• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content on 16/10/2010 in all areas

  1. Họ và Tên Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, đến cái thời gọi là kỷ nguyên băng hà xa xưa thì các giống người vượn, trong đó cả “người vượn Bắc Kinh” đều đã bị tuyệt diệt. Chỉ còn lại giống người “trí nhân” ở Châu Phi và chính họ là thủy tổ của các quần thể người nguyên thủy không cùng chủng tộc, là tổ tiên của nhân loại ngày nay, khoa học về DNA đã phát hiện cho thấy như vậy. Một dòng người “trí nhân” đen lùn từ Châu Phi men theo bờ biển đến Đông Nam Á, họ là Thủy tổ của chủng tộc Đông Nam Á và thổ dân Maori ở Châu Úc ngày nay. Chủng tộc Đông Nam Á này đã khai phá nông nghiệp, văn minh nông nghiệp lúa nước, từ nam dần lên bắc đến tận lưu vực sông Hoàng Hà (Truyền thuyết sử Việt thì đó là “50 con lên núi tức lục địa và 50 con xuống biển tức hải đảo” của dòng giống con rồng cháu tiên). Một dòng người “trí nhân” khác từ Châu Phi đã đi lên vùng Trung Á, chuyên sống bằng chăn thả đại súc trên thảo nguyên, rồi cũng đặt chân đến muộn hơn vào vùng lưu vực sông Hoàng Hà ( truyền thuyết sử Trung Hoa gọi chủng tộc Trung Á này là tộc Di). Từ đó diễn ra sự tranh chấp đất đai giữa hai chủng tộc Bắc và Nam tức chủng tộc gọi thủ lãnh là “Khan” tức người Hãn và chủng tộc gọi thủ lãnh là “Lang= Vương” tức người Nam ( thực chất là tranh chấp giữa nền văn hóa du mục của người Hãn và nền văn hóa nông nghiệp định cư của người Nam) bắt đầu ở lưu vực sông Hoàng Hà , kéo dài hàng ngàn năm (Truyền thuyết sử Trung Hoa thì nói tộc Di tranh chấp với tộc của Viêm đế và tộc của Hoàng đế là hai tộc đã định cư ở thượng du Hoàng Hà và với tộc Cửu Lê của thủ lãnh là Xuy Vưu đã định cư ở hạ lưu Hoàng Hà. Cuối cùng bộ tộc Viêm đế và bộ tộc Hoàng đế lại liên minh với bộ tộc Di để đánh bại bộ tộc Cửu Lê ở hạ du Hoàng Hà vốn có binh khí tinh xảo tiên tiến hơn . Thủ lãnh bộ tộc Cửu Lê là Xuy Vưu bị tử trận trong trận quyết chiến cuối cùng là trận Trác Lộc ở tỉnh Hà Nam, là trung tâm của vùng về sau gọi là Trung Nguyên . Gia phả các dòng họ Trung Hoa đều xưng là “ tử tôn Viêm, Hoàng”, nhưng có ý kiến cho rằng phải nói là “tử tôn của Viêm, Hoàng, Xuy” thì mới đầy đủ vì Xuy Vưu là thủ lãnh tuy đã chết nhưng bộ tộc Cửu Lê thì vẫn tồn tại trên đất Trung Hoa, không là máu đằng bố thì cũng là máu đằng mẹ của các dòng họ Trung Hoa). Trung Quốc có 5000 năm lịch sử văn minh là nói bao gồm cả “thần thoại sử”, đó là “thời đại Hoàng Đế trong truyền thuyết”. Nhiều nhà sử học cứ khăng khăng rằng cuốn “Sử ký” đã chẳng ghi về vương triều nhà Hạ, còn nghi ngờ gì nữa? Nhưng ông Tư Mã Thiên viết cuốn “Sử Ký” sống sau nhà Hạ những 2000 năm, ghi những sự việc ông ta chưa từng thấy mà lại không cho nghi ngờ ư? Nếu tính từ cái gọi là nhà Hạ 2000 BC đến năm 2000 thì cũng chỉ có 4000 năm. Cái mà “văn minh Hoa Hạ” để lại chẳng qua là những mảnh vụn mà thôi, đến cái trang phục dân tộc cũng chẳng có..Nói “văn minh Trung Hoa là văn minh duy nhất liên tục” vậy nó để lại được cái gì? Mọi dân tộc đều có trang phục dân tộc, người Trung Quốc (Hán tộc) có trang phục dân tộc của mình ư?( bộ đồ trung sơn lại càng chẳng phải vì nó vốn là đồng phục học sinh của Nhật Bản sửa đổi thành). Qua hơn một nghìn năm, đặc biệt là vài trăm năm gần đây bánh xe lịch sử nghiền nát, cái gọi là “văn minh Hoa Hạ” chỉ còn là những mảnh vụn , mà lại là những mảnh vụn khó hình dung. So với các nền văn minh cổ trên thế giới thì chính nền văn minh bị tiêu vong nhiều nhất là ở Trung Quốc, ngoài một cái còn là chữ Hán thì Trung Quốc chẳng còn cái gì từ cổ đại. Văn minh cổ Hoa Hạ chân chính đã bị tiêu vong từ sau thời Tống rồi. ( theo mạng Trung Quốc http://culture.163.com/05/1230/10/267BSL1200280004.html ) Để giải thích cho cái băn khoăn về “nền văn minh cổ Hoa Hạ” mà mạng trên nêu thì hy vọng các nhà sử học Trung Hoa và các nhà sử học Việt Nam đi sâu nghiên cứu nền văn minh Văn Lang và nền văn minh Bách Việt sau nó, nhất là nền văn minh Văn Lang cổ đại, thì chắc mới sáng tỏ được để đưa cái giai đoạn “sử truyền thuyết” trong sử Hoa và cả trong sử Việt thành chính sử được. Tôi chỉ là bạn đọc nghiệp dư thích tìm hiểu cội nguồn dân tộc. Nhưng tôi thấy cái bóng Việt sừng sững 5000 năm nay trong ngôn ngữ phổ thông Trung Quốc, đó là họ tên người Trung Hoa là họ tên Việt ,vì kết cấu ngữ pháp của nó hoàn toàn là kết cấu ngữ pháp tiếng Việt : chính trước phụ sau nên có họ trước tên sau như tiếng Việt, trong khi kết cấu ngữ pháp tiếng phổ thông Trung Quốc là phụ trước chính sau giống ngôn ngữ phương Tây, đáng lý như vậy thì kết cấu họ tên cũng phải là tên trước họ sau như ngôn ngữ phương Tây chứ? Kính mong các bậc thức giả giải thích giùm .tại sao nó tồn tại như vậy 5000 năm nay. Logic mà nói thì kết cấu họ trước tên sau chỉ đúng như ngữ pháp Việt bất biến từ 5000 năm nay chứ không đúng với ngữ pháp tiếng phổ thông Trung Quốc hiện nay. Thứ nữa trong truyền thuyết Hoa,cũng như truyền thuyết Việt , các ông vua cổ đại toàn chỉ gọi bằng tên như đế Viêm, đế Hoàng, vua Nghiêu , vua Thuấn , giống như người Việt vẫn gọi người bằng tên vậy, chứ không gọi người bằng họ? Gia phả họ Đinh người Hoa ghi rằng họ Đinh ở miền nam Trung Quốc là hậu duệ họ Cơ 姬của Chu Văn Vương 周文王. ( Mà Chu Văn Vương=Chúa Văn Lang, ông ấy là vua nhà Chu ở vùng sông Chu giang Quảng Tây, là một trong những cái nôi trống đồng Lạc Việt, sông ấy sau bị đổi tên thành sông Tứ giang, nhưng chẳng “đổi” được các di tích trống đồng chôn dưới đất của người Choang. Cổ sử Trung Quốc nói : nước Văn Lang xưa gồm Trung, Bắc bộ Việt Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang, Hồ Nam, Giang Tây. Lại nói Việt vương Câu Tiễn là hậu duệ của vua Hùng. Vua nhà Chu mà họ Cơ 姬 thì thủy tổ ông ấy phải là vùng sông Cả Nghệ An. Người Việt cổ sống định cư từng làng theo các con nước để trồng lúa nên lấy tên con nước do mình đặt ra làm họ. Gia phả họ Lê người Hoa thì nói rằng thủy tổ Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành là ở huyện Dương Sóc Quế Lâm Quảng Tây, cùng nước Văn Lang xưa cả thì cũng chẳng có gì là lạ). Gia phả họ Đinh ở Trung Quốc còn nói rằng có một nguồn khác cũng gọi họ Đinh nhưng không phải là người Nam mà là của người tộc Trung Á sau khi tiến nhập vào lưu vực sông Hoàng Hà thì bị Hoa hóa , và họ của họ là do phiên âm mà trùng âm là Đinh (người Hãn rặc thì họ tên của họ theo ngữ pháp tiếng nói của họ là phụ trước chính sau nên theo logic đó họ có kết cấu tên trước họ sau). Trường hợp này được ghi trong gia phả như sau: Do người Tây Vực (Tân Cương ngày nay) họ tên đa âm tiết mà đa số có tiết cuối cùng là “ding”, sau khi vào Trung Nguyên họ bị Hán hóa (tức Hoa hóa) dần, giữ lại mỗi tiết cuối của tên là “ding” làm họ Đinh 丁. Như “Linh Sơn phòng tập Cao Sĩ truyện 靈山房集高士傳 ” viết: “ Hạc Niên (Hu-a-ni-ans-tan) là người Tây Vực , tằng tổ tên là A-Lão-Đinh (A-las-tan), ông nội tên là Khổ-Tư-Đinh (Khus-tan), bố tên là Ô- Lục- Đinh (U-lus-tan), anh tên là Sĩ- Nhã- Mạc- Đinh ( Sư-y-a-mos-tan). Hạc Niên biết từ tằng tổ trở xuống tên đều có đuôi là “đinh” (stan) mà không biết nó nghĩa là gì cả, hậu thế coi Hạc Niên là họ Đinh, gọi ngược lại theo cú pháp họ tên người Hoa (thực tế nó là cú pháp Việt, chính trước phụ sau, họ trước, tên lót, rồi tên sau) là Đinh Hạc Niên (biến thành người Hoa có họ tên Việt luôn là Đinh Hạc Niên). Xin chia sẻ để các bạn thích sử tham khảo.
    3 likes
  2. Chủ tịch Hà Nội đánh giá về 10 ngày Đại lễ Thứ Bẩy, 16/10/2010 - 01:16 (Dân trí) - Báo cáo với Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội về 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Thảo cho rằng, Đại lễ thực sự là ngày hội lớn, gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn bè quốc tế. Diễu binh Đại lễ và những chuyện bây giờ mới kể Dư âm ấn tượng trong lòng bà con kiều bào sau Đại lễ Biểu diễn văn nghệ chào mừng Đại lễ Chiều ngày 15/10, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Thảo đã báo cáo với Đoàn đại biểu Quốc hội TP về tình hoạt động diễn ra trong 10 ngày Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.Theo ông Thảo nhờ sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, những nỗ lực của các cấp ngành địa phương cũng như cả nước và sự góp sức của đông đảo quần chúng nhân dân, Đại lễ đã diễn ra thành công, đảm bảo mục tiêu như lễ diễu binh, diễu hành lớn nhất trong lịch sử; đêm lễ hội diễn ra hoành tráng, đẹp mắt chưa từng thấy.Nhìn nhận một cách tổng quát các sự kiện diễn ra trong 10 ngày Đại lễ, Chủ tịch UBND TP cho rằng, đã đảm bảo sự sang trọng, hoành tráng, vui tươi, sôi động, ấn tượng, an toàn và tiết kiệm. "Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân, là niềm tự hào của dân tộc, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn bè quốc tế", ông Thảo nói.Ông Thảo cho biết, với sự tham gia của hơn 1.000 phóng viên và hàng trăm tờ báo nên chưa có sự kiện văn hoá nào được tuyên truyền đậm nét như 10 ngày diễn ra Đại lễ. Đảm bảo mọi thông tin của Đại lễ đến với người dân.Việc xây dựng các công trình đã hoàn thành đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng không chỉ phục vụ cho thành công của Đại lễ mà còn có ý nghĩa lớn đảm bảo từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Thủ đô sau này.Nhắc tới 2 sự cố lớn trong Đại lễ, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Thế Thảo cho rằng, đây là những hiện tượng khách quan đem lại. Theo ông Thảo, vụ nổ 2 container pháo hoa trưa 6/10 là một tai nạn lao động không may xảy ra.Về tình trạng hỗn loạn giao thông đêm 10/10 ở Mỹ Đình, người đứng đầu TP nhận định, đó là do công tác dự báo, TP không đánh giá hết lượng người dân đổ về khu vực Sân vận động Mỹ Đình đông đến như vậy nên không có biện pháp ứng phó kịp thời. Quang Phong
    2 likes
  3. Nhanh thì ngày mai, chậm thì 3 ngày - Hôm nay 16 tháng 10. 2010, tính là ngày thứ nhất - mưa lớn và nước lũ sẽ chấm dứt hoành hành nơi đây! ======================================= Miền Trung trong cảnh lũ chồng lên lũ Cập nhật lúc 05:03, Thứ Bảy, 16/10/2010 (GMT+7) , - Do mưa lớn, chiều 15/10, tại nhiều địa bàn tại miền Trung, nước lũ đã làm cô lập và ngập úng nhiều xã. Đã có ít nhất 4 người chết do lũ. Hà Tĩnh: Nước lũ lên nhanh Mưa lớn từ tối 14 đến sáng 15/10 đã gây ra lũ quét ở 4 xã đầu nguồn của huyện Hương Sơn (gồm Sơn Kim I, Sơn Kim II, Sơn Hồng, Sơn Lĩnh) khiến 10 hộ dân phải di dời khẩn trong đêm tối. Nước lũ cũng phá lở một đập chứa nước thuộc xã Sơn Kim I, hiện đã được khống chế được. Các xã hạ nguồn của huyện này cũng bị ảnh hưởng nặng trong trận mưa vừa qua. Nhất là các xã Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thuỷ, Sơn Tiến, Sơn Hàm, Sơn Mỹ, Sơn Thịnh bị chia cắt và cô lập. Nhiều tuyến đường của 9 xã vùng dưới huyện bị cô lập nặng nề. Ban PCBL huyện Hương Sơn cho hay: mực nước trên sông Ngàn Phố tại trạm thuỷ văn Sơn Diệm tính từ 17h ngày 14 đến 17h ngày 15/10 là 110,71mm, lượng mưa tại Sơn Diệm 246,6mm, tại Phố Châu 210,09mm. Do bị ngập ứng nên nhiều diện tích cây trồng bị ngập úng: Hơn 410 ha lúa mùa, 1.200 ha ngô đông bị ngập và hư hại nặng. Bên cạnh đó, ban đầu đã có 150 chiếc cầu cống bị cuốn trôi hư hỏng, có 10 trạm xá, trường học bị ngập và cô lập. Trên địa bàn cũng đã xảy ra sạt lở đất đá. Cụ thể, vào lúc 3h sáng 15/10, một khối đất đã lớn ở xóm Hoàng Nam, xã Sơn Tây sạt lở, đe 2 hộ dân Lê Viết Bường và Đào Xuân Thể. Sáng sớm cùng ngày, chính quyền địa phương đã sơ tán khẩn cấp người và một số tài sản có giá trị của 2 hộ dân trên. Do địa hình độ dốc cao dẫn đến diễn biến mưa lũ xảy ra hết sức phức nhưng nhiều người dân vẫn mạo hiểm đi đánh cá mưu sinh và vớt củi trôi về cùng lũ. Lúc 22h30 ngày 15/10, trên địa bàn huyện Hương Sơn lũ ở vùng trên đang rút chậm và vùng hạ huyện đang lên, trời vẫn đang còn mưa rất to. Quảng Bình: Lũ cũ chưa qua, lũ mới đã tới Cũng thông tin về mưa lũ tại miền Trung, báo GĐXH viết: Đợt lũ lịch sử ngày 3/10 chưa đi qua, người dân Quảng Bình lại phải đối diện với một đợt lũ mới nhiều khả năng đạt đỉnh trong đêm 15/10. Từ 19 giờ ngày 14/10 cho đến 15/10, mưa trên diện rộng tiếp tục “tấn công” người dân vùng lũ trên toàn tỉnh Quảng Bình. Theo báo này, trước tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, Văn phòng Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão (BCH PCLB) và UBND tỉnh Quảng Bình đã có công điện ngày 14/10 và 15/10 gửi các huyện, ban, ngành trong tỉnh thông báo tình hình, yêu cầu tập trung phòng chống lũ lụt. Bộ Chỉ huy Biên phòng Quảng Bình đã điều động canô lên vùng xung yếu xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa để sẵn sàng cứu dân lúc cần. Nước tiếp tục lên ở vùng rốn lũ Tân Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình). Ảnh: Vĩnh Quý Trao đổi qua điện thoại ông Đinh Minh Chất – Chủ tịch UBND huyện Minh Hóa cho biết: “Mưa lớn và kéo dài trong ngày hôm nay đã làm nước lên. Khu vực xã Thượng Hóa đã bị ngập, còn ở xã Tân Hóa nước đã lên và bắt đầu chia cắt một số nơi. Nếu đêm nay trời tiếp tục mưa, người dân Minh Hóa lại phải sống trong nước lũ…” - bản tin tối 15/10 của GĐXH đưaChiều 15/10, nước trên sông Kiến Giang đã “ngấp nghé” báo động 2. Nếu trời tiếp tục mưa chắc ngày 16/10, nhiều xã sẽ chìm ngập trong nước. Tại huyện Bố Trạch - nơi nước lũ về đã cướp đi nhiều mạng sống của người dân “nếu đêm 15/10 mưa tiếp tục, đến sáng 16/10 chắc chắn sẽ bị chia cắt nhiều xã. Chúng tôi đã báo động toàn huyện, sẵn sàng trực chiến 24/24 giờ để nắm tình hình và có phương án di dân khi cần thiết”, ông Phan Văn Gòn – Chủ tịch huyện Bố Trạch - cho GĐXH biết. Quảng Trị: 2 người mất tích vì chìm đò Một phụ nữ Việt Nam sang Lào bán hàng tạp hoá, khi trở về qua sông Sê Pôn đã bị lật thuyền, mất tích, tin từ Đồn BP Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo (huyện Hướng Hoá, Quảng Trị) cho biết ngày 15/10. Sông Sê Pôn đoạn qua bản Phường thường xảy ra nhiều vụ lật thuyền thương tâm Nạn nhân là chị Nguyễn Thị Thuỷ (SN 1974, trú tại thôn Tân Hòa, xã Tân Liên) làm nghề buôn bán hàng tạp hoá ở Bản Phường, huyện SêPôn, tỉnh Savanakhet, Lào bán. Khoảng 15 giờ cùng ngày, chị thuê thuyền do một người Lào cầm lái chở một số hàng hoá qua sông Sê Pôn, do mưa lớn, nước chảy siết nên thuyền bị lật, chị và chủ thuyền đã mất tích. Địa điểm thuyền bị chìm cách cửa khẩu Lao Bảo chừng 10 km. Hiện tại lực lượng cứu hộ của Lào cùng với người thân nạn nhân đang ra sức tìm kiếm. Được biết, vào mùa mưa lũ hàng năm, trên sông Sê Pôn đoạn qua bản Phường thường xảy ra nhiều vụ lật thuyền thương tâm. Gần đây nhất là vào tháng 11.2009 cũng ở đoạn sông này, một phụ nữ sống tại thị trấn Lao Bảo cũng bị đuối nước do chìm thuyền khi qua đây thu mua chuối. TT-Huế: Lốc xoáy, một người chết Chiều tối 15/10, báo Thanh Niên đưa tin, hồi 15 giờ 30 cùng ngày, tại bản Hạ Long, xã Phong Mỹ (H.Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế), một cơn lốc xoáy với cường độ lớn đã bất ngờ xảy ra khiến 1 người chết (nạn nhân tên Trần Văn Me, 80 tuổi), 4 người bị thương nặng. Gió lốc cũng làm 60 nhà dân, trường mầm non, tiểu học tốc mái, trong đó có 37 nhà bị hư hỏng nặng. Ngoài ra, gió lốc còn làm hơn 10 ha cao su của người dân tại địa bàn bị gãy đổ. Những người chết và bị thương được xác định là do nhà cửa tốc mái đổ sập gây nên. Số người bị thương hiện đang được điều trị tại Trung tâm Y tế H.Phong Điền. Ngay sau khi nhận tin báo gió lốc xảy ra, ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và Phó chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ đã có mặt để chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả và thăm viếng, động viên những người bị nạn. UBND tỉnh cũng đã trích kinh phí hỗ trợ khẩn cấp cho gia đình người chết 4,5 triệu đồng và người bị thương 1,5 triệu đồng. Được biết, nước lũ thượng nguồn dâng cao đã làm đường đến bản Hạ Long trong chiều qua bị cắt đứt. Trí Thức - Tá Linh và V.T tổng hợp từ các báo
    2 likes
  4. CHIA BUỒN (con trai của Bach Lam) Anh chị em Lý Học Đông Phương gởi lời chia buồn sâu sắc đến Bách Lâm (HV lớp PTLV2) và gia đình. Vô cùng tiếc thương nhưng vẫn mong cho gia đình sớm vượt qua nỗi mất mát này. Cháu đã không ở lại cùng chúng ta thì hãy hết lòng Cầu Siêu cho cháu được về nơi An Lạc. TM Ban Quản Trị Diễn Đàn và toàn thể ACE gởi đến cháu nén hương thơm đưa tiễn.
    1 like
  5. Mỗi một cách vẽ có một tác dụng riêng nhằm sử dụng ưu điểm ngôn ngữ hình ảnh để minh họa nội dung vấn đề. Vấn đề theo hình vẽ ở đây là vấn đề về Hệ Tọa Độ Địa Lý, không chỉ thế mà là Biểu Kiến Vị Trí Mặt Trời theo Hệ Tọa Độ Địa Lý. Với vấn đề minh họa này bắt buộc phải thấy một số yếu tố sau: 1-Phải bỏ đi sự minh họa đối tượng Đường Đổi Ngày (kinh độ 180). 2-Phải bỏ đi sự minh họa đối tượng Kinh Tuyến Gốc (kinh độ 0) 3-Phải bỏ đi hiện tượng quay quanh Trục của Trái Đất. 4-Phải tinh tế quán tưởng Biểu Kiến Vị Trí Mặt Trời theo cách thức Trái Đất Xoay Quanh Mặt Trời nhưng Trái Đất không xoay quanh Trục (Pause http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/grin.gif ). Bốn yếu tố nói trên là những điểm nhấn khi muốn minh họa một số vấn đề Hệ Tọa Độ Địa lý, đó là: -Hạ Chí Tuyến -Đông Chí Tuyến -Bán Cầu Bắc: +Điểm Xuân Phân Bắc Cực +Điểm Hạ Chí Bắc Cực +Điểm Thu Phân Bắc Cực +Điểm Đông Chí Bắc Cực -Bán Cầu Nam: +Điểm Thu Phân Nam Cực +Điểm Đông Chí Nam Cực +Điểm Xuân Phân Nam Cực +Điểm Hạ Chí Nam Cực
    1 like
  6. cái này mình cũng đang nghiên cứu ! vì có đôi lần mình ra quẻ này cho 1 số chuyện làm ăn , lúc đang đợi khách tới mua bán . mình tự đặt câu hỏi "Việc mua bán này có thành công với người này không ?" rồi mình ra được quẻ Đỗ Tốc Hỷ . và cứ vui vẽ và tin tưởng việc sẽ thành . ai ngờ người ta xem hàng rồi ko mua . trong khi người ta đã xem hàng qua mạng rồi . mình đã bị vài lần khi ra quẻ này mà việc cứ gần tới thành công thì lại thất bại ! nên mình thấy k chắc chắn là 100% quẻ luôn tốt cho việc mình mong muốn ! nên mình thấy đừng vội phán việc 100% thành . chúng ta cần phải nạp âm . xem ngày hoặc tháng thuộc gì ? và có thể phải xem xét ngoại cảnh bên ngoài . ví dụ như trời có mưa ngay giờ mình hẹn gặp khách không (vì có thể mưa sẽ làm thất bạn chuyện này vì không đến được ) ...vài lời chia sẻ hihi... đại khái là vậy ! Còn câu hỏi mình đặt ra ! hi vọng các bạn gieo quẻ và lậun nhé . đợi thêm 1 vài người nữa mình sẽ nói kết quả . Thanks các bạn !
    1 like
  7. Thấy lá số của cô bạn năm nay khó cưới. Không thể xem nhiều hơn vỉ không có mặt của đương số
    1 like
  8. Post lá số giúp bạn: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/apps/LaS...reen&size=2 http://www.lyhocdongphuong.org.vn/apps/LaS...reen&size=2
    1 like
  9. 1 like
  10. Chào Nhật Tâm Không phải là có vui lòng chỉ bảo hay không, mà là lực bất tòng tâm. Sự bất lực này là do: -Thực sự lý học đông phương, mà cơ sở là lý âm dương, ngũ hành, khí, đạo rất khó truyền đạt. Tôi có một người bạn, gia đình có truyền thống nho học mấy đời. Bản thân kiến thức đông phương học cũng uyên thâm. Người đó có một cậu học trò nhỏ, mặc dù có thành tích cao và đã trưởng thành về tây học, song có ham thích lý học đông phương. Có thể nói, cậu ta thông minh đỉnh ngộ, có ngộ tính cao. Vậy mà một thời gian khá lâu, tôi và anh bạn đó cố gắng giảng giải. Công phu bỏ ra khó có thể cố gắng được hơn. Cho đến nay, về lý thì không thể chê, hay có thể tìm được lý do gì để chê, hay đánh giá thấp được. Nhưng thực thì không thể thỏa mãn được, nếu chỉ đứng ở góc độ như tây phương học, nghĩa là cho phép người học có khả năng độc lập tư duy, độc lập suy nghĩ và nghiên cứu. Lý học đông phương, xếp theo tầm. Thấp nhất là lý âm dương không phân biệt, tiếp theo là âm dương phân biệt rồi cao nhất là âm dương ngũ hành – phần dịch lý. Qua được phần dịch lý mới tới đạo học. Những môn như Dịch, Tử vi, Thái ất, ...là kết quả của những thành tựu âm dương ngũ hành ở tầng cao và đạo học. Cậu nhỏ đó, đến nay vẫn chưa qua nổi tầng âm dương không phân biệt. Tôi cũng chưa biết làm sao để có thể rút ngắn thời gian truyền đạt, đưa cậu ta đến với những tầng cao nhất để học được những môn như dịch, tử vi, ... Nên có thể hiểu được tìm truyền nhân trong đông phương lý học, thật khó. -Đông phương lý học có hai hướng tiếp cận. Hướng thứ nhất, và cũng là phổ biến nhất là nhận thức để ứng dụng. Như học dịch, tử vi, thái ất, phong thủy, ... học để mà ứng dụng, tuy khó khăn, khó hiểu nhưng số người theo đuổi được và thành tài không ít. Học để xem bói, giải quẻ chỉ là cái học của thường nhân. Phàm ai thích đều có thể học được. Hướng thứ hai là hướng mà rất ít người có thể theo đuổi. Đó là nghiên cứu về đông phương học, trên phương diện lý thuyết và chiêm nghiệm. Về phật pháp thì trở thành cao tăng đắc đạo, về đạo học thì thành chân nhân. Cho dù là như thế, ở họ, cũng chỉ đạt thành những giá trị về chiêm nghiệm, chứ về Lý học thì cả trăm ngàn người đắc đạo, cũng chẳng có mấy ai. Đây là cái lý do chân thực giải thích tại sao lý học đông phương khó phát triển như vậy. Chỉ cần một sai sót nhỏ về nhận thức cũng đã có thể kìm hãm sự phát triển tới hàng trăm năm. Chứ không phải là thất truyền. Nhưng người từng được xem là thánh nhân, cũng đã có những sai lầm về nhận thức lý học, như hiểu sai về âm dương, không hiểu về ngũ hành, ...Do không có thực nghiệm, mà chỉ có chiêm nghiệm. Thực nghiệm thì có thể phổ biến, cho nên tây học khả dĩ nhận thức và phát triển. Chiêm nghiệm thì mang tính cá nhân. Thành thử, sai lầm khó được nhận dạng và khắc phục. Đông phương học vì thế phát triển rất khó khăn. Đó là hiện tại, chỉ nói đến những khó khăn trực tiếp, chứ chưa nói đến những khó khăn cản trở do việc nhận thức sai lầm, khiến cho hàng bao nhiêu thế hệ mắc lỗi và phát triển sai lạc. Ngay giờ đây cũng đầy rẫy những cái hiểu ngây ngô, sai lạc về lý âm dương. Dù chỉ là ở tầng thấp nhất, cũng đã không có nhận thức đúng đắn, thì làm sao có thể vươn lên tầm cao hơn. Còn muốn nghiên cứu các thành quả của nó. Xin lỗi, hoàn toàn bất khả. Tây học, để vươn tới đỉnh cao, đòi hỏi phải đi từ thấp tới cao, từ nhỏ đến lớn, tích lũy kiến thức. Tạo nên "những con đường", hay vết hằn sâu trong tư duy. Nhưng ở đông phương học, người học muốn vươn tới đỉnh cao, lại đòi hỏi ngộ tính cao. Nhưng điều kiện ngộ tính cao, thì tư duy "phải như tờ giấy trắng". Như người đông phương thường nói. Tâm phải đạt tới cảnh giới của tĩnh lặng. Chỉ một câu nói, đã có nhiều người phải mất cả đời mới ngộ được nó. Chỉ một châm ngôn, nhiều thế hệ cũng chưa chắc đã thấu triệt. Nói chi đến cả một nền lý học. Cho nên, từ xưa tới nay, có ai dám nói là đã hiểu hết dịch – mới chỉ là dịch thôi. Không nói đâu xa. Một câu nói của Nhật Tâm, rằng, Tây học hay Lý học, cũng là Đạo cả. Sai một cách căn bản. Chỉ sai ở một từ thôi, mà hỏng hết cả một nhận thức. Tôi để rất lâu không vạch rõ, vậy mà Không có một ai chỉ cho Nhật Tâm cả. Nay nhân chuyện này mà nói rộng ra như vậy, để thấy cái khó. Như mình tự hào về tây học mà nếu vội "ưỡn ngực" xông pha vào đông phương lý học, thì nên cẩn thận. Nhưng kẻ mà đang được gọi là đông phương học gia, lại mon men vào tây học, cũng phải dè chừng, kẻo mà làm thằng ngố. Thế nên. Muốn cả Tây lẫn Đông, khó lắm thay. Nhưng không phải là không thể. Nên tôi nói, Nhật Tâm, với cái đà này, không sớm thì muộn cũng tẩu hỏa nhập ma. Thành thực khuyên Nhật Tâm, muốn học đông phương lý học, hãy học ở Chu Hy làm căn bản bước đầu. Tôi đã trao chìa khóa cho Nhật Tâm ở trên rồi. Nay đưa thêm cho Nhật Tâm cẩm nang. Nếu Nhật Tâm thực sự có thể nghiên cứu lý học, bằng tư duy tây phương mà không thể sử dụng được chìa khóa, không thể hiểu được cẩm nang. Thì không nên liều lĩnh. Cậu nhỏ mà Tôi dạy nắm bắt được chìa khóa và cẩm nang này rất nhanh đó. Cẩm nang: (Chú ý chữ màu xanh) Tây học và Lý học đều Có Đạo. Chứ không được nói, Tây học và Lý học đều là Đạo. Thân ái.
    1 like
  11. Người nào đó nói vậy cũng có lý nhưng hạn không nặng đến nỗi bỏ mạng, hạn của chị nặng hơn chồng chị. Cẩn thận đề phòng 3 tháng cuối năm nay. Trong gia quyến bên chồng sức khỏe của mẹ hay vợ cũng sút kém/ trong họ có thể có tang người nữ, chị chờ bác haithienha lên tư vấn thêm cho chính xác nhé, thân chào!
    1 like
  12. niềm tin và hi vọng luôn giúp con người ta mạnh mẽ vượt qua gian khó http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/smile.gif Em vẫn thường xuyên dõi theo anh chị, cùng cầu mong anh lành..., nhờ anh chị em biết quý trọng cuộc sống, những gì mình đang có và những người thân xung quanh mình, cảm nhận được sâu sắc sự ấm áp của tình người!! Xin được chúc phúc tốt lành tới anh chị và gia đình! Thân mến,
    1 like
  13. ĐỒ HÌNH TƯỢNG SỐ TIÊN THIÊN ĐỊA CẦU PHÂN CỰC BẮC NAM Nhìn vào Đồ Hình trên, Rubi liên tưởng đến ý tưởng Trục Thăng Long của giới các nhà Quy Hoạch Kiến Trúc. Nếu lấy Đầu Trục và Cuối Trục để Quy Hoạch công trình chính thì đó chưa chắc là thượng sách, quy hoạch như vậy thì Trục Thăng Long sẽ là Đường Cao Tốc chứ không phải là Đại Lộ. Và theo như Đồ Hình trên thì Hoàng Đạo tương ứng với Đại Lộ, đồng thời cũng là biên giới của hai Cực. Có thể xem Đại Lộ là một Đường Trung Tốc (so sách với Đường Cao Tốc) thế Hoành theo hướng Đông Tây, nằm giữa hai cực trong một đồ án quy hoạch. Sự kết nối hai cực trong đồ án là các Đường Hạ Tốc thế Tung theo hướng Bắc Nam. Hoành là thể, Tung là dụng, có quan hệ với nhau tạo nên tác dụng của Đại Lộ. Song theo như Đồ Hình, Hoàng Đạo mà Rubi đặt tên thì với cái tên này nó thể hiện đó là ứng với Mặt phẳng Hoàng Đạo. Nhưng theo Bản Đồ Nhiệt thì có thể thay Hoàng Đạo là Xích Đạo trong Đồ Hình đó. Và có thể ứng dụng cả Hoàng Đạo và Xích Đạo vào quy hoạch Đại Lộ. Sự tương tác Hoàng Đạo và Xích Đạo trong thực tế tạo nên sự dao động điều hòa của Gió và Nhiệt Độ Biển theo trục Bắc Nam. Đây chính là điểm có thể ứng dụng để thiết kế một hệ thống Đại Lộ có đặc điểm phân biệt với Đường Cao Tốc. p / s : Rubi viết xong bài nầy và thấy nick Thăng Long đang xem chủ đề mới ngộ, http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/grin.gif .
    1 like
  14. Chiều mùng 9. 10. 2010, trong không khí Lễ hội - Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hanoi - anh chị em lớp Phong Thủy Lạc Việt căn bản III đã có cuộc gặp mặt tại Hanoi. Trong cuộc gặp mặt này có Thiên Sứ và Linhtrang - trưởng ban nghiên cứu Phong Thủy Lạc Việt. Cuộc gặp đã diễn ra thân mật và vui vẻ. Thiên Sứ và Linhtrang đã trả lời những cầu hỏi của anh chị em trong lớp liên quan đến các bài giảng trong lớp. Trời thu bên hồ Trúc Bạch Ấm cúng và thân mật.
    1 like
  15. -Phần phụ-tác dụng hệ quả: ...Rubi sẽ trình bày tiếp, đại ý là "Y kinh giải nghĩa, Tam thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, tức đồng Ma thuyết"... +Y Kinh giải nghĩa: tức là không hiểu được ý của Phật, không nắm bắt được hệ thống Kinh điển mà lại giải nghĩa theo một lối riêng thì sẽ thành kiến giải trái với tất cả các Đức Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. +Lìa kinh một chữ: tức là Thiền là Tâm Phật, Kinh là Miệng Phật cho nên nếu nói giảng mà rời xa Kinh điển dù một chữ thì cũng sẽ rơi vào sự sai lệch. Đó là ví dụ để thấy ở đây, các phát kiến của Rubi nói riêng đều có sự liên quan đến nhau, phát kiến trước liên quan đến phát kiến sau, phát kiến sau là sự chỉnh lý tiếp theo của phát kiến trước. Và khởi đầu cho sự nghiên cứu theo hướng chỉnh lý đều là có sự kiện nhân duyên. Nếu một phát kiến chỉnh lý nào đó mà lìa điều này thì phát kiến đó ví như là từ trên trời rơi xuống. Ví dụ: Có người bảo cái hình đó của Rubi giống giống với hình của người khác, và đặt thành vấn đề Rubi không nghĩ đến sự người ta cho rằng đó là Rubi bắt chước người ta hay sao. Trường hợp này tức là lấy một đối tượng phát kiến trong toàn bộ tiến trình nghiên cứu của Rubi rồi tách biệt nó ra, so sánh nó với một đối tượng hình ảnh nội dung phát kiến của người khác để mà đặt dấu hỏi rằng nội dụng phát kiến này là của ai, hình ảnh kia là của ai. Thực tế là: -Hướng nghiên cứu chỉnh lý có được sinh lực là do có nguyên nhân của nó: +Nguyên nhân có thể là do tự mình tiếp cận và vạch ra các hướng chỉnh lý rồi phát triển dần dần cho đến khi đủ sức thuyết phục mình và thuyết phục người đối với sự chỉnh lý của vấn đề. +Nguyên nhân có thể là do xem các bài viết của người khác rồi tự mình ngấm vào cách tiếp cận vấn đề theo hướng chỉnh lý. -Hướng nghiên cứu chỉnh lý đã không cố định ở con số 1 (một hướng): Trong một hướng nghiên cứu chỉnh lý của Rubi, có cái đúng có cái sai, cái trước sai, cái sau đúng hơn, hợp lý hơn. Định hướng chỉnh lý trên cơ sở tìm ra những điểm đúng và những điểm sai trong lĩnh vực học thuyết Âm dương Ngũ hành, thông qua các nguồn tài liệu trong Thư Viện Quốc Gia, Thư Viện Hà Nội, nguồn tài liệu trên internet, nguồn tài liệu trên thị trường sách, và các sách tìm được ở một số cửa hàng sách cũ. Song chính vì dựa trên cơ sở như vậy nên Rubi dần nhận thấy có hai quan điểm khác nhau về hệ nguyên lý cơ bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành tồn tại trong tài liệu tham khảo. Cho nên kết quả hiện tại là có hai hướng nghiên cứu song song khác nhau cho nội dung về nguyên lý cơ bản của Âm dương Ngũ hành. Điểm nhấn ở đây thì Rubi thấy là sinh lực của hướng thứ hai được ảnh hưởng từ khối thành quả của hướng nghiên cứu thứ nhất. Nếu không có khối thành quả thứ nhất tương tác với các nguồn tài liệu tham khảo thì sẽ khó thấy được hướng nghiên cứu thứ hai cho vấn đề. -Các tác động phản hồi khi công bố tự do nội dung tiến trình và kết quả nghiên cứu phát kiến chỉnh lý mới nhất: Cái này thì Rubi không thống kê ra trong chủ đề này. Nhưng có một yếu tố phản hồi tiêu cực, đó là những câu hỏi của một hội viên gần đây nhất. Rubi cảm nhận như là vấn đề này sẽ đẩy Rubi đến sự bắt buộc chỉ được coi hướng nghiên cứu thứ nhất là của Rubi, còn hướng nghiên cứu thứ hai thì lại động chạm đến hướng nghiên cứu của người khác. Tạm thời Phần Phụ là như vậy. Chính Phụ Chính Chính Phi Chính. Phần chính mà có phần phụ thì nó mới là chính. Phần chính mà không có phần phụ thì nó chẳng phải nó.
    1 like
  16. “Giữ ý” với chồng PN - Kể từ ngày mình làm đám cưới đến giờ đã là bảy năm ba tháng. Khoảng thời gian đó chưa phải là dài nhưng cũng đủ để vợ chồng mình hiểu nhau hơn. Anh biết mình không phải là người đàn ông nhạy cảm như mong muốn của em, nhưng anh là người chồng sẵn sàng chia sẻ với vợ. Anh cũng biết em là người vợ tốt bụng, đa cảm, luôn quý trọng tình thân… Từ khi em về làm dâu, bố mẹ, họ hàng nhà chồng chưa bao giờ trách cứ em điều gì. Đáp lại lòng tốt của em, anh cũng đã cư xử đúng mực với bố mẹ vợ để em được mát lòng. Nhưng em biết không, có một việc em làm khiến anh khó nghĩ quá. Hai tháng trước, bà ngoại ở quê ra chơi, cả nhà mình vui vẻ đón bà. Biết bà ở quê làm lụng vất vả, chẳng mấy khi có dịp lên thành phố thăm con cháu nên anh đã cố gắng thu xếp công việc để ngày chủ nhật cả nhà đưa bà đi thăm thú phố phường, đi siêu thị mua sắm… Anh làm những việc đó hoàn toàn tự nguyện, thoải mái, thấy bà vui anh cũng vui trong lòng. Đầu tuần, vợ chồng mình đi làm, con đi học, bà ở nhà với cô giúp việc. Dẫu biết tính em chu đáo nhưng anh cũng nhắc em là phải chuẩn bị thức ăn và dặn cô giúp việc ở nhà nấu nướng phục vụ bà, vì vợ chồng mình đều đi làm xa không về ăn trưa cùng bà được. Gần đến giờ ăn trưa, anh còn nhắn tin hỏi em đã gọi điện cho bà chưa, em bảo: em gọi rồi, anh yên tâm. Ăn cơm xong, anh chợt nhớ ra là đã để quên một số giấy tờ quan trọng cần giải quyết trong buổi chiều nên quay về nhà lấy. Nghe tiếng chuông cửa, cô giúp việc chạy ra, nhìn thấy anh, khuôn mặt thoáng vẻ ngơ ngác và lo lắng: sao cậu về giờ này? Khi anh hỏi bà đâu, thì cô giúp việc lúng túng: cô H. chở bà đi ăn hải sản chưa về. Thực sự, anh cũng hơi bất ngờ, nhưng khi nghe cô giúp việc chạy theo anh, ái ngại: “Cậu đừng nói chuyện này với cô kẻo cô lại trách tôi, cô đã dặn là không được để cậu biết”, thì anh thực sự bị “sốc”. Em à, có nhất thiết em phải “lén lút” mời mẹ một bữa ăn thế không? Có nhất thiết em phải nói dối anh không? Nếu em là anh, trong trường hợp ấy, em sẽ nghĩ như thế nào? Anh đâu phải là người đàn ông nhỏ nhen, ích kỷ, cũng không phải là người xét nét, ki bo. Báo hiếu bậc sinh thành dù bắt đầu từ việc nhỏ nhất là điều nên làm. Em có thể làm điều đó một cách công khai và rủ anh cũng làm (nếu tiện) có phải hơn không? Như thế thì niềm vui của mẹ có lẽ sẽ được nhân lên rất nhiều, và trong lòng anh cũng không phải khó nghĩ. Anh không ở nhà chờ em về và đã dặn cô giúp việc đừng nói chuyện anh về bữa trưa hôm đó vì anh không muốn em khó xử. Anh nói chuyện này ra không có ý trách móc gì em, chỉ là để em rút kinh nghiệm. Đã là vợ chồng thì phải tôn trọng, tin tưởng và biết chia sẻ với nhau. Em là phụ nữ có những điều phải tế nhị, nhưng cũng đừng giữ ý với chồng như “giữ ý” với người ngoài. Bởi nếu như thế khi sự việc bị phát hiện sẽ rất dễ gây hiểu lầm, gây mất niềm tin. Và khi niềm tin không còn thì hạnh phúc sẽ rất khó giữ. Cũng như em, ngày ngày anh vẫn đang cố gắng để vun đắp cho tổ ấm của gia đình mình thêm bền vững. Đừng để anh phải suy nghĩ vì những chuyện không đáng có. Thu Đức (báo Phụ Nữ Online)
    1 like
  17. Đọc sai 'Bình Ngô đại cáo' trong đêm Đại lễ. - "Thăng Long - Hà Nội - thành phố rồng bay" sẽ là một chương trình nghệ thuật toàn bích trong buổi bế mạc Đại lễ chào mừng nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, nếu chẳng có những sai sót không đáng xảy ra. Người xem thật tiếc và có phần phản cảm khi trên nền sân khấu hoành tráng với những tiết mục hay, công phu lại phải nghe người nghệ sĩ đọc sai lời những đoạn văn trong bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu và bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. "Thăng" biến thành "thanh" Bài Bạch Đằng giang phú có đoạn: "Giặc tan muôn thuở thăng bình - Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao" (Nguyên văn chữ Hán: "Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình - Tín chi: bất tại quan hà chi hiểm hề, duy tại ý đức chi mạc kinh"). Đoạn này đã bị đọc sai thành: "Giặc tan muôn thuở thanh bình - Bởi đâu đất hiếm cốt mình đức cao". Trong nguyên văn chữ Hán là "thăng bình", chứ không phải "thanh bình", là "hiểm" (dấu hỏi), chứ không phải "hiếm" (dấu sắc). Trước hết THĂNG BÌNH và THANH BÌNH khác nhau ở chỗ: THĂNG BÌNH là vừa thái bình, vừa phát triển thịnh vượng, còn THANH BÌNH không bao hàm sự phát triển. "Hiểm" bỗng hóa "hiếm" Tuy nhiên, sai sót này là đáng tiếc nhưng cũng chưa phải là nghiêm trọng. Điều đáng nói là "đất HIỂM" (dấu hỏi) bị đọc thành "đất HIẾM" (dấu sắc). Sai một từ mà làm hỏng cả ý tứ sâu xa của tiền nhân. Người trình độ bình thường nhất cũng thấy hai chữ "đất HIẾM" (dấu sắc) đi với "đức cao" là không hợp nghĩa, là vô nghĩa, ngô nghê. Phải là "đất HIỂM" (dấu hỏi) đi với "đức cao" mới nói lên được mối quan hệ giữa "địa linh" và "nhân kiệt", mới làm nổi bật lên được vai trò, sức mạnh của "nhân kiệt" đối với "địa linh", vai trò, sức mạnh của đức cao, đức lành dân tộc. Ta thắng giặc không chỉ bởi "đất hiểm" mà quan trọng hơn là bởi dân tộc ta có "đức cao", "đức lành". Tư tưởng yêu nước mang đậm chất nhân văn này là tư tưởng xuyên suốt Bạch Đằng giang phú cũng như một số tác phẩm khác. Ở bài thơ Bạch Đằng giang (Sông Bạch Đằng), Nguyễn Sưởng (thời Trần) viết: "Sự nghiệp Trùng Hưng ai dễ biết - Nửa do sông núi, nửa do người" (bản dịch). Trong bài Xương Giang phú, Lí Tử Tấn (1378 - 1457) cũng khẳng định: "Có đức công mới lớn - Có người đất mới linh - Giữ nước không cốt ở hiểm yếu - Giữ dân không cốt ở hùng binh" (bản dịch). Đọc "đất HIỂM" (dấu hỏi) thành "đất HIẾM" (dấu sắc), sai một từ mà làm sai lạc cả ý tứ sâu xa của tiền nhân. Không nên coi đó là điều nhỏ nhặt. Tục ngữ có câu "sai một li đi một dặm". "Núi sông" hay "nước non"? Bài Bình Ngô Đại cáo cũng bị đọc không chính xác. Câu "Núi sông bờ cõi đã chia" (nguyên văn chữ Hán: "Sơn xuyên chi cương vực kí thù") bị đọc thành "Nước non bờ cõi đã chia". Đó là chưa kể, người đọc đã lấy bản dịch cũ: "Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương". Câu này phải là "Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế (hoặc làm đế) một phương " (nguyên văn chữ Hán: "Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương"). Cần lưu ý là ở bài Nam quốc sơn hà, tác giả đã thể hiện một ý thức dân tộc sâu sắc và mạnh mẽ qua từ "đế" (Nam đế cư). Ở Bình Ngô Đại cáo, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy ý thức dân tộc, niềm tự hào dân tộc sâu sắc và mạnh mẽ đó: "các đế nhất phương". Nhiều bản dich trước đây dịch là "làm chủ" hoặc "hùng cứ" thì nay đều đã bỏ mà giữ nguyên chữ "đế" để giữ nguyên giá trị to lớn của tác phẩm. "Hùng cứ" và "làm đế" là rất khác nhau cả về tính hợp pháp và quyền lực làm chủ. Bạch Đằng giang phú và Bình Ngô Đại cáo đều là những áng văn bất hủ, được giảng trong nhà trường. Nếu không nói ra những sai sót đó thì khi chương trình này đến với bạn bè quốc tế, những người tìm hiểu về Việt Nam, hiểu biết về Việt Nam, sẽ nghĩ gì ? Những sai sót lẽ ra không đáng có ở một chương trình hoành tráng và được xem là khá toàn bích. Đêm 10 tháng 10 năm 2010 Khuất Hậu nguồn vietnamnet.vn
    1 like
  18. Ý TƯỞNG MỞ RỘNG NỘI DUNG -Lấy Mặt trời ứng với Trung cung, lấy Quỹ đạo Trái đất ứng với vòng Bát quái thì cũng sẽ thấy được 9 cung của Ngũ hành tương sinh, và có 2 kiểu loại Bát quái Tiên thiên (căn cứ vào thời tiết (mùa) biểu hiện trên mỗi cực của Trái đất tại cùng một thời điểm). -Lấy Tâm Ngân hà ứng với Trung cung, lấy Quỹ đạo Mặt trời ứng với vòng Bát quái thì cũng sẽ thấy được 9 cung. Vấn đề ở đây là khó nắm bắt được thời tiết môi trường của Mặt trời diễn biến dưới sự tương tác với Tâm Ngân hà, cho nên chưa thể nói đến Ngũ hành ở đây, cũng như nói đến Bát quái Tiên thiên cho ý tưởng này. Vấn đề này có khả năng có yếu tố liên quan đến nguyên lý của Thái Ất, Độn Giáp. Ở ý tưởng thứ nhất thì có triển vọng hơn nên Rubi sẽ có hình minh họa và nội dung khái quát sau.
    1 like
  19. Đính chính và tập họp thêm một vài hình ành tham khảo -Trong đoạn viết đậm ở trên, Rubi đính chính lại ý muốn nói là:Như vậy, xét về mặt phong thủy vĩ mô tầm Địa cầu thì Hồi ứng với Vùng Bắc Cực và Vùng Nam Cực, Hướng ứng với Vùng Xích Đạo, căn bản tác dụng đó là quay lưng lại với vùng băng giá đồng thới hướng tới vùng mát mẻ. Xét về mặt phong thủy vi mô tầm hình thể núi sông thì tựa núi là để tránh cái băng giá gió lạnh mùa đông và nhìn sông là để tránh đi cái nóng bức khô hạn vào mùa hè. -Nói đến Hệ Mặt Trời thì ngày nay thuyết Nhật Tâm không còn nghi ngờ. Song ở đây Rubi vẽ minh họa lại thấy như là theo thuyết Địa Tâm, nhưng thật ra không phải kiến giải Nhật Tâm hay Địa Tâm, mà Rubi vẽ theo cách "Biểu Kiến". Mỗi một cách vẽ có một tác dụng riêng nhằm sử dụng ưu điểm ngôn ngữ hình ảnh để minh họa nội dung vấn đề. Chí Tuyến Bắc và tiết khí Hạ Chí, và một số các yếu tố của Hệ Toạ Độ Địa Lý Chí Tuyến Nam và tiết khí Đông Chí, và một số các yếu tố của Hệ Toạ Độ Địa Lý Vòng Bắc Cực trong Hệ Toạ Độ Địa Lý Vòng Nam Cực trong Hệ Toạ Độ Địa Lý
    1 like
  20. Rubi sưu tầm một số tài liệu (có thể liên quan) về Nhiệt Độ, Gió, Biển của Địa Cầu: Nhiệt Độ-Biển: Gió: Nhiệt Độ-Biển:
    1 like
  21. Tiếp theo -Hướng: +Hướng tức là Hồi tiểu Hướng đại. +Hồi tiểu ứng với quá khứ, đằng sau, chân đạp đất, tựa núi. +Hướng đại ứng với tương lai, đằng trước, đầu đội trời, nhìn sông. Ví như thực vật luôn hướng đến ánh sáng và nước để sinh tồn. Như vậy xét về mặt phong thủy vĩ mô tầm Địa cầu thì Hồi ứng với Vùng Bắc Cực và Vùng Nam Cực, Hướng ứng với Vùng Xích Đạo, căn bản tác dụng đó là quay lưng lại với vùng băng giá đồng thới hướng tới vùng ấm áp. Xét về mặt phong thủy vi mô tầm hình thể núi sông thì tựa núi là để tránh cái băng giá mùa đông và nhìn sông là để hướng đến cái ấm áp mùa hè. Người ta nói: Sơn Thủy Sơn Sơn Phi Sơn Nghĩa là: Núi mà có Sông thì mới gọi là Núi. Núi mà không có Sông thì chẳng phải Núi. ...
    1 like
  22. Hình ảnh: -Miêu tả: Tượng Số Tiên Thiên Địa Cầu Phân Cực Bắc Nam. -Nguồn Gốc: Rubi.lyhocdongphuong.org.vn/diendan-Lê đức hồng chỉnh lý nội dung và thực hiện minh hoạ. -Ngày tạo ra: 12 tháng 10 năm 2010. -Phiên bản: 1.0 Đặc tính hình-chi tiết cấp cao: -Hướng: thường. -Phân giải theo bề ngang: 72dpi. -Phân giải theo chiều cao: 72dpi. -Phần mềm đã dùng: Adobe Photoshop CS4 Windows. -Không gian mầu: sRGB. Nội dung: -Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Bắc: +Nghi Dương, Số 5, Hướng Trung ương ứng với Dương Thổ, sắc vàng. +Nghi Âm, Số 10, Hướng Trung ương ứng với Âm Thổ, sắc vàng. +Quái Càn, Số 9, Hướng Nam ứng với Dương Hoả, sắc đỏ. +Quái Đoài, Số 4, Hướng Đông Nam ứng với Âm Hoả, sắc đỏ. +Quái Ly, Số 3, Hướng Đông ứng với Dương Mộc, sắc xanh. +Quái Chấn, Số 8, Hướng Đông Bắc ứng với Âm Mộc, sắc xanh. +Quái Tốn, Số 2, Hướng Tây Nam ứng với Âm Kim, sắc trắng. +Quái Khảm, Số 7, Hướng Tây ứng với Dương Kim, sắc trắng. +Quái Cấn, Số 6, Hướng Tây Bắc ứng với Âm Thuỷ, sắc đen. +Quái Khôn, Số 1, Hướng Bắc ứng với Dương Thủy, sắc đen. -Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Nam: +Nghi Dương, Số 5, Hướng Trung ương ứng với Dương Thổ, sắc vàng. +Nghi Âm, Số 10, Hướng Trung ương với Âm Thổ, sắc vàng. +Quái Càn, Số 9, Hướng Bắc ứng với Dương Hoả, sắc đỏ. +Quái Đoài, Số 4, Hướng Đông Bắc ứng với Âm Hoả, sắc đỏ. +Quái Ly, Số 3, Hướng Đông ứng với Dương Mộc, sắc xanh. +Quái Chấn, Số 8, Hướng Đông Nam ứng với Âm Mộc, sắc xanh. +Quái Tốn, Số 2, Hướng Tây Bắc ứng với Âm Kim, sắc trắng. +Quái Khảm, Số 7, Hướng Tây ứng với Dương Kim, sắc trắng. +Quái Cấn, Số 6, Hướng Tây Nam ứng với Âm Thuỷ, sắc đen. +Quái Khôn, Số 1, Hướng Nam ứng với Dương Thủy, sắc đen. -Hướng: ... P / S: Rubi thấy có chỗ dùng: trong một bộ, cái ở trên thì gọi tên trước, cái ở dưới thì gọi tên sau. Và ở đây ứng dụng thì thế này: -"Tượng Số Tiên Thiên Địa Cầu Phân Cực Bắc Nam" có nghĩa là trong hình vẽ minh họa nội dung, Bán Cầu Bắc được đặt ở trên, Bán Cầu Nam được đặt ở dưới. -"Tượng Số Tiên Thiên Địa Cầu Phân Cực Nam Bắc" có nghĩa là trong hình vẽ minh họa nội dung, Bán Cầu Nam được đặt ở trên, Bán Cầu Bắc được đặt ở dưới.
    1 like
  23. Các độc giả thân mến! Trích dẫn trên vừa là trả lời và vừa là minh bạch chủ đề, sở dĩ như vậy là vì một hai hôm nay có tin nhắn của một hội viên trên diễn đàn. Rubi cũng không nêu nick hội viện đó ra đây, nhưng do nội dung tin nhắn tạo thành yếu tố để Rubi viết thêm phần "minh bạch chủ đề" trong chủ đề này. -Người vào diễn đàn đã lâu, nếu có xem các bài viết của Rubi thì có thể nắm được tình hình bên lề nghiên cứu của Rubi, một số sự kiện. -Người vào diễn đàn mới đây, có khi là chưa biết nhiều đến bài viết của Rubi và quá trình phát kiến và công bố tự do trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn và các diễn đàn học thuật đông phương khác. -Hỏi một số vấn đề về tính "minh bạch chủ đề" trong chủ đề này thì có thể có nhiều tâm lý khác nhau: +Chưa biết đến sự minh bạch của chủ đề, đồng thời lại hiểu nhầm tính minh bạch. +Biết đến sự minh bạch của chủ đề, đồng thời cố tình hỏi với tâm lý khác. +... Vậy thì Rubi xin phép được tự "minh bạch chủ đề": -Phần chính: thứ tự các mốc thời gian: +Khoảng năm 1997: Rubi đi tập khí công của khí công sư Bùi Long Thành, do đó có mua được cuốn sách "Hội Nhập Con Người Thật" (tác giả KCS Bùi Long Thành). +Khoảng từ năm 1999 đến 2003: Rubi tu thiền tại Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt. Và qua mục sách tham khảo trong cuốn "Hội Nhập Con Người Thật" Rubi biết tìm mua cuốn "Tích Hợp Đa Văn Hóa Đông Tây Cho Một Chiến Lược Giáo Dục Tương Lai", sách của GS Nguyễn Hoàng Phương-NHP. (Cách đây môt hai năm, đúng dịp 19 tháng giêng âm lịch, Rubi có gặp chị Hoàng Yến là con của GS, có lẽ chị là người ngoại cảm đầu tiên của Việt Nam...) +Sau khoảng năm năm từ khi biết đến cuốn sách của GS.NHP, trong một buổi tối, tại cổng sau cơ quan Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, số 2 Đinh Lễ, Rubi vô tình tìm mua được cuốn sách của Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, sách tiêu đề là "Tìm Về Cội Nguồn Kinh Dịch". Đây là cuốn sách hướng Rubi chuyển sang cách tiếp cận lý thuyết bói toán theo sự nghiên cứu chỉnh lý (chứ không phải là nghiên cứu nắm bắt y trang), đây là một sự chuyển hướng hay. +Ngày 05 tháng 09 năm 2007: Rubi vô tình tìm thấy trên mạng diễn đàn vietlyso.com, ba lần đi lại mới đăng ký được tài khoản, phí tài khoản đăng kỳ là 50.000 ngàn. Ngày 05 tháng 09 năm 2007 Rubi đăng bài viết công bố tự do nội dung nghiên cứu và chính lý hệ lý thuyết cơ bản về Âm dương Ngũ hành. +Ngày 18 tháng 04 năm 2008: Rubi đăng ký tài khoản trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn. Viết tiếp các phát kiến và về sau có chuyển một số bài viết nghiên cứu bên vietlyso.com sang đây. +Hướng nghiên cứu nói trên là hướng nghiên cứu thứ nhất, với phát kiến là 9 và 3 ứng với Càn và Khôn, Càn và 9 ứng với hành Kim, Khôn và 3 ứng với hành Mộc (tạm trích dẫn điểm nhấn trong phát kiến). +Từ khoảng giữa năm 2009: Rubi thấy nick của hội viên Hà Uyên có đăng bài viết nội dung sách Hoàng Cực Kinh Thể. Rubi thấy sách này hình như không được dịch và in, bán trên thị trường. Theo thông tin các bài viết thì tác giả của Hoàng Cực Kinh Thể là Kinh Phòng, Kinh Phòng được truyền thừa lý học từ các bậc cổ nhân trong môn phái Kinh Dịch. Đó lý yếu tố có tính minh bạch nên Rubi cũng quan tâm và thấy nguyên lý căn bản của Hoàng Cực Kinh Thể là Tiên Thiên Bát Quái ghép với Hình Lạc Thư. +Ngày 7 tháng 5 năm 2009: Rubi mở chủ đề này để công bố tự do hướng nghiên cứu thứ hai theo nguyên lý yếu tố Tiên Thiên Bát Quái ghép với Hình Lạc Thư, và chỉnh lý theo những bước phát kiến ở hướng nghiên cứu thứ nhất. +Ngày 10 tháng 10 năm 2010: Rubi minh họa hình ảnh theo nội dung đã công bố trong chủ đề. Đó là sự minh bạch chủ đề của chủ đề này. Rubi viết cùng chủ đề để các độc giả nếu có thắc mắc thì tham khảo cho biết. -Phần phụ-tác dụng hệ quả: ...Rubi sẽ trình bày tiếp, đại ý là "Y kinh giải nghĩa, Tam thế Phật oan. Lìa kinh một chữ, tức đồng Ma thuyết"... Thân Kính.
    1 like
  24. Hình ảnh: -Miêu tả: Tượng Số Tiên Thiên Địa Cầu Phân Cực Nam Bắc. -Nguồn Gốc: Rubi.lyhocdongphuong.org.vn/diendan-Lê đức hồng chỉnh lý nội dung và thực hiện minh hoạ. -Ngày tạo ra: 12 tháng 10 năm 2010. -Phiên bản: 1.0 Đặc tính hình-chi tiết cấp cao: -Hướng: thường. -Phân giải theo bề ngang: 72dpi. -Phân giải theo chiều cao: 72dpi. -Phần mềm đã dùng: Adobe Photoshop CS4 Windows. -Không gian mầu: sRGB. Nội dung: -Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Nam: +Nghi Dương, Số 5, Hướng Trung ương ứng với Dương Thổ, sắc vàng. +Nghi Âm, Số 10, Hướng Trung ương với Âm Thổ, sắc vàng. +Quái Càn, Số 9, Hướng Bắc ứng với Dương Hoả, sắc đỏ. +Quái Đoài, Số 4, Hướng Đông Bắc ứng với Âm Hoả, sắc đỏ. +Quái Ly, Số 3, Hướng Đông ứng với Dương Mộc, sắc xanh. +Quái Chấn, Số 8, Hướng Đông Nam ứng với Âm Mộc, sắc xanh. +Quái Tốn, Số 2, Hướng Tây Bắc ứng với Âm Kim, sắc trắng. +Quái Khảm, Số 7, Hướng Tây ứng với Dương Kim, sắc trắng. +Quái Cấn, Số 6, Hướng Tây Nam ứng với Âm Thuỷ, sắc đen. +Quái Khôn, Số 1, Hướng Nam ứng với Dương Thủy, sắc đen. -Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Bắc: +Nghi Dương, Số 5, Hướng Trung ương ứng với Dương Thổ, sắc vàng. +Nghi Âm, Số 10, Hướng Trung ương ứng với Âm Thổ, sắc vàng. +Quái Càn, Số 9, Hướng Nam ứng với Dương Hoả, sắc đỏ. +Quái Đoài, Số 4, Hướng Đông Nam ứng với Âm Hoả, sắc đỏ. +Quái Ly, Số 3, Hướng Đông ứng với Dương Mộc, sắc xanh. +Quái Chấn, Số 8, Hướng Đông Bắc ứng với Âm Mộc, sắc xanh. +Quái Tốn, Số 2, Hướng Tây Nam ứng với Âm Kim, sắc trắng. +Quái Khảm, Số 7, Hướng Tây ứng với Dương Kim, sắc trắng. +Quái Cấn, Số 6, Hướng Tây Bắc ứng với Âm Thuỷ, sắc đen. +Quái Khôn, Số 1, Hướng Bắc ứng với Dương Thủy, sắc đen. -Hướng: ... P / S: -Tiếp theo: Tượng Số Tiên Thiên Địa Cầu Phân Cực Bắc Nam.
    1 like
  25. Chả biết trả lời theo chuyên môn thì thế nào cho nên tạm thế này vầy nhé anh Hoangnt, tôi thấy cái hình bảng chín ô gì đó có lý thuyết Lường Thiên Xích, dừng lại để xem xét nguyên lý của nó thì cũng thấy các vấn đề là: -Trục độn giáp được xác định trên nguyên lý ra sao ? -Gốc thời gian được xác định trên nguyên lý hay hiện tượng nào ? Đây có lẽ là hai vấn đề nguyên lý liên quan để đưa lý học vào ứng dụng. Tôi mới chỉ thấy như vậy và chưa động đến nó, chỉ khi đã tìm hiểu và trả lời được hai câu hỏi này thì tôi mới có thể đối thoại với các ý tương tự như của anh. Tiện đây Rubi cũng nói thêm với các độc giả là nội dung và hình ảnh trong chủ đề này có quá trình hình thành với các yếu tố như sau: -Ứng dụng các bước phát kiến của hướng nghiên cứu thứ nhất mà Rubi đã viết trên diễn đàn. -Hoàng Cực Kinh Thể theo như nick Hà Uyên đã giới thiệu có yếu tố chính danh và truyền thừa nên rất đáng quan tâm tham khảo đối với vấn đề nghiên cứu chính lý hệ thống Âm dương Ngũ hành. -Hai yếu tố trên là cơ bản để Rubi nghiên cứu theo như đã viết ở chủ đề này. -Yếu tố về thời gian bài viết, chủ đề này có tác dụng chứng minh sự chính danh của Rubi. Nội dung Rubi công bố trước, hình ảnh Rubi minh họa sau, trước sau không có mâu thuẫn nào, nội dung như thế nào thì hình ảnh minh họa như thế. Nếu ai đặt vấn đề hình ảnh minh họa của Rubi và hình ảnh ở đâu đó trên các diễn đàn khác có sự nhang nhác giống nhau thì có thể tự trả lời bằng cách lấy (tìm hiểu về) mốc thời gian công khai nội dung và hình ảnh để làm căn cứ xác định sự thật.
    1 like
  26. Nội dung: khởi viết ngày như trên trích dẫn Hình ảnh: Miêu tả: Hình Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Nam-1.0 Nguồn gốc: Lê Đức Hồng-Rubi.lyhocdongphuong.org.vn/diendan. Kết hợp phần phát kiến hướng thứ nhất với nội dung Hoàng Cực Kinh Thể (nick Hà Uyên viết bài) và tham khảo các ý từ một số bài viết của nick Lương Cơ (diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn) để chỉnh lý lại như hình trên. Ngày tạo ra: 11-10-2010 Phiên bản: 1.0 Bí kíp phát kiến: Cái vấn đề có hai bát quái Tiên Thiên này liên quan đến kiến thức mới nhất của Rubi, kiến thức mới nhất đó là Phong Thủy Nhà Hầm, Nhà Thổ và Hệ Tọa Độ Địa lý. Hai phần kiến thức này Rubi tìm hiểu cách đây trên dưới một năm, đến hôm 10-10-2010 khởi ý viết tiếp vấn đề này cho nó thành vấn đề và nội dung khái quái như mấy bài viết trên. Đúng là phải có hai Bát quái Tiên thiên, tuy rằng vấn đề Lường Thiên Xích gì đó có thay đổi theo cực Nam Bắc nhưng có lẽ Rubi là người đầu tiên phát kiến và công bố tự do về hệ thống có Hai Bát Quái Tiên Thiên. Hai hình minh họa trên sẽ cho ra một hình bảng rất thú vị, Rubi nghĩ thế, đã hình dung ra, sẽ thể hiện và đưa lên. Khi so sánh hai hình rời rạc với hình tổng hợp thì sẽ thấy một tác dụng là: hình rời rạc riêng rẽ thì ứng dụng được với la bàn, mỗi hình dùng cho một cực của địa cầu, hình tổng hợp thì sẽ nếu rõ hệ thống cấu trúc Hệ Hai Hình Tượng Số Tiên Thiên. Vấn đề phát kiến trên là trong hướng nghiên cứu thứ 2 này, Rubi sẽ ứng dụng phát kiến này với hướng nghiên cứu thứ nhất. Lúc đầu Rubi thấy một lúc mà để não bộ nghiên cứu theo hai hướng thì khá là căng, nhưng đến giờ thì thấy bình thường.
    1 like
  27. Nội dung miêu tả hình Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Nam: Nghi Dương, Số 5, Trung ương ứng với Dương Thổ, sắc vàng. Nghi Âm, Số 10, Trung ương ứng với Âm Thổ, sắc vàng. Quái Càn, Số 9, Hướng Bắc ứng với Dương Hoả, sắc đỏ. Quái Đoài, Số 4, Hướng Đông Bắc ứng với Âm Hoả, sắc đỏ. Quái Ly, Số 3, Hướng Đông ứng với Dương Mộc, sắc xanh. Quái Chấn, Số 8, Hướng Đông Nam ứng với Âm Mộc, sắc xanh. Quái Tốn, Số 2, Hướng Tây Bắc ứng với Âm Kim, sắc trắng. Quái Khảm, Số 7, Hướng Tây ứng với Dương Kim, sắc trắng. Quái Cấn, Số 6, Hướng Tây Nam ứng với Âm Thuỷ, sắc đen. Quái Khôn, Số 1, Hướng Nam ứng với Dương Thuỷ, sắc đen. Các tên của tám quái dùng tạm theo kiến thức phổ biến. Hình ảnh Rubi sẽ minh họa sau. Vậy ở chủ đề này, đến đây, vấn đề Tiên Thiên có hai hình trong một hệ lý luận-HƯỚNG. 22h45'10-10-2010-Việt Nam
    1 like
  28. Ngày 10 tháng 10 năm 2010 Nội dung: khởi viết ngày May 7 2009, 07:55 AM Hình ảnh: Miêu tả: Hình Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Bắc-1.0 Nguồn gốc: Lê Đức Hồng-Rubi.lyhocdongphuong.org.vn/diendan. Kết hợp phần phát kiến hướng thứ nhất với nội dung Hoàng Cực Kinh Thể (nick Hà Uyên viết bài) và tham khảo các ý từ một số bài viết của nick Lương Cơ (diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn) để chỉnh lý lại như hình trên. Ngày tạo ra: 10-10-2010 Phiên bản: 1.0 Còn tiếp P / S : Hình này song song với Hình Tượng Số Tiên Thiên Bán Cầu Nam-sẽ đưa liên tiếp sau.
    1 like
  29. Hôm nay ngày 10 tháng 10 năm 2010, Rubi mở sổ ghi chép chọn lấy một tiểu đề đăng lên, hì hì. Tiểu đề-Tam đa và Bát quái Tam đa là Phúc, Lộc, Thọ. Bát quái có tám kiểu loại tương tác cát hung, 4 cát, 4 hung. Trong 4 cát có 3 kiểu loại mà Rubi thấy có nét ứng với Tam đa Lộc, Phúc, Thọ. Bắt đầu từ chữ Diên. Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. Diên Thọ là Tăng Thọ. Diên Thọ có lẽ đồng nghĩa với Diên Niên. Nghĩ như vậy, Rubi nghĩ tiếp đến Phúc Đức...Có Thọ, có Phúc rồi lại thấy Lộc cũng tương đồng với Sinh khí cho nên có kết luận: THƯỢNG BIẾN SINH KHÍ: LỘC TAM BIẾN PHÚC ĐỨC: PHÚC TRUNG HẠ BIẾN DIÊN NIÊN: THỌ
    1 like
  30. HANOI SÁNG 8. 10. 2010 Chợ vỉa hè. Thư giãn Chơi cờ trong công viên. Trời thu Hanoi. Nhận thấy vô thường? Chuyện thường ngày ở huyện. Thiên Sứ: Nước trời thu cũng như say một màu...... Vương Bột: Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Quán vắng..... Mặt trời ngủ quên..... Cổ kính. Nắng đẹp để chụp ảnh, se lạnh để mặc ves..... Bên lề đường......
    1 like
  31. Sau hòa bình,năm 1958 Hồ Chủ Tịch khi đi thăm vùng có đông người Hoa sinh sống,Bác nói chuyện với họ bằng tiếng Quảng Đông và gọi họ là đồng bào Hoa (thực tế gen họ là người Hoa chứ đâu phải người Hán).Năm 1963 chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa sang thăm Việt Nam,tại buổi đón ở sân bay Gia Lâm,trong bài phát biểu,Bác Hồ có nói: "Mối tình thắm thiết Việt Hoa.vừa là đồng chí vừa là anh em",Trung Quốc dịch là: "Việt Trung tình nghị thâm,đồng chí gia huynh đệ 越中情谊深,同志加兄弟“.Chỉ một chữ Trung thay cho chữ Hoa đã không chuyển tải đúng ý của câu nói của Bác.Ta thường nói Việt Nam-Trung Quốc đó là nói hai quốc gia,và hay nói tắt,người Việt Nam hay nói tắt "quan hệ Việt-Trung",người Trung Quốc hay nói tắt "quan hệ Trung-Việt"là nói quan hệ giữa hai quốc gia.Còn câu trên Bác Hồ nói là ý nói quan hệ giữa hai dân tộc.Dân tộc Việt hay dân tộc Hoa cũng là cùng một thủy tổ là từ thời ông Bàn Cổ trong thần thoại rồi tới ông Phục Hy thời tiền sử,nên là anh em là đúng rồi."Hoa"hay "Hoe"hay "Yue" cũng đễu là Việt cả.Câu nói của Bác Hồ cũng có thể hiểu là "Mối tình thắm thiết Việt Hoa,cùng một thủy tổ ắt là anh em"
    1 like
  32. ĐÀI LOAN VÀ CỘI NGUỒN BÁCH VIỆT Năm 2000, một sự kiện lịch sử xảy ra ở ven bờ Thái Bình Dương. Sự kiện đó không phải là Thế vận hội 2000 ở Sydney mà thế giới chú ý đến trong vài tuần, mà là một diễn biến í người để ý đến. Một sự kiện sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến chính trị và có thể làm thay đổi cách nhìn của thế giới bên ngoài của nhiều nước trong vùng. Sự kiện đó chính là kết quả bầu cử ở hòn đảo Đài Loan bé nhỏ. Ứng cử viên Trần Thủy Biển (Chen Shui-Bian) của đảng Dân Chủ Tiến Bộ (Democratic Progressive Party) đã thắng Quốc Dân Đảng và trở thành Tổng Thống Đài Loan, một sự thay đổi chính quyền không đổ máu, không bạo động lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc ? Thực ra trong tâm của vị tân tổng thống thì hướng đi của chính sách mà ông đã theo đuổi từ nhiều năm trước, mà đại đa số dân đã đồng ý, thì hòn đảo này với dân số hơn 20 triệu sẽ không còn là bộ phận của Trung Quốc nữa. Nó sẽ là một quốc gia khác đứng ngoài quỹ đạo của dân tộc Trung Hoa, nó không còn dính gì trực tiếp đến Trung Quốc hay lịch sử Trung Quốc nữa, cũng như Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đây đã cắt lìa khỏi nước Anh để tạo riêng vận mệnh của mình. Phản ứng của Trung Quốc that dữ dội và giận dữ, báo chí Trung Quốc dùng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy đối với một cá nhân, không kém những từ ngữ dùng trong cách mạng văn hóa đối với các kẻ thù giai cấp và đế quốc xưa kia trong thập niên 1960. Mấy tuần trước ngày bầu cử, hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn tên lửa ở eo biển Đài Loan. Trên đất liền, Trung Quốc dàn tên lửa hướng về Đài Loan đe dọa tinh thần dân chúng, đặt áp lực với chủ ý sẽ làm cho cử tri run sợ chiến tranh mà phải bầu cho ứng cử viên Quốc Dân Đảng ! Oái ăm thay, Quốc Dân Đảng là kẻ thù trước đây của đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc này cả hai lại cùng chính sách, cùng quan điểm rút từ một nền tảng tư tưởng trung ương tập quyền Đại Hán truyền thống lâu đời. Điều gì đã gay ra sự cố động trời như vậy ? Ngoài sự kiện ông Trần Thủy Biển là một người Đài Loan bản xứ chính cống, không phải từ lục địa di đến khi Quốc Dân Đảng thua bỏ chạy sang, thì tư tưởng và hoài bão của ông, đại diện cho hoài bão của đa số người Đài Loan bản xứ, chính là điều mà Trung Quốc sợ hải hơn hết. Thật sự thì không phải mà đột nhiên có sự tự phát, xuất hiện một tư tưởng tự chủ như vậy, mà nó đã có một lịch sử khá lâu dài. Tư tưởng ấy đã bị đè nén, thay thế bởi một tư tưởng khác từ bên ngoài ép đặt trên văn hóa, tư tưởng của dân tộc Đài Loan trong nhiều năm qua. Tôi đặc biệt lưu ý đến lịch sử Đài Loan và hoài bão của người dân khi tôi viến Đài Loan trong một dịp dự hội nghị khoa học về môi trường khí quyển ở thành phố Đài Trung (Taitung), do hai Viện Hàn Lâm Khoa Học Đài Loan và Hàn Lâm Khoa Học Úc tổ chức vào tháng 6/2000. Trước đây tôi chỉ để ý và nghiên cứu chút ít về người bản xứ thổ dân sống ở Đài Loan trước khi người Hoa từ lục địa di dân sang. Bài này có mục đích tìm hiểu những diễn biến về sự thay đổi trong xã hội, văn hóa và tư tưởng của người dân Đài Loan trong vòng 20 năm nay. Nó gợi lại trong lịch sử và trong tiềm thức của người Việt những gì tương tự mà dân tộc Việt Nam đã trải qua cách đây hơn 1.000 năm. Cách Mạng Văn Hóa Hay Tuyên Ngôn Độc Lập ? Buổi lễ nhậm chức tổng thống ngày 20/5/2000 ở Đài Bắc được tổ chức tại sân trước cửa dinh Tổng Thống, một kiến trúc thời Minh Trị xây trước đây làm dinh cho viên toàn quyền của Nhật khi họ còn cai trị Đài Loan. Dinh này cũng biểu trưng quyền lực của Quốc Dân Đảng trong bao năm trước đây khi họ nắm quyền hơn nửa thế kỷ. Những sự kiện xảy ra ở buổi lễ mang nay những biểu tượng đáng kể, mà một nhà nghiên cứu ở Viện Xã Hội học, thuộc Hàn Lâm Trung Hoa (Academia Sinica) ở Đài Bắc đã viết lại như sau trên diễn đàn điện tử về Đông Nam Á (Southeast Asia Discussion List, SEASIA-L) (1). Buổi lễ bắt đầu 9:50 sáng, quan khác trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng Hòa Trung Quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Austronesian) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ laic bản xứ Austronesian khác, tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Khách trú) và dân ca người Hoklo. Chỉ khi Tổng Thống Trần Thủy Biển và Phó Tổng Thống, bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng Thống thì bài quốc ca mới được hát sau cùng. Người hát quốc ca là cô ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan (và Trung Quốc) Cheng Hui-Mei (Amei), gốc người thổ dân bộ lạc Puyma. Cô rất được thính giả ái mộ, không những ở Đài Loan mà còn ở Trung Hoa lục địa. Trước kia không bao giờ có sự có mặt của văn hóa địa phương trong những nghi lễ trịnh trọng. Nay thì ngay cả bài quốc ca cũng xuống hàng thứ yếu. Sự phá vỡ nghi thức này rất có ý nghĩa. Nó có chủ đích cho thấy là chính phủ mới từ đây về sau sẽ theo đuổi chính sách đứng trên quan điểm của người địa phương (Hoklo, Hakka, Austronesian) chứ không như chính phủ Quốc Dân Đảng trước kia đứng trên quan điểm trọng Hán. Hiểu được hậu ý của chính phủ Trần Thủy Biển, Trung Quốc đã giận dữ, ngay cả Amei cũng không thoát khỏi sự tức giận ấy. Sauk hi cô tham dự và hát bài quốc ca Đài Loan (Cộng Hòa Trung Hoa) ở lễ nhậm chức của Tổng Thống Trần Thủy Biển, chính phủ Trung Quốc ra lệnh tẩy chay Amei. Đài truyền hình, truyền thanh từ ngày đó không được trình chiếu, phát hành các bài hát của ca sĩ Amei. Báo chí bị cấm đề cập đến co, ngay cả các biểu ngữ quảng cáo cũng không được đăng các hình ảnh ca sĩ Amei. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, hình Amei trên các bảng quảng cáo nước ngọt Sprite của công ty Coca-Cola bị bôi xóa đi. Tuy vậy các đĩa CD của cô, người ta vẫn còn có thể tìm thấy được ở một số các cửa hàng nếu chịu khó lùng kiếm. Wu Bai, một nam ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan và Trung Quốc, cũng chịu chung số phận, khi ông hát và ủng hộ Trần Thủy Biển. Bài diễn văn của Trần Thủy Biển rất ít đề cập đến sự quan hệ với Trung Quốc, một vấn đề thời sự nóng bỏng lúc đó, mà hầu hết là về lịch sử và văn hóa Đài Loan, về cải tổ chính trị và chính sách đối nội. Trần Thủy Biển nói tới Đài Loan 40 lần. Cộng Hòa Trung Quốc (ROC) 9 lần. Trung Quốc chỉ có 1 lần nhưng Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) 2 lần và 4 lần nhấn mạnh nói lớn “Đài Loan đứng lên !”. Đài Loan đã thực sự đứng day về văn hóa và chính trị. Trần Thủy Biển nêu lên những sự áp bức, xâm lược bởi đế quốc mà dân chúng ở cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đã là nạn nhân trong thế kỷ 20. Thật sự Đài Loan còn khổ sở nặng hơn dưới chế độ thực dân Nhật. Những kinh nghiệm lịch sử tương tự như thế đáng ra đã mang lại sự thông cảm giữa hai dân tộc ở hai bên eo biển Đài Loan để từ đó đặt nền tảng cho việc thiết lập tự do, dân chủ và nhân quyền cùng với nhau. Tuy nhiên, do sự phân ly lâu dài trong lịch sử, hai vùng đã phát triển theo hai hướng khác nhau, đi đến sự khác biệt tột độ về nhiều phương diện, từ hệ thống chính trị đến văn hóa và phong cách sống. Điều này đã cản trở sự thông cảm và thiết lập tình hữu nghị giữa hai nước. Bài diễn văn này là một tuyên bố chính trị quan trọng. Ông phân biệt rõ sự khác biệt giữa lịch sử Trung Quốc và lịch sử Đài Loan. Đài Loan đã trải qua thời kỳ bị Nhật đô hộ lâu dài và đã có lịch sử riêng chứ không phải chỉ có lịch sử mới đây mới đây tách ra khỏi Trung Quốc bắt đầu từ 1949, với nhãn quan của người Hán đặt trọng tâ vào cuộc nội chiến quốc – cộng. Ông nói là cách đây 400 năm, Đài Loan được gọi là Formosa, hòn đảo xinh đẹp, nay Đài Loan còn là một hòn đảo của một nền dân chủ trưởng thành. Ông cho rằng lịch sử Đài Loan tiếp diễn cách đây 400 năm từ di sản của thổ dân Austronesian, cư dân đầu tiên, chứ không phải xuất phát từ 5.000 năm của lịch sử Trung Quốc. Ông là vị Tổng thống Đài Loan đầu tiên đã đặt trọng tâm của vũ trụ quan vào lịch sử đảo và vào di sản Austronesian. Ông đặc biệt nói về văn hóa địa phương, các tổ chức cộng đồng phi chính phủ đã được thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hóa ở mọi địa phương, làng xã. Tất cả đó là một phần của văn hóa Đài Loan. Đài Loan là một xã hội đa văn hóa, trong đó mọi người dân chấp nhận sự đa dạng và giao lưu với nhau giữa các người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang. Ông nói về văn hóa Hoa kiều và đặt cộng đồng người Hoa ở Đài Loan giống như cộng đồng người Hoa trên thế giới như ở Singapore, Sydney hay San Francisco trong môi trường đa văn hóa, chứ không phải người Hoa giữa dân số của một nước Trung Quốc thống nhất. Ông nhấn mạnh đến cuộc sống “văn hóa” thường ngày của người dân bình thường và nói về bản thân ông xuất thân là con của một tá điền trong một gia đình nghèo và đã vươn lên để trở thành tổng thống của một nước được sự tín nhiệm của dân Formosa, những người con của Đài Loan như ông. Tinh thần bài diễn văn giống như tinh thần của một bản tuyê bố độc lập hơn là một bài diễn văn nhậm chức bình thường. Các Dân Tộc ở Đài Loan. Vì đâu mà ông Trần Thủy Biển đã “tuyên bố độc lập” như vậy ? Bài ông nói đã phán ảnh được những gì sâu xa xảy ra trong tư tưởng của xã hội Đài Loan trong nhiều năm vừa qua ở nhiều lãnh vực. Một hiện tượng xã hội đáng chú ý gần đây là một số vấn đề nghiên cứu trong phạm vi khoa học có liên hệ đến các dân tộc ở Đài Loan đã lan ra khỏi phạm vi hạn hẹp và đã trở thành một đề tài nóng bỏng trong xã hội mà trước đây ít xảy ra. Giáo sư Lâm Mã Lý, nhà di truyền học ở bệnh viện Mckay Memorial ở Đài Bắc, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về nguồn gốc di truyền của các bộ tộc thổ dân sống lâu đời từ thời tiền sử ở Đài Loan. Một đề tài hầu như lúc đó không ai ở Đài Loan để ý. Sau khi công bố kết quả trên tạp chí khoa học vào năm 2000 (2), bà đã nhận được rất nhiều thư, điện thư từ những người “Đài Loan” không phải thổ dân (Mân Nam và Hakka) muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của họ, họ không cho rằng họ có nguồn gốc từ người Hán. Giáo sư Lâm Mã Lý từ đó chuyển trọng tâm nghiên cứu của bà sang người Mân Nam (Minnan) và Hakka. Sau hơn một năm nghiên cứu di truyền trên hệ thống miễn nhiễm (Human Leucocyte Antigen, HLA) ở nhiễm sắc thể 6 (chromosome 6) qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ chức hoạt động quốc tế về HLA (International Histocompatibility Workshop) ở Nhật năm 1998, giáo sư Lâm Mã Lý đã công bố kết quả (3) về sự liên hệ và khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền. Kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc chủng Mongoloid Nam Á, khác xa với người Hán thuộc chủng Mongoloid Bắc Á. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân Mân Việt (Min Yeuh) chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch sử với người Hán di cư đến từ phương Bắc. Trong cuộc phỏng vấn trên báo Taipei Times (Đài Bắc thời báo) (4), có câu hỏi là có phải ngiên cứu của bà đã gay chú ý và bàn luận rất nhiều là vì nó đã thách thức chủ nghĩa ‘Hán trung tâm’ cho rằng người Hán và văn minh Hán Hoa là cội nguồn của tất cả, do đó đã gây nên cuộc tranh luận chính trị về sự thống nhất với Trung Quốc. Bà trả lời là bà đã biết trước kết quả nghiên cứu di truyền sẽ khơi động cuộc tranh cãi, nhưng bà cũng nói rằng kết luận của nghiên cứu cũng không phải là điều gì mới lạ, vì trước đây hai nhà nhân chủng học nổi tiếng đã công bố lâu rồi về dân tộc và văn minh của người Mân Việt, Hakka và Bách Việt. Kết quả nghiên cứu của bà chỉ chứng minh một cách khoa học thêm mà thôi. Cả hai công trình nghiên cứu này đã được biết từ lâu trước khi có chủ đề bàn luận về về thống nhất hay độc lập ở Đài Loan. Đó là công trình nghiên cứu của Lin Hui Shaing, “The Ethnology of Chine”, xuất bản năm 1937 và W. Meacham, “Origins and development of Yeuh coastal Neolithic : A microcosm of cultural change on the mainland of East Asia”, công bố vào năm 1981. Cả hai đã có cùng kết luận về nguồn gốc của dân Bách Việt. Cũng trong cuộc phỏng vấn này, có câu hỏi là có phải nghiên cứu của bà có mục đích chính trị không, vì hiện nay có rất nhiều người đã dùng nghiên cứu của bà trong chính trường. Bà nói rằng mọi người nên hiểu biết về nguồn gốc của mình. Và bà chỉ muốn tìm ra nguồn gốc của người địa phương sống lâu đời ở Đài Loan. Bà không hiểu tại sao người Mỹ gốc Phi châu lại có thể đi tìm được nguồn gốc của họ, mà người Đài Loan lại không thể nói được “Chúng tôi là người Mân Việt cổ xưa”. Bà muốn rằng người Đài Loan nên xem mình là người địa phương Mân Việt chứ không phải là Hán từ bắc Trung Quốc. Bà nói : “Bài nghiên cứu của tôi đơn giản là chỉ để hiểu biết về nguồn gốc. Tôi không biết gì về chính trị và không thuộc tổ chức chính trị nào”. Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình Đài Loan và hiểu thêm về các dân tộc và văn hóa ở hòn đảo này, chúng ta phải bắt đầu từ các dữ kiện lịch sử và dân tộc học mà tôi cố gắng tóm lược như sau : Bộ tộc Austronesian Những người bản xứ thuộc dòng ngôn ngữ Austronesian là những người dân đã sống lâu đời ở Đài Loan từ trước thế kỷ 17 khi những người ngoại quốc như Hòa Lan, Tây Ban Nha và sau đó là Trung Quốc bắt đầu đến chiếm đóng và định cư. Ngôn ngữ của các bộ tộc bản xứ cũng rất đa dạng và khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc họ ngôn ngữ Austronesian, cùng họ với ngôn ngữ Phi Luật Tân, Indonesian, Mã Lai và ở nhiều đảo khác trong Thái Bình Dương. Hiện nay người thổ dân Austronesian chỉ còn có khoảng 2% dân số Đài Loan và gồm các bộ tộc sau (theo thứ tự dân số) : Amis (130.000), Paiwan (60.000), Atayal (50.000), Bunum (38.000), Taroko (30.000), Puyuma (8.000), Rukai (8.000), Tsu (6.000), Yami (4.000), Saisiat (4.000), Thao (250). Một số bộ tộc khác ở đồng bằng và bờ biển trước đây đã biến mất, qua sự đồng hóa trong cộng đồng các người Hoklo, Hakka di dân từ Trung Quốc trong các thế kỷ trước. Ngôn ngữ của các bộ tộc này chỉ còn giữ lại trong các từ điển và bài viết về họ của người Hòa Lan, Nhật và Đài Loan sau này, và một số từ còn sót lại trong ngôn ngữ Hoklo. Trong suốt lịch sử từ 1624, khi người Hòa Lan đến chiếm, cho đến thời kỳ thuộc nhà Thanh, rồi thuộc Nhật Bản và gần đây dưới chế độ Quốc Dân Đảng, người thổ dân thường bị phân biệt, chèn ép trong xã hội. Có lúc họ đã nổi day, như năm 1930, một bộ lạc đã nổi lên chống Nhật nhưng họ đã bị đàn áp đẫm máu. Đất đai của họ đã bị lấn chiếm và mất dần (cách đây không lâu, có nơi đất của họ đã được dùng để chôn các chất thải nguyên tử nguy hiểm). Năm 1984, Liên minh thổ dân Đài Loan đã được thành lập bởi một số trí thức và các vị lãnh đạo các bộ tộc để bảo vệ quyền lợi và văn hóa thổ dân. Họ đã tranh đấu trong nhiều năm cùng với đảng Dân chủ Tiến bộ Đối lập chống lại các chính sách văn hóa và bất công của chính quyền. Ngày nay, quyền lợi và văn hóa thổ dân đã được khuyến khích phát triển nhất là từ khi chính phủ Trần Thủy Biển nắm quyền vào năm 2000. Như các người Austronesian khác ở Đông Nam Á (Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương), các bộ tộc thổ dân đều có tục ăn trầu và xâm mình. Đặc biệt người Atayal còn xâm rất nhiều trên mặt. Theo truyền thuyết của họ, lúc khởi thủy chỉ có hai an hem. Vì muốn dòng giống được lưu truyền, người em giá đã xâm lên mặt để che dấu hầu gait anh mình mà kết thành vợ chồng, sinh sản con cháu. Người Rukai, trong lễ hội xuân còn có phong tục chơi đu xích đu. Người con gái đu xích đu, trong khi người con trai nay và bắt lấy. Trò chơi ở lễ hội xuân này tương tự như trò chơi trong lễ hội của người Việt và chúng có nguồn gốc phồn thực. Vì là thiểu số, hiện nay văn hóa của người thổ dân có nguy cơ biến mất khi đa số thanh niên cố gắng hòa nhập vào xã hội Đài Loan. Trước đây vì bị phân biệt, đa số đã cố gắng dấu đi nguồn gốc thổ dân của mình. Ngày nay với chính sách bảo vệ và phát triển văn hóa bản xứ trong giáo dục, chính trị và kinh tế, họ đã có mặt ở mọi thành phần trong xã hội Đài Loan và hãnh diện là người có gốc tích thổ dân, cư dân đầu tiên của nước Đài Loan. Cuối năm 2001, ở Đài Trung, nơi có nhiều thổ dân thuộc các bộ tộc khác nhau, đã có lễ hội về văn hóa Austronesian, với sự hiện diện của nhiều học giả thế giới đến dự hội nghị nghiên cứu Austronesian tổ chức cùng thời gian. Chang Hui-Mei (Amei), ca sĩ nổi tiếng Đài Loan, là người gốc thổ dân thuộc bộ lạc Puyuma bản xứ đã trình diễn nhiều bài dân ca Austronesian khai mạc liên hoan văn hóa này. Viện Hàn Lâm Academia Sinica cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và con người Austronesian. Cùng với “Hiệp hội nghiên cứu tiền sử Ấn và Thái Bình Dương”, Academia Sinica đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế về người Austronesian, như ở Đài Trung và Đài Bắc vừa rồi. Người Hoklo “Hoklo”, danh từ cổ xưa gốc địa phương nay được dùng để chỉ chung giống người dân tộc và ngôn ngữ vùng Phúc Kiến thay vì dùng từ Phúc Kiến như trước đây thường xử dụng để chỉ người thuộc địa phương Phúc Kiến Trung Quốc. Các danh từ thường dùng khác, như Hokkien, Minnan (Mân Nam, Min (Mân), hay Đài Loan cũng đã được dùng để chỉ dân tộc này. Nay thì danh từ “Hoklo” bản địa có khuynh hướng được dùng nhiều (nhất là trong giới hàn lâm nghiên cứu) vì nó thống nhất cho một giống dân trong dân tộc học, không mang màu sắc chính trị, thích hợp hơn là dùng danh từ về vị trí địa lý của một tỉnh. Người Hoklo không những cư trú ở Phúc Kiến mà còn có mặt ở nhiều nơi như Hải Nam, Đài Loan và ở nhiều nước khác trong khu vực Đông Nam Á do truyền thống đi biển của họ. Ở Đài Loan, hiện nay 70% dân số là người Hoklo. Ngôn ngữ người Hoklo có nguồn gốc cổ xưa ở Nam Trung Quốc. Theo nhà ngôn ngữ học Norman (5) và Mei Tsu Lin (6) thì tiếng Hoklo (Mân), Hakka và Quảng Đông có cùng nguồn gốc. Chúng xuất phát từ các bộ tộc Bách Việt, phi Hán, sống ở phía Nam sông Dương Tử. Những ngôn ngữ này có các thành phần gốc Thái cổ, Austronesian và Austroasiatic ở tầng ngôn ngữ dưới, và pha trộn với tiếng Hán ở tầng trên. Thành phần Austronesian và Thai (Austro-Thai) có trội hơn thành phần Austroasiatics, nhưng cả ba đều hiện diện trong các ngôn ngữ này. Họ ngôn ngữ Austroasiatics, như ta biết, gồm có các ngôn ngữ Mon-Khmer. Việt, Munda. Điều này cho thấy là các tộc người nói tiếng Austroasiatics đã có mặt tại Nam Trung Quốc từ lâu đời, trước thời kỳ nhà Tần-Hán (xem #6). Hiện nay trong ngôn ngữ Mân Nam (Hoklo), ta vẫn còn tìm thấy có các sự liên hệ với ngôn ngữ Việt thuộc họ Autroasiatics qua các từ (xem #6). Một vài thí dụ về các từ Hoklo với các từ trong tiếng Việt, như : vat [bat4] – Việt : biết, Bahnar : băt. gnial [kian2] – Việt : con, Khmer : koun. daam [tam5] – Việt : đẫm (ướt). daanggi [tang5ki1] – Việt : đồng (lên), Proto-Mân : dung, dong, Mon : dong. doh [toh4] – Việt : đâu (ở). và một sớ từ có nguồn gốc Austroasiatics – Austronesian (theo thuyết Austric), như : dehh [the4] – Việt : đè, Proto-Malay : tedes. qiul [giu2] – Việt : giật (kéo), Quảng Đông : jaul, Proto-Malay : guyud. lut [lut4] – Việt : lột, Hakka : lôụt, Quảng Đông : led1, Indonesian : lucut, Malay : luchut, Hawaii Polynesian : lu. lerng [leng7] – Việt : lõng, Proto-Malay : luan. Ngoài ra, theo tôi, một số các từ Hoklo sau đây cũng có gốc chung (cognates) với các từ Việt : bou [pơ1] – Việt : bố (cha). voul [bơ2] – Việt : bu (vợ). za [cha1] – Việt : ta (người), Proto-Malay : tau, cau. dẫn tới từ Hoklo, zabou nghĩa là người đàn ông và zavoul là người đàn bà. Ngoài sự liên hệ về ngôn ngữ giữa người Hoklo (Mân Việt) và người Việt, trong lịch sử, ta cũng được biết là tổ tiên nhà Trần, một triều đại rực rỡ văn hóa Việt ở Việt Nam, vào thế kỷ thế 13, đã đi từ Phúc Kiến (Mân) theo đường biển đến định cư ở Việt Nam trước đó. Họ sống về nghề đánh cá dọc theo bờ biển Nam Trung Quốc. Người Hoklo ở Đài Loan, sau bao thế kỷ chung sống và hợp chủng với nhiều bộ tộc bản xứ ở vùng thấp và đồng bằng đã dẫn đến sự biến mất của một số bộ tộc. Qua quá trình giao lưu này, một số ngôn ngữ Austronesian đã được thu nhận, và ngôn ngữ Hoklo ở Đài Loan có nét địa phương khác với ngôn ngữ Hoklo ở tỉnh Phúc Kiến trong lục địa. Ngôn ngữ Hoklo ở Đài Loan nay được gọi là Đài ngữ. Người khách trú (Hakka) Danh từ “Hakka” chữ Hán có nghĩa là “khách trú”, do người Quảng Đông dùng để chỉ những người di dân xuống địa phận vùng Bắc Quảng Đông và Nam Phúc Kiến hiện nay. Thật sự người Hakka đã có mặt từ ngàn năm trước ở vùng Nam sông Dương Tử, chủ yếu ở khu vực Nam tỉnh Giang Tây, giáp giới với Phúc Kiến. Vì hoàn cảnh địa lý và lịch sử họ đã di dân xuống Quảng Đông. Hiện nay chúng ta không rõ lịch sử và khi nào từ này đã được dùng, chỉ biết là người Quảng Đông đã đối xử phân biệt với họ, cho họ là dân phi Hán, thuộc một loại dân tộc man di, như các tộc Thái, Choang (Zhuang) hay Mèo (Miao), ở miền núi hoang dã di dân vào ở các khu vực Hán. Thật sự thì cả người Quảng Đông cũng không phải nòi Hán, nhưng vì bị Hán hóa quá lâu nên cộng đồng của họ đã không còn giữ được trong ký ức trước kia họ thuộc chủng phi Hán. Vì bị coi như người ngoài đến lấn chiếm, và bị đối xử phân biệt nên một số người Hakka đã cũng tự cho họ là người Hán từ Bắc Trung Quốc xuống. Quyển sách cổ điển nói về nguồn gốc của người Hakka là của giáo sư Lo Hiong Lim, xuất bản năm 1933 (An introduction to the study of the Hakka : its ethnic, historical and cultural aspects). Ông chủ yếu dựa vào gia phả cho rằng người Hakka là từ Bắc Trung Quốc đã di dân xuống phương Nam qua nhiều đợt vì quê hương của họ đã bị các rợ phương Bắc xâm lăng. Ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu khảo cổ, ngôn ngữ học và di truyền học đã cho thấy là thuyết của ông Lo không đúng. Ngay cả tư liệu gia phả cũng không chính xác và có nhiều sai lầm. Nhà ngôn ngữ học J. Norman cho rằng tiếng Hakka, Mân (Min) và Quảng Đông, “Việt” (Yueh) có cùng một nguồn gốc trong lịch sử, đã hiện diện ở Nam Trung Quốc từ trước thời Hán, mà ông gọi chung là tiếng Cổ Nam Trung Quốc (Old Southern Chinese) (xem #5). Nhà ngôn ngữ học Laurent Sagart, trong một nghiên cứu mới đây (2002) về nguồn gốc tiếng Hakka, đã cho thấy là ngôn ngữ này có nguồn gốc ở phía Nam Trung Quốc, với lớp tầng cổ nhất thuộc họ ngôn ngữ Mèo-Dao (Miao-Yao), hay còn gọi là Hmong-Mien (xem #4). Ngôn ngữ Hakka cũng rất gần với ngôn ngữ của người Gan (Cám) cư ngụ dọc lưu vực sông Cẩm Giang. Hiện nay, ở vài khu vực các tỉnh Giang Tây (Jianxi), Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, người She (Hẹ), thuộc họ ngôn ngữ Hmong-Miên vẫn còn hiện diện. Ông Sagart cho rằng chính họ là tổ tiên của người Hakka và Gan, sau này bị Hán hóa dần từ thời Tống. Trước đây, nhà ngôn ngữ học Haudricourt cũng đã cho rằng tiếng Quảng Đông và Hakka có nguồn gốc từ tiếng Thái và Mèo-Dao, sau khi trải qua các quá trình Hán hóa lâu dài trong lịch sử (7). Giáo sư Fong Hok-Ka, trong sách nghiên cứu về người Hakka xuất bản tại Trung Quốc năm 1994 (Investigating in depth about the origin of Hakka), đã dùng những tài liệu lịch sử và khảo cổ tìm được ở các vùng của người Hakka trước đây cư ngụ. Ông cho thấy đã có một nền văn minh rất cao hiện diện rất lâu trước khi nhà Tần đánh chiếm các dân tộc phương Nam. Từ đó (221 tr. TL.) bắt đầu có quá trình Hán hóa cho đến giai đoạn sau thời Nam-Bắc Triều (589 TL.), khi nhóm Tiền-Hakka (Proto-Hakka) bắt đầu được thành lập và phát triển. Nói chung, các công trình nghiên cứu của các ông Norman, Sagart và Fong là có cơ sở hơn hết về nguồn gốc con người và ngôn ngữ Hakka. Sau người Hoklo, người Hakka bắt đầu di dân đến đảo Đài Loan vào khoảng thế kỷ 18, nhiều nhất là dưới triều đại nhà Thanh. Hiện nay, dân số người Hakka có khoảng 3 triệu, tức khoảng 15% dân số Đài Loan, đứng hàng thứ hai sau dân Hoklo. Vài nét về lịch sử hiện đại của Đài Loan Đài Loan đã có người thổ dân Austronesian sinh sống từ lâu đời. Tài liệu xưa nhất ở Trung Quốc đề cập đến Đài Loan là vào năm 230 TL., nói về một số người chạy loạn từ bờ biển Phúc Kiến, Quảng Đông đến cư ngụ tại đảo. Một tài liệu địa lý khác ở thế kỷ thứ 3 có nói về các bộ tộc sống trên đảo (7). Họ có phong tục và cách sống rất khác nhau, chứ không phải thuần nhất. Từ cuối thế kỷ 16 đến năm 1624, chỉ có một số rất ít người từ lục địa sang sinh sống dọc theo bờ biển phía Bắc. Họ sống ngoài vòng kiểm soát của triều đình Trung Quốc. Trong đó không ít là cướp biển. Thỉnh thoảng có một số người bị đắm tàu trôi dạt vào đảo. Họa hoằn lắm mới có các thương thuyền của người Bồ Đào Nha, Hòa Lan và các nước tạt qua trên đường hàng hải buôn bán với Nhật và Trung Quốc. Người Bồ Đào Nha gọi đảo này là Formosa (“hòn đảo đẹp”). Thổ dân Austronesian trên đảo cũng có tiếng là hung dữ, nhất là ở phía sâu trong đảo. Thêm nữa, vì không có cảng hay thành phố mà chỉ có các làng mạc thưa thớt dọc biển, nên không ai để ý đến. Với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng của các nước Tây phương trong thị trường thương mại hàng hải với Nhật và Trung Quốc, người Hòa Lan đầu tiên chiếm các đảo nhỏ ở eo biển Đài Loan, như quần đảo Pescadores, và bắt đầu từ năm 1624 đến lập các cơ sở ở bờ biển phía Tây Đài Loan. Người Tây Ban Nha cũng đến phía Bắc đảo để chiếm đóng và lập các căn cứ làm thuộc địa từ năm 1626. Người thổ dân bị lấn chiếm và không chống trả nổi. Chiến tranh giữa Hòa Lan và Tây Ban Nha diễn ra liên tục trên đảo. Trong thời gian này, người Hoa từ lục địa cũng bắt đầu di dân sang ở một vài nơi phía Tây và Nam trên đảo. Biến cố 28/2 – Thảm sát ở Đài Bắc và khắp Đài Loan Cuối năm 1945, sau khi Nhật đã đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trung Quốc của Quốc Dân Đảng gởi người và quân đội đến Đài Loan để giải giới và thiết lập chính quyền mới trên đảo. Họ đến từ lục địa nhưng nắm hết quyền trong chính phủ, quân đội. Từ sự các biệt gần 100 năm lịch sử trong thời kỳ lệ thuộc Nhật và trước đó trong thời nhà Thanh, lối sống xã hội của người Đài Loan bản xứ đã khác nhiều với tập tục, suy nghĩ và nếp sống của những người tràn qua từ đất liền. Điều này bắt đầu dẫn đến những bất đồng và căng thẳng, nhất là sự hối lộ, tham nhũng, vơ vét, áp bức dân địa phương của chính quyền Quốc Dân Đảng trong các năm đầu khi họ vừa đến Đài Loan. Người dân bản xứ không quen với tệ nạn tham nhũng, vơ vét khi còn dưới thời Nhật cai trị, nên rất ta thán. Họ đã biểu tình phản đối, bắt đầu từ Đài Bắc rồi lan ra khắp Đài Loan. Quốc Dân Đảng đã phản ứng lại bằng cách “dạy dân địa phương một bài học”, như một số tướng và nhân vật Quốc Dân Đảng đã tuyên bố. Trong ngày 28/2/1947, quân đội đã nổ súng vào đoàn biểu tình và mở chiến dịch tấn công càn quét vào dân bản xứ, hậu quả thật khốc liệt, hơn 20.000 người đã bị thảm sát. Thiết quân luật đã được ban hành và áp dụng trên toàn lãnh thổ. Biến cố này là một bản lề quan trọng nhất trong lịch sử cận đại Đài Loan. Năm 1949, chính phủ Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc, sau khi bị thua trận trong cuộc nội chiến, đã phải chạy ra đảo Đài Loan. Thiết quân luật được áp dụng chặt chẽ hơn, viện cớ tình trạng chiến tranh với đảng Cộng sản ở lục địa. Thiết quân luật chỉ chấm dứt sau này, vào năm 1987. Biến cố ngày 28/2/1947 có ảnh hưởng sâu rộng và hằn sâu trong tiềm thức của dân Đài Loan. Mặc dầu nó đã bị các chính phủ Quốc Dân Đảng che nay và cấm đề cập đến từ lúc đó cho đến cuối thập niên 1980, nhiều trí thức bản xứ và ngay cả một số trong Quốc Dân Đảng ly khai đã đặt lại vấn đề và từ đó thành lập đảng Dân Chủ Tiến Bộ đối lập cới chính quyền. Năm 1972, Đài Loan đã lỡ một cơ hội để trở thành một nước độc lập gia nhập vào Liên Hiệp Quốc. Trong thời điểm này, Mỹ đang hòa hoãn với Trung Quốc lục địa (Cộng hòa Nhân dân Trung quốc). Liên Hiệp Quốc cũng vừa công nhận chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung quốc (PRC) là đại diện cho Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, thay thế chính phủ Cộng hòa Trung quốc (ROC) của Quốc Dân Đảng ở Đài Loan. Đài Loan lúc đó có thể từ bỏ chính sách là mình có chủ quyền ở lục địa và là thực thể đại diện cho tất cả mọi người dân Trung Hoa. Thay vào đó, Đài Loan nên tuyên bố độc lập xin vào Liên Hiệp Quốc với tư cách một nước mới. Đây cũng là hành động mà Mỹ khuyên Đài Loan nên theo trong cơ hội này, lúc Mỹ thương lượng với Trung Quốc, nhưng cính phủ Đài Loan đã từ chối và tiếp tục theo đuổi đòi chủ quyền cho cả Trung Quốc lục địa. Đây là một sai lầm chiến lược lớn mà sau này Đài Loan hối hận. Nhiều người đã đặt lại vấn đề là tại sao lại không có hai hoặc ba nước nói tiếng Trung Hoa trong Liên Hiệp Quốc, cũng như Liên Sô trước đây đã có Ukraine và Bielorussia hiện diện trong tổ chức này. Chính sách sau này của chính phủ Quốc Dân Đảng Đài Loan là cố gắng thiết lập được quan hệ ngoại giao với mọi nước (đa số là các nước nhỏ ở Trung Mỹ và Thái Bình Dương) và xin được vào các tổ chức quốc tế, như Y Tế Thế Giới (WHO), Phát Triển Văn Hóa (UNESCO), Thương Mại (WTO). Từ lúc đảng Dân Chủ Tiến Bộ (DPP) đối lập được thành lập, đấu tranh về đường lối giữa Quốc Dân Đảng và đảng Dân Chủ diễn ra rất gay gắt trong suốt thập niên 1980. Đến cuối thập niên 1990 thì người địa phương Đài Loan đã thực sự thắng lợi, với bản sắc Đài Loan được đặt làm nền tảng cho mọi chính sách đối ngoại và đối nội. Ngay cả Quốc Dân Đảng đã chọn người địa phương Đài Loan, ông Lý Đăng Huy, là vị tổng thống với chính sách mới ở giai đoạn cuối cùng trước khi đảng Dân Chủ lên nắm quyền năm 2000, mở đầu cho một kỷ nguyên và một thế kỷ mới. Sự hình thành và phát huy văn hóa truyền thống bản địa của các dân tộc ở Đài Loan Tôi đến Đài Trung (dọc bờ biển hướng Tây, cách Đài Bắc 150km phía Nam) vào tháng 6 năm 2000, một tháng sau khi ông Trần Thủy Biển nhậm chức Tổng Thống. Trung Quốc vẫn còn dàn hỏa tiển hướng về Đài Loan ngăn cách qua một eo biển nhỏ hẹp. Dân chúng tuy vậy rất bình tỉnh, tự tinh và không còn sợ hải như trước đây. Mặc dầu thị trường chứng khoán chưa hồi phục ở mức bình thường như trước lúc khủng hoảng, hoạt động kinh tế đã trở lại như trước, các trung tâm thương mại rất náo nhiệt, trừ các trung tâm của các công ty Nhật có rất nhiều ở Đài Loan vẫn vắng khách như xưa vì giá rất cao. Thành phố Đài Trung là thành phố lớn mà dân Hoklo hầu như chiếm gần hết, với một số ít còn lại là người các dân tộc thổ dân Austronesian. Thành phần dân ở Đài Loan gồm khoảng 15% là người Hakka (khách trú), 70% là người Phúc Kiến, 2% là người bản xứ thổ dân, 13% là người từ các vùng ở lục địa mới đến sau này. Mặc dầu không phải là đa số, nhưng những người mới đến từ lục địa đã chiếm lĩnh các vị trí quan trọng trong chính phủ, quân đội. Các hoạt động kinh tế phần lớn nằm trong tay họ , trong số đó có một số công ty có sự liên hệ rất mật thiết ới Quốc Dân Đảng. Ngay Quốc Dân Đảng cũng có những công ty riêng rất lớn với nguồn tài chánh và lợi nhuận khổng lồ. Tình trạng trên kéo dài trong hơn 40 năm, cho đến năm 1988, đảng Dân Chủ Tiến Bộ đối lập được thành lập. Đảng Dân Chủ Tiến Bộ đòi hỏi có sự công bằng và đấu tranh giành lại quyền chính trị với khuynh hướng độc lập, từ bỏ là đại diện Trung Quốc để lấy lại Hoa Lục của chính thể Đài Loan từ khi Quốc Dân Đảng thua chạy qua tá túc ở Đài Loan. Mặc dầu có nhiều khó khăn và trở ngại do chính phủ Quốc Dân Đảng tạo ra, dần dần tiếng nói của dân bản xứ đã được thể hiện. Trong những năm cuối thập niên 1980s và đầu 1990s, sự đối lập của đảng Dân Chủ Tiến Bộ và Quốc Dân Đảng chủ yếu là về khuynh hướng và chính sách, không những gay gắt trên chính trường (nhiều khi đưa đến xô xát bạo động trong quốc hội, các nơi diễn thuyết công cộng giữa hai phe mà chúng ta thường thấy trên truyền hình) mà còn được thể hiện ở dân chúng tùy theo dân thuộc thành phần nào, bản xứ hay không bản xứ. Năm 1996, ông Trần Thủy Biển được bầu làm Thị trưởng thành phố Đài Bắc. Trong thời gian làm Thị trưởng, ông đã đổi tên đại lộ trước dinh tổng thống từ “Đại lộ Tưởng Giới Thạch muôn năm” thành “Đường Ketagalan”. Ketagalan là tên một bộ lạc thổ dân Austronesian cư ngụ vùng xung quanh Đài Bắc đã bị tuyệt chủng từ lâu sau khi họ đã bị đồng hóa vào xã hội Đài Loan. Mặc dầu không phải là người gốc thổ dân, nhưng ông Trần Thủy Biển đã tích cực ủng hộ và phát triển quyền lợi và văn hóa thổ dân khắp Đài Bắc. Quan trọng hơn, ông đã lập ra một viện bảo tàng giữa một công viên lớn trong trung tâm thành phố để tưởng niệm biến cố ngày 28/2/1947. Công viên được đổi tên thành “Công viên Hòa bình 282”. Tôi có ghé thăm công viên và viện bảo tàng trong dịp viếng Đài Bắc vào năm 2000. Thật là cảm động khi thấy những hình ảnh, thơ từ, áo của các nạn nhân mang những lổ đạn, sách, báo chí, chứng từ, nói lên sự bất nhẫn qua hình ảnh của quân đội Tưởng Giới Thạch bắn giết hơn 20.000 người... ... Viện bảo tàng mang một biểu tượng với dòng chữ lớn “confused identity leads to tragedy – Taiwan has to know its past tragic event in 28/2/1847” (bản sắc bị map mờ dẫn đến thảm kịch – Đài Loan phải biết biến cố thê thảm đã xảy ra vào ngày 28/2/1947). Dĩ nhiên viện bảo tàng đã bị chính phủ Quốc Dân Đảng lúc bấy giờ chống đối và lên án. Nhưng cũng từ lúc ấy, đa số người Đài Loan gốc bản xứ (Hakka và Hoklo) đã bắt đầu ý thức được quyền độc lập và tự hào về sự khác biệt văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ của họ đối với văn hóa quan thoại của Quốc Dân Đảng và của Trung Quốc lục địa. Ngay cả trong Quốc Dân Đảng, nhiều người (nhất là cá đảng viên gốc người bản xứ) đã đòi hỏi phải có cải tổ, thay đổi chính sách để thể hiện nguyện vọng của dân một cách thực tế và áp dụng được trong tình hình mới. Nó phải thích hợp với khuynh hướng và trào lưu dân chủ mà quần chúng đòi hỏi. Lý Đăng Huy, vị Tổng thống Quốc Dân Đảng cuối cùng trước khi Trần Thủy Biển lên thay, là người bản xứ, đã có những chính sách cởi mở. Chính ông cũng có những hoài bão độc lập như đảng Dân Chủ Tiến Bộ. Điều này đã làm cho chính quyền Trung Quốc rất tức giận và hằn học, gây nhiều khó khăn cho ông Lý Đăng Huy, ngay cả khi ông không còn trong chính trường và là một công dâ bình thường như hiện nay. Thí dụ như khi ông dự định đi viếng các nước như Anh, Mỹ, và gần đây là Nhật, với tư cách cá nhân riêng tư, chính quyền Trung Quốc cũng đã gây sức đến các nước sở tại để không cho ông thị thực nhập cảnh (visa). Ai nói là thù sẽ phai nhạt theo thời gian ? Để có thể phân biệt và tạo ra được sự khác nhau về xã hội, văn hóa giữa Đài Loan và Trung Quốc, Đài Loan từ Lý Đăng Huy đến Trần Thủy Biển đã khuyến khích phát triển và quảng bá rộng rãi văn hóa của những dân tộc thổ dân trong văn hóa Đài Loan. Ý thức về sự quan trọng của nền văn hóa thổ dân có nguồn gốc Mã Lai (Malayo-Indonesian) vào sự đóng góp chung với các văn hóa Hakka và Phúc Kiến để tạo nên một nền văn hóa khác biệt với văn hóa Hán Trung Hoa. Điều này đã được chấp nhận là yếu tố quan trọng bậc nhất đặt nền tảng cho sự thành hình một căn cước (identity) mới cho Đài Loan. Thêm nữa, mặc dầu Đài Loan đã có thời gian ngắn chỉ khoảng hơn 80 năm là một phần của Nhật Bản, trong thời kỳ Nhật cai trị, nhưng ảnh hưởng văn hóa Nhật đã thể hiện một phần trong văn hóa và con người Đài Loan. Đài Loan và Nhật Bản hiện nay có quan hệ kinh tế và văn hóa khá sâu rộng. Đặc tính riêng biệt là điều kiện tiên quyết cho sự khởi đầu thành lập quốc gia của một quần thể có văn hóa riêng. Quá trình văn hóa, tư tưởng như nói trên xảy ra ở Đài Loan trong việc tạo thành một nước có bản sắc riêng cũng mang máng tựa như quá trình mà người Việt đã trải qua trong thời kỳ Bắc thuộc. Trong quá trình này, nguy cơ văn hóa bản xứ có thể bị Hán hóa và tiêu diệt, trước khi có sự độc lập trong thế kỷ thứ 10 là rất cao, nếu không nhờ có văn hóa làng xã thuần Việt ở nông thôn được giữ vững. Sau bao nhiêu năm dưới các chính phủ Quốc Dân Đảng, ngôn ngữ Hakka, Hoklo và các thổ ngữ bị cấm dùng trong nền giáo dục và các công sở, thay thế bởi ngôn ngữ chính thức Quan Thoại (Mandarin). Trước đây, một số trí thức Hakka và Hoklo đã cố gắng giữ gìn tiếng nói của họ bằng nhiều phương cách. Một trong những phương cách là sáng tạo ra chữ viết mới dùng chữ Hán tạo ra loại chữ gọi là Koa-a-chheh vào thế kỷ 17 dưới thời kỳ thuộc nhà Thanh. Cấu tạo loại chữ này cũng tương tự một phần như chữ Nôm (Việt Nam), hoặc dùng âm chữ Hán để chỉ chữ địa phương, hoặc dùng nghĩa chữ Hán cho âm địa phương. Tuy nhiên các tiêu chuẩn chưa được thống nhất và có sự tùy tiện của người viết. Đến cuối thế kỷ 19, loại chữ viết này biến mất dần. Đầu thế kỷ 20, chữ cái Latin cũng được dùng để thể hiện tiếng nói địa phương (tương tự như chữ Quốc ngữ sau này ở Việt Nam). Nhưng hệ thống chữ này, gọi là Peh-oe-ji, đã không thành công, một phần là do chính sách của Quốc Dân Đảng. Chính sách của Quốc Dân Đảng là phát triển chính thức chữ Hán Quan Thoại để nó trở thành phổ thông trong đời sống xã hội, chính trị. Chữ mới này có thể gây nguy cơ giúp văn hóa địa phương phổ biến đe dọa sự độc tôn của Hán văn cổ điển mà Quốc Dân Đảng xây dựng từ khi đến Đài Loan (8), vì thề chính quyền Quốc Dân Đảng đã ngăn cấm loại chữ này. Vì chính sách ngôn ngữ và văn hóa độc tôn, trọng Hán của chính phủ Quốc Dân Đảng trước đây, rất nhiều thanh niên thuộc các thế hệ mới gần đây đã quên đi tiếng mẹ đẻ của họ. Chính sách này được thể hiện qua việc cấm dùng tiếng địa phương trên truyền thanh và truyền hình. Không những thế, trường học nào 9ể học sinh nói tiếng địa phương, không phải tiếng Quan Thoại, bị phạt tiền. Ông Trần Thủy Biển hiện nay (và trước đó ông Lý Đăng Huy), đã có chính sách cho phép các ngôn ngữ địa phương được dùng và dạy trong môi trường đa văn hóa ở xã hội Đài Loan. Bảo tồn và phát triển các loại văn hóa bản xứ đều được khuyến khích. Ở Đài Bắc, Cao Hùng và nhiều nơi khác, các trung tâm văn hóa Hakka, Hoklo, thổ dân đã được thành lập. Tháng 4/2001, ông Trần Thủy Biển cũng đã chính thức khánh thành viện bảo tàng văn hóa và lịch sử Hakka lớn nhất Đài Loan ở thành phố Meinung, thuộc quận Cao Hùng. Trong nội các chính phủ, ông thành lập Ủy ban Văn hóa Hakka, với hy vọng sẽ biến Đài Loan thành trung tâm nghiên cứu về văn hóa Hakka cao cấp nhất thế giới. Từ giữa thập niên 1980s cho đến nay, song song với sự thành lập phong trào dân chủ và đảng đối lập Dân Chủ Tiến Bộ, có phong trào Taibun (Đài văn) phổ biến văn học bản xứ Taigi (Đài ngữ). Mục đích của pong trào Đài văn là phổ biến văn học Đài Loan, dùng ngôn ngữ và chữ viết địa phương trong các địa hạt giáo dục, xã hội, để chống lại quan điểm là chỉ có văn học Hán văn viết về Trung Quốc là có văn hóa cao được quý trọng. Còn văn học viết về Đài Loan chỉ là văn hóa “xóm làng” ở địa hạt nhỏ bé trong văn học rộng lớn Trung Quốc. Quan điểm coi nhẹ, đánh giá thấp văn hóa địa phương từ trước đến nay của chính quyền Quốc Dân Đảng và của đa số các nhà trí thức Hán học quan thoại cổ điển từ lục địa đi qua, đè nặng vào lối suy nghĩ tâm linh của họ, đã bị chỉ trích. Phong trào Đài văn, ngược lại, lấy văn học, những gì liên quan hay viết đến Đài Loan bản xứ làm sự hãnh diện, chứ không phải là một sự hổ thẹn “xóm làng”.Phong trào Đài văn một phần đã thành công trong sự gợi dậy niềm tin và phát triển văn hóa, cũng như ngôn ngữ Đài Loan bản địa (Hoklo). Nhưng sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa chữ viết chưa thực hiện được. Lý do chính là vì có nhiều hệ thống chữ dùng các từ Hán để phát âm (tương tự như chữ Koa-a-chheh trước đây) được sáng chế khác nhau. Ngay cả khi một trong các loại chữ này, như chữ Ganbun chẳng hạn, được nhiều người dùng hơn, thì vấn đề kỷ thuật trên máy tính và phần mềm xử lý để tạo ra chữ Ganbun đã gặp khó khăn. Vì hiện nay chỉ có chữ Hán là có sẵn và phổ thông trên thị trường máy tính mà thôi. Do đó hiện nay chỉ có chữ Hán Đài ngữ và Latin Đài ngữ (Peh-oe-ji) là được dùng nhiều nhất trong phong trào Đài văn. Nói tóm lại, có thể cho rằng tình trạng các dân tộc Hakka, Hoklo (Mân Việt) ở Đài Loan ngày nay cũng giống như tình trạng ở Giao Châu trước khi Ngô Quyền giành được độc lập cho Lạc Việt. Dân tộc Lạc Việt đã cố gắng giữ gìn văn hóa của mình, trong gần 1.000 năm Hán thuộc, để không bị Hán hóa. Nhưng tình hình ở thế kỷ 21 khác nhiều về không gian thế giới, do đó tình trạng của họ có khó khăn nhiều hơn, và có thể không có nhiều hy vọng trên con đường tiến đến độc lập như ông cha ta thuở trước. Tuy vậy, không ai có thể đoán trước được những gì sẽ ảy ra trong tương lai. Đối với Việt Nam, những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan đều có ảnh hưởng ít nhiều về phương diện kinh tế và chính trị. Quan trọng hơn, nó còn chứa nhiều ý nghĩa đáng cho ta suy nghĩ về chính mình trong lãnh vực tư tưởng. _______ 1) Scott S., “Formosa diary #22, May 20 : A great proletarian cultural revolution”, Southeast Asia Discussion List, 25 May 2000. 2) Lin M., Chu L., Lee H. et al., “Heterogeneity of Taiwan’s indegenious population : possible relation to prehistoric Mongoloid dispersals”. Issue Antigens, 2000:55:1-9. 3) Lin M., Chu CC., Chang SL., Lee HL., Loo JH., Akasa T., Juji T., Ohashi J., Tokunaga K., “The origin of Minnam and Hakka, the so-called “Taiwanese”, inferred by HLA study”. Issue Antigens, 2000:57:192-199. 4) Tsai Ting-I, “Tracing Taiwanese bloodlines”, The Taipei Times, 6 May 2001. 5) Norman J., “Chinese”. Cambridge language surveys, Cambridge University Press 1988. 6) Norman J., Mei Tsu-lin, “The Austroasiatics in ancient south China : some lexical evidence”. Menumenta Serica, 1976, 32.274-301. 7) Sagart L., “Gan, Hakka and the formation of Chinese dialects”, tài liệu qua liên lạc cá nhân (chưa đăng trên tạp chí). 8) Wi-vun, Taiffalo Ching, “Language, Literacy and nationalism : A comparative study of Taiwan and Vietnam”. Vietnam Journal, Vol. 1, Oct. 2001. Nguyễn Đức Hiệp – Hoa Sen
    1 like
  33. Làm phước không bao giờ muộn cả Cám ơn chú đã chỉ dạy, Giaback sẽ ghi sâu câu này trong lòng
    1 like
  34. Haiphuong đã nhờ bà gì đó mà báo đăng, tôi giới thiệu đến trợ giúp chưa. Hãy làm nốt phần này trước khi xuất viện. Sẽ thấy mọi chuyện tiến triển tốt. Hãy thả chim cho dù vì bị nguy mới thả. Còn hơn không thả con nào. Làm phước không bao giờ muộn cả. Haiphuong yên tâm đi.
    1 like
  35. Chào cô Haiphuong. Chúc cô và gia đình vạn sự an lành. Hôm nay tôi mới thấy lại topic này. Rất vui vì chồng cô có tiến triển tốt. Cô hãy yên tâm, theo quẻ của tôi - nhnh thì ngay tháng này. Chậm thì giữa tháng năm, âm lịch , chồng cô sẽ phục hồi. Cô nên làm hai việc sau đây: 1 - Tìm một thày giỏi về nhân điện (Hình như tôi có giới thiệu) để phụ giúp chồng cô. 2 - Thả chim phóng sinh, ngay tai căn nhà vợ chồng cô thuê. Phương pháp như sau: Ra chợ bán chim. Chọn lồng chim có nhiều chim nhất (Nếu không đủ tiền mua hết tất cả chim ở đó) - có quyền trả giá sát nhíp - nói họ chở về nhà, hoặc tự mình chở về và thả ở đó. Con nào yếu không bay được thì nuôi cho đến khi nó khỏe bay đi. Chết thì chôn. Sinh khí và sự giải thoát của chúng sẽ giúp cho chồng cô chóng khỏi. Cái này khó giải thích (Chứ không phải không giải thích được). Nhưng đây là điều có thật Tôi cũng thường xuyên thả chim.
    1 like
  36. đó, chính thế đó. Nếu sống với bố thì một trong hai người sẽ bị một điều gì đó Thân mến p/s: chẳng thấy ai bấm nút cảm ơn cho mình nhẩy :D . Thôi thì tự mình bấm lấy vậy :P
    1 like
  37. Tiểu đề-Tứ tượng Địa lý Các độc giả kính mến, thẳng vào vấn đề chỉnh lý, Rubi thấy một điểm tính chất Tứ tượng của Địa Lý cần được thay đổi Thủy và Hoả, sát hơn là thay đổi Nam và Bắc trong Địa Lý. Vấn đề thay đổi như sau: Đông cũ = Đông mới Tây cũ = Tây mới Nam cũ = Bắc mới Bắc cũ = Nam mới Việc thay đổi hướng Bắc Nam có một số yếu tố manh nha cho vấn đề, Rubi vẽ hệ tọa độ địa thì thấy ra vấn đề này. Hình minh họa tạm thời xong cũng là một trong những hình minh họa đầu tiên như sau: Vấn đề này liên quan một chút đến thuật phong thuỷ, tức là Hồ Bán Nguyệt trước Đình, Chùa và Nhà. Khi thay đổi quan niệm cũ thành mới, Bắc thành Nam, Nam thành Bắc thì việc đặt Hồ nước trước nhà là chỉ về hướng Bắc (tức là hướng Nam hiện nay) thuận theo dịch lý. Tựa Núi Nhìn Sông là Tựa Nam Nhìn Bắc. Hồ mà lại là Hồ Bán Nguyệt thì Rubi nghĩ là có ẩn ý ẩn thuật trong này, gián tiếp thì thấy Hồ Bán Nguyệt có vẻ tương đồn với hình minh họa ở trên.
    1 like
  38. Thưa các học giả và các anh chị, Rubi tiếp tục tiểu đề này với kết luận về hình tượng chung của Âm dương Tiên thiên. Trước hết là giải thích từ Âm dương Tiên thiên, Tiên thiên là nói đến Ngũ hành Tương Sinh trong đó có Hệ Tứ tượng Tiên thiên, và rồi đến Hệ Bát quái Tiên thiên, sau cùng là Hệ 64 quẻ Tiên thiên. Âm dương của các Hệ Tiên thiên nghĩa là nói đến các cách tính để cụ thể hóa giá trị của mỗi phần tử trong riêng mỗi Hệ. Ở đây, Rubi thấy có hai cách xác định giá trị, hai cách này cùng xuất phát từ một hệ thống nhất quán nhau sau: -Bước thứ nhất chung cho cả ba Hệ nói trên là: Hào trên cùng có giá trị bằng 1, và đồng thời hào liền sau có giá trị gấp đôi hào liền trước, hào Âm sẽ có giá trị là âm (-), hào Dương sẽ có giá trị là dương(+). (ưu điểm của tiền đề này là nó cho ra sự tồn tại một hệ quả hợp lý). -Bước thứ hai là tính toán giá trị Âm và giá trị Dương trong mỗi phần tử Tượng của mỗi hệ. Từ hai bước trên, sẽ thu được các dữ liệu thông tin về các giá trị âm dương. Tiếp theo là sử dụng các giá trị này để tạo ra hình tượng chung cho mỗi hệ, mỗi một hình tượng được tạo ra sẽ có tiền đề là một cách tổng hợp các giá trị âm dương, và sau đây là hai cách tổng hợp: -Cách 1: Trong một Hệ Tiên thiên, mỗi phần tử Tượng đều có hai giá trị đồng thời là Âm và Dương. Trường hợp đặc biệt là Âm = 0 đồng thời Dương = Max(đạt giá trị lớn nhất), hay Dương = 0 đồng thời Âm = Max. Tính tổng của các giá trị Âm dương trong mỗi phần tử Tượng, nếu giá trị Dương lớn hơn giá trị Âm thì kết quả là Tượng đó có giá trị cuối cùng là Dương, nếu giá trị Âm lớn hơn giá trị Dương thì kết quả là Tượng đó có giá trị cuối cùng là Âm. Với cách tính tổng như vậy thì kết quả là các giá trị Âm cũng như Dương, đều là giá trị lẻ. Các phần tử có giá trị âm hợp lại thành Âm cực của Hệ, các phần tử có giá trị dương hợp lại thành Dương cực của Hệ. Liên tiếp các giá trị trong Âm cực sẽ được xác định trên một hệ tọa độ hình tròn, và các giá trị trong Dương cực cũng như vậy. Cụ thể, đối với Hệ 64 quẻ Tiên thiên: -Âm cực của Hệ 64 quẻ gồm có 32 phần tử: "từ -1, -3,-5... cho đến -63". -Dương cực của Hệ 64 quẻ gồm có 32 phần từ: "từ 1,3,5...cho đến 63". -Hệ tọa độ hình tròn với đường kính có giá trị là 64 đơn vị, và 64 cung, gốc tọa độ động là giao điểm giữa chu vi và đường kính ứng với mỗi cung. Trong hệ tọa độ như vậy, thứ tự các giá trị Âm sẽ tạo nên một nửa đường phân cực, thứ tự các giá trị Dương sẽ tạo nên một nữa đường phân cực. Hai đường này liền tiếp nhau và đối xứng nhau qua tâm hình tròn, và tạo nên đường phân cực cho hình tròn. Thực tế, đường phần cực này là kết quả chính, còn sự tô đậm hai cực trong hình tròn chỉ là để mô tả khái quát hệ tọa độ. Hay nói một cách khác, ranh giới làm nên hình dạng mỗi cực, chứ không phải hình dạng mỗi cực làm nên danh giới. Và kết quả, sự phân Âm cực và Dương cực trong Hệ 64 quẻ Tiên thiên có dạng như sau: Hính: đồ hình đường phân cực của Hệ 64 quẻ Tiên thiên Ghi chú: Với hệ tọa độ trên, chu vi hình tròn được bảo toàn với Tứ tượng tiên thiên (quy luật Ngũ hành tương sinh). -Cách 2: (Còn tiếp)
    1 like
  39. Tiểu đề: Tứ linh và Tứ tượng Thưa các học giả và các anh chị, tiểu đề này Rubi nêu ra hàm ý trong Tứ linh, tức là sự liên quan theo mặt mà người ta hay gọi là 'đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu'. Kết quả khái quát, Rubi thấy Tứ tượng là: -Thiếu âm Thuỷ -Thái âm Mộc -Thiếu dương Hoả -Thái dương Kim Đem kết quả này so sánh với Tứ linh, sẽ thấy một sự tương ứng: -Thiếu âm Thủy ứng với Huyền vũ -Thái âm Mộc ứng với Thanh long -Thiếu dương Hỏa ứng với Chu tước -Thái dương Kim ứng với Bạch hổ Có thể thấy rõ rằng -Rùa đen và Phượng hoàng đỏ là NHỎ đối với Rồng xanh và Hổ trắng là LỚN. -Thiếu âm Thủy và Thiếu dương Hỏa là NHỎ đối với Thái âm Mộc và Thái dương Kim là LỚN. -Thủy đối với Hỏa ứng với Thiếu âm đối với Thiếu dương cũng lại ứng với Rùa đối với Hạc (hoặc Phượng hoàng). -Mộc đối với Kim ứng với Thái âm đối với Thái dương, cũng lại ứng với Rồng đối với Hổ. Rồng ứng với Thái âm, lại gọi Rồng là Thanh Long hoàn toàn hợp nghĩa với Thái âm Mộc. Hổ ứng với Thái dương, lại gọi Hổ là Bạch Hổ hoàn toàn hợp nghĩa với Thái dương Kim. Rùa và Hạc cũng có nghĩa lý tương ứng. P/S: Thực tế hay thấy, có những cổ vật bằng đồng, hình tượng là con Hạc tấn trên con Rùa, ở đây, con Hạc có thể tương đồng với Phương hoàng đỏ. Tứ linh có nhiều bộ: -Cá, Rùa. -Phượng, Hạc, Long mã (có vẻ như các linh vật này có khả năng biến hóa như Lửa ?) -Hổ -Rồng Rubi thấy, cổng hai của Đền Ngọc Sơn có một bộ phù điều Tứ linh: -Bên phải của Đền, có một bức phù điêu hai mặt, mặt trước là Hổ, mặt sau là Cá. -Bên trái của Đền, có một bức phù điêu hai mặt, mặt trước là Rồng, mặt sau là Hạc (Cò). Từ đây có thể thấy, hiện tượng trong một bức hoạ, Rồng và Phượng (Hạc; Cò) ghép thành bộ, thành đôi không mang tính chất âm dương sinh khí hay phúc đức mà là Thái âm với Thiếu dương (Thái âm có Cấn và Khôn, Thiếu dương có Ly và Chấn). Thái âm và Thiếu dương đơn thuần với nghĩa là một sự liên tiếp trong chu kỳ biến thiên của Tứ tượng, như Cực âm thì biến, mà biến thì Dương sinh.
    1 like
  40. Tiểu đề: SỰ BẢO TOÀN TỔNG LƯỢNG TUYỆT ĐỐI HAI KHÍ ÂM DƯƠNG TRONG HỆ THỐNG 64 QUẺ TIÊN THIÊN Thưa các học giả và các anh chị, tiếp tục, Rubi nói đến sự bảo toàn tổng các giá trị tuyệt đối của hai khí Âm dương trong hệ thống 64 quẻ tiên thiên. Hệ 64 quẻ tiên thiên, như Rubi đã nói, qui luật trùng quái thành quẻ là dựa trên sự hoạt động theo chu kỳ khí huyết trong 12 đường kinh của nhân thể. Yếu tố này chỉ nếu ra làm lý thuyết liên quan cho tiểu đề này nên Rubi chỉ nói khái quát như vậy. Nội dung chính trong tiểu đề này là nói đến các giá trị sau: Giá trị của mỗi hào theo vị trị của nó trong một quẻ. Giá trị của mỗi quẻ được xác định theo hai loại: "loại thứ nhất là lấy giá trị tuyệt đối của mối hào, sau đó tính tổng các giá trị tuyện đối của 6 hào trong một quẻ thì cho ra giá trị của quẻ đó. Loại thứ hai là để nguyên giá trị âm/dương của mỗi hào, sau đó tính tổng các giá trị của 6 hào trong một quẻ thì cho ra giá trị của quẻ đó. Loại thứ ba là chỉ tính hệ thống các giá trị hào dương hoặc hào âm" Giá trị của mỗi hào theo vị trí của nó trong một quẻ được xác định như sau: Mỗi quẻ gồm hai quái chồng lên nhau (quái dưới là nội quái, quái trên là ngoại quái), mỗi quái lại có 3 hào, vậy mỗi quẻ có 6 hào. Mỗi hào có giá trị theo vị trí của nó trong một quẻ và cụ thể mỗi giá trị này là: -Độ số 01 là giá trị của hào lục (hào trên cùng) -Độ số 02 là giá trị của hào ngũ (hào thứ 5 từ dưới lên) -Độ số 04 là giá trị của hào tứ (hào thứ 4 từ dưới lên) -Độ số 08 là giá trị của hào tam (hào thứ 3 từ dưới lên) -Độ số 16 là giá trị của hào nhị (hào thứ hai từ dưới lên) -Độ số 32 là giá trị của háo sơ (hào dưới cùng) Nếu hào là Âm thì giá trị của nó sẽ độ số âm, nếu hào là Dương thì giá trị của nó sẽ là độ số dương. Giá trị của mối quẻ được xác định theo loại thứ nhất: Lấy tổng các 'giá trị tuyệt đối của mỗi hào' trong một quẻ sẽ được giá trị của quẻ đó. Giá trị này là một hằng số, có độ lớn bằng 64. Và đây là hiện tượng bảo toàn tổng lượng tuyệt đối của hai khí Âm dương trong một quái. Giá trị của mỗi quẻ được xác định theo loại thứ hai: Giữ nguyên giá trị âm/dương của mỗi hào, sau đó tính tổng các giá trị của 6 hào trong một quẻ thì cho ra giá trị của quẻ đó. Giá trị này luôn là một số lẻ. Các quẻ liên tiếp nhau sẽ tạo ra một dẫy số lẻ tằng dần đều hoặc giảm dần đều. Giá trị của mỗi quẻ được xác định theo loại thứ ba: Chỉ tính riêng hệ thống các giá trị hào dương hoặc hào âm trong một quẻ, nên sẽ có hai hệ khác nhau, liên tiếp các giá trị trong mỗi hệ sẽ là dẫy số tăng dần đều hoặc giảm dần đều. Hệ 64 quẻ Tiên thiên Rubi (Còn tiếp) Các giá trị sẽ được tính toán và trình bày cụ thể sau.
    1 like
  41. Thưa các học giả và các anh chị, Rubi xin nói thêm về cách gọi tên khác hơn cho các đối tượng của Âm Dương Ngũ Hành. Như cách gọi tên cho các đối tượng của ADNH đã nói trên thì nó liên quan trực tiếp đến định luật tương sinh của ADNH. Ngoài cách gọi tên như vậy, còn có một cách gọi tên khác, cách gọi tên này không phụ thuộc vào định luật nào của ADNH, cụ thể là: Hành Thuỷ: Số 6 và quái Tốn gọi là Thiếu Âm Thuỷ Số 1 và quái Khảm gọi là Thiếu Dương Thuỷ Hành Hoả: Số 2 và quái Chấn gọi là Thiếu Âm Hoả Số 7 và quái Ly gọi là Thiếu Dương Hoả Hành Mộc: Số 8 và quái Cấn gọi là Thái Âm Mộc Số 3 và quái Khôn gọi là Thái Dương Mộc Hành Kim: Số 4 và quái Đoài gọi là Thái Âm Kim Số 9 và quái Càn gọi là Thái Dương Kim Hành Thổ: Số 10 và nghi Âm gọi là Thái Âm Thổ Số 5 và nghi Dương gọi là Thái Dương Thổ Ưu điểm của cách gọi mới như vậy là không bị phụ thuộc vào sự phân cực của Ngũ Hành, tức là đúng cho mọi trường hợp đối tượng được xác định vị trí trong Ngũ Hành Tương Khắc hoặc Tương Sinh hoặc là bất cứ đứng chung với toàn bộ hay riêng một mình. Nhưng nhược điểm của cách gọi như vậy là không thể hiện được vai trò lớn nhỏ và lớn nhất của các đối tượng trong Ngũ Hành nói riêng. Cũng bởi vì định luật ADNH tương sinh là một định luật quan trọng để thống nhất các cấu trúc của ADNH vì vậy cách gọi tên thứ hai nói trên có vẻ như không đầy đủ với Ngũ Hành và định luật tương sinh của nó.
    1 like
  42. Tiểu Đề-Đông Tứ Tượng và Tây Tứ Tượng Thưa các học giả và anh chi, Rubi có đặt vấn đề như tiểu để trên vì cho rằng tên gọi như hiện nay theo sách vở đã bị đặt nhầm. Sau khi phân tích để trả tên gọi "Đông Tứ Tượng và Tây Tứ Tượng" về đúng vị trí, Rubi cũng sẽ đề cập khái quát tới vấn đề xung hay hợp giữa hai nhóm quẻ đúng hay sai. Xin cảm ơn các đọc giả. Phần I Phải nói ngay rằng: Đông Tứ Tượng là bốn đối tượng thuộc cực âm của Tiên Thiên Bát Quái Rubi, Tây Tứ Tượng là bốn đối tượng thuộc cực dương của Tiên Thiên Bát Quái Rubi. Bốn đối tượng quái thuộc cực âm là Tốn Khảm Cấn Khôn. Theo thứ tự Tốn Khảm Cấn Khôn là quy luật Dương Tiêu Âm Trưởng, trong đó quái Khôn thuộc hành Mộc ứng với hướng Đông và là quái chủ của bốn quái thuộc cực âm. Vì lấy tính chất của quái chủ để đặt tên cho cả nhóm nên gọi là Đông Tứ Tượng. Bốn đối tượng quái thuộc cực dương là Chấn Ly Đoài Càn. Theo thứ tự Chấn Lý Đoài Càn là quy luật Âm Tiêu Dương Trưởng, trdong đó quái Càn thuộc hành Kim ứng với hướng Tây và là quái chủ của bốn quái thuộc cức dương. Vì lấy tính chất của quái chủ để đặt tên cho cả nhóm nên gọi là Tây Tứ Tượng. Như vậy thì nhóm bốn quái Tốn Khảm Chấn Ly và nhóm bốn quái Cấn Khôn Đoài Càn lại chưa có tên mới thay thế. Rubi cũng chưa có căn cứ để đặt tên chính xác cho hai nhóm này nhưng có thể nhận khái quát về quan hệ giữa các quái trong một nhóm như đang dùng là có lý hay không. Phần II Vì là khái quát nên Rubi có ý phát kiến các yếu tố như sau: - 1 và 2 là nguyên lý cho tên gọi Dương Thiếu Âm Thủy và Âm Thiếu Dương Hoả, đặc biệt , 1 và 2 là Thiếu đối với 3 và 4 là Thái. Số cuối cùng là 5 và là nguyên lý cho tên gọi Dương Thái Cực Thổ, Cực với nghĩa là số cuối cùng theo thứ tự 12345, Thái với nghĩa là số lớn, số cuối cùng là số lớn nhất nên gọi nó là Thái Cực. - 3 và 4 là nguyên lý cho tên gọi Dương Thái Âm Mộc và Âm Thái Dương Kim. 3 và 4 là Thái đối với 1 và 2 là Thiếu. - 6 và 7 là nguyên lý cho tên gọi Âm Thiếu Âm Thủy và Dương Thiếu Dương Hỏa. 6 và 7 là Thiếu đối với 8 và 9 là Thái. Số cuối cùng là 10 và là nguyên lý cho tên gọi Âm Thái Cực Thổ, Cực với nghĩa là số cuối cùng theo thứ tự 678910, Thái với nghĩa là số lớ, số cuối cùng là số lớn nhất nên gọi nó là Thái Cực. - 8 và 9 là nguyên lý cho tên gọi Âm Thái Âm Mộc và Dương Thái Dương Kim. 8 và 9 là Thái đối với 6 và 7 là Thiếu. Nguyên lý đặt tên cho Âm Dương Ngũ Hành, cụ thể là các tên Thái Dương Kim, Thiếu Dương Hoả, Thiếu Âm Thủy, Thái Âm Mộc và Thái Cực Thổ được đặt dựa trên độ lớn nhỏ và lớn nhất của Âm Dương Ngũ Hành được cụ thể hóa bằng Cấu Trúc Số. Hợp nhất Tượng Số theo quy tắc Âm Dương Ngũ Hành tương ứng thì có kết quả: Nhóm thứ nhất-Tứ Tượng của Thiếu Âm và Thiếu Dương - 1 và 6, Khảm và Tốn ứng với Thiếu Âm - 2 và 7, Chấn và Ly ứng với Thiếu Dương Thiếu Âm hợp với Thiều Dương ấy là tính chất đồng lứa và ngũ hành Tương Vũ (Tam Biến Phúc Đức), Âm Dương hợp với nhau theo tính chất đồng hành (Thượng Biến Sinh Khí). Nhóm thứ hai-Tứ Tượng của Thái Âm và Thái Dương - 3 và 8, Khôn và Cấn ứng với Thái Âm - 4 và 9, Đoài và Càn ứng với Thái Dương Thái Âm hợp với Thái Dương ấy là tính chất đồng lứa và ngũ hành Tương Vũ (Tam Biến Phúc Đức), Âm Dương hợp với nhau theo tính chất đồng hành (Thượng Biến Sinh Khí). Như vậy thì có thể thấy được khái quát các đối tượng hợp với nhau theo tính chất được xác định bằng các nguyên lý căn bản.
    1 like
  43. Tiểu Đề-Biểu tượng và ký hiệu Âm Dương Hôm nay Rubi đang có một chút chút phải xác định về một ký hiệu, tiện thể đang nói đến vấn đề Phủ Tạng trong Đông Y cho nên phải tư duy để tìm xét xem Biểu tượng và Ký hiệu Âm Dương cụ thể là như thế nào. Cho nên kết quả suy nghĩ cũng cảm hứng viết ra để làm tài liệu. Ký hiệu thông thường về Hào thì: -Vạch liền là ký hiệu của Dương -Vạch đứt là ký hiệu của Âm Đó là một yếu tố. -Chấm đặc là ký hiệu của Dương -Chấm rỗng là ký hiệu của Âm Đây là yếu tố thứ hai, Rubi tự xác định, nhưng không biết trong sách hiện nay có khác gì không. Nội là bên trong Ngoại là bên ngoài Tạng là cái kho Phủ là cái hàng rào :D bao quanh kho Vậy nếu xác định: Nội Tạng là Dương Ngoại Phủ là Âm Vậy thì có tương đồng với ký hiệu Vạch Âm Dương Không ? Có. Bên trong mà có chứa đồ, có vật thì tức là bên trong đặc. Nội Tạng là cái kho có chứa đồ bên trong và cũng là cái kho bên trong hàng rào điều này đồng nghĩa với việc xác định Vạch liền là Dương hay Chấm đặc là Dương. Bên trong mà rỗng thì đối tượng đó là thành, là hàng rào bao quanh bảo vệ điều này đồng nghĩa với việc xác định Vạch đứt là Âm hay Chấm rỗng là Âm. Trong Đông Y, việc xác định tính chất Kinh là Âm hay Dương cũng căn cứ vào yếu tố trong ngoài. Kinh nằm mé bên trong cách tay thì đó là Kinh Âm, Kinh nằm bên mé ngoài cách tay đó là Kinh Dương, yếu tố trực tiếp như vậy thì có vẻ mâu thuẫn với việc thống nhất về ký hiệu cho Âm Dương. Cứ theo sự thống nhất như trình bày trên thì việc xác định chỉnh lý tính chất Âm Dương của các đường Kinh không hề khó: -Vì Kinh nằm bên mé trong cách tay nên gọi nó là Kinh Dương, đồng thời các kinh đó liên quan trực tiếp đến một bộ phận nhất định của cơ thể nên gọi cơ quan đó là Tạng. -Vì Kinh nằn bên mé ngoài cách tay nên gọi nó là Kinh Âm, đồng thời các kinh đó liên quan trực tiếp đến một bộ phận nhất định của cơ thể nên gọi cơ quan đó là Phủ.
    1 like
  44. Tiểu Đề-Tên của Bát Quái gọi theo tính chất Âm Dương Ngũ Hành: Dương Thiếu Âm Thủy là Quái Khảm Âm Thiếu Âm Thủy là Quái Tốn Dương Thiếu Dương Hỏa là Quái Ly Âm Thiếu Dương Hỏa là Quái Chấn Dương Thái Âm Mộc là Quái Khôn Âm Thái Âm Mộc là Quái Cấn Dương Thái Dương Kim là Quái Càn Âm Thái Dương Kim là Quái Đoài Phải thêm hai tên nữa thì mới đủ bộ của Âm Dương Ngũ Hành, đó là: Dương Thái Cực Thổ là Nghi Dương Âm Thái Cực Thổ là Nghi Âm :(
    1 like
  45. Tiểu Đề-Dương Giáng Âm Thăng Thưa các học giả và các anh chị, tiểu đề này Rubi nói đến yếu tố Dương Giáng Âm Thăng. Hiện tại, Rubi thấy có hai sự Dương Giáng Âm Thăng trong Hà Đồ. Thứ nhất là sự Dương Giáng Âm Thăng trong Cực Âm và Cực Dương trong không gian Ngũ Hành Tương Sinh của Hà Đồ. Thứ hai là sự Dương Giáng Âm Thăng tác động giữa hai Cực Âm và Dương. Trước hết phải nói đến một yếu tố khái quát là: Lý luận về Âm Dương Ngũ Hành vẫn phải có, đồng thời lời nói không nói hết được ý nghĩa của Âm Dương Ngũ Hành nên phải đặt ra Tượng và Số để nói hết ý nghĩa cơ bản của Âm Dương Ngũ Hành. Hay nói một cách khác, Tượng và Số là những nguyên lý cốt tủy của Âm Dương Ngũ Hành vì vậy những quy luật và hiện tượng biểu hiện trong Tượng và Số thì đó đều là những nguyên lý cơ bản biểu hiện đặc tính của Âm Dương Ngũ Hành. Trở lại chủ đề Dương Giáng Âm Thăng, nội dung này sẽ dẫn đến kết quả xác định vị trí trên dưới phải trái trong không gian Ngũ Hành Tương Sinh của Hà Đồ. Hợp nhất Tượng và Số theo quy tắc Âm Dương Ngũ Hành tương ứng trong không gian Âm Dương Ngũ Hành tương sinh của Hà Đồ, và xác định các hệ cực trong không gian này. Có hai hệ cực trong không gian Âm Dương Ngũ Hành tương sinh, đó là: -Hệ phân cực thứ nhất là Kim và Thủy tạo thành một cực, đối lập có Mộc và Hỏa tạo thành một cực. Hệ phân cực này khác với hệ phân cực Âm Dương. -Hệ phân cực thứ hai là Cực Âm có Thủy và Mộc, Cực Dương có Hỏa và Kim. Đối với hệ phân cực thứ nhất, Kim sinh Thủy là nguyên lý Âm Thăng theo quỹ đạo Ngũ Hành tương sinh, đối tượng Âm là Hành Thuỷ, Hành Thủy đã Thăng được lên trên; Mộc sinh Hỏa là nguyên lý Dương Giáng theo quỹ đạo Ngũ Hành tương sinh, đối tượng Dương là Hành Hoả, Hành Hỏa đã Giáng được xuống dưới. Đối với hệ phân cực thứ hai là Cực Âm và Cực Dương của Ngũ Hành, ở Cực Âm thứ tự 6,1,8,3 hay Tốn, Khảm, Cấn, Khôn là chiều Dương Tiêu Âm Trưởng của Cực Âm cũng là chiều Âm Thăng theo quỹ đạo của Đại Chu Thiên trong nhân thể; ở Cực Dương thứ tự 9,4,7,2 hay Càn, Đoài, Ly, Chấn là quỹ đạo của Đại Chu Thiên trong nhân thể, chiều này ngược chiều với sự Âm Tiêu Dương Trưởng của chính Cực Dương và đó chính là hiện tượng Khí Dương đi xuống, giáng xuống. Trên đây là hai hiện tượng Dương Giáng Âm Thăng trong không gian Âm Dương Ngũ Hành tương sinh. Đối với hệ phân cực thứ nhất, biểu hiện sự Dương đã Giáng được và Âm đã Thăng được. Đối với hệ phân cực thứ hai, biểu hiện khí Dương giáng trong cực Dương và khí Âm thăng trong cực Âm. Từ hệ phân cực thứ nhất tức là Kim sinh Thủy đối với Mộc sinh Hoả, nguyên lý Dương Giáng Âm Thăng cũng là yếu tố xác định đối tượng Âm có vị trí ở trên, đối tượng Dương có vị trí ở dưới, cụ thể tức là Thủy ở trên ứng với phương Bắc, Hỏa ở dưới ứng với phương Nam. Tiểu đề này Rubi thiếu phần xác định phải trái cho Kim và Mộc.
    1 like
  46. TIỂU ĐỀ-SỐ NGŨ HÀNH VÀ SỐ ÂM DƯƠNG Thay lời: Trong quan niệm của "chúng ta" về Số, Rubi thấy có một quan niệm coi trọng những con Số Lẻ. Và (hình như) "chúng ta" cho rằng đó là số Sinh. Rubi có phát kiến mới về ý nghĩa của những con Số Lẻ, đó là Số Lẻ liên quan trực tiếp đến Ngũ Hành và Số Ngũ Hành sinh ra hai số là Số Âm và Số Dương. Sau đây là nội dụng chi tiết,...Rubi cảm ơn đọc giả đã theo dõi tiểu đề này. Phần I a_Số lẻ là số Sinh Số Sinh là số tổng của hai số mà hai số này được coi là cặp Số Âm Dương . b_Cặp Số Âm Dương Hai số được coi là Âm Dương của nhau khi số này là Số Lẻ thì số còn lại là Số Chẵn và đồng thời cặp số Âm Dương hơn hoặc kém nhau 5 đơn vị. Trong trường hợp Số Âm hoặc Số Dương lớn hơn 10 thì thực hiện phép mô-đun 10 (modulo 10). c_Số thuộc Cực Âm và Số thuộc Cực Dương Trong một cặp Số Âm Dương, nếu Số Âm lớn hơn Số Dương thì cặp số này là cặp Số Âm Dương thuộc Cực Âm, nếu Số Dương lớn hơn Số Âm thì cặp số này là cặp Số Âm Dương thuộc Cực Dương. Nhận định: Có thể coi các nội dung trên là những định lý. Và ngay tiếp đây là phải nêu ra cách xác định cặp Số Âm Dương của một đối tượng Số Lẻ bất kỳ. Xác định cặp Số Âm Dương của một đối tượng Số Lẻ Ví Dụ 1: Tìm cặp Số Âm Dương của số 19 Giải: Bước 1 Các cặp số có tổng là 19 là những cặp số sau: 19=(1+18)=(2+17)=(3+16)=(4+15)=(5+14)=(6+13)=(7+12)=(8+11)=(9+10) Theo định lý về Cặp Số Âm Dương thì cặp số 7 và 12 là Cặp Số Âm Dương của Sổ 19 Bước 2 Thực hiện mô-đun số học để tìm cặp Số Âm Dương gốc, của 19 7modulo 10=7 12modulo 10=2 Cách tính nhanh: S-5=C D=(5+C/2) modulo10 A=(C/2) modulo10 Ghi chú: S là Số Lẻ bất kỳ D là Số Dương A là Số Âm Phần II Số Sinh và Số Âm Dương trong Cấu Trúc Số Cấu Trúc Số có đầy đủ 10 đối tượng ứng với Âm Dương Ngũ Hành là: 6 và 1 là Âm Dương của Hành Thủy 8 và 3 là Âm Dương của Hành Mộc 2 và 7 là Âm Dương của Hành Hỏa 4 và 9 là Âm Dương của Hành Kim 10 và 5 là Âm Dương của Hành Thổ Từ đó suy ra: Số Sinh của Hành Thủy là 6+1=7 Số Sinh của Hành Mộc là 8+3=11 Số Sinh của Hành Hỏa là 2+7=9 Số Sinh của Hành Kim là 4+9=13 Số Sinh của Hành Thổ là 10+5=15 Ngũ Hành và Số của Ngũ Hành Khái niệm Ngũ Hành được giới hạn như sau: Thái Cực là Hành Thổ Thái Dương là Hành Kim Thiếu Dương là Hành Hỏa Thiếu Âm là Hành Thủy Thái Âm là Hành Mộc Từ đó suy ra: 07 là độ số của Thiếu Âm Thủy 09 là độ số của Thiếu Dương Hỏa 11 là độ số của Thái Âm Mộc 13 là độ số của Thái Dương Kim 15 là độ số của Thái Cực Thổ Nhận xét: Số của Ngũ Hành là năm Số Sinh liên tiếp nhau. Phân cực trong Ngũ Hành Sự phân cực trong Ngũ Hành cũng là một khái niệm cần nêu ra cụ thể. Ngũ Hành chia làm 2 phần, phần thứ nhất là Trung Cực, phần thứ hai là Cực Dương và Cực Âm. Thái Cực có tính chất xác định là Hành Thổ và có vai trò là Trung Cực trong Ngũ Hành. Phần còn lại của Ngũ Hành là Tứ Tượng. Tứ Tượng phân thành hai cực là Cực Dương và Cực Âm, trong Ngũ Hành. Trong Cấu Trúc Tượng, có tiền đề "Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái" là một yếu tố trực tiếp để diễn giải sự hình thành Ngũ Hành và sự phân cực trong Ngũ Hành. Kết quả diễn giải, Rubi tạm nêu ra như sau: Thiếu Âm Thủy là giai đoạn đầu của Cực Âm Thái Âm Mộc là giai đoạn sau của Cực Âm Thiếu Dương Hỏa là giai đoạn đầu của Cực Dương Thái Dương Kim là giai đoạn sau của Cực Dương. Tức là: Thiếu Âm Thủy và Thái Âm Mộc thuộc Cực Âm. Thiếu Dương Hỏa và Thái Dương Kim thuộc Cực Dương. Kết quả diễn giải này tương ứng với yếu tố gián tiếp trong Cấu Trúc Số, đó là: 07 là độ số của Thiếu Âm Thủy. Thiếu Âm Thủy sinh ra Âm Thủy và Dương Thủy, Âm Thủy có độ số là 6, Dương Thủy có độ số là 1. 11 là độ số của Thái Âm Mộc. Thái Âm Mộc sinh ra Âm Mộc và Dương Mộc, Âm Mộc có độ số là 8, Dương Mộc có độ số là 3. Xét về độ số, hai hành Thủy và Mộc cùng cóđộ số Âm lớn hơn độ số Dương. Tức là 6 lớn hơn 1, và 8 lớn hơn 3. 09 là độ số của Thiếu Dương Hỏa. Thiếu Dương Hỏa sinh ra Âm Hỏa và Dương Hỏa, Dương Hỏa có độ số là 7, Âm Hỏa có độ số là 2. 13 là độ số của Thái Dương Kim. Thái Dương Kim sinh ra Âm Kim và Dương Kim, Dương Kim có độ số là 9, Âm Kim có độ số là 4. Xét về độ số, hai hành Hỏa và Kim cùng có độ số Dương lớn hơn độ số Âm. Tức là 7 lớn hơn 2, và 9 lớn hơn 4. Nhận xét tổng quát: ...
    1 like
  47. TIỂU ĐỀ VỀ CẤU TRÚC SỐ I-NHẮC LẠI II-DƯƠNG LẺ ÂM CHẴN (phần chính) TRIẾT HỌC ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH PHẦN 1-CÁC NGUYÊN LÝ CỦA CÁC CẤU TRÚC CƠ BẢN I-NHẮC LẠI Triết học Âm dương Ngũ hành là một hệ lý thuyết đa cấu trúc. Mỗi một cấu trúc là một tập hợp đầy đủ các đối tượng kết hợp với nhau đúng theo nguyên lý Âm dương Ngũ hành. Tính chất Âm dương Ngũ hành của một đối tượng (trong một cấu trúc) được xác định đồng thời 2 yếu tố là tính chất Âm dương và tính chất Ngũ hành, tức là: một đối tượng được xác định tính chất là Âm (hoặc Dương) thì nhất thiết phải có cả tính chất xác định trong Ngũ hành, và ngược lại, một đối tượng được xác định tính chất trong Ngũ hành thì nhất định phải có tính chất xác định là Âm (hoặc Dương). D-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành cơ bản trong cấu trúc số 1-Tiền đề Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Thiên nhất sinh Thuỷ, Địa lục thành chi Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi Trời lấy số 1 mà khởi sinh hành Thuỷ, Đất lấy số 6 mà tạo thành hành Thuỷ. Đất lấy số 2 mà khởi sinh hành Hỏa, Trời lấy số 7 mà tạo thành hành Hỏa. Trời lấy số 3 mà khởi sinh hành Mộc, Đất lấy số 8 mà tạo thành hành Mộc. Đất lấy số 4 mà khởi sinh hành Kim, Trời lấy số 9 mà tạo thành hành Kim. Trời lấy số 5 mà khởi sinh hành Thổ, Đất lấy số 10 mà tạo thành hành Thổ. Các số lẻ 1,3,5,7,9 gọi là số của Trời, số Dương hay số Cơ, trong đó 1,3,5 là số Sinh của Trời, 7,9 gọi là số Thành của Trời. Các số chẵn 2,4,6,8,10 gọi là số của Đất, số Âm hay số Ngẫu, trong đó 2,4 gọi là số Sinh của Đất, còn 6,8,10 gọi là số Thành của Đất. 2-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Số 1 có tính chất là Dương thủy, số 6 có tính chất là Âm thuỷ. Số 2 có tính chất là Âm hỏa, số 7 có tính chất là Dương hỏa. Số 3 có tính chất là Dương mộc, số 8 có tính chất là Âm mộc. Số 4 có tính chất là Âm kim, số 9 có tính chất là Dương kim. Số 5 có tính chất là Dương thổ, số 10 có tính chất là Âm thổ. 3-Hệ quả Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Theo luật Ngũ hành sinh, khắc hệ thập phân trong cấu trúc số được sắp xếp thành 2 đồ hình Hà đồ và Lạc thư. Hình Hà đồ và Lạc thư Hình 3. Ngũ hành sinh, khắc Luật Ngũ hành tương sinh là nguyên lý của đồ hình 9 cung Hà đồ: Kim sinh Thuỷ Thuỷ sinh Mộc Mộc sinh Hoả Hoả sinh Thổ Thổ sinh Kim Hình 4. 9 cung Hà đồ Luật Ngũ hành tương khắc là nguyên lý của đồ hình 9 cung Lạc thư: Kim khắc Mộc Mộc khắc Thổ Thổ khắc Thủy Thủy khắc Hỏa Hỏa khắc Kim Hình 5. 9 cung Lạc thư II-TIỂU ĐỀ DƯƠNG LẺ ÂM CHẴN Thưa các học giả, có lần Rubi thấy có học giả nào đó có ý chứng minh một tiểu đề với nội dung thay đổi như sau: Dương Chẵn, Âm Lẻ. Thật ra thay đổi như vậy rồi chứng minh thì cũng có một vài yếu tố tưởng như có triển vọng khám phá thành công, nhưng không phải vậy. Có chăng chứng minh được "phát kiến" đó thì cũng chỉ tiến hành được một số bước dựa trên một vài trong vô số tính ngẫu nhiên của những nguyên lý căn bản. Hôm rồi Rubi xem bài của chú Thiên Sứ nói về hai bức tranh Đông Hồ, sau một khoảng thời gian khoảng độ một tuần lễ, Rubi ngồi nhìn vào hình Bát Quái Tiên Thiên (mới) rồi bỗng nhiên có ý thấy được cách khám phá hai bức tranh Đông Hồ ấy để chứng minh tiền đề Dương Lẻ, Âm Chẵn. Chú ý thêm là, Khải quát để dễ hiểu hơn, trước hết trong môi trường phân cực Âm và Dương (Thái Cực-Hệ Thập Phân Hà Lạc), mỗi cực có đầy đủ một số đối tượng. Trong cách đặt vấn đề Dương Lẻ, Âm Chẵn, tức là nói đến sự xác định chi tiết và cụ thể về tính chất cho một đối tượng. Và trong tiểu đề này không đề cập đến đối tương đó thuộc cực âm hay cực dương, nhưng về nội dung, thực chất nó vẫn logic với nguyên lý xác định đối tượng đó là của cực Âm hoặc cực Dương. Tóm lại, một đối tượng sẽ phải có hai yếu tố cơ bản là: Thứ nhất: đối tượng đó là một trong các đối tượng của Cực Âm hoặc Cực Dương. Thứ hai: đối tượng đó có tính chất Âm Dương Ngũ Hành cụ thể như thế nào. Đây là vần đề chủ yếu của bài viết này, nhưng trong khuổn khổ khám phá nguyên lý làm sao số Lẻ là Dương, làm sao số Chẵn là Âm. Khởi đầu, dựa trên nguyên lý Âm sinh, Dương trưởng. Âm sinh, Dương trưởng là khái niệm dành riêng cho sự phát triển của các đối tượng được coi là Cơ Thể Sống. Thứ tự Âm sinh rồi đến Dương trưởng liền tiếp nhau này ngược với thứ tự liên tiếp Dương rồi đến Âm của Thiên Can và Địa Chi. Tức là: Sự phát triển của Cơ Thể theo thứ tự Âm rồi đến Dương. Sự quy định tọa độ thời gian thì theo thứ tự Dương rồi đến Âm. Thế nào là Âm rồi đến Dương: 6 đến 1, 8 đến 3, 2 đến 7, 4 đến 9 là Âm rồi đến Dương. Thế nào là Dương rồi đến Âm: Tý đến Sửu, Dần đến Mão, Thìn đến Tỵ,..Tuất đến Hợi và/hoặc Giáp đến Ất, Bính đến Đinh, Mậu đến Kỷ...Nhâm đến Quý là Dương rồi đến Âm. Và có thể nói một cách khác Thời gian (Không thời gian-Thiên Can, Địa Chi) tạm gọi đó không phải là một đối tượng như là Cơ Thể Sống. Không Thời Gian là một Cực, thì đối tượng phát triển trong ấy lại là một đối cực của Không Thời Gian. Có lẽ chính thế mà Không Thời Gian thì được xác định theo thứ tự so le từng cặp từ Dương rồi đến Âm, còn đối tượng trong Không Thời Gian là một (các) đối tượng sống, một cơ thể sống và phát triển theo tiến trình từng cặp giai đoạn từ Âm rồi đến Dương. Âm sinh Dương trưởng là một cách đặt định cho tiến trình phát triển theo từng giai đoạn của một cơ thể sống. Có thể khẳng định ngay như vậy. Vậy bước thứ nhất là hiểu về cách đặt định Âm Sinh Dương Trưởng với các yếu tố liên quan. Tiếp theo là liên hệ nguyên lý Âm Sinh Dương Trưởng của Cơ Thể Sống tới nội dung hai bức tranh dân gian Đông Hồ. Đó là Bức Tranh Đàn Lợn và Đàn Cá. Tất nhiên, điều thú vị là Lợn và Cá là động vật, là cơ thể sống. Tranh Dân Gian Đông Hồ-Đàn Lợn Âm Sinh là giai đoạn Thai Sinh, chỉ chung cho cả đối tượng sinh và đối tượng được sinh ra. Đối tượng sinh trong bức tranh này là Lợn Mẹ, các đối tượng được sinh ra là 5 Chú Lợn Con. Tiếp theo Âm Sinh là Dương Trưởng. Thì ở đây Lơn Mẹ là đối tượng Dương Trưởng, đối tượng đã lớn mạnh nên mang tính Dương. Và thấy ngay rằng: Âm Sinh liên hệ với số 6 (1 mẹ với 5 con) là số C.hẵn. Dương Trưởng liên hệ với số 1 (Lợn Mẹ) là số Lẻ. Từ đó có thể thấy được rằng 1,3,5,7,9 là các số Lẻ được đặt định là đối tượng Dương. Các số 2,4,6,8,10 là các số Chẵn được đặt định là đối tượng Âm. Tranh Dân Gian Đông Hồ-Đàn Cá Có khả năng bài viết này sẽ được phát triển thêm. Đây là lần viết đầu tiên về nội dung đề cập, Rubi cảm ơn các đọc giả đã theo dõi. p/s: Như vậy thứ tự Dương đến Âm của cấu trúc số 1,2,3,4,5,6,7,8,9 là ứng với thời gian, cho nên khi nạp thời gian vào Hà Đồ và/hoặc Lạc Thư thì phải theo thứ tự này.
    1 like