• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content on 24/08/2012 in all areas

  1. ======================Việc bầu Kiên vay zdốn có thể coi là "Chuyện cổ tích thời hiện đại". Số cái sự tích đó nó như thế này: Có một anh chàng nông dân thông minh đến nhà một trọc phú với số tiền đủ mua một con vịt. Gã trọc phú ra giá 5 đồng. Anh chàng đồng ý. Gã trọc phú đưa anh chàng con vịt. Anh chàng này nói: - Bây giờ tôi đưa ông 5 đồng và cả con vịt này ông bán cho tôi con ngỗng chứ? - Oh! Đồng ý. Gã trọc phú đưa cho anh nông dân con ngỗng. - Bây giờ tôi đưa ông 5 đồng, con vịt và cả con ngỗng này , ông bán cho tôi con bê chứ! - Oh! Anh quả là người tốt bụng! Với giá đó, tôi đồng ý bán cho anh con bê tốt nhất của tôi. - Bây giờ tôi đưa ông tất cả bê, ngỗng, vịt và 5 đồng , ông bán cho tôi con bò tơ kia nhá! - Oh! Sao lại có người mua giá cao thế nhỉ? Ông cứ tự nhiên dắt con bò về. Anh nông dân dắt con bò về , trong khi gã trọc phú lẩm bẩm: Sao lại có thằng dở hơi thế nhỉ? Nó đổi cả đống của chỉ lấy có mỗi con bò! Ấy là chuyện tôi xem hồi còn nhỏ của Nxb Kim Đồng. Những câu chuyện như vậy luôn đề cao anh nông dân thông minh và bọn nhà giàu bủn xin và dốt nát.
    4 likes
  2. Sáu vị Sứ Giả của Địa Tạng: Địa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ nói : “ Sáu vị Sứ Giả của Địa Tạng Tôn là: 1_ Diễm Ma Sứ Giả (Yàma-cetïa): hóa độ Địa Ngục 2_ Trì Bảo Đồng Tử (Ratna-dhàra-kumàra): hóa độ Ngạ Quỷ 3_ Đại Lực Sứ Giả (Mahà-bala-cetïa): hóa độ súc sinh 4_ Đại Từ Thiên Nữ (Mahà-maitreya-devì): hóa độ Tu La 5_ Bảo Tạng Thiên Nữ (Ratna-garbha-devì): hóa độ loài người 6_ Nhiếp Thiên Sứ Giả (Pratigrahadeva-cetïa): hóa độ chư Thiên Nghi Quỹ niệm tụng này, tuy chẳng do ngài Bất Không dịch. Xong cùng với nhóm Diên Mệnh Địa Tạng Kinh, Liên Hoa Tam Muội Kinh đều là Bản thuộc Nghi Tự Bộ. Tại Tây Tạng, khoảng Thế Kỷ thứ 8, do sự phát triển của Mật Giáo nên Địa Tạng Bồ Tát được minh họa trong các bức tranh và các Mạn Đà La (Manïdïala) như là một trong tám vị Bồ Tát vây quanh Đức Phật, biểu thị cho ý nguyện Từ Bi vĩ đại là: “Địa Ngục chưa trống rỗng Thề Nguyện chẳng thành Phật Khi độ hết chúng sinh Mới chứng đắc Bồ Đề” Ngoài ra Phật Giáo Tây Tạng cũng nhận định Địa Tạng Bồ Tát là một trong các Bản Tôn Tài Bảo
    4 likes
  3. VIỆT SỬ 5000 NĂM VĂN HIẾN VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG Tiếp theo VIỆT SỬ 5000 NĂM VĂN HIẾN VÀ BIỂN ĐÔNG Còn tiếp Việt sử 5000 văn hiến và Biển Đông. Cho đến hôm nay thì mọi việc đã quá rõ ràng. Dù tôi không viết những bài viết này, mọi người cũng nhìn thấy rõ những gì đã xảy và đang xảy ra. Hoa Kỳ đang chuẩn bị cho mục đích xác định ngôi vị bá chú thế giới ở phía Tây Thái Bình Dương, mà sự bành trường vô lý của Trung Quốc ở biển Đông chỉ là nguyên nhân trực tiếp. Những gì mà tôi xác định trong những bài viết thuộc topic này từ 2008 đã chứng nghiệm. Bới vậy bài viết này chỉ có giá trị khi nó phân tích một cách hợp lý và xác định được những gì sẽ xảy ra với khả năng khắc phục của con người. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tôi gắn liền Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề biển Đông. Nếu tôi chỉ thể hiện ở đoạn trích dẫn trên thì sẽ rất khó hiểu vì mối liên hệ giữa Việt sử 5000 năm văn hiến và những diễn biến phức tạp ở vùng lãnh hải này. Nó có vẻ không liên quan đến nhau. Nhưng nó liên quan chặt chẽ đấy. Không có vấn đề này thì không có hiện tượng kia. Đấy là mối liên hệ logic và hoàn toàn khách quan. Nếu như việc gắn liền Việt sử 5000 năm văn hiến với lý thuyết thống nhất vũ trụ là việc có thể giải thích được. Vì không thể có một lý thuyết từ trên trời rơi xuống. Nó phải có lịch sử của nó. Khi diễn đạt và chứng minh một hệ thống lý thuyết thống nhất sẽ thiếu tính logic, nếu không chứng minh được lịch sử của nó. Lịch sử của nó không phải của Trung quốc. Điều này đã quá rõ ràng. Bởi vậy, tôi phải xác định và chứng minh nó của Việt Nam. Đó là mối liên hệ bắt buộc và hoàn toàn khách quan giữa Việt sử 5000 năm văn hiến và lý thuyết thống nhất vũ trụ. Sự phát triển của tri thức khoa học hàng đầu thế giới đã bế tắc. Điều này tôi tin rằng những nhà khoa học hàng đầu, tầm cỡ G.s Trịnh Xuân Thuận trở lên đều có thể nhận thấy điều này. Không có lý thuyết thống nhất thì dù cho thế giới này thống nhất trong một quyền lực toàn cầu dưới bất cứ hình thức nào và sự hội nhập hoàn toàn của nền kinh tế giữa các quốc gia, nó cũng sẽ rối loạn và ...sụp đổ. Điều này giống như trong một quốc gia không có hình thái ý thức xã hội vậy (Luật pháp, đạo đức và những chuẩn mực xã hội khác). Trạng chết Chúa cũng thăng hà. Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn. Việt sử "ở trần đóng khố" thì cái thế giới này cũng te tua, chính bởi mối liên hệ phức tạp của nó. Tôi có thể xác định rằng: Cả một câu chuyện dân gian Việt Nam - Truyện Trạng Quỳnh - chỉ để chuyển tải hai câu ca dao mang màu sắc tiên tri này. Nhưng chuyện này xa xôi quá. Phải đợi đến khi sự hội nhập toàn cầu hoàn tất và xác định nó thống nhất dưới mô hình nào đã. Vậy thì Việt sử 5000 năm văn hiến liên quan gì đến biển Đông? Việt sử và sự liên hệ tới một lý thuyết thống nhất là chuyện mà tôi đã giải thích ở trên. Nó cũng không đụng chạm đến ai. Nó "pha học" và "khách wan". Nói theo ngôn ngữ bình dân hiện đại là nó chẳng làm chết thằng Tây nào. Nhưng việc nó liên quan thế nào đến biển Đông thì là một câu chuyện dễ giải thích hơn nhiều. Nhưng nó lại là cái mà người ta cũng hay nói là "chuyện tế nhị và nhạy cảm". Chẳng phải ngẫu nhiên mà câu truyện cội nguồn Việt sử thời Hùng Vương - chỉ khoảng 300 năm "ở trần đóng khố", nó lại vênh váo lên ngôi vào đúng dịp Liên bang Công Hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết sụp đổ và nó manh nha có hệ thống từ sau cuộc nhậu ở Tử Cấm thành. Nó nhân danh "pha học", một thứ pha học "rởm", nhưng nó được PR là "cộng đồng pha học thế giới công nhận". Tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước chính thống và quốc tế đều tung hê lên một bản đồng ca một chiều là "Thời Hùng Vương là một liên minh bộ lạc" với những người dân "ở trần đóng khố". Chỉ một tý "dân chủ" - dù là hình thức và mang nhãn hiệu khoa học với thông tin hai chiều là có một chỗ cho những bài viết phản biện cũng không có trên các phương tiện thông tin trên cái thế giới khốn khổ này. Nói một cách hình ảnh có phần chua chất là: Không có trên "hầu hết những phương tiện thông tin trong nước" và cả "cộng đồng thông tin quốc tế", chí ít một hai bài phản biện sự phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt - để có một tý gọi là "thông tin hai chiều", một tý gọi là màu mè của tính gọi là "khách wan, pha học". Gần đây, rộ lên những bài viết trên một số blog và mạng gọi là "lề trái" cũng chẳng thấy ma nào nhắc đến Việt sử 5000 năm văn hiến, ngoại trừ những bài viết thể hiện le lói sự phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt với vài gương mặt quen thuộc (Chuyện này đã đưa lên topic nào đó trên diễn đàn). Qua đó, cũng thấy rằng vấn đề Việt sử 5000 năm văn hiến nó tế nhị và nhạy cảm thế nào với các mối liên hệ tương quan. Tất nhiên, khi tôi viết đến đây thì chắc cũng chưa thuyết phục lắm mối liên hệ giữa Việt sử 5000 năm văn hiến với các vấn đề phức tạp ở biển Đông như thế nào. Nhưng tôi hy vọng rằng những ai xem bài viết này, có thể cảm nhận được điều đó. Nhưng một vấn đề rất dễ nhận thấy về mối liên quan giữa Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề biển Đông là; Các nhà lý luận Trung Quốc xác định về mặt lịch sử rằng: "Biển Đông thuộc Trung Quốc vốn có lịch sử từ thời Tần Hán". Và họ cũng ra rả cho rằng: Việt tộc vốn thuộc về Trung Quốc và các quan lại Hán đã từng cai trị dân tộc Việt trải hàng ngàn năm. Điều này tôi không cần phải dẫn chứng. Nó đầy ra ở trên mạng - kể các báo gọi là "lề trái", "lề phải" và "ngoài lề" . Với lập luận này thì chắc chắc các bạn đang đọc bài viết này nhận thấy ngay rằng: Việt Sử 5000 văn hiến sẽ bác bỏ điều này. Bởi vì, khi xác định và công nhận Việt sử 5000 văn hiến, một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương Tử thì Biển Đông - trước Tần Hán - không thể thuộc về Trung Quốc. Mà chắc chắn nó thuộc về người Việt trong lịch sử, hoặc chí ít nó thuộc vùng ảnh hưởng của người Việt. Tất nhiên - với diễn biến hợp lý của lịch sử - thì khi người Việt hưng quốc vào thế kỷ thứ X sau công nguyên, đương nhiên tất cả các vùng lãnh thổ nào thuộc về người Việt giành lại được sẽ thuộc về người Việt - trong đó có biển Đông. Đương nhiên, chính quyền Trung Quốc và cả Đài Loan sẽ chẳng có cơ sở lịch sử nào để phán "Biển Đông có từ thời Tần Hán" cả. Và cũng đương nhiên, họ cũng chẳng có cơ sở nào để xác định đất Việt ngày xưa là do người Hán cai trị cả. Vì trước đó nó thuộc về Việt sử 5000 năm văn hiến với quốc hiệu Văn Lang, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương tử. Nhưng, nếu thời Hùng Vương với quốc gia Văn Lang chỉ là một "Liên minh gồm 15 bộ lạc" với những người dân "Ở trần đóng khố" như đám dốt nát , nhưng đầy danh vị học thuật rêu rao - thì - không thể xác định người Việt đã lập quốc (Chẳng ai thừa nhận "liên minh bộ lạc" là một quốc gia cả) . Và tất nhiên hệ quả của luận điểm gọi là "cơ sở khoa học" của đám này (Mặc dù chính họ cũng không định nghĩa được thế nào là "cơ sở khoa học"), sẽ chỉ coi việc giành độc lập của dân tộc Việt thành công vào thế kỷ thứ X, như là một cuộc ly khai khỏi đế chế Hán. Tất nhiên, đám học giả bành trướng Hán , đã dựa trên cơ sở ní nuận của đám dốt này, để vênh váo xác định "Biển Đông có từ thời Tần Hán" và "đất Việt trong lịch sử đã từng là đất Hán với sự cai trị của quan lại người Hán". Nhưng khi Việt sử 5000 năm văn hiến được xác định tính khoa học và chân lý thì đám âm mưu bành trướng Hán - chứ không phải tất cả người Hán - không có "Cơ sở khoa học" để thôn tính dân tộc Việt. Bởi vậy, vấn đề Việt sử 5000 năm văn hiến bị phủ nhận , chính là tiền đề quan trong, một yếu tố cần để thôn tính biển Đông. Cho nên vấn đề phủ nhận chân lý "Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương tử", được cả cái "công đồng khoa học thế giới" ma cô ầm ĩ "tuyên dương" với mục đích sâu xa của nó. Nó căng thẳng đến mức tất cả nhóm liên danh ứng cử lãnh đạo Viện sử học của ông Phạm Huy Thông, người chết, người bị thương, người bị bôi nhọ danh dự bởi bồ nhí, chỉ trong hai tháng trước ngày bầu cử một cách ...."ngẫu nhiên". Đây cũng là lý do tôi nhắc nhở Duyên không nên thần tượng tôi, mà nên cọi trọng chân lý. Biết đâu,một lúc nào đó bản thân tôi cũng có cô bồ nhí đến làm ầm ĩ. Xin nói trước là nếu có tất nhiên tôi dính chưởng liền, không phải suy nghĩ. Tóm lại đủ thứ nguy hiểm rình rập vì sự biến tướng của các trò ma chuột. Chẳng có một chữ nào trên các blog lề trái, lề phải và ngoài lề , nhắc đến vấn đề cội nguồn Việt sử dù chỉ một lần. Sự âm mưu phủ nhận Việt sử 5000 văn hiến, nhằm xóa sổ văn hóa truyền thống của dân tộc Việt - đến từng truyền thuyết huyền thoại, được ủng hộ từ khi các thế lực quốc tế đang đối đầu với Liên Xô. Nhưng đến nay, khi Liện Xô sụp đổ, liên minh lỏng lẻo Trung Quốc và Hoa Kỳ trở giáo đối đầu nhau - thì - phe Hoa Kỳ "há miệng mắc quai", khi Trung Quốc chứng minh cả cái đất Việt này vốn có "bằng chứng lịch sử" thuộc về đế chế Hán trong quá khứ. Tất cả đám khốn nạn từng phủ nhận truyền thống Việt sử câm như hến. Bởi vì đến nước này thì chúng không đủ mặt dày mà tiếp tục chường mặt ra tiếp tục những cái gọi là "nghiên cứu khoa học" phủ nhận Việt sử, khi mà chính những nhân vật có học vị cao nhất của cái gọi là "hầu hết những nhà khoa học trong nước", không thể định nghĩa được điều mà chính họ nói - gọi là "cơ sở khoa học". Nhưng di hại của nó đến vấn đề biển Đông thì đã rõ. Đó là lý do mà tại sao tôi đặt vấn đề một cách khách quan giữa Việt sử với vấn đề biển Đông. Bởi vì - tôi nhắc lại rằng: Nếu chân lý đích thực được tôn vinh (Chứ tôi không cần cái đám hổ lốn gọi là "hầu hết" đó công nhận), tức là Việt sử 5000 văn hiến được thừa nhận thì người Hán không có cơ sở lịch sử cái con khỉ gì để gọi là biển Đông của họ từ thời Tần Hán cả. Nhưng tôi cũng thẳng thắn mà nói rằng: Tôi không gắn vấn đề chính trị với cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến. Ở đây, tôi chỉ phân tích một cách khách quan hiện tượng và vấn đề. "Quân tử thì không trái lý". Đã gọi là nhân danh khoa học thì tôi tuy tài hèn, nhưng đủ để chứng minh đám phủ nhận Việt sử nhân danh khoa học chỉ là một lũ dốt nát. Tôi không cần thiết phải gây sức ép chính trị, chính em cái con khỉ gì với đám này. Xin lỗi! Cả cộng đồng khoa học thế giới thật sự - (chứ không phải là vài ba tay trí thức ma cô nước ngoài được gắn mác "công đồng khoa học thế giới" )- đang tìm kiếm "Hạt của Chúa", mà tôi còn xác định họ sai. Vậy đối với cái đám ngớ ngẩn này, tôi thừa khả năng chỉ ra sự ngu dốt của họ mà không cần chuẩn bị trước tài liệu. Đó là lý do mà tôi không cần phải dùng biển Đông để gây sức ép với cái đám tư duy thuộc loại "ở trần đóng khố" này. Có một vị cán bộ cao cấp về hưu nói với tôi: "Chắc đằng sau lưng chú phải có một thế lực nào lớn lắm chống lưng, chú mới dám la lối lớn tiếng như vậy" - Trong khi tất cả lề phải, lề trái câm như hến. Hôm nay, nhân tiên ở đây, tôi nói thẳng và công khai trên mạng internet này: Tôi chẳng dựa dẫm vào bất cứ một thế lực con khỉ gió nào. Từ cá nhân đến phe nhóm, đảng phái chính tà gì đó, cả quốc tế hay trong nước. Tôi chỉ có một chỗ dựa duy nhất: Đó là tôi đang chứng minh cho một chân lý. Tôi nói thẳng ra vậy để những kẻ nào muốn âm mưu xử lý gì đó với tôi đỡ phải ngần ngại. Nhưng nếu như ai đó quan tâm đến Việt sử 5000 năm văn hiến và Lý thuyết thống nhất vũ trụ thì có thể vào diễn đàn này để tham khảo. Không biết thì hỏi, tôi có thể trả lời. Còn bày đặt phản biện thì tôi đành xin lỗi vì không có thời gian. Còn muốn tranh luận thì công khai tên tuổi chức danh, học vị. Và tôi chỉ tranh luận khi đó là một cuộc tranh luận dứt điểm. Nếu tôi đúng thì Việt sử 5000 văn hiến phải được thừa nhận. Còn không được như vậy thì tôi cũng không có thời gian nhiều. Sở dĩ vậy, vì tôi đã nói nhiều rồi. Đến nay mọi việc trở nên dở hơi với vấn đề biển Đông của Việt Nam và nảy sinh cái vấn đề "lịch sử không thể chối cãi" mà người Hán rêu rao, nó mới lòi cái đuôi vốn được chuẩn bị rất kỹ với âm mưu bành trướng của họ với cội nguồn Việt sử. Nhưng điều đáng buồn cho những âm mưu thâm độc này, chính là một cuộc chiến tranh gần như không tránh khỏi để dứt điểm uy quyền bá chủ thế giới. Nếu cách đây 4 năm - vào năm 2008 - tôi nói ra điều này, chắc chắn tôi không hân hạnh lắm ngồi gõ gõ tương đối thoải mái như thế này. Nhưng bây giờ thì con mẹ ve chai cũng nhận thấy điều đó, tôi có nói ra cũng chỉ là té nước theo mưa. Bởi vậy, truyền thống văn hiến Việt có câu : "Mưu sâu thì họa cũng sâu". Biển Đông chỉ là nguyên nhân trực tiếp cho cuộc đối đầu sắp tới trong một tương lai gần. Có hay không có biển Đông thì nó cũng bục ra với một nguyên nhân trực tiếp khác. Nguyên nhân sâu xa của nó là chủ nghĩa bá quyền. Nó bắt đầu từ sự phủ nhận cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến - để tạo ra cái gọi là bằng chứng lịch sử từ Hán tộc - Tôi chẳng thế yêu người Trung Quốc khi họ ầm ầm kéo xuống xâm chiếm biển Đông của Việt Nam. Nhưng tôi cũng chẳng ghét gì các dân tốc khác trên thế giới. Tôi chỉ trình bày vấn đề một cách khách quan và thực tế những gì đã xảy ra, đang xảy ra và sắp xảy ra để mọi người suy ngẫm. Tôi cần nhắc lại một lần nữa rằng: Cái gì bắt đầu bằng sự phủ nhận truyền thống văn hiến Việt thì nó kết thúc cũng phải bắt đầu từ đó. Nhưng thời gian không còn nhiều. Tân Bình 8. 7 Việt lịch. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    4 likes
  4. Đoạn kết Với tiêu đề của bài viết này là : “ Vị Bồ Tát hộ trì phong thủy” ngoài đoạn mở đầu có dẫn chuyện của một vị Thầy dạy học trò, cách thức thanh tịnh và làm yên ổn gia đạo bằng pháp tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện công đức. Thì phần lớn nội dung còn lại là giới theo về Bồ Tát Địa Tạng và Kinh Địa Tạng. Thật ra tôi không có ý giật tít để gây sự chú ý về bài viết, mà chuyện tụng Kinh Địa Tạng để an ổn gia đạo, đất cát trong nhà là có thật. Cách đây vài năm tôi có một người bạn, nhà cửa phong thủy rất hợp lý, làm ăn khá giả, cuộc sống gia đình hạnh phúc và sung túc. Một dịp đầu năm mới, mong muốn để an bình gia trạch anh thiết lễ tụng phẩm kinh : Phật nói Kinh An Trạch thần chú. Sau đó thấy trong nhà rất nóng nảy, có nhiều bất an, người trong nhà hay ốm bệnh…. Sau khi anh vấn an Tôn Sư, bày tỏ câu chuyện và được thầy chỉ dậy như đã nói ở trên. Anh ta thiết lễ tụng kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện công đức như thầy chỉ dạy, và sau đó mọi việc trong gia đình chuyển biến rất tốt đẹp. Từ việc chứng thực cảm ứng đó, tôi đã nhờ Thầy chỉ dạy và tìm hiểu về Công Đức Ngài Địa Tạng Vương. Với những nội dung đã nêu được ít nhiều ở trên, qua những lời Đức Phật chỉ dạy về Thánh Đức và sự linh ứng của Đức Địa Tạng Vương - có thể thấy việc Ngài hộ trì hay gia hộ cho đất đai, phong thủy là chân thực. Tuy nhiên, điều lợi ích đó mới chỉ là một phần nhỏ trong những năng lực hay oai lực của Ngài. Địa Tạng Bồ Tát vị Chủ Tể tối cao của Địa Ngục, Giáo Chủ của cõi U Minh… không chỉ độ hóa chúng sinh trong cõi Địa Ngục, gia hộ đất đai, mà còn giúp đỡ bảo vệ cho sinh mệnh của chúng sinh, an dân trấn quốc, viên mãn Phước Trí ngay trong đời hiện tại này. Xin giới thệu một số đường dẫn đến các tài liệu nói về Thánh Đức và sự linh ứng của Đức Địa Tạng Vương, để những ai quan tâm có thể thỉnh về tham khảo thêm. Bồ Tát Địa Tạng vấn đáp. Khuyen hanh gia tinh do kiem tri tung kinh dia tang Kinh Địa Tạng Thâm Mật nghĩa Địa Tạng Mật Nghĩa Những câu chuyện linh ứng về Ngài Địa Tạng Nghi Thức Tụng Kinh Địa Tạng Qua loạt bài này, nếu được một trong những ai đã ghé đọc rồi khởi tâm hoan hỉ niệm 1 câu danh hiệu của Ngài hay trì tụng được 1 lần bộ kinh kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện công đức. Công Minh xin hồi hướng hết thảy mọi công đức có được trong loại bài này cho bản thân và gia đình người đó gia đạo luôn vạn sự bình an, phú túc, cát tường, may mắn. Con xin hồi hướng Công Đức này đến tất cả pháp giới chúng sanh trong các cõi: âm siêu dương thái, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh, giai cộng thành Phật đạo. Con xin chân thành hồi hướng mọi Công Đức có được đến chân linh Cửu Huyền Thất Tổ, hương linh Thân Phụ và Nhạc Phụ là những tấm gương kiên định luôn hướng về Chính Pháp, tại những giai đoạn khó khăn trong việc phát triển Đạo Pháp ở một khoảng thời gian trước đây. Con xin chân thành hồi hướng mọi Công Đức có được đến Thân Mẫu thân tâm thường lạc, Phật sự tinh tấn. Con xin chân thành hồi hướng mọi Công Đức có được đến các bậc Tôn Sư đã bỏ công chỉ dẫn và khuyến khích con trên con đường tầm học. Con xin chân thành hồi hướng mọi Công Đức có được đến các Thầy Thích Quảng Trí, Cư sĩ Huyền Thanh đã bỏ nhiều công phu biên dịch và biên tập bộ Mật Tạng ra tiếng Việt để đem lại lợi lạc cho nhiều hàng Phật tử Việt Nam. Xin chân thành cám ơn đến các các bậc thầy, các tác giả, soạn giả có những bài nghiên cứu, bài giảng giải, cũng như có hình ảnh về Tôn tượng Đức Địa Tạng Vương trên Internet, để Công Minh được tham khảo, trích dẫn hỗ trợ cho phần biên soạn này. Vì điều kiện bố cục của bài viết hạn chế, tránh phân tán nên người biên soạn không thể trích rõ nguồn tài liệu, rất mong chư vị tác giả hoan hỉ thông cảm đại xá. Xin cám ơn người bạn đường CTT và hai “ tiểu đồng chí” của tôi, đã phấn đầu giải quyết nhiều việc thuộc hàng “đại gia sự " để hỗ trợ tôi có được nhiều thời gian, yên tâm tìm hiểu Giáo Pháp. Xin cảm ơn anh hoangnt và mọi người đã quan tâm, ủng hộ cho bài viết trong thời gian qua. Thân mến tặng bài viết này đến anh Thanh phuc ; bạn Hoàng Dung trên trang lyhocdongphuong ( những người có ít nhiều công phu và sự cảm ứng về Thánh linh của Đức Địa Tạng vương Bồ Tát ) - Đặc biệt là qua những tâm sự của anh Thanhphuc, đây cũng là một trong những nguồn động lực cho Công Minh tìm hiểu về Thánh linh của Đức Địa Tạng và điểm đặc biệt của bộ kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện công đức. Thân mến tặng chị Wild, Chipchip cùng đại gia đình, em Linh và “cô học trò bướng bỉnh ” cùng tất cả thân hữu bè bạn cũ mới, xa gần – do qua những thắc mắc, hỏi đáp của mọi người đã giúp Công Minh giác ngộ thêm nhiều vấn đề trong tu học. Kính chúc mọi người, mọi nhà có một mùa Vu lan viên mãn và thành tựu Nguyện xin Tam Bảo và các vị Hộ Pháp hãy ban rải Thần Lực giúp cho các bậc ân nhân của con với tất cả chúng hữu tình mau chóng tránh được mọi lỗi lầm, thực chứng được Chính Pháp Giải Thoát. Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát tác đại chứng minh. Trân trọng
    3 likes
  5. Ánh trăng & mùa Xuân trong bài thơ Tanka Nhật Bản NSGN: Lời người dịch: Phần trích dịch dưới đây nằm trong đoạn đầu của bài diễn văn nhận giải Nobel văn chương của Yasunari Kawabata, đọc tại Hàn Lâm viện Thụy Điển vào tháng 12 năm 1968, với nhan đề “Japan, the Beautiful and Myself”.(1) Tanka (đoản ca: 短 歌), là thể loại thơ độc đáo của Nhật Bản, gồm 31 âm tiết. Kawabata muốn giới thiệu những bài thơ này để nêu bật tinh thần Nhật Bản về thơ ca trong bài diễn văn của mình. Người dịch những bài thơ này đã mạo muội phóng tác thành những câu thơ mang hơi thở Việt Nam. Rõ ràng đó là việc làm dễ mắc phải sai lầm, một phần, vì qua ngôn ngữ thơ ca, dịch phẩm phải giống như việc tái tạo một sản phẩm mà điều may mắn hy vọng đạt được là tinh thần cốt tủy của sản phẩm cũ không sai lệch là bao, phần khác, người dịch đã chuyển từ bản dịch Anh ngữ chứ không phải từ nguyên ngữ Nhật Bản. Đó là lý do người dịch viết những lời này, với niềm mong mỏi bạn đọc bỏ qua cho những sai lầm lệch lạc, và đón nhận bài viết này nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ thoảng qua, không ảnh hưởng gì đến ai cả. Mỗi lần có ai đó nhờ tôi viết vài câu thư pháp, tôi thường viết hai bài thơ sau đây, bài thứ nhất của tu sĩ Dogen (1200-1253), mà ông ta gọi là Bản lai diện mục (Innate Spirit), và bài thứ hai, của tu sĩ Myoe (1173-1232). “In the spring, cherry blossoms, in the summer the cuckoo. In autumn the moon, and in winter the snow, clear, cold”.(2) Mùa xuân đỏ thắm anh đào Tiếng cu bàng bạc điệu chào, hạ ơi! Trăng thu trong sáng gọi mời Tuyết đông lành lạnh tinh khôi bốn bề. “The winter moon comes from the clouds to keep me company. The wind is piercing, the snow is cold”(3). Trăng ngời ngọc sau làn mây hiển hiện Để cùng tôi qua mộng thực đôi bờ Ngọn gió buốt như hòa trong thớ thịt Trắng mênh mang màu tuyết lạnh hoang sơ. Trước bài thứ hai, Myoe ghi thêm những dòng sau, như một lời giải thích cho ý nghĩa chủ đạo của bài: “Vào đêm 12 tháng 12 năm 1224, mặt trăng đang ẩn khuất sau làn mây. Tôi bước vào điện Kakyu để ngồi thiền. Lúc nửa đêm, tôi ngừng thiền định, bước ra ngoài sảnh điện để đi xuống tầng dưới, tôi bắt gặp ánh trăng hiện ra sau màn mây và lan tỏa bàng bạc trên tuyết trắng. Và ánh trăng kia đối với tôi như một bạn đồng hành, đến nỗi, tiếng chó sói tru lên dưới thung lũng cũng chẳng hề làm tôi khiếp sợ. Rồi lúc sau, tôi rời hạ điện bước ra ngoài, ánh trăng lại khuất vào trong mây. Khi tiếng chuông ngân báo hiệu giờ cầu kinh lúc tàn đêm, tôi lại đi lên sảnh điện, ánh trăng đã dõi theo tôi trên con đường tôi bước. Tôi lại ngồi thiền, mặt trăng như đuổi theo mây để sau cùng chìm khuất trong ánh mặt trời đang hồng lên cho ngày mới, mặc dầu vậy, dường như với tôi, ánh trăng kia vẫn còn theo tôi trong tâm tưởng như một bạn đồng hành bí mật”. Sau bài thơ đã dẫn ở trên, là bài thơ sau, mà có thể đoạn cuối những lời dẫn của Myoe đã cho thấy rằng ẩn ngữ một vầng trăng đã khuất dần sau núi kia vẫn còn ngân vang trong lòng tác giả: “I shall go behind the mountain. Go there too, O moon. Night after night we shall keep each other company.”(4) Ta sẽ về bên kia núi, Trăng ơi! Em cũng về theo, mộng song hành Đêm lại rồi đêm ta sánh bước, Em là ta hay ta lại là em? Một lần khác, có thể là sau những thời khắc thiền định, hoặc khi bước đi lúc trời rạng sáng trên đường về chánh điện, Myoe đã viết thế này: “Vừa mở đôi mắt ra sau thời gian thiền định, tôi đã bắt gặp vầng trăng lúc trời tảng sáng, ánh trăng dìu dịu qua cửa sổ. Tôi cảm thấy ánh sáng dường như đang ngập tràn đến cả những góc phần tăm tối nhất của tâm hồn mình, và dường như ánh sáng đó đến từ ánh trăng muôn thuở”. Theo đó, Myoe đã viết bài thơ: “My heart shines, a pure expanse of light; And no doubt the moon will think the light its own.”(5) Sáng cả lòng ta dòng tinh khiết Hay chính là trăng nhập cõi hồn? Myoe thường được mệnh danh là thi sĩ của ánh trăng, bởi những dòng thơ trăng thanh thoát, bởi những dòng thơ như sự thảng thốt diệu kì, như tiếng kêu ngây thơ tự nhiên bật ra tâm hồn, như sự hứng khởi tuôn trào không mục đích: “Bright, bright, and bright, bright, bright, and bright, bright. Bright and bright, bright, and bright, bright moon.”(6) Trong ba bài thơ về ánh trăng, từ nửa khuya đến lúc trời rạ ng sáng, Myoe đã tuân thủ khuynh hướng thi pháp mà Saigyo đã sử dụng. Saigyo cũng là một thiền sư - thi sĩ, người đã tại thế vào khoảng 1118 đến 1190, ông đã nói: “Dù tôi có làm thơ chăng nữa, tôi vẫn không nghĩ về chúng như là những bài thơ tôi đã soạn”.(7) Trong ba mươi mốt âm tiết, ông đã tạo nên một bài thơ, trung thực, trực chỉ vào thực tại sinh động, dường như thể ông với trăng là một, chứ không đơn thuần là “đồng hành với trăng”. Nhìn trăng, ông trở nên trăng, và trăng cũng chính là ông khi nó là đối tượng được ngắm nhìn. Ông chìm vào thiên nhiên, và ông trở thành một cùng nhiên giới. Ánh sáng từ trái tim trong sáng (clear heart) của vị thiền sư đang thiền định từ nửa đêm đến gần rạng sáng đã trở thành ánh trăng, và bởi vậy, trăng vẫn sáng dù ngày lên hửng đỏ một góc trời. Như ta đã thấy trong lời dẫn của Myoe trước bài thơ nói trên, ở đó, ánh trăng mùa đông đã trở thành bạn đồng hành, nó chính là tâm của vị thiền sư, một ánh trăng đã từ sau làn mây tỏa sáng rồi chìm vào bầu trời tôn giáo và triết học, vĩnh viễn, ánh trăng và thiền sư đã lan tỏa vào nhau trong một hòa điệu tuyệt vời, mà bài thơ bất quá chỉ như một bật thốt tình cờ để diễn tả nên điều rất khó diễn bày. Đó cũng là lý do mà tôi nghĩ đến bài này đầu tiên khi có ai nhờ viết cho một bức thư pháp, với tôi, cảm xúc của bài thơ thật nhẹ nhàng phiêu hốt, một niềm đam mê thật bay bổng khinh an. Ánh trăng kia giữa bầu trời đông tuyết, nấp sau mây rồi hé lộ dần, rồi lại núp sau mây và lại hiển bày, tỏa sáng trên mỗi bước chân ta, khiến ta không còn sợ sói dữ. Phải chăng, hỡi trăng ơi, gió chìm vào trong em, gió lạnh mơn man em và tuyết trắng không làm em buốt giá? Tôi chọn bài thơ này, quả thực, tôi đã chọn một bài thơ ấm nồng, sâu lắng, bài thơ của niềm đam mê thanh thoát, trong tĩnh lặng khôn dò, trong thảng thốt suy tư ăm ắp cả một tinh thần Nhật Bản. Tiến sĩ Yashiro Yukio, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về nhà danh họa Botticelli(8), một học giả uyên thâm về nghệ thuật từ cổ chí kim và từ Đông sang Tây, đã đúc kết tinh thần nghệ thuật Nhật Bản đặc trưng qua chỉ một câu thơ: “Ta nghĩ đến bạn bè ta mỗi khi nhìn hoa, ngắm tuyết, ngó trăng thanh”. Mỗi khi nhìn vẻ đẹp tuyệt vời của tuyết, mỗi lần thưởng ngoạn ánh trăng tròn vời vợi, hay say đắm trước vẻ xinh tươi của những khóm anh đào, mỗi khi để lòng chìm trong các bức họa hay bị đánh thức bởi vẻ mỹ miều của bốn mùa thay sắc, ta thường nghĩ đến những người gần ta nhất, những kẻ thương yêu, và trong ta khao khát niềm ước mong chia sẻ cảm giác hoan lạc này. Chính kích thích của mỹ cảm đã đánh thức các cảm xúc trong ta, đánh thức niềm khát khao đồng hành, khát khao những mối chân tình huynh đệ, và khi đó, từ “bằng hữu” (comrade) trở thành đặc trưng đầy ý nghĩa của hai tiếng “con người” (human being). Tuyết, trăng, những khóm hoa, những từ ngữ diễn tả bốn mùa, trong truyền thống Nhật Bản, đó là những từ ngữ hòa quyện vào nhau để nêu bật lên vẻ đẹp muôn thuở của núi, sông, cây cỏ, để diễn đạt thiên nhiên sâu lắng và muôn hồng nghìn tía, cũng như diễn đạt cảm xúc của con người khi chiêm nghiệm. Cái tinh thần đó, cái tinh thần khát khao tình huynh đệ khi đi trong tuyết, khi đứng dưới trăng, khi ngắm nhìn hoa ngàn cỏ nội, cũng chính là tinh thần căn bản trong nghi thức uống trà. Trong cảnh quan tươi đẹp thích hợp nào đó, bằng hữu gặp nhau, ngồi bên tách trà, hòa điệu một niềm giao cảm trước đất trời vạn đại, và động thái thưởng trà kia được nâng lên thành nghi thức, mà như người ta nói, ấy là Trà đạo. Tiện đây, tôi muốn đề cập đến tiểu thuyết Ngàn Cánh Hạc (Thousand Cranes) của mình, một cuốn tiểu thuyết thường được bạn đọc hiểu sai là tôi muốn ngợi ca vẻ đẹp hình thức và tinh thần của nghi thức uống trà đó. Nhưng ngược lại, tôi muốn diễn đạt mối hoài nghi cũng như cảnh báo mọi người về tính thông tục hợm người mà các nghi thức uống trà hiện nay đang sa ngã. “In the spring, cherry blossoms, in the summer the cuckoo. In autumn the full moon, in winter the snow, clear, cold”. Mùa Xuân đỏ thắm anh đào Tiếng cu bàng bạc điệu chào, hạ ơi! Trăng thu trong sáng gọi mời Tuyết đông lành lạnh tinh khôi bốn bề Một ai đó sẽ nghĩ rằng trong bài thơ đó của Dogen, đơn giản chỉ là sự miêu tả thiên nhiên một cách thông thường, xoàng xĩnh, một sự kể lể tầm thường bốn mùa thay nhau nối tiếp. Ai đó cũng có thể nghĩ rằng thơ gì như vậy mà cũng là thơ, chẳng có thơ có mộng gì với những từ bình thường ghép nhau như thế. Tuy nhiên, ta hãy nghe một bài tương tự viết lúc lâm chung của Thiền sư Ryokan (1758-1831): “What shall be my legacy? The blossoms of spring, The cuckoo in the hills, the leaves of autumn”.(9) Em thừa kế giùm tôi ngàn hoa thắm Tiếng chim kêu đồi mộng thuở ban sơ Tôi để lại cho trần gian muôn thuở Lá vàng thu, những khoảnh khắc không ngờ! Ở bài thơ này, cũng tương tự bài của Dogen, những ảnh hình và từ ngữ bình thường nhất đã hòa quyện trong nhau một cách trôi chảy, mà đặc biệt, nó đã truyền cho ta tinh thần cốt tủy của Nhật Bản. Bài thơ vừa trích dẫn trên là bài thơ cuối cùng trong cuộc đời của Thiền sư - Thi sĩ Ryokan. “A long, misty day in spring: I saw it to a close, playing ball with the children. The breeze is fresh, the moon is clear. Together let us dance the night away, in what is left of old age. It is not that I wish to have none of the world, It is that I am better at the pleasure enjoyed alone”.(10) Tôi đang đùa với trẻ con Trời sương trùm phủ lối mòn cỏ xuân Trăng thanh, gió nhẹ thật gần Một trời thân thiết, vang ngân giọng đàn Nhảy đi em, điệu muôn vàn Tiếng lòng kim cổ, nhạc vàng xưa sau Rồi nghe đất chuyển muôn màu Này hương vũ trụ bên cầu cô đơn Vòng tay ôm trọn xuyên sơn Một mình chiêm bái nguồn cơn vĩnh hằng! Yasunari Kawabata- Nguyễn Văn Nho biên dịch (1) Literature 1968-1980, Editor-in-Charge Tore Frängsmyr, Editor Sture Allén, World Scientific Publishing Co., Singapore, 1993. (2) Vào mùa xuân, những khóm anh đào, tiếng cu gù mùa hạ. Mùa thu, ánh trăng trong, và mùa đông, tuyết lạnh. (3) “Trăng mùa đông đến từ sau những đám mây để đồng hành cùng tôi/ Gió thổi buốt, và tuyết lạnh”. (4) “Tôi sẽ về sau núi, em cũng thế trăng ơi./ Rồi từng đêm, ta sẽ giữ bước song hành”. (5) “Tâm hồn tôi tỏa sáng, thứ ánh sáng lan rộng thuần khiết; Và không còn hồ nghi gì nữa, trăng cũng nghĩ rằng đó chính là ánh sáng của chính mình”. (6) “Sáng, sáng, ôi sáng, sáng, sáng, và sáng, sáng/ Sáng, cứ sáng hoài, sáng, sáng và sáng mãi, ánh trăng!”. (7) “Though I compose poetry, I do not think of it as composed poetry”. (8) Botticelli (1445 - 1507), họa sĩ nổi tiếng người Ý. (9) “Di sản của tôi ư? Những khóm hoa mùa Xuân/Chim gù trên đồi vắng, những chiếc lá thu bay”. (10) “Một ngày dài mùa xuân đầy sương: Tôi thấy bầu trời thật gần gũi khi đang chơi cầu cùng con trẻ. Cơn gió nhẹ trong lành, ánh trăng sáng tỏ. Ta hãy cùng nhau khiêu vũ suốt đêm thâu, trong điệu múa lời ca từ xa xưa đọng lại. Chẳng phải tôi ao ước cô độc giữa thế giới này, mà chính bởi khi chỉ còn lại một mình, tôi vui thú biết bao trong niềm cô đơn bất tuyệt”.
    3 likes
  6. Tại Việt Nam, Tín Ngưỡng Địa Tạng được phát triển song hành với sự phát triển của Phật Giáo. Tuy nhiên phần lớn người dân Việt thường chuyên tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện với mục đích cầu siêu cho ông bà, cha mẹ, con cái, họ hàng thân thuộc… tức chịu ảnh hưởng sâu xa của tư tưởng cho rằng Địa Tạng Bồ Tát là vị Chủ Tể tối cao của Địa Ngục, Giáo Chủ của cõi U Minh… chứ không hề biết rằng Địa Tạng Bồ Tát không chỉ độ hóa chúng sinh trong cõi Địa Ngục, mà còn giúp đỡ bảo vệ cho sinh mệnh của chúng sinh, an dân trấn quốc, viên mãn Phước Trí ngay trong đời hiện tại. (*) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra), Phẩm 6 Thế tôn tuyên dương ghi rằng : " Phổ quảng, trong thì gian vị lai, mỗi tháng các ngày mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hâm ba, hâm bốn, hâm tám, hâm chín hay ba mươi, là những ngày kê cứu tội ác để phán định nặng nhẹ. Mà người Diêm phù thì cử động (51) hay suy tư toàn là nghiệp, toàn là tội, huống chi lại còn mặc ý sát sinh trộm cướp tà dâm vọng ngữ, nghiệp dữ cả trăm cả ngàn. Trong những ngày thập trai trên đây, nếu kẻ nào biết đối trước tượng Phật đà, tượng Bồ tát hay tượng Hiền thánh mà tụng một biến kinh này, thì khu vức người ấy cư trú, đông tây nam bắc chu vi một trăm do tuần, không có mọi sự tai nạn, và nhà ở của người ấy thì bất cứ lớn nhỏ, từ hiện tại đến vị lai, trong cả trăm cả ngàn năm thoát khỏi đường dữ một cách lâu dài. Mỗi ngày thập trai biết tụng kinh này một biến, việc ấy, ngay trong đời này, đã làm cho cả nhà không có tai họa, bịnh tật, ăn mặc sung túc " Lại thêm " Phổ quảng, trong thì gian vị lai, những kẻ chiêm bao hay ngủ say, thấy các quỉ thần với bao nhiêu biến dạng buồn có, khóc có, rầu có, than có, sợ có, hãi có. Ấy toàn là cha mẹ con cái, anh em chị em, hay vợ chồng bà con, trong quá khứ một đời mười đời hay trăm đời ngàn đời, hiện ở trong đường dữ mà chưa được thoát khỏi, không biết hy vọng vào đâu làm phước cứu vớt, nên họ báo mộng cho những kẻ xương thịt trong quá khứ, trông mong làm phước để cứu họ thoát khỏi đường dữ. Phổ quảng, các người hãy vận dụng thần lực làm cho những kẻ xương thịt ấy biết đối trước tượng Phật đà hay tượng Bồ tát, chí tâm tự tụng kinh này hay cung thỉnh người khác tụng cho, số lượng phải ba biến hay bảy biến. Như vậy, những kẻ bà con còn ở trong đường dữ kia, hễ tiếng tụng kinh đủ biến chấm dứt, thì họ cũng được siêu thoát, mộng mị cũng không bao giờ còn thấy họ nữa." Lại thêm " Đại loại như vậy, Phổ quảng, các người nên biết Địa tạng đại sĩ, xuất từ thần lực vĩ đại, có những sự ích lợi cho người đạt đến số lượng trăm ngàn vạn ức, không thể nói hết. Đối với Địa tạng đại sĩ, người Diêm phù có sự liên hệ lớn lao. Người ở đây nghe danh hiệu hay thấy hình tượng của đại sĩ, cho đến nghe kinh này dầu chỉ được ba chữ hay năm chữ, một bài chỉnh cú hay một câu đủ nghĩa (52) , hiện tại cũng đạt được sự yên vui tuyệt diệu, mà vị lai thì trăm ngàn vạn đời luôn luôn sinh ra trong nhà tôn quí, tướng mạo và tánh tình đều hoàn hảo." (*) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra), quyển Thượng, Phẩm Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông ghi rằng: “ Vào kiếp lâu xa trong thời quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát là con của một vị Đại Trưởng Giả. Nhân thấy tướng tốt trang nghiêm của Đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai mà phát sinh tâm kính ngưỡng, nói rằng để chứng đắc được tướng trang nghiêm này mà phát Nguyện cho đến hết các kiếp chẳng thể tính đếm, ở đời vị lai độ thoát tội khổ của chúng sinh trong sáu nẻo” Lại ghi rằng:”Một trong các kiếp trong a tăng kỳ kiếp chẳng thể nghĩ bàn, Địa Tạng Bồ Tát là người nữ thuộc giòng Bà La Môn, vì cứu độ mẹ thoát khỏi Địa Ngục đã thay mẹ cúng dường tu Phước và phát Nguyện cho đến hết kiếp vị lai đều rộng cứu độ tội khổ của chúng sinh” (*) Trong Phẩm Diêm Phù Chúng Sinh Nghiệp cảm của Kinh trên cũng ghi nhận hai thuyết là: _ “Vào thời lâu xa trong quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát làm vua của một nước. Do thấy người dân trong nước tạo nhiều tội ác, nên đã phát Nguyện độ hết tội của các chúng sinh, đều đến Bồ Đề. Nếu chẳng như vậy thì không thành Phật” _”Ở một kiếp lâu xa trong quá khứ, Địa Tạng Bồ Tát là một người nữ tên là Quang Mục. Do mẹ của nàng bị đọa vào Địa Ngục nên Quang Mục vì muốn cứu độ mẹ, đã phát Nguyện cứu giúp nhổ bứt tất cả tội khổ của chúng sinh, đợi cho chúng sinh thành Phật rồi, sau đó mình mới thành Chính Giác” Các Thuyết ghi trên đều tùy theo Tín Ngưỡng Địa Tạng mà rộng truyền trong dân gian, cho nên trong Phật Giáo thường dùng các câu: _“Địa Ngục chưa trống rỗng Thề Nguyện chẳng thành Phật Khi độ hết chúng sinh Mới chứng đắc Bồ Đề” _ “Ta chẳng vào Địa Ngục thì ai vào Địa Ngục ?”Để hình dung lời Nguyện rộng lớn thuộc Tâm Từ Bi thương xót của Địa Tạng Bồ Tát. (*) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, Phẩm Địa Thần Hộ Pháp đề cập đến mười điều lợi ích của việc cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Trong đó hay đắp tượng vẽ tranh, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc hình tượng Ngài Địa Tạng, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thì nơi người đó ở liền được mười điều lợi ích là: 1_Đất cát tươi tốt. 2_Nhà cửa an ổn. 3_Người đã chết được sinh lên cõi Trời. 4_ Những người hiện còn được tăng thọ. 5_ Cầu nguyện gì cũng được toại ý 6_ Không có tai họa về lửa và nước. 7_ Trừ sạch việc hư hao. 8_ Dứt hẳn mộng ác. 9_ Khi ra lúc vào có Thần theo hộ vệ. 10_ Thường được gặp bậc Thánh Nhân. (*) Trong Phẩm Chúc Lụy Nhân Thiên nói rằng: “Nếu trong đời sau có kẻ trai lành người nữ thiện nào, nhìn thấy hình tượng Ngài Địa Tạng và nghe Kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, thức ăn uống, quần áo, trân bảo, bố thí cúng dường, ngợi khen chiêm lễ, sẽ được hai mươi tám điều lợi ích là: 1_Trời, Rồng thường hộ niệm. 2_Quả lành ngày càng tăng. 3_ Gom chứa Nhân vô thượng của bậc Thánh. 4_ Chẳng thoái Bồ Đề 5_Ăn mặc được đầy đủ. 6_ Thân không bị vướng những bệnh tật, nạn dịch 7_ Xa lìa tai họa về lửa và nước. 8_ Không bị nạn trộm cướp. 9_ Người khác nhìn thấy đều sinh lòng kính trọng. 10_ Quỷ Thần theo hộ trì. 11_ Đời sau sẽ chuyển thân nữ thành thân nam. 12_ Đời sau sẽ làm con gái của các bậc Vương Giả Đại Thần. 13_ Tướng mạo xinh đẹp. 14_ Phần lớn được sinh về cõi Trời. 15_ Làm bậc vua chúa. 16_ Có Trí sáng biết rõ những việc trong đời trước. 17_ Cầu nguyện gì cũng được toại ý 18_ Quyến thuộc an vui. 19_ Các tai họa đột ngột đều được tiêu diệt. 20_ Các nghiệp về nẻo ác đều dứt hẳn. 21_ Đi đến đâu cũng không bị trở ngại. 22_ Đêm nằm mộng được an ổn vui vẻ. 23_ Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ. 24_ Nếu đời trước có Phước thì được thọ sinh về cõi vui sướng. 25_ Được các bậc Thánh ngợi khen. 26_ Căn Tính lanh lợi thông minh. 27_ Giàu lòng Từ Tâm thương xót. 28_ Cuối cùng thành Phật. Trong băng đĩa Cửu Hoa Sơn (thuộc Tứ Đại Danh Sơn) có ghi nhận bài Địa Tạng Sám nhằm nhấn mạnh vào Pháp Tu Chính Pháp Giải Thoát qua sự nhiếp hóa của Bồ Tát Địa Tạng như sau: _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con lìa hẳn ba nẻo ác _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con mau dứt Tham Sân Si _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con siêng tu Giới Định Tuệ _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con thường tùy các Phật Học _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con chẳng thoái Tâm Bồ Đề _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con quyết định sinh An Nhẫn _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con mau được thọ Thánh Ký _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con phân thân khắp các cõi _Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Nguyện con rộng độ các chúng sinh
    3 likes
  7. Tại Nhật Bản Tại Nhật Bản,Tín Ngưỡng Địa Tạng bắt nguồn trong thời kỳ Bình An (Heian:794_1192) và được phát triển qua từng giai đoạn cho đến ngày nay như sau: (*) Kim Tích Vật Ngữ Tập ghi nhận Địa Tạng là vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và dẫn dắt họ sang Thế Giới Cực Lạc (Sukhàvatì) (*) Bộ Nhật Bản Linh Dị Ký tin rằng Địa Tạng là vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh sau khi lâm chung. (*) Người dân Nhật Bản tin tưởng rằng Địa Tạng Bồ Tát chuyên cứu độ linh hồn của trẻ con bị chết yểu nên thường dựng các tượng đá Jizò (Địa Tạng) trong các nghĩa trang và khoác quần áo của trẻ con đã chết ấy lên bức tượng Dần dần Địa Tạng Bồ Tát được đồng hóa với vua Diêm La (Yama-ràja) và được xem là vị chủ tể của cõi U Minh, chuyên cứu độ tất cả chúng sinh trong cõi Địa Ngục. Như quyển Bồ Đề Tâm Luận của ngài Trân Hải cho rằng Địa Tạng Bồ Tát hóa hiện thành thân Phật hoặc thân Diêm La Vương để vào Địa Ngục cứu độ chúng sinh Biểu tượng thường thấy nhất là tượng Địa Tạng Bồ Tát được tạo dựng trong các nghĩa trang của Phật Giáo hoặc các tranh tượng Địa Tạng qua hình nhà sư đi vào lửa ngục để giải cứu những linh hồn chịu khổ nạn. (*) Ngày nay tại Nhật Bản, Địa Tạng Bồ Tát được thờ phượng qua hình dáng nhà sư đầu trần chân đất, đi vào xã hội cứu độ chúng sinh ngay trong đời này chứ không phải ở chốn Địa Ngục. Trong Thế Kỷ thứ 9, Tín Ngưỡng Địa Tạng được Thiên Đài Tông và Chân Ngôn Tông phổ biến qua hình tướng của sáu vị Địa Tạng. Giác Thiền Sao ghi rằng: 1_ Đại Kiên Cố Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Trời, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải cầm quyển Kinh 2_ Đại Thanh Tịnh Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Người, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải kết Thí Vô Úy Ấn 3_ Thanh Tịnh Vô Cấu Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi A Tu La, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải cầm rương Kinh Phạn 4_ Đại Quang Minh Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Súc Sinh, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải cầm Như Ý 5_ Đại Đức Thanh Tịnh Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Ngạ Quỷ, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải tác Dữ Nguyện Ấn. 6_ Đại Định Trí Bi Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Địa Ngục, tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải cầm viên ngọc báu. Hoặc sáu hình tượng Địa Tạng là sáu Hóa Tôn của sáu nẻo đã được ghi nhận trong Đại Nhật Kinh Sớ Ngoài sáu hình tướng trên, Nhật Bản còn lưu truyền nhiều hình tướng Địa Tạng khác là: _ Pháp Tính Địa Tạng: Còn gọi là Bất Hưu Tức Địa Tạng _ Địa Trì Địa Tạng (Jiji Jizò): Còn gọi là Hộ Tán Địa Tạng _ Bảo Tính Địa Tạng: Còn gọi là Phá Thắng Địa Tạng _ Pháp Ấn Địa Tạng: Còn gọi là Tán Long Địa Tạng _ Đà La Ni Địa Tạng: Còn gọi là Biện Ni Địa Tạng _ Long Quy Địa Tạng: Còn gọi là Diên Mệnh Địa Tạng hay Quang Vị Địa Tạng _ Dự Thiên Địa Tạng (Yotenga Jizò):Tay trái cầm viên ngọc Như Ý, tay phải tác Thuyết Pháp Ấn, cứu độ nẻo Trời Người. _ Phóng Quang Vương Địa Tạng (Hòkò- ò- Jizò):Tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải tác Dữ Nguyện Ấn, giúp cho Ngũ Cốc được mùa _ Kim Cương Tràng Địa Tạng (Kongòtò Jizò):Tay trái cây phướng Kim Cương, tay phải tác Thí Vô Úy Ấn, cứu độ nẻo Tu La _ Kim Cương Bi Địa Tạng (Kongòhi Jizò):Tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải tác Dẫn Tiếp Ấn, cứu độ nẻo Súc Sinh _ Kim Cương Bảo Địa Tạng (Kongòhò Jizò):Tay trái cầm viên ngọc báu, tay phái tác Cam Lộ Ấn, cứu độ nẻo Quỷ đói _ Kim Cương Nguyện Địa Tạng (Kongògan Jizò):Tay trái cầm cây phướng Diễm Ma, tay phải tác Thành Biện Ấn, vàu Địa Ngục cứu khổ _ Khỏa Địa Tạng: (Hadaka Jizò: Địa Tạng lõa thể) Trường hợp đặc biệt, Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể mang hình tướng một bà già qua tên gọi Mẫu Địa Tạng (Uba Jizò) Hadaka Jizō Hoặc mang hình tướng của người nữ với tên gọi là Tử Dục Địa Tạng (Kosodate Jizò) được kêu cầu như vị Thần bảo vệ và nuôi lớn trẻ con _ Tử An Địa Tạng (Koyasu Jizò): giúp cho phụ nữ sinh đẻ và nuôi con dễ dàng. Tín Ngưỡng này đã thâm nhập vào Tín Ngưỡng Dân Gian từ sau thời đại Khiếm Thương (Kamakura: 1192_1336) tức lấy sự thị hiện của Bồ Tát Địa Tạng ở vùng Tắc Hà là vị cứu hộ trẻ con, giúp phụ nữ sinh đẻ dễ dàng… và có vẽ hình, ca vịnh tán tụng. Tại Kiyomizu ở Kyoto có dựng tượng Jizò (Địa Tạng) là nơi dùng để tưởng niệm những đứa trẻ bị chết yểu. _ Thủy Tử Địa Tạng hay Ấu Thủy Địa Tạng (Mizuko Jizò): Giúp cho những vong linh trẻ con chết yểu hoặc chết trong thai mẹ…được an lành. Do điều này mà tượng Địa Tạng Bồ Tát thường được đặt dọc theo bờ sông Sai-no-Kawara nhằm giúp cho những vong linh chết trẻ, thoát khỏi mọi hình phạt, sớm được siêu thoát. Hoặc thiết lập các nghi lễ cầu siêu cho trẻ con bị chết khi người mẹ bị sẩy thai hay phá thai…. Người dân Nhật Bản tin tưởng rằng Địa Tạng Bồ Tát có rất nhiều quyền năng như di chuyển, bay, nói hoặc nhổ gai khỏi chân những kẻ lữ hành… Từ đó vô số Tín Ngưỡng Dân Gian đã gắn liền với Địa Tạng như: _ Thích Phi Địa Tạng (Togenuki Jizò): hay giúp cho người lữ hành nhổ gai góc đâm vào chân Togenuki Jizò _ Thường Thí Địa Tạng (Ajimi Jizo): hay giúp cho các vị tu sĩ chuẩn bị các món ăn đặc biệt ở nhà bếp Ajimi Jizō at Koyasan _ Cốc Đoàn Bính Địa Tạng (Botamochi Jizò): hay giúp cho nhà nông có các cái bánh hình tròn để ăn trong thời gian gieo trồng lúa mạ. Botamochi Jizō _ Tỵ Thủ Địa Tạng (Hanatori Jizò): chăm sóc ngựa và gia súc _ Hỏa Tiêu Địa Tạng (Hikeshi Jizò) hay Hỏa Phần Địa Tạng (Hitaki Jizò): bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn tránh khỏi hỏa hoạn _ Thủy Dẫn Địa Tạng (Mizuhiki Jizò): mang nước đến giúp cho lúa mạ, cây cối tăng trưởng _ Vũ Khất Kỳ Địa Tạng (Amagoi Jizò): Cầu đảo xin trời mưa _ Lập Sơn Địa Tạng (Tachiyama Jizò): tạo làm nơi chốn cho phụ nữ nông dân nghỉ ngơi _ Điền Thực Địa Tạng (Taue Jizò): giúp cho ngũ cốc được mùa _ An Sản Địa Tạng (Anzan-Jizò): giúp cho phụ nữ sinh đẻ dễ dàng Anzan-Jizò _ Nhật Hạn Địa Tạng (Higiri Jizò): giúp cho con người tránh khỏi Thiên Tai _ Tâm Bình Địa Tạng (Shinpei Jizò): giúp cho linh hồn của con người được an bình _ Đạo Dẫn Địa Tạng (Michibiki Jizò): bảo vệ, chỉ đường cho những người đi trong vùng hoang vắng hiểm trở _ Thắng Quân Địa Tạng (Shokògun Jizò): Giúp cho chiến thắng và bình an trong trận mạc Shokògun Jizò _ Diên Mệnh Địa Tạng (Enmei Jizò): giúp cho con người mạnh khỏe sống lâu, không bị bệnh tật _ Du Huyền Địa Tạng (Aburakake Jizò): chữa trị bệnh tật cho con người Aburakake Jizò _ Bảo Ấn Địa Tạng ((Hòin Jizò): Cứu độ súc sinh _ Phóng Quang Vương Địa Tạng (Hòkò- ò- Jizò) hoặc Kiên Cố Ý Địa Tạng (Kenko-i Jizò) hoặc Nhật Quang Địa Tạng (Nikkò Jizò): Cứu độ hàng Trời _ Bảo Xứ Địa Tạng (Hòsho Jizò): Cứu độ A Tu La _Bảo Chưởng Địa Tạng (Hòshò Jizò): Cứu độ Quỷ đói _Trì Địa Địa Tạng (Jiji Jizo) hoặc Trừ Cái Chướng Địa Tạng (Jogaishò Jizò): Cứu độ loài người _ Bảo Châu Địa Tạng (Hòju Jizò): Cứu độ nẻo Địa Ngục _ Hỏa Phục Địa Tạng (Hifuse Jizò): ngăn chận nạn núi lửa. Điển hình là các Tượng Địa Tạng được dựng gần núi lửa Chasudake tại Nhật Ngoài ra Địa Tạng Bồ Tát còn được thờ phụng qua nhiều tên gọi như sau: _ Đàn Đà Địa Tạng (Danda Jizò) _ Nê Túc Địa Tạng (Doroashi Jizò) _ Phúc Đới Địa Tạng (Hara-Obi Jizò) _ Bị Mạo Địa Tạng (Hibò Jizò) _ Hắc Địa Tạng (Kuro Jizò) _ Không Thủ Địa Tạng (Karate Jizò) _ Lạp Địa Tạng (Kasa Jizò) _ Khái Chỉ Địa Tạng (Sekidome Jizò) _ Thúc Tử Địa Tạng (Tawashi Jizò) _ Lung Địa Tạng (Tsunbo Jizò) _ Thỉ Điền Địa Tạng (Yata Jizò) _ Thủ Chấn Địa Tạng (Kubifuri Jizò) Người dân Nhật thường khắc hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát trên đá hoặc dùng đá tảng, cắt xẻ đục đẽo đơn sơ rồi dựng hình tượng của Ngài trên các bệ đá dựng ở ven đường, cổng ra vào của làng mạc, nơi hoang vắng nguy hiểm… nhằm bảo vệ cho làng mạc và khách lữ hành. Riêng ở Tokyo có hơn 500 bức tượng Jizò (Địa Tạng) được dựng dọc theo nhiều tuyến đường Do người Nhật tin tưởng Địa Tạng là vị Bồ Tát giám hộ trẻ thơ, nên thường cho trẻ con chơi đùa loanh quanh, gần một bức tượng Địa Tạng với niềm tin là Ngài sẽ trông coi và bảo vệ cho lũ trẻ [1] Phật Giáo Nhật Bản chọn ngày 24 tháng bảy theo Lịch của Nhật Bản là ngày vía của Địa Tạng Bồ Tát và chọn ngày 23, 24 tháng tám làm ngày lễ hội Địa Tạng Bồn (còn gọi là ngày truyền thống của trẻ thơ), nhằm nhắc nhở đến sự mệnh thiêng liêng của Ngài là bảo vệ trẻ thơ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của đời người. Nhiều chùa ở Nhật Bản có dựng một dãy tượng Địa Tạng bằng đá đẽo thô mộc, gọi là Sentai Jizò (ngàn thân Địa Tạng) Do Bản Tính khoan hòa, từ ái của Địa Tạng Bồ Tát kèm với hình tướng nhà sư, khiến Ngài có vẻ gần gũi với dân gian hơn là vị Thần khác. Ngài được gắn liền với Đức Phật A Di Đà cùng với Bồ Tát Quán Âm thì được xưng tán là “Nhất Phật Nhị Bồ Tát”. Đôi khi, Địa Tạng Bồ Tát còn được biểu thị như là một chiến binh của Thần Đạo Nhật Bản được đồng hóa với Atago Gongen (vị Thần bảo vệ khỏi bị lửa đốt, là một Nhập Thể tạm thời của Jizị được thờ phụng trên núi Atago thuộc tỉnh Kyoto) với hình dáng một chiến tướng ngồi trên lưng ngựa, tay cầm cây gậy hành hương và viên ngọc ước. Thần Thú của Thần Atago Gongen là con lợn rừng, biểu tượng cho sức mạnh, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường….nhằm giải cứu cho những chiến binh thoát khỏi mọi tình huống khó khăn nguy cấp hoặc tránh sự gây hại của lợn rừng. [1] Xem thêm : Vị Bồ Tát bảo vệ trẻ em
    3 likes
  8. Người dân Việt Nam; Trung Hoa thờ phụng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng với Tầm Thanh Cứu Khổ Quán Thế âm Bồ Tát, Thệ Nguyện Độ Tận Chúng Sinh Địa Tạng Bồ Tát và hợp xưng là Sa Bà Tam Thánh ( Ta Bà Tam Thánh ) Một cách bài trí chánh điện tiểu biểu của chùa Việt Nam (khu vực Trung và Nam bộ) theo truyền thống Phật giáo Đại thừa Bắc truyền. Chính giữa là tượng Ta bà giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Bên tay trái Ngài là Địa Tạng Bồ Tát Bên tay phải Ngài là Quàn âm Bồ Tát (Hai vị trí Bồ Tát có thể hoán đổi ) Một ban thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát - một hình thức tiêu biểu trong bài trí hệ thống tượng thờ chùa Việt Nam (khu vực Trung và Nam bộ) Một ban thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát - một hình thức tiêu biểu trong bài trí hệ thống tượng thờ chùa Việt Nam (khu vực Trung và Nam bộ)===== Chú thích : Truyền thống Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam, chúng ta thường được gặp 3 thế giới : 1 - Tây Phương Cực Lạc Thế Giới : Ở đó cò Đức Phật A Di Đà là giáo chủ, với 2 vị Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế hộ trì, gọi là Tây Phương Tam Thánh Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. 2 - Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới : Ở đó Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Phật làm giáo chủ, với 2 vị Bồ Tát Nhật Quang thường chiếu và Nguyệt Quang Thường Chiếu hộ trì, gọi là Đông Phương Tam Thánh. Nam mô Đông Phương giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang thường chiếu Bồ Tát, Nguyệt Quang Thường Chiếu Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát. 3- Trung Thiên Thế Giới (hay còn gọi là cõi ta bà này ): ở đây Đức Phật Thích Ca làm giáo chủ,với 2 vị Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát hộ trì. Nam mô Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát Do Đức Thích Ca Mâu Ni Ngài đang là giáo chủ cõi Ta Bà thời hiện tại, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát là hai vị Bồ Tát vì có hạng nguyện lớn lao và rất cần thiết cho con người trong xã hội - cõi ta bà này, nên các Ngài đã có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống cũng như văn hóa tinh thần của người Đông Phương, người Đông Phương khi còn sống gặp khổ nạn thì cầu mẹ hiền Quán Âm cứu khổ, khi mất rồi, thì trông cậy vào sự phổ độ của giáo chủ cõi U Minh Địa Tạng Từ Tôn, con người ngoài sống và chết ra đâu có gì to lớn hơn cũng như đáng để lo hơn.Quán Thế Âm Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà phải hóa hiện vô lượng vô số hóa thân để ứng duyên cứu độ. Địa Tạng Bồ Tát cũng vậy vì duyên trần cảnh khổ nên Ngài cũng không ngại “trục loại tùy hình, ứng hiện sắc thân”. Tôn Thiết tượng thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng với Tầm Thanh Cứu Khổ Quán Thế âm Bồ Tát, Thệ Nguyện Độ Tận Chúng Sinh Địa Tạng Bồ Tát và hợp xưng là Sa Bà Tam Thánh ( Sa Bà Tam Thánh )- Là như vậy.
    3 likes
  9. (*) Mật Giáo của Trung Hoa ghi nhận: Địa Tạng Bồ Tát là Tôn Chủ của Địa Tạng Viện trong Thai Tạng Giới Mạn Đà La (Garbha-dhàtu-manïdïala), hiển hình Bồ Tát, tay trái cầm hoa sen , trên hoa có cây phướng báu Như Ý, tay phải cầm viên ngọc báu ngồi trên hoa sen. Trong Kim Cương Giới Mạn Đà La (Vajra-dhàtu-manïdïala) thì Địa Tạng Bồ Tát được ghi nhận qua tên gọi Kim Cương Tràng Bồ Tát (Vajra-ketu) là một trong bốn vị Bồ Tát thân cận của Đức Bảo Sinh Như Lai (Ratna-samïbhava-tathàgata) Căn cứ vào sự đề xuất của Kinh Bát Đại Bồ Tát Man Đồ La thì Địa Tạng Bồ Tát là một trong tám vị Đại Bồ Tát gồm có: Quán Tự Tại (Avalokite’svara), Từ Thị (Maitreya), Hư Không Tạng (Àkà’sa-garbha), Phổ Hiền (Samanta-bhadra), Kim Cương Thủ (Vajra-pànïi), Văn Thù (Mamïju’srì), Trừ Cái Chướng (Sarva-nìvaranïa-visïkambhin), Địa Tạng (Ksitigarbha). Tám vị Bồ Tát này cùng phụ giúp Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn các chúng sinh về Thế Giới Cực Lạc. (*) Do Địa Tạng Bồ Tát dùng sức Bi Nguyện cứu độ chúng sinh, nhất là đối với chúng sinh đang chịu khổ tại cõi Địa Ngục, lại đặc biệt thương xót, thị hiện thân Diêm La Vương (Yàma-ràja-kàya), thân Địa Ngục (Nakara-kàya) rộng vì chúng sinh chịu tội khổ mà nói Pháp để giáo hóa cứu độ. Do điều này mà thân Diêm La Vương thường được xem là một Hóa Thân (Nirmanïa-kàya) của Địa Tạng Bồ Tát. Như Kinh Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương đề xuất Bản Địa của Diêm La Vương là Địa Tạng Bồ Tát.Vì chịu ảnh hưởng sâu xa của tư tưởng này cùng với tư tưởng Địa Ngục (Nakara) trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra) nên dân gian Trung Hoa cho rằng Địa Tạng Bồ Tát là vị Chủ Tể tối cao của Địa Ngục. Trong động Thiên Phật ở Đôn Hoàng có ghi nhận hình vẽ Địa Tạng Thập Vương tức hội các tượng của Địa Tạng Bồ Tát với mười vị vua Diêm La kèm theo lời văn minh họa. Hình vẽ này được tạo lập trong đời Tống, niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, năm thứ tám (983) nhằm nhấn mạnh rằng Ngài là “Đấng giải thoát khỏi cực hình Địa Ngục” Chính tư tưởng bên trên đã khiến cho một số người ngộ nhận, cho rằng Địa Tạng Bồ Tát chỉ ở tại Địa Ngục để cứu độ chúng sinh trong Địa Ngục. Từ đấy trong việc làm tang ma, Thanh Minh tảo mộ qua tiết Trung Nguyên, Pháp Hội Siêu Độ…thường cúng phụng Địa Tạng Bồ Tát để cầu đảo cho vong linh được siêu độ. Ngoài ra tại nghĩa địa, linh tháp hoặc gặp chiến loạn, sự cố, đất đang phát triển mà mọi người đều đi qua…. thường xây dựng Miếu bái tế Địa Tạng với hy vọng Địa Tạng Vương Bồ Tát bảo vệ người sống, siêu độ vong linh Thật ra ở trong cả sáu nẻo, Ngài đều có năng lực giáo hóa tế độ. Điều đó được biểu thị qua sáu vị Địa Tạng, tức là Địa Tạng độ hóa chúng sinh trong sáu nẻo. Tên của sáu vị Địa Tạng đều y theo Thế Giới Sa Bà (Sàha-dhàtu) có chúng sinh trong sáu nẻo mà nói. Thế Giới ở phương khác hoặc có bảy nẻo, hoặc năm nẻo… chẳng giống nhau thời Địa Tạng cũng y theo nhân duyên của mỗi phương để mỗi mỗi thị hiện ứng hóa. (*) Danh xưng của Địa Tạng trong sáu nẻo thời các Kinh Quỹ ghi chép chẳng giống nhau. Nhưng theo đại thể mà nói thì đều bắt nguồn ở Đại Nhật Kinh Sớ, quyển thứ năm là: Sáu vị Thượng Thủ (Sïadïa-pramukha) trong chín Tôn (Nava-nàtha) của Địa Tạng Viện trong Thai Tạng Giới (Garbha-dhàtu) tức là: Địa Tạng (Ksïitigarbha), Bảo Xứ (Ratnakàra), Bảo Chưởng (Ratna-pànïi), Trì Địa (Dharanïi-dhàra), Bảo Aán Thủ (Ratna-mudrà-hasta), Kiên Cố Ý (Drïdïhàdhyàsaya). Trong đó Địa Tạng Bồ Tát là Hóa Tôn của cõi Địa Ngục Bảo Thủ Bồ Tát là Hóa Tôn của cõi Ngạ Quỷ Bảo Xứ Bồ Tát là Hóa Tôn của nẻo Súc Sinh Bảo Ấn Thủ Bồ Tát là Hóa Tôn của nẻo A Tu La Trì Địa Bồ Tát là Hóa Tôn của cõi Người Kiên Cố Ý Bồ Tát là Hóa Tôn của cõi Trời. (*) Kinh Thập Vương ghi nhận rằng: 1_ Dự Thiên Hạ Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Trời, tay trái cầm viên ngọc Như Ý, tay phải kết Thuyết Pháp Ấn 2_ Phóng Quang Vương Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Người, tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải tác Thí Vô Úy Ấn 3_ Kim Cương Tràng Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi A Tu La, tay trái cầm cây phướng Kim Cương, tay phải tác Thí Vô Úy Ấn 4_ Kim Cương Bi Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Súc Sinh, tay trái cầm cây Tích Trượng, tay phải tác Tiếp Dẫn Ấn 5_ Kim Cương Mật Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Ngạ Quỷ, tay trái cầm viên ngọc báu, tay phải tác Cam Lộ Ấn 6_ Kim Cương Nguyện Địa Tạng là Hóa Tôn của cõi Địa Ngục, tay trái cầm cây phướng Diêm Ma, tay phải tác Thành Biện Ấn. (*) Kinh Liên Hoa Tam Muội ghi nhận là: 1_ Đàn Đà Địa Tạng hay hóa độ nẻo Địa Ngục, tay cầm cây phướng đầu người [Đàn Đa (danïdïa)ødịch là Nhân Đầu Tràng] 2_ Bảo Châu Địa Tạng hay hóa độ nẻo Ngạ Quỷ, tay cầm viên ngọc báu 3_ Bảo Ấn Địa Tạng hay hóa độ nẻo Súc Sinh, duỗi bàn tay Như Ý Bảo Ấn 4_ Trì Địa Địa Tạng hay hóa độ nẻo Tu La, hay gìn giữa đại địa ủng hộ hàng Tu La 5_ Trừ Cái Chướng Địa Tạng hay hóa độ nẻo người, vì con người trừ sự che chướng của tám khổ 6_ Nhật Quang Địa Tạng hay hóa độ nẻo Trời, soi chiếu năm hiện tượng suy thoái của người Trời để trừ khổ não cho họ. (*) Địa Tạng Bồ Tát Thánh Đức Tân Biên ghi nhận 6 vị Địa Tạng là:Hộ Tán Địa Tạng, Diên Mệnh Địa Tạng, Mâu Ni Địa Tạng, Tán Long Địa Tạng, Phá Thắng Địa Tạng, Bất Hưu Tức Địa Tạng Ngoài ra còn có thuyết ghi nhận là: Địa Tạng Bồ Tát cùng với các vị Bồ Tát Quán âm (Avalokite’svara), Đại Thế Chí (Mahà-sthamapràpta), Long Thọ (Nàgarjuna)…đều là các vị theo hầu Đức Phật A Di Đà (Amitàbha-buddha) và xưng là A Di Đà Ngũ Phật. Cũng còn nói là khi Đức Phật A Di Đà còn là con người thì Bồ Tát Pháp Tạng (Dharmàkara) với Bồ Tát Địa Tạng có cùng một Thể.
    3 likes
  10. (*) Địa Tạng Bồ Tát còn được xem là vị Thần bảo toàn đời sống qua tên gọi là Diên Mệnh Địa Tạng tức Thân Hóa Hiện bởi Thệ Nguyện của Địa Tạng Bồ Tát để khiến cho sống lâu làm lợi ích cho đời, hay tránh khỏi sự chết yểu, đoản mệnh có đủ Đức của Pháp khoẻ mạnh sống lâu. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra), quyển Thượng, Phẩm Như Lai Tán Thán ghi chép rằng: “Nếu có người nào mới sinh con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sinh ra đó mà đọc tụng Kinh Điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát đủ một vạn biến. Được vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay gái mới sinh ra đó, nếu đời trước nó đã gây tạo tội vạ chi cũng được thoát khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. Còn như nó là đứa nương nơi Phước Lực mà thọ sinh, thì đời nó càng được an vui hơn sống lâu hơn”.
    3 likes
  11. _ Khoảng Thế Kỷ thứ 5, Tín Ngưỡng Địa Tạng được phổ biến tại Trung Hoa qua Kinh Đại Tạng Bồ Tát Thập Luân (Da’sa-cakra-Ksïitigarbha-sùtra) trong đó nêu lên những Đức Tính của Ngài. (*) Sau đời Tùy (581_618), Đường (618_917) thì Tín Ngưỡng Địa Tạng được sùng mộ hưng thịnh. Ví dụ như Đời Tùy y theo Kinh Địa Tạng Thập Luân (Da’sa-cakra-Ksïitigarbha-sùtra) mà đề cao thuyết Phổ Phật, Phổ Pháp cùng với Địa Tạng Bồ Tát Lễ Nghi Sám Pháp và xưng là Tam Gia Giáo. (*) Đời Tống, Thường Cẩn có soạn một quyển sách ghi nhận 32 loại sự tích linh nghiệm liên quan đến Địa Tạng Bồ Tát từ đời Lương (502_557) đến đời Tống (960_1279). Do điều này mà Tín Ngưỡng Địa Tạng được phổ biến rộng rãi, người đời lúc bấy giờ đều lưu truyền, phỏng họa hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng để trong Tự Viện hoặc Phật Đường của tư nhân mà lễ bái cúng dường. Nổi tiếng nhất là hình tượng Địa Tạng Bồ Tát được vẽ trên bức tường phía Đông của chùa Thiện Tịch, huyện Đức Dương, Hán Châu trong Đời Lương. (*) Lại nữa, Phật Giáo Trung Hoa còn xếp Địa Tạng Bồ Tát là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (Văn Thù, Phổ Hiền, Quán âm, Địa Tạng) ứng hóa giảng thuyết tại Đạo Tràng ở núi Cửu Hoa thuộc tỉnh An Huy. Điện thờ đức Địa Tạng vương trên đỉnh Cửu Hoa sơn Tống Cao Tăng Truyện, quyển 20 ghi nhận rằng: “ Địa Tạng Bồ Tát sinh hạ vào giòng Vương Tộc ở nước Tân La, tên là Kim Kiều Giác rồi xuất gia. Sau thời Đường Huyền Tôn thì đến Trung Hoa tu Đạo ở núi Cửu Hoa, ở 75 năm đến ngày 30 tháng 7 năm Khai Nguyên thứ 26, đời Đường thì viên tịch, thọ thế 99 tuổi. Vì nhục thân chẳng hư hoại nên đem toàn thân vào Tháp, tức là Nhục Thân Điện tại núi Cửu Hoa, tương truyền tức là nơi Địa Tạng Bồ Tát thành Đạo”. Từ sự tích này nên người dân Trung Hoa chọn ngày 30 tháng 7 âm Lịch làm ngày Thánh Sinh của Địa Tạng Bồ Tát. (*) Đến đời Thanh (1644_1911) thì Địa Tạng Bồ Tát được xem là Bản Tôn chủ quản ngũ cốc phong phú đồng thời cũng chủ về sự kính ái, phù hộ cho gia đình hòa thuận. (*) Ngày nay, đại đa số người dân Trung Hoa đều cho rằng Địa Tạng Bồ Tát là vị Chủ Tể tối cao của Địa Ngục và xưng tán Ngài là U Minh Giáo Chủ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát cai quản mười điện Diêm Vương, tức là Bản Tôn chuyên cứu độ chúng sinh bị khổ đau trong cõi Địa Ngục. Nguồn gốc của danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát được nói ở trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Thập Luân (Da’sa-cakra-Ksïitigarbha-sùtra) là: “An nhẫn chẳng động giống như đại địa, lặng lẽ suy nghĩ ngầm biết kho tàng bí mật (Bí Tạng) cho nên gọi là Địa Tạng” “An nhẫn chẳng động giống như đại địa” là nói Nhẫn Ba La Mật (Ksïànti-pàramità) bậc nhất của Địa Tạng Bồ Tát , giống như đại địa (đất đai) hay chịu đựng chuyên chở mọi loại nghiệp tội của tất cả chúng sinh. “Lặng lẽ suy nghĩ” trong câu “Lặng lẽ suy nghĩ ngầm biết kho tàng bí mật” là hiển rõ sự chẳng thể luận bàn của Trí Tuệ Thiền Định ấy 3 .) Kinh Đại Phương Quảng Thập Luân, quyển một nói rằng:"Địa Tạng có ý nghĩa là ẩn chứa (kho báu bị che dấu trong lòng đất)" tức là nói tất cả kho báu ngầm dấu kín trong lòng đất đều là Địa Tạng (*) Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận, quyển 4 ghi rằng: "Dùng kho tàng ẩn chứa trong lòng đất ví như hiển bày Như Lai Tạng (Tathàgata-garbha). Nhưng kho báu này, một phương diện là đại biểu cho Phật Tính (Buddhatà) trong sạch không nhiễm bẩn của chúng sinh, hay khiến cho chúng sinh thành tựu viên mãn Phật Quả. Một phương diện khác là đại biểu cho Phước Đức, Trí Tuệ, Tài Bảo vô tận của sinh mệnh, cho nên Địa Tạng đại biểu cho tất cả kho tàng ẩn chứa Công Đức chẳng thể nghĩ bàn”. Địa (đất) còn có bảy ý nghĩa đặc trưng là: 1_ Đất hay sinh ra vạn vật 2_ Đất thu nhiếp vạn vật 3_ Đất chuyên chở vạn vật 4_ Đất cất giữ nhiều kho tàng của cải vật chất 5_ Đất hay nuôi dưỡng giúp cho vạn vật tăng trưởng 6_ Đất hay nâng đỡ, là chỗ dựa của vạn vật 7_ Đất bền chắc vững vàng, chẳng động Do đó dùng hình dạng cụ thể của Đất (địa) để biểu thị cho Phước Đức có được của Địa Tạng Bồ Tát là: 1_ Địa Tạng Bồ Tát hay sinh ra mọi Pháp lành 2_ Địa Tạng Bồ Tát hay thâu nhiếp mọi Pháp lành trong Tâm Đại Giác 3_ Địa Tạng Bồ Tát hay gánh vác tất cả chúng sinh, dìu dắt họ tiến dần trên con đường giác ngộ. 4_ Địa Tạng Bồ Tát hay cất giữ mọi Pháp màu nhiệm 5_ Địa Tạng Bồ Tát hay dùng mọi Pháp lành bình đẳng giúp cho mọi chúng sinh tăng trưởng Chính Pháp giải thoát. 6_ Địa Tạng Bồ Tát là chỗ dựa vững chắc của tất cả chúng sinh. 7_ Địa Tạng Bồ Tát hay hiển bày tâm Bồ Đề màu nhiệm, bền chắc như Kim Cương chẳng thể bị phá hoại. Trong Kinh lại ghi rằng: "Địa Tạng Bồ Tát trụ ở Kim Cương Bất Khả Hoại Hạnh Cảnh Giới Tam Muội, giống như Kim Cương Địa Luân rất bền chắc chẳng thể phá hoại, cho nên hay trụ giữ vạn vật khiến cho chẳng lay động. Lại giống như trái đất hay ẩn chứa các loại kho tàng quý báu không có cùng tận, hàm chứa tất cả hạt giống, khiến cho chẳng mục nát, dần dần tươi tốt thêm. Địa Tạng hay khiến cho đầy đủ tất cả Tâm Nguyện của chúng sinh thuộc Thế Gian và Xuất Thế Gian, là thai mẹ (Mẫu Thai) hay sinh ra chúng sinh để thành Phật. Đại Địa ở ý nghĩa hiện tượng cụ thể trên, có đầy đủ tính chất đặc biệt là: Sinh trưởng, bền chắc, trụ giữ vạn vật, chẳng động, rộng lớn, cùng với thai mẹ có đầy đủ khả năng sinh ra tất cả kho báu. Do Địa Tạng Bồ Tát cũng có đầy đủ Phước Đức như vậy, cho nên dùng Địa Tạng để tác làm danh hiệu đó". (*) Phẩm Tựa của Kinh Đại Phương Quảng Thập Luân, quyển 1 và Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, quyển 1 ghi rằng: “Địa Tạng Bồ Tát do Thệ Nguyện Đại Bi ở đời quá khứ, nên thị hiện thành thân Đại Phạm Vương, thân Đế Thích, thân Thanh Văn, thân Diêm La Vương, thân sư tử, thân cọp, thân chó sói, thân bò, thân ngựa cho đến thân La Sát, thân Địa Ngục…vô lượng vô số thân khác loài để giáo hóa chúng sinh và đặc biệt là thuận theo niệm của chúng sinh, thọ nhận nỗi khổ đau ở đời ác năm Trược, tương ứng với điều mong cầu của chúng sinh giúp cho họ tiêu Tai tăng Phước. Do thành thục căn lành của chúng sinh mà Địa Tạng Bồ Tát biến hiện vô số Hóa Thân như vậy để cứu độ chúng sinh, nên lại được xưng là Thiên Thể Địa Tạng” (*) Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra), Phẩm Phân Thân Tập Hội ghi nhận lời phó chúc của Đức Thích Tôn, ở trong thời đại không có Phật, từ sau khi Đức Phật Thích Ca (‘Sàkyamunïi-buddha) viên tịch cho đến lúc Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) thành Đạo, thời Địa Tạng sẽ làm vị Bồ Tát tự thề độ hết chúng sinh trong sáu nẻo mới thành tựu Nguyện. Do điều này mà Địa Tạng Bồ Tát là vị Bồ Tát có Bi Nguyện (Kàrunïa-pranïidhàna) đặc biệt sâu nặng. Dựa vào Đức đặt biệt này mà Phật Giáo Đồ thường xưng tán Ngài là Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. (*) Do trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện (Ksïitigarbha-pranïidhàna-sùtra), có ghi nhận hai tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát là: Bà La Môn Nữ và Quang Mục Nữ vì muốn cứu độ mẹ thoát khỏi nỗi khổ đau trong Địa Ngục mà chuyên tâm tu hành, thề cứu giúp mẹ với tất cả chúng sinh. Cho nên Phật Giáo Trung Quốc nhận định Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là Kinh báo hiếu của nhà Phật nhằm nhấn mạnh việc tu học bắt đầu từ sự hiếu kính cha mẹ, tôn trọng Thầy Tổ cho đến cứu giúp chúng sinh. (*) Địa Tạng Bồ Tát lại được xem như là kho tàng ẩn chứa các Công Đức vi diệu, đầy đủ các trân bảo giải thoát, giống như viên ngọc Như Ý tuôn mưa mọi tài bảo. Tùy theo sự mong cầu chẳng luận là cầu xin ngũ cốc được mùa hoặc là cầu Phước Đức, tiền của, giàu có đều khiến được mãn túc. Kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân ghi rằng: "Tùy theo chỗ ở. Nếu quần áo, thức ăn uống, đồ dùng hàng ngày của các hữu tình có chỗ thiếu thốn mà hay chí tâm xưng tên niệm tụng, quy kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, thời tất cả đều được như Pháp mong cầu". Lại nói rằng: "Hay thủ hộ cho Hành Giả tu học pháp môn của Địa Tạng Bồ Tát, khiến cho tất cả tiền của, quan vị chẳng thiếu thốn". Do điều này mà Địa Tạng Bồ Tát được xem là Bản Tôn Tài Bảo, hay khiến cho tất cả chúng sinh thỏa mãn mọi mong cầu, chẳng luận là cầu xin ngũ cốc được mùa hoặc cầu Phước Đức, tiền của, giàu có.
    3 likes
  12. Lý tưởng Bồ-tát qua hình tượng ngài Địa Tạng 18 Tháng 12 2009 Hồng chung sơ khấu Bảo kệ cao âm Thượng thông thiên đường Hạ Triệt địa phủ Nam-mô U minh giáo chủ, cứu khổ bổn tôn, cứu bạt minh đồ, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát ma-ha-tát.[1] Có lẽ suốt cuộc đời tôi sẽ không sao quên được bài kệ và danh hiệu của vị Bồ-tát ấy, bởi bài kệ và danh hiệu ấy đã đánh dấu một thời hành điệu của tôi. Làm sao quên được những kỉ niệm và hình ảnh của một chú tiểu nhỏ bé với cái chỏm trên đầu, mới ba giờ rưỡi sáng, trong cái lạnh giá buốt của miền cao nguyên trung phần Pleiku, tay cầm chùy đại hồng chung, miệng đọc bài kệ và niệm danh hiệu của Bồ-tát Địa Tạng và đánh lên những tiếng chuông thanh thoát giữa đêm tàn cô tịch, nhất tâm cầu nguyện cho những chúng sanh đang chịu những cực hình khổ đau trong địa ngục và thức tỉnh cả nhân loại đang say giữa giấc mộng miên trường. Tiếng chuông, danh hiệu của Bồ-tát và bài kệ ấy đã theo tôi từ thời hành điệu như thế, và tôi cũng biết rằng đó là bài kệ nằm lòng của những người con Phật, bởi bài kệ niệm chung ấy ngày nào cũng được ngân vang trước hai thời công phu (công phu khuya và tối). Âm thanh, ý nghĩa bài kệ và danh hiệu Bồ-tát ấy cao huyền làm sao, và tôi chắc rằng không có một bài kệ nào hay hơn và ý nghĩa hơn có thể thay thế được. Hình vẽ Địa Tạng Bồ Tát ở Goryeo,Hàn quốc vào cuối thế kỉ 14 Chúng ta chưa bàn về ý nghĩa cao xa của kinh Địa Tạng hay hạnh nguyện, hình tượng… của ngài Địa Tạng, chỉ cần qua bài kệ ngắn 16 chữ và danh hiệu ấy, cũng đủ cho chúng ta thấy được tầm quan trọng về lý tưởng Bồ-tát qua hình tượng ngài Địa Tạng trong lòng người con Phật rồi. Tinh thần Đại thừa nói chung hay lý tưởng Bồ-tát nói riêng đã đưa Phật giáo vượt thoát những không gian hạn hẹp, vượt qua những giới hạn của nhà chùa hay tinh xá “cửa đóng then cài” hay “thiền môn u tịch”… để đưa Phật giáo đi vào cuộc đời, thể hiện lý tưởng độ sanh hay tinh thần cứu khổ của người con Phật. Đó chính là lý tưởng và tinh thần của các vị Bồ-tát. Cho đến ngày nay, nói theo ngôn ngữ của người xưa “sáu mươi năm cuộc đời” thì tôi đã đi hơn một nửa rồi. Trong suốt những năm dài học Phật, tôi chợt giật mình nhìn lại tinh thần siêu việt của Đại thừa hay lý tưởng Bồ-tát mà chư Phật, chư Tổ đã dạy cho người xuất gia ngay từ lúc bước chân vào đạo. Tôi nhớ ngày ấy, ngày đầu tiên mới xuất gia vào cửa chùa, chưa thuộc một bài kinh cơ bản nào, ngay cả chú Đại Bi, Sư phụ tôi đã dạy tôi học sáu chữ “Tỳ ni nhật dụng thiết yếu” (Luật dùng cần thiết hằng ngày). Người còn dạy “Nghi tiên học luật, hậu học tu-đa-la” (trước tiên phải học luật, sau đó mới học kinh). Giờ nghiệm lại những dòng kệ ấy, tôi chợt nhận ra lý tưởng siêu việt của Bồ-tát đã ẩn tàng bao la trong những dòng kệ Tỳ-ni ban đầu ấy. Năm mươi mốt câu kệ trong bộ luật này[2] đã dạy cho người xuất gia sơ cơ mới vào cổng chùa, từ những lúc gà gáy canh khuya, khi vừa thức dậy bước chân xuống giường cho đến khi đi ngủ, phải thiết lập chánh niệm trong mỗi một việc làm của mình và thực hiện lý tưởng Bồ-tát của người con Phật là phải cầu nguyện và hồi hướng công đức đến với tất cả chúng sanh “đương nguyện chúng sanh”. Phật giáo Đại thừa, hay lý tưởng Bồ-tát đã được thiết lập và truyền dạy cho những vị xuất gia sơ cơ, ngay khi phát nguyện ra khỏi nhà thế tục bước chân vào cửa đạo qua những bài kệ của luật Tỳ-ni hay bài kệ hô chung với hình ảnh của ngài Địa Tạng mà các chú tiểu đã đọc tụng và đánh lên những tiếng đại hồng chung thức tỉnh cả thiên hà, u cảnh “Thượng thông thiên đường, hạ triệt địa phủ.” Kinh Tạp A-hàm (Samyutta Nikaya) kể rằng: Có một hôm, tại xứ Kosambi, đức Phật từ trong rừng đi ra, trên tay Ngài cầm một nắm lá Simsapa và hỏi các vị Tỳ-kheo rằng lá trong rừng nhiều hay lá trên tay Ngài nhiều. Các Tỳ-kheo đều trả lời, lá trong rừng rất nhiều, lá trên tay rất ít. Đức Phật dạy, những gì Ngài dạy cho các Tỳ-kheo chỉ như lá trong tay của Ngài, còn những gì Ngài biết thì như lá trong rừng. Với tinh thần siêu việt của Đại thừa, chúng ta có thể hiểu rằng các vị Bồ-tát thuở xưa như ngài Mã Minh (Asvagosa), Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu), v.v… đã nương theo nắm lá Simsapa trong bàn tay của đức Phật và hướng đến rừng lá Simsapa vô tận trong rừng. Có lẽ trên tinh thần siêu việt ấy mà giáo lý Đại thừa đã được thành lập, lý tưởng Bồ-tát cao siêu đã xuất hiện ngay từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, để thay thế cho chủ nghĩa bộ phái sắp suy tàn và đưa Phật giáo phát triển một cách rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới. Đó chính là sự xuất hiện những tư tưởng siêu việt qua các bộ kinh như Bát-nhã (Prajna Paramita sutra), Pháp Hoa (Saddharmapundarika), Hoa Nghiêm (Avatamsaka), Duy-ma-cật (Vimalakirtinidesa), kinh Địa Tạng, Vu Lan Báo Hiếu, v.v… Lý tưởng Đại thừa của Phật giáo được thể hiện cụ thể qua những lý tưởng và hạnh nguyện của các vị Bồ-tát. Trong vô lượng Bồ-tát được đề cập trong các kinh điển Đại thừa, có bốn vị đại Bồ-tát nổi bật nhất: Văn Thù Sư Lợi (Manjuri), Phổ Hiền (Samantabhadra), Quán Âm (Avalokitesvara) và Địa Tạng (Kstigarbha). Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu về Bồ-tát Địa Tạng. Công hạnh, hình tướng cũng như sự tu chứng của vị Bồ-tát này được đức Phật mô tả cụ thể trong kinh Địa Tạng. Có thể khẳng định rằng, kinh Địa Tạng là một trong những kinh nổi bật của kinh điển Đại thừa và được người con Phật thọ trì đọc tụng rất nhiều tại các nước như Trung Hoa, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Một số học giả cho rằng kinh này được biên soạn tại Trung Hoa. Tuy nhiên, theo lịch sử truyền bá và dịch thuật kinh điển, bộ kinh này có nguồn gốc từ Ấn Độ, nguyên bản tiếng Phạn của kinh này tên là: Ksitigarbhaprani Dhana Sutra.[3] Kinh này được ngài Thật-xoa-nan-đà (Siksanada) dịch đầu tiên sang tiếng Hán vào thời đại nhà Đường, bản tiếng Hán là: 地 藏 菩薩 本 願 經 (Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện kinh). Sau đó bản kinh này được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác như tiếng: Hàn, Nhật, Việt… Ngày nay bản kinh này cũng được lưu hành, nghiên cứu và thọ trì tại các nước phương Tây với tựa đề là “Sutra of the Past Vows of the Earth Store Bodhisattva), do hội nghiên cứu dịch thuật của HT. Tuyên Hóa, Vạn Phật Thánh Thành, Mỹ quốc dịch và phổ biến. Bộ kinh này được đức Phật thuyết giảng tại cung trời Đao Lợi[4], nhân dịp Ngài lên cung trời này thuyết pháp độ thân mẫu của Ngài là hoàng hậu Maya, qua sự thưa thỉnh của đức Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi. Tông chỉ bộ kinh này được HT. Tuyên Hóa tóm tắt trong tám chữ:[5] “Hiếu đạo, Ðộ sanh, Bạt khổ, Báo ân”, do vậy kinh này cũng được gọi là Hiếu kinh của Phật giáo. Nội dung bộ kinh này đức Phật thuyết giảng về công hạnh cao cả của ngài Địa Tạng qua những tiền kiếp của Ngài, đặc biệt là hiếu hạnh và sự độ sanh của Ngài. Lý tưởng Bồ-tát và công hạnh của ngài Địa Tạng được đức Phật mô tả rất nhiều qua các kinh điển Đại thừa như: Phật Thuyết Đại Phương Quảng Thập Luân kinh, Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập Luân kinh, Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo kinh, Phật thuyết La Ma Già kinh, Hoa Nghiêm kinh, Hoa Nghiêm kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, Hoa Nghiêm Thập Ðịa kinh, Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán kinh, Phật Thuyết Bát Ðại Bồ-tát kinh, v.v…[6] Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật có dạy về bốn tiền thân, với bốn đại nguyện của ngài Địa Tạng: 1. Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị trưởng giả này đã phát đại nguyện: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.”[7] 2. Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp. Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sanh về cõi trời. Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.”[8] 3. Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, ngài Địa Tạng là một vị vua rất đức độ, thương dân… nhưng chúng sanh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện: “Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật.”[9] 4. Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sanh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu… vì lòng thương mẹ và chúng sanh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện: “Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sanh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.”[10] Có lẽ chính nhờ những tư tưởng hiếu đạo cao cả của đức Thế Tôn lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp độ thân mẫu Maya, về quê hương hóa độ thân phụ Tịnh Phạn Vương, hay các hạnh hiếu cao cả của tôn giả Mục Kiền Liên qua kinh Vu Lan Bao Hiếu và những hạnh hiếu cao cả của ngài Địa Tạng qua kinh Địa Tạng này… mà Phật giáo đã cảm hóa được tính độc tôn của Nho giáo từng thống trị ở đại lục Trung Hoa, đồng thời góp phần to lớn vào việc xây dựng nền đạo đức Đông phương. Tinh thần vô uý cao cả phát nguyện vào các địa ngục kinh khiếp để cứu độ những chúng sanh đầy tội lỗi ấy của đức Địa Tạng luôn là biểu tượng tôn quí để người con Phật hướng về đảnh lễ chí thành: “Chúng sanh độ tận Phương chứng Bồ-đề, địa ngục vị không thệ bất thành Phật, đại bi đại nguyện đại thánh, đại từ, bổn tôn địa tạng Bồ-tát Ma ha tát.”[11] Chính lý tưởng Bồ-tát siêu việt và cao cả ấy, hình tượng ngài Địa Tạng đã trở thành lý tưởng sống vị tha cao thượng qua một thành ngữ nổi danh: “Nếu ta không vào địa ngục thì ai sẽ vào?” (If I do not go to hell, who else will go?) Nếu quê hương của Phật giáo có Tứ Động Tâm[12] hay Bốn Thánh Tích thiêng liêng của người con Phật, thì Phật giáo Trung Hoa có Tứ Đại Danh Sơn. Tứ Đại Danh Sơn là bốn thánh cảnh nổi danh, gắn liền với những huyền thoại nhiệm mầu về hóa thân tu tập của bốn vị Bồ-tát nổi danh trong Phật giáo, đó là: Bồ-tát Quán Thế Âm tại Phổ Đà Sơn còn gọi là Hải Thiên Phật Quốc ở tỉnh Triết Giang, Bồ-tát Phổ Hiền tại Nga Mi Sơn còn gọi là Tây Nam Phật Quốc ở tỉnh Tứ Xuyên, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi tại Ngũ Đài Sơn còn gọi là Thanh Lương Thế Giới ở tỉnh Sơn Tây và Bồ-tát Địa Tạng tại Cửu Hoa Sơn còn gọi là Liên Hoa Phật Quốc ở tỉnh An Huy.[13] Theo các sách như Thần Tăng Truyện, Cửu Hoa Sơn Chí… thì lịch sử của Cửu Hoa Sơn, thánh địa đạo tràng của ngài Địa Tạng được kể như sau: Vào năm 695 Tây lịch, vua nước Tân La (Hàn Quốc ngày nay) hạ sanh thái tử Kim Kiều Giác, lớn lên Thái tử có lòng mến mộ Phật pháp rất sâu. Năm 24 tuổi, ông từ bỏ hoàng cung quyết chí xuất gia, lấy hiệu là Địa Tạng. Lúc bấy giờ, Tỳ-kheo Địa Tạng nghe danh của ngài Huyền Trang sang Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh và trở về Trung Hoa, giúp Phật giáo đời Đường phát triển đến đỉnh cao, hơn nữa Phật giáo Tân La được truyền từ Trung Hoa vào… Tỳ-kheo Địa Tạng phát nguyện vượt đại dương mênh mông đến Trung Hoa tu tập, hóa độ chúng sanh. Sau những năm vân du tham học nhiều nơi, cuối cùng Tỳ-kheo Địa Tạng đến núi Cửu Hoa, thấy cảnh núi non hùng vĩ, phong cảnh thanh nhàn thoát tục, Ngài dừng lại ở ngọn núi này lập một thảo am quyết tâm khổ hạnh tu đạo. Trong vùng lân cận của núi Cửu Hoa có một vị phú thương tên là Văn Các Lão, là một Phật tử có tâm hộ trì Phật pháp, từng phát tâm cúng dường và xây dựng rất nhiều chùa viện. Nhân một lần đi ngoạn cảnh tại núi Cửu Hoa, Văn Các Lão diện kiến được sự tinh tấn tu hành, cũng như đạo hạnh cao thâm của Tỳ-kheo Địa Tạng, ông liền thưa Tỳ-kheo Địa Tạng muốn dâng cúng Ngài một khu đất và lập một tự viện để Ngài tu hành. Tỳ-kheo Địa Tạng nói chỉ cần một khu đất che phủ bởi tấm áo Cà sa của Ngài, nhưng khi Ngài giũ áo lên thì tấm Cà sa phủ cả ngọn núi Cửu Hoa. Văn Các Lão vừa kính phục vừa vui mừng, liền mua cả ngọn núi Cửu Hoa cúng dường Ngài, ông còn phát tâm theo ủng hộ Ngài và cho người con trai của mình tên là Đạo Minh xuất gia theo Ngài học đạo. Từ ấy dân làng các vùng lân cận và các nơi đều kéo nhau về núi Cửu Hoa học Phật dưới sự hướng dẫn của Tỳ-kheo Địa Tạng, cũng trong thời gian ấy rất nhiều huyền thoại mầu nhiệm về sự cứu độ chúng sanh được kể về Ngài. Đến năm 99 tuổi, Tỳ-kheo Địa Tạng gọi đồ chúng đến dặn dò mọi việc rồi ngồi kiết già an nhiên thị tịch, lúc ấy là ngày 30 tháng 7 âm lịch. Theo lời dặn của Ngài các đệ tử đóng một cái quan bằng gỗ và tôn thờ tại núi Cửu Hoa, ba năm sau khai quan ra thì thấy nhục thân Ngài vẫn nguyên vẹn, sắc diện hồng hào, tỏa mùi thơm… các đệ tử liền xây một bảo tháp cao ba tầng trên núi Cửu Hoa để tôn thờ nhục thân Ngài, gọi là “Nhục thân bảo tháp”. Cũng trong năm ấy, năm 797, Hoàng đế nhà Đường lúc ấy là Đường Đức Tông nghe việc hy hữu nhiệm mầu, liền ban chiếu chỉ xây một bảo điện to lớn bao lên trên bảo tháp để bảo vệ nhục thân của ngài, gọi là “Nhục thân bảo điện” để tỏ lòng kính ngưỡng phụng thờ. Và nhục thân của Ngài đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Ngọn núi Cửu Hoa còn gắn liền với nhiều huyền thoại linh ứng về sự cứu độ chúng sanh của Bồ-tát Địa Tạng[14] và ngay từ thời ấy đến tận bây giờ, thánh địa Cửu Hoa Sơn trở thành một trong bốn thánh cảnh thiêng liêng nhất của Phật giáo Trung Hoa. Hàng năm, thánh địa Cửu Hoa sơn thu hút hàng vạn Phật tử và du khách tại Trung Hoa cũng như trên thế giới đến chiêm bái và viếng thăm. Theo lịch sử của Cửu Hoa Sơn, Tỳ-kheo Địa Tạng thị tịch vào ngày 30 tháng 7 âm lịch, Phật giáo đã chọn ngày này làm ngày lễ vía hằng năm của Bồ-tát Địa Tạng. Cũng trên tinh thần ấy, sau lễ Vu Lan, các chùa thường khai kinh Địa Tạng và thọ trì, đọc tụng hết tháng này. Và các pháp hội về Bồ-tát Địa Tạng cũng thường được tổ chức trong những ngày này. Trong các tranh tượng của chư đại Bồ-tát, chúng ta có thể thấy rằng, hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng là tiêu biểu cho hình dáng và lý tưởng của người xuất gia hơn là những hình tượng của các vị Bồ-tát khác. Nếu hình tượng của Bồ-tát Quán Thế Âm có hình dáng của người mẹ hiền, với bình cam lộ, giọt nước, cành dương xoa dịu những nỗi khổ đau nơi trần thế; hình tượng của Bồ-tát Văn Thù như một nhà thông thái tự tại trên lưng sư tử oai hùng, với thanh gươm trí tuệ chặt đứt những sợi dây phiền não vô minh; hình tượng của Bồ-tát Phổ Hiền an nhiên trên con bạch tượng với cành hoa sen trên tay, tiêu biểu cho thập hạnh chuyên cần tiến bước trên đường giác ngộ; thì hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng với đầu tròn đội mũ Tỳ lư, mình đắp Cà sa, tay cầm tích trượng tiêu biểu cho hình tượng của chư Tăng, thực hiện lý tưởng cứu khổ độ sanh. Đó là hình tượng của ngài Địa Tạng mà chúng ta thường gặp nhất trong các chùa. Trong chánh điện các chùa, tôn tượng của Ngài thường được tôn thờ bên phải đức Thế Tôn hay đức Phật Di Đà, bên trái là Bồ-tát Quán Thế Âm. Đôi khi hình tượng Ngài còn được mô tả bên phải có hộ pháp Văn Các Lão, bên trái là Tỳ-kheo Đạo Minh, dưới chân Ngài là con Linh khuyển.[15] Một hình tượng của Ngài mà chúng ta thường trông thấy trong các buổi đại trai đàn chẩn tế là, Ngài ngồi tự tại trên một con kì lân hung tợn một sừng, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm viên minh châu tỏa sáng quang minh để cứu độ chúng sanh trong cảnh giới địa ngục kinh hoàng. Dù là hình tượng nào thì ngài Địa Tạng vẫn là hình tượng trang nghiêm tiêu biểu cho ‘đầu tròn áo vuông’, đầu đội mũ Tỳ lư, tay cầm tích trượng, mình mặc áo Cà sa… đó chính là hình ảnh của một vị Tăng xuất thế. Tuy nhiên, bước sang tinh thần của Phật giáo Nhật Bản thì lý tưởng, hạnh nguyện và hình tượng của ngài Địa Tạng rất đặc biệt, có đôi phần khác so với các nước Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam[16]… như đã miêu tả ở trên. Khi kinh Địa Tạng được truyền sang Nhật, người Phật tử Nhật có lẽ chú trọng và phát huy về sự cứu độ của ngài Địa Tạng qua hạnh nguyện cứu độ và bảo vệ những trẻ em bị yểu mạng, hay bất hạnh chết trong bào thai (sẩy thai) hay chết yểu lúc tuổi còn rất nhỏ; chính vì vậy mà hình tượng của Bồ-tát Địa Tạng thường được mô tả theo truyền thống Nhật là tay phải cầm tích trượng, tay trái bồng một em bé, đôi khi là hình tượng tay phải buông xuống cứu độ các trẻ em, tay trái bồng một em bé, dưới chân Ngài có 3 em bé đang vói tay đòi Ngài bồng, hay hình tượng của Ngài trong hình tượng là một em bé tay phải cầm gậy, tích trượng để đánh đuổi bọn quỷ hung ác, tay trái cầm một toà nhà, hay hình tháp nhỏ để hòa đồng và giúp những em bé bất hạnh, bơ vơ tích tạo công đức vượt qua dòng sông Nại Hà…[17] Chúng sanh với đa căn, đa bệnh, để thích ứng từng căn cơ, từng hoàn cảnh, Bồ-tát Địa Tạng cũng tùy theo đó mà thị hiện những hình tướng tương ưng để hóa độ. Hình ảnh của đức Thế Tôn cũng tùy theo những quốc gia mà có những nét khác biệt, và giáo lý của Phật giáo cũng vậy, có Nam truyền, Bắc truyền, hay Nam tông, Bắc tông; có Nguyên thủy Phật giáo, Tiểu thừa Phật giáo và Đại thừa Phật giáo, v.v… tuy muôn màu muôn vẻ, đa dạng như thế nhưng đó chỉ là sự khác biệt trên hình tướng, danh tự… để thích hợp với từng thời đại, quốc độ, địa phương, hay từng căn cơ, lý tưởng của chúng sanh… còn về mặt bản thể, hay mục đích thì vẫn là một; đó là để tu tập giác ngộ, hoá độ chúng sanh và hướng đến sự toàn giác (tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn). Lý tưởng Bồ-tát qua hình tượng của ngài Địa Tạng tuy được phác họa qua những nội dung đơn giản trên, nhưng đó cũng chính là lý tưởng cao đẹp của chư Bồ-tát nói riêng hay của những người con Phật nói chung. Lý tưởng và hình tướng cao cả của Bồ-tát Địa Tạng luôn đại diện cho hình ảnh của những bậc tu hành xuất thế; đó cũng chính là hình ảnh và ý nghĩa của một trong Ba ngôi báu, với tinh thần vô uý, với thần lực vô ngại, với lý tưởng vị tha luôn dấn thân để cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh Nhà lửa tam giới, hay những khổ cảnh trong những địa ngục kinh hoàng.■ -------------------------------------------------------------------------------- [1]. Kệ hô chung, kinh Nhật Tụng, NXB TP. HCM, PL. 2544, Tr.457. [2]. Sa-di Giới và Sa-di-ni Giới, Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải, 51 là tính đầy đủ, nếu tính các bài kệ bốn câu thì chỉ có 45 bài kệ. [3]. Bản tiếng Phạn này ngày nay chưa tìm thấy. [4]. Trời Đao Lợi, còn gọi là cõi trời Tam Thập Tam, đây là cõi trời thứ hai tính từ dưới lên trong 6 cõi trời dục giới: Tứ thiên vương, Đao-lợi, Dạ-ma, Đâu- suất- đà, Hoá lạc và Tha hoá tự tại [5]. Hiếu Kinh của Phật giáo, http://www.thuvienho...hdiatang-00.htm [6]. http://www.tangthuph...hducdaiquan.htm [7]. http://www.thuvienho...hdiatang-01.htm, Phẩm thứ nhất, Trưởng giả tử phát nguyện [8]. http://www.thuvienho...hdiatang-01.htm, Phẩm thứ nhất, Bà-la-môn nữ cứu mẹ [9]. http://www.thuvienho...hdiatang-01.htm, Phẩm thứ tư, Ông vua nước lân cận [10]. http://www.thuvienho...hdiatang-01.htm, Phẩm thứ tư, Quang Mục Cứu Mẹ [11]. http://www.thuvienho...hdiatang-01.htm, Phẩm thứ nhất, Thần thông trên cung trời Đao lợi[12]. Nơi đức Phật Đản sanh ở Lumbini, nơi đức Phật thành đạo tại Bodhagaya, nơi đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Lộc Uyển (Sanarth) và nơi đức Phật nhập Niết-bàn ở Kushinaga [13]. Xem Tứ Đại Danh Sơn, http://www.quangduc....214danhson.html [14]. Xem Tháng bảy với đức Bồ-tát Địa Tạng, http://daitangkinhvi...-tng-b-tat.html [15]. Xem Linh khuyển Thiện thính, http://www.quangduc....linhkhuyen.html [16]. Xem Bồ-tát Địa Tạng, vị Bồ-tát bảo vệ trẻ em, http://www.quangduc....tatdiatang.html 17]. Xem Earth Store Bodhisattva (or Jizo Bosatsu in Japanese), http://www.onmarkpro...tml/jizo1.shtml Huynh Công Minh có thể diễn giải Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới theo truyền thống Đông Mật??? Thanks
    3 likes
  13. Bồ tát Địa Tạng được đặt nhiều nơi trên khắp nước Nhật qua những tuyệt phẩm công phu của Nghệ Nhân Phật Giáo! Tượng Địa Tạng
    2 likes
  14. Do Tín Ngưỡng Địa Tạng không nhận được sự sùng mộ của dân Ấn Độ, nên đã mất dần các dấu tích. _ Sau này, Tín Ngưỡng Địa Tạng theo bước chân những Tăng Đoàn truyền giáo Phật Giáo du nhập vào vùng Trung Á, trạm dừng chân đầu tiên là Turkestan. Từ đây một hình tượng phổ biến của Địa Tạng Bồ Tát là: “Nhà sư cầm cây gậy hành hương với một viên ngọc Như Ý” được phụng thờ như là vị Bồ Tát bảo vệ người lữ hành thoát khỏi mọi hiểm nguy. Hàng ngàn hình tượng Địa Tạng được tôn thờ trong những hang động tại vùng Lung-Men và Tun-Hoang đã minh họa cho Tín Ngưỡng này. _ Khoảng Thế Kỷ thứ 5, Tín Ngưỡng Địa Tạng được phổ biến tại Trung Hoa qua Kinh Đại Tạng Bồ Tát Thập Luân (Da’sa-cakra-Ksïitigarbha-sùtra) trong đó nêu lên những Đức Tính của Ngài. (*) Sau đời Tùy (581_618), Đường (618_917) thì Tín Ngưỡng Địa Tạng được sùng mộ hưng thịnh. Ví dụ như Đời Tùy y theo Kinh Địa Tạng Thập Luân (Da’sa-cakra-Ksïitigarbha-sùtra) mà đề cao thuyết Phổ Phật, Phổ Pháp cùng với Địa Tạng Bồ Tát Lễ Nghi Sám Pháp và xưng là Tam Gia Giáo. (*) Đời Tống, Thường Cẩn có soạn một quyển sách ghi nhận 32 loại sự tích linh nghiệm liên quan đến Địa Tạng Bồ Tát từ đời Lương (502_557) đến đời Tống (960_1279). Do điều này mà Tín Ngưỡng Địa Tạng được phổ biến rộng rãi, người đời lúc bấy giờ đều lưu truyền, phỏng họa hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng để trong Tự Viện hoặc Phật Đường của tư nhân mà lễ bái cúng dường. Nổi tiếng nhất là hình tượng Địa Tạng Bồ Tát được vẽ trên bức tường phía Đông của chùa Thiện Tịch, huyện Đức Dương, Hán Châu trong Đời Lương.
    2 likes
  15. Người Việt định cư ven các dòng sông để làm ruộng “Lạc” tức ruộng “nước” trồng lúa, nên gọi xứ sở mình là Nước. Nam Việt 南 粤(thời Triệu Đà) chẳng qua là viết bằng chữ nho, nên phải đọc là Nam Việt 南 粤 (theo phát âm của tiếng Kinh hoặc phát âm của “cổ Hán ngữ”), còn nghĩa đen của nó là Nước Việt , vì Nước = Nặm = Nam (“nước” là người Kinh nói, “nặm” là người Tày nói, “nam” là người Thái Lan nói). Nam Việt = Nặm Việt = =Nước Việt, của các tộc người Bách Việt. Người Việt chỉ cần nhìn chữ Nam Việt 南 粤 mà đọc là Nam Việt hoặc đọc là Nước Việt. Chỉ có Hán thư thì mới phải ghi là Nam Việt Quốc 南 越 国, bởi họ quan niệm Quốc mới là Nước, họ còn gọi là Quốc Gia. Nhưng Hứa Thận thời Đông Tấn viết Thuyết Văn Giải Tự cách nay 2000 năm giải thích: “Quốc- Bang dã 國 邦 也” tức Quốc chỉ là Bang mà thôi, tức là Nước phải là Liên Bang. Quốc là Bang tức là cái âm tiết “Quốc” chỉ là từ lướt “Của Nước” = Quốc, một khi coi Nước là Liên Bang, chẳng thế mà thời Vua Hùng phải thống nhất cả 15 bộ ở một địa bàn rộng mênh mông gọi là Họ Hồng Bàng, bổn nghĩa chữ thì Hồng 鴻 và Bàng 龐 đều là rộng mênh mông, mà cái âm tiết của chúng lại cũng nói lên là vùng sông nước, theo QT Tơi-Rỡi thì: Hồng = =Sông, Bàng = Giang, Hồng Bàng 鴻 龐 là vùng của cư dân nông nghiệp lúa nước thuộc đại tộc Việt. Cư dân là người đặt tên cho dòng sông và chính cư dân lại lấy lấy tên sông nơi mình sinh sống làm Họ . Dòng sông lớn nhất của bất cứ vùng nào người Việt ở đều được gọi là Sông Cả. Cả=Cái=Cơ=Cu=Tu=Tử. Sông=Công=Kinh=Kang=Giang=Dòng=Dương=Trường. Sông Cả = Sông Cái = Sông Cơ = Dòng Cả = Dương Tử. Dương Giang = Trường Giang, đều là những từ đôi để nhấn mạnh một ý “sông”, rằng con sông này rất rộng lớn. QT Lướt để tạo ngôn từ Việt đã có Hứa Thận chứng minh, vì cách nay 2000 năm ông đã vận dụng qui tắc đó để hướng dẫn cách đọc đúng âm một từ đơn âm tiết bằng cách “thiết” (tức lướt) hai âm tiết khác (mà cứ phải phát âm như Tiếng Việt hiện đại thì mới trúng chứ còn phát âm như Hán ngữ hiện đại thì trật). QT Tơi-Rỡi tôi nêu trong tạo ngôn từ Việt, có thể vận dụng để tìm từ nguyên (theo nguyên tắc: của Hán ngữ hiện đại thì tìm trong “cổ Hán ngữ”, của “cổ Hán ngữ” thì tìm trong Tiếng Việt), nghe cái tên tôi đặt là QT Tơi-Rỡi thật là quê mùa, vậy mà hóa ra tính đúng của QT ấy lại được đại danh nhân Tư Mã Thiên chứng minh giùm, khi tôi tình cờ đọc được trong Sử Ký có đoạn ghi: 夫差取番者,番首姿,又音蒲。还音烦,音盘者即潘氏 - Phù Sai thủ Phan giả, Phan Thủ Tư, hựu âm Bồ. Hoàn âm Phàn, âm Bàn giả tức Phan thị - Phù Sai (vua nước Ngô, đánh nhau với Câu Tiễn vua nước Việt) lấy vợ họ Phan, Phan Thủ Tư, lại có âm là Bồ. Còn âm Phàn, âm Bàn là tức họ Phan. Như vậy rõ ràng là thời Hán Vũ Đế (đánh nhau với Hai Bà Trưng), thời của Tư Mã Thiên, trong Tiếng Việt có tồn tại qui tắc Tơi-Rỡi trong hình thành ngôn từ, cho nên mới có như viết ở đoạn trên, tức: Phan=(Phiên)=Phàn=Bàn=Bồ=(Đỗ=Cổ=Cố=Cơ), tức các họ này đều có cùng một gốc từ họ Cơ, ở dòng sông Cơ, từ họ của một mẹ chung là U Cơ = Âu Cơ (mẹ chung là “Mẹ Âu” = Mẫu). Cổ thư có ghi xuất xứ họ Phan (cũng như xuất xứ của nhiều họ khác) là từ họ Cơ. Bởi lẽ thời cổ đại dân số còn ít, đương nhiên ít họ. Đông dần lên, họ sinh nhiều chi, chi biến thành họ khác khi đến sống ở dòng sông khác, ngôn từ để đặt cho họ cứ vậy theo QT Tơi- Rỡi mà sinh ra nhiều, đều cùng từ một Nôi khái niệm mà ra cả. Người Việt cổ đại làm lúa nước đã theo đường biển từ Nam lên Bắc vào các cửa sông bãi bùn để trồng lúa nước, ngược dòng sông Tây tiến khai thác các đồng bằng hai bên bờ sông. Trong khi lịch sử của người Hán cổ đại là từ Tây sang Đông giai đoạn một, rồi từ Bắc xuống Nam giai đoạn hai.
    2 likes
  16. Kinh Đại Phương Quảng Thập Luân 18 Tháng 12 2009 Dẫn nhập Theo truyền thống văn hóa Phật giáo Bắc tông, ở các chùa viện thường có những lễ cúng trong tháng (lịch Âm), kỷ niệm về ngày khánh đản, xuất gia, hay thành đạo của chư Phật và các vị Bồ-tát. Đặc biệt trong tháng bảy có những ngày khánh đản Bồ-tát Đại Thế Chí (ngày 13), Địa Tạng (ngày 30), Long Thọ (ngày 24), Tổ sư Phổ Am (ngày 21) và ngày Phật hoan hỷ (ngày 15). Nhưng tại Việt Nam trong tháng 7, lâu nay chỉ thấy ghi chép, tổ chức, hành lễ ba ngày, là ngày Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Địa Tạng và ngày Phật hoan hỷ (Vu-lan thắng hội). Riêng ngày vía Bồ-tát Địa Tạng, nhằm ngày 30 tháng 7, có thể người ta theo truyền thuyết được ghi trong Tống cao tăng truyện quyển 20, tạng Đại chánh 50, số hiệu 2061, trang 838c11: Ngài Thích Địa Tạng, người giòng họ Kim thuộc vương quốc Tân-la (nay là Triều Tiên), tên Kim Kiều Giác (năm Vĩnh Huy thứ 4, ngài 24 tuổi cắt tóc đi tu)… cưỡi thuyền đến đất Giang Nam, ở huyện Thanh Dương, phủ Trì Châu có ngọn Cửu Tử (Cửu Hoa sơn), thích cảnh u tịch, ngài lưu lại đó tọa thiền 75 năm. Đến năm Khai Nguyên thứ 6, đời Đường, đêm 30 tháng 7 thì thành đạo. Năm Trinh Nguyên thứ 19 (803), ngài thị tịch, thọ 99 tuổi. Từ đó vị Địa Tạng họ Kim này được coi là hóa thân của Bồ-tát Địa Tạng. Nhân dịp Tập san Pháp Luân kỳ này hướng đến chủ đề Bồ-tát Địa Tạng, chúng tôi xin giới thiệu đến quí Phật tử một số bản kinh nói về công hạnh, đại nguyện cứu khổ của ngài. Toát yếu nội dung kinh I. Kinh Đại phương quảng thập luân (大方廣十輪經), còn gọi là kinh Phương quảng thập luân, Thập luân, 8 quyển, mất tên người dịch, được dịch vào thời Bắc Lương, tạng Đại Chánh 13, số 410, trang 681. Nội dung kinh này gồm 15 phẩm, kể về công đức của Bồ-tát Địa Tạng, đồng thời nói nếu nương vào 10 Phật luân (10 lực) và 10 y chỉ luân của Tam thừa thì có thể xoay chuyển 10 ác nghiệp luân. Bản dịch khác của kinh này là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân (xem kinh thứ 2). II. Kinh Địa Tạng thập luân (地藏十輪經), gọi đủ là kinh Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân, 10 quyển, ngài Huyền Trang (600-664) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 411, trang 721. Kinh này tường thuật đức Như Lai nhân lời thưa hỏi của Bồ-tát Địa Tạng mà nói 10 thứ Phật luân (10 lực), có năng lực phá trừ 10 ác luân trong đời mạt pháp, và khen ngợi công đức Bồ-tát Địa Tạng. Mục đích kinh này nhằm dung hợp Tam thừa về Đại thừa, lại nhắm vào các Tỳ-kheo phá giới mà giải thích rõ về công đức “thắng tưởng”, và việc Bồ-tát Địa Tạng hiện tướng Sa-môn để cứu độ chúng sanh trong đời mạt pháp. Nội dung gồm 8 phẩm: 1. Phẩm Tựa; 2. Phẩm Thập luân; 3. Phẩm Vô y hành; 4. Phẩm Hữu y hành; 5. Phẩm Sám hối; 6. Phẩm Thiện nghiệp đạo; 7. Phẩm Phước điền tướng; 8. Phẩm Hoạch ích chúc lụy. III. Kinh Địa Tạng bồ-tát bổn nguyện (地藏菩薩本願經), 2 quyển, ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda, dịch Hỷ Học, 652-710, người nước Vu-điền) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 412, trang 777. Kinh này nói về công đức bản nguyện, thệ nguyện bản sinh của Bồ-tát Địa Tạng. Người đọc tụng kinh này có thể tiêu trừ vô lượng tội nghiệp và được lợi ích không thể nghĩ bàn. Nội dung 1. Phẩm Đao-lợi thiên cung thần thông (Thần thông tại cung Đao-lợi); 2. Phẩm Phân thân tập hội (Thân phân hoá qui tụ lại); 3. Phẩm Quán chúng sanh nghiệp duyên (Quán sát nghiệp quả chúng sanh); 4. Phẩm Diêm-phù chúng sanh nghiệp cảm (Nghiệp quả của người Diêm-phù); 5. Phẩm Địa ngục danh hiệu (Danh xưng địa ngục); 6. Phẩm Như Lai tán thán (Thế Tôn tuyên dương); 7. Phẩm Lợi ích tồn vong (Lợi ích người còn kẻ mất); 8. Phẩm Diêm-la vương chúng tán thán (Các vua Diêm-la xưng tụng); 9. Phẩm Xưng Phật danh hiệu (Xưng tụng danh hiệu chư Phật); 10. Phẩm Giáo lượng bố thí công đức duyên (trắc lượng công đức bố thí); 11. Phẩm Địa thần hộ pháp (Thần đất hộ trì); 12. Phẩm Kiến văn lợi ích (Ích lợi của sự thấy nghe); 13. Phẩm Chúc lụy nhân thiên (Thế Tôn ký thác). IV. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo (占察善惡業報經), còn gọi là kinh Địa Tạng Bồ-tát nghiệp báo, Địa Tạng Bồ-tát, 2 quyển, do ngài Bồ-đề-đăng (người Tây Vực) dịch thời Tuỳ, tạng Đại Chánh 17, số 839, trang 901. Nội dung kinh này nói Bồ-tát Địa Tạng phụng mệnh đức Phật, thuyết pháp cho chúng sanh ở đời mạt pháp nghe về việc cầu pháp lành. Quyển thượng nói rõ pháp xem xét nghiệp báo thiện ác. Quyển hạ thuật nghĩa chân thật của Đại thừa. V. Địa Tạng bồ-tát nghi quĩ (地藏菩薩儀軌), 1 quyển, do ngài Du-bà-ca-la (dịch là Thiện Vô Uý, người nước Ma-già-đà, Ấn Độ) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 20, số 1158, trang 652. Nội dung kinh thuật lại lúc đức Phật ở trên núi Khư-la-đề-da, Bồ-tát Địa Tạng muốn nói thần chú làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, sau khi được đức Phật hứa khả, Bồ-tát Địa Tạng liền nói ba loại thần chú: Đại, trung, tiểu, kế đến nói về cách vẽ tượng, sau đó nói về ấn chú, ấn Phổ cúng dường, Tổng thuyết tổng ấn, Thỉnh tán ấn, cuối cùng nói cách thành tựu 17 pháp hộ ma. VI. Kinh Địa Tạng Bồ-tát đà-la-ni (佛說地藏菩薩陀羅尼經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 20, số 1159B, trang 655. Nội dung kinh này nói về Đà-la-ni, công đức và thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng. Đà-la-ni gồm 63 câu, người trì tụng Đà-la-ni này có thể diệt trừ tất cả khổ não. VII. Địa Tạng Bồ-tát thập trai nhật (地藏菩薩十齋日), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2850, trang 1300. Nội dung kinh này chỉ dạy 10 ngày ăn chay (giữ giới) trong tháng, là ngày: Mồng 1, Đồng tử xuống trần, giữ trai giới, và niệm Định Quang Như Lai thì thoát địa ngục đao thương, trừ tội 40 kiếp. Mồng 8, Thái tử xuống trần, giữ trai giới, và niệm Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, thì thoát địa ngục phân uế, trừ tội được 30 kiếp. Ngày 14, Sát mệnh (xem xét tính mạng) xuống trần, giữ trai giới, và niệm nghìn đức Phật của Hiền kiếp, thì thoát địa ngục vạc sôi, trừ tội được một ngàn kiếp. Ngày 15, Ngũ đạo đại tướng quân xuống trần, giữ trai giới, và niệm Phật A-di-đà, thì không đọa địa ngục băng lạnh, trừ tội được 200 kiếp. Ngày 18, Diêm-la vương xuống trần, giữ trai giới, và niệm Bồ-tát Quan Thế Âm, thì không đọa địa ngục rừng kiếm, trừ tội được 90 kiếp. Ngày 23, … niệm Phật Lô-xá-na…; ngày 24, … niệm Bồ-tát Địa Tạng…; ngày 28, … niệm Phật A-di-đà…; ngày 29, … niệm Bồ-tát Dược Sư Thượng…; ngày 30, … niệm Phật Thích-ca Mâu-ni… Mười ngày trai này về sau có sự thay đổi, như nghìn đức Phật của Hiền kiếp trong ngày 14 được thay bằng Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Địa Tạng trong ngày 18 được thay bằng Bồ-tát Quan Thế Âm… Những ngày trai này có thể xuất phát từ phẩm “Như Lai tán thán” của kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện quyển thượng có nói, vào 10 ngày này kết tập các tội, quyết định nặng nhẹ, tất cả cử chỉ động niệm của chúng sanh ở cõi Ta-bà đều là nghiệp, đều là tội, huống chi còn giết hại, trộm cắp, nói dối, v.v… Nếu trong 10 ngày trai, đối trước tượng chư Phật, Bồ-tát, Hiền thánh đọc tụng kinh này… thì xung quanh không xảy ra tai nạn, những người trong nhà xa lìa đường ác. VIII. Kinh Địa Tạng bồ-tát (佛說地藏菩薩經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2909, trang 1455. Nội dung kinh kể về Bồ-tát Địa Tạng ở thế giới Lưu Ly phương Nam, dùng thiên nhãn thanh tịnh quán chúng sanh thọ khổ trong địa ngục, không chịu được cảnh ấy, Ngài mới đến địa ngục cùng vua Diêm-la phán xét, và cũng vì sợ vua Diêm-la đoán xử sai, hoặc chưa đúng tội mà xử chết... Đồng thời, nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng, biên chép kinh Địa Tạng, vẽ hình tượng, hay niệm danh hiệu ngài, thì khi lâm chung đều được Ngài tiếp dẫn về thế giới Tây phương cực lạc... IX. Kinh Địa Tạng bồ-tát phát tâm nhân duyên thập vương (佛說地藏菩薩發心因緣十王經), gọi tắt kinh Địa Tạng thập vương, hay Thập vương kinh, 1 quyển, do Sa-môn Tạng Xuyên ở chùa Từ Ân phủ Thành Đô soạn, thuộc Tục tạng (chữ Vạn 卍) tập 1, số 20, trang 404a6. Nội dung kinh này nói việc người chết chịu sự phán xét thiện ác ở điện Thập vương cõi âm phủ, về nhân duyên phát tâm cũng như bản nguyện của Bồ-tát Địa Tạng và chỉ rõ tiền thân vua Diêm-La chính là Bồ-tát Địa Tạng. Cuối cùng dùng bài kệ nói về Phật tính để kết thúc kinh. Lời kết Nói đến kinh Địa Tạng, hay hình ảnh về Ngài, thì không còn mập mờ, mơ hồ trong tâm tưởng của người Phật tử nữa, qua những buổi lễ cầu siêu, người thân quá vãng, ai ai cũng tụng đọc, trì niệm kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện và chiêm ngưỡng tôn tượng Ngài với hình tướng Thanh văn (xuất gia), tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, ngồi trên tòa sen, hay cỡi con linh thú Đế thích. Nhưng đứng về phương diện lịch sử, một số bản kinh trên không thấy ghi chép xuất xứ vào thời điểm nào, ngay cả kinh Địa Tạng bồ-tát bổn nguyện là bản kinh trì tụng thông dụng, được nhiều bậc Trưởng lão, Kỳ túc phiên dịch, chú giải, như Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang; Hòa thượng Tuyên Hoá (Tổng hội Phật giáo thế giới ở Vạn Phật Thánh Thành - Hoa Kỳ dịch ra Việt 1 bản, Cố thượng tọa Thích Chánh Lạc - Học viện Hải Đức, Nha Trang dịch 1 bản), cư sĩ Chánh Trí - Mai Thọ Truyền, đều không thấy đề cập gì đến giai đoạn lịch sử của kinh. Nhưng hạnh nguyện dấn thân nhập thế, thao thức trách nhiệm cứu khổ nhân sinh của Bồ-tát Địa Tạng là tinh thần Bồ-tát đạo, mà tinh thần Bồ-tát đạo bắt đầu từ thời điểm kinh Pháp hoa xuất hiện, tức khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt (khoảng cuối thế kỷ thứ II Dương lịch); dựa vào chứng cứ là ngài Long Thọ (Nāgārjuna) tác giả bộ Đại trí độ luận, sống vào cuối thế kỷ thứ II, trong đó có trích dẫn kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa là đại biểu cho đạo Bồ-tát, ca ngợi hạnh nguyện các vị Bồ-tát: Quan Thế Âm, Trì Địa, Thường Bất Khinh, v.v… và một trong 4 đặc chất của Bồ-tát là nguyện lực “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Vậy thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng: “Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ-đề. Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”, cũng có thể minh chứng kinh văn viết về Bồ-tát Địa Tạng xuất hiện cùng thời với kinh Pháp hoa hay sau đó? Chúng ta cố gắng tìm hiểu, xác định những bản kia có vào giai đoạn lịch sử nào, để biết thêm ngài Địa Tạng có thật hay núp bóng huyền thoại đều không quan trọng; quan trọng là chúng ta nên hiểu, các vị Bồ-tát dù ở vào thời gian nào cũng luôn luôn gánh vác trách nhiệm cứu độ chúng sanh, hạnh nguyện đó tiếp nối từ kiếp này qua kiếp khác, không bao giờ gián đoạn. Và chúng sanh tu thành Phật hay Phật thị hiện để hóa độ chúng sanh đều nhờ vào nhân cách Bồ-tát mà thực hiện. Do vậy, mà trong phẩm Tựa, kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1, kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng, kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện quyển 1, phẩm “Phân thân tập hội” đều nói ngài biến hóa vô lượng thân khác nhau mà thuyết pháp, “hoặc hiện rừng núi, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi… làm lợi ích cho mọi người, ai cũng được độ thoát”. Do đó, trong thế giới hiện nay, biết đâu nơi tối tăm đói khổ, chiến tranh triền miên, dịch bệnh hoành hành, môi trường ô nhiễm… Bồ-tát Địa Tạng, hình ảnh Thanh văn tướng lại ẩn tàng qua một con người khác, bằng mọi phương tiện, Ngài luôn mang lại an lạc cho nhân loại và cứu nguy khắp cõi Ta-bà này. Danh hiệu của Ngài còn nhắc nhở chúng ta một điều mà trong khoa nghi có bài tán: “Khể thủ bản nhiên tịnh tâm địa, vô tận Phật tạng đại từ tôn.” Nghĩa là “Địa Tạng chính là kho tàng tâm linh vô tận, chứa đựng tuệ giác từ bi và sự thanh tịnh sẵn có trong mỗi một chúng sanh mà tất cả đều nên quay về đảnh lễ”. Văn tán ấy là dựa vào định nghĩa trong kinh Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ 5, T39n1796, tr. 635c2: Địa Tạng Bồ-tát là “chủ trì kho báu vô biên công đức phát khởi từ bản tánh của tâm địa”. Vậy, trong mỗi chúng ta đều có đức Địa Tạng Bồ-tát dấn thân, nhập thế, cứu mình cứu người và một ngài Diêm chúa phán xét thiện ác nơi mình, phá vỡ gông cùm chốn địa ngục tâm.■
    2 likes
  17. Kính thưa quí vị. Bài viết này tôi đã viết từ tháng 9. 2008. Một số thành viên chủ chốt của diễn đàn thời ấy đã xem bài viết này và nó chỉ lưu hành nội bộ. Đáng nhẽ ra tôi sẽ không công khai nội dung của nó lên đây. Nhưng trước tình hình diễn biến phức tạp ở biển Đông hiên nay và nội dung bài viết lúc đó cho thấy những phán đoán của tôi đã chính xác cho đến lúc này. Những diễn tiến tiếp theo sẽ ra sao trước sự phức tạp của sự tranh chấp biển Đông hiện nay đã cho tôi thấy cần phải phân tích sâu hơn và hoàn chỉnh bài viết với sự phân tích có tính khách quan và như một lời tiên tri,nhằm mục đích chia sẻ cảm nghĩ của mình với quí vị và anh chị em. Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh chị em. =================== VIỆT SỬ 5000 NĂM VĂN HIẾN VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG BẮT ĐẦU TỪ MỘT BÀI VIẾT Vào đầu tháng 9 . 2008 trên các phương tiện thông tin đại chúng đểu nói tới một kế hoạc tấn công Việt Nam của Trung Quốc và một số báo mang đăng bài phản đối của Việt Nam. Đây chính là tiền đề cho tôi viết bài này. Nội dung bài viết đó như sau: Ông Dũng nói: “Đây là thông tin không thích hợp, đi ngược lại xu thế hòa bình, hữu nghị và hợp tác vì phát triển trong khu vực và trên thế giới cũng như lợi ích của quan hệ tốt đẹp sẵn có giữa Việt Nam và Trung Quốc.” Ông nói thêm rằng Trung Quốc đã tiếp nhận yêu cầu của Việt Nam và tuyên bố bài viết này “không phản ánh quan điểm của Chính phủ Trung Quốc”. Bài viết về 'Phương án A' hiện vẫn nằm trên Sina.com. Ông Tống Hiểu Quân, một chuyên gia quân sự ở Bắc Kinh được trích lời mô tả kế hoạch xâm lược Việt Nam ‘Phương án A’ là một trò đùa. Ông nói: "Đây chỉ là trò chơi mang tính nghiệp dư và không có giá trị quân sự nào cả”. Tuy nhiên ông Tống cũng nói ở hai nước vẫn còn nhiều người chưa quên được các hiềm khích cũ. "Trung Quốc và Việt Nam có hệ thống chính trị tương đồng và cần đoàn kết để chống lại Hoa Kỳ, là kẻ thù chung của cả hai nước. Rõ ràng Mỹ đang chơi kế ly gián Việt Nam và Trung Quốc”. Đánh Việt Nam? Chuyên gia quân sự Tống Hiểu Quân nhận định: “Người biết suy nghĩ ở cả hai nước đều hiểu rõ rằng Trung Quốc và Việt Nam là đồng minh. Trung Quốc không có lý do gì để nghĩ tới việc xâm lược Việt Nam vì cần làm bạn với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam và Bắc Triều Tiên”. Ông nói chính phủ Bắc Kinh cần rút kinh nghiệm từ việc này và phải có trách nhiệm hướng dẫn dư luận đồng thời giải thích quan điểm chính thức một cách rõ ràng. “Chính quyền không nên để những kẻ gây rối có cơ hội đồn đoán gây hại.” Bài ‘Quân Đội Trung Quốc hãy dùng Phương án A để tấn công VN!’ xuất hiện trên mạng từ đầu tháng Tám trên một số trang mạng bàn về chủ đề quân sự tại cả Trung Hoa lục địa và Hong Kong. Tuy nhiên nó gây sự chú ý nhất từ khi được đăng tải trên trang sina.com có lượng truy cập lớn. Đây là diễn đàn trao đổi không chính thức, tuy về nguyên tắc nhà nước Trung Quốc kiểm duyệt nội dung. Mới đây có tin chừng 280 nghìn người được Bắc Kinh trả tiền để vào các diễn đàn nhằm đăng các ý kiến có lợi cho đảng Cộng sản. Ngoài bài viết kể trên, trong thời gian gần đây, cũng có nhiều bài khác mang nội dung khơi gợi chiến tranh với Việt Nam lưu hành trên các trang mạng và blog của Trung Quốc. Một số bài mang tựa đề khiêu khích như: ‘Chiến tranh với Việt Nam, sự lựa chọn chiến lược’ hay ‘Chúng ta cần gấp chiến tranh’. QUAN HỆ TRUNG QUỐC & HOA KỲ Mục đích cuối cùng của tôi là chứng minh lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm, nhân danh khoa học. Bởi vì, "Hầu hết những nhà khoa học trong nước" và "cộng đồng khoa học quốc tế", đã tập hợp lại, phủ nhận lịch sử văn hóa Việt. Vũ khí của họ là «Pha học». Tôi đã bước vào cuộc chơi thì phải chấp nhận luật chơi: Tức là cũng nhân danh khoa học thực sự để chỉ ra những sai lầm rất căn bản trong lập luận của họ. Khoa học thì tất yếu phi chính trị. Bởi vậy, trước sau như một – quân tử thì không trái lý – tôi tiếp tục nhân danh khoa học để bảo vệ luận điểm của mình. Đó là lý do tôi không muốn dây dưa về mặt chính trị. Nhưng điều đó, không có nghĩa rằng tôi không có khả năng tư duy chính trị. Thiên Sứ tôi đã chứng minh rằng: «Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ». Tất nhiên nó bao trùm luôn cả chính trị và khả năng tiên tri. Tôi cũng đã thẳng thắn nói rằng: Bản chất của cái trò hề «nhân danh khoa học» phủ nhận giá trị lịch sử văn hiến Việt ấy, chính là một trò chơi chính trị ở tầm mức quốc tế. Những thế lực chính trị quốc tế đã đi đêm với nhau từ 40 năm trước và nạn nhân của nó chính là lịch sử văn hóa Việt trải 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử. Đến bây giờ, nó nổi lên ở Biển Đông như phần ngọn của tảng băng chìm. Đây chính là bài bình luận chính trị đầu tiên và có thể là duy nhất của tôi về vấn đề Biển Đông với mối quan hệ Trung – Mỹ - trong đó có vấn để lịch sử văn hóa Việt 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử. Tất nhiên tôi sẽ phân tích như một nhà quan sát khách quan cho mọi diễn biến đã xảy ra, đang xảy ra và sẽ xảy ra. CUỘC ĐỤNG ĐỘ NGÀY 8 – 3 – 2008 Trước khi cuộc đụng độ xảy ra, người Trung Quốc đã có nhã ý chia sẻ gánh nặng an ninh với Hoa Kỳ ở phần phân nửa phía Tây Thái Bình Dương. Nhưng vị đô đốc Hải Quân Hoa Kỳ đã từ chối không mấy lịch sự. Và sau đó là cuộc đụng độ đã xảy ra. Vụ việc này khiến có thể một số chính phủ đang đòi quyền lợi ở Biển Đông – vốn là đồng minh cũ của Hoa Kỳ - hy vọng Hoa Kỳ đứng ra bảo vệ họ trước sự tranh chấp với một quốc gia hùng mạnh cũng đòi quyền lợi ở đây là Trung Quốc. Thực ra đây chỉ là một trò vụng về của một thủ đoạn chính trị không mấy sắc sảo, hoặc chí ít nó được lợi dụng để thực hiện những âm mưu chính trị. Nhưng sự kiện tiếp theo liên tiếp xảy ra trong thời gian cực ngắn: Đô đốc tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ - vừa mới đến thăm Việt Nam với những phát biểu hùng hồn về những triển vọng hợp tác – sắp sửa chuyển công tác khác hoặc về vườn; Hãng dầu BP rút khỏi Việt Nam vì lý do kỹ thuật ; Tổng thống Hoa Kỳ - Ngài Obama – đã chứng tỏ một nhã ý hòa giải với Trung Hoa, Chủ tịch Trung Quốc – Ngài Hồ Cẩm Đào có nhã ý mời Chủ Tịch nước Việt – Ngài Nguyễn Minh Triết sang thăm Bắc Kinh. Có thể nói trong các quan hệ chính trị quốc tế thì chưa lần nào lại có nhiều hiện tượng liên quan diễn biến nhanh như vậy. Các siêu cường muốn gì ở đây? Tại sao người Trung Quốc lại ngang xương đòi Hoa Kỳ chia đôi Thái Bình Dương. Một chuyện có tầm chiến lược toàn cầu như vậy mà để cho hai người lính với hàm tướng nói chuyên khơi khơi vậy sao ? Để hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề này, Thiên Sứ tôi nhắc lại những sự kiện từ 40 năm trước. RƯỢU MAO ĐÀI NHẬU VỚI LƯỠI CHIM SẺ. Đấy là tin đồn vỉa hè của các chính trị gia cấp phường ở Việt Nam trong các quán trà 5 xu – tụ điểm của dân chơi Hà Thành thời bấy giờ - mô tả về một tiệc nhậu hoành tráng trong Tử Cấm Thành Pekin do ngài Mao Trạch Đông chiêu đãi Tổng thống Hoa Kỳ - ngài Nixon vào năm 1971. Sau cuộc nhậu này, Đài Loan với quốc hiệu là Trung Hoa Dân quốc, thành viên sáng lập Liên Hiệp Quốc với tư cách là một quốc gia, bị tống cổ khỏi Liên Hiệp Quốc. Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Hai mươi năm sau nữa, Liên bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết – gọi tắt là Liên Xô – cũng sụp đổ. Trước khi chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam, có một hiện tượng ngoạn mục là Tổng Thống Nixon bị hạ bệ vì vụ Water gate. Không lật đổ được tổng thống Nixon thì cuộc chiến Việt Nam sẽ còn dây dưa. Bởi vì, vị tổng thống này đã có quá nhiều cam kết - nhưng chỉ bằng miệng (Xin lưu ý điều này) - nhân danh người đứng đầu đất nước Hoa Kỳ với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lãnh đạo. Nhưng những cam kết này không có văn bản chính thức có tính pháp lý. Việc hạ bệ ông Nixon là thủ pháp chính trị đã quảng cáo cho tinh thần dân chủ và thượng tôn pháp luật tại Hoa Kỳ. Nhưng nguyên nhân sâu xa của nó chính là Hoa Kỳ cần chấm dứt cuộc chiến tốn kém, vô bổ này một cách nhanh chóng , để những chiến lược quốc tế được thực hiện, nhằm xóa sổ đối thủ hàng đầu của Hoa Kỳ - Liên bang Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Việt - mà ngài Nixon lại có quá nhiều ràng buộc bởi những lời hứa công khai cam kết theo đuổi chiến tranh đến cùng với tư cách Tổng thống Hoa Kỳ. Lịch sử sang trang ở Việt Nam. Nước Việt Nam thống nhất với người đồng minh của mình – Liên bang Công Hòa Xã Hội chủ nghĩa Xô Viết – cũng là đối tượng được nhắc nhở đến trong men rượu Mao Đài nhậu với lưỡi chim sẻ. SÁCH TRẮNG CỦA TOÀ ĐẠI SỨ LIÊN XÔ TẠI HANOI. Vài năm trước những sự kiện trên, ở Hanoi ầm ĩ về việc bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc. Đại sứ quán cả hai nước thi nhau bỏ công quĩ của nhà nước – tức của nhân dân - in sách tố cáo nhau không phải là những người cộng sản chân chính. . Hàng sọt sách, nói theo tiếng Bắc – tiếng miền Nam gọi là « cần xé » - được đặt ở Đại Sứ quán hai nước, bằng tiền của nhân dân. Và nó được phát không cho tất cả những người dân Việt có dịp đi ngang qua đây Người Trung Quốc có sáng kiến bọc sách của mình trong một cái bao bìa sách bằng ni lông cứng màu đỏ. Những dân chơi sành điệu ở Hanôi bấy giờ phát hiện ra rằng, chỉ cần bỏ cái ruột thì chính cái vỏ bao nilon đó dùng làm ví đựng tiền rất đẹp. Họ rủ nhau đến tòa Đại sứ Trung Quốc để lấy ví đựng tiền. Thế là sách của tòa Đại sứ Trung Quốc được tiêu thụ như tôm. Ít nhất từ cổng tòa đại sứ ra đến vỉa hè bên kia vườn hoa Canh Nông (Bây giờ gọi là vường hoa Lê Nin). Tất nhiên những lực lượng an ninh của Việt Nam cũng có những biện pháp ngăn chặn một cách kín đáo việc tiếp nhận những cuốn sách này. Nội dung các cuốn sách đó, bây giờ chắc chẳng ai buồn nhớ. Nhưng có một chi tiết đáng chú ý trong một cuốn sách của tòa đại sứ Liên Xô, liên quan đến bài viết này mà tôi được xem vào lúc bấy giờ. Tôi còn nhớ chi tiết đó, vì nó rất ấn tượng. Lâu quá rồi, hơn 40 năm đã trôi qua. Ngày ấy, tôi còn rất trẻ. Tôi có một thói quen dễ ghét là đến chơi nhà bạn bè, sau vài ba câu xã giao thì tôi lục trong tủ sách của nó, xem có cuốn nào hay thì ngồi xem cả buổi. Nếu có đông bạn bè cùng đến chơi thì việc làm của tôi, chúng nó không quan tâm. Thậm chí nó mời tôi ăn cơm là chuyện của nó, còn tôi vừa ăn vừa xem sách là chuyện của tôi. Nhưng nếu chỉ có mình tôi thì cử chỉ lịch sự nhất mà bạn tôi dành cho tôi là – giật lấy cuốn sách không cho tôi xem – «Mày thích tao cho mày mượn đem về. Còn bây giờ mày nói chuyện với tao đã chứ ». Tôi cũng chỉ cười hề hề và vui vẻ cất cuốn sách vào túi, vì bạn tôi đã hứa cho mượn. Nói thế chứ các bạn tôi quí tôi lắm, vì ngoài cái tính xấu ấy ra thì tôi chơi với bạn tôi khá chân tình. Đến bây giờ sau hơn 40 năm xa cách, chúng tôi vẫn dành tình cảm quí mến cho nhau. Cuốn sách của Tòa Đại sứ Liên Xô tôi đã xem trong hoàn cảnh này. Cuốn sách có đoạn viết – tôi không thể nhớ chính xác nguyên văn - nhưng có nội dung như sau : « Các đồng chí Trung Quốc đã đi ngược lại nguyện vọng thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Họ đã ủng hộ chủ trương quốc tế hóa Đông Dương với các thế lực tư bản quốc tế ». Việt Nam đã thống nhất và không phải là bị quốc tế hóa, đồng thời là một đồng minh của Liên Xô với hiệp ước quân sự bảo vệ và hỗ trợ nhau. Lịch sử đã diễn ra như vậy. Bởi vậy, sau cơn say máu của cuộc chiến, những quốc gia đồng minh - đối thủ của Liên Xô cũ - đã coi Việt Nam như một đối tượng cần xử trí. Việc xóa sổ 5000 năm văn hiến Việt là một đòn chí mạng, rất thâm độc đánh vào ý chí gan góc, bền bỉ và quật cường của dân tộc Việt. Đó cũng là lý do để Thiên Sứ tôi cảnh báo rằng: Các thế lực chính trị âm mưu toan tính cái gì thì đừng có lấy nền văn hiến Việt làm phương tiện thực hiện thủ đoạn chính trị. Một dân tộc được xác định chính bởi những giá trị văn hóa và lịch sử lập quốc của họ. Nhưng Liên bang Xô Viết đã sụp đổ. Dân tộc Việt đang phải gồng mình để tồn tại với hoàn cảnh lịch sử hiện nay. Đến hôm nay thì một loạt những sự kiện đã xảy ra. Các siêu cường đang muốn gì ở đây? BÁ CHỦ THẾ GIỚI. Liên Xô đã sụp đổ, chiến tranh lạnh chấm dứt. Trung Quốc – một đồng minh rất quan trọng trong việc đối đầu với Liên Xô, nhưng không có một hiệp định có hiệu lực pháp lý trong chiến lược toàn cầu, so với các đồng minh truyền thống khác của Hoa Kỳ - đã mạnh lên về kinh tế vì được hưởng những ưu đãi trong thương mại và nổi lên như một quốc gia siêu cường gây ảnh hướng với thế giới. Đó là lý do mà Trung Quốc muốn chia phần với Hoa Kỳ ở phía Tây Thái Bình Dương. Làm gì có một người lính – dù mang quân hàm cấp tướng – sương sương đòi chia đôi cả một Đại Dương như vậy. Quên nhanh! Nói theo lối hàng chợ của bà bán cá chợ Bắc Qua. Nhưng sự đòi hỏi này có nguyên nhân sâu xa từ những thỏa thuận không chính thức trong một chiến lược toàn cầu từ gần 50 năm trước - Khi Liên Xô còn là một siêu cường đối đầu với Hoa Kỳ. Cũng vào thời điểm của gần 50 năm trước - vào những năm đầu của thập niên 60, tình báo Hoa Kỳ đã phát hiện ra rằng: Những lãnh tụ đảng Cộng Sản Trung Quốc mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa, họ không có ý thức quốc tế vô sản. Do đó, mặc dù Hoa Kỳ ký vào hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân với Liên Xô, nhưng Trung Quốc vẫn thành công trong việc thử bom hạt nhân vào năm 1967. Thực ra, Trung Quốc có tham vọng hạt nhân từ lâu và muốn Liên Xô chia sẻ. Nhưng Liên Xô chẳng ngọng gì thân tặng một anh bạn ngay sát nách của mình thứ vũ khí mà đôi khi do trục trặc kỹ thuật, nó có thể rơi xuống điện Cẩm Linh. Họ lấy lý do tôn trọng hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân đã ký với Hoa Kỳ để từ chối. Còn với Hoa Kỳ thì việc Trung Quốc có vũ khí hạt nhân không có vấn đề gì. Bởi Trung Quốc bấy giờ chưa thể đem bom hạt nhận giộng xuống nước Mỹ. Tuy vẫn có thể đánh rơi vào những nước chung quanh như Liên Xô chẳng hạn. Tất nhiên hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn được tôn trọng, bởi những chính khách rất nghiêm nghị để tỏ ra chín chắn với những quyết định là cứ từ đúng trở lên. Nhưng chắc chắn nó thiếu một điều khoản là : « Không cho phép tình báo các quốc gia khác ăn cắp bí mật hạt nhân ». Và tất nhiên, những quốc gia cần có vũ khí hạt nhân để gọi là « cân bằng sinh thái» trong hoàn cảnh lịch sử nào đó, vẫn lấy được những bí mật này với những trò ma quái, hoặc làm ngơ của các cơ quan an ninh. Một vài tên gián điệp ngớ ngẩn bị bắt – tùy theo quốc gia dân chủ hay độc tài – mà bản án nặng hay nhẹ. Về mặt lý thuyết thì Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn được các chính khách tôn trọng với một vẻ mặt trang nghiêm và tỏ ra đứng đắn, khi khẳng định hiệu lực của nó đến ngày hôm nay. Nhưng trên thực tế, nó vẫn phổ biến đến mức các tổ chức khủng bố loi nhoi cũng có thể làm ra vài quả bom bẩn. Trung Quốc đã trở thành một siêu cường và tham vọng ảnh hưởng khu vực và thế giới xuất hiện. Nhưng cái siêu cường Đông phương mới nổi này đã quên mất một điều rất quan trong là : Vai trò lịch sử của họ trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ đã hết, ngay sau khi Liên Xô sụp đổ. Hoa Kỳ cần thời gian dọn dẹp lại thế giới với tư cách siêu cường số một hành tinh. Nếu những nhà lãnh đạo Trung Quốc khôn ngoan và khiêm tốn hơn thì lịch sử có thể diễn biến khác đi một tý. Thiên Sứ có thể đoán sai. Nhưng rất tiếc, họ đã bộc lộ tham vọng quá sớm. Bởi vậy, đối tượng tiếp theo cần xử lý của Hoa Kỳ chính là nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa vĩ đại. So với mấy nước đang có tham vọng hạt nhân như Bắc Triều Tiên, Iran thì chính Trung Quốc là nguy cơ hơn nhiều trong việc đe dọa vai trò bá chủ của Hoa Kỳ. Mấy nước kia – với sức mạnh của Hoa Kỳ - cái đá thì thừa, mà cái đấm có thể hơi thiếu. Những nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể biết đến điều này. Nhưng qua cách ứng xử của họ với các quốc gia lân bang, Thiên Sứ tôi có cảm giác họ không quan tâm. Hoặc họ đã mắc những sai lầm có tính chiến lược mà họ cứ tưởng là đúng. SAI LẦM CHIẾN LƯỢC CỦA TRUNG QUỐC. Phàm muốn làm bá chủ việc trước tiên phải có một tiềm lực kinh tế và quân sự đủ mạnh. Cái này Trung Quốc có rồi. Nhưng vấn đề tiếp theo là ảnh hưởng đến đâu thì còn tùy theo tiềm lực kinh tế đến đâu. Mấy bá chủ cơm, loi nhoi vài nước lân bang , nhược tiểu thì chỉ cần ảnh hưởng kinh tế là đủ. Nhưng muốn mần ăn lớn thì phải có bảng hiệu. Đất nước Trung Hoa vĩ đại chưa sắm được cái bảng hiệu đúng với tư cách bá chủ châu Á. Người Nhật muốn làm bá chủ ít nhất cũng đưa được học thuyết Đại Đông Á. Ngay đám giang hồ, muốn tập hợp đàn em cũng phải có khẩu hiệu « Sống chết có nhau », huống chi là những vấn đề quốc tế wan trọng như vậy. Không có bảng hiệu thì muốn làm bá chủ chỉ có cách đấm đá, hoặc mua chuộc những kẻ phản bội lại dân tộc của chính họ. Nói theo lý học Đông phương thì phải chính danh cái đã. Bởi vì đây là thế kỷ 21 với thông tin toàn cầu và các mối quan hệ quốc tế đều có ảnh hướng lẫn nhau. Đây không phải thế kỷ thứ XV để những đội quân viễn chinh như Trương Phụ muốn làm mưa làm gió gì thì làm. Cách đây vài tháng (Tức đầu năm 2008), các trang mạng của Trung Quốc làm ầm ĩ về một kế hoạch tấn công Việt Nam chớp nhoáng. Nếu họ muốn, cũng có thể được trong điều kiên tương quan sức mạnh hai nước. Bước đầu họ có thể chiếm được phần lớn lãnh thổ Việt Nam, cho là như vậy. Nhưng sau đó sẽ ra sao ? Chắc chắn dân tộc này sẽ không chịu thua một cách dễ dàng. Và cũng giả thiết rất thuận lợi cho Trung Quốc là họ chiếm được đất nước này. Nhưng hành động này sẽ đẩy tất các quốc gia Đông Nam Á và vùng chung quanh Trung Quốc thành đối thủ của họ. Cuộc chiến càng man rợ thì hậu quả sẽ càng khốc liệt với Trung Quốc sau này. Nhưng chỉ với thủ pháp chính trị cơm ấu trĩ đó, cũng đủ để các quốc gia liên quan đến biến Đông cảm thấy cần phải liên kết với Hoa Kỳ. Thiên Sứ tôi hy vọng Trung Quốc cần tỉnh táo hơn khi nhìn lại tình trạng của các nước láng giềng quanh họ. Họ không có một đồng minh nào đáng tin cậy. Hoa Kỳ chỉ là một đồng minh tạm thời trong việc đối đầu với Liên Bang Xô Viết. Trung Quốc cần nhớ rằng : Giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chưa hề có một văn bản chính thức nào liên quan đến việc an ninh của hai nước, ngoại trừ những văn bản chung chung có tính quốc tế. Những hiệp ước an ninh giữa Đài Loan và Hoa Kỳ còn có giá hơn. Thiên Sứ tôi không phải là một chính trị gia, chỉ có tài nói dối vợ để cơm hai bữa, không phải ăn phở. Nên cũng chẳng dám cao giọng với những chính trị gia chuyên nghiệp. Nhưng vì là người Việt, ông cha tổ tiên ăn cơm đất Việt, sống trong lòng dân tộc Việt, « Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách », nên cũng ráng gõ vài chữ trên blog của mình để thành thật khuyên những nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng: Hãy tỏ ra tử tế với Việt Nam và cả các nước láng giếng khác vì quyền lợi lâu dài của chính họ. Có thể còn nhiều giải pháp khác cho quyền lợi liên quan giữa các bên ở Biển Đông và biên giới, nhưng vẫn chứng tỏ được sự tử tế của các quốc gia lân bang với nhau. Vấn đề là phải nghĩ ra điều đó. HOA KỲ TRÊN BIỂN ĐÔNG. Mục đích cuối cùng của Hoa Kỳ là bá chủ thế giới với tư cách là siêu cường số 1. Có thể nói rằng ngay từ khi lập quốc – do tính chất đặc thù của một quốc gia đa văn hóa – nên họ đã hình thành một hình thái ý thức xã hội để liên kết các dân tộc đến từ những nền văn hóa khác nhau trên đất Hoa Kỳ là: Tự do, bình đẳng và bác ái. Trên cơ sở này, pháp luật được coi như cơ sở ràng buộc khách quan với những sinh hoạt xã hội của các thói quen và tập tục từ những nền văn hóa khác nhau. Vị trí địa lý và những sự kiện lịch sử đã đưa Hoa Kỳ thành một siêu cường của thế giới. Nhưng chính hình thái ý thức xã hội, nhằm tập hợp các dân tộc có văn hóa khác nhau trên đất nước Hoa Kỳ lại tạo ra một khuôn mẫu có tính toàn cầu - nếu như các quốc gia muốn chung sống hòa bình với nhau trên hành tinh này. Hoa Kỳ đã có sẵn cái bảng hiệu khá hoàn chỉnh với sức mạnh kinh tế và quân sự, để tạo niềm tin trong việc tập hợp các dân tộc trên thế giới dưới sự lãnh đạo của họ. Vấn đề còn lại là những sách lược chính trị để đạt đến mục đích này. Cho đến lúc này, Hoa Kỳ đã thành công với địa vị siêu cường số một hành tinh và tạm thời chưa có đối thủ. Trong quá trình loại trừ Liên Xô ra khỏi vị trí siêu cường đối đầu với Hoa Kỳ - trở thành một quốc gia Nga, khiếm tốn về kinh tế với những cây thùy dương thơ mộng bên dòng sông Von ga chảy êm đềm có thể gây cảm hứng cho các hồn thơ – thì một đồng minh bất đắc dĩ của Hoa Kỳ đóng vai trò khá quan trong cho việc này. Đó chính là Trung Quốc. Nhưng, ngay từ đầu Hoa Kỳ đã cảnh giác với Trung Quốc, một quốc gia đã đối đầu với Hoa Kỳ ngay từ khi chưa trở thành nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa vĩ đại. Đã hai lần đất nước này có cuộc giao tranh không chính thức với Hoa Kỳ. Lần thứ nhất là loại trừ một đồng minh quan trọng của họ - chính phủ Trung Hoa Dân quốc - ra khỏi lục địa Trung Hoa; lần thứ hai chính là cuộc chiến tranh Triều Tiên. Bởi vậy, quan hệ đồng minh giữa hai quốc gia Trung Mỹ là mối quan hệ của « Dì ghẻ với con chồng ». Đó là lý do để hai quốc gia này chỉ ràng buộc với nhau trên các mối quan hệ có tính quôc tế chung chung, mọi thỏa thuận đều là không chính thức. Chưa hề có một hiệp ước an ninh nào được ký kết giữa hai quốc gia Trung - Mỹ. Liên Xô đã sụp đổ. Nếu như Trung Quốc tiếp tục ủng hộ Hoa Kỳ trong các đối sách quốc tế khi dọn dẹp lại thế giới và khiêm tốn, hoặc khôn khéo hơn trong khi thể hiện tham vọng - như lời khuyên của nhà lãnh đạo vĩ đại Đặng Tiểu Bình - thì lịch sử có thể đổi chiều. Nhưng tiếc thay, trong khi Hoa Kỳ xua quân đánh nhau ở Irak và Afganixtan với tham vọng bình định Trung Đông thì người Trung Quốc cứ tưởng đây là cơ hội vàng để lên ngôi bá chủ châu Á. Hoa Kỳ đã nhắc khéo Trung Quốc bằng một quả tên lửa gọi là bắn nhầm vào tòa Đại Sứ Bắc Kinh ở Baghda. Giá như Trung Quốc xín xái điều này, coi như chỗ quen biết lâu năm, có lỡ tay, xầy da một chút cũng không sao - Vấn đề là quan hệ tử tế, mần ăn lâu dài thì mọi việc sẽ khác đi. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Trung Quốc đã chứng tỏ vị thế của mình – một siêu cường có tham vọng lãnh đạo ở Châu Á – qua việc phản đối kịch liệt hành vi của chàng cao bồi Texas chơi xấu hảo hán Lương Sơn Bạc đang giương cao lá cờ «Thế Thiên hành đạo». Một trong những vị trí chiến lược nền tảng của tham vọng bá chủ này của Trung Quốc chính là Biển Đông. Đây là một ý tưởng chiến lược quân sự cực kỳ cổ điển có từ thế kỷ thứ V BC, mà người Trung Quốc tự hào là một trong nhưng giá trị văn hóa của họ - Binh pháp Tôn Tử - Lợi dụng lúc đối phương không để ý, củng cố lực lượng và phát triển thế lực. Nhưng họ đã quên rằng: Đây là thế kỷ 21. Và Hoa Kỳ đã kịp nhận ra điều này. Không phải ngẫu nhiên mà Hoa Kỳ lập tức đưa ra kế hoạch rút quân khỏi Irak, tạm thời hòa hoãn với Iran và đang tìm cách rút khỏi Afganixtan. Hoa Kỳ rút quân vì lo củng cố nền kinh tế suy thoái chăng? Quên nhanh! Ấy là con mẹ hàng cá chợ Bắc Qua bảo thế - Nền kinh tế Hoa Kỳ hiện nay có thể nói không ngoa rằng: Chỉ cần đem tặng không những cái xe hơi đã cũ – nhưng còn xịn chán, so với mấy cái xe của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam - cũng đủ lũng đoạn một nền kinh tế của một quốc gia đang phát triển. Họ tập trung lực lương để giải quyết một nguy cơ tiềm năng đe dọa ngôi bá chủ thế giới. Ai ở đây nhỉ ? Ai mà ghê thế nhỉ ? Việt Nam à? Hay cả khối Asean? Hay Bắc Triều Tiên? Hỏi điều này thì ngay vợ Chí Phèo cũng lắc đầu bẩu không phải. Một chính trị gia cấp phường, chuyện bình luận tình hình thế giới ở quán cóc bán trà trên vỉa hẻ Hà Nội, cũng nhận ra: Nguy cơ tiềm ẩn chống lại Hoa Kỳ với tham vọng bá chủ trong tương lai chính là Trung Quốc. Biển Đông lúc này là chiến trường chính trị của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Hoặc là nó sẽ quyết định một cuộc chiến tranh, hoặc là nó sẽ diễn biến nhân đạo hơn cho sự nhượng bộ của một trong hai bên Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chẳng cần phải có một tư duy chính trị sâu sắc lắm, chỉ cần một người có khả năng nói dối vợ đi chơi với bồ nhí cũng đủ thấy rằng : Chuyện tốt đẹp chỉ xảy ra một chiều duy nhất. Đó là chiều khiêm tốn của Trung Hoa vốn có truyền thống lấy như thắng cương. Hoa Kỳ rút quân khỏi Trung Đông và Afganixtan không phải để đến Biển Đông đánh cá với cái tàu thăm dò Đại Dương bị vướng mấy khúc gỗ do Trung Quốc thả xuống cản đường, nhằm bảo vệ môi trường sinh thái cho đám cá ở đây. LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN VÀ CUỘC BẦU CỬ Ở HOA KỲ Khi mà Ngài Obama chưa xuất hiện với vai trò ứng cử viên tổng thống, thì nhóm Lạc Việt độn toán do Thiên Sứ tôi chủ trì đã xác định rằng: Bà Clinton sẽ không thể trở thành Tổng thống ở Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa kỳ trong nhiệm kỳ này sẽ là một người đàn ông cao ráo và đẹp người. Nguyên văn lúc đầu còn có thêm hai chữ « da màu », nhưng sau đó vài ngày Thiên Sứ tôi đã xóa hai từ này, vì lúc đó Thiên Sứ tôi chưa hiểu rõ lắm về Hoa Kỳ. Người đàn ông đó chính là Ngài Obama so với vị ứng cử viên đảng Công Hòa là ông Mc. Cain. Nhưng Thiên Sứ tôi đã khăng khăng Ngài Obama không thể làm tổng thống. Thiên Sứ tôi đã giải thích rằng : Đấy là ý muốn chủ quan của tôi. Nhưng tại sao Hoa Kỳ không chia cho Trung Quốc những chiến lợi phẩm thu được sau thắng lợi trước Liên Xô, chí ít cũng là cái ao cá ở Biển Đông này chứ? CHIA CHÁC CHIẾN LỢI PHẨM. Cuộc đối đầu giữa hai siêu cường chấm dứt với sự sụp đổ của Liên Bang Công hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Trung Quốc được hai mẩu bánh là Hồng Kông và Ma Cao, nằm ngay trên ….đất Trung Hoa và không có Đài Loan. Thế thôi. Kể ra thì chàng cao bồi Texas – mặc dù trông rất đàn ông, nhưng lại tỏ ra khá keo kiết trong việc chia chác trong cái nhìn đầy nghĩa khí và hào hiệp với tinh thần "trọng nghĩa khinh tài"của anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhưng ngược lại, với anh chàng cao bồi này thì như thế cũng hơi bị nhiều. Trong cuộc tìm vàng, công lớn nhất chính là những kẻ hùn vốn và bỏ xương máu, chứ không phải người thổ dân dẫn đường đã được trả công sòng phẳng theo thỏa thuận. Luật chơi này đã có từ khi những người da trắng đổ xô đi tìm vàng ở châu Mỹ. Cuộc chiến sinh tử để quyết định sự thắng bại giữa hai siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ không có sự tham gia của nước Công Hòa nhân dân Trung Hoa. Ngay cả Nhật Bản và Cộng Hòa Liên bang Đức là hai đồng minh khá quan trọng cũng không được dự phần. Cuộc chiến sinh tử quyết định lịch sử chính là cuộc chiến tranh Irak 1991. Mà nếu quí vị để ý thì chỉ những Đồng minh cũ của Hoa Kỳ trong thế chiến thứ II tham gia và không có Đức, Ý, Nhật Bản là những đồng minh sau Thế Chiến. Mặc dù ít nhất Nhật Bản thể hiện lòng tốt muốn đưa quân tham gia. NỘI DUNG CUỘC HỌP BÍ MẬT VÀ TỐN KÉM NHẤT TRONG LỊCH SỬ VĂN MINH NHÂN LOẠI Vào những năm 80, tình báo Hoa Kỳ phát hiện ra rằng: Liên Xô đã kiệt quệ về kinh tế và không có khả năng tiếp tục theo đuổi cuộc chạy đua vũ trang. Một trò chơi điện tử cấp quốc tế đã diễn ra: Trò “Chiến tranh giữa các vì sao”. Chỉ có khác là, những người sáng tạo ra trò chơi này không phải các chuyên gia lập trình vi tính và các game thủ loi choi, đam mê đến mức quên cả ăn và bị các bà mẹ khả kính đét mấy roi vào đít. Chẳng ai dám đét đít và xúc phạm đến các game thủ này. Bởi vì họ là những nguyên thủ quốc gia hàng đầu thế giới: Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ - Ngài Bush Cha và Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Bang Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết – Ngài Goorbachop. Người Mỹ đã chiếm ưu thế trong trò chơi này. Cuối cùng, hai game thủ hàng đầu trong trò chơi điện tử quốc tế đã thỏa thuận gặp nhau để chấm dứt cuộc chơi. Một cuộc họp bí mật và tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại đã diễn ra ở Địa Trung Hải với sự bảo vệ của các hạm đội hàng đầu thế giới. Tất cả các cơ quan tình báo quốc tế với những nhân viên tài ba đi vào lịch sử, đều khóc tiếng Urugoay trong việc tìm kiếm thông tin cuộc họp này. Ngoại trừ trông cậy vào ….thày bói. Tất nhiên phải là những thày bói đẳng cấp. Chứ không phải mấy thầy miệt vườn chuyên xem tình duyên, gia đạo, trúng mấy quẻ cứ làm như nắm hết bí ẩn của vũ trụ. Sau cuộc họp tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại - được tài trợ bằng tiến đóng thuế của người dân khu cu đen Hoa Kỳ và của những người dân đang làm chủ đất nước Liên Xô vĩ đại – là một cuộc chiến đã xảy ra tại Irak giữa Hoa Kỳ và các nước đồng minh chủ chốt với Irak do chính quyền của Tổng thống SD Hussen, có sự hỗ trợ của Liên Xô. Cuộc chiến này, bắt đầu bằng một câu rất bâng quơ của bà phu nhân Đại Sứ Hoa Kỳ khi say xỉn trong một tiệc chiêu đãi. Bà ta đã phát biểu trong men rượu vang xứ Bordeaux nổi tiếng của nước Pháp, rằng thì là: Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào một cuộc chiến tranh giữa Irak và Ả Rập Cooet. Câu nói này đã được các nhân viên tình báo thượng thặng ghi nhận và đến tai người hùng Sadam Hussen. Ông ta xua quân vào Ả Rập Xeut. Ông Hussen dù có nghe nhầm, hoặc hiểu sai câu nói của bà Đại sứ phu nhân thì cũng không thể làm khác đi được. Lịch sử được quyết định từ trước đó. Hoa Kỳ có lý do chính đáng để dẫn đầu quân đồng minh tấn công Irak và đó là cuộc chiến Irak lần thứ nhất, năm 1991. Chính phủ Nhật Bản và Cộng Hòa Liên bang Đức, lúc ấy có nhã ý đem quân tham gia cuộc chiến và câu chuyện đã không xảy ra. Đây là chỗ người lớn nói chuyện. Trung Quốc lúc ấy chỉ tường thuật một cách khách quan cuộc chiến này với vài cuộn băng video, bán chui khá chạy ở Việt Nam cho các chính khách ấp bình luận sôi nổi về vũ khí hiện đại thời bấy giờ. Ngay sau cuộc chiến, toàn bộ khối Vacsava do Liên Xô đứng đầu đã sụp đổ. Đây là kết quả của cuộc thỏa thuận trong cuộc họp bí mật và tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại - tất nhiên là theo quẻ Lạc Việt độn toán, do Thiên Sứ thực hiện và giải mật - tạm thời trong Mật thất này. Trò chơi điện từ “Chiến tranh giữa các vì sao” chấm dứt. Người lớn chơi chán rồi. Bây giờ đến bọn trẻ con đang say sưa bấm, bấm trong các tụ điểm internet. Còn việc chia chác chiến lợi phẩm cuộc chơi vẫn thuộc về người lớn, bởi những chính khách nghiêm túc, uy tín và luôn tỏ ra đứng đắn với phụ nữ. Người Trung Quốc đã muốn biển Đông thuộc phần của mình. Họ đã thể hiện ước mơ bằng cách vẽ ra một đường biên giới trên biển mà dân gian quen gọi là cái lưỡi bò. Nhưng chàng cao bồi quen chăn bò ngày xưa đã thuộc về lịch sử. Theo đà tiến hóa, chàng cao bồi Texas đã biết đến mùi vị của cá thu kho giềng và biết chế biến dầu thô để chay xe hơi thay vì cưỡi ngựa có thể làm thoái hóa cột sống. Bởi vậy, tạm thời anh ta phải rút khỏi Trung Đông để thăm dò luồng cá ở đây. Biển Đông nước Việt không phải là chiến lợi phẩm được chia phần theo thỏa thuận. Ngay cả cho rằng ý tưởng quốc tế hóa cách đây 40 năm trước được thực hiện, thì nó cũng không có nghĩa là của riêng Trung Quốc. Trong cái nhìn của chàng cao bồi Texas thì Trung Quốc chỉ là một quốc gia ủng hộ họ khi phải đối đầu với Liên Xô và sẽ không phải đối tượng cần xử lý tiếp theo, nếu không tỏ ra tham vọng gây ảnh hưởng đến những tài sản kiếm được. Vấn đề cũng không đơn giản chỉ là vài con cá với mấy thùng dầu, mà còn là xác định địa vị bá chủ thế giới với những lợi ích kèm theo. Còn tiếp
    1 like
  18. Bị ngăn cản kết hôn vì không hợp tuổi Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. From: Xuân Thu Sent: Thursday, November 25, 2010 2:44 PM Kính gửi các anh chị Ban biên tập mục Tâm sự! Tôi viết câu chuyện của tôi với mong muốn duy nhất là có thể chia sẻ lòng mình cả với những người tôi không hề quen biết dù câu chuyện của tôi có lẽ đã thuộc vào đề tài quá cũ. Hơn 4 năm trước đây tôi đã gặp và nhận lời yêu người yêu tôi bây giờ. Tình cảm của chúng tôi đã trải qua rất nhiều sóng gió với hiểu lầm, không liên lạc và xa cách. Nhưng khi gặp lại nhau vào năm ngoái, cả hai chúng tôi đã quyết định quay lại. Chúng tôi là tình yêu đầu đời trong sáng và đã có rất nhiều kỷ niệm vui buồn, những lúc vượt qua khó khăn luôn ở bên nhau. Giờ đây khi cả hai có công việc ổn định và có thể tiến đến hôn nhân thì tình yêu của chúng tôi cũng đang đi đến lúc bế tắc vô cùng chỉ vì một lý do duy nhất: tôi và anh kỵ tuổi nhau. Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Đọc đến đây có thể rất nhiều người sẽ nói rằng thời buổi nào rồi mà còn coi trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nhưng có thể các anh chị nằm trong số ít không coi trọng chuyện này. Trong khi đó người Việt Nam rất xem trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nếu lấy nhau trong sự ngăn cản quyết liệt của gia đình 2 bên hẳn tôi và anh đều sẽ không thực sự hạnh phúc. Tôi có thể khẳng định chúng tôi yêu nhau rất nhiều và tình yêu đã đủ lớn, đã được thời gian chứng minh. Nhưng tôi cũng không hiểu sao giờ đây tôi đang quyết định không liên lạc với anh để chúng tôi suy nghĩ lại chuyện này. Tôi có cảm nhận rằng tình yêu của tôi sắp ra đi. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. Các anh chị ai đã có kinh nghiệm giải quyết vấn đề này xin hãy chia sẻ cùng tôi. Hiện tại tôi cảm thấy hụt hẫng trong lòng. Rất mong Ban biên tập đăng bài viết này của tôi để tôi có thể tìm ra hướng đi đúng đắn cho bản thân mình. Chân thành cảm ơn anh chị! Thu http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/11/3BA237EF/ Hai mối tình của tôi đều tan vỡ vì không hợp tuổi Khi cô ấy nghe nói không hợp như vậy thì tinh thần yêu đương tan biến đi đâu mất và xoay 180 độ. Cô ấy nói thôi mình chỉ có duyên phận tới đó, dừng lại là đúng mức rồi. Tôi nghe mà không tin vào tai mình nữa. (Hung) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23EAB/ Đau khổ khôn nguôi sau mối tình kỵ tuổi Phải chia tay anh, tôi hụt hẫng, đau khổ, mất niềm tin. Hơn một năm đầu tiên tôi đã đi tìm anh, nấp ở một góc nào đó để đợi anh đi làm về, để thấy bóng dáng anh cho đỡ nhớ, cho đến ngày anh có người khác thì tôi không còn đến tìm anh nữa. (Hien) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23E2C/ -------------------------------------- Bài trả lời của TTNC Lý Học Đông Phương Kính gửi ban biên tập mục Tâm sự và quý bạn đọc, Mấy hôm nay chúng tôi theo dõi mục tâm sự và cảm thấy khá bức xúc vì các vấn đề về tuổi hợp hay không hợp trong hôn nhân. Là những người đã và đang nghiên cứu văn hóa truyền thống, nghiên cứu hệ thống lý học Phương Đông nên chúng tôi cũng muốn có đôi lời chia sẻ với quý bạn đọc.Chúng tôi viết bài này nhằm cung cấp cho quý vị quan tâm một cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề tuổi và tương tác tuổi trong mối quan hệ nam nữ. Trong truyền thống văn hóa Á Đông, lúc cưới vợ gả chồng thì những người có tuổi trong gia đình đều quan tâm đến vấn đề luận tuổi. Nhưng qua thời gian cũng như thăng trầm của lịch sử, ngày nay, việc luận tuổi đã bi thất truyền dẫn tới những quan niệm chưa chính xác, lệch lạc và trở thành một nỗi lo sợ vô lý cho các cặp trai gái yêu nhau muốn tiến đến hôn nhân. Và cũng qua cả ngàn năm nay, sự thất truyền, tam sao thất bản đã dẫn đến những phương pháp luận tuổi không đầu không đuôi, gây ra những cảnh dở khóc dở cười, chia ly vô cớ và đầy nước mắt của những đôi yêu nhau. Phương pháp phổ biến hiện nay đa số các “thầy” xem tuổi đều áp dụng phương pháp cung phy. Có 8 cung phi cho nam (Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn) và 8 cung phi tương tự cho nữ, kết hợp lại sẽ cho ra 64 trường hợp, hay còn gọi là 64 cặp tương tác (Càn – Đoài, Càn – Khảm, Đoài – Ly, Cấn – Tốn…), và kết quả của 64 cặp sẽ tương ứng với các chữ : Sinh Khí – Diên Niên – Phúc Đức – Phục Vị - Ngũ Quỷ - Tuyệt Mạng – Lục Sát – Họa Hại. Như vậy chỉ có 64 trường hợp tương tác tuổi. Chúng ta thử làm phép tính nhỏ, với nhân loại mấy tỷ người mà chỉ có 64 trường hợp để xem tốt xấu thì xác xuất giống nhau là rất lớn. Cứ 64 cặp thì có 1 cặp giống nhau. Có thể thấy rằng đây là điều thiếu logic. Ngoài ra, còn có phương pháp ít phổ biến hơn, đó là phương pháp Cao Ly Đồ Hình. Phương pháp này lấy 10 thiên can theo tuổi nam phối 12 địa chi theo tuổi nữ, sau đó sẽ có 1 bảng phân loại và định tuổi cát-hung. Nếu ta lấy 6 tỷ người trên thế giới và giả định có 1 tỷ cặp vợ chồng với trung bình có 4 con một cặp (ứng với 6 tỷ), đem chia cho 120 trường hợp thì ta sẽ có: 1000. 000. 000: 120 = Gần 8.300.000 triệu cặp vợ chồng có chung một hoàn cảnh. Chỉ cần 3/ 10 trong số 120 trường hợp phối cung đó chia ly hoặc chết thì ta sẽ có 8.300.000 x 36 = 298. 800. 000 cặp vợ chồng ly tan. Và hơn 1 tỷ trẻ em mồ côi trên thế gian này. Phổ biến nhất hiện nay là tình trạng trong dân gian vẫn lưu giữ và truyền miệng những câu như “Dần Thân Tỵ Hợi” “Tý Ngọ Mão Dậu” “Thìn Tuất Sửu Mùi” là Tứ hành xung, hoặc “Canh cô Mậu Quả”, “gái tuổi Dần”, nhưng người ta quên rằng đằng sau những câu trên là cả 1 hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh các mối quan hệ của Thiên can, Địa chi, mạng. Qua các phương pháp trên, các bạn cũng có thể nhận thấy thiếu sự hợp lý và khập khiễng trong phương pháp luận tuổi. Nhưng đáng tiếc là sự coi tuổi khập khiểng này đã tồn tại trên thực tế và ăn vào tiềm thức của các bậc ông bà cha mẹ, làm họ tin một cách mù quáng. Các phương pháp coi tuổi vợ chồng khập khiễng trên từ những vị thầy nửa mùa, chẳng hiểu thấu lý, nên vô tình đã để lứa đôi tan nát. Để thay đổi những quan niệm sai lầm trên, chúng tôi cần thấy phải có một phương pháp hoàn chỉnh, logic, nhằm giúp cho những đôi lứa yêu nhau đến được với nhau. Chính vì vậy chúng tôi, những người làm công việc nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương đã tổng hợp, nghiên cứu và kiểm nghiệm để có được một phương pháp luận tuổi đúng đắn, hợp lý và mang tính khái quát cao nhất. Phương pháp này chúng tôi đặt tên là “Luận Tuổi Lạc Việt” với sự điều chỉnh mạng Thủy – Hỏa trong Lạc Thư Hoa Giáp so với Lục Thập Hoa Giáp của Trung Quốc nhằm chứng mính cách so tuổi vợ chồng còn sót lại trong dân gian hiện nay chỉ là những mảnh vụn rời rạc, không hoàn chỉnh dẫn đến những sai lầm tai hại. “Không có tuổi vợ chồng xấu trong tình yêu đôi lứa đích thực” và “yêu nhau cứ lấy” là quan điểm của chúng tôi. Ngoài ra, tương quan vợ chồng chỉ là những điều kiện ban đầu, khi gia đình có con thì tương quan này sẽ thay đổi tốt hoặc xấu phụ thuộc vào tuổi đứa con có hợp với cha mẹ hay không, đặc biệt là con út! Ông bà ta có câu “giàu con út, khó con út” Theo phương pháp này, tương tác giữa người với người xảy ra ở cả 3 yếu tố Thiên can, Địa chi và Mạng thông qua mối quan hệ về ngũ hành sinh khắc và nguyên lý âm dương. Như vậy, để dể hình dùng, ta có thể làm phép tính như sau : 60 tuổi nam phối 60 tuổi nữ, cùng với tuổi của 60 đứa con út có khả năng sinh ra theo tương quan tuổi vợ chồng, Tức là ta sẽ có: 60 x 60 x 60 = 216.000 trường hợp khác nhau. Xác xuất để tinh toán cao hơn nhiều lần so với các phương pháp trên. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến các cách cục tốt trong việc phối tuổi vợ chồng và con cái trong gia đình. Nhưng vấn đề không dừng lại ở những con số khô khan và phương pháp lạnh lùng. Phương pháp “Luận tuổi Lạc Việt” còn có tính nhân bản ở chỗ là nó khẳng định một cách hợp lý theo thuyết Âm Dương Ngũ hành về tình yêu nam nữ -"Yêu nhau cứ lấy" và sinh đứa con chính là nguồn hạnh phúc gia đình, dù tuổi cha mẹ có khắc nhau đi chăng nữa. Và một vấn đề chúng tôi cũng muốn chia sẻ với quý bạn đọc, đó là “tuổi tác” là một trong những điều kiện tương tác mang tính căn bản ảnh hưởng đến một hoặc nhiều mối quan hệ giữa người với người, chứ không có nghĩa tuổi tác sẽ quyết định mọi thứ diễn ra xung quanh bạn. Có rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi các nhân, mỗi gia đình như : hoàn cảnh gia đình, công việc, thu nhập, tính cách cá nhân… Chính vì vậy khi gặp các vấn đề nan giải trong cuộc sống, các bạn không nên quy hết vào lý do… không hợp tuổi, để rồi có những đáng tiếc xảy ra và xã hội lại tiếp tục duy trì những quan niệm không chính xác về việc xem xét tương quan tuổi giữa người với người! Xin chân thành cám ơn quý báo và quý bạn đọc. Thiên Luân Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
    1 like
  19. Ý của tôi là ; người tình hay người yêu là do chính mình lựa chọn hay là mình tìm hiểu ,do mình có duyên mà gặp ,có nghĩa là không do qua sự mai mối tình cờ nên duyên gặp gỡ ,có sự cảm thông tìm hiểu quen nhau có thời gian ... còn như do người khác mai mối giới thiệu ,rồi mới sinh tình cảm sau đó mà kết hôn , theo tôi định nghĩa là có nợ mà không phải duyên .
    1 like
  20. Theo tôi ,không biết cháu được thầy nào xem ? mà nói cháu 2013 làm nên nghiệp lớn ! năm tới hạn đến mệnh gặp hình-hổ -phi + liêm tham cư hợi coi chừng dính dấp tới tù tội vào hotel đếm lịch ,cẩn thận suy nghĩ think twice những gì trước khi hành động , đừng tham vọng quá cao vì người khi mệnh Phủ bình hòa thì có cuộc sống an nhàn phẳng lặng hơn là muốn chèo thuyền trên dòng nước ngược .
    1 like
  21. Đọc đoạn này của Sư phụ, tự nhiên thấy lạnh toát sống lưng... Vậy là...người Việt Nam lại một lần nữa "đứng mũi chịu sào" rồi... Chỉ khi "thôn tính" được Việt Nam, coi Việt Nam là một bộ phận "dân tộc" "không thể tách rời" trong đại gia đình "Hán tộc" thì mới có cái gọi là "chính danh" trong việc biến "Biển Đông" thành ao nhà của chúng... Lúc đó thì..."Âm Dương Ngũ Hành"...là phát kiến vĩ đại của người "Bách Việt"...thì đã ra làm sao...? Vì "Bách Việt" là một bộ phận "không thể tách rời" khỏi "Trung Hoa" vĩ đại... Các nhà "SỬ HỌC" hàng đầu của Việt Nam Tổ Quốc tôi ơi... Trả lời giúp một cái... Ta phải làm sao...? Đúng là...Khôn chỉ có một...còn Ngu thì... Chẳng có cái ngu nào giống cái ngu nào... "Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi..." Anh linh 18 thời Hùng Vương còn đó... Bạch Đằng Giang, sóng bạc đầu còn đây... "Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đăng hành khan, thủ bại hư" "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này bọc trong da ngựa, cũng nguyện cam lòng." "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có..." "Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, (Bọn Hán Tộc) càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!"
    1 like
  22. Vợ tương lai của cháu có dạng hơi cao dong dỏng người ,nước da trắng ,đẹp gái ,người gọn gàng , sắc mặt tươi tắn , chân mày gọn đẹp , tướng sang quí phái , ăn nói dịu dàng hiền , sóng mũi cao ,mặt không dài ,không tròn ,không vuông ,hình như trái soan , bên trái của mặt hay cạnh gần sóng mũi có nốt ruồi hay tì vết gì đó ,có thể ở cạnh chân mày trái ,mệnh cháu vô chính diệu ,khốc -hư đắc địa phải từ 35t trở về sau mới phát ,được nhật nguyệt chiếu về ,cho nên về hậu vận mới phát phúc hưởng lộc trời , ccong danh sự nghiệp mới phát từ trung vận về sau ,nhưng cũng có lúc tiêu xài quá tay hay có lúc cơ nghiệp tiền của không cánh mà bay lã tã ; không hưởng phúc thọ nhiều ,dòng họ ly tán ,nếu cháu là con trưởng hay dòng trưởng ,nên chú ý đến mộ người ông cụ tổ 4-5 đời đang tọa lạc ở nơi xa nơi hẻo lánh đát có hình như cát trộn lẫn vùng trũng thấp, người ông cụ nầy mà cháu chịu ảnh hưởng và phúc đức của người đó , nên làm phước ở hiền thì mới tăng tuổi thọ ,trong người sau sẽ có bệnh hay u tật kín trong người nhất là về phổi ,hay thận .
    1 like
  23. 1 like
  24. Thành Tâm Niệm Danh Hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương Có Thế Siêu Độ Nghiệp Chướng Hòa Thượng Tuyên Hóa, Vạn Phật Thánh Thành Có một phần công sức thì sẽ được một phần kết quả tương ứng. Khi Địa Tạng Vương Bồ Tát biết quý vị thành tâm niệm danh hiệu Ngài, Ngài sẽ giúp siêu độ nghiệp chướng của quý vị. "Trực tâm là Đạo Tràng". Bất luận quý vị là người xuất gia hay là tại gia, trong bất cứ hoàn cảnh nào đều phải thành thật và ngay thẳng. Không được nói dối, không làm những việc mạo hiểm , cũng không đầu cơ hoặc đánh cá ngựa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào phải dùng tâm chân thật không dùng tâm cầu cạnh dua nịnh. Chúng ta phải có tâm chân thật trong mọi hòan cảnh, cái tâm phải biết dung hòa để hòa hợp với người khác. Để có tâm chân thật có nghĩa là để tu Đạo Bồ Đề, và đừng bao giờ làm trở ngại hay chướng ngại người khác. Nếu chúng ta làm hại hay chướng ngại người khác, chúng ta tạo nhân cho quả báo xấu. Khi quả báo của chúng ta đến, nếu chúng ta không sám hối mà lại cứ tiếp tục lừa dối người càng nhiều thêm, thi chúng ta lại sẽ tạo ra thêm nhiều nghiệp xấu nữa, khó mà tiêu trừ được. Lần này (năm 1982) khi tôi đến Châu Á, tôi có gặp một người phụ nữ là cô họ Vương ở Penang. Trong tiền kiếp cô thích ăn móng gấu và óc khỉ. Cô đập đầu khỉ nứt ra để uống óc khỉ. Cô cũng chặt móng gấu, chiên lên để ăn. Vì những nghiệp chướng trong quá khứ này, kiếp này cô sanh ra làm người phụ nữ. Tuy nhiên, thay vì sửa chữa lỗi lầm và bắt đầu đời mới, cô vẫn tiếp tục tạo nghiệp xấu. Cô đã giết hai nhân mạng bằng cách phá thai hai lần. Hai vong linh thai nhi bị phá thai này cùng kêu gọi những con ma là các chúng sinh mà cô đã làm hại trong tiền kiếp. Vì thế, cô bị ung thư. Trong thời gian thăm tôi viếng Penang, người phụ nữ trẻ này đã phát đại tâm sám hối và bệnh ung thư của cô đã thuyên giảm. Tiếc thay, hai tuần sau cô lại quay trở lại tập quán cũ, tái lập liên hệ với người bạn trai và lại còn làm những hành vi không phù hợp Phật Pháp. Sau đó một thời gian ngắn, bệnh ung thư của cô trở lại. Cô bị bệnh là do nghiệp chướng của cô gây ra. Nếu cô thật tâm sám hối về những lỗi lầm trong quá khứ và sửa đổi lại thì cô đã có một phần vạn cơ hội để khỏi bệnh. Nếu không, không có thuốc nào có thể chữa và ngay cả Phật và Bồ tát cũng chẳng cứu được cô. Có câu nói rằng, "Tội từ tâm khởi, đem tâm sám.". Nếu chúng ta không sám hối và sửa đối với tâm chân thành, thì nghiệp chướng của chúng ta sẽ quay trở lại. Trong trường hợp của cô họ Vương, vì cô không thành tâm sám hối và sửa đổi, nên bệnh ung thư của cô đã trở lại. Đáng lẽ cô phải viết thư cho tôi khi bệnh cô trở lại. Nếu cô ấy nói thật với tôi, có lẽ lúc đó còn có thể làm đuợc cái gì đó. Thay vì làm như vậy, cô đã nói dối với tôi và nói với tôi là cô sắp sang Mỹ. Trước khi tôi rời Mã Lai, tôi có bảo cô rằng sau khi khỏe mạnh hơn và nếu có khả năng mua vé máy bay sang Mỹ, thì cô có thể đến Hoa Kỳ và xuất gia đề tu hành. Nói cách khác, đáng lẽ cô phải sang Mỹ sau khi cô được chữa khỏi bệnh. Nhưng, người phụ nữ trẻ này chỉ sang Mỹ sau khi khí bệnh ung thư tái phát; cô đến để chết ở Vạn Phật Thánh Thành. Chỉ đến lúc khi bệnh của cô đã quá tầm tay của Y khoa thi cô mới lên máy bay một cách rất khó khăn và đến Mỹ vào ngày 24 tháng trước. Với loại xảo quyệt nầy, bệnh của cô càng khó chữa lành. Vì hành vi của cô là hoàn toàn giả dối, không thành thật và thủ đoạn, ngay cả Phật và Bồ Tát cũng không thể giúp được cô. Bây giờ cô đang ở trong bệnh viện, cơ hội sống chỉ còn 0.5 phần vạn. Tối nay chúng ta hãy thành tâm hồi hướng công đức cho cô, mong rằng cô sẽ bình phục. Mặc dù cô lừa dối tôi, lừa dối nơi tỉnh giác này tức cũng có nghĩa là lừa dối mọi người ở đây, nhưng tất cả chúng ta đều có lòng từ bi. Cô ta từ nơi rất xa đến đây, hy vọng cô có thể đuợc cứu sống khỏi tay tử thần. Nếu còn có thể cứu cô ta được, chúng ta nên cố gắng hết sức. Nếu không thể cứu cô ta, chúng ta cũng cố gắng hết sức. Nỗ lực của tập thể rất mạnh, chúng ta thành tâm giúp cô tiêu trừ những nghiệp chướng của cô. Hãy theo tiếng mõ, và vì cô ta mà niệm hồng danh Bồ Tát Địa Tạng Vương . Trong lúc chung ta niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương , những nghiệp chướng của cô đáng lẽ phải được tiêu trừ. Tuy nhiên, khi nghiệp quá khứ của cô được tiêu trừ thì nghiệp mới tích tụ lại cũng nhanh như vậy. Thật ra, chúng ta đang giúp cô ta tiêu trừ những nghiệp chướng vô tận mà lúc sanh ra cô đã có. Tôi nghĩ nếu chúng ta muốn cứu người này, chúng ta cần bắt đầu Thất Địa Tạng vào ngày mai. Hãy thanh tâm niệm danh hiệu Bồ Tát và hồi hướng công đức cho cô, hy vọng cô sẽ bình phục. Khi chúng ta giúp người khác với lòng thành khẩn thì chư Phật và Bồ Tát nhất định cùng sẽ giúp chúng ta ... Hôm nay chúng ta cùng phát tâm để hồi hướng công đức cho người phụ nữ trẻ này. Có phải thân nhân của cô ta yêu cầu chúng ta làm công việc này không? Không, họ không có yêu cầu. Tuy nhiên, dù là họ không biết, chúng ta vẫn hồi hướng công đức cho cô. Là Phật tử, chúng ta không cần được thỉnh cầu mới giúp đỡ người khác. Chúng ta cảm thấy thương xót người phụ nữ trẻ này và cố hết sức mình để giúp cô ta. Chúng ta nương tựa vào uy lực của Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Địa Tạng Vương. Nếu cô ta tỉnh lại thi thật là tuyệt hảo; nếu không, đó chỉ vì nghiệp chướng của cô quá nặng. Dẫu sao đi nữa, chúng ta hãy cố gắng hết sức mình, tất cả chúng ta nên nỗ lực làm việc! Hiện nay, càng lúc các nhiều tai họa trên thế giới, trong khi đó càng lúc càng ít người tu Đạo Bồ Đề. Thêm nữa, càng lúc càng có nhiều người phá giới. Tại sao thế giới ngày càng trở nên tệ hại? Chúng ta hãy nghiên cứa câu hỏi căn bản này. Nguyên nhân của vấn đề này là con người không giữ năm giới, đặc biệt là giới không tà dâm. Đàn ông và đàn bà đều sai lầm nghĩ rằng thỏa mãn ham muốn tình dục là một loại khoái lạc. Như có câu nói là “quay lưng với giác ngộ, phối hợp với bụi trần (bội giác hợp trần)” và "nhận kẻ giặc làm con”. Họ cho đau khổ là khoái lạc, đen là trắng, và cho sự thật là hão huyền. Họ quá mê lầm đến nỗi họ hành động cẩu thả và không chánh đáng, dường như họ đi ngược đầu thay vì đứng thẳng. Thêm vào đó, thay vì biết giữ gìn tinh lực quý giá, những người nam nữ mỗi ngày làm những việc mà cuối cùng chỉ là thương tổn chính họ. Đàn ông không biết cư xử như người đàn ông chính trực, phụ nữ không biết cư xử như người phụ nữ chính trực; những điều họ biết chỉ là làm cách nào để thỏa mãn ham muốn nhục dục của họ. Ngày nay, nam nữ sinh viên, nhất là những người trong những đại học nổi tiếng, họ sống chung và tham gia những hành vi chung chạ. Những hành động này đưa đến những sự mang thai ngoài ý muốn. Đề tránh những sự mang thai ngoài ý muốn này, các phương tiện ngừa thai được phát minh. Nhiều người nghĩ rằng dùng phương tiện ngừa thai tốt hơn là đối phó với những khó khăn do những sự có thai ngoài ý muốn. Thật ra, dùng biện pháp ngừa thai là không đúng vì nó ngược lại những chức năng sinh học trong việc giao hợp, và đó cũng là một loại nghiệp chướng. Thêm vào đó, những người phát minh ra những phương pháp ngừa thai cuối cùng đã gây hại cho nhiều thanh niên nam nữ , vì những người trẻ sẽ dễ dàng tham gia hành vi tà dâm hơn khi nghĩ rằng họ không phải lo lắng về chuyện có thể mang thai. Ngoài phương pháp ngừa thai, nam nữ còn dùng sự phá thai để đương đầu với những bào thai ngoài ý muốn do những hành vi đồi trụy của họ. Bằng cách phá thai, họ tạo ra một tội nặng nề hơn - tội sát sanh. Nói cho rõ, trong khi dùng biện pháp ngừa thai là một hành động sát sanh gián tiếp; thì phá thai là hành vi sát sanh trực tiếp. Tất cả những việc sát sanh này làm gia tăng lòng oán hận trên thế gian. Những năng lực xấu này cũ chồng chất, kết quả là có những bệnh lạ. Khi quý vị nghiên cứu sâu xa hơn, quý vị sẽ thấy rằng nếu đàn ông, đàn bà không luôn phá luật về hành vi luân lý thì đã chẳng xảy ra quá nhiều những bệnh tật lạ với những triệu chứng khác thường không giải thích được và không chữa được. Bây giờ, ngoài ung thư còn có những bệnh khác cũng khó chữa hoặc không thể chữa được. Những vấn đề này đều đầu tiên bắt nguồn từ phạm giới về tà dâm, rồi thì giới sát sinh. Những hành động không chính đáng này sẽ có tiếp theo sau là sự phạm giới ăn cắp, nói dối và dùng chất say. Năm giới luật này là những luật lệ quan trọng nhất trong đời sống chúng ta. Vì thế, mọi người phải giữ năm giới. Thuở xưa, khi vị Chuyển Luân Thánh Vương còn ở trên thế gian để giáo hóa chúng sanh, mọi người đều giữ năm giới, tuân theo và thực hành mười điều thiện (Thập Thiện) và ăn chay. Vào thời đó, không có thiên tai và mọi người được hưởng rất nhiều phước báo, nhiều người có thần thông và mở ngũ nhãn. Trái lại ngày nay, tiêu chuẩn đạo đức ngày càng suy đồi. Sự suy đổi trong phẩm cách con người cũng làm cho cả thế giới suy đồi. Quý vị có muốn biết tại sao có quá nhiều người bị ung thư? Tình trạng này là do nghiệp sát sanh tạo ra. Quý vị hãy suy nghĩ về việc này, qua sự phá thai, quý vị đã tận diệt những mạng sống ngay trước khi chúng có cơ hội chào đời. Trong hoàn cảnh này, sự oán giận của những bào thai không được sinh ra không thật là kinh khủng hay sao ? Nói tóm lại, thế giới và con người càng ngày càng tệ hại hơn. Tất cả chỉ vì nghiệp sát sinh. Người tại Vạn Phật Thánh Thành, vì biết nhân quả báo ứng tuần hoàn, chúng ta hãy làm giảm nghiệp xấu trên thế giới, như vây thế giới sẽ không có nhiều thiên tai, giúp nhân loại bớt đi một chút đau khổ, và bệnh tật của nhân loại cũng bớt đi một chút. Chúng ta hãy cùng nhau giúp cô họ Vương xem như đây là một cơ hội để nỗ lực và thành tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương . Niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương có thể giúp giảm nghiệp xấu của chúng sinh; và để cho những kẻ thù, thân nhân và những chủ nợ của họ từ vô lượng kiếp về trước được sinh về Tây Phương Cực Lạc. Lần tụng niệm này cũng sẽ giúp tất cả kẻ thù, thân nhân và chủ nợ của chúng ta được được sinh về Tây Phương Cực Lạc. Hãy nhân cơ hội này để niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát với sự nỗ lực và thành tâm. Khi chúng ta giúp những người đang bệnh hay đang đau khổ, chúng ta cũng đang độ cha mẹ, tổ tiên, kẻ thù, thân nhân, và chủ nợ của chúng ta trong những đời quá khứ, và giúp họ lìa khổ được vui, và liễu sanh thoát tử. Có một phần công sức thì sẽ được một phần kết quả tương ứng. Khí quý vị niệm danh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát với sự nỗ lực và thành tâm, Ngài sẽ cảm động. Biết rằng quý vị đang niệm danh hiệu Ngài với lòng thành khẩn như vậy, Bồ Tát Địa Tạng Vương sẽ siêu độ tất cả nghiệp chướng của quý vị, Ngài cũng giúp quý vị tu Đạo Bồ Đề, tiến bộ trên đường Đạo này mà không bị ma chướng, sớm tiêu trừ các nghiệp chướng, mau xa lìa đau khổ và vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc. Đó là lý do chính để chúng ta tham dự Thất Địa Tạng. Vì thế, mọi người hãy chân thật và thành tâm để siêu độ cha mẹ, tổ tiên, kẻ thù, thân quyến và chủ nợ của chúng ta trong những kiếp trước. Hãy để cho họ dùng cơ hội này để lia khổ đuoc vui. Đừng để thời gian trôi quá vô ích! Lời Sọan Giả: Dù cô họ Vương đã tạo nhiều nghiệp xấu trong quá khứ, cô đã phát đại tâm sám hối tại Penang. Trước đại chúng hơn hai ngàn người, cô thành thật nói về những hành vi không tốt đẹp của cô, và cầu xin sự gia hộ từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát và của Hòa Thượng khi cô quyết tâm sám hối và thay đổi. Khi ấy bệnh ung thư của cô được thuyên giảm. Tuy nhiên, cô trở lại thói quen cũ sau khi phát tâm sám hối, và dùng phương tiện gian dối để đến Vạn Phật Thánh Thành. Vì cô làm thêm nhiều nghiệp chướng, nên khó mà tránh được nghiệp quả không lành. Vì thế, mặc dù bốn chúng đệ tử tại Vạn Phật Thánh Thành đã vì cô mà tổ chức hai Thất Địa Tạng và nhiều bác sĩ đã cố gắng để cứu cô, nhưng cô đã mất vài tuần sau đó. Chúng ta có thể nói rằng cô họ Vương đã hiện thân thuyết Pháp và hãy xem đây là sự cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta. ( trích : Những Vong Linh Thai Nhi Vô Tội )    
    1 like
  25. Duyên và nợ là 2 tình huống khác nhau ! có duyên gặp gỡ hội ngộ mà không nợ, dù có kết ước cũng không thể chung sống với nhau được , trên con đường đời dài đăng đẳng có nhiều ngã rẻ , đến 1 lúc nào đó mỗi người 1 phương thì cũng chấp nhận đi cháu ! không biết cháu có duyên nợ với người đó hay không , nhưng năm tới cho thấy có thể cưới vợ trong 1 bối cảnh dồn ép hay bắt buộc khi 1 sự thể xảy ra ngoài ý muốn .
    1 like
  26. Thông điệp của Bồ Tát Địa Tạng đến Phật tử qua kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Published on Monday, 13 August 2012 16:21 Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là một bộ Kinh nói về công đức, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng thường được các Chùa chiền tự viện tại các quốc gia theo khuynh hướng Đại Thừa khai tụng trong suốt tháng bảy, đặc biệt là vào dịp lễ Vu Lan, tức là mùa báo hiếu cha mẹ, tổ tiên theo truyền thống của người con Phật. Bộ Kinh này đã được Hoà Thượng Trí Tịnh dịch từ Hán Tạng ra tiếng Việt. Lý Do Ra Đời Của Kinh Địa Tạng. Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan: "Ta nghe như vầy", có nghĩa là bộ Kinh này đã được Ngài A Nan ghi nhớ lại lời Phật giảng dạy và sau đó truyền tụng cho đại chúng. Ngay điểm mở đầu này có thể tạo nên một số nghi hoặc đối với đại chúng nhất là những người có một số hiểu biết về lịch sử Phật giáo, vì ai cũng biết rằng Ngài A Nan chỉ đắc quả A La Hán và đạt được thần thông sau khi Phật nhập diệt, chỉ vài giờ trước khi Ngài Ma Ha Ca Diếp triệu tập Đại Hội Tăng già kết tập Kinh điển lần thứ nhất. Như vậy, với tư cách là một phàm Tăng, người ta tự hỏi, làm sao ngài A Nan có thể đi cùng với Phật lên cung trời Đao Lợi để nghe Phật thuyết Pháp? Tuy nhiên, để giải tỏa mối nghi ngờ này, ta nên hiểu rằng, trước khi nhận làm thị giả chính thức cho Đức Phật, Tôn giả A Nan đã ra 8 điều kiện và được Phật chấp nhận, trong đó điều kiện thứ tám nêu rõ: "Nếu Đức Thế Tôn thuyết Pháp trong lúc A Nan vắng mặt, thì ông xin Đức Bổn Sư lặp lại bài Pháp ấy cho ông nghe.” Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện do Đức Phật Thích Ca diễn nói tại cung trời Đao Lợi, tức là từng trời thứ hai trong sáu từng trời của cõi Dục giới nơi mà Thánh Ma Gia, thân mẫu của Đức Phật đã thác sanh về đây sau khi hạ sanh Đức Phật được 7 ngày. Trước khi nhập Niết Bàn, vì cảm ơn đức sanh thành, Đức Phật đã diễn nói Kinh Địa Tạng tại Pháp hội ở cung trời này. Như vậy, Kinh Địa Tạng ra đời trước tiên là do lòng hiếu thảo của Đức Phật đối với bậc sanh thành, Ngài đã tưởng nghĩ đến mẹ khi biết rằng mình sẽ không còn trụ thế bao lâu nữa nên đã lập Pháp hội tại cung trời Đao Lợi để độ thoát cho thân mẫu. Đây là một Pháp hội vô cùng quan trọng vì có sự hiện diện đông đủ của chư Phật khắp mười phương thế giới, chư Đại Bồ Tát như Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền... cùng các chúng Trời, Rồng, Quỉ, Thần khắp các cõi. Diễn nói Kinh Địa Tạng trong Pháp hội này vì thế mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Là bậc Cha lành trong bốn cõi, không một việc làm nào dù nhỏ hay lớn mà Đức Thế Tôn lại không nghĩ đến lợi lạc của tất cả Pháp giới chúng sanh. Trong Pháp hội này Ngài vì thân mẫu mà thuyết Pháp nhưng động cơ chính vẫn là lòng từ bi lân mẫn đối với chúng sanh ở cõi Ta bà, đặc biệt là đối với những chúng sanh cang cường đầy tội khổ, khó khai hóa mà Ngài biết chắc chắn là sẽ "bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ", vì thế trong Pháp hội này Ngài đã phó chúc cho Bồ Tát Địa Tạng nhiệm vụ "gắng độ chúng sanh trong cõi Ta bà đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng giải thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được Đức Phật thọ ký.” (Quyển Thượng Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội). Như vậy nội dung chính yếu của Kinh Địa Tạng xoay quanh chữ Hiếu, nói lên những bổn phận, nghĩa vụ của người sống đối với người đã quá vãng, cũng như nêu bật những tội phúc quả báo ở kiếp sống bên kia để người Phật tử nương theo Kinh này cùng dựa vào oai lực độ trì, gia hộ của Bồ Tát Địa Tạng để tu tập, hầu độ thoát cho chính mình, cho người thân cũng như tất cả chúng sanh đã quá vãng khỏi rơi vào con đường ác. Hành Trạng Và Đại Nguyện của Bồ Tát Địa Tạng Bồ Tát Địa Tạng là nhân vật như thế nào mà lại được Đức Phật giao phó một trọng trách lớn lao và khó khăn như thế? Bồ Tát Địa Tạng là một vị Đại Bồ Tát thường được nhắc nhở đến trong rất nhiều Kinh điển Đại thừa vì công năng, oai lực của vị Bồ Tát này vô cùng lớn lao. Nếu chúng ta tôn xưng Đức Từ Phụ là Ta bà Giáo chủ thì Bồ Tát Địa Tạng cũng đã được tôn xưng như là vị U Minh Giáo Chủ, tức là người tiếp trợ, giúp đỡ các chúng sanh ở thế giới bên kia, tức là cõi âm. Ngài là nơi nương tựa, nguồn an ủi của những oan hồn vất vưởng không nơi nương tựa đến những linh hồn vì ác nghiệp bị giam giữ và trừng phạt tận các tầng địa ngục. Tên gọi của Ngài cũng đã mang một ý nghĩa như thế. Địa là đất cũng có nghĩa là dày chắc, Tạng là cất giấu, chứa đủ. Danh hiệu của Ngài hàm ý rằng Ngài là đại địa bao la, nơi ẩn chứa những kho tàng quý giá, tức thiện căn. Địa Tạng vì thế như là hình ảnh của một người mẹ thiên nhiên ôm ấp, bảo bọc, che chở tất cả muôn loài không phân biệt. Chẳng thế mà Đức Thế Tôn đã lên tiếng tán dương: "Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn." Bồ Tát Địa Tạng đã đạt đến quả vị này là do một phát tâm từ bi dõng mãnh muốn cứu vớt tất cả những khổ đau của chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh đang chịu khổ nạn trong địa ngục, được huân tập qua một quá trình tu tập trải qua hằng hà sa số kiếp, trong đó một vài kiếp nổi bật đã được Đức Phật nhắc lại trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện như sau: Vị Trưởng giả dưới thời Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai: Trong kiếp này Ngài là một vị Trưởng giả, đã lập nguyện độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ mới chứng thành Phật đạo. Hiếu nữ Bà La Môn dưới thời Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật: Trong kiếp này Ngài là một thiếu nữ Bà La Môn hết lòng sùng kính Tam Bảo nhưng bà mẹ lại là một người mê tín tà đạo, khinh chê Tam Bảo. Vì ác nghiệp này mà sau khi chết bà đã bị đọa vào địa ngục vô gián. Tuy không biết mẹ mình thác sanh về nơi nào nhưng Thánh nữ biết rằng với những tội lỗi mà bà đã gây ra, chắc chắn sẽ bị đọa vào con đường ác. Là một người con hiếu thảo, đau lòng vì thương nhớ mẹ, Thánh nữ đã tu tạo phước lành và cầu khẩn oai lực của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật giúp đỡ. Nhờ đó mà thân mẫu của bà chẳng bao lâu sau đã được vãng sanh lên cõi trời. Từ đây Thánh nữ lập nguyện: "Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát." Vị tiểu vương dưới thời Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai: Trong kiếp này Ngài là quốc vương của một nước nhỏ, thương yêu dân như con, luôn thực hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhân dân. Tuy nhiên dân chúng của vương quốc này tánh tình rất ngang ngược, hung ác. Do đó Ngài đã phát nguyện rằng: "Nếu chưa độ hết những chúng sanh tội khổ đều đặng an vui chứng quả Bồ đề, thời tôi nguyện chưa thành Phật." Hiếu nữ Quang Mục dưới thời Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai: Cũng như câu chuyện của Thánh nữ Bà La Môn, Quang Mục là một thiếu nữ rất hiếu thảo đối với mẹ. Sau khi mẹ mất, nàng băn khoăn không biết mẹ mình nay đã thác sanh về đâu. Nhờ lòng hiếu thảo và công đức cúng dường một vị La Hán đầy phước đức, Quang Mục biết được mẹ đang chịu khổ nạn tại địa ngục do hai tội ác giết hại sanh vật và chê bai mắng nhiếc người khác gây ra lúc còn tại thế. Do phước lực của nàng và oai lực của Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, bà mẹ sau đó đã phải trở lại đầu thai vào làm con của người đầy tớ trong nhà Quang Mục chịu kiếp hạ tiện cho đến năm 13 tuổi mới được vãng sanh về cõi trời. Nàng Quang Mục vì thương mẹ mà đã phát nguyện rộng lớn như sau: "Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm ngàn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh, và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới trở thành bậc Chánh Giác." Đức Thế Tôn đã vì mẹ mà tìm đến cung trời Đao Lợi. Tôn giả Xá Lợi Phất trước khi biết mình sắp nhập Niết Bàn đã quay về mái nhà xưa để độ thoát cho mẹ già. Trong những câu chuyện về tiền kiếp của Bồ Tát Địa Tạng được Đức Phật nhắc lại ở trên, hai hình ảnh nổi bật nhất vẫn là hai thiếu nữ hiếu thảo hết lòng cứu mẹ. Chữ Hiếu như thế, rất quan trọng trong đạo Phật. Biết thương yêu mẹ mới biết thương yêu chúng sanh. Hiểu được những nỗi khổ mà mẹ đang chịu đựng mới có thể hiểu được những nỗi khổ của chúng sanh. Từ đó mới phát đại nguyện cứu vớt chúng sanh. Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng khi đã chia xẻ kiếp người, cũng chia xớt với chúng ta những tình cảm như thế, cho nên chúng ta, những người con Phật, những hiếu tử, có ai nghĩ về mẹ mà không nước mắt rưng rưng? Nhưng làm thế nào để giúp mẹ, để cứu vớt những người thân trong lúc lâm chung hay đã qua đời? Kinh Địa Tạng cùng với công năng, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng sẽ giúp ta thực hiện được điều đó. Công Năng, Oai Lực của Bồ Tát Địa Tạng và Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Công năng, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng bao trùm khắp ba cõi Trời, Người và cõi âm. Nói theo danh từ nhà Phật, oai lực đó là không thể nghĩ bàn. Riêng trong cõi thế gian này, Đức Thế Tôn qua Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện đã cho chúng ta biết rằng bất cứ chúng sanh nào hoặc được nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát rồi chí tâm quy y hoặc cúng dường, chiêm ngưỡng, tô vẽ hình tượng, đảnh lễ Bồ Tát, chắc chắn sẽ đạt được những lợi ích lớn lao sau đây: 1. Lợi ích trong cuộc sống hiện tại: ---------------------------- Những nguyện lớn mau chóng thành tựu: Những ước muốn mong cầu trong đời hiện tại hoặc vị lai, chắc chắn sẽ được thành tựu. Tất cả những ai phát nguyện lớn lao, muốn cứu độ chúng sanh, muốn đạt đạo quả Bồ đề đều được oai lực của Bồ Tát trợ giúp để đạt thành ý nguyện. Được trí huệ lớn: Đối với những người kém trí nhớ, nghe rồi quên, Kinh điển đọc tụng bao nhiêu lần cũng không nhớ nỗi, Phật dạy nên dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm rồi chí tâm cung kính quay mặt về phương Nam thỉnh nước này để uống, sau đó phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi... giữ gìn 5 giới trong vòng 7 hoặc 21 ngày sẽ thấy hiệu nghiệm. Tai Nạn Tiêu Trừ: Tất cả những ai luôn bị tai vạ theo đuổi, thân luôn mang tật bệnh, gia đạo không an, người thân ly tán... Nếu chuyên tâm trì tụng danh hiệu của Bồ Tát từ một muôn biến trở lên, tất cả mọi hoạn nạn sẽ dần dần được tiêu trừ. Thoát khỏi hiểm nguy: Nếu gặp cảnh ngộ phải xông pha vào chốn hiểm nguy, trước khi ra đi chuyên tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát trên một muôn biến, sẽ thoát khỏi khổ nạn hiểm nguy. Tiêu tội chướng, bệnh tật: Những người bị bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt giường, sống dở chết dở, đó là do nghiệp đạo luận tội chưa đi đến quyết định dứt khoát nên khó chết cũng như khó lành. Trong lúc này người thân nên dùng tài sản, vật qúy của người bệnh tô vẽ hình tượng, cúng dường Bồ Tát rồi báo cho người bệnh biết cũng như trì tụng Kinh này thì người đó vì nghiệp báo mà phải mang lấy bệnh nặng sẽ được hết bệnh, sống lâu, còn như nếu hết nghiệp lúc chết các nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ, không còn bị đọa vào ba đường ác mà sẽ được vãng sanh về cõi Trời. Được quỉ thần hộ vệ: Những người cung kính đảnh lễ, dùng các hình thức văn mỹ nghệ ca ngợi Bồ Tát Địa Tạng, khuyến khích những người khác cùng làm theo như thế, trong đời này cũng như ở những kiếp sau, họ sẽ được trăm nghìn quỉ thần luôn theo hộ vệ ở bên mình, không còn bị mắc vào những tai họa nữa. 2. Lợi ích cho kiếp sau: ------------------------- Thoát khỏi nữ thân: Những người nữ nào không muốn mang thân gái ở kiếp sau, hàng ngày thành kính cúng dường, chiêm ngưỡng, đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát sẽ được như ý nguyện. Được thân xinh đẹp: Những người nữ hiện tại mang thân hình xấu xí, hay ốm đau bệnh tật trong những kiếp tới sẽ được thân hình xinh đẹp, sinh vào nơi quyền qúy cao sang nếu cung kính đảnh lễ, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng. Thoát kiếp nô lệ: Những người sinh ra trong kiếp tôi đòi, nô lệ nếu thành tâm trì tụng danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng liên tiếp trong 7 ngày, đủ một muôn biến, kiếp tới sẽ không còn sinh vào nơi hạ tiện nữa. 3. Lợi ích trước phút lâm chung. --------------------------- Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện có thể xem là một quyển Kinh gối đầu giường, một cuốn chỉ Nam cho người Phật Tử khi phải đối diện hoàn cảnh một người thân yêu của mình sắp mạng chung. Đây là giây phút hệ trọng nhất của một linh hồn sắp giã từ cõi thế, khi mà tất cả những ham muốn, dục vọng của cả một đời người tích tụ lại thành một năng lực quyết định cho hướng đến của kiếp tương lai. Giống như sĩ tử trong kỳ thi cuối cùng, đây chính là thời điểm thử thách, cân lường thiện nghiệp, ác nghiệp của một đời người trước khi chuyển kiếp. Trong lúc này, Đức Thế Tôn cho ta biết, "thần thức của người chết đang hôn mê, mờ mịt, những quỉ thần, ma đạo đôi lúc còn biến hình ra cha mẹ, những người thân thuộc để lôi kéo họ vào ác đạo, ngay cả đối với những người đã tạo nghiệp lành trong hiện thế." (Quyển Trung Phẩm Thứ Tám Các Vua Diêm La Khen Ngợi). Cho nên vai trò của người thân lúc này rất quan trọng. Họ phải ở bên cạnh người sắp lâm chung, liên tục trì tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát làm sao cho lọt được vào lỗ tai người chết, như vậy các ma quỉ, ác thần mới lui tan đi chỗ khác. Đức Phật cũng cho biết những công việc cần làm của thân nhân trong suốt 49 ngày khi linh hồn người chết đang còn vất vưởng, luôn trông ngóng thân quyến cốt nhục tu tạo phước đức làm hành trang, vốn liếng cho họ được nhẹ bước siêu linh. Nỗ lực chính yếu của thân nhân trong thời gian này nên được thể hiện bằng những hành động tích cực như không được giết hại sinh vật, cúng tế thần linh, ma quỉ. Sau 49 ngày thì người chết sẽ tùy theo nghiệp mà nhận lấy quả báo. Có lẽ quyển "Tạng Thư Sống Chết" của Phật giáo Tây Tạng là quyển sách diễn tả một cách khá rõ ràng về những giai đoạn biến chuyển của thần thức hay thân trung ấm (bardo) con người từ giây phút lâm chung cho đến 49 ngày sau đó, phù hợp với giáo lý mà Đức Phật đã diễn nói trong Kinh Địa Tạng. Trong phần "Các cảnh báo trước nơi tái sanh" tác giả cho biết: "Những người nào phải sanh vào địa ngục sẽ nghe những tiếng như những lời than vãn và sẽ bị bắt buộc phải đi vào một cách không cưỡng lại được. Sẽ hiện ra những khoảng tối mù mịt, những ngôi nhà màu đen và trắng, những lỗ đen ngòm trong đất, những con đường tối om mà người ta sẽ phải đi theo. Bước vào đó là người ta vào địa ngục và sẽ phải đau khổ vì quá nóng, quá lạnh... và sẽ phải chịu đựng lâu dài mới ra khỏi được.” Bởi vậy, đối với người đang hấp hối, sự hiện diện bên cạnh của vị Bổn sư hay của một vị thiện trí thức mà đương thời người hấp hối kính trọng, tin tưởng, đọc tụng cho họ những bổn Kinh hay trì niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát, cụ thể là Bồ Tát Quán Thế Âm hay Bồ Tát Địa Tạng hoặc vị Bồ Tát nào mà lúc sinh thời người đó đã chọn thờ kính làm vị Đại sư của mình tương tự như vị Thánh bổn mạng của người Thiên chúa giáo sẽ giúp ích lớn lao cho người chết được mau chóng siêu thăng về cõi Phật. 4. Lợi ích đối với người quá vãng. ------------------------------ Siêu độ vong linh: Tại sao trong giấc ngủ ta nằm mơ thấy ma quỷ, hoặc hình ảnh những người lạ tạo cho ta những ấn tượng lo buồn, hoặc kinh sợ đến đổi phải thở than, khóc lóc hoặc kinh hoảng trong giấc mơ? Đức Phật giải thích cho ta biết đó là do linh hồn những thân quyến của ta đã chết trong kiếp này hay những kiếp trước bị đọa vào ác đạo nên tìm đến ta để mách bảo hy vọng rằng vì tình cốt nhục ta sẽ tìm cách giúp họ thoát ra khỏi con đường ác đạo. Để giúp cho những vong linh này được siêu độ, Phật dạy ta nên chí tâm đảnh lễ trước hình tượng của chư Phật hay Bồ Tát rồi tự mình đọc tụng Kinh này hoặc nhờ người khác đọc tiếp từ 3 đến 7 biến tức thời những linh hồn thân quyến kia sẽ được giải thoát không còn hiện về trong giấc mơ nữa. Gặp lại người thân đã quá vãng: Những người nào gặp cảnh cha mẹ mất sớm từ lúc vừa mới sanh ra cho đến trong vòng mười tuổi, hoặc có anh chị em, quyến thuộc đã qua đời, sau này khi họ lớn lên, nhớ tưởng đến những người đã quá vãng? không biết thác sanh về đâu, trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Phật dạy rằng hễ cứ mỗi lần nghe danh hiệu hoặc chiêm ngưỡng hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng thì cung kính đảnh lễ một lần trong suốt một ngày đến 7 ngày, những thân quyến quá vãng dù có bị đọa vào ác đạo cũng được siêu thăng lên cõi Trời. Nếu thực hiện công hạnh này đủ 21 ngày và trì tụng một muôn biến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng sẽ được Ngài hiện về trong giấc mơ mách bảo cho biết nơi thác sanh hoặc Ngài sẽ dẫn đến tận nơi để gặp lại người thân đã qua đời. Quan Niệm Về Địa Ngục, Tội Phước Nghiệp Báo Trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Có thể xem Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là quyển Kinh nói rõ nhất về thế giới bên kia tức cõi âm, về địa ngục và những trừng phạt, về tội phước và nghiệp báo. 1. Về địa ngục: ------------------- Một vấn nạn mà các triết gia Đông Tây thường nêu ra để tìm lời giải đáp là sau khi chết thần thức, tức linh hồn của con người sẽ đi về đâu? Phải chăng có cõi địa ngục hiện diện ở thế giới bên kia và nếu có qua đó những kẻ gây ác nghiệp sẽ bị trừng phạt như thế nào? Câu trả lời của Phật giáo rất rõ ràng. Trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Đức Phật đã trả lời dứt khoát cho ta biết là có địa ngục và có sự trừng phạt. Ngài chỉ rõ rằng những người sinh ra trong đời này hoặc mang kiếp nghèo hèn, hoặc gia đình quyến thuộc kình chống nhau, hoặc thân hình xấu xí tàn tật, đui, điếc, câm ngọng, không lưỡi, miệng lở, điên cuồng mất trí, chết yểu,... hoặc sinh làm chim chóc, súc sanh... đều là những chúng sanh đã tạo ác nghiệp từ thân khẩu ý từ những kiếp trước, sau khi chịu qủa báo ở đời này, nếu không tu tập, họ sẽ còn tiếp tục bị "đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi.” Ta tin lời Phật dạy là có địa ngục, nhưng địa ngục đó như thế nào? Để trả lời những thắc mắc của Thánh mẫu Ma Gia cũng như Bồ Tát Phổ Hiền nêu ra trong Pháp hội, Bồ Tát Địa Tạng đã tóm lược ra cho ta biết tất cả những loại địa ngục, qua đó nạn nhân phải nhận chịu những hình thức trừng phạt hết sức kinh khủng bởi những khí cụ tra tấn ghê rợn trong từng các loại địa ngục, mà trong đó nặng nề nhất là địa ngục Vô Gián. Đọc đến đoạn Kinh này, những người mang tinh thần duy lý có thể sẽ nêu nghi vấn, đặt vấn đề: Con người chỉ cảm nhận được đau đớn khi có xác thân, nhưng sau khi chết rồi, xác thân tan rả thì những hình phạt, tra tấn đâu có tác dụng gì nữa, như vậy phải chăng địa ngục chỉ là sự hù dọa của Tôn giáo đối với những kẻ yếu bóng vía? Ta hãy xem Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện giải thích như thế nào về vấn đề này. Địa ngục là gì? Trả lời Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài Địa Tạng nêu rõ: "Đó là do chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế" và ngay cả các khí cụ tra tấn cũng được giải thích, "Khí cụ là do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra." (Quyển Thượng Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu của Địa Ngục). Thiết tưởng câu trả lời trên đây đã diễn tả đầy đủ ý nghĩa về địa ngục. Địa ngục hiện hữu là do nghiệp của mỗi chúng sanh mà CẢM ra. Có lẽ phải cần một cuốn sách hay nhiều cuốn sách mới giải thích một cách đầy đủ quan niệm "tùy nghiệp chiêu cảm", tuy nhiên để có thể hình dung một cách cụ thể thì nếu ta gây nghiệp ác, linh hồn ta sẽ không ngớt bị dày vò, chịu trừng phạt đau đớn sau khi chết giống như ta đang sống trải qua một cơn ác mộng. Trong ác mộng, tuy xác thân ta không bị hành hạ nhưng ta cũng cảm thấy đau đớn, lo lắng, kinh hải, ta cũng rên la than khóc, đổ mồ hôi hột trước những sự khủng khiếp mà ta đang chịu đựng trong giấc mơ; nhưng may mắn cho ta, thần thức ta có chỗ dựa là xác thân, khi sự kinh khủng lên đến cao độ ta tỉnh mộng và tìm được lối thoát. Nhưng sau khi chết, linh hồn ta sẽ không còn chỗ dựa, ta không còn lối thoát nào nữa, cơn ác mộng do đó sẽ kéo dài bất tận do những nghiệp ác gây nên, cho đến khi nào nghiệp ác tự tiêu diệt hoặc ta được những nguyện lực có khả năng cứu rổi ta siêu thoát qua cảnh giới khác. Hiểu Địa ngục như thế để thấy cảm thương cho cha mẹ, thân quyến của ta, của tất cả chúng sanh vì nghiệp ác phải trả trong địa ngục, để hướng từ bi tâm của ta nguyện cầu cho họ mau chóng siêu thoát hoặc tích cực hơn, trì tụng Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện để nhờ oai lực của Bồ Tát cứu vớt họ đến những cảnh giới an lạc. 2. Vấn đề tội phước nghiệp báo: -------------------------------- Khi ta tin có Địa ngục tức là ta tin có vấn đề tội phước nghiệp báo, trong Kinh Địa Tạng bổn nguyện Đức Thế Tôn đã cho ta biết như thế. Mọi việc xảy ra ở trên đời này không có gì là ngẫu nhiên. Ta như thế nào trong kiếp sống hiện tại là kết qủa của nghiệp báo gây ra từ những kiếp trước. Chính nghiệp tốt hay xấu của một người gây ra do thân, khẩu, ý trong đời này lại sẽ là lực quyết định tương lai cho những kiếp tới của cá nhân đó mà không là gì khác. Nghiệp là một nhà phán quan vô tư không sai chạy. Hay ta có thể hình dung ra nghiệp như là một nhà kế toán với phương tiện điện toán hiện đại nhất mà tất cả những hành động tốt xấu của ta xảy ra sẽ được nó lưu trữ vào bộ nhớ (memory) không sót một chi tiết nào. Đến giờ lâm tử, nó mới bắt đầu giở sổ sách ra để tính toán với ta. Từ đó cánh cửa mở ra để ta bước vào cõi Phật, cõi Trời, hoặc đầu thai trở lại làm người, làm súc sanh, hay đi về địa ngục... Vấn đề luân hồi, tái sinh ngày nay không còn là một vấn đề siêu hình, trừu tượng nữa mà đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học thực nghiệm. Hàng ngàn trường hợp đã được kiểm chứng một cách khoa học và được phổ biến qua báo chí, sách vở. Ba nhà tiên phong trong lãnh vực này là Bác sĩ Ian Stevenson nguyên Giáo sư Đại học Y Khoa Louisiana State University, Trưởng khoa Thần Kinh Trường Đại học Y Khoa University of Virginia; Tiến sĩ Bác sĩ Raymond Moody, Jr., thường trú tại bệnh viện Đại học Y Khoa University of Virginia và đặc biệt là Bác sĩ Nha Khoa Bruce Goldberg, hiện có phòng mạch tại Los Angeles, CA đã dùng "Thôi miên trị liệu Pháp" (Hypnotherapy) để cho bệnh nhân nhớ lại tiền kiếp. Trường Đại học Y Khoa Florida, Hoa Kỳ, đã mở hẳn phân khoa "Thôi miên trị liệu Pháp", dùng phương pháp thôi miên để khám phá những căn bệnh mà họ không thể xác định được căn nguyên. Với phương pháp này họ có khả năng làm cho người bệnh nhớ lại tiền kiếp của mình và nhờ đó mà khỏi bệnh. Bản báo cáo của Trường Đại học này có ghi lại là trường hợp của một bệnh nhân bị chứng đau bụng dưới kinh niên. Cơn đau kinh khủng đến độ bệnh nhân tưởng như cơ thể, đất trời phải nổ tung ra, không thể chịu đựng nỗi. Các phương tiện y khoa đều bó tay không tìm ra nguyên nhân căn bệnh, cuối cùng phải nhờ đến phương thức trị liệu mới. Nhờ phương thức này mà các bác sĩ chữa trị đã giúp bệnh nhân nhớ lại một trong những tiền kiếp của mình, khi anh là một cai tù tại một quốc gia Nam Mỹ dưới thời thống trị của đế quốc Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 15. Anh là một cai tù rất hung bạo. Những tù nhân nào qua tay anh đều bị anh mang giày bốt đá vào bụng dưới; những nạn nhân này không bị dập gan, dập ruột thì cũng bể bao tử, đau đớn vô cùng. Thấy được tiền kiếp này anh cảm thấy vô cùng hối hận và lành bệnh. Chính BS. Bruce Goldberg trong tác phẩm của ông, "Past lives, Future lives" cũng đã kể lại trường hợp ông đã chữa lành bệnh mù mắt cho một thiếu nữ khi cho bệnh nhân này thấy lại tiền kiếp của mình. (Sđd, trang 100 - 106). Đức Thế Tôn trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cũng đã nêu ra một số thí dụ điển hình về tội phước nghiệp báo. Ngài cho biết những hạng Tăng ni giả danh, phá giới, phạm trai, những người chế diễu, phỉ báng những kẻ tu hành thì chắc chắn sẽ bị đọa và ngục Vô Gián, hoặc sanh làm cầm thú đói khát suốt đời; nếu những người chuyên sát sanh hại vật thì kiếp tới sẽ bị chết yểu; những người không bao giờ toại chí, trong cuộc sống làm việc gì cũng thất bại là vì kiếp trước họ hà tiện, bỏn xẻn, chẳng hề giúp người; những người hay chửi bới mắng nhiếc, nói lời thô ác thì bị quả báo không lưỡi, miệng lở, hoặc nội bộ gia đình quyến thuộc không an ổn, kình chống lẫn nhau; những người đời này mang thân xấu xí, tàn tật là do kiếp trước hay nóng giận... Là Phật tử, khi đã hiểu rõ về tội phước nghiệp báo như thế, nếu ta có gặp phải những bất hạnh trong kiếp sống này thì nên nỗ lực tu tập để hy vọng được sanh về những cảnh giới tốt đẹp hơn trong tương lai, còn nếu ta đang tận hưởng tất cả những hạnh phúc, sung sướng, giàu có, uy quyền trong kiếp sống hiện tại thì lại càng phải nỗ lực tu tập hơn nữa để tăng trưởng thiện nghiệp cho những kiếp sắp tới. Đức Thế Tôn vì lòng đại bi, thương yêu chúng sanh như con nên đã chỉ cho ta một con đường sáng tỏ như thế trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Lời dạy của Ngài không cao xa mà rất cụ thể, chỉ cho ta phương pháp thực hành rất dễ dàng để không còn bị rơi vào ác đạo: "Trong mỗi tháng những ngày: Mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi, mười ngày trên đây là ngày mà các nghiệp tội kết nhóm lại để định là nặng hay nhẹ... Trong mười ngày trai trên đây, nếu có thể mỗi ngày tụng một biến Kinh này." (Quyển Trung Phẩm Thứ Sáu Như Lai Tán Thán). Tu Tập, Hành Trì Theo Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Địa Tạng Đọc tụng Kinh Địa Tạng, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, ta phải thấy được hạnh nguyện cao cả của Ngài: "Nếu trong địa ngục còn một chúng sanh bị đau khổ, tôi thề sẽ không thành Phật", để từ đó những người phát tâm Bồ Tát nỗ lực tu tập, hành trì theo hạnh nguyện của Ngài, theo gót chân Ngài, nương theo oai lực của Ngài đi vào chốn địa ngục để cứu vớt những linh hồn bất hạnh hầu đền trả ơn Tam Bảo, ơn cha mẹ, tổ tiên. Nhưng địa ngục ở đâu? Có lẽ ta không cần phải tìm địa ngục ở đâu xa, bởi vì địa ngục không nhất thiết là ở thế giới bên kia, địa ngục tồn tại ngay trong kiếp sống này, trên thế giới này; bởi vì nơi nào có ngục tù, có giam cầm, tra tấn, có tiếng rên xiết, thở than là ở đó có địa ngục. Phật giáo là Tôn giáo của Từ Bi, ra đời vì những khổ đau của nhân loại, cho nên người Phật tử phải là những nhân tố tích cực có mặt hàng đầu tại những nơi khổ nạn mà chốn ngục tù là một thí dụ điển hình. Chưa hết, còn bao nhiêu oan hồn vất vưởng, nạn nhân của những cuộc chiến kinh hoàng, những phòng hơi ngạt, những trại tập trung, những trại cải tạo, trên Biển Đông, trong những ngục tù oan khuất... đang cần được siêu độ. Đọc tụng Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, được phần công đức nào ta nên hồi hướng đến những chúng sanh bất hạnh này và nguyện cầu cho linh hồn họ mau chóng siêu thoát. Địa ngục cũng có thể ở chung quanh ta, đó là môi trường không thoải mái mà ta phải sống hoặc làm việc. Đó là những người sống bên cạnh ta, là bạn đồng sở, hàng xóm láng giềng, thậm chí ngay cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái... những người ta không thích nhưng do nghiệp duyên ta phải gần gũi, chung đụng mà đôi khi họ đã tỏ ra rất độc ác, biến đời sống ta thành cõi địa ngục. Jean Paul Sartre, một triết gia nổi tiếng của Pháp đã từng nói "L”enfer c”est les autres" Địa ngục tức là những người chung quanh cũng trong ý nghĩa này. Địa ngục cũng ở ngay chính trong ta, đó là tham lam, giận dữ, hận thù, đố kỵ si mê, mù quáng... đã hàng ngày không ngớt xâu xé ta, biến ta thành những con người ngập chìm trong vô minh tăm tối, bị chế ngự bởi những thú tính thấp hèn. Tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng vì thế cũng có nghĩa là thể hiện những hành động tích cực biến cải chính con người ta, môi trường sống chung quanh ta từ địa ngục trở thành Tịnh Độ. Từ những công hạnh và nỗ lực tu tập này, người Phật tử thực hành Bồ tát đạo, khi giã từ cõi thế lập tức phát khởi tâm đại từ bi, dâng lời phát nguyện xin bước theo Bồ Tát Địa Tạng đi về chốn địa ngục để lập thêm công đức, cho đến khi nào Đức Phật Di Lặc chuẩn bị ra đời, ta lại xin được trở về cõi Trời Đâu suất, tiếp tục tu học để cùng với Phật Di Lặc trở lại cõi thế trong hội Long Hoa, xây dựng một cõi Tịnh độ mới cho nhân loại. Chắc chắn Ngài sẽ tiếp nhận ta. Hình ảnh của Bồ Tát Địa Tạng với khuôn mặt đôn hậu, từ ái, đầu đội mũ Tỳ lư, tay cầm Tích trượng là một hình ảnh luôn tỏa sáng trong tâm khảm của những người con Phật, đặc biệt là trong mùa Vu Lan báo hiếu. Chiếc Thiền trượng của Bồ Tát Địa Tạng đã, đang và sẽ gõ mãi vào cánh cửa địa ngục. Năng lực của tâm đại bi sẽ làm mở tung tất cả những cánh cửa hắc ám, làm tan rả những xiềng xích trói buộc, giải cứu tất cả những ai còn bị đọa đày trong cõi vô minh, tù ngục để từ đó những hạt giống Bồ đề, những hạt giống thương yêu sẽ nẩy mầm mạnh mẽ trong những linh hồn đau khổ của anh, của chị, của chúng ta, của tất cả những thân bằng quyến thuộc, đang sống hay đã qua đời... Đó chính là thông điệp của Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. (Tâm Hà Lê Công Đa)
    1 like
  27. Cám ơn chị Wild đã bổ sung hình ảnh cho bài viết. Kính mời Chị cùng mọi người theo dõi tiếp nhé. ============ Nhân qua bài dẫn của anh hoangnt ở trên có câu đầu của bài Kệ thỉnh chuông Hồng chung sơ khấu Bảo kệ cao âm Thượng triệt thiên đường Hạ thông địa phủ. Nam mô U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát! Chợt nhớ, trong dịp đi thăm cơ sở nuôi người bệnh tâm thần Trọng Đức – Đà Lạt, Đại đức Thích Trí Khánh có chỉ dạy : “ Những người bệnh này, nếu được nghe tiếng chuông chùa thường ngày, bệnh tình rồi sẽ thuyên giảm”. TT. Thích Minh Quang , mỗi lần có người đến chùa xin cho người thân nương nhờ cửa chùa để chữa tâm bệnh, thầy đều hỏi vui người bệnh : “ Ở lại chùa với thầy, thày sẽ nuôi ăn, chỉ cần hàng ngày ngồi thỉnh đại hồng chung cho thầy thôi, vậy có có chịu không” - chắc cũng trong ẩn ý đó. Địa Tạng Vương Bồ Tát có nguyện lớn là nơi nào có địa ngục thì nơi đó bồ tát phải có mặt. Danh hiệu của bồ tát là Địa Tạng Vương. Minh tức là cõi u minh, nghĩa là cõi âm, minh này không có nghĩa là sáng. Dương tức là cõi trần thế. Người cứu độ cho cả cõi âm và cõi dương được gọi là Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương. Hình ảnh của bồ tát Địa Tạng Vương là một hình ảnh tiêu biểu, vì chính ở đây sự đối tượng cúng dường, đối tượng của tình thương và của sự thực tập là những người cô hồn. Vì vậy bồ tát Địa Tạng Vương đóng một vai trò quan trọng. Sự đau khổ đó có mặt trong cả cõi dương và cõi âm. Cõi dương nằm trong cõi âm và cõi âm nằm trong cõi dương. Đó là giáo lý tương tức. Cõi dương cũng như cõi âm đều nằm trong cõi dương hết. Trong chùa mỗi khi thỉnh chuông đại hồng chúng ta hay xướng bài kệ: Bài kệ thỉnh chuông Việt dịch : Sơ khấu : (khấu thỉnh đoạn nhứt) Hồng chung khởi thỉnh tiếng ban đầu, Bảo kệ ngâm cao thoát nhiệm mầu, Trên thấu Thiên đàng vui an lạc Dưới thông Địa ngục diệt đau sầu ! (0) ! *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0). Nhị khấu : (khấu thỉnh đoạn hai) Hồng chung khấu thỉnh lần thư hai, Bảo kệ ngâm cao giọng ngân dài, Trên thấu thiên đường trời niệm Phật Dưới thông địa ngục ngục tiêu tai. ! (0). *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0). Tam khấu : (khấu thỉnh đoạn ba) Hồng chung kính thỉnh lần thứ ba, Bảo kệ ngân cao chiếu bảo tòa, Trên thấu thiên đường thông sáu nẻo, Dưới sâu địa ngục độ bao la. ! (0) *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0). Cũng chưa có dịp để hỏi thêm thầy Trí Khánh về diệu lực của tiếng chuông chùa nói chung và tiếng chuông trong truyền thống Kim Cang Thừa nói riêng có “hiệu ứng” tác động đến tinh thần của chúng sinh như thế nào. Nhưng có lẽ, phần lớn trong chúng ta đều đã có dịp cảm nhận : Mỗi khi bước chân vô cửa chùa nghe tiếng chuông ngân đều thấy lòng mình thư thái ,dịu lại. Nên phải chăng !? Tiếng chuông chùa đã là phương tiện truyền tải, mang năng lựợng từ bi từ những đại hạnh nguyện cứu độ chúng sinh các cõi của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát đến với nhân gian này. Sống trong xã hội đầy ô nhiễm hiện nay, áp lực sinh sống tạo nhiều chần động lên tâm lý con người nhẹ thì stress nặng thì trầm cảm, tâm thần. Nên có lẽ phải “tranh thủ phương tiện” : Khi tinh thần thấy bất ổn không yên. Đến cửa Thiền nghe chuông chùa mươi phút. Thầm niệm Phật, nhìn khói hương nghi ngút. Nỗi ưu phiền theo khói vút thăng thiên.
    1 like
  28. Tân Bình 8. 7 Việt lịch. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quí vị quan tâm.Đúng ra tôi chỉ viết nhẹ nhàng vậy thôi, để tránh hiểu lầm và những suy luận ngớ ngẩn bất lợi cho tôi. Nhưng vào giờ này, tôi vào web GDVN thấy bài này có nội dung từ chính báo Trung Quốc la lối rất ư ...cứ như thay tôi phát biểu ý kiến vậy - khi bài báo trên tờ Hoàn Cầu đe dọa chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ. Còn tôi thì không muốn diễn tả là "một cuộc chiến thảm khốc" , mà chỉ nói là "cuộc chiến dứt điểm". Dưới đây là nội dung bài báo. Hẳn Trung Quốc nói chứ không phải tôi.. Thời báo Hoàn Cầu lên tiếng dọa Mỹ bằng chiến tranh hạt nhân Thứ sáu 24/08/2012 10:31 (GDVN) - "Nếu Mỹ lựa chọn duy trì hiện trạng, hai bên sẽ leo thang xung đột, thậm chí có thể gây ra chiến tranh mang tính thảm họa - chiến tranh hạt nhân". Tàu ngầm hạt nhân 094 TQ phóng thử tên lửa JL-2 có liên quan biển Đông TQ thấp thỏm lo về đống vật tư quân sự Mỹ sẽ bố trí quanh Biển Đông Tranh chấp đảo Senkaku, biển Đông: La Viện hung hăng, đầu gấu nhất Báo TQ tung luận điệu nực cười, đòi Mỹ cư xử "công bằng" ở Biển Đông Ấn Độ thiết lập “cụm căn cứ” chốt chặt lối ra vào biển Đông Tàu sân bay Mỹ tham gia diễn tập Vành đai Thái Bình Dương. Hoàn Cầu Thời Báo viện dẫn nguồn tin mà báo này cho là từ tạp chí “Nhà ngoại giao” Nhật Bản (chưa xác minh tính chính xác) đăng bài viết “Dự báo mạnh dạn về quan hệ Trung-Mỹ” của tác giả Hughes White. Hughes White cho rằng, trong cuốn sách mới “Sự lựa chọn của Trung Quốc” của ông đã trình bày vấn đề trong quá trình Trung Quốc trỗi dậy, Mỹ sẽ xử lý quan hệ Trung-Mỹ thế nào, và làm thế nào để định vị vai trò của mình ở châu Á. Hiện nay, Mỹ ít nhất đứng trước 2 sự lựa chọn, muốn đưa ra sự lựa chọn chính xác thì phải xem xét đúng đắn về chúng. Thứ nhất là sự lựa chọn về nguyên tắc: Mỹ phải chăng cần xem xét thay đổi vai trò của mình ở châu Á, chấp nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc? Hoặc duy trì hiện trạng? Thứ hai là sự lựa chọn về mức độ: Mỹ có thể chấp nhận Trung Quốc ở mức độ nào? Giới hạn dung nạp Trung Quốc của Mỹ ở đâu? H. White nhấn mạnh đến sự lựa chọn thứ nhất, bởi vì nếu không làm rõ Mỹ có lựa chọn chấp nhận Trung Quốc hay không, bàn về Mỹ sẽ chấp nhận Trung Quốc đến mức độ nào thì chẳng có bất cứ ý nghĩa gì. White cho rằng, Mỹ nên thử chấp nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc, cùng Trung Quốc bàn xây dựng một trật tự châu Á, trật tự này cho phép Mỹ đóng một vai trò có ý nghĩa chiến lược, nhưng hoàn toàn không phải là luôn cao nhất như trước đây. Theo H. White, Trung Quốc không thể tiếp tục chấp nhận Mỹ tiếp tục chủ đạo châu Á, hơn nữa cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ có thể tiếp tục “ngồi” trên đầu Trung Quốc sẽ có xác suất rất thấp, hơn nữa cái giá phải trả rất cao, cũng lợi bất cập hại. Cho dù Trung Quốc chưa mạnh đến mức chủ đạo châu Á, nhưng họ đã có khả năng ngăn chặn Mỹ tiếp tục duy trì vị thế bá chủ ở khu vực này. Nếu Mỹ lựa chọn duy trì hiện trạng, thì xung đột giữa hai bên sẽ leo thang, tình huống cả hai đều bị thiệt hại có thể xuất hiện, thậm chí có thể gây ra chiến tranh mang tính thảm họa - chiến tranh hạt nhân. Lý do chính Mỹ chấp nhập một nước Trung Quốc trỗi dậy là tránh xảy ra một cuộc chiến tranh mang tính thảm họa. Tàu chiến quân Mỹ, Nhật tại cảng Sasebo, Nhật Bản. H.White cho rằng, một số người có quan điểm khác - cho rằng quan hệ Trung-Mỹ có tiến triển tốt đẹp, nên bàn việc Mỹ chấp nhận Trung Quốc là không cần thiết. Nhưng đó là quan điểm quá lạc quan. Quan hệ Trung-Mỹ hiện nay thực sự có thể ứng phó với một số khó khăn nhỏ, nhưng không thể giải quyết những vấn đề thực sự. Huống hồ, cùng với sự thay đổi của thời gian, quan hệ Trung-Mỹ đang trở nên ngày càng suy yếu, nguy cơ rạn nứt quan hệ song phương đang gia tăng. Hiện nay, điểm mấu chốt chủ yếu của quan hệ Trung-Mỹ là ở châu Á, do hai bên đều có tham vọng ở châu Á, vì vậy quan hệ song phương đang gặp nhiều trở ngại. Trong 40 năm qua, quan hệ Trung-Mỹ xây dựng trên nền tảng Trung Quốc ngầm thừa nhận Mỹ có quyền lãnh đạo ở châu Á. Đến nay, Mỹ cũng không có ý định từ bỏ quyền lãnh đạo này, đây cũng sự khắc họa về chính sách ngoại giao của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Vì vậy, những người có quan điểm lạc quan về quan hệ Trung-Mỹ phải nhận thức được rằng, trừ phi Trung Quốc còn sẵn sàng chấp nhận vị thế lãnh đạo của Mỹ ở châu Á, nếu không sẽ không thể có được. Mặc dù Mỹ thường xuyên nhấn mạnh và không ngăn chặn Trung Quốc, nhưng rõ ràng Washington sẽ không chấp nhận một thực tế sức mạnh Trung-Mỹ bên tăng bên giảm. Cho nên, chỉ có Trung Quốc tuyệt đối không “bành trướng”, Mỹ mới không ngăn chặn Trung Quốc. Khi Mỹ mạnh hơn Trung Quốc vài lần, Trung Quốc đã tán thành vị thế lãnh đạo của Mỹ. Nhưng hiện nay, cùng với việc Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, Trung Quốc chắc chắn sẽ mở rộng sức mạnh của họ và làm những việc “lý lẽ chính đáng” - Hoàn Cầu báo tuyên truyền. Tàu sân bay Mỹ hoạt động trên biển Đông. Vì vậy, trừ phi Mỹ rút khỏi châu Á, nếu không Mỹ phải đối mặt với sự lựa chọn chấp nhận hoặc ngăn chặn Trung Quốc. Một số người cho rằng, cái giá phải trả cho việc chấp nhận Trung Quốc trỗi dậy lớn hơn nhiều so với ngăn chặn. Có lẽ lời nói của họ là sự thực, nhưng phần rủi ro này tùy thuộc vào mức độ Mỹ chấp nhận Trung Quốc trỗi dậy. Về lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc là một đối thủ mạnh nhất của Mỹ trong một thế kỷ qua. Giữa Trung-Mỹ nếu xảy ra chiến tranh, sẽ là một thảm kịch lớn nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, thậm chí có xác suất xảy ra chiến tranh hạt nhân. Cho nên, các nhà hoạch định chính sách tối thiểu phải xem xét khả năng chấp nhận Trung Quốc. Sau khi Mỹ lựa chọn chấp nhận Trung Quốc, lựa chọn thứ hai cũng đến theo, rốt cuộc Mỹ cần chấp nhận Trung Quốc đến mức độ nào? Washington sẵn sàng chấp nhận trật tự khu vực nào và cho phép Trung Quốc đóng vai trò ảnh hưởng bao nhiêu? Nếu không thể đáp ứng giới hạn nhu cầu của Trung Quốc, thì lựa chọn chấp nhận Trung Quốc không còn có ý nghĩa gì. Có lẽ người Mỹ cho rằng, “ngang vai ngang vế” với Trung Quốc ở châu Á là sự nhượng bộ to lớn của Mỹ đối với Trung Quốc. Nhưng nhìn từ góc độ của người Trung Quốc, khi Trung Quốc đang phát triển thành một nước giàu có hơn Mỹ, Trung Quốc cần có quyền lãnh đạo ở châu Á, việc phân chia quyền lực với Mỹ hoặc các nước lớn khác ở châu Á là điều đáng thất vọng. Hughes White cho rằng, trong tình hình Mỹ và một số nước châu Á tích cực phản đối Trung Quốc đóng vai trò quan trọng hơn ở khu vực này, Trung Quốc sẽ cho rằng có một vị thế như Mỹ ở châu Á là khả thi. Biên đội tàu sân bay Mỹ trên biển Đông Tàu chỉ huy đổ bộ USS Blue Ridge LCC-19 của Hạm đội 7 Mỹ và tàu hộ vệ Hải quân Australia tiến hành diễn tập liên hợp trên biển Đông. Bấm vào đây để viết bình luận - Bấm xem tất cả bình luận hay Việt Dũng (nguồn báo Hoàn Cầu) ====================== Những con tàu này của Hoa Kỳ sẽ chỉ tham chiến vào trung cuộc, hoặc gần tàn cuộc. Mở đầu cuộc chiến sẽ không phải những thứ vũ khí thuộc hàng "cổ điển" này. Rồi các vị sẽ chứng nghiệm điều này. Trong trường hợp Việt sử 5000 năm văn hiến không được tôn vinh - thì - nguy cơ chiến tranh sẽ phải xảy ra thôi. Nhưng đừng để quá muộn!
    1 like
  29. Chồng Tân Dậu tam tai trong ba năm Hợi _ Tý _ Sửu. Năm 2009 _ Kỷ Sửu phạm tam tai.
    1 like
  30. Nhà chị cứ 2016 mà chọn thì tốt lắm. Con gái đầu tuổi Kỷ Sửu cũng khá tốt nhé.
    1 like
  31. Bác luận chuẩn quá. Em đang bị polyp túi mật.Lo lắng nhất là nổi khối u cỡ 2x3cm ở cổ.Đã chụp MRI và siêu âm,chẩn đoán có thể là u lành.Chính vì từ CÓ THỂ cho nên e quyết đi lấy mẫu sinh thiết tế bào (là phương pháp cuối cùng trước khi mổ hẳn ra xem nó là cái gì),nhưng đã lấy sinh thiết 2 lần mà BS (khám bên Nhật Bản) đều nói là mẫu tế bào lấy ra không đủ để kết luận u lành hay u ác.Chính vì thế e mới lo lắng mất ăn mất ngủ E xin bổ sung thêm:2 vợ chồng cưới nhau năm 2009,e bị cận từ bé,có sẹo nhỏ bằng đầu đũa ngay giữa mũi chỗ ngang 2 mắt.Năm nay con trai e ngã gẫy tay phẫu thuật 2 lần,đi cấp cứu 1 lần do sốt cao. E mong các bác luận giải cho em xem số e có mắc đại hạn gì nặng không.Vẫn biết là xem tuổi thọ thì khó (thiên cơ bất khả lộ) nhưng e muốn biết số e thuộc dạng trường thọ,trung bình,hay đoản thọ (trường hợp này thì dễ khối u của e là ác tính). Tâm trạng bất an ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt hàng ngày.Kính mong các bác bớt chút thời gian luận giải cho em.Em xin chân thành cảm ơn
    1 like
  32. Nhà chị có thể sinh con thứ 2 năm nào cũng đc. Đợi 2020, 2021 sinh con út.
    1 like
  33. Cách làm trước mắt ngăn hậu họa gđ bạn nên đem xác con rắn và xúc thêm nắm đất quanh đó đem đi thật xa chôn cất tử tế nhằm loại trừ chất xúc tác và mùi tanh, tránh được đồng loại của rắn tìm đến báo thù khi bị chúng ta hại đồng thời sám hối tội danh nguyện cứu thoát các loài bằng cách Phóng sinh đặc biệt chủng loại bò sát.
    1 like
  34. Nhà chị sinh đc bé 2012 là tốt rồi. Gia đạo sẽ dần dần ổn định khi con trai 2012 lớn dần.
    1 like
  35. Vào LHĐP mà bạn dùng hình bên Lyso.vn tức là đã hỏi bên ấy rồi pk? Bạn nên biết rằng diễn đàn xem theo Phong Thủy Lạc Việt, sẽ khác với Phong Thủy cổ Thư chữ Hán. 1. Làm nhà, tính phy cung phải theo người Dương nhất, tức là tính theo tuổi bố bạn, chứ ko tính cho tất cả thành viên. Âm thì phải tòng Dương, đó là lẽ đương nhiên. 2. Bố bạn phi cung Khôn, hợp các hướng Tây bắc, Tây, Đông bắc và Đông Nam theo Phong Thủy Lạc Việt. Nhà hướng Bắc Nam là Tuyệt Mạng Trạch đối với người Tây trạch. Tuy nhiên, hướng chỉ là yếu tố và không mang tính quyết định cho cát hung của căn nhà. 3. Bố trí nhà ko nên để khuyết lõm, việc bạn thụt phần trước bên trái vào chỉ làm xấu thêm về mặt Phong Thủy, và có thụt vào như vậy thì hướng cửa chính vẫn là hướng Bắc - Khảm chứ ko thay đổi hướng cửa (theo bản vẽ của bạn). 4. Phòng ngủ đặt trước là Âm lấn Dương, bất lợi cho chủ nhà. 5. Tâm nhà là Tâm hình học của mặt bằng nhà, cụ thể là tầng trệt làm cơ bản. Nhà này nếu đưa tui thì sẽ phải thiết kế lại toàn bộ, vì chẳng có gì hợp với tiêu chí Phong Thủy cả. Và bạn cũng còn nhỏ lắm, nên có cách xưng hô hợp lý hơn vì diễn đàn toàn người già. Thân mến.
    1 like
  36. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát là hai vị Bồ Tát có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống cũng như văn hóa tinh thần của người Đông Phương, người Đông Phương khi còn sống gặp khổ nạn thì cầu mẹ hiền Quán Âm cứu khổ, khi mất rồi, thì trông cậy vào sự phổ độ của giáo chủ cõi U Minh Địa Tạng Từ Tôn, con người ngoài sống và chết ra đâu có gì to lớn hơn cũng như đáng để lo hơn. Quán Thế Âm Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà phải hóa hiện vô lượng vô số hóa thân để ứng duyên cứu độ. Địa Tạng Bồ Tát cũng vậy vì duyên trần cảnh khổ nên Ngài cũng không ngại “trục loại tùy hình, ứng hiện sắc thân”. Trong Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo quyển thượng có chép: “Địa Tạng Bồ Tát do tâm đại bi phát đại nguyện lực trong thời quá khứ, cho nên Ngài hiện thân trời Đại Phạm Vương, hiện thân Đế Thích, hiện thân Thanh Văn, hiện thân Diêm La Vương, Ngài còn hiện thân Voi, Sư tử, Hổ, Báo, Trâu, Ngựa, cho đến hiện thân La Sát, Địa Ngục.v.v...vô lượng vô số các thân tướng khác nhau, để giáo hóa chúng sanh...”. (LƯỢC Ý HÌNH TƯỚNG - NGUYỆN LỰC CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG TRONG TINH THẦN HÀNH BỒ TÁT ĐẠO PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN) - Thích Tâm Mãn Tại Việt Nam, Tín Ngưỡng Địa Tạng được phát triển song hành với sự phát triển của Phật Giáo. Tuy nhiên phần lớn người dân Việt thường chuyên tụng Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện với mục đích cầu siêu cho ông bà, cha mẹ, con cái, họ hàng thân thuộc… tức chịu ảnh hưởng sâu xa của tư tưởng cho rằng Địa Tạng Bồ Tát là vị Chủ Tể tối cao của Địa Ngục, Giáo Chủ của cõi U Minh… chứ không hề biết rằng Địa Tạng Bồ Tát không chỉ độ hóa chúng sinh trong cõi Địa Ngục, mà còn giúp đỡ bảo vệ cho sinh mệnh của chúng sinh, an dân trấn quốc, viên mãn Phước Trí ngay trong đời hiện tại. Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn, Chưởng thượng minh châu, quang nhiếp đại-thiên chi giới. Biên trích : Địa Tạng Bồ Tát 地 藏 菩 薩 ( Tài liệu Do cư sĩ Huyền Thanh biên soạn Công Minh bổ sung hình ảnh minh họa và ghi chú ) Địa Tạng Bồ Tát tên Phạn là Ksïitigarbha, dịch âm là Tát Khất Xoa Để Nghiệt Bà. Ksïi là động từ mang nghĩa: chịu đựng, tồn tại, cư trú, ở Ksïiti: nghĩa là trú xứ, nơi đang cư ngụ, căn nhà, đất trồng trọt, đất nước, quê hương, trái đất. Garbha: nghĩa đen là Tử cung, dạ con, có thai, thọ thai, tưởng tượng, hình thành trong trí óc. Nghĩa bóng là cất chứa, ôm giữ. Ksïitigarbha được dịch ý là Địa Tạng, tức là người ôm giữ trái đất hoặc Mẫu Thể của Đại Địa. Do đất hay chuyên chở vạn vật, giúp cho vạn vật sinh sôi nảy nở, hàm chứa vô số nguồn lợi, tiền tài, vật báu…cho nên Địa Tạng là vị Bồ Tát biểu thị cho kho báu tiềm ẩn trong Đại Địa, hay chuyên chở mọi khổ nạn của tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát triển căn lành, được tài bảo vô tận, tròn đủ Phước Đức (Punïya) Trí Tuệ (Prajnõa). Nếu người tu hành theo Pháp của Địa Tạng Bồ Tát thì có thể khiến cho ngũ cốc [Đại Mạch (Yava), Tiểu Mạch (Godhùma), Lúa gié (‘Sàli), Tiểu Đậu (Masùra), mè (Atasì)] đầy kho, kéo dài mạng sống, tránh mọi hiểm nạn, tròn đủ tư lương (Sambhàra) Phước Trí vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi _ Tín Ngưỡng Địa Tạng được phát triển rất sớm trong các Tông Phái Đại Thừa (Mahà-yàna) ở Aán Độ (Thế Kỷ thứ 4) Khởi nguyên của Tín Ngưỡng Địa Tạng có thể được khai triển từ Tín Ngưỡng Địa Thiên (Prïthivi), tức là Địa Thần, Kiên Lao Địa Thần, Kiên Lao Địa Thiên, Trì Địa Thần. Đây là vị Thần cai quản Đại Địa, biểu thị cho Thể Tính của đất là bền chắc chẳng động hay giúp cho vạn vật cư trú, lại có tác dụng hay giữ gìn vạn vật. Vị Thần này nguyên là vị Thần Kỳ (Thần đất) được sùng ngưỡng trong thời Ấn Độ cổ đại. Trong Lê Câu Phệ Đà (RÏg-veda), A Thát Bà Phệ Đà (Artha-veda) đều khen ngợi là vị Nữ Thần có đầy đủ Đức tốt đẹp (mỹ đức) như: sự vĩ đại, bền chắc, Tính chẳng bị diệt, nuôi dưỡng quần sinh, đất đai sinh sôi… Hiện tượng Tín Ngưỡng Địa Tạng được phát triển từ Tín Ngưỡng Địa Thiên có thể được nhận biết qua hình tượng được ghi nhận trong Phật Giáo đời Thanh ở Trung Quốc là: Đầu đội mão Trời, thân khoác áo lụa mỏng, đeo chuỗi Anh Lạc với các vật báu trang sức, tay trái cầm cây lúa (tượng trưng cho ngũ cốc phong phú), tay phải cầm viên ngọc Như Ý để ngang ngực (tượng trưng cho việc thỏa mãn mọi mong cầu của chúng sinh), ngồi trên tòa sen.
    1 like
  37. Kinh doanh kiểu bầu Kiên: Đánh bạc không mất vốn! “Kiểu huy động vốn của bầu Kiên bằng cách thành lập công ty phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) rồi thế chấp ngân hàng vay vốn, lấy vốn vay đó mua cổ phiếu ngân hàng, rồi cầm cổ phiếu này vay tiếp vốn ngân hàng để dùng vào mục đích khác như báo Tuổi Trẻ đưa tin ngày 23-8 là quá rủi ro cho nền kinh tế” - ông Bùi Văn (ảnh), nguyên Phó Giám đốc chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận định. Góp vốn từ tiền dân gửi . Thưa ông, việc các doanh nghiệp (DN) vay vốn ngân hàng để đầu tư thông thường như thế nào? + Ông Bùi Văn : Việc sử dụng đòn bẩy tài chính (vay vốn ngân hàng) để đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh là việc DN hay làm, ở nước ngoài cũng vậy. Nhưng ở ta, DN Việt vay với tỉ lệ 3-7. Nghĩa là có vốn 3 đồng vốn chủ sở hữu thì họ vay 7 đồng để kinh doanh. Việc DN vay vốn ngân hàng để đầu tư không có gì sai trái hay vi phạm pháp luật cả. Tuy nhiên, việc có 3 đồng đi vay 7 đồng, rồi lấy 10 đồng này thế chấp để vay tiếp rồi đầu tư tiếp, cứ dây chuyền và dây chuyền kiểu này… là có vấn đề. . Vấn đề đó thế nào? + Việc vay để rồi đầu tư chéo bắt nguồn từ các tập đoàn, tổng công ty… bỏ đồng vốn vào thành lập ngân hàng. Bạn có thể thấy ở một ngân hàng A khi cần tăng vốn lên thì ngân hàng B góp vốn vào. Nhưng phải biết: vốn góp từ phía ngân hàng B chỉ có 1 đồng còn 9 đồng là tiền dân gửi. Rồi ngân hàng A được ngân hàng B góp vốn bèn đem tiếp vốn (có cả vốn huy động của dân gửi) góp tiếp vào một ngân hàng C khác. Cuối cùng ngân hàng C cho vay ra trở lại… Góp vốn kiểu này đang vô hiệu hóa mọi quy định về kiểm soát tài chính-ngân hàng. NHNN trong tình thế đó có khi cũng… run vì không biết ngân hàng thương mại yếu thế nào, đi trên cái chân nào. Xây lâu đài trên que diêm . Tình trạng đầu tư chéo này sẽ gây ra điều gì cho nền kinh tế? + Nền kinh tế trở nên cực kỳ mong manh, rất dễ sụp đổ dây chuyền vì kiểu đầu tư góp vốn trên. Chính phủ thì khó kiểm soát được do không có được bức tranh thực. Trong khi đó, Chính phủ muốn ra một chính sách gì phải dựa trên các con số thực, hiểu bản chất thật của vấn đề. . Vậy việc góp vốn đầu tư chéo là vi phạm pháp luật? + Không vi phạm, với điều kiện anh phải minh bạch. Phải rạch ròi vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, không được lấy vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, đầu tư dài hạn. Lần khủng hoảng trước, nhiều tổ chức tín dụng đã sụp đổ vì tình trạng mất thanh khoản kỳ hạn thanh toán là ví dụ. Ở đây cần thấy là vốn Nhà nước ở các ngân hàng đang được quản lý lỏng lẻo. Vốn tổng công ty, tập đoàn do bộ, ngành đại diện và đầu tư vô ngân hàng nhưng chẳng qua cũng là tiền của dân. Quản lý vốn này lỏng lẻo mà cho tư nhân như ông bầu Kiên góp vốn vô nữa thì dễ có tiêu cực. . Còn tư nhân vay vốn để mang vốn đi đầu tư thì thế nào? + Pháp luật không cấm, tư nhân được quyền vay vốn để đầu tư dài hạn nhưng phải minh bạch rằng mình trong vốn đầu tư có bao nhiêu vốn sở hữu, bao nhiêu vốn vay. Việc dùng đòn bẫy tài chính với DN là tốt nhưng có hai mặt, khi nền kinh tế ổn định, phát triển thì DN phát triển. Nhưng khi trục trặc DN không trả được nợ vay thì đó là nợ xấu của ngân hàng. . Nợ xấu của tư nhân trong ngân hàng dạng này tác động đến nền kinh tế thế nào? + Vô cùng lớn, nhất là các ngân hàng không minh bạch về con số nợ xấu. Đáng lẽ số với nợ xấu ấy, phải lấy lợi nhuận trích lập dự phòng thì hiện nay các ngân hàng toàn nói nợ xấu thấp nên không trích lập. Do đó, nợ chồng nợ và có cả hiện tượng đảo nợ. Việc này giống như xây lâu đài trên que diêm vì NHNN không nắm hết được thông tin. . Theo ông, tư nhân lấy vốn vay để đi đầu tư vô ngân hàng, chồng chéo ở nhiều lĩnh vực thì lợi ích sẽ thuộc về ai? + Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1999 gọi cái này là rủi ro về đạo đức. Đánh bạc thua có người cứu. Ngân hàng thương mại mà chết thì có NHNN cứu. Như vậy là anh đem tiền của nhân dân đi đánh bạc, thắng anh ăn, anh thua - nhân dân chịu. Nói chung, đó là đánh bạc không sợ mất vốn! Anh hỏi tôi về lợi ích? Đó là lợi ích nhóm - là nhóm ngân hàng. Các ngân hàng càng lợi nhuận khủng thì nhóm lợi ích này càng chi phối. . Xin cảm ơn ông. BÙI NHƠN Pháp luật TPHCM
    1 like
  38. Con cái không nhiều hay sanh nhiều nuôi ít , phải đôi ba phen mất mát , còn lại con nuôi cũng khó .Công danh chức phận không cao ,địa vị cũng nhỏ ,hay thay lên đổi xuống cuộc đời thăng trầm quan lộ như đám mây phù du ...
    1 like
  39. Cho phép tôi hỏi đôi điều để xem giờ sanh có ứng với người bên ngoài không ? Có anh chị em dị bào cùng mẹ khác cha không ? Từ trước đến giờ đã hay đang mắc chứng nghiện gì ? đã từng tù tội hay đi cai nghiện chưa ? Học hành dang dỡ không đến nơi đến chốn ,ham chơi nhiều hơn học ?
    1 like
  40. Năm naybtrong lòng lòng sốt ruột nhiều chuyện không yên, có nhiều chuyện buồn về tình cảm, sức khỏe cũng không tốt, hao tốn khá nhiều tiền bạc, có thể vì cha mẹ, hoặc nghe theo bạn bè mà để mất mát tiền bạcL quan hệ tình cảm nam nữ cẩn thận không khéo có thai ngoài ý muốn lại bỏ. Nămmnay mọi dự định, kế hoạch đều bị trì hoãn, nhiều obstacles mà khó tìm ra lối đi.
    1 like
  41. 1 like
  42. III – Mấy điểm đặc biệt của Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện : Như đã dẫn ở trên một trong những nội dung của một bộ kinh Phật là nói về Thánh Đức và linh ứng của một vị Phật hay Bồ Tát. - Kinh Dược Sư ca ngợi Thành Đức của Đức Đông Phương giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật và các hạnh nguyện của Ngài. - Kinh A Di Đà ca ngợi Thánh Đức của Đức Tây Phương Cực Lạc Thế giới Đại Từ Đại Bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật và các hạnh nguyện của Ngài. - Kinh Pháp hoa ca ngợi hạnh nguyện các vị Bồ-tát: Quan Thế Âm, Trì Địa, Thường Bất Khinh, v.v… - Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện này nói về công đức bản nguyện, thệ nguyện bản sinh của Bồ-tát Địa Tạng. 1- Điểm đặc biệt thứ nhất là nơi chốn giảng kinh : Khởi đầu một bộ kinh Đại Thừa là giới thiệu địa điểm giảng bộ kinh đó, thường thì các địa điểm đó là những nơi địa linh thuộc về “ mặt đất “ này ví dụ : - Kinh Hoa Nghiêm : Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở nước Ma Kiệt Ðề, trong Đạo Tràng Bồ Đề, ban đầu thành Vô thượng Chánh giác. Nơi đó đất cứng chắc, bằng Kim Cang. - Kinh Thủ Lăng nghiêm : Tôi nghe như vầy, một thời, Phật ở tại Tinh xá Kỳ-hoàn trong thành Thất-la-phiệt. - Kinh Dược Sư : Tôi nghe như vầy, Một thời, đức Thế tôn du hóa các nước, đến thành Quảng nghiêm, dừng ở dưới cây Tiếng nhạc…. - Kinh A Di Đà : Tôi nghe như vầy,một thủa nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ… - Kinh Pháp Hoa : Tôi nghe như vầy, một thời, Ðức Phật ở tại thành Vương Xá, trên núi Kì Xà Quật Tại kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện : Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Ðao Lợi (1) …. ( Trời Đao Lợi: là từng trời thứ hai trong 6 từng trời ở cõi Dục. Đao lợi là tiếng Phạn, dịch là “tam thập tam” nghĩa là ba mươi ba, từng trời này ở tại núi Tu di nơi đó chia ra làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành, cung của trời Đế Thích, vị trời này quyền thống nhiếp cả 33 nước trời.) Như vậy một điểm đặc biệt của Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện là một trong những bộ Kinh được giảng ở trên cõi Trời Theo truyền thống Phật Giáp Tây Tạng ( Kim Cương Thừa ) trong 1 niên lịch ( lịch Tạng) có nhiều ngày công đức tăng trưởng, nghĩa là vào những ngày đó làm một việc tốt nào đó thì công đức được tăng trưởng lên nhiều lần. Trong những ngày công đức tăng trường có 4 ngày công đức gấp 10 triệu lần : - Ngày Đức Phật Thích Ca phô diễn thần thông - Những ngày trong tháng tam hợp : Đức Phật Đản Sinh, Đức Phật thành đạo và Đức Phật nhập Niết bàn. - Ngày Đức Phật chuyển pháp luân - Và ngày Đức Phật hạ thế từ cõi trời Đế thích (2) ======================== Chú thích : (1) xem thêm : THIÊN THỨ MƯỜI MỘT THUYẾT PHÁP ÐỘ PHẬT MẪU Ở CÕI TRỜI ÐẠO LỢI Sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo xong. Ðức Thế Tôn dùng trí tuệ quan sát coi: Thường khi chư Phật lúc quá khứ làm những gì, ngự đi đâu sau khi thắng ngoại đạo? Ðức Thế Tôn thấy chư Phật quá khứ sau khi thắng ngoại đạo xong, Ngài liền ngự lên cõi trời Ðạo Lợi nhập hạ và thuyết pháp độ Phật mẫu. Pháp mà chư Phật quá khứ thuyết ở cõi Ðạo Lợi như trào lưu chảy rất mạnh giữa chư Thiên. ( Trích : Lịch Sử Ðức Phật Tổ Cồ Ðàm Maha Thongkham Medhivongs) (2) Ngày Vía Đức Thích Ca Hạ Thế Từ Cung Trời Đâu Suất là một ngày cát tường nhất trong năm. Cung trời Đâu Suất Thiên được phân làm hai Viện: 1. Đâu Suất Thiên Ngoại Viện và. Đâu Suất Thiên Nội Viện. + Tại Đâu Suất Thiên Ngoại Viện, chư thiên hưởng cảnh an vui nhàn nhã với nhiều lạc thú, những vị đã tạo nhiều công đức thường tái sinh lên cõi trời này và thọ báo công đức cho đến khi hết mới phải chết và đi tái sinh. Nhưng chúng ta không nên cầu xin tái sinh vào Đâu Suất Thiên Ngoại Viện vì tại đây chỉ có lạc thú mà không có Phật pháp. + Ngược lại, Đâu Suất Thiên Nội Viện thì có Phật pháp, và hiện giờ đang có Đức Phật Di Lặc đang thuyết pháp tại đó. Chư vị nào đã tạo nhiều công đức do tu hành nhập thiền định thường được tái sinh lên cõi trời này để tiếp tục hành trì đạo pháp cho đến khi đạt Giác Ngộ (theo kinh Đâu Suất Thiên , thì 400 năm ở nhân gian dài bằng một ngày một đêm tại cung trời Đâu Suất). Theo lịch sử Phật Giáo thì sau khi thành đạo, trong 41 năm đức Thích Ca thường nhập thiền định vào mùa mưa và thời an cư kiết ha. Chư đệ tử chỉ thấy Ngài ngồi thiền định, nhưng thực ra trong lúc đó có khi Ngài phân thân đi nơi khác hoằng đạo. Tương truyền là Ngài đã thi triển thần thông đi lên trên cung trời Đâu Suất Thiên và ở tại đó 3 tháng (tính theo thời giờ của nhân gian) để thuyêt pháp cho Hoàng Hậu Ma Gia (Phạn ngữ là Mayadevi, tức là mẹ sinh ra Ngài vì bà đã tạ thế bảy ngày sau khi Ngài hạ sinh, và tái sinh vào thân của một vị Thiên Nam trên cung trời Đâu Suất). Tương truyền là 7 ngày trước khi Đức Thích Ca hạ thế từ Đâu Suất, Ngài ngưng tàng hình và nhờ đó mà đại đệ tử của Ngài là A Nậu Lâu Đà mới có thể dùng thiên nhãn để thấy được Ngài. Do đó A Nậu Lâu Đà đã thỉnh vị đệ tử Đệ Nhất Thần Thông Mục Kiền Liên bay lên cung trời Đâu Suất để đón Ngài hạ thế. Mục Kiền Liên tuân lời A Nậu Lâu Đà và bay lên Đâu Suất để thỉnh Đức Thích Ca hạ thế và bạch Ngài là chư đệ tử rất nhớ Ngài và xin thỉnh Ngài trở về lại cõi nhân gian để thuyết pháp cho tăng đoàn. Ngài trả lời là sẽ trở về trong 7 ngày. Khoảng thời gian này là lúc đang dựng tượng của vua Ba Tư Nặc Ngày Đức Thích Ca hạ thế, một đoàn thể lớn của chư tăng, các vua chúa và dân chúng của 8 nước lân cận họp nhau tề tựu đón mừng. Khi Đức Thích Ca hạ thế, một cái cầu thang bằng vàng bay từ trời xuất hiện trước theo mỗi bước Ngài đi xuống. Bên phải Ngài là vị trời Phạm Thiên, tay cầm phất trần màu trắng và đi xuống trên một cầu thang bằng pha lê trong suốt. Bên trái Ngài là vị trời Đế Thích đi xuống trên một cầu thang bằng bạc, tay cầm lọng che làm bằng châu bảo. Một doàn thể chư thiên đi theo sau để tiễn đưa Ngài về cõi nhân gian. Đức Phật tắm ngay sau khi hạ thế, sau này tại đó có xây một ngôi nhà và một bảo tháp để ghi lại dấu tích. Nơi Đức Thích ca hạ thế là thành Sankàsya nước Xá-vệ của Ấn độ, ngày nay còn là một nơi chốn có rất nhiều Phật tử đi hành hương. Theo truyền thống của tông phái Giới Đức (do Đức Đạt Lai Lạt Ma lãnh đạo) thì vào ngày vía này, chúng đệ tử vân tập tại chùa để hành trì Lễ Cúng Dường Đức Bổn Sư ) Tóm Lược Về Ngày Vía Đức Thích Ca Hạ Thế Từ Cung Trời Đâu Suất – Lý Bùi Pháp danh Sonam Nyima Chân Giác) 2- Điểm đặc biệt thứ hai là đối tượng thọ nhận kinh điển : Trong cuộc đời du hóa chư quốc, truyền dạy giáo lý Phật đà Đức Phật cũng nhiều lần về lại kinh đô của vua cha để giảng đạo cho dòng tộc Thích ca Tại các bộ kinh Đại thừa và Mật thừa, đối tượng được nghe Ngài giảng kinh thường là các vị Bồ Tát, La hán, Chư thiên, Quốc vương, Đại thần, Balamôn, cư sĩ Thiên long bát bộ, nhân và phi nhân…. Và trong hàng chúng như thế, có một vi đặt vấn đề và Ngài sẽ vì một vị nào đó mà nói Pháp. Không lập tâm phân biệt, luôn biết rằng Kinh điển Phật giáo bất khả tư nghì vô lượng vô biên công đức và oai lực. Nhưng so sánh thì đa số các bộ kinh Đức Phật cũng thường vì Đại Chúng mà thuyết pháp. Kinh Địa Tạng ra đời trước tiên là do lòng hiếu thảo của Đức Phật đối với bậc sanh thành, Ngài đã tưởng nghĩ đến mẹ khi biết rằng mình sẽ không còn trụ thế bao lâu nữa nên đã lập Pháp hội tại cung trời Đao Lợi để độ thoát cho thân mẫu. (1) Đây là một Pháp hội vô cùng quan trọng vì có sự hiện diện đông đủ của chư Phật khắp mười phương thế giới, chư Đại Bồ Tát như Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền... cùng các chúng Trời, Rồng, Quỉ, Thần khắp các cõi. Diễn nói Kinh Địa Tạng trong Pháp hội này vì thế mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Là bậc Cha lành trong bốn cõi, không một việc làm nào dù nhỏ hay lớn mà Đức Thế Tôn lại không nghĩ đến lợi lạc của tất cả Pháp giới chúng sanh. Trong Pháp hội này Ngài vì thân mẫu mà thuyết Pháp nhưng động cơ chính vẫn là lòng từ bi lân mẫn đối với chúng sanh ở cõi Ta bà, đặc biệt là đối với những chúng sanh cang cường đầy tội khổ, khó khai hóa mà Ngài biết chắc chắn là sẽ "bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ", vì thế trong Pháp hội này Ngài đã phó chúc cho Bồ Tát Địa Tạng nhiệm vụ "gắng độ chúng sanh trong cõi Ta bà đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng giải thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được Đức Phật thọ ký.” (Quyển Thượng Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội). Đương thời đó đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại cung trời này mà thuyết pháp trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Thánh mẫu là bà Ma Gia phu nhân sinh mẫu của Thái Tử Sĩ Đạt Ta. 7 ngày sau khi hạ sinh thái tử, bà bỏ thân người sinh lên cõi trời Đao Lợi. Bấy giờ đức Phật sắp nhập diệt, ngài ngự lên đó nói pháp, trước để đáp ơn sinh thành, sau nhân đó mà giáo hóa hàng chư Thiên, cùng Long, Thần bát bộ và cả thảy Thánh, phàm. Như vậy điểm đặc biệt thứ hai của Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện là một trong những bộ kinh Đức Thế Tôn vì Mẹ mà thuyết pháp. Con người, trong các mối quan hệ tình cảm cha con; vợ chồng ; anh em; bạn bè … thì tình mẫu tử luôn có một vị trí đặc biệt. Mặc dù cũng là đấng sinh thành, nhưng vị trí của người Cha trong đứa con không thể sâu đậm như người Mẹ. Phải chăng : Công Cha chỉ mới như núi Thái sơn – cao thật cao nhưng còn có ngọn.? Nhưng nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra – thật vô tận.! Nên đã có thật nhiều tác phẩm nghệ thuật, văn học, ca khúc ca ngợi về tình mẹ, hơn là tình cha.? Nghĩ cho cùng thì không nên phân biệt so sánh nhiều, nhưng thực tế là như vậy. Nói thêm chút ít cũng là thừa, bởi tất cả chúng ta ai cũng ít nhiều thấu hiểu thế nào là tình cảm của người con đối với người Mẹ, so với các thứ tình cảm khác như đã nêu ở trên. Đạo Phật là đạo chủ trương hiếu nghĩa, những ai đang có Cha Mẹ già trong nhà là đang được hiện diện trước Phật sống giữa đời thường. Truyền thống đó đưa vào thành nghi lễ đặc biệt đặc biệt chắc ít có tôn giáo nào có được – mùa Vu lan bồn. Phật tử Việt Nam ai cũng đều biết tích tuồng : Mục Kiền Liên cứu Mẹ, thường được công diễn vào các dịp lễ Vu Lan hàng năm, chuyện kể về Đức Mục Kiền Liên xuống địa ngục cứu Mẹ là bà Thanh Đề bị đọa làm Ngạ qủy. Ngài là 1 trong mười đại đệ tử của Đức Phật được tuyên là đệ nhất thần thông, nhưng vậy mà với những nghiệp nặng bà Thanh Đề tự gây ra, Ngài cũng không làm được gì hơn ra ngoài quy luật quả báo. Chỉ đến khi Đức Phật dạy rằng:“Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó ” Theo lời Phật dạy, Ngài làm đúng lời và mẹ ngài được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Ngài Mục Kiền Liên sau có tên gọi là Đại Hiếu Mục Kiền Liên cũng là từ tích đó. Như vậy có hai câu chuyện về sự đại báo hiếu trong Phật đạo. Một là : Bậc thầy là Ðức Thế Tôn vì Mẹ mà lên trời giảng pháp. Hai : bậc trò là Đại Hiếu Mục Kiền Liên cũng vì Mẹ mà xuống địa ngục tìm đường cứu mẹ. Rồi cả hai bà Mẹ đề được độ lên những cảnh giới cao. Nên ngoài những nội dung của bộ kinh có nói về chuyện hiếu nghĩa, thì những nội dung phân tích ở trên, Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện được gọi là hiếu kinh của Phật giáo phải chăng là như vậy. ======== (1) Nghĩ xong đức Thế Tôn mới đưa tay mặt ra về hướng Phật mẫu đang ngồi rồi nói: - Thưa mẫu hậu, xin lịnh mẫu hậu hãy đến gần đây để Như Lai được trả món nợ vĩ đại là sự cực nhọc chăm nom săn sóc cho Như Lai bú mớm từ giọt sữa miếng cơm trong khi còn luân hồi trong tam giới. Ðức Thế Tôn bắt đầu thuyết bộ Vi Diệu Pháp ấy chia ra làm bảy phần khác nhau, thuyết trót ba tháng hạ tại cõi trời Ðạo Lợi. Ðức Thế Tôn độ Phật mẫu đắc được Tu-đà-huờn quả và chư Thiên thành đạo nhiều vô số kể. ( Trích : Lịch Sử Ðức Phật Tổ Cồ Ðàm - Maha Thongkham Medhivongs) 3- Điểm đặc biệt thứ ba là hạnh nguyện và công đức của vị Bồ Tát được giảng : Trong các bài quán tưởng đảnh lễ trước các nghi lễ trì tụng kinh chú của Phật giáo Đại thừa Bắc tông, chúng ta thường hay gặp câu đảnh lễ : ĐẢNH LỄ - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo. (1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo chủ Điều ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lai Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy) Theo thuyết Ngài Di Lặc là vị phật thời tương lai, thì ở đây chúng ta được đảnh lễ 6 vị đại bồ tát - Đại Từ Di Lặc Bồ Tát : ( Từ - hiền hậu ) - Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ( Trí – trí tuệ ) - Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát ( Hạnh – Đức Hạnh ) - Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát ( Bi – Lòng thương ) - Đại Thế Chí Bồ Tát ( Chí – Chí khí, dũng khí ) - Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ( Nguyện – nguyện lực , lời hứa hay lời “thề” ) Trong đó bốn vị Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát khi đến các nơi thánh tích, chùa chiền thì thường gặp tôn tượng hơn cả. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát là hai vị Bồ Tát có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống cũng như văn hóa tinh thần của người Đông Phương, người Đông Phương khi còn sống gặp khổ nạn thì cầu mẹ hiền Quán Âm cứu khổ, khi mất rồi, thì trông cậy vào sự phổ độ của giáo chủ cõi U Minh Địa Tạng Từ Tôn, con người ngoài sống và chết ra đâu có gì to lớn hơn cũng như đáng để lo hơn Trong truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa, Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng thường được trì niệm khi tuyên danh hiệu tám vị Đại Bồ Tát Tám vị Bồ Tát Đức Văn Thù Sư Lợi trẻ trung, Đức Kim Cương Thủ quang vinh, Đức Quán Thế Âm quyền uy, Đức Bảo trợ Di Lặc từ ái vô biên, Đức Địa Tạng , Đức Trừ Cái Chướng, Đức Hư Không Tạng, và Đức Phổ Hiền cao quý nhất. Thật thanh nhã, các Ngài cầm những biểu tượng là Hoa sen xanh, Chày kim cương, Hoa sen trắng, cây Naga, Ngọc báu, Mặt trăng, Thanh kiếm và Mặt trời! Và siêu việt trong việc ban cho sự cát tường và thành tựu, chúng con xin đảnh lễ Tám vị Bồ Tát! ( Trích : Bài nguyện Tám đấng Cát tường – với lời chú dẫn : Nếu bạn trì tụng bài cầu nguyện này khi khởi sự việc gì, bạn sẽ hoàn thành tất cả các mục tiêu của ngày hôm đó. Nếu bạn trì tụng bài cầu nguyện này khi bạn ngủ, bạn sẽ trải qua những giấc mơ đẹp. Nếu bạn trì tụng bài cầu nguyện này trước khi bạn bước vào một cuộc chiến, bạn sẽ là người chiến thắng. Nếu bạn trì tụng bài cầu nguyện này khi bạn bắt đầu một hoạt động, điều bạn ước muốn sẽ tăng trưởng. Nếu bạn trì tụng bài cầu nguyện này hằng ngày thì tuổi thọ, vinh quang, danh tiếng, thịnh vượng, cát tường, hạnh phúc và xuất sắc sẽ được thành tựu viên mãn như mong ước của bạn. Tất cả các hành động và chướng ngại gây hại sẽ được tịnh hóa. Cả những cõi cao hơn và Phật quả tối thắng -- tất cả mục tiêu đều sẽ được thành tựu.) Nguyện : Nguyện như là lời hứa, lời cam kết hay lời “Thề”. Ví dụ như các chiến sĩ có nguyện : Trung với nước, hiếu với dân nguyện một lòng mang sức mình ra phụng sự tổ quốc. Trong kinh điền Phật giáo, Phật A Di Đà có 48 lời nguyện, Phật Dược Sư có 12 lời nguyện; các vị Bồ Tát (Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát , Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát ) đều có hạnh nguyện trước khi thành Phật. Nhưng xét ra, các hạnh nguyện của 3 vị Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm cũng có thể có ngày đạt thành quả vị. Còn hạnh nguyện của ngài Địa Tạng thì thật là lâu, bởi : “chừng nào độ hết chúng sanh thì mới nguyện thành Phật “ hay “Nếu nơi địa ngục còn một bóng ma, quyết không thành Phật!" Nên xưng danh hiệu Ngài là Đại Nguyện là như vậy. Bồ Tát Địa Tạng là một vị Đại Bồ Tát công năng, oai lực của vị Bồ Tát này vô cùng lớn lao. Nếu chúng ta tôn xưng Đức Từ Phụ là Ta bà Giáo chủ thì Bồ Tát Địa Tạng cũng đã được tôn xưng như là vị U Minh Giáo Chủ, tức là người tiếp trợ, giúp đỡ các chúng sanh ở thế giới bên kia, tức là cõi âm. Ngài là nơi nương tựa, nguồn an ủi của những oan hồn vất vưởng không nơi nương tựa đến những linh hồn vì ác nghiệp bị giam giữ và trừng phạt tận các tầng địa ngục. Tên gọi của Ngài cũng đã mang một ý nghĩa như thế. Địa là đất cũng có nghĩa là dày chắc, Tạng là cất giấu, chứa đủ. Danh hiệu của Ngài hàm ý rằng Ngài là đại địa bao la, nơi ẩn chứa những kho tàng quý giá, tức thiện căn. Địa Tạng vì thế như là hình ảnh của một người mẹ thiên nhiên ôm ấp, bảo bọc, che chở tất cả muôn loài không phân biệt. Chẳng thế mà Đức Thế Tôn đã lên tiếng tán dương: "Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn." ĐẠI NGUYỆN ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT Một bộ kinh ca ngợi Thánh đức và oai lực của Một vị Vương - U Minh Giáo Chủ là điểm đặc biệt thứ ba của bộ Kinh này.
    1 like
  43. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Kính thưa Quý Thầy, qúy Tôn Sư cùng qúy bạn đạo gần xa. Vâng lời chỉ dạy của Tôn Sư, sau một thời gian tầm học. Vào ngày 30 tháng 7 ( Ngày vía của Đức Địa Tạng ) năm Canh Dần (2010) duyên lành cho con được đến lễ Phật và chiêm bái tôn tượng Đức Địa Tạng đen tại Quan Âm Tu Viện - Biên Hòa, Đồng Nai. Hôm đó cũng là dịp nhà chùa tổ chức đại lễ kỷ niện ngày nhập niết bàn của Đức Tôn Sư Hòa Thượng thượng Thiện hạ Phước (Tăng chủ phái LIÊN TÔNG TỊNH ĐỘ NON BỒNG), có đông đảo đạo hữu, Phật tử xa gần về dự lễ. Trong không khí thiêng liêng và linh động đó, tại giây phút mà tâm linh đạt vào cảnh giới quán tưởng “Năng lễ sở lễ tánh Không tịch” để đảnh lễ trước tôn tượng của Ngài, con được khai trí giác ngộ thêm về những công đức, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng Vương. Xin xem tham khảo thêm bài viết về Đức Địa Tạng Đen tại đây : Địa Tạng Đen Cũng may mắn sao, trong quá trình tìm hiểu về Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới theo truyền thống Đông Mật, con cũng hữu duyên tìm được những tài liệu dịch thuật kinh điển và biên khảo, tổng hợp của Thầy Thích Quảng Trí, thầy – cư sĩ Huyền Thanh tại bộ Mật Tạng Việt Nam, Bộ giảng luận về Kinh Địa Tạng bồ tát bổn nguyện của Hòa thượng Tuyên Hóa ; các bài giảng – luận về Kinh Địa Tạng của thầy – cư sĩ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền cùng nhiều bài tiểu luận, kinh sách nói về Thánh đức và sự linh ứng của Đức Địa Tạng bằng sách in và trên mạng điện toán toàn cầu. Nhân dịp háng bảy ngày rằm xá tội vong nhân - mùa Vu Lan báo hiếu và cũng chuẩn bị cho kỷ niệm ngày vía của Ngài (30/7)năm nay, con xin mạo muội được bày tỏ và chia sẻ một vài kiến thức thô lậu về Phật học nơi đây không ngoài tâm ý Phổ nguyện: âm siêu dương thái, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh, tề thành Phật đạo. Mọi sự thiếu sót do tầm hèn trí thiểu của người viết, ngưỡng mong chư vị Cao Tăng Đại Đức, các Bậc Thiện Tri Thức, huynh đệ gần xa có dịp ghé qua đây rũ lòng Từ Bi Trí Tuệ chỉ dạy cho kiến thức của người viết và nội dung bài viết này được thêm phần hoàn chỉnh. Xin trân trọng cám ơn sự quan tâm của qúy liệt vị NAM MÔ ĐẠI NGUYỆN ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT Truyền thống văn hóa Phật giáo Bắc Tông Đại thừa ( tại Việt Nam, Trung Quốc ) ngoài các lễ cúng trong tháng âm lịch đặc biệt có mấy phân kỳ thành giai đoạn đặc biệt: - Tháng giêng : khởi đầu một năm mới là mùa cầu an lạc thái bình với các nghi thức thiết đàn, khai kinh phúng tụng kinh Dược Sư, còn gọi là tháng cầu an. - Tháng 4 : mùa Khánh Đản là tháng tổ chức thực hiện các nghi lễ lớn mừng ngày Đản Sinh của Đức Phật Thích Ca. - Tháng 7 : là tháng ra hạ sau một kỳ an cư tu học miên mật của chư Tăng Ni. Đặc biệt trong tháng bảy có những ngày khánh đản của nhiều vị Bồ-tát Đại Thế Chí (ngày 13), Địa Tạng (ngày 30), Long Thọ (ngày 24), Tổ sư Phổ Am (ngày 21) và ngày Phật hoan hỷ (ngày 15). Tháng 7 là tháng ( mùa ) Vu lan thắng hội để các người con Phật báo hiếu tổ tiên. Tháng có ngày rằm mà dưới Âm ty địa phủ mở cửa ngục để xá tội cho các vong linh ( theo truyền thống dân gian) - Tháng 11 : tháng có ngày vía kỷ niệm Đức Tây Phương giáo chủ A Di Đà Phật. Tháng 7, ngay từ những ngày đầu tháng ( gần đây có chùa tổ chức từ tháng 6) nhiều chùa tổ chức thiết đàn, trì tụng nhiều bộ Kinh Phật đề Phật tử cầu siêu báo hiếu cho ông bà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp ; cầu siêu cho chiến sĩ trận vong đồng bào tử nạn…. nói chung là chúng sinh thuộc cõi địa ngục được siêu sanh thoát hóa. Một số bộ kinh thường được trì tụng trong tháng 7 là: Kinh A Di Đà; kinh Vu lan báo hiếu và đặc biệt là kinh Địa Tạng Bồ Tát bổn nguyện công đức. Kinh nói về thánh đức, công hạnh, đại nguyện và sự linh ứng của ngài Địa Tạng Bồ Tát I – Khái lược về kinh Phật: Kinh Phật nói chung còn gọi là Khế kinh, dịch theo âm là Tu-đa-la, là tên gọi của các bài giảng của đức Phật. Nội dung thì Kinh ghi lại những gì chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu “Tôi nghe như vầy…” (Như thị ngã văn – hán văn ). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đã thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Tiếp theo thường là kể lại buổi nói chuyện về một đề tài nào đó như giới thiệu về Thánh Đức và linh ứng của một vị Phật hay Bồ Tát; về nguyên lý, chuyện ứng xử hay hiện tượng nào đó ….. Nội dung chi tiết bao gồm giới thiệu những đại biểu tham dự ( các bậc bồ tát, trời , thần …..), nơi chốn giảng kinh, thời gian. Tiếp theo là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. II- Các bộ klinh nói về ngài Địa Tạng : 1 . Kinh Đại phương quảng thập luân (大方廣十輪經), còn gọi là kinh Phương quảng thập luân, Thập luân, 8 quyển, mất tên người dịch, được dịch vào thời Bắc Lương, tạng Đại Chánh 13, số 410, trang 681. Nội dung kinh này gồm 15 phẩm, kể về công đức của Bồ-tát Địa Tạng, đồng thời nói nếu nương vào 10 Phật luân (10 lực) và 10 y chỉ luân của Tam thừa thì có thể xoay chuyển 10 ác nghiệp luân. Bản dịch khác của kinh này là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân (xem ở dưới ). 2. Kinh Địa Tạng thập luân (地藏十輪經) : gọi đủ là kinh Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân, 10 quyển, ngài Huyền Trang (600-664) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 411, trang 721. Kinh này tường thuật đức Như Lai nhân lời thưa hỏi của Bồ-tát Địa Tạng mà nói 10 thứ Phật luân (10 lực), có năng lực phá trừ 10 ác luân trong đời mạt pháp, và khen ngợi công đức Bồ-tát Địa Tạng. Mục đích kinh này nhằm dung hợp Tam thừa về Đại thừa, lại nhắm vào các Tỳ-kheo phá giới mà giải thích rõ về công đức “thắng tưởng”, và việc Bồ-tát Địa Tạng hiện tướng Sa-môn để cứu độ chúng sanh trong đời mạt pháp. Nội dung gồm 8 phẩm: 1. Phẩm Tựa; 2. Phẩm Thập luân; 3. Phẩm Vô y hành; 4. Phẩm Hữu y hành; 5. Phẩm Sám hối; 6. Phẩm Thiện nghiệp đạo; 7. Phẩm Phước điền tướng; 8. Phẩm Hoạch ích chúc lụy. 3. Kinh Địa Tạng bồ-tát bổn nguyện (地藏菩薩本願經), 2 quyển, ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda, dịch Hỷ Học, 652-710, người nước Vu-điền) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 412, trang 777. Kinh này nói về công đức bản nguyện, thệ nguyện bản sinh của Bồ-tát Địa Tạng. Người đọc tụng kinh này có thể tiêu trừ vô lượng tội nghiệp và được lợi ích không thể nghĩ bàn. Nội dung 1. Phẩm Đao-lợi thiên cung thần thông (Thần thông tại cung Đao-lợi); 2. Phẩm Phân thân tập hội (Thân phân hoá qui tụ lại); 3. Phẩm Quán chúng sanh nghiệp duyên (Quán sát nghiệp quả chúng sanh); 4. Phẩm Diêm-phù chúng sanh nghiệp cảm (Nghiệp quả của người Diêm-phù); 5. Phẩm Địa ngục danh hiệu (Danh xưng địa ngục); 6. Phẩm Như Lai tán thán (Thế Tôn tuyên dương); 7. Phẩm Lợi ích tồn vong (Lợi ích người còn kẻ mất); 8. Phẩm Diêm-la vương chúng tán thán (Các vua Diêm-la xưng tụng); 9. Phẩm Xưng Phật danh hiệu (Xưng tụng danh hiệu chư Phật); 10. Phẩm Giáo lượng bố thí công đức duyên (trắc lượng công đức bố thí); 11. Phẩm Địa thần hộ pháp (Thần đất hộ trì); 12. Phẩm Kiến văn lợi ích (Ích lợi của sự thấy nghe); 13. Phẩm Chúc lụy nhân thiên (Thế Tôn ký thác). 4. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo (占察善惡業報經), còn gọi là kinh Địa Tạng Bồ-tát nghiệp báo, Địa Tạng Bồ-tát, 2 quyển, do ngài Bồ-đề-đăng (người Tây Vực) dịch thời Tuỳ, tạng Đại Chánh 17, số 839, trang 901. Nội dung kinh này nói Bồ-tát Địa Tạng phụng mệnh đức Phật, thuyết pháp cho chúng sanh ở đời mạt pháp nghe về việc cầu pháp lành. Quyển thượng nói rõ pháp xem xét nghiệp báo thiện ác. Quyển hạ thuật nghĩa chân thật của Đại thừa. 5. Địa Tạng bồ-tát nghi quĩ (地藏菩薩儀軌), 1 quyển, do ngài Du-bà-ca-la (dịch là Thiện Vô Uý, người nước Ma-già-đà, Ấn Độ) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 20, số 1158, trang 652. Nội dung kinh thuật lại lúc đức Phật ở trên núi Khư-la-đề-da, Bồ-tát Địa Tạng muốn nói thần chú làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, sau khi được đức Phật hứa khả, Bồ-tát Địa Tạng liền nói ba loại thần chú: Đại, trung, tiểu, kế đến nói về cách vẽ tượng, sau đó nói về ấn chú, ấn Phổ cúng dường, Tổng thuyết tổng ấn, Thỉnh tán ấn, cuối cùng nói cách thành tựu 17 pháp hộ ma. 6. Kinh Địa Tạng Bồ-tát đà-la-ni (佛說地藏菩薩陀羅尼經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 20, số 1159B, trang 655. Nội dung kinh này nói về Đà-la-ni, công đức và thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng. Đà-la-ni gồm 63 câu, người trì tụng Đà-la-ni này có thể diệt trừ tất cả khổ não. 7. Địa Tạng Bồ-tát thập trai nhật (地藏菩薩十齋日), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2850, trang 1300. Nội dung kinh này chỉ dạy 10 ngày ăn chay (giữ giới) trong tháng. 8. Kinh Địa Tạng bồ-tát (佛說地藏菩薩經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2909, trang 1455. Nội dung kinh kể về Bồ-tát Địa Tạng ở thế giới Lưu Ly phương Nam, dùng thiên nhãn thanh tịnh quán chúng sanh thọ khổ trong địa ngục, không chịu được cảnh ấy, Ngài mới đến địa ngục cùng vua Diêm-la phán xét, và cũng vì sợ vua Diêm-la đoán xử sai, hoặc chưa đúng tội mà xử chết... Đồng thời, nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng, biên chép kinh Địa Tạng, vẽ hình tượng, hay niệm danh hiệu ngài, thì khi lâm chung đều được Ngài tiếp dẫn về thế giới Tây phương cực lạc... 9. Kinh Địa Tạng bồ-tát phát tâm nhân duyên thập vương (佛說地藏菩薩發心因緣十王經), gọi tắt kinh Địa Tạng thập vương, hay Thập vương kinh, 1 quyển, do Sa-môn Tạng Xuyên ở chùa Từ Ân phủ Thành Đô soạn, thuộc Tục tạng (chữ Vạn 卍) tập 1, số 20, trang 404a6. Nội dung kinh này nói việc người chết chịu sự phán xét thiện ác ở điện Thập vương cõi âm phủ, về nhân duyên phát tâm cũng như bản nguyện của Bồ-tát Địa Tạng và chỉ rõ tiền thân vua Diêm-La chính là Bồ-tát Địa Tạng. Cuối cùng dùng bài kệ nói về Phật tính để kết thúc kinh. Năm Canh Dần 2010, cư sĩ Huyền Thanh đã công phu Việt dịch và biên tập tổng hợp một số bộ kinh và nội dung nói về Thành đức của Đức Địa Tạng. Nội dung gồm các phẩm : Hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát; Thủ Ấn Chân Ngôn của Địa Tạng Bồ Tát; Phật nói Kinh Diên Mệnh Địa Tạng Bồ Tát ;Kinh Bách Thiên Tụng Đại Tập_Bài Tán Địa Tạng Bồ Tát Thỉnh Hỏi Pháp Thân ; Địa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ ;Phật nói Kinh Địa Tạng Bồ Tát Đà La Ni ; Mười ngày Trai của Địa Tạng Bồ Tát ; Phật nói Kinh Địa Tạng ; Nghi Thức Tán Lễ Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện; Nghi Thức Trì Tụng Pháp Địa Tạng . Trong các bộ Kinh trên, Kinh Địa Tạng Bồ-Tát bổn nguyện là bản kinh trì tụng thông dụng, đã được nhiều bậc Trưởng lão, Kỳ túc Việt dịch, chú giải, như Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang; Hòa thượng Tuyên Hoá (Tổng hội Phật giáo thế giới ở Vạn Phật Thánh Thành - Hoa Kỳ Việt dịch 1 bản, Cố thượng tọa Thích Chánh Lạc - Học viện Hải Đức, Nha Trang dịch 1 bản), cư sĩ Chánh Trí - Mai Thọ Truyền dịch là Địa Tạng Mật Nghĩa
    1 like
  44. Nghĩ là giờ Dần bạn xem những mô tả sau xem có phù hợp ko? Dáng người hơi gầy, khẳng khiu, nhưng nhìn phong lưu nhanh nhẹn, người lúc nào cũng ung dung điềm tĩnh, an nhiên, khuôn mặt hơi xương, da hơi ngâm, trán rộng, cằm vuông hoặc cằm chẻ, cánh mũi mỏng, lỗ mũi hơi lộ. Người vui vẻ, bặt thiệp, ra ngoài có nhiều người nữ yêu thích nhưng thường mang họa về nữ sắc hoa75c gặp trục trục với người nữ nhỏ tuổi hơn. Lúc nhỏ học hành thông tuệ, được nhiều người biết đến. Trong người có bệnh đường tiêu hóa hoặc răng hơi thưa, nhất là giữa 2 răng cửa có kẽ hở.
    1 like
  45. Sắp xếp bàn thờ thần Phật, gia tiên thế nào để gặp nhiều may mắn? Trong quan niệm của người Việt, ban thờ trong mỗi gia đình – nơi thờ cúng gia tiên, tưởng nhớ tổ tiên là nơi trang nghiêm, tôn kính nhất. Thế nhưng phong tục tốt đẹp từ ngàn đời này có những nguyên tắc sắp xếp, trang hoàng riêng mà không phải ai cũng biết. Nơi thờ cúng ảnh hưởng đến gia vận? Người xưa có câu “ẩm thủy đương tư tuyền nguyên đầu, thực mễ đang tư nông canh khổ, hữu tiền đang tư vô tiền thời, kiện khang đang tư phụ mẫu ân”, dịch nghĩa “khi uống nước thì phải nhớ đầu nguồn suối, ăn cơm phải nhớ lúc cày cấy vất vả, giàu có phải nhớ lúc nghèo khổ, khỏe mạnh phải nhớ đến ân của cha mẹ”. Người ta sinh ra có được sinh mệnh, được sống đến ngày nay là nhờ vào tổ tiên. Tổ tiên giống như gốc cây đại thụ nuôi dưỡng để cành lá khỏe mạnh xanh tươi, tượng trưng cho con cháu phát triển. Vì vậy, nếu không có tổ tiên duy trì nòi giống truyền từ đời này sang đời khác thì cũng không có con cháu ngày nay. Tục thờ cúng tổ tiên chính là sự ghi nhớ công ơn và là cách để chăm chút cho cái gốc của mình, gốc có tốt thì cây mới phát triển ra hoa kết trái. Người ta thường nói, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu là như vậy. Ngoài ra, trong lịch sử tín ngưỡng người Việt, thờ cúng thần linh đã có từ lâu đời, do cuộc sống dựa chủ yếu vào tự nhiên nên người xưa lập đàn kính tế quỷ thần, mong giảm bớt thiên tai đem đến phúc lộc. Dễ dàng nhận thấy ngoài các ngôi đền lớn nhỏ ở khắp các địa phương thì ngày nay trong nhiều gia đình vẫn có bát hương thờ thần Phật để tiêu tai nạp phúc, sự nghiệp thuận lợi, hưng vượng nhân đinh, là nơi gửi gắm niềm tin của cả gia đình. Thần Phật được thờ trong nhà giống như người khách quý nên người ta thường đặt ban thờ thần Phật ở sảnh giữa nhà, áp lưng vào tường vững chắc hoặc để chung với bàn thờ gia tiên. Cho dù đặt riêng hay đặt chung với bàn thờ gia tiên thì cũng đều có những nguyên tắc cần tuân thủ: Gia tiên là chủ nhân, thần minh là khách quý, có thể chấp nhận có chủ nhân nhưng không có khách, không được có khách mà không có chủ. Nếu vừa có chủ vừa có khách cùng chung một bàn thờ là lý tưởng nhất. Nhưng cũng không phải tùy tiện thích đặt thế nào thì đặt vì vậy, người xưa cho rằng chỉ cần nhìn vào nơi thờ cúng của gia đình cũng có thể biết gia chủ có tâm hay không. Cái tâm ở đây không được đo bằng mâm cao cỗ đầy, vàng mã bao nhiêu mà là ở vị trí đặt bàn thờ, cách sắp xếp bàn thờ ra sao cho phù hợp, trang nghiêm và sạch sẽ. Quan niệm phong thủy thì cho rằng bàn thờ là nơi linh khí quy tụ, là chỗ để người trên dương thế liên hệ với người đã khuất, người chết thì thành thần, thần lại là trung gian giữa trời với người. Từ đó có thể thấy, khí trường của ban thờ ảnh hưởng rất lớn đến người trong nhà. Ban thờ sắp đặt đúng cách không chỉ khiến người đã khuất an định mà ở lại coi sóc phù hộ gia đình, nên ban thờ cũng có những quy tắc nhất định. Sắp đặt ban thờ theo quan niệm phong thủy Ban thờ nên quay ra cửa chính, không nên ngược với hướng nhà có thể gây âm dương tương phản, dễ gây bất trắc, nô bộc phản bội hoặc con cái không hiếu thuận, tài vận và gia vận bị ảnh hưởng. Ban thờ thần Phật thì nên đặt ở hướng chính hoặc quay bên trái, bên phải. Ban thờ gia tiên tốt nhất nên đặt ở tầng một, gian chính giữa nhà, quay ra cửa lớn để khi vừa mở cửa vào đã nhìn thấy gia tiên, tiện bề chăm sóc. Số lượng thần Phật phải là số dương, do thần Phật thuộc dương vì vậy phải dùng số lẻ, không nên thờ cùng lúc quá nhiều thần Phật, hoặc thờ cùng lúc hai thần xung khắc nhau có thể gây loạn linh khí khiến người trong nhà tinh thần bất an, dễ gặp tai họa. Nếu có đặt tượng thần Phật mà tượng ấy lại bị nứt thì nên nhanh chóng thay mới do tà khí có thể xâm nhập vào. Ban thờ có thờ chung thần Phật và bài vị tổ tiên thì thần Phật đặt ở bên trái, tổ tiên đặt ở bên phải, nếu đặt ngược lại sẽ gây âm thịnh dương suy không tốt cho phong thủy, trong nhà dễ gặp thị phi kiện tụng, bệnh tật không dứt. Thông thường người ta đặt nơi thờ cúng tổ tiên trước rồi mới đến thần Phật. Tổ tiên được coi là chủ, thần Phật được coi là khách quý, nếu mời thần Phật trước rồi mới mời tổ tiên người xưa cho rằng như vậy khiến tổ tiên nhà mình không dám vào cửa. Bài vị tổ tiên cũng không được đặt cao hơn của thần Phật. Ban thờ phải có chỗ dựa lưng, tức kê sát vách tường để linh khí được hội tụ không bị tản mát Bát hương thờ tổ tiên nên có tay cầm, bát hương thờ thần không nên có tay cầm. Vật liệu bát hương tốt nhất là dùng bằng sứ, sau đó đến đồng, không nên dùng đá hoa cương. Bóng đèn phía trước không nên xung với ban thờ, không nên dùng đèn chiếu. Ban thờ cũng không đặt ở vị trí dưới xà nhà, nếu không có vị trí tốt hơn thì phải làm trần, ngoài ra bên trên không được có máy móc như máy điều hòa, máy hút mùi, loa đài. Số lượng thờ thần Phật nhiều nhất là 3, không nên quá nhiều dễ gây bất an. Bát hương nên dùng hình tròn không có chân đế, chất liệu bằng sứ là tốt nhất. Bát hương thông thường không nên quá đầy tro, ngày 15 âm hàng tháng có thể rút bớt chân hương cho sạch sẽ. Bát hương thờ thần Phật nên cao hơn bát hương thờ tổ tiên, khi cắm hương thì nén hương nên cao hơn mắt người. Khi đốt hương chỉ nên đốt một que, nếu có điều cần khấn nguyện thì đốt ba que, không nên đốt nhiều hơn dễ khiến tà linh theo vào nhà. Vật phẩm thờ cúng cũng cần chú ý một số điểm sau: thờ Phật và Quan Âm chỉ được dùng đồ chay do nhà Phật không ăn đồ tanh; thờ thần chủ yếu dùng hoa quả và phải là số lẻ 1, 3, 5, nếu cúng tổ tiên thì số lượng là hai chữ số. Những điều cấm kị khi sắp xếp ban thờ Người xưa quan niệm có rất nhiều cấm kị tại vị trí đặt ban thờ: Không được dựa vào trụ nhà, không được có cửa sổ bên cạnh (do không thể tụ được khí). Ban thờ cũng không được áp lưng vào nhà bếp vì có thể khiến chủ nhân dễ bị kích động, tính tình thất thường, nóng nảy, có bệnh về cột sống. Phía sau ban thờ đặc biệt không được có nhà vệ sinh, nhà tắm do có âm khí và xú khí nặng, theo phong thủy dễ khiến “chư thần thoái vị”, chủ nhà dễ bị trúng phong, gặp ác mộng, đau lưng. Sau bàn thờ cũng không được có thang máy, cầu thang, nếu không chủ nhân dễ bị tán tài, thương tật ở lưng. Bàn thờ không được đối diện với lò, bếp, nhà vệ sinh, kể cả hướng lệch sang bên cũng không tốt. Nếu không còn vị trí nào khác để đặt ban thờ thì nên lấy bình phong che lại. Phòng thờ không nên đặt ở nền đất vốn trước đây là nhà bếp, nhà vệ sinh do chất đất không tốt. Trên ban thờ kị đặt các vật linh tinh, dao kéo, thuốc men, không được dùng tủ thờ làm nơi cất giữ đồ đạc hoặc bể cá, vô tuyến, loa đài. Vật liệu làm bàn thờ nên sử dụng gỗ long não, đàn hương và nên điêu khắc thủ công là tốt nhất do các loại gỗ này tránh mối mọt, có thể sử dụng từ đời này sang đời khác. Trên bàn thờ không nên đặt chậu cây cảnh mà chủ yếu dùng hoa tươi để thờ phụng, không nên dùng hoa nhựa. Chủ nhà thường xuyên vệ sinh khu vực xung quanh, nên thắp hương vào sáng và tối. Người xưa quan niệm rằng nếu khói hương bay thẳng lên là tốt, nếu cuốn thành vòng tròn hoặc tản mát là có “ngoại linh đang tranh cướp”. Nếu bát hương bàn thờ thần tự nhiên bốc cháy là may mắn, nếu bát hương thờ tổ tiên cháy là điềm báo hung. Nếu ban thờ của nhà có thờ cả họ nội và họ ngoại thì họ nội đặt bên trái, họ ngoại đặt bên phải, nhưng phải dùng vạch sơn màu đỏ phân chia rõ ràng hoặc dùng tấm vách ngăn sơn đỏ để tránh tranh chấp nhau. Ban thờ không nên treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc trên đường đi. Sở dĩ có quan niệm này vì người xưa cho rằng ban thờ là nơi cần được hội tụ linh khí, khí trường bàn thờ sung mãn có thể khiến toàn gia đình được an lành hạnh phúc. Nếu ban thờ treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc ở nơi đi lại dễ khiến người trong nhà bất an, gia vận trồi sụt khó đoán. Ban thờ không được xung với đường đi: Ban thờ bị đường đi đâm thẳng vào dễ gây bất an tổn hại đến cung tài lộc, nhân đinh của gia đình, dễ gây tai nạn ngoài ý muốn hoặc bệnh tật tấn công. Ban thờ ngược với hướng nhà dễ khiến người trong nhà bất hòa, dễ gặp bất trắc bệnh tật. Nếu đặt ở vị trí quay sang trái hoặc sang phải nhà thì chủ nhân dễ có tâm sự phiền muộn khó nói ra. Nếu ban thờ đối diện với nhà vệ sinh thì người trong nhà gặp nhiều bệnh tật đau đớn. Nếu ban thờ đối diện với nhà bếp dễ khiến nguời trong nhà hay tranh cãi những việc nhỏ, tính tình nóng nảy. Nếu phía trên ban thờ có xà nhà có thể khiến chủ nhân dễ bị đau đầu, cuộc sống vất vả. Nếu đặt đối diện với cầu thang, chủ nhân dễ bị động dao kéo, tai nạn đổ máu. Nếu đặt dưới cầu thang thì người trong nhà khó có cơ hội phát triển. Nếu đặt trên nền đất lồi lõm không bằng phẳng có thể khiến chủ nhân gặp khó khăn trong mọi việc. Nếu phía trên, dưới, trái, phải ban thờ có cửa sổ thì chủ nhân dễ bị tán tài. Ngày Tết là thời điểm quan trọng chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, mọi người đều dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết và cũng không được phép quên trang hoàng nơi thờ cúng. Công việc này thông thường bắt đầu từ ngày 23/12 âm lịch, thời điểm tiễn táo quân lên thiên đình bẩm báo công việc ở hạ giới trong năm theo phong tục Việt Nam... Tập tục thú vị về tiễn – đón Táo quân Người xưa cho rằng ngày Tết hết sức quan trọng do nó quyết định vận thế, sự nghiệp và tài lộc cho cả năm sau: Táo quân cai quản khói lửa ở hạ giới, lại thường ở trong bếp nên biết hết chuyện hay dở của gia đình trong cả năm, sau khi nghe thông báo xong Ngọc hoàng sẽ căn cứ vào đó để định đoạt, có thể là khen thưởng cũng có thể là quở phạt. Vì vậy, trước khi Táo quân lên thiên đình người ta bày lễ cúng để Táo quân “nói tốt” cho nhà mình. Tục xưa thường để bàn thờ, bài vị của Táo công treo trên tường nhà bếp, thần vị làm bằng giấy vẽ hình táo quân và một bát hương, cúng vào buổi sáng và buổi tối, nhưng ngày nay không còn phong tục này nữa. Đồ cúng táo quân thông thường là các loại kẹo bánh có vị ngọt, hi vọng thần ăn đồ ngọt sẽ không bẩm báo những chuyện nhỏ nhặt với Ngọc đế. Sau khi cúng tế xong đem đồ ngọt bôi quanh miệng bếp, tượng trưng miệng thần quân dẻo ngọt không bẩm chuyện xấu của nhà mình với Ngọc hoàng. Nếu nhà có trẻ nhỏ thì cúng thêm một con gà trống để mong đứa trẻ phát triển khỏe mạnh. Khi cúng tiễn thần bếp, người ta thường phải tắm rửa sạch sẽ, dùng muối, hoa, tinh dầu, lá bưởi hoặc các loại lá thơm làm nước tắm, sau khi tắm xong thay quần áo sạch sẽ rồi mới cúng. Có tiễn thần thì cũng có đón thần, ngày nay khi nghe thấy từ “đón thần”, có lẽ nhiều người liên tưởng đến đón thần tài, nhưng thực ra đón thần ở đây lại là tập tục quan trọng hơn so với tiễn thần. Sau khi Táo quân được tiễn lên trời để bẩm báo với Ngọc hoàng, ngày 25/12 là ngày nghỉ, Ngọc hoàng sẽ dẫn quần thần xuống nhân gian thị sát vì vậy ngày này hết sức quan trọng. Người xưa quan niệm do ngày đó Ngọc hoàng xuống hạ giới nên trong mọi người đều rất cẩn trọng về phẩm cách của mình: Không đánh cãi chửi nhau, không nói bậy, không đòi – vay nợ, không phơi quần áo… Tuy vậy đây chỉ là quan niệm ngày xưa, ngày nay hầu như không còn nghi thức này nữa. Sau khi tiễn Táo quân xong mọi người mới bắt đầu được quét dọn, tục gọi là “quét tàn tinh” nhưng nếu năm đó nhà có tang ma thì không được quét, kiêng khói bụi bay vào mắt người chết. Việc quét dọn, kê lại đồ đạc lại toàn bộ nhà thường được thực hiện sau khi tiễn ông táo là do lúc này các thần đã về trời bẩm báo công việc, chỉ còn một số thần nhỏ ở lại “trực” để duy trì trật tự, nếu có xê dịch làm đảo lộn đồ đạc thì cũng không mạo phạm đến thần. Sau quét dọn mới đến phần “lau rửa”, ngoài ý nghĩa làm vệ sinh môi trường xung quanh, lau chùi rửa sạch đồ đạc trong gia đình còn có ý nghĩa quan trọng hơn đó là sự thanh tịnh trong thâm tâm, phản tỉnh những sai lầm trong cả năm. Người xưa cho rằng nếu chỉ chăm chút bề ngoài mà không coi trọng sự thay đổi hướng thiện trong tâm hồn thì hiệu quả trừ bỏ những cái xấu của năm cũ có làm cũng như không. Đặc biệt là những người trong năm ấy gặp nhiều sự cố phát sinh khiến công việc và cuộc sống không như ý muốn, tự cho rằng mình gặp đen đủi, muốn tìm cách để thay đổi tương lai, hi vọng năm mới tốt đẹp hơn sẽ nhân cơ hội này phản tỉnh cũng như tổng kết sai lầm trong cả năm, rút ra kinh nghiệm để năm mới thuận lợi hơn. Cách trang hoàng ban thờ trong ngày Tết Phần quan trọng nhất là ban thờ tổ tiên, do đây là nơi được coi là nơi linh thiêng, ngày thường không được tùy ý động chạm di chuyển mà chỉ lau chùi sạch sẽ, người xưa cho rằng nếu xê dịch sẽ làm kinh động đến chỗ của thần, thần không được an vị thì không muốn ở lại lâu, không chăm sóc cho nhà mình được. Ngày nay do thời gian có hạn hoặc một số kiêng kị không được lưu truyền trong dân gian nên không còn nhiều người biết cách dọn ban thờ theo như phong tục cổ nhân. Trước khi dọn ban thờ, người xưa thường phải tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị đĩa hoa quả đặt lên, sau đó thắp một nén hương thông báo cho tổ tiên và thần linh biết ngày hôm nay sẽ thu dọn ban thờ, mời tổ tiên và thần linh tạm lánh sang một bên để con cháu thực hiện công việc. Sau đó gia chủ chuẩn bị một chiếc bàn bên trên trải vải hoặc giấy đỏ để đặt bài vị, nếu bàn thờ có đặt chung bài vị gia tiên với các thần thì phải để ra hai chỗ khác nhau, không được lẫn lộn. Đợi sau khi hương cháy hết rồi mới bắt đầu công việc. Khi lau rửa bài vị của tổ tiên thì phải dùng nước ấm, không được dùng nước lạnh. Khi làm vệ sinh, nếu có bài vị của thần Phật thì lau trước, sau đó đổ nước mới để lau bài vị của tổ tiên, tuyệt đối không lau bài vị của tổ tiên trước. Người xưa quan niệm như vậy là bất kính, mạo phạm với thần phật, thần phật có ngôi vị cao hơn nên dễ khiến tổ tiên bị chèn ép. Sau khi lau bài vị xong mới đến phần dọn bát hương, công việc này cũng rất quan trọng, ngày nay đa phần mọi người đều rút chân hương rồi cầm bát hương đổ hết tro ra ngoài, theo người xưa như vậy rất dễ gây “tán tài”, vì vậy người ta dùng chiếc thìa nhỏ xúc từng thìa đổ ra ngoài rồi mới rửa sạch bát hương đặt sang một bên. Khi bát hương khô ráo, nếu là bát hương thờ thần phật thì dùng bảy tờ tiền vàng, bát hương của tổ tiên thì dùng ba tờ tiền vàng đốt hơ quanh, cháy một nửa thì bỏ vào trong, đợi tiền vàng cháy hết thì đổ tro vào một lần, như vậy gọi là “ra nhỏ vào lớn”, ý là “tiền ra nhỏ giọt, tiền vào như thác đổ”, nếu lúc đầu đổ ra hết sau đó múc từng ít một vào thì gọi là “vào nhỏ ra lớn”, tức “tiền ra thì nhiều mà tiền vào thì ít”. Ngày nay có nhiều người đem tro bát hương đổ cũ ra sông, thay vào bát hương tro mới, nhưng người xưa thì dùng chiếc rổ mắt nhỏ để lọc tro cũ, lọc xong lại đổ vào bát hương chứ không đổ đi. Việc lọc tro cũng phải bắt đầu từ bát hương thờ thần phật. Sau khi lau rửa sạch sẽ, người ta sẽ đem bài vị thần Phật và tổ tiên đặt lại chỗ cũ và công đoạn này cũng rất phức tạp. Trước hết phải chuẩn bị một chiếc lò nhỏ trong có đốt than hoa, đặt dưới bàn thờ khoảng 15 phút, sau đó đốt bảy tờ tiền vàng làm dấu hơ ở bốn hướng trên dưới trái phải, ý là dùng lửa để khai quang, làm sạch, tiền vàng chưa cháy hết thì bỏ vào lò than hoa. Đốt tiếp bảy tờ tiền vàng làm sạch vị trí muốn đặt tượng/bài vị thần Phật và bát hương sau đó mới đặt các đồ vật vào vị trí cố định. Sau khi đặt xong thì đốt 12 que hương cắm theo thứ tự hướng thời gian, que thứ nhất cắm ở vị trí 1h, khi cắm thì đọc “niên niên thị hảo niên”, tức mỗi năm đều là năm tốt; que thứ hai cắm ở vị trí 2h, khi cắm đọc “nguyệt nguyệt thị hảo nguyệt”, tức mỗi tháng đều là tháng tốt; cây thứ ba cắm ở vị trí 3h, khi cắm đọc “nhật nhật thị hảo nhật”, tức mỗi ngày đều là ngày tốt; cây thứ tư cắm ở vị trí 4h, khi cắm đọc “thời thời vị hảo thời”, tức mỗi giờ đều là giờ tốt; cứ tuần tự như vậy cho đến thời điểm vị trí 12h. Các vị trí bài vị, bát hương của tổ tiên và bà tổ cô cũng làm như vậy. Trên đây là tập tục của người xưa ghi chép lại trong các thư tịch cổ, những công việc tỉ mỉ khi chăm sóc bàn thờ gia tiên cũng là cách để tăng thêm phần không khí ngày Tết. Nhưng ngày nay, do cuộc sống bận rộn nên không hẳn tất cả những tập tục trên còn phù hợp. Xin nêu lại tập tục cổ nhân như một cách để bạn đọc tham khảo, thêm phần hiểu biết về phong tục tập quán của người xưa trong những ngày xuân Nhâm Thìn đang tới với hi vọng mọi người sẽ gặp những may mắn mới, thành công mới. Theo Hùng Bùi - PLVN
    1 like
  46. Lạc Việt độn toán, Bốc Dịch....vv......dù bói chính xác cũng chỉ cho biết hiện tượng sẽ xảy ra. Nhưng những sự kiện xảy ra đôi khi khộng như mình mong muốn. Sự kiện mình mong muốn có xảy ra hay không phải học kỹ Lý học Việt và điều này liên quan đến một hệ thống lý thuyết rất phức tạp . Nhưng khi Việt sử gần 5000 năm văn hiến chưa được công nhận, ngay trong tâm thức - hoặc công nhận nhưng vẫn mù mờ, kiểu hùa theo phong trào - thì ngay từ dự kiện đầu vào đã tắc nghẽn.Cái gì cũng phải từ từ từng bước, nếu không "tẩu hỏa nhập ma". Vào thế kỷ XIX, con người muốn lên mặt trăng, muốn gọi điện thoại di động với người ở cách nửa vòng trái Đất cũng chỉ là ước mơ thôi. Nhưng bây giờ họ muốn lên sao Hỏa. Tóm lại cái gì cũng cần phải đáp ứng được yếu tố cần và đủ. Đấy là nói theo khoa học. Còn nói theo Phật giáo là phải có nhân duyên. Đại để vậy.
    1 like
  47. Ui ,người đã đẹp như thế rồi ,còn muốn đẹp hơn nữa sao ?Đi ra ngoài trai nó thấy nó té xỉu hết ... Trong ảnh thấy mũi sóng dọc dừa cũng đủ đẹp rồi , nếu nâng mũi lên cao nữa ,phải mang Contact lens cho mắt có màu Blue cho giống Tây nhé . Ui ,mà năm tới tiểu hạn vào cung mệnh có sao thiên hình + lâm quan , hình như ứng với điều cháu đang wishing . Mà khi sửa sang xong nhớ update ảnh mới cho bác xem lại nhé !
    1 like
  48. còn lại những tháng trong năm thì không hy vọng lắm ,nếu có phải vào tháng 12 al ,nhưng phải chịu nhờ cậy người khác hay phải tốn tiền [ coi chừng bị người khác lợi dụng vào sự liên hệ tình cảm], năm tới thì công việc mới được hanh thông ,đường quan lộ của cháu rất sáng , làm được nơi vừa ý ,thăng tiến mau lẹ / cũng có tay kinh doanh nếu muốn chờ cơ hội .
    1 like
  49. Về vấn đề “luân hồi” và “đầu thai” tôi lại có cách giải thích khác. Trước khi nói về vấn đề “luân hồi” và “đầu thai” tôi xin nêu giả thuyết của tôi về “linh hồn”: “linh hồn” có thể ví như một “tệp tin”, trong đó chứa đựng lượng thông tin mà con người thu nạp được trong suốt thời gian sống, được mã hoá theo cách của chiều không gian mà con người đang tồn tại ( thế giới thực ), dung lượng của “linh hồn” tương ứng với số nơ-ron thần kinh được kích hoạt và tham gia vào liên kết, một đời người thường chỉ có từ 2 – 3% (hiếm có trường hợp nhiều hơn) trong tổng số nơ-ron thần kinh mà mỗi người có được kích hoạt, như vậy “linh hồn” cũng có lớn, có bé, có nhiều tri thức hoặc ít tri thức. Con người sau khi chết, “linh hồn” vẫn tiếp tục tồn tại dưới dạng trạng thái vô hình của vật chất, và tiếp tục lan truyền trong không, thời gian dưới dạng sóng ( có thể giống dạng sóng trong điện não đồ ), với vận tốc cực lớn, có mặt đầu sóng dạng hình cầu mà tâm là bộ não người. Do vậy có nhiều cơ hội gặp các “cửa khẩu” chuyển đổi gốc quy chiếu không, thời gian và đi sang chiều không gian ( thế giới ) khác, vì khác gốc quy chiếu nên ta không có cách nào để nhận biết sự hữu hình hiện hữu ở chiều không gian đó ( thế giới ảo ). Ở những chiều không gian ( thế giới ) khác cũng diễn ra tình trạng tương tự như vậy, ta tưởng tượng giống như việc các cư dân trên thế giới xuất, nhập cảnh ở các quốc gia. Các “linh hồn” mang theo lượng thông tin đã được mã hoá theo cách của nơi xuất phát, sang chiều không gian mà loài người đang tồn tại ( chiều không gian mà ta đang xét - là 1 trong n chiều không gian khác nhau ), dưới dạng “khí tiên thiên” vào cơ thể con người tạo nên một mầm sống mới ( sự đầu thai ), vì thông tin lưu trữ chưa được giải mã nên con người sinh ra “quên” hết quá khứ, và những tri thức đã có được từ kiếp trước tồn tại dưới dạng tiềm thức, tiềm năng, vì vậy quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện là quá trình làm thứ dậy tiềm năng của con người. Trong trường hợp cá biệt, “linh hồn” không gặp cơ may chuyển chiều không gian ( rất ít ), ngẫu nhiên “đầu thai” trở lại, thì thông tin không cần phải giải mã, con người sinh ra sẽ nhớ được quá khứ của mình. Như vậy cuộc sống là sự tiếp diễn liên tục giữa các chiều không gian ( thế giới ), đó chính là “luân hồi”, và trình độ tri thức ở các chiều không gian ( thế giới ) khác nhau thì khác nhau. Và như vậy thì tổng số “cư dân” trong vũ trụ là không đổi, còn số “cư dân” trong một chiều không gian thì biến động không kiểm soát được. Bắc Đẩu
    1 like
  50. Luân hồi – tái sinh, có thể hiểu được Hà Yên 11:21' AM - Thứ tư, 10/06/2009 Luân hồi – tái sinh, có thể hiểu được Hà Yên. xem tất cả... Vận động tuần hoàn là một phương thức tồn tại, là một quy luật tự nhiên như mọi qui luật khác. Vạn vật trong Tự nhiên, với tư cách là một thực thể, đều có một đời sống hữu hạn. Vì vậy, sự trường tồn của Thế giới chỉ có thể dựa vào quy luật Tái sinh, nghĩa là chấp nhận một cuộc chạy tiếp sức vô cùng tận, để lưu chuyển “ngọn cờ giống loài”, mà các thế hệ nối tiếp trao cho nhau gìn giữ. I. Đi tìm những bằng chứng Khoa học có liên quan Như một cuộc điều tra hình sự, điều tra viên nếu chỉ loay hoay khoanh vùng hiện trường để tìm kiếm, đo đạc, suy đoán không thôi, thì sẽ không thể nào tìm ra động cơ và thủ phạm vụ án. Những gì nhặt nhạnh được ở hiện trường, không phải là nguyên nhân vụ án. Phải thoát ra khỏi hiện trường, tìm kiếm cái nhìn tổng thể hơn, với một tư duy hệ thống của các mối quan hệ, trong bối cảnh lịch sử của nạn nhân, thì mới có cơ may nhìn thấy ánh sáng. Vấn đề Tái sinh-luân hồi trong cõi người ta cũng thế thôi. Chỉ đứng trong cái vòng tròn ấy mà tìm kiếm, mà tư duy, thì e rằng, chẳng bao giờ… Thôi thì, tiếc gì mà không đổi mới Tư duy, lắng nghe một chân lý mới mà Kurt Godel đã dạy: “Không thể chứng minh được rằng, một hệ thống là nhất quán và phi mâu thuẫn nếu chỉ dựa trên cơ sở của các tiên đề chứa trong hệ thống ấy, mà phải đi ra ngoài hệ thống, tìm kiếm các tiên đề phụ bên ngoài có liên quan”. Và chẳng phải dân gian cũng đã triết lý rằng: “Kẻ trong cuộc, đâu có sáng suốt bằng người ngoài cuộc nhìn vào” đó sao. Tin chắc rằng, chân lý đó sẽ dẫn dắt chúng ta tìm ra nhiều điều thú vị. Vậy nên, ở đây, dù phải đảo mắt qua một vài trang, tưởng không liên quan gì đến “tái sinh-luân hồi”, thì cũng chẳng qua là “nhảy” ra khỏi hệ thống để đi tìm “tiên đề phụ có liên quan” ngoài hệ thống mà thôi. Ta cứ tiếp tục hành trình, có nhiều cơ may sẽ đến đích. Con Người là động vật đẳng cấp cao. Đẳng cấp cao ở Người là thuộc về ý thức. Hành vi của ý thức là một cuộc hành trình trừu tượng hóa vô hạn, mà Trí tuệ là sự soi sáng trên từng bước đi. Suy cho cùng, những khái niệm thuộc phạm trù siêu hình này, không gì khác, ngoài Vận động Thông tin. Bởi vậy, biết thêm một vài đại lượng đặc trưng trong tương tác thông tin, sẽ rất có ích. A. Đôi điều liên quan đến Thông tin 1- Theo lý thuyết Thông tin, Giá trị Thông tin xác định bằng Lượng tin chứa trong Thông tin đó. Tương tự, Giá trị một Thông báo xác định bởi Lượng Tin tức chứa trong Thông báo đó. Lượng tin hay Lượng tin tức tỷ lệ với tính phi phỏng, tính bất định của Thông tin. Nghĩa là Thông tin càng phi phỏng bao nhiêu, thì Lượng tin càng lớn bấy nhiêu. Ví dụ: “Hôm qua, có tuyết rơi ở Đồng Hới”. Lượng tin tức trong Thông tin này là rất lớn, bởi lý do địa thế và chế độ khí hậu khô nóng của Miền Trung, trong đó có Đồng Hới, không thể xảy ra sự kiện tuyết rơi, vào bất cứ thời gian nào trong năm. Ví dụ khác: Một thông tin khẳng định rằng: “Ngày mai là chủ nhật”, lượng tin tức trong thông báo đó bằng không, bởi vì hôm nay là thứ bảy. Giữa hai điểm cực trị của lượng tin là các cấp độ giá trị mà hiệu ứng tương tác sẽ đem lại hệ quả rất khác nhau. Lượng tin là nhân tố kích thích ý thức tiến hóa trên những nấc thang cấp độ: từ cấp độ thô đến cấp độ Tinh tế. Thông tin với lượng tin lớn, có thể tạo ra xung năng của vòng xoáy các câu hỏi: Cái gì thế, tại sao, ở đâu, khi nào. Khát vọng tìm kiếm câu trả lời, chính là quá trình khai mở Tư duy ngày càng tinh tế. Có thể cắt nghĩa điều đó bằng ví dụ sau đây: “Bà mẹ cố dỗ dành đứa con bé bỏng đang quấy khóc. Khó! Vì bé mới chỉ hơn một tuổi đầu, đưa cho món đồ chơi nào, bé cũng quay mặt đi vì chúng quá quen thuộc, quen thuộc như chính thế giới các đồ vật, trong căn nhà quê mùa của bé vậy. Bà mẹ thông minh kia, bế bé ra cổng. Đằng xa xa, phía con đường làng, là cánh đồng lúa xanh rì trải dài, đối mặt với trời xanh. Bé lặng im trước khung cảnh mới. Đôi mắt bé mách bảo rằng, cái bức bối trong bé đã giảm đi đôi phần. Nhưng khung cảnh kia, như cũng dần đọng lại, sức cuốn hút của cái mới mẻ ban đầu, như dần tan. Bé lại ngọ nguậy khóc. Một con chó mực từ nhà bên chạy ra đường, nó rúc mũi vào mọi thứ xung quanh, rà đi, soát lại. Bà mẹ chỉ tay về phía con chó, thản thốt kêu: “Con gì kia ấy nhỉ?” Bé nín bặt, chăm chú dõi theo hành vi con chó, mắt bé tròn xoe đầy ngạc nhiên. Thỉnh thoảng liếc nhìn quanh như tìm kiếm cái gì với vẻ hi vọng và lo lắng…” Cái thông minh của bà mẹ là ở chỗ, bà không bình thản để thông báo với bé rằng “Kia là con chó”, bởi vì lượng tin tức trong thông báo đó là bằng không. Sự vòi vĩnh của bé, vì thế, sẽ nguyên như ban đầu, không bị khuấy động. Với cử chỉ và giọng thảng thốt, mà bà sử dụng, trở thành một Thông tin, chứa lượng tin rất lớn, ào vào đầu óc non nớt của bé, như một làn sóng cuốn phăng đi những ký ức buồn bực ban đầu. Với những Thông tin có dung lượng tin lớn như thế, sẽ kích thích Tư duy phải trừu tượng, mà trong trường hợp của bé, là nó ngáo ngơ tìm quanh chỗ con chó, như hy vọng nhìn thấy một con gì khác nữa. Nó tỏ ra lo lắng khi chưa tìm được câu trả lời từ Thông tin do mẹ nó tạo ra: “Con gì đâu, ngoài con chó?” Bức tranh vừa phác thảo trên đây, cho thấy tương tác Thông tin từ ngoại vi đến với Não, như một động lực làm chuyển dịch, dẫn dắt hành trình tiến hóa của nó. 2 - Con người là một Tổng thể, tạo nên bởi: Phần thể xác là Vật chất, hữu hình ; Phần ý thức và các chức năng của nó, là phần phi vật chất, thuộc phạm trù siêu hình. Sau đây, ta sẽ thấy, tuy vận động trong một tổng thể thống nhất, nhưng phần siêu hình, không nhất thiết cần tựa vào “giá đỡ Vật chất” của thể xác để tồn tại. Điều này cũng giông như ôxy trong không khí, nó gắn liền với sự sống của mỗi thực thể. Nhưng không thể nói rằng, nhờ “cái sống” của thực thể ấy, mà ôxy mới tồn tại và vận đông được. Thậm chí là sau cái chết làm phân hủy, nó còn phải trả lại các phân tử ôxy cho môi trường sống, mà nó được cung cấp trước đó, để Định luật bảo toàn vật chất không bị vi phạm. Nếu nguồn nuôi dưỡng cho phần vật chất (Cơ thể) là quá trình chuyển hóa thức ăn, nước uống, thì nguồn nuôi dưỡng cho phần Siêu hình (ý thức) là quá trình vận động, chuyển hóa Thông tin. Hai nguồn nuôi ấy cũng thống nhất trong một Tổng thể Năng lượng. Sự tương đồng hai nguồn nuôi này có những hệ quả thực tiễn rất hay, mà bạn đọc có thể tự suy ngẫm được. B. Thông tin và hành trình đi đến ý thức 1 – Lược sử một lộ trình khai mở ý thức Như một con trai biển cần mẫn, chắt lọc những gì tinh túy hấp thụ được, để luyện nên viên ngọc quý giá. Con Người, từ khi lọt lòng, cất tiếng khóc chào đời, cũng tức là tiếng reo, đón mừng môi trường thông tin mới mẻ. Sau những giấc ngủ dài, bé bắt đầu ti hí mi mắt, đón nhận thông tin đầu tiên. Đó là ánh sáng chói ngời tràn ngập căn phòng của bé. Năm giác quan của bé - những cánh cửa tiếp nhận thông tin, tuần tự bắt đầu hành trình hoàn thiện cùng cơ thể. Tại sao không cùng lúc mà tuần tự? Bởi vì, não bộ của bé chưa phát triển đủ mạnh để xử lý một lượng thông tin với dung lượng tin tức lớn, nên Tạo hóa phải có “sách lược ưu tiên” mở cửa từng giác quan một. Đầu tiên là thị giác và một phần xúc giác. Cánh cửa xúc giác chỉ mở hé: phát triển mạnh ở đôi môi để bé tìm đúng vú mẹ. Theo tháng ngày, bé cảm nhận được âm thanh, sau cùng là mùi vị. Nhưng tất cả đều là những thông tin thô, rời rạc. Não bộ của bé bấy giờ, như một bộ xử lý trung tâm CPU, mà chưa có ổ cứng và bộ nhớ đệm trợ giúp, nó chưa thể xâu chuỗi thông tin để hình thành một chuỗi Lôgic, kiểu câu hỏi: “Ai?”; “Cái gì thế?” Thời gian này kéo dài, trung bình đến tháng thứ 6, thì manh nha được hai câu hỏi trên: Bé phân biệt được mẹ với người khác, bé liếc mắt theo một vật sáng di động, cũng như cố nghiêng đầu về phía phát ra âm thanh lạ. Bộ nhớ bắt đầu phát triển. Sự chú ý và ngạc nhiên của bé, biểu lộ ở tháng thứ tám trở đi, khi không gian xung quanh xuất hiện những tín hiệu khác thường, đó là dấu hiệu khởi đầu hình thành ý thức thô bản năng, dạng sơ khai nhất. Ý thức thô tiếp tục được củng cố cùng với sự phát triển não bộ, đặc biệt là bộ nhớ. Năng lực xử lý thông tin của não, cùng bộ nhớ, tăng nhanh và hoạt động mạnh. Từ tháng thứ mười trở đi, bé bắt đầu biết so sánh. Nhàm chán với những thông tin lặp đi lặp lại, bé chú ý, một cách hồ hởi đầy ngạc nhiên với những thông tin mới, lượng tin nhiều. Biểu hiện rõ nhất trong quá trình bé tiếp xúc với thế giới đồ chơi của riêng mình: Nếu không được bổ sung đồ chơi mới lạ, bé có thể: một là, thờ ơ những đồ chơi cũ; hai là, bé tìm cách “ghè” vỡ, tháo bẻ, bóp bẹp, cạy móc chúng, hy vọng tìm ra cài gì lạ lẫm, để biết “Cái gì đây?” và “Tại sao thế?” v.v... Đối với bé, càng về sau, những câu hỏi chưa có lời giải hoặc lời giải mơ hồ, tích lũy từ vài năm trước, cho đến những năm tháng ở Trường Mẫu giáo, là nỗi “day dứt” không nguôi, nhưng nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng, vì nó liên tục kích thích sự hình thành năng lực trừu tượng trong hoạt động Tư duy của bé. Vào những năm tiếp theo,Thông tin dồn dập từ học đường và xã hội là những thông tin mang cấu trúc lôgic đơn giản đầu tiên mà tuổi vị thành niên như cháu tiếp nhận. Dạng thông tin này, đến lượt nó, là nhân tố làm cho ý thức mang tính xã hội nhiều hơn. Không gian Tư duy được mở rộng. Quá trình học hỏi và trưởng thành về sau, cũng là quá trình kết nối và xử lý thông tin “đẳng cấp” cao hơn. Do cuộc sống đã trải qua, gắn liền với nhiều dấu ấn của bối cảnh lịch sử, đã trở thành một chuỗi ký ức riêng và được lưu giữ bằng một bộ nhớ đã phát triển cùng năm tháng. Giờ đây, năng lực xử lý thông tin, cũng chính là năng lực Tư duy, trong mối quan hệ chằng chịt Thông tin, từ môi trường sống gần gũi, cho đến môi trường thông tin rộng lớn hơn. Khả năng Trí tuệ bộc lộ rõ hơn trong mọi giải pháp hành vi. Lược đồ hành trình được mô phỏng trên đây, mở đường tiến đến gần hơn với lời giải: “Từ đâu mà ý thức hình thành?”. 2 - Triết lý của Chọn lọc Tự nhiên - lời giải sau cùng. Từ quy luật Chọn lọc Tự nhiên (Dac-uyn): “Sự tiến hóa muôn loài tiến hành được là nhờ động lực của cái gọi là Nhu cầu sống thúc đẩy. Nếu nhu cầu sống không cần, thì dù có nảy sinh cái gì, thì cuối cùng, cái ấy, cũng sẽ bị đào thải”. Ví dụ: con dơi không có nhu cầu nhìn bằng ánh sáng, thì cấu trúc hệ quang học của đôi mắt không phát triển. Mắt bị thoái hóa theo luật đào thải và chỉ để làm vật trang trí cho khuôn mặt mà thôi. Đàn ông không có nhu cầu cho con bú, thì đôi vú không phát triển. Nó “thoái hóa”, chỉ để lại dấu vết kỷ niêm nhân sinh trên người. Ví dụ khác, vận động viên cử tạ, do nhu cầu nâng nhấc tạ, với gia trọng ngày càng tăng, nhờ tập luyện mà những cơ bắp liên quan, như: Cơ tay, cơ bụng, cơ đùi, buộc phải phát triển để đáp ứng v.v… Như vậy, quy luật “Có cầu thì ắt có cung” là một qui luật phổ quát của tồn tại. Theo đó, con người sống trong Thế giới tràn ngập Thông tin đa dạng, đa tuyến, đa kênh, đa tần, đa cấp… Chúng như những làn sóng, tương tác liên tục vào tiến trình Sống. Để dẫn dắt “Cái Sống” phát triển, thì nhu cầu tiếp nhận, xử lý, chọn lọc thích nghi là hết sức to lớn. Cho nên, “Cái Sống” phải lấy Thông tin từ khách thể ấy, để tự cấu trúc nên một tổ chức vật chất lôgic tối ưu nhất, thực hiên chức năng này. Tổ chức vật chất đó là Não bộ. Qui luật tiến hóa gọi quá trình đó là Thích nghi. Tóm lại, Tự nhiên là khách thể, là nguyên nhân của mọi hình thái Sống. Quan điểm Triết học này, còn được chứng minh bởi hệ quả của nguyên lý phổ biến về Sự phụ thuộc lẫn nhau, rằng “Mọi sự vật và hiện tượng không tồn tại tự thân”, rằng không có cái gì là nguyên nhân của chính nó. Từ những luận cứ đó, có thể kết luận rằng: Não bộ và những sản phẩm của nó có nguyên nhân từ khách thể trừu tượng, đó là Thế giới Thông tin. Với cái nhìn Hệ thống như vậy, thì xu hướng biệt lập, đi sâu vào cấu trúc Não để tìm kiếm bí mật “Cơ chế nào tiết ra ý thức, tiết ra tư duy”, là lối đi lạc hướng. Cũng giống như hì hục tháo rời một Computer, để tìm kiếm bí mật: Cơ chế nào đã “tiết ra” hiệu ứng nghệ thuật Đồ họa, khi thực hành Photoshop? Với hướng đi đó, sẽ không bao giờ tìm thấy lời giải cuối cùng. Bởi lẽ, não bộ không tự thân “tiết ra” ý thức, tư duy, và cũng như CPU, RAM của computer không tự thân tạo ra các hiệu ứng của nghệ thuật Đồ họa vậy. Nghĩa là chúng đều do một tập hợp Thông tin khách thể cung cấp, cài đặt. Với chúng, là một thành phần trong một thực thể thống nhất: một con người hay một chiếc Computer? Nếu không có cấu trúc Thông tin tổ hợp trong những phần mềm cài đặt, thì phần cứng computer chỉ là một cục sắt vô dụng. Tương tự, nội hàm của cấu trúc Thông tin ngoại vi, quyết định chiều hướng tiến hóa Người hay Thú trong trường thông tin đó. Thí dụ sau đây, minh chứng cho quan điểm này: Vào khoảng tháng10 năm 2007, trên Daily mail có đăng một mẩu tin gây chấn động dư luận: Một nhóm các nhà Khoa học nghiên cứu Động vật hoang dã, bắt gặp một cảnh tượng vô cùng kinh ngạc, tại một vùng bán sơn địa rừng châu Phi: Một con sói cái to lớn, thuần dưỡng một bé trai, lông tóc bù xù, trên người còn sót lại một mảnh vải áo tơi tả, đi lững thững bên nhau, quấn quít như hai mẹ con. Khi đoàn công tác vây đuổi, với ý định giải cứu một sinh linh, sói mẹ chống cự quyết liệt để bảo vệ “con”, còn bé trai thì hú lên những tiếng ghê rợn. Sau cuộc giải thoát, bé trai được các chuyên gia y tế chăm sóc đặc biệt và một cuộc nghiên cứu xét nghiệm sinh học được tiến hành khẩn trương. Một kết luận được công bố sau đó, cho biết: Một bà mẹ nhẫn tâm nào đó, đã bỏ rơi bé giữa rừng, lúc mới 10 ngày tuổi. Một con sói cái độc thân, có lẽ mất con sau khi đẻ, đã tha bé về hang để nuôi con, như một bản năng làm mẹ. Bé được bú sữa sói và lớn lên. Đến ngày được cứu thoát, bé sống trong môi trường Thế giới hoang dã kéo dài bốn năm. Sau khi được cứu thoát, những ngày đầu, bé chưa biết ăn thức ăn của người, cũng không nói được giọng người, thấy bóng người là hoảng hốt, tìm chỗ ẩn nấp, thỉnh thoảng cất tiếng tru của sói, nghe thảm thiết. Dường như nhớ “mẹ sói” đến bỏ cả ăn. Trên lưng, bắt đầu nhú mọc những mảng lông màu xám bạc để thích nghi với cái giá lạnh của rừng sâu. Những xét nghiệm sinh học cho thấy, chưa có biểu hiện đột biến trầm trọng trong hệ gen người. Riêng não bộ có biểu hiện ngưng trệ, nhưng cũng chưa đến mức nghiêm trọng. Như vậy 95 % bé vẫn còn là người. Sự kiện này làm cho nhiều nhà Sinh học, đặc biệt là các chuyên gia Não học sững sờ. Bởi vì đây là một thực chứng cho thấy, mối quan hệ hết sức chặt chẽ giữa Thông tin môi trường sống với quá trình hình thành ý thức. Hoàn toàn không phải ở cấu trúc phức tạp và tinh vi của tế bào não, của hệ thần kinh, làm đột sinh ý thức và các sản phẩm của ý thức, như những giả thuyết Khoa học tiên liệu. C. Hình thái vận động của ý thức 1 - Hình thái Những luận cứ đã chứng tỏ trên đây, lý giải khá tương hợp với quan điểm Triết học của Phật giáo, cho rằng: ý thức chỉ là một chức năng, một “vẻ bề ngoài” thuần túy, không có hiện thực nội tại. ý thức có nhiều cấp độ, trong đó ý thức Thô được vật chất cung cấp các điều kiện phù trợ để hoạt động, nhưng nguyên nhân đầu tiên của ý thức Thô này, chỉ có thể là một dòng liên tục cùng với các cấp độ ý thức cao hơn, mà bản thân chúng cũng bắt nguồn từ một chuỗi liên tiếp các thời điểm của ý thức mà không có điểm bắt đầu. “Như vậy, ngoài ý thức Thô có sự phù trợ vật chất, tức là nó cần một “giá đỡ” vật chất, còn ý thức nói chung, nó bao hàm một lượng lớn các quan hệ, mà người ta có thể xem như chúng sinh ra một Trường, cũng có nghĩa là một Sóng, ngay cả khi nó không phải là một sóng Vật lý. Người ta có thể mô tả ý thức như một dòng chảy, một chức năng được duy trì vĩnh viễn, một dòng chảy không có vật chất cuốn theo và cũng không cần một “giá đỡ” vật chất. Giống như khi nhìn những con sóng lừng ngoài khơi xa, người ta có thể tưởng rằng các khối nước lớn đang chuyển động. Nhưng không phải như vậy, các phần tử nước chỉ dập dềnh tại chỗ khi con sóng đi qua, mà không trôi theo cùng với sóng. Tính liên tục và nối tiếp của chuyển động sóng, cũng tương tự tính liên tục và nối tiếp các trạng thái mà ý thức trải qua như một sóng, trong đó có sự lan truyền một chức năng và các thông tin, chứ không có sự chuyển dịch vật chất. Hệ quả là ý thức, cùng với ký ức về các trải nghiệm đã qua, vẫn tồn tại, ngay cả khi thể xác vật chất không còn” (Phát biểu của Matthieu Ricard- nhà sinh vật học kiêm nhà sư người Pháp - trong Tác phẩm “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”. Đồng tác giả là GS Vật lý nổi tiếng Trịnh Xuân Thuận). Cuối cùng, quan niệm ý thức như lý giải trên đây, liệu tương hợp đến mức nào với các thí nghiệm sinh lý học Thần kinh, mà các chuyên gia Não học đã tiến hành, nhằm xác định những điều kiện thần kinh của Ký ức? Matthieu Ricard chỉ ra rằng, cấp độ ý thức nào còn phụ thuộc thể xác, thì còn tồn tại mối quan hệ mật thiết giữa hoạt động của Não với ý thức ở cấp độ đó. Như những gì lý giải trên đây: Ý thức Thô cần đến “giá đỡ vật chất”, đó là Não. Cho nên, những “Điều kiện thần kinh” mà thực nghiệm Não học có được chỉ liên quan đến ý thức Thô. Do ý thức thô chỉ là một biểu hiện của ý thức tinh tế (vốn duy trì vĩnh viễn) nên người ta có thể coi rằng, dòng liên tục của ý thức tinh tế này có thể mang ký ức, tựa như một sóng truyền đi thông tin mà không cần mang theo vật chất. Điều quan trọng là phải làm sáng tỏ được rằng, cấp độ ý thức tinh tế này, không phải là lý thuyết mà thực tế, chúng được ấn định phạm vi một cách khá chính xác trên cơ sở của thực nghiệm, và đáng nhận được sự chú ý nghiêm túc của bất kỳ ai muốn dựa vào phương pháp thực nghiệm. Cụ thể là, để lĩnh hội cấp độ tinh tế này của ý thức, đòi hỏi một sự thực hành Thiền định có kỷ luật, nhằm đạt được những khả năng ở trạng thái vô thức một cách chủ động. Theo một nghĩa nào đó, các hiện tượng này chỉ mở ra cho những ai muốn tự bản thân thực hiện những thực nghiệm như nó vốn có. 2- Trường sinh học - Sóng não - một hình thái năng lượng Ở Việt nam, khái niệm “Trường sinh học” được nghe lần đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, do GS Vật lý Hoàng Phương cùng một số cộng tác viên thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà nội bắt tay xây dựng. Gần hai chục năm sau, một mô hình Toán học ra đời làm cơ sở mô tả “Trường sinh học”. Công trình của GS Hoàng Phương không được thông tin chi tiết một cách rộng rãi, vì lý do tư tưởng thời đó! Ngày nay, “trường sinh học” đã được công nhận, vì nó giải thích bản chất tương tác nhiều hiện tượng thuộc Thế giới sống- Sinh thể một cách Khoa học. Nhưng hình như người ta quá lạm dụng “trường điện từ”- một Trường Vật lý thuần túy, để gán cho không ít tương tác sinh học không có bản chất điện từ. Chẳng hạn, Thôi miên: tương tác nào được truyền đi giữa hai người ? Nếu là sóng điện từ, thì hẳn Khoa học thực nghiệm đã xác định được toàn bộ các thông số Vật lý của nó và Ngành phỏng sinh học ắt đã thiết kế được một máy phát cùng tính năng thay cho các nhà thôi miên. Tương tự như vậy, tương tác nào đã hút các vật dụng gắn chặt vào cơ thể như nam châm hút sắt? Mặc dù các vật dụng bị hút kia, không có tính chất sắt từ: như gỗ, nhựa, nhôm, thép inox v.v… Rồi, tương tác nào đã phá vỡ định luật Ac-si-met về lực đẩy của chất lỏng, tác dụng lên vật thể nhúng vào nó. Như cụ bà 70 tuổi ở Vĩnh Long (?). Cụ biểu diễn nằm trên mặt nước, như một miếng nhựa xốp, trước ống kính camera của “Chương trình Chuyện lạ Việt nam” Đài Truyền hình VN? Nhưng, mặc cho nhiều cơ chế tương tác còn bí ẩn, cũng không thể phủ nhận một chân lý hiển nhiên là: Sinh thể có bức xạ năng lượng ra không gian Vũ trụ. Ngoài chức năng thông thường, như một hệ Nhiệt động mở, trao đổi chất và năng lượng, cơ thể người còn có khả năng bức xạ năng lượng đột biến với cường độ cao bất thường. Một số sự kiện sau đây, đã được truyền thông rộng rãi, có thể lấy làm ví dụ: Cậu học sinh 12 tuổi tên là Joseph Fanciatano ở tiểu bang New York, được mệnh danh là “kẻ phá hoại máy tinh”. Cô giáo dạy Tin học Marie Yerdon, Trường Tiểu học Lura Sharp - nơi cậu đang học- cho biết, các học sinh khác sử dụng máy tinh bình thường, nhưng khi Joseph xuất hiện thì những điều huyền bí xảy ra. Khi Nhà trường thông báo cho cha mẹ cậu về hiện tượng này, thì cha mẹ cậu mới “ngộ” ra rằng, điều kỳ lạ đó đã xảy ra ở nhà từ trước, nhưng cả nhà không để ý. Khi đưa cho cậu bé sử dụng máy nghe nhạc, thì đột nhiên nhạc bắt đầu chậm lại, âm thanh méo và hình ảnh lộn xộn. Với máy chơi game X- box cũng vậy. Các chuyên gia bó tay trong việc lý giải tại sao cậu lại có sức mạnh kỳ lạ đó. Câu chuyện thứ hai về một người nông dân Trung quốc tên là He Tieheng, thể hiện khả năng phát năng lượng, hướng vào một con cá đang cầm trên tay. Con cá bốc hơi nghi ngút và làm chín nó trong phút chốc trước sự chứng kiến của bảy nghìn khán giả, cùng phóng viên và ống kính camera của các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước, tại một nhà hát thành phố. Về cơ chế hiện tượng thì điều này không khó lý giải, nó đã xảy ra trong lò vi sóng. Cái khó hiểu ở đây là, tại sao cảm ứng vi sóng tạo ra dòng điện xoáy trong vật thể ngậm nước, mà lại chừa bàn tay của anh ta ra không bị nướng chín? Mặt khác, hiện tượng He Tieheng nói lên rằng, nếu sóng vi ba là kết quả chuyển hóa năng lượng, bức xạ ra từ Não, thì nó chứng tỏ rằng “Sóng não” không chỉ ở tần số cực thấp, như một số tác giả đã lý giải. Ý kiến một vài độc giả cho rằng, đó là những hiện tượng cá biệt. Nhưng cá biệt hay phổ biến không phải là tiêu chuẩn của tồn tại, của hiện thực khách quan. Nếu sự xuất hiện của một cá biệt là thông điệp sụp đổ của toàn bộ một học thuyết, thì nó cũng phải là thông điệp về bằng chứng của một quy luật mới, mà xưa nay chưa được khám phá. Thế mới là tư duy Khoa học khách quan và công bằng. Ví dụ: Một học thuyết gen, khẳng định “mọi con thiên nga đều trắng”, nếu phát hiện trong thực tế, rất hạn hữu, có một con thiên nga đen, thì toàn bộ luận chứng của học thuyết kia sụp đổ. Cũng vậy, việc một Thiên thạch khổng lồ va vào Trái đất là rất hạn hữu, cá biệt, nhưng đó là thông điệp về sự hiện hữu một quy luật chuyển động ít biết đến của những quĩ đạo giao nhau giữa các Thiên thạch và Thiên thể, trong Trường lực hấp dẫn Vũ trụ. Một vài năm gần đây, trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, thông tin về những thành tựu công nghệ cao của Thế giới, làm chúng ta sững sờ. Nếu như máy phát hiện nói dối trước đây, được thiết kế dựa trên so sánh: ánh mắt, sắc mặt, điện trở bề mặt da v.v.. mà không thu và xử lý trực tiếp được thông tin ý thức tứ sóng não, thì nay, kỷ thuật ấy đã bước đầu thực hiên thành công. Như công trình nghiên cứu chế tạo xe lăn, chịu sự điều khiển theo ý nghĩ, cho những người liệt cả tứ chi, do trường Đại học Zaragoza - Tây Ban Nha, dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Javier Minguez thực hiện. Trên đầu người sử dụng đội một chiếc mũ đặc biệt, trong đó gắn các sensor thu sóng não, mang thông tin của ý nghĩ về đường đi điểm đến, rồi truyền cho cơ cấu điều khiển xe thực hiện di chuyển. Hiện nay, tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, nhóm sinh viên MiMaS cũng đang thực hiện ý tưởng sử dụng sóng não, điều khiển các thiết bị trợ giúp trẻ em khuyết tật. Nhóm MiMaS đã chế tạo thành công một số thiết bị có thể tắt mở đèn hoặc đóng mở nguồn điện thông qua ý nghĩ. Trong lĩnh vực khai thác sóng não, hãng Honda đã có bước đi đột phá quan trọng. Đầu năm 2009, hãng này đã công bố chế tạo thành công một chiếc mũ có thể thu và xử lý sóng não mang năng lượng ý thức, với cấu trúc thông tin tư duy, để điều khiển rôbôt, trong một khoảng cách khá xa, mà không cần cài đăt chương trình tự động như rôbôt truyền thống. Có thể nói, ngày nay, xu hướng phát triển công nghệ cao phục vụ đời sống là tập trung khai thác năng lượng sóng não, được điều biến bởi quá trình Tư duy, và được bức xạ, truyền dẫn ra không gian. Đó là ngành Phỏng sinh học. Và đó cũng là bằng chứng về sự thống nhất Thế giới vật chất và Thế giới Siêu hình, với tư cách là một tổng thể của hiện thực. 2- Chết không phải là hết Người có ý kiến phản bác luân hồi - tái sinh cho rằng chết là hết, như tắt một cái ti vi vậy. Nếu ví dụ như thế, thì chính anh ta đã thừa nhận có Tái sinh, khi bật ti vi lần sau và thấy rằng, nó vẫn là cái ti vi như trước. Bởi vì, những “ký ức” mà lần đầu tiên, khi đưa ti vi vào sử dụng, ta đã phải mất công sức, dò tìm sóng thu cho khoảng 30 kênh, để đưa vào lưu giữ trong bộ nhớ của nó, và thông tin ấy sẽ không bị xóa hết khi tắt máy. Nó đơn giản chỉ vậy, vì nó là vật vô sinh. Nhưng vật vô sinh cũng phải có Nội năng của nó. Nội năng đó, nó lấy từ quá trình ghi thông tin vào bộ nhớ, một quá trình có tiêu thụ năng lượng. Con người là một sinh thể, có nội năng của thể xác và cả năng lượng tinh thần. Cái chết của thể xác không kéo theo cái “chết” của năng lượng. Bởi vì năng lương là bảo toàn: Năng lượng không tự sinh ra và cũng không tự biến mất, mà không để lại dấu vết gì. Vậy, sau cái chết của thể xác, nó đi đâu? Nó trả lại cho Vũ trụ, nghĩa là cho không gian mà nó đã tồn tại. Nội năng thuộc về quá trình Vật lý, nó sẽ chuyển hóa thành nhiệt và góp phần làm tăng Entropy của Vũ trụ. Còn năng lượng tinh thần là sản phẩm của quá trình tương tác Thông tin: Con người - Xã hội - Tự nhiên - Vũ trụ, là kiến trúc sư của Thế giới ý thức -Tư duy, với cả một quá trình tích tụ được lưu giữ, một chuỗi dài những ký ức gắn liền với lịch sử mang bản sắc cuộc sống cá nhân, như một sóng đã được mã hóa, tồn tại như một chức năng vĩnh viễn, không cần giá đỡ Vật chất, được giải phóng và lan truyền trong không gian và thời gian. Đó là những gì còn tồn tại sau cái chết thể xác, như kết thúc một chu kỳ Vật chất, đúng theo qui luật của Tự nhiên. II. Đi đến kết luận 1- Điều kiện cần và đủ Sau khi hội đủ những căn cứ Khoa học có liên quan, thì bức họa Luân hồi - Tái sinh, của kiếp Người, đã có bố cục. Mà theo đó, chúng ta có thể dựng lại chân dung cái vòng tuần hoàn ấy ra sao? Thứ nhất, Não không “tiết” ra ý thức, Tư duy, như đã chứng tỏ. Vì vậy nó không phụ thuộc thể xác. Nó là sản phẩm của quá trình tương tác chọn lọc Thông tin trong tiến trình sống, bao hàm nhiều mối quan hệ và hình thành chuỗi ký ức được ghi lại, lưu giữ như một “kho” năng lượng của Não. Vì là năng lượng, nên nó cũng luôn được bảo toàn, kể cả sau cái chết thể xác. Năng lượng ý thức tồn tại dưới dạng sóng là có thực. Khoa học công nghệ - ngành Phỏng sinh học đã có nhiều ứng dụng thực tế, gọi là Sóng não. Nó tải theo Tư duy (sự suy nghĩ ) khi bức xạ ra không gian. Thứ hai, Hành trình hình thành ý thức đồng hành với quá trình hình thành Tiềm thức, ý thức và tiềm thức gắn bó nhau, nhưng khác nhau ở chỗ: tiềm thức chỉ tương tác với thông tin không có nguồn gốc Vật chất. Vì thế nó mang màu sắc Tâm linh, chỉ có ở con người. Nó chìm lắng trong ý thức như một Thế giới riêng, nhưng cũng có thể lan tỏa, hòa làm một với ý thức, khi tiếp nhận và tương tác với Thông tin tương thích. Có thể ví Tiềm thức và Ý thức như hai chất lỏng khác nhau về tính chất, xấp xỉ nhau về tỷ trọng, chúng cùng đựng chung trong một chiếc cốc. Bình thường, một trong chúng sẽ chìm lắng một cách êm ái dưới đáy cốc. Nhưng chỉ cần một khua động, cái chìm lắng kia, như bừng tỉnh, dần dần lan tỏa ra toàn cốc nước. Trên đây là hai điều kiện cần. Phải có hai điều kiện đủ tương ứng thì chân dung Tái sinh – luân hồi có thể mới rõ nét chăng. Thứ nhất là tính Bất biến của sóng mang Thông tin trong một không gian Vũ trụ đầy ắp các Trường sóng. Chúng không tương tác và hủy nhau do mã hóa nhân tạo hoặc mã hóa theo bản sắc tự nhiên. Chẳng hạn, Thông tin hình ảnh bề mặt Sao Hỏa, vẫn giữ nguyên vẹn độ phân giải, độ tương phản và màu sắc, truyền về đến Trái đất, sau khi vượt qua một hành trình mênh mông trong Vũ trụ “chen lấn xô đẩy” trong hàng tỷ giải tần của vô vàn nguồn sóng mang thông tin và năng lượng khác. Tức là: Thông tin bức ảnh (bề mặt Sao hỏa) luôn bất biến, không phụ thuộc cường độ. Thứ hai là, hệ xử lý Thông tin tiềm thức không phải có năng lực nhạy cảm như nhau để nắm bắt thông tin hồi ức. Hiện tượng này cũng giống như công nghệ thu tín hiệu radio: Hai thiết bị thu, hoàn toàn cùng kết cấu từ một sơ đồ nguyên lý, nhưng các chỉ tiêu tính năng thu sẽ khác nhau, nếu chúng được kết cấu từ những linh kiện có chất lượng khác nhau vậy. Đấy là chưa kể, dù chúng có đồng nhất về kết cấu và chất lượng, thì năng lực thu tín hiệu cũng sẽ khác nhau, khi chúng được đặt ở vị trí địa lý khác nhau. Thậm chí là không khu được tín hiệu, nếu đặt trúng vào vùng lặng sóng. Nghĩa là cái gì xảy ra trong động lực học của Tự nhiên thì nó cũng phải xảy ra trong động lực học của tiến trình sống. Điều này giải đáp câu hỏi: Nếu như có thể nhớ lại hồi ức của những kiếp trước, thì tại sao quá trình đó chỉ xảy ra với một số ít người? Đấy là lý do về phía thu (phía người đang sống), còn lý do về phía phát (phía người đang đi vào cõi chết), thì chúng ta cùng lắng nghe và suy ngẫm về lý giải của nhà Sinh vật học người Pháp kiêm nhà sư Matthieu Ricard: “... Tương tự như hiện tượng Hôn ám tạm thời khi bừng thức dậy giữa giấc ngủ say lúc nửa đêm, người ta thường rơi vào trạng thái mơ hồ, trong một vài phút, không biết mình đang ở đâu. Sự chấn thương sọ não cũng gây ra trạng thái hôn ám tương tự. Do vậy, người ta hiểu rằng, cái chết sẽ là một chấn thương nặng hơn và sự quên cũng sẽ sâu hơn, xóa đi chuỗi ký ức lưu giữ được cùng với những trải nghiệm của cuộc đời. Tuy nhiên, khi cái chết xảy ra trong hoàn cảnh đầu óc còn rất sáng suốt, hoặc ở độ tuổi còn tương đối trẻ, thì có thể xảy ra trường hợp các hồi ức sẽ xuất hiện trở lại trong các kiếp sau. Hiện tượng này được thể hiện trong suốt tuổi ấu thơ, vì càng lớn, thì ấn tượng của cuộc sống mới càng áp đặt và hằn sâu vào ý thức, khiến cho các ấn tượng của kiếp trước lu mờ dần và tan biến mất. Sự hôn ám do quá trình chết sẽ là rất nhỏ ở những người đã đạt đến độ làm chủ bằng thiền định và biết vượt qua trạng thái trung gian giữa cái chết và sự hồi sinh với một đầu óc sáng suốt. Chính vì thế, ở Tây Tạng hay Ấn Độ, các trường hợp hồi niệm lại kiếp trước, xảy ra nhiều hơn ở những trẻ nhỏ, là luân hồi của những thánh nhân đã quá cố”. 2 - Kết luận Với những điều kiện cần và đủ, từ các căn cứ Khoa học, dẫn ra trên đây, có thể kết luận rằng: Hiện tượng luân hồi ở con người là có thể hiểu được. Trước hết, vì nó là một hiện thực đang hiện hữu và đã hiện hữu rất lâu đời tại nhiều nơi trên Thế giới, và tốn không ít giấy mực ghi chép cũng như cuốn hút tâm trí của nhân loại. Thứ nữa, là nó vận động trong một tổng thể thống nhất phụ thuộc lẫn nhau giữa Thế giới hữu hình và vô hình, giữa vận động Vật chất và Thông tin. Quan trọng, là hiểu rằng, đây là cuộc Luân hồi Thông tin Ký ức như một sóng không mang theo Vật chât, chứ không phải Vật chất luân hồi. Vậy thì khái niệm Tái sinh, theo quan điểm Khoa học sẽ khác với quan niệm dân gian. Dân gian coi Luân hồi là sự Tái sinh trở lại, nối tiếp Cái sống của ai đó ở kiếp trước, nghĩa là tiếp tục cấu trúc gen, cấu trúc ADN, v.v… của người đó. Với những bằng chứng Khoa học có được hiện nay, thì đó là điều không thể xảy ra. Cũng giống như câu chuyện “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” vậy, về mặt ký ức gắn với lịch sử trải nghiệm, thì rõ ràng đây là con người và cuộc đời của Trương Ba. Nhưng thân xác này, đâu có phải của Trương Ba? Đối với dân gian, cái phần vật chất (Thể xác) ấy không quan trọng và không đáng bận tâm: “Nhân cách Trương Ba còn đó, quan trọng hơn”. Chính vì thế, người ta coi Trương Ba đã Tái sinh: Hồn Trương Ba đã nhập vào xác anh hàng thịt. Gọi là Hồn, Linh hồn hay Hồn sư, tên gọi không quan trọng, mà quan trọng là bản chất hiện thực của nó là cái gì? Về hiện tượng Thần đồng thì cũng cùng bản chất như Luân hồi. Điểm khác biệt là ở năng lực nhạy cảm của Tiềm thức, trong thời điểm nắm bắt sóng năng lượng của Thông tin ký ức, mà các Thiên tài quá cố đã giải phóng vào không gian Vũ trụ. Không phải toàn bộ Thông tin ký ức của Thiên tài, được Tiềm thức nắm bắt tất cả mà chỉ có phần năng lượng trội, phần chứa mật độ lượng tin cao nhất, đủ năng lượng khuấy động được Tiềm thức, tiếp thu và xử lý chúng. Xin đừng bao giờ nghi ngờ về sự hiện thực của năng lượng Thông tin. Nếu sự kiện điều khiển rôbôt bằng sóng ý nghĩ chưa đủ thuyết phục, thì hãy hình dung, một bà mẹ sẽ thế nào, khi nhận được thông báo rằng: “lúc 16 giờ chiều nay, đứa con trai của chị bị bắt cóc trước cổng Trường Mẫu giáo”? Rất có thể bà mẹ trẻ kia sẽ ngất xỉu và đổ quỵ xuống tại chỗ, có thể dẫn đến trụy tim, tử vong trong gang tấc. Muốn làm một người, đang bình thường, rơi vào trạng thái đó, kỷ thuật Y học phải thực hiện một Công, để gây ra sự rối loạn toàn bộ các quá trình điện hóa của Não. Nghĩa là phải tiêu thụ một năng lượng tương đương với năng lượng mà thông tin kia có. Cuối cùng, cũng đừng huyền bí hóa Luân hồi một cách thái quá,vì đó cũng chỉ là quy luật tự nhiên, như các quy luật khác, nhằm bảo toàn Tâm linh, cái quí giá nhất để con người hướng tới cái Thiện. “Vì vậy, việc chúng ta nghiên cứu vấn đề này, một cách nghiêm túc và Khoa học, là điều rất quan trọng. Chúng ta có thể được hưởng lợi từ tập hợp những kinh nghiệm tích lũy được trong các kiếp trước, để chúng ta phát triển hài hòa hơn. Quan niệm của chúng ta về cái Thiện và cái ác sẽ trở nên vững chắc hơn” (Trích phát biểu của GS Vật lý Trịnh Xuân Thuận). Hà Nội, hè 2009
    1 like