần, Thân để tránh khỏi bị trắc trở.

-Nơi có phi tinh tốt gặp Thái tuế thì tốt thêm, nơi có phi tinh xấu mà gặp Thái tuế thì càng thêm xấu.

-Thái tuế Có 2 loại là Thái tuế theo năm và Thái tuế theo phi tinh:

*Thái tuế theo năm: là Thái tuế tính theo các địa chi của năm và phương vị mang tên địa chi đó. Ví dụ: Năm Tý Thái tuế ở phương Tý (phía Bắc), năm Sửu Thái tuế ở phương Sửu (phía Đông Bắc)…

* Thái tuế theo phi tinh là Thái tuế theo sao cửu tinh của năm. Ví dụ: Năm 2009 là năm Sửu, phương Sửu ở Đông bắc, mà Đông bắc theo bàn phi tinh cố định là Bát bạch làm đại diện, phi tinh đại diện của năm Sửu là Cửu tử, đem Cửu tử nhập trung cung di chuyển theo Lường Thiên xích thuận thì sao Bát bạch đến phương Tây Nam, như vậy Thái tuế phi tinh năm 2009 Kỷ sửu là ở phương Tây Nam.

Tuế phá: Phương đối ngược lại với phương Thái-tuế là phương Tuế-phá. Phương Thái-tuế nơi hoàn toàn có khí dương, ngược lại phương có Tuế-phá là nơi hoàn toàn có khí âm. Vì thế đây là 2 cung âm dương đối lập, tương khắc, tương xung. Như vậy khi các cung này ở trong vị trí tốt thì rất tốt mà trái lại thì rất xấu. Các ngày Tuế-phá cũng được tính theo như thí dụ sau đây: Năm Tý, Thái-tuế địa bàn ở

phương Tý thì Tuế-phá ở phương ngược lại là phương Ngọ nên các ngày Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ... đều là ngày Tuế-phá có khí âm cực mạnh. Do đó khi phạm vào thì dể gặp tai họa nhất là người tuổi Tý.

-Tam sát:

Là phần bên hông vuông góc với trục Thái Tuế và Tuế Phá theo chiều thuận từ Thái Tuế đến Tam sát, Tam sát chính là nơi giao lưu tương tác Âm Dương theo chiều thuận do ảnh hưởng của Thái Tuế và tuế phá gây nên, còn gọi là 3 sao có sát khí là Tuế sát, Kiếp sát và Tai sát. Ba điểm này cần thận trọng khi động thổ, tu sửa... Thí dụ Thái Tuế cung Sửu thì Tam sát ở cung Thìn.

Có 3 loại tam sát năm, tháng và ngày.

- Những năm Dần - Ngọ - Tuất: Tam sát ở phía BẮC.

- Những năm Hợi - Mão - Mùi: Tam sát ở phía TÂY.

- Những năm Thân - Tý - Thìn: Tam sát ở phía NAM.

- Những năm Tỵ - Dậu - Sửu: Tam sát ở phía ĐÔNG.

Tam sát chỉ kiêng kỵ ở phương toạ, không kiêng kỵ ở nơi hướng của ngôi gia. Nếu xây nhà, nhập trạch vào năm có tam sát đến toạ thì mới bị ảnh hưởng xấu. Ngoài ra cũng cần chú ý đến phương vị của giường ngủ, nếu giường ngủ mà nằm tại khu vực của tam sát thì tránh ra khu vực đó trong năm bị Tam sát.

-Ngũ hoàng sát:

Ngũ Hoàng đại sát còn gọi là "Mậu Kỷ Đô thiên sát". Nếu Ngũ hoàng xuất hiện ở sơn hướng nên tránh, vì Ngũ Hoàng là tối hung không thể xâm phạm, khu vực mà có sao Ngũ Hoàng bay đến trong năm thì cần phải tránh, chứ không xung phạm. Nếu xung phạm thì lập tức sẽ có những biến động, hoặc tai họa nguy hiểm, đang tốt thành xấu, người cư ngụ ở nơi có Ngũ Hoàng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ và tiền bạc.

III - KẾT LUẬN

Chúng tôi quan niệm rằng: Bản chất của Phong thủy là ứng dụng những quy luật tương tác trong thiên nhiên, vũ trụ và con người. Đây chính là những thực tại khách quan đang tác động đến cuộc sống của chúng ta.

Trong bài viết này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu một trong những yếu tố tương tác quan trong. Đó chính là sự vận động có tính quy luật của các vì sao trong Thái Dương hệ lên trái Đất và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người - mà chúng tôi cho rằng: Đó chính là nhận thức thực tại được qui ước, ký hiệu hóa trong phương pháp Huyền không, ứng dụng trong phong thủy. Huyền không Lạc Việt với nguyên lý căn để là "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" và phương pháp ứng dụng căn bản, nhằm minh chứng tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng giải thích hợp lý các vần đề liên quan so với sự huyễn ảo của Phong thủy từ văn bản cổ. Đó chính là yếu tố làm sáng tỏ tính khoa học của Phong Thủy theo tiêu chí khoa học. Đó chính là sự hiệu chỉnh để làm sáng tỏ chân lý, chứ không phải là sự phủ nhận những giá trị ứng dụng có hiệu quả đã được thừa nhận trong ứng dụng trải hàng ngàn năm của khoa Phong thủy Đông phương. Những phương pháp luận trong ứng dụng, được giới thiệu trong bài viết này ở trên đã chứng tỏ điều đó.

Chúng tôi cũng không có tham vong ngay bây giờ có thể giải thích tất cả những bí ẩn của Lý học Đông phương. Đây là một công trình nghiên cứu đòi hỏi thời gian và sự đóng góp của nhiều con người, thậm chí có thể là nhiều thế hệ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn ở việc minh chứng tính khoa học của phoing thủy - qua Phong thủy Lạc Việt - là sự thống nhất các phát hiện rời rạc, hiệu chỉnh những sai lầm và khiếm khuyết dẫn đến mâu thuẫn và mơ hồ của khoa Phong thủy. Từ đó, chúng tôi hy vọng rằng: Hội Thảo phong thủy lần này, sẽ là những bước mở đầu cho sự khám phá những bí ẩn của văn hóa Đông phương, mang trong nội dung của nó những nhận thức kỳ vĩ của thiên nhiên, vũ trụ và con người.

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo.

-Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

-Trạch vận tân án - Thẩm Trúc Nhưng và các tác giả.

-Tìm hiểu cổ dịch huyền không - Hồ Kinh Quốc.

-Phong Thuỷ Huyền Không Học - Bình Nguyên Quân.

-Ứng dụng phong thuỷ trong xây dựng và đời sống - Vũ Đình Chỉnh.

-Lý thuyết tam nguyên-cửu vận và nguyên lý dự báo cổ-Hoàng Tuấn.

-Huyền học và nhà ở hiện đại – Chung Nghĩa Minh.

-Giáo trình lớp PTLVII – Lưu hành nội bộ.

-Tài liệu của anh Kép Nhật.

-Địa lý toàn thư – Lưu Bá Ôn và các tác giả.

-Phong thủy trong đời sống hiện đại – Nguyễn Hoàng Hải.

-Thẩm thị huyền không học – Nguyễn Anh Vũ biên dịch.

-Thủy Long Kinh-Long mạch bí truyền – NXB Hải Phòng.

-Bí mật gia cư âm trạch và dương trạch – biên soạn: Duy Nguyên, Trần Sinh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chúng ta có thể chú ý trong quá trình nhận định về các quy ước của của các phương pháp:

- Tính hòa, sinh, khắc, bị sinh và bị khắc của một trạng thái ADNH sự vật chủ thể so với khách thể. Điều này cho thấy các thuộc tính ADNH của mỗi tổ hợp đều tương đương nhau, ví dụ hành Mộc của hệ Mặt trời hòa hành Mộc của con chim chẳng hạn... Hay hành Mộc của toàn bộ vũ trụ hợp hành Mộc của con người.

- Tên gọi là chỉ sự vật, hiện tượng hiển lộ qua thuộc tính đặc trưng và âm dương so sánh đồng đẳng, ví dụ Cha là đàn ông và Mẽ là người đàn bà. Trong đó Cha biểu tượng quẻ Càn và Mẹ với biểu tượng quẻ Khôn.

- Quẻ Càn, Khôn là biểu tượng thuộc tính ADNH. Càn có thuộc tính âm và Khôn mang thuộc tính dương, hay biểu tượng Lý của sự vật, hiện tượng. Do vậy, Cha - thể dương với biểu tượng Càn - tính âm và Mẹ - thể âm vớ biểu tượng Khôn - tính dương.

Hệ quả thực tại nhận biết, người phụ nữ sẽ thọ hơn đàn ông vì mang thuộc tính dương, gần nguyên thủy của vạn vật, với so sánh đồng đảng.

Nếu nhận định về Vụ trụ một cách độc lập thì Vũ trụ vẫn vận động thep quy luật và vẫn được quy ước theo nguyên lý ADNH, nhưng nếu chúng ta thiết lập chủ thể và khách thể là Vũ trụ thì Vũ trụ chỉ còn toàn là Khí mà thôi, do sự vô cùng của nó.Lúc này, Khí được quy ước về Âm/ Dương mà không ở trạng thái Ngũ Hành.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHÂN TÍCH:

Nhưng chính vì lịch sử xuất hiện của nó vào thế kỷ XIX, nhưng chính nó lại mâu thuẫn với dự kiện quan trong ban đầu của khoa Bát trạch Minh Cảnh - được coi là ra đời vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Đó là cách tính mệnh cung theo năm của gia chủ. Cách tính mệnh cung của gia chủ trong phái Bát Trạch chính là nguyên tắc phi tinh Huyền Không theo nguyên lý Nam Dương phi nghịch là Âm và Nữ Âm phi thuận là Dương. Một sự nghịch lý về nội dung trong lịch sử có xuất phát từ cổ thư chữ Hán: Cái có sau hàng ngàn năm là Huyền Không lại là cơ sở của cái ra đời từ hàng ngàn năm trước.

Vấn đề này cần kiểm tra lại từ các quy ước tương tác. Trong Lạc thư hoa giáp 60 năm, chúng ta thấy mỗi năm đều có Vận khí và Thiên khí, giữa chúng có 5 mối quan hệ như đã trình bày. Nếu trong năm nào đó mà có đứa trẻ sinh ra thì Bản mệnh sẽ tương ứng do Địa khí sinh ra theo chiều tương sinh và Bản mệnh cũng sẽ có 5 mối quan hệ với Thiên khí. Như vậy, tương tác từ Hệ mặt trời tới một vị trí nào đó trên trái đất hoàn toàn đã được xác định qua Thiên khí và Địa khí, chỉ còn xác định mốc thời gian khởi điểm cho vòng tương tác.

Vòng vận động của Thiên khí theo chiều thuận kim đồng hồ so sánh tới một vị trí trên trái đất.

Bộ môn phong thuỷ Lạc Việt là một sự tổng hợp tất cả các phương pháp ứng dụng rời rạc trong cổ thư chữ Hán và các phương pháp còn lưu truyền trong dân gian với một nguyên lý căn để nhất quán là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ".

CỬU CUNG LẠC THƯ..................................................CỬU CUNG HÀ ĐỒ

Phối Hậu Thiên Văn Vương ..................................Phối Hậu Thiên Lạc Việt

Posted Image Posted Image

Trên cở sở này và tính hợp lý của mọi vấn đề và các hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương, Phong thủy Lạc Việt đã ứng dụng trong phương pháp Huyền Không Lạc Việt phi tinh. Phương pháp phi tinh theo Huyền Không Lạc Việt khác trên Lạc Thư từ cổ thư chữ Hán.

Posted Image

Sư khác biệt giữa Huyền Không lạc Việt với Huyền Không trong cổ thư chỉ ở các phương vị phía Nam của Hà Đồ. Đây cũng là khác biệt chủ yếu của phương pháp Huyền Không Lạc Việt khi phi tinh, còn tất cả mối quan hệ phân tích tương quan các sao trong Huyền không và các mối tương quan khác và phương pháp luận trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành không thay đổi.

Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ là nguyên lý căn để cho nên việc chuyển phương Nam là hoàn toàn chuẩn xác.

PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT

Vũ trụ vận động không ngừng, tiền nhân đã phát hiện sự vận động đó có tính quy luật theo cửu tinh, được xem như 9 trường khí của 9 tinh thể lớn ảnh hưởng đến sự sống và các hoạt động trên trái đất. Người đời sau không hiểu biết tạo ra sự nhầm lẫn dẫn đến tệ mê tính dị đoan trong các môn lý học đông phương, nhất là không hiểu biết về sự tương tác của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ lên trái đất chúng ta đang sống. Sự tương tác này được gọi là “Thiên khí”, vận hành theo chiều thuận là dương số lẻ, là chiều từ số nhỏ đến số lớn. Còn khí của quả đất gọi là “Địa khí” có tính chất đục nặng vận hành theo chiều nghịch là âm số chẳn, chiều từ các số lớn đến các số nhỏ. Tiền nhân đã thể hiện hai chiều quay đó trong Hà đồ, tuy con người không nhìn thấy sự tương tác, nhưng vẫn biết sự tương tác đó tác động đến đời sống muôn vật, tạo nên sự thịnh suy của muôn vật.

Theo phân tích cá nhân, Trái đất quay xung quanh Mặt trời và 7 hành tinh khác cũng vậy. Tương tác từ Mặt trời gọi là Địa khí (Địa chi) và tổ hợp tương tác của tất cả các Hành tinh trong Hệ mặt trời tới Trái đất gọi là Thiên khí (Thiên can). Như đã phân tích, quy luật Thiên khí đang xem xét tương ứng với Địa khí theo chiều thuận còn Địa chi cũng đang vận hành theo chiều thuận: điểm này cần xem xét lại các quy ước?.

II - 1. Tính chất của cửu tinh:

- Số 1: Nhất bạch Tham lang: Là cát tinh đứng đầu.

* Âm dương, ngũ hành: Dương thuỷ

* Màu sắc: Xanh đen.

* Cơ thể: Thận, tai, máu huyết

* Về con người: là con trai thứ

Tính chất của Cửu tinh thực ra là tính chất ADNH của con người, do tính chất tương tác cũng là ADNH cho nên tương ứng. Mặt khác, Phi tinh Huyền không xem xét tương tác tới ngôi nhà.

Tam nguyên cửu vận:

Cửu tinh tương tác tạo nên ảnh hưởng đến mọi mặt trên trái đất, cái dễ cảm thấy nhất đó là khí hậu hàng năm, và chi phối đến tháng ngày giờ, sự chi phối này có chu kỳ nguyên vận hay là đại vận là một giáp 60 năm, tiểu vận hay là Vận khí 20 năm, mỗi nguyên có 3 vận, tam nguyên cửu vận có 180 năm vừa đúng với cửu tinh chín vận.

Ví dụ ta lấy tam nguyên cửu vận gần đây nhất:

Thượng Nguyên:

* vận 1: 1864 - 1883,

* vận 2: 1884 - 1903

* vận 3: 1904 - 1923

Trung Nguyên:

* vận 4: 1924 - 1943

* vận 5: 1944 - 1963

* vận 6: 1964 - 1983

Hạ Nguyên:

* vận 7: 1984 - 2003

* vận 8: 2004 - 2023

* vận 9: 2024 - 2043

Đại vận:

Theo Huyền không Lạc Việt dựa theo phép tính lấy thời điểm năm hành tinh Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cùng mặt trăng, mặt trời tạo thành một đường thẳng gọi là thất tinh hợp bích làm điểm khởi đầu của năm đầu kỷ nguyên niên lịch, nên năm giáp tý đầu tiên tương ứng với nhất bạch thuỷ tinh, như vậy lấy năm Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm tuất 2897 trước công nguyên đến nay thì đã trãi qua 84 đại vận. Đại vận 84 này thuộc hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, tức là đại vận của Tam bích mộc tinh.(vẽ bảng số 43 trang 222 sách "Tam nguyên cửu vận" của Giáo sư Hoàng Tuấn)

Tiểu vận:

Mỗi tiểu vận là 20 năm, hiện nay đang là hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, kéo dài từ năm 1984 đến năm 2043 thuộc đại vận Tam bích mộc tinh. Hạ nguyên có 3 tiểu vận, đó là vận 7, vận 8, vận 9. Năm 2009 thuộc tiểu vận 8 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2024 của hạ nguyên.

Tam nguyên cửu vận đang đặc trưng cho tương tác đơn vị nhỏ nhất là 20 năm, và đại diện cho tương tác này là từ nơi nào tới ngôi nhà mà chúng ta đang quan tâm?. Rõ ràng, tương tác này từ ngoài Hệ mặt trời cho nên gọi là Huyền Không.

Đường di chuyển của cửu tinh (Lường Thiên xích).

Hà đồ và Lường Thiên Xích: Hà đồ thực chất là qui luật tương quan biểu kiến của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ với mặt trời và mặt trăng. Các sao này được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt mà 9 cung của Hà đồ đã thể hiện, đây cũng là bàn phi tinh cố định, như trong hình vẽ sau:

Posted Image

Chúng chỉ thay đổi theo không gian và thời gian với một đường đi cố định được gọi là quỹ đạo chuyển động cố định của các sao còn gọi là phi tinh, mà người xưa gọi là Lường Thiên Xích. Trong hình vẽ trên, những số trong 9 ô vuông là số của sao phi tinh. Ô vuông ở giữa gọi là Trung cung còn các cung khác đại diện cho 8 cung ở 8 hướng xung quanh theo nguyên lý " Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ". Ta có thứ tự như sau:

- Từ trung cung số 5 đi lên Tây bắc số 6.

- Từ Tây bắc số 6 xuống Nam số 7.

- Từ Nam số 7 lên Đông bắc số 8.

- Từ Đông bắc số 8 đến Tây số 9.

- Từ Tây số 9 lên Bắc số 1.

- Từ Bắc số 1 xuống Đông nam số 2.

- Từ Đông nam số 2 lên Đông số 3.

- Từ Đông số 3 qua Tây nam số 4.

- Tư Tây nam số 4 về lại trung cung số 5.

Lường Thiên Xích chia ra làm 2 loại đó là loại Thuận và loại Nghịch. Loại thuận bắt đầu từ Trung cung là số 5 rồi đi theo chiều tăng đến 6, 7, 8, 9, 1, 2, 3, 4. Lường Thiên Xích Nghịch thì lại bắt đầu từ số 5 rồi đi theo chiều giãm xuống đến 4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6.

Nếu Thiên khí tương tác thuận chiều kim đồng hồ thì tương tác ngoài hệ Mặt trời là ngịch lại tức ngược chiều kim đồng hồ, vấn đề này cần xem xét lại.

Và chúng ta cũng xem xét lý giải quy ước tương tác 9 ô Hà đồ?

II - 4. Tinh bàn:

-Vận bàn:

Cần xác định vận bàn:

* Năm xây dựng mới ngôi gia.

* Năm sửa lại đa phần lại ngôi gia.

* Năm bắt đầu dọn vào ở trong ngôi gia.

Khi đã xác định được năm của ngôi gia rồi thì xem năm đó thuộc vận nào trong tam nguyên cửu vận. Xác định được vận thì đem số sao của vận đó vào Trung cung rồi di chuyển theo Lường Thiên Xích thuận mà sắp xếp các sao ở chín cung.

Ví dụ: Năm 2009 nằm trong vận 8 (2004-2024) thuộc hạ nguyên của tam nguyên cửu vận. Đưa sao Bát bạch vào trung cung di chuyển theo chiều thuận.

- Sơn tinh:

Còn gọi sơn bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương toạ của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, căn cứ theo tam nguyên long ở phương toạ là âm hay dương để di chuyển sao phi tinh theo chiều thuận hay nghịch. Sao phi tinh sơn bàn thường đặt bên trái của sao phi tinh vận bàn.

-Hướng tinh:

còn gọi là hướng bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương hướng của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, di chuyển thuận nghịch theo tam nguyên long âm dương ở hướng. Sao phi tinh hướng bàn thường đặt bên phải của sao vận bàn.

Sơn Hướng là quan trọng của ngôi gian cần quán xét tương tác là chắc chắn.

II - 5. Địa bàn:

Là bàn cố định của phi tinh hay còn gọi là cửu tinh đồ căn bản được sắp xếp theo các cung của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Sự chuyển động của khí trong vũ trụ là không ngừng theo năm, tháng, ngày, giờ. Cổ nhân đã dùng cửu tinh làm chủ cho sự thay đổi của thời gian đó. Mỗi sao của cửu tinh sẽ làm chủ một khoảng thời gian là năm tháng ngày giờ, vì vậy mỗi năm, tháng, ngày, giờ có một sao chủ. Sao chủ xếp vào vị trí trung cung của cửu cung và các sao khác di chuyển theo lường thiên xích thuận.

-Niên tinh:

Là sao quản năm, dùng cửu tinh phối với năm, ví dụ năm 2009 là sao cửu tử nhập trung cung và cũng là sao quản năm.

Phi tinh cho vận 20 năm nhưng có phi tinh cho mỗi năm, chứng tỏ quy ước chung cho các hệ tương tác: Ngoài mặt trời ,Hệ Mặt trời, Mặt trăng xung quanh Trái đất (Nguyệt tinh) và Trái đất tự quay (Nhật tinh).

-Nguyệt tinh:

Là mỗi tháng có một sao phi tinh làm chủ quản lý chi phối tháng đó. Ví dụ từ ngày 7 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 12 năm 2009 là sao ngũ hoàng quản.

-Nhật tinh, Thời tinh:

Cũng tương tự như niên nguyệt, thi ngày và giờ cũng có một sao làm chủ và nó chi phối khoảng thời gian mà nó làm chủ.

Sự ảnh hưởng của niên nguyệt tinh mạnh nhất thường là những nơi có sự hoạt động thường xuyên và mạnh, như cửa, cổng ra vào, phòng bếp, phòng ngủ. Ngoài ra còn xét kết hợp với sao sơn hướng tinh ở khu vực chúng đến để xem xét tốt xấu tuỳ theo tính chất của sao niên nguyệt tinh.

II - 10. Các loại sao sát và những kiêng kỵ.

-Thái tuế:

Thái Tuế - vật thể thuộc Âm - là sao lớn nhất gần trái Đất và nhóm sao II ngoài vòng Thiên Thạch. Thái tuế là mộc tinh (Jupiter) lớn nhất trong thất tinh, nên khi nó đi tới đâu thì nó sẽ kéo hết dương khí về nơi đó. Theo quan niệm về "Khí" của Phong thủy Lạc Việt: Tất cả khí ngoài trái Đất đều thuộc Dương so với trái Đất. Nên sự tương tác rất mạnh về Dương Khí. Dương khí vượng ở hướng tất suy ở sơn và Âm khí vượng ở Sơn tất suy ở hướng. Mà hướng là dương, tọa là âm vì thế mà kỵ hướng, tuế phá ngược lại vì do dương khí bị kéo hết về nơi thái tuế nên tuế phá hoàn toàn là âm khí nên kỵ tọa. Thái tuế kỵ hướng không kỵ tọa, bởi vì thái tuế tính dương động kỵ hướng là do nơi hướng thường là nơi hoạt động vào ra của con người nên động càng thêm động, vì thế cũng kị mở cửa theo hướng của năm sinh để tránh không xung phạm Thái tuế. Thí dụ người tuổi Sửu không mở cửa hướng Sửu, người tuổi Tý không mở cửa hướng Tý, các tuổi khác cũng như vậy, để tránh tới năm tuổi Thái tuế đến cửa mà gây ra nhiều chuyện phiền toái.

-Xung Thái tuế:

là Thái-tuế xung khắc với năm sinh của chủ nhà. Thí dụ người sinh năm Dần thì niên canh Thái-tuế của người đó là Dần. Dần lại tương xung với Thân nên gặp năm Thân, tức là năm “niên canh xung Thái-tuế” thì người này phải tránh hành động tại 2 cung Dần, Thân để tránh khỏi bị trắc trở.

-Nơi có phi tinh tốt gặp Thái tuế thì tốt thêm, nơi có phi tinh xấu mà gặp Thái tuế thì càng thêm xấu.

-Thái tuế Có 2 loại là Thái tuế theo năm và Thái tuế theo phi tinh:

*Thái tuế theo năm: là Thái tuế tính theo các địa chi của năm và phương vị mang tên địa chi đó. Ví dụ: Năm Tý Thái tuế ở phương Tý (phía Bắc), năm Sửu Thái tuế ở phương Sửu (phía Đông Bắc)…

* Thái tuế theo phi tinh là Thái tuế theo sao cửu tinh của năm. Ví dụ: Năm 2009 là năm Sửu, phương Sửu ở Đông bắc, mà Đông bắc theo bàn phi tinh cố định là Bát bạch làm đại diện, phi tinh đại diện của năm Sửu là Cửu tử, đem Cửu tử nhập trung cung di chuyển theo Lường Thiên xích thuận thì sao Bát bạch đến phương Tây Nam, như vậy Thái tuế phi tinh năm 2009 Kỷ sửu là ở phương Tây Nam.

Tuế phá: Phương đối ngược lại với phương Thái-tuế là phương Tuế-phá. Phương Thái-tuế nơi hoàn toàn có khí dương, ngược lại phương có Tuế-phá là nơi hoàn toàn có khí âm. Vì thế đây là 2 cung âm dương đối lập, tương khắc, tương xung. Như vậy khi các cung này ở trong vị trí tốt thì rất tốt mà trái lại thì rất xấu. Các ngày Tuế-phá cũng được tính theo như thí dụ sau đây: Năm Tý, Thái-tuế địa bàn ở

phương Tý thì Tuế-phá ở phương ngược lại là phương Ngọ nên các ngày Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ... đều là ngày Tuế-phá có khí âm cực mạnh. Do đó khi phạm vào thì dể gặp tai họa nhất là người tuổi Tý.

Thái tuế sẽ xem xét cô lập trong trường hợp đặc biệt sau.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chúng ta có một câu hỏi chung như sau:

Huyền không phi tinh áp dụng cho 4 loại: Vận (20 năm), Niên (1 năm), Nguyệt (tháng), Nhật (ngày) cho một căn nhà nào đấy có Sơn, Hướng, Chủ nhà (nam hoặc nữ).

Thì loại nào là phi tinh thuận, loại nào phi tinh ngịch?

Share this post


Link to post
Share on other sites

Về tên gọi các tháng âm lịch trên lịchChủ nhật, 01/11/2009, 00:30 (GMT+7)Hiện nay, trên nhiều ấn phẩm và một số loại lịch blốc 2010 có in cả những cách gọi âm lịch theo dân gian và cách gọi theo văn bản. Phòng nghiên cứu lịch (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, tên gọi các tháng 11, 12 là Một, Chạp có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ.

Theo cố GS Hoàng Xuân Hãn, gọi tháng 11 là Một xuất phát từ phiên âm (Một, Mmột, Mười một) hay tháng 12 là Chạp có từ (Trap, Tlap, Lap)… Hiện nay các từ Một hay Mười Một, Chạp hoặc Mười Hai đều được sử dụng song song. Nhiều người chỉ dùng Một, Chạp cho các tháng âm lịch và hiện chưa có văn bản nào quy định việc thống nhất một tên gọi.

GS Trần Quốc Vượng viết: Tôi chưa thấy ai là người Việt cổ truyền lại gọi sau tháng mười là tháng mười một - mà phải gọi là tháng Một. Còn Tháng Chạp tức tháng 12 là tháng đi chạp mả, thăm sửa mộ phần, làm cỗ cúng tập thể tổ tiên (giỗ cho từng cụ, chạp cho mọi thế thứ tổ tiên). Cũng theo cách gọi của âm lịch, ngày một và ngày 15 hàng tháng gọi là ngày mồng một và ngày rằm.

Từ thực tế vừa nêu, thiết nghĩ từ nay khi in lịch, hoặc khi nói và viết, khi đối chiếu ngày, tháng, năm dương lịch với âm lịch, mọi người đều có thể gọi tháng sau tháng Mười là tháng Một, rồi đến tháng 12 là tháng Chạp, tháng một là tháng Giêng, tháng hai… theo cách gọi truyền thống của người Việt. Hẳn là làm được như vậy chúng ta đã thiết thực giữ một nét riêng độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Nét mới của lịch năm nay là ở phần thông tin về ngày tháng âm lịch in bên trái một số loại blốc trung 4 màu, trung pơ-luya 1 màu, đại 4 màu… có dùng cách tính tháng theo thứ tự tháng Mười âm lịch rồi đến tháng Chạp, tháng Giêng… là cách gọi đúng ngày tháng âm lịch theo truyền thống của người Việt Nam... Còn cách gọi tháng 11, tháng 12, tháng 1 (nhưng phải thêm chữ âm lịch) cũng là cách gọi bình thường, nên cả hai cách đều có thể được sử dụng miễn sao phù hợp với tập quán dân gian và chủng loại ấn phẩm sử dụng

Trước đây tôi nhận định lịch cổ Việt Nam là lịch Kiến Dần nhưng sau khi xác định tên gọi dân gian âm lịch cổ Việt Nam thì phải là lịch Kiến Tý, thể hiện đầu chu kỳ vận động ADNH và thề hiện cái Một của vũ trụ thống nhất qua tên gọi. Như vậy thì, Tết Nguyên đán của văn minh Lạc Việt là ngày sinh nhật của toàn bộ vũ trụ.

Văn minh Việt kỳ tuyệt.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Kết quả quá xét:

Đại vận 60 năm chưa chắc dùng phi tinh.

Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ).

Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ).

Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể).

Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể).

Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại.

Vậy thì bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước là ??? và do vậy, Niên vận tạo mệnh quái, chúng có quan hệ Lạc thư hoa giáp như thế nào ???

Kết quả quá xét:

Đại vận 60 năm chưa chắc dùng phi tinh.

Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ).

Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ).

Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể).

Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể).

Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại.

Vậy thì bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước là ??? và do vậy, Niên vận tạo mệnh quái, chúng có quan hệ Lạc thư hoa giáp như thế nào ???

Share this post


Link to post
Share on other sites

Sau khi xem xét, tôi nhận định như sau để ACE cùng nhau phản biện:

Đại vận 60 năm chưa chắc dùng huyền không phi tinh, do vậy không thấy dùng kết quả phi tinh này trong các sách Huyền không.

Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ). Đang được dùng cho một ngôi nhà cần quán xét hay một ngôi làng, thành phố, quốc gia, trái đất. Ngôi gia là một chỉnh thể quy ước từ thuộc tính con người nhưng do Sơn Hướng làm các tương tác chính cho ngôi nhà và đó cũng chính là gia đình, cho nên bắt buộc quán xét về mặt tổng thể và chi tiết.

Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ). Trong môn phong thủy Bát trạch, mỗi cá nhân được phân thành Đông tứ trạch và Tây tứ trạch, trong mỗi Phi cung (Cung mệnh) có sự thay đổi quy luật thuộc tính các cung. Đồng thời phi cung cũng thay đổi nếu là Nam mạng hoặc Nữ mạng. Như vậy, trong quan hệ phi tinh thì Phi tinh năm (Niên tinh) chính là quy ước Cung mệnh theo quy luật cửu tinh và giữa Nam và Nữ mạng có quy luật tiếp khí khác nhau.

Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại. Tôi đang kiểm tra Nam mạng phi nghịch và Nữ mạng phi thuận theo tính tương hợp Tính: Lý thể hiện tính Âm - Dương, Thể biểu hiện hình Dương - Âm hoặc ngược lại.

Trong phi tinh Niên vận, khi quán xét tương tác cho toàn thế giới hay chính là trái đất, thì tâm quán xét đặt ở đâu - chính là giao kinh tuyến và vĩ tuyến.

Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể). Nếu xét tương Nam hoặc Nữ sẽ tương ứng như trên. Ít dùng.

Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể). Nếu xét tương Nam hoặc Nữ sẽ tương ứng như trên. Ít dùng.

Nguyệt vận và Nhật vận được quán xét rất kỹ càng trong Đông Y vì liên quan đến các hoạt động có tính quy luật của các cơ quan nội tạng.

Chúng ta vẫn còn những bí ẩn sau:

- Bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước xây dựng từ các tương tác theo quy luật vận động???

- Niên tinh có quan hệ với quy ước Lạc thư hoa giáp (Tử vi?) hay không - rỏ ràng là có nhưng???

Ngũ Phúc lâm môn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phi tinh niên vận (1 năm):

Phi tinh hàng năm với trường khí vượng chính là quy ước Cung mệnh (mệnh quái) cho mỗi cá nhân, theo quy luật vận động Cửu tinh cho Nam và Nữ mạng do họ có quy luật tiếp nhận trường khí khác nhau.

Hoàn toàn chính xác khi nhận định Bát trạch chính là hệ quả của phương pháp Huyền không phi tinh.

Trường khí chính (vượng khí) hàng năm tương tác tới trái đất từ Hệ tương tác bên ngoài Hệ mặt trời (được xem là Vũ trụ) hàng năm.

Tây trạch và Đông trạch do các tương hợp, xung khắc, hòa thuận... tùy cường độ (định lượng như sinh vượng mộ, như Lục khí...) giữa các trường khí và cung mệnh tạo nên.

Tôi đang kiểm tra tính quy luật vận động tương tác của Trường khí vượng thay đổi mỗi 9 năm lên một Hệ 9 hướng cơ bản của Bát trạch. Tri kiến về quy luật số 9 này hết sức siêu đẳng, ai biết góp ý giúp, tôi vẫn đang lờ mờ.

Quy tắc nửa số 8, tương tác hai chiều giữa Trái đất - trường khí ngoài hệ Mặt trời, lý của sinh - khắc của chu kỳ Âm - Dương giữa Tiên thiên và Hậu thiên???. Cũng có thể tư duy rằng, do mối quan hệ Thiên khí - Địa khí hình chữ S nào đấy tạo ra quy luật t trên đề hình thành Cung mệnh (Nhân khí).

Posted Image

Chú ý: đổi chỗ Tốn Khôn

Ngũ Phúc lâm môn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

[ Con lắc Foucault, đặt tên theo nhà vật lý người Pháp Léon Foucault, là một thí nghiệm để chứng tỏ rằng Trái Đất đang tự quay quanh trục của nó; và là một hệ quả của hiệu ứng Coriolis cho chuyển động trong hệ quy chiếu quay.

Lịch sử

Con lắc Foucault, đặt tên theo nhà vật lý người Pháp Léon Foucault, là một thí nghiệm để chứng tỏ rằng Trái Đất đang tự quay quanh trục của nó; và là một hệ quả của hiệu ứng Coriolis cho chuyển động trong hệ quy chiếu quay.

Vào năm 1851, nhà khoa học người Pháp Léon Foucault đã sử dụng một dây thép dài 68 m để treo một quả cầu sắt nặng 31 kg từ mái vòm của nhà thờ Panthéon và tác dụng một lực ban đầu, cho nó lắc đi lắc lại. Để đánh dấu quá trình chuyển động của quả cầu, ông đã cho gắn một kim nhọn vào quả cầu và cho vẽ một vòng tròn trên cát ẩm ở mặt đất phía dưới chuyển động của quả cầu. Quả cầu đã để lại những vệt của đường đi khác nhau sau mỗi chu kỳ chuyển động chậm chạp và quỹ đạo này đã chỉ ra rằng Trái Đất quay tròn xung quanh trục của nó. Tại đường vĩ độ đi qua thành phố Paris, đường chuyển động của con lắc đã thực hiện một vòng quay thuận chiều kim đồng hồ cứ sau 30 giờ. Tại Nam Bán Cầu, đường đi đó ngược chiều kim đồng hồ, và tại xích đạo, nó không quay tròn chút nào. Tại Nam Cực, những nhà khoa học ngày nay đã xác nhận chu kỳ của đường đi của con lắc là 24 giờ.

Chắc chắn phải là 24 giờ hiện đại hay 12 giờ cổ Việt: Tý - Hợi.

Minh họa con lắc Foucault

Posted Image

Ngũ Phúc lâm môn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Minh họa con lắc Foucault

Posted Image

Chúng ta quan sát vận động con lắc, theo hình hoa thị (số 8) và 9 phương, tương hợp Huyền không phi tinh nhưng chưa thể xác định được cung phi thuận nghịch.

Ngũ Phúc lâm môn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chào anh Hoangnt.

Kết quả quá xét:

Đại vận 60 năm chưa chắc dùng phi tinh.

-Theo anh thì dùng cái gì xác định đại vận.

Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ).

-Dựa vào đâu cho rằng niên vận là phi tinh âm, còn niên tinh dương bỏ đi đâu, tại sao nam là ly nữ là càn (nam đoài nữ càn - theo PTLV) và ngược lại nữ là ly nam là càn (nữ đoài nam càn- theo PTLV).

Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể).

Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể).

Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại.

Vậy thì bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước là ??? và do vậy, Niên vận tạo mệnh quái, chúng có quan hệ Lạc thư hoa giáp như thế nào ???

-Niên, nguyệt, nhật là chỉ thời gian, mà thời gian thì chúng ta thấy là chỉ đi tới là chiều thuận thì tại sao anh cho rằng là phi tinh nghịch, vậy quy ước nghịch và thuận của anh là như thế nào, anh hay lấy chiều kim đồng hồ mà nói để NDS hiểu cái quy ước thuận nghịch của anh.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chào anh Hoangnt.

-Theo anh thì dùng cái gì xác định đại vận.

-Dựa vào đâu cho rằng niên vận là phi tinh âm, còn niên tinh dương bỏ đi đâu, tại sao nam là ly nữ là càn (nam đoài nữ càn - theo PTLV) và ngược lại nữ là ly nam là càn (nữ đoài nam càn- theo PTLV).

-Niên, nguyệt, nhật là chỉ thời gian, mà thời gian thì chúng ta thấy là chỉ đi tới là chiều thuận thì tại sao anh cho rằng là phi tinh nghịch, vậy quy ước nghịch và thuận của anh là như thế nào, anh hay lấy chiều kim đồng hồ mà nói để NDS hiểu cái quy ước thuận nghịch của anh.

Theo lý giải của Nhidiasinh thì như thế nào?

Share this post


Link to post
Share on other sites

Chào anh Hoangnt.

-Theo anh thì dùng cái gì xác định đại vận.

-Dựa vào đâu cho rằng niên vận là phi tinh âm, còn niên tinh dương bỏ đi đâu, tại sao nam là ly nữ là càn (nam đoài nữ càn - theo PTLV) và ngược lại nữ là ly nam là càn (nữ đoài nam càn- theo PTLV).

-Niên, nguyệt, nhật là chỉ thời gian, mà thời gian thì chúng ta thấy là chỉ đi tới là chiều thuận thì tại sao anh cho rằng là phi tinh nghịch, vậy quy ước nghịch và thuận của anh là như thế nào, anh hay lấy chiều kim đồng hồ mà nói để NDS hiểu cái quy ước thuận nghịch của anh.

Theo lý giải của Nhidiasinh thì như thế nào?

he he

cái này là âm dương đối đãi, tương giao

Như niên, nguyệt nhật đi nghịch thì phi tinh phải theo chiều thuận

Đại loại như vậy

Thân mến

Share this post


Link to post
Share on other sites

Anh chị em thân mến.

Sau khi diễn đàn cải tổ, những bài viết mang tính học thuật phải có giá trị tối` thiểu là gợi mở , xác định , hoặc đặt ra một vấn đề, chí ít cũng là một cách giải thích - đúng sai chưa bàn vội. Nếu mới chỉ là ý tưởng không có định hướng học thuật thì thì phải sắp xếp vào một chương mục khác.

2 people like this

Share this post


Link to post
Share on other sites