• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content on 23/02/2010 in all areas

  1. Thưa các bạn, Là thành viên mới của diễn đàn, tôi mạnh dạn mở topic này với hy vọng có thể giúp các thành viên khác có được những thông tin để tham khảo từ lá số tử vi của mình trước khi đưa ra những quyết định về công danh, sự nghiệp. Những thành viên tham gia topic này xin vui lòng đưa ra các thông tin ngắn gọn, đầy đủ, chính xác và các câu hỏi cũng nên gắn gọn, rõ ràng. Với những kiến thức và kinh nghiệm có được, tôi sẽ cố gắng giải đáp cho các thành viên. Xin cảm ơn sự hưởng ứng tham gia của các thành viên. Xin chúc cho diễn đàn ngày càng phát trỉển mạnh mẽ. Huyencodieuly
    1 like
  2. Chào PhongVan! Tứ trụ của bé trai sinh ngày 18/7/2009 (dương lịch) lúc 12,00' như sau: Kỷ Sửu - Tân Mùi - ngày Giáp Tý - Canh Ngọ Đại vận Canh Ngọ bắt đầu vào tháng 4/2013; Kỷ Tị ....... Mệnh này Thân Mộc quá nhược mà tài tinh Thổ quá vượng, vì vậy dụng thần đầu tiên phải là Tỷ Kiếp / Ất tàng trong Mùi trụ tháng. Năm Canh Dần (2010) thuộc 2 đại vận (lấy tiểu vận thay đại vận) là Kỷ Tị (trước ngày sinh nhật của của cháu bé) và Mậu Thìn (sau ngày sinh nhật). Nói chung cả 2 đại vận (tiểu vận) này điểm hạn rất thấp nên không có hạn bởi vì dụng thần Ất và nhật can Giáp đều vượng ở lưu niên Dần mà 2 Canh tử tuyệt ở lưu niên Dần nên khả năng khắc Giáp không mạnh (như gỗ lim mà gặp dao cùn hay sắt non thì dao chỉ có mẻ, gẫy mà thôi). Giờ Kỷ Tị cũng không có hạn. (Ở đây tôi chỉ xét đến các thông tin trong tứ trụ này còn trong thực tế tai họa có thể gây ra bởi các yếu tố bên ngoài tứ trụ). Thân chào.
    1 like
  3. cutu1 viết: CẢ HAI ĐỀU SAI. Tui nói là: Âm và dương cả hai thằng đều động (đậy), không có thằng nào tĩnh (yên) hết. Có lẽ là cutu1 nói đùa đấy chứ !. ................ Có người hỏi Tôi rằng: "Nghe nhiều người nói, lý thuyết âm dương ngũ hành là một thuyết thống nhất vũ trụ ?." Tôi trả lời rằng: Cái đó đã hẳn ?. bởi vì, nói thì nói thế thôi. Chứ có chứng minh được nó là một thuyết thống nhất vũ trụ đâu !. Nói như vậy, hẳn có người sẽ bảo: Nó chả lý giải được mọi chuyện trên trời, dưới biến là gì. Có thật không ?. Hay chỉ là đại khái thế !. Thưa rằng, đại khái thế, thì không nên kết luận như vậy. bởi vì, rất rõ ràng. Ngay bản chất của 4 lực tương tác vật lý, có ai biểu diễn và hiểu nó trong lý thuyết âm dương ngũ hành đâu, mà đã vội. Đấy là cái trực quan, đòi hỏi cụ thể, mà còn không thấy, thì vội vàng bảo nó là thống nhất vũ trụ mà làm gì. Phải nói thế này: Nếu như biểu diễn được 4 lực theo lý thuyết âm dương ngũ hành, thì đương nhiên lý thuyết âm dương ngũ hành sẽ là, trường hợp đơn giản nhất, một thuyết thống nhất các trường tương tác vật lý. Thế thôi, cũng đã to nhớn lắm rồi. Cho nên, nếu mà là Tôi nói, thì Tôi nói rằng: Lý luận âm dương ngũ hành rất tổng quát, nó có thể được thấy trong toàn bộ những hiểu biết về thế giới này của tôi. Nhưng chỉ thấy hình hài của nó thôi, chứ chưa phải là một kết luận về tính khẳng định sự thống nhất của nó đối với toàn bộ thế giới. Giống như cái việc Tôi và Anh nhất trí với nhau theo một ý kiến thứ ba nào đó, nhưng không có nghĩa là ý kiến thứ ba đó đã thống nhất được Tôi và Anh với nhau !!!!. Thế còn âm dương động tĩnh thì sao ?. Tôi hỏi lại: Thế anh cho âm dương là thế nào với động tĩnh ?. Người xưa có nói thái cực phân lưỡng nghi, đó là âm dương. Chứ người xưa không nói: Thái cực phân lưỡng nghi, đó là động tĩnh !!!. Đúng không ?. Tại sao vậy: Bởi vì nói: Thiên - Địa thì đó được phân âm dương, chứ không nói thiên địa phân ra động tĩnh. Nói Quân tử và Tiểu nhân phân âm dương, chứ không nói quân tử tiểu nhân phân động tĩnh. Lại nói: Đực - Cái phân âm dương, chứ không bảo đực - cái phân động tĩnh. Cũng như vậy, nói trên dưới, cao thấp, ... đều phân âm dương. Chứ không bảo trên dưới cao thấp phân đồng tĩnh. Rõ ràng như thế, bởi vì, những cặp đó, làm sao nó, cái này động, cái kia tĩnh được. Như nói: Đực động, mà Cái tĩnh. con Cái nó sẽ nhảy dựng lên cho biết là nó đã động. Thậm chí, chọc nó, nó còn động ác luôn. hi hi ... Như bảo, trên tĩnh dưới động, thì cái đầu nó sẽ nói, tôi đang ở trên cái ấy đây, ai bảo tôi tĩnh - vỡ mu rùa bây giờ. Bảo cái dưới nó tĩnh, cũng không được, nó phang cho tá lả. Nhưng lại bảo, đó là sự nhầm lẫn, bởi trên dưới, cao thấp là khái niệm, chứ đâu phải là cái cụ thể. Vâng, nói thế mới đúng. Nhưng lý luận âm dương là nói từ tới toàn bộ thế giới, không trừ một cái gì. Từ Vật, cho đến Phi vật, từ trực quan cho đến trừu tượng, từ cái có, cho đến cái không, từ cái sờ thấy, tới ngôn ngữ trừu tượng. ... Bởi thế nó mới là thuyết thống nhất vũ trụ chứ. Nếu không thì phải nói nó là thuyết thống nhất vạn vật rồi. Mà thuyết thống nhất vạn vật, thì .... chưa tới lượt anh đâu, lý thuyết âm dương ngũ hành ạ. Thế nên, người xưa mới nói tiếp: Động - Tĩnh phân âm dương, chứ không ai nói âm dương phân động tĩnh cả. Những ví dụ trên đã nói rõ điều này đúng. Chứ không phải là thích nói thế thì nói thế. Cũng tức là Động - Tĩnh là một cặp âm dương, mang tính bộ phân của âm dương. Thế rồi, người ta mới xem xét, thế nào là động, thế nào là tĩnh. Bởi vì, động tĩnh, xét theo âm dương, rõ ràng là tương đối. Tương đối, có nghĩa là, tôi động so với anh, còn anh thì động so với chị, chị lại động so với ai đó, hay là động so với cái gốc cây !. Vậy cái gốc cây có động không ?. Thưa rằng, rõ ràng cái gốc cây nó tĩnh - đứng yên với mặt đất mà nó được trồng tên đó, nhưng nó lại "di chuyển" khi ta ở ngoài trái đất !. Lại to chuyện rồi. Nhưng đúng là thế. Còn nữa, trong cái gốc cây đó, sự sống hay sự chết đang diễn ra. Đó chả là động là gì ?. Đấy tương đối của động tĩnh là thế đó. Khi ấy, rõ ràng anh phải hiểu rằng: Tôi đã động so với anh thì anh là tĩnh đối với tôi. Nội dung đó, buộc ta phải hiểu: Động - Tĩnh trong cặp âm dương. Như nói tới sống - chết có động - tĩnh, chứ không ai đi xét động tĩnh của sự chết với ... hòn bi ve, hay sự sống với ... cái xe đạp. Hay như chuyển động của con tàu, với mặt đất, chứ không ai đi xét chuyển động của con tàu với bài hát "việt nam, trên đường chúng ta đi" của nhạc sỹ Huy Du !!!. Hỉ. Bởi thế, như một quy ước, nói rằng: Sống, hay sự sống thuộc dương. Chết, hay sự chết thuộc âm. Nên nói: Sống trên dương gian, chứ không nói Sống trong cõi âm. Và Chết xuống âm ... phủ, hay người ta diễn: Người cõi âm. Bởi thế mới thấy, Người sống, đang sống thì Động, tương đối, một cặp, với người chết, đã chết. Bởi vì, người ta chỉ thấy, người đang sống thì chạy nhảy, đi đứng, ăn uống, cãi nhau và yêu nữa. Còn người chết, đó ai bảo họ đi đứng, cãi nhau và ... yêu đấy. Nên, trong cặp sống chết, thuộc âm dương, xét động tĩnh, thì thấy rõ Dương - sự sống - chạy nhảy, ...yêu đương so với Âm - sự chết - nằm im lìm, mắt nhắm tịt, bất động vĩnh viễn. Bởi thế mà nói: Dương động, Âm tĩnh. Bây giờ nói ngược: Âm động, Dương tĩnh. Thì ... bảo là có lý !. Có nghe được không ?. Ai diễn giỏi, xin mời, Tôi chỉ ra cái sai cho coi. Nhưng mà lưu ý, chỉ cần nắm vững cái sự diễn như trên, sẽ thấy ngay thôi, cũng chả cần Tôi phải chỉ. Thân ái. Hiểu được âm dương ngũ hành, thì vạn vật đồng nhất thể rất dễ chứng minh. Thân ái.
    1 like
  4. Nhất trí quan điểm của VIETHA, bé nên có chế độ chăm sóc quan tâm đặc biệt của cha mẹ.
    1 like
  5. Chào PhongVan! Tứ Trụ của bé trai sinh ngày 18/7/2009 dương lịch lúc 12,00'
    1 like
  6. HÀ ĐỒ & LẠC THƯ 河 圖 洛 書 Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ Bủu Minh Ðàn Trang Web Phục Vụ Nhơn Sanh Miễn Phí do Trương Ngọc An thực hiện Trong các sách Dịch, bao giờ cũng có những hình mô tả Hà Đồ, Lạc Thư, nhưng bàn về Hà, Lạc thì lại hết sức vắn gọn. Chúng ta cần phải khai triển cho rõ ràng hơn. Hà Đồ, và Lạc Thư đều bàn về lẽ sinh thành của vũ trụ quần sinh, đều chủ trương lẽ Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, và Nhất Thể tán vạn thù, Vạn thù qui Nhất Thể, đều chủ trương Vạn vật phát xuất từ một Tâm Điểm, phóng phát ra ngoài, rồi cuối cùng lại qui hướng về Tâm Điểm ấy. Tục truyền đời vua Phục Hi 伏 羲, có con Long Mã, hiện ra nơi sông Mạnh Hà, trên lưng có mang một hình đồ, và vì vậy gọi là Hà Đồ. Hà Đồ nguyên thuỷ có 55 điểm đen trắng , phân phối như sau: Vua Phục Hi, nhân đó tạo ra Tiên Thiên Bát Quái và Lục Thập Tứ Quái. Lạc Thư, theo Kinh Thư, thời sau khi vua Đại Võ trị thuỷ thành công đã được Trời ban Lạc Thư cho, và nhân đó vua sáng chế ra Hồng Phạm Cửu Trù 洪 範 九 疇 tức là phép cai trị xã hội nhân quần.Văn Vương 文 王 nhân đó tạo ra Hậu Thiên Bát Quái. Sau này các Đạo Gia nghiên cứu thêm và cho rằng Lạc Thư cũng còn dạy lẽ Qui Nguyên Phản Bản. Lạc thư nguyên thuỷ được trình bày như sau: Hà Đồ sinh Tiên Thiên Bát Quái, đi theo chiều thuận. Lạc Thư sinh Hậu Thiên Bát Quái, đi theo chiều nghịch. Thuận là Thuận chiều kim đồng hồ, Âm Dương không bao giờ chống đối lẫn nhau, lấy Tình Thương yêu, nhân nghĩa làm tiêu chuẩn. Nghịch là ngược chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn, ghen ghét kình chống nhau làm căn bản. Khi Trời sinh ra con người đã trao cho hai sứ mạng: 1. Làm người. 2. Làm Trời, Phật, Thánh, Tiên. Sứ mạng thứ 2, hay hạng người thứ 2 hiện nay rất hiếm, vì con người đã dần dần làm mất Lương Tâm, mất Tiên Cách của mình. Hạng người này theo Tiên Thiên, sống hồn nhiên, tiêu sái, vô tư vô dục, thương yêu lẫn nhau, coi người như mình. Các Đạo lớn trong thiên hạ đều dạy con người tìm lại Thiên Đạo này để mà theo, mà giữ. Đạo này vốn hằng hữu trong ta không cần nhập cảng. Chính vì thế mà Trung Dung viết: Đạo bất khả tu du li dã 道 不 可 須 臾 離 也 (Đạo không rời ta một phút giây). Đó là Đạo Tiên Thiên dạy ta đi theo chiều Thuận, nghĩa là phải Thuận Thiên, sống theo ý Trời như vậy mới có thể PHỐI THIÊN (Trung Dung chương 26, ĐĐK, chương 68, Nirvana (phối Thiên). Ta có đi theo chiều kim đồng hồ, thì mới theo được đúng thời giờ, mới Qui Nguyên Phản Bản được. Như vậy chúng ta sẽ tiến hoá về Nguyên Bản, về Trời. Thật là vô cùng qúi giá. Còn làm người thì dĩ nhiên là ai cũng làm được, khác nhau ở chỗ làm hay hoặc làm dở. Làm người là sống trong Hậu Thiên, trong dở dang chếch mác, trong phóng túng dục tình, trong mê loạn, trong vô thường. Sống trong Hậu Thiên là chỉ lo giải quyết công việc, giải quyết vấn đề, thích ứng với hoàn cảnh, chứ ít khi chịu tiến hoá thêm. Vì đi ngược chiều kim đồng hồ nên càng ngày càng xa trời và đến lúc chung cuộc chỉ nắm được Hư vô mà thôi.Như vậy: Hà Đồ là Tiên Thiên, là Vô Vi. Lạc thư là Hậu Thiên, là Hữu Vi. Có thể chia cuộc đời ta thành hai: Nửa đời trước để lo làm người, kiếm cơm áo, danh vọng. Nửa đời sau lo làm Thần Phật Thánh tiên. Khi khảo về Công Giáo, tôi có bình đại luận về con người của Thánh Paul trong 1 Cor. 44- 49) như sau: Thánh phàm 2 nét ghép thành Nhân Phàm ấy Nhân Tâm, Thánh ấy Thần (1 Cor. 44) Tâm hình hiện trước, Thần kế tiếp (1 Cor. 46) Thần: Trời, Tâm Đất, lẽ tương phân (1 Cor. 47, 48) Tâm Đất dĩ nhiên vương sinh diệt, (1 Cor 49) Thần Trời, nên mới thoát chuyển luân (1 Cor 44) Tâm Đất tử vong đành số kiếp (1 Cor 49) Bất tử trường sinh chỉ có Thần (1 Cor 44) Con người có Phàm Tâm sống theo Lạc Thư, Có Thiên Tâm sống theo Hà Đồ. Chỉ có Thiên Tâm mới bất tử, Còn Phàm Tâm sống trong luân hồi sinh diệt. Có cái lạ là Phàm Tâm hiện ra trước, Thiên Tâm hiện ra sau, cho nên con người phần nhiều, lúc cuối đời mới lo tu tỉnh. Sống theo Thiên Tâm là sống theo con người mới (Eph. 4, 24; Col 3, 10). Sống theo Phàm Tâm là sống theo con người cũ (Éph 4, 22; Col. 3, 9). Cái Phàm Tâm trong ta gồm thất tình lục dục, chính là cái Tiểu Ngã biến Thiên của Nhà Phật, cái Nhân Dục của Khổng, Cái Tâm của Đạo Lão, vì Đạo Lão dạy TÂM TỬ THẦN HOẠT 心 死 神 活 (Cái hồn phải chết đi cho cái Thần sống động). Chung qui Đạo nào cũng dạy bỏ cái biến thiên mà trở về với cái bất biến. Bỏ biến thiên là Đạo của Lạc Thư. Về với bất biến là Đạo của Hà Đồ. Đó là Đại Đạo trong thiên hạ. Ví dụ ta coi vũ trụ này là một vòng tròn, thì Tâm Điểm của vòng tròn đó là Trời, là Đạo. Chiều đi từ tâm điểm Vòng Tròn ra bên ngoài là chiều đi ra, là chiều Hướng ngoại là chiều Lạc Thư, là chiều sinh nhân, sinh vật. Chiều đi từ vòng tròn bên ngoài vào Tâm Điểm là chiều hướng nội, là chiều sinh thánh, sinh thần la chiều quy nguyên phản bản. Đi Theo chiều thuận là hướng Ngoại, là xoay lưng lại với Trời, là Bối Thiên, là lo chuyện vật chất. Đó là chiều Âm. Đi theo chiều Nghịch, là hướng Nội, là đi theo Trời. Đó là chiều Dương. Chiều Âm đi trước, chiều Dương đi sau. Cho nên Dịch Kinh mới nói: Nhất Âm, nhất Dương chi vị Đạo, kế chi giả Thiện dã Thành chi giả, tính dã 一 陰 一 陽 之 謂 道 繼 之 者 善 也 成 之 者 性 也 (Âm Dương đắp đổi Đạo Trời, Theo thời tốt đẹp, suốt thời toàn chân.) Theo được con đường tiến hoá ấy đã là tốt đẹp, đi tới cùng đừng tiến hoá ấy, sẽ thực hiện được Thiên Tính của mình. Như vậy chúng ta đã từ Trung Cung, Thiên Đình mà đi ra, rồi dần đà lại tìm về Trung Cung, Thiên Đình đó. Trung Cung đó hay Trung dung chính là Tâm Điểm tâm hồn của chúng ta. Thánh hiền xưa gọi đó là Trung, là Nhất. Trung hay Nhất chính là Trời, hay là Tinh Hoa của con người. Khi sinh ra con người, thì trời cũng phú cho chúng ta cái Trung, cái Nhất ấy. Khi là Trung Cung, thì chữ Hán viết là Trung (中), khi truyền xuống con người thì chữ Hán viết là Trung (忠 hay 衷) nghĩa là Trời hay Thái Cực cũng đã xuống theo vào lòng chúng ta, (chữ Trung 中 và chữ tâm 心); Chữ Trung sau có chữ Trung và chữ Y 衣 là áo bị xé ra làm 2 mảnh ôm lấy chữ Trung ở giữa, nghĩa là: Trời ở trong ta và cũng mặc áo xống như chúng ta. Chính vì thế mà Kinh Thư viết: «Duy Hoàng Thượng Đế giáng Trung vu hạ dân, nhược hữu hằng tính.» 惟 皇 上 帝 降 衷 于 下 民 若 有 恆 性 (Chỉ có Thượng đế ban cho con người một chữ Trung, để cho con người có tính hằng cửu.) Trung này chính là Trời và là chữ Trung nằm gọn trong 2 mảnh chữ Y 衣. Chính vì vậy mà con người có tính hằng cửu, bất biến. Vì Trung là hoàn thiện, nên con người phải sống hoàn thiện, hợp lẽ tự nhiên, theo đúng bản năng bản tính của mình. Vì Trung là Tâm điểm vũ trụ, tâm điểm vòng Dịch, và Tâm điểm con người, nên bao giờ cũng không thiên lệch bên nào, ứng nghiệm từng giờ, từng phút mọi cử động của trời đất. Vạn vật nhờ đó mà sống trong quân bình. Nó là cái hiện thời mà ứng với mỗi thời nên gọi là Trung, là Trúng, là đúng tiết hợp duyên. Trung cũng là giữa, là nơi phát xuất và qui nạp. Chính vì thế mà triết lý Âu Châu xưa nói: Alpha= Omega, và Dịch thì nói: Nguyên thuỷ phản chung. Trung có thể nói là Thiên lý lưu hành, nhưng cũng là Trung điểm bất biến của hai đồ biểu Hà Đồ và Lạc Thư. Vì Trung là Tâm điểm vũ trụ, nên nó cũng là Nhất. Nhất hay Trung là Nguyên Nhân cho cuộc tạo hoá, sinh thành. Bây giờ ta trở lại 2 đồ biểu. Cái quan yếu của Tu Hành là chữ Trung và chữ Nhất. Trung là Tâm điểm của 2 đồ. Trung này chính là Thái cực, Nguyên Lý của vũ trụ, Càn Khôn, Đạo Lão gọi đó là Huyền Tẫn chi môn 玄 牝 之 門, là Cánh cửa Âm (Tẫn), Dương (Huyền), hay Huỳnh Đình 黃 庭 (Huỳnh là màu vàng, màu của Trung Thổ), hay Mậu Kỷ Thổ 戊 己 土. Mậu thổ 戊 土 là Dương 陽, là Khảm 坎, là Long 龍, là Hống 汞, là Thần 神, là Tính 性, là Đạo tâm 道 心. Kỷ Thổ 己 土 là Âm 陰, là Ly 離, là Hổ 虎, là Diên 鉛, là Hồn 魂, là Mệnh 命, là Tinh 精. Ở Trung Cung Mậu Kỷ này Khảm Ly phải hợp nhất, đó là Thủ Khảm điền Ly biến Ly thành Kiền 取 坎 填 離 變 離 成 乾, Long Hổ phải hợp nhất; Diên Hống phải hợp nhất, Thần Hồn phải hợp nhất, Tính Mệnh phải hợp Nhất, Đạo Tâm, Nhân Tâm phải hợp Nhất, như vậy Đan luyện mới thành, như vậy mới là Phản Bản Hoàn Nguyên. Đại Đơn chính là dạy con người đạo: Qui Nguyên Phản Bản vậy. Như vậy người xưa dạy phải tìm cho ra Trung Điễm vũ trụ, Trung điểm Tâm Hồn để làm nơi tu luyện vì nơi đó là Chỗ Trời Người gặp gỡ. Ngoài ra công phu tu luyện còn xoay quanh mấy chữ Trung, chữ Nhất: Đạo Nho dạy: Nhân tâm duy nguy, 人 心 唯 危 Đạo tâm duy vi. 道 心 唯 微 Duy Tinh, duy Nhất, 唯 精 唯 一 Doãn chấp quyết Trung. 允 執 厥 中 Lòng của Trời siêu vi huyền ảo, Lòng con người điên đảo, ngả nghiêng Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm, Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời. Đạo Lão dạy: Thủ trung bão nhất 守 中 抱 一. Chúng ta phải tiến tới Trung, tới Nhất, tức là tới Tinh Hoa Toàn Thiện, phải tiến tới Trời, tức là tới Bản Thể siêu vi, thuần khiết của mình. Lạc Thư và phương pháp khắc kỷ, tu thân, qui nguyên phản bản của các Đạo gia. Các Đạo gia vì chuyên lo tu luyện bản thân, nên theo Lạc Thư mà suy ra những cơ cấu tâm linh, cũng như các phương pháp hữu hiệu để sửa sang chếch mác, dở dang trong tâm hồn, ngõ hầu Qui Nguyên Phản bản 歸 元 返 本. Về phương diện Triết Học, các Ngài dựa vào Hà Đồ, Lạc Thư mà nhận định rằng trong con người có 2 phần Âm Dương: ấy là Nhân Tâm (Âm) và Đạo Tâm (Dương); Ấy là Người (Âm) và Trời (Dương). Trời hay Đạo Tâm gồm có: 1. Ngũ nguyên 五 元: a) Nguyên Tính 元 性, :) Nguyên Thần 元 神, c) Nguyên Tình 元 情, d) Nguyên Tinh 元 精, e) Nguyên Khí 元 氣. Trời Hay Đạo Tâm ở Trung Ương và ở Tứ Chính 四 正 (Bốn phương chính). 2. Ngũ Đức 五 德: a) Nhân 仁, :( Nghĩa 義, c) Lễ 禮, d) Trí 智, e) Tín 信. Nhân Tâm hay con người gồm có: 1. Ngũ vật 五 物: a) Du Hồn 游 魂, :( Thức Thần 識 神, c) Quỉ Phách 鬼 魄, d) Trọc Tinh濁 精, e) Vọng Ý 妄 意. 1. Ngũ tặc 五 賊: a) Hỉ 喜, :) Lạc 樂, c) Nộ 怒, d) Ái 愛, e) Dục 欲. Ngũ vật, Ngũ Tặc ở bốn phương bàng (Tứ Duy 四 維). Tuy nhiên Vọng ý và Dục không có sở cư vì đã phân tán ra bên ngoài và gây nhiễu loạn ở đó. Ở Hà Đồ, 5 số chẵn bao giờ cũng kết đôi với 5 số lẻ. Các Ngài suy ra: Trên bình diện Lý Tưởng, Nhân Tâm và Thiên Ýbao giờ cũng hoà hợp nhau. Tức là Thiên Nhân hợp Nhất, chí thành, chí Thiện. Ở Lạc Thư , trái lại, các số Âm Dương, chẵn lẻ đều đứng riêng rẽ. Các ngài suy ra: Trên bình diện thực tế, Nhân Tâm thường xa cách Thiên Tâm, xa cách với Thiên Lý, thương gàng quải, chia phôi với nhau, y như «Phu Thê phản mục», kẻ Nam người Bắc quay lưng, thay vì quay mặt lại với nhau. Ở Lạc Thư, chúng ta thấy Âm Dương, Ngũ hành tương khắc. Các Ngài suy ra rằng: Nhân tình, Nhân dục thường chống đối, thường đi ngược với Thiên Chân, Thiên Lý vì thế mới có cảnh đảo điên, thác loạn trong trần hoàn, cũng như trong con người. Ở Lạc Thư, nếu chỉ quan sát vòng ngoài, thì ta thấy Âm khắc Dương. Các Ngài suy ra rằng: Nhân tình, Nhân dục trên bình diện thực tế, đã lấn át, đã che lấp mất Thiên Lý, Thiên Chân, nên Tính Trời không thể phát huy; Ngũ Nguyên, Ngũ Đức hầu như thoái vị, để cho Ngũ tặc, Ngũ vật nhảy ra chấp chính, rông rỡ làm càn. Các ngài mô tà sự rối loạn ấy bằng bản đồ Lạc Thư sau: Tuy nhiên, các Ngài chủ trương rằng: sự thác loạn, đảo điên này vẫn có thể sửa chữa được. Ta vẫn có cách dẹp nhân tình, nhân dục, cho vừng dương Thiên Tính, Thiên đức hiện ra với vầng hào quang ngũ sắc: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Làm sao khắc phục dược Nhân Dục, Nhân Tình? Muốn khắc phục được Nhân Dục, Nhân Tình, các Đạo Gia chủ trương chỉ cần áp dụng định luật Âm Dương tương khắc. Thay vì để cho Âm khắc Dương, Âm thắng Dương như trước, ta đảo lộn tình thế, nghĩa là làm sao cho Dương khắc Âm, Dương thắng Âm. Muốn chế ngự Ngũ Tặc, Ngũ vật, nhân dục, nhân tình, để Ngũ Nguyên, Ngũ Đức hiển dương, ta phải có đường lối nhất định hẳn hoi. - Muốn qui nguyên phản bản, điều kiện tiên quyết là phải tin tưởng mãnh liệt rằng: Thái Cực hay Trời luôn ngự trị trong tâm khảm mình. Niềm tin sâu xa vững mạnh này sẽ làm tan biến hết mọi ưu tư sầu muộn (lục quí Thuỷ, Trọc Tinh Ai), và làm cho thần trí trở nên sáng láng (Nhất Nhâm Thuỷ, Nguyên Tinh Trí) Thần trí trở nên sáng láng sẽ giúp con người tháo gỡ được tục luỵ, không còn đắm đuối trong những thú vui vật chất hạ đẳng, mà chỉ yêu chuộng những lạc thú tinh thần cao thượng. (Nhị Đinh Hoả, Thức Thần Lạc) - Khi tâm hồn đã trở nên thanh khiết, thoát tục như Minh Nguyệt Thanh Phong, con người sẽ uy nghi, trang trọng, phong thái Thần Tiên sẽ dần dần hiển lộ ra. (Thất Bính Hoả, Nguyên Thần Lễ) - Khi đã lễ nghi trang trọng, khi phong thái Thần Tiên đã hiển lộ ra, Tâm thần sẽ trở nên bình thản, và những sự giận hờn sẽ không còn cơ hội phát sinh. (Tứ Tân Kim, Quỉ phách Nộ). Mọi hành vi, cử chỉ con người nhất nhất sẽ hợp nghĩa lý. (Cửu canh Kim, Nguyên tình Nghĩa) -Đời sống khi đã khuôn theo nghĩa lý, con người sẽ trở nên nhân đức, hoàn thiện. Đã nhân đức hoàn thiện, nhân dục sẽ tiêu ma, (Tam Giáp Mộc, Nguyên Tính Nhân, Khắc Dục Phản Tín) và con người sẽ trở về Trung Cung, phối hợp cùng Thái Cực, cùng Thượng Đế (Mậu Nguyên Khí). - Đó là lẽ Phản Bản, Qui Nguyên và các lớp lang, tuần tự để tu thân, tiến đức mà các Đạo gia suy diễn ra từ Lạc Thư. Các Ngài mô tả sự diễn tiến của công trình Khắc Kỷ Phục Lễ, Qui Nguyên Phản Bản bằng đồ bản Lạc Thư với các lời chú thích sau đây: Tóm lại, đối với Đạo Gia, nguyên động lực mãnh liệt nhất có thể hoán cải tâm hồn con người , đó là niềm tin vững mạnh có Thượng Đế đáy lòng. Chỉ khi nào nhìn nhận ra có Thượng Đế, có Thái Cực ở trong tâm khảm mình, bấy giờ con người mới thực sự vươn lên, thực sự hoán cải tâm hồn để trở về kết hợp cùng Thượng Đế. Thiệu Khang Tiết viết: Vạn vật tòng Trung nhi khởi, tòng Trung nhi chung. (Vạn vật khởi đầu từ Trung và kết thúc ở Trung). Cho nên nhìn nhận ra Thái Cực, hay Trời, hay Chân Tâm, hay Đạo ở trong ta là bí quyết then chốt cho chúng ta qui Nguyên, phản Bản, cho chúng ta làm Thần, Phật, Thánh Tiên. Các đạo giáo gọi lúc mình tìm ra Trời, ra bản lai diện mục của mình là lúc Giác Ngộ. Dịch Kinh cho rằng Con Người giác ngộ, khi học quẻ Phục. Thoán truyện quẻ Phục viết: Phục kỳ kiến Thiên Địa chi tâm hồ? 復 其 見 天 地 之 心 乎 (Phục rồi được thấy Thiên tâm). Mà thấy Thiên Tâm chính là thấy Đạo, thấy Trời. Con người chỉ có thể quay về với Đạo, với Trời vào lúc 35, 36 tuổi, khi đã sống và đã làm bổn phận con người. Kinh Dịch tả khi con người hồi phục là lúc nửa đêm, ngày Đông Chí, tháng 11 ta, là lúc Nhất Dương lai phục, khi lòng con người hết sức vắng lặng. Khi ấy mặt trời đi vào chòm sao Hư, mà Hư chính là Hư Cực Tĩnh Đốc. Tuy nhiên sau này, các Đạo gia cho rằng Giác ngộ không nhất thiết là phải vào lúc nửa Đêm, ngày Đông Chí, nên đã gọi lúc Giác Ngộ là Hoạt Tí. Có thể nói rằng Giác Ngộ hay Hồi Phục đó là điều kiện tiên quyết để làm Thánh Hiền, Tiên Phật. Đó chính là lúc con người vứt bỏ phàm tâm, mà mặc lấy Thiên Tâm. Công giáo không nói xác quyết về điểm này, mà chỉ nói đại khái: «Các ngươi hãy tỉnh thức vì không biết ngày nào chúa chúng ta đến.» (Mat. 24, 42; 25, 23; 26, 38; 26, 41; Marc 14, 34; 14, 38; Luc 12, 37) Đạo Lão dạy phải dùng Chân ý, mà Chân Ý chính là Nhất Tức sinh cơ 一 息 生 機, hay Minh Thiện phục Sơ 明 善 復 初, hay Nhất Dương lai phục 一 陽 來 復 trong đơn thư. Các bậc giác ngộ thường hay làm thơ khi giác ngộ, như trong quẻ Phục có bài thơ của Chu Hi và của Thiệu Khang Tiết. Chúng ta tóm tắt Hà Đồ bằng mấy bài thơ sau: Hiểu Thông chữ Nhất, được Kim Đan. Nhìn kỹ Hà Đồ tỏ lối đàng. Vượt tượng, vượt hình tìm diệu quyết, Băng qua ngoại cảnh , thấy Tiên Ban. Băng qua ngoại cảnh, thấy Tiên Ban, Vào nơi Chính Vị, vận Trần hoàn, Đẩu bính, Tuyền Ki hằng với biến, Biến Hằng trông tỏ nhẽ Tuần hoàn. Biến Hằng trông tỏ nhẽ Tuần Hoàn, Âm ngoài bao bọc lấy Dương quang, Hoà Hợp Âm Dương nơi Thái Cực, Mới hay trời đất chẳng ly tan. (Phỏng dịch bài thơ vịnh Cổ Hà Đồ trong Phục Mệnh Thiên, tr. 3) Ba năm một mối mấy ai hay, Thu gọn 3, 5 , đức mới dày. 2, 3 cộng lại thành 5 chẵn, 4, 1 gom vào cũng Ngũ ngay. Hoà hợp 4 phương đều Ngũ cả, Tiềm tàng Tâm Điểm sẵn 5 bày. Ba 5 hợp lại thành Chân Nhất, Chân Nhất Kim Đơn ấy Thánh Thai. (Phỏng dịch 1 đoạn văn trong Ngộ Chân trực chỉ). Phanh phui ba lớp Đất, Người, Trời, Châu ngọc Hoá Công mở thử coi, Bí quyết Hi Di vùi chính giữa, Tấc gang mà vẫn biệt tăm hơi, Biệt tăm tuy thị chẳng xa xôi, Cố gắng rồi ra sẽ được Trời. Chớ tưởng Bồng Lai là ảo vọng, Bồng Lai, Tiên cảnh tại lòng người. (Phỏng dịch bài thơ trong Phục Mệnh Thiên, tr, 4) Chúng ta có thể tổng luận về Lạc Thư bằng những vần thơ sau: Hà Đồ rồi đến Lạc Thư, Vuông tròn vẹn lẽ doanh hư đất trời. Hà Đồ là đạo của Trời, Lạc Thư là đạo của người chẳng sai Một xuôi, một ngược chia hai, Nhưng mà sinh xuất, phản hồi mhư nhau. Một tâm biến hoá nhiệm mầu. Vành ngoài biến ảo, tầng sâu như thường. Lạc thư mà rõ Trung ương, Số 5, Thái cực hiển dương khác nào. Lạc thư hãy xét tiêu hao, Âm Dương điên đảo thấp cao mấy hồi. Trước là Kim Hoả đổi ngôi, Phải rèn, phải luyện, phải tôi mới thành. Âm Dương bày tám chung quanh, Dương thời Tứ Chính, Âm đành Tứ Duy. Âm Dương, chẵn lẻ hai bề, Dưới trên ngang dọc, đề huề 15, Bốn phương tám hướng tương dung, Từng đôi hợp lại, cộng chung đều 10. Vì đâu thác loạn, rối bời, Bóng Âm những muốn dập vùi ánh Dương, Trọc Tinh dở thói ngông cuồng, Nguyên Thần do đó ra tuồng hư hao. Sầu bi nổi sóng rạt rào, Còn chi lễ độ thanh cao ban đầu. Thức thần tính toán nông sâu, Nguyên Tình vì vậy ra mầu tổn thương. Mải mê lạc thú tầm thường, Mà quên nghĩa cả, buông tuồng nghêng ngang, Rồi ra Quỉ Phách đa đoan, Làm cho Nguyên Tính bàng hoàng suy vong. Giận hờn nổi sóng đùng đùng Còn gì Nhân Đạo mà mong xót vời. Du Hồn táp cánh xa chơi, Làm cho Nguyên Khí hao vơi tán loàn. Mảng vui giữa chốn trần hoàn, Há cần Tín Nghĩa, há màng Trung Trinh? Vọng tâm, vọng ý đành hanh, Làm cho tiêu tán Nguyên Tinh mới là. Biển lòng sóng dục nhấp nhô, Thần hôn, trí loạn, cơ đồ còn chi. Biết bao điên đảo suy vi, Chẳng qua là đã mất đi Tính Trời, Điểm Trung đã mất thời thôi, Con tim vô chủ, đường đời lao lung. Đông tây xuôi ngược lung tung, Chạy theo vật dục uổng công tháng ngày. Trời kia âu cũng thương Người, Qui Nguyên bày lẽ phản hồi Thiên Lương. Sự đời phiền loạn nhiễu nhương, Nhưng mà vẫn có mối rường ở trong, Ngỡ là thác loạn rối tung, Nào ngờ trật tự ung dung thường kề. Hoàng lương muốn tỉnh giấc mê, Tơ lòng phải rõ đoan nghê tỏ tường, Lạc thư phải thấu Trung Hoàng, Phải tin, phải biết Tâm xoang có Trời, Tâm đà có chủ thời thôi, Muôn điều rắc rối, tức thời phạt quang. Xua Âm đã có Ánh Dương, VừngDương vừa hiện, muôn phương sáng ngời. Ngũ Trung Thái Cực hiện rồi, Trọc Tinh, Quí Thuỷ tức thời tiêu ma. Hết buồn Thần Trí sáng loà, Nguyên tinh chủ chốt, điều hoà từ đây. Trí tâm chẳng bợn trần ai, Thức Thần êm ả liệu bài rút lui. Chẳng còn sinh sự mua vui, Uy nghi, lễ độ tuyệt với phong quang. Nguyên Thần hiển lộ rỡ ràng, Thời thôi quỉ phách kiếm đàng ẩn thân, Còn đâu phẫn nộ, dữ dằn. Một niềm trọng Nghĩa, mười phân vẹn mười Nguyên tình thư thái, thảnh thơi,<H3 align=center>Du Hồn sực tỉnh biết nơi tìm về,</H3> Hết còn hoan hỉ, đam mê, Đường nhân, nẻo đức thoả thuê tháng ngày. Quang huy Nguyên Tính phơi bày, Mây mờ dục vọng , đó đây tan dần, Thế là Vọng phản thành chân, Tín thành hiệp với Thiên Quân chẳng rời. Thế là Nguyên Khí phục hồi, Bản lai diện mục sáng ngời như xưa Mê thời thác loạn lià xa,Ngộ thời tề chỉnh vào ra cửa Trời. Trọng Âm đời sẽ pha phôi Trọng Dương đời sẽ sáng ngời hào quang. <H3 align=center>Có tường Nhất Điểm Trung Hoàng</H3>Rồi ra biết nhẽ lai hoàn bản nguyên, Lạc Thư rất mực thâm uyên, Chỉ vài con số khải huyền, xiển chân, Mới hay chí Đạo cũng gần, Lạc, Hà tạc sẵn trong Tâm mọi người. CHÚ THÍCH Xem Bác Sĩ Nguyền văn Thọ, Dịch Kinh đại toàn, tập III, Hệ Từ thượng chương IV, tr. 440. Xem Dịch Kinh Đại Toàn quyển I của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, tr. 370. Lạc Thư khác Hà Đồ ờ chỗ Kim Hoả đổi ngôi, Xem Dịch Kinh Đại toàn, q. I, tr. 323.
    1 like
  7. Bảo chồng cô năm nay cẩn thận, Nhất là trong chuyện trai gái kẻo mang vạ vào thân đấy
    1 like
  8. Chị hãy thường xuyên quan tâm giáo dục cháu . Nếu không cháu rất dễ đi vào con đường kỹ nữ( Gái gọi) , Bây giờ tuổi còn nhỏ không nên xem tử vi
    1 like
  9. Đang sẵn dòng về Âm phù kinh, Amour thấy bài "Lữ tổ bách tự bi" cũng cùng nói về chủ đề "Đạo" nên đem vào đây chung: ----------------- LỮ TỔ BÁCH TỰ BI Tác giả: Lữ Động Tânchú: Trương Tam Phong Giải: Lục Tây Tinh Lữ Động Tân hiệu là Thuần Dương, là một trong Bát Tiên. Đây là bài được Lữ Thuần Dương dùng kiếm khí khắc trên vách đá Lư Sơn, tóm tắc diệu đạo tu chân,để quảng độ kẻ hữu duyên. PHẦN CHÁNH VĂN: Dưỡng khí vong ngôn thủ,Giáng tâm vi bất vi. Động tỉnh tri tông tổ, Vô sự cánh tầm thùy. Chân thường tu ứng vật, Ứng vật bất khả mê. Bất mê tính tự trú, Tính trú khí tự hồi. Khí hồi đan tự kết, Hồ trung phối khảm ly. Âm dương sinh phản phục, Phổ hoá nhất thanh bi. Bạch vân triều đỉnh thượng, Cam lộ sái Tu Di. Tự ẩm trường sinh tửu, Tiêu dao thùy đắc tri. Tọa thính vô huyền khúc, Minh thông tạo hóa cơ (ky). Đô lai thập nhị cú, Đoan đích thượng thiên thê. PHẦN CHÚ GIẢI: 1 “Dưỡng khí vong ngôn thủ,2 Giáng tâm vi bất vi.” CHÚ: Phàm người tu hành, trước nên dưỡng khí. Chú trọng ở chỗ quên nói và thủ nhất; quên nói thì khí không tán, thủ nhất thì thần không xuất. Khẩu quyết là chặn lấy cái lưỡi, im lặng không nói thì giữ được thần định tĩnh.Phàm tâm người ta khuấy động không ngừng. Người tu hành cần nhập tỉnh quý ở chế phục đôi mắt, vì mắt là cửa ngõ của tâm, nên buông mi nhắm lại. Câu quyết là lấy mắt nhìn mũi, lấy mũi nhìn rốn, trên dưới chặt chẽ, tâm và hơi thở theo nhau, để ý huyền quang, thì có thể giáng phục được tư lự. GIẢI: Người học đạo tu tiên lúc nhập môn nên lý hội hai chữ tính mạng. Tính có tính nguyên. mạng có mạng đế (đế là cuống). Tính nguyên cần thanh tĩnh, mạng đế cần kiên cố. Mạng đế vững thì nguyên khí xung, nguyên khí xung thì tinh tự dấy. Tính nguyên thanh thì nguyên thần định, thần định thì khí tự linh vậy.Cái gì là mạng đế? Đó là chân tức. Cái gì là nguyên tinh? Đó là tâm địa. Thầy ta dạy dưỡng khí giáng tâm, mà giữ quên nói tức là chân quyết dưỡng khí vậy. Chính ra “vong ngôn” không phải là bịt miệng lại không cho nói, mà là giữ tinh thần yên ổn, trầm lặng trước mọi tình cảnh. Nói “thủ” là giữ, mà giữ đây là giữ khí. Giữ ở đâu? Đạo Đức Kinh viết : “Nói nhiều nói hay cũng không bằng thủ trung” trung đây là nơi thần khí quy phục vậy. Đó gọi là khí huyệt, ngưng thần vào khí huyệt là “vong ngôn thủ trung”, là quy căn; đạo trường sinh bắt đầu từ chỗ đó.Còn “giáng tâm” là giáng phục cái vọng tâm. Người ta vốn chỉ có một tâm, nhưng vì có mê có giác mà chia ra vọng tâm và chân tâm. Người sinh ra mà tĩnh là tính của trời, cảm ở vật mà động là ham muốn của tình; đã có tham dục thì theo tình cảnh mà chuyển chân thành vọng. Vọng vốn không có hình thể, vốn do chân tâm mê hoặc mà ra, cho nên nay mà vô vi thì tất có chân kiến. Xem các pháp hữu vi đều như mộng, huyển, bào ảnh, hợp tan vô thường, nếu mà quên chúng được thì đó là tu chân trừ vọng vậy.3 “Động tĩnh tri tông tổ, 4 Vô sự cánh tầm thùy” CHÚ: Động tĩnh là một âm, một dương. Tông tổ là nơi sinh ra thân. Hành giã nên như lúc trước khi cha mẹ chưa sinh tức là huyền tẩn, trước khi trời đất chưa phân ra tức là Thái cực vậy.Động tĩnh là điều hòa chân khí, an lý chân nguyên. Thở ra là tiếp thiên căn, hít vào là tiếp địa căn; đóng là khôn, mở là kiền, thở thì rồng ngâm mây bốc, hít thì hỗ khiếu gió sinh; một đóng một mở, một động một tĩnh, quy ở tâm ý bất động, mặc cho hơi thở qua lại miên miên, đến khi kết thành phiến thì thần ngưng đan kết. “Vô sự phải cầu chi” là dưỡng khí quên nói, giáng phục thân tâm, thần vế khí huyệt, chú ý như gà ấp trứng, như rồng nuôi châu, nghĩ ở dó giây phút không rời, lâu ngày tự nhiên hiện ra hạt châu bằng hạt gạo, sáng lóe như mặt trời. GIẢI: Trên nói dưỡng khí giáng tâm là đạo vô vi, lại sợ người đời không biết ngoài ra còn có cái hữu tác, tức là thuật kéo dài mạng sống, cho nên khẩn thiết nêu ra hai chữ động tĩnh, cho người ta biết tông nhận tổ. Trong việc luyện đan, thái dược trong cái động, luyện đan trong cái tĩnh; nếu chỉ biết động mà không biết tĩnh thì nền tảng không dựng, không tích lũy tinh khí; còn nếu chỉ biết tĩnh mà không biết động thì thiên cơ không hợp, mất ý nghĩa luyện thuốc. Tóm lại , động là Tông, tịnh là Tổ. Tổ là tổ của tính, Tông là Tông của mạng, không động là không dựng được. Biết Tổ tính mà không tu định ở cung Ly, biết Tông mạng mà không cầu huyền ở cung Khảm. Biết cả hai mới là cứu cánh. Đã vô sự, vong ngôn mặc thủ, im bặt sự cơ, không nghĩ không làm, tịch nhiên bất động, thái nhiên đại định là thôi, lại còn tìm chi? Thầy ta nói tới đây đã đem gan ruột phơi bày rành rẽ đường lối luyện công, mà sao người đời không lĩnh ngộ, chỉ đọc phớt qua, thật là đáng tiếc!5 “Chân thường tu ứng vật 6 Ứng vật yếu bất mê” CHÚ: Học đạo chân thường khi tiếp ứng với sự vật, sẽ dễ bị mê hoặc, cho nên nếu phải tiếp vật thì đừng mê việc trần. Việc đến thì ứng, việc qua chẳng lưu, quang minh chính đạo, chân tính thanh tĩnh, nguyên thần ngưng kết. Khẩu quyết là: “Trước ý đầu đầu lẫn, Vô vi lại lạc không”. GIẢI: Cái gì gọi là chân thường? Đó là Tính tổ. Lấy cái gì để sáng? Phàm đã có tướng đều là hư vọng, sẽ có biến diệt chứ không lâu dài. Cho nên chân thường không phải là cái cùng đến với vật, không phải là cái cùng lìa với vật, mà là hay tĩnh hay ứng, thường tĩnh thường ứng mà thường không mê, đã chẳng mê thì ứng vật mới không mê mà chân tính hiện vậy. Đó là “luyện mình thuần thục thì đạo hữu vi mới có thể làm được”.7 “Bất mê tính tự trú 8 Tính trú khí tự hồi” CHÚ: Phàm thất tình như mừng, giận, buồn, thương, ghét, muốn, sợ đều biến thái vô thường, nhưng có xúc động nên phát sinh vọng tưởng, khó tĩnh được tính. Tất phải yên cơn giận thì hỏa mới giáng, ít ham muốn cho thủy được thăng. Thân không động là luyện tinh, luyện tinh thì hỗ khiếu, nguyên thần ngưng kết. Tâm không động là luyện khí, luyện khí là long ngâm, nguyên khí tồn thủ. Ý không động là luyện thần, luyện thần thì 2 khí tương giao, tam nguyên hỗn hợp, nguyên khí tự hồi. Tam nguyên đây là tinh, khí, thần. Nhị khí đây là âm dương. Hành giả ứng vật không mê thì nguyên khí tự qui, bản tính tự trú; tính trú tức khí tiên thiên tự về. Phục mạng qui căn có gì là khó đâu! Quyết rằng: “Hồi quang phản chiếu, Nhất tâm tự tồn. Nội tưởng bất xuất, Ngoại tưởng bất nhập.” GIẢI: Đối cảnh quên tình mới là đại định, cho nên nói “chẳng mê tính tự trú”. Tính trú mới có thể cầu diên, cho nên nói “tính trú khí tự hồi. Hồi nghĩa là quay về vậy. Tham Đồng Khế viết: “Kim trở về tính sơ mới được gọi là hoàn đan”. 9 “Khí hồi đan tự kết10 Hồ trung phối khảm ly” CHÚ: Hành giả tính không mê luyến việc trần thì khí tự hồi, bấy giờ khí thăng giáng trong cung, âm dương phối hợp ở đan đỉnh, chợt cảm thấy một luồng nóng ở trong thận xung lên tâm, tình trở về tính như vợ chồng phối hợp, như say, như si, 2 khí quyến luyến, kết thành đan chất, trong khí huyệt thủy hỏa tương giao, tuần hoàn không ngừng, bấy giờ thần ngự khí, khí lưu hình, bất tất dùng tạp thuật, tự nhiên được trường sinh. Quyết rằng: Tai, mắt, miệng tam bảo Vít chặt đừng khai thông Chân nhân lặng vực sâu Bơi lội giữa qui trung Suốt tới khí đầy đan điền Kết thành đao khuê vậy. GIẢI: Khí từ ngoài về, đan từ trong kết. Trong hồ là nơi đan dược ngưng kết. Khảm ly là quẻ tượng âm dương hỗ tàng. Diên, hống là tên riêng của thủy hỏa. Đan pháp lấy Ô (con quạ biểu tượng mặt trời), Thố (con thỏ biểu tượng mặt trăng) làm dược, tất phải lấy khảm điền ly, lấy diên đầu vào hống, hai thứ quân bình phối hợp vào trung cung, rồi long ngâm hỗ khiếu mà sản sinh huyền châu ở chính vị. Nói tự trú, tự hồi, tự kết, chủ yếu là diệu dụng tự nhiên, nếu dây vào tư ý tà ngụy là cách xa đạo vậy. 11 “Âm dương sinh phản phục, 12 Phổ hóa nhất thanh lôi” CHÚ: Công phu tới đây, thần không ngoại trì, khí không ngoại tiết; thần về khí huyệt, Ly Khảm đã giao, càng thêm mãnh liệt tiên tiến, trí hư tới cực, thủ tịnh rất bền. Thân tĩnh ở nơi diệu minh, tâm lắng ở nơi vô hà hữu, thì chân tức tự trú, bách mạch tự thông, nhật nguyệt ngưng chiếu, hoàn cơ không chạy. Thái cực tĩnh sinh động. Dương sản sinh ở Tây Nam Khôn vị, Khôn là bụng. Tất nhiên 1 điểm linh quang to bằng hạt gạo nếp, đó là tin tức báo điềm dược sinh, rực rỡ ánh sáng suốt thận, bàng quang như nước sôi, trong bụng như lữa đốt, như gió gào, như sấm dậy. Tức là quẻ Phục, thiên căn hiện vậy. Lúc này khí kim mạnh bức kim lưu hành qua Vĩ lư, nhẹ nhẹ vận chuyển, lẳng lặng đưa lên, một đoàn hỏa khí như sấm dậy thăng lên Nê hoàn. Tức quẻ Thiên phong cấu. Vòng qua Ấn đường, lọt ra nguyên quang. Thái cực động mà sinh âm, hoá thành thần thủy cam lộ. Trong có hạt châu bằng hạt gạo rơi vào Huỳnh đình, điểm vào linh hống ở cung Ly, kết thành Thánh thai, lưu hành hỏa hậu châu thiên một độ, phanh luyện thành linh đan tự kết vậy. GIẢI: Mười chữ này kỳ diệu không thể nói hết. “Âm dương phản phục” là đại ý luyện đan. “Phổ hóa lôi thanh” là bí quyết luyện đan, thiên cơ bí mật chính là đây. Kìa đan pháp của thần tiên đều do âm dương phản phục mà thành. Thiệu tử viết: Hốt nhiên tiếng sấm nửa đêm vang, Cửa ngõ lần lượt mở mở toan. Biết được trong vô hàm có hữu, Cho ai mắt thấy phục cơ sang. Chính vì trong đất có sấm, là quẻ Phục, một dương lai phục là giờ hào động, là ngày Đông chí trong mình, là lúc trời đất đều thành thất bảo cho nên nói là “phổ hóa”. Tiếng sấm vang ý là nói về khí khởi thủy vậy. 13 “Bạch vân triều đảnh thượng, 14 Cam lộ sái Tu Di” CHÚ: Tới giai đoạn này, 2 khí kết thành đao khuê, quan khiếu khai thông, hỏa giáng thủy thăng, nhất khí chu lưu qua huyền cốc quan, thăng 24 đốt sống đến thiên cốc quan, vòng qua trán sinh mỹ vị thơm ngon, rớt xuống trùng lâu, không nghĩ, không ngừng gọi là “Cam lộ rưới Tu Di”. Quyết rằng: Dĩ mục tống chi (Lấy ý tống đi) Dĩ ý nghinh chi (Lấy ý đón đấy) Tống hạ đan phủ (Đẩy xuống đan phủ) Ngưng kết nguyên khí (Nguyên khí kết lại) Mặc dĩ dưỡng chi (Lặng lẽ nuôi đấy) GIẢI: Đây là nói về khí hồi, chính cái khí thiên sinh ở hào độngl, lúc này đi suốt Vĩ Lư theo mạch Đốc lên Nê Hoàn, cảm thấy đùn đùn, ngút ngút như án mây trên đỉnh núi, rồi hóa thành nước ngọt, chảy xuống cổ họng, vào trung cung, đó là “Khí hồi đan tự kết”. Kinh Hoàng Đình viết: Hái rồi uống đấy chưa đầy khắc Trắng phau một đạo xung Nê Hoàn Hóa thành một đạo trôi vào miệng Thơm ngọt, thanh lương lưỡi thấm chân. 15 Tự ẩm trường sinh tửu 16 Tiêu dao thùy đắc tri CHÚ: Dưỡng khí tới đây, cốt tiết đã mở, thần thủy không trú mà qua lại không ngừng, luôn nuốt xuống. Đó là rượu trường sinh. Quyết rằng: Lưu châu quan dưỡng linh căn tính Tu hành chi nhân tri bất tri. GIẢI: Khí hóa thành nước ngọt, ngon không gì bằng, nên tùy nghi gọi là Ngọc Dịch, Quỳnh Tương. Kinh Ngộ Chân viết: Trưởng nam chợt uống rượu Tây Phương Tuyết sơn một vị đề hồ tốt Diên mạng rượu kia hồ ngọc rót Phản hồn rượu ấy đỉnh vàng thu Đó là rượu trường sinh, riêng ta độc đắc, không ai được hưởng cùng, cho nên nói là “tự ẩm”; “tiêu dao”, ngụ ý khoái lạc tự đắc vậy. Kìa! rượu đã không có ai cùng vui thì nào ai đã biết. 17 Tọa thính vô huyền khúc 18 Minh thông tạo hóa cơ. CHÚ: Công phu đến đây nghe nhạc tiên có nhịp điệu chuông trống, ngũ khí triều nguyên, tam hoa tụ đỉnh, như trạng thái quạ chiều về đậu, tâm điền mở sáng, trí tuệ tự sinh, thông hiểu kinh sách, mặc ngộ tam giáo, biết trước vị lai, đại địa sơn hà trong bàn tay, mắt nhìn ngìn dặm, tinh diệu lục thông, đó là thực hữu vậy. Nếu ta nói hư ngụy để lầm lỡ cho kẻ hậu học thì trời sẽ tru diệt. Không gặp được thấy thì việc này khó biết. GIẢI: Kinh Thái Thượng Nhật Dụng viết: Khúc vô huyền không nói mà tự có tiếng, không gãy mà tự kêu, chính là đan dược ở trong mình đầy dẫy. Thế nên mắt có thần quang, tai có linh hưởng, miệng có nước ngọt, mũi có dị hương là lý tất nhiên, không có gì lạ cả.19 Đô lai nhị thập cú 20 Đoan đích thượng thiên thê. CHÚ: Cả 20 câu đều không có mảy may hư ngụy, là bậc thang lên trời của hành giả vậy. Người ngộ được quyết này, nên gấp rút thực hành, đừng lãng phí thời giờ quí báu. GIẢI: Một trăm chữ của thầy ta là cái thang, chiếc bè lên cõi Tiên. Học giả ai cũng đọc được, nhưng tìm được người dung hội quán thông để hiểu ý mà tu hành, thật cũng không nhiều vậy. Tinh tôi đây vụn về, không có văn chương, được gia sư dìu dắt lâu năm, nêm tạm tiếm làm bài giải thích để tế độ, mở mắt cho người đời, thật là cuồng đãn, không chối được tội. Song hướng cho người học đạo có cơ sở thì không phụ công giáo huấn của thầy ta vậy. Hết bài “Lữ Tổ Bách Tự Bi”
    1 like
  10. Tân Dậu và Ất Sửu, 2 tuổi này lấy nhau thì làm ăn có phần lận đận, khó khăn, về sau mới khá lên dần, hay bệnh tật, chồng nể vợ lắm đây :) . Năm tốt để sinh con cũng đã qua, chỉ còn tốt nhất là năm Bính Thân 2016 để sinh con út! Con đầu thì nên sinh vào năm 2013, tuy mạng con và mạng mẹ ko hợp nhưng vẫn tốt cho bố, coi như củng cố cho bố kiếm tiền. Quan trọng con út nhé!!! Chúc may mắn và hạnh phúc Thiên Luân!
    1 like
  11. Hi, chắc bạn phải đưa sang mục tư vấn tử vi để xem thì đúng hơn đó Thân mến
    1 like
  12. 1 like
  13. Rất cảm động trước tấm thịnh tình của c Jingon. Nắng e chỉ dám cảm thán 1 câu KInh đô cát bụi bay nhiều Tìm đâu thấy được người yêu hoa hồng Có bạn tâm giao viết lại thế này Về đây a sẽ múc nước sông Mang đi a tưới những luống hồng ...... E đã cảm thấy mãn nguyện lắm rùi. Cảm ơn chị Jingon lần nữa nhé :)
    1 like
  14. Chó đến nhà là điềm phát tài. Chúc gia đình bạn một năm mới phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn.
    1 like
  15. Tôi có biết qua về câu phú đó nhưng chưa kiểm chứng bằng thực tế nên không rõ đúng/sai như thế nào. Thực tế có rất nhiều cách để tìm câu trả lời của KD và cách nào cũng có tốt/xấu cả. Vì vậy sự quyết định của gia đình trên cơ sở tham khảo các ý kiến xung quanh là điều cốt yếu. Bản thân môn Luận tuổi Lạc Việt cũng đã đạt được sự tin tưởng từ những người được tư vấn.Linh Trang
    1 like
  16. Anh đảm bảo ông ngoại em sẽ khỏe mạnh để dự đám cưới của v/c em ! Đây là nhân danh Văn hiến Lạc Việt đấy !Linh Trang
    1 like
  17. Không bán thì phải trả cho người ta thôi. Như thế cũng là tài lộc tự nhiên mang đến nhà bạn rồi. Không nên vì con chó mà mất tình láng giềng gần nhé. Thân mến
    1 like
  18. Cả 2 năm nầy đều có cơ hội lập gia đình dễ dàng .
    1 like
  19. - nhà này sinh năm Canh Dần hoặc Tân Mão thì rất tốt. Sinh con trai năm Canh Dần là lựa chọn số 1 đó. Cố lên Thái Bình Dương :lol: Tuổi Dần là tuổi hiếu động, nghịch ngầm mà tuổi nào cũng vậy, việc sinh con là một chuyện, chuyện quan trọng hơn, đó chính là việc nuôi dưỡng con nên người. Nghiêm khắc trong những lỗi dù nhỏ của con. Bạn nên chú ý điều này. Con của tôi chạy ngã, tôi bảo đứng lên, tại sao con chạy như vậy. Nó hơi mếu mếu rồi chạy lại xà vào lòng bố. Bố mẹ gia đình này nên rất chú ý. - sinh con được tương sinh là rất tốt, nhưng thường được tương sinh như mẹ sinh cho con thì mẹ cực kỳ chiều con, con đòi cái gì là đáp ứng ngay. Đó chính là họa đó. Nên việc chọn được tuổi sinh con tốt rồi tưởng là tốt mà lại hóa ra là họa. - Đó chính là quy luật tự nhiên. Không ai được cái gì mãi. Phải có sự cần bằng âm dương. có một câu này nên ghi nhớ: " Thái quá bất cập". Tỷ như bố mẹ làm ăn phát đạt rồi suốt ngày chỉ lo kiếm tiền, chẳng để ý gì tới con cả, nó đời gì là đáp ứng cho nó ngay mà không nghĩ rằng chẳng qua nó đòi là muốn bố mẹ thể hiện tình thương yêu, chăm chút với nó. Nhiều người cứ nghĩ rằng nó đòi gì là cho nó ngay, đó là thể hiện tình cảm, tình thương yêu của bố mẹ. Thật sai lầm!!! Than ôi!! Trời biển mênh mông, Âm dương hóa sinh. Lòng người thì lại hay đam mê mà không biết đá Thái quá rồi thì chỉ còn đợi nó bất cập mà thôi!!! - Mọi người chỉ chăm chăm đi tìm cái vô mà tưởng rằng đó là thực, thực ra tiền tài chỉ là cái vô hình, "chết là hết những gì còn sót lại", mà có đâu mang theo được đâu. Cái còn sót lại là cái gì? đó chính là cái thực, chính là những đứa con của mình. Thân mến P/s: Thái quá là chỉ sự vật hiện tượng vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ chuyển sang giai đoạn mới ... thường là ngược với giai đoạn trước
    1 like
  20. Hai bác đã có nhời, Giaback cũng thêm 1 phiếu ủng hộ :lol:
    1 like
  21. 1 like
  22. Vận hạn năm Dần cho thấy có cơ hội thay đổi việc làm nếu muốn ,vào tháng 0 1 âl - hay là tháng 07 âl ,lúc đầu thì có nhiều bở ngỡ không mấy thuận tiện cho lắm nhưng về gần cuối của 1/2 thì mọi chuyện đâu lại vào đấy ,chúc cháu may mắn .
    1 like